LUẬN A TỲ ĐÀM TỲ BÀ SA
STác giả: Tôn giả Ca Chiên Diên Tử
Giải thích: Năm trăm A La Hán
Hán dịch: Đời Bắc Lương, Sa môn Phù Đà Bạt Ma, Đạo Thái v.v…
Việt dịch: Cư sĩ Nguyên Huệ

 

QUYỂN 41

Chương 2: KIỀN ĐỘ SỬ

Phẩm thứ 4: MƯỜI MÔN, phần 5

Hỏi: Vì sao Đức Thế Tôn trước nói về Khổ đế, cho đến sau nói về Đạo đế?

Đáp: Vì muốn khiến nghĩa của văn được tùy thuận. Nếu trước nói về Khổ đế, sau nói về Đạo đế, tức nghĩa của văn tùy thuận.

Lại nữa, nếu nói Đế như thế, thì người nói cũng dễ, người thọ nhận cũng dễ.

Lại nữa, các pháp này hoặc do nơi chốn sinh khởi nên được mang tên. Hoặc do theo nghĩa nên được mang tên. Hoặc do khi thấy nên được mang tên.

Do nơi chốn sinh khởi nên được mang tên: Như hành giả của niệm xứ, thiền, định vô sắc v.v…, trước tu thân niệm xứ, nên Đức Phật trước nói thân niệm xứ, sau cho đến nói pháp niệm xứ. Thiền, định vô sắc nói rộng cũng như thế.

Do theo nghĩa nên được mang tên: Như chánh đoạn, thần túc, căn, lực, giác, đạo v.v…

Do khi thấy nên được mang tên: Như hành giả của bốn Thánh đế, trước thấy Khổ đế, nên Đức Phật trước nói về Khổ đế, sau cho đến thấy Đạo đế, nên Đức Phật về sau nói về Đạo đế.

Hỏi: Ở đây, nhân luận sinh luận. Hành giả vì sao trước thấy Khổ đế, sau cho đến thấy Đạo đế?

Đáp: Là do thô tế. Trong bốn đế, khổ đế là rất thô. Do khổ thô nên hành giả thấy trước. Ba đế vì vi tế nên hành giả thấy sau. Như người Sách-ca, người Xà-ma-na, người Đâu-khư-la, lúc học bắn, trước bắn vào cái nia, vào người cỏ (hình nộm), vào khối đất ướt v.v…, mũi tên đều dính vào. Sau, dần dần tập thêm, cho đến bắn vào một sợi lông. Hành giả kia cũng như thế.

Hỏi: Tức nên là trước nhân sau quả. Vì sao hành giả trước thấy quả khổ, sau thấy nhân tập?

Đáp: Trước thấy khổ, sau đoạn tập là pháp tùy thuận.

Hỏi: Vì sao nhận biết khổ là tùy thuận đoạn tập?

Đáp: Như cây cối, trước chặt hết cành nhánh, sau nhổ gốc rễ thì dễ. Như cây sinh tử, trước nhận biết cành nhánh khổ, sau nhổ bật rễ tập thì dễ.

Hỏi: Đạo ở trước, diệt ở sau. Vì sao hành giả trước chứng diệt, sau tu đạo?

Đáp: Trước chứng diệt, sau tu đạo tức là tùy thuận. Nếu như trước tu đạo, sau chứng diệt thì không nhận biết đạo này là đạo gì. Nếu trước chứng diệt sau tu đạo, thì mới nhận biết đạo này là đạo diệt. Như người hỏi người khác, nhờ chỉ cho biết con đường dẫn đến nơi chốn mình muốn tới. Người khác hỏi lại: Ông hỏi về đường đi đến chốn nào? Đáp: Muốn biết con đường dẫn tới thành. Người khác đáp: Con đường này tức đi tới thành.

Như người kia dùng thành để chỉ rõ về đường, tức được tùy thuận. Sự chứng diệt tu đạo cũng như thế. Dùng diệt để chỉ rõ về đạo, tức được tùy thuận.

Lại nữa, hành giả trước dùng đạo để đoạn trừ duyên nơi ngu của ba đế, sau khởi duyên nơi đạo hiện ở trước, đoạn trừ duyên nơi ngu về đạo. Như người khi nhìn mặt người khác không có nghi ngờ, nhưng đối với mặt mình thì có nghi ngờ. Nếu dùng gương sáng soi mặt mình, thì tâm nghi liền đoạn trừ. Hành giả kia cũng như thế.

Lại nữa, duyên nơi ngu của khổ giữ lấy duyên nơi ngu của tập. Duyên nơi ngu của tập giữ lấy duyên nơi ngu của diệt. Duyên nơi ngu của diệt giữ lấy duyên nơi ngu của đạo. Không thể không dứt trừ duyên nơi ngu của khổ để diệt trừ duyên nơi ngu của tập. Không thể không dứt trừ duyên nơi ngu của tập để diệt trừ duyên nơi ngu của diệt. Không thể không dứt trừ duyên nơi ngu của diệt để diệt trừ duyên nơi ngu của đạo. Như giữ lấy sự sinh cũng như thế.

Lại nữa, quán của quán khổ có thể sinh quán của quán tập. Quán của quán tập có thể sinh quán của quán diệt. Quán của quán diệt có thể sinh quán của quán đạo. Không thể không sinh khởi quán của quán khổ, để cho đến có thể sinh khởi quán của quán đạo.

Lại nữa, quán của quán khổ là nhân của quán tập, là căn bản, là xuất xứ, là đối tượng tạo tác, là duyên, là xứ khởi của quán tập. Quán tập v.v… là nhân v.v… của quán diệt. Quán diệt v.v… là nhân v.v… của quán đạo. Không thể không sinh khởi quán của quán khổ, để cho đến sinh khởi quán của quán đạo.

Lại nữa, quán của quán khổ là phương tiện nơi quán của quán tập, là môn, là đối tượng nương dựa của quán tập. Cho đến quán của quán diệt là phương tiện nơi quán của quán đạo, là môn, là đối tượng nương dựa của quán đạo. Ngoài ra nói rộng như trên.

Lại nữa, quán của quán khổ là nơi chốn đứng vững, đối tượng nương dựa cho quán của quán tập. Cho đến quán của quán diệt là nơi chốn đứng vững, đối tượng nương dựa cho quán của quán đạo. Ngoài ra, nói rộng như trên.

Tôn giả Ba-xa nói: Hành giả trước nhận biết năm thủ ấm như ung nhọt, sau tìm xét về nhân, nhận biết tập là nhân. Xứ nào có thể trừ bỏ nhân này? Xứ diệt tức có thể trừ bỏ. Pháp gì có thể diệt trừ? Đạo có thể diệt trừ. Như người thân thể vốn ốm yếu, sinh ra mụt nhọt, chịu nhiều khổ não, khởi suy nghĩ như thế này: Mụt nhọt ấy do đâu sinh ra? Nhận biết từ gió lạnh nóng sinh. Nơi chốn nào có thể khiến không có mụt nhọt này? Là xứ không có bệnh. Pháp gì có thể trừ bỏ mụt nhọt này? Đó là hoặc dùng thuốc bôi thoa, hoặc khiến nhọt nung mủ, hoặc phá vỡ ra. Hành giả kia cũng như vậy.

Lại nữa, Hành giả nhận biết năm thủ uẩn này là lỗi lầm tai họa. Cái gì là nhân của lỗi lầm tai họa kia? Tập là nhân. Xứ nào có thể đoạn trừ? Xứ diệt có thể đoạn trừ. Ai có thể đoạn trừ? Đạo có thể đoạn trừ.

Như người có con trai làm giặc, hành ác, gần gũi bạn xấu ác. Người kia suy nghĩ: Ai khiến con ta làm điều ác như thế? Nhận biết là do gần gũi bạn ác. Ai có thể chế phục dứt trừ? Nhận biết là bạn lành. Hành giả kia cũng như thế.

Người kia lúc thấy khổ, trước thấy khổ của cõi dục, sau thấy khổ của cõi sắc, vô sắc.

Hỏi: Vì sao hành giả trước thấy khổ của cõi dục, sau thấy khổ của cõi sắc, vô sắc?

Đáp: Là do thô tế. Khổ của cõi dục là thô, khổ của cõi sắc, vô sắc là tế. Hành giả trước thấy khổ thô của cõi dục, sau thấy khổ vi tế của cõi sắc, vô sắc.

Hỏi: Nếu như vậy, khổ của cõi sắc là thô, khổ của cõi vô sắc là tế, vì sao cùng một lúc nhận thấy?

Đáp: Do cùng với thân này kết hợp hay không kết hợp. Khổ của cõi dục cùng với thân này kết hợp. Khổ của cõi sắc, vô sắc tuy có thô tế, nhưng không cùng với thân này kết hợp, nên đã cùng một lúc nhận thấy.

Lại nữa, khổ của cõi dục thuộc về ngã, là điều ngã có. Khổ của cõi sắc, vô sắc không thuộc về ngã, không là điều ngã có, thế nên đều cùng nhận thấy.

Lại nữa, khổ của cõi dục là thọ khổ bức bách, như gánh gánh nặng, do đó thấy trước. Khổ của cõi sắc, vô sắc không phải là thọ khổ bức bách, không như gánh gánh nặng, nên đều cùng nhận thấy.

Lại nữa, khổ của cõi dục là gần, nên thấy trước. Khổ của cõi sắc, vô sắc là xa, nên đều cùng nhận thấy.

Như gần, xa, thì đều cùng, không đều cùng, thân này, thân khác, nói cũng như thế.

Hỏi: Hành giả đối với khổ của cõi sắc, vô sắc là hiện thấy chăng?

Đáp: Hiện thấy có hai thứ: (1) Hiện thấy do lìa dục. (2) Hiện thấy của tự thân.

Hành giả đối với khổ của cõi dục có hai thứ hiện thấy như trên. Đối với khổ của cõi sắc, vô sắc, tuy có hiện thấy do lìa dục, nhưng không có hiện thấy của tự thân. Ví như người khách buôn có hai gánh của cải: (1) Do tự thân gánh. (2) Khiến người khác gánh. Đối với gánh của cải do tự thân gánh có hai thứ hiện thấy: (a) Hiện thấy biết của cải. (b) Hiện thấy biết gánh nặng. Đối với gánh của cải khiến người khác gánh chỉ có một thứ hiện thấy, là hiện thấy biết của cải.

Lại nữa, thấy khổ của cõi dục là thiện, bất thiện, vô ký, do đó thấy trước. Khổ của cõi sắc, vô sắc là thiện, vô ký, thế nên đều cùng thấy.

Lại nữa, hành giả thành tựu tánh phàm phu của cõi dục, do đó thấy trước. Hành giả không thành tựu tánh phàm phu của cõi sắc, vô sắc, nên đều cùng thấy.

Lại nữa, lúc hủy báng thì trước là hủy báng không có khổ của cõi dục, vì thế trước đối với khổ của cõi dục sinh tin. Sau hủy báng khổ của cõi sắc, vô sắc, do đó sinh tin sau.

Hỏi: Khi thấy đế là dùng tướng riêng để thấy hay là dùng tướng chung để thấy? Nếu dùng tướng riêng để thấy, thì tướng riêng có vô lượng, tức thấy đế không được trọn vẹn. Như đất có vô lượng tướng riêng, nếu quán tướng riêng của đất, tất không thể khiến hết mà đã mạng chung. Nếu dùng tướng chung, thì vì sao không gọi là cùng một lúc thấy đế? Và tướng riêng nơi các pháp lại làm sao nhận biết?

Đáp: Nên nói như thế này: Dùng tướng chung để thấy đế.

Hỏi: Nếu như vậy thì vì sao không gọi là cùng một lúc thấy đế?

Đáp: Dùng tướng chung, nghĩa là tướng chung của một đế, không phải là tướng chung của bốn đế, vì là tướng của phần ít. Phân biệt về vô lượng tướng chung, tướng riêng. Như đất có tướng chung. Do ba đại nên đất là tướng riêng. Tất cả đất đều là tướng cứng chắc, là tướng chung. Bốn đại là sắc ấm. Sắc ấm có tướng chung, tướng riêng. Tướng riêng là do bốn ấm. Tướng chung tức tất cả sắc đều là chướng ngại. Năm thủ ấm là khổ đế. Khổ đế có tướng riêng, tướng chung. Tướng riêng là do ba đế. Tướng chung tức tất cả khổ đều là tướng bức bách. Dùng tướng chung như thế để thấy đế, là dùng hành vô thường, khổ, không, vô ngã để thấy đế. Do khổ đế nên là tướng chung. do ba đế còn lại nên là tướng riêng. Do đế nên là tướng riêng. Do ấm nên là tướng chung.

Lại nữa, một đế không phải là bốn đế. Bốn đế không phải là một đế. Thế nên không cùng một lúc thấy đế.

Lại nữa, một hành không phải là bốn hành. Bốn hành không phải là một hành. Thế nên không cùng một lúc thấy đế.

Lại nữa, do chủ thể nhận biết, đối tượng nhận biết phân minh rõ ràng. Căn, nghĩa của căn, cảnh giới của đối tượng, cảnh giới cũng phân minh rõ ràng, nên không cùng một lúc thấy đế.

Lại nữa, do hữu lậu, vô lậu riêng khác, nên không cùng một lúc thấy đế.

Lại nữa, do hữu vi – vô vi có sai biệt, nên không cùng một lúc thấy đế.

Lại nữa, khổ đế không cùng một lúc nhận thấy. Tức trước thấy khổ của cõi dục, sau thấy khổ của cõi sắc, vô sắc. Trước thấy nhân của các hành nơi cõi dục, sau thấy nhân của các hành nơi cõi sắc, vô sắc. Trước thấy các hành của cõi dục diệt, sau thấy các hành của cõi sắc, vô sắc diệt. Trước thấy đạo đối trị nơi cõi dục, sau thấy đạo đối trị nơi cõi sắc, vô sắc. Thế nên không phải cùng một lúc thấy đế.

Thế nào là nhận biết về tướng riêng nơi pháp?

Đáp: Lúc thấy đế không nhận biết về tướng riêng nơi pháp. Tất cả tướng riêng là đối tượng nên nhận biết của trí, đều dùng trí tướng chung để nhận biết.

Lại nữa, nếu duyên nơi tướng riêng của đế không nhận biết, hoặc duyên nơi tướng chung của đế không nhận biết, thì nơi một lúc đoạn trừ. Thế nên, khi tướng chung kiến đế, cũng nhận biết đối tượng nhận biết của tướng riêng.

Kinh Phật nói: Khổ Thánh đế chưa nhận biết nên nhận biết. A-tỳ-đàm nói: Thế nào là pháp thuộc đối tượng nhận biết của trí? Là tất cả pháp.

Hỏi: Tất cả các pháp là đối tượng nhận biết của trí, như A-tỳđàm đã nói. Vì sao kinh Phật chỉ nói nhận biết khổ?

Đáp: Kinh Phật nói nhận biết khổ là trí xuất thế gian. A-tỳ-đàm nói nhận biết tất cả pháp là trí thế gian, xuất thế gian.

Như thế gian, xuất thế gian, thì các hữu lậu, vô lậu, trói buộc, giải thoát, hệ thuộc, không hệ thuộc, nên biết cũng như thế.

Lại nữa, kinh Phật nói nhận biết khổ là trí gần. A-tỳ-đàm nói nhận biết tất cả pháp là trí gần, trí xa.

Như gần, xa, thì cùng có, không cùng có, nên biết cũng như thế.

Lại nữa, dùng tướng chung để nhận biết, nên Đức Phật nói nhận biết khổ. Dùng tướng chung, tướng riêng để nhận biết, nên A-tỳ-đàm nói nhận biết tất cả pháp.

Như tướng chung nhận biết, tướng riêng nhận biết, tướng chung hiểu rõ, tướng riêng hiểu rõ, tướng chung quán xét, tướng riêng quán xét, nên biết cũng như vậy.

Lại nữa, kinh Phật nói trí không chung. A-tỳ-đàm nói trí chung và không chung.

Lại nữa, kinh Phật nói là lúc thấy khổ. A-tỳ-đàm nói là lúc hành quán.

Lại nữa, hiểu rõ có hai thứ: (1) Giả danh. (2) Thật nghĩa.

Kinh Phật nói nhận biết khổ là hiểu rõ về giả danh. A-tỳ-đàm nói nhận biết tất cả pháp là hiểu rõ về thật nghĩa.

Hỏi: Thế nào là hiểu rõ về giả danh?

Đáp: Hiện thấy khổ là nhận biết về quả. Hiện thấy tập là nhận biết về nhân. Khi chứng diệt là nhận biết về diệt, có hai công đức không ở trong thân. Lúc hành tu đạo là đạo đoạn trừ tất cả phiền não. Do hiểu rõ về tướng chung như thế v.v…, nên gọi là hiểu rõ về giả danh.

Tôn giả Ba-xa nói: Kinh Phật nói: Nên nhận biết khổ. Hoặc có người cho là chỉ nên nhận biết khổ, lại không nhận biết những thứ khác. Thế nên A-tỳ-đàm đã nêu bày: Nên nhận biết tất cả pháp.

Kinh Phật nói: Nên đoạn trừ tập. Hoặc có kẻ cho là chỉ nên đoạn trừ tập, lại không đoạn trừ các thứ khác. Thế nên, A-tỳ-đàm đã giảng nói: Thế nào là pháp nên đoạn trừ? Là tất cả pháp hữu lậu.

Kinh Phật nói: Nên chứng đắc diệt. Hoặc có kẻ cho là chỉ nên chứng đắc diệt, lại không chứng đắc các pháp khác. Thế nên, A-tỳ-đàm đã giảng nói: Thế nào là pháp nên chứng đắc? Là tất cả pháp thiện.

Kinh Phật nói: Nên tu tập đạo. Hoặc có người cho là chỉ nên tu tập đạo, lại không tu tập các pháp khác. Vì muốn khiến sự việc này được quyết định, nên A-tỳ-đàm nói: Thế nào là pháp nên tu tập? Là pháp hữu vi thiện.

Lại nữa, vì đoạn dứt cội rễ cùng đường nẻo của sinh tử, nên kinh Phật nói: Thân kiến là gốc của sáu mươi hai thứ kiến. Sáu mươi hai thứ kiến là gốc của phiền não. Phiền não là gốc của nghiệp. Nghiệp là gốc của báo. Dựa nơi báo nên sinh ra pháp thiện, bất thiện, vô ký. Khi nhận biết khổ thì thân kiến đoạn trừ. Thế nên kinh Phật chỉ nói nhận biết khổ.

Lại nữa, nếu khi nhận biết khổ thì đoạn trừ năm ngã kiến, mười lăm ngã sở kiến. Thế nên kinh Phật chỉ nói nhận biết khổ.

Lại nữa, khi nhận biết khổ thì đoạn trừ hai kiến là thân kiến, biên kiến, được hai tam muội là không, vô nguyện. Thế nên kinh Phật chỉ nói nhận biết khổ.

Lại nữa, từ vô thủy đến nay, chúng sinh ở trong ấm, chấp tưởng về ngã, nhân, thọ mạng. Ai có thể đoạn trừ tưởng ác này, khiến trụ nơi tưởng thiện? Chỉ nhận biết khổ là có thể. Thế nên kinh Phật chỉ nói nhận biết khổ.

Lại nữa, chúng sinh từ vô thủy đến nay ở trong ấm vô thường, vô ngã, không lạc, không tịnh này chấp là có thường lạc ngã tịnh. Ai có thể đoạn trừ những điên đảo như thế? Chỉ nhận biết khổ là có thể. Thế nên kinh Phật chỉ nói nhận biết khổ.

Lại nữa, vì nhằm đoạn trừ tham chấp nơi ấm. Tức chúng sinh từ vô thủy đến nay, do ấm này nên phải thọ nhận bao thứ khổ bức bách, như mang lấy gánh nặng. Thọ nhận khổ ấy xong, lại theo đuổi, tìm kiếm ấm. Do đeo duổi tìm kiếm nên lại sinh ra ấm. Cũng như con trẻ bị nhũ mẫu đánh, rồi lại trở về với nhũ mẫu. Chúng sinh kia cũng như thế, đã bị khổ bức bách, rồi lại trở về với khổ. Thế nên kinh Phật chỉ nói nhận biết khổ.

Lại nữa, hành giả lúc thấy khổ là khiến cho tâm dua nịnh cùng tà kiến điên đảo nơi phiền não, hành ác từ vô thủy đến nay đều trở nên ngay thẳng, đúng đắn. Vì thế kinh Phật chỉ nói nhận biết khổ.

Lại nữa, nếu khi nhận biết khổ, cũng gọi là đoạn trừ khổ, còn khi đoạn trừ tập thì không gọi là nhận biết tập. Vì thế kinh Phật chỉ nói nhận biết khổ.

Lại nữa, hành giả khi nhận biết khổ, nếu trụ nơi tưởng điên đảo, thì không có sự việc ấy. Do phân biệt nên nếu hành giả đã nhận biết khổ, đã hành quán khổ rồi thì không nhận biết không hành quán các đế khác nữa. Nếu có người hỏi: Ấm này là thường hay là vô thường? Đáp: Là vô thường, vì không có một sát-na dừng trụ. Là khổ hay là vui? Đáp: Là khổ, như viên sắt nóng. Là tịnh hay bất tịnh? Đáp: Là bất tịnh, cũng như phân uế tạp. Là có ngã hay không có ngã? Đáp: Trong đó không có người, không có tác giả, thọ giả, chỉ là nhóm phân uế tạp của các hành.

Lại nữa, khổ như ung nhọt, thường tự khốn khổ. Như mũi tên cắm vào thân. Như dao tự cắt mình. Như thuốc độc tự sát. Như lửa tự đốt thân. Như kẻ oán tự hại mình. Như ở cạnh thành đã nhận chịu tai nạn.

Lại nữa, hành giả lúc thấy khổ, gọi là Phật chân thật xuất hiện nơi thế gian, như pháp vào pháp Phật, được không chướng ngại, thọ hành pháp Phật.

Lại nữa, hành giả lúc thấy khổ, bỏ duyên cũ được duyên mới, bỏ thứ chung được thứ không chung, bỏ thế gian được xuất thế gian.

Lại nữa, hành giả lúc thấy khổ là chưa mở cửa đạo vô lậu, nay mở. Chưa từng lìa bỏ tánh phàm phu, nay bỏ. Chưa từng được Thánh đạo, nay được.

Lại nữa, hành giả lúc thấy khổ là bỏ danh được danh, bỏ giới được giới, bỏ tánh được tánh. Bỏ danh được danh: Là do bỏ tên phàm phu, được tên Thánh nhân. Bỏ giới được giới: Là bỏ cảnh giới phàm phu, được cảnh giới Thánh nhân. Bỏ tánh được tánh: Là bỏ tánh phàm phu, được tánh Thánh nhân.

Lại nữa, hành giả lúc thấy khổ tức được tâm không được nhân của tâm, được nghiệp không được nhân của nghiệp, được minh không được nhân của minh.

Lại nữa, hành giả lúc thấy khổ tức được lìa tụ năm người vào tụ tám người. Tụ năm người: Là người năm nghịch. Tụ tám người: Là bốn hướng bốn quả.

Lại nữa, hành giả lúc thấy khổ, bỏ tánh phàm phu, như hoa rời cây, được trụ nơi tánh Thánh, như then cửa chính.

Lại nữa, hành giả lúc thấy khổ, đầu tiên được niềm tin không hư hoại đối với pháp.

Lại nữa, hành giả lúc thấy khổ, tức được pháp không có điều này, như nói không có điều này, là người thấy đế đầy đủ, không cố ý sát sinh, không cố ý phạm giới, cho đến nói rộng.

Do những sự việc như thế v.v…, kinh Phật nói: Chỉ nên nhận biết khổ.

Kinh Phật nói: Tập Thánh đế, nên nhận biết, nên đoạn trừ. A-tỳ-đàm nói: Thế nào là pháp nên đoạn trừ? Nghĩa là pháp hữu lậu.

Nếu nói như thế này: Sinh ái của hữu sau là tập Thánh đế, thì sinh vấn nạn này: Như A-tỳ-đàm nói: Thế nào là pháp nên đoạn trừ? Là tất cả pháp hữu lậu. Vì sao kinh Phật chỉ nói sinh ái của hữu sau là Tập đế?

Đáp: Trước đã nói ái là tập, do đó ở đây nên nói rộng.

Nếu nói như thế này: Tất cả nhân hữu lậu là Tập đế, thì sinh vấn nạn này: Như khổ cũng nên đoạn trừ, vì sao kinh Phật chỉ nói đoạn trừ tập?

Đáp: Vì không sinh khổ nữa. Thế nên Đức Phật chỉ rõ: Các ông nếu không muốn khổ thì phải nên đoạn trừ tập. Nếu đã đoạn trừ tập thì khổ tức không sinh.

Lại nữa, vì không sinh quả, nên Đức Phật nêu rõ: Các ông nếu không muốn quả, thì phải nên đoạn dứt nhân. Nếu đã đoạn dứt nhân thì quả tức không sinh.

Lại nữa, vì muốn đoạn trừ dòng khổ, nên cũng như dòng nước nối tiếp, nếu không đoạn dứt từ nguồn nước, thì dòng nước không dừng. Nếu đoạn dứt nguồn nước, thì nước không chảy nữa. Như thế, nếu không đoạn dứt cội nguồn khổ, thì dòng khổ không dừng. Nếu đoạn dứt hẳn cội nguồn khổ, thì dòng khổ tức dừng.

Lại nữa, nếu người đoạn trừ tập, thì đoạn trừ nhân cùng có, cùng trói buộc, được giải thoát, được giải thoát vô lậu, được đoạn trừ nhân nhất thiết biến của xứ phi tưởng phi phi tưởng.

Lại nữa, nếu đoạn dứt nhân thì quả cũng đoạn dứt. Nhân nếu diệt thì quả cũng diệt. Bỏ nhân thì cũng bỏ quả. Loại trừ nhân thì cũng loại trừ quả.

Lại nữa, vì lìa bỏ gánh nặng. Như thân người mang gánh nặng đi lên nơi chốn hiểm nạn, bị bức bách do gánh nặng này. Người khác nói: Nếu ông bị gánh này bức bách, thì nên chặt đứt dây buộc của gánh nặng ấy. Nếu dây buộc đã bị chặt đứt thì gánh nặng tự rớt xuống. Chúng sinh cũng như thế. Thân mang gánh ấm trèo lên núi hiểm nạn sinh tử, bị gánh nặng ấm này gây bức bách. Đức Phật chỉ rõ: Các ông nếu không muốn mang gánh nặng ấm, thì nên đoạn trừ tập. Nếu đoạn trừ tập thì gánh nặng ấm tức rơi xuống.

Lại nữa, vì nhằm đối trị ngoại đạo. Ngoại đạo không muốn quả khổ, nhưng không đoạn trừ nhân. Như con chó ngu, bỏ người chạy theo hòn đất. Ngoại đạo cũng như thế, không đoạn trừ nhân khổ, lại không muốn có quả khổ. Đức Phật nói: Các ông nếu không muốn quả khổ, tức nên đoạn trừ nhân khổ. Nếu đoạn trừ nhân khổ thì khổ không sinh.

Lại nữa, trong tập đã có quả thượng, trung, hạ của ba cõi. Đức Phật nêu rõ: Các ông nếu không muốn cầu được quả thượng, trung, hạ của ba cõi, tức phải nên đoạn trừ tập. Nếu người đoạn trừ tập, thì quả thượng, trung, hạ của ba cõi không còn sinh.

Lại nữa, do tập có thể sinh ba khổ. Ba khổ là khổ của cõi dục, cõi sắc và cõi vô sắc. Đức Phật chỉ rõ: Các ông nếu không muốn ba khổ, tức nên đoạn trừ tập. Nói rộng như trên.

Lại nữa, do tập có thể sinh bốn khổ. Bốn khổ là bốn loài. Đức Phật nói: Các ông nếu không muốn bốn khổ. Nói rộng như trên.

Lại nữa, do tập có thể sinh ra năm khổ. Năm khổ là năm nẻo. Đức Phật nêu rõ: Các ông nếu không muốn năm khổ. Nói rộng như trên.

Do những sự việc như thế v.v…, nên kinh Phật nói: Tập nên nhận biết, nên đoạn trừ.

Kinh Phật nói: Khổ diệt Thánh đế, nên nhận biết, nên tác chứng. A-tỳ-đàm nói: Thế nào là pháp được tác chứng? Là tất cả pháp thiện.

Hỏi: Như A-tỳ-đàm nói: Tất cả pháp thiện nên tác chứng. Vì sao kinh Phật chỉ nói chứng đắc diệt?

Đáp: Diệt này là giải thoát, cũng là tướng không trói buộc.

Lại nữa, diệt này không có xứ sở, không có đối tượng nương dựa.

Lại nữa, diệt này là nhân không có quả, là quả không có nhân.

Lại nữa, diệt này là nhân chẳng phải là có nhân. Là đối tượng tạo tác chẳng phải là có đối tượng tạo tác. Là duyên chẳng phải là có duyên. Là lìa chẳng phải là có lìa. Là quả chẳng phải là có quả.

Lại nữa, diệt này có thể khiến ấm là không, chẳng phải thể của pháp là không.

Lại nữa, diệt này đoạn trừ ba, gồm thâu bốn, xả bỏ năm.

Lại nữa, diệt này là một vị nơi vô số thứ đạo quả, tịnh hóa ở bốn họ, gọi là pháp vô thượng.

Lại nữa, diệt này là vô lậu, đắc là hữu lậu, vô lậu. Diệt là phi học phi vô học, đắc là học, vô học, phi học phi vô học. Diệt là không trói buộc, đắc là trói buộc, không trói buộc. Diệt là không có đoạn, đắc là tu đạo đoạn, hoặc không đoạn. Diệt là thuộc về diệt đế, đắc là thuộc về khổ đế, tập đế, đạo đế.

Lại nữa, diệt này là thiện, là thường. Là thiện này đã lìa ấm, là thiện không có thượng, trung, hạ, là không có biên vực trước sau.

Lại nữa, diệt này là quả của Sa-môn, không phải là Sa-môn, là quả của Bà-la-môn, không phải là Bà-la-môn, là quả của phạm hạnh, không phải là phạm hạnh, là quả của đạo, không phải là đạo

Do những sự việc như thế v.v…, nên kinh Phật chỉ nói chứng đắc diệt.

Kinh Phật nói: Khổ diệt đạo Thánh đế, nên nhận biết, nên tu tập. A-tỳ-đàm nói: Thế nào là pháp tu? Là tất cả pháp hữu vi thiện.

Hỏi: Như A-tỳ-đàm nói: Tất cả pháp hữu vi thiện đều nên tu. Vì sao kinh Phật chỉ nói tu đạo?

Đáp: Do đạo nên tu, nên tập.

Lại nữa, do đạo có hai thứ tu: (1) Tu đắc. (2) Tu hành.

Đạo thế tục có bốn thứ tu: Tu đắc. Tu hành. Tu đối trị. Tu trừ bỏ.

Lại nữa, đạo này lúc tu không đoạn trừ duyên ái. Đạo thế tục lúc tu phải đoạn trừ duyên ái.

Lại nữa, đạo này lúc tu, tánh của đạo hiện bày không ẩn mất. Đạo thế tục lúc tu, tánh của đạo cũng hiện bày, cũng ẩn mất. Hiện bày nơi cõi dục, ẩn mất đối với thiền thứ nhất. Cho đến hiện bày nơi xứ vô sở hữu, ẩn mất nơi xứ phi tưởng phi phi tưởng.

Hỏi: Đạo vô lậu cũng như vậy. Lìa dục nơi cõi dục sinh nơi thiền thứ nhất, cho đến lìa dục của xứ vô sở hữu, sinh nơi xứ phi tưởng phi phi tưởng chăng?

Đáp: Đạo thế tục đối với xứ kia sinh báo, không phải là đạo vô lậu.

Lại nữa, đạo này nếu tu thì khiến hữu tổn giảm, hủy hoại. Đạo thế tục khi tu thì tăng ích, nuôi lớn hữu.

Lại nữa, đạo này nếu tu thì khiến Hữu bị đoạn dứt, không còn nối tiếp, không còn tăng trưởng pháp sinh lão bệnh tử. Đạo thế tục khi tu thì khiến Hữu nối tiếp, tăng trưởng pháp sinh lão bệnh tử.

Lại nữa, đạo này nếu tu là đạo diệt khổ tập, là đạo diệt trừ sự tăng trưởng sinh lão bệnh tử. Đạo thế tục khi tu là đạo khổ tập, là đạo làm tăng trưởng sinh lão bệnh tử.

Lại nữa, đạo này lúc tu không bị thân kiến làm đối tượng duyên, cho đến không rơi trong khổ, tập đế. Đạo thế tục tuy tu nhưng bị thân kiến làm đối tượng duyên, cho đến rơi trong khổ, tập đế.

Lại nữa, đạo này lúc tu không bị cõi, nẻo, loài tăng trưởng, làm nhân cho pháp sinh tử. Đạo thế tục tuy tu nhưng bị cõi nẻo loài tăng trưởng, làm nhân cho pháp sinh tử.

Lại nữa, đạo này lúc tu có thể dứt hết sự sinh của cõi, nẻo, dứt hết sự tăng trưởng pháp sinh tử. Đạo thế tục tuy tu nhưng không thể dứt hết sự sinh của cõi, nẻo, sự tăng trưởng pháp sinh tử.

Lại nữa, đạo này lúc tu là Sa-môn, là quả của Sa-môn, là Bàla-môn, là quả của Bà-la-môn, là phạm hạnh, là quả của phạm hạnh, là quả của hữu.

Do những sự việc như thế v.v…, nên kinh Phật chỉ nói tu đạo.

Hỏi: Danh của hành Thánh có mười sáu thứ, còn Thể có bao nhiêu?

Đáp: Hoặc có thuyết nói: Danh có mười sáu, thể có bảy. Duyên nơi khổ có bốn hành, danh có bốn, thể cũng có bốn. Duyên nơi tập có bốn hành, danh có bốn, thể có một. Duyên nơi diệt, đạo cũng như vậy.

Hỏi: Vì sao duyên nơi khổ có bốn hành, danh có bốn, thể cũng có bốn?

Đáp: Duyên nơi khổ có bốn hành là đối trị gần về điên đảo. Như điên đảo, danh có bốn, thể cũng có bốn, hành này cũng như vậy.

Lời bình: Nên tạo ra thuyết này: Hành Thánh, danh có mười sáu, thể có mười sáu. Như danh, thể, thì danh số, thể số, danh tướng, thể tướng, danh khác, thể khác, nên biết cũng như thế.

Hỏi: Thể tánh của hành Thánh là gì?

Đáp: Thể tánh là tuệ. Nên biết ở đây tuệ là hành tướng, cũng là chủ thể hành, cũng là đối tượng hành. Cùng tuệ tương ưng với tâm tâm số pháp, không phải là hành tướng, nhưng là chủ thể hành, cũng là đối tượng hành. Cùng tuệ đều có hành không tương ưng và có các pháp khác tuy không phải là hành tướng, cũng không phải là chủ thể hành, nhưng là đối tượng hành.

Lại có thuyết nói: Hành Thánh là tâm tâm số pháp. Nếu nói như thế thì thể tánh của hành Thánh là tâm tâm số pháp. Các tâm tâm số pháp đều là hành tướng, cũng là chủ thể hành, cũng là đối tượng hành. Tất cả pháp khác tuy không phải là hành tướng, cũng không phải là chủ thể hành nhưng là đối tượng hành.

Lại có thuyết cho: Thể tánh của hành Thánh là tất cả pháp. Nếu tạo ra thuyết ấy: Thể tánh của hành Thánh là tất cả pháp, thì các pháp tương ưng cũng là hành tướng, cũng là chủ thể hành, cũng là đối tượng hành. Các pháp không tương ưng, tuy là hành tướng, cũng là đối tượng hành nhưng không phải là chủ thể hành. (Cả đoạn: Từ thể tánh là tuệ v.v… là căn cứ theo luận N0 1545, quyển 79 để dịch – ND).

Lời bình: Nên tạo ra thuyết này: Thể tánh của hành Thánh là tuệ, như thuyết trước đã nói: Đây là thể tánh của hành, cho đến nói rộng.

Đã nói về thể tánh. Về lý do nay sẽ nói.

Vì sao gọi là hành vô thường, cho đến gọi là hành Thừa (Xuất)?

Đáp: Do hai sự việc nên là vô thường: (1) Do đối tượng tạo tác. (2) Thuộc về duyên.

Đối tượng tạo tác: Đối tượng được tạo tác của tất cả pháp hữu vi, chỉ là một khoảnh khắc sát-na.

Thuộc về duyên: Là đợi chờ nhân duyên mới sinh. Khổ bệnh bức bách, như mang vác gánh nặng là khổ. Đối trị kiến chấp của ngã sở, nên là không. Đối trị ngã kiến, nên là vô ngã.

Nhân như pháp chủng tử. Tập như pháp xuất hiện. Hữu như pháp nối tiếp. Vì có thể sinh nên là duyên. Như đất sét nhồi nhuyễn, nhờ sự tập hợp của bánh xe quay, nước, sợi chỉ v.v…, nên bình được sinh ra. Pháp sinh kia cũng như thế. Các ấm dứt hết là Diệt. Không có ba tướng nên là Chỉ (Tĩnh). Là thiện là thường, nên là Diệu, là Lìa. Lại vì không có đối tượng lìa, nên là Lìa. Do đối trị tà đạo, nên là Đạo. Vì đối bất chánh, nên là Chánh (Như). Vì có thể đi đến thành giải thoát nên là Tích (Hành). Thể tánh là hiện bày, vì không chìm lặn nên là Thừa (Xuất).

Lại nữa, vì chẳng phải là cứu cánh, nên là Vô thường. Vì như gánh nặng nên là Khổ. Bên trong không có người, không có người tạo tác, không có người lãnh thọ, không có người nói nêu, nên là Không. Do không tự tại, nên là Vô ngã. Vì sinh nên là Nhân. Vì xuất hiện nên là Tập. Vì trôi chảy nên là Hữu (Sinh). Vì tạo tướng nên là Duyên. Vì không nối tiếp, vì dứt hết nối tiếp nên là Diệt. Vì dập tắt ba thứ lửa, nên là Chỉ. Vì không có khổ não, nên là Diệu. Vì không có lỗi lầm tai hại nên là Lìa. Vì có thể hành theo nẻo xuất yếu nên là Đạo. Vì phương tiện tương ưng nên là Chánh (Như). Vì có thể đạt đến chánh nên gọi là Tích (Hành). Vì vĩnh viễn vượt qua sinh tử, nên là Thừa (Xuất).

Hỏi: Lúc thấy khổ đế là thấy bốn hành của khổ là vô thường, khổ, không, vô ngã. Vì sao chỉ nói khổ đế không nói vô thường, không, vô ngã đế?

Đáp: Tức nên nói nhưng không nói, nên biết là nghĩa này nêu bày chưa trọn vẹn.

Lại nữa, nếu đã nói khổ đế, nên biết là đã nói về vô thường, không, vô ngã đế.

Lại nữa, hành này là hành không chung, chỉ ở trong khổ đế. Hành vô thường ở trong ba đế. Hành không, vô ngã thì ở trong tất cả pháp.

Lại nữa, vì hành này cùng với hữu là trái nhau, nên có thể dứt bỏ sinh tử. Như có thức ăn uống ngon ngọt, đem cho con trẻ nói: Thức ăn này là đắng. Trẻ con nghe xong liền sinh tâm từ bỏ, không muốn ăn.

Lại nữa, hành này là nơi chốn tin tưởng của tất cả. Nghĩa là hàng ngu, trí, nội đạo, ngoại đạo.

Lại nữa, vì khéo phân biệt đối tượng nhận biết của trí, nên kinh Phật nói: Khổ trí là nhận biết về pháp nào? Đáp: Là nhận biết về khổ. Như đối tượng nhận biết của trí, thì đối tượng hiểu của hiểu, đối tượng hành của hành, căn, nghĩa của căn, cảnh giới, đối tượng của cảnh giới nên biết cũng như thế.

Lại nữa, hành này là pháp cũ, là văn cú cũ. Chư Phật quá khứ đã nói về hành khổ của khổ đế. Nay Đức Phật cũng nói về hành khổ của khổ đế.

Hỏi: Khi thấy tập đế, thấy bốn hành của tập là nhân tập hữu (sinh) duyên, vì sao chỉ nói tập đế, không nói nhân hữu duyên đế.

Đáp: Tức nên nói nhưng không nói, nên biết là nghĩa này nêu giảng chưa trọn vẹn.

Lại nữu, nếu nói tập đế, nên biết là đã nói về nhân hữu duyên đế.

Lại nữa, vì khéo phân biệt về đối tượng nhận biết của trí nên kinh Phật nói: Tập trí là nhận biết pháp nào?

Đáp: Là nhận biết về tập. Như đối tượng nhận biết của trí, thì cho đến cảnh giới, đối tượng cảnh giới, nói cũng như thế.

Lại nữa, hành này là pháp cũ, là văn cú cũ. Chư Phật quá khứ đã nói về hành tập của tập đế. Nay Đức Phật cũng nói về hành tập của tập đế.

Hỏi: Khi thấy diệt, thấy bốn hành diệt là diệt, chỉ (tĩnh), diệu, lìa. Vì sao chỉ nói diệt đế, không nói chỉ, diệu, lìa đế?

Đáp: Tức nên nói nhưng không nói, nên biết là nghĩa này nêu giảng chưa trọn vẹn. Phần còn lại như nơi tập đế đã nói.

Đạo đế theo nghĩa nêu bày cũng như thế.

Diệt đế gọi là Niết-bàn, gọi là không giống nhau, gọi là không phải phẩm, gọi là không có sắc, gọi là đệ nhất, gọi là quả thắng trí, gọi là A-la-hán, không nên gần gũi, không nên tu, gọi là có thể thọ nhận, gọi là gần, gọi là diệu, gọi là lìa. Giải thích rộng, như nơi Chương Kiền Độ Tạp.

Đức Phật dùng Thánh ngữ vì bốn Thiên vương giảng nói bốn đế. Hai vị hiểu rõ. Hai vị không lãnh hội được. Đức Phật vì xót thương muốn tạo lợi ích nên lại dùng ngữ Đà-tỳ-la để giảng nói bốn đế. Nghĩa là Y di, Di nĩ, Đạp bị, Đà đạp bị. Hai vị không lãnh hội kia: (1) Vị hiểu. (2) Vị không hiểu.

Đức Thế Tôn vì xót thương, muốn tạo ích lợi, nên đã dùng ngữ Di-lê-xa để giảng nói bốn đế. Nghĩa là Ma xa đâu xa, Tăng xa ma, Tát bà đa, Tỳ la trí. Đó gọi là biên vực của khổ. Cả bốn vị đều được hiểu.

Hỏi: Đức Phật có thể dùng Thánh ngữ vì bốn Thiên vương giảng nói bốn đế, khiến họ có thể hiểu chăng? Nếu có thể, vì sao không khiến cho họ hiểu? Nếu không thể, thì như kệ đã nói làm sao thông? Kệ nói:

Phật dùng một âm diễn nói pháp

Nhưng hiện vô số từng ấy nghĩa

Chúng sinh đều cho riêng vì mình

Nói các pháp không vì người khác.

Một âm: Nghĩa là Phạm âm.

Hiện vô số thứ nghĩa: Tức nếu trong hội có người Chân đan, thì cho là Đức Phật dùng ngữ Chân đan vì mình nói pháp. Như có người Thích-ca, người Dạ-ma-na, người Tha-la-đà, người Ma-la-bà, người Khư-sa, người Đâu-khư-la, những người như thế ở trong hội đều suy nghĩ: Đức Phật đã dùng ngữ của mình, riêng vì mình giảng nói pháp. Nếu là người tham dục nhiều, thì Đức Phật vì họ giảng nói về bất tịnh. Người nhiều giận dữ, Đức Phật vì họ giảng nói về tâm từ. Kẻ nhiều ngu si, Đức Phật vì họ giảng nói về duyên khởi.

Chúng sinh đều cho Đức Phật đã vì mình giải nói các pháp, không vì người khác: Bấy giờ trong chúng hội đều cho Đức Phật vì mình giảng nói pháp, không vì người khác.

Đáp: Nên nói như thế này: Đức Phật có thể.

Hỏi: Nếu như vậy thì vì sao không khiến người khác hiểu?

Đáp: Vì muốn đạt đầy đủ tâm niệm của các Thiên vương. Hai Thiên vương suy niệm: Nếu Đức Phật vì ta dùng Thánh ngữ giảng nói bốn đế, thì ta có thể hiểu. Một Thiên vương suy nghĩ: Nếu Đức Phật dùng ngôn ngữ Tỳ-la để giảng nói bốn đế, ta tức có thể hiểu. Một Thiên vương suy nghĩ: Nếu Đức Phật dùng ngôn ngữ Di-lê-xa để giảng nói bốn đế, ta tức có thể hiểu. Như suy nghĩ của họ, nên Đức Phật vì họ giảng nói pháp.

Lại nữa, vì muốn hiện bày sự nhận biết về âm thanh, ngôn ngữ của chúng sinh. Hoặc có người nói Như Lai chỉ có thể nói Thánh ngữ, không thể nói ngôn ngữ khác. Vì muốn khiến tâm nghi như thế được quyết định nên nói như vậy.

Lại nữa, người thọ nhận sự hóa độ, hoặc đối với Đức Như Lai nói ngôn ngữ không biến đổi hình, thì có thể thọ nhận sự hóa độ. Hoặc là đối với Đức Như Lai nói ngôn ngữ biến đổi hình thì có thể thọ nhận sự hóa độ. Nếu đối với Đức Như Lai nói ngôn ngữ không biến đổi hình, thì có thể thọ nhận sự hóa độ. Nếu nói ngôn ngữ biến đổi hình để thọ nhận sự hóa độ thì không thể hiểu.

Từng nghe Đức Phật ở nước Ma-già-đà, vì hóa độ đám bộ hành Tôn Phất Ca La Bà La, trong vòng mười hai do-tuần, nên khiến vạn chúng sinh đều được thấy đế. Tức đều do ngôn ngữ không biến đổi hình. Nếu dùng ngôn ngữ biến đổi hình, thì các chúng sinh kia tức không thể thấy đế. Nếu chúng sinh nên thấy Đức Như Lai nói ngôn ngữ biến đổi hình, mà có thể được hóa độ, thì nếu nói ngôn ngữ không biến hình, tức không được hóa độ.

Lại có thuyết cho: Đức Phật không thể. Vì sự việc ấy không phải là cảnh giới của Đức Thế Tôn, tức không thể tạo ra cảnh giới. Đức Phật tuy được tự tại, nhưng không thể dùng tai để thấy sắc, dùng mắt để nghe tiếng.

Hỏi: Nếu như vậy thì như nơi nghĩa của kệ làm sao thông hợp?

Đáp: Đây là lời tán thán Đức Như Lai nên có thể nói thái quá. Như phái Tỳ-bà Xà-bà-đề đã nói: Như Lai thường xuyên định, vì khéo an trụ nơi niệm, tuệ. Như Lai không ngủ nghỉ, do đã lìa các thứ cái (ngăn che). Như thế đều là lời tán thán hết sức tốt đẹp về Đức Như Lai.

Lại nữa, tiếng nói của Như Lai có thể hiện bày khắp nơi tất cả cảnh giới của âm thanh. Như những chúng sinh kia đã suy nghĩ thảy đều có thể nói. Ngôn ngữ nước Tần của Như Lai hơn hẳn người sinh trong nước Tần. Như Lai nếu nói tiếng Di-lê-xa thì hơn hẳn người sinh trong xứ Di-lê-xa.

Lại nữa, ngôn ngữ của Như Lai luôn xoay chuyển nhanh chóng. Nếu đã giảng nói ngôn ngữ của Tần, tiếp theo nói ngôn ngữ của Thích-ca. do xoay chuyển nhanh chóng, nên người nghe cho là cùng trong một lúc.

Kinh Phật nói: Các Tỳ-kheo! Khổ Thánh đế này đã từng từ nơi người khác nghe nói. Ở trong pháp nên tư duy, chánh quán, sinh nhãn trí, minh giác.

Các Tỳ-kheo! Khổ Thánh đế này, Ta phải nên nhận biết! Đã từng từ nơi người khác nghe nói. Nói rộng như trên.

Các Tỳ-kheo! Khổ Thánh đế này, Ta đã nhận biết, đã từng từ nơi người khác nghe nói, nói rộng như trên. Tập Diệt Đạo nói cũng như thế.

Các Tỳ-kheo! Khổ Thánh đế này, đã từng từ nơi người khác nghe nói, nói rộng như trên, là nói về vị tri dục tri căn.

Các Tỳ-kheo! Khổ Thánh đế này, Ta phải nên nhận biết! Đã từng từ nơi người khác nghe nói, nói rộng như trên, là nói về tri căn.

Các Tỳ-kheo! Khổ Thánh đế này Ta đã nhận biết, từng từ nơi người khác nghe nói, nói rộng như trên, là nói về tri dĩ căn.

Như thế mỗi mỗi đế còn lại, ba lần chuyển sinh ba căn cũng như vậy.

Tôn giả Đạt-ma-đa-la đã nói như thế này: Tôi tư duy về pháp đã giảng nói ấy, khiến rùng mình rợn người. Đức Như Lai đã giảng nói về nghĩa không có trái nhau, không mất thứ lớp. Nay thuyết đã nói ở đây là mất thứ lớp. Vì sao? Vì ở đây trước nói Tri dĩ căn, sau nói Vị tri dục tri căn. Pháp quán như thế không phải là đối tượng quán của Phật, Phật-bích-chi, Thanh văn. Vì sao? Vì trước không có Tri dĩ căn, sau khởi Vị tri dục tri căn hiện ở trước. Nhưng nếu muốn bỏ điều thuyết giảng này thì không thể. Vì sao? Vì đây là sự thuyết giảng đầu tiên của Đức Như Lai, đã có năm Tỳ-kheo, tám vạn chư Thiên làm chứng. Nếu muốn không bỏ điều đã giảng nói này, thì mất thứ lớp.

Tôn giả kia tuy đã có suy nghĩ ấy, nhưng không bỏ thuyết này, chỉ sửa cho đúng văn. Đoạn kinh ấy nên nói như vầy: Các Tỳ-kheo! Khổ Thánh đế này, đã từng từ nơi người khác nghe nói, ở trong pháp tư duy chánh quán, sinh nhãn trí minh giác, là Tập Thánh đế, là Diệt Thánh đế, là Đạo Thánh đế nói rộng như trên.

Các Tỳ-kheo! Khổ Thánh đế này, Ta cần phải nhận biết. Khổ Tập đế này Ta cần phải đoạn trừ. Khổ Diệt đế này Ta cần phải chứng đắc. Khổ Diệt Đạo đế này, Ta cần phải tu tập. Nói rộng như trên.

Các Tỳ-kheo! Khổ Thánh đế này Ta đã nhận biết. Khổ Tập đế này Ta đã đoạn trừ. Khổ Diệt đế này Ta đã chứng đắc Khổ Diệt Đạo đế này Ta đã tu tập. Nói rộng như trên.

Nếu tạo ra thuyết này thì không mất thứ lớp, tùy thuận lúc thấy đế. Người A-tỳ-đàm nói như thế này: Văn của kinh không nên sửa lại. Vì sao? Vì các vị Đại Luận sư quá khứ, trí tuệ lợi căn đã không sửa lại văn kinh, huống chi là Tôn giả Đạt-ma-đa-la trí tuệ lợi căn không bằng người trước.

Hỏi: Nếu như vậy thì điều đã nói ở đây há không trái với thứ lớp?

Đáp: Có hai thứ tùy thuận: (1) Tùy thuận điều đã giảng nói. (2) Tùy thuận nơi thấy đế.

Do tùy thuận với điều đã giảng nói, nên Đức Thế Tôn đã nêu bày như thế. Do tùy thuận nơi thấy đế, nên Tôn giả Đạt-ma-đa-la đã biện giải như vậy.

Tôn giả Ba-xa nói: Ở đây không nói Vị tri dục tri căn, tri dĩ căn. Ở đây nói về văn tuệ, tư tuệ nơi cõi dục của Bồ-tát. Lúc Bồ-tát ngồi nơi đạo tràng bên cội cây Bồ-đề đã tạo ra phương tiện hành quán như thế.

Hỏi: Nếu như vậy thì như thuyết này làm sao thông? Như nói: Các Tỳ-kheo! Bấy giờ, Ta đã chứng được đạo quả Bồ-đề vô thượng. Vậy có phải Đức Như Lai đã do văn tuệ, tư tuệ nơi cõi dục nên chứng đắc Chánh đẳng Chánh giác Vô thượng?

Đáp: Xưa, khi còn làm Bồ-tát, Đức Như Lai đã tạo ra phương tiện quán hành như thế, đã dùng văn tuệ, tư tuệ nơi cõi dục để quán các pháp, sinh trí tuệ sáng suốt, loại trừ danh nghĩa ngu tối, tất đạt được đạo quả Bồ-đề vô thượng. Như người trước dùng da sống che mặt, sau đấy thì bỏ, dùng lá Sa-la che mặt, chỉ gây chướng ngại cho mặt rất nhỏ ít. Sự việc kia cũng như thế.

Các Tỳ-kheo! Ta đã ba lần chuyển bốn đế làm mười hai hành, phát sinh nhãn trí minh giác.

Hỏi: Như ba lần chuyển bốn đế làm mười hai hành như vậy, tức nên có bốn mươi tám hành. Vì sao chỉ nói ba lần chuyển bốn đế làm mười hai hành?

Đáp: Đây là ba lần nói pháp mười hai hành, không quá mười hai. Phần còn lại nói rộng như nơi Kiền Độ Tạp.

Hỏi: Bốn Thánh đế này, nếu là thể của chúng đoạn cũng là duyên nơi đoạn chăng?

Đáp: Hoặc là thể đoạn, không phải là duyên nơi đoạn. Hoặc là duyên nơi đoạn, không phải là thể đoạn. Cho đến nói rộng làm bốn trường hợp:

1. Thể đoạn không phải là duyên nơi đoạn: Là khổ đế, tập đế duyên nơi vô lậu, nơi pháp không có duyên.

2. Duyên đoạn không phải là thể đoạn: Là đạo đế duyên nơi pháp hữu lậu.

3. Thể đoạn cũng duyên nơi đoạn: Là khổ đế, tập đế duyên nơi pháp hữu lậu.

4. Không phải là thể đoạn cũng không phải là duyên nơi đoạn: Là đạo đế duyên nơi pháp vô lậu, không có duyên nơi tất cả diệt đế.

* Bốn thiền: (1) Thiền thứ nhất. (2) Thiền thứ hai. (3) Thiền thứ ba. (4) Thiền thứ tư.

Hỏi: Vì lý do gì tạo ra phần Luận này?

Đáp: Vì muốn cho người nghi có được quyết định. Luận Bagià-la-na (Luận Phẩm Loại Túc) nói: Thế nào là thiền thứ nhất? Là năm ấm thiện thuộc về thiền thứ nhất. Cho đến thế nào là thiền thứ tư? Là năm ấm thiện thuộc về bốn thiền. Trong Luận kia nói là thiền thiện, không nói nhiễm ô, vô ký không ẩn mất. Hoặc có kẻ cho thiền chỉ là thiện, không phải là nhiễm ô, vô ký không ẩn mất. Nay vì muốn quyết định nói thiền là thiện, nhiễm ô, vô ký không ẩn mất, nên tạo ra phần Luận này.

Bốn thiền: Là thiền thứ nhất cho đến thiền thứ tư.

Hỏi: Vì sao gọi là thiền? Là do đoạn trừ kiết nên gọi là thiền, hay do chánh quán nên gọi là thiền? Nếu do đoạn trừ kiết nên gọi là thiền, thì trong vô sắc cũng có định có thể đoạn trừ kiết, cũng nên gọi là thiền? Nếu do chánh quán nên gọi là thiền, thì trong cõi dục cũng có định có thể chánh quán, cũng nên gọi là thiền?

Đáp: Nên tạo ra thuyết này: Do đoạn trừ kiết nên gọi là thiền.

Hỏi: Nếu như vậy, thì trong cõi vô sắc cũng có định có thể đoạn trừ kiết, cũng nên gọi là thiền?

Đáp: Nếu định có thể đoạn trừ kiết bất thiện, vô ký là thiền. Định vô sắc tuy có thể đoạn trừ kiết vô ký, nhưng không thể đoạn trừ kiết bất thiện, nên không gọi là thiền.

Hỏi: Nếu tạo ra thuyết ấy, thì chỉ thiền vị chí là thiền. Vì sao? Vì có thể đoạn trừ kiết bất thiện, vô ký.

Đáp: Ở đây là nói đối trị lỗi lầm tai hại. Đối trị có hai thứ: (1) Đối trị lỗi lầm tai hại. (2) Đối trị đoạn trừ.

Địa trên tuy không có đối trị đoạn trừ kiết bất thiện, nhưng có đối trị lỗi lầm tai hại.

Hỏi: Nếu nói như thế, thì nơi địa trên Diệt pháp trí, Đạo pháp trí, tất cả Tỷ trí, tức không gọi là thiền. Vì sao? Vì đối với kiết của cõi dục, không thể tạo được sự đối trị đoạn trừ, cùng đối trị lỗi lầm tai hại?

Đáp: Tuy không phải là hoàn toàn cõi, hoàn toàn địa, nhưng trong cõi, trong địa ấy có thể cùng với kiết của cõi dục tạo ra sự đối trị lỗi lầm tai hại. Nên do có thể hay không có thể cũng được gọi là thiền.

Lại nữa, trong thiền chỉ ngăn chặn phần ít, còn có phần ít cùng với kiết của cõi dục tạo sự đối trị đoạn trừ và đối trị lỗi lầm tai hại. Nơi cõi vô sắc thì đều ngăn chận, cho đến không có một sát-na cùng với kiết của cõi dục tạo ra sự đối trị đoạn trừ và đối trị lỗi lầm tai hại.

Tôn giả Cù-sa nói: Sáu địa này đều có thể cùng với kiết của cõi dục tạo ra sự đối trị đoạn trừ và đối trị lỗi lầm tai hại. Do thiền vị chí mới xuất hiện, nên đoạn trừ kiết của cõi dục. Các thiền khác thì không đoạn, do thiền vị chí đã đoạn. Như ánh sáng mặt trời vào lúc mới mọc, giữa ngày và cuối ngày, đều cùng với bóng tối tương phản, nhưng lúc mới mọc thì có thể xua trừ bóng tối ban đêm. Vào giữa ngày và cuối ngày, tuy cùng với bóng tối tương phản, nhưng không xua trừ bóng tối, do lúc mặt trời mới xuất hiện đã xua trừ hết.

Cũng như sáu người cùng có một kẻ oán địch, bàn với nhau: Chúng ta nếu người nào gặp kẻ oán địch trước tất giết ngay hắn ta. Trong sáu người ấy, có một người đã gặp kẻ oán địch và giết kẻ ấy. Năm người còn lại, tuy đối với kẻ kia đều là oán cả, nhưng không giết hắn ta, vì người trước đã giết rồi. Như người mang sáu cây đèn lần lượt đi vào ngôi nhà tối tăm. Lần thứ nhất mang đèn tức dứt trừ tối tăm nơi ngôi nhà ấy. Năm ngọn đèn còn lại, tuy cùng với bóng tối tương phản, nhưng không dứt trừ bóng tối, vì ngọn đèn thứ nhất đã dứt trừ rồi. Như vậy, trong sáu địa, tuy cùng với kiết của cõi dục tạo sự đối trị đoạn trừ, đối trị lỗi lầm tai hại, nhưng do thiền vị chí lúc mới sinh đã đoạn trừ kiết của cõi dục, nên các địa còn lại không đoạn, vì thiền vị chí trước đã đoạn rồi. Nếu sáu địa tạo ra sự đối trị đoạn trừ kiết của cõi dục, thì dựa nơi thiền căn bản, lúc đạt được chánh quyết định, tức kiết nơi cõi dục do kiến đạo đoạn trừ không có sai biệt, cũng không nên chứng đắc giải thoát. Do dựa nơi thiền căn bản đạt được chánh quyết định, nên đối với phiền não nơi cõi dục do kiến đạo đoạn trừ có sai biệt, chứng đắc giải thoát. Vì sự việc ấy nên biết sáu địa đều có sự đối trị đoạn trừ và đối trị lỗi lầm tai hại đối với phiền não cõi dục.

Lại nữa, nếu định có thể đoạn trừ rốt ráo kiết do kiến đạo, tu đạo đoạn thì gọi là thiền. Định vô sắc tuy đoạn trừ rốt ráo kiết do tu đạo đoạn, nhưng không đoạn trừ kiết do kiến đạo đoạn.

Lại nữa, nếu định có thể duyên khắp để có thể đoạn trừ kiết thì gọi là thiền. Định vô sắc tuy có thể đoạn trừ kiết, nhưng không thể duyên khắp. Định cõi dục tuy có thể duyên khắp, nhưng không thể đoạn trừ kiết. Thiền định thì có thể duyên khắp, cũng có thể đoạn trừ kiết.

Lại nữa, nếu định cùng với năm ấm cùng sinh khởi, tạo sự nương dựa thì gọi là thiền. Định vô sắc chỉ cùng với bốn ấm cùng sinh khởi, tạo sự nương dựa nên không gọi là thiền.

Lại nữa, nếu định có bốn chi năm chi thì gọi là thiền. Định vô sắc không có bốn chi năm chi nên không gọi là thiền.

Lại nữa, nếu có xứ vui thích đạo thì gọi là thiền. Định vô sắc không có xứ vui thích đạo nên không gọi là thiền.

Lại nữa, nếu định có thể cùng với đạo tạo sự nương dựa thì gọi là thiền. Định vô sắc không thể cùng với đạo tạo sự nương dựa nên không gọi là thiền.

Lại nữa, nếu là định có ba thứ thị hiện thì gọi là thiền. Định vô sắc không có ba thứ thị hiện nên không gọi là thiền.

Lại nữa, nếu định có ba căn vô lậu thì gọi là thiền. Định vô sắc không đủ ba căn vô lậu nên không gọi là thiền. Như ba căn vô lậu, thì ba đạo cũng như vậy.

Lại nữa, nếu có xứ của hai đạo thì gọi là thiền. Hai đạo là kiến đạo – tu đạo, nhẫn đạo – trí đạo, pháp trí đạo – tỷ trí đạo. Trong vô sắc không có kiến đạo, nhẫn đạo, pháp trí đạo, nên không gọi là thiền.

Lại có thuyết nói: Do chánh quán nên gọi là thiền.

Hỏi: Nếu như vậy, cõi dục cũng có chánh quán, tức nên gọi là thiền?

Đáp: Nếu định có thể chánh quán, cũng có thể đoạn trừ kiết, thì gọi là thiền. Định nơi cõi dục tuy có thể chánh quán, nhưng không thể đoạn trừ kiết, nên không gọi là thiền.

Lại nữa, nếu định vững chắc nối tiếp, trụ lâu, ý xuất nhập không bỏ, thì gọi là thiền. Vì định nơi cõi dục cùng với định này trái nhau, nên không gọi là thiền.

Lại nữa, nếu có tên định, cũng có công dụng của định, thì gọi là thiền. Định nơi cõi dục tuy có tên định, nhưng không có công dụng của định. Cũng như đòn tay đắp bằng đất tuy có tên đòn tay, nhưng không có công dụng của đòn tay. Thiền định cũng như đòn tay gỗ, cũng có tên đòn tay, cũng có công dụng của đòn tay.

Lại nữa, nếu định không bị nhiễu loạn do gió thổi động, thì gọi là thiền. Định nơi cõi dục thì bị nhiễu loạn khi gió thổi động, nên không gọi là thiền. Cũng như ngọn đèn đặt ở ngã tư đường, bị gió thổi lay động. Thiền định không bị nhiễu loạn do gió thổi động, nên gọi là thiền. Cũng như ngọn đèn trong nhà không bị gió thổi lay động. Định kia cũng như thế.

Thiền có mười tám chi: Thiền thứ nhất có năm chi: Giác, quán, hỷ, lạc, nhất tâm. Thiền thứ hai có bốn chi: Nội tín, hỷ, lạc, nhất tâm. Thiền thứ ba có năm chi: Xả, niệm, tuệ, lạc, nhất tâm. Thiền thứ tư có bốn chi: Không khổ không lạc, xả, niệm, nhất tâm.

Hỏi: Chi thiền danh có mười tám, thể có bao nhiêu?

Đáp: Danh có mười tám, thể có mười một. Thiền thứ nhất có năm chi, danh có năm, thể cũng có năm. Thiền thứ hai thêm một chi là nội tín. Thiền thứ ba thêm bốn chi: Xả, niệm, tuệ, lạc. Thiền thứ tư thêm một chi là không khổ không lạc. Thế nên chi thiền, danh có mười tám, thể có mười một.

Lại có thuyết nói: Chi thiền danh có mười tám, thể chỉ có mười. Vì sao? Vì lạc của thiền thứ nhất, thiền thứ hai, thiền thứ ba đều cùng là một chi lạc.

Lời bình: Không nên tạo ra thuyết này. Vì sao? Vì lạc của thiền thứ nhất khác với lạc của thiền thứ hai, khác với lạc của thiền thứ ba. Lạc của thiền thứ nhất, thiền thứ hai là lạc của khinh an. Lạc của thiền thứ ba là thọ lạc. Lạc của thiền thứ nhất, thiền thứ hai thuộc về hành ấm. Lạc của thiền thứ ba thuộc về thọ ấm. Thế nên, như thuyết trước nói là tốt.

Như danh – thể, thì danh – số, thể – số, cho đến nhận biết danh – nhận biết thể, nói cũng như thế.

Hỏi: Thế nào là thiền? Thế nào là chi?

Đáp: Nhất tâm là thiền. Phần còn lại là chi.

Hỏi: Nếu như vậy thì thiền thứ nhất, thiền thứ ba có bốn chi. Thiền thứ hai, thiền thứ tư có ba chi?

Đáp: Nhất tâm là thiền cũng là chi thiền. Các thứ còn lại là chi, không phải là thiền. Như chánh kiến là đạo, là chi đạo. Các pháp còn lại là chi đạo. Như trạch pháp giác là giác, là chi giác. Phần còn lại là chi giác. Không ăn phi thời là trai, là chi trai. Phần còn lại là chi trai. Như thế, nhất tâm là thiền, cũng là chi thiền.

Đây là thể tánh của Chi thiền, cho đến nói rộng.

Đã nói về thể tánh. Về lý do nay sẽ nói.

Hỏi: Vì sao gọi là chi? Chi là nghĩa gì?

Đáp: Nghĩa tùy thuận là nghĩa của chi. Nghĩa cùng gánh vác là nghĩa của chi. Nghĩa trở thành việc lớn là nghĩa của chi. Nghĩa bền chắc hơn hết là nghĩa của chi. Nghĩa dị biệt là nghĩa của chi.

Nghĩa tùy thuận là nghĩa của chi: Nếu pháp tùy thuận nơi địa kia nên lập làm chi. Cùng gánh vác, trở thành việc lớn, bền chắc hơn hết cũng như thế.

Nghĩa dị biệt là nghĩa của chi: Như quân dị biệt, gọi là chi quân. Như xe dị biệt, gọi là chi xa. Như thế, vì thiền dị biệt, nên gọi là chi thiền.

Thế nên, nghĩa tùy thuận là nghĩa của chi, cho đến nói rộng.

Hỏi: Nếu là chi của thiền thứ nhất cũng là chi của thiền thứ hai chăng?

Đáp: Hoặc là chi của thiền thứ nhất, không phải là chi của thiền thứ hai, cho đến nói rộng làm bốn trường hợp:

1. Chi của thiền thứ nhất không phải là chi của thiền thứ hai: Là giác quán.

2. Chi của thiền thứ hai không phải là chi của thiền thứ nhất: Là nội tín.

3. Chi của thiền thứ nhất cũng là chi của thiền thứ hai: Là hỷ, lạc, nhất tâm.

4. Không phải là chi của thiền thứ nhất cũng không phải là chi của thiền thứ hai: Là trừ từng ấy sự việc trên.

Nếu là chi của thiền thứ nhất cũng là chi của thiền thứ ba chăng? Cho đến nói rộng làm bốn trường hợp:

1. Chi của thiền thứ nhất không phải là chi của thiền thứ ba: Là giác, quán, hỷ, lạc.

2. Chi của thiền thứ ba không phải là chi của thiền thứ nhất: Là xả, niệm, tuệ, lạc.

3. Chi của thiền thứ nhất cũng là chi của thiền thứ ba: Là nhất tâm.

4. Không phải là chi của thiền thứ nhất cũng không phải là chi của thiền thứ ba: Là trừ từng ấy sự việc trên.

Nếu là chi của thiền thứ nhất cũng là chi của thiền thứ tư chăng?

Cho đến nói rộng làm bốn trường hợp:

1. Chi của thiền thứ nhất không phải là chi của thiền thứ tư: Là giác, quán, hỷ, lạc.

2. Chi của thiền thứ tư không phải là chi của thiền thứ nhất: Là không khổ không lạc, xả, niệm.

3. Chi của thiền thứ nhất cũng là chi của thiền thứ tư: Là nhất tâm.

4. Không phải là chi của thiền thứ nhất cũng không phải là chi của thiền thứ tư: Là trừ từng ấy sự việc trên.

Nếu là chi của thiền thứ hai cũng là chi của thiền thứ ba chăng? Cho đến nói rộng làm bốn trường hợp:

1. Chi của thiền thứ hai không phải là chi của thiền thứ ba: Là nội tín, hỷ, lạc.

2. Chi của thiền thứ ba không phải là chi của thiền thứ hai: Là xả, niệm, tuệ, lạc.

3. Chi của thiền thứ hai cũng là chi của thiền thứ ba: Là nhất tâm.

4. Không phải là chi của thiền thứ hai cũng không phải là chi của thiền thứ ba: Là trừ từng ấy sự việc trên.

Cho đến bốn trường hợp của thiền thứ ba đối chiếu với thiền thứ tư, nên tùy tướng để nói.

Hỏi: Như khinh an, xả có trong tất cả địa, vì sao nơi thiền thứ nhất, thiền thứ hai lập khinh an, không lập xả? Thiền thứ ba, thiền thứ tư lập xả, không lập khinh an?

Đáp: Trước đã nêu rõ: Nghĩa tùy thuận là nghĩa của chi. Nếu pháp tùy thuận nơi địa kia thì lập làm chi. Vì khinh an tùy thuận nơi thiền thứ nhất, thiền thứ hai, nên lập làm chi. Vì xả tùy thuận nơi thiền thứ ba, thiền thứ tư, nên lập làm chi.

Lại nữa, vì thế dụng là hơn, nên lại che lấp nhau. Như nơi thiền thứ nhất, thiền thứ hai, thế dụng của khinh an là hơn, nên che lấp xả. Nơi thiền thứ ba, thiền thứ tư, thế dụng của xả là hơn, nên che lấp khinh an.

Hỏi: Thế nào là hai pháp này lại che lấp lẫn nhau?

Đáp: Vì đối tượng hành là trái nhau. Như một người cùng một lúc cũng đi, cũng đứng, cũng ngủ, cũng thức, hoàn toàn là trái nhau. Hai pháp kia cũng như thế.

Lại nữa, do đối trị năm thức và thân thô của cõi dục, nên thiền thứ nhất lập khinh an làm chi. Do đối trị ba thức và thân thô của thiền thứ nhất, nên thiền thứ hai lập khinh an làm chi. Vì thiền thứ hai không có thân thô, nên thiền thứ ba không lập khinh an làm chi. Vì thiền thứ ba không có thân thô, nên thiền thứ tư không lập khinh an làm chi.

Lại nữa, do thiền thứ nhất, thiền thứ hai có hỷ nhiễm ô. Do sự việc ấy, nên Đức Phật chỉ rõ: Tức nên khinh an, không nên xả. Vì thế thiền thứ nhất, thiền thứ hai lập khinh an làm chi. Thiền thứ ba, thiền thứ tư không có hỷ nhiễm ô, thế nên các hành Thánh đều xả.

Lại nữa, do khinh an của thiền thứ nhất, thiền thứ hai, lúc sinh có đối tượng duyên. Như nói: Nếu khi tâm vui mừng thì thân sinh khởi khinh an. Khinh an của thiền thứ ba, thiền thứ tư, lúc sinh không có đối tượng duyên. Thế nên các hành Thánh đều xả.

Hỏi: Nội tín có trong tất cả địa, vì sao nơi địa thiền thứ hai lập làm chi, không phải là thiền thứ nhất?

Đáp: Trước đã nói: Nghĩa tùy thuận là nghĩa của chi. Nếu pháp tùy thuận nơi địa kia thì lập làm chi. Nội tín vì tùy thuận nơi địa thiền thứ hai, nên lập làm chi.

Lại nữa, giác quán của thiền thứ nhất như lửa, thức thân như bùn nhơ khiến tâm bị khuấy động, vẩn đục, tín không sáng sạch.

Như trong vũng bùn nhơ, nóng, nên hình tượng không hiện. Thiền thứ hai không có lửa giác quán, thức thân, bùn nhơ, nên tín tức sáng sạch. Như nước trong, mát, hình tượng hiện rõ. Pháp kia cũng như thế.

Lại nữa, hành giả trụ nơi thiền thứ hai, đã lìa dục ở cõi, lìa dục nơi địa, sinh tâm tín lớn. Hành giả đã lìa dục nơi cõi dục bất định, khởi thiền thứ nhất hiện ở trước, suy nghĩ như thế này: Ta đã lìa được dục của cõi bất định, không biết dục của cõi định là có thể lìa chăng? Về sau, lìa dục nơi thiền thứ nhất, khởi thiền thứ hai hiện ở trước. Bấy giờ, đã lìa dục nơi cõi, lìa dục nơi địa, sinh tâm tín lớn. Như dục của địa thiền thứ nhất có thể lìa, nên biết tất cả địa, cho đến dục của xứ phi tưởng phi phi tưởng đều có thể lìa.

Do các sự việc như thế, nên nơi thiền thứ hai tín được lập làm chi, thiền thứ nhất không lập.

Hỏi: Niệm, tuệ có trong tất cả địa, vì sao nơi địa thiền thứ ba lập làm chi, không phải là địa khác?

Đáp: Trước đã nói rõ: Nghĩa tùy thuận là nghĩa của chi. Nếu pháp tùy thuận nơi địa thiền kia thì lập làm chi. Do niệm, tuệ tùy thuận nơi thiền thứ ba nên lập làm chi.

Lại nữa, đạo của thiền thứ ba phần nhiều có các trở ngại. Địa mình cũng có trở ngại, địa khác cũng có trở ngại. Đạo của địa khác có nhiều các thứ trở ngại: Là hỷ của thiền thứ hai nổi chìm, vội vã, cũng như La-sát, khiến hành giả khi lìa dục của thiền thứ ba sinh ra các thứ suy thoái. Vì đối trị sự việc này, nên thiền thứ ba lập niệm làm chi. Do đó, Đức Phật nói: Các ông nên chánh niệm, chớ để bị hỷ của thiền thứ hai làm cho chìm nổi. Trở ngại của địa mình: Là thọ lạc của thiền thứ ba là lạc hơn hết đối với tất cả lạc trong sinh tử, khiến hành giả ưa thích vướng mắc, không thể lìa dục của địa trên.

Do các sự việc như thế, nên nơi thiền thứ ba tuệ được lập làm chi. Đức Phật nêu rõ: Các ông đối với lạc ấy, chớ nên sinh tham vướng, không cầu pháp lìa dục của địa trên.

Hỏi: Niệm, tuệ có trong tất cả địa, vì sao nơi địa thiền thứ tư lập niệm làm chi, không lập tuệ?

Đáp: Trước đã nói rõ: Nghĩa tùy thuận là nghĩa của chi. Nếu pháp tùy thuận nơi địa thiền kia thì lập làm chi. Niệm vì tùy thuận nơi thiền thứ tư nên lập làm chi. Tuệ không tùy thuận nên không lập làm chi.

Lại nữa, đạo của thiền thứ tư có nhiều các thứ trở ngại. Địa khác có trở ngại. Đạo của địa mình không có trở ngại: Tức thọ lạc của địa thiền thứ ba là hơn hết trong tất cả lạc nơi sinh tử. Hành giả vì tham vướng nên không cầu lìa dục của địa trên. Thế nên Đức Phật đã chỉ rõ: Các ông phải nên chánh niệm, đừng để bị lạc của thiền thứ ba che lấp. Do địa mình không có trở ngại, nên không lập tuệ làm chi.

Lại nữa, địa thiền thứ tư lập thọ không khổ không lạc làm chi. Thọ không khổ không lạc là phần vô minh, tuệ là phần minh. Do minh, vô minh là pháp trái nhau.

Hỏi: Nếu là chi thiền cũng là phần trợ đạo chăng?

Đáp: Hoặc là chi thiền không phải là phần trợ đạo, cho đến nói rộng làm bốn trường hợp:

1. Là chi thiền không phải là phần trợ đạo: Là quán của thiền thứ nhất, lạc của thiền thứ ba, không khổ không lạc của thiền thứ tư.

2. Là phần trợ đạo không phải là chi thiền: Là tinh tấn, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng.

3. Là chi thiền cũng là phần trợ đạo: Là các phần trợ đạo khác.

4. Không phải là chi thiền cũng không phải là phần trợ đạo: Là trừ từng ấy sự việc trên.

Hỏi: Quán của thiền thứ nhất, lạc của thiền thứ ba, không khổ không lạc của thiền thứ tư, vì sao không lập làm phần trợ đạo?

Đáp: Là do che lấp. Quán của địa thiền thứ nhất bị giác che lấp, nên không lập làm phần trợ đạo. Lạc của thiền thứ ba bị lạc của khinh an che lấp, nên không lập làm phần trợ đạo. Không khổ không lạc của thiền thứ tư bị hành xả che lấp, nên không lập làm phần trợ đạo. Do các sự việc như thế, nên không lập làm phần trợ đạo.

Hỏi: Vì sao tinh tấn không lập làm chi thiền?

Đáp: Chi thiền đối với địa mình được là thù thắng. Tinh tấn đối với địa khác là thù thắng. Tinh tấn của địa thiền thứ nhất tạo ra phương tiện thù thắng của địa thiền thứ hai, cho đến tinh tấn của xứ vô sở hữu tạo ra phương tiện thù thắng của xứ phi tưởng phi phi tưởng.

Lại nữa, tinh tấn cùng với pháp sinh định là tương phản.

Là cùng với pháp sinh định nào tương phản? Đáp: Là lạc. Như nói: Vì lạc nên tâm định sinh chúng sinh hành tinh tấn tất khổ.

Hỏi: Vì sao chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng không lập làm chi thiền?

Đáp: Chi thiền là tương ưng, là có duyên, là có hành, là có chỗ dựa, là có thế dụng. Chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng cùng với các pháp này trái nhau, nên không lập làm chi thiền.

Hỏi: Nếu là chi thiền thì cũng là niệm xứ chăng? Nếu là niệm xứ thì cũng là chi thiền chăng? Nếu là chi thiền thì cũng là chánh đoạn, thần túc, căn, lực, giác đạo phần chăng? Nếu là chánh đoạn, thần túc, căn, lực, giác đạo phần thì cũng là chi thiền chăng? Nên theo tướng để nói rộng.

Lại lập ra câu hỏi này: Nếu là chi thiền thứ nhất thì cũng là phần trợ đạo chăng? Nếu là phần trợ đạo thì cũng là chi thiền thứ nhất chăng? Cho đến hỏi về thiền thứ tư cũng như thế, nên theo tướng để nói rộng.

Lại nêu ra câu hỏi này: Nếu là chi thiền thứ nhất thì cũng là phần trợ đạo chăng? Nếu là phần trợ đạo thì cũng là chi thiền thứ nhất chăng? Cho đến thiền thứ tư nêu hỏi cũng như thế, nên theo tướng để nói rộng.

Hỏi: Các biên và định vô sắc có được lập làm chi không? Nếu lập làm chi thì ở đây vì sao không nói? Nếu không lập thì như nơi Luận Thi Thiết nói làm sao thông? Như nói: Từng có định xứ không đối với định xứ không, đạo thù thắng, căn thù thắng, định thù thắng chi v.v… chăng? Đáp: Có. Từ định xứ không khởi theo thứ lớp, rồi trở lại nhập định xứ không.

Đáp: Hoặc có thuyết nói: Các biên và định vô sắc được lập làm chi. Như thế là khéo thông hợp nơi thuyết của Luận Thi Thiết.

Hỏi: Nhưng ở đây vì sao không nói?

Đáp: Nên nói. Như thiền thứ nhất có năm chi, thì biên cũng có năm chi, trừ hỷ thêm thọ không khổ không lạc. Như thiền thứ hai căn bản có bốn chi, thì biên cũng có bốn chi, trừ hỷ thêm thọ không khổ không lạc. Như thiền thứ ba căn bản có năm chi, thì biên cũng có năm chi, trừ hỷ thêm thọ không khổ không lạc. Như thiền thứ tư căn bản có bốn chi, thì biên cũng có bốn chi. Như thiền thứ tư, thì bốn định vô sắc cũng như thế.

Lời bình: Các biên và định vô sắc không lập làm chi. Thế nên ở đây không nói.

Hỏi: Nếu như thế thì như Luận Thi Thiết đã nói làm sao thông?

Đáp: Ở đấy là nói về căn thù thắng, đạo thù thắng, định thù thắng, do dụng của định sau làm nhân cho định trước sinh, nên chi v.v…, là nói chi giác đạo.

Hỏi: Vì sao thiền thứ nhất, thiền thứ ba lập năm chi, còn thiền thứ hai, thiền thứ tư chỉ lập bốn chi?

Đáp: Trước đã nêu rõ: Nghĩa tùy thuận là nghĩa của chi. Nếu pháp tùy thuận nơi địa kia thì lập làm chi. Vì năm chi tùy thuận nơi thiền thứ nhất, thiền thứ ba, nên lập năm chi. Vì bốn chi tùy thuận nơi thiền thứ hai, thiền thứ tư, nên lập bốn chi.

Lại nữa, cõi dục là cõi khó đoạn, khó trừ, khó vượt qua, tất phải có sự đối trị vững chắc. Thế nên, để đối trị cõi dục ấy, thiền thứ nhất lập năm chi. Hỷ của thiền thứ hai vì khó đoạn, khó trừ, khó vượt qua, tất cần có sự đối trị vững chắc. Vì vậy để đối trị hỷ của thiền thứ hai ấy, thiền thứ ba lập ra năm chi. Vì thiền thứ nhất không khó đoạn khó trừ, không khó vượt qua, không cần sự đối trị vững chắc, nên để đối trị thiền thứ nhất, thiền thứ hai chỉ lập bốn chi.

Lại nữa, vì đối trị năm thứ ái cảnh giới của cõi dục, nên thiền thứ nhất lập năm chi. Vì đối trị năm thứ ái của hỷ nơi thiền thứ hai, nên thiền thứ ba lập năm chi. Vì thiền thứ nhất không có năm thứ ái cảnh giới, nên thiền thứ hai không lập năm chi. Thiền thứ ba vì không có năm thứ ái của hỷ, nên thiền thứ tư không lập năm chi.

Lại nữa, vì muốn cho hành giả nhập định siêu việt được tùy thuận, nên khởi năm chi định, nhập năm chi định, khởi bốn chi định, nhập bốn chi định.

Hỏi: Như khởi thiền thứ ba nhập định xứ không, nếu là bốn chi, hoặc không có chi, ở đây làm sao được tùy thuận?

Đáp: Tất cả đối tượng tạo tác của pháp ngoại pháp nội, đầu tiên cần phải tùy thuận. Về sau, khi sự việc đã thành thì không cần tùy thuận.

Đối tượng tạo tác của pháp ngoại: Từng nghe có vị vua tên Chiên-đà-quật, quan tên Già-na-già, trong mười hai năm đã tạo ra kiểu mẫu vàng. Lúc bắt đầu, thành tựu được bằng chừng một hạt lúa mì, liền tạo ra tiếng gầm của sư tử. Nay sức của ta có thể tạo thành núi vàng.

Đối tượng tạo tác của pháp nội: Như hành giả lúc tu thần túc. Ban đầu có thể cất mình lên khỏi mặt đất bằng nửa hạt mè chuyển thành hạt mè, nửa hạt lúa mì chuyển thành một hạt lúa mì, nửa ngón tay chuyển thành một ngón tay, nửa tấc chuyển thành một tấc, nửa thước chuyển thành một thước, nửa khuỷu chuyển thành một khuỷu tay, nửa tầm chuyển thành một tầm, cái móc áo, cái giá mắc áo. Về sau, nếu hoàn thành có thể cất mình lên đến cõi trời A-ca-nị-trá.

Như thế pháp ngoại, pháp nội khi sự việc chưa thành, tất cần tùy thuận. Sau khi sự việc đã thành, thì không cần tùy thuận. Định siêu việt kia cũng như vậy. Khi sự việc chưa thành, khởi định năm chi nhập định năm chi, khởi định bốn chi nhập định bốn chi. Sau khi sự việc đã thành, khởi định năm chi nhập định bốn chi, hoặc định không chi.

Kinh Phật nói: Có bốn thứ định tâm số pháp thù thắng thọ nhận hiện pháp lạc.

Hỏi: Vì sao gọi là bốn thứ định tâm số pháp thù thắng?

Đáp: Định kia có uy lực lớn, có thể thành tựu sự việc lớn, có công dụng lớn, là thiền căn bản. Thế nên bốn thiền căn bản được gọi là định tâm số pháp thù thắng.

Lại nữa, trong định kia có nhiều các tâm số pháp có thể đạt được, như vô lượng giải thoát, thắng xứ, nhất thiết xứ, vô ngại, nguyện trí vô tránh, một nửa hoặc phần nhiều đều cùng đặt để v.v… Thế nên gọi là định tâm số pháp thù thắng.

Lại nữa, hành giả đối với định tâm số pháp kia được nhiều thứ tâm thọ nhận lạc, như vô lượng giải thoát, cho đến tam muội không không, tam muội vô tướng vô tướng, tam muội vô nguyện vô nguyện. Thế nên gọi là định tâm số pháp thù thắng thọ nhận hiện pháp lạc.

Hỏi: Pháp này cũng thọ nhận hậu pháp lạc, không chỉ là hiện pháp lạc, vì sao nói là thọ nhận hiện pháp lạc, không nói là thọ nhận hậu pháp lạc?

Đáp: Nên nói, như nói thọ nhận hiện pháp lạc, cũng nên nói thọ nhận hậu pháp lạc, nhưng không nói nên biết là nghĩa này nêu giảng chưa trọn vẹn.

Lại nữa, nếu nói hiện pháp lạc nên biết là đã nói hậu pháp lạc. Vì sao? Vì hậu pháp lạc tất nhân nơi hiện pháp lạc. Như nói: Trước ở đây tu định, sau sinh nơi xứ kia.

Lại nữa, hiện pháp lạc có thể khiến cho hậu pháp lạc nối tiếp, chẳng phải là hậu pháp lạc có thể khiến cho hiện pháp lạc được nối tiếp. Thế nên nói hiện pháp lạc.

Lại nữa, hiện pháp lạc là môn được nương dựa của phương tiện nơi hậu pháp lạc.

Lại nữa, hiện pháp lạc là tất cả nơi chốn đã được tin nhận, như ngoại đạo, nội đạo, ngu, trí đều tin nơi hiện pháp lạc. Hậu pháp lạc thì hoặc có người tin, hoặc có người không tin. Không tin nơi hậu pháp lạc: Như ngoại đạo.

Lại nữa, các hàng phàm nhỏ tham vướng nơi dục lạc ít không mong cầu lìa dục. Đức Phật đã nêu rõ: Các ông nếu muốn được an lạc rộng lớn phải nên đoạn dứt dục ái, khởi thiền căn bản hiện bày ở trước, sẽ thọ nhận an lạc rộng lớn.

Lại nữa, hiện pháp lạc, tất cả đều thọ nhận. Hậu pháp lạc, có người thọ nhận, có người không thọ nhận.

Do những sự việc như thế v.v…, nên Đức Phật nói thiền là hiện pháp lạc, chẳng phải là hậu pháp lạc.

Kinh Phật nói: Các Tỳ-kheo! Có bốn thứ thiên đạo, có thể khiến cho chúng sinh kẻ bất tịnh được tịnh, người tịnh càng trở nên sáng suốt, thù thắng.

Hỏi: Vì sao lập thiên đạo? Là do được chánh quyết định hay do dứt hết lậu?

Nếu do được chánh quyết định nên lập thiên đạo tức có sáu. Vì sao? Vì dựa vào sáu địa, được chánh quyết định. Sáu địa là vị chí, trung gian và bốn thiền căn bản.

Nếu do dứt hết lậu tức nên có chín. Vì sao? Vì hành giả dựa vào chín địa, được dứt hết lậu. Chín địa là vị chí, trung gian, bốn thiền và ba định vô sắc.

Đáp: Nên tạo ra thuyết này: Cũng do được chánh quyết định, cũng do dứt hết lậu, nên lập thiên đạo. Thuyết này tức ngăn chận định vô sắc.

Hỏi: Nếu như vậy thì Thiên đạo tức nên có sáu.

Đáp: Tôn giả Ba-xa nói: Ở đây nói thiền và quyến thuộc, nên có bốn, không có sáu.

Tôn giả Cù-sa lập ra thuyết này: Ở đây nói thiên thanh tịnh gọi là thiên. Thiên có ba hạng: (1) Thiên giả danh. (2) Thiên sinh. (3) Thiên thanh tịnh.

Thiên giả danh: Là vua nẻo người v.v…

Thiên sinh: Là từ trời Tứ thiên vương cho đến trời xứ phi tưởng phi phi tưởng.

Thiên thanh tịnh: Là A-la-hán.

Ở đây nói: Thiên thanh tịnh gọi là thiên, được hai thứ đạo là kiến đạo, tu đạo, nhẫn đạo, trí đạo, pháp trí đạo, tỷ trí đạo, có thể khiến cho thân tâm thanh tịnh.

Lại nữa, đối với đạo thiên sinh, sinh tưởng sợ hãi. Vì muốn khiến an trụ nơi thiên đạo thật nghĩa nên Đức Phật đã nói kinh này: Có bốn loại Thiên đạo. Thiên sinh là trời Ba mươi ba. Trời ấy có bốn thứ vườn rừng: (1) Tên là Chất-đa-la-tha. (2) Tên Phả-lưu-sa. (3) Tên Di-thi-ca-bà-na. (4) Tên Nan-đà-na.

Trong vườn rừng ấy có bốn thứ đường đi, nơi vô số các thể nữ đi dạo, hòa tấu các âm nhạc, đốt những thứ danh hương, bày biện các thứ thức ăn uống thịnh soạn, tùy ý sinh hình, chim hót vang đủ các thứ tiếng, có thể khiến chư Thiên dạo chơi ở vườn rừng, thọ nhận hoan lạc. Các Thánh cũng như vậy, Niết-bàn diệt tận là vườn rừng. Bốn thiền là đường đi. Dùng vô số pháp thiện của đạo phẩm để trang sức, khiến các Hiền Thánh thọ nhận mọi thứ diệu lạc, vào Niết-bàn.

Thế nào là bốn thứ Thiên đạo? Như Tỳ-kheo lìa pháp dục ác bất thiện, cho đến nói rộng.

Hỏi: Đều là lìa pháp cõi dục, vì sao Đức Phật chỉ nói lìa pháp dục ác bất thiện?

Đáp: Như Đức Phật nói: Lìa pháp dục ác bất thiện, nên biết là đã nói đều lìa pháp cõi dục.

Lại nữa, thể của pháp này là nên đoạn, đoạn xong thì không tạo thành vì cùng với Thánh đạo là trở ngại. Pháp thiện hữu lậu, pháp vô ký không ẩn mất, không cùng với Thánh đạo gây trở ngại. Pháp dục ác bất thiện thì cùng với Thánh đạo luôn gây tạo trở ngại. Nếu đoạn trừ pháp dục ác bất thiện, nên biết là pháp thiện hữu lậu, pháp vô ký không ẩn mất cũng đoạn. Vì sao? Vì đồng một đối trị đoạn. Ví như ngọn đèn không trở ngại đối với bình đựng, dầu và tim đèn, nhưng là trở ngại đối với bóng tối. Nếu khi xua trừ bóng tối, tức cũng khiến cho dầu cạn, tim lụn, bình đèn nóng lên.

Lại nữa, do pháp này là khó đoạn, khó trừ, khó vượt qua.

Lại nữa, do pháp này là ác nặng, có nhiều thứ lỗi lầm tai hại.

Lại nữa, pháp này khi lìa dục ái, thì phần tạo nhiều trở ngại khiến cho pháp lìa dục không được nối tiếp. Như người giữ cổng, không khiến người khác được vào. Pháp kia cũng như thế.

Lại nữa, hành giả vì đối trị pháp này, nên tu đạo của định thiền thứ nhất.

Lại nữa, hành giả do ghét bỏ pháp này, nên đều lìa cõi dục.

Lại nữa, vì pháp này nơi địa trên đều không có, không hành.

Do những sự việc như thế v.v…, nên Đức Phật nói lìa pháp dục ác bất thiện.

HẾT – QUYỂN 41