LUẬN A TỲ ĐÀM TỲ BÀ SA
STác giả: Tôn giả Ca Chiên Diên Tử
Giải thích: Năm trăm A La Hán
Hán dịch: Đời Bắc Lương, Sa môn Phù Đà Bạt Ma, Đạo Thái v.v…
Việt dịch: Cư sĩ Nguyên Huệ

 

QUYỂN 21

Chương 1: KIỀN ĐỘ TẠP

Phẩm thứ 7: BÀN VỀ VÔ NGHĨA, phần 1

Người khác tu khổ hạnh

Nên biết cùng vô nghĩa

Rốt ráo không có lợi

Như chèo thuyền trên đất.

Như chương này và giải thích nghĩa của chương, ở đây nên nói rộng là Ưu-ba-đề-xá.

Hỏi: Vì lý do gì tạo ra phần Luận này?

Đáp: Tuy tất cả A-tỳ-đàm đều nói về kinh Phật, nhưng nơi phẩm này riêng nói nhiều. Vì sao? Vì phẩm của Luận này phần nhiều lấy kinh làm luận.

Lại nữa, sở dĩ tạo ra phần Luận này là vì đây là kinh Phật. Trong kinh Phật nói: Đức Phật đang an tọa nơi cội Bồ-đề, bên sông Ni-liênthiền thuộc thôn Ưu-lâu-tần-loa, thành Phật chưa lâu.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo: Ta đã xa lìa khổ hạnh, đối với những khổ hạnh ấy, Ta hoàn toàn được giải thoát. Do nguyện lực của chính mình nên đã được giác ngộ bậc nhất.

Nghe Đức Phật nói, các Tỳ-kheo đều hết mực yêu thích, nhất tâm không tán loạn để lắng nghe. Lúc ấy, ma ác Ba-tuần suy nghĩ: Sa-môn Cù-đàm nay đã đến ngồi nơi cội cây Bồ-đề, bên sông Niliên-thiền thuộc thôn Ưu-lâu-tần-loa, vì các đệ tử thuyết pháp, mọi người đều nhất tâm lắng nghe. Ta nay nên tới nơi ấy để tạo những khó khăn trở ngại. Tức thì ma ác hóa làm một người Bà-la-môn trẻ tuổi đi đến chỗ Đức Phật. Tới nơi, nói kệ:

Ông nay bỏ khổ hạnh

Đạo thanh tịnh chúng sinh

Nếu lại hành đạo khác

Cuối cùng không có tịnh.

Về nghĩa của kệ này: Bấy giờ, ma nói với Đức Thế Tôn: Ông đã từ bỏ việc dựa vào khổ hạnh của các tiên xưa, không thể khiến con người tịnh mà sinh tưởng tịnh. Ma cho là không có tịnh này, các thứ khổ hạnh mới là đạo tịnh. Đức Phật nói với ma ác: Chẳng phải Ta không thể hành khổ hạnh mà bỏ. Ta đã quán xét kỹ về đạo này không thể đoạn trừ phiền não. Do không thể đoạn trừ phiền não, nên Ta mới từ bỏ. Vì sự việc này, nên nói kệ sau đây:

Người khác tu khổ hạnh

Nên biết cùng vô nghĩa

Rốt ráo không có lợi

Như chèo thuyền trên đất.

Hỏi: Các lối tu khổ hạnh có nghĩa gì?

Đáp: Hoặc có thuyết nói: Đối tượng hành của các pháp ngoài pháp này đều nói là vì người khác thuyết giảng pháp, nghĩa là tám Thánh đạo và phương tiện của Thánh đạo, trừ pháp ấy ra, còn lại đều là tà đạo. Vì đạo là tà đạo, nên cùng với vô nghĩa kết hợp. Do sự việc này nên nói: Người khác tu khổ hạnh. Nên biết cùng vô nghĩa.

Lại có thuyết cho: Người khác: Là nói hạng thấp kém, chẳng phải người khác là nói về việc tốt đẹp, thù thắng. Tức việc hành khổ hạnh của các ngoại đạo là pháp thấp kém. Vì sao? Vì chấp ngã. Vì thế nên nói: Người khác tu khổ hạnh. Nên biết cùng vô nghĩa.

Lại có thuyết nêu: Người khác: Là nói về không chết. Không chết là chỉ cho ma ác. Do đấy Đức Thế Tôn đã nói về kẻ không chết: Người khác tu khổ hạnh. Nên biết cùng vô nghĩa.

Lại có thuyết nói: Các người vì cầu sinh lên cõi trời, nên tu khổ hạnh. Người tu khổ hạnh đều nói là khổ hạnh không chết. Do sự việc ấy, nên nói: Người khác tu khổ hạnh. Nên biết cùng vô nghĩa. Rốt ráo không có lợi. Như chèo thuyền trên đất, tức vô dụng. Việc hành khổ hạnh của tà kiến không thể đoạn trừ kiết. Vô dụng cũng như thế.

Bấy giờ, ma lại nói với Đức Phật: Nếu các thứ khổ hạnh là tà hạnh, thì Ông dùng đạo gì để tự đạt thanh tịnh?

Đức Thế Tôn liền nói kệ:

Ta tu giới, định, tuệ

Đạo cứu cánh như thế

Nay đã đạt thanh tịnh

Bồ-đề là vô thượng.

Kinh Phật tuy nói như vậy nhưng không phân biệt rộng. Luận này tức là Ưu-ba-đề-xá, giải thích rõ về kinh Phật. Kinh Phật là chỗ dựa căn bản của luận, những điều trong kinh Phật không nói, nay vì muốn nói rõ nên tạo ra phần Luận này.

Hỏi: Vì sao Đức Thế Tôn nói: Người khác tu khổ hạnh. Nên biết cùng vô nghĩa?

Đáp: Đây là con đường của già chết, gần với pháp già chết, tùy thuận nơi pháp già chết, không thể dùng pháp này để đoạn trừ con đường của già chết. Vì sao? Vì chúng sinh muốn vượt qua biển già chết, nên hành theo khổ hạnh này, nhưng sự hành trì khổ hạnh ấy là tà kiến nên trở lại khiến cho chúng sinh chìm sâu trong biển già chết.

Tôn giả Cù-sa nói: Tất cả pháp tăng trưởng là vô nghĩa. Tất cả pháp tịch diệt là có nghĩa. Sự việc hành khổ hạnh của tà kiến là tùy thuận nơi pháp tăng trưởng. Do tùy thuận nơi tăng trưởng nên không thể sinh khởi pháp tịch diệt. Chúng sinh muốn vượt qua biển già chết nên tu các khổ hạnh, nhưng khổ hạnh này tất khiến chúng sinh rơi vào biển già chết. Vì sao? Vì hành theo phương tiện tà vạy. Phương tiện tà vạy là cầu sinh lên cõi trời. Vì thế nên nói: Rơi trong biển già chết.

Lại như Đức Thế Tôn nói: Thân ngay ngắn, ngồi kiết già, buộc giữ niệm ở trước, cho đến nói rộng.

Hỏi: Như tất cả oai nghi đều thích hợp với việc hành đạo, vì sao chỉ nói ngồi kiết già?

Đáp: Hoặc có thuyết nói: Đây là pháp đã được thực hành từ xa xưa. Vì sao? Vì Hằng hà sa chư Phật quá khứ và đệ tử của Phật đều hành pháp này.

Lại có thuyết cho: Vì pháp ngồi kiết già này có thể khiến cho người khác sinh tâm cung kính. Nếu ngồi kiết già, khởi giác ác, cũng khiến người khác khởi tâm cung kính. Thế nên, vì muốn cho mọi người sinh tâm cung kính.

Lại có thuyết nêu: Pháp này không phải là pháp ái dục của thế tục. Các oai nghi khác thì thế tục thường dùng.

Lại nữa, pháp này có thể sinh khởi ba thứ đạo Bồ-đề, Bồ-đề của Thanh văn, của Phật-bích-chi và của Phật đều không do oai nghi khác, chỉ do oai nghi này mà được.

Lại nữa, pháp này nơi lúc hành đạo, tùy thuận an ổn, không phải là oai nghi khác.

Lại nữa, pháp này có thể phá trừ quân ma. Như Đức Phật, Thế Tôn ngồi kiết già có thể phá trừ phiền não và quân của thiên ma.

Lại nữa, pháp này có thể thích hợp với tâm của hàng trời, người.

Lại nữa, pháp này không chung với các ngoại đạo. Các oai nghi khác thì chung với các ngoại đạo.

Thế nào là ngồi kiết già? Tôn giả Ba-xa nói: Ngồi kiết già nghĩa là hai chân xếp chồng lên, là cảnh giới của chánh quán, tức được tùy thuận nơi định, nên gọi là ngồi kiết già.

Thế nào là buộc giữ niệm ở trước? Vì ở trên mặt, nên gọi là buộc giữ niệm ở trước.

Lại nữa, gạt bỏ phiền não ở sau, chánh quán tịch tĩnh ở trước, nên gọi là buộc giữ niệm ở trước.

Lại nữa, gạt bỏ sinh tử ở sau, chánh quán về Niết-bàn ở trước, nên gọi là buộc giữ niệm ở trước.

Lại nữa, gạt bỏ cảnh giới như sắc v.v… ở sau, đối tượng duyên của chánh quán ở trước, nên gọi là buộc giữ niệm ở trước.

Lại nữa, buộc giữ niệm ở khoảng giữa của hai mắt, nên gọi là buộc giữ niệm ở trước.

Lại nữa, dùng sức của tuệ thù thắng, chánh quán nơi cảnh giới, niệm niệm không tán loạn, nên gọi là buộc giữ niệm ở trước.

Lại nữa, vì niệm cùng với không tham đều cùng duyên nơi cảnh giới, nên gọi là buộc giữ niệm ở trước.

Lại nữa, vì buộc giữ niệm ở khoảng giữa chân mày, nên gọi là buộc giữ niệm ở trước.

Quán tưởng màu xanh v.v… cho đến nói rộng.

Hỏi: Vì sao buộc giữ niệm ở trên mặt?

Đáp: Từ vô thủy đến nay, người nam khởi tâm dục đối với thân người nữ, người nữ khởi tâm dục đối với thân người nam, phần nhiều nhân nơi khuôn mặt.

Lại có thuyết nói: Vì khuôn mặt là chỗ nương dựa của bảy nhập, hành giả muốn quán xét các nhập.

Lại có thuyết cho: Mặt là tùy thuận nơi quán bất tịnh. Vì sao? Vì trên khuôn mặt có bảy lỗ chảy ra các thứ bất tịnh. Do nơi chốn này tiết ra nhiều chất bất tịnh, nên hành giả quán riêng về nơi chốn ấy.

Lại có thuyết nêu: Không phải nhân chiếu soi nơi mặt mình để sinh khởi tham ái. Do không sinh tham ái, nên buộc giữ niệm nơi mặt.

Lại nữa, vì trên mặt có thể sinh khởi niềm vui khinh an, sau đấy mới hiện bày khắp thân. Cũng như khi thọ nhận dục, bên cạnh căn nam, nữ sinh khởi niềm vui, sau đấy mới lan truyền khắp thân.

Lại nữa, trên khuôn mặt nhanh chóng có thể sinh khởi tâm dục. Như trông thấy tướng đẹp đẽ của mắt, tai, mũi, miệng, liền sinh tâm dục.

Hỏi: Buộc giữ niệm nơi mặt là người mới tu hành, đã tu hành hay là tu hành lâu?

Đáp: Là người tu hành lâu. Người tu hành có ba hạng: Mới tu hành, đã tu hành và tu hành lâu.

Người mới tu hành, đi đến vùng gò mả, khéo ghi nhận hình tướng của tử thi, nghĩa là hoặc màu xanh hoặc sình trướng, hoặc cháy nám, hoặc tan rã, hoặc xương, hoặc vòng xích xương v.v… Khéo nhận lấy những hình tướng như thế xong, lại quán xương chân, xương mắc cá, xương đùi, xương gối, xương bắp vế, xương hông, xương lưng, xương sống, xương cánh tay, xương tay, xương ống quyển, xương vai, xương cổ, xương cằm, xương răng, xương đầu lâu. Ở nơi gò mả, khéo ghi nhận các hình tướng như thế rồi, không hề quên, mau chóng trở lại trụ xứ, rửa chân tay, ngồi trên giường dây, hoặc trải cỏ lên trên, nhớ lại tử thi mình đã thấy và nghĩ về thân ta cũng như thế. Đó gọi là người mới tu hành.

Hành giả đối với cảnh giới của đối tượng quán, có thể khiến rộng cũng có thể làm cho lược.

Thế nào gọi là rộng? Như quán xương của thân mình, quán nơi giường mình ngồi, cũng lại là xương. Tiếp theo, quán đến nhà cửa, nơi chốn mình đang cư ngụ, Tăng-già-lam, thôn xóm, ruộng đất, quốc độ hiện có dân chúng, cho đến đại địa hiện có trong biển cả, đều quán toàn là xương. Đó gọi là quán rộng.

Thế nào gọi là hẹp? Bỏ xương đã có trong biển cả, quán xương hiện có của một quốc độ. Bỏ xương trong quốc độ, cho đến bỏ quán xương bên ngoài, chỉ quán xương của thân mình. Đó gọi là hẹp.

Có thể tạo ra quán rộng, hẹp như thế. Đó gọi là người đã tu hành.

Bỏ xương chân của mình, quán xương mắc cá của mình, cho đến quán xương đầu lâu. Xương đầu lâu có hai thứ: phần bên trái, phần bên phải. Nếu bỏ phần bên trái, quán phần bên phải, hoặc bỏ phần bên phải, quán phần bên trái, hoặc bỏ cả hai phần, buộc giữ niệm ở khoảng chân mày. Đó gọi là người tu hành lâu.

Thời gian này được gọi là bắt đầu nhập quán thân niệm xứ, quán bất tịnh.

Quán thân niệm xứ: Hoặc có duyên ít, tự tại nhiều. Hoặc có tự tại ít, duyên nhiều. Hoặc có duyên ít, tự tại ít. Hoặc có duyên nhiều, tự tại nhiều.

Trường hợp thứ nhất: Có thể thường xuyên quán thân mình, đối với cảnh giới của đối tượng quán không thể khiến chuyển biến rộng.

Trường hợp thứ hai: Có thể quán xương trong biển cả, không thể khiến cho quán này thường xuyên hiện ở trước.

Trường hợp thứ ba: Chỉ quán nơi tự thân, không thể khiến cho quán này thường xuyên hiện ở trước.

Trường hợp thứ tư: Có thể quán xương trong biển cả, lại khiến cho quán này liên tục hiện ở trước.

Quán bất tịnh: Hoặc có duyên vô lượng không phải là tự tại vô lượng. Hoặc có tự tại vô lượng không phải là duyên vô lượng. Hoặc có duyên vô lượng tự tại cũng vô lượng. Hoặc có duyên không vô lượng tự tại cũng không vô lượng.

Trường hợp thứ nhất: Hành giả có thể quán xương trong biển cả, không thể khiến quán này thường xuyên hiện ở trước.

Trường hợp thứ hai: Có thể quán xương của tự thân, thường xuyên hiện ở trước, không thể khiến quán này hiển bày rộng.

Trường hợp thứ ba: Có thể quán xương trong biển cả luôn hiện ở trước.

Trường hợp thứ tư: Có thể quán xương của tự thân, không thể khiến quán này thường xuyên hiện ở trước.

Đó gọi là hành giả quán tưởng về xương.

Thế nào là quán về đoạn thực? Hành giả khởi tưởng bất tịnh, quán thức ăn trong tay, hoặc trong đồ đựng: Thức ăn này từ nơi chốn nào đến? Biết là từ các thứ lúa trong các kho lẫm đến. Quán lúa thóc ở trong kho lại từ đâu đến? Biết là từ nơi các thứ giống lúa trong ruộng được mang đến. Lại quán dùng những gì để nuôi lớn hạt giống? Biết là do phân, nước. Phân lại từ đâu đến? Biết là từ trong đống phân rác, nước tiểu v.v… đến. Khi quán như thế, thấy vật bất tịnh trở lại làm tăng thêm vật bất tịnh. Hành giả hoặc vào thôn xóm khất thực, hoặc ở trong Tăng chúng sắp sửa vào thôn xóm. Nước được thọ dụng, khởi tưởng về nước tiểu. Nhành dương xỉa răng, khởi tưởng về xương cánh tay. Y khoác nơi thân, tạo tưởng về da người.

Giải áo, tạo tưởng về ruột. Bát đựng, tạo tưởng về đầu lâu. Gậy, tạo tưởng về xương đùi vế. Lúc đi trên đường đá, tạo tưởng về xương đầu lâu. Nếu khi đến thôn xóm, trông thấy tường vách nơi nhà cửa, tạo tưởng về đống xương. Thấy các nam, nữ lớn nhỏ, tạo tưởng về xương người. Được ăn mì bún, tạo tưởng về xương mềm vụn. Muối, tạo tưởng về răng nghiền nát. Các thứ rau cải, tạo tưởng về tóc. Bánh, tạo tưởng về da. Cơm, tạo tưởng về trùng. Canh, tạo tưởng về mủ, phân nhơ. Sinh tô, sữa, lạc, tạo tưởng về óc não. Dầu, mật đường phèn, tạo tưởng về mỡ người. Nước bồ đào, tạo tưởng về máu. Thịt, tạo tưởng về thịt người. Nếu khi vào trong Tăng chúng được nhận lãnh cỏ sạch, tạo tưởng về tóc người. Được bột v.v…, tạo tưởng về bột xương. Ngoài ra, như trước đã nói.

Hỏi: Vì sao hành giả tạo ra các tưởng như thế?

Đáp: Hành giả kia khởi suy nghĩ: Từ vô thủy đến nay, ta đã dùng bất tịnh làm tịnh. Nay nên quán vật này bất tịnh, tức tạo tưởng bất tịnh. Người có thể tạo ra tưởng như thế, tức có thể đối trị dục ái. Lại nữa, muốn đối trị dục ái, nên hành quán như thế. Theo nghĩa mà nói, hành giả tạo nên tiếng gầm của sư tử, nói với phần bất tịnh: Từ vô thủy đến nay, Ta đã nhận lấy tướng tịnh của ông, nay muốn nhận lấy rộng tướng bất tịnh của ông.

Hỏi: Vì sao nói quán bất tịnh buộc giữ niệm ở trước, không nói về niệm A na ba na (Quán sổ tức), quán phương tiện giới?

Đáp: Hoặc có thuyết nói: Đây là nói về sự việc khởi phương tiện đầu tiên. Như nói quán bất tịnh, buộc giữ niệm ở trước, cũng nên nói niệm A na ba na, quán phương tiện giới. Nhưng không nói, tức biết là nghĩa này nêu bày chưa trọn vẹn.

Lại có thuyết cho: Vì tùy theo phần nhiều. Các Tỳ-kheo phần nhiều tu quán bất tịnh, ít tu niệm A na ba na. Thế nên nói quán bất tịnh, không nói niệm hơi thở ra vào.

Tôn giả Cù-sa nói: Tùy vào thời gian hành giả kia nhập pháp, dùng buộc giữ niệm ở trước, bất tất phải dùng quán bất tịnh.

Tôn giả Ca-chiên-diên-tử vì giải thích kinh Phật. Kinh Phật nói: Chánh tâm buộc giữ niệm ở trước, trừ tâm tham nơi thế gian, trụ trong pháp không tham, cho đến đoạn dứt cái nghi cũng như thế. Trong năm cái, cái nào là nặng hơn hết? Tức cái tham dục. Quán bất tịnh là pháp đối trị gần cái tham dục. Theo thứ lớp quán bất tịnh cũng có thể đoạn trừ các thứ cái khác, cũng có thể dấy khởi thiền. Thế nên, dùng tưởng bất tịnh để buộc giữ niệm ở trước.

Hỏi: Thể tánh của quán bất tịnh là gì?

Đáp: Là không tham. Nếu ghi nhận về tưởng kia, nên cùng có, thì thể là năm ấm. Các vị tu nơi A-luyện-nhã, nói thể của quán bất tịnh là tuệ. Vì sao? Vì kinh Phật nói: Nếu có thể khéo thâu giữ các căn thì đó gọi là thấy quán bất tịnh.

Lại có thuyết nói: Thể của quán bất tịnh là sự nhàm chán, nhàm chán về danh, tưởng, nên tâm số pháp hành tại như thế v.v… Đó gọi là chỗ thích hợp của tâm số pháp.

Lời bình: Không nên tạo ra thuyết ấy. Thuyết nói không tham là tốt. Nếu nhận lấy sự tương ưng để cùng có, thì thể là bốn ấm, năm ấm.

Về cõi: Là cõi dục, cõi sắc.

Về địa: Là mười địa. Nghĩa là cõi dục, thiền trung gian, bốn thiền căn bản, biên của bốn thiền.

Về thân: Là ở cõi dục.

Về hành: Không phải là mười sáu hành, mà là hành riêng, hành bất tịnh.

Về duyên: Là duyên nơi sắc nhập của cõi dục.

Hỏi: Đây là duyên nơi tất cả sắc nhập của cõi dục chăng?

Đáp: Đều là duyên.

Hỏi: Nếu như vậy thì vì sao Tôn giả A-ni-lô-đầu không thể tạo quán bất tịnh đối với thân trời Duyệt ý? Từng nghe, Tôn giả A-ni-lôđầu đang ngồi kiết già thiền định trong một khu rừng, bỗng có bốn thiên nữ Duyệt ý tự hóa thân hình hết mực xinh đẹp, đến chỗ Tôn giả A-ni-lô-đầu, nói: Này Tôn giả A-ni-lô-đầu! Chúng tôi là trời Duyệt ý, có thể ở nơi bốn xứ biến hóa tự tại. Nếu ông muốn thấy sắc nào nơi thân chúng tôi, chúng tôi đều có thể ứng hiện để cùng ông vui thích. Lúc ấy, Tôn giả A-ni-lô-đầu nghĩ thầm: Ta nay phải nên khởi quán bất tịnh. Lập tức khởi quán bất tịnh của thiền thứ nhất, nhưng không thể khiến quán này hiện ở trước, cho đến muốn khởi quán bất tịnh của thiền thứ tư cũng đều không thể. Lại suy nghĩ: Các thiên nữ kia là nhiều thứ sắc. Nếu như chỉ thuần là một sắc, Ta tức có thể khởi quán. Bèn nói với thiên nữ: Các chị em đều nên hóa ra màu xanh. Bấy giờ, thiên nữ liền tạo ra sắc xanh. Tôn giả lại khởi quán bất tịnh, cũng vẫn không thể. Lại nói: Các chị em nên tạo ra màu vàng. Các thiên nữ liền hiện ra sắc vàng. Tôn giả lại khởi quán bất tịnh, cũng vẫn không thể. Lại nói: Các chị em nên tạo ra màu đỏ. Các thiên nữ liền hóa ra sắc đỏ. Tôn giả lại khởi quán bất tịnh, nhưng cũng không thể được.

Hỏi: Vì sao Tôn giả A-ni-lô-đầu bảo các thiên nữ tạo ra nhiều thứ sắc như vậy?

Đáp: Vì Tôn giả suy nghĩ: Nếu hình sắc thay đổi thì mình có thể khởi quán bất tịnh.

Lại nữa, vì muốn quán về tướng tốt đẹp, không tốt đẹp của sắc kia, nên nói như thế.

Lại khởi suy nghĩ: Sắc trắng tùy thuận nơi tướng xương. Nếu các thiên nữ kia hóa ra màu trắng, ta có thể khởi quán bất tịnh. Liền nói: Chị em nên hóa thành màu trắng. Thiên nữ liền hóa ra sắc trắng.

Tôn giả tức thì khởi quán bất tịnh, nhưng vẫn không thể. Lại nghĩ: Các thiên nữ này đoan nghiêm, xinh đẹp! Thế rồi Tôn giả yên lặng, nhắm mắt lại không nhìn. Lúc này, các thiên nữ hốt nhiên không hiện nữa.

Theo nghĩa như thế làm sao thông?

Đáp: Tôn giả A-ni-lô-đầu tuy không thể quán, nhưng các bậc lợi căn khác thì có thể quán. Như Tôn giả Mục-kiền-liên, Xá-lợiphất, Phật-bích-chi, Đức Phật.

Hỏi: Có thể đối với thân Phật tạo ra quán bất định chăng?

Đáp: Tất cả Thanh văn, Phật-bích-chi đều có thể quán, nhưng không thể tạo ra tưởng bất tịnh. Vì sao? Vì thân Phật vô cùng sáng sạch, thù thắng, mầu nhiệm, không có các lỗi lầm, chúng sinh đều ưa thích nhìn thấy. Thế nên tất cả Thanh văn, Phật-bích-chi đều không thể tạo ra quán bất tịnh, chỉ có Đức Phật mới có thể quán.

Lại có thuyết nói: Thanh văn cũng có thể quán. Vì sao? Vì bất tịnh có hai thứ: (1) Lỗi lầm tai hại của sắc. (2) Duyên khởi của sắc. Không thể quán về lỗi lầm tai hại của sắc, nhưng có thể quán về duyên khởi của sắc. Quán bất tịnh lại có hai thứ: (1) Tướng chung. (2) Tướng riêng. Có thể quán về tướng chung, nhưng không thể quán về tướng riêng.

Về niệm xứ: Theo phần căn bản mà nói, không phải là niệm xứ. Theo phương tiện nào nói, là thân niệm xứ.

Về trí: Là cùng với đẳng trí tương ưng.

Về căn: Là tương ưng chung với ba căn.

Về định: Không cùng với định tương ưng.

Về quá khứ, vị lai, hiện tại: Là pháp của ba đời.

Về duyên nơi quá khứ, vị lai, hiện tại: Quá khứ tức duyên nơi pháp quá khứ. Hiện tại tức duyên nơi pháp hiện tại. Vị lai nếu không sinh là duyên nơi ba đời, nếu sinh là duyên nơi vị lai.

Về thiện, bất thiện, vô ký: Là thiện.

Về duyên nơi thiện, bất thiện, vô ký: Là đều duyên nơi ba thứ. Nhưng duyên nơi pháp vô ký nhiều.

Về hệ thuộc nơi ba cõi: Hệ thuộc nơi cõi dục, cõi sắc.

Về duyên nơi ba cõi: Là duyên nơi cõi dục.

Về học, vô học, phi học phi vô học: Là phi học phi vô học.

Về duyên nơi học, vô học, phi học phi vô học: Là duyên nơi phi học phi vô học.

Về do kiến đạo đoạn, tu đạo đoạn, không đoạn: Là do tu đạo đoạn.

Về duyên nơi kiến đạo đoạn, tu đạo đoạn, không đoạn: Là duyên nơi tu đạo đoạn.

Duyên nơi tự thân, tha thân: Duyên nơi tự thân cũng duyên nơi tha thân.

Duyên nơi danh, duyên nơi nghĩa: Là duyên nơi nghĩa.

Là lìa dục đắc hay là do phương tiện đắc: Cũng là lìa dục cũng là phương tiện. Lìa dục đắc: Là lìa dục của cõi dục, được địa thiền thứ nhất, cho đến lìa dục của thiền thứ ba, được địa thiền thứ tư. Hàng phàm phu, Thánh nhân của thân sau cùng, được pháp đã từng được, cũng được pháp chưa từng được. Ngoài ra, phàm phu được pháp đã từng được. Người lìa dục đắc: Khi lìa dục được, về sau tạo phương tiện, khởi hiện ở trước. Đức Phật không dùng phương tiện khởi hiện ở trước. Phật-bích-chi khởi phương tiện phẩm hạ. Thanh văn hoặc tạo phương tiện phẩm trung, hoặc tạo phương tiện phẩm thượng, khởi quán bất tịnh hiện ở trước. Có khi tạo phương tiện mà được, về sau tạo phương tiện khởi hiện ở trước.

Hỏi: Những người nào có thể khởi quán bất tịnh?

Đáp: Hàng phàm phu, Thánh nhân đều cùng có thể khởi. Thánh nhân là từ Tu-đà-hoàn cho đến A-la-hán.

Hỏi: Xứ nào khởi quán bất tịnh?

Đáp: Trước là tạo ra thuyết này: Là ba phương trong cõi dục, chẳng phải là châu Uất-đơn-việt. Nơi các cảnh trời thuộc cõi dục, không thể khiến cho người mới hành trì khởi hiện ở trước. Vì sao? Vì không có tử thi đổi sang màu xanh v.v… Trước ở trong nẻo người đạt được. Sau ở nơi nẻo kia khởi hiện ở trước.

Về văn tư tu: Là cả ba thứ. Cõi dục là văn, tư. Cõi sắc là văn, tu.

Hỏi: Quán tất cả là xương, nhưng tất cả không phải là xương. Vì sao quán này không phải là điên đảo?

Đáp: Vì quán này có thể đoạn trừ các kiết, nên không phải là điên đảo.

Hỏi: Quán phòng, nhà là xương, vậy quán này đối tượng duyên là gì?

Đáp: Hoặc có thuyết nói: Duyên nơi những vòng xích xương vốn đã thấy tại chốn gò mả.

Lại có thuyết cho: Duyên nơi cảnh giới hư không đã có trong phòng nhà.

Lời bình: Đây là tưởng hư giả. Quán về đối tượng quán tức duyên nơi pháp đó. Nói như thế là tốt.

Hỏi: Quán bất tịnh này là ở địa ý hay là ở nơi năm thức thân?

Đáp: Là địa ý duyên nơi hình sắc, không phải năm thức thân.

Hỏi: Nếu là địa ý, không phải năm thức thân, thì như nơi kinh này nói làm sao thông? Như nói: Mắt thấy sắc tạo tư duy về bất tịnh.

Đáp: Trước, nhãn thức thấy sắc, sau, địa ý tạo tư duy về bất tịnh.

Lại có thuyết nói: Từ môn kia, từ đạo của môn kia, như hành quán của sáu hỷ là địa của ý thức. Từ đạo của môn mắt sinh, cho đến đạo của môn thân sinh. Do vậy nói quán sáu bất tịnh, nên biết cũng như thế.

Hỏi: Từ đạo của môn mắt sinh quán bất tịnh. Nói như thế thì có thể được. Còn như kinh kia nói: Tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, thân tiếp xúc, ý nhận biết pháp, tạo ra tư duy về bất tịnh, sự việc ấy làm sao thông? Vì sao? Vì trừ sắc nhập thì các nhập khác không phải là cảnh giới của quán bất tịnh?

Đáp: Hoặc có thuyết nói: Quán bất tịnh không duyên nơi tiếng v.v…, nhưng lại có hành vượt hơn, có thể chán lìa tiếng v.v…

Lại có thuyết cho: Do bị ái nơi sắc che lấp nên tu quán bất tịnh. Vì bị ái nơi tiếng, hương, vị, xúc, pháp che lấp, nên cũng tu quán bất tịnh. Do vậy nên nói như thế.

Lại có thuyết nêu: Hành giả quán hình sắc là bất tịnh. Chỗ dựa của hình sắc là thanh, hương, vị, xúc, pháp, lại do vượt hơn hành quán chán lìa của quán bất tịnh, nên tạo ra thuyết như thế.

Lại có thuyết nói: Hành giả khéo tu quán bất tịnh, có thể điều phục việc tạo sắc, lại muốn điều phục nơi cảnh giới như âm thanh v.v… Nếu có thể điều phục được thì tốt, nếu không thể điều phục thì trở lại tu quán bất tịnh. Cũng như khi quân sĩ chiến đấu, trước phải yên định nơi dinh lũy, sau mới xuất trận để chiến đấu với giặc. Nếu đánh thắng giặc thì tốt, không thắng thì trở lại dinh lũy. Quán bất tịnh kia cũng như vậy. Do đó nên tạo ra thuyết như thế.

Kinh nói: Có năm tam muội hiện thấy. Những gì là năm? Như nói: Tỳ-kheo các ông nên quán xét như thật về thân này, từ chân đến đầu tóc có các thứ bất tịnh đầy dẫy trong ấy. Đó là tóc, lông, móng, răng, da mỏng, da dày, gân, mạch, thịt, xương, tim, phổi, lá lách, thận, gan, mật, đàm, dãi, ruột già ruột non, bao tử, đại tiểu tiện, nước mắt, nước mũi, nước miếng từ trong miệng chảy ra, mỡ lá, tủy, óc, máu, mủ, mồ hôi, sinh tạng, thục tạng. Cũng như có người từ nơi cửa sổ hướng ra bên ngoài xem thấy các thứ ngũ cốc xen tạp trong kho, nào là mè, gạo tẻ, các loại đậu, đại mạch, tiểu mạch v.v… Tỳ-kheo quán xét như thật về thân này cũng lại như vậy. Nếu có thể quán như thế, thì đó gọi là tam muội hiện thấy thứ nhất.

Lại nữa, Tỳ-kheo quán xét như thật về thân này, cho đến nói rộng. Loại bỏ các thứ máu, thịt, chỉ quán về xương trắng, hành ở trong thức. Nếu có thể quán như vậy, thì đó gọi là tam muội hiện thấy thứ hai.

Lại nữa, Tỳ-kheo quán xét như thật về thân này, cho đến nói rộng. Quán về thân xương, hành ở trong thức, cũng trụ nơi đời này, cũng trụ trong đời vị lai. Nếu có thể quán như vậy, thì đó gọi là tam muội hiện thấy thứ ba.

Lại nữa, Tỳ-kheo quán xét như thật về thân này, cho đến nói rộng. Chỉ quán về thân xương, hành ở trong thức, trụ nơi đời vị lai, không trụ nơi đời nay. Nếu có thể quán như vậy, thì đó gọi là tam muội hiện thấy thứ tư.

Lại nữa, Tỳ-kheo cho đến quán xương trắng của thân, hành ở trong thức, không trụ nơi đời nay, cũng không trụ nơi đời vị lai. Nếu có thể quán như vậy, thì đó gọi là tam muội hiện thấy thứ năm.

Hỏi: Năm tam muội hiện thấy này, người nào hiện có được?

Đáp: Tam muội hiện thấy thứ nhất, thứ hai, là hàng phàm phu và Thánh nhân hiện có. Tam muội hiện thấy thứ ba là bậc Tu-đàhoàn, Tư-đà-hàm hiện có. Tam muội hiện thấy thứ tư là bậc A-nahàm hiện có. Tam muội hiện thấy thứ năm là bậc A-la-hán hiện có.

Hỏi: Tam muội thứ nhất, thứ hai là hiện thấy, thì có thể như thế. Vì sao? Vì nhân nơi hiện thấy nên sinh khởi. còn khi quán hành của thức, thì vì sao là hiện thấy?

Đáp: Vì hiện thấy là phương tiện của quán kia, từ hiện thấy sinh, nên cũng gọi là hiện thấy. Các pháp được lập danh có nhiều cách. Hoặc do tự thể nên lập danh. Hoặc do đối tượng nương dựa nên lập danh. Hoặc do tương ưng nên lập danh. Hoặc do đối trị nên lập danh. Hoặc do hành, hoặc do duyên, hoặc do hành duyên nên lập danh. Hoặc do phương tiện nên lập danh.

Do tự thể nên lập danh: Như đế, như ấm. Về đế: Vì thể là bức bách nên gọi là khổ đế, cho đến vì thể là cầu đạt nên gọi là đạo đế. Vì thể là sắc nên gọi là sắc ấm, cho đến vì thể là thức nên gọi là thức ấm.

Do đối tượng nương dựa nên lập danh: Như nhãn thức, vì dựa nơi mắt sinh nên gọi là nhãn thức. Cho đến ý thức vì dựa nơi ý sinh nên gọi là ý thức.

Do tương ưng nên lập danh: Như ý nghiệp, ý hành. Như ý xúc sinh ái. Pháp này cùng với ý tương ưng nên theo đấy lập danh.

Do đối trị nên lập danh: Như pháp trí, tỷ trí. Nếu pháp đối trị nơi cõi dục thì đó gọi là pháp trí. Nếu pháp đối trị nơi cõi sắc, vô sắc thì đó gọi là tỷ trí.

Do hành nên lập danh: Như khổ trí, tập trí. Vì sao? Vì hai trí này duyên đồng, hành không đồng.

Do duyên nên lập danh: Như tam muội vô tướng, vì duyên nơi pháp không có mười tướng, nên gọi là tam muội vô tướng.

Do hành duyên nên lập danh: Như diệt trí, đạo trí. Vì sao? Vì hai trí này hành không đồng, duyên cũng không đồng.

Do phương tiện nên lập danh: Như tha tâm trí, không xứ, thức xứ, năm tam muội hiện thấy, do hiện thấy làm phương tiện sinh ra định này, nên gọi là tam muội hiện thấy.

Hỏi: Quán bất tịnh vì sao gọi là tam muội hiện thấy?

Đáp: Vì có thể sinh ra tam muội hiện thấy.

Hỏi: Vì sao quán bất tịnh của Đức Phật đạt được gọi riêng là vô thượng?

Đáp: Hoặc có thuyết nói: Do quán bất tịnh của Phật đạt được có thể hàng phục tất cả cảnh giới là hơn hẳn, nên gọi là vô thượng. Quán bất tịnh của hàng Thanh văn, Phật-bích-chi hiện có, không thể hàng phục tất cả cảnh giới một cách hơn hẳn. Như Tôn giả A-ni-lôđầu không thể hàng phục cảnh giới một cách hơn hẳn, nên không gọi là vô thượng.

Lại có thuyết cho: Quán bất tịnh của Phật đạt được là quán về xương. Quán xương là xương, quán gân, thịt v.v… là gân thịt, cho đến nói rộng.

Lời bình: Nếu tạo ra thuyết này thì thông suốt: Phật là cảnh giới ít. Người quán bất tịnh, như thuyết trước nói là tốt, vì đối với tất cả cảnh giới đều có thể hơn hẳn, nên riêng gọi là vô thượng.

* Như Đức Phật bảo Tôn giả Mục-kiền-liên: Vì sao Phạm thiên Đề-xá không vì ông nói về người thứ sáu trụ nơi vô tướng, cho đến nói rộng?

Hỏi: Vì lý do gì tạo ra phần Luận này?

Đáp: Đây là kinh Phật. Trong kinh Phật nói: Đức Phật đang ở tại tinh xá nơi khu vườn rừng Kỳ Đà – Cấp Cô Độc, thuộc nước Xávệ. Bấy giờ, có ba Phạm thiên, hào quang nơi thân sáng rực, vào lúc đầu đêm đi đến chỗ Đức Phật. Tới rồi, đảnh lễ nơi chân Phật, đứng qua một phía. Lúc đó, một Phạm thiên bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Tại nước Bà-sí-đa có số đông Tỳ-kheo ni mạng chung.

Phạm thiên thứ hai lại bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Những vị mạng chung ấy, có người là Niết-bàn hữu dư.

Phạm thiên thứ ba lại bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Những vị mạng chung ấy, có người là Niết-bàn vô dư.

Các Phạm thiên nói như vậy xong, đi nhiễu quanh Đức Phật ba vòng, bỗng nhiên không hiện.

Sáng hôm sau, Đức Phật sai thị giả trải giường tòa, ngồi giữa chúng Tăng xong, nói với các Tỳ-kheo: Vào đầu đêm hôm qua, có ba Phạm thiên, hào quang sáng rực đi đến chỗ Ta. Cho đến Phạm thiên thứ ba, sau khi nói lời ấy xong, nhiễu quanh chỗ Ta ba vòng, bỗng nhiên không hiện.

Bấy giờ, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên đang ở trong chúng, suy nghĩ: Các vị trời kia có tri kiến như thế, nói về Niết-bàn hữu dư, Niếtbàn vô dư là những vị trời nào? Lúc đó, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên theo chỗ thích ứng, liền nhập tam muội. Do diệu lực của tam muội, nên nơi rừng Kỳ-đà, hốt nhiên biến mất, hiện ra nơi cõi Phạm thiên, cách chỗ Phạm thiên Đề-xá không xa. Tôn giả Mục-kiền-liên từ tam muội khởi, đến chỗ Phạm thiên Đề-xá. Đến rồi, nói: Này Đề-xá! Phạm thiên nào có tri kiến như thế, biết là Niết-bàn Hữu dư, biết là Niết-bàn vô dư?

Hỏi: Như tri kiến của Tôn giả Mục-kiền-liên là hơn hẳn Phạm thiên gấp trăm ngàn vạn phần, vì sao lại phải hỏi nơi Phạm thiên?

Đáp: Vì muốn hiển bày công đức của Phạm thiên Đề-xá, vốn là đệ tử của Tôn giả Mục-kiền-liên, đã chứng đắc quả A-na-hàm, có uy đức lớn, các Phạm thiên kia đều không biết. Vì muốn làm sáng tỏ công đức của Phạm thiên Đề-xá, khiến các Phạm chúng khởi tâm cung kính, tôn trọng. Vì thế nên hỏi.

Lúc này, Phạm thiên Đề-xá đáp: Đây là chư thiên Phạm thân có tri kiến như thế, có thể nhận biết Niết-bàn hữu dư.

Tôn giả Mục-kiền-liên hỏi Phạm thiên Đề-xá: Tất cả chư thiên Phạm thân đều có tri kiến ấy, tức nhận biết về Niết-bàn hữu dư, Niếtbàn Vô dư chăng?

Phạm thiên Đề-xá đáp: Không phải tất cả chư thiên nơi Phạm thân đều có tri kiến như thế, cho đến nói rộng. Các Phạm thiên này tuy có thọ mạng, thân sắc vi diệu, uy danh của cõi trời nhưng không biết đủ, không biết pháp xa lìa tối thượng như thật, tức không có tri kiến này. Nếu các Phạm thiên có thọ mạng, thân sắc vi diệu, uy danh của cõi trời mà hành biết đủ, có thể nhận biết pháp xa lìa tối thượng như thật, tức có tri kiến như vậy.

Tôn giả Mục-kiền-liên lại hỏi Phạm thiên Đề-xá: Các Phạm thiên này làm sao có thể nhận biết?

Phạm thiên Đề-xá đáp: Thưa Tôn giả Mục-kiền-liên! Nếu các Tỳ-kheo đắc đạo quả A-la-hán, là câu giải thoát, thì các Phạm thiên này khởi suy nghĩ: Nếu khi Đại đức này có thân, thì hàng người trời đều thấy. Nếu thân hoại mạng chung, thì hàng người trời không còn thấy nữa. Không chỉ là bậc câu giải thoát. Nếu Tỳ-kheo đắc quả A-lahán là tuệ giải thoát, các Phạm thiên này khởi tư duy: Tỳ-kheo ấy được quả A-la-hán là Tuệ giải thoát, khi Đại đức này có thân thì hàng người trời đều trông thấy, cho đến nói rộng. Không chỉ là bậc tuệ giải thoát. Nếu Tỳ-kheo là Thân chứng, thì Đại đức ấy cũng có thể thắng tấn, đắc căn vô học. Các bậc Kiến đáo, Tín giải thoát nói cũng như thế.

Hỏi: Vì sao các Phạm thiên kia không nói đến bậc Kiên tínn, Kiên pháp?

Đáp: Hoặc có thuyết nói: Nếu là cảnh giới của Phạm thiên kia thì nói đến kiên tín, kiên pháp. Do không phải là cảnh giới của Phạm thiên, thế nên không nói.

Lại có thuyết cho: Nếu là pháp thuộc đối tượng hành của các Phạm thiên thì nói. Pháp này không phải là đối tượng hành của họ, thế nên không nói.

Bấy giờ, Tôn giả Mục-kiền-liên nghe Phạm thiên Đề-xá nói rồi tâm sinh hoan hỷ, theo chỗ thích ứng, liền nhập tam muội. Do diệu lực của tam muội, nên từ cõi Phạm thiên ẩn mất, hiện ra nơi rừng Kỳ-đà. Tôn giả Mục-kiền-liên lại từ tam muội khởi, đi đến chỗ Đức Phật, đảnh lễ nơi chân Phật rồi ngồi qua một bên. Tôn giả thưa lại với Đức Thế Tôn về việc mình đã cùng bàn luận với Phạm thiên Đề-xá.

Đức Thế Tôn bảo Tôn giả Mục-kiền-liên: Phạm thiên Đề-xá không nói đến người thứ sáu hành vô tướng chăng?

Tôn giả Đại Mục-kiền-liên liền từ tòa ngồi đứng dậy, chấp tay hướng về Phật, bạch: Bạch Đức Thế Tôn! Nay đúng là lúc, kính mong Đức Thế Tôn nói đến người thứ sáu hành vô tướng. Nếu các Tỳ-kheo nghe xong, nhất định vâng làm.

Đức Phật bảo Tôn giả Đại Mục-kiền-liên: Ông hãy lắng nghe, khéo nhớ nghĩ, Ta nay sẽ giảng nói: Mục-liên nên biết! Nếu Tỳ-kheo tâm không còn quán tất cả tướng mà nhập tam muội vô tướng, thì đó gọi là người thứ sáu hành vô tướng.

Kinh Phật tuy nói như vậy, nhưng không phân biệt. Kinh Phật là chỗ dựa căn bản để tạo luận. Luận này là nhằm giải thích nghĩa nơi kinh Phật. Có những pháp nơi các kinh không nói, nay vì muốn nói rõ nên tạo ra phần Luận này.

Hỏi: Thế nào là người thứ sáu hành vô tướng?

Đáp: Kiên tín, Kiên pháp, là người thứ sáu, người hành vô tướng. Vì sao? Vì bảy hạng Thánh nhân bao gồm tất cả Thánh nhân, Phạm thiên Đề-xá đã nói đến năm hạng, không nói hai hạng này, vì thế nên biết.

Hỏi: Hai bậc này vì sao nói là người hành vô tướng?

Đáp: Vì Tôn giả kia không thể nêu đặt lập danh, ở nơi đây, nơi kia, cho đến nói rộng.

Hỏi: Đây là hai bậc vì sao nói là một?

Đáp: Tức như văn nói: Hai vị này đều cùng không thể nêu đặt lập danh là ở đây, ở kia. Do nghĩa đồng nên nói là một.

Lại có thuyết cho: Hai bậc này đều cùng không khởi tâm không giống nhau.

Lại có thuyết nêu: Vì tâm hành của hai bậc này là như nhau, cùng có mười lăm tâm.

Lại có thuyết nói: Hai bậc này đều cùng không khởi tâm mong muốn.

Lại có thuyết cho: Hai bậc này đều cùng là không thể nêu đặt, đều cùng là không ngôn thuyết, đều cùng là đạo nhanh chóng.

Do các nghĩa ấy, nên hai bậc này là người thứ sáu.

Hỏi: Năm người kia là người hành vô tướng chăng? Vì sao nói người hành vô tướng này là người thứ sáu hành vô tướng?

Đáp: Năm người kia không phải là người hành vô tướng, chỉ người này mới gọi là người hành vô tướng.

Hỏi: Nếu như vậy thì vì sao nói đây là người thứ sáu hành vô tướng?

Đáp: Đây là thứ sáu của số pháp, không phải là thứ sáu của hành vô tướng. Nơi chốn khác cũng nói là đã hại người hành thường thứ năm. Bốn hành trước không phải là thường, chỉ người thứ năm là thường. Do số pháp nên người thứ năm là thường, không phải bốn người trước đều là thường. Như nói thứ sáu tăng thượng, thứ năm cũng như thế.

Như vậy, do số pháp nên nói thứ sáu, không phải là vô tướng nên nói thứ sáu.

Hỏi: Vô tướng đã nói ở đây, vô tướng nơi môn giải thoát, pháp bất động nơi tâm giải thoát cũng nói là vô tướng, xứ phi tưởng phi phi tưởng cũng nói là vô tướng. Bốn thứ này có gì khác biệt?

Đáp: Ở đây nói kiến đạo là vô tướng. Vì sao? Vì kiến đạo này là đạo nhanh chóng, không khởi tâm trông mong. Nếu người nhập nơi pháp này thì không thể thiết lập là ở đây, ở kia, thế nên nói là vô tướng.

Vô tướng nơi môn giải thoát nói là vô tướng: Là do duyên nơi pháp không có mười tướng, thế nên nói là vô tướng.

Pháp bất động nơi tâm giải thoát nói là vô tướng: Là vì không bị tướng của các phiền não che lấp, cũng không còn sinh khởi tướng phiền não nữa, thế nên nói là vô tướng.

Xứ phi tưởng phi phi tưởng nói là vô tướng: Vì xứ đó tối kém, không mạnh mẽ, nhạy bén, hành không quyết định, giống như nghi ngờ, không có tướng của tưởng rõ ràng, tướng không sáng rõ như là phi tướng, thế nên nói là vô tướng.

Kiến đạo có mười lăm tâm, tâm thứ mười sáu đều cùng với đạo tỷ trí là tu đạo. Thanh văn có thể nhận biết hai tâm trong kiến đạo là khổ pháp nhẫn, khổ pháp trí. Nếu muốn quán tâm thứ ba là khổ tỷ nhẫn, thì vào lúc này mới biết được tâm thứ mười sáu tương ưng với đạo tỷ trí. Phật-bích-chi nhận biết ba tâm trong kiến đạo là khổ pháp nhẫn, khổ pháp trí. Nếu khi muốn nhận biết khổ tỷ nhẫn, thì vào lúc đó mới biết tâm thứ tám tương ưng với tập tỷ trí. Đức Phật – Thế Tôn nhận biết tâm nối tiếp từng trải quả trong kiến đạo.

Hỏi: Vì sao Thanh văn nhận biết hai tâm trong kiến đạo, Phậtbích-chi nhận biết ba tâm, còn Đức Phật đều nhận biết tất cả?

Đáp: Tha tâm trí nhận biết cảnh giới tương tợ, không nhận biết cảnh giới không tương tợ. Thế tục trí nhận biết tâm tâm số pháp của thế tục. Trí vô lậu nhận biết tâm tâm số pháp vô lậu. Pháp trí nhận biết phần của pháp trí. Tỷ trí nhận biết phần của tỷ trí. Thanh văn, Phật-bích-chi tạo ra phương tiện thì tha tâm trí mới hiện ở trước. Hành giả muốn nhập kiến đạo, thì tha tâm trí của Thanh văn hiện ở trước, là lúc nhận biết hai tâm trong kiến đạo là tâm đều cùng có khổ pháp nhẫn, tâm đều cùng có khổ pháp trí. Hành giả nhập phần tỷ trí, Thanh văn tạo phương tiện của tha tâm trí nơi phần tỷ trí, khởi phần tỷ trí thì tha tâm trí hiện ở trước, muốn nhận biết tâm thứ ba, tức mới nhận biết tâm thứ mười sáu. Hành giả muốn nhập kiến đạo, Phật-bích-chi tạo phương tiện của tha tâm trí nơi phần pháp trí. Hành giả đã nhập kiến đạo, Phậtbích-chi khởi tha tâm trí của phần pháp trí hiện ở trước, nhận biết hai tâm của kiến đạo là khổ pháp nhẫn, khổ pháp trí. Hành giả nhập phần tỷ trí, Phật-bích-chi tạo phương tiện của tha tâm trí nơi phần tỷ trí, khởi tha tâm trí của phần tỷ trí hiện ở trước, muốn nhận biết tâm thứ ba là khổ tỷ nhẫn mới nhận biết tâm thứ tám là tập tỷ trí. Đức Phật không tạo phương tiện nhưng tha tâm trí đều hiện ở trước. Như hành giả trong kiến đạo khởi mỗi mỗi sát-na hiện ở trước, Đức Phật cũng khởi tha tâm trí nhận biết mỗi mỗi tâm nối tiếp đã từng trải của kiến đạo.

Hỏi: Có thể thí thức ăn cho người kiên tín, kiên pháp không?

Đáp: Không thể. Nếu thí y phục, giường tòa thì có thể, nhưng thức ăn thì không thể. Vì sao? Vì đây là đạo nhanh chóng. Nếu nhập đạo này tất không khởi tâm trông mong, không thể thiết lập ở nơi này, nơi khác. Thế nên, không thể thí thức ăn cho vị ấy.

Hỏi: Nếu không thể thí thức ăn cho vị ấy, thì như nơi Kinh Trưởng Giả Ưu Già nói làm sao thông? Như nói: Này Cư sĩ! Đây là Tu-đà-hoàn, đây là hướng Tu-đà-hoàn, cho đến nói rộng.

Đáp: Đây là vị trời nói về cảnh trời ấy.

Hoặc có thuyết nói: Là quyến thuộc của ma vương, vì muốn nhiễu loạn tâm của cư sĩ.

Lại có thuyết cho: Vị trời kia là ngạ quỷ, vì muốn lừa dối cư sĩ, nên nói lời như thế.

Lại có thuyết nêu: Vị trời này là thần thọ nhận sự cúng tế trong nhà cư sĩ, muốn khiến tâm của cư sĩ sinh khởi hoan hỷ, cũng muốn thị hiện tình thân cận với nhau, nên nói lời như thế.

Lại có thuyết nói: Vị trời này là thân thuộc ngày trước của cư sĩ, vì muốn chỉ rõ phước điền của họ không phải là phước điền, nên nêu bày như thế.

Hỏi: Trời đối với cư sĩ, cho dù là rất thân, nhưng không phải là cảnh giới của họ, thì do đâu nhận biết?

Đáp: Do hướng quả Tu-đà-hoàn có hai hạng: (1) Giả danh. (2) Chân thật. Nếu là hạng chân thật thì không phải là cảnh giới của họ. Nếu là hạng giả danh thì là cảnh giới của họ.

Lại có thuyết cho: Có thể thí cho người kia thức ăn, nhưng người kia chưa ăn. Vì sao? Vì như hành giả nhập kiến đạo, nếu đệ tử hoặc ngồi so sánh vì thọ nhận thức ăn của người kia. Hoặc đàn-việt đem thức ăn để trên tòa cỏ của người kia, hoặc trên đãy đựng y. Như kinh khác nói: Bà-đà-lợi! Ý ông thế nào? Nếu Tỳ-kheo là hàng kiên tín thì ta nói, ông đã đem thân làm cầu bắc qua vũng bùn nhơ. Ta muốn đi trên cầu đó, là trái với lời ta nói chăng? Đáp: Không phải. Vì đây cũng nói về giả danh, về hướng Tu-đà-hoàn không phải là chân thật. Vì sao? Vì vị hướng Tu-đà-hoàn chân thật, không khởi tâm không tương tợ để nghe Đức Phật nói.

Lại có thuyết nêu: Trong đây cũng nói về hướng Tu-đà-hoàn chân thật.

Hỏi: Tu-đà-hoàn chân thật kia không khởi tâm không tương tợ để có thể nghe Đức Phật nói, vì sao cho là chân thật?

Đáp: Tuy không nghe Đức Phật nói, nhưng vì thâm tâm vốn kính trọng Phật. Giả như khiến kiến đạo có thể khởi, cũng nên tùy thuận nơi lời Phật. Thế nên Đức Phật nói lời này: Người có công đức như thế là tùy thuận lời Ta nói, huống chi ông là người không có công đức.

* Như nói: Đức Thế Tôn chuyển pháp luân, thần đất xướng lên v.v… cho đến nói rộng.

Hỏi: Vì lý do gì tạo ra phần Luận này?

Đáp: Vì nhằm đoạn trừ nghi. Tức có người cho là thần đất có trí nhận biết rõ hiện tiền, nhận biết Đức Phật chuyển pháp luân, không phải là trí tỷ tướng. Vì muốn nêu rõ thần đất không có trí nhận biết rõ hiện tiền, chỉ có trí tỷ tướng để nhận biết Phật chuyển pháp luân, nên tạo ra phần Luận này.

Hỏi: Chuyển pháp luân không phải là cảnh giới của trí sinh đắc, vì sao thần đất nhận biết được?

Đáp: Do năm sự việc nên nhận biết:

(1) Do Đức Thế Tôn khởi tâm thế tục nên nhận biết.

Hỏi: Vì sao Đức Thế Tôn khởi tâm thế tục?

Đáp: Vì nhận thấy công hạnh của mình đã hành trì trong ba A-tăng-kỳ kiếp, đến nay đã có quả báo, sinh hoan hỷ, nên khởi tâm thế tục.

Lại có thuyết nói: Vì Đức Thế Tôn nhận thấy lời thệ nguyện rộng lớn của mình từ năm xưa đến nay đã có hiệu quả.

Lại có thuyết cho: Vì Đức Phật nhận thấy nguyện tạo lập từ xưa kia nay đã có kết quả.

Lại có thuyết nêu: Vì Đức Phật có ý muốn tạo lợi ích cho người khác, khiến được đầy đủ. Do sự việc này, tức Đức Thế Tôn muốn cho người khác nhận biết mình khởi tâm thế tục, cho đến hàng súc sinh cũng nhận biết, huống chi là thần đất. Đức Thế Tôn hoặc có khi khởi tâm thế tục, các bậc Đại Thanh văn như Tôn giả Xá-lợi-phất v.v… nhập đảnh thiền thứ tư, do sức của nguyện trí hãy còn không thể nhận biết. Hoặc có khi khởi tâm thế tục, cho đến hàng súc sinh cũng có thể nhận biết.

(2) Đức Thế Tôn cũng báo với người khác.

Hỏi: Vì sao Đức Phật báo với người khác?

Đáp: Vì muốn hiện bày trong pháp thuyết giảng thiện, những điều đã nói ra luôn thành thật đúng đắn.

Lại có thuyết nói: Vì Đức Phật muốn hiện bày công hạnh của mình đã hành trong ba A-tăng-kỳ kiếp tức có quả báo.

Lại có thuyết cho: Vì Đức Phật muốn biểu dương Tôn giả Kiều Trần Như là phước điền tốt của đời.

Lại có thuyết nêu: Vì Đức Phật muốn cho hàng người, trời sinh tâm tin tưởng, tôn kính.

Lại có thuyết nói: Vì Đức Phật muốn hiện bày mình không phải như các sư ở thế gian luôn tiếc rẻ pháp, vì mình đã phá trừ sự keo kiệt pháp.

Lại có thuyết cho: Vì Đức Thế Tôn muốn thể hiện thân mình là pháp của bậc đại nhân.

Lại có thuyết nói: Vì Đức Thế Tôn muốn thể hiện thân mình là người thông tuệ. Như nói: Có ba sự là tướng thông sáng: Tư duy là thiện. Đối tượng hành là thiện. Lời nói là thiện. Do sự việc này, nên Đức Phật đã báo với người khác.

1. Tôn giả kia cũng khởi tâm thế tục.

Hỏi: Vì sao Tôn giả Kiều Trần Như kia khởi tâm thế tục?

Đáp: Tôn giả ấy vì muốn cho sinh tử từ vô thủy đến nay đã có biên vực, nhằm đoạn trừ vô lượng khổ, đoạn hẳn nhân của nẻo ác, sinh tụ quyết định, được thấy chân đế.

Lại có thuyết nói: Tôn giả kia nhận thấy thệ xưa đã lập, nguyện xưa đã phát, các công việc đã làm đến nay đều có quả, nên khởi tâm thế tục.

2. Tôn giả Kiều Trần Như cũng báo với người khác.

Hỏi: Vì sao báo với người khác?

Đáp: Vì muốn hiện bày trong pháp giảng nói thiện những điều giảng nói đều là thành thật, đúng đắn.

Lại nữa, vì muốn biểu hiện việc làm của Đức Thế Tôn trong ba A-tăng-kỳ kiếp đến nay đã có quả.

Lại nữa, vì muốn hiện bày pháp Phật có oai lực lớn, cũng muốn hiện rõ thân mình là phước điền của thế gian.

Lại nữa, vì muốn cho năm người cùng sinh tâm vui vẻ, ngưỡng mộ. Lại nữa, vì muốn hiển hiện công dụng vĩ đại của Đức Như Lai.

Lại nữa, vì muốn thể hiện pháp Phật là pháp xuất ly thần biến, nên báo với người khác.

(5) Từ bên cạnh trời Đại oai đức được nghe.

Hỏi: Sao gọi là trời Đại oai đức?

Đáp: Hoặc có thuyết nói: Là trời Tịnh cư.

Lại có thuyết cho: Là người thấy chân đế nơi trời thuộc cõi dục.

Lại có thuyết nêu: Là trời thuộc cõi dục, từng thấy Đức Phật quá khứ. Vì sao? Vì chư Phật quá khứ lúc chuyển pháp luân đều có tướng như thế. Nay hiện ra tướng ấy, nên biết Phật sắp chuyển pháp luân, tức liền báo với người khác, từ Phật quá khứ kia được nghe.

Hỏi: Thế nào là nghĩa của pháp luân?

Đáp: Hoặc có thuyết nói: Nghĩa của pháp tánh, thể của pháp là nghĩa của pháp luân.

Lại có thuyết nêu: Nghĩa của pháp lựa chọn là nghĩa của pháp luân.

Lại có thuyết cho: Nghĩa của pháp có thể hiện thấy là nghĩa của pháp luân

Lại có thuyết nói: Nghĩa của pháp nhãn thanh tịnh là nghĩa của pháp luân.

Lại có thuyết cho: Nghĩa đối trị không phải pháp luân là nghĩa của pháp luân. Vì sao? Vì như Lục sư ngoại đạo tự nói mình là thầy của hàng người, trời, cũng chuyển pháp luân, nhưng luân của họ là tám tà đạo. Thế nên, đối trị không phải pháp luân, là nghĩa của pháp luân.

Hỏi: Những gì là nghĩa của luân?

Đáp: Nghĩa nhanh chóng là nghĩa của luân.

Lại có thuyết nói: Nghĩa bỏ chốn này hướng đến chốn kia là nghĩa của luân.

Lại có thuyết cho: Nghĩa phá trừ phiền não là nghĩa của luân.

Hỏi: Vì sao luân này gọi là Phạm pháp luân (Pháp luân thanh tịnh)?

Đáp: Vì Phạm thế ở nơi thiền thứ nhất đã gồm đủ Thánh đạo, nên gọi là Phạm pháp luân. Thiền thứ hai, thứ ba không ở nơi thiền thứ nhất, cũng không gồm đủ Thánh đạo. Thiền thứ tư tuy là thân Phật đầu tiên đạt được nhưng không đủ Thánh đạo.

Lại nữa, người phạm hạnh, vì trong thân có thể đạt được, nên gọi là Phạm pháp luân.

Lại nữa, do đối trị không phải là phạm hạnh, nên gọi là Phạm pháp luân.

Lại nữa, vì phá trừ phiền não không phải là thanh tịnh, nên gọi là Phạm pháp luân.

Lại nữa, đẳng chánh giác của Như Lai là pháp thanh tịnh, nên phân biệt, giải nói, nêu đặt, hiển hiện, gọi là Phạm pháp luân.

Lại nữa, vì dùng Phạm âm để thuyết giảng, nên gọi là Phạm pháp luân.

Lại nữa, nếu là xứ có đủ tám Thánh đạo, nên gọi là Phạm pháp luân.

Lại nữa, nếu là nơi chốn có thể đạt được pháp đối trị phiền não nơi ba cõi do kiến đạo, tu đạo đoạn trừ thì gọi là Phạm pháp luân. Là nơi chốn có thể đạt được nhẫn đối trị, trí đối trị bất thiện, vô ký, có báo, không báo, có thể sinh hai quả, có thể sinh một quả, tương ưng với không hổ không thẹn, không tương ưng với không hổ không thẹn, thể có tụ, thể không tụ, gọi là Phạm pháp luân.

Lại nữa, nếu có đạo quả của chín thứ đoạn biết thì gọi là Phạm pháp luân. Trong ba thiền còn lại có đạo quả của năm thứ đoạn biết. Nơi cõi vô sắc có đạo quả của một thứ đoạn biết. Nơi thiền thứ nhất đều cùng có đạo quả của chín thứ đoạn biết, nên gọi là Phạm pháp luân.

Cũng như kinh nói bốn mươi pháp, hai mươi pháp là phần bất thiện, hai mươi pháp là phần thiện. Nếu phân biệt giải nói bốn mươi pháp này thì gọi là Phạm pháp luân.

Hỏi: Như pháp thiện tùy thuận nơi pháp luân nên có thể là Phạm pháp luân. Pháp bất thiện không tùy thuận nơi pháp luân, vì sao nói là Phạm pháp luân?

Đáp: Không do nơi thể thiện, bất thiện để nói là pháp luân, nhưng là do trí duyên nơi thiện, bất thiện, gọi là Phạm pháp luân. Vì sao? Vì pháp luân này là tịch tĩnh, không có lỗi lầm, không hại đến người khác, nên gọi là Phạm pháp luân.

Hỏi: Vì sao nói kiến đạo là pháp luân, tu đạo không phải là pháp luân?

Đáp: Hoặc có thuyết nói: Nghĩa nhanh chóng là nghĩa của pháp luân. Kiến đạo là đạo nhanh chóng, là đạo không khởi tâm trông mong.

Lại có thuyết cho: Bỏ chốn này hướng đến chốn kia là nghĩa của pháp luân. Kiến đạo bỏ khổ hướng đến tập, bỏ tập hướng đến diệt, bỏ diệt hướng tới đạo.

Lại có thuyết nêu: Do bốn sự việc nên gọi là pháp luân: (1) Bỏ nơi này. (2) Hướng tới kia. (3) Người chưa lựa chọn thì lựa chọn. (4) Người đã lựa chọn thì không bỏ. Bỏ nơi này: Là bỏ khổ trong kiến đạo. Hướng tới kia: Là hướng tới tập. Chưa lựa chọn thì lựa chọn: Là tập. Đã lựa chọn thì không bỏ: Là khổ.

Lại có thuyết nói: Nghĩa trên dưới là nghĩa của pháp luân. Cũng như vành bánh xe, hoặc có lúc ở trên, hoặc có khi ở dưới. Kiến đạo cũng như thế. Hoặc có khi trí nhẫn duyên nơi khổ của cõi dục ở dưới. Hoặc có lúc trí nhẫn duyên nơi Hữu đảnh ở trên. Duyên nơi Hữu đảnh xong, lại duyên nơi cõi dục. Thế nên, nghĩa trên dưới là nghĩa của pháp luân.

Lại có thuyết cho: Nghĩa hàng phục thiên hạ nơi bốn phương là nghĩa của pháp luân. Như luân báu hiện có của Chuyển luân vương, tức có thể hàng phục thiên hạ khắp bốn phương. Hành giả cũng như vậy, dùng luân của kiến đạo nơi bốn đế hàng phục thiên hạ khắp bốn phương.

Lại có thuyết nêu: Riêng như pháp của tăm xe, bầu giữa bánh xe, vành bánh xe. Tăm xe dùng để giữ vành bánh xe. Bầu giữa bánh xe dùng để giữ tăm xe. Khổ nhẫn, khổ trí, tập nhẫn, tập trí của kiến đạo như tăm xe. Diệt nhẫn, diệt trí như bầu giữa bánh xe. Đạo nhẫn, đạo trí như vành bánh xe. Vì sao? Vì nhẫn trí này duyên nơi tất cả đạo. Pháp trí duyên nơi phần pháp trí. Tỷ trí duyên nơi phần tỷ trí.

Lại có thuyết nói: Kiết do kiến đạo đoạn trừ có thể sinh ra luận của tám pháp tà, phi pháp. Vì kiến đạo có thể đối trị pháp ấy, nên gọi là pháp luân.

Tôn giả Cù-sa nói: Tám Thánh đạo cùng một thời gian ở trong thân này chuyển, nên gọi là pháp luân. Chánh kiến, chánh giác, chánh tinh tấn, chánh niệm như tăm xe. Chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng như bầu giữa bánh xe. Chánh định như vành bánh xe. Tám pháp này đều là sự tu tập trong kiến đạo, nên gọi là pháp luân.

Như nói: Đức Phật đã chuyển pháp luân đầu tiên tại nước Bala-nại.

Hỏi: Đức Phật đã chuyển pháp luân nơi cội cây Bồ-đề, vì sao nói chuyển pháp luân đầu tiên ở nước Ba-la-nại?

Đáp: Chuyển pháp luân có hai thứ: (1) Tại thân mình. (2) Tại thân người khác. Nơi cội cây Bồ-đề là chuyển pháp luân của thân mình. Ở nước Ba-la-nại là chuyển pháp luân của thân người khác. Do ở nơi nước Ba-la-nại chuyển pháp luân đầu tiên trong thân người khác, nên gọi là chuyển pháp luân đầu tiên.

Lại có thuyết nói: Chuyển pháp luân có hai thứ là chung, không chung. Như Thanh văn, Phật-bích-chi là pháp luân chung. Phật là pháp luân không chung. Vì chuyển pháp luân chung nên nói là chuyển pháp luân đầu tiên.

Lại có thuyết cho: Vì người đầu tiên chứng được vô ngã, nên nói là chuyển pháp luân đầu tiên.

Lại có thuyết nêu: Nếu vào thời gian này, người chứng đắc vượt hơn Phật-bích-chi thì nói là chuyển pháp luân đầu tiên. Vì sao? Vì Phật-bích-chi cũng ở nơi tự thân có thể chuyển pháp luân, nhưng không thể ở nơi thân người khác chuyển pháp luân. Chỉ Đức Phật mới có thể ở nơi thân người khác chuyển pháp luân.

Lại có thuyết nói: Nếu ở nơi xứ đạt được quả của công hạnh đã hành trì trong ba A-tăng-kỳ kiếp, thì gọi là chuyển pháp luân đầu tiên. Vì sao? Vì nếu Đức Phật muốn nhập Niết-bàn tại nơi chốn của chư Phật trong quá khứ, tức được tùy ý. Sở dĩ thân tâm Phật luôn tinh tấn, đã hành tác một trăm ngàn khổ hạnh, chỉ vì nhằm đem lại lợi ích cho người khác: Nếu khi Ta chứng được trí vô thượng, sẽ khiến cho vô lượng chúng sinh ở nơi ngục tù sinh tử đều được giải thoát. Theo hạnh nguyện như thế, đã được đầy đủ ở nước Ba-la-nại, nên gọi là chuyển pháp luân đầu tiên.

Lại có thuyết cho: Do có thể hàng phục người khác, nên gọi là luân. Cũng như quốc vương đã hàng phục tất cả dân chúng trong các thành ấp, làng mạc, nên được gọi là vua. Không chỉ là hàng phục những người trong cung điện nên được trực tiếp gọi là vua. Như thế, có thể hàng phục thân người khác, gọi là pháp vương, không chỉ riêng nơi thân mình nên gọi là pháp vương.

Hỏi: Nếu Thánh đạo hiện ở trong thân, tức tự thân gọi là người chuyển pháp luân, vì sao gọi là Phật chuyển pháp luân?

Đáp: Hoặc có thuyết nói: Do giác ngộ nên nói Phật chuyển pháp luân. Vì sao? Vì tùy theo Đức Phật kia nên trong thân có Thánh đạo. Nếu không do ánh sáng của lời Phật soi chiếu, thì Thánh đạo không sinh. Nếu do ánh sáng của lời Phật soi chiếu, thì Thánh đạo trong thân người kia liền sinh. Như trong ao nước, tuy có các hoa Ba-đầu-ma, Câu-vật-đầu, Phân-đà-lợi, nhưng nếu ánh sáng của mặt trời không chiếu đến, thì chúng không nở rộ, không tỏa hương. Nếu được ánh sáng của mặt trời soi rọi thì chúng nở rộ, tỏa ngát hương. Thánh đạo kia cũng như thế.

Lại có thuyết cho: Tuy có Thánh đạo ở trong thân người kia, nhưng nếu không do ngôn thuyết của Đức Như Lai là bàn tay chuyển, thì Thánh đạo không sinh. Như Chuyển luân vương, nếu không dùng báu kim luân đặt trong tay phải và dùng tay trái chuyển, nói: Báu kim luân của ta sẽ có nơi chốn được hàng phục. Bấy giờ, các thần không chuyển hành kim luân kia. Nếu dùng luân báu đặt trong tay trái, dùng tay phải xoay, lúc đó các thần tức chuyển hành kim luân. Sự chuyển hành luân ấy là do thần nhưng vua được nhận danh. Thánh đạo kia cũng như thế.

Lại có thuyết nêu: Trong thân người kia tuy có Thánh đạo, nhưng nếu không được duyên của Như Lai làm sáng tỏ thì Thánh đạo không sinh. Cũng như trong kho lẫm có các hạt giống, nhưng nếu không do duyên phát khởi thì mầm không mọc. Thánh đạo kia cũng như thế.

Lại có thuyết nói: Trong thân của chúng sinh kia tuy có Thánh đạo, nhưng nếu Đức Như Lai không dùng phương tiện thiện xảo là danh, cú vị thân trừ bỏ chướng ngại nơi thân họ, thì Thánh đạo không sinh. Nếu trừ bỏ chướng ngại thì Thánh đạo tức sinh.

Lại có thuyết cho: Có hai nhân, hai duyên sinh ra chánh kiến: (1) Từ nơi người khác nghe pháp. (2) Bên trong tự tư duy.

Như từ nơi người khác nghe pháp: Gọi là Phật chuyển pháp luân. Như bên trong tự tư duy: Gọi là trong thân tự có Thánh đạo. Như vậy, có thể đối với thân người thành tựu bốn pháp, nghĩa là có nhiều sự tạo tác, như thân cận thiện tri thức, từ nơi người ấy nghe pháp, gọi là Phật chuyển pháp luân. Như bên trong tự tư duy, tu hành như pháp, gọi là trong thân có Thánh đạo.

Hỏi: Như lúc trụ nơi khổ pháp nhẫn đã chuyển pháp luân, vì sao vào lúc đạt đạo tỷ trí nói là chuyển pháp luân?

Đáp: Hoặc có thuyết nói: Khi trụ nơi khổ pháp nhẫn, tuy chuyển pháp luân, nhưng nghĩa của chuyển chưa đủ, đến lúc đạt đạo tỷ trí thì nghĩa của chuyển mới đủ.

Lại có thuyết cho: Do lúc đạt đạo tỷ trí có năm sự việc thích ứng: (1) Được đạo chưa từng được. (2) Bỏ đạo đã từng được. (3) Đoạn trừ phiền não đồng một vị. (4) Tức khắc đạt được tám trí. (5) Tu mười sáu hạnh. Thời gian này gọi là chuyển pháp luân.

Này Kiều-trần-như! Ông hiểu pháp rồi chăng? Cho đến nói rộng.

Hỏi: Năm người này đều là người hiểu pháp, vì sao Đức Phật chỉ hỏi một mình Kiều-trần-như?

Đáp: Hoặc có thuyết nói: Vì Kiều-trần-như thấy Thánh đế trước, bốn người kia thấy sau. Khi Kiều-trần-như thấy rõ Thánh đế, bốn vị kia mới ở tại căn thiện của phần đạt.

Lại có thuyết cho: Do bản nguyên nên trước hết Đức Phật nói với Kiều-trần-như: Ông hiểu pháp rồi chăng? Đáp: Con đã hiểu. Cho đến nói rộng.

Hỏi: Vì sao Đức Thế Tôn đã hỏi Kiều-trần-như đến ba lần?

Đáp: Hoặc có thuyết nói: Kiều-trần-như thấy rõ Thánh đế xong, Đức Thế Tôn khởi tri kiến, quán xét biên vực trước sau, xem Kiều-trần-như nên còn ở nơi ấm giới nhập của ba nẻo ác nhiều hay là chính ta nơi ba A-tăng-kỳ kiếp đã trải qua những khoảnh khắc sát-na nhiều? Lúc quán như thế, Đức Phật nhận thấy Kiều-trần-như đáng lý còn ở nơi ấm giới nhập của nẻo ác nhiều, không phải là ba A-tăng-kỳ kiếp đã trải qua những khoảnh khắc sát-na nhiều. Thấy như vậy rồi, Đức Phật suy nghĩ: Ta ở nơi ba A-tăng-kỳ kiếp đã tu tập vô lượng khổ hạnh, nay đạt được trí vô thượng, chỉ có thể khiến cho Kiều-trần-như tức nên ở nơi ấm giới nhập của ba nẻo ác, được ở trong pháp không sinh, không còn làm việc gì khác, chỉ đến với Ta là đủ. Vì vậy nên Đức Phật đã ba lần hỏi Kiều-trần-như.

Lại có thuyết cho: Kiều-trần-như có thể duyên buộc nơi thân của tất cả chúng sinh. Tất cả chúng sinh cũng có thể duyên buộc nơi thân của Kiều-trần-như. Kiều-trần-như thấy đế xong, Đức Phật suy nghĩ: Ta nay đã được đạo quả Bồ-đề vô thượng, không còn làm việc gì khác, chỉ lần lượt đoạn dứt duyên buộc của Kiều-trần-như và tất cả chúng sinh, đối với Ta là đủ. Thế nên ba lần hỏi.

Như sự việc cùng ăn nuốt nhau, lại cùng đoạn mạng nhau, chỗ nêu bày cũng như thế.

Lại có thuyết nêu: Vì là hủy báng gần. Lúc Đức Phật còn làm Bồ-tát, xuất gia ra khỏi thành Ca-tỳ-la. Bấy giờ, dòng họ Thích sai năm người theo hầu Bồ-tát: Hai người là người thân bên phía mẹ, ba người là người thân bên phía cha. Hai người nói thọ nhận dục được tịnh. Ba người nói hành khổ hạnh được tịnh. Trong khi Bồ-tát tu khổ hạnh, người nói thọ nhận dục được tịnh, tức liền bỏ đi. Người nói hành khổ hạnh được tịnh, vẫn cố ở lại giúp đỡ Bồ-tát. Bồ-tát bỏ nơi chốn tu khổ hạnh xong, dùng dầu tô xoa thân, dùng các thức ăn như cháo, cơm, người nói hành khổ hạnh được tịnh kia, tâm sinh não loạn, vội bỏ đi. Lúc ấy, sức thân của Bồ-tát chuyển tăng nên đi đến nơi cội cây Bồ-đề, hàng phục các ma, chứng đắc đạo quả Chánh đẳng Chánh giác Vô thượng.

Thành Chánh giác xong, quán khắp thế gian xem ai là người đáng được nghe pháp trước, Ta sẽ vì họ giảng nói. Nhận thấy Uấtđà-ca-tử là người đáng được nghe pháp trước. Bấy giờ, có vị trời liền bạch Phật: Uất-đà-ca-tử vừa mạng chung hôm qua. Khi đó, Đức Như Lai cũng theo tri kiến của mình nhận biết ông ấy vừa mạng chung hôm qua.

Đức Phật lại khởi suy niệm: Ai là người tiếp theo đáng được nghe pháp, Ta sẽ vì họ giảng nói. Thấy A-lan-ca-lan là người kế tiếp đáng được nghe pháp. Vị trời lại bạch: A-lan-ca-lan vừa mất cách đây bảy ngày. Đức Phật cũng khởi tri kiến nhận biết A-lan-ca-lan đã mất cách nay bảy ngày. Đức Phật suy nghĩ: A-lan-ca-lan không được nghe pháp của Ta là một mất mát lớn.

Hỏi: Đức Phật đã thành đạo, tức nên vì người kia giảng nói pháp, nhưng không vì họ giảng nói, vì sao không gọi là giáo hóa không đúng thời?

Đáp: Tôn giả Cù-sa nói: Đức Phật mới thành đạo, tâm yêu kính pháp, không nghĩ đến thức ăn khác, chưa quán chúng sinh ai nên được hóa độ.

Lại có thuyết cho: Đức Như Lai vô cùng thương xót, vì chưa kịp hóa độ, người kia đã mạng chung.

Lại có thuyết nêu: Đức Phật chưa phân chúng sinh thành ba tụ.

Lại có thuyết nói: Người thọ nhận Phật giáo hóa, tất cần căn tánh thành thục. Căn của họ chưa thành thục mà liền mạng chung. Lại, các căn đã thành thục, tất do tự tâm. Người kia ý kiêu mạn, hành thiền tự xưng là Nhất thiết trí, tất phải trải qua thời gian lâu các căn mới thành thục.

Hỏi: Nếu căn của người này chưa thành thục, thì vì sao Đức Phật nói: Người kia không được nghe pháp của Ta là mất mát lớn?

Đáp: Nếu người kia không mạng chung, thì Đức Phật đã có thể trừ bỏ tâm tự xưng là Nhất thiết trí của người ấy, cũng khiến sinh tâm tin kính Phật là bậc Nhất thiết trí. Cũng có thể trước hết, khiến các căn trước kia của Kiều-trần-như được thành thục, có thể thọ nhận sự hóa độ của Phật. Nếu một người kia, sau khi Phật đắc đạo, trong bốn mươi hai ngày còn thọ mạng, tức có thể khiến người ấy ở trong pháp của Phật đạt được lợi ích lớn, nhưng vì hành mạng của người ấy đã hết, nên Đức Thế Tôn đã bỏ. Nếu có chúng sinh đáng thọ nhận sự hóa độ, thì Đức Như Lai có thể tự trụ nơi thọ mạng, như đã chờ đợi Tu-bạt-đà-la v.v… Nếu có thể trụ nơi thọ mạng của người khác, thì không có điều đó.

Lại có thuyết cho: Lúc Đức Phật còn là Bồ-tát, là đệ tử của người kia. Nếu như người ấy không mạng chung, thì Đức Phật sẽ chỉ rõ pháp cho vị thầy ấy, cũng khiến người ấy nhận biết pháp Phật đã chứng đắc, không phải là pháp họ đã truyền trao trước kia.

Do sự việc này, nên Đức Phật nói người kia không được nghe pháp của mình là mất mát lớn.

Đức Phật suy niệm: Ai là người tiếp theo đáng được nghe pháp?

Vị trời lại bạch: Năm người như A-nhã Kiều-trần-như v.v… là người tiếp theo đáng được nghe pháp. Phật cũng khởi tri kiến nhận biết A-nhã Kiều-trần-như v.v… theo thứ lớp đáng được nghe pháp.

Đức Phật lại suy nghĩ: Nay họ ở nơi nào?

Vị trời bạch: Họ đang ở nơi nước Ba-la-nại.

Đức Phật cũng khởi tri kiến, nhận biết họ đang ở tại nước Bala-nại. Bấy giờ, Đức Thế Tôn lần lượt đi đến nước Ba-la-nại, tới chỗ năm vị kia. Lúc đó, năm người thấy Đức Thế Tôn đến liền cùng bàn với nhau. Nói rộng như trong kinh.

Kiều-trần-như đã thấy rõ chân đế xong, Phật bảo: Ông đối với pháp đã hiểu rồi chăng? Cho đến nói rộng. Nay ông xem Ta có biếng trễ chăng? Đã hành nhiều pháp chăng? Đối với pháp lìa dục có thoái chuyển chăng? Ta đã đạt được pháp cam lộ chăng?

Lúc này, Kiều-trần-như vô cùng hổ thẹn, đáp lời Phật: Nay xem Đức Thế Tôn không có biếng trễ, không hành nhiều pháp, đối với pháp lìa dục cũng không thoái chuyển, đã đạt được pháp cam lộ, con đều chứng biết.

Do sự việc này, nên Đức Phật hỏi đến ba lần.

Lại nữa, vì muốn làm viên mãn thệ nguyện xưa. Từng nghe trong Hiền kiếp này, có vị vua tên là Ác Hành, lại có Tiên nhân tên là Nhẫn Nhục. Bấy giờ, nhà vua không đem theo người nam, dẫn các kỹ nữ ra khỏi hoàng cung dạo chơi trong rừng, tâm ý vui thích. Sau đấy, vua mệt mỏi nên nằm ngủ. Các kỹ nữ vì lo hái hoa quả nên đang tìm kiếm khắp nơi trong rừng cây.

Khi đó, vị Tiên nhân ở nơi trụ xứ của mình thiền tư tịch tĩnh. Các kỹ nữ từ xa trông thấy Tiên nhân, liền cùng đến chỗ vị tiên, đảnh lễ nơi chân xong, ngồi qua một bên. Vị Tiên nhân liền vì các kỹ nữ giảng nói về những lỗi lầm tai hại của dục.

Vua Ác Hành khi thức giấc, nhìn khắp bốn phía không thấy người hầu, liền nghĩ: Phải chăng có kẻ đã dẫn các kỹ nữ của ta đi rồi chăng? Nhà vua tức thì nổi giận, xách gươm tìm kiếm khắp rừng, bỗng thấy các kỹ nữ đang ngồi vây quanh bên vị tiên, tâm vua khởi ý nghĩ: Nay chính con quỷ to tướng kia dám dẫn đám kỹ nữ của ta đến đó v.v… Trước hết hỏi: Ông là ai?

Tiên nhân đáp: Tôi là người tiên.

Vua lại hỏi: Ông làm gì ở trong khu rừng này?

Tiên nhân đáp: Tôi hành đạo nhẫn nhục.

Nhà vua nghĩ thầm: Người này thấy ta giận dữ nên tự xưng là nhẫn nhục. Nay ta nên thử xem có thật vậy chăng? Vua lại hỏi: Ông đã chứng được thiền thứ nhất chăng?

Tiên nhân đáp: Không được.

Lại hỏi: Ông đã chứng được cho đến định phi tưởng phi phi tưởng chăng?

Tiên nhân đáp: Không được.

Nhà vua nghe xong, cơn giận dữ càng tăng, nói với Tiên nhân: Ông có thể đưa cánh tay của mình ra chăng? Nhà vua liền dùng dao bén chặt đứt. Lại hỏi: Ông là người gì?

Tiên nhân đáp: Là người nhẫn nhục.

Như thế, lại chặt đứt một cánh tay nữa. Rồi chặt đứt cả hai chân. Lại cắt tai, mũi, khiến thân người tiên trở thành bảy phần. Lại hỏi: Ông là người gì?

Vị tiên đáp: Là người nhẫn nhục.

Tiên nhân nói với nhà vua: Giờ đây vì sao ông lại sinh tâm nhàm chán? Nếu ông dùng dao cắt đứt thân thể tôi khiến như vi trần thì tôi vẫn nói là người hành nhẫn nhục, trọn không có khác.

Tiên nhân lại suy nghĩ và nói: Như hôm nay ông chặt đứt thân thể tôi khiến thành bảy phần, thì khi tôi chứng được đạo quả Bồ-đề vô thượng, trước hết tôi dùng tâm đại bi khiến ông tu bảy thứ đạo để dứt trừ bảy thứ sử của ông.

Vua Ác Hành thời ấy nay là Kiều-trần-như. Tiên nhân Nhẫn Nhục ấy nay chính là Đức Thế Tôn.

Kiều-trần-như đã thấy chân đế rồi, nhờ nơi oai lực của Phật, tự thấy thân mình vốn là vua Ác Hành từng cắt đứt thân Tiên nhân khiến thành bảy phần, cũng nhớ lại thệ nguyện xưa của Đức Phật. Lúc ấy, Đức Thế Tôn bảo Kiều-trần-như: Ta đâu trái với lời thề xưa, tức là vẫn tuân giữ nguyện cũ chăng?

Kiều-trần-như liền từ tòa ngồi đứng dậy, hết sức hổ thẹn, bạch Phật: Đức Thế Tôn không hề trái với bản thệ mà luôn tuân thủ lời nguyện xưa. Con quá ngu tối, thấp kém, đã tạo nên tội như thế. Nay xin dốc tâm sám hối để cho bản nguyện được viên mãn. Thế nên Đức Phật đã ba lần hỏi Kiều-trần-như.

HẾT – QUYỂN 21