LUẬN A TỲ ĐÀM TỲ BÀ SA
STác giả: Tôn giả Ca Chiên Diên Tử
Giải thích: Năm trăm A La Hán
Hán dịch: Đời Bắc Lương, Sa môn Phù Đà Bạt Ma, Đạo Thái v.v…
Việt dịch: Cư sĩ Nguyên Huệ

 

QUYỂN 39

Chương 2: KIỀN ĐỘ SỬ

Phẩm thứ 4: MƯỜI MÔN, phần 3

* Mười hai nhập: Là nhãn nhập cho đến pháp nhập.

Hỏi: Vì sao tạo ra phần Luận này?

Đáp: Đây là kinh Phật. Kinh Phật nói: Bà-la-môn Sinh Văn đi đến chỗ Đức Phật, sau khi dùng nhiều lời nói quen thuộc vấn an Đức Thế Tôn thì ngồi qua một bên, bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Nói tất cả là nhiều. Vậy tất cả có bao nhiêu thứ? Sa-môn Cù-đàm đã thiết lập những gì là tất cả?

Đức Phật bảo Bà-la-môn: Ta thiết lập về tất cả, nghĩa là nhãn nhập cho đến pháp nhập. Đó gọi là tất cả. Như Lai nói pháp như thế, gọi là tất cả. Này Bà-la-môn! Nếu có người nói: Tôi có thể ngăn dứt Sa-môn Cù-đàm đã giảng nói về tất cả, lại nói về tất cả khác, thì đấy chỉ có ngôn thuyết không có thật. Nếu hỏi trở lại tức sẽ sinh nghi lầm. Vì sao? Vì không phải là cảnh giới của họ.

Kinh Phật tuy nói như thế, nhưng không phân biệt rộng. Kinh Phật là chỗ dựa căn bản để tạo luận. Những điều trong kinh không nói, nay vì muốn nói rộng nên tạo ra phần Luận này.

Hỏi: Nếu nói như thế thì có nơi nói: Tất cả nghĩa là mười tám giới.

Lại có nơi nói: Tất cả nghĩa là năm ấm và pháp vô vi.

Lại có nơi nói: Tất cả nghĩa là bốn đế và hư không phi số diệt.

Lại có nơi nói: Tất cả nghĩa là danh, sắc.

Các thuyết nêu bày như thế v.v… đều chỉ là ngôn thuyết nhưng không có thật. Nếu hỏi trở lại tức sinh ngu mê lầm, vì không phải là cảnh giới của họ chăng?

Đáp: Ở đây là ngăn chận về nghĩa, không ngăn chặn về văn. Nếu nói như thế này: Tánh của tất cả pháp là thuộc về mười hai nhập. Nếu lại có thuyết nói: Pháp khác không phải thuộc về mười hai nhập, thì nói như thế chỉ là ngôn thuyết không có thật, cho đến nói rộng.

Nói mười hai nhập là nêu bày thù thắng, là nêu bày tinh diệu, là nêu bày tối thượng.

Hỏi: Nói mười hai nhập vì sao gọi là nêu bày thù thắng, tinh diệu, tối thượng?

Đáp: Nói nhập là nói về phần giữa, có thể gồm thâu tất cả pháp. Nói giới tuy có thể gồm thâu tất cả pháp, nhưng là nói rộng. Nói ấm là không gồm thâu tất cả pháp, chỉ gồm thâu pháp hữu vi, không gồm thâu pháp vô vi, lại là nói lược. Nói nhập là nói về trung tâm, cũng gồm thâu tất cả pháp.

Nếu muốn quán tất cả pháp nên dùng môn nhập. Nếu dùng môn nhập để quán, tức sinh mười hai trí sáng, hiện rõ hình tượng của mười hai nghĩa. Như người đem viên ngọc đã mài kỹ đặt ở giữa mười hai tấm gương sáng tức có mười hai hình ảnh hiện ra. Pháp quán kia cũng như thế. Một thân có mười hai nhập có thể đạt được.

Hỏi: Nếu một thân có mười hai nhập có thể đạt được, thì vì sao nói có mười hai nhập?

Đáp: Vì đối tượng tạo tác khác, nên tuy trong một thân có mười hai nhập có thể đạt được, nhưng đối tượng tạo tác của mười hai nhập đều khác nhau. Ví như một ngôi nhà có mười hai người thợ khéo léo cùng ở, tuy đồng ở một nhà, nhưng công việc làm có mười hai thứ. Một thân có mười hai nhập kia cũng như thế.

Lại nữa, do hai sự việc nên lập mười hai nhập: (1) Do đối tượng nương dựa. (2) Do đối tượng duyên.

Lại nữa, do ba sự việc nên lập mười hai nhập: (1) Do tự thể. (2) Do đối tượng nương dựa. (3) Do đối tượng duyên.

Tự thể: Là nhãn nhập cho đến pháp nhập.

Đối tượng nương dựa: Tức sáu đối tượng nương dựa, là mắt cho đến ý.

Đối tượng duyên: Tức sáu đối tượng duyên là sắc cho đến pháp. Đây là thể tánh của nhập, cho đến nói rộng.

Đã nói thể tánh của nhập. Về lý do nay sẽ nói.

Vì sao gọi là nhập? Nhập là nghĩa gì?

Đáp: Nghĩa cửa du nhập là nghĩa của nhập. Nghĩa con đường vận chuyển là nghĩa của nhập. Nghĩa chứa giữ là nghĩa của nhập. Nghĩa kho lẫm là nghĩa của nhập. Nghĩa sợi dọc là nghĩa của nhập. Nghĩa xứ giết hại là nghĩa của nhập. Nghĩa ruộng nương là nghĩa của nhập. Nghĩa suối nước là nghĩa của nhập. Nghĩa dòng chảy là nghĩa của nhập. Nghĩa biển là nghĩa của nhập. Nghĩa trắng là nghĩa của nhập. Nghĩa tịnh là nghĩa của nhập.

Nghĩa cửa du nhập là nghĩa của nhập: Cũng như các vật dụng được đưa vào trong thành ấp thôn xóm, chúng sinh có được nhập rồi thì nuôi lớn thân. Như vậy, do đối tượng nương dựa và đối tượng duyên, nên khiến tâm được nuôi lớn. Nghĩa con đường vận chuyển là nghĩa của nhập cũng như thế.

Nghĩa chứa giữ là nghĩa của nhập: Cũng như trong kho tàng có vật báu như vàng v.v… có thể giữ lấy. Như thế, do đối tượng nương dựa và đối tượng duyên, nên có tâm tâm số pháp có thể nhận lấy.

Nghĩa kho lẫm là nghĩa của nhập: Cũng như trong kho có các thứ hạt giống như lúa mạch v.v… có thể giữ lấy. Như vậy, do đối tượng nương dựa và đối tượng duyên, nên có tâm tâm số pháp có thể nhận lấy.

Nghĩa sợi dọc là nghĩa của nhập: Cũng như máy dệt, chỉ sợi dọc được luồn kết ở khắp chỗ. Như thế, do đối tượng nương dựa và đối tượng duyên, nên tâm tâm số pháp hiện có ở mọi nơi chốn.

Nghĩa xứ giết hại là nghĩa của nhập: Cũng như nơi chốn giết mổ đã chặt đứt hàng trăm ngàn đầu của các chúng sinh trên đất. Như vậy, do đối tượng nương dựa và đối tượng duyên, nên khiến tâm tâm số pháp bị vô thường diệt, hủy diệt.

Nghĩa ruộng nương là nghĩa của nhập: Cũng như trong ruộng có vô số các thứ lúa mạ có thể giữ lấy. Như thế, do đối tượng nương dựa và đối tượng duyên, nên có vô số các thứ tâm tâm số pháp có thể nhận lấy.

Nghĩa suối nước là nghĩa của nhập: Như kệ nói:

Xứ nào suối nước sinh

Xứ nào đường không thông

Các khổ vui thế gian

Xứ nào được diệt tận?

Đức Phật nói kệ:

Mắt, tai cùng với mũi

Lưỡi, thân cùng với ý

Xứ này đoạn danh sắc

Có thể khiến dứt hết.

Xứ này có thể sinh khởi suối nước, cho đến nói rộng.

Nghĩa dòng chảy là nghĩa của nhập: Như nói kệ:

Tất cả đều chảy ra

Lấy gì ngăn dòng ấy?

Dùng gì làm dòng giới

Khiến dòng dừng không chảy.

Đức Phật nói kệ:

Mọi dòng chảy thế gian

Nên dùng chánh niệm ngăn

Cũng gọi dòng chảy giới

Tuệ khiến dòng chảy dứt.

Nghĩa biển là nghĩa của nhập: Như kinh nói: Tỳ-kheo nên biết! Mắt là biển cả, sắc là sóng lớn. Nếu người nào chịu đựng được sóng to của sắc, người ấy có thể vượt qua biển mắt rộng lớn, tránh khỏi các nạn như nước xoáy, chảy cuộn, La-sát v.v… Cho đến ý, nói cũng như vậy.

Nghĩa trắng là nghĩa của nhập: Vì do sạch nên gọi là trắng, cũng gọi là tịnh.

Thế nên nghĩa cửa du nhập là nghĩa của nhập cho đến nói rộng.

Sách ngoại đạo nói nhập gọi là Bộ na (Âm của Thiên trúc: Bộ na gọi là căn, cũng gọi là nhập, cũng gọi là tạo tác). Như Phạm chí Ma-kiền-đề kia đã nói: Sa-môn Cù-đàm! Tâm không có Bộ na (Nhập) nên không thâu nhận con gái của ta.

Đã nói chung về lý do của các nhập. Nay sẽ nói riêng về thể của mỗi mỗi thứ nhập.

Thế nào là nhãn nhập?

Đáp: Nếu mắt đã thấy sắc, đang thấy sắc, sẽ thấy sắc và nhãn nhập của phần kia khác. Đã thấy sắc là quá khứ, đang thấy sắc là hiện tại, sẽ thấy sắc là vị lai và nhãn nhập của phần kia khác. Nói rộng như nơi xứ giới. Cho đến ý nhập nói cũng như thế.

Thế nào là sắc nhập?

Đáp: Nếu sắc nhập đã là đối tượng nhận thấy của mắt, đang là đối tượng nhận thấy của mắt, sẽ là đối tượng nhận thấy của mắt, nói rộng như xứ giới.

Hỏi: Mười sắc nhập, Thể đều là sắc, vì sao nói một nhập là sắc, không nói các nhập khác?

Đáp: Do một nhập này là pháp thô, rõ ràng, hiện thấy.

Lại nữa, nhập này là cảnh giới của hai nhãn (Mắt): Nhục nhãn, thiên nhãn.

Lại nữa, nhập này là cảnh giới của ba nhãn: Nhục nhãn, thiên nhãn, tuệ nhãn.

Lại nữa, đây là cảnh giới của hai nhập, là đối tượng duyên của mắt, sắc. Thế nên, Tôn giả Cù-sa đã nói: Là cảnh giới của hai nhãn, làm đối tượng duyên của nhãn thức. Vì vậy nhập này gọi là sắc nhập, không phải là nhập khác.

Lại nữa, nhập này thiết lập có thô tế, dài ngắn, ở đây, ở kia.

Lại nữa, nhập này là chướng ngại lớn, nhập này có thể gieo trồng, có thể sinh khởi, có thể làm tăng trưởng vật ngoài.

Có thể gieo trồng: Là thời kỳ của hạt giống.

Có thể sinh khởi: Là thời kỳ sinh mầm.

Có thể làm tăng trưởng: Là thời kỳ của cộng, lá, hoa, quả.

Vật trong, có thể gieo trồng: Là thời kỳ của Ca-la-la.

Có thể sinh khởi: Là thời kỳ của An-phù-đà.

Có thể làm tăng trưởng: Là thời kỳ của Ty-thi, Già-na, Bà-laxa-khư.

Lại nữa, thể của phương là sắc, do sắc nên nêu đặt các phương hướng.

Lại nữa, thể của do-tuần là sắc, do sắc nên thiết lập do-tuần.

Lại nữa, nhập này có thể che ngăn các nhập khác, cũng như khăn, mão, nên gọi là sắc nhập.

Lại nữa, nếu nói hai mươi thứ, hai mươi mốt thứ, thì gọi là sắc nhập. Sắc nhập khác thì không như vậy. Thanh, hương, vị nhập, nói rộng như nơi xứ giới.

Hỏi: Xúc nhập, vì có thể xúc chạm nên gọi là xúc nhập? Hay vì thể là sự xúc chạm nên gọi là xúc nhập? Hay là đối tượng duyên của xúc nên gọi là xúc nhập? Nếu có thể xúc chạm nên gọi là xúc nhập, thì vi trần không thể xúc chạm vi trần. Nếu thể là sự xúc chạm nên gọi là xúc nhập, thì thể là sắc do bốn đại tạo, không phải là thể của xúc. Nếu là đối tượng duyên của xúc nên gọi là xúc nhập, thì cũng là đối tượng duyên của tâm số pháp khác chăng?

Đáp: Nên lập ra thuyết này: Vì có thể xúc chạm nên gọi là xúc nhập.

Hỏi: Nếu như vậy thì vi trần không thể tiếp xúc với vi trần.

Đáp: Đây là ngôn thuyết của thế tục. Thế tục đã nêu bày: Mắt đã từng trải các sự việc, gọi là thấy. Tai đã từng trải các sự việc, gọi là nghe. Mũi đã từng trải các sự việc, gọi là ngửi. Lưỡi đã từng trải các sự việc, gọi là nếm. Thân đã từng trải các sự việc, gọi là xúc chạm.

Lại nữa, do duyên nơi thân duyên nơi xúc, nên sinh thân thức. Vì sinh thân thức, có thể duyên nơi thân thức của thật nghĩa nên gọi là xúc.

Tôn giả Phật-đà-đề-bà: Nên nói là không có xúc. Vì sao? Vì khi sắc, xúc tụ hợp không có gián cách, thì giả gọi là xúc, không có xúc của thật nghĩa.

Lại nữa, vì có thể sinh ra nhập khác, tăng trưởng nhập khác, nên gọi là xúc nhập.

Hỏi: Thế nào là pháp nhập?

Đáp: Như pháp đã được ý nhận biết, hiện đang được ý nhận biết, sẽ được ý nhận biết, nói rộng như nơi xứ giới.

Hỏi: Thể tánh của mười hai nhập là pháp, vì sao nói một nhập gọi là pháp, không phải là các nhập khác?

Đáp: Tuy thể tánh của mười hai nhập là pháp, nhưng pháp nhập nên gọi là pháp. Vì sao? Vì như mười tám giới, tuy thể tánh là pháp, nhưng riêng pháp giới được gọi là pháp. Như mười trí tuy thể tánh là pháp, nhưng riêng pháp trí được gọi là pháp. Bảy giác chi tuy thể tánh là pháp, nhưng giác chi trạch pháp gọi là pháp. Niệm pháp của sáu niệm gọi là pháp. Pháp niệm xứ của bốn niệm xứ gọi là pháp. Bốn tịnh bất hoại đối với pháp không hoại gọi là pháp. Pháp vô ngại trong bốn vô ngại gọi là pháp. Pháp tam quy Tam bảo, quy nơi Pháp bảo, gọi là pháp.

Lại nữa, nhập khác có hai tên gọi, còn nhập này chỉ có một tên gọi.

Lại nữa, nhập khác là danh không chung, nhập này là danh chung, lấy chung đặt tên.

Lại nữa, có thể sinh tất cả các pháp, vì sinh ở trong pháp ấy, nên gọi là pháp nhập.

Lại nữa, tướng ấn chứng của tất cả các pháp là sinh, lão, vô thường, vì chúng ở trong đấy nên gọi là pháp nhập.

Lại nữa, dùng tên gọi để làm rõ các pháp, tên gọi ở trong ấy nên gọi là pháp nhập.

Lại nữa, xứ đi đến của các pháp được gọi là pháp nhập. Như nơi chốn gió thổi qua gọi là lỗ thông gió. Pháp nhập kia cũng như thế.

Lại nữa, vì có thể hiểu rõ về pháp không, do ở trong ấy nên gọi là pháp nhập.

Hỏi: Nếu như vậy chủ thể chấp ngã pháp cũng ở trong pháp nhập kia, có thể nói là ngã nhập chăng?

Đáp: Chấp ngã không phải là thật, hiểu rõ về không mới là thật.

Lại nữa, pháp của đệ nhất thật là pháp thường trụ không thay đổi, không bị sinh, lão tử hủy hoại. Vì Niết-bàn diệt tận ở trong pháp ấy, nên gọi là pháp nhập.

Lại nữa, có thể phân biệt tướng chung, tướng riêng, loại trừ sự ngu tối nơi thể của vật và dứt bỏ sự ngu tối ở trong duyên khác, không nhận lấy tướng hư giả, vì tuệ ở trong pháp ấy, nên gọi là pháp nhập.

Lại nữa, vì ở trong pháp ấy có nhiều pháp, nên gọi là pháp nhập. Nhiều pháp nghĩa là pháp có sắc, không có sắc; pháp tương ưng, không tương ưng; pháp có nương dựa, không có nương dựa; pháp có hành, không có hành; pháp có duyên, không có duyên; pháp có thế dụng, không có thế dụng.

Đã nói riêng về thể của mỗi mỗi các nhập. Nay sẽ tìm hiểu về thứ lớp của các nhập ấy.

Vì sao Đức Thế Tôn ở trong nội nhập trước nói nhãn nhập cho đến ý nhập. Ở trong ngoại nhập trước nói sắc nhập cho đến pháp nhập?

Đáp: Vì Đức Thế Tôn muốn khiến nghĩa của văn được tùy thuận.

Lại nữa, nhằm khiến người thuyết giảng tùy thuận, người thọ trì cũng tùy thuận.

Lại nữa, vì có pháp thô, tế, nên trong sáu nội nhập, nhãn nhập là thô nên nói trước, còn ý nhập là tế nên nói sau. Nơi sáu ngoại nhập, sắc nhập là thô nên nói trước, pháp nhập là vi tế nên nói sau

Hỏi: Vì sao lập sáu nội nhập, sáu ngoại nhập? Là do người hay do pháp? Nếu do pháp, thì tất cả các pháp đều không có tâm dục, vì sao lập ra nội ngoại? Nếu do người, thì trong nghĩa như thật, rốt ráo không có người. Nếu không có người làm sao có nội, ngoại?

Đáp: Nên lập ra thuyết này: Là do pháp nên lập nhập nội ngoại. Đây không phải là tất cả pháp. Nếu pháp có thể cùng với sáu thức làm đối tượng nương dựa là nội nhập, còn làm đối tượng duyên cho sáu thức là ngoại nhập.

Lại nữa, căn là nội nhập, nghĩa của căn là ngoại nhập. Đối tượng nơi cảnh giới và cảnh giới cũng như vậy. Nhưng pháp nội ngoại này không nhất định: Nếu nội nhập của ta là ngoại nhập của người khác. Hoặc nội nhập của người khác là ngoại nhập của ta. Kinh Phật đã nói sáu nhập này nên biết là pháp nội.

Hỏi: Như tất cả pháp, nên biết đều là pháp nội, vì sao riêng nói sáu nhập là pháp nội?

Đáp: Vì Đức Thế Tôn muốn chỉ dạy các đệ tử ở nơi pháp nội hành thiền. Như nói: Quán sát nội căn, tâm không duyên nơi bên ngoài.

Lại nữa, vì Đức Thế Tôn muốn chỉ dạy các đệ tử không nên hành thiền hư vong. Như nói: Các ông không nên hành thiền hư vọng chấp có thường, lạc, ngã, tịnh. Nên hành thiền không hư vọng, nhận biết về vô thường, vô ngã, không lạc, không tịnh, nhận biết là nhân tập có duyên, nên dùng tám hành Thánh này để quán sát nơi hữu.

Lại nữa, vì Đức Thế Tôn muốn chỉ dạy các đệ tử nên hành thiền không chung. Như nói: Các ông không nên hành pháp thiền chung, quán thô, quán khổ, quán thô hoại, quán dứt bỏ diệu, lìa. Nên hành pháp thiền không chung. Nên quán như bệnh, như ung nhọt, như mũi tên găm vào thân, thường là lỗi lầm tai hại. Nên quán vô thường, khổ, không, vô ngã. Nên dùng tám pháp này quán sát nơi hữu.

Lại nữa, kinh này nói quán sát pháp nội. Nếu đối với pháp nội, chấp có ngã, liền chấp ngã sở. Chấp về mình, liền chấp sở hữu của mình. Đối với ngã có ái thì đối với ngã sở cũng có ái. Nếu thấy có ngã thì cũng thấy ngã sở. Vì nuôi lớn nội ngã, nên tìm kiếm vật cần dùng nơi bên ngoài.

Kinh Phật nói sáu xúc nhập nên biết là pháp nội.

Hỏi: Sáu nhập, sáu xúc nhập có gì khác biệt?

Đáp: Hoặc có thuyết nói: Không có khác biệt. Nếu nói sáu xúc nhập, hoặc nói sáu nhập, về danh tuy có khác, nhưng về nghĩa thì không có khác biệt.

Lại có thuyết cho: Danh tức khác biệt. Đây gọi là sáu xúc nhập. Đây gọi là sáu nhập.

Lại nữa, nếu có đối tượng tạo tác thì đó gọi là sáu xúc nhập. Nếu không có đối tượng tạo tác thì đó gọi là sáu nhập. Nếu nói như thế thì hiện tại là sáu xúc nhập, quá khứ, vị lai là sáu nhập.

Lại nữa, nếu đã sinh sáu nhập là sáu xúc nhập. Nếu chưa sinh sáu nhập là sáu nhập. Nếu nói như vậy thì quá khứ, hiện tại là sáu xúc nhập, vị lai là sáu nhập.

Lại nữa, nếu vì xúc làm chủ thể nương dựa thì đấy gọi là sáu xúc nhập. Nếu vì tâm số pháp làm chủ thể nương dựa thì đấy gọi là sáu nhập.

Lại nữa, nếu vì tâm tâm số pháp làm chủ thể nương dựa thì đấy gọi là sáu xúc nhập. Nếu hoàn toàn không làm chủ thể nương dựa cho tâm tâm số pháp thì đấy gọi là sáu nhập.

Tôn giả Ba-xa nói: Thể là sáu nhập. Nếu vì xúc làm chủ thể nương dựa thì gọi là sáu xúc nhập. Như thể tánh của bát là bát, vì Tỳ-kheo đang dùng nên gọi là bát của Tỳ-kheo. Xúc nhập kia cũng như thế.

Tôn giả Phú-na-xa nói: Thể tánh của nhập là đối tượng tạo tác của sáu nhập. Nhập là sáu xúc nhập. Cũng như thể tánh của bát sắt là sắt, vì nó đựng tô, nên gọi là bát sắt tô.

Hỏi: Ở đây cũng như thế. Các nhập như sáu thọ nhập, sáu tưởng, sáu tư, vì sao chỉ riêng nói sáu xúc nhập?

Đáp: Nên nói sáu thọ nhập, cho đến các nhập như sáu tư v.v…, nhưng không nói, nên biết là nghĩa này nêu bày chưa trọn vẹn.

Lại nữa, do danh, nghĩa của xúc là vượt hơn. Nếu nói sáu xúc nhập, nên biết là cũng nói sáu thọ nhập, cho đến các nhập như sáu tư v.v…

Lại nữa, xúc là tâm tâm số pháp. Nay tâm số pháp đều từ xúc sinh, do sức của xúc khiến hiện ở trước, thế nên nói là xúc nhập.

Kinh Phật nói: Sáu nội nhập là bờ này. Sáu ngoại nhập là bờ kia.

Hỏi: Đức Phật nói bờ này, bờ kia, là do pháp nào?

Đáp: Do pháp gần, xa. Như sông đối với con người, thì gần là bờ này, xa là bờ kia. Cũng thế, tâm tâm số pháp, gần là đối tượng nương dựa, xa là đối tượng duyên.

Lại nữa, như pháp mới vào và đã vượt qua. Như người mới vào nơi sông là bờ này. Xứ đã vượt qua là bờ kia. Như thế, tâm tâm số pháp mới nhập như đối tượng nương dựa. Đã vượt qua như đối tượng duyên.

Lại nữa, Niết-bàn diệt tận là pháp kia của bờ kia, thuộc về ngoại nhập. Do gồm thâu pháp kia, nên ngoại nhập gọi là bờ kia.

Kinh Phật nói: Thân kiến là bờ này, thân kiến diệt là bờ kia.

Hỏi: Ở đây pháp gì là sông?

Đáp: Tâm tâm số pháp là như thuộc về sông. Số chúng sinh, số phi chúng sinh là trôi vào biển cả. Như thế tâm tâm số pháp của chúng sinh thuộc về đối tượng duyên, đối tượng nương dựa, là đều trôi vào biển cả sinh tử.

Kinh Phật nói: Có tám thắng xứ, mười nhất thiết xứ

Hỏi: Các xứ này cũng là nhập, vì sao chỉ nói mười hai nhập?

Đáp: Vì các xứ ấy cũng ở trong mười hai nhập này, là pháp tương ưng, cùng có của các xứ đó, nên biết đều là ý nhập, pháp nhập.

Kinh Phật nói: Bốn định vô sắc là xứ, như xứ không, cho đến xứ phi tưởng phi phi tưởng.

Hỏi: Vì sao Đức Thế Tôn nói bốn định vô sắc là xứ?

Đáp: Vì Đức Thế Tôn muốn khác với ngoại đạo. Ngoại đạo chấp xứ kia là bốn thứ giải thoát: (1) Không có thân. (2) Vô biên ý. (3) Nhóm tịnh. (4) Tháp của thế gian.

Không có thân: Là xứ không. vô biên ý là xứ thức. Nhóm tịnh là xứ vô sở hữu, tháp của thế gian là xứ phi tưởng phi phi tưởng. Vì là khác với ngoại đạo, nên đã lập ra thuyết: Đây là xứ sinh khởi, không phải là giải thoát.

Kinh Phật nói: Có hai xứ: (1) Xứ chúng sinh vô tưởng. (2) Xứ chúng sinh phi tưởng phi phi tưởng.

Hỏi: Vì sao kinh Phật nói hai xứ này là xứ?

Đáp: Vì Đức Phật muốn nêu bày khác với ngoại đạo. Ngoại đạo chấp hai xứ này là giải thoát. Đức Phật nói: Hai xứ này là xứ sinh khởi, không phải là giải thoát.

Lại nữa, xứ này là pháp thoái lui trở lại, nhưng ngoại đạo chấp là giải thoát. Đức Phật nói: Xứ này là xứ thoái lui trở lại của chúng sinh, vì sinh trở lại trong các cõi, các loài, các nẻo.

Lại nữa, xứ này là pháp phân tán, nhưng ngoại đạo chấp là giải thoát. Đức Phật nói: Hai xứ này là pháp phân tán. Chúng sinh ở nơi xứ này phân tán ở trong các cõi, các loài, các nẻo. Chúng sinh nơi xứ vô tưởng phân tán ở cõi dục. Chúng sinh của xứ phi tưởng phi phi tưởng phân tán ở nơi địa dưới.

Lại nữa, vì thọ mạng lâu dài, nên ngoại đạo chấp là giải thoát. Xứ thọ thân của tất cả phàm phu thì thọ mạng lâu dài, không đâu bằng xứ vô tưởng thọ mạng năm trăm đại kiếp. Tất cả xứ sinh thì thọ mạng dài xa, không nơi chốn nào bằng xứ phi tưởng phi phi tưởng thọ mạng tám vạn đại kiếp. Đức Phật đã nêu rõ: Đây là xứ thọ sinh, không phải là giải thoát.

Lại nữa, Đức Phật nói xứ khác có hai tên: (1) Là chốn cư trú của chúng sinh. (2) Là thức trụ.

Cũng dùng hai thứ tên để nói hai xứ này: (1) Gọi là chốn cư trú của chúng sinh. (2) Gọi là xứ.

Lại nữa, chỗ cư trú của chúng sinh, Đức Phật nói là thức trụ. Nếu là chỗ ở của chúng sinh ấy không phải là thức trụ, Đức Phật nói là xứ.

Như kinh nói: Tôn giả Xá-lợi-phất đi đến chỗ Đức Phật, thưa: Thế Tôn nói nhập là không còn gì ở trên. Nói về tất cả nghĩa là mười hai nhập. Đức Thế Tôn nhận biết pháp này là hoàn toàn, trọn vẹn. Trí cứu cánh của Đức Thế Tôn là vô thượng. Không có sự hiểu biết của Sa-môn, Bà-la-môn nào vượt qua Đức Thế Tôn.

Hỏi: Tôn giả Xá-lợi-phất vì sao có thể nhận biết Đức Phật nói: Tất cả nghĩa là mười hai nhập?

Đáp: Vì từ Đức Phật nghe giảng nói nên có thể nhận biết pháp ấy. Kinh Phật đã nói: Tất cả nghĩa là mười hai nhập. Tôn giả Xá-lợiphất đã được pháp tin không hoại, nên đối với lời Phật giảng nói sinh tin tôn trọng.

Hỏi: Tôn giả Xá-lợi-phất đã nghe từ Đức Phật nên có thể nhận biết pháp này, không phải là tự hiện trí chăng?

Đáp: Tôn giả cũng tự có hiện trí để có thể nhận biết. Vì sao? Vì Tôn giả Xá-lợi-phất đối với mười hai nhập cũng có thể mỗi mỗi đều thấy biết.

Hỏi: Đức Thế Tôn đối với mười hai nhập mỗi mỗi đều thấy biết. Tôn giả Xá-lợi-phất đối với mười hai nhập cũng mỗi mỗi đều thấy biết. Vậy thì đối tượng nhận biết của Đức Thế Tôn và Tôn giả Xá-lợi-phất có gì khác biệt?

Đáp: Đức Thế Tôn mỗi mỗi thấy biết về mười hai nhập, cũng dùng tướng chung, cũng dùng tướng riêng. Còn Tôn giả Xá-lợi-phất cũng mỗi mỗi thấy biết về mười hai nhập, nhưng chỉ dùng tướng chung, không thể dùng tướng riêng. Vì sao? Vì còn có vô lượng nghĩa của nhập ở trong mười hai nhập, Tôn giả Xá-lợi-phất cần phải nhờ Phật chỉ rõ, sau đấy mới nhận biết.

Lại nữa, Tôn giả Xá-lợi-phất mỗi mỗi thấy biết về mười hai nhập, là nghe nhận từ người khác, nên biết. Còn sự nhận biết của Đức Thế Tôn là riêng giác ngộ vô sư.

Lại nữa, Đức Thế Tôn có Nhất thiết trí, Nhất thiết chủng trí. Tôn giả Xá-lợi-phất có Nhất thiết trí, không có Nhất thiết chủng trí.

Lại nữa, Tôn giả Xá-lợi-phất do thức thân nên nhận biết. Tôn giả Xá-lợi-phất khởi suy nghĩ: Tất cả là đối tượng nương dựa và duyên của sáu thức.

Lại nữa, Tôn giả Xá-lợi-phất do sự thuyết giảng đầy đủ nên nhận biết. Tức như Đức Phật nói mười hai nhập: Là nhãn nhập cho đến ý nhập, sau cùng nói pháp nhập.

Tôn giả Xá-lợi-phất khởi suy nghĩ: Trong mười một nhập của các pháp, pháp đã không nói tức đều ở trong pháp nhập. Vì vậy, do sự thuyết giảng đầy đủ nên nhận biết.

* Năm ấm: Là từ sắc ấm cho đến thức ấm.

Hỏi: Vì sao tạo ra phần Luận này?

Đáp: Đây là kinh Phật. Kinh Phật nói năm ấm, cho đến nói rộng. Kinh Phật tuy nói năm ấm, nhưng không phân biệt rộng. Kinh Phật là chỗ dựa căn bản để tạo luận. Nay vì muốn phân biệt rộng về năm ấm, nên tạo ra phần Luận này.

Thế nào là sắc ấm? Kinh Phật nói: Các sắc hiện có đều là bốn đại và do bốn đại tạo. Kinh khác lại nói: Thế nào là sắc ấm? Các sắc hiện có nơi quá khứ, vị lai, hiện tại. Hoặc trong ngoài, hoặc thô tế, hoặc xấu đẹp, hoặc xa gần.

Các pháp v.v… như thế được gọi chung là sắc ấm. Cho đến thức ấm nói cũng như vậy.

Người A-tỳ-đàm nói: Thế nào là sắc ấm? Nghĩa là mười sắc nhập và sắc trong pháp nhập. Đó gọi là sắc ấm.

Ba thuyết này có gì khác biệt?

Đáp: Mỗi mỗi thuyết đều nhằm ngăn chận các nghĩa khác.

Hỏi: Như kinh nói: Các sắc hiện có đều là bốn đại và do bốn đại tạo ra. Ở đây là nhằm ngăn chận những nghĩa khác nào.

Đáp: Đức Phật vì đời vị lai nên lập ra thuyết ấy. Đức Phật đã nhận biết trong đời vị lai sẽ có người nói như vầy: Ngoài bốn đại ra, lại không có sắc tạo, như Phật-đà-đề-bà v.v…

Vì nhằm ngăn chận ý của thuyết như thế, nên kinh đã nói rõ: Các sắc hiện có đều là bốn đại và sắc do bốn đại tạo. Như nói: Các sắc hiện có nơi quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc trong, hoặc ngoài, cho đến nói rộng.

Ở đây là nhằm ngăn chận những nghĩa khác nào?

Đáp: Thời ấy có Phạm chí tên là Lao-la-ni-khư, nói là không có quá khứ, vị lai. Đức Thế Tôn vì nhằm ngăn trừ ý của Phạm chí ấy, nên lập ra thuyết: Các sắc hiện có nơi quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc trong, hoặc ngoài, cho đến nói rộng.

Như nói: Thế nào là sắc ấm? Đáp: Nghĩa là mười sắc nhập và sắc trong pháp nhập. Ở đây là nhằm ngăn chận những nghĩa khác nào?

Đáp: Vì nhằm ngăn chận ý của phái Thí dụ. Người Thí dụ không nói pháp nhập có sắc. Thế nên Tôn giả Đạt-ma-đa-la đã nêu bày: Các sắc hiện có đều là đối tượng nương dựa, đối tượng duyên của năm thức.

Thế nào gọi là sắc không phải là đối tượng nương dựa, đối tượng duyên của năm thức?

Vì nhằm ngăn chận ý của thuyết như thế, nên Tôn giả kia đã tạo Luận A-tỳ-đàm, nêu rõ: Thế nào là sắc ấm? Nghĩa là mười sắc nhập và sắc trong pháp nhập.

Hỏi: Nếu sắc trong pháp nhập có thể tướng thật, thì như Tôn giả Đạt-ma-đa-la đã nói làm sao thông hợp?

Đáp: Có thể nói như thế này: Các sắc hiện có đều là đối tượng nương dựa của năm thức, đối tượng duyên của sáu thức. Sắc trong pháp nhập tuy không làm đối tượng nương dựa và đối tượng duyên của năm thức, nhưng làm đối tượng duyên của ý thức.

Lại nữa, sắc trong pháp nhập tuy không phải là đối tượng duyên của năm thức, đối tượng nương dựa của năm thức, nhưng là đối tượng duyên của thân thức. Vậy gì là đối tượng nương dựa của năm thức? Tức là bốn đại.

Thế nào là thọ ấm?

Đáp: Nghĩa là sáu thọ thân: Nhãn xúc sinh thọ. Nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc sinh thọ. Như kinh Phật nói, thuyết của A-tỳ-đàm cũng như thế.

Thế nào là tưởng ấm?

Đáp: Nghĩa là sáu tưởng thân: Nhãn xúc sinh tưởng. Nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc sinh tưởng. Như kinh Phật nói, thuyết của A-tỳ-đàm nói cũng như vậy.

Thế nào là hành ấm?

Đáp: Kinh Phật nói: Nghĩa là sáu tư thân: Nhãn xúc sinh tư. Nhĩ, tỷ, thiệt, thân, y1 xúc sinh tư. Phái A-tỳ-đàm tạo ra thuyết: Hành ấm hoặc tương ưng, hoặc không tương ưng, cho đến nói rộng.

Hỏi: Đức Thế Tôn vì sao nơi hành ấm tương ưng, không tương ưng chỉ nói tư là hành ấm, không phải là pháp tương ưng, không tương ưng khác?

Đáp: Vì tư nuôi lớn hành là hơn hết, nên Đức Thế Tôn nói tư là hành. Như ái nuôi lớn tập là hơn hết, thế nên trong tất cả pháp hữu lậu, Đức Thế Tôn nói ái là tập. Tư kia cũng lại như vậy.

Lại nữa, nghĩa tạo tác là nghĩa của hành. Thể của tư là tạo tác.

Thế nào là thức ấm?

Đáp: Nghĩa là sáu thức thân. Tức nhãn thức thân cho đến ý thức thân. Như kinh đã nói, thuyết của A-tỳ-đàm cũng như thế. Đây là Thể của ấm, cho đến nói rộng.

Đã nói về thể tướng của ấm. Về lý do nay sẽ nói.

Vì sao gọi là ấm? Ấm là nghĩa gì?

Đáp: Nghĩa tích tụ là nghĩa của ấm. Nghĩa tóm lược là nghĩa của ấm. Nghĩa chứa cất là nghĩa của ấm. Nghĩa chung là nghĩa của ấm.

Nếu thiết lập về đời tức thiết lập về ấm.

Nếu nói nhiều thì ấm là nhiều.

Nghĩa tích tụ là nghĩa của ấm: Nghĩa là các sắc hiện có ở quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc trong, hoặc ngoài, cho đến nói rộng, đều tích tụ là sắc ấm. Cho đến thức ấm cũng như vậy.

Nghĩa tóm lược nói cũng như thế.

Nghĩa chứa cất là nghĩa của ấm: Như vô số các thứ vật xen tạp, họp thành một đống. Như thế vô số các sắc hợp làm sắc ấm. Cho đến thức ấm cũng như thế.

Nghĩa chung là nghĩa của ấm: Các sắc hiện có nơi quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội, hoặc ngoại cho đến nói rộng. Các sắc v.v… như thế được gọi là chung là sắc ấm. Cho đến thức ấm cũng như vậy.

Hỏi: Sắc của quá khứ, vị lai, hiện tại có thể tụ hợp không?

Đáp: Có thể tụ hợp về danh của sắc, không tụ hợp về thể của sắc. Cho đến thức cũng như thế.

Thiết lập về đời là thiết lập về ấm. Như sắc ấm thiết lập có ba đời. Cho đến thức ấm cũng như vậy.

Nói nhiều là nói về ấm. Như nhiều của cải gọi là ấm (tích tụ) của cải. Nhiều lúa gọi là ấm (tích tụ) lúa. Nhiều quân binh gọi là ấm (tích tụ) quân binh.

Nhiều sắc rất xa hằng ức vạn na-do-tha như thế gọi chung là sắc ấm. Cho đến thức ấm cũng như thế.

Hỏi: Một vi trần có thể lập sắc ấm chăng?

Đáp: Hoặc có thuyết nói: Không thể lập. Nếu muốn lập tất cần phải tích tụ.

Lại có thuyết cho: Một vi trần có thể lập sắc ấm, do tướng nên lập. Nếu một vi trần không gọi là ấm, thì rất nhiều vi trần hợp lại cũng không gọi là ấm. Người A-tỳ-đàm lập ra thuyết: Một vi trần không do ấm, nên thuộc về một giới, một nhập, một ấm. Nếu do ấm tức là phần ít của một giới, một nhập, một ấm. Như người ở trên đống lúa nhặt lấy một hạt lúa. Người khác hỏi: Ông nhặt lấy bao nhiêu hạt lúa? Người kia nếu không dùng đống lúa thì nói: Tôi nhặt lấy một hạt lúa. Nếu người kia dùng cả đống lúa thì nói: Tôi nhặt lấy một hạt lúa của đống lúa.

Đã nói chung về lý do của ấm. Nay sẽ xét về thứ lớp của ấm.

Vì sao Đức Thế Tôn trước nói sắc ấm, sau nói cho đến thức ấm?

Đáp: Vì Đức Thế Tôn muốn khiến văn nghĩa của văn được tùy thuận.

Lại nữa, vì Đức Thế Tôn muốn cho người giảng nói tùy thuận, người thọ trì cũng tùy thuận.

Lại nữa, là do thô tế. Trong năm ấm, sắc ấm là thô nên nói trước. Trong bốn ấm vô sắc, thọ ấm là thô nên nói sau sắc ấm.

Hỏi: Như thọ không phải là sắc, không trụ nơi phương, sở, vì sao nêu là có thô, tế?

Đáp: Do đối tượng hành của thọ. Như người đời nói: Tay ta thọ nhận khổ vui, các bộ phận như đầu, chân, thân v.v… đều thọ nhận khổ vui.

Nói sắc như thế v.v…, thì thọ cũng nói như vậy.

Tưởng càng là tế đối với thọ, nên tiếp theo thọ nói tưởng.

Hành càng là tế đối với tưởng, nên tiếp theo tưởng nói hành. Thức là rất vi tế nên được nói ở sau.

Hỏi: Như năm ấm là tướng tạo tác, tạo tác là hành ấm. Vì sao Đức Thế Tôn nói một ấm gọi là hành ấm, các ấm khác không nói?

Đáp: Tuy năm ấm đều là tướng tạo tác, nhưng chỉ hành ấm được gọi là hành. Như mười tám giới, tuy thể đều là pháp, nhưng pháp giới được gọi là pháp. Cho đến Tam bảo, tam quy, tuy thể là pháp, nhưng pháp bảo là pháp quy được gọi là pháp.

Năm ấm như thế tuy thể là hành nhưng chỉ hành được mang tên hành ấm.

Lại nữa, ấm này có một tên gọi, các ấm khác có hai tên gọi.

Lại nữa, ấm này là tên chung, ấm khác là tên chung và không chung. Do tên chung nên nói.

Lại nữa, do có thể sinh tất cả các pháp, vì chúng được sinh trong pháp ấy, nên gọi là hành ấm.

Lại nữa, tướng mang dấu ấn của tất cả pháp là sinh, lão, vô thường, chúng đều ở trong pháp kia, nên gọi là hành ấm.

Lại nữa, do tên gọi làm sáng tỏ các pháp, vì tên gọi ở trong pháp ấy, nên gọi là hành ấm.

Lại nữa, vì có thể hiểu rõ về pháp không, vì sự việc đó ở trong pháp ấy, nên gọi là hành ấm

Hỏi: Nếu như vậy, chủ thể chấp ngã, pháp cũng ở trong ấy, tức có thể nói là ngã ấm chăng?

Đáp: Chấp ngã là chẳng phải là thật. Hiểu rõ ngã là không mới là thật.

Lại nữa, có thể phân biệt tướng chung, tướng riêng, dứt bỏ sự ngu tối nơi thể của vật và sự ngu tối trong duyên, không nhận lấy tướng hư giả, vì tuệ ở trong pháp ấy nên gọi là hành ấm.

Lại nữa, vì trong pháp ấy có nhiều pháp, nên gọi là hành ấm. Nhiều pháp là pháp tương ưng, không tương ưng. Pháp có chủ thể nương dựa, không có chủ thể nương dựa. Pháp có hành, không có hành. Pháp có duyên, không có duyên. Pháp pháp có thế dụng, không có thế dụng.

Hỏi: Vì sao trong các tâm tâm số pháp, gọi là tưởng, thọ riêng lập làm ấm. Tâm số pháp khác lại lập là hành ấm?

Đáp: Tôn giả Bà-xa nói: Do Đức Thế Tôn quyết định nhận biết về pháp tướng, cũng nhận biết về thế dụng, người khác thì không nhận biết. Nếu pháp nào có nhận giữ riêng lập ấm thì lập. Pháp không thể nhận giữ thì phải tập hợp lại mới lập.

Lại nữa, vì muốn dùng đủ các thứ thuyết, nêu, đủ các thứ văn để trang nghiêm nơi nghĩa. Nếu vận dụng được như thế thì nghĩa tức dễ hiểu.

Lại nữa, vì muốn thể hiện hai môn, hai tóm lược, hai nhập, cho đến nói rộng.

Lại nữa, đây là hiện bày về môn, về tóm lược, về mới nhập nơi các tâm số pháp hiện có, hoặc là căn tánh, hoặc không phải là căn tánh. Nếu nói thọ nên biết là đã nói về căn tánh. Nếu nói tưởng nên biết là đã nói về không phải là căn tánh. Như căn tánh, không phải căn tánh, thì minh, không phải minh, có oai thế, không có oai thế, có lực, không có lực, nên biết cũng như vậy.

Lại nữa, do hai pháp này, nên cõi sắc, cõi vô sắc có khác biệt. Do thọ nên nói cõi sắc có khác biệt. Do tưởng nên nói cõi vô sắc có khác biệt.

Lại nữa, hành giả do hai pháp này, nên ở trong hai cõi sinh nhiều khổ não. Do thọ nên ở trong cõi sắc sinh vô số khổ não. Vì tưởng nên ở trong cõi vô sắc sinh nhiều khổ não.

Lại nữa, do tham thọ lạc, vì chấp trước nơi tưởng điên đảo, nên chúng sinh ở trong sinh tử phải nhận lấy khổ não lớn.

Lại nữa, do hai pháp này là gốc rễ của mọi sự tranh chấp. Thọ là gốc rễ tranh chấp của ái. Tưởng là gốc rễ tranh chấp của kiến. Như hai thứ gốc rễ của sự tranh chấp thì hai phiền não, hai biên, hai mũi tên, hai hý luận, hai kiến, nên biết cũng như thế.

Lại nữa, do hai pháp này, nên riêng thọ nhận tên thức trụ. Tâm số pháp khác ở trong hành ấm thọ nhận tên thức trụ.

Lại nữa, vì hành giả rất ghét hai pháp ấy, nên nhập định diệt tận. Như Luận Thi Thiết nói: Dùng phương tiện gì để được định diệt tận?

Hỏi: Thế nào là tu phương tiện để được định diệt tận?

Đáp: Hành giả kia khởi suy nghĩ: Làm sao khiến ta không tư duy về các hành, khiến tưởng, thọ không sinh khởi, hễ sinh liền diệt. Nếu tưởng, thọ không sinh, hễ sinh liền diệt, thì đó gọi là định diệt.

Hỏi: Vì sao pháp vô vi không lập làm ấm?

Đáp: Vì không có tướng của ấm, nên không lập làm ấm.

Lại nữa, do ấm ấy là xứ cứu cánh, nên không lập làm ấm. như nơi xứ cứu cánh của bình áo thì không gọi là bình áo. Pháp kia cũng như thế.

Lại nữa, nếu pháp là tướng hữu vi có sinh diệt, có nhân, có duyên, thì lập làm ấm. Vì pháp vô vi không có tướng hữu vi, không sinh diệt, không có nhân, nên không lập làm ấm.

Lại nữa, nếu pháp thuộc về nhân, thuộc về duyên, thuộc về hòa hợp tạo tác thì lập làm ấm. Pháp vô vi vì không thuộc về nhân, không thuộc về duyên, không thuộc về hòa hợp tạo tác, nên không lập làm ấm.

Lại nữa, nếu pháp tùy theo thế gian hành tác có thể nhận lấy quả, có thể có đối tượng tạo tác, có thể nhận biết về duyên thì lập làm ấm. Pháp vô vi cùng với các tính chất trên trái nhau nên không lập làm ấm.

Lại nữa, ấm tùy thuộc vào nẻo hành tác của đời. Pháp vô vi không thuộc vào nẻo hành tác của đời. Ấm cùng với khổ nối tiếp. Pháp vô vi không cùng với khổ nối tiếp. Ấm có giới hạn về trước sau. Pháp vô vi thì không có trước sau. Ấm có phẩm thượng, trung, hạ. Pháp vô vi không có thượng, trung, hạ.

Lại nữa, thể của vô vi không phải là sắc, cũng không gọi là sắc. Cho đến thể vô vi không phải là thức, cũng không gọi là thức.

Lại nữa, vì từ nơi pháp khác sinh nên lập làm ấm. Pháp vô vi vì không từ nơi pháp khác sinh nên không lập làm ấm.

Pháp vô vi do những sự việc như thế, nên không lập làm ấm.

Nơi kinh Đức Thế Tôn nói: Năm ấm: Là giới ấm, định ấm, tuệ ấm, giải thoát ấm, giải thoát tri kiến ấm.

Hỏi: Như thế thì có mười ấm, vì sao nói năm ấm?

Đáp: Vì năm ấm sau này tức ở trong năm ấm trước: Giới ấm ở trong sắc ấm, bốn ấm còn lại ở trong hành ấm, thế nên nói năm.

Trong kinh lại nói: Tôn giả A-nan nêu bày: Tôi theo bên Phật, thọ nhận tám vạn pháp ấm. Theo bên Tỳ-kheo thọ nhận hai vạn pháp ấm.

Hỏi: Có nhiều ấm như thế v.v…, vì sao Đức Thế Tôn chỉ nói năm ấm?

Đáp: Tuy có nhiều ấm như thế, nhưng cũng ở trong năm ấm.

Hoặc có thuyết nói: Thể của Phật ngữ là khẩu nghiệp.

Hoặc có thuyết cho: Thể là danh. Nếu nói thể là khẩu nghiệp là thuộc về sắc ấm. Nếu nói thể là danh thì thuộc về hành ấm. Thế nên đều ở trong năm ấm.

Hỏi: Phần lượng của pháp ấm là khoảng bao nhiêu?

Đáp: Hoặc có thuyết cho: Như Luận Pháp Ấm đã nói: Sáu ngàn kệ là phần lượng của một pháp ấm. Các pháp ấm khác cũng như thế.

Lại có thuyết nêu: Như Đức Thế Tôn đã dùng vô số ngôn từ để nói về bốn niệm xứ là phần lượng của một pháp ấm. Bốn chánh đoạn, bốn như ý túc, năm căn, năm lực, bảy giác ý, tám đạo chủng cũng như thế.

Tôn giả Cù-sa nói: Năm mươi vạn năm ngàn năm trăm năm mươi kệ là phần lượng của một pháp ấm.

Lời bình: Nên lập ra thuyết này: Các hành của chúng sinh có tám vạn. Đức Phật nói pháp đối trị cũng có tám vạn. Người thọ nhận sự hóa độ đi vào trong pháp Phật, do tám vạn pháp tức là tám vạn pháp ấm.

* Năm thủ ấm: Là sắc thủ ấm, thọ, tưởng, hành, thức thủ ấm.

Hỏi: Vì sao tạo ra phần Luận này?

Đáp: Đây là kinh Phật. Kinh Phật nói năm thủ ấm, cho đến nói rộng. Kinh Phật tuy nói năm thủ ấm, nhưng không phân biệt rộng. Nay vì muốn phân biệt rộng nên tạo ra phần Luận này.

Thế nào là sắc thủ ấm?

Đáp: Nếu sắc là hữu lậu, là giữ lấy sắc ấy ở quá khứ, vị lai, hiện tại. Nếu duyên nơi sắc ấy sinh dục, sinh ái, sinh giận, sinh si, sinh sợ hãi, sinh ra các pháp phiền não của tâm như thế v.v…

Sinh dục, sinh ái: Là khát ái.

Sinh giận: Là sự giận dữ.

Sinh si: Là vô minh.

Sinh sợ hãi: Hoặc có thuyết cho: Không nên nói về pháp này. Vì sao? Vì trước đã nói tánh của phiền não tức là sợ hãi.

Hỏi: Nếu như vậy thì thể tánh của sợ hãi là gì?

Đáp: Hoặc có thuyết nói: Là tánh của thân kiến. Vì sao? Vì chúng sinh chấp ngã nên thường sợ hãi. Nếu nói thân kiến nên biết là đã nói sợ hãi.

Lại có thuyết cho: Thể tánh là ái. Vì sao? Vì người hành ái luôn sợ hãi. Nếu nói ái tức biết là đã nói về sợ hãi.

Lại có thuyết nêu: Thể tánh là vô minh. Vì sao? Vì người si là thường sợ hãi. Nếu nói si nên biết là đã nói về sợ hãi.

Lời bình: Nên nói là sinh sợ hãi. Vì sao? Vì thể tánh của sợ hãi là khác: Sợ hãi là tâm số pháp cùng với tâm tương ưng. Ở trong pháp như vậy, các pháp khác như thế v.v…, đó gọi là tâm số pháp.

Hỏi: Xứ nào có sợ hãi này?

Đáp: Ở cõi dục, không phải ở cõi sắc, vô sắc.

Hỏi: Nếu ở cõi sắc không có sợ hãi, thì như nơi kinh Phật nói làm sao thông? Như nói: Tỳ-kheo nên biết! Chúng sinh nơi cõi Quang Âm sinh trước, thấy người sinh sau tâm khởi sợ hãi, nên an ủi nói: Đại Tiên đừng sợ! Chúng tôi thường xuyên thấy các Phạm cung bị thiêu đốt, ở đấy liền diệt. Còn như nghĩa kệ làm sao thông? Như kệ nói:

Nghe các trời Trường thọ

Có tiếng khen sắc diệu

Tâm luôn mang sợ hãi

Như nai sợ sư tử.

Đáp: Ở đây nói chán lìa là sợ hãi.

Hỏi: Chán lìa và sợ hãi có gì khác biệt?

Đáp: Tên gọi tức khác biệt. Đấy gọi là chán lìa. Đấy gọi là sợ hãi.

Tôn giả Hòa-tu-mật nói: Nếu ở cõi dục gọi là sợ hãi. Nếu ở cõi sắc gọi là chán lìa. Ở trong phiền não sinh là sợ hãi. Ở trong căn thiện sinh là chán lìa.

Tôn giả Phật-đà-đề-bà nói: Đối với sự việc không lợi sinh nghi, muốn được xa lìa là sợ hãi. Đã được xa lìa, tâm cũng sinh động là chán lìa. Đó là khác biệt giữa sợ hãi và chán lìa.

Hỏi: Ai có sự sợ hãi này? Là phàm phu hay Thánh nhân?

Đáp: Hoặc có thuyết cho: Là phàm phu không phải là Thánh nhân. Vì sao? Vì Thánh nhân đã lìa năm sự sợ hãi. Năm sự sợ hãi là: (1) Sợ không sống. (2) Sợ tiếng xấu ác. (3) Sợ đại chúng. (4) Sợ chết. (5) Sợ ác.

Lời bình: Nên lập ra thuyết này: Phàm phu cũng sợ hãi. Thánh nhân cũng sợ hãi.

Hỏi: Thánh nhân không phải là đã lìa năm sự sợ hãi chăng?

Đáp: Tuy Thánh nhân không có các sự sợ hãi như thế, nhưng có sợ hãi trong giây lát.

Hỏi: Những Thánh nhân nào có sợ hãi? Là người hữu học hay là người vô học?

Đáp: Cũng là người hữu học cũng là người vô học. Người hữu học là Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm. Người vô học là A-lahán, Phật-bích-chi, chỉ trừ Đức Phật, Thế Tôn. Vì sao? Vì Đức Thế Tôn không có sợ hãi, nghi hoặc, lo nghĩ.

Pháp phiền não của tâm như thế v.v…: Nghĩa là sắc kia duyên nơi sử nhất thiết biến do tu đạo đoạn.

Thế nào là thọ thủ ấm?

Đáp: Nếu thọ là hữu lậu, là thủ, nói rộng như sắc ấm.

Ở đây có khác biệt: Thọ thì duyên nơi sử nhất thiết biến và sử không nhất thiết biến.

Như thọ, thì tưởng, hành, thức nói cũng như vậy. Đây là thể của thủ ấm, cho đến nói rộng.

Đã nói thể tánh của thủ ấm. Về lý do nay sẽ nói.

Hỏi: Vì sao gọi là thủ ấm? Thủ ấm là nghĩa gì?

Đáp: Từ thủ sinh nên gọi là thủ ấm. Có thể sinh ra thủ, nên gọi là thủ ấm.

Lại nữa, từ thủ chuyển nên gọi là thủ ấm. Có thể chuyển thủ nên gọi là thủ ấm.

Lại nữa, vì có thể thọ nhận từ thủ nên gọi là thủ ấm. Vì có thể nhận lấy thủ nên gọi là thủ ấm.

Lại nữa, vì theo thủ tăng trưởng nên gọi là thủ ấm. Vì có thể làm tăng trưởng thủ nên gọi là thủ ấm.

Lại nữa, vì từ thủ được rộng lớn nên gọi là thủ ấm. Vì có thể làm rộng thủ nên gọi là thủ ấm.

Lại nữa, vì thuộc về thủ, nên gọi là thủ ấm. Như người thuộc về vua nên gọi là người của vua. Thủ ấm kia cũng như thế. Ở trong không có ngã, nếu người hỏi ấm: Ông thuộc về ai? Ấm nên đáp: Tôi thuộc về thủ.

Lại nữa, thủ ở trong ấm. Lúc ấm sinh thì sinh. Lúc ấm trụ thì trụ. Lúc ấm sai khiến thì sai khiến, nhưng không suy tổn. Đấy gọi là thủ ấm.

Lại nữa, thủ ở trong ấm sinh trưởng, thêm rộng, nên gọi là thủ ấm.

Lại nữa, thủ ở trong ấm tăng trưởng tạo ích, nên gọi là thủ ấm.

Lại nữa, thủ ở trong ấm sinh ra tham chấp, cũng như bụi bặm cấu uế. Đấy gọi là thủ ấm.

Lại nữa, thủ ở trong ấm, tâm sinh ưa thích tham vướng, cũng như cá v.v… ưa thích nước, nên gọi là thủ ấm.

Lại nữa, vì thủ là ấm, theo chỗ ở lập danh, nên gọi là thủ ấm. Vì dựa vào ấm này, nên sinh ra các phiền não cùng cấu như ái, kiến, mạn, vô minh, nghi, giận. Vì cùng với thủ tương tợ, nên được gọi là thủ ấm. Như thủ của cõi dục, gọi là thủ ấm của cõi dục. Thủ của cõi sắc, gọi là thủ ấm của cõi sắc. Thủ của cõi vô sắc, gọi là thủ ấm của cõi vô sắc. Không hủy hoại nơi cõi, không hủy hoại nơi địa, nhưng hư hoại nơi thân. Do ngã thủ nên tha ấm gọi là thủ ấm. Do tha thủ nên ngã ấm gọi là thủ ấm. Nếu không hủy hoại thân, thì tất cả vật bên ngoài không gọi là thủ ấm. Vì sao? Vì nơi vật bên ngoài kia không có thủ ấm.

Hỏi: Ấm với thủ ấm có khác biệt gì?

Đáp: Tên gọi tức khác biệt: Đây là ấm. Đây là thủ ấm.

Lại nữa, ấm là hữu lậu, vô lậu, còn thủ ấm là hữu lậu.

Lại nữa, ấm gồm thâu ba đế, thủ ấm gồm thâu hai đế.

Lại nữa, khi ấm nhận lấy sự quở trách, thì người tăng trưởng nhận chịu sự quở trách. Lúc được khen ngợi, người tịch tĩnh thọ nhận sự khen ngợi. Thủ ấm chỉ nhận lấy sự quở trách, lúc ấy người tăng trưởng nhận lãnh sự quở trách. Đó là ấm, thủ ấm khác nhau.

* Sáu giới: Là địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, hư không giới, thức giới.

Hỏi: Vì sao Tôn giả Ca-chiên-diên-tử nhân nơi sáu giới để tạo luận?

Đáp: Vì Tôn giả kia có ý muốn như thế. Theo ý muốn của Tôn giả để tạo luận, cũng không trái với pháp tướng. Ý của Tôn giả kia muốn nhân nơi sáu giới để tạo luận, nên nhân nơi đấy để tạo.

Lại nữa, không nên hỏi vì sao Tôn giả kia nhân nơi sáu giới để tạo luận. Vì sao? Vì đây là kinh Phật. Kinh Phật nói mười tám giới. Đức Phật ở trong mười tám giới nói sáu giới. Sáu giới gồm thâu mười tám giới, năm giới và phần ít của bốn giới.

Gồm thâu năm giới: Là nhãn thức giới và nhĩ, tỷ, thiệt, thân thức giới.

Phần ít của bốn giới: Là giới sắc, xúc giới, ý giới và ý thức giới. Hư không giới gồm thâu phần ít của sắc giới. Địa, thủy, hỏa, phong giới (Đất, nước, lửa, gió) gồm thâu phần ít của xúc giới. Thức giới gồm thâu phần ít của ý giới và ý thức giới.

Thế nào là phần ít của hai giới này?

Đáp: Hai giới hữu lậu, vô lậu này vì gồm thâu hữu lậu, không gồm thâu vô lậu, thế nên chỉ gồm thâu phần ít. Phần ít của năm giới, bốn giới gồm thâu sáu giới.

Hỏi: Vì sao Đức Phật trong mười tám giới nói sáu giới?

Đáp: Vì người thọ nhận sự hóa độ. Người thọ nhận sự hóa độ của Phật, đối với cảnh giới của trí, hoặc có người ngu tối toàn phần, hoặc có kẻ ngu tối phần ít. Nếu đối với người ngu tối phần ít, Đức Phật vì họ nói sáu giới. Nếu đối với kẻ ngu tối toàn phần thì vì họ nói mười tám giới.

Lại nữa, người thọ nhận Phật hóa độ, căn có lợi, độn. Nơi người lợi căn vì họ nói sáu giới. Nơi kẻ độn căn thì vì họ nói mười tám giới.

Lại nữa, người thọ nhận Phật hóa độ, hoặc có nhanh, chậm. Người nhanh vì họ nói sáu giới. Người chậm vì họ nói mười tám giới.

Lại nữa, người thọ nhận Phật hóa độ, có người ưa tóm lược, có kẻ thích nêu rộng. Ưa tóm lược thì nói sáu giới, thích nêu rộng thì nói mười tám giới.

Lại nữa, vì muốn hiện bày về môn, nên các giới hiện có, hoặc là tánh sắc, hoặc không phải tánh sắc. Nếu nói năm giới, nên biết là đã nói về các giới của tánh sắc. Nếu nói thức giới, nên biết đã nói về các giới của tánh vô sắc.

Như sắc, vô sắc, thì có thể thấy, không thể thấy, có đối, không đối, tương ưng, không tương ưng, có dựa, không dựa, có hành, không hành, có thế dụng, không thế dụng, có duyên, không duyên, nên biết cũng như vậy.

Lại nữa, sáu giới có thể sinh, nuôi lớn thân sắc vô sắc. Sinh: Là thức giới. Nuôi dưỡng: Là các giới địa, thủy, hỏa, phong. Làm tăng trưởng: Là hư không giới.

Lại nữa, sáu giới này có thể nhận lấy, giữ gìn, làm tăng trưởng thân sắc, vô sắc. Nhận lấy là thức giới. Giữ gìn là các giới địa thủy hỏa phong. Làm tăng trưởng là hư không giới.

Lại nữa, sáu giới này là phần căn bản của chúng sinh, là cội rễ của chúng sinh nơi tất cả xứ, là căn bản của chúng sinh từ vô thủy đến nay, là cội rễ của chúng sinh có đối tượng phân biệt, không có đối tượng phân biệt.

Căn bản của chúng sinh: Là chúng sinh nơi cõi dục, cõi sắc, từ sinh hữu đến tử hữu, nơi sáu giới này, không lúc nào là không có thế dụng.

Cội rễ của chúng sinh nơi tất cả xứ: Là hết thảy chúng sinh nơi cõi dục, cõi sắc, từ sinh hữu đến tử hữu đối với sáu giới này lúc nào cũng đều có thế dụng.

Căn bản của chúng sinh từ vô thủy đến nay: Là các chúng sinh nơi biên vực trước, các chúng sinh từ sinh hữu đến tử hữu, đối với sáu giới này không lúc nào là không có thế dụng.

Cội rễ của chúng sinh có đối tượng phân biệt, không có đối tượng phân biệt: Chúng sinh có thể phân biệt là nam, là nữ, như thời kỳ Ba-la-xa-khư, đối với sáu giới này cũng đều có thế dụng. Chúng sinh không thể phân biệt là nam, là nữ, như thời kỳ Ca-la-la, An-phùđà, Ty-thi-già-na. Đối với sáu giới này cũng đều có thế dụng.

Tôn giả Cù-sa nói: Duyên nơi sáu giới này nên chúng sinh được vào thai mẹ.

Do các sự việc như thế v.v…, nên Đức Phật trong mười tám giới nói sáu giới.

Thế nào là địa giới?

Đáp: Là tánh cứng chắc. Nói tổng quát là cứng chắc nên cứng chắc, có vô lượng khác biệt. Tánh cứng chắc trong pháp nội khác. Tánh cứng chắc trong pháp ngoại khác.

Tánh cứng chắc trong pháp nội khác: Tức như tóc, lông, móng tay, răng, da mỏng, da dày, da, thịt, gân, mạch, xương, tim, lá lách, thận, gan, phổi, sinh tạng, thục tạng, dạ dày, nước tiểu, tay chân v.v… là các phần cứng chắc của thân. Trong phần pháp nội, chân cứng hơn tay. Vì sao? Vì chúng sinh đi bằng chân. Nếu con người dùng tay để đi, thì tay với gân, máu, thịt hiện có tức nhanh chóng hư hoại. Chúng sinh với các phần thân như thế v.v…, mỗi phần đều tự có sự vượt hơn.

Tánh cứng chắc trong pháp ngoại khác: Là các thứ vật như đất, núi, đá to, đá nhỏ, cây gỗ, đồng, sắt, bạch lạp, chì, thiếc, vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, kha bối v.v…

Các vật cứng chắc trong, ngoài như thế nói chung là tướng cứng chắc.

Thế nào là thủy giới?

Đáp: Là tánh ẩm ướt. Nói tổng quát là ẩm ướt nên ẩm ướt, có vô lượng khác biệt. Chất ẩm ướt của pháp nội khác. Chất ẩm ướt của pháp ngoại khác.

Chất ẩm ướt của pháp nội: Như nước mắt, mồ hôi, nước mũi, nước dãi, mỡ lá, tủy, nước miếng, mật, mủ, máu, óc, đàm dãi, nước tiểu. Chất ẩm ướt bên trong là như thế v.v…

Chất ẩm ướt trong pháp ngoại: Là như các thứ nước suối, nước ao, nước sông, nước bốn biển v.v…

Các chất ẩm ước trong, ngoài như thế v.v… gọi là chung là thủy giới.

Thế nào là hỏa giới?

Đáp: Là tánh nóng. Nói tổng quát là nóng nên nóng, có vô lượng khác biệt. Nóng trong pháp nội khác. Nóng trong pháp ngoại khác.

Nóng trong pháp nội: Có thể khiến cho thân này ấm. Thức ăn uống đã ăn, có thể khiến cho tiêu chín, khiến thân được yên ổn. Nếu lúc tăng trưởng thì gọi là nhiệt bệnh.

Nóng trong pháp ngoại: Như lửa của đuốc, đèn, đèn dầu, lửa đốt thành, đốt làng, lửa nơi ngọc ma ni, lửa cỏ thuốc, lửa của ánh sáng mặt trời, lửa của ánh sáng nơi cung chư thiên, lửa Ba-đa-la v.v…

Hoặc có thuyết cho: Tánh nóng của lửa nơi pháp nội không phải là lửa của pháp ngoại. Vì sao? Vì nếu dùng thức ăn uống đặt trong chảo sắt, đồng, đốt cho lửa cháy mạnh, thì không thể khiến cho màu sắc của thức ăn uống kia thay đổi như thức ăn trong bụng.

Tánh nóng nơi pháp trong, ngoài như thế v.v… được gọi là chung là hỏa giới.

Thế nào là phong giới?

Đáp: Là tánh lay động nhẹ, nói chung là lay động nhẹ nên có tướng lay động nhẹ, có vô lượng khác biệt: Sự lay động nhẹ trong pháp nội khác. Sự lay động nhẹ trong pháp ngoại khác.

Sự lay động nhẹ trong pháp nội: Như gió hướng trên, gió hướng dưới, gió dừng lại nơi hông, gió ở bụng, gió ở lưng, gió như kim châm chích, gió như dao cắt, gió như hơi thở ra vào, gió của các chi phần v.v…

Sự lay động nhẹ trong pháp ngoại: Như gió bốn phương, gió có bụi, gió không có bụi, gió thổi khắp, gió không thổi khắp, gió nhỏ, gió to, gió Tỳ lam, gió phong luân v.v…

Các thứ gió trong ngoài như thế gọi là chung là phong giới.

Thế nào là hư không giới?

Đáp: Kinh Phật nói: Khoảng trống nơi trung gian mắt. Khoảng trống nơi trung gian mũi. Khoảng trống nơi trung gian miệng. Khoảng trống nơi trung gian cổ họng. Khoảng trống nơi trung gian tim. Khoảng trống bên cạnh tim. Nơi chốn thức ăn uống vào, dừng lại. Nơi chốn thức ăn uống đã tiêu đi xuống. Đây gọi là hư không giới.

Người A-tỳ-đàm lập ra thuyết: Thế nào là hư không giới? Là sắc chứa nhóm, sắc bên cạnh. Sắc chứa nhóm, sắc bên cạnh: Là như bên tường vách, cạnh cây cối, nơi cửa sổ hướng ra, nơi chốn đi đến, nêu rõ về sắc trung gian.

Lại có thuyết cho: Văn ấy nên nói: Thế nào là hư không giới? Đáp: Là sắc bên cạnh, sắc không thể trừ bỏ. Sắc có hai thứ: (1) Sắc có thể trừ bỏ. (2) Sắc không thể trừ bỏ.

Sắc có thể trừ bỏ: Là số chúng sinh. Sắc không thể trừ bỏ: Là số phi chúng sinh. Hư không giới này là sắc bên cạnh, sắc không thể trừ bỏ. Nghĩa là bên cạnh tường vách, khoảng giữa cây, lá, cửa sổ hướng ra, nơi chốn đi đến v.v… có các sắc bên cạnh.

Sa-môn nước Kế Tân là cựu A-tỳ-đàm nói: Xương cũng có hư không giới. Gân, thịt, máu, da, ngày, đêm, sắc hình, sáng tối cũng có hư không giới.

Hỏi: Nhãn thức kia duyên là sinh chăng?

Đáp: Hoặc có thuyết nói: Không sinh. Vì sao? Vì có thể duyên nên gọi là duyên. Thức kia không do đây sinh.

Lại có thuyết cho: Là sinh.

Hỏi: Vì sao không hiện rõ?

Đáp: Vì ban ngày bị ánh sáng che lấp, ban đêm bị bóng tối che lấp, nên không hiện rõ.

Hỏi: Hư không, hư không giới có khác biệt gì?

Đáp: Hư không không phải là sắc. Hư không giới là sắc. Hư không là không thể thấy. Hư không giới là có thể thấy. Hư không là không có đối. Hư không giới là có đối. Hư không là vô vi. Hư không giới là hữu vi.

Hỏi: Nếu hư không là vô vi thì như nơi kinh Phật làm sao thông? Như kinh Phật nói: Như Lai dùng tay sờ chạm nơi hư không. Các Tỳ-kheo! Đức Thế Tôn dùng tay sờ chạm pháp vô vi chăng?

Đáp: Ở đây nói hư không giới là hư không. Như kinh khác nói: Tỳ-kheo nên biết! Nếu thầy vẽ hoặc học trò của thầy vẽ đều nói: Ta có thể dùng vô số màu sắc xen lẫn để vẽ trong hư không, cho đến nói rộng, thì ở đây nói hư không giới là hư không. Như kệ nói:

Nai hươu về rừng

Chim về hư không

Pháp quy phân biệt

La-hán quy diệt.

Trong kệ này cũng nói hư không giới là hư không.

Lại như kệ nói:

Hư không không dấu vết

Ngoại đao không Sa-môn

Ngu tiểu có hý luận

Như Lai thì không có.

Ở đây cũng nói hư không giới là hư không. Chỗ khác cũng hỏi về hư không, nhưng đáp là hư không giới. Như Luận Ba-già-la-na nói: Thế nào là hư không? Đáp: Là hư không không chướng ngại sắc, khiến cho sắc hiện bày khắp.

Hỏi: Vì sao hỏi về hư không nhưng đáp là hư không giới?

Đáp: Hư không giới là thô, hư không thì tế. Muốn dùng pháp thô để làm sáng tỏ pháp vi tế.

Hỏi: Vì sao biết có hư không?

Đáp: Tôn giả Hòa-tu-mật đáp: Vì Đức Phật nói nên biết có hư không.

Hỏi: Vì nghe người khác nói nên biết có hư không, không phải do hiện trí của mình nhận biết?

Đáp: Cũng do hiện trí của mình nhận biết. Nếu không có hư không thì không có nơi chốn để dung nạp, nhận lấy các vật. Do có nơi chốn dung nạp, nhận lấy các vật nên biết là có hư không. Do có nơi chốn trở ngại, không trở ngại, nên nhận biết có hư không.

Lại nữa, vì có chướng ngại, không có chướng ngại, nên nhận biết có hư không. Nếu ở chốn nào có ngăn ngại thì không phải là hư không. Nếu ở chốn nào không có ngăn ngại thì nơi đó là hư không.

Tôn giả Phật-đà-đề-bà nói: Hư không không thể nhận biết, vì không phải là pháp có thể nhận biết. Vì sao? Vì hư không không phải là sắc, không phải là không có sắc, không phải là kia, không phải là đây. Chỗ gọi là hư không là do thế tục giả gọi để phân biệt.

Hỏi: Hư không do gì tạo ra?

Đáp: Hư không là vô vi, không có đối tượng tạo tác, cùng với vô số hư không giới tạo duyên oai thế gần. Vô số hư không giới cùng với bốn đại tạo duyên oai thế gần. Bốn đại cùng với sắc tạo có đối tạo duyên oai thế gần. Sắc tạo có đối cùng với tâm tâm số pháp tạo duyên oai thế gần.

Lần lượt làm hoại pháp theo thứ lớp như thế v.v… gọi là không có hư không. Tuy nhiên, hư không thật sự có thể tướng.

Thế nào là thức giới?

Đáp: Là năm thức thân và ý thức hữu lậu.

Hỏi: Vì sao trong giới không nói ý thức vô lậu?

Đáp: Nếu pháp có thể khiến hữu tăng trưởng thì lập làm giới. Ý thức vô lậu cùng với pháp này trái nhau, nên không lập làm giới.

Lại nữa, nếu pháp có thể khiến hữu nối tiếp, tăng trưởng sinh, lão, bệnh, tử, thì lập làm giới. Ý thức vô lậu vì cùng với pháp này trái nhau, nên không lập làm giới.

Lại nữa, nếu pháp là đạo khổ, tập, là đạo của sinh già bệnh chết thì lập làm giới. Ý thức vô lậu cùng với pháp ấy trái nhau nên không lập làm giới.

Lại nữa, nếu thể của pháp là thân kiến điên đảo, là ái, là sử, là tham, giận, si, tạo ra xứ lập đủ: Có cấu uế, chất độc xen tạp, gai nhọn, vẩn đục, rơi vào hữu, rơi vào khổ, tập đế thì lập làm giới. Thức vô lậu cùng với các thứ ấy là trái ngược nên không lập làm giới.

Tôn giả Hòa-tu-mật nói: Vì những lý do gì thức vô lậu không lập làm giới?

Đáp: Vì giới này từ hữu lậu sinh. Thức vô lậu thì không từ hữu lậu sinh.

Lại nữa, giới này có thể sinh hữu lậu. Thức vô lậu thì không sinh hữu lậu.

Lại nữa, người chấp ngã tức ở trong giới chấp ngã. Không có kẻ chấp ngã trong thức vô lậu.

Lại nữa, sáu giới là do người giả gọi. Thức vô lậu không phải do người giả gọi.

Lại nữa, giới gọi là pháp có báo. Thức vô lậu thì không gọi là pháp có báo.

Lại nữa, vì duyên nơi giới ấy nên vào thai mẹ, không duyên nơi thức vô lậu để vào thai mẹ.

Lại nữa, sáu giới này là pháp vô thủy. Thức vô lậu không phải là pháp vô thủy.

Tôn giả Phật-đà-đề-bà nói: Sáu giới này là phần của thân. Thức vô lậu không phải là phần của thân.

Hỏi: Ấm, thủ ấm, giới, ba pháp này có gì khác biệt?

Đáp: Tên gọi tức khác biệt: Đây gọi là ấm. Đây gọi là thủ ấm. Đây gọi là giới.

Lại nữa, thiết lập về hữu vi là ấm. Thiết lập về hữu lậu là thủ ấm. Thiết lập về chúng sinh là giới.

Lại nữa, đối tượng tạo tác vượt hơn là ấm. Làm tăng trưởng đối tượng tạo tác vượt hơn là thủ ấm. Sinh khởi sự nối tiếp vượt hơn là giới. Đó là sự khác biệt giữa ấm, thủ ấm và giới.

HẾT – QUYỂN 39