long cung chung

long cung chung

龍宮鐘 ( 龍long 宮cung 鐘chung )

Phật Học Đại Từ Điển

NGHĨA TIẾNG HÁN

 (傳說)祖庭事苑四曰:「感通傳云:西國修多羅院有一石鐘,形如吳樣,色如青碧玉,可受十斛。鼻上有三十三天像,四面以金銀隱。東西兩面有寶珠,大如五升。一角分耀,狀如華形。周匝作十方諸佛初成道像。至日出時,鐘上有諸化佛,說十二部經。舍衛城童男童女,悉來聽之,聞法證聖。犯欲者不聞法,摩尼大將以金剛杵擊之。百億世界中聞聲,於光明中,悉聞百千釋迦佛說修多羅經。此鐘是拘留秦佛所造。彼佛滅度後,娑竭龍王收去。至釋迦佛興,復將來。至佛滅度,鐘先唱言:卻後三月,當般涅槃。鐘鼻諸天,聞皆涕泣,龍復將去。」

NGHĨA HÁN VIỆT

  ( 傳truyền 說thuyết ) 祖tổ 庭đình 事sự 苑uyển 四tứ 曰viết : 「 感cảm 通thông 傳truyền 云vân : 西tây 國quốc 修Tu 多Đa 羅La 院viện 有hữu 一nhất 石thạch 鐘chung , 形hình 如như 吳ngô 樣 , 色sắc 如như 青thanh 碧bích 玉ngọc , 可khả 受thọ 十thập 斛hộc 。 鼻tị 上thượng 有hữu 三Tam 十Thập 三Tam 天Thiên 。 像tượng , 四tứ 面diện 以dĩ 金kim 銀ngân 隱ẩn 。 東đông 西tây 兩lưỡng 面diện 有hữu 寶bảo 珠châu , 大đại 如như 五ngũ 升thăng 。 一nhất 角giác 分phần 耀diệu , 狀trạng 如như 華hoa 形hình 。 周chu 匝táp 作tác 十thập 方phương 諸chư 佛Phật 。 初sơ 成thành 道Đạo 像tượng 。 至chí 日nhật 出xuất 時thời , 鐘chung 上thượng 有hữu 諸chư 化hóa 佛Phật 。 說thuyết 十Thập 二Nhị 部Bộ 經Kinh 。 舍Xá 衛Vệ 城Thành 童đồng 男nam 童đồng 女nữ 。 悉tất 來lai 聽thính 之chi 聞văn 法Pháp 證chứng 聖thánh 。 犯phạm 欲dục 者giả 不bất 聞văn 法Pháp 。 摩ma 尼ni 大đại 將tướng 以dĩ 金kim 剛cang 杵xử 擊kích 之chi 。 百bách 億ức 世thế 界giới 中trung 聞văn 聲thanh 於ư 光quang 明minh 中trung 。 悉tất 聞văn 百bách 千thiên 。 釋Thích 迦Ca 佛Phật 說thuyết 修Tu 多Đa 羅La 經kinh 。 此thử 鐘chung 是thị 拘câu 留lưu 秦tần 佛Phật 所sở 造tạo 。 彼bỉ 佛Phật 滅diệt 度độ 後hậu 。 娑sa 竭kiệt 龍long 王vương 收thu 去khứ 。 至chí 釋Thích 迦Ca 佛Phật 興hưng , 復phục 將tương 來lai 。 至chí 佛Phật 滅diệt 度độ , 鐘chung 先tiên 唱xướng 言ngôn 卻khước 後hậu 三tam 月nguyệt 。 當đương 般Bát 涅Niết 槃Bàn 。 鐘chung 鼻tị 諸chư 天thiên , 聞văn 皆giai 涕thế 泣khấp , 龍long 復phục 將tương 去khứ 。 」 。

Nam mô A Di Đà Phật

Chốn cũ chân-như lắm nẻo về,
Đường tuy khác lối vẫn đồng quê.
Trong Thiền có Tịnh trời Lư-lảnh,
Nơi Tịnh gồm Thiền nước Động-Khê
Tiến bước nguồn-tâm ngời tuyệt sáng,
Quay nhìn bể-tục ngát hương thề.
Bao giờ học kẻ cười hoa được,
Đem ý sen lành rải bến mê.

(HT Thích Thiền Tâm)

Phật Lịch 2563

Chân không pháp tánh như hư không,
Pháp bảo thường trụ khó nghĩ bàn,
Thân con hiện bóng trước pháp bảo,
Nhất tâm như pháp quy mạng lễ.


 
NHẮN THẾ NHÂN

Sanh, già, bệnh, chết khổ vì thân,
Thân có rồi không biết mấy lần!
Hởi khách hồng-trần ai hiểu thấu ‌
Xin vì ta tỏ ít lời phân.
Thế-sự muôn duyên đều giả-dối,
“Nhất-thiết hoàn không” nhắn thế-nhân.
Xưa nay vạn hữu sanh rồi diệt,
SANH DIỆT diệt rồi mới chứng chân.

(HT Thích Hải Quang)

Nông Lịch Kỷ Hợi

LẠC DIỆP THU PHONG

Thu phong thổi rụng lá khô vàng,
Xót cảnh duyên đời mãi hợp tan.
Xanh tươi qua mất thay màu úa,
Xuân-sắc còn đâu lắm ngỡ-ngàng!
Phù-sinh một kiếp mau như thoáng,
Luân-hồi sáu nẻo nghiệp mênh-mang.
A-Di như biết gìn tâm niệm,
Bờ kia giải-thoát quyết sang-ngang.

(HT Thích Hải Quang)

Liên kết mạng xã hội:

Việt Lịch 4898

Nguyện đem công đức này,
Tiêu trừ các túc nghiệp.
Thêm lớn phần phước huệ.
Tròn nên thắng thiện căn.
Bao nhiêu kiếp đao binh,
Nạn tật dịch đói khát.
Tất cả đều tiêu trừ,
Người đều tập lễ nhượng.
Kẻ cúng tiền in bản,
Người đọc tụng lưu thông.
Quyến thuộc đều an lạc,
Tiên vong được siêu thăng.
Gió mưa thường điều thuận,
Nhơn dân hưởng khương ninh.
Pháp giới các hàm thức,
Ðồng chứng đạo vô thượng.

error: