LUẬN A TỲ ĐÀM TỲ BÀ SA
STác giả: Tôn giả Ca Chiên Diên Tử
Giải thích: Năm trăm A La Hán
Hán dịch: Đời Bắc Lương, Sa môn Phù Đà Bạt Ma, Đạo Thái v.v…
Việt dịch: Cư sĩ Nguyên Huệ

 

QUYỂN 16

Chương 1: KIỀN ĐỘ TẠP

Phẩm thứ 4: ÁI KÍNH, phần 1

* Thế nào là ái? Thế nào là kính? Cho đến nói rộng. Như chương này cùng giải thích nghĩa của chương, ở đây nên nói rộng là Ưu-ba-đề-xá. (Giải thích nghĩa nơi kinh)

Hỏi: Vì lý do gì tạo ra phần Luận này?

Đáp: Đây là kinh Phật. Trong kinh Đức Phật nói: Nếu Tỳ-kheo hành tập hổ thẹn đầy đủ, tức có ái kính. Tuy nêu như vậy nhưng không phân biệt rộng: Thế nào là ái? Thế nào là kính? Nay vì muốn nói rõ nên tạo ra phần Luận này.

Lại có thuyết cho: Sở dĩ tạo ra phần Luận này là vì muốn dứt pháp của người nhỏ, hiện bày pháp của người lớn. Sự việc ấy là thế nào? Người nhỏ ái thì trở ngại kính, kính thì trở ngại ái.

Thế nào là ái trở ngại kính? Cũng như trong pháp tại gia, cha mẹ đối với con tức có thân ái. Con đối với cha mẹ thì có ái không có kính. Trong pháp xuất gia, Hòa thượng, A-xà-lê đối với các đệ tử thì có thân ái. Đệ tử đối với các Hòa thượng, A-xà-lê có ái, không có kính. Đây gọi là ái trở ngại kính.

Thế nào là kính trở ngại ái? Cũng như trong pháp tại gia, cha mẹ đối với con cái giáo huấn nghiêm khắc, là muốn khiến các con xa ác tu thiện. Con đối với cha mẹ có kính, không ái. Trong pháp xuất gia, Hòa thượng, A-xà-lê đối với các đệ tử giáo huấn nghiêm khắc, cũng nhằm khiến các đệ tử xa ác, tu thiện. Các đệ tử đối với Hòa thượng, A-xà-lê có kính không ái. Đây gọi là kính trở ngại ái.

Như thế người nhỏ, ái thì trở ngại kính, kính thì trở ngại ái. Người lớn thì không như vậy. Nếu ái thì thêm kính, kính thì thêm ái. Thế nên vì nhằm dứt bỏ pháp của hàng người nhỏ hiện bày pháp của hàng người lớn có oai lực, nên tạo ra phần Luận này.

Lúc Phật xuất hiện đời, một người có đủ hai pháp ái, kính này là rất nhiều. Vào thời Phật không xuất thế, một người có đủ hai pháp này thì ít. Nếu như khiến có đủ hai pháp, nên biết đều là Bồ-tát Ma ha tát.

Hỏi: Thế nào là ái?

Đáp: Là các ái, cho đến nói rộng. Những lời nói như thế, đều là nói về tướng của ái.

Hỏi: Thể tánh của ái là gì?

Đáp: Ái có hai thứ: (1) Nhiễm ô. (2) Không nhiễm ô.

Nhiễm ô: Thể là khát ái. Không nhiễm ô: Thể là tín.

Khát ái có hai thứ: (1) Khát ái. (2) Ái.

Hỏi: Nếu là khát ái thì đó là ái chăng?

Đáp: Nếu là khát ái thì đó là ái.

Hỏi: Từng có ái không phải là khát ái chăng?

Đáp: Có. Là ái không nhiễm ô.

Tín cũng có hai thứ: (1) Tín. (2) Ái.

Hỏi: Nếu là tín thì đó là ái chăng?

Đáp: Hoặc có tín không phải là ái. Hoặc có tín là ái. Tín không phải là ái: Tức tín nhưng không mong cầu. Tín là ái: Là cũng tín, cũng mong cầu.

Lại có người dùng nghĩa này tạo ra bốn trường hợp: Hoặc có tín không phải là ái, hoặc có ái không phải là tín, cho đến nói rộng làm bốn trường hợp:

1. Tín không phải là ái: Là tin vào sự việc kia nhưng không mong cầu.

2. Ái không phải là tín: Là ái nhiễm ô.

3. Cũng tín cũng ái: Là ái sự việc kia mà mong cầu.

4. Không phải tín cũng không phải ái: Là trừ từng ấy sự việc trên.

Hỏi: Thế nào là kính?

Đáp: Là các kính, thiện kính, cho đến nói rộng. Những lời như thế v.v… đều nói về tướng của kính.

Hỏi: Thể tánh của kính này là gì?

Đáp: Thể tánh của kính là hổ thẹn.

Thế nào là ái kính?

Hỏi: Vì lý do gì tạo ra phần Luận này?

Đáp: Trước tuy đã nói về thể của ái kính, nhưng chưa nói hai pháp này đều cùng ở trong thân của một người. Nay vì muốn nói về điều ấy, nên tạo ra phần Luận này.

Hỏi: Thế nào là ái kính?

Đáp: Cũng như có một người do ái kính nên ý thường niệm

Phật. Hàng phàm phu ái kính Phật, vì oai lực của Phật giúp họ xa lìa vô số sự việc khổ bị sai khiến phục dịch, khiến họ có được những vật dụng nuôi sống tùy ý.

Thánh nhân ái kính Phật: Tức do oai lực của Phật giúp cho chư vị đoạn trừ vô lượng các khổ từ vô thủy đến nay, dứt hết nhân của nẻo ác, trụ nơi pháp quyết định, thấy chân đế theo chánh kiến thanh tịnh.

Lại có thuyết nói: Đều cùng ái kính Phật: Ý luôn nghĩ đến Phật, do oai lực của Phật khiến chư vị xuất gia, được pháp Tỳ-kheo và lợi ích an vui của các điều thiện khác. Như Tôn giả Ưu-đà-da nói: Đức Thế Tôn đã diệt trừ vô lượng pháp ác của con, tăng ích cho con tu vô lượng pháp thiện. Lại nữa, do Phật xuất thế nên làm thanh tịnh ba thứ mắt. Như Tôn giả Xá-lợi-phất nói: Nếu Phật không xuất thế thì tôi đã mù lòa không có mắt, qua một đời này. Lại nữa, vì Phật đối với pháp này là tối tôn, tối thắng.

Lại có thuyết cho: Vì Phật là đấng Pháp chủ.

Lại có thuyết nêu: Pháp của bảy nương dựa từ vô thủy đến nay ẩn mất không hiện, Đức Phật là bậc có thể khai thị.

Lại có thuyết nói: Đức Phật có thể giúp cho vô số na-do-tha chúng sinh vào thành Niết-bàn.

Lại có thuyết cho: Đức Phật Thế Tôn đã riêng ra khỏi màng lưới vô minh, chuyển pháp luân.

Lại có thuyết nêu: Do Đức Thế Tôn thuyết pháp nên khiến cho vô lượng na-do-tha chúng sinh gieo trồng các căn thiện, cũng khiến thành thục, khiến được giải thoát. Do Đức Phật giảng nói pháp, nên khiến có niệm xứ, chánh đoạn, thần túc, căn, lực, giác đạo, thiền định, giải thoát Tam-ma-đề, hành tác tất cả công đức như thế v.v… đều hiện ở thế gian.

Do các sự việc như vậy v.v… nên phàm phu, Thánh nhân ái kính Đức Phật. Cũng ái kính Pháp, ý thường nhớ nghĩ. Vì sao? Vì có thể diệt trừ hết mọi khổ nơi thân, tâm, cũng nương dựa nơi pháp này có thể đạt đến Niết-bàn. Cũng ái kính Tăng, ý luôn nhớ nghĩ. Vì sao? Vì do oai lực của Tăng giúp cho ta được xuất gia, thọ giới cụ túc, được tích tập một trăm lẻ một thứ vật, được chung phạm hạnh với Hòa thượng, A-xà-lê v.v… đồng an trụ nơi pháp Phật.

Những người như thế v.v…, lúc ta hành đạo, là bè bạn của ta. Do ở nơi xứ như thế v.v… có ái, có kính, nên gọi là ái kính.

Có người có ái không kính, có kính không ái, cho đến nói rộng làm bốn trường hợp:

1. Có ái không kính: Như pháp tại gia, cha mẹ đối với con, Hòa thượng, A-xà-lê đối với các đệ tử của mình, gọi là có ái không kính.

2. Có kính không ái: Như đối với sư trưởng khác có đức, nhưng không cùng phục theo, gọi là có kính không có ái.

3. Cũng ái cũng kính: Như pháp tại gia, con đối với cha mẹ. Đệ tử đối với Hòa thượng, A-xà-lê.

4. Không ái cũng không kính: Là trừ từng ấy sự việc trên.

Sự ái kính trong bốn nẻo đều có. Trong đây nói ái kính là đối tượng hành trì trong pháp Phật.

Thế nào là nuôi dưỡng? Thế nào là kính? Cho đến nói rộng.

Hỏi: Vì lý do gì tạo ra phần Luận này?

Đáp: Vì nhằm dứt pháp của hạng người nhỏ, hiện bày pháp của bậc đại nhân. Vì sao? Vì hạng người nhỏ nuôi dưỡng thì trở ngại kính, kính thì trở ngại cho nuôi dưỡng.

Nuôi dưỡng trở ngại kính: Như pháp tại gia: Cha mẹ già yếu bệnh tật, dùng y phục, thức ăn uống, tùy bệnh dùng các thứ thuốc thang để nuôi dưỡng cha mẹ nhưng không có kính. Trong pháp xuất gia: Như các đệ tử có oai đức, hiểu biết rộng khéo lãnh hội pháp tướng, được nhiều người biết đến, thường dùng các thứ y phục, thức ăn uống, thuốc thang theo bệnh nuôi dưỡng Hòa thượng, A-xà-lê. Thầy của họ, hoặc có lúc ở nơi trụ xứ của đệ tử, nhận việc giảng giải nghĩa kinh. Những sự nuôi dưỡng như thế, gây trở ngại đối với kính.

Bậc đại nhân thì không như thế. Nếu nuôi dưỡng thì thêm kính, nếu kính thì tăng nuôi dưỡng. Khi Đức Phật xuất thế, một người có đủ hai pháp này là rất nhiều. Vào thời Phật không ra đời, một người hội đủ hai pháp này là rất ít. Nếu như có đủ hai pháp, nên biết đó đều là Bồ-tát Ma ha tát.

Bồ-tát nếu nuôi dưỡng người, tất thêm cung kính. Nếu cung kính người ấy, tất tăng thêm nuôi dưỡng.

Do sự việc này, nên muốn dứt bỏ pháp của hạng người nhỏ, hiện bày pháp của bậc đại nhân, là rất hy hữu, nên tạo ra phần Luận này.

Hỏi: Thế nào là nuôi dưỡng?

Đáp: Nuôi dưỡng có hai thứ: (1) Của cải. (2) Giáo pháp.

Hỏi: Thể tánh của sự nuôi dưỡng bằng của cải là gì?

Đáp: Hoặc có thuyết nói: Đó là xả bỏ các vật.

Lại có thuyết cho: Là xả bỏ nghiệp thân, khẩu.

Lại có thuyết nêu: Có thể khiến bốn đại nơi các căn được nuôi lớn.

Lời bình: Nên lập ra thuyết này: Thể tánh của sự nuôi dưỡng bằng của cải là năm ấm.

Hỏi: Ở nơi nẻo nào có sự nuôi dưỡng này?

Đáp: Trừ nẻo địa ngục, các nẻo khác đều có.

Lại có thuyết nói: Trong sáu cảnh trời thuộc cõi dục không có. Vì sao? Vì chư thiên khi muốn thọ thực thì dùng bát vàng trống đặt ở trước mặt, tùy vào diệu lực nơi phước đức của họ, thức ăn uống tự nhiên xuất hiện, đâu cần của cải để nuôi dưỡng.

Lại có thuyết cho: Thức ăn uống của chư vị kia tuy cùng có, nhưng của cải khác thì có thể đem cho người.

Hỏi: Sự nuôi dưỡng này nơi xứ nào thiết lập? Ai cho ai nhận?

Đáp: Hoặc có thuyết nói: Trong nẻo súc sinh trở lại thí cho súc sinh. Trong nẻo ngạ quỷ thí cho hai nẻo. Con người thí cho ba nẻo. Trời thí cho ba nẻo trước.

Lại có thuyết nêu: Có thể thí cho bốn nẻo. Nếu con người do có ý tạo lợi ích thì cho người khác thức ăn uống. Người kia nhờ ăn uống nên bốn đại của các căn được nuôi lớn. Đó gọi là thí cho cũng gọi là nuôi dưỡng. Tuy có ý tạo lợi ích cho người khác, cho họ thức ăn uống, người kia thọ dụng nhưng không nuôi lớn bốn đại của các căn. Đó gọi là thí cho không gọi là nuôi dưỡng. Nếu người có tâm hại, dùng thức ăn lẫn lộn chất độc để cho người khác. Người khác lại dùng sức của chú thuật cỏ thuốc để thọ dụng. Nếu là chúng sinh có đức, thì bốn đại nơi các căn lại được tăng trưởng. Đó gọi là nuôi dưỡng không gọi là thí cho. Người cho kia thọ nhận báo bất thiện.

Hỏi: Thể của sự nuôi dưỡng bằng pháp là gì?

Đáp: Hoặc có thuyết nói: Thể tánh của sự nuôi dưỡng bằng pháp là danh.

Lại có thuyết cho: Là ngữ.

Lại có thuyết nêu: Nếu lúc nghe pháp, sinh khởi phương tiện thiện xảo chưa từng có, là thể tánh của sự nuôi dưỡng bằng pháp.

Lời bình: Nên lập ra thuyết này: Người nghe pháp kia nhận lấy pháp cùng sinh tương ưng của phương tiện thiện xảo, thể là năm ấm.

Hỏi: Ở xứ nào có sự nuôi dưỡng bằng pháp?

Đáp: Năm nẻo đều có.

Hỏi: Vì sao biết được trong nẻo địa ngục là có?

Đáp: Từng nghe nói con của ông Di-đa-đạt sinh trong địa ngục, cho là nơi nhà tắm, nói kệ:

Xứ vắng nhân gian thọ khổ vui

Chẳng phải do ta, người tạo nên

Như thọ các xúc đều duyên nơi thân

Nếu không có thân ai thọ khổ.

Bấy giờ, các chúng sinh nơi địa ngục nghe nói kệ này đều duyên nơi phước ấy, nên từ đấy mạng chung, thoát khỏi khổ của địa ngục.

Hỏi: Làm sao biết được trong nẻo súc sinh cũng có sự nuôi dưỡng bằng pháp?

Đáp: Như chim Ca-tần-xà-la v.v…, thân hành phạm hạnh, vì người khác thuyết pháp.

Trong nẻo ngạ quỷ, như quỷ Tất-lăng-ca v.v… Trong nẻo trời người đều có thể hiện thấy. Sáu trời thuộc cõi dục trong nẻo trời và chư thiên cõi sắc, không phải là trời của cõi vô sắc.

Hỏi: Vì sao biết được chư thiên nơi cõi sắc cũng có?

Đáp: Như Thủ thiên tử đi đến chỗ Đức Phật, nói thế này: Như hôm nay bốn chúng vây quanh, Đức Thế Tôn vì họ giảng nói các pháp. Người nghe vô cùng hoan hỷ, phụng hành. Tôi nghe pháp rồi trở lại cõi trời Vô nhiệt, chư thiên vây quanh, vì họ thuyết pháp, người nghe hoan hỷ vâng làm cũng lại như thế. Do sự việc ấy nên biết trong trời cõi sắc cũng có sự nuôi dưỡng bằng pháp.

Nếu đem tâm tạo lợi ích, vì người khác giảng nói pháp, người khác nghe pháp xong sinh khởi phương tiện thiện xảo. Đây gọi là thí cho, cũng không gọi là nuôi dưỡng. Nếu đem tâm tạo lợi ích, vì người khác nói pháp, người khác nghe pháp xong chẳng sinh phương tiện thiện xảo. Đây gọi là thí cho, không gọi là nuôi dưỡng. Nếu đem tâm hủy báng, đả kích, vì người khác giảng nói pháp, người khác nghe rồi, do tâm trí tuệ nên sinh khởi phương tiện thiện xảo. Đây gọi là nuôi dưỡng, không gọi là thí cho.

Thế nào là kính? Như kính trọng là kính, cho đến nói rộng. Thể tánh của kính là hổ, như trước đã nói.

Thế nào là cung kính, nuôi dưỡng?

Hỏi: Vì sao lại tạo ra phần Luận này?

Đáp: Trước đã nói về thể tánh của cung kính, nuôi dưỡng, nhưng chưa nói một người gồm đủ hai sự việc ấy, nên tạo ra phần Luận này.

Hỏi: Thế nào là cung kính, nuôi dưỡng?

Đáp: Cũng như có một người luôn cung kính, phụng dưỡng (cúng dường) Phật.

Hỏi: Dùng gì để cung kính, phụng dưỡng Phật?

Đáp: Dùng của cải để cung kính, phụng dưỡng Phật, không thể dùng pháp. Vì sao? Vì không thể khiến Đức Phật sinh khởi phương tiện thiện xảo chưa từng có. Vì Đức Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri không thọ dụng pháp của người khác. Vì pháp là như thế.

Hỏi: Vì sao trong đây không nói sự cung kính, nuôi dưỡng bằng pháp?

Đáp: Nghĩa tạo duyên là nghĩa nuôi dưỡng. Pháp kia là lìa duyên.

Hỏi: Nếu muốn thí pháp nên thí ở xứ nào?

Đáp: Pháp có hai thứ: (1) Danh số. (2) Chân thật. Nếu muốn thí cho pháp danh số, nên thí cho người thuyết pháp, hoặc người biên chép kinh. Nếu muốn thí pháp chân thật, tức nên gìn giữ vật này, phải như kính tháp của Phật.

Hỏi: Thế nào là thí cho Pháp, nuôi dưỡng (cúng dường) Tăng?

Đáp: Là ở trong chúng Tăng, tạo ra kệ của ba khế kinh, tạo ra Sa-hạt-già, nêu bày đủ các thứ vấn đáp của nghĩa quyết định.

Hỏi: Thế nào là nuôi dưỡng Tăng bằng của cải?

Đáp: Nếu dùng các thứ ăn uống, tạo ra trường trai, tạo hội Bangià-vu-sắt (Đại hội thí năm năm một lần) giảng giải kinh pháp, cúng dường Hòa thượng, A-xà-lê và chư vị phạm hạnh thanh tịnh khác.

Hỏi: Ai cho, ai nhận?

Đáp: Đức Phật có thể thí cho tất cả các chúng sinh sự nuôi dưỡng bằng pháp, sự nuôi dưỡng bằng của cải. Tất cả chúng sinh có thể cúng dường Phật bằng của cải, không thể cúng dường Phật bằng pháp. Phật-bích-chi có thể thí cho tất cả các chúng sinh sự nuôi dưỡng bằng pháp, sự nuôi dưỡng bằng của cải, trừ Đức Phật, Thế Tôn. Tất cả chúng sinh có thể cúng dường Phật, Phật-bích-chi bằng của cải, không thể cúng dường bằng pháp. Tôn giả Xá-lợiphất có thể thí cho tất cả chúng sinh sự nuôi dưỡng bằng pháp, bằng của cải, chỉ trừ Đức Phật và Phật-bích-chi. Tất cả chúng sinh có thể cúng dường Đức Phật, Phật-bích-chi, Tôn giả Xá-lợi-phất bằng của cải, không thể cúng dường bằng pháp. Tôn giả Mục-kiền-liên có thể thí cho tất cả chúng sinh sự nuôi dưỡng bằng pháp, bằng của cải, chỉ trừ Đức Phật, Phật-bích-chi, Tôn giả Xá-lợi-phất. Tất cả chúng sinh có thể cúng dường Đức Phật, Phật-bích-chi, Tôn giả Xá-lợi-phất, Tôn giả Mục-kiền-liên bằng của cải, không thể cúng dường bằng pháp. Cho đến người lợi căn có thể thí cho kẻ độn căn sự nuôi dưỡng bằng của cải, bằng pháp. Người độn căn có thể thí cho người lợi căn sự nuôi dưỡng bằng của cải, không thể cho sự nuôi dưỡng bằng pháp.

Hỏi: Nếu không thể cúng dường Đức Phật bằng pháp thì vì sao Đức Thế Tôn lại khen ngợi chỗ thuyết giảng của Tôn giả A-nan. Khen: Lành thay! Lành thay! Như chỗ ông nói về tinh tấn có thể sinh khởi Bồ-đề. Cũng khen ngợi Tỳ-kheo Ức Nhĩ: Lành thay! Lành thay! Ông có thể dùng âm thanh vi diệu để đọc tụng pháp nhiệm mầu, dùng ngôn ngữ âm thanh của nước A-bàn-đề để phổ biến. Ngôn ngữ ấy chánh trực, dễ hiểu, khiến nhiều người ưa nghe. Hoặc ở đây nói làm sao thông? Như Đức Phật bảo Tôn giả A-nan: Ta cũng tăng ích pháp thiện, tịch tĩnh của người xuất gia?

Đáp: Vì sao Đức Phật khen ngợi Tôn giả A-nan? Vì Tôn giả A-nan đã giảng nói hợp thời nên được Đức Phật khen.

Lấy gì để nhận biết? Từng nghe Đức Thế Tôn du hóa nơi nhân gian, gặp phải bệnh đau lưng, Ngài trải y Uất-đa-la-tăng ra nằm và gối đầu bằng y Tăng-già-lê, nằm nghiêng theo phía hông bên phải và bảo Tôn giả A-nan: Nay ông nên vì các Tỳ-kheo giảng nói pháp.

Bấy giờ, Tôn giả A-nan vì các Tỳ-kheo giải nói về giác ý: Này các Trưởng lão! Đức Như Lai do hành giác ý niệm nên thành đạo, cũng vì người khác giảng nói, cho đến nói rộng về giác ý trạch pháp, giác ý tinh tấn.

Ngay khi Tôn giả A-nan đang phân biệt về giác ý, Đức Thế Tôn tự nhớ nghĩ về vô số A-tăng-kỳ kiếp trong quá khứ, đã từng hành các phương tiện, đều là sức tinh tấn. Vì do nhớ nghĩ nên khởi tâm hỷ, khiến thân bốn đại có bệnh được tiêu diệt rất nhanh, bốn đại không bệnh sinh khởi cũng rất nhanh và chứng đau lưng tức thì dứt trừ, vội ngồi kiết già, nói với Tôn giả A-nan: Ông đã giảng về tinh tấn chăng?

Tôn giả A-nan thưa: Đúng vậy, bạch Đức Thế Tôn!

Đức Phật nói: Lành thay! Lành thay! Này A-nan! Thật như lời ông vừa nói, tinh tấn có thể sinh khởi Bồ-đề.

Do sự việc ấy, nên gọi là khen ngợi Tôn giả A-nan.

Về sự việc khen ngợi Tỳ-kheo Ức Nhĩ: Hoặc có thuyết nói: Vì muốn khiến Tỳ-kheo kia sinh tâm không sợ hãi, nên Hòa thượng Đại Ca Chiên Diên Tử đã từng bảo Tỳ-kheo Ức Nhĩ ở nước A-bàn-đề: Ông nên đến chỗ Đức Phật để thỉnh cầu năm nguyện vọng cho các Tỳ-kheo vùng biên giới lạnh lẽo. Đó là: (1) Thường xuyên được tắm, gội. (2) Dùng da thú để làm dụng cụ trải ngồi. (3) Xin sư trì Tỳ-ni, là người thứ năm, được thọ cụ túc. (4) Xin được luôn mang giày có tấc phủ kín chân. (5) Xin được chứa trường y quá mười đêm. Do năm việc này nên Tỳ-kheo kia đi đến chỗ Đức Phật. Oai đức của Đức Thế Tôn, cho đến Phạm thiên, Đế thích, Hộ Thế Tứ Vương không thể đứng gần nhìn thẳng. Vì việc ấy nên Ức Nhĩ không dám cầu ngay. Về sau được Đức Thế Tôn khen ngợi ông mới dám thỉnh cầu. Thế nên, vì muốn khiến Tỳ-kheo kia sinh khởi tưởng không sợ hãi, nên mới khen ngợi.

Lại có thuyết cho: Vì muốn tạo lợi ích cho Tỳ-kheo kia, nên mới khen ngợi. Vì sao? Vì Tỳ-kheo kia ở vùng đất A-bàn-đề có thể làm Phật sự. Vì muốn cho các người ở đấy thêm tâm tôn trọng nên mới khen ngợi ông.

Lại có thuyết nêu: Do Tỳ-kheo Ức Nhĩ có thể khéo trì tụng các nghĩa Ưu-đà-na, Ba-la-diên nơi kinh, có thể làm vừa ý Đức Phật, nên mới được khen ngợi.

Lại có thuyết nói: Do tu nghiệp tịnh làm cho tiếng nói trong, diệu, nên mới được khen ngợi.

Về câu nói của Đức Phật: Tăng ích pháp thiện tịch tĩnh của người xuất gia: Là các vị xuất gia lần lượt chuyển tăng, được chánh quyết định, chứng đắc đạo quả, có thể lìa ái dục, cũng dứt hết các lậu, gieo trồng nhân của Phật đạo và nhân của đạo Duyên giác, Thanh văn, được sinh vào nhà tôn quý, nhiều của cải, quyến thuộc thành tựu, có oai thế lớn, diện mạo đoan nghiêm. Có khả năng làm thanh tịnh thiên đạo và đạo giải thoát, đều là uy lực của Đức Phật. Do uy lực của Phật, nên đã khiến cho nhiều chúng sinh xuất gia trong pháp Phật. Có những lợi ích như thế v.v… khởi tâm hoan hỷ, nên nói: Ta nay tăng ích pháp thiện tịch tĩnh của người xuất gia.

Lại có thuyết cho: Vì muốn lìa bỏ lỗi lầm của sự hủy báng, nên khen ngợi Tôn giả A-ni-lô-đầu v.v… Vì muốn khiến cho người kia tôn trọng oai đức nên khen ngợi Tôn giả Mục-liên v.v… Vì muốn hiển bày có công đức lớn, nên khen ngợi Tôn giả Xá-lợi-phất v.v… Vì nhằm khiến sinh khởi tâm không sợ hãi, nên khen ngợi Tỳ-kheo Ức Nhĩ v.v…

Thế nào là sức mạnh của thân? Thế nào là sức yếu kém của thân? Cho đến nói rộng.

Hỏi: Vì lý do gì tạo ra phần Luận này?

Đáp: Như phái Tỳ-bà-xà-bà-đề (Luận Phân Biệt) nói: Sức mạnh của thân, sức yếu kém của thân không do nơi thân mà do nơi tâm tạo ra. Vì nhằm ngăn chận ý của người nói như thế, vì muốn nêu rõ về thể của sức mạnh là xúc nhập, nên tạo ra phần Luận này.

Lại có thuyết nói: Sở dĩ tạo ra phần Luận này là vì nhằm ngăn chận ý của Bộ Di-sa-tắc. Bộ ấy nói thế này: Sức mạnh của thân, thể là tinh tấn. Sức yếu kém của thân, thể là biếng nhác. Vì nhằm ngăn chận ý tưởng của người nói như thế, vì muốn làm rõ sức mạnh của thân, sức yếu kém của thân, thể là xúc nhập.

Lại có thuyết cho: Sở dĩ tạo ra phần Luận này là muốn ngăn chận ý tưởng của phái Thí Dụ. Phái ấy đưa ra luận này: Sức mạnh của thân, sức yếu kém của thân, không có thể nhất định. Như sức mạnh của voi hơn sức mạnh của ngựa. Sức mạnh của ngựa hơn sức mạnh của bò.

Thế nào là một thể? Tức là sức mạnh của thân, là sức yếu kém của thân.

Vì muốn ngăn chận ý tưởng của thuyết như thế, vì muốn nêu rõ về sức mạnh của thân, sức yếu kém của thân là pháp quyết định. Nếu sức mạnh của thân không phải là pháp quyết định, thì chẳng phải thuộc về nhập, chẳng phải là đối tượng nhận thức của thức.

Hỏi: Nếu sức mạnh của thân là quyết định, thì theo thuyết của phái Thí Dụ đã nói làm sao thông? Như sức mạnh của voi hơn sức mạnh của ngựa, sức mạnh của ngựa hơn sức mạnh của bò.

Đáp: Vì đây là nhân nơi người khác nên nói là hơn. Như sức của ngựa đối với sức của voi, bốn đại yếu thì nhiều, bốn đại mạnh thì ít. Sức của bò đối với sức của ngựa, bốn đại yếu thì nhiều, bốn đại mạnh thì ít. Vậy thì sức mạnh thường mạnh, sức yếu thường yếu. Do sự việc này, nhằm ngăn chận ý của người khác, hiển bày nghĩa của mình, cho đến nói rộng, nên tạo ra phần Luận này.

Tất cả pháp hữu vi, sức có mạnh, yếu. Vì sao? Vì như mắt sáng rõ, có thể trông thấy, đó gọi là sức mạnh. Người không bằng gọi là sức yếu, cho đến thân cũng như thế. Như ý khéo có thể nhận biết pháp, đó gọi là sức mạnh. Người không bằng gọi là sức yếu. Ở đây nói về sức mạnh của thân, sức yếu kém của thân, nên tạo ra phần Luận này.

Hỏi: Thế nào là sức mạnh của thân?

Đáp: Như sức của thân, thân dũng mãnh, cho đến nói rộng. Những tên gọi như thế v.v… đều hiển hiện về tướng của sức mạnh. Như hai lực sĩ đấu sức, cho đến nói rộng. Do nghĩa này nên nhận biết sức mạnh của thân, sức yếu kém của thân, là thuộc về xúc nhập. Vì sao? Tức do sự xúc chạm, nên biết được người này là sức mạnh, người kia là sức yếu. Cũng như hai người tráng kiện nắm lấy một người sức yếu. Lúc hai người kia đang nắm lấy là lần lượt cùng nhận biết. Như người sức mạnh nắm lấy người sức yếu, biết sức của người kia yếu. Người sức yếu nắm lấy người sức mạnh, cũng nhận biết sức của người kia mạnh. Sức mạnh, sức yếu đều cùng thuộc về một nhập, nghĩa là xúc nhập. Do hai thức nhận biết là thân thức, ý thức. Thân thức nhận biết về tướng riêng, ý thức nhận biết về tướng riêng và tướng chung. Do nghĩa như thế, tức là ngăn chận ý của thuyết cho, sức của thân không nhất định. Vì sao? Vì nếu đối nơi sức mạnh của thân, sức yếu kém của thân không nhất định, thì không nên nói nhất định thuộc về một nhập, do hai thức nhận biết.

Hỏi: Sức mạnh của thân, sức yếu kém của thân thể tánh là gì?

Đáp: Hoặc có thuyết nói: Thể là bốn đại.

Hỏi: Nếu như vậy thì vì đại nào tăng nên sức của thân mạnh? Do đại nào tăng nên sức của thân yếu?

Đáp: Hoặc có thuyết cho: Bốn đại không tăng. Tự có bốn đại tương tợ sinh ra sức của thân mạnh. Có bốn đại tương tợ sinh ra sức của thân yếu.

Lại có thuyết nêu: Vì địa đại tăng nên sức của thân mạnh. Do thủy đại tăng nên sức của thân yếu. Vật bên ngoài cũng như thế. Như cây Đà-bà, cây Khư-đà-la, cây Tỳ-ma, cây Bà-đà-la v.v… do địa đại riêng nhiều nên cứng chắc. Như cỏ lau, liễu, bầu, hồ ma v.v… vì thủy đại riêng nhiều nên mềm yếu.

Lại có thuyết nói: Sức mạnh của thân, sức yếu của thân thuộc về xúc nhập, thể không phải là bốn đại, là tánh của sắc tạo.

Hỏi: Nếu như vậy thì tánh của sắc tạo có bảy thứ. Thứ gì tăng nên sức của thân mạnh? Thứ gì tăng nên sức của thân yếu?

Đáp: Vì nặng riêng nhiều nên sức của thân mạnh. Do nhẹ riêng nhiêu nên sức của thân yếu. Vật bên ngoài cũng thế: Nặng thì mạnh, nhẹ thì yếu.

Lại có thuyết cho: Ngoài bảy thứ sắc tạo, còn có sức mạnh của thân, sức yếu kém của thân.

Lời bình: Nên tạo ra thuyết này: Bốn đại nơi thân cân bằng thì sức của thân tức mạnh. Bốn đại nơi thân không cân bằng thì sức của thân tức yếu.

Như nói: Bồ-tát có sức của Na-la-diên. Lượng ngang bằng của sức Na-la-diên là thế nào?

Đáp: Hoặc có thuyết nói: Sức của mười con bò thường bằng sức của một người thôn thiên ngưu. Sức của người thôn thiên ngưu bằng sức của một thanh ngưu. Sức của mười thanh ngưu bằng sức của một con voi thường. Sức của mười con voi thường bằng sức của một hương tượng. Sức của mười hương tượng bằng sức của một người đại lực. Sức của mười người đại lực bằng sức của một Bátkiến-đà. Sức của mười Bát-kiến-đà bằng nửa sức của Na-la-diên. Hai nửa sức của Na-la-diên bằng sức của một Na-la-diên. Sức của một Na-la-diên bằng sức nơi một đốt xương của Bồ-tát. Đó gọi là sức thân của Bồ-tát.

Lại có thuyết cho: Thuyết này là quá ít. Sức của mười con bò thường bằng sức của một thôn thiên ngưu. Cho đến sức của mười voi thường bằng sức của một voi rừng. Sức của mười voi rừng bằng sức của một voi Già-ni-la. Sức của mười voi Già-ni-la bằng sức của một voi A-la-lặc-ca. Sức của mười voi A-la-lặc-ca bằng sức của một voi núi Tuyết. Sức của mười con voi núi Tuyết bằng sức của một Hương tượng. Sức của mười Hương tượng bằng sức của một voi Thanh sơn. Sức của mười voi Thanh sơn bằng sức của một voi Hoàng sơn. Như thế, theo thứ lớp gấp mười lần, nói về Ưu-bát-la, Câu-vật-đầu, Bađầu-ma đỏ, trắng cũng như thế. Sức của mười voi Ba-đầu-ma bằng sức của một người đại lực. Sức của mười người đại lực bằng sức của một Bát-kiến-đà. Sức của mười Bát-kiến-đà bằng sức của một Salăng-già. Sức của mười Sa-lăng-già bằng sức của một Bà-lăng-già. Sức của mười Bà-lăng-già bằng sức của một Chương-nậu-lặc. Sức của mười Chương-nậu-lặc bằng sức của một Bà-la-chương-nậu-lặc. Sức của mười Bà-la-chương-nậu-lặc bằng một nửa sức của Na-ladiên. Hai nửa sức của Na-la-diên bằng một sức của Na-la-diên. Đây gọi là lượng sức của Na-la-diên.

Lại có thuyết nêu: Thuyết này cũng còn ít. Sức của một ngàn Long vương Y-na-bạt-la bằng sức nơi một đốt xương của Bồ-tát.

Từng nghe nói: Khi chủ trời Ba Mươi Ba muốn dạo chơi, Long vương Y-na-bạt-la, sắc lông thuần trắng, như bảy cành hoa Câu-vậtđầu, đứng yên, có đủ sáu ngà, đầu đỏ như sắc của Nhân-đề-cụ-ba. Bên hông trái phải, mỗi bên đều là hai do-tuần rưỡi, trước sau đều một do-tuần. Như thế, xung quanh thân có bảy do-tuần, cao hai dotuần rưỡi. Đây là thân thường có tám ngàn quyến thuộc. Các quyến thuộc ấy, sắc đỏ trắng, như bảy cành hoa Câu-vật-đầu, ng yên, có đủ sáu ngà, đầu đỏ như sắc của Nhân-đề-cụ-ba. Lúc chủ trời Ba Mươi Ba muốn dạo chơi, trên thân của Long vương Y-na-bạt-la, tự nhiên có tay hương hiện ra, nên khởi nghĩ: Hôm nay chư thiên cần ta.tức Tự hóa thân có ba mươi hai đầu, mỗi đầu có sáu ngà, đầu đỏ như sắc của Nhân-đề-cụ-ba. Đầu thứ Ba mươi ba là đầu thường. Trên mỗi mỗi ngà hóa làm bảy ao, trong mỗi mỗi ao hóa làm bảy hoa sen. Trên mỗi mỗi hoa hóa làm bảy đài, trên mỗi mỗi đài hóa bảy màn che liên kết nhau. Trong mỗi mỗi màn che có bảy thiên nữ. Mỗi mỗi thiên nữ có bảy thị giả. Mỗi mỗi thị giả có bảy kỹ nữ. Tạo sự biến hóa xong, Long vương đi đến trong thành của chư thiên. Nơi ba mươi hai đầu đã hóa có ba mươi hai quan phụ tá và quyến thuộc của họ cưỡi lên trên đó. Đế thích cỡi nơi đầu thường và quyến thuộc của Đế thích cũng cưỡi lên trên ấy. Như thế gồm có một vạn gia tộc của chư thiên, thân cử động nhẹ, cũng như gió xoáy thổi phớt qua trên lá cỏ, nương nơi hư không mà đi đến xứ dạo chơi. Lúc ấy chư thiên đều không tự thấy có người trước sau, tới chốn dạo chơi. Khi đó chư thiên mỗi mỗi vị đều đến dạo chơi nơi vườn rừng tâm ý hân hoan vui vẻ.

Bấy giờ, Long vương cũng tự hóa thân làm hình thiên tử rồi tự vui đùa. Như thế, sức của Long vương Y-na-bạt-la đối với thân của Bồ-tát có mười tám đốt xương lớn, mỗi mỗi đốt xương lớn có một ngàn sức của Long vương Y-na-bạt-la.

Như thế v.v… gọi là sức nơi thân của Bồ-tát.

Lại có thuyết nói: Thuyết này cũng là ít. Sức nơi thân của Bồtát có mười tám đốt xương lớn. Như trước đã nói, là sức của đốt xương thấp nhất trong mười tám đốt xương của Bồ-tát. Thuyết thứ hai nói là sức nơi đốt xương hơn tiếp theo của Bồ-tát. Thuyết thứ ba đã nói là sức của đốt xương thứ ba. Như thế theo thứ lớp, mỗi mỗi đều chuyển biến hơn gấp bội.

Tôn giả Bà-đàn-đà nói: Sức của ý vô lượng, nên biết sức của thân cũng vô lượng. Vì sao nhận biết được? Vì như đạo Chánh đẳng Chánh giác Vô thượng nơi đời vị lai, tất sinh hiện ở trước. Bấy giờ, đại địa của ba ngàn đại thiên thế giới đều chấn động. Do sự việc này nên nhận biết do sức của ý vô lượng, nên sức của thân cũng vô lượng.

Hỏi: Nếu như vậy thì vì sao nói Bồ-tát có sức của Na-la-diên?

Đáp: Vì sức của Na-la-diên được người đời ưa chuộng nên dùng làm dụ. Vậy thì sức của ý vô lượng, nên sức của thân cũng vô lượng.

Hỏi: Vì lý do gì Bồ-tát tu tập sức như thế?

Đáp: Vì muốn hiện bày tất cả đều là sự việc thù thắng. Như Bồ-tát đối với các thế gian tất cả sự việc đều thù thắng. Đó là tộc họ, hình sắc, giàu sang, nhiều của cải quyến thuộc, công đức tích tập và sức của tiếng tăm cũng như thế. Như về tộc họ, hình sắc đã hơn hẳn nơi thế gian nên về sức cũng phải như vậy.

Lại có thuyết nói: Do đạo quả Bồ-đề vô thượng. Vì sao? Vì đạo quả Chánh đẳng Chánh giác Vô thượng nên phải trụ nơi thân bền chắc như thế. Nhưng không có điều ấy, nên chỉ do phân biệt mà nói. Nếu chính đạo quả Chánh đẳng Chánh giác Vô thượng trụ nơi đỉnh núi Tu-di, thì núi Tu-di tức bị tan nát, vì lực, vô úy là hết sức quý trọng. Vì thế nên khi Đức Thế Tôn mới thành đạo, vừa giở chân lên đi, chỉ bước nhẹ nhàng trên đất, đất liền chấn động.

Lại có thuyết cho: Vì do đạo quả Chánh đẳng Chánh giác Vô thượng, nên ở châu Diêm-phù-đề trong tam thiên đại thiên thế giới, nơi châu Diêm-phù-đề ấy có tòa kim cương tự nhiên xuất hiện. Bồ-tát an tọa trên đó thành Đẳng chánh giác. Như thế, cũng vì đạo quả Chánh đẳng Chánh giác Vô thượng, nên Bồ-tát đã tích tập thân bền chắc.

Lại có thuyết nêu: Vì dùng sức này để dẫn dắt ứng hiện nhằm giáo hóa chúng sinh. Ở đây, nên nói là người của sức biến hóa dụ cho các Thích tử. Việc bắn dụ cho bát Niết-bàn. Thời gian dụ cho đá cứng chắc.

Từng nghe Đức Thế Tôn khi sắp bát Niết-bàn, đi đến thôn Ba-ba. Bấy giờ, năm trăm lực sĩ đang dọn dẹp sửa sang đường sá. Lúc đó, có một tảng đá dài mười hai trượng, rộng sáu trượng. Các lực sĩ đồng dốc hết thân lực của mình, nhưng không thể làm cho tảng đá nhúc nhích. Đức Thế Tôn đã đến, hỏi các đồng tử: Nay các vị đang làm gì thế? Các lực sĩ thưa: Chúng con đang sửa sang lại đường sá. Đức Thế Tôn lại hỏi: Nay Ta vì các vị sẽ dời tảng đá này đi chăng? Đáp: Có thể như thế. Đức Phật bảo các lực sĩ: Các vị nên tránh thật xa! Bấy giờ, Đức Thế Tôn dùng ngón chân cái nâng tảng đá ấy lên, đem đặt yên trong lòng bàn tay. Lại dùng tay cầm tảng đá ném vào hư không, rơi xuống, lại đỡ lấy, rồi dùng miệng thổi tan tảng đá khiến nó nát vụn như vi trần, lại làm cho nó kết hợp như cũ không khác. Bấy giờ, các lực sĩ hỏi Đức Phật: Sự việc như thế là do công sức gì? Đức Thế Tôn đáp: Do sức của ngón chân cái, đặt tảng đá trong lòng bàn tay là sức của thân do cha mẹ sinh ra. Sau dùng bàn tay nắm tảng đá ném vào hư không, cũng là sức của thân do cha mẹ sinh ra. Dùng miệng thổi tan tảng đá, khiến nó nát vụn như vi trần, là do sức của thần túc. Tảng đá nát vụn, được kết hợp lại nguyên vẹn như cũ, là diệu lực của sự giải thoát. Các lực sĩ lại hỏi Phật: Còn có sức mạnh nào hơn sức mạnh như thế của Đức Thế Tôn chăng? Phật đáp: Có. Đó là sức mạnh của vô thường. Đức Phật nói với các lực sĩ: Hoặc là sức của cha mẹ sinh ra và sức của sự giải thoát, của thần túc, thì Ta cũng sẽ bị sức mạnh của vô thường hủy hoại vào nửa đêm nay.

Lúc này, các lực sĩ nghe Đức Phật nói qua sự việc này đều sinh khởi tâm nhàm chán. Phật vì họ thuyết pháp, khiến họ thấy được chân đế. Thế nên, vì muốn dẫn dắt ứng hiện nhằm giáo hóa chúng sinh, nên Bồ-tát tu tập lực này.

Hỏi: Bồ-tát vào thời gian nào đạt đầy đủ sức ấy?

Đáp: Vào thời gian Bồ-tát hai mươi lăm tuổi là đạt đầy đủ sức ấy. Từ đấy trở đi, đến năm mươi tuổi, sức của Bồ-tát không giảm. Quá tuổi này trở về sau sức của Bồ-tát chuyển giảm.

Lại có thuyết nói: Sức ấy không giảm. Vì sao? Vì sức của ý không giảm nên sức của thân cũng như vậy.

Lời bình: Nên lập ra thuyết này: Pháp thân không giảm, sinh thân có giảm, là do nơi báo, như Tôn giả Ưu-đà-da nói: Nay trông thấy thân sắc của Đức Thế Tôn tổn giảm, cho đến nói rộng.

Hỏi: Chúng sinh khác có sức của Na-la-diên không?

Đáp: Như sức của Bồ-tát đã nói ở đầu, chúng sinh khác hãy còn không có, huống hồ là các thuyết khác. Tuy nhiên, vào thời kỳ thế giới mới thành, nơi thế giới chúng sinh, người có sức của Na da diên, có một nửa sức của Na da diên, có sức của Bát-kiến-đà, có sức mạnh lớn, là đầy cả châu Diêm-phù-đề.

Hỏi: Về tướng đốt xương của các người kia theo thứ lớp là thế nào?

Đáp: Trừ bốn hạng người kia, tướng đốt xương của các chúng sinh khác thì trái nhau. Nếu sức của con người bằng sức của voi, ngựa, thì đốt xương khít nhau. Người có sức mạnh lớn thì đốt xương cùng nối liền. Người có sức của Bát-kiến-đà thì đốt xương móc nối. Người có sức của Na-la-diên thì đốt xương nối vòng. Đốt xương của Bồ-tát, như giao long cùng liên kết nhau, như Khát già giác. Phậtbích-chi gọi là sức mạnh lớn.

Hỏi: Chuyên luân vương có sức của Na-la-diên không?

Đáp: Chuyển luân vương không có sức của Na-la-diên. Tùy theo sức của thân đức nơi bánh xe báu và các thứ báu khác cũng như thế. Nếu Luân kia là vàng làm vua thống lãnh bốn châu thiên hạ, thì sức của vua là tối thắng. Nếu Luân kia là bạc, làm vua trị vì ba châu thiên hạ, thì sức của vua chuyển giảm. Nếu Luân kia là đồng, làm vua cai trị hai châu thiên hạ, thì sức của vua đó lại giảm. Nếu Luân kia là sắt, làm vua trị vì một châu thiên hạ, thì sức của vua này là kém nhất.

Lúc Phật còn tại thế, ba người có sức của Bát-kiến-đà: (1) Tôn giả A-nan. (2) Thích tử Thiểm-di. (3) Thích nữ Cù-tỳ-ca.

Hỏi: Phật-bích-chi ra đời, là như Phật xuất hiện một mình hay là có người cùng xuất hiện?

Đáp: Hoặc có thuyết nói: Xuất thế một mình, không có ai cùng xuất thế. Vì sao? Vì căn của Phật-bích-chi vượt hơn Tôn giả Xá-lợiphất. Như Tôn giả Xá-lợi-phất đều cùng xuất hiện ở đời, cũng không có sự việc này, huống chi là năm trăm công đức đều cùng xuất hiện trong một thời.

Hỏi: Nếu Phật-bích-chi không cùng người khác xuất thế, thì nói có năm trăm công đức xuất thế cùng một lúc là những người nào?

Đáp: Đây đều vốn là Thanh văn, vì duyên tỏ ngộ Bồ-đề, nên gọi là Phật-bích-chi. Nếu chủng tánh gốc là Phật-bích-chi hành thành Phật-bích-chi, một mình xuất hiện ở thế gian, nên biết là như Phật.

Đã nói về sức nơi thân của Như Lai, nay sẽ nói đến sức của ý. Như Lai có mười lực, đó là trí lực thị xứ phi xứ cho đến trí lực lậu tận.

Hỏi: Thể tánh của lực là gì?

Đáp: Thể tánh là trí. Thể là trí thân.

Đã nói về thể tánh của lực, nay sẽ nói về lý do.

Hỏi: Những gì là nghĩa của lực?

Đáp: Nghĩa không bị người khác khuất phục là nghĩa của lực. Nghĩa không bị người khác ngăn che là nghĩa của lực. Nghĩa không bị đoạn trừ, chế phục là nghĩa của lực. Nghĩa dứt bỏ, nghĩa quyết định nhận biết, nghĩa có thể gánh vác, nghĩa tối thắng là nghĩa của lực.

Về cõi: Trí lực của thọ mạng đời trước, trí lực sinh tử ở nơi cõi sắc. Các lực còn lại, nếu là hữu lậu thì thuộc về ba cõi. Nếu là vô hậu thì không hệ thuộc.

Về địa: Trí lực của thọ mạng đời trước, trí lực sinh tử ở nơi địa bốn thiền căn bản. Các lực còn lại, nếu là hữu hậu thì ở nơi mười một địa. Nếu là vô lậu thì ở nơi chín địa.

Về chỗ nương dựa: Là dựa vào thân cõi dục.

Về hành: Là trí lực thị xứ phi xứ, trí lực đến tất cả đạo, hành mười sáu hành, cũng hành phi hành. Trí lực nhận biết tập của pháp nghiệp, hành tám hành, cũng hành phi hành. Trí lực thứ ba, thứ tư, thứ năm, thứ sáu, hành mười hai hành, cũng hành phi hành. Trí lực của thọ mạng đời trước, trí lực sinh tử, hành nơi phi hành. Trí lực lậu tận, nếu dùng cảnh giới thì hành nơi bốn hành, nếu lấy ở thân thì hành mười sáu hành, cũng hành phi hành.

Về duyên nơi cảnh giới: Trí lực thị xứ phi xứ duyên nơi tất cả pháp. Trí lực nhận biết tập của pháp nghiệp, duyên nơi đế khổ, tập. Trí lực thứ ba, thứ tư, thứ năm, thứ sáu, duyên nơi ba đế, trừ diệt đế. Trí lực đến tất cả đạo, duyên nơi bốn đế. Trí lực của thọ mạng đời trước duyên nơi năm ấm của cõi dục, cõi sắc ở đời trước. Trí lực sinh tử duyên nơi sắc nhập. Trí lực lậu tận, nếu dùng cảnh giới thì duyên nơi Diệt đế, nếu lấy ở thân thì duyên nơi tất cả pháp.

Về niệm xứ: Trí lực nhận biết dục, trí lực của thọ mạng đời trước là pháp niệm xư. Trí lực sinh tử là thân niệm xứ. Trí lực lậu tận, nếu dùng cảnh giới là pháp niệm xứ, nếu lấy ở thân là bốn niệm xứ. Các lực còn lại là bốn niệm xứ.

Về trí: Trí lực thị xứ phi xứ, trí lực đến tất cả đạo là mười trí. Trí lực nhận biết tập của pháp nghiệp là tám trí, trừ diệt trí, đạo trí. Trí lực thứ ba, thứ tư, thứ năm, thứ sáu là chín trí, trừ diệt trí. Trí lực của thọ mạng đời trước, như người cựu A-tỳ-đàm nói là đẳng trí.

Tôn giả Bà-dĩ nói là bốn trí: Pháp trí, tỷ trí, khổ trí và đẳng trí.

Tôn giả Cù-sa nói là sáu trí: Trừ tận trí, vô sinh trí, diệt trí, tha tâm trí.

Lời bình: Nên như thuyết trước nói là đúng.

Trí lực sinh tử, người cựu A-tỳ-đàm nói là một đẳng trí.

Tôn giả Bà-dĩ nói là bốn trí: Pháp trí, tỷ trí, tập trí, đẳng trí. Theo nghĩa chân thật, là một đẳng trí. Trí lực lậu tận, nếu dùng cảnh giới là sáu trí, trừ tha tâm trí, khổ trí, tập trí, đạo trí. Nếu lấy ở thân là có mười trí. Vì sao? Vì mười trí này ở trong thân Như Lai đều có thể đạt được.

Về căn: Nói chung là tương ưng với ba căn.

Về quá khứ, hiện tại, vị lai: Là pháp của ba đời.

Về duyên nơi đời quá khứ, vị lai, hiện tại: Trí lực thị xứ phi xứ, trí lực đến tất cả đạo là duyên nơi ba đời, cũng duyên nơi không phải đời. Trí lực thứ hai, thứ ba, thứ tư, thứ năm, thứ sáu duyên nơi ba đời. Trí lực của thọ mạng đời trước thuộc quá khứ, hiện tại thì duyên nơi đời quá khứ. Đời vị lai nếu sinh là duyên nơi đời quá khứ, nếu không sinh là duyên nơi ba đời. Trí lực sinh tử thuộc quá khứ thì duyên nơi đời quá khứ. Hiện tại thì duyên nơi đời hiện tại. Vị lai nếu sinh thì duyên nơi đời vị lai, nếu không sinh thì duyên nơi ba đời. Trí lực lậu tận, nếu dùng cảnh giới thì duyên nơi pháp chẳng phải đời, nếu lấy ở thân thì duyên nơi ba đời, cũng duyên nơi chẳng phải đời.

Về thiện, bất thiện, vô ký: Là thiện.

Về duyên nơi thiện, bất thiện, vô ký: Trí lực nhận biết thiền, giải thoát, Tam-ma-đề, duyên nơi thiện, vô ký. Trí lực lậu tận, nếu dùng cảnh giới thì duyên nơi thiện, nếu lấy ở thân thì duyên nơi thiện, bất thiện, vô ký. Các lực khác thì duyên nơi ba thứ.

Về hệ thuộc: Trí lực của thọ mạng đời trước, trí lực sinh tử hệ thuộc cõi sắc. Các lực khác nếu là hữu hậu thì hệ thuộc ba cõi, nếu là vô lậu thì không hệ thuộc.

Về duyên hệ thuộc nơi ba cõi: Trí lực của thọ mạng đời trước, trí lực sinh tử duyên hệ thuộc nơi cõi dục, cõi sắc. Trí lực nhận biết tập của pháp nghiệp duyện hệ thuộc nơi ba cõi. Trí lực lậu tận, nếu dùng cảnh giới thì duyên nơi không hệ thuộc, nếu lấy ở thân thì duyên hệ thuộc nơi ba cõi và duyên nơi không hệ thuộc. Các lực khác duyên hệ thuộc nơi ba cõi, duyên nơi không hệ thuộc.

Về học, vô học, phi học phi vô học: Trí lực của thọ mạng đời trước, trí lực sinh tử là phi học phi vô học. Các lực khác, nếu vô lậu là vô học, nếu hữu lậu là phi học phi vô học.

Về duyên nơi học, vô học, phi học phi vô học: Trí lực nhận biết tập của nghiệp pháp, trí lực của thọ mạng đời trước, trí lực sinh tử duyên nơi phi học phi vô học. Trí lực lậu tận, nếu dùng cảnh giới thì duyên nơi phi học phi vô học, nếu lấy ở thân thì có thể duyên nơi ba thứ. Các lực còn lại đều duyên hết nơi ba thứ.

Về do kiến đạo đoạn, tu đạo đoạn, không đoạn: Trí lực của thọ mạng đời trước, trí lực sinh tử là do tu đạo đoạn trừ. Các lực còn lại, nếu là hữu lậu thì do tu đạo đoạn trừ, nếu là vô lậu thì không đoạn.

Về duyên nơi kiến đạo đoạn, tu đạo đoạn, không đoạn: Trí lực nhận biết tập của pháp nghiệp, trí lực của thọ mạng đời trước duyên nơi kiến đạo đoạn, tu đạo đoạn. Trí lực sinh tử duyên nơi tu đạo đoạn. Trí lực lậu tận, nếu dùng cảnh giới thì duyên nơi không đoạn, nếu lấy ở thân thì duyên nơi ba thứ. Các lực còn lại duyên hết nơi ba thứ.

Về duyên nơi danh, duyên nơi nghĩa: Trí lực nhận biết dục, trí lực sinh tử duyên nơi nghĩa. Trí lực lậu tận, nếu dùng cảnh giới thì duyên nơi nghĩa, nếu lấy ở thân thì duyên nơi danh, nghĩa. Các lực còn lại cũng duyên nơi danh, cũng duyên nơi nghĩa.

Về duyên nơi thân mình, thân người khác, không phải thân: Trí lực thị xứ phi xứ, trí lực đến tất cả đạo duyên nơi thân mình, nơi thân người khác, cũng duyên nơi pháp không phải thân. Trí lực lậu tận, nếu dùng cảnh giới thì duyên nơi không phải thân, nếu lấy ở thân thì duyên hết ba thứ. Các lực còn lại thì duyên nơi thân mình, nơi thân người khác.

Hỏi: Các lực này là từ phương tiện sinh hay là từ lìa dục mà được?

Đáp: Có thể nói là từ phương tiện sinh, cũng từ lìa dục mà được. Vì sao? Vì từ ba A-tăng-kỳ kiếp chứa nhóm phương tiện sinh, nên nói là từ phương tiện sinh. Do từ lìa dục của xứ phi tưởng phi phi tưởng mà được, nên nói từ lìa dục đạt được.

Hỏi: Ở xứ nào sinh ra lực này?

Đáp: Dựa vào thân của cõi dục, sinh nơi châu Diêm-phù-đề, không phải là phương khác. Dựa vào thân người nam, không phải là thân người nữ.

Hỏi: Trí lực nhận biết tập của pháp nghiệp cùng với trí lực sinh tử có khác biệt gì?

Đáp: Từ thô đến tế là trí lực sinh tử. Từ tế đến thô là trí lực nhận biết tập của pháp nghiệp. Như thô, tế, nhân quả hiện thấy không hiện thấy nên biết cũng như thế.

Đã nói về lực, vô úy, nay sẽ nói về bậc Chánh đẳng Chánh giác có bốn vô sở úy, cho đến nói rộng.

Hỏi: Thể tánh của vô úy là gì?

Đáp: Thể tánh của vô úy là tuệ thân. Lực thứ nhất là vô úy thứ nhất. Lực thứ mười là vô úy thứ hai. Lực thứ hai là vô úy thứ ba. Lực thứ bảy là vô úy thứ tư. Mỗi mỗi lực gồm thâu bốn vô úy. Mỗi mỗi vô úy gồm thâu mười lực, tức có bốn mươi lực, bốn mươi vô úy.

Vì Đức Phật lược nói: Ta thành tựu mười lực, bốn vô sở úy, nói rộng là thành tựu bốn mươi lực, bốn mươi vô úy.

Đã nói về thể tánh của lực, vô úy, về lý do nay sẽ nói:

Hỏi: Những gì là nghĩa của vô úy?

Đáp: Nghĩa không thể làm lay động là nghĩa của vô úy. Nghĩa dũng mãnh là nghĩa của vô úy. Nghĩa không khiếp nhược là nghĩa vô úy. Nghĩa an ổn, nghĩa thanh tịnh, nghĩa thuần bạch là nghĩa của vô úy.

Hỏi: Lực tức là vô úy hay là khác với vô úy?

Đáp: Các lực tức là các vô úy, như trước đã nói. Lực thứ nhất tức vô úy thứ nhất, cho đến nói rộng.

Hỏi: Nếu như vậy thì lực cùng với vô úy có gì khác biệt?

Đáp: Không có khác biệt. Như nói vô úy tức là lực, lực tức là vô úy.

Lại có thuyết nói: Tên gọi tức khác. Vì sao? Vì tên gọi đây là lực, kia là vô úy.

Lại có thuyết cho: An lập đầu tiên là lực. Đã an lập không động là vô úy.

Lại nữa, có vững chắc, mạnh mẽ là lực. Dũng mãnh, quyết định là vô úy.

Lại nữa, không bị người khác khuất phục là lực. Không khiếp nhược là vô úy.

Lại nữa, trí là lực. Biện tài là vô úy.

Lại nữa, nhân là lực. Quả là vô úy.

Lại nữa, không bị người khác che lấp là lực. Có thể che lấp người khác là vô úy.

Lại nữa, tự tạo lợi ích là lực. Tạo lợi ích cho người khác là vô úy. Lợi mình, lợi người khác cũng thế.

Lại nữa, tự giác là lực. Vì người khác giảng nói là vô úy. Tích tập là lực. Thọ dụng là vô úy. Nghĩa thọ nhận của cải là lực. Nghĩa phân chia của cải là vô úy.

Lại nữa, biết phương thuốc là lực. Chữa trị bệnh cho người khác là vô úy.

Lại nữa, pháp nghĩa vô ngại là lực. Từ lạc thuyết vô ngại là vô úy.

Lại nữa, khen cầu pháp nghĩa vô ngại là lực. Khen cầu từ lạc thuyết vô ngại là vô úy. Các phân biệt khác như trong phần lực đã nói.

Như nói: Như Lai có đại bi.

Hỏi: Thể tánh của đại bi là gì?

Đáp: Thể tánh của đại bi là tuệ.

Lại có thuyết nói: Là tỏa chiếu.

Lời bình: Không nên lập ra thuyết này. Như thuyết trước là đúng.

Nên biết, đại bi tức là lực thị xứ phi xứ.

Về địa: Là địa của thiền thứ tư. Ngoài ra, phân biệt nên theo tướng mà nói.

Hỏi: Vì sao trong đây chỉ nói lực, vô úy, đại bi, không nói ba niệm xứ?

Đáp: Vì ba thứ này ở trong phần thuyết pháp là hơn hẳn, còn ba niệm xứ thì không như thế. Nói lực tức hiện rõ về nghĩa của chính mình. Nói vô úy tức hiện bày nghĩa phá trừ, chế phục người khác. Đại bi thì sinh tâm muốn giảng nói pháp. Ba niệm xứ thì không như thế nên không nói.

Như Lai cũng nói thành tựu bảy pháp. Bảy pháp kia nên biết tức là lực thị xứ phi xứ. Như Lai nếu còn có pháp bất cộng khác, nên biết đều là lực thị xứ phi xứ.

Hỏi: Bảy pháp này có bao nhiêu thứ là tánh của trí?

Đáp: Biết pháp, biết lượng, biết chúng, đây là một đẳng trí. Biết nghĩa, tức là các thuyết đều nói. Niết-bàn là đệ nhất nghĩa, là tánh của sáu trí, trừ khổ trí, tập trí, tha tâm trí và đạo trí. Nhiều vị lập ra thuyết này: Tất cả pháp là đệ nhất nghĩa, là tánh của mười trí. Biết thời, biết người là tánh của chín trí, trừ diệt trí. Tự biết là tánh của tám trí, trừ diệt trí, tha tâm trí.

Tôn giả Bà-dĩ nói: Tự biết là tánh của bốn trí, nghĩa là pháp trí, tỷ trí, đạo trí, đẳng trí.

Lời bình: Các thuyết đã nói như thế có thể có lý này. Song về nghĩa của bảy pháp do kinh kia đã nói là một đẳng trí. Đức Như Lai có tam muội của năm Thánh trí. Đây cũng là lực thị xứ phi xứ. Năm trí đó là pháp trí, tỷ trí, đạo trí, tận trí và vô sinh trí.

HẾT – QUYỂN 16