KỲ ĐẶC TỐI THẮNG KIM LUÂN PHẬT ĐẢNH
NIỆM TỤNG NGHI QUỸ PHÁP

KINH SỐ 949

Hán dịch: Không biết tên người dịch
Việt dịch: Sa Môn THÍCH QUẢNG TRÍ

 

Phàm người muốn tu tập Pháp Nhất Tự Đảnh Luân Vương. Trước tiên cần phải vào Đại Mạn Đà La Hải Hội, theo Thầy thọ Pháp Quán đảnh, đã được ấn khả xong thời mới được hỏi học Quy Tắc vi diệu, Giáo Môn Chân Ngôn, tạo lập Đạo tràng đều phải y theo nghi thức của Bản Bộ, vẽ tượng Bản Tôn như Pháp an trí.

Nếu muốn mau thành Tất Địa. Trước tiên nên tắm gội, mặc quần áo sạch mới. Nếu là người Xuất Gia cần phải giữ gìn Luật Nghi không được khuyết phạm. Nếu là người Tại Gia cần thọ tám Tịnh Giới Cận Trụ, lại nên ân cần phát tâm rộng lớn, đối với A Xà Lê phải kính ngưỡng như Phật, thương xót các hữu tình phát nguyện Đại Bi, chẳng tiếc thân mạng, thường sinh lòng tế độ, đều khiến cho lìa khổ, được lợi lạc lớn.

Vào Đạo Tràng xong, cúi năm vóc sát đất, chí thành lễ khắp tất cả Như Lai. Lại đối trước Bản Tôn, hằng sa Thánh chúng dùng tịnh ba nghiệp, sám hối trừ tội chướng, khuyến thỉnh chư Phật chuyển Diệu Pháp Luân, tùy hỷ Phước Trí đã tu của ba Thừa. Đem điều lành màu nhiệm này (diệu thiện) hồi hướng Bồ Đề, chúng sanh trong Pháp giới đều chứng quả Phật.

_Tiếp dùng hương xoa bôi (Đồ Hương) xoa tay, chắp tay như hoa sen, quán nguồn gốc, Tự Tánh thanh tịnh bị các khách trần che lấp. Quán như vậy xong, vận tâm rộng khắp, ta và chúng sanh cũng đồng thanh tịnh. Vì khiến được thanh tịnh nên tụng Thù Thắng này

Chân Ngôn tắm gội:

Úm, tát phạ bà phạ truật độ hám

Do tụng Minh ba lần nên ba nghiệp Thân, Khẩu, Ý cho đến khắp cả Pháp Giới…tất cả đều thanh tịnh.

_Tiếp, kết Nhất Thiết Chư Phật Bộ Tâm Tam Muội Gia Ấn: chỉ quán mười Độ (10 ngón tay) xoa nhau nắm thành quyền, Kèm duỗi hợp hai độ Thiền Trí (hai ngón cái), quán khắp chư Phật đầy cả hư không, tụng Chân Ngôn ba lần, rồi xả Ấn trên đảnh.

Chư Phật Bộ Tâm Chân Ngôn là: Úm, nhĩ nẵng nhĩ ca, sa-phạ hạ

Do kết Ấn trước, tụng Chân Ngôn cho nên chư Phật ở mười phương, tất cả Như Lai nương vào bản thệ nguyện đều đến vân tập tràn đầy Hư không, phóng ánh sáng chiếu chạm, gia trì Hành Nhân xa lìa các chướng não, ba nghiệp thanh tịnh, mau chứng Bồ Đề.

_Tiếp, kết Nhất Thiết Chư Bồ Tát Liên Hoa Bộ Tâm Tam Muội Gia Ấn:

Như trước kết Phật Bộ Tâm Ấn

Co độ Tả Trí (ngón cái trái) vào lòng tay

Dựng thẳng Thiền Độ (ngón cái phải), mời ba lần

Vận tâm nhớ niệm Quán Tự Tại

Tất cả Bồ Tát Chúng như bụi

Quyến thuộc cầm sen đầy Hư không

Chí tâm tụng Chân Ngôn ba lần

Đưa Ấn bung xả bên phải đảnh.

Liên Hoa Bộ Tâm Chân Ngôn là: Úm, a rô lực ca , sa-phạ hạ

Do kết Ấn trước, tụng Chân Ngôn cho nên Quán Tự Tại Bồ Tát nương vào Bản Thệ Nguyện đem vô lượng Bồ Tát của Chúng Liên Hoa đến đầy cả Hư không, phóng ánh sáng lớn gia trì Hành Nhân khiến được thanh tịnh mọi mong đều đầy đủ, xa lìa các chướng nạn, mau chứng Bồ Đề.

_Tiếp, kết Nhất Thiết Kim Cang Bộ Tâm Tam Muội Gia Ấn:

Như trước kết Phật Bộ Tâm Ấn

Co độ Hữu Thiền (ngón cái phải) vào lòng tay

Dựng thẳng Trí độ (ngón cái trái), mời ba lần

Quyến thuộc như bụi đều vây quanh

Uy Quang rực rỡ khắp hư không

Chí thành tụng Chân Ngôn ba lần Đưa Ấn bung xả bên trái đảnh.

Kim Cang Bộ Tâm Chân Ngôn là:

Úm, phạ nhật-ra địa-lực ca, sa-phạ hạ

Do kết Ấn trước, tụng Chân Ngôn cho nên tất cả hàng Kim Cang Thủ ở mười phương nương vào Bản Thệ Nguyện đến đầy như mây, hiện Đại Oai Đức, gia trì Hành Nhân, trừ Chướng tồi Ma, tự tại không ngại, mau thành Tất Địa, mau đến Bồ Đề.

_Tiếp kết Kim Cang Giáp Trụ Hộ Thân Ấn:

Chỉ Quán vũ (hai bàn tay) nắm Kim Cang Quyền

Co ngang Thiền Trí (2 ngón cái) ở lòng tay

Tấn Lực (2 ngón trỏ) như câu, thế mặc giáp

Gia trì tim, trán, hai vai, cổ Chí tâm tụng Chân Ngôn ba lần Ấn thân năm chỗ, xả trên đảnh.

Giáp Trụ Hộ Thân Chân Ngôn là: Úm, bộ, nhập-phạ la, hồng

Do kết Giáp Ấn, tụng Chân Ngôn gia trì năm chỗ, thành Đại Hộ Thân, liền đồng với Thể kiên cố của Kim Cang. Kim Cang Tạng Vương nương theo sức Bản Nguyện thống lãnh các quyến thuộc nhiều như cát bụi vây quanh theo hầu, ánh sáng rực rỡ, hiện hình phẫn nộ, gia trì Hành Nhân, oai đức tự tại, tịch trừ loài gây chướng, tồi hoại các Ma. Nhỏ thì hay hộ một thân, lớn thì hộ trì một nước. Tất cả tai ách: nước, lửa, đao binh, thuốc độc, Cổ Độc, cọp, sói, sư tử, thú mạnh thảy đều lìa xa chẳng dám lại gần, Tỳ Na Dạ Ca tự nhiên sợ chạy vĩnh viễn không có não hại, mau chứng Bồ Đề.

_Tiếp kết Biện Sự Ấn

Chỉ Quán (hai bàn tay) xoa trong nắm thành quyền

Co hai Thiền Trí (2 ngón cái) vào lòng tay

Duỗi thẳng Nhẫn Nguyện (2 ngón giữa) dựa đầu nhau

Trên đảnh xoay ba vòng kết Hộ

Xoay trái ba vòng, thành Tịch Trừ Tùy nơi tâm đến, thành phương góc Phá Pháp hay thành tất cả việc.

Biện Sự Phật Đảnh Chân Ngôn là:

Nẵng mạc tam mạn đa mẫu đà nẫm. Úm, nõa rô-úm, mãn đà, sa-phạ hạ

 

Do kết Ấn trước, tụng Chân Ngôn thảy hay Tịch Trừ và kết Hộ Giới. Đây gọi là Chư Phật Cảnh Ngộ Thánh Tâm, hay phá Pháp khác, hoại diệt Ma La (Māra: ma chướng), tám Bộ Trời, Rồng, La Sát, Dược Xoa, Tỳ Na Dạ Ca sợ hãi bỏ chạy.

Do kết Ấn này, tất cả sự nghiệp của Thế Gian, Xuất Thế Gian mau hay thành tựu, tự tại không ngại, Tất Địa hiện tiền.

_Tiếp kết Phụng Át Già Ấn:

Hai tay ngửa lòng như đồ đựng

Co Tấn Lực (2 ngón trỏ) lại bên Nhẫn Nguyện (2 ngón giữa)

Thiền Trí (2 ngón cái) hơi cong phụ Tấn Lực (2 ngón trỏ) Nâng vật ba vòng, ngang trên trán Tưởng tắm Thánh chúng, sạch như sen.

Chân Ngôn Át Già tắm rửa Thánh là:

Nẵng ma tam mãn đa mẫu đà nẫm, nga nga nẵng tảm ma sa ma, sa-phạ hạ

 

Do kết Ấn này, tụng Chân Ngôn, dâng hiến Át Già tắm rửa Thánh Chúng nênm biểu thị cho nghiệp dơ bẩn từ vô thủy của người tu hành đều tiêu trừ, được trong sạch như hoa sen màu nhiệm, đời sau đắc được Trí Vô Nhiễm.

_Tiếp kết Hư Không Phổ Cúng Ấn: Cắp hai tay lại, giao đầu ngón

Phải đè trái, phược như Kim Cang

Tưởng thành chân thật vi diệu cúng

Vô lượng mây biển phụng Thánh chúng

Cúng dường tất cả các Như Lai

Sau nói bốn câu Diệu Già Tha

Chân Ngôn năm biến, xả trên đảnh.

Hư Không Đại Minh Chân Ngôn rằng:

Nẵng mạc tam mãn đa một đà nẫm, tát phạ-tha khiếm minh na nghiệt đế tát-phả ra hê hàm, nga nga nẵng kiếm, sa-phạ hạ

 

Do kết Ấn này, tụng Chân Ngôn cho nên do sức chẳng thể nghĩ bàn, từ Ấn tuôn ra tất cả vật cúng dường. Vô lượng Thiên Chúng đều cầm các vật báu của Trời chứa đầy các món cúng dường màu nhiệm tràn đầy hư không. Ấy là: hương xoa, hương đốt, thức ăn uống, quần áo, phướng, lọng, Anh lạc phụng hiến Như Lai.

Tụng một biến thì tuôn ra hương xoa, đời sau đắc được hương xoa bôi của Giới Phẩm (Giới Phẩm Đồ Hương).

Tụng hai biến thì tuôn ra hương đốt, đời sau đắc được mùi thơm tho của Định (Định Phân Phức)

Tụng ba biến thì tuôn ra vòng hoa, đời sau đắc được hoa sen màu nhiễm lìa nhiễm (ly nhiễm diệu liên).

Tụng bốn biến thì tuôn ra thức ăn qúy báu, đời sau đắc được Pháp Hỷ Thiền Duyệt.

Tụng năm biến thì tuôn ra đèn báu, đời sau đắc được năm loại mắt của Như

Lai, sẽ được đầy đủ các Công Đức, Môn Ba La Mật như trên

_Lại dùng tâm, vận khắp Pháp Giới. Dùng lời thành thật, tụng Diệu Già Tha, rồi nói Kệ là:

Dùng sức Công Đức Ta

Sức Như Lai gia trì

Cùng với sức Pháp Giới

Cúng dường khắp rồi trụ

Tiếp dùng Phạm Tán ca vịnh tướng tốt, thân vàng ròng, công đức thù thắng của Bản Tôn.

Ma nỉ sử nhị, tát phạ nhược nga (1) địa đới sử nhị duệ, xả tỉ-phạ ninh (2) bộ phiêu bộ vãn nhĩ ca mãn đà (3) tam ma sa-đa vĩ nễ-dã địa bả (4) ngật-ra ma rị nĩnh. Nẵng mô tốt-đổ đế (5) đát-ra đá rị tả ngật-ra phạ để ninh (6)

Do khen ngợi ba Thân, sáu căn, các Công Đức, 84 ngàn loại thù thắng chẳng thể nghĩ bàn của Đức Phật. do nhân ca vịnh này nên đời sau được Quả màu nhiệm, phuớc tụ như biển vô lượng, đồng như Kỳ Đặc Tôn

_Tiếp kết Phật Nhãn Đại Minh Ấn:

Chỉ Quán hư hợp (chắp hai tay lại giữa rỗng), hoa chưa nở

Co hai Thiền Trí (2 ngón cái) vào lòng tay

Tấn Lực (2 ngón trỏ) đều đè lưng Nhẫn Nguyện (2 ngón giữa)

Như mắt mở sáng chiếu tất cả

An My (lông mày), tim, trán, hai vai, họng Khởi Đại Bi Mẫn trừ sợ hãi

Tùy tụng Chân Ngôn, xả trên đảnh.

Phật Nhãn Đại Minh Mẫu Chân Ngôn là:

Nẵng mạc tát phạ đát tha nghiệt đế tỳ-dữu, la hạt tỳ-dược, tam miệu tam một đệ tỳ-dược. Úm rô rô, tốt phổ rô, nhập-phạ la, để sắc xá, tất đà lộ tả nĩnh, tátphạ lại tha, sa đà nĩnh, sa-phạ hạ

 

Đây gọi là Nhất Thiết Phật Nhãn Đại Minh hay chận đứng kẻ khó điều phục đáng sợ. Vì muốn thành tựu Thế Gian, Xuất Thế Gian, tất cả Phật Đảnh Đại Luân Vương Pháp, tất cả việc, diệt các tranh luận, cũng là mẹ của tất cả Phật chủng tộc. Lại là mẹ sanh dưỡng của tất cả các Đại Bồ Tát, vì khi nói Đảnh Luân Chân ngôn oai đức kỳ đặc thì chư Đại Bồ Tát đều mất Bản Tâm. Uy lực của các Trời, Rồng, Thần đều bị diệt mất

Phàm tụng Nhất Tự Đảnh Minh. Trước tiên nên tụng Phật Nhãn Minh. Niệm tụng xong rồi cũng tụng bảy biến khiến chúng Thánh vui vẻ, hữu tình an vui

_Tiếp kết Nhất Tự Căn Bản Ấn:

Chỉ Quán (hai tay) buộc kín , xoa thành quyền

Hai ngón Nhẫn Nguyện (2 ngón giữa) như cây kiếm

Thiền Trí (2 ngón cái) Tấn Lực (2 ngón trỏ) cùng trụ móng

Đấy là Kim Cang Phật Đảnh Ấn

Tưởng thân oai đức đồng Bản Tôn Tuôn ra ánh sáng chiếu mười phương Ấn thân năm chỗ, xả trên đảnh.

Kim Luân Đảnh Vương Chân Ngôn là:

Nẵng mô tam mạn đa mẫu đà nẫm. Úm hồng bộ-lâm hồng

 

Đây là Ma Ha Ấn (Mahā-mudra: Đại Ấn)

Ấy là Như Lai Đảnh

Do kết Ấn tụng trì

Tức đồng với Thế Tôn

Diễn nói Đảnh Luân Minh

Tam Thiên (ba ngàn Đại Thiên thế giới) động sáu cách

Sông núi đều sôi trào

Lửa lớn phủ cung Ma

Hoảng sợ, quy y hết

Địa Ngục ngưng mọi khổ Bồ Tát, chúng Trời Rồng Sợ, kính như Thân Phật.

_Tiếp kết Đại Từ Phổ Hộ Ấn:

Mười ngón xoa nhau làm như hình mặt trăng. Thiền Trí (2 ngón cái) Đàn Huệ (2 ngón út) cùng dựa nhau, ấn lên tim, trán, họng rồi xả Ấn trên đảnh.

Từ Hộ Chân Ngôn là:

Úm, một đà muội đát-rị, phạ nhật-ra, lạc khất-sái hám

 

Kết Ấn tụng Minh, trừ sợ hãi

Khởi tâm Đại Bi khắp mọi nơi

Tất cả oán địch, ác lấn bức

Thảy đều nguyện cho được an vui

Do tụng Bi Hộ ba lần nên

Tâm loài ác độc, tự Giác Ngộ

Sanh lòng hối lỗi, hướng Bồ Đề

Vui vẻ kính ngưỡng nơi người trước

Đầu, cuối nếu thường tụng Minh này

Chúng sanh hoảng sợ được an ủi Được lợi ích lớn, việc thù thắng Mau đủ các Nguyện, chứng Tất Địa.

_Tiếp kết Tịnh Châu Ấn:

Cầm xâu chuỗi trong tay

Như hoa sen chưa nở

Nâng hợp ở trên tim

Gia trì hăm mốt biến (21) Trân trọng để trên đảnh

Như Pháp mà cúng dường.

Tịnh Châu Chân Ngôn là:

Úm, A nạp-bộ đế, vĩ nhạ duệ, tất địa, tất đà lại thế, sa-phạ hạ

_Tiếp kết Trì Sổ Ấn:

Hai tay nửa Kim Cang

Thiền Trí (2 ngón cái) vịn Giới Phương (2 ngón vô danh)

Sau Tấn Lực (2 ngón trỏ), Nhẫn Nguyện (2 ngón giữa)

(co lại không chạm nhau) Bảy biến trì Sổ Châu

Sau đó mới niệm tụng.

Trì Châu Chân Ngôn là:

Nẵng mạc bà nga phạ đế, tô tất địa, sa đà dã, sa đà dã, sa đà ra thế, sa-phạ hạ

Trước nên tịnh ba nghiệp
Thêm Pháp mà Niệm Tụng
Một lòng đừng tán loạn
Chuyên chú tưởng Bản Tôn
Câu chữ đọc rõ ràng
Không chậm cũng không mau
Đừng sanh ý lười biếng
Ho hắng với chuyển thân
Tạp nhiễm cùng hôn trầm
Các lỗi lầm như vậy
Chút ít sanh vọng duyên
Đều chẳng được thành tựu
Niệm tụng đủ số xong
Đem châu để chỗ cũ
Lại vào Tam Muội Gia
Nên trụ Bản Tôn quán
Chốc lát từ Định ra
Lại kết Căn Bản Ấn
Lại kết Phật Nhãn Minh
Dùng lời ca vịnh khen
Cúng hiến Át Già xong
Tịch Trừ, giải bên trái
Ba Bộ lại Hộ Thân
Cuối cùng Từ Hộ Ấn
Lễ , sám hối như trước
Đọc tụng Điển Đại Thừa
Tùy ý mà Kinh Hành
Mọi lúc không gián đoạn

ĐẢNH LUÂN VƯƠNG YẾU LƯỢC _MỘT QUYỂN (Hết)_

 

 

KỲ ĐẶC TỐI THẮNG KIM LUÂN PHẬT ĐẢNH NIỆM TỤNG NGHI QUỸ PHÁP YẾU

Nếu người không thể tụng Đại Phật Nhãn Chân Ngôn ở trên thì Tâm Chân Ngôn này cũng được.

Phật Nhãn Tiểu Chú:

Nẵng mạc tam mãn đa một đà nẫm. Úm, một đà, lộ tả ninh, sa-phạ hạ

 

Giáo Thuấn Kuṃ xem lại hai lần xong

PHÁP LÀM THỦY ĐÀN

Lấy phân trâu mới, sạch. Trâu đực là con một không ăn bã rượu, đậu là tốt nhất, không được dùng phân trâu mới tươi (tức dùng phân khô). Lấy cái chậu bằng sành mới đựng nước sạch, không dùng nước dư thừa, rửa ráy sạch sẽ, lấy nước hòa phân trâu, bỏ các thứ ác, trộn bột Đàn Hương. Lấy một cành Dương Liễu, dùng tay phải cầm, tay trái cầm Chày Kim Cương và xâu chuỗi, ngồi ở phương Đông tụng Phật Đảnh Tâm Chú, dùng nhành Dương khuấy nước, tụng 108 biến, trì Chú vào vật đựng nước. Xong vào trong Đạo Tràng, từ góc Đông Bắc rải nước thơm, lấy tay phải xoa chà mặt đất, tùy theo mặt trời mà chuyển xoa, xoa cho đến khô hết, không được dừng. Xoa cho xong một bên đất ở bên trong Đạo Trường cho đến xoa nước bốn bên của Đạo Tràng, mỗi một bước chân (nhất bộ) bốn góc đều dựng cây nêu, giăng dây làm giới hạn. Đây gọi là Đất của Phật Đảnh Tam Muội Đà La Ni Kết Giới.

Như xoa một bên rồi thứ hai, thứ ba cũng xoa như vậy. Xoa chà đất chẳng được dùng nước thơm dư thừa. Ngày ngày lấy riêng phân trâu sạch, dựa theo lúc trước mà làm. Làm nước này tức gọi là Phật Đảnh Tam Muội Đà La Ni Bát Công Đức Thủy

Đàn Địa Kiền Cánh (Nước tám công đức tô Đàn cho khô xong)

Xem hai lần xong

12/02/2009