LĂNG NGHIÊM ẢNH HIỆN
(Tiểu luận về Kinh Thủ Lăng Nghiêm Vương)
Tịnh Liên Nghiêm Xuân Hồng

 

Tôi mạo muội viết tập tiểu-luận này để góp ý cùng gợi ý, và cũng để kết cơ-duyên với những bạn đang muốn phát tâm đọc tụng kinh Kinh Thủ Lăng Nghiêm Vương, hoặc đã phát tâm đọc tụng nhưng còn thao thức về ý nghĩa u-huyền ẩn mật của Kinh. Để cùng nhau tìm một lối lý giải có thể hiểu được, vì thời đại ngày nay là thời đại lý giải.

Lâu đài giáo lý mà Chư Phật Thế Tôn đã xiển minh là một tòa Diệu-Trang-Nghiêm-Vương-Các, mà xưa kia, ki ngài Thiện tài đồng tử đến vấn Đạo ngài Di Lặc Đại Bồ tát, đã được nhìn thấy sự BIẾN HIỆN của mọi ảnh tượng chập chùng….Do đó, tâm thức trở thành vi-tế nhỏ nhiệm, tâm nhãn của Đệ bát thức được hé mở, và thể nhập được pháp giới…Tòa Diệu-trang-nghiêm-vương-Các ấy chẳng phải là vật gì xa lạ,cũng chẳng được xây dựng bằng một Vật gì hết, nó chính là Pháp-giới-Hoa-tạng-Tỳ-lô này, và chỉ được dệt nên bởi vô vàn những TÂM NIỆM từ vô thủy của mỗi tâm chúng sanh, DỆT nên bởi những ÁNH BIẾN HIỆN của tâm đó. Đồng thời, cũng được an lập bởi những thiên-la-võng quang-minh vô cấu của thần-lực-hải cùng nguyện-lực-hải của Chư Phật cùng Đại Bồ tát…Khoa Vật lý học cực vi ngày nay đã bắt đầu nhận thấy rằng những cái mà họ gọi là Cực-vi ấy, chúng hình như chẳng có vẻ gì là lượng-tử hết, chẳng có vẻ gì là Vật, chúng thường biến ảo chập chùng, và có vẻ giống như những ba-động-quang-minh, giống như những ánh-biến-hiện của quang minh trong cái màn-vũ-diệu vô cùng vô tận của mọi thứ thiên-la-võng quang minh…Và những quang minh ấy thì từ đâu mà lưu xuất?…Chúng đều lưu xuất từ những tâm-thức đầy tình nhiễm cùng vọng tưởng của chúng sanh, cũng như lưu xuất từ cái Diệu tâm vô cấu của Chư Phật cùng Bồ tát.

Cho nên, Pháp giới Diệu trang nghiêm này bắt rễ và nở ra ở nơi Lý Duy tâm sở hiện….Đó là Chân lý tối thượng, và Chư Phật Thế tôn xuất hiện nơi đời nhiều như vi trần, cũng chỉ là cốt nhắc nhở chúng sanh về cái Thông-điệp vi mật ấy…Trong pháp hội Lăng già, Phật thường chỉ nhắc đi nhắc lại điểm đó, và cũng nhắc đi nhắc lại về cái diễn trình của Tâm chuyển thành Thức. Và trong pháp hội Lăng nghiêm, thì về sau cùng, Phật đã giảng lại kỹ càng cho ngài A nan nghe về sự biến hiện của cái Thức đó: biến hiện thành vọng-tưởng KIÊN CỐ tức là Sắc ấm thô kệch, thành vọng tưởng HƯ MINH tức là Thọ ấm lung chừng nửa tâm nửa vật và đi sát với Sắc ấm, thành vọng tưởng DUNG THÔNG tức là Tưởng ấm có khả năng thẩm thấu cả bên trong lẫn bên ngoài, thành vọng tưởng U ẨN tức là Hành ấm nó chính là cái Sức hiện hành của chủng tử nghiệp lực khiến cho các ấm đều trôi-lăn-lưu-chuyển tương-tợ-tương-tục, thành vọng tưởng HƯ VÔ VI TẾ tức là Thức ấm của Đệ bát thức sơ-năng-biến tức là cỗi nguồn của pháp giới huyễn hiện hư vọng…Cho nên, có thể nói rằng Phật pháp thâu gồm các pháp thế gian cùng xuất thế gian, siêu vượt mọi chân lý, siêu vượt nền vật lý học cực vi cùng khoa phân tâm học hiện đại đương muốn thăm dò Tiềm thức cùng Vô thức.

Chân lý Duy tâm sở hiện thường được cô đọng trong câu: Tam giới duy tâmvạn pháp duy thức.

Từ cái Biển Diệu tâm Biến hiện ấy, lưu xuất ra những giòng giáo lý để triển khai ý nghĩa vi mật…Lưu xuất ra giáo lý diệu nghiêm vĩ đại của Hoa Nghiêm, nói về pháp giới Hoa tạng trùng-trùng-huyễn-khởi, trùng-trùng-thẩm-thấu viên dung vô ngại, trùng-trùng-biến-ảo, vì đều là những ánh biến hiện của quang minh, của Tỳ-lô-tánh-hải. Và những bài kệ nhiều như sao sa của Hoa nghiêm thường chỉ là tán thán Lý Duy tâm sở hiện cùng tán thán diệu dụng của quang minh…Lưu xuất ra hệ thống Bát nhã với giáo lý Tánh Không cùng lối nhìn Như-huyễn và nguồn Thiền quán chiếu Như-huyễn. và Kinh Lăng Nghiêm cũng chỉ là nhằm giảng dạy về pháp môn quán chiếu Như-huyễn…. Lưu xuất ra hệ thống Duy thức giảng dạy về lịch trình biến hiện của Thức thành các thứ pháp tướng… Lưu xuất ra từ nguồn Tịnh cùng pháp môn Vãng sanh Tịnh độ, dùng câu niệm Phật và nương vào thần lực của Đức A Di Đà để huân tập cùng thanh tịnh hóa những quang minh của đệ bát thức, để đưa tâm thức chúng sanh từ nơi bình diện ý thức lọt được vào Đệ bát thức tứa A lại da thức. Vào được đến đó rồi, thì sẽ thấy rằng Đức A Di Đà tánh cùng Đức A Di Đà Tây phương cũng chỉ là một, và sự vãng sanh của hành giả cũng chỉ là một tuồng biến hiện của những quang minh của A lại da thức của chính hành giả…Lưu xuất ra hệ thống Mật tông, tức là Tự môndùng sức quán chiếu cùng nương vào thần lực của những nguyên-ngôn hay mật-ngôn. Những mật ngôn này đều lưu xuất từ Chân như, từ Diệu tâm vô niệm, nên cũng tương tự như những ba-động quang minh có đủ thần lực để chuyển vật, để tạo vật, và đưa hành giả trở về chứng nhập Diệu tâmKinh Lăng Nghiêm vừa đứng ở nguồn Thiền quán chiếu Như-huyễn lại vừa đứng ở hệ thống Tự môn của Mật tông, vì Kinh dạy rằng: Chư Như Lai thường nương vào thần chú Đại Phật đảnh để thành tựu đạo quả vô thượng. Do vị trí ấy, nên tầm mức của Kinh cực kỳ quan trọng. Và cũng bởi thế, nên nhiều vị thiền sư cũng như phái Thiền Trúc Lâm xưa kia củ Việt Nam thường siêng năng trì tụng chú Thủ Lăng Nghiêm.

Nói tóm lại, thì chân lý Duy tâm sở hiện cùng giáo lý Như-huyễn thường bang bạc và bao trùm các Kinh Đại thừaKinh Hoa Nghiêm diễn nói về Hoa tạng Tỳ lô Như-huyễn và Bất khả-thuyết…Kinh Kim Cang cùng Đại Bát Nhã diễn nói về Mộng-ảo-bào-ảnh-lộ-diễn Như-huyễn, để đưa hành giả tới Kim cang tam muội…Kinh Duy ma và Viên giác cũng diễn nói Như-huyễn…Luận Đại thừa Khởi tín cũng sạy quán chiếu Sanh-diệt-môn Như-huyễn để chứng nhập Chân như tam muội…Còn Kinh Lăng Nghiêm thì dạy lối quán chiếu Huyễn-khởi-trùng-trùng-tương-ưng để nhập Như-huyễn tam ma đề, tức Định Thủ Lăng Nghiêm.

Theo Kinh Đại bát nhã cùng Đại Bát niết bàn, thì Kim cang tam muội và Chân như tam muội và Như-huyễn tam muội và Thủ Lăng Nghiêm tam muội chỉ là một…Về Định này, thì các Đại Bồ tát từ Đệ-thập-địa trở lên mới có thể chứng nhập gần như trọn vẹn. Nhập được định này rồi, thì có thể biết được hết các hành-xứ của các tam muội khác, và có thể chuyển tam muội một cách rất mau lẹ thần kỳ…Vì sao vậy? Có lẽ là vì những quang minh tâm thức của các bậc Đại Bồ tát, do sức quán chiếu thâm sâu, đã trở thành tột bực vi-tế rồi, gần như vô tướng mạo, vô hình vô ảnh, nên có thể thay đổi nhịp điệu rung chuyển một cách mau lẹ dễ dàng. Tuyệt kỹ thần kỳ của các Đại Bồ tát trong việc chuyển liên miên từ tam muội này sang tam muội khác, trong kinh gọi là Sư tử Phấn tấn, vì cũng lanh lẹ dễ dàng oai nghiêm như những oai nghi tiến thoái của Sư tử Chúa vậy…Đồng thời với đại định Thủ Lăng Nghiêm, Kinh Đại Bát Nhã cũng nhắc đến Tịnh-quang-tam-muội, vì ở tam muội này, hành giả có thể gột sạch những cấu-uế trong quang minh tâm thức, để trở thành vô cấu, và càng vô cấu bao nhiêu, lại càng lẹ làng ứng-hiện bấy nhiêu….

Cho nên, Tâm của chúng ta cũng như Tâm của Chư Phật, quả thực sự là một Đại-Ảo-sư, còn cái thân chúng ta, ù lỳ, bất tịnh và bịnh hoạn chỉ là một đại-ảo-thành mà thôi.

* * *

Diễn giải về giáo lý nhà Phật, là một việc khó khăn hơn những việc khác. Vì sao?…Chỉ là cần phải diễn nói từ cái vô hình, vô tướng mạo chuyển sang những cái có hình tướng, có tướng mạo, rồi lại phải chuyển từ những cái này để trở về cái vô tướng mạo kia. Diễn nói về cái diễn-trình từ Tâm chuyển thành Thức, rồi lại chuyển thành những tâm-sở thuộc Thọ Tưởng Hành ấm, rồi chuyển thành những sắc tướng thô kệch thuộc Sắc ấm. Rồi lại từ những ấm đó, quán chiếu Như-huyễn để trở về nơi biển Diệu tâm.

Chúng ta từ thời vô thủytrải qua vô lượng kiếp, thường chỉ quen trụ cái tâm mình, cái nhận thức của mình, ở một bình diện quá thô kệch, ở ý thức, ở Sắc-Thọ-Tưởng ấm và một chút Hành ấm, ở kích-độ của những sự vật thông thường cùng với sự suy nghĩ phân biệt nhị biên, cộng với một ít ý-chí để thi vi tạo tác, nên thường bám chặt vào những cái sanh-diệt và có hình tướng ấy để trôi-lăn-lưu-chuyển. Tập khí tức tập-quán nhận thức và sinh hoạt ấy, đã bắt rễ quá sâu vào tâm thức chúng ta khiến quên lãng hẳn cái VÔ TƯỚNG MẠO, quên rằng chính cái Vô tướng mạo ấy, cái thường hằng ấy mới thực là cỗi nguồn của pháp giới cùng thân tâm ta…Nên khi đọc kinh sách thấy nhắc nhở đến việc lìa tướng để trở về chứng nhập cái biển Vô tướng mạo, thì đa số chúng ta đều ngớ người ra, và sa vào hố kinh nghi… Do những tập khí huân tập ấy, nên ta thường phân chia cách biệt TÂM và VẬT, cách biệt gần như tuyệt đối. Không hiểu rằng hai cái đó chỉ là những ý-niệm dựng lập nên bởi nhận thức của chúng sanh, ý-niệm giả lập, và chỉ là hai khía cạnh phát hiện hay huyễn hiện của Thực tại…Hai cái đó vốn thường bàng bạc chập chùng thường thẩm thấu lẫn nhau, cái nọ chuyển thành cái kia và ngược lại. Và không có một giây phút nào, một sát na nào, mà sự chuyển hóa mênh mang vô cùng tận ấy không liên miên tiếp diễnTỷ dụ như khi ta nghĩ tới quả mơ chua, thì nước miếng ứa ra: đó là tâm tưởng chuyển thành Vật. Cây cỏ mọc, thân xác lớn lên theo từng sát na,…cũng một phần là Tâm chuyển thành Vật….Và cũng không có một sát na nào, mà không có hàng loạt vô lượng những lượng-tử cực vi chuyển hình TAN BIẾN vào một bình diện vô hình tướng hơn, để trở về với biển Vô tướng mạo của Chân không, như ngày nay nền vật lý học cực vi đã bắt đầu nhận thấy (tỷ dụ như trường hợp hạt tử Neutrino hay là energy missing chẳng hạn…) Cho nên, Phật tử chúng ta cần nhớ lại lời dạy của Kinh Lăng Nghiêm, và hiểu rằng Vật chỉ là Tâm thô kệch, do những tâm tưởng thô kệch, do những vọng-tưởng kiên-cố từ vô thủy kết đọng lại và dệt nên mà thôi. Còn tâm tưởng thì lại là những sắc-tướng vi-tế, những vô-biểu-sắc, mà giác quan chúng ta không tế nhận nổi. Khi nào có thiên nhãn thông hoặc tha-tâm-thông thì sẽ thấy. Do đó, nên ngài Di lặc dạy: “Trong 1 đờn chỉ, có 32 ngàn ức niệmmỗi niệm là một hình-tướng. Nếu người nào có thể bớt đi 1 niệm thực thì tức là bớt đi 1 hình tướng, và đối với người đó, có thể hẹn ngày thanh tịnh được…”

Đi vào Kinh Lăng Nghiêm dĩ nhiên là một cuộc hành trình gian khổ khó khăn. Nhưng vẫn phải đi vào, vì đó là kho tang châu báu bí-tạng của Chư Phật. Nếu không lặn lội đi vào, thì thực là uổng một kiếp túc duyên gặp gỡ, vì Lăng Nghiêm là bộ kinh kỳ-bí nhất…

– Phật giảng kinh này cho những bậc Thanh văn cao để chuyển vào biển Tâm của Đại thừa…Những bậc này đã quá quen thuộc với thiền quán, quen quán nhân-duyên, quán về giới-phân-biệt, quen những dữ-kiện về Duy thức học…nên dễ dàng nhận định về 5 ấm, về 7 đại, về Kiến đại và Thức đại, cũng như nhận định về Căn-Trần-Thức…Trong khi chúng ta thường là kẻ phàm phu ngu giả¸chưa quen phân biệt giữa Thức với Căn chẳng hạn, nên đều bỡ ngỡ trước những danh từ cùng dữ-kiện đó.

– Lối giảng dạy của kinh Đại thừa bao giờ cũng ẩn mật, nửa ẨN nửa HIỆN. Phật thường chỉ bộc lộ và chỉ dẫn 1 phần, còn 1 phần là do chúng ta phải bì bõm tư duy lấy để hiểu.

– Trong kinh và nhất là trong đoạn Thâu 5 ấm, 7 đại và 18 giới Căn-Trần-Thức về Tâm, Phật thường dùng lối Luận lý Phủ định Trung quán để vô-lý-hóa hết thảy mọi ý-niệm luận thuyết của thế gian và ngoại đạo, và đã phá những kiến chấp mà chúng ta thường mắc phải: kiến chấp về Ngã, về Thường còn, hoặc ta kiến chấp rằng có vật này sanh ra vật kia…Lối luận lý này cốt nhằm chứng minh rằng: mọi vật, mọi hiện tượng, mọi pháp đều chẳng phải là Tự mình sanh ra mình, cũng chẳng phải là từ Cái-khác sanh ra, cũng chẳng phải là Mình cộng với hoặc hòa hợp với Cái-khác mà sanh ra, cũng chẳng phải là Tự nhiên hay Ngẫu nhiên mà sanh ra.

Là vì sao?

Là vì tất cả các pháp đều nằm trong cái Vòng-nhân-duyên-tương-duyên-tuyên-sanh, và chính cái vòng đó cũng chỉ là HUYỄN HIỆN TƯƠNG ƯNG…Huyễn hiện của Thức tâm, và đều từ cái Biển Diệu tâm mà lưu xuất ra.

Bởi thế nên khó vào.

– Ngoài ra, sự phân biệt nhận định giữa Kiến đại và Thức đại cũng khá khó khăn. Kiến đại tức Cái Thấy-nghe-hay-biết, hồn nhiên và không nhiễm vọng tình nên dễ đứng lặng như nước hồ thu, là con đường để trở về Diệu tâm, là con đường mà ngài Đại thế Chí đã dùng để trở về Diệu tâm hay Đức A Di Đà. Trong khi thức đại lại là con đường đi vào Vọng tưởng, vào khởi vọng, vào vọng tình nên luôn luôn giao động lao xao như ngọn gió lùa vào những cụm lá rừng thông…Thế mà đôi khi, hai cái đó có vẻ hình như giống nhau. Nên khó phân biệt.

Căn-trần-thức cũng vậy, gắn bó đắm nhiễm với nhau, nên khó phân biệt.

Lại nữa, Thức vốn là một cái gì Năng Biến, tức là hay biến hiện. Và sự biến hiện của nó lại hình như có mấy lớp vọng-hóa, từ tế đến thô….Vì phải nắm bắt mấy thứ vô hình tướng ấy, nên người đọc tụng kinh dễ phân vân lạc lối….

* * *

Thực ra, có lẽ chẳng có mấy ai có thể hiểu được nhiều về Kinh Đại thừa hay Lăng Nghiêm. Chỉ trừ những bậc Đại Bồ tát đã nhập những cơn tam muội lớn, mới nhìn rõ những cảnh giới của lời Kinh.

Phàm phu chúng ta chỉ cầu mong hiểu sơ lược ít nhiều yếu chỉ, để khởi được niềm tín giải. Nhưng khởi được tín giải rồi, thì có thể đi vào hạnh nguyện, thì có thể đi vào hạnh nguyện, và dù gió nghiệp có nổi dậy ào ào, cũng vẫn có hy vọng giữ được tín-căn không hoại….Vì Chân lý đã đành rành như vậy rồi, pháp-nhĩ là Như thịnếu không chịu tin thì còn tin vào cái gì đây?!?

Những trang sau đây sẽ cố gắng diễn giải sơ lược, nhưng theo sự hiểu biết của người thời nay, để được dễ hiểu hơn về những điểm ách yếu của Kinh…Diễn giải về cái Biển uyên-nguyên Chân-tâm-diệu-minh. Về sự nổi lên của Vô minh Bất giác, tức là Niệm-mê-mờ-vô-thủy hay là Tự tâm thủ Tự tâm. Do đó, Tâm biến thành Thức. Về cái vòng huyễn-hiện của Thức biến, khiến ảnh-hiện nên những ảnh-tượng về 5 ấm, 7 đại, cùng Căn-trần-thức, về Kiến đại…cùng Thức đại…Về cái bí ẩn của Bộ Ba Căn-Trần-Thức (Misterry of the trinity, tức là chữ Y gồm 3 điểm **trong nhà Phật), và Lẽ Trùng-trùng-Huyễn-khởi-Tương-Ưng…Về con đường Trở về Diệu Tâm của con cá Tích, tức là Nguồn Thiền Quán Chiếu Như Huyễn qua kinh Lăng NghiêmViên Giác và luận Khởi Tín…Về những ma chướng (ngoại ma cùng nội ma) trên con đường trở về….Và về thần lực của chú Đại Phật Đảnhcần thiết để gia trì khiến hành giả lọt vào Tàng thức và gột nổi những phẩm vô minh vi tế cuối cùng và trôi vào Biển giác vô sở đắc….

 

******

TỰA

Phật giáo ngày nay không xa lạ với nhân loại, vì có nhân loại nên có Phật giáo, như bóng với hình vậy. Sự sống hàng ngày của nhân loại như cái bóng của vũ trụ. Mỗi người là cái bóng, nên mỗi người sống với cái bóng của mỗi người. Bóng vui chúng ta vui, bóng buồn chúng ta buồn. Do đó, Phật dạy cho mỗi người “CÁI BIẾT” (Bát chánh đạo) để mà sống – Khôn thì sống, bống thì chết – Về phương diện tâm linh, con người hãy tự giải thoát cho chính mình, không cần quỵ lụy hay cầu xin bất cứ thần linh nào cả. Thiên đàng hay Cực Lạc không phải là nới để chúng ta về hưởng nhàn. Về phương diện siêu hình, đôi khi kẻ Phạm Chí có cật vấn Phật, Phật chỉ mỉm cười hay đôi khi ngồi lặng thinh. Nụ cười của Phật chắc cũng dễ hiểu – vì nếu muốn dùng ngôn ngữ của một thế hệ (100 năm) để diễn đạt những việc trừu tượng trong vô lượng kiếp thì chúng ta không có tiếng để mà nói. Ai cũng biết ông bà nội sinh ra bố chúng ta, cao hơn nữa là cao tằng tỗ, rồi trước cao tằng tỗ là ai? – Chịu. Do đó, Đức Phật Ngài mỉm cười không phải là không có ý nghĩa.Vả lại, Đạo của Ngài không phải là Đạo bàn cải hay lý luận như một số Thắng luận sư đương thời. Đạo của Ngài được đặt trên nền tảng khổ đau giữa sự sống và chết, chứ không phải đặt trên nền tảng lời hay lỗ rồi bàn tính để tìm ra thị trường cho tốt. Lý do, tại sao Ngài đặt nền tảng căn bản giáo lý giữa sự đau khổ và sống chết, là vì có sinh có chết, và sự sống chết ngoài ý muốn của mỗi người. Mình đã không làm chủ được sự sống chết của mình, thì sự bàn cãi của mình chẳng qua là lời nói suông. Do đó Đức Như Lai đã từng nói: “Suốt 45 năm hóa độ chúng sanh, Như Lai chưa nói một lời.” Như thế, Phật tử sẽ đặt nghi vấn – Tam Tạng kinh điển là gì? Ai nói? Nói khi nào? – Để trả lời, hãy xin đọc:

“ Hoa Nghiêm tối sơ tam thất nhật,
A – Hàm thập nhị, Phương Đẵng bát.
Nhị thập nhị tam Bát Nhã đàm,
Pháp Hoa Niết Bàn cộng bát niên.

Theo ý nghĩa bài kệ của ngài Hiền Thủ vừa nêu trên, sau khi giác ngộ, Phật thuyết lý thâm mộ cho hàng thượng thừa nghe. Chúng sanh thấp kém không hiểu được nên Phật thuyết về tội phước báo ứng để độ chúng sanh căn tánh thấp kém đó. Rồi từ thấp Phật hướng dẫn chúng sanh từ từ lên hàng trung thừa. Sự diễn giải này Phật Giáo Nam Tông không chấp nhận. Nói cho rõ hơn, Kinh của Phật giáo Đại Thừa như Kinh Hoa Nghiêm, Bát Nhã, Pháp Hoa….không có trong tam tạng của Phật Giáo Nam Tông. Kinh của Nam Tông gồm có: Dìgha Nikàya, Majjhima Nikàya, Samyutta Nikàya, Anguttar Nikàya và Khuddaka Nikàya. Nếu vậy thì cả kinh điển của Phật Giáo Đại Thừa không phải Phật nói sao? Đến đây xin giở lại trang sử của Phật Giáo lúc khởi nguyên. Theo sử sách của Nam hay Bắc Tông, cũng như các bia đá của vua Ashoka, Gupta và Kanishaka còn giữ lại đến ngày nay đều đồng ý rằng ( Xin đọc quyển History of Indian Vol.II của Maurice Winternitz) thuở Phật còn tại thế, chỉ có một Tăng đoàn duy nhất dưới sự lãnh đạo của Đức Sakya Muni, không có Đại hay Tiểu Thừa, Nam hay Bắc Tông. Tăng đoàn này được duy trì cho đến sau khi Phật nhập niết bàn 100 năm. Đến kỳ kiết tập Kinh điển lần thứ hai tại Vaisali, có sự xung đột mãnh liệt giữa Ngài Yasa, con của ngài Kàkandaka với các hàng chư tăng trẻ tuổi về mười điều giới luật nhỏ nhặt. Rồi từ đấy, Tăng đoàn chia ra hai nhóm. Nhóm trẻ và đông nhất gọi là Đại Chúng Bộ (Mahàsanghika), nhóm thứ hai gồm người già và ít được gọi là Mahàthera. Giáo đoàn từ đấy càng ngày càng đi sâu vào hố chia rẽ… Dĩ nhiên Kinh Luật và Luận của mỗi Tông Phái sắp đặt đều có sự khác nhau. Mỗi học giả của mỗi tông phái lấy ý chính của Phật trong các Kinh Trường A Hàm, Trung A Hàm….(Hai bộ kinh này ngày nay được các nhà học Phật Á cũng như Âu cũng như các nhà Khảo Cổ học cho là tác phẩm của Phật. Những tảng đá có khắc một vài kinh trong bộ Trường A Hàm đã tìm thấy ở thung lung Gilgitt (Pakistan) Bapyam (Afghanistan) Kashmir (India) và Svayambhu (Nepal) – và cộng thêm những truyết thuyết đương thời của Ấn Độ để làm thành những bộ kinh bất hủ của Phật Giáo ngày nay.

Cái hay của Phật Giáo không phải những mớ giáo lý cứng nhắc trong Tam Tạng Kinh điển. Cái hay của Phật Giáo phát xuất từ cái hay nhất của nhân loại theo từng địa phương. Ngày nào nhân loại còn đau khổ, ngày đó lời dạy của Phật còn có giá trị. Nói cho dễ hiểu, chúng sanh cần Phật như cây cỏ bị nắng hạn cần nước. Người vật cây cỏ thiếu nước là chết. Anh thiếu Phật tánh, Anh sẽ vĩnh viển khổ đau. Anh không thích Phật Giáo, anh có thể đốt Phật phá chùa, nhưng lời dạy của Phật làm sao anh từ chối được? Anh ghét nước, anh có thể đổ nước đi hay làm cho nước dơ bẩn, chứ anh không thể nào làm mất phẩm chất của nước được. Cái hay của Phật Giáo là ở chỗ đó. Do đó, người học Phật như con ong hút nhị hoa. Bông nào có mật là ong đến lấy, có lẽ ong chả phân biệt bông ấy tốt hay xấu. Nói như thế để quý vị có sự dung thông về Đại hay Tiểu Thừa Phật Giáo. Thành thật mà nói có nhiều phần giáo lý của Phật Giáo, nhưng không phải từ kim khẩu của Phật nói ra. Chẳng hạn như Thập nhị nhân duyên được ghi trong bộ Trường A Hàm, cùng một kinh Sơ Đại Bổn, nhưng có sự khác biệt giữa Pàli Tạng và Tạng chữ Trung Hoa. Trong Tạng chữ Tàu đủ 12 nhân duyên, nhưng trong Pàli Tạng chỉ có 10 duyên. Pàli thiếu duyên Hành và Si. Phật tử nhớ rằng những duyên này không phải không có trong Kinh Vệ – Đà của Ấn Độ Giáo.

Kinh Thủ Lăng Nghiêm nằm trong hệ thống Phương Đẳng. Trong bộ kinh này, có ba đặc điểm Đức Phật đề cập đến: Chân Không Diệu Hữu, Thiền Quán và Mật Ngôn. Chân Không Diệu Hữu và Thiền Quán, Nam và Bắc Tông luôn đề cập đến, về Mật Tông Pàli Tạng không bao giờ đề cập đến. Nam Tông cho Mật Tông là của ngoại đạo. Đến đây xin để độc giả thẩm định. Trong phạm vi nhỏ hẹp này không cho phép chúng tôi đề cập chi tiết. Điểm hay nhất trong bộ Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Đức Phật cùng Quang Minh diệu hữu để chỉ rõ chân tâm của chúng sanh trong vô lượng kiếp về trước. Nhưng nếu chúng ta không khéo thì dầu có tu trong vô lượng kiếp đi nữa, nghiệp lực hải chưa chắc đoạn tuyệt được. Nhưng theo Phật thì:

“Nhất niệm viên quang tội tánh không
Đẳng đồng pháp giời hằng thanh tịnh”…

Đấy, Phật chúng sanh chỉ khác nhau ở chỗ nhất niệm có viên quang hay không. Pháp giới có mênh mang hay không, hay chỉ là: “ Nhật nguyệt bao hàm giới tử trung”. Chữ “Nhất niệm viên quang” vừa nghe thì nhẹ nhàng ai cũng có thể thực hành được. Nhưng làm thế nào để diệt được nghiệp lực hải? Chính nghiệp lực hải tác tạo nên vũ trụ vạn hữu, sanh tử luân hồi đều do nghiệp lực cả. Vậy nghiệp lực là gì? Dĩ nhiên lực là sức mạnh, nhưng không phải sức mạnh của thể xác hay máy móc, mà là sức mạnh của:

“Thập truyền thập sử tích thành hữu lậu chi nhân
Lục căn lục trần vọng tác vô biên chi tội”

Chẳng hạn như dẫn lực của tình yêu vừa chớm nở, anh ấy sẵn sàng: “Mấy truông anh cũng lội, mấy đèo anh cũng qua.” Mới vừa chớm nở, dẫn lực đã phi thường như thế, huống nữa đã thương nhau trong vô lượng kiếp, dẫn lực mạnh dường nào?…Hơn nữa, dẫn lực theo triết học Ấn Độ giáo có tầm mức rất ư quan trọng. Theo thuyết này, vũ trụ gồm có:

– Vật chất (Akasha)

– Dẩn lực (Prana)

Trong vũ trụ có hàng triệu triệu hình thức khác nhau, nhưng cùng một thể chất. Từ mùi hương thơm cho đến màu sắc do cực vi điện tử (Paramanu) tạo nên. Triết gia hiện đại, S.Vivekananda nói:”Mặt trời mặt trăng và con người là một, không có sự khác biệt.” (Les yogas pratiques trang 402). Akasha tự nhiên không tác tạo ra gì cả, phải có Prana hay dẫn lực để tác tạo nên vũ trụ vạn hữu, và ngay cả tế bào li nhi trong cơ thể của chúng ta nữa. Trong hạt nhân Paramanu, có sự chuyển động như hệ thống mặt trăng và trái đất quay chung quanh mặt trời.

Theo truyết thuyết vừa nêu trên, chúng ta có thể suy luận rằng: Muốn điều khiển Prana ngay chính trong bản thân của chúng ta. Khi điều khiển dẫn lực chính bản thân của chúng ta được, chúng ta trừ được bệnh tật. Tự trừ được bệnh tật của chúng ta, chúng ta có thể trị bệnh cho bất cứ ai. Trường hợp dùng thần lực hải để trị bệnh cho người điên hay bệnh nan y là chính điều khiển Prana này vậy. Người hùng mạnh là người có thần lực mạnh. Bậc vĩ nhân là bậc điều khiển được Prana. Nhà tiên tri là nhà điều khiển được Prana, chứ vị ấy đâu có bùa ngải gì đâu? Đã điều khiển được Prana, quý vị có thể điều khiển được vũ trụ vạn hữu, khi đó quý vị có thể mang mặt trời hay mặt trăng nhét vào hạt cải chả khó khăn gì. Do đó, Đức Quán Thế Âm ngài chỉ dùng: “ Nhứt đích tài triêm thập phương câu tịnh”

Tóm lại, người tu muốn điều khiển Prana phải tu tâm để có thần lực hải để diệt nghiệp lực hải. Muốn tu tâm, xin quý vị đọc cho kỹ bộ Kinh Thủ Nghiêm, Đức Phật đã chỉ rõ thế nào là vọng tâm, thế nào là chân tâm? Và nếu ý nghĩa thâm trầm quá, quý vị không lãnh hội ý nghĩa, xin quý vị đọc Tiểu Luận về Kinh Lăng Nghiêm Vương của Cụ Nghiêm Xuân Hồng. Có lẽ, nghiền ngẫm nhiều năm, nên Cụ diễn đạt một cách rất khéo léo từ cách dùng ngôn từ cho đến cách thâm giải giáo lý Phật Đà. Điểm đặc biệt trong quyển tiểu luận này, Cụ dùng chữ Quang Minh Ảnh Hiện để diễn giải mọi khía cạnh tâm thức thường xảy ra trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta: Như Mộng là gì? Hội ngộ cùng chia ly là gì? Trần là gì? Vật là gì?…. Nghĩa lý rất thâm uyên, nhưng cái khéo léo của Cụ làm độc giả say mê như đọc một mẩu chuyện hay và dễ nhớ hôn là đọc cả bộ Duy Thức Học.

Khoảng 40 năm trở lại đây, thỉnh thoảng có vài bộ Kinh Đại Thừa ra đời bằng tiếng Việt. Đa số những bộ Kinh này là dịch từ Hán Văn ra Việt Văn và có chú thích nhưng cũng chưa đủ để những nhà hâm mộ giáo lý của Phật nghiên cứu. Trong thời gian một hai năm gần đây, Cụ Nghiêm Xuân Hồng, cho ra đời ba quyển sách tương đối nhỏ- Lăng Kính Đại Thừa, Tánh Không và Kinh Kim Cang, và Lăng Nghiêm Ảnh Hiện – tầm mức giáo lý Đại Thừa rất thâm mật. Là nền tảng vững chắc cho những ai muốn đi sâu vào hệ thống Hoa Nghiêm và Bát Nhã thì không thể thờ ơ được.

Tôi xin khen ngợi công đức của cụ, và đồng thời trang trọng giới thiệu đến những Phật tử thích nghiên cứu giáo lý của Phật, nhất là giáo lý Đại thừa. Và hy vọng rằng quyển Lăng Nghiêm Ảnh Hiện sẽ giúp tất cả chúng ta , “xuất phiền não chi thâm uyên” để chúng ta cùng:”đáo Bồ Đề chi bỉ ngạn.”

Chùa Phật Tổ Long Beach
Mùa Vu – Lan 1983
Thượng Tọa Thích Thiện Thanh

 

CHƯƠNG I

MYSTERY CỦA TÂM THỨC: CÁI VÔ TƯỚNG LÀ TỐI QUAN HỆ VÌ LÀ NGUỒN GỐC, CÒN HÌNH TƯỚNG LÀ THỨ YẾU VÌ LÀ BIẾN HIỆN – THUYẾT QUANG MINH CỦA NHÀ PHẬT – THUYẾT SÁT NA – LÝ TƯƠNG SANH TƯƠNG DUYÊN.

Nietzsche xưa kia từng nói: “Cuộc sống chỉ đáng giá khi nó là công cụ cho NHẬN THỨC, cho sự hiểu biết…” (La vie ne qu’en tant que instrument de connaissance).

Vậy thì chúng ta, mang cái xác thân phù du này, cưỡi trên con ngựa Vô thường, rong ruổi dạo chơi giữa cái vũ trụ lúc nào cũng nửa-sanh-nửa-diệt này, ta cần phải HIỂU BIẾT cái gì?

Hiểu biết về computer chăng, về electronics chăng, về bom trung-hoa tử, hay về management cùng business, hay về sự vận hành của thị-trường chứng-khoán New York,… hay về vật lý học cực vi cùng phân-tâm-học, hay là về các trường phái triết học thế gian chăng? Hay là hiểu biết về sự khám phá mặt trăng cùng 1,2 hành tinh lân cận chăng??

Hiểu biết về những cái đó, dĩ nhiên cũng là một điều tốt, vì nó có thể đem lại cho con người ít nhiều quyền năng đối với cái vũ trụ thể-chất này. Nhưng nó cũng là một con dao hai lưỡi, vừa có thể cắt miếng thịt bò để ăn, lại vừa có thể cắt dứt ngón tay của mình được. Cũng tương tự như chiếc dây thừng, vừa có thể cột vật, lại có thể cột mình được…Vì sao? Là vì những cái đó chưa phải là sự hiểu biết rốt ráo, chưa liễu nghĩa. Nó có thể mang lại sự an bình của tâm hồn không, có thể soi sáng cái mystery về thân phận con người, về kiếp sống, về vũ trụ không?…Tỷ dụ như bây giờ, con người có thể đặt chân lên Hỏa tinh và khám phá thêm một vài dữ kiện mới lạ nữa, nhưng rồi sau đó thì sao? Sau đó, thì lại còn vô lượng những hành tinh khác cần phải khám phá vô cùng vô tận, và cái mistery của kiếp sống vũ trụ vẫn thăm thẳm trùng trùng man mác…Sau đó, thì con người có thể khoác thêm một chút ảo ảnh vinh quang nữa, nhưng ảo ảnh ấy cũng sẽ làm bộc phát lòng ngã-mạn và lòng tham tới một mức độ kinh hoàng, rồi loài người tự lao mình vào một cơn mê sảng cực độ của những ngày Tận thế…..

Xét cho kỹ thì sẽ thấy rằng cái mystery của ngàn đời, cả kiếp sống cùng vũ trụ….không phải là mystery của ngoại vật, mà chính là mystery của TÂM THỨCTâm thức của con người hay của chúng sanh. Nếu ta lọt được vào Tâm thức ấy, dùng ngay cái hư-minh le lói của tâm thức để chiếu soi những đáy tầng mịt mùng của Tâm thức, nếu chiếu soi thấy rõ những luồng BA ĐỘNG VẬN HÀNH cực kỳ vi-tế và cực kỳ mau lẹ của những ánh tâm thức ấy, thì ta sẽ hiểu cái mystery u ẩn của tâm thức. Và tự nhiên sẽ hiểu cái bí-ẩn của ngoại vật cùng pháp giới…Đó là con đường nhận thức, tuy gian nan khó khăn, nhưng thẳng tắt. Trong khi con đường của thế gian trí là con đường đi vòng ra phía ngoại vật, nên dài xa và chìm nổi vô tận….Hiểu được tâm thức rồi, thì sẽ hiểu được cội-nguồn-tinh-lực-uyên-nguyên, sẽ chuyển được Vật, tạo được vật, cũng như chuyển được pháp giới.

Xét cho kỹ về những nghành học thế gian, thì cũng sẽ thấy rằng: thần tượng computer chẳng hạn, chẳng qua chỉ là một kỹ thuật để sử dụng một vài thứ cực-vi hay quang minh của Vật, khiến cho computer cũng có một thứ memory của nó. Song những cực-vi này, so với những cực-vi của quang minh Tâm thức, thì còn quá thô kệch. Vả lại, sử dụng những cực-vi của Vật, mà chưa thể hiểu bản thể của vật là gì, thường chỉ mang lại sự hoang mang giao động cho tâm hồn, và chưa thể đem lại sự an bình.

Hiểu biết về thị-trường chứng khoán cũng vậy, chẳng qua cũng chỉ là sự hiểu biết về lề lối vận hành của một cái (tạm coi là vô hình) gọi là lòng tham không đáy của con người, nó luôn luôn bập bềnh chìm nổi. Và sự hiểu biết ấy chỉ có thể giúp ta, nhiều lắm là kiếm thêm một mớ tiền bạc.

Còn như biết về vật-lý-học, thì ngày nay nền vật-lý hiện đương bàng hoàng ngơ ngẩn trước các cực-vi. Nhà vật-lý hiện băn khoăn, không hiểu những cực-vi ấy là thứ quái gì, nó là ba-động (onde) hay là lượng tử? Vả lại, nhiều khi chúng biến ảo chập chùng, có lúc lại tan biến mịt mùng tăm tích, nên họ chưa biết cách nào mà giả thiết hay nắm bắt…Thêm nữa, nhà khoa học cũng là nạn nhân của những kiến-chấp, kiêu hãnh tự coi mình là thuần-lý, khư khư kiến thủ rằng chỉ có Vật là hiện hữu, chỉ biết nghiên cứu những tương quan phương-trình giữa Vật với Vật. Ít khi ngờ rằng Tinh-lực có thể biến thành Vật, và cái Biển tinh-lực uyên-nguyên lại chính là cái Tâm vô hình vô tướng. Và trong cái pháp giới này, Tâm lực liên miên bất tuyệt chuyển hóa thành Vật, còn những cực-vi của Vật cũng liên miên tan biến để trở về Chân-không tức là cái biển Diệu Tâm.

Sự hiểu biết về phân-tâm học cũng rứa, nghĩa là quá thô kệch. Nhà phân-tâm học cũng là một phàm phu tục tử như nhiều người khác, luôn luôn ôm chặt lấy cái ý-thức của mình (tức thức thứ 6) để phân biệt giả thiết lập luận. Ít khi ngờ rằng cái ý-thức ấy chưa phải là đáy tầng của tâm thức, và cái cỗi-nguồn-sinh-cơ của con người cùng pháp giới lại nằm trong tiềm-thức (tức thức thứ 7) và Vô thức (tức thức thứ 8 trong Duy thức học)…Ngày nay, nhà phân-tâm đã biết cách gắn những sợi dây điện vào bộ não của người hay súc vật, để làm hiển lộ những luồng ba động điện tử phát ra từ não bộ. Họ cũng bắt đầu nghiên cứu về giấc ngủ cùng mộng-mị. Nhưng chưa có cách gì để quan sát và nhận định về những ba-động cực kỳ vi-tế, về những ánh-biến-hiện của tiềm thức và Vô thức. Vì chưa lọt vào được, nên quờ quạng ngẩn ngơ.

Còn các triết thuyết thế gian thì sao? Các triết gia thế gian phần đông cũng vậy, chỉ có nhiều chất xám não tủy hơn kẻ thế nhân một chút thôi. Nghĩa là vẫn luôn luôn trụ ở bình diện ý-thức, chưa lọt nổi vào bình diện của tiềm thức cùng Vô thức. Chưa lọt nổi vào những bình diện ấy, chưa hóa giải nổi sắc-ấm lưu ngại, chưa hóa giải nổi Thọ-ấm tức là những cảm xúc hư minh chiêu dụ con người chạy theo trần cảnh, chưa hóa giải nổi Tưởng-ấm tức là những lâu đài mộng tưởng đẹp đẽ sáng lạn huyễn khởi lên bởi vọng thức của ý-thức, chưa hóa giải nổi Hành-ấm tức là cái Sức khởi vọng của những chủng-tử chấp ngã từ vô thủy…thì làm sao có thể lọt vài nơi Vô thức để nhìn thấy cái biển Ba-động-vi-tế nó làm huyễn khởi lên thân căn chúng sanh cùng pháp giới này….Đã không nhìn thấy, thì làm sao dựng lập Chân-lý?…Bởi thế, nên các vị đó thường chỉ sử dụng chất não đến cùng cực, và dùng những ngôn từ sáng choang chiêu dụm rồi thiết lập một mê-đồ-vọng-thức hoặc lâu-đài vọng thức làm chói mắt điên đầu kẻ thế nhân mà thôi. Nên nhà Phật gọi là thế luận hay hý luậnHý luận là còn móng niệm. Móng niệm thì không ôm sát Thực tại được….

Bởi vậy, nên nếu chúng ta muốn hiểu về cái bí-ẩn của kiếp sống, muốn hiểu: Ta là gì? Vật là gì? Pháp giới là gì? Ta từ đâu đến, rồi đi đến đâu?….thì cần phải hiểu cái mystery của cái Tâm. Hiểu cái Tâm ấy nó NỞ thành Vật, chuyển thành vật ra làm sao, rồi Vật ấy lại trở về Tâm ra làm sao.

Kinh Thủ Lăng Nghiêm Vương cùng Duy thức học của ngài Di Lặc chính là nhằm lý giải cái Vòng huyễn-hiện ấy. Và giáo lý của Chư Phật Thế Tôn cũng chỉ là cốt dạy chúng ta phương thức đưa cái Hư-minh-le-lói-Thấy-nghe-hay-biết của mình LỌT được vào bình diện Vô thức, để NHÌN RÕ bằng Tâm nhãn những ba-động-cực-kỳ vi-tế của Tâm thức, vì chính những ánh-biến-hiện ấy nó DỆT nên thân căn cùng pháp giới….

A. Tầm mức quan hệ của cái Vô Tướng Mạo, của những cái Vi-Tế:

Trước khi đi vào cái biển mịt mùng của tâm thức hay của lời Kinh, thiết tưởng chúng ta cần gột sạch bớt những kiến chấp trong tập quán nhận thức. Tập quán từ vô thủy này thường thiên trọng, và bám chặt lấy những cái gì THÔ KỆCH, có hình tướng, có thể trông thấy hay sờ mó được…Tập quán này là một sai lầm trầm trọng, và chính nó khiến ta trôi-lăn-lưu-chuyển trong biển phiền não.

Vậy nay cần ý-hội rõ rệt, và nhập tâm về tầm mức quan hệ vượt bực của những cái ít tướng mạo hay vô-tướng-mạo, của những cái vi-tế.

Thói thường là chúng ta hay lưu tâm nhất, và trọng vọng nhất những cái thô kệch, có hình tướng, có vẻ chắc nịch, ù lỳ, cố định. Tỷ dụ như miếng thịt bò, bao gạo…..và tiền. Vì tiền có thể giúp chúng ta có những thứ đó.

Những thứ đó dĩ nhiên là có lợi ích, vì chúng thường giúp ta làm tiếp-nối được cái mạng-căn mong manh này, và tiếp nối theo ý muốn…Nhưng nếu suy nghĩ kỹ, thì ta sẽ thấy rằng tầm mức quan hệ của chúng còn ở một mức độ thấp, ở một vòng ngoài, chưa phải là tối quan hệ.

Là vì nếu ta không có đồ ăn, phải nhịn đói…thì cũng phải vào khoảng 20 ngày hay 1 tháng mới ngủm được.

Nay nói đến nước lã để uống. Nước không mất tiền mua, hoặc mua ít tiền, nên chúng ta ít lưu tâm đến nó hơn là miếng thịt. Nó cũng có vẻ ù lỳ, ít chắc nịch hơn miếng thịt. Nó cũng thường có nhiều, nghĩa là chu biến hơn miếng thịt, nên ta ít trọng vọng nó…Nhưng nếu suy nghĩ kỹ, thì thấy rằng: đối với mạng-căn ta, nước hình như quan thiết hơn miếng thịt.

Là vì nếu ta nhịn uống trong khoảng 10 hay 15 ngày, thì mạng căn sẽ chấm dứt.

Không khí lại vô hình tướng hơn nước. Nó chu biến hơn nước, lại không mất tiền mua, nên ta chẳng lưu tâm gì đến nó, mặc dầu mạng-căn ta lúc nào cũng cần nó. Vì nếu ai bịt mũi cùng miệng ta trong 3 hay 5 phút,là ta chết rồi.

Hư không lại còn vô tướng mạo hơn không khí, còn vi-tế hơn. Nó cũng chu biến hơn nước, và tuyệt nhiên không mất tiền mua, nên chẳng ai thèm lưu tâm gì đến nó, mặc dù mạng-căn ta lúc nào cũng cần có. Vì nếu ai bịt mũi cùng miệng ta trong 3 phút hay 5 phút, là ta chết rồi.

Hư không lại còn vô tướng mạo hơn không khí, còn vi-tế hơn. Nó cũng chu biến hơn, và tuyệt nhiên không mất tiền mua, nên chẳng ai thèm lưu tâm, và thường khi là quên tịt. Tuy nhiên, trong thân ta, trong các tế bào, các đường gân, các giọt máu…phần chiếm ngụ của hư-không rất lớn so với phần chắc nịch ấy, vẫn có hư-không len lỏi vào….Cũng tương tự như trong một hạt nguyên tử, thì có 1 hạt nhân, cùng 1 số âm điện-tử xoay quanh trên những quỹ đạo riêng biệt, còn ngoài ra là hư-không cả. Và hư-không chiếm ngụ 1999/2000 phần trong khoảng không gian của nguyên-tử….Thân ta cũng vậy, gần như toàn là hư-không cả. Vì sao vậy? Chỉ là vì nếu không có hư-không, thì thân ta cùng mạng căn không thể thành lập được, không thể an lập, không có chỗ nương về…Tỷ dụ như nếu hư-không thôi hiện hữu trong một sát na thôi, thì thân ta cũng tan tành hoặc tan biến ngay…Ngoài ra, cũng cần có hư-không, thì những cực-vi của tế bào trong thân mới nhảy múa được, mới tiếp diễn những màn vũ-điệu lắt lay muôn hình vạn trạng của chúng, mới sinh sôi nẩy nở tàn lụi tăng trưởng…Bởi thế, nên ngài Lão tử cũng nói rằng: cái bánh xe bò làm bằng gỗ thì chắc nịch, nhưng cũng cần có cái Lỗ trống ở giữa bánh xe, để lắp cái trục xe vào, thì bánh xe mới trôi lăn sống động được.

Ấy thế mà chúng ta thường quên lãng hẳn hư-không.

Lên CAO hơn nữa, hoặc vào SÂU hơn nữa, là cái mà Kinh Lăng Nghiêm gọi là CÁI THẤY, hoặc Kiến đại…Nó vô tướng mạo hơn hư-không, vì tâm trí ta khó mường tượng, khó nhận thấy NÓ hơn là hư-không. Nó có thể cũng chu biến và thường hằng hơn hư-không, là vì ở những cảnh giới Thường-tịch-quang mà Chư Phật thường trú, có thể là Không-gian hoặc hư-không đã bị hóa giải rồi, trong khi Cái thấy vẫn thường hằng hoặc chuyển sang một hình thái chiếu soi hồn nhiên hơn ….

Cái thấy cũng chính là sự phát-hiện của Tâm thức ta.Vì Tâm thức chúng sanh có cái khả năng kỳ diệu, là chiếu soi hoặc TỰ CHIẾU SOI mình được. Trong khi một tấm gương sáng có thể chiếu soi sự vật, nhưng không thể tự-chiếu-soi nó được…Cho nên, Kinh dạy rằng:”Cái thấy ấy gần với Diệu Tâm, nó là cái bóng mờ của Diệu-Tâm, tương tự như mặt-trăng-thứ-hai mà ta nhìn thấy khi ta ấn ngón tay vào mí mắt rồi ngước nhìn mặt trăng. Nó là con đường để trở về Diệu-Tâm, và chính là con đường mà ngài Đại Thế Chí đã noi theo để diện-kiến Đức A Di Đà và chứng nhập Diệu-Tâm.

Thông thường, phần đông chúng ta đọc Kinh Lăng Nghiêm, đến đoạn Phật chỉ cái THẤY, thì đều ngớ người ra (kẻ viết này cũng vậy), bồi hồi suy ngẫm, rồi tự hỏi: “Phật Ngài đã 7 lần bác bỏ lời ngài A Nan chỉ tâm, vậy thì cái Tâm ấy nó ở chỗ nào, tại sao Ngài không chỉ cho biết? Mà rồi tại sao Ngài không chỉ thẳng vào cái Chân Tâm để giảng giải ngọn ngành cho mình hiểu, mà Ngài chỉ nhắc nhở, nhắc đi nhắc lại về Cái thấy?! Mà Cái thấy này là cái gì vậy cà? Sao từ trước đến nay, mình chưa thấy ai nhắc đến nó? Nó có phải là cái ý-thức của mình không, có phải là cái Thức không, hay không phải….?!” Rồi có khi phải vò đầu vò tai, lắt tay suy ngẫm, hoặc vài ngày vài tháng vài năm, mới bắt đầu nhận thấy là đúng.

Phật đã dùng biện chứng phủ-định, bác bỏ lời của ngài A Nan “Thất xứ trưng tâm”, nhưng rồi Ngài cũng chẳng chỉ rõ Tâm ở chỗ nào. Là vì cái Tâm ấy nó chu biến khắp cả pháp giới, nên không có phương hướng xứ sở thì làm sao chỉ xứ sở?! Và Ngài cũng không nói rõ ra điều đó, là vì lời kinh thường là chỉ hé mở, và buộc chúng ta suy nghĩ. Vì có suy nghĩ thì mới thấm được.

Rồi Ngài cũng không giảng giải rõ rệt về cái Chân tâm ấy, chỉ nói rằng: “Pháp giới này là từ cái Chân tâm ấy mà lưu xuất ra đấy…” Ngài không giải rõ rệt, là vì Chân tâm ấy nó lìa ngôn thuyết, lìa ý niệm, chẳng phải Being cũng chẳng Not Being, chẳng thường chẳng đoạn chẳng trước chẳng sau, chẳng thứ-đệ chẳng đồng thời, chẳng sanh chẳng diệt, chẳng khứ chẳng lai, mà cũng chẳng phải là Ngẫu nhiên hay Tự nhiên mà như vậy. Nó chỉ là NHƯ THỊ, là NHƯ NHƯ…Đem bất cứ một ý-niệm nào, một phạm trù thế luận nào, mà gán ghép cho nó, cũng đều là lệch lạc, và như thế, tâm hành giả vẫn còn GỢN sóng, còn móng niệm nên chưa chứng nhập được nhiều….Chúng ta vốn quen sống với thế giới sai biệt, sống với tâm tưởng, với ý-niệm của ý thức, chưa hề mường tượng đến cái Thực tại vô sai biệt, nên dĩ nhiên là ngớ người ra….Nhưng tuy Phật không giải bằng ngôn-từ, Ngài lại giải bằng một cách cụ thể hơn rất nhiều, để chỉ rõ và trực nhận. Ngài lại chỉ bằng Quang minh, bằng Phóng quangPhóng quang khiến chúng hội NHÌN thấy những cảnh-giới mà nhãn lực lúc thường không nhìn thấy, tức là Ngài muốn bảo rằng:” Đấy, cái Diệu-tâm ấy nó biến hiện như thế đấy.”. Phóng quang tức là chỉ thẳng chân lý tối thượng Duy tâm sở hiện….Cho nên, hầu hết kinh Đại thừa là phóng quang, là nói Pháp lớn, nói Tự tâm biến hiện.

Phóng quang chỉ thẳng rồi, Ngài lại khởi từ-tâm, dùng ngôn từ để chỉ vào Cái thấy. Vì cái thấy là con đường, cần bám lấy để trở về chứng nhập Diệu-tâm…Sở dĩ chúng ta ít tế nhận được cái thấy, một phần chính là vì nó HIỂN NHIÊN SỜ SỜ ngay ra đấy. Nhưng cái gì hiển nhiên sờ sờ, thì ta thường không nhận thấy. Ta lại thường dùng đến nó trong mỗi sát na, nên lại càng mờ mịt không nhận ra nó…NÓ chính là chỗ nương về của thân và tâm tưởng ta, và nếu tỷ dụ nó ngừng hiện hữu một sát na, thì chắc là thân tâm ta sẽ rơi rớt lả tảtrở thành bụi, cực-vi, vô biểu sắc hoặc quang minh.

Nó chính là cái THẤY-NGHE-HAY-BIẾT chiếu soi HỒN NHIÊN, không dụng tâm mà hầu như không tác-ý, của thân tâm ta. Tương tự như 1 ngọn đèn, lúc nào cũng le lói chiếu soi không hề ngừng nghỉ. Vì hồn nhiên, nên thường hằng và không lay động, như một tấm gương có thể sáng ít hay nhiều nhưng không lay động. Như mặt nước hồ thu ĐỨNG LẶNG, phản chiếu cả trời xanh cùng đàn én bay qua….Có thể tạm gọi Nó là cái Thần quang, cái Hư-minh le lói chiếu soi trong thân tâm. Hư-minh là vì nó là cái bóng mờ của cái Diệu-tâm chói sáng, và Diệu-tâm này, khi PHỔ vào những lớp thể chất lưu-ngại của pháp giới cùng thân tâm chúng sanh, đã CHUYỂN HIỆN ra nó.

Nên nó chiếu soi hoài hoài, không ngừng nghỉ, qua các kiếp nhiều như vi trần. Các luồng ba-động quang minh của nó, không ngừng nghỉ, luôn luôn qua lại nơi sáu căn, qua lại pháp giới, của vật, để tạo dựng nên đủ mọi thứ ảnh tượng, mọi ảnh hiện (miroitement)…Nên chúng ta luôn luôn THẤY, không thể không thấy được. Như con mắt ta chẳng hạn, luôn luôn thấy, hầu như bị bao vây bởi Vật, luôn luôn thấy những ảnh tượng tạm gọi là Vật. Khi mở mắt thì thấy phố xá nhà cửa, chán rồi nhìn lên trời lại thấy trời xanh thăm thẳm. Chán nữa, nhắm mắt lại, thì lại thấy tối, và tối cũng là một ảnh tượng, cũng là Vật. Chán hơn nữa thì đi ngủ. Nhưng ngủ cũng thấy mộng mị ảnh-tượng lăng xăng. Và ngay trong giấc ngủ không mông mị chăng nữa, thì cái giòng Thấy vẫn tiếp diễn một cách rất VI-TẾ, và chúng ta, vốn quen trụ tâm thức trên bình diện nông cạn của ý-thức, nên không nhớ và không tế nhận ra đấy thôi.

Cho nên, cái THẤY-NGHE-HAY-BIẾT chiếu soi hoài hoài, những ảnh tượng sự vật thô kệch hay vi-tế cũng khởi lên hoài hoài, tương tự như 1 màng lưới thiên la võng, không thoát ra khỏi….Là vì sao? Là vì ảnh-tượng Vật và pháp giới cũng là do Tâm biến hiện, mà ta cũng là do Tâm biến hiện, thì làm sao mà không đắm nhiễm thu hút lẫn nhau, làm sao mà không gắn-bó, làm sao có thể Lìa nhau được?!….Chỉ có một cách thoát khỏi màng thiên-la-võng đắm nhiễm ấy, là tu tập Như-huyễn tam ma đề của Kinh Thủ Lăng NghiêmTụ tập đến mức hóa giả được Sắc-Thọ-Tưởng-Hành ấm rồi, đi qua tiềm thức chấp Ngã, lọt vào Tạng thức, thì sẽ thấy rằng Tạng thức của mình dung thông với khắp pháp giới. Thấy rõ cái đó rồi, thì có thể gột nốt những đắm nhiễm cùng kiến chấp vi tế và trở thành tự tại đối với màng thiên la võng đó.

Cái Thấy là một điểm quan trọng, cần nhận định rõ rang mới có thể đi vào thế giới mịt mùng của Lăng Nghiêm.

Vậy cái Thấy ấy là sự chuyển-hiện của Diệu-tâm khi PHỔ vào thân tâm con người hoặc chúng hữu tình.

Nhưng khi phổ vào những lớp thể-chất đặc sệt lưu ngại của những vật tạm gọi là vô tri, thì Diệu tâm ấy chuyển hiện ra sao?

Cần hiểu rằng theo giáo lý Phật, làn ranh giới giữa Hữu tình và Vô tình là 1 ranh giới di độngtùy thuộc vào mức độ nghiệp lực tức mức độ nhãn-lực của chúng sanh đứng nhìn. Tỷ dụ như đối với người thì hiện nay, làn ranh giới ấy thường ngừng ở mấy con vi-khuẩn hoặc tế bào sinh cơ. Con người tự nhủ: đến đây là có tri giác là hữu tình đấy, và vượt qua mức này thì là vô tri đấy. Nhưng đối với chư thiên thì làn mức ấy lại khác: vì có thiên nhãn thông nhìn thấy những thứ vi-tế hơn mắt người, nên chư thiên biết rằng có những cây cổ thụ hoặc núi đá lâu năm cũng thành tinh, tạo dựng nên những thực thể sống động rất linh hoạt, có khi còn hơn người nữa. Cho nên, Kinh thường nhắc đến vô lượng những vị thọ-thần, hoặc thần coi cây Bồ-đề, hoặc đạo-tràng-thần hoặc sơn-thần….Những vị này thường là do sự tu luyện lâu nằm mà thành tựu, hoặc là một vị quỷ thần sẵn có, nhưng do nguyện-lực hay là được bổ nhiệm tới coi giữ cây đó, núi đó. Bổ nhiệm bởi những vị Quỷ vương, tỷ dụ như 4 ngài Tứ thiên vương, vì các Hộ thế thiên vương này thường cai quản đám quỷ thần cỡ trung bình hoặc nhỏ ở tiểu thế giới này.

Khi lên đến 1 bậc Đại Bồ Tát, thì làn ranh giới giữa hữu tình và Vô tình hầu như biến mất. Bậc đó có gần đủ Ngũ nhãn, nên khi nhìn thấy pháp giới thì chẳng có gì là hữu tình hay vô tình hết, toàn thể đều là Giác tánh, đều là Tự tâm biến hiện. Bởi thế, nên đối với Ngài, THÂN là CÕI, và cõi là thân. Pháp giới này cũng là diệu-sắc-thân của ngài, và cũng là cõi của ngài, và các chúng sanh vẩn lổm ngổm lăng xăng dạo chơi hoặc tạo nghiệp ở trong đó….Đến bình diện vô sai biệt này, là tột-bờ-mé rồi.

Cho nên, đối với người hay chúng sanh còn ngụp lặn trong biển nghiệp, thì sức nghiệp LÓE lên, tạo dựng thành vọng tưởng rằng: đây là hữu tình, kia là vô tình….Vậy thì đối với những vật tạm gọi là vô triDiệu tâm ấy vẫn phổ vào những lớp thể chất thô kệch và rất lưu ngại ấy, và chuyển hiện thành 1 thứ thức giác rất thô sơ, mà nhà Phật gọi là Phi-tình-thần-thức. Nó chỉ kém thức giác của loài tạm gọi là hữu tình ở chỗ mức độ thăng hoa thôi, chứ không thua ở bản chất….Ngày nay, khoa học cũng nhận rằng cây cỏ cũng có 1 thức giác rất đơn sơ để nhận định hoàn cảnh một cách lù mù hạn hẹp. Và ngay những loại kim khí cũng có một lối ứng-phó của nó (responsiveness). Bởi thế nên giới luật nhà Phật cũng cấm các tỳ-kheo không được bứt cỏ non cùng cây là một cách vô tội vạ…..

Trên đây đã nói cái Thấy rồi, tức là KIẾN ĐẠI. Nay nói đến THỨC ĐẠI. Hai đại-chủng này là ở trong 7 đại, và là 2 đại-chủng bí hiểm, khó hiểu. Và cần phải phân biệt rõ ràng giữa Kiến đại và Thức đại.

Vì một đằng (Kiến-đại) là đầu mối trở về Chân, còn một đằng (Thức-đại) là con đường đi vào Vọng. Tuy nhiên, cũng chỉ sai lệch nhau ½ hào ly thôi. Sai lệch ở chỗ MÓNG NIỆM và DỤNG TÂM…Cho nên, Bồ Tát phải giữ cái tâm vô công dụng, để làm những thứ hạnh vô công dụng. Nghĩa là vẫn khởi đủ mọi thứ tâm-niệm thiện xảo để độ sanh, vẫn làm đủ mọi thi-vi tạo tác để độ sanh, mà vẫn hiểu vẫn coi tất cả những cái đó như huyễn như hóa. Không hề móng khởi một ly tình-nhiễm ưa ghét, vui buồn. Vẫn nhỏ những giọt lệ Đại bi mà tâm không hề ủ rũ buồn rầu. Vẫn hớn hở vui mừng để tùy-hỷ những công hạnh lành của kẻ khác, nhưng tâm vẫn lặng lẽ tịch nhiên, an trụ trong niềm vui thanh thoát tuyệt vời của cái Vui-không-Thọ. Do đó, vẫn giữ tâm mình ở trong trạng thái hồn-nhiên-chiếu-soi của cái Thấy để trở về Diệu tâm.

Chữ THỨC trong nhà Phật (theo lối dịch Hán văn) là một chữ bí-hiểm và phiền toáiĐọc Kinh lâu rồi, mới hơi hiểu được nó, và lúc đầu thường là chới với lầm mạc. Là vì sao? Chỉ là vì chữ THỨC hàm chứa khá nhiều nghĩa, và địa-bàn hoạt dụng của nó lại rất bao quát rộng lớn cũng như rất vi-tế, rộng lớn và vi-tế cũng như pháp giới vậy. Lại nữa, Thức vốn là một TRƯỜNG BIẾN HIỆN, và trong diễn trình biến hiện, Nó lại kinh qua mấy tầng lớp VỌNG HIỆN. Và ở mỗi tầng lớp vọng hiện, nó thường làm phát hiện nhiều thứ ảnh-tượng, và những ảnh-tượng này, tuy vẫn là Thức cả, nhưng vẫn đượm nhiều vẻ sai biệt. Vì thế, ý nghĩa của nó rất phiền mật.

Người học Phật cần lưu tâm nhất tới thời điểm này: là thân-tâm chúng ta và cả pháp giới này chỉ là một TRƯỜNG BIẾN HIỆN, một trường-lực-cực-mênh-mang-cũng-như-cực-vi-tế luôn luôn biến hiện của vô vàn những thiên-la-võng quang minh tâm thứcxen lẫn thẩm thấu và lồng vào nhau mà thôi. Cũng tương tự như 1 thứ Đại-ảo-thành dựng nên bởi 1 Đại-yêu-huyễn thôi…..Có điều là chúng ta, bọ trôi lăn xô đẩy quá lâu trong giòng sanh tử, quá quen thuộc với những tập quán sống say chết ngủ y cứ vào ngoại vật cùng thân căn, nên ta thường lười biếng chẳng muốn nghĩ đến nữa….Đạo Phật chính là chỉ nhằm dạy chúng ta biết phóng cái tầm nhìn, trở lại nhận định những thiên la võng vừa mênh mang vừa vi tế ấy. Và Kinh vẫn thường nhắc tới “những màng lưới báu hào quang xen lẫn lồng nhau…” Ngồi thiền quán chiếu là để làm gì? Trì giới để làm gì, niệm Phật trì chú tụng kinh là để làm gì? Chỉ là để cho thân tâm mình, ngày càng thanh tịnh vi-tế nhỏ nhiệm, có thể hé mở Tâm nhãn NHÌN rõ thấy những luồng ba-động vi-tế của cái trường-lực ấy. Siêng năng hành trì, tức là bồi đắp cho cái cội gốc vi-tế ấy.

Vậy thì cái Thức ấy, nó chu biến cực kỳ vi-tế, và nó biến hiện. Biển tâm uyên-nguyên vô tướng mạo và sáng ngời, do 1 niệm mê-mờ vô thủy nào đó (ở sau sẽ trình bày rõ), bèn chuyển thành thức. Kinh Lăng Già mệnh danh Biển tâm kia là Chơn thức, và gọi Thức này là Hiện thứcHIện thức là vì nó bắt đầu hiện tướng, nhưng tướng mạo rất vi-tế. Có thể gọi cái Thức đó là Thức căn nguyên, thức căn bản, và nó là Tàng thức, là thức thứ 8, là thức Sơ-năng-biến trong Duy thức họcKinh Lăng Già cũng dạy rằng bình diện này rất là hư-vô-vi-tế, không thể lấy óc mà biết được. Chỉ biết rằng (do thánh ngôn lượng của Kinh) Tạng thức ấy hầu như phi dung-lượng nhưng lại bao gồm tất cả những chủng-tử toàn vọng toàn chân. Chủng-tử vọng tức là những tập khí huân tập từ vô thủy, có thể mường tượng hình dung như những cơn-lốc-ba-động-quang-minh, những trường-lực xoáy tròn không ngừng nghỉ.

Thức hư-vô-vi-tế này không ngừng lại ở đó. Trải qua những kiếp vô thủy, do sức hiện hành của những chủng tử vọng, nó lại qua mấy tầng vọng hiện nữa, và làm phát hiện nên 7 thức kia. Tức là từ nhãn thức cho đến ý-thức và Mạt na thứcKinh Lăng Già mệnh danh 7 thức này là Chuyển thức, vì chúng được chuyển hiện từ Thức căn nguyên kia. Bảy thức này thì cũng vẫn là Thức, vì thể của nó vẫn là cái hư-minh le lói chiếu soi, nhưng những hoạt dụng thì lại khác. Chúng cũng thô kệch hơn, vì đã trải thêm một hay mấy tầng vọng hóa. Do đó, nên so với Thức căn nguyên kia, chúng vẫn là một, mà vẫn là khác.

Bảy chuyển thức này, so với Thức căn nguyên, thì vẫn là một, là vì chúng vẫn là quang minh, vẫn là cái hư-minh le lói chiếu soi, vẫn là hư huyễn biến hiện. Nhưng chúng vẫn là khác. Vì sao? Là vì càng ngày chúng càng trở thành ít vi-tế nhỏ nhiệm hơn, thô kệch hơn, lưu ngại hơn, ít mầu nhiệm hơn nhưng vẫn luôn luôn biến hiện….Và tùy theo nghiệp lực của chúng sanh, chúng đã làm NỞ ra, LÓE ra, biến hiện thành tất cả những sắc tướng thô kệch của pháp giới này, tất cả những vô-biểu-sắc hoặc cực-lược-sắc, tất cả những căn hoặc thô phù hoặc tịnh-sắc-căn, tất cả những cảnh-giới, cùng các thứ cảm xúc hư-minh, các thứ tâm tưởng hay vọng tưởng dung thôngcác loại tình nhiễm, các thứ tâm sở….tạo thành 1 thứ lâu đài ảo vọng của chiêm bao, nhưng lung linh luôn màu muôn sắc…Và tất cả cũng đều là thức biến cả, nhưng tầng lớp ảo vọng có khác, và cũng đều là do cái sức hành-nghiệp của Vô minh huyễn-khởi….

Khi chúng ta tưới vườn, tay cầm vòi nước sịt một làn-mưa-bụi-nước vào cây cỏ, và nếu có ánh dương xuyên qua làn mưa bụi đó, thì sẽ làm phát hiện lên một ảnh-tượng chiếc cầu-vồng có 5 màu hoặc 7 màu. Và kkhi ánh dương xuyên qua 1 lăng kính thủy tinh hình tam giác thì cũng thế…Ánh mặt trời vốn trắng, không màu sắc và hầu như không tướng mạo, nhưng xuyên qua cái màn sương lưu ngại, cũng lóe lên thành màu sắc cùng tướng mạo.

Những quang minh chói ngời và vô tướng mạo của Diệu-tâm cũng vậy, khi chúng Phổ vào cái màn sương mù đầy vọng tưởng cùng tình nhiễm của Vô minh, thì chúng chuyển hiện thành cái biển Tàng thức vi-tế, rồi làm LÓE (miroitemment) lên những thân căn chúng sanh cùng pháp giới muôn hình muôn sắc này…Đó là cái diễn trình từ MỘT biến thành VÔ LƯỢNG.

Về cái Vòng-huyễn-hiện của vọng thức này, chương 2 sẽ trình bày kỹ càng và chi tiết hơn. Ở đoạn này, chỉ tạm trình bày như vậy, để hiểu Thức đại là cái gì. Và điều cần thiết ở đây là phân biệt giữa THỨC ĐẠI và KIẾN ĐẠI thì mới dễ hiểu Kinh Lăng Nghiêm được.

Vậy thì Kiến đại có khác Thức-đại không? Nếu mọi vật trong pháp giới này đều là Thức biến, cũng là thức mà cũng là chẳng phải thức vì đã chuyển biến rồi, thì Kiến-đại cũng như vậy. Nghĩa là cũng là Thức, mà cũng chẳng là thức. Vì hoạt dụng khác nhau, mức độ vọng-hóa cũng khác nhau.

Kinh Lăng Nghiêm dạy rằng:” Kiến-đại hay cái Thấy tức là cái Tinh-minh của Bản giác, của cái Diệu-tâm….” Diệu-tâm thì “chiêu chiêu bất muội”, nghĩa là rở-rỡ chẳng tối, sáng ngời và luôn luôn chiếu soi. Vậy thì cái Thấy-nghe-hay-biết tức là cái bóng mờ của Tinh-minh của Bản giác, nó cũng là quang minh, là cái hư-minh luôn le lói chiếu soi….Còn Thức thì cũng là ở cái Diệu-tâm, ở Tinh-minh sáng ngời ấy mà ra, và cũng là quang minh le lói biến hiện.

Vậy khác nhau ở chỗ nào?

Khác ở chỗ: Kiến-đại là cái phần KHINH THANH, ít ô nhiễm của cái Thức sơ năng-biến, nên nó thường ĐỨNG LẶNG, lặng lẽ chiếu soi một cách hồn nhiên, không móng niệm và hầu như cũng không tác ý. Cho nên, nó dễ trực nhận được Tánh cảnh (tức Bản thể) của sự vật, và là đầu mối kẻ hành giả có thể lên đường trở về Diệu tâm.

Còn Thức-đại là cái phần TRỌNG TRƯỢC, nhiều ô nhiễm, hay DAO ĐỘNG do sự móng niệm cùng tác ý muốn chiếu soi, hay tự chiếu soi để phân biệt đến vô cùng vô tận và khởi các vọng tưởng cùng vọng tình…Nên nó là con đường dẫn sâu vào lâu đài vọng thức.

Kiến đại cũng tương tự như nước, có thể chiếu soi hoặc phản chiếu được. Nhưng là mặt nước ĐỨNG LẶNG, như nước hồ thu hoặc nước biển không song. Chiếu soi hoặc phản chiếu rõ rệt hình ảnh mặt trăng. Từ mặt trăng này, ta có thể mường tượng về mặt trăng trên trời một cách không sai lầm lắm. Hoặc tương tự như tấm gương đứng lặng.

Còn Thức đại thì cũng là nước, nhưng mặt nước GỢN SÓNG nhấp nhô, vì sự móng niệm liên miên và tình nhiễm ưa ghét. Nên nó luôn DAO ĐỘNG. Và khi mặt trăng ảnh hiện vào đó, thì hình ảnh trăng bị tan vỡ chia cắt thành muôn vàng những ánh-bạc-lăn-tăn…Đó cũng là diễn trình của Một biến thành Vô lượng….Tuy nó là con đường vọng, thế mà xưa kia, ngài Phổ hiền đã sử dụng ngay nó (vì Ngài tu quán Nhĩ thức, tức là lấy Nhĩ-thức làm cảnh sở quán) để lên đường trở về Diệu tâm. Xem thế thì đủ biết Chân và Vọng chỉ sai lệch có ½ hào ly thôi. Sai lệch ở chỗ móng niệm hay không móng niệm thôi.

Vượt lên trên Không đại, Kiến-đại cùng Thức-đại là 2 thứ chủng-đại siêu xuất, gần như vô tướng mạo, chu biến cùng khắp, và cực kỳ cốt thiết cho sự hiện hữu của thân tâm cùng pháp giới….

Trong một bài tụng của Bát thức Quy củ tụng, ngài Huyền Trang có viết: “Ngu giả nan phân Thức giữ Căn…” Có nghĩa là: kẻ phàm phu còn ít trí huệ, nên khó phân biệt giữa Thức và Căn. Thức tức là Thức-đại, còn Căn là Căn-đại, tức là Kiến-đại, tức là Kiến-đại tức là Cái thấy hồn nhiên.

Về các thứ đại-chủng hoặc thô kệch hoặc vi-tế này, trong bộ Đại trí độ luận, ngài Long Thọ cũng nhắc rằng: ”Các đại-chủng, càng vi-tế bao nhiêu, lại càng mãnh liệt mầu nhiệm ngần ấy…..” Muốn mường tượng về điểm này, thiết tưởng cần nhớ lại mấy quả bom nguyên tử rơi xuống đất Nhật: năng lượng thoát ra do sự tan vỡ dây chuyền (désintégration en chaine) của những cực-vi của mấy kí Uranium cũng đã đủ để san thành bình địa một thành phố. Uranium là một vật thô kệch, và những cực-vi của nó còn là ở mức ranh giới giữa vật và hư-không, mà đã có năng lực như vậy. Nói chi đến năng lực của những quang-minh tâm thức, khi mà kẻ hành giả đã biết tuyệt-kỹ tập họp và sử dụng các thứ quang minh ấy?!….

Vượt lên trên Thức-đại cùng Kiến-đại, lên cao hơn nữa hay sâu hơn nữa, là nơi Tột-bờ-mé của Chân tâm hay Diệu-tâm, hay Như-lai-tạng Chân như nhiệm mầu, theo danh từ của Kinh Lăng Nghiêm.

Nơi đây là bình diện Bất nhịvô sai biệt, bất tư nghì, bất khả thuyết, lìa ý niệm cùng ngôn từ. Nên khó có thể dùng trí thức sai biệt cùng ngôn từ thường nghiệm để diễn tả….May ra chỉ có thể nương theo thánh ngôn lượng để mường tượng ít điều mà thôi….

Chương 2 sau đây, sẽ cố gắng diễn tả về Biển Diệu tâm cùng cái niệm-mê-mờ-vô-thủy….

B – MẤY ĐIỀM ÁCH-YẾU THEN CHỐT CỦA GIÁO LÝ:

Kiến đại cùng Thức đại đã tạm phân biệt như vậy rồi, thiết tưởng cần lưu tâm tới mấy điểm then chốt sau đây. Và cần phải hội nhập kỹ càng, mới dễ đi vào thế giới Huyễn-hiện-tương-ưng của Kinh Lăng Nghiêm.

1 – Dữ kiện QUANG MINH cùng QUANG MINH QUYẾN THUỘC trong kinh Đại Thừa:

Về điểm những quang minh bất tư nghì này, kẻ viết đã có dịp trình bày kỹ càng trong cuốn Lăng Kính Đại Thừa…Ở đây, chỉ xin nhắc lại vài điều quan yếu thôi:

– Trong các kinh Đại Thừa, luôn luôn nhắc tới đến quang minh cùng vô lượng quang minh quyến thuộc, tức là những quang minh thô kệch thấp kém hơn, phát xuất từ diễn trình chuyển hiện của những quang minh uyên-nguyên.

Kinh Hoa Nghiêm, dài 2500 trang, mà không có trang nào không có chữ quang minh. Có những trang có mấy chục chữ, và riêng phẩm Hiền thủ diễn nói về nhiều thứ quang minh….Danh hiệu Chư Phật cùng danh tự nhiều môn tam muội, cũng thường hay dùng chữ Quang hoặc Quang minh.

– Chư Phật luôn luôn phóng quang trước khi diễn nói pháp lớn. Vì phóng quang chính là vô ngôn thuyết phápchỉ thẳng sự biến hiện của Tự-tâm.

– Kinh Hoa Nghiêm, trang 580, nói rõ:” Chư Phật là TẠNG QUANG MINH”….Đức A Di Đà có 12 danh hiệu, toàn là Quang.

Và Đức Tỳ-lô-Giá-na Phật có nghĩa là: Biến-nhất-thiết-xứ, hoặc QUANG MINH BIẾN CHIẾU.

– Kinh Hoa Nghiêm, trang 3, cũng dạy: ”Trong quang minhĐại Bồ Tát xuất hiện nhiều như mây….” Vì diệu-sắc-thân của các Ngài đều được dệt bằng những quang minh rất vi-tế. Mắt phàm không nhìn nổi.

– Kinh Địa Tạng, phẩm 12 dạy: ”Lúc đó, từ đảnh-môn Phật phóng ra trăm ngàn muôn ức tia-sáng lớn.

Như là: tia sáng sắc trắng lớn…tia sáng nghìn vòng TRÒN lớn…tia sáng tướng CUNG ĐIỆN lớn…tia sáng tướng MÂY BIỂN lớn….”

Tướng Vòng tròn, tướng cung điện, có nghĩa là: những quang minh ấy lần lần chuyển động như những cơn-lốc-ba-động-hư-minh, những cơn phong luân, và làm hiển hiện những hình sắc như cung-điện….

– Kinh Lăng Nghiêm lại dạy rõ rằng: sắc tướng cùng thân-căn chúng sanh được dệt nên bởi những vọng-tưởng KIÊN CỐ từ vô thủy. Tức là những quang minh của vọng-tưởng ấy, vì nặng nề nên lần lần chuyển động chậm lại, kết đọng nên sắc-tướng…Còn những quang minh của những vọng-tưởng HƯ MINH, DUNG THÔNG cùng U ẨN, thì nhẹ hơn, nhanh hơn, nên kết lại thành tri giác tâm thức chúng sanh.

Ngài Văn Thù cũng dạy y như vậy:

Tưởng trừng thành quốc độ

Tri giác nãi chúng sanh…

Nghĩa là: những vọng tưởng si mê thô kệch thì kết lại thành sắc-tướng cùng quốc độ. Còn những vọng tưởng linh minh hơn thì kết lại thành chúng hữu tình….

Như thế là các kinh điển, tuy dùng lời lẽ ẩn mật, nhưng đã dạy rất rõ rang: TẤT CẢ PHÁP GIỚI ĐỀU ĐƯỢC DỆT NÊN BẰNG QUANG MINH….Vì thế, pháp giới mới là 1 trường Biến-hiện, mới có thể là do Tự-tâm biến hiện.

Pháp giới biến hiện có vẻ thô kệch hay vi-tế, phần đoạn hay biến-dịch, mau hay chậm…đều là tùy thuộc mức độ nhãn-lực hay nghiệp-lực của chúng sanh đứng nhìn…..

2. THUYẾT SÁT NA của NHÀ PHẬT:

Vậy thì pháp-giới được dệt bằng Quang-minh…Nhưng các quang-minh ấy thì chúng từ đâu đến, chúng khởi lên như thế nào, rồi huyễn hiện ra sao?

Đáp số của những câu hỏi này là Thuyết sát-na của nhà Phật. Nếu không hình dung được rõ rệt và hoàn bị về thuyết này thì khó hiểu nổi Lý Duy-tâm sở hiện.

Thực ra thì các Kinh điển không có giảng dạy rõ rệt và hoàn bị về thuyết này. Lời dạy của Phật thường là rải rắc tản mác trong các trang Kinh, tương tự như những ngọn hải-đăng le lói chiếu sáng trên mặt biển sương mù. Và kẻ học Phật cần suy ngẫm để nối liền những lời dạy ấy, rồi bơi qua mặt biển…Trong cuốn Tánh Không và Kinh Kim Cang, kẻ viết đã có dịp trình bày kỹ càng về điểm giáo lý rất quan hệ này. Ở đây, chỉ xin lược lại.

Những lời Kinh làm y cứ cho thuyết này, thường là như sau:

– Phật thường nhắc đi nhắc lại rằng: các pháp đều Vô-thường, NIỆM-NIỆM-SANH-DIỆT, vừa sanh ra đã diệt ngay.

– Trong Kinh Kim Cang, Phật đã đưa ra 6 chữ: Mộng-Ảo-Bào-Ảnh-Lộ-ĐIỂN, để thâu tóm giáo lý Như-Huyễn. Trong 6 chữ này, thì chữ ĐIỂN là quan hệ hơn cả, vì điển nói về thuyết sát-na. ĐIỂN có nghĩa là tia-chớp-nháng.

– Ngài Di-Lặc là giáo chủ của Duy thức học, cũng dạy rằng: “Trong 1 đờn chỉ, có 32 ngàn ức niệm, mỗi niệm là một hình-tướng. Nếu người nào có thể bớt đi 1 niệm thực thì tức là bớt đi 1 hình tướng, và đối với người đó ngày thanh tịnh có thể hẹn được…” (Lời dạy này không biết xuất xứ từ Kinh nào, nhưng được ghi trong bộ Nhị khóa giải của ngài Quán Nguyệt).

-Ngoài ra, kệ nhà Phật cũng nói:

Phật pháp như đại hải

Còn rộng cà sâu hơn;

 Chẳng có gì thoát khỏi

 Thiên-la-địa-võng này…..

 Mọi vật đến từ đó

 ĐỘT hiện rồi ĐỘT tan,

 Tương tự như bào ảnh

 Chẳng khác một giấc mơ….

– Kinh Đại Bát Niết Bàn, trang 231, dạy: ”Những tâm như vậy, dầu niệm niệm diệt, nhưng vẫn tương-tợ-tương-tục chẳng dứt…Như ngọn đèn niệm niệm diệt, ngọn trước diệt chẳng bảo ngọn sau sanh, nhưng tuy niệm niệm diệt, mà vẫn có ánh sáng trừ bóng tối…” Lời dạy này thật là rõ ràng….

– Ngoài ra, Kinh nhà Phật cũng thường nói đến chữ Đẳng-vô-gián-duyên…Và thứ duyên này, thì cần phải dùng chữ Điển của Kinh Kim-Cang mới có thể lý giải được….

Vậy những lời kinh và kệ trên bao hàm ý nghĩa ra sao?

Thiết tưởng có thể trả lời thẳng tắt như sau: do sức HÀNH huyễn-khởi của những chủng-tử của Nghiệp lực, những quang minh ấy đột khởi lên từ nơi Biển Diệu tâm hay Chân không, dưới hình tướng cực kỳ vi-tế là những TIA-chớp-nháng (ĐIỂN). Những tia-chớp-nháng ấy cũng là NIỆM, vừa sanh ra đã diệt ngay, nên niệm-niệm-sanh-diệt. Nhưng trong khoảng sát-na A ấy, hàng loạt những tia-chớp-nháng đồng khởi lên, đã dựng nên những ẢNH-TƯỢNG sự vật tương ưng với sự chiêu cảm của Nghiệp-lực…Rồi đến sát-na kế tiếp B, hàng loạt những tia-chớp-nháng khác lại đột khởi lên, nhưng TƯƠNG-TỢ-TƯƠNG-TỤC với loạt trước (danh từ tương-tợ-tương-tục là danh từ của Kinh). Vì tương-tợ-tương-tục nên chúng lại dựng nên những ảnh-tượng sự vật tương-tợ-tương-tục với ảnh-tượng trước.

Cũng bởi thế, nên những giác quan thô kệch của chúng sanh hay của con người, thường không nhìn thấy những ba-động vi-tế ấy, và lầm nhận rằng những ảnh-tượng ấy là sự vật thật có, là cố định, là có ngã, là thường còn trong một thời gian, là có tự-thể, là có cái này sanh ra cái kia, là cái này là của tôi, rồi sanh đủ thứ phiền não mê sảng…Kỳ thực, chúng chỉ là sự huyễn-hiện của hàng loạt những tia-chớp-nháng xuất hiện tương-tợ-tương-tục, do sự suy động của nghiệp-lực. Chứng cớ là cùng một giòng sông, loài người thì thấy là nước uống được, nhưng loài quỷ lại thấy là lửa, còn loài rồng lại thấy là điện đài lầu các có thể ăn ngủ nơi đó.

Xuất hiện tương-tợ-tương-tục, cũng giống như ngày nay, trong những phim hoạt họa, sự tiếp nối tương-tợ-tương-tục của hàng loạt những bức hình vẽ, đã tạo nên những ảnh tượng linh hoạt.

Bởi thế, nên xưa kia ngài Vạn Hạnh thiền sư mới thở dài, than rằng:”Thân như điện chớp, có hoàn không…”

Cái khổ nhất, vướng mắc nhất, của con người là hay quá tin tưởng ở XÚC GIÁC, cũng tương tự như ông thánh Thomas bên Thiên Chúa Giáo. Nghĩa là tin vào những cái thô kệch, có thể sờ mó được, và cầm thì thấy nặng….Không hiểu rằng cái cảm giác Nặng (le tangible) cũng chỉ là 1 cảm giác, nghĩa là cũng như mây khói. Không hiểu rằng Vật nặng chính là do những vọng-tưởng-kiên-cố lâu ngày tích lũy rồi dệt nên, và Vật chính là những tâm tưởng thô kệch, còn Tâm chính là những sắc-tướng vi-tế hoặc vô tướng mạo…Và khi những vọng-tưởng kiên cố kết đọng lại, thì chúng làm huyễn-hiện lên cái cảm giác nặng của trọng lượng.

Tỷ dụ như hành giả tu Mật tông, ngồi trong hang đá nhiều năm, để quán chiếu hình tượng 1 vị Thần linhLúc đầu thì hình tượng mờ ảo, chợt mờ chợt tỏ, là vô-biểu-sắc, vì quang minh tâm thức còn đứt nối tán loạn…Lần lần, trải qua nhiều năm, thì đến ĐỊNH-QUẢ-SẮC, thấy hình tướng rõ rệt, linh hoạt, có thể nói và nghe được…Quán chiếu lâu hơn nữa, cao hơn nữa, thì hình tượng định-quả-sắc sẽ kết đọng hơn, thành một hình-tướng Diệu định quả sắc mà người chung quanh có thể nhìn thấy. Tỷ dụ như trong Kinh Lăng Nghiêm, ngài Nguyệt quang đồng tử ngồi quán nước, thì nước xuất hiện, và đệ-tử ở ngoài nhìn vào cũng thấy là nước…

Khi mức quán chiếu của hành giả lên đến mức tuyệt vời như 1 bậc Đại Bồ Tát, thì những quang minh tâm thức được kết hợp mau lẹ và vững chai, và hình tướng định quả sắc trở thành mãnh liệt kiên cốlinh hoạt như một hình tướng thực vậy. Có thể sinh hoạt nói năng, có thể sờ mó được, có đủ tri giác cùng tâm linh để làm mọi Phật sự, vì Bồ Tát đã chuyển sức tâm linh để làm mọi Phật sự, vì Bồ Tát đã chuyển sức tâm linh vào người huyễn ấy…Tóm lại, thì hình tướng trong định quả sắc là 1 hư ảnh, nhưng hình tượng Vật ở ngoài cũng chỉ là hư ảnh. Chỉ khác nhau ở mức độ Vọng-hóa tích lũy mà thôi, nghĩa là được dệt nên bởi những vọng tưởng Kiên-cố hoặc Hư-minh….

Để hiểu thêm về thuyết Sát-na hay chữ Điển này, hãy lấy thí dụ 1 ngọn nến đang cháy.

Nhìn ngọn nến cháy, ta thường cho đó là 1 ngọn lửa, là 1 VẬT. Nhưng suy ngẫm kỹ, thì sẽ thấy rằng: Vật ấy chẳng phải là đơn-thuần, và được tạo dựng nên bởi vô lượng vô số những Tia-chớp-nháng phụt ra, do sự đốt cháy của những Cực-vi của sáp ong cùng cực-vi của không khí…Trong một sát na A, hàng loạt những tia-chớp-nháng ấy phụt lên, tạo thành 1 TỔNG-TƯỚNG-ẢNH-TƯỢNG đối với mắt con người, và được gọi là ngọn nến. Tới sát na kế tiếp B, lại có hàng loạt những tia-chớp-nháng phụt lên, Tương-tợ-tương-tục, nên tổng-tướng-ảnh-tượng vẫn tiếp diễn. Và ta tưởng ngọn nến là có thực. Kỳ thực nó chỉ được dệt nên bằng vô lượng những tia-chớp-nháng mà thôi.

Hãy suy ngẫm sâu hơn nữa, quán chiếu sâu hơn nữa….Những tia-chớp-nháng ấy là cái gì? Chúng phát hiện ra do sự Đốt cháy những Cực-vi…Vậy thế nào là đốt cháy, và thế nào là Cực-vi?

Đây là 2 câu hỏi rất quan hệ, nó cũng là sự lầm lạc lớn của nền Vật-lý học hiện nay, và chỉ có Kinh Phật mới lý giải nổi….Đốt cháy có nghĩa là: có những loại quang-minh vi-tế nào đó mà chúng ta chưa biết rõ, khi chúng rung chuyển theo 1 tần-số hay 1 nhịp điệu nào, thì làm phát hiện 1 ảo-ảnh gọi là SỨC NÓNG, và ảo-ảnh này có khả năng tương-sanh-tương-duyên, khiến cho những cực-vi kia (tức là của sáp ong) không thể TÁI-XUẤT-HIỆN dưới hình tướng cực-vi sáp ong nữa, mà phải chuyển hiện sang những hình thái khác, vi-tế hơn.

Còn Cực-vi thì cũng tương tự như vậy. Điều nhầm lẫn lớn của các nhà khoa học là do tập quán nhận thức sai biệt nhị-biên quá sâu nặng, lúc nào cũng khư khư nhất định muốn coi những cực-vi là Vật. Kỳ thực thì Vật chỉ là 1 huyền-thoại nhận thức của Vọng thức phân biệt, vì không có cái gì tuyệt đối và nhất định là Vật thuần túy (matière pure) cả. Và pháp giới hay vũ trụ này chỉ là một trường BIẾN HIỆN, luôn luôn thẩm thấu và di động giữa 2 hình thái cực-độ của Vọng thức phân biệt: là Tâm hay Tinh-lực vô tướng mạo, và Vật thô kệch có tướng mạo….Bởi thế, nên nhà khoa học, khi đi sâu vào cực-vi, thì thấy nó biến ảo: có lúc là lượng tử, có lúc là ba động, có lúc lại tan biến mất…Tỷ dụ như hạt neutrino thường chỉ tồn tại 13 giây đồng hồ. Và nhiều hạt tử hay phản hạt tử khác lại chỉ tồn tại 1/10 tỷ giây…Chúng phù du biến ảo như vậy, nếu không phải là Flashs của chữ ĐIỂN, thì còn là cái gì?!?

Những cực-vi, đối với nhận thức con người, là đứng ở mức độ RANH GIỚI của sự chuyển-hiện giữa cái Vô tướng mạo và cái có tướng mạo. Chúng đâu phải có nhất định là Vật, vì chúng đều là quang minh cả, đều là những ảnh-biến-hiện của vô số vô lượng những quang minh mà ta chưa biết rõ…Một hạt nguyên-tử thường chứa đựng 1 hạt nhân cùng mấy âm-điện-tử, còn toàn là hư không cả. Hạt nhân cùng âm điện tử cũng chỉ là hiện-tướng của quang-minh biến hiện chập chùng. Nếu nhà khoa học biết cách chia chẻ chúng ra, thì chúng lại tan thành nhiều cực-vi khác vi-tế hơn, hoặc tan biến đi mất tung tích. Và cứ thế chập chùng hoài hoài, không cùng tận…Nên Kinh Lăng Già mới dạy rằng: ”Cho đến cực-vi, phân tích tìm cầu TRỌN KHÔNG THỂ ĐƯỢC.” Có nghĩa là: nếu ta muốn phân tích tìm cầu, kiếm lấy một thứ cực-vi chắc nịch, để dựng nó nên làm viên-gạch-cơ-bản để xây dựng pháp giới này, thì trọn không thể được.

Là vì sao?

Là vì pháp giới này không phải là Vật, trọn không thể xây dựng bằng Vật như một chiếc máy đồng hồ hay một cái ô-tô được. Nó là 1 trường biến hiện do nghiệp-lực và nhãn lực chiêu cảm nó là do quang minh biến hiện, do THỨC biến hiện, dệt nên bởi vô vàn vô-lượng những tâm-niệm chúng sanh tích lũy từ vô thủy, cũng như bởi những tâm niệm vô niệm của Chư Phật cùng Đại Bồ Tát.

Cho nên, Phật cùng chúng sanh chúng ta đều là những người THỢ DỆT. Tu hành cùng hành trì chỉ là ngồi DỆT tâm niệm. Dệt những tâm niệm cao cả nhẹ nhàng thì sẽ lần lần làm phát hiện những tấm thảm Ba tư, những ngọc ngà châu báu, những thân căn trang nghiêm cùng những quốc độ sáng ngời, có Bồ Tát ngồi đầy khắp…Dệt những tâm niệm lẩm cẩm, thì sẽ làm phát hiện những thân căn tật nguyền, chỉ có mảnh vải che thân, và lọt vào những quốc độ thành vách đen sì, thân mình cũng tối đen¸và cũng chẳng có mặt trời mặt trăng để soi sáng đường đi….

Nói rộng ra hơn nữa, thì thân căn chúng ta, cùng các vật chung quanh, như vây cam, tảng đá…cũng tương tự như Ngọn nến cháy ấy thôi.

Nghĩa là: trong 1 sát-na A, do sức suy động Hành nghiệp của những chủng tử nở ra, có hàng loạt vô vàn những tia-chớp-nháng đột khởi lên, tạo thành một tổng-tướng-ảnh-tượng, gọi là thân căn ta. Những tia-chớp-nháng thô kệch, nặng nề, nhiều tình nhiễm, thì chuyển động lần lần chậm hơn, cuộn lại rồi kết thành những tế bào của thân. Còn những tia-chớp-nháng vi tế hơn, khinh thanh hơn, linh minh hơn, thì chuyển động lẹ hơn, nhưng cũng vẫn cuồn cuộn lại và kết thành Thọ-ấm, Tưởng-ấm cùng Hành-ấm của tâm thức….

Rồi đến sát-na B kế tiếp, lại có hàng loạt vô vàn những tia-chớp-nháng khác đột khởi lên, nhưng tương-tợ-tương-tục và tạo thành những tổng-tướng-ảnh-tượng tượng tợ tương tục…Nhịp điệu rung chuyển của những quang minh ấy thực là vi tế và cực kỳ thần tốc, nên mắt thịt của người cùng những dụng cụ khoa học chưa thể có cách gì nhận định nổi. Ngay cho đến những quang minh thấp kém thô kệch như quang tuyến X hay Gamma chẳng hạn, mà đã đạt tới những tần-số khủng khiếp là rung chuyển hàng triệu hoặc hàng tỷ lần trong 1 giây rồi. Huống hồ là sự rung chuyển của những quang minh rất vi-tế?! Và cũng vì thế nên Phật mới bảo rằng cảnh giới đó là Bất-khả-thuyết….Và phải có thiên-nhãn, huệ-nhãn hay pháp-nhãn mới có thể thấy được phần nào…Và chính là mật-độ (densité), cùng sự chuyển động chậm lại và cô đọng của những vọng-tưởng-kiên-cố, nó khiến cho Trọng-lượng được phát hiện trong thân căn ta cũng như trong sự vật.

Cũng như thân căn ta, những sự vật bên ngoài như cây cam, tảng đá hoặc tinh tú… cũng vậy thôi. Nghĩa là được dệt nên bởi vô vàn những tia-chớp-nháng, rồi được kế tiếp tương-tợ-tương-tục…Lấy tỷ dụ một vì tinh tú thì đủ hiểu. Từ đâu mà có những vòng đai khí-quyển (anneaux de Neptune chẳng hạn) thường bao bọc các hành tinh hay tinh tú? Từ đâu mà các tinh tú cứ đốt cháy cùng chiếu sáng hoài hoài vậy được? Từ đâu mà có loại động vật hoặc loài người xuất hiện trên các hành tinh? Con động vật đầu tiên hay con người đầu tiên là ở đâu mà xuất hiện?

Sở dĩ có những vòng đai khí quyển, là vì chúng là những dấu-tích rớt lại của những cơn-lốc phong-luân mênh mang của quang minh trong thời kỳ hình thành một tiểu thế-giới. Vì sự vật nào cũng được dệt nên bởi những tia-chớp-nháng xuất hiện tương-tợ-tương-tục, và chuyển động theo hình-chôn-ốc…Còn về điểm các tinh tú thường cứ đốt cháy chiếu sáng hoài hoài rất lâu, thì nhiều nhà khoa học cho rằng đó là do sự đốt cháy (combustion) liên tục của một số chất hơi hóa học như hydrogène hay helium chẳng hạn. Trả lời như vậy thì Không phải hoàn toàn sai, nhưng mới chỉ là đứng ở mức độ nhìn những nhân-duyên nông cạn và bề mặt mà thôi. Và chưa thể nào hiểu nổi cái bản chất linh hoạt và sống động của vũ trụ này. Thực ra, thì các tinh tú cũng như mọi sự vật, đều bắt nguồn ở cái Biển quang-minh-uyên-nguyên ấy cả, do sức nghiệp huyễn khởi nên thành quốc-độ y-báo. Nên các tinh tú đều là những thực thể linh động, và đều hàm chứa một Đà-sống nội-tại, do sức Hành huyễn khỏi của nghiệp báo. Nên cứ phụt lên như cây pháo bông, cháy hoài cho đến khi hết sức nghiệp mới nguội…

Vì thế, nên trong kinh Phật, mặt trời mặt trăng đều có những vị trời trị vì ở đó, gọi là Nhật cung thiên tử, hay Nguyệt cung thiên tử. Nhưng đôi mắt thịt cùng dụng cụ khoa học chưa thể nào làm hiển lộ nổi.

Chư Phật Thế tônxuất hiện nơi đời nhiều như vi-trần, dùng Phật nhãn NHÌN RÕ mọi then chốt sinh cơ của pháp giới, rồi luôn luôn nhắc nhở chúng sanh về cái Nguồn sinh cơ ba-động-vi-tế ấy tức là Diệu tâm. Nhưng phần lớn chúng sanh đều không chịu tin. Là do ám chướng quá sâu dầy, do tập quán nhận thức thô-kệch và sai biệt từ vô thủy quá sâu nặng….

Sự vật là như vậy, là những tia-chớp-nháng kế tiếp nối nhau, gần như không có kẻ hở. Vì thế, kinh Phật thường nói đến một thứ duyên kỳ dị, gọi là Đẳng-vô-gián-duyên…Nghĩa là tia-chớp-nháng trước, khởi lên rồi biến đi, làm duyên cho tia-chớp-nháng kế tiếp khởi lên cái diễn trình huyễn-khởi của sức Nghiệp. Khi 1 hành giả tu hành, vào được diệt-thọ-tưởng-định, thì những tia-chớp-nháng ấy mới ngưng đột khởi, nhưng chỉ mới ngưng về phần THÔ mà thôi….Chân lý là như thị, bí-ẩn của pháp giới này là những tia-chớp-nháng của quang minh. Mới nghe thì khó tin khó nhận, nhưng nghĩ lâu thì thấy rằng có lẽ Chân lý không thể khác được….

Vậy thì những tia-chớp-nháng hay quang minh ấy, chúng hằng không ngừng nghỉ đột-khởi từ nơi Biển Chân-không, do sức Hành huyễn khởi của những chủng-tử Nghiệp lực NỞ XÒE ra. Đôi mắt thịt của chúng ta thì không có cách gì nhận định thấy những chủng tử ấy. Nhưng những bậc tu hành có Thiên nhãnHuệ nhãn hay Pháp nhãn thì có thể nhìn thấy các chủng tử, có lẽ dưới hình thái nhũng cơn-lốc-ba-động quang minh, tuy vi tế nhưng cực kỳ thần tốc mãnh liệt.

Nghĩa là chúng phát khởi từ vô vàn những trung-tâm khởi vọng gọi là Chúng sanh, cũng như vi-trần-số những trung-tâm (foyer) khởi Diệu-dụng gọi là Chư Phật và Đại Bồ Tát, và cũng gọi là Chúng sanh Lớn…Mỗi chúng sanh, do những tâm niệm cùng thi-vi tạo tác (thi-vi tạo tác cũng là do tâm niệm) từ vô thủy triền-miên, nên tạo dựng nên 1 thứ thiên-la-võng quang minh gần như riêng biệt của mình. Chư Phật cùng Bồ Tát cũng vậy, do thần-lực cùng nguyện-lực nhiếp độ, cũng tạo dựng nên những thiên-la-võng quang minh vi-tế và tuyệt nhiên không tình nhiễm….Và vô lượng vô vàn, vô cùng tận những thiên-la-võng ấy đều huyễn-khởi trùng-trùng, đều chập chùng xen lẫn lồng vào với nhau, đều thẩm thấu trùng-trùng, tương-duyên-tương-sanh biến ảo không cùng tận. Tuy thẩm thấu xen lẫn trùng trùng, nhưng vẫn giữ được những khía cạnh đặc-thù riêng biệt.

Và tất cả những màng lưới thiên-la-võng quang minh ấy, có thể coi gần như Bản-lai-diện-mục của pháp giới này. Vì những quang minh căn-nguyên (radiations originelles) lại lần lần làm phát hiện nên vô lượng những quang minh quyến-thuộc, thấp kém và thô kệch hơn, để kết tập thành những cảnh giới có hình tướng của pháp giới…Do đó, mỗi chúng sanh thường chiêu-cảm lấy 1 ảnh-tượng riêng biệt về pháp giớitùy theo mức độ cộng-nghiệp cùng biệt-nghiệp của mình, tức là mức độ khởi vọng.

Và cũng bởi thế, nên Kinh Hoa Nghiêm mới dạy rằng: “Hoa-tạng thế giới Tỳ-lô tánh hải này, được dựng lập nên là do Nghiệp-lực-hải của chúng sanh, và do Thần-lực-hải của Chư Phật, cũng như là do Nguyện-lực-hải của chư Đại Bồ Tát…” Cả 3 thứ Hải đó đều là bất-tư-nghì, nhưng pháp giới được AN LẬP, có chỗ nương về, có chỗ trụ là ở nơi Quang-minh-võng của Chư Phật.

Ở nơi gần tột-bờ-mé của bình diện Bản-lai diện lục ấy, thì chỉ là vậy thôi, đều là quang minh vi tế, và ngoài ra không có một Vật. Vật chỉ là ảnh-tượng chiêu cảm…Kẻ viết trộm nghĩ rằng: nếu hành giả nào, trong mỗi giây mỗi phút, có thể giác quán miên tục được sự NHÁNG lên của những tâm niệm, và hiểu rằng chính những tia-chớp-nháng ấy dệt nên pháp giới này, thì kẻ đó đã bắt đầu SỐNG VỚI TÁNH rồi…, tức là bắt đầu Đi-trong-ánh-sáng của Diệu tâm….

Cần nói thêm ít giòng về sự Khởi lên của những tâm niệm, của những tia-chớp-nháng ấy.

Chúng ta thường coi những tâm niệm là hoàn toàn vô tướng mạo, và vô hình chất. Và từ vô thủy, đều mắc phải tập quán nhận thức lệch lạc, coi những tâm niệm vô-hình-chất ấy gần như hoàn toàn khác biệt với cái thân-căn hữu hình và hữu chất này.

Trong Kinh Lăng Nghiêm (trang 1061, bản dịch của cư sĩ Tâm Minh), Phật đã cảnh tĩnh chúng ta về sự lầm lạc này. Trên đại cương, Ngài dạy rằng:”Nếu Tâm tưởng và Thân không phải là cùng 1 THỂ và hoàn toàn khác biệt nhau, thì làm sao những tâm niệm lại có thể thẩm thấu vào thân,và sai khiến thân được? Làm sao khi thân đau ốm, tâm lại bị buồn rầu lo lắng được?….Vậy nên biết rằng 2 cái là cùng một thể, cùng là hư vọng, chỉ khác nhau ở mức độ sai biệt về vọng-hóa mà thôi….” Và cũng bởi thế, nên Kinh mới mệnh danh những tâm-tưởng của ý-thức là DUNG THÔNG vọng tưởngDung thông có nghĩa là, một mặt chúng có thể thấm thấu vào những vọng tưởng kiên cố tức là thân-căn, cùng những hư-minh vọng tưởng của sự cảm thọ của 5 thức trước, mặt khác chúng cũng có thể thấm thấu vào những vọng tưởng u-ẩn hoặc rất vi-tế của thức thứ 7 và thứ 8.

Vậy thì mỗi khi 1 tâm niệm khởi lên, hoặc từ Mạt-na thức chấp ngã, hoặc từ Tàng thức chấp pháp, hoặc từ Chân-không của Diệu Tâm…., tức là nó mở 1 cuộc hành trình CHUYỂN HIỆN từ chỗ vô-hình-chất xuống những lớp có hình-chất. Tâm niệm của chúng ta thường là tâm niệm chúng sanh, nên đều hàm chứa tình-nhiễm (ưa ghét vui buồn). Nên quang minh của tâm niệm lần lần trở thành nặng nề, chuyển động chậm lại rồi xoáy tròn chon-ốc. Và trong cuộc diễn trình này của tâm niệmthì bao giờ cũng có PHƯƠNG-THỜI-THẾ-TỐC và SỐ nổi lên theo nó.

Phương Thời Thế Tốc và Số tức là 4 Bất-tương-ưng hành pháp trong hệ thống Duy thức. Phương là Không-gian, Thời là thời-gian, Thế-tốc là sự chuyển động mau hay chậm, còn Số là những ảnh-tượng sai biệt muôn hình vạn trạng…Nghĩa là: khi 1 tâm niệm khởi lên, và chuyển hiện vào những lớp có hình-chất lưu ngại, thì bao giờ nó cũng TRẢI ra trên không gian và thời gian, do đó hàm chứa 1 thế-tốc tương đối rồi biến hiện thành nhiều thứ ảnh tượng sai biệt. Tức là nó chuyển hiện từ cái MỘT vô sai biệtphi không gian và thời gian, từ cái cực kỳ thần-tốc lập tức ứng-hiện….sang cái NHIỀU (Multiple, Many) có sai biệt vô cùng vô tận, có không gian có thời gian, cũng như có 1 thế tốc tương đối…Kỳ thực, thì cả Không lẫn Thời ấy, cả Thế tốc và Số ấy cũng chỉ đều là vọng-tưởng, là huyễn hiện tương ưng mà thôi…Và không gian cùng thời gian bao giờ cũng dính liền và tương ưng với thế tốc của quang minh tâm niệm (xin xem cuốn Lăng Kính Đại Thừa…)

Như thế là giáo lý Nhà phật, nhất là Kinh Lăng Nghiêm và Duy thức học, đã diễn giải khá rõ rệt về diễn-trình chuyển hiện từ cái vô-hình-chất tới cái có-hình-chất, tức là từ Tâm đến Vật. Lời diễn giải này dĩ nhiên là không có phương-trình toán số ( equations mathématiques ), vì mục tiêu của giáo lý là chỉ dạy hành giả đi tới chỗ thực-chứng và xóa bỏ mọi đo lường phân biệt…Phật nhìn thấy rõ những cảnh giới vi-tế ấy, rồi dạy ta cách thức đi tới đó rồi tự mình nhìn nhận lấy, tức là vượt qua cái sai-biệt-trí để nhìn bằng vô- sai-biệt-trí…Trong khi khoa học ngày nay vẫn còn lòng dòng ở nơi sai-biệt-trí để đo lường phân biệt 1 số Sắc pháp mà thôi. Về những sắc-pháp này, khoa học thực ra mới chỉ nghiên cứu tạm kỹ càng về sắc-trần và thanh-trần. Còn về hương-trần, vị-trần, xúc-trần cùng pháp-trần….cũng chưa nghiên cứu mấy nổi… Ngoài ra, về sự nghiên cứu những tâm-pháp, thì ngành phân-tâm-học hầu như chỉ mới manh nha, vì các nhà khoa học vẫn khư khư muốn ôm lấy cái kiến chấp cố hữu về Vật, và chưa hiểu Tâm là cái gì. Họ luôn luôn suốt ngày dùng đến tâm-thức, mà vẫn không hiểu Tâm. Còn về những Bất tương ưng hành pháp, thì nhà khoa học mới chỉ nghiên cứu 1 cách nông cạn máy móc về Không-Thời cùng Thế tốc mà thôi. Và phải đợi đến Einstein, mới đưa ra được những lối nhìn khá sâu sắc, những vẫn chưa liễu nghĩa về Không-Thời cùng Thế tốc….

Cũng cần ghi thêm rằng: về sự Chuyển động, thì giáo lý nhà Phật dạy rằng mọi thứ lay-động hay chuyển-động đều chỉ là vọng-hiện, tùy theo mức độ tâm thức của chúng sanh đứng nhìn. Đây là đứng về phương diện Chân-đế vô sai biệt mà nói….Còn đứng về Tục-đế sai biệt mà nói, thì cũng có thể nhận định rằng: pháp-giới này có lẽ bao gồm 2 hình thái chuyển động. Một hình thái chuyển động căn nguyên (movement original) còn ít bị vọng hóa, là sự phụt lên, khởi lên của những tia-chớp-nháng quang minh, rồi lần lần xoay tròn cực kỳ mau lẹ theo hình chôn-ốc (movement en spirale). Và một hình thái chuyển động khác có thể tạm gọi là sự lay động hoặc chuyển động lăng-xăng-ngang-dọc (movement tangential et latéral): tức là khi những quang minh đã chuyển hiện qua nhiều lớp vọng-hóa sâu dày rồi, và kết tập thành chúng sanh, thì các chúng sanh này, do sức suy động của ảo-tưởng Ngả-giả, tri-giả, giác-giả… lại dùng thủ đoạn nhân-vi để tạo nên nhiều thứ chuyển động lăng-xăng đi ngang đi dọc…Có lẽ là như vậy, vì trong Kinh không thấy nói rõ về điểm này…Thực ra thì nhưng thể-thức (modalités) rung chuyển hay chuyển-động hay chấn-động của những quang minh vi-tế này đều là bất-tư-nghì, khó thể nghĩ bàn. Và sự cố gắng mường-tượng hình-dung những thể thức ấy, chẳng qua chỉ là cốt làm rõ rệt thêm được phần nào thì hay phần ấy mà thôi.

Về sự vọng-hiện của mọi chuyễn động hay khứ-lai này, thiết tưởng cần nhắc tới lời nói bất hủ của Tổ Di-Đá-Ca, vị Tổ thứ 6 của phái Thiền tông Ấn Độ:

“Trong lúc đi du hóa, có người hỏi:

– Tôn giả từ phương nào đến, và muốn đi đâu?

– Ta từ Tâm mình đến, muốn đi không có chỗ…”

Cho nên, khi chúng ta còn ôm khư khư lấy chấp Ngã, thì cái Ngã cũng tương tự như tấm lăng kính hay tấm gương có vô vàn những GỢN tình nhiễm lăn tăn, và những gợn đó làm ảnh-hiện nên mọi ảnh-tượng cùng chuyển động. Nhưng khi Ngã đã chìm tiêu vào Biểu Diệu tâm rồi, thì thấy rằng ảnh-tượng cùng chuyển động chỉ là vọng hiện…Cũng tương tự như mặt trăng vẫn treo bất động ở trên không, nhưng vì mặt nước hồ lăn tăn gợn sóng, nên ảnh-hiện thành muôn vàn đốm vàng lăn tăn lay động. Tới khi mặt nước đứng lặng, thì thấy rằng trăng-đáy-nước giống như trăng trên không, vẫn chỉ là một và an nhiên bất động….

3 – Pháp giới mênh mang là một màng Thiên-La-Võng tương sanh tương duyên, trong đó các sự vật đều trùng-trùng-huyễn-khởi-tương-ưng:

Sở dĩ như vậy, là vì pháp-giới đều lưu xuất ra từ Biển Diệu-tâm, và hết thảy mọi ảnh-tượng, dù là sự hay là vật, cũng đều được dệt nên do vô vàn những màng lưới quang minh phát hiện từ Diệu tâm rồi trùng-trùng thẫm thấu và trùng-trùng biến hiện.

Từ dữ kiện căn bản này, có thể suy diễn ra mấy điểm thiết yếu sau đây:

a) – Mọi sự vật đều GẮN BÓ lẫn nhau, ĐẮM NHIỄM lẫn nhau, thâu hút lẫn nhau, đều không thể lìa nhau được, đều không phải là MỘT cũng chẳng phải là KHÁC:

Tỷ dụ như Căn thì thường gắn bó với Trần, đắm nhiễm với Trần, thâu hút bởi Trần, khó thể lìa nhau được. Vì những tập quán từ vô thủy, và cũng vì đều xuất phát từ cái Một tức là Thức Sơ năng biến hay từ Diệu tâm…Cho nên, con mắt thường gắn bó với sắc-trần, đắm-nhiễm bởi sắc-trần, bao vây bởi sắc-trần, khó thể lìa nhau được, không phải là một cũng không phải khác…Căn và Trần đã như vậy, thì Thức cũng vậy….Về điểm gắn bó giữa Căn-Trần-Thức này, chương 3 và 4 khi nói về Vòng huyễn-hiện của Thức biến, sẽ trình bày kỹ càng hơn, vì đây là 1 điểm quan yếu để hiểu Kinh Lăng Nghiêm.

Sự vật cũng vậy, cũng đều gắn bó với nhau để tương-sanh-tương-duyên, không thể lìa nhau được, vì mọi vật đều là sở-duyên-duyên cho một vật, và ngược lại…Vật A chẳng phải một cũng chẳng phải khác vật B. Chẳng phải một vì có ảnh-tượng cùng hoạt dụng khác nhau, nhưng cũng chẳng phải khác vì A dính mắc với B và cần có B mới hiện hữu được…và cả 2 cùng khởi lên từ Diệu tâm.

b) – Mọi sự vật đều lưu xuất từ Diệu tâm, nên đều hàm chứa GIÁC TÁNH, chỉ khác nhau ở mức độ-nghiệp lực hay mức độ THĂNG HOA của thức-giác mà thôi….Do đó, những kiến chấp về GIÁC GIẢ hay TRI GIẢ đều chỉ là vọng tưởng:

Trong pháp giới này, thực ra chẳng có gì thực là hữu-tình hay có tri giác cả, và cũng chẳng có gì thực là vô-tình hoặc vô-tri cả. Phân chia ra hữu-tình cùng vô-tình đều là tùy theo mức độ nhãn-lực cùng vọng-thức chấp ngã rồi khởi phân biệt.

Vì Diệu-tâm là Giác tánh, và Giác tánh chu biến cùng khắp, cái Hư-minh le lói cũng cùng khắp, nên cái HAY BIẾT cũng cùng khắp. Cho nên, ngay ở những thứ như cây cỏ, núi đá…cũng vẫn có một thứ thức giác hay biết thô sơ của nó, mà nhà Phật gọi là Phi-tình thần thức. Và mọi vật đều là 1 tấm gương, hoặc bằng phẳng, hoặc lồi lõm gồ ghề, hoặc trong sáng, hoặc mờ bụi…và phản ảnh lại pháp-giới. Vì mức độ Thăng hoa có sai biệt, nên sự phản ảnh hoặc tỏ, hoặc mờ, hoặc tối om. Nhưng tối om cũng vẫn là phản ánh.

Loài người chúng ta vốn là 1 loài có thức-giác được thăng hoa khá cao độ, do nghiệp-lực chiêu cảm…Nên thường khi, đem so sánh đối-đãi mình với những vật khác kém thăng hoa, đều dễ khởi những kiến chấp về Ngã-giả, về Giác-giả, về Tri-giả…mà kinh Đại Bát nhã hay nhắc tới. Tự cho rằng mình là 1 loài tôn quý và có tri giác cao sâu, còn những thứ kia đều là vật vô-tri. Đó là 1 lớp vọng.

Rồi lại khởi 1 lớp vọng nữa: tự cho mình là kẻ thông minh tài trí nghiêng đời, còn những kẻ kia là bọn ngu dốt tối tăm, và chỉ có mình mới có thể nghĩ ra những ý-nghĩ cao siêu được.

Như thế là bước từ vọng đến vọng, chồng chất vọng không thôi.

Cho nên, khi ta nghĩ rằng: “TÔI thấy, tôi nghe, tôi hay, tôi biết, tôi cảm xúc, tôi tư tưởng…”, nghĩ như vậy là LẦM LẠC lớn…Vì thực ra, không phải là Tôi thấy, mà chính là cái Giác-tánh trong sáng ấy nó thấy, vì nó vốn trong sáng và vốn thấy, và cũng chính Giác-tánh ấy nó nghe, nó hay, nó biết, nó cảm thọ, nó tư tưởngGiác tánh ấy phổ vào thân tâm ta, rồi tùy theo mức độ nghiệp-lực, làm phát-hiện những thấy-nghe cùng tư tưởng ấy.

Cho nên, khi ta thấy-nghe-hay-biết mà giữ được trạng thái hồn-nhiên, gột được những kiến chấp của Ngã, thì cái tâm thấy-nghe ấy ĐỨNG LẶNG và trong sángphản chiếu rõ rệt Tánh cảnh tức là bản-tánh của sự vật. Và nhà Phật gọi là cái tâm thấy-nghe ấy là KIẾN ĐẠI, và nó là con đường trở về Diệu tâm.

Còn khi ta thấy-nghe-hay-biết, mà tâm thức vẫn lao xao rì rào dao động lăn tăn bởi những niệm chấp trước hoặc dụng tâm của Ngã, thì cái biển thức tâm vẫn lao xao song vỗ, nên chỉ phản chiếu những ảnh-tượng lệch lạc méo mó của sự vật. Và nhà Phật gọi thức-tâm thấy-nghe ấy là THỨC ĐẠI, và nó là con đường xa lìa Diệu tâm, đi sâu vào Vọng và trôi-lăn-lưu-chuyển…..

Về các sự hành động thi-vi tức là nghiệp-báo cũng vậy, khi ta còn khư khư ôm lấy những kiến-chấp về Ngã và Pháp, thì Nghiệp vẫn theo ta như hình với bóng….Nếu tu hành buông bỏ được những kiến chấp ấy rồi, thì nghiệp tự tiêu tan…

Nên xưa kia, khi Tổ Di Đà Ca đi du hóa, có 1 vị tới hỏi ngài:

– Tôn giả biết tôi chăng?

Tổ đáp:

– Tôi là CHẲNG BIẾT, biết là CHẲNG TÔI…

Là ý ngài muốn dạy rằng: khi ta còn ôm khư khư lấy cái ngã hay cái tôi, thì cái tôi ấy tạo thành 1 tấm lăng kính làm lệch lạc cái Giác tánh siêu việt, và sự hay-biết ấy chỉ là méo mó không thể thấu nổi bán tánh sự vật, nên gọi là Chẳng biết…Khi bỏ được cái lăng kính Tôi đi rồi, thì cái hay-biết mới thực trong sáng thấu triệt, nên gọi là Chẳng tôi….

Vọng-tưởng về Giác-giả hay Tri-giả này là một vọng tưởng lớn và sâu nặng….Nếu kẻ hành giả quán chiếu được luôn luôn về điểm này, thì sớm dẹp trừ được tâm ngã-mạn cùng chấp ngã, và tiến nhanh trên đường tu tập…Vì thế, nên Kinh Đại Bát Nhã hay nhắc tới cái vọng tưởng vừa lớn vừa vi-tế này….

 c) – Về tinh chất LƯU NGẠI hay KHÔNG LƯU NGẠI của sự vật:

Các sự vật đều là những ảnh-tượng dệt nên bởi vô vàn những quang minh của nghiệp lựcNghiệp lực thì có thô có tế, nên các quang minh cũng vậy, hoặc là thô kệch nặng nề chậm chạp, hoặc là vi-tế nhẹ nhàng…(chữ chậm chạp ở đây chỉ có ý nghĩa rất tương đối, vì thực raquang minh nào cũng có thế tốc kinh khủng mà trí óc ta khó mường tượng).

Đối với những ảnh-tượng quang minh này, tính chất lưu-ngại hay không lưu ngại là 1 vấn đề khó biện biệt. Nhưng nương theo lời kinh, có thể tạm nhận định như sau:

Những ảnh tượng hay sự vật, ở cùng 1 mức-độ nghiệp lực quang minh, thì thường lưu-ngại lẫn nhau….Tỷ dụ như các sự vật thường trông thấy như thân căn, cái bàn, cây cam, vì chúng đều được dệt nên bởi những vọng tưởng KIÊN CỐ của chúng sanh (danh từ này là của kinh Lăng Nghiêm), nên chúng lưu ngại, và thân ta không thể đi qua cái bàn được…Những cảm thọ của người là những vọng tưởng HƯ MINH, còn những tâm-tưởng là những vọng tưởng DUNG THÔNG. Vì ở cùng 1 mức-độ nghiệp lực, nên những cảm xúc cùng tâm tưởng của ông A thường cũng lưu ngại những cảm xúc cùng tâm tưởng của ông B. Tỷ dụ như khi ta đi vào 1 buổi hội đông người, mỗi người đều phát thanh 1 cách và tranh luận rầm rĩ, thì tâm thức ta thường xốn xang dao động…

Trái lại, những ảnh-tượng hay sự vật ở khác mức độ nghiệp-lực quang minh, thì thường không lưu-ngại lẫn nhau….Tỷ dụ như có những loại quỷ thần có thể đi qua thân căn của ta được mà ta không hay biết. Vì thân căn của quỷ thần đó được dệt bằng 1 thứ quang minh vi-tế hơn quang minh của thân ta. Hoặc tỷ dụ như ngày nay, quang-tuyến Gamma có thể xuyên qua một tấm chì được. Là vì quang-tuyến ấy là 1 thứ quang minh vi-tế hơn những nguyên-tử của chất chì…

Còn như nếu tu hành tới bực A La Hán hay Đại Bồ Tát, thì những nghiệp-hoặc thô lậu đều hết sạch, và các ảnh-tượng sự vật đều không còn lưu ngại được nữa. Những quang minh của thân căn đều trở thành thanh tịnh vi-tế, nên bậc A La Hán thường đi qua núi đá như đi trong hư không vậy. Nên thân của các ngài có thể gọi là Diệu hữu, vì không còn lưu-ngại….

 d) – CAO nhìn thấy THẤP, còn THẤP không nhìn thấy CAO:

Trên đại để, thì các chúng sanh ở mức-độ tâm thức hay đạo-lực cao (tức là nghiệp-lực nhẹ) thường có nhiều thần thông du hí hơn, và thường nhìn thấy các loài chúng sanh ở mức độ tâm thức thấp hơn…Trái lại, các chúng sanh ở mức độ thấp, thường không nhìn thấy chúng sanh ở mức độ cao.

Tỷ dụ như loài trời nhìn thấy người, nhưng người khó thể nhìn thấy loải trời, trừ phi tu luyện cao thì các thiên tử sẽ tự hiện đến cúng dường…Là vì các quang minh thân căn của loài trời vi-tế hơn. Như các ngài Tứ Thiên Vương vẫn đi tuần trên không trung và nhìn thấy mọi người, nhưng chúng ta không hề nhìn thấy các ngài.

Các vị thiên tử ở những tầng trời thấp, cũng không nhìn thấy những vị ở tầng trời cao hơn.

Trong các kinh Đại Thừa, có rất nhiều vụ trong đó, có Đại Bồ Tát ở cõi khác sang Ta bà nghe kinh. Nhưng vì đạo lực của ngài quá cao, quang minh của diệu-sắc-thân vi tế, nên phần đông tứ chúng đều không nhìn thấy ngài. Nên phải cầu Phật dùng thần lực gia trì cho mới nhìn thấy.

Vì thế, nên trong Kinh Lăng Nghiêm (trang 915) Phật mới dạy rằng: “Này A Nan! Những vị A Na Hàm cư ngụ ở 5 tầng trời Bất hoàn thiên đó, thì chỉ riêng có 4 vị Thiên-vương Tứ thiền được nghe thấy nói, nhưng không thể thấy biết được. Cũng như hiện nay, có những đạo tràng nơi rừng sâu do những vị A La Hán trụ trì, nhưng người thế giam thô thiển không thể thấy được….”

e) – Ở mỗi mức-độ tâm thức, hay mức-độ ĐẠO LỰCNGHIỆP LỰCNHÃN LỰC, thì cái LĂNG KÍNH kiến-chấp gợn-sóng-lăn-tăn của mỗi chúng sanh lại làm LÓE lên những ảnh-tượng sự vật có vẻ khác biệt:

Đó là do nghiệp lực chiêu cảm, mà Kinh Lăng Nghiêm luôn luôn nhắc nhở….Đó cũng là lẽ Trong-ứng-Ngoài-hợp. Vì khi một chủng-tử trong Tàng thức ta hiện hành và nở xòe ra, thì những ngoại duyên cũng làm phát hiện những ảnh-tượng TƯƠNG ƯNG với nghiệp lực….Thường khi, trong cuộc sống, ta hay gặp những cảnh nghịch duyên trái ý, khiến ta rất khổ sở khó chịu mà vẫn không sao làm thay đổi được. Song những cảnh nghịch duyên ấy đều là tương-ưng với những chủng-tử nghiệp nở ra trong Tàng-thức ta. Và cũng vì ta thường chỉ sống ở mức độ ý-thức, chưa thòng nổi sợi dây tâm thức lọt qua được tiềm-thức chấp Ngã, để lọt được vào Tàng thức nên ta vẫn chưa chuyển nổi những chủng-tử nghiệp, và do đó chưa chuyển nổi những chủng tử nghịch duyên…Khi nào tu hành tới mức lọt được vào Tàng thức, thì sẽ chuyển nổi nghiệp, và do đó chuyển được nghịch duyên.

Cũng bởi vậy, nên cũng cùng 1 dòng sông thôi, mà mỗi loài chúng sanh lại tiếp nhận 1 ảnh tượng khác. Loài người có nghiệp lực trung bình, không tốt không xấu quá thì nhìn thấy dòng sông, có thể là nước uống và tắm rửa được. Loài ngạ quỷ thì thấy là 1 dòng lửa đốt cháy….Chư thiên có nhiều phước báo thì thấy là ngọc lưu ly..Loài rồng có trí huệ kém hơn người nhưng phước báo lớn hơn, nên thấy đó là cung điện lầu các có thể ăn uống ngủ nghỉ được. Tính cách chập-chùng biến hiện của pháp giới này là như vậy…Nhưng suy nghĩ kỹ, thì thấy rằng không thể có một chân lý nào khác được, để lý giải cái pháp giới này.

Đối với một loài khác như loài chim chẳng hạn, thì cũng vậy. Đối với mức-độ nghiệp lực cùng nhãn lực của chúng, thì chắc rằng pháp-giới thường xuất hiện dưới những ảnh-tượng lù mù hạn hẹp hơn là những ảnh-tượng đối với người.

Rồi đối với 1 vị Đại Bồ Tát chẳng hạn, thì pháp-giới lại xuất hiện khác hẳn, vừa bao la vi tế nhỏ nhiệm. Nên ngài có thể nhìn thấy vi-trần-số-cõi, rồi các cõi lại kết lại thành những cánh hoa, rồi thành 1 bông Đại-bửu-liên-hoa tức hoa tạng thế giới.

Đại để là vậy.

f) – Khi kẻ hành giảtu hành tới mức phá dẹp được HÀNH ẤM tức là Thức thứ 7 chấp Ngã rồi, thì LỌT vào được Tàng-thức, tức là phạm vi của THỨC ẤM, và thấy rõ những ba-động quang minh vi-tế của Thức biến….Lúc đó, sẽ nhìn thấy rõ 1 số những màng thiên-la-võng quang minh chu biến bao trùm khắp pháp giới. Sẽ thấy rằng thân căn cùng sinh mạng của mình, dung thông và dính mắc với thân căn sinh mạng của tất cả chúng sanh, cũng như dính mắc chằng chịt với khắp pháp-giới. Vì pháp-giới chính là nằm trong Tàng-thức của mình, chính là Tàng-thức của mình, nhưng từ vô lượng kiếp trót mải mê đuổi theo ngoại vật nên ta thường quên mất điều đó. Quên rằng ngoại vật chính là những ảnh-tượng phát hiện từ nơi Tàng thức của mình. Cũng như anh chàng Diễn nhã đạt đasoi gương thấy hình mạo 1 người nhưng lại lê sảng cho đó là một người khác, không biết rằng đó chính là hình bóng của mình….

Về điểm Tàng thức chu biến khắp pháp giới này, Kinh Lăng Nghiêm từ trang 1035, có giảng dạy kỹ càng…

Cũng vì chúng sanh cùng pháp-giới đều nằm trong Tàng thức của mình, nên Đại Bồ Tát không thể nào bỏ chúng sanh cùng pháp giới được. Vì nếu bỏ, thì sự thành tựu của chính mình cũng không được tròn đầy viên mãn…Đó là trường hợp của những bậc A La Hán, mà kinh gọi là Độn căn,và mắc bệnh Triền-không. Nghĩa là lọt được vào tàng thức rồi, nhưng tự mãn nguyện chỉ muốn dừng chân ở đó, không dám phát đại tâm ôm trọn pháp-giới, để thanh tịnh hóa hoàn toàn Tàng thức, và chuyển thành Bạch-tịnh-thức…

Người tu hành pháp môn Tịnh Độ, khi tới mức niệm Phật hoặc quán tưởng khá thuần thục rồi, thì trong một khoảnh khắc nào đó hoặc lúc lâm chung, có thể lọt được vào Tàng thức. Tâm-nhãn được mở, có thể được thấy Đức A Đà, Đức Quán Thế ÂmĐại Thế Chí, hoặc thấy hoa sentràng phan, hoặc thấy chim bạch hạc hay khổng tước…Nếu kẻ hành giả là người rất cao, trụ trong niệm-Phật-tam-muội được mấy ngày liền, vào đến tột-bờ-mé vô sai biệt của Tàng thức, thì người đó sẽ tự hiểu rằng Ba vị Đại thánh Tây phương đều là những ảnh tượng phát hiện từ nơi Tàng-thức của mình. Và riêng đối với người đó, thì đương-xứ Ta bà này tức là tịnh-độ…Nhưng còn với tối đại đa số người tu niệm Phật, thường vẫn còn nhiều tập-khí nhận thức nhị nguyên sai biệt, thì vẫn có một Đức A Đi Đà THỰC SỰ để cầu tiếp dẫn, cùng một Cực lạc THỰC SỰ để cầu vãng sanh.

Còn như người tu trì kinh Pháp hoa, hoặc cầu Pháp hoa tam muội, khi tới mức khá thuần thục rồi, thì trong một khoảnh khắc nào đó, hoặc lúc lâm chung, cũng có thể tạm thời 6 căn thanh tịnh và lọt vào Tàng thức….Thấy những chư thiên đến đón rước mình, thấy thiên-nữ múa hát, và thấy mình đội mão 7 báu, thong dong rong chơi khoái lạc, như trong phẩm 28 của kinh Pháp hoa có nói rõ…

Và những vị tu hành Tịnh độ cũng cần lưu tâm, biết phân biệt giữa 2 cảnh: cảnh trời và cảnh Cực lạc….Cảnh trời thì thường có thiên-nữ, cảnh Cực lạc thì không có người nữ, thuần là trượng phu thân sắc vàng chói. Trái lại, cảnh Cực lạc có nhiều thứ chim do Đức A Di Đà hóa hiện ra, còn cảnh trời thì tuyệt nhiên không có chim…Trong cuốn Đường về Cực lạcxưa kia, có mấy vị cao tăng được Chư thiên tới rước, nhưng từ khước không đi theo. Rồi nhiếp tâm niệm Phật, chờ các vị Đại thánh Tây phương tới mới chịu đi theo….

Tóm lạichân lý Duy Tâm sở hiện bao trùm các Kinh Đại Thừa cùng những bộ Đại luận tuyệt tác như Đại trí độ luận hay Trung luận….Giáo lý nhà Phật đều tuân theo và triển khai theo LÝ NHẤT QUÁN của Tự tâm Biến hiện ấy. Nếu ý hội được phần nào chân lý ấy, thì người đọc kinh sẽ ít bị lạc bước.

Suy tư rồi Quán chiếu lâu dài về Chân lý biến ảo ấy, là công phu tối cần thiết của kẻ hành giả…Trong bộ Đại thừa Khởi tín, ngài Mã minh dạy rằng: :Suy tư cùng quán chiếu về Lý Tự tâm biến hiện là Chánh niệm bậc nhất!”… Nếu lúc lâm chung mà hành giả có thể giữ được tâm thần không điên đảo để quán chiếu Duy tâm sở hiện, thì sẽ cực kỳ tốt lành cho sự thọ sanh hoặc vãng sanh. Vì lúc lâm chung là một giai đoạn chuyển biến mạnh mẽ. Nhưng muốn được vậy, thì lúc bình thường cần phải luôn luôn quán chiếu.

Quán chiếu lâu rồi, thì sẽ nhận thấy rằng Thông-điệp vi-mật của Chư Phật 10 phương 3 đời: “Pháp-giới này được treo trên đầu 1 TÂM NIỆM” thực là Chân lý tối thắng, và Chân lý không thể khác được.

Suy tư cùng quán chiếu lâu rồi, thì những NÚT hoặc lậu trong tâm thức sẽ tự cởi dần. Những nút hoặc lậu vi-tế ấy cởi, thì 6 căn cũng cởi và trở thành thanh tịnh, không còn dính mắc ô nhiễm bởi khách-trần nữa…Và thân-tâm lần lần trở thành 1 tạng quang minh Bảo-giác-viên-dung, tương tự như con tằm đã thoát khỏi cái kén hoặc lậu thô kệch, để thoát ra thành một loài bướm quý….Nơi đây, là bình diện của Lý Sự vô ngại, của Tự Tha vô ngại…độ người cũng như độ mình và mọi động-tác thi-vi cũng đều như huyễn hóa.

Trong phẩm Đề bà Đạt da (phẩm 12)) của kinh Pháp Hoa, trong 1 tiền thânĐức Phật đã từ bỏ ngôi vua, đi theo nhà thiện tri thức Đề bà Đạt da…Đem thân mình hầu hạ thiện tri thức, lấy thân làm giường ngồi cho thiện tri thức để HỌC Kinh Pháp Hoa….Kinh không thấy nói rõ vị thiện tri thức đã dạy Pháp hoa như thế nào?…Nhưng trộm nghĩ rằng: có lẽ vị thiện tri thức cũng chỉ dạy Phật về phép quán chiếu Diệu tâm mà thôi. Luôn luôn quán chiếu rằng: mình nói, mình thở, mình chau mày mình nhướng mắt,mình giơ tay cất chân….tất cả mọi tâm niệm động-tác-thi-vi cũng đều khởi lên từ nơi Diệu tâm ấy, tương tự như những vết-chim-bay, rồi lại tan biến bay đi để trở về Diệu-tâm…Lối quán chiếu miên tục như vậy, nhà Thiền Đốn ngộ gọi là sống không lìa Tánh….

Những nết đại cương đã nói rồi, nay chuyển sang Biển Chân tâm cùng sự khởi Vọng…..

Pages: 1 2 3 4 5 6