Lời tựa đúc bản kẽm lưu thông sách Tứ Huấn của ông Viên Liễu Phàm

Đạo thánh hiền chỉ có Thành và Minh. Phân ra thánh và cuồng chỉ trong một niệm. Thánh mất niệm thành cuồng, cuồng khắc chế được niệm bèn thành thánh. Để hình dung sự thao túng được – mất thì ví như thuyền chèo ngược nước, chẳng tiến ắt lùi, không thể không gắng sức tu dưỡng, không sanh phóng túng chút nào! Phải biết một chữ Thành chính là chân tâm cả thánh lẫn phàm đều có, giống hệt như nhau, không hai. Một chữ Minh là hàm dưỡng[1] phản tỉnh, là đạo để từ phàm đạt thánh. Trong địa vị phàm phu, trong sanh hoạt thường nhật, vạn cảnh xen lẫn, nếu chẳng quan sát nhận biết sẽ khó tránh khỏi những tình tưởng trái lý nẩy sanh trong chớp mắt. Tưởng ấy đã sanh, chân tâm liền bị ngăn lấp, những việc làm cử chỉ đều đánh mất lẽ trung chánh.

Nếu chẳng một phen dùng công phu thiết thực để khắc chế, trừ khử cho hết sạch thì ngày càng đi xuống, không biết đến đâu là cùng tận. Uổng để cái tâm làm thánh chìm đắm mãi mãi trong phường hạ ngu, chẳng đáng buồn ư? Nhưng làm thánh chẳng khó, chỉ là tự làm sáng Minh Đức. Muốn làm sáng Minh Đức thì phải khởi đầu từ cách vật trí tri. Nếu chẳng thể cực lực cách trừ (trừ bỏ) “món vật” là lòng dục của con người thì chân tri vốn có chắc chắn khó thể triệt để hiển hiện. Muốn cho chân tri hiển hiện thì trong lời lẽ hành vi hằng ngày phải thường khởi giác chiếu, chẳng để cho hết thảy tình tưởng trái lý tạm chớm trong tâm. Thường khiến cho tâm này rỗng sáng thông suốt, như gương đặt trên đài, hễ có cảnh liền hiện bóng, chỉ chiếu cảnh trước gương, chẳng bị cảnh chuyển. Xấu – tốt tự nó, can chi đến ta? Đến chẳng mong ngóng, đi không lưu luyến. Nếu tình tưởng trái lý vừa mới chớm nẩy, liền nghiêm ngặt đối trị, trừ khử cho hết sạch, như đối địch cùng quân giặc, chẳng những không cho chúng xâm lấn lãnh thổ của mình, mà còn chém tướng đoạt cờ, trừ sạch dư đảng.

Về cách cầm quân thì chính mình phải nghiêm ngặt gìn giữ, đừng lười nhác, đừng coi thường. Khắc kỷ, giữ lễ, trọng lòng kính, giữ lòng thành, khí giới phải dùng đến “bốn điều không” của Nhan Tử[2], “ba lượt phản tỉnh”[3] của Tăng Tử, cách “ít lỗi biết sai” của Cừ Bá Ngọc, lại thêm dè dặt, kiêng sợ như đang đi vào vực sâu, như đi trên băng mỏng, thì quân oai lan xa, tặc đảng kinh hãi, sợ bị tàn sát diệt chủng, mong được hưởng hồng ân vỗ về. Do vậy, kéo nhau đầu hàng, quy thuận, chịu giáo hóa, đổi hết tâm trước, dốc lòng tu đức sau. Tướng không ra khỏi nhà, binh không đổ máu, toàn bộ giặc thù đều thành con đỏ, kẻ phản nghịch đều thành dân lành. Trên hành, dưới bắt chước theo, toàn cõi yên bình, chẳng dấy can qua, ngồi hưởng thái bình.

Những điều vừa nói trên đây là do cách vật (trừ khử vật dục) nên trí tri (hiểu thấu suốt). Do trí tri nên tự nhiên sáng tỏ đức sáng, Thành và Minh nhất trí, phàm biến thành thánh. Nếu như căn khí kém hèn, chưa thể đạt được hiệu quả, thì hãy nên bắt chước ông Triệu Duyệt Đạo, ban ngày làm điều gì, tối đến ắt thắp hương tâu cùng Thượng Đế, chuyện gì chẳng dám báo thì chẳng dám làm. Viên Liễu Phàm không làm các điều ác, vâng làm các điều thiện. Mạng do chính ta lập, phước do ta tự cầu, khiến cho tạo hóa chẳng thể chuyên quyền độc đoán. Thọ trì Công Quá Cách, phàm khởi tâm động niệm và ngôn ngữ, hành vi, thiện – ác mảy may đều nhớ, để mong thiện ngày một tăng, ác ngày một giảm. Thoạt đầu thì thiện – ác xen tạp, lâu dần sẽ chỉ có thiện không ác. Vì thế, có thể chuyển vô phước thành có phước, chuyển yểu thọ thành trường thọ, chuyển không con cháu thành đông con cháu. Hiện đời đã dự vào hạng thánh hiền; báo hết, cao đăng cõi Cực Lạc. Hạnh làm khuôn mẫu cho đời, lời lẽ làm pháp tắc cho đời. Người ta là trượng phu, ta cũng là trượng phu; sao lại tự khinh, đành chịu thua kém?

Nếu có kẻ hỏi:

– “Cách vật” là cùng tận cái lý của sự vật trong thiên hạ. “Trí tri” chính là thúc đẩy tri thức của chúng ta đến tột bậc, sao cho mỗi mỗi đều hiểu rõ. Sao lại coi lòng ham muốn của con người là vật, coi chân tri là tri, coi khắc phục, đối trị không cho vật dục hiển hiện là cách trí vậy?

Đáp:

– Thành và Minh Đức đều là ước theo bản thể của tự tâm mà nói. Danh tuy có hai, vốn chỉ là một. [Nói] Tri và ý tâm là gộp chung Thể và Dụng của tự tâm để nói. Chứ thật ra, cả ba điều này đều là một. Cách, trí, thành, chánh, minh (ở đây chỉ “minh” trong “minh Minh Đức” và “minh” trong “thành minh”), năm thứ này đều ước trên phương diện dứt lòng tà, giữ lòng thành, phản vọng quy chân mà nói. Trong công phu kiểm điểm, phản tỉnh, quán sát, tu tập thì Minh là cương lãnh chung, Cách Trí, Thành, Chánh là những mục riêng vậy. Tu thân, chánh tâm, thành ý, trí tri do vậy đều là “minh Minh Đức” (làm sáng tỏ đức sáng). Nếu chân tri sẵn có nơi tự tâm bị vật dục che lấp thì ý chẳng thành, tâm chẳng chánh! Nếu có thể trừ khử được thì gió huệ quét sạch mây chướng, tâm nguyệt riêng sáng vằng vặc giữa trời. Đây chính là thánh nhân dạy cho con người thứ tự quyết định từ lan man hướng đến thiết thực, từ sơ đến thân vậy!

Nếu phải hiểu cùng tận cái lý của sự vật trong thiên hạ khiến cho tri thức nơi tâm ta đã rõ thấu hết cả rồi mới có thể thành ý thì chỉ những người đọc rộng các sách, đi khắp thiên hạ mới có thể thành ý chánh tâm để làm sáng tỏ Minh Đức! Những người chưa thể đọc rộng các sách, đi khắp mọi nơi, dẫu có thiên tư thuần hậu cũng chẳng có phần nơi chánh tâm thành ý, huống gì những kẻ kém cỏi hơn họ ư? Có đạo lý ấy hay chăng? Nhưng hết thảy những người chẳng hiểu sâu xa tận cùng lý và những ai vô tri vô thức nếu nghe đến lý tánh đa số đều đề cao thánh cảnh, riêng mình cam phận phàm ngu, chẳng chịu mạnh mẽ gắng sức theo đuổi tu tập. Nếu nói đến nhân quả ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai, dù thiện hay ác đều có quả báo, ắt là họ sẽ sợ ác quả mà đoạn ác nhân, tu thiện nhân để cầu thiện quả. Thiện – ác chẳng ngoài ba thứ thân – khẩu – ý. Đã biết nhân quả sẽ tự giữ gìn thân – khẩu, rửa tâm gột ý, dù ở trong nhà tối phòng kín vẫn thường như đối trước Thượng Đế, chư thiên, chẳng dám manh nha chút tâm tà vạy để phải chuốc lấy tội lệ! Đấy chính là đại pháp đức Thế Tôn dùng để dạy cho khắp hết thảy thượng trung hạ căn trí tri thành ý chánh tâm tu thân. Nhưng kẻ cuồng sợ bị bó buộc, cho là chấp tướng; kẻ ngu giấu diếm sự đáng hổ thẹn, trá ngụy của chính mình nên bảo là mờ mịt. Trừ hai loại người ấy ra, có ai không tin nhận chuyện này? Do vậy, ngài Mộng Đông nói: “Người khéo bàn tâm tánh, ắt chẳng lìa bỏ nhân quả. Tin sâu nhân quả rốt cuộc sẽ hiểu rõ tâm tánh”. Lý này thế tất nhiên như vậy.

Phải biết: Từ địa vị phàm phu cho đến khi viên chứng Phật quả đều chẳng ra ngoài nhân quả. Kẻ nào chẳng tin nhân quả đều là hạng người tự vứt bỏ thiện nhân thiện quả, thường tạo nhân ác, ắt thường thọ quả ác, trải trần điểm kiếp[4], luân chuyển trong ác đạo, không cách gì thoát ra, buồn thay! Thánh hiền ngàn lời vạn lẽ, không gì chẳng nhằm làm cho con người phản tỉnh, khắc chế ý niệm, ngõ hầu Minh Đức sẵn có trong tâm chúng ta chẳng đến nỗi bị vùi lấp, đích thân được thụ dụng. Chỉ vì con người không biết nhân quả nên thường hay buông lung càn rỡ, dù suốt đời đọc sách vẫn chỉ là học từ chương, chẳng quyết ý mong thành thánh thành hiền. Do vậy, ở ngay trước mặt mà bỏ lỡ! Bốn thiên sách dạy con của tiên sinh Viên Liễu Phàm văn lẫn lý đều thông suốt, mở rộng tâm mắt con người. Đọc đến có niềm vui lâng lâng, có khuynh hướng muốn học theo, quả thật là khuôn mẫu tốt lành để yên đời vậy. Cư sĩ Châu Quần Tranh ở Vĩnh Gia bội phục sách ấy đến cùng cực, mong Thương Vụ Ấn Thư Quán ở Thượng Hải đúc bản kẽm để làm của chung cho những người cùng chí hướng. Lại ấn tống bao nhiêu đó để kết pháp duyên, xin tôi viết lời tựa. Nhân đấy, tôi bèn tóm tắt ý “khắc kỷ, giữ lễ, dứt lòng tà, giữ lòng thành của thánh hiền” cho xong trách nhiệm vậy.

***

[1] Nguyên văn là “tồn dưỡng”, ngụ ý tu dưỡng, kiềm chế vọng niệm, huân tập thiện niệm, thiện tâm.

[2] Nhan Tử tức Nhan Hồi (Nhan Uyên), một người học trò nổi tiếng của Khổng Tử. Theo sách Luận Ngữ, Nhan Uyên hỏi Khổng Tử thế nào là khắc kỷ giữ lễ, Khổng Tử đáp: “Phi lễ vật thị, phi lễ vật thính, phi lễ vật ngôn, phi lễ vật động” (phi lễ thì không ngó, phi lễ thì không nghe, phi lễ thì không nói, phi lễ thì không làm). Bốn điều này về sau thường gọi là “Nhan Tử tứ vật” (bốn điều không của Nhan Uyên).

[3] Tăng Tử tên là Sâm, tự Tử Dư, là người học trò khác của Khổng Tử. Theo sách Luận Ngữ, ông thờ mẹ chí hiếu, mỗi ngày thường tự ba lần phản tỉnh để xét lỗi mình. Tuy tư chất không thông duệ bằng những học trò khác, ông được coi là người thực sự nắm được đạo trung thứ của Khổng Tử.

[4] Trần điểm kiếp: Số kiếp nhiều như vi trần.

Print Friendly, PDF & Email