Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

KINH VĂN-THÙ-SƯ-LỢI HIỆN BẢO TẠNG

Hán dịch: Đời Tây Tấn, Tam tạng Pháp sư Trúc Pháp Hộ, người nước Nguyệt Chi
Việt dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh

 

Nghe như vầy:

Một thời, Đức Phật du hóa tại tinh xá nơi khu vườn Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ, cùng với chúng đại Tỳ-kheo gồm đủ một ngàn hai trăm năm mươi vị và một vạn vị Bồ-tát. Bấy giờ, Đức Phật ngồi trên tòa, nơi giảng đường Ca-lợi-la, thuyết giảng kinh cho trăm ngàn vô số chúng ngồi giáp vòng chung quanh.

Khi ấy, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi, cùng với năm trăm Bồ-tát và các vị trời Thích, Phạm, Tứ Thiên vương và quyến thuộc của họ… cùng nhau đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, đi nhiễu ba vòng rồi ngồi qua một bên. Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bạch Phật:

–Vừa rồi Đức Thế Tôn thuyết giảng pháp gì? Lạy Đấng Thiên Trung Thiên, chúng con xin tuân theo lời giảng dạy.

Hiền giả Tu-bồ-đề, nương nơi oai thần Phật, thưa với Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:

–Vừa rồi, Đức Thế Tôn giảng nói về những việc của đệ tử. Nay xin Bậc Thượng Nhân nói về hạnh Bồ-tát.

Văn-thù-sư-lợi đáp:

–Tất cả những gì Thanh văn, Duyên giác đã thực hành, chẳng ;phải là pháp khí của Bồ-tát? Sao Hiền giả lại hỏi như vậy?

Tu-bồ-đề nói:

–Mong Nhân giả nói rõ ràng về tài năng đó. Chúng tôi xin lắng nghe và lãnh thọ.

Văn-thù-sư-lợi đáp:

–Thưa Hiền giả Tu-bồ-đề! Phải biết hạng người nào có tài năng và hạng người nào không đủ tài năng.

Tu-bồ-đề nói:

–Thưa Nhân giả! Các vị Thanh văn ấy, mỗi người nhờ âm thanh mà được giải thoát. Chúng ta đâu có thể biết được ai là người có tài năng hay không có tài năng. Nay xin hỏi Nhân giả vì chúng tôi rất muốn nghe.

Văn-thù-sư-lợi đáp:

–Thưa vâng! Này Hiền giả Tu-bồ-đề! Có những người xuất phát từ nơi ngu tối, đều chẳng phải là bậc có tài năng trong pháp Phật. Giả sử nơi tăm tối ấy, có hiện ra ánh sáng chiếu soi thì cũng rơi vào tăm tối. Việc cứu giúp chúng sinh, không cùng với tăm tối kết hợp được. Tất cả những gì hiện có là nhằm tạo nên bậc tài năng (pháp khí) trong pháp Phật?

Lại nữa Tu-bồ-đề! Phải đạt đến trình độ tu học về pháp học đã thành tựu, nhìn tất cả chúng sinh bằng sự thấy biết không cùng chấp giữ. Ý chí vị đó lại sợ sệt, tâm nhàm chán mọi thứ cấu uế, sợ nơi ba cõi, không có lấy chút thích thú. Đó chẳng phải là bậc có tài năng trong pháp Phật. Nếu ở vị lai chưa thực hành, đến ngàn muôn kiếp, lưu chuyển khắp cùng trong ba cõi mà không sợ sệt, ở nơi ba độc tham, sân, si mà vẫn vô tâm, vui vẻ trong sinh tử. Giống như dạo chơi nơi tất cả giảng đường, vườn cây, vườn thú, những chỗ qua lại không có sáu việc. Đó gọi là bậc có tài năng trong pháp Phật.

Lại nữa, Tu-bồ-đề! Bồ-tát ở tại nơi ái dục mà không vui trong ái dục. Cũng hiện sự giận dữ nhưng không tạo giận dữ có tác hại. Cũng hiện ra sự ngu si mà không mê lầm tăm tối. Hiện ra hung ác, cứng rắn mà không tạo phiền não. Hiện ra trong ba cõi mà không ở nơi ba cõi ấy, chỉ vì chúng sinh làm bậc thầy dẫn đường chân chánh. Ở trong rối loạn luôn biết thuận theo mà không hoảng hốt. Đối với người cao ngạo vẫn khiêm nhường cung kính. Vì tất cả mọi loài mà làm vơi đi gánh nặng của họ. Chỉ dạy, truyền trao cho tất cả chúng sinh, khiến ngôi Tam bảo trường tồn. Thành tưu trí ba đạt hiện ra khắp nơi. Đây mới gọi là bậc có tài năng trong pháp Phật.

Tu-bồ-đề hỏi:

–Thưa Nhân giả Văn-thù-sư-lợi! Các pháp đều là như thế, nó cùng với cội nguồn chân như là một thì có tài năng hay chẳng có tài năng, làm sao biết được?

Văn-thù đáp:

–Thưa Hiền giả! Ví như người thợ gốm, dùng một loại đất bùn như nhau để làm các loại đồ vật và cùng chung một lò. Các thứ dùng để chứa sữa đông đặc, hoặc đựng dầu mè, hoặc dựng đường mật, hoặc chứa đồ không sạch… nhưng chất bùn đất ấy vẫn như nhau không khác gì cả.

Như thế, thưa Tôn giả Tu-bồ-đề! Các pháp là đồng đẳng, đều cùng một thể và cội nguồn chân như là một, nhưng vận hành theo duyên khởi thì có sai biệt. Như đồ đựng chất sữa đặc kia dụ cho Thanh văn, Duyên giác. Đồ đựng đường, mật chỉ cho các Bồ-tát. Đồ đựng bất tịnh giống như kẻ phàm phu thấp kém.

–Thưa Nhân giả Văn-thù-sư-lợi! Có thể đem đồ dùng có giá trị mà đựng đồ vô giá trị được không?

Đáp:

–Chúng có thể trở thành đồ vô giá trị.

Hỏi:

–Thưa Nhân giả, vì nguyên nhân gì?

Đáp:

–Thưa Tôn giả Tu-bồ-đề! Vì người ấy thọ tất cả pháp khí của dục trần và trụ ở trong đó. Nếu có thể đoạn các dục trần, thì điều đó chẳng phải là tài năng của pháp Phật. Này Tôn giả Tu-bồ-đề! Tài năng đó không có cao thấp.

–Thưa Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Tại sao tài năng đó không có cao thấp?

Đáp:

–Tính chất không có cao, không có thấp, vì pháp đã có chỗ trụ không cao thấp, cho nên đó là pháp khí bền chắc. Giả sử có hạnh cao thấp, thì biết đó là tài năng hủy hoại. Tu-bồ-đề! Ví như hư không chẳng phải là tài năng của tất cả vạn vật, cây thuốc, cây cỏ, lá hoa. Như vậy, này Tu-bồ-đề! Bồ-tát là tài năng của tất cả pháp Phật, cũng không có tài năng nao khác. Ví như cây sinh trên đất, tài năng của hư không có thể được hấp thụ, khiến cho cây ấy lớn lên. Như thế, này Tubồ-đề! Bồ-tát phát tâm trong sạch bình đẳng, nhờ vào trí tuệ Ba-lamật vô cùng mà được nuôi dưỡng lau dài.

–Thưa Nhân giả Văn-thù-sư-lợi! Bồ-tát như thế nào mà được nuôi dưỡng lâu dài?

Đáp:

–Ví như chỗ nuôi dưỡng lâu dài của hư không. Bồ-tát cũng vậy. Hư không và Bồ-tát cuối cùng thì không tăng thêm, cũng không hao tổn.

Lại hỏi:

–Thưa Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Nói vậy là thế nào?

Đáp:

–Không tăng phiền não, không giảm pháp Phật.

Lại hỏi:

–Thưa Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Phiền não và pháp Phật có sự khác nhau thế nào?

Đáp:

–Ví như ở gần núi Tu-di, nhờ ánh sáng tỏa chiếu nên hình dáng người ấy cũng màu vàng. Bồ-tát cũng vậy, dùng ánh sáng của trí tuệ phá tan các bụi dơ, khiến cho hình dáng những người ấy nhuộm màu pháp Phật.

Tu-bồ-đề! The nên các bụi trần đều là pháp Phật. Người trí tuệ sáng suốt, nên xem như nhau không có sai khác. Tất cả các pháp đều là pháp Phật.

Lại hỏi:

–Thưa Nhân giả! Tại sao tất cả các pháp đều là pháp Phật?

–Hãy làm như chư Phật đã làm.

Lại hỏi:

–Thế nào là chư Phật đã làm?

–Như đầu tiên và cuối cùng đều như vậy. Như ấy không tăng không giảm. Đó gọi là “Như”.

–Thưa Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Sao gọi là “Bản”, sao gọi là “Mạt”?

–“Bản” là không, “Mạt” là lặng lẽ. Đó là “Bản mạt”.

–Vậy không và lặng lẽ có sự khác nhau chăng?

Hỏi lại:

–Ví như vàng và các vật báu có khác nhau không?

Tu-bồ-đề đáp:

–Thưa, các vật đó đều như nhau, nhưng chỉ khác tên gọi mà thôi.

–Như thế, không cũng như lặng lẽ, chỉ có tên gọi thì khác. Người trí không vướng mắc nơi chữ, số.

Lại hỏi:

–Thế nào gọi là tướng si mê? Thế nào gọi là tướng sáng suốt?

Đáp:

–Như lời Phật dạy, nhân duyên là tướng si mê. Pháp nghĩa là tướng sáng suốt.

–Thưa Nhân giả Văn-thù-sư-lợi! Thế nào là tướng nhân duyên?

Đáp:

–Tướng của mười hai nhân duyên, thưa Tôn giả Tu-bồ-đề! Đó là tướng nhân duyên. Tướng ấy, nếu có suy nghĩ tạo ra, liền có ý tưởng và biết ngay. Nếu như không có suy nghĩ tạo ra, sẽ không có ý tưởng và không hiện ra sự biết. Người si mê có suy nghĩ phát sinh thì liền có lời nói để biết. Người thông tuệ không có suy nghĩ tạo ra thì không có lời nói để biết. Người đó nếu không có chỗ trụ sẽ đi đến khắp nơi. Đó là hạnh của Hiền thánh đối với hạnh có thực hành. Người không thực hành chẳng phải là hạnh của Hiền thánh.

–Thưa Đại sĩ Văn-thù-sư-lợi! Thế nào là Hiền thánh?

Đáp:

–Hiền thánh nghĩa là ở nơi hư không, không có dấu vết.

–Thưa Đại sĩ Văn-thù-sư-lợi! Tất cả các pháp có phải để ở nơi không nhơ, rỗng lặng, bình đẳng chăng?

–Thưa đúng như vậy.

Tu-bồ-đề lại hỏi:

–Nguyên nhân nào như thế?

Đáp:

–Ví như các dòng nước đều trôi về biển lớn và hợp lại thành một vị. Như thế, này Tu-bồ-đề! Không nhơ, rỗng lặng… đều cùng ở nơi các pháp và cũng làm thành một vị, cũng vì sự giải thoát cho chúng sinh.

Tôn giả Tu-bồ-đề lại hỏi Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:

–Thế nào gọi là giải thoát? Thế nào là Tu-bồ-đề? Duyên nào có chương ngại? Vì hằng ngày hành động không trí, cho nên có chướng ngại phải không?

Đáp:

–Đúng vậy, Tu-bồ-đề! Vì hóa độ người không trí cho nên nói giải thoát.

–Thưa Đại sĩ Văn-thù-sư-lợi! Tất cả pháp nói ra đều không có khác. Vậy từ đâu mà nói là có trí và không trí?

Đáp:

–Ví như, lúc tháng hè nóng bức thì nói nước, ngày mùa đông giá lạnh cũng nói nước, nước ấy không khác nhau. Này Tu-bồ-đề! Như vậy vì suy nghĩ không trong sạch mà có phiền não, do có phiền não mới nói là có trí, không trí. Người có tư tưởng trong sạch không có vướng mắc, vì thế nên nói là có trí. Các bậc chân chánh kia, không ở trung gian giả nói có trí và không trí.

–Thưa Đại sĩ Văn-thù-sư-lợi! Hạnh sâu xa của nghĩa ấy là thế nào?

–Có hai hạnh.

–Thưa nghĩa đó khó thấy.

–Vì lìa xa mắt tuệ.

–Thưa nghĩa đó khó thọ trì.

–Không thể nắm bắt được.

–Thưa nghĩa ấy khó biết.

–Vì không hiểu rõ.

–Thưa nghĩa đó khó thấu rõ.

–Vì đã lìa các giác ý.

–Thưa nghĩa đó khó nói.

–Vì bình đẳng như hư không.

–Thưa nghĩa đó không thể suy nghĩ được.

–Vì không có tưởng, hành.

–Thưa nghĩa đó không có nhớ nghĩ.

–Thế nên không có ngôn thuyết.

–Thưa nghĩa đó không có Hiền thánh.

–Thế nên lìa tưởng nguyện.

–Thưa nghĩa thông tuệ hiện ra nghĩa trí.

–Cho nên không thể tự thấy.

–Thưa Đại sĩ Văn-thù-sư-lợi! Đức Như Lai dạy: “Cầu lợi ích mà không được lợi ích. Không cầu lợi ích mà được lợi ích.” Nhân giả vì ai mà nói chương cú này?

Văn-thù-sư-lợi trả lời:

–Thưa vâng, Tu-bồ-đề! Lợi ích này không có được. Nếu có sự mong cầu để được lợi ích, thì đối với lợi ích ấy, không có lợi ích. Lợi ích là nghĩa vắng lặng. Nếu thân, ý, và suy nghĩ của người ấy có mong cầu được lợi ích, thì đó là chỗ lợi ích không được lợi ích. Đúng như lời Đức Phật dạy: “Không mong cầu lợi ích mà lại được lợi ích. Cầu lợi ích, ngược lại không được lợi ích.”

–Thưa Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Tại sao Đức Phật dạy: “Tất cả các pháp đều là chẳng phải là pháp”?

Đáp:

–Thưa vâng, Tu-bồ-đề! Đức Thế Tôn khi giảng kinh Thí Dụ có nói: Pháp mình mong muốn còn phải đoạn trừ, huống gì là chẳng phải pháp? Giả sử nếu có người đoạn trừ pháp ấy, tức chẳng phải là nghĩa của phi pháp.

Tu-bồ-đề lại hỏi:

–Thưa Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Pháp Phật gọi là chẳng phải pháp ư?

Đáp:

–Thưa không! Pháp Phật không phát triển nên gọi là pháp. Đúng như lời Phật dạy: “Tất cả các pháp đều là chẳng phải là pháp.” Tu-bồ-đề nói:

–Thật là điều chưa từng có! Rất khó mà đạt được! Thưa Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Bồ-tát mới học nghe thuyết này mà không sợ sệt sao?

Văn-thù-sư-lợi đáp:

–Thưa vâng, Tu-bồ-đề! Có bốn việc mà con của sư tử nghe sư tử gầm tâm không kinh sợ và lông tóc không dựng ngược. Đó là:

  1. Đúng thật là dòng giống sư tử.
  2. Do sử tử sinh ra.
  3. Nhờ bậc tôn trưởng nuôi dưỡng.
  4. Không bị lệ thuộc vào các sự vật.

Như thế, người tu hành là bậc Bồ-tát chắc thật của Như Lai, do Như Lai sinh ra, thành tựu từ giáo pháp của Như Lai, vượt lên trên hàng Thanh văn, Duyên giác, không thể là ngang bằng với họ. Người tu hành ấy, nghe nói tất cả pháp, cuối cùng không còn sợ hãi. Ngay nơi chỗ giảng nói và tất cả những pháp đã nói, đều không hề sợ sệt. Tâm người ấy không bao giờ lười biếng, cũng không yếu đuối khiếp sợ.

Lại nữa, Tu-bồ-đề! Loài chim bay trong hư không còn sợ sệt gì không?

–Thưa không.

–Này Hiền giả Tu-bồ-đề! Bồ-tát tu ở cõi không, vắng lặng, nghe các pháp mà không sợ sệt, đối với tất cả các pháp cũng không sợ sệt, không có chỗ nghi ngờ vì đã hiểu rõ các pháp ấy. Thế nên, khi nghe thuyết pháp thì không hề sợ hãi, cũng không lo âu và khiếp sợ.

Thưa Hiền giả Tu-bồ-đề! Từ đâu đưa đến nỗi sợ hãi ấy?

–Vì tham chấp nơi thân kiến nên mới có sự sợ hãi ấy.

–Này Tôn giả Tu-bồ-đề! Bồ-tát vì biết rõ sự tham thân ấy, nên đối với tất cả pháp được nói ra đều không sợ, cũng không khiếp hãi.

Lại hỏi:

–Giả sử Bồ-tát hiểu rõ sự vắng lặng, không tham thân thì làm sao đắc đạo?

Văn-thù-sư-lợi đáp:

–Này Hiền giả Tu-bồ-đề! Bồ-tát không thấy sự đắc đạo khi biết tham thân. Giả sử Bồ-tát thấy đắc đạo mà biết tham thân cho nên không đắc đạo.

Hiền giả Tu-bồ-đề lại hỏi Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:

–Bồ-tát vì thực hành phương tiện khéo léo lớn nên Bồ-tát thấy tham thân mà không đắc đạo.

Văn-thù đáp:

–Tôn giả Tu-bồ-đề! Bồ-tát nhờ trí tuệ biến hóa khéo léo làm tính chất Thánh cho Bồ-tát, vì thế Bồ-tát biết tham thân thì không đắc đạo. Ví như dùng chiếc rìu bén lớn chặt cây to, từng đoạn, từng đoạn cây bị chặt ra nhưng vẫn ở yên vị trí và liền nhau như cũ, cuối cùng không bị ngã xuống đất. Bồ-tát cũng thế, có trí tuệ quyền xảo khéo léo là bản chất Thánh tuệ, vì thế Bồ-tát biết tham thân là không đắc đạo. Hoặc ví như khi trời mưa lớn, cây cối sinh ra rậm rạp, có cây con, rễ non, cành lá, hoa trái, làm lợi ích cho tất cả mọi loài. Bồ-tát cũng như thế, thực hành đại Từ bi, biết rõ tham thân nên hiện sinh ở nơi ba cõi, với đủ các loại hình tướng, tùy theo sắc thân, dáng dấp của chúng sinh mà làm lợi ích cho họ.

Này Hiền giả Tu-bồ-đề! Ví như có gió to thổi tới, trời đổ mưa lớn, rơi trên các cây cối ấy. Bồ-tát cũng vậy, dùng đại trí tuệ như phóng trận mưa lớn êm dịu, hiện ra ngay nơi cội cây giác ngộ.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn khen ngợi Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:

–Lành thay! Lành thay! Này Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Đã khéo giảng nói về trí tuệ biến hóa của các Bồ-tát. Đó là tích chất của bậc Thánh mới được như thế, mới nói được pháp hạnh đại Từ đại Bi. Này Văn-thù-sư-lợi! Hãy lắng nghe ta nói: Ví như có quốc gia đã mạnh lại rộng lớn, mây mù nổi lên bốn phía, phóng đá lửa lớn muốn đốt cháy đất nước ấy. Bao nhiêu cây cỏ có thể bị thiêu đốt, nhưng nếu trời lại mưa lớn, nước xối xuống như trục xe, sẽ làm cho cây cỏ lại được sinh trưởng.

Này Văn-thù-sư-lợi! Bồ-tát cũng như thế, sẽ dùng mưa trí tuệ khéo léo biến hóa, hiện ra các phương tiện, nhập vào tất cả kẻ phàm phu ngu muội, dạy dỗ các kẻ mê mờ thực hiện hạnh Hiền thánh. Làm người thừa hành giới luật nơi cõi sinh tử, chỉ bày nghĩa lý khiến cho họ an vui. Ví như có cây hương thơm, mùi thơm của rễ, cây con, cành, lá, hoa, trái, mỗi mỗi đều không giống nhau. Bồ-tát cũng vậy, dùng trí tuệ với bản tánh tự nhiên, tùy vào sự mong cầu của tất cả chúng sinh, tùy theo bản hạnh của họ mà vì họ thuyết pháp, khiến cho họ vui vẻ, tâm trí được mở bày, không bỏ bản chất đại Bi. Ví như viên ngọc ma-ni báu lớn tên Thích-ca-duy-la-ca. Khi Thiên đế Thích mang viên ngọc quý này, ánh sáng của nó bao trùm các thể nữ, nhà cửa, giảng đường, cung điện… tất cả đều thấy ánh sáng trong sạch ay. Nhưng bản thân viên ngọc sáng to lớn ấy cũng không có sự nhớ nghĩ gì cả. Như vậy, quả trí tuệ sáng suốt, giải thoát, chói sáng của Bồ-tát cũng như ngọc báu minh nguyệt, hiện khắp các sự lợi ích nhưng chẳng bao giờ có sự nghĩ nhớ.

Đức Phật nói:

–Này Văn-thù-sư-lợi! Ví như có viên ngọc báu lớn, tên là Trí nhất thiết nguyện. Tùy theo sự mong muốn của mọi người, viên ngọc ấy đều làm cho đầy đủ và được nhiều lợi ích, nhưng viên ngọc ấy cũng không có sự nhớ nghĩ gì. Bồ-tát cũng như thế, trong sạch như ngọc báu, ban bố cho chúng sinh đầy đủ các điều mong muốn, mà bản thân Bồ-tát không hề có nhớ nghĩ.

Ví như trong hư không có lửa lớn nổi lên, lại có mưa lớn, nhưng cõi hư không ấy không nóng không lạnh. Bồ-tát cũng vậy, ở nơi ngọn lửa ba cõi như ở trong cảnh giới vô vi vắng lặng, không lạnh không nóng. Như trong hư không kia, sinh ra cây độc, rồi lại sinh ra cây thuốc. Cây độc ấy không làm hại hư không, còn cây thuốc ấy làm sạch bất kỳ chỗ nào. Bồ-tát cũng như thế, khéo dùng phương tiện biến hóa nhập vào cây độc, làm cho nó được thành tựu, bằng cách dùng lá, cành của cây thuốc, che chở các gốc, rễ, để các bụi dơ phiền não không vướng vào. Bồ-tát trừ sạch các căn, cũng không có chỗ sạch, nhập đủ hai việc mới không có nhiễm ô. Ví như đồ vật bị rỉ chảy, nhưng khi đắp lại một chỗ làm cho nó không bị rỉ chảy được chỗ đó, ngoài ra những chỗ khác không đắp đều bị rỉ cháy. Bồ-tát cũng như thế, đã luôn ở trong thiền định, đầy đủ thần thông lớn, thì không có những rỉ chảy khác. Có vị đã an trụ, nhưng vẫn hiện ra sự rỉ chảy khác, hiện ra mọi phương tiện phải tùy theo bản tánh của tất cả chúng sinh, từ đó mới thuyết pháp.

Ví như người có tài giữ ngựa giỏi, đã mạnh mà lại có thế lực, biết giữ gìn loài ngựa, không tham tiếc đến thân. Bồ-tát cũng vậy, lập hạnh đại Từ bi mạnh mẽ và có uy lực vượt hơn thế lực khác, để chuyên lo cứu giúp chúng sinh, không hề nghĩ đến thân mình.

Ví như sư tử hùng mạng là vua của trăm thú, không biết sợ là gì, nhưng lại sợ lửa lớn. Bồ-tát cũng thế, không có chỗ sợ hãi mà chỉ sợ rơi vào quả vị Thanh văn, Duyên giác.

Ví như vua rồng A-la-mạn, tuy là loài thú nhưng có thể hiện ra, biến hóa những việc trong sạch, những việc đó đều la chỗ đạt đến bản đức của Đế Thích. Bồ-tát cũng vậy, giả sử bị đọa trong loài cầm thú, vẫn có thể hiện ra thuyết các pháp thanh tịnh, rồi tùy theo bản hạnh của chúng sinh mà chỉ bày, dẫn dắt. Ví như cọ xát cây thì sẽ phát ra lửa và ngọc minh châu phóng ra ánh sáng. Cả hai sự việc ấy đều có lợi ích cả.

Này Văn-thù-sư-lợi! có người phát tâm ngay và có người ngồi nơi cội cây giác ngộ, sau đó mới phát tâm. Cả hai vị Bồ-tát này đều đã đoạn trừ tất cả bụi bặm phiền não và các thứ khổ nhọc bức bách.

Ví như cây cối, đủ các giống loại, đủ các loại tên gọi, hình sắc không giống nhau, cành lá đều khác, hoa trái cũng không cùng loại. Các cây cối này đều nương nơi bốn đại mà được tươi tốt, sum suê. Bồtát cũng thế, tu hành bao nhiêu là hạnh nguyện, chứa nhóm biết bao cội đức lành, đều vì phát tâm thành đạo và mong cầu Nhất thiết trí mà được thành tựu như vậy.

Ví như Chuyển luân thánh vương khi đi đến chỗ bảy báu, bốn binh chủng đều đi theo ông ta. Bồ-tát cũng thế, đạt được phương tiện biến hóa của trí tuệ Ba-la-mật, thâm nhập khắp cùng, tất cả các pháp đạo phẩm đều tập trung theo.

Ví như chim chúa Yết-tùy, giả sử bị rơi vào lưới vẫn tiếp tục phát ra tiếng hót dịu êm. Này Văn-thù-sư-lợi! Giả sử Bồ-tát rơi vào hang động, chưa thấu suốt pháp Phật, chưa diệt được tham sân, chưa ra khỏi ba cõi, vẫn tiếp tục gầm lên tiếng gầm oai hùng của sư tử, nói pháp không, vô tướng, vô nguyện, giảng việc không tạo khởi diệt.

Ví như chim chúa Yết-tùy, ở trên đỉnh núi mà không chịu kêu, gặp được đồng loại của nó mới cất tiếng hot vang. Như vậy này Vănthù-sư-lợi! Nếu có Bồ-tát vào trong chúng Thanh văn không giảng Phật âm không thể nghĩ bàn, khi ở trong chúng Bồ-tát mới giảng nói việc Bồ-tát và giảng Phật âm không thể nghĩ bàn.

Ví như ngọn gió lốc không thể thổi bay đất Diêm-phù-lợi kiên

cố và cả nhà cửa, giảng đường, cây cối… Này Văn-thù-sư-lợi! Tất cả chúng Thanh văn, Duyên giác cũng vậy, không thể nhẫn nhục chịu đựng khổ nạn nhận danh hiệu pháp Phật không nghĩ bàn và sự biến hóa thần thông trong sạch của Phật. Người có lòng tin không nghi ngờ, chẳng phải nhờ công đức của chính họ mới đạt được, mà đều phải nhờ vào oai thần của Đức Phật mới đạt được lòng tin.

Ví như ánh sáng mặt trời chiếu khắp nơi, dù chỗ sạch, chỗ dơ, ánh sáng ấy không vui mừng, cũng không ghét bỏ. Khi ánh sáng chiếu vào cung điện, nhà cửa, thì bóng tối sẽ mất đi. Bồ-tát cũng vậy, phóng ra ánh sáng trí tuệ và phương tiện quyền xảo cho chúng Thanh văn, Duyên giác và hàng phàm phu, để tùy theo sự việc mà giúp đỡ cho đầy đủ. Bồ-tát không vì ở nơi chúng Thanh văn mà vui vẻ, không ở nơi phàm phu mà buồn rầu, cũng không mất cảnh giới trí tuệ quyền xảo của Bồ-tát.

Ví như trên cõi trời Đao-lợi, khi cây Trú độ mới sinh lá, chư Thiên thấy lá bắt đầu ra đều rất vui mừng và thầm nghĩ: “Cây Trú độ chẳng bao lâu nữa sẽ có hoa, trái và được thành tựu.” Cũng vậy, này Văn-thù-sư-lợi! Giả sử có Bồ-tát, đem tất cả những gì mình có được để ban cho mà không tiếc nuối, chư Phật Thế Tôn ca ngợi vị Bồ-tát này, chẳng bao lâu sẽ được những hoa trái pháp Phật, đem ban cho cho khắp quần sinh.

Ví như có loại cây mềm mại nhưng gốc, rễ lại bám sâu vững chắc, tuy hiện ra cành lá cong rũ nhưng không sợ gãy, ngã. Như thế, này Văn-thù-sư-lợi! Nếu có Bồ-tát, cung kính đảnh lễ hầu hạ tất cả mọi người, thì cuối cùng không sợ rơi vào quả vị Thanh văn, Duyên giác.

Ví như nước tùy theo mặt đất mà chảy. Bồ-tát cũng vậy, không có cao ngạo, phải cúi đầu quay theo bậc Nhất thiết trí.

Ví như biển lớn khi mới lập thành, đều phải nhận chứa tất cả các dòng sông, ngòi, khe suối từ mặt đất tuôn vào. Bồ-tát cũng thế, vì không có cao ngạo, nên được an trụ trên đỉnh của tất cả pháp Phật.

Ví như ngọc ma-ni lớn, tên là Chiếu minh. Viên ngọc này, có thể ban cho tất cả những điều mong ước, các viên ngọc ma-ni khác không thể sánh bằng. Ngọc ma-ni ấy chiếu sáng các ngọc báu ma-ni, nhưng ánh sáng ấy vẫn không giảm. Như thế, Bồ-tát chỉ dạy truyền trao cho chúng Thanh văn, Duyên giác, khiến cho họ được vào luật mà không rơi vào những hạnh ấy.

Ví như hoa Mạn-đà-lặc mềm mại, tươi đẹp vô cùng, hương hoa lan tỏa đến hơn bốn mươi dặm. Bồ-tát cũng vậy, dùng trí hiền thành phát đại Từ bi rộng khắp trong chúng sinh, làm cho họ đều được an ổn.

Ví như hoa Mạn-đà-lặc, nếu có người bệnh nào ngửi được mùi hương của hoa này, bệnh liền thuyên giảm. Bồ-tát cũng như thế, dùng hương đại Từ Đại bi thực hành đến khắp mọi nơi để giải trừ tất cả bệnh phiền não cho chúng sinh.

Ví như thời không có Phật, cây Ưu-đàm-bát không có hoa, nhưng có trái. Chưa có Bồ-tát thì không xuất hiện hoa pháp Phật.

Ví như Long vương A-nậu-đạt hạ lệnh cho mưa khắp cõi Diêmphù-lợi. Như thế, Bồ-tát cũng vậy, ban cho mưa pháp đều khắp tất cả chúng sinh, cho đến cả loài chúng sinh nhỏ bé.

Ví như nước nơi ao A-nậu-đạt chảy ra bốn con sông lớn. Tất cả con sông ấy đều chảy vào biển, luôn luôn tràn đầy. Bồ-tát cũng như thế, bốn ân lưu hành đầy đủ, tràn đầy vào biển đại trí tuệ.

Ví như khi chưa có biển lớn, dân chúng ở cõi Diêm-phù-lợi tự nhiên được viên ngọc ma-ni nhỏ. Này Văn-thù-sư-lợi! Bồ-tát cũng vậy, khi chưa phát tâm Bồ-tát, đều phải nương nhờ pháp bảo của Thanh văn, Duyên giác.

Ví như người có sắc thân đều có bốn đại. Bồ-tát cũng vậy, các pháp được nói ra đều vì muốn độ thoát cho tất cả chúng sinh khiến họ được vào cửa pháp.

Ví như cây cối sinh trong đầm lầy núi non, không ích lợi cho mọi người. Hàng Thanh văn cũng vậy, sợ hãi khổ nạn sinh tử, không ích lợi cho tất cả chúng sinh.

Ví như chính giữa thành lớn sinh ra cây thuốc trị liệu được rất nhiều bệnh cho tất cả chúng sinh. Bồ-tát cũng vậy, nhập đại Từ bi, phát ra Nhất thiết trí, đem nhiều ý báu làm lợi ích cho tất cả quần sinh.

Ví như nước mưa không thể đọng lâu dài. Chúng Thanh văn cũng vậy, chỉ dạy truyền trao và thuyết pháp, nhưng không tồn tại dài lâu.

Ví như tháng mùa xuân, dòng nước lớn chảy sẽ không khi nào ngưng giảm. Bồ-tát cũng như vậy, chỉ dạy truyền trao và thuyết pháp mãi mãi, không ngừng nghỉ.

Ví như cây sinh ra trong núi rừng, vào mùa đông, nếu có người đến chặt, những cây ấy sẽ nhanh chóng sinh trở lại. Cũng như thế, này Văn-thù-sư-lợi! Những hành động mà Phật đã thể hiện, Đức Như Lai tuy đã nhập Niết-bàn, nhưng giáo pháp của Tam bảo vẫn còn không hề đoạn diệt.

Khi ấy, Hiền giả Tu-bồ-đề bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Thật là điều chưa từng có! Hạnh đức lẫy lừng của chư Bồ-tát vô lượng và cao vời, không thể ca ngợi hết được. Vừa rồi, Đức Như Lai giảng nói công đức chân thật, đây cũng thật khó sánh kịp. Giả sử Bồ-tát nghe nghĩa đức như vậy mà không vui vẻ, cũng không ưu sầu, thế là rất tốt!

Đức Phật nói:

–Bồ-tát vốn đã đạt đến chỗ trong sạch, vì thế khi nghe giảng nói tất cả đức nghĩa cũng không vui, không buồn.

Hiền giả Tu-bồ-đề bạch Phật:

–Sao gọi là bản tịnh?

–Này Tu-bồ-đề! Bản ấy là không ngã, là không thọ mạng, là không tham thân, là không ngu si và ái chấp. Đó là ngã sở, chẳng phải bản nơi ngã ngã sở. Bồ-tát cũng vậy, đối với các bản ấy luôn được trong sạch.

Hiền giả Tu-bồ-đề lại hỏi:

–Bạch Thế Tôn! Sao gọi là tịnh?

Phật nói:

–Này Tu-bồ-đề! Không giữ, không bỏ gọi đó là tịnh. Không khởi, không diệt, gọi đó là tịnh. Không nghĩ, không nhớ, không dơ, không sạch, gọi đó là tịnh. Không cao, không thấp, gọi đó là tịnh. Không làm cũng chẳng phải không làm, không tăm tối cũng không sáng tỏ, không phiền não cũng không tranh loạn, không giải thoát cũng không ràng buộc, gọi đó là tịnh.

Hiền giả Tu-bồ-đề lại hỏi:

–Bạch Thế Tôn! Không sinh tử cũng không Niết-bàn, sao gọi đó là tịnh?

Phật nói:

–Này Tu-bồ-đề! Như thế này là tịnh: Không nghĩ Nê-hoàn, không xa sinh tử, lúc ấy mới gọi là tịnh. Ví như hư không là tịnh, không có người làm tịnh hư không. Người thực hành như thế là trong sạch, ở đó không có người làm cho trong sạch. Nếu người nghe những điều này mà không sợ hãi, gọi đó là trong sạch. Này Tu-bồ-đề! Ý thầy nghĩ thế nào? Có pháp tịnh không?

Hiền giả Tu-bồ-đề bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Từ xưa pháp ấy vốn đã tịnh.

Phật nói:

–Nghe các điều đã nói mà không vướng mắc vào lời nói như vậy gọi là tịnh. Vướng mắc với người không xét đoán kỹ lẽ nào có thể gọi là tịnh chăng?

Hiền giả Tu-bồ-đề bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Pháp giới là tịnh tự nhiên, nên có sự hiểu biết bình đẳng.

Phật nói:

–Thế nào, Tu-bồ-đề! Có thể biết được pháp giới không?

Hiền giả Tu-bồ-đề đáp:

–Bạch Thế Tôn! Có thể biết được.

Phật lại nói:

–Giả sử khiến cho pháp có thể biết được ngay nơi ấy sinh, tức là pháp khác. Người kia vì mong cầu pháp giới, mà pháp giới ấy cũng không biết rõ pháp.

Phật lại nói:

–Này Tu-bồ-đề! Nếu không biết pháp giới giải thoát khác, thì người biết pháp giới đó, không được giải thoát. Như vậy làm sao biết rõ pháp giới?

Lúc ấy, Hiền giả Tu-bồ-đề lặng yên không trả lời. Bồ-tát Vănthù-sư-lợi nói với Hiền giả Tu-bồ-đề:

–Đức Thế Tôn có chỉ dạy, tại sao Hiền giả lặng im không trả lời?

Hiền giả Tu-bồ-đề nói:

–Thưa Nhân giả! Sở dĩ tôi im lặng, vì từ xưa tôi đã không phát tâm với đạo Chánh chân Vô thượng. Vì sao? Vì biện tài của Thanh văn có giới hạn và có chướng ngại, còn biện tài của Bồ-tát thì không có giới hạn và chướng ngại.

Bồ-tát Văn-thù lại hỏi:

–Hiền giả Tu-bồ-đề! Pháp giới mà cũng có giới hạn và chướng ngại hay sao?

Đáp:

–Pháp giới không có giới hạn và chướng ngại.

Bồ-tát Văn-thù lại hỏi:

–Nếu pháp giới không có giới hạn và chướng ngại thì tại sao Hiền giả lại bị chướng ngại do lặng im và nói?

Hiền giả Tu-bồ-đề đáp:

–Thưa Nhân giả! Người nào muốn biết sự tận cùng của pháp giới, liền dùng ngôn từ và bị chướng ngại. Nếu có người biết rõ pháp giới là vô lượng, không thể tận cùng, nghe nói điều này thì không lấy làm chướng ngại.

Lại hỏi:

–Ý của Hiền giả Tu-bồ-đề như thế nào? Cho đến pháp giới là có cùng tận không?

Đáp:

–Pháp giới bao la, không thể cùng tận. Vì thế pháp không thể cùng tận.

Bồ-tát Văn-thù lại hỏi:

–Giả sử pháp không cùng tận, thì tại sao Hiền giả thuyết pháp mà bị chướng ngại?

Đáp:

–Tôi vì sự giảng thuyết cho hàng Thanh văn có giới hạn, nên có tận, có chướng ngại. Xét nơi cõi Phật không có hạn lượng, khi giảng nói pháp giới không cùng tận.

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi lại hỏi:

–Vì sao? Thưa Hiền giả Tu-bồ-đề! Pháp ấy lẽ nào lại có cảnh giới để nói sao? Ở nơi pháp ấy có làm thành cảnh giới thuyết pháp, thì có phần số chăng?

Đáp:

–Thưa, tôi không nói pháp có cảnh giới hay pháp không có cảnh giới.

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi lại hỏi:

–Thế nào, Hiền giả nói có bao nhiêu cảnh giới?

Hiền giả Tu-bồ-đề đáp:

–Vừa rồi tôi có nói biện tài của Thanh văn có giới hạn và có chướng ngại. Biện tài của Bồ-tát thì không có giới hạn và không có chướng ngại.

Bồ-tát Văn-thù hỏi:

–Thế nào Hiền giả! Như vậy là đạt thông tuệ chăng?

Đáp:

–Như vậy là đạt thông tuệ.

Bồ-tát Văn-thù lại hỏi:

–Này Hiền giả! Thế nào là nói và im lặng mà bị chướng ngại?

Đáp:

–Vì Thanh văn không thể biết rõ căn tánh của tất cả chúng sinh. Dùng ngôn ngữ diễn đạt nên mới có chướng ngại như vậy. Bồ-tát có trí tuệ biện tài, hiểu rõ căn tánh của chúng sinh, cho nên không dùng lời nói để khỏi bị chướng ngại.

Bồ-tát Văn-thù lại hỏi:

–Đức Thế Tôn trí tuệ biện tài bất động, Hien giả nghĩ rằng trí tuệ ấy có giới hạn chăng?

–Thưa không, trí tuệ ấy không có tướng chướng ngại, không có tướng trụ nơi một chỗ nào.

Bồ-tát Văn-thù lại hỏi:

–Nếu như trí tuệ không có tướng chướng ngại, không có tướng trụ nơi một chỗ nào, tại sao Hiền giả lại lặng im mà bị ngăn ngại?

Lúc này, Hiền giả Tu-bồ-đề nói với Tôn giả Xá-lợi-phất:

–Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất! Tôn giả đã được Đức Thế Tôn khen ngợi là bậc trí tuệ cao tột. Nay xin Tôn giả giải nói cho câu hỏi này.

Tôn giả Xá-lợi-phất nói với Tôn giả Tu-bồ-đề:

–Xin Tôn giả hãy giảng nói. Hôm nay tôi chỉ muốn được nghe pháp do Tôn giả và Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi giảng nói.

Tôn giả Tu-bồ-đề nói:

–Hiền giả có muốn nghe tôi nói những pháp mà Bồ-tát Văn-thùsư-lợi đã giảng nói không? Bây giờ tôi sẽ tuyên nói pháp ấy. Vì sao? Vì tôi đã từng nghe biết.

Ngày trước, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi thuyết pháp ở chỗ trăm ngàn vô số các Đức Phật, khiến cho các đệ tử lớn lặng im, không nói gì cả. Lại nhớ về quá khứ, tôi và Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi cùng đi về hướng Đông, đến các cõi Phật. Chúng tôi đi qua trăm ngàn vô số cõi Phật, trong đó có một thế giới tên là Hỷ tín tịnh, Đức Phật nơi cõi ấy hiệu là Quang Anh Như Lai Vô Sở Trước Chánh Đẳng Chánh Giác, hiện đang thuyết pháp. Đức Phật ấy có vị đệ tử lớn tên là Thánh Trí Đăng Minh, có trí tuệ cao tột. Nhân lúc thấy Đức Như Lai an tọa nơi vắng lặng, vị đệ tử Thánh Trí Đăng Minh ấy liền vọt lên cõi Phạm thiên thứ bảy, thuyết pháp cho tất cả chúng sinh, âm thanh vang khắp tam thiên đại thiên thế giới. Tôi và Văn-thù-sư-lợi cùng đến cõi nước ấy, đồng thời còn có trăm ngàn vô số Bồ-tát và mười vạn chúng trời, vì muốn nghe pháp nên đi theo hộ vệ Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi.

Bấy giờ, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đi đến cõi trời Quang âm, cất tiếng dịu êm nhưng âm thanh lại vang dội. Âm thanh ấy vang khắp cả tam thiên đại thiên thế giới, làm chấn động các cung điện của ma, diệt trừ các đường ác, khiến tất cả có được chánh tín, an vui.

Khi ấy, vị đại đệ tử Thánh Trí Đăng Minh nghe thấy âm thanh vang dội kia thì vô cùng sợ hãi, liền ngã quỵ xuống đất không kiềm chế lại được. Ví như ngọn gió lớn mạnh thổi đến làm ngã đổ tất cả, không có gì vững chắc. Lúc Thánh Trí Đăng Minh đang sợ hãi hết sức, vì việc chưa từng có, ông liền đến chỗ Đức Như Lai Quang Anh, bạch Đức Thế Tôn: “Lạy Đấng Thiên Trung Thiên! Vị Tỳ-kheo nào, hình dáng ra sao mà phát ra âm thanh vĩ đại, khiến con nghe âm thanh ay vô cùng sợ hãi, không đứng vững nổi, nên bị ngã quỵ xuống đất. Như ngọn cuồng phong thổi đến, khắp nơi đều bị ngã rạp.”

Đức Phật Quang Anh bảo vị đệ tử: “Có Bồ-tát tên là Văn-thùsư-lợi, đạt được Bất thoái chuyển, đã dùng thần thông và sức trí tuệ của bậc Thánh để đến cõi nước này. Bồ-tát ấy, muốn ra mắt Đức Như Lai, cung kính đảng lễ xin thỉnh vấn về giáo nghĩa. Vừa rồi, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi với hình sắc rực rỡ, ở nơi cõi trời Quang âm, cất lên tiếng nói lớn, vang dội khắp cả tam thiên đại thiên thế giới, làm chấn động cung ma, diệt trừ các đường xấu ác, khiến cho tất cả mọi loài đều được an vui.”

Thánh Trí Đăng Minh bạch Phật: “Con rất mong được gặp Bồtát Văn-thù-sư-lợi. Lạy Đấng Thiên Trung Thiên! Nếu con được thấy bậc Chánh sĩ cao tột không ai sánh bằng như vậy, thật là vui thích biết bao.”

Đức Như Lai Quang Anh liền tạo sự cảm ứng, thỉnh Bồ-tát Vănthù-sư-lợi. Lúc ấy Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi cùng các vị Bồ-tát và chư Thiên, từ trên hư không bỗng nhiên hạ xuống, đến chỗ Đức Như Lai Quang Anh, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật và đi nhiễu ba vòng, mỗi vị tự dùng thần lực hoa ra pháp tòa để ngồi.

Đức Phật Quang Anh liền hỏi Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi: “Nhân giả vì sao đến thế giới này? Có phải là muốn dạo xem không?”

Bồ-tát Văn-thù bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Con muốn được gặp Đức Thế Tôn để cung kính đảnh lễ và thưa hỏi về giáo pháp, cho nên mới đến cõi này.”

Lại hỏi: “Này Văn-thù-sư-lợi! Thế nào là quán thấy Như Lai mà là sự quán thấy trong sạch? Thế nào là đảnh lễ Như Lai? Thế nào là thưa hỏi Như Lai? Thế nào là giảng hỏi? Thế nào là nghe nhận điều Như Lai đã thuyết giảng?”

Bồ-tát Văn-thù đáp: “Bạch Thế Tôn! Xét xem các pháp vắng lặng là sự thấy trong sạch. Như Lai là sự quán thấy trong sạch cũng không thân, không ý, không tâm, không lễ, không kính, không mất, không vội, không hoại, không trụ, không thường được, từ không mà sinh, không tâm hành, thường vắng lặng. Như thế, quán thấy Như Lai phải là vô ngã, không quán bằng các sắc, cũng không cho bậc bình đẳng là bình đẳng, cũng không cho tà là tà mà bình đẳng như một. Chư Phật Thế Tôn với Pháp thân đều bình đẳng như thân con, cũng thấy được Pháp thân như chỗ con thấy, cũng không thấy như chỗ con không thấy, không xa cũng không gần. Như thế là đảnh lễ Như Lai mà hỏi trong vắng lặng. Không có tưởng nhớ, cũng không thấy có pháp, cũng không thấy pháp không vắng lặng. Gọi là ngã, vì đối với tất cả pháp, hoàn toàn vắng lặng. Ngay trong vắng lặng mới hỏi bình đẳng, chứ không hỏi mê lầm. Điều muốn hỏi và người hỏi, sự kiện này không có hai để cầu vượt qua bờ giải thoát. Điều hỏi phải tịnh nơi tất cả đạo tràng. Như thế là thỉnh hỏi Đức Như Lai, bằng câu hỏi như như bất động chứ không phải hỏi là mơ hồ. Hỏi những điều nhu thuận như thế mới có thể vừa ý Đức Như Lai, vui lòng trong chúng hội và không làm vướng mắc tâm người khác. Những điều đã hỏi như vậy khiến cho vô số người đứng vững trên đạo nghĩa, không bỏ áo giáp phước đức, đến ngồi nơi cội cây giác ngộ. Nghe giảng pháp như vậy mới là thưa hỏi Như Lai.”

Đức Như Lai Quang Anh Chánh Giác khen ngợi Đồng tử Vanthù-sư-lợi: “Lành thay! Lành thay! Nhân giả, thật đúng như vậy! Nhân giả đã gặp Đức Như Lai, cung kính, đảnh lễ và thưa hỏi nghĩa pháp.”

Khi đó, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi mới hỏi vị đại đệ tử Thánh Trí Đăng Minh: “Thưa Tôn giả! Thế nào là gặp Đức Như Lai, cung kính, đảnh lễ? Thế nào là hỏi nghĩa pháp?”

“Thưa Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Tôi không hiểu thấu đáo điều này và chẳng phải ngang hàng với Bồ-tát, vì hàng Thanh văn do âm thanh mà được giải thoát nên không biết rõ việc ấy.”

Lại hỏi: “Thế nào, Hiền giả! Khi tâm chứng ngộ, lời nói là tín chứng mà giải thoát được chăng?”

“Thưa Nhân giả! Tôi không dám nói như vậy, vì chưa hiểu rõ nghĩa sâu xa.”

Lại hỏi: “Thế nào là giảng nói sự bình đẳng của nghĩa sâu xa?” Đáp: “Không ngụ nơi bình đẳng, không dẫn đến nghĩa sâu xa. Thưa Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Sao nói là khởi diệt nghĩa không, không sâu xa mà chứng đắc nghĩa không, lại có tướng không bình đẳng. Như thế là đệ nhất nghĩa đế, đó là thâm nhập sâu xa vào nghĩa chân thật, gọi đó là Bồ-tát mới học. Người nghe nói những điều này sẽ không còn sợ hãi phải không?”

Bồ-tát Văn-thù nói: “Tôn giả nay đã sợ hãi huống gì là đối với vị mới học.”

Thánh Trí Đăng Minh thưa: “Tôi không thể là người sợ như vậy.”

Lại hỏi: “Vừa rồi vì sao sợ hãi? Hiền giả chưa nhàm chán giải thoát phải không?”

Đáp: “Chẳng phải không sợ, chẳng phải không chán mà được

giải thoát.”

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi hỏi: “Vì Hiền giả, vốn do sợ hãi, tập hợp nên nói “Nhân giả nay còn sợ hãi, huống gì là hàng mới học”, phải vậy không?”

“Xin hỏi Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi: Bồ-tát do nhân gì mà được giải thoát?”

“Đạt đến không sợ hãi và không nhàm chán.”

Lại hỏi: “Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi nói những điều này có nghĩa như thế nào?”

“Không sợ trăm ngàn vạn ức quân ma và quyến thuộc của chúng. Vì tất cả chúng sinh mà thuyết pháp không chán mỏi, không sợ tích lũy vô lượng công đức. Gieo trồng vô số trí tuệ và thực hành không biết mệt.”

Khi ấy trong chúng hội có các vị trời, mỗi vị đem những loại hoa tươi đẹp khác lạ, tung lên chỗ Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi và cùng thưa: “Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đã nhanh chóng dừng lại, trụ ở nơi này, lại còn bình đẳng xem xét khắp. Đó là Đấng Như Lai, là Bậc chánh oai thần. Sự hộ trì của Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi ở đây là dùng tất cả công đức để giảng nói pháp mầu, cứu giúp quần sinh.”

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi nói với Thánh Trí Đăng Minh: “Đức Thế Tôn ca ngợi Tôn giả có trí tuệ sâu xa, vậy trí tuệ là hữu vi hay vô vi? Giả sử hữu vi, đó là khởi phân biệt. Giả sử vô vi, đó cũng là tạo tướng?”

“Thưa Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Các bậc Hiền thánh chỉ nhớ giảng nói vô vi.”

Lại hỏi: “Vô vi mà lại có sự nghĩ nhớ và nói năng sao?”

“Thưa không.”

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi lại hỏi: “Các bậc Hiền thánh vì sao giảng

noi hạnh vô vi?”

Khi ấy Thánh Trí Đăng Minh lặng yên không nói thêm một lời nào. Đức Như Lai Quang Anh Vô Sở Trước Chánh Đẳng Chánh Giác mới bảo Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi: “Nhân giả nên vì chúng hội đây mà giảng nói pháp môn đó, khiến cho chư Thiên nghe thọ nhận được pháp ấy. Chúng Bồ-tát nghe được pháp này sẽ lập bất thoái chuyển, mau đạt đến đạo Chánh chân Vô thượng.”

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi thưa: “Chánh pháp môn này là thực hành sự vắng lặng. Đối với pháp môn vắng lặng không có lời nói, lấy sự an nhiên làm trong sạch.”

Lúc này, trong chúng, có Bồ-tát hiệu là Pháp Ý, từ nơi chúng hội hỏi Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi: “Giả sử, khi Như Lai nói việc dâm, nộ, si lẽ nào là pháp vắng lặng chăng? Pháp môn an nhiên ấy lẽ nào chẳng phải là pháp trong sạch, vắng lặng chăng?”

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi nói: “Ý nhân giả thế nào? Dâm, nộ, si từ đâu phát sinh?”

“Thưa, từ suy nghĩ phát ra ý tưởng mà có.”

Lại hỏi: “Ý tưởng từ đâu sinh ra?”

“Từ tập sinh ra.”

Hỏi: “Tập từ đâu mà có?”

“Từ ngã sở và phi ngã sở mà có.”

Hỏi: “Ngã sở và phi ngã sở từ đâu mà ra?”

“Từ tham thân mà có.”

Hỏi: “Tham thân lại từ đâu mà khởi?”

“Vì trụ nơi chấp ngã.”

Hỏi: “Chấp ngã từ đâu khởi?”

“Chấp ngã không thấy chỗ trụ, cũng không có nơi chốn, cũng chẳng phải là không có nơi chốn. Vì sao? Vì đến khắp mười phương, cầu nơi chấp ngã đều không thể được.”

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi nói: “Này các Tộc tánh tử! Người chấp ngã đi khắp mười phương, muốn tìm cho ra chỗ của pháp, cũng không thể được, cũng không thể thấy. Vì sao? Vì pháp ấy mà có cửa sao?”

“Thưa, có cửa là Vô môn.”

Bồ-tát Văn-thù lại nói: “Do đó cho nên ta nói các pháp môn đều vắng lặng. Tất cả những gì đã nói đều là pháp môn an nhiên, vắng lặng, đưa đến trong sạch.”

Khi Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi thuyết giảng những lời này, có tám ngàn Bồ-tát chứng đắc pháp Nhẫn vô sinh. Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đã thuyết pháp cho khắp cả chúng hội, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy ra đi.

Thế nên, Tôn giả Tu-bồ-đề đã biết rõ điều ấy, không có hàng Thanh văn, Bồ-tát nào sánh bằng, chúng ta không thể có được biện tài như vị ấy, nên lẽ nào dám nhận lãnh cùng với Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi giảng nói pháp. Bấy giờ, Tôn giả Tu-bồ-đề hỏi Tôn giả Xá-lợi-phất:

–Hiền giả nhìn lại xem, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi có thần thông biến hóa nào khác mà đi đến khắp các cõi Phật?

Tôn giả Xá-lợi-phất đáp:

–Thưa Tôn giả Tu-bồ-đề! Tôi nhớ thuở xưa, đã từng cùng với bảy báu Văn-thù-sư-lợi du hóa đến các nước. Có cõi Phật, lửa đang bốc cháy thiêu đốt khắp chốn, thì ngay nơi ấy, tự nhiên có hoa sen hiện ra đầy khắp, nơi nào cũng có. Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bước lên hoa sen ấy mà đi. Hoặc có cõi Phật lửa cháp khắp nơi mà lửa ay thật êm dịu, ví như áo tơ mịn, như thức ăn ngon, hương thơm ngào ngạt, như bột chiên-đàn để xoa thân và y phục, đồ nằm. Từ nơi cõi Phật này ở trong hư không, tự nhiên hóa thành cung điện Phạm thiên, được tạo dựng rất trang nghiêm, tốt đẹp. Lúc ấy, các Bồ-tát ngồi trên tòa, nhập định ý chánh thọ. Hoặc có cõi Phật hiện sự vững bền và giàu có, tất cả đều phát khởi niềm tin, đạt đến Phật đạo, thực hành tâm Từ sâu rộng, cứu độ khắp chúng sinh.

Tại sao gọi là hành Phật đạo với tâm Từ sâu rộng? Vì tất cả mọi người đều có dâm, nộ, si, làm thành ngọn lửa phiền não. Nếu người nào đạt đến đạo Chánh chân Vô thượng, tuệ giác cao tột, tức đã đoạn tận ba độc, mới thuyết pháp cho chúng sinh, mới có tâm Từ xót thương và định ý chánh thọ. Đó gọi là hành Phật.

Này Tôn giả Tu-bồ-đề! Khi tôi ở một mình, tự suy nghĩ: “Ta ở nơi tam thiên đại thiên thế giới này, nếu dùng sưc thần túc thì sẽ ngang bằng với Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi.” Khi ấy Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi biết sự suy nghĩ của tôi, nên đến nói: “Hiền giả Xá-lợi-phất! Ông nên vận dụng thần túc, cùng ta đi qua thế giới này.”

Tôi dốc hết thần lực, vượt qua biển lửa lớn, ngày đêm liên tục sáng suốt tiến tới, thực hành đến bảy ngày, và cùng với Bồ-tát Vănthù-sư-lợi vượt qua tới nước Phật kia, sau đó lần thứ hai đến khắp cõi tam thiên đại thiên the giới. Cõi này cũng có lửa cháy lớn lan tràn khắp các chốn. Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đứng ngay ở nơi đó, nói với tôi: “Hiền giả Xá-lợi-phất! Phải nương vào thần túc của ai để vượt qua thế giới này?”

Tôi bảo: “Phải nhơ vào thần túc của Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi để vượt qua cõi Phật này.”

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi phát ý, chỉ trong giây lát khiến cho cả thế giới đó giăng đầy hoa sen, rồi Bồ-tát liền đi qua và nói với tôi: “Hiền giả Xá-lợi-phất! Thần lực nào vượt hơn?”

Tôi đáp: “Sự bay nhảy của con chim sẻ nhỏ, sánh sao với chim chúa đại bàng cánh vàng. Đối với hai sự kiện này không thể tương xứng được. Chim chúa đại bàng cánh vàng, một lần cất cánh, thật vô số. Còn thân tôi, ví như con chim sẻ nhỏ bay nhảy. Thần lực cùng khởi, cũng giống như vậy.”

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi nói: “Hiền giả Xá-lợi-phất! Tại sao Hiền giả lúc ở một mình lại suy nghĩ: Thần túc của Văn-thu-sư-lợi và thần túc của ta bằng nhau như thế? Đối với sự so sánh này phải là người có trí tuệ chăng?”

Tôi đáp: “Nơi dừng lại của Thanh văn có giới hạn, chưa đoạn được chỗ so sánh. Tôi tự thấy, sự gián đoạn của nơi dừng lại là có giới hạn, nên sinh tâm bình đẳng ngay.”

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi ca ngợi: “Lành thay! Lành thay! Hiền giả Xá-lợi-phất! Đúng như lời Hiền giả đã nói.”

Vào thuở xưa, có hai Tiên nhân dừng chân bên bờ biển. Mot vị tên là Hảo Diệu Pháp, vị kia tên là Thí Tín An. Vị tiên tên Hảo Diệu Pháp đắc năm thông, cho đó là niềm vui. Thí Tín An chuyên tụng thần chú đi lại trong hư không. Khi ấy cả hai vị Tiên từ ven biển muốn cùng nhau bay qua biển lớn, để đến bờ bên kia. Tiên Thí Tín An thầm nghĩ: “Thần túc của tiên Hảo Diệu Pháp cùng ta đồng nhau.” Sau đó, hai tiên cùng bay qua biển lớn, đến cõi Nữ quỷ. Bấy giờ, La-sát đang chơi nhạc, Tiên nhân Thí Tín An nghe âm nhạc ấy và thấy nữ quỷ, quá sợ hãi nên rơi từ hư không xuống đất, không còn biết là đang ở trên bờ biển. Tiên Hảo Diệu Pháp lúc đó thương xót mới đưa bàn tay phải nhấc ông ta về chỗ cũ.

Này Xá-lợi-phất! Tiên nhân Hảo Diệu Pháp lúc đó, nay chính là ta, còn Tiên nhân Thí Tín An chính là Tôn giả Xá-lợi-phất. Thuở xưa xa đó, thần thông thật chẳng phải đã ngang nhau, mà Tôn giả tự cho là ngang nhau và bây giờ cũng vậy.

Tôn giả Xá-lợi-phất nói với Tôn giả Tu-bồ-đề:

–Tôi lại nhớ, đã từng cùng với Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đi đến cõi Phật ở phương Nam, vượt qua trăm ngàn vô số cõi Phật, có thế giới tên là Chư hảo trang sức, Phật hiệu là Như Lai Đức Bảo Tôn. Lúc đến cõi Phật ấy, chúng tôi muốn được gặp Đức Thế Tôn để đảnh lễ. Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi nói với tôi: “Này Xá-lợi-phất! Tôn giả có thấy các cõi

kia cùng vượt qua các cõi Phật hay chưa?” Tôi đáp: “Có thấy”.

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi nói: “Này Xá-lợi-phất! Tôn giả thấy những gì nơi cõi Phật này?”

Tôi đáp: “Hoặc thấy đầy lửa, hoặc không đầy đủ, hoặc tự nhiên như hư không, hoặc dùng thần túc mà lập thành.”

“Này Tôn giả Xá-lợi-phất! Nên xem cõi Phật này như thế nào?”

Tôi đáp: “Nếu nó đầy lửa thì nên xem nó đầy lửa. Nó không có đầy đủ thì nên xem là không đầy đủ. Nó như hư không thì nên xem nó như hư không. Nó dùng thần túc lập thành thì phải dùng thần túc mà lập thành.”

“Này Xá-lợi-phất! Như vậy, điều giảng nói về cảnh giới của Xálợi-phất cũng như thế.”

Tôi liền hỏi Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi: “Thưa nhân giả! Phải xem xét các cõi Phật như thế nào?”

Đáp: “Này Tôn giả Xá-lợi-phất! Tất cả cõi Phật đều là cõi hư không. Vì sao? Tất cả đều như mộng ảo, nơi đó hiện đầy lửa mà không đầy đủ. Như hư không, tự nhiên dùng thần túc mà lập thành. Vì sao lại khởi lên duyên ấy? Lại khởi lên việc làm có sự phân biệt này? Hư không không có duyên, luôn an trụ tự nhiên. Như vậy, các phiền não, ô nhiễm, sự vướng mắc của tâm ý, không tạo được trong sạch. Ví như hằng hà sa coi Phật đều đầy lửa, nhưng lửa ấy, không thiêu đốt hư không. Như thế đó Xá-lợi-phất! Mỗi một người phạm hằng hà sa các nguồn gốc không tốt, tích tụ các sự xấu ác. Tâm ý ấy, rốt cuộc không lập được sự trong sạch. Nếu người nam hoặc người nữ, nhập vào pháp giới thanh tịnh, thì không có chỗ nào để trụ, không bị các phiền não ràng buộc, cũng không vọng tưởng, không thể làm cho tâm ý ấy có chỗ thọ trụ. Đó là pháp môn không có chỗ thọ trụ. Dùng một pháp môn, thấu triệt các pháp và đều thọ các pháp, không sinh các sự ngăn che làm lấp các ý pháp, cũng không có thiện, ác.”

Như thế, thưa Tôn giả Tu-bồ-đề! Thần túc biến hóa của Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đối với sự thuyết pháp, tự tôi thấy được như vậy.

Bấy giờ, Hiền giả A-nan nói với Tôn giả Xá-lợi-phất:

–Thưa Tôn giả! Tôi cũng đã thấy Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi hiện biến hóa nơi vườn Kỳ thọ. Tôi nhớ vào lúc no, Đức Phật du hóa đến tinh xá Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ, cùng với một ngàn hai trăm năm mươi Tỳ-kheo và một vạn hai ngàn Bồ-tát. Lúc đó, trời mưa tầm tã, sương mù ảm đạm đến bảy ngày bảy đêm. Có các thầy Tỳ-kheo đã đắc đại thần thông, thực hành pháp môn Nhất tâm giải thoát, định ý chánh thọ, mặc dù không thọ thực, nhưng các thầy Tỳ-kheo ấy dùng Tam-muội Tam-ma-việt để tự nuôi thân. Còn những thầy Tỳ-kheo kia, chưa đạt được thiền định chánh thọ, trong suốt năm ngày liền, không có ai cúng dường, nên thân thể gầy ốm hốc hác, chẳng còn khí lực để dốc tâm thấy Phật. Tôi thầm nghĩ: “Các Tỳ-kheo ấy chắc sẽ không sống nổi. Bây giờ, ta nên đến bạch với Đức Phật về các Tỳ-kheo này, không có thực phẩm, bị đói đã năm ngày, gầy gò, tiều tụy, đến nỗi không đứng dậy được.”

Đức Phật bảo: “Này A-nan! Ông hãy đến thưa với Bồ-tát Vănthù-sư-lợi về sự kiện này.”

Vì các thầy Tỳ-kheo, tôi liền vâng lời Phật dạy, đi đến phòng của Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi. Khi ấy Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đang thuyết pháp cho các vị trời Thích, Phạm, Tứ Thiên vương. Tôi đem sự việc trên thưa với Bồ-tát Van-thù-sư-lợi và lời Đức Phật dạy tôi nói với Nhân giả nên lập đàn.

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bảo: “Này A-nan! Hãy trải tòa cụ, rồi đến đánh kiền chùy.”

Tôi vâng lời Bồ-tát, bảo trải tòa cụ lên các tòa xong, trở ve phòng của mình. Tôi muốn biết Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi có ra khỏi tinh xá không? Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi vẫn ở tại phòng, biến hóa và thuyết pháp cho Tứ Thiên vương, nhập Tam-muội tên là Hành nhập chư thân định ý chánh thọ. Sau đó, Bồ-tát ra khỏi tinh xá, vào khất thực trong thành Xá-vệ.

Khi ấy, ma Ba-tuần thầm nghĩ: “Hôm nay, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi là bậc Sư tử gầm vang mà vào thành khất thực, ta sẽ quấy rối việc lập công đức của ông ấy.” Ma Ba-tuần liền biến hóa, khiến cho hàng trưởng giả và dân chúng trong thành Xá-vệ không ai tiếp rước Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi, cũng không cho khất thực.

Lúc này, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi thấy mọi nhà đều đóng cửa, không ai ra tiếp đón cả. Bồ-tát biết ngay là ma Ba Tuần khuấy rối, nên liền chí thành phát nguyện: “Giả sử nơi mỗi một sợi lông hiện có trên thân ta đều hiện bày đầy đủ công đức và trí tuệ, cho dù trong hằng hà sa thế giới, đầy đặc các ma cũng không bằng công đức nơi một sợi lông, xét rõ như vậy mà không hư dối. Những gì của ma biến hóa, ngay khi ấy, đều bị tiêu diệt. Sứ giả của ma sẽ tự đến các nẻo đường và tuần tra khắp vùng, khiến các trưởng giả, Phạm chí cúng dâng đầy đủ cho Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi. Những người cúng thí này được phước đức vô lượng. Nếu có ai cúng dường cho những người tài giỏi khắp tam thiên đại thiên thế giới, trong trăm ngàn năm, cũng không bằng cúng dường cho Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi, được phước nhiều nhất.”

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi vừa phát nguyện này xong, ngay khi ấy được như điều nguyện. Tất cả các cửa nhà đều mở ra. Hết thảy mọi người tự đến nghênh tiếp Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi. Các ma đi vào từng nhà ở các nẻo đường, ra lệnh và tuần tra khắp nơi để bảo dân chúng, các trưởng giả, Phạm chí cúng dường Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi, vì cúng dường người này, phước đức sẽ rất lớn. Nếu có ai cúng dường cho những người tài giỏi khắp tam thiên đại thiên thế giới trong trăm ngàn năm, bố thí những sự an vui tùy tâm mọi người mong muốn, cũng không bằng cúng dường cho Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi khất thực, phước đức ấy thật cao dày.

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đi hóa duyên được thực phẩm đầy ắp bình bát, gồm đủ những thức ăn thượng diệu ngon quý, có hương vị khác nhau, những hương vị đặc biệt ấy không hề lẫn lộn. Lượng thực phẩm nhiều hơn số chư Tăng được thỉnh là một ngàn hai trăm năm mươi thầy Tỳ-kheo và một vạn hai ngàn Bồ-tát. Trong bình bát của những vị ấy, đã biến ra thức ăn như vậy.

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đi khất thực khắp nơi xong, ra khỏi thành Xá-vệ, có ma Ba-tuần đi theo sau. Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bèn đứng ở giữa đường, đem bát đặt dưới đất và bảo ma Ba-tuần: “Ngươi hãy nhấc bát lên rồi đưa ra phía trước.”

Ma Ba-tuần nhấc chiếc bát từ đất lên không được, bèn thưa với Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi: “Thật tình tôi không thể lay nổi chiếc bát này.”

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bảo ma Ba-tuần: “Ngươi có thế lực, thần thông cùng tận, hãy dùng đại thần túc, có thể nhấc bổng chiếc bát ấy.”

Ma Ba-tuần vận dụng hết sức thần túc rồi vẫn không thể nhấc nổi. Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi biến hóa làm cho chiếc bát không thể rời khỏi đất, dù chỉ một chút. Ma Ba-tuần gặp việc chưa từng có, nên thưa với Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi: “Có núi tên Y-sa-đà, chỉ cần một thoáng nghĩ đến, tôi đã có thể dùng tay đem đặt núi ấy nơi hư không. Bây giờ chỉ mỗi chiếc bát nhỏ này mà lại không thể nhấc nổi!”

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bảo ma Ba-tuần: “Này ma Ba-tuần! Lý do ngươi không thể nhấc nổi chiếc bát vì ngươi thường tự so sánh với các Bồ-tát là chỉ dùng sức lớn của mình là giữ lấy được chiếc bát ấy, cho nên không thể nhấc được.”

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi lấy chiếc bát từ đất trao cho ma vương và nói: “Ba-tuần! Ngươi hãy cầm chiếc bát này mà đi trước.”

Lúc ấy, ma Ba-tuần rất sầu khổ mới nhấc bát lên đi trước. Ma vương là kẻ tôn quý, tự tại trong hàng chư Thiên, lại ôm bát đứng trước một vạn hai ngàn trời và quyến thuộc vây quanh, đảnh lễ dưới chân Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi. Chư Thiên thưa ma Ba-tuần: “Thưa Nhân giả! Vì sao lại ôm bát đứng trước Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi, giống như người hầu hạ vậy?”

Ba-tuần trả lời chư Thiên: “Không nên cùng tranh với bậc có sức mạnh này.”

Lại hỏi Ba-tuần: “Nhân giả cũng có sức thần thông vô cùng tận, vì sao không kham nổi?”

Lúc ấy, ma Ba-tuần vang theo sự chỉ dạy của Bồ-tát Văn-thù-sưlợi, tuy là bậc có uy lực trong chư Thiên, nhưng vẫn không kham nổi, nên mới đáp lời các chư Thiên: “Ma lực là si mê, Bồ-tát lực là trí tuệ. Ma lực nhận các tà kiến mà tồn tại, Bồ-tát lực hiểu rõ lớn không. Ma lực dối trá, Bồ-tát lực thành thật. Ma lực là ngã sở và phi ngã sở, Bồtát lực là đại Từ đại Bi. Ma lực là cửa của dâm, nộ, si, Bồ-tát lực là cửa của ba giải thoát. Ma lực luôn luân chuyển trong đường sinh tử, Bồ-tát lực là pháp nhẫn không sinh, không diệt, không khởi.”

Khi Thiên ma Ba-tuần nói những lời ấy, có năm trăm vị trời trong chúng chư Thiên, phát tâm đạo Chánh chân Vô thượng, ba trăm Bồ-tát đắc pháp Nhẫn vô sinh.

Khi ấy, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bảo ma Ba-tuần đem bát đặt lên giảng đường. Lúc này Hiền giả A-nan cũng không kiểm tra kỹ, mà giờ thọ trai đã đến, chẳng thấy Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi ra khỏi phòng, nên A-nan thầm nghĩ: “Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi dối gạt các Tỳ-kheo, ta nên đến bạch Thế Tôn, biết là giờ thọ trai đã đến, mà Bồ-tát Văn-thù-sưlợi vẫn không ra khỏi phòng.”

Tôn giả A-nan liền đến bạch Phật: “Con không thấy Bồ-tát Vănthù-sư-lợi ra khỏi tịnh thất.”

Đức Phật bảo Tôn giả A-nan: “Ông có xem xét kỹ nơi giảng đường không?”

Tôn giả A-nan thưa: “Dạ có. Con chỉ thấy một bình bát đầy cơm ở đấy.”

Đức Phật bảo: “Ông đánh kien chùy, tập hợp chúng Tỳ-kheo.”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn! Số chúng đại Tỳ-kheo rất đông nhưng chỉ có một bình bát đồ ăn, làm sao đủ?”

“Thôi, ông đừng nói. Cứ như vậy mà thực hành. Giả sử có số người đầy khắp cõi tam thiên đại thiên thế giới, trong trăm ngàn năm cùng dùng bình bát đồ ăn này, cuối cùng vẫn không giảm đi chút nào. Vì sao? Vì mạng lệnh và oai thần biến hóa của Bồ-tát Văn-thùsư-lợi đã khiến cho bát cơm này không bao giờ vơi. Đó là trí tuệ và thần thông đầy đủ của Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đã lập nên, làm tăng trưởng hạnh Bố thí ba-la-mật không cùng.”

Tôn giả A-nan vâng lời Đức Thế Tôn, liền đánh kiền chùy tập hợp các Tỳ-kheo. Một bình bát cơm cho ra các món thơm ngon, những thức ăn thượng diệu và vô lượng mùi vị đặc biệt. Ví như các bình bát đựng thức ăn, mỗi một cái đều đựng đầy bao nhiêu là món ăn khác nhau, tất cả những món ấy đều dùng để cúng dường các Tỳ-kheo và các Bồ-tát. Hết thảy đều được no đủ, vì chiếc bình bát ấy có những thức ăn ngon như thế, không bao giờ cạn.

Khi ấy, Thiên ma Ba-tuần suy nghĩ, cố tìm cách khuấy rối bữa cúng dường thịnh soạn của Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi. Ma Ba-tuần bèn hóa làm bốn vạn Tỳ-kheo đắp y cũ rách, ôm bát hư bể, từ nơi nhơ nhớp đi đến. Những Tỳ-kheo này diện mạo xấu xí, ngực lưng đều phô bày, chân bước khập khiểng, trong tâm thì lo sợ, cũng ngồi trong chúng hội, cũng lại dùng bát nhận các thức ăn cúng dường, nhưng thức ăn trong chiếc bát kia cũng không vơi đi. Ma Ba-tuần đã khiến các Tỳ-kheo đó có sức ăn thật nhiều, tuy nhiên bát cơm vẫn không hề giảm bớt.

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi dùng oai thần biến hóa làm cho bát cơm của các Tỳ-kheo giả ấy vẫn luôn đầy ắp. Nhưng vắt cơm vừa vào tới miệng họ là bị nghẹn, không nuốt được. Hoặc tay đưa cơm ngang đến miệng là bị ngưng lại và rơi xuống đất. Họ không có được sự vui vẻ tự tại.

Khi đó Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi hỏi ma Ba-tuần: “Vì sao các Tỳkheo này không thọ thực?”

Ma Ba-tuần đáp: “Các Tỳ-kheo này sắp bị chết rồi. Bồ-tát không dùng thức ăn có lẫn chất độc để cho họ ăn đấy chứ?”

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đáp: “Người không độc mà lại làm việc độc sao? Thân không nhơ nhớp, sao lại đem chất nhơ nhớp cho người? Kẻ có dâm, nộ, si đó là độc hại, còn đối với Bồ-tát tâm luôn nhớ nghĩ là phải đem pháp phẩm luật nghi cho chúng sinh, thì làm gì có các độc hại ấy. Điều gọi là độc hại là vì không thấy rõ sự vướng mắc nơi tham ái. Đó là thấy biết cái ta có và chẳng phải cái ta có, đó là những cái ta làm do nhân duyên, tội phước và danh sắc. Chẳng phải chúng mà tạo thành được chỗ duyên. Người có ngã kiến thì suy nghĩ bám vào phiền não, thọ trụ, tham thân, có các thứ thọ và các thứ nhập, trụ nơi ba cõi. Có thủ, có thọ, có sinh, có diệt, có qua lại. Tham thân là chướng ngại, nên có thọ mạng. Gần gũi, vướng mắc, nhớ nghĩ, trong sạch thì bị sân hận ngăn che, không rõ cội nguồn của mười hai nhân duyên. Tranh tụng theo các kiến chấp nên không đoạn được kiến chấp của chính mình, có niệm, có biết khinh mạn, có tưởng tịnh, và tưởng không tịnh chia phần các sự việc. Nghĩa là quán đầy đủ về các pháp có – không và nghiệp, các sự tham ái thì ngã sở không có chỗ tác động. Sợ nơi không nghĩa là có hai dục vượt khỏi hai tưởng. Đối với vô tưởng thì có tưởng đọa lạc, không có nguyên do khởi lên vô tưởng, không có đạt đến hữu tưởng. Đối với vô hành, thì khởi lên đủ các tưởng về giảng thuyết, khởi lên hai dục để vượt qua tưởng. Đối với pháp phẩm Bồ-tát là tưởng chẳng phải pháp, là hạnh tà kiến có chánh pháp quán tưởng. Đối với tri thức ác tưởng là bạn lành, làm rối loạn hạnh Phật, phỉ báng chánh hạnh. Từ đó cao ngạo không có chỗ cứu giúp. Tranh chấp, kiện tụng, trách mắng cho đến thành thật tưởng là vọng ngữ, dối trá tưởng là chắc thật, phạm các dâm dục tưởng là an trụ. Đối với các pháp hữu vi tưởng là an ổn. Đối với sinh tử tưởng là sự truyền dạy mà khởi kiến, phá hoại chỗ hiện bày của Niết-bàn.”

Bo-tát Văn-thù-sư-lợi nói: “Ba-tuần! Như vậy hành vi giống như các pháp ấy là độc, đối với giáo pháp Phật không hề có.

  1. Lời dạy dịu ngọt tức là lời dạy thứ nhất của Phật.
  2. Lời dạy an ổn tức là lời dạy thứ hai của Phật.
  3. Lời dạy không phóng dật tức là lời dạy thứ ba của Phật.
  4. Lời dạy không oán hận tức là lời dạy thứ tư của Phật.
  5. Lời dạy không thọ trụ là lời dạy thứ năm của Phật.
  6. Lời dạy theo chánh pháp tạng là lời dạy thứ sáu của Phật.
  7. Lời dạy không tranh tụng là lời dạy thứ bảy của Phật.
  8. Lời dạy không có chỗ sinh khởi là lời dạy thứ tám của Phật.
  9. Lời dạy không chấp ta, người là lời dạy thứ chín của Phật.
  10. Lời dạy không phỉ báng là lời dạy thứ mười của Phật.
  11. Lời dạy cứu giúp, ủng hộ là lời dạy thứ mười một của Phật.
  12. Lời dạy vắng lặng an nhiên là lời dạy thứ mười hai của Phật.
  13. Lời dạy thanh tịnh lại an nhiên, lặng lẽ, nơi nào cũng như vậy, là lời dạy thứ mười ba của Phật.
  14. Lời dạy chân chánh mang đến bình đẳng sáng suốt là lời dạy thứ mười bốn của Phật.
  15. Lời dạy không giận dữ, khéo léo an trú là lời dạy thứ mười lăm của Phat.
  16. Lời dạy không tôn trọng lại càng tôn trọng, tích tụ các cội rễ lành, là lời dạy thứ mười sáu của Phật.
  17. Lời dạy đã giải thoát lại giải thoát nữa là lời dạy thứ mười bảy của Phật.
  18. Lời dạy hóa độ các ngoại đạo là lời dạy thứ mười tám của Phật.
  19. Lời dạy tất cả dục tuệ không còn, đó là lời dạy thứ mười chín của Phật.
  20. Lời dạy không có sự đầu tiên hay cuối cùng nơi sinh tử, là lời dạy thứ hai mươi của Phật.
  21. (Thiếu pháp 21)
  22. Lời dạy định ý là lời dạy thứ hai mươi hai của Phật.
  23. Lời dạy về ý chỉ là lời dạy thứ hai mươi ba của Phật.
  24. Lời dạy về bình đẳng đoạn trừ là lời dạy thứ hai mươi bốn của Phật.
  25. Lời dạy về thần túc không tạo tất cả các điều ác là lời dạy thứ hai mươi lăm của Phật.
  26. Lời dạy thân ý trong sạch, không có hai căn, là lời dạy thứ hai mươi sáu của Phật.
  27. Lời dạy dốc tâm tin tưởng là lời dạy thứ hai mươi bảy của Phật.
  28. Lời dạy khong hiện tất cả phiền não, chẳng hiện giác ý là lời dạy thứ hai mươi tám của Phật.
  29. Lời dạy thấu triệt cùng tận về thể và tỏ ngộ về đạo là lời dạy thứ hai mươi chín của Phật.
  30. Lời dạy việc mình tạo ra lặng lẽ không lan rộng nơi nào là lời dạy thứ ba mươi của Phật.
  31. Lời dạy lặng lẽ tự nhiên không tranh là lời dạy thứ ba mươi mốt của Phật.
  32. Lời dạy suy xét chính xác, đưa đến các sự giải thoát là lời dạy thứ ba mươi hai của Phật.
  33. Lời dạy trí tuệ biện tài không giận dữ là lời dạy thứ ba mươi ba của Phật.
  34. Lời dạy về nghĩa pháp không phân chia, vô thường, khổ, không, sầu ưu là lời dạy thứ ba mươi bốn của Phật.
  35. Lời dạy có người ngợi khen hay mắng nhiếc vẫn không màng đến là lời dạy thứ ba mươi lăm của Phật.
  36. Lời dạy hàng phục các đạo, làm cho yên lặng sạch trong là lời dạy thứ ba mươi sáu của Phật.
  37. Lời dạy đưa đến tâm vô vi đạt được Ba-la-mật là lời dạy thư ba mươi bảy của Phật.
  38. Lời dạy phát khởi phương tiện khéo léo, để vượt qua bờ bên kia là lời dạy thứ ba mươi tám của Phật.
  39. Lời dạy đem tâm Từ bi cứu giúp quần sinh, là lời dạy thứ ba mươi chín của Phật.
  40. Lời dạy hiện bày tâm Từ thương xót, không có ý tổn hại là lời dạy thứ bốn mươi của Phật.
  41. Lời dạy khoác áo giáp công đức để thoát khỏi mọi sự ràng buộc là lời dạy thứ bốn mươi mốt của Phật.
  42. Lời dạy khởi tâm yêu thương không có chỗ ưa thích, không có chỗ tạo tác, không có chỗ nói năng, là lời dạy thứ bốn mươi hai của Phật.
  43. Lời dạy hoàn thành hạnh nguyện, tăng trưởng trí tuệ, là lời dạy thứ bốn mươi ba của Phật.
  44. Lời dạy nhớ nghĩ không kiêu mạn, không xa lìa Tam bảo, là lời dạy thứ bốn mươi bốn của Phật.
  45. Lời dạy phát tâm Bồ-đề làm an ổn tất cả chúng sinh, khiến họ được trong sạch, là lời dạy thứ bốn mươi lăm của Phật.”

Vì để các hữu không phát sinh, khi Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi giảng nói những điều này, những vị trời đi theo ma Ba-tuần có đến năm trăm Thiên tử, đều phát tâm cầu đạt đạo Chánh chân Vô thượng. Họ cùng bạch Đức Thế Tôn: “Chúng con cũng sẽ vâng theo pháp Phật dạy như vậy.”

Khi ấy, Đức Thế Tôn mỉm cười.

Hiền giả A-nan bạch Phật: “Vì lý do gì mà Đức Thế Tôn mỉm cười? Đã cười chắc là có ý?”

Phật bảo: “Này Hiền giả A-nan! Ông có thấy các Tỳ-kheo giả này chăng?”

“Bạch Thế Tôn! Con đã thấy.”

Phật nói: “Này A-nan! Vào đời xấu ác có đủ năm trược về sau, khi chánh pháp sắp diệt, sẽ có các Tỳ-kheo như thế này. Họ không nhàm chán và không biết đủ để làm những điều bất thiện, y phục lôi thôi, bừa bãi, tánh khí bất thường và sống không ổn định. Vì sao? Này Hiền giả A-nan! Vì khi ấy như các Tỳ-kheo giả này, ăn uống không biết cung kính, làm những điều đáng chê bai mà lại muốn được sự cúng dâng, không thực hành luật nghi, phạm giới cấm của Sa-môn, kẹp y dưới nách, không kính các bậc Tỳ-kheo tôn trưởng, vì thế, cho đến đời sau càng thêm mê loạn, làm người nhiều bệnh tật. Khi ấy, họ làm Sa-môn chỉ để được cầu an và lợi dưỡng, tâm chỉ mong được cung kính mà không thiết tha với chánh pháp. Vào đời sau, trong giáo pháp ta, sẽ có những người như thế này. Vì không thấy có người tu hành, không thấy có sự trong sạch, nên chư Thiên đều sầu lo, còn chúng ma lại rất vui mừng.”

Tôn giả A-nan lại thưa: “Bạch Thế Tôn! Vì sao chúng ma vui mừng?”

Phật nói: “Đó là lúc các bậc chân chánh tự mình tạo ra các việc ma, chứ chẳng phải là ma Ba-tuần lại có thể quấy nhiễu được. Vì sao? Vì các ma không cần tìm chỗ sơ xuất của người làm biếng. Nếu thấy có các Tỳ-kheo tinh tấn tu hành, như cứu lửa đang cháy ở đầu, ma Batuần sẽ tìm khuyết điểm của những người chuyên cần tu hành này để quấy nhiễu.

Này A-nan! Hãy nỗ lực và tinh tấn tiến tới, chớ có lười biếng, thì sẽ đạt được những gì chưa đạt được, sẽ thành tựu những gì chưa thành tựu, sẽ đạt đến tuệ giác và đoạn trừ bóng tối vô minh, hàng phục các ma và quyến thuộc của chúng, làm tăng trưởng giáo pháp Như Lai, thờ phụng chánh pháp, cúng dường nghĩa kinh. Đó là những điều ta dạy.”

Khi Đức Thế Tôn giảng dạy những lời này, có năm trăm vị Tỳkheo đều xả bỏ thân mạng mà vui cảnh Niết-bàn, vì họ không muốn thấy lúc chánh pháp hoại diệt, nên ngồi nơi hư không, tự phóng hỏa từ thân ra để hỏa thiêu. Có cả ngàn vị Thiên tử cùng nhau cúng dường xá-lợi ấy. Có hai trăm thầy Tỳ-kheo xa lìa phiền não, được mắt pháp thanh tịnh. Hai trăm thầy Tỳ-kheo khác chứng đắc ý thông tỏ, các lậu không khởi mà đều dứt hết. Ba vạn hai ngàn chư Thiên chứng đắc pháp nhẫn nhu thuận. Thích, Phạm, Tứ Thiên vương và các quyến thuoc đều chắp tay, bạch Phật: “Kính bạch Thế Tôn! Cúi xin Thế Tôn trụ thế dài lâu và rộng truyền giáo pháp, chớ để cho chúng con phải thấy giai đoạn chánh pháp rối loạn và hoại diệt. Để có người vừa được nghe thuyết giảng kinh pháp này, sẽ trọn đời không biếng trễ, cũng không có các cấu uế, không vướng mắc vào các thọ, suy nghĩ, hành động đều không có chỗ trụ, cũng không tạo ra các việc ma, cũng

không có cái tôi, không có chỗ để mong cầu.” Tôn giả A-nan nói:

–Đúng như thế! Này Hiền giả Xá-lợi-phất! Bồ-tát Văn-thù-sưlợi đã hiện bày thần thông biến hóa, thuyết giảng pháp kinh, mới có những sự thể như vậy, ngày ấy chính tôi đã thấy như thế.

Bấy giờ, Tôn giả Đại Ca-diếp nói với Tôn giả Xá-lợi-phất:

–Tôi cũng đã từng thấy thần thông biến hóa của Bồ-tát Vănthù-sư-lợi. Xin Tôn giả hãy nghe: Khi Đức Phật thành Chánh giác chưa bao lâu, lúc đó, tôi mới vừa xuống tóc và Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi tới thế giới này. Bồ-tát từ cõi Phật của Đức Như Lai Bảo Anh đi đến muốn gặp Đức Thế Tôn để thành kính đảnh lễ. Lúc đó, Đức Phật ở tại tinh xá Cấp cô độc, trong vườn cây của thái tử Kỳ-đà, thuộc nước Xá-vệ. Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi vừa mới mãn ba tháng an cư. Suốt thời gian này, tôi không thấy Bồ-tát ấy hiện diện bên cạnh Đức Thế Tôn, cũng không thấy trong chúng Tăng, cũng không thấy nơi tinh xá, cũng không thấy ở chỗ thuyết giới. Đến khi thuyết giới hoàn mãn ba tháng an cư xong, tôi mới thấy Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi có mặt trong chúng. Tôi liền hỏi Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi: “Ba tháng hạ này, Nhân giả ở đâu? Lưu chuyển nơi nào?”

Bồ-tát Văn-thù đáp: “Thưa Hiền giả Ca-diếp! Tôi ở trong thành Xá-vệ này, nơi cung thể nữ của vua Hòa Duyệt cùng với các tiểu nhi dâm nữ, suốt ba tháng hạ.”

Tôi thầm nghĩ: “Không có lý do gì để những người như thế này, lại cùng với Tăng chúng trong sạch và ta, cùng an cư thọ tuổi hạ được.”

Tôi liền đến giảng đường đánh kiền chùy, vì muốn trục xuất Bồtát Văn-thù-sư-lợi. Lúc đó, Đức Phật bảo Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi: “Ông

có thấy Tôn giả Ma-ha Ca-diếp đánh kiền chùy không?”

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đáp: “Bạch Thế Tôn! Con đã thấy. Vì Tôn giả ấy muốn trục xuất con ra khỏi chúng.”

“Này Văn-thù-sư-lợi! Ông hãy dùng thần thông biến hóa hiện ra những cảnh giới, làm cho Tôn giả Ma-ha Ca-diếp không sinh tâm rối loạn về thầy.”

Ngay khi ấy, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi, dùng Tam-muội hiện ra nhiều Đức Phật và các cõi nước bằng tâm thiền định chánh thọ của mình. Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi vừa nhập Tam-muội xong, thì mười phương hằng hà sa thế giới được hiện ra, mỗi chỗ đều có Ma-ha Cadiếp tay đánh kiền chùy và muốn trục xuất Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi. Đức Thế Tôn hỏi Tôn giả Ca-diếp: “Vì lý do gì Tôn giả đánh kiền chùy?”

Tôn giả Ca-diếp bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Suốt ba tháng hạ, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi, âm thầm đi ở đêm, nơi nhà nào kín đáo không ai biết, cho nên con đánh kiền chùy, muốn trục xuất vị ấy.”

Lúc đó, toàn thân Đức Thế Tôn, phóng ra ánh sáng lớn chiếu khắp mười phương. Đức Thế Tôn bảo tôi: “Ca-diếp! Ông hãy quán sát khắp mười phương xem.”

Ngay khi đó, tôi thấy vô số các thế giới nhiều không thể tính kể ở khắp mười phương, đều có thân tôi hiện ở nơi ấy đứng bên cạnh Đức Thế Tôn, đánh kiền chùy, vì muốn trục xuất Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi. Lại thấy chư Phật, bên cạnh mỗi mỗi Đức Phật đều có Bồ-tát Vănthù-sư-lợi đứng đầu. Đức Phật bảo tôi: “Này Đại Ca-diếp! Ông muốn trục xuất Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi nào? Hay là muốn trục xuất vô số Bồtát Văn-thù-sư-lợi ở bên cạnh chư Phật trong mười phương? Hay là muốn trục xuất Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi ở đây?”

Tôi lấy làm xấu hổ vô cùng, muốn đem kiền chùy đặt dưới đất, nhưng không thể được. Tôi vận hết thần lực mà kiền chùy ấy vẫn không chịu rơi xuống. Nó vẫn đứng thẳng bất động, như những hàng cây ở mười phương cõi Phật ấy, cây kiền chùy cũng vững chắc, tự tại, y như vậy không khác.

Đức Phật Thế Tôn bảo tôi: “Ông hãy tự hướng về Bồ-tát Vănthù-sư-lợi mới thoát được trở ngai này.”

Tôi liền hướng về Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đảnh lễ, kiền chùy mới rơi xuống đất. Tôi đi đến trước Phật, cung kính đảnh lễ, bạch Phật: “Cúi xin Đức Thế Tôn xá tội cho con. Lạy Đấng Thiên Trung Thiên! Con đã thấy Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi biểu hiện. Nếu như con muốn giảng nói đầy đủ về trí tuệ của Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi, thì chẳng bao giờ nói hết được. Cảnh giới mà Bồ-tát thực hành, không có hạn lượng. Con vì không đủ trí, nên mơi đánh kiền chùy như vậy.”

Đức Phật nói: “Như ông đã thấy, trong mười phương cõi Phật, đều có Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi ở bên cạnh. Vì Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi ở khắp các cõi Phật, nên ba tháng không thấy xuất hiện, là để đi giáo hóa mọi người. Này Ca-diếp! Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi ở trong thành Xávệ này, đã khai ngộ cho năm trăm người nữ, giáo hóa các thể nữ trong cung vua Hòa Duyệt, độ cho họ chứng đắc đạo Chánh chân Vô thượng không thoái chuyển. Khiến cho năm trăm đồng tử và năm trăm đồng nữ đạt được phần vị bất thoái chuyển đối với đạo quả Chánh chân Vô thượng. Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi cũng đã giáo hóa cho vô số người đắc quả Thanh văn và sinh lên cõi trời.”

Tôi liền bạch Phật: “Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi thuyết pháp như thế nào mà độ được vô số người như vậy?”

Đức Phật bảo: “Ông hãy tự hỏi Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đã thuyết pháp gì mà có thể hóa độ được vô số người như vậy.”

Tôi liền hỏi Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi và được Bồ-tát ấy đáp: “Thưa Tôn giả Ca-diếp! Tùy theo bản tánh của mỗi người mà thuyết pháp khiến họ được vào với giáo pháp. Cũng có thể dùng vui chơi mà truyền dạy cho họ, hoặc dùng cách cùng làm việc với nhau, hoặc dùng sự dạo xem, cúng dường, hoặc dùng sự lưu thông tiền tài, hoặc vào trong chốn bần cùng, nghèo đói mà chỉ bảo họ. Hoặc hiện ra những hành động trong sạch, hoặc dùng thần thông biến hóa, hoặc dùng hình tướng Thích, Phạm, hoặc dùng hình tướng Tứ Thiên vương, hoặc dùng hình tướng Chuyển luân thánh vương, hoặc hiện hình tướng như Đức Thế Tôn, hoặc dùng hình tướng đáng sợ, hoặc hiện tướng thô kệch hay dịu dàng, hoặc dùng giả hoặc dùng thật, hoặc dùng hình tướng chư Thiên. Vì sao? Vì tánh hạnh căn bản của con người có nhiều điều bất đồng, nên vì họ thuyết các pháp khác nhau, để đưa họ vào đạo. Thưa Tôn giả Ca-diếp! Đối chiếu như thế nên phải thuyết giảng năm loại pháp, để có thể đưa họ vào chân đế.”

Tôi hỏi: “Thưa Nhân giả! Nhân giả đã độ được bao nhiêu người?”

“Như pháp giới”.

Lại hỏi: “Pháp giới là bao nhiêu?”

“Như cõi hư không. Các cõi pháp và cõi hư không sánh với lượng người cũng như vậy. Những người trong cõi pháp và trong cõi hư không này, không có hai, cũng không tạo ra hai.”

“Thưa Nhân giả Văn-thù-sư-lợi! Tôi tuy thấy có Phật như vậy, sẽ được hay là không được những điều lợi ích? Cũng không thể có chỗ để truyền dạy cứu độ muôn loài. Pháp Phật là không, không nhân, sao lại còn giáo hóa và độ thoát? “.

Bồ-tát Văn-thù dạy: “Này Tôn giả Ca-diếp! Ví như có người bị bệnh nóng, người ấy nói mê, nói sảng đủ thứ. Có những người thấy vậy, liền bảo: Người này mắc bệnh nơi quỷ thần. Ngay khi ấy có vị lương y đem thuốc đến cho người bệnh ấy uống, bệnh liền thuyên giảm, không còn nói mê, nói sảng nữa. Thưa Tôn giả Ca-diếp! Ý của Tôn giả nghĩ thế nào? Chẳng lẽ có quỷ, thần và trời ra khỏi thân người bệnh ấy sao?”

“Thưa không, nhờ uống thuốc cho nên bệnh nhân ấy được giảm.”

“Như thế, thưa Tôn giả Ca-diếp! Vị lương y đó đối với người bệnh kia có nhiều sự lợi ích không?” “Thưa vâng”.

“Như thế đó, này Ca-diếp! Người trong thế gian ưa dối trá đó là người bệnh nhiệt. Họ sinh tâm tham đắm, không có ngã mà co ngã tưởng, nên bị lưu chuyển rơi vào đường sinh tử. Vì thế chư Phật Thế Tôn có đầy đủ hạnh đại Từ bi, xuất hiện nơi thế gian, dứt được hai việc và các hành tưởng, khéo dùng phương tiện biến hóa, khiến cho tất cả được vào pháp môn, đoạn trừ ngã tưởng, không còn các vọng tưởng khác và dứt hết mọi thứ dối trá. Đức Thế Tôn thuyết pháp cho mọi người là để trừ tất cả tưởng, khiến không còn ưa thích rơi vào trong các tưởng về ta và vọng tưởng nơi người khác, đạt được Ba-lamật vô cùng và đến với vô vi. Tôn giả Ca-diếp! Ý của Tôn giả thế nào? Người kia có ngã, nhân, thọ mạng, và Bát-niết-bàn không?” “Thưa không”.

“Đúng vậy Ca-diếp! Tôn giả nên biết nghĩa này.Vì lý do gì mà đấng giác ngộ ấy thường hiện chánh nghĩa, không vì sinh khởi, cũng không vì luật mà chỉ muốn giác ngộ, cứu độ những kẻ vướng mắc sâu vào trong phiền não.”

Tôn giả Ca-diếp nói: “Thật khó sinh được hạnh chuyên cần của Bồ-tát như thế này. Bồ-tát hộ trì chúng sinh, cứu giúp tất cả muôn loài, không bỏ áo giáp phước đức, cũng không có chỗ vướng mắc, cũng không loạn tranh. Bồ-tát trong sạch tự nhiên, đạt đến vô vi vì các loài chúng sinh mê muội mà mặc áo giáp công đức.”

Bồ-tát Văn-thù nói: “Đúng thế Ca-diếp! Vì vậy Bồ-tát mặc áo giáp công đức.”

Tôn giả Ca-diếp lại hỏi: “Xin Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi thuyết giảng về các thứ áo giáp đức hạnh của Bồ-tát.”

Bồ-tát Văn-thù trả lời: “Bồ-tát có ba mươi hai thứ áo giáp đức hạnh. Bồ-tát mặc áo giáp đức hạnh này nên có thể đi lại khắp nơi. Đó là:

  1. Áo giáp đức hạnh để Bồ-tát đi vào vô lượng sinh tử, ủng hộ cùng tận, gọi đó là tướng tự nhiên.
  2. Áo giáp đức hạnh hóa độ vô số người, không có tướng chấp ngã.
  3. Áo giáp đức hạnh cúng dường vô lượng Phật, đều gọi là tướng Pháp thân.
  4. Áo giáp đức hạnh xem cac nghịch duyên như tướng tiếng vọng của âm thanh.
  5. Áo giáp đức hạnh hộ trì tất cả chư Phật, là tướng pháp giới bình đẳng.
  6. Áo giáp đức hạnh hàng phục tất cả ma, đối với các phiền não làm tướng thanh tịnh.
  7. Áo giáp đức hạnh dùng chánh pháp giáo hóa các đạo khác. Hoặc có hoặc không thấu triệt mười hai nhân duyên, là tướng không có nguồn gốc.
  8. Áo giáp đức hạnh bố thí tất cả những gì có được mà không tham tiếc. Nguyện đi vào tất cả câu nghĩa là tướng cùng nhau ưa thích tu tập.
  9. Áo giáp đức hạnh vì tất cả chúng sinh tích lũy giới nhẫn công đức mà không có tướng tạo ra.
  10. Áo giáp đức hạnh bao la đi đến khắp mọi nơi, là tướng không có chỗ đến.
  11. Áo giáp đức hạnh hiện rõ lực đại tinh tấn, là tướng thân, ý, vắng lặng.
  12. Áo giáp đức hạnh xem tất cả phải vì nhất tâm, Pháp thân phải hợp định ý chánh thọ, là tướng trừ tất cả các vướng mắc.
  13. Áo giáp đức hạnh không chướng ngại bất cứ nơi nào. Trí tuệ đạt đủ các pháp Ba-la-mật, thông tỏ tác hại của tham ái, là tướng thanh tịnh.
  14. Áo giáp đức hạnh tạo nhiều phương tiện quyền xảo, là hiện bày khắp tất cả hạnh.
  15. Áo giáp đức hạnh đại Từ, là tướng không làm thương tổn, sát hại.
  16. Áo giáp đức hạnh thực hành đại Bi, thấy rõ năm đường, chứng đắc tướng hư không.
  17. Áo giáp đức hạnh luôn vui vẻ, là tướng không có nhàm chán.
  18. Áo giáp đức hạnh cứu giúp lớn, là tướng đối với vui không dao động.
  19. Áo giáp đức hạnh đầy đủ các nguyện, xét thấy giải thoát như lòng bàn tay, là tướng không có chướng ngại.
  20. Áo giáp đức hạnh không nghĩ đến tất cả các phiền não, là tướng thích ứng không có dấu vết.
  21. Áo giáp đức hạnh xem chỗ sinh khởi của bốn đại, năm ấm, như pháp huyễn mộng, hóa hiện tướng tốt đẹp.
  22. Áo giáp đức hạnh thấy rõ bốn đại như cùng thấy độc xà, là tướng pháp giới bình đẳng.
  23. Áo giáp đức hạnh xem các nhập như xóm làng trống vắng, các chướng ngại lại không có tướng chướng ngại.
  24. Áo giáp đức hạnh hiện có nơi tam giới, không khởi tướng nhớ nghĩ.
  25. Áo giáp đức hạnh quán sát chính xác khi thọ các nghiệp, là tướng không có chỗ phát khởi.
  26. Áo giáp đức hạnh đại dũng mãnh, là tướng bất thoái chuyển.
  27. Áo giáp đức hạnh đại thông đạt, tùy theo hành của tất cả chúng sinh mà hiện tướng cho thuốc.
  28. Áo giáp đức hạnh là đại Đạo sư, là tướng hiện ra nơi ba đường dữ.
  29. Áo giáp đức hạnh không xa lìa giáo pháp nơi Tam bảo, đều hiện rõ trí tuệ của chư Phật, là tướng giáo hóa và thị hiện các giáo nghĩa.
  30. Áo giáp đức hạnh xem tất cả các pháp không có chỗ thọ nhận, không chỗ sinh, là tướng đắc pháp Nhẫn vô sinh.
  31. Áo giáp đức hạnh được trụ ở địa không động chuyển, là tướng điều phục tất cả lỗi của hàng Thanh văn, Duyên giác.
  32. Áo giáp đức hạnh làm trang nghiêm đạo tràng. Vì nhất tâm thực hành trí tuệ bình đẳng, đối với tất cả các pháp, như tướng xét đoán chánh giác.

Thưa Tôn giả Ca-diếp! Đó là ba mươi hai thứ áo giáp đức hạnh lớn của các hạnh Bồ-tát. Nếu có người tin thọ ba mươi hai thứ áo giáp đức hạnh này, thì dù cho thân bốn đại có thể chuyển khác đi nhưng tâm Bồ-tát đó không trọn thể lay chuyển nơi đạo Chánh chân Vô thượng.”

Tôn giả Ca-diếp lại hỏi: “Thưa Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Các Thanh văn đối với áo giáp đức hạnh này thật không có được một?”

“Đúng vậy, thưa Tôn giả Ca-diếp! Các Thanh văn không được mặc áp giáp đức hạnh lớn này. Ý của Tôn giả nghĩ sao? Áo giáp của người có sức dũng mãnh mặc, kẻ nhỏ nhoi yếu kém cũng có thể mặc được chăng?”

“Thưa không.”

Bồ-tát Văn-thù lại hỏi: “Thưa Tôn giả Ca-diếp! Áo giáp đức hạnh lớn của Bồ-tát đã mặc, thì tất cả hàng Thanh văn, Duyên giác không thể mặc được.

Khi thuyết giảng về áo giáp đức hạnh của Bồ-tát này có ba vạn hai ngàn chư Thiên và người đều phát tâm cầu đạo Chánh chân Vô thượng.

Tôn giả Ca-diếp nói với Tôn giả Xá-lợi-phất:

–Thưa Hiền giả! Chỉ có Đồng tử Văn-thù-sư-lợi mới biến hiện mọi sự thuyết pháp với thần thông diệu dụng vô biên. Chính mắt tôi đã trông thấy như vậy.

Lúc ấy, Hiền giả Bân-nậu Văn-đà-ni Tử nói với Tôn giả Xá-lợiphất:

–Thưa Tôn giả! Tôi cũng đã thấy những thị hiện biến hóa của Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi. Tôi nhớ vào ngày trước, khi Đức Phật du hóa ở xứ Duy-da-ly, cùng với sáu vạn thầy Tỳ-kheo cung kính vây quanh, cúng dường nơi Đức Phật. Khi ấy tôi định tâm, thanh tịnh quán sát các ngoại đạo, thấy có trăm ngàn vô số người đáng được độ thoát. Tôi liền đi đến chỗ các ngoại đạo ấy để thuyết pháp cho họ. Họ nghe tôi giảng dạy nhưng không tin nhận thực hành, tâm không nhớ nghĩ lời giáo huấn ấy mà lại tỏ vẻ chê bai, cười cợt, trách mắng hay nổi giận. Tôi ở nơi hàng ngoại đạo đó ba tháng mà không thể chỉ dạy, khai hóa được một người, nên chán nản bỏ đi. Khi ấy, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi, hóa ra năm trăm ngoại đạo, tự cho mình là thầy, cùng với năm trăm quyến thuộc đông đủ, tất cả cùng đi đến chỗ Tátgià Ni-kiền Tử, cúi đầu đảnh lễ rồi đứng qua một bên, thưa: “Tôi nghe danh tiếng lừng lẫy của Đại sư, vì thế tôi từ phương xa đến xứ Duy-da-ly này. Nay xin xem Đại sư là Thế Tôn của tôi, là bậc Hòa thượng, xin chỉ dạy dẫn dắt cho. Tôi xin cúi đầu vâng giữ, thờ phụng xem như Cù-đàm. Tôi chưa từng nghe đại Sa-môn nào thuyết pháp thuận hợp nhiệm mầu như thế.”

Thẩm Lõa Hình Tử nói: “Lành thay! Lành thay! Nhân giả, chẳng bao lâu sẽ hiểu rõ về sự hành trì luật pháp của ta. Vì sao? Vì nhờ sự hết lòng của Nhân giả.

Thẩm Lõa Hình Tử bảo với đồ chúng của ông ta: “Các ngươi phải cùng với năm trăm kẻ mới tu học này vui vẻ, hòa hợp, cộng tác, hành sự, cùng nhau lãnh tho các pháp của ta giáo hóa và cùng học kinh nghĩa. Nếu năm trăm người này có giảng nói điều gì, các ngươi phải nên lắng nghe, khéo suy nghĩ và ghi nhớ.”

Khi đó, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi và năm trăm kẻ mới tu học ấy đã tap hợp lại, thể hiện chút ít công hạnh và quan sát rõ ràng về giới công đức. Rồi họ liền đi đến bên gốc cây, tự hóa hiện đủ thứ và ngay giữa chúng hội đó, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi ca ngợi Tam bảo, cũng không quên ca ngợi những đức hạnh hiện có của lõa hình tử. Sau đó Bồ-tát lặng yên không nói đến những vấn đề này nữa.

Một ngày khác, lúc những người ngoại đạo hội họp, Bồ-tát Vănthù-sư-lợi lại nói: “Như Nhân giả của chúng ta đang giảng nói về kinh sách, đọc tụng, giải nghĩa. Thế nên chúng ta mới thấy được: Sa-môn Cù-đàm có đức sâu dày chắc thật. Vì sao? Vì Ngài sinh ra nơi dòng họ quyền quý cao sang. Cha mẹ đều là bậc hơn người, thanh tịnh, thuộc dòng đế vương, Chuyển luân thánh vương. Một tướng của Ngài đều có trăm phước công đức. Tôi nghe khi Ngài Cù-đàm mới sinh ra, các trời Thích, Phạm đều cung kính, đất trời rung chuyển. Cả tam thiên đại thiên thế giới đều cảm nhận như thế. Khi vừa ra đời, Thái tử đã đi bảy bước, một tay đưa lên cao và nói: “Trên trời, dưới trời, Ta là bậc tôn quý nhất. Ta sẽ đoạn trừ sinh, lão, bệnh, tử cho tất cả chúng sinh.” Khi ấy Long vương phun nước, Thích, Phạm cùng tắm cho Thái tử, chư Thiên, dân chúng đánh trống, trổi nhạc cúng dường và phóng ra ánh sáng lớn làm ngừng các đường ác. Các căn nơi thân tướng của Thái tử đều đầy đủ và bản chất nơi Ngài vô cùng hoàn hảo, khiến cho quần sinh dứt bỏ những phiền não, sân giận đạt được an vui. Thầy tướng Phạm chí dự đoán điềm lành cho Thái tử: “Nếu ở đời sẽ làm Chuyển luân thánh vương, giả sử đi xuất gia, sẽ được làm Phật, là đấng Phap vương sẽ chuyển bánh xe chánh pháp.” Sau đó, Thái tử rời đất nước, bỏ vương vị xuất gia, ngồi nơi cội cây, giác ngộ, hàng phục trăm ngàn muôn ức quân ma và quyến thuộc của chúng, cho đến khi thành bậc Chánh giác, liền chuyển bánh xe chánh pháp, không ai có thể chuyển nổi. Đức Thế Tôn thuyết giảng nghĩa kinh cho các Sa-môn, Phạm chí, Bà-la-môn, Trời, Rồng, Quỷ Thần, Phạm thiên và dân chúng trong khắp thế gian. Nói kinh, giảng pháp, các phần đầu, giữa, cuối đều là những điều thiện.

Gọi là phần đầu thiện là vì thân đều làm thiện, miệng nói lời thiện, tâm nghĩ điều thiện. Phần giữa cũng thiện là vì ý Phật tuyệt đối kiên cố, giới hạnh đầy đủ, trí tuệ siêu vượt. Phần cuối cũng thiện là vì Ngài đã đạt được ba pháp môn giải thoát: Không, Vô tưởng, Vô nguyện.

Lại gọi phần đầu thiện nghĩa là niềm tin bất động, vắng lặng, không có buông thả. Phần giữa cũng thiện nghĩa là ý đạt đến thiền định bậc nhất. Phần cuối cũng thiện nghĩa là do thấy bằng trí chân chánh, nên tuệ thông suốt.

Phần đầu thiện nghĩa là đối với Phật, được tâm tin kính vững bền. Phần giữa cũng thiện nghĩa là đối với pháp được an tịnh không rối loạn. Phần cuối cũng thiện nghĩa là đối với chúng Tăng được tâm tin không suy giảm.

Lại phần đầu thiện nghĩa là không theo âm thanh khác. Phần giữa cũng thiện nghĩa là nhớ nghĩ vắng lặng. Phần cuối cũng thiện nghĩa là thấy tánh của Hiền thánh bình đẳng.

Phần đầu thiện là đoạn trừ nguyên nhân của các khổ. Phần giữa cũng thiện là phụng hành tám Chánh đạo. Phần cuối cũng thiện là diệt tận sự chấp giữ chứng đắc.

Đó là các Thanh văn với phần đầu thiện, phần giữa cũng thiện và phần cuối cũng thiện.”

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi nói: “Các Bồ-tát với phần đầu thiện là tuân theo ý của đại đạo. Phần giữa cũng thiện là không ưa theo ý của tiểu đạo. Phần cuối cũng thiện là khuyên trợ giúp đạt Nhất thiết trí.

Lại phần đầu thiện là đối với các chúng sinh phải phát tâm Từ và bình đẳng. Phần giữa cũng thiện là vì tất cả mọi người nên không được nhàm chán đại Bi. Phần cuối cũng thiện là vui vẻ hộ trì, tâm hành đều bình đẳng.

Phần đầu thiện là thâu phục các kẻ phạm giới, khiến những kẻ kiêu mạn, vô hạnh biết thờ phụng chánh nghĩa, người nào tánh loạn động, Bồ-tát khiến họ đều được hạnh bình đẳng, trừ diệt tà ác. Phần giữa cũng thiện được gọi là bố trí, trì giới, nhẫn nhục, nhất tâm, trí tuệ. Phần cuối cũng thiện là nương vào sáu Ba-la-mật để quán xét Nhất thiết trí.

Phần đầu thiện là hành bốn Ân (bốn Nhiếp pháp) để giáo hóa, thu phục chúng sinh. Phần giữa cũng thiện gọi là không tiếc thân mạng để cứu hộ pháp. Phần cuối cũng thiện là không rơi vào các nẻo vô minh diệt tận.

Phần đầu thiện là đem tâm bình đẳng như đất vâng giữ hạnh Bồtát, nhưng không hội hợp. Phần giữa cũng thiện là nơi trí tuệ không bị dao động mà luôn ở vị bất thoái chuyển. Phần cuối cũng thiện là tâm không vướng mắc bất cứ việc gì và đạt được Nhất sinh bổ xứ.

Đó là các Bồ-tát với phần đầu thiện, phần giữa cũng thiện và phần sau cũng thiện.”

Khi Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi thuyết pháp cho hàng ngoại đạo, khiến năm trăm người xa lìa phiền não, chứng đắc mắt pháp sáng trong. Tám ngàn người phát tâm cầu đạo Chánh chân Vô thượng.

Bấy giờ, năm trăm người biến hóa, cùng quỳ xuống đất, tâm cung kính quay về, cùng cất tiếng niệm: “Nam-mô Phật, quy mạng Bậc Giác Ngộ.”

Những người ngoại đạo cũng bắt chước các người biến hóa này quỳ mọp xuống đất, tâm cung kính quay về và nói: “Nam-mô Phật, quy mạng Bậc Giác Ngộ.”

Ngay lúc ấy Thiên đế Thích làm mưa hoa quý và nói: “Các vị hãy đem những hoa này cúng dường Đức Thế Tôn.”

Tức thời, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi cùng đại chúng đông đủ và quyến thuộc vây quanh, đi đến giảng đường Ca-lợi-la, tới chỗ Đức Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Ngài rồi ngồi qua một bên. Hàng ngoại đạo và chúng đệ tử cũng đem những cành hoa ấy dâng lên Đấng Chánh Giác, nhiễu quanh Phật ba vòng, rồi đứng qua một bên. Năm trăm người biến hóa, nương vào oai đức của Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi, đến bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Chúng con không muốn thấy Phật vì Phật là Pháp thân. Chúng con không muốn nghe pháp vì pháp là không thể nắm bắt. Chúng con cũng không dùng công đức của chúng Tăng, vì chúng Hiền thánh của Đức Thế Tôn không có hạnh hội họp. Chúng con cũng không dùng công đức của Phật, vì pháp giới đó không có các đức diễn bày. Chúng con không dùng sự điều ngự vi diệu của Thế Tôn, vì tất cả các pháp hoàn toàn vắng lặng, không điều ngự. Chúng con không dùng quả vị nơi địa Như Lai, vì người giải thoát đã xa lìa mọi thứ hoa trái. Chúng con không muốn biết nghĩa khổ, vì điều nguyện mong không có hai. Chúng con không muốn cắt đứt nguyên nhân nơi tất cả các pháp, vì chân đế không có tập. Chúng con không muốn hành đạo, vì đạo ấy đã xa lìa hành và cũng chẳng hành. Chúng con không muốn chứng đắc tận, vì các pháp vĩnh viễn đều vắng lặng. Chúng con cũng không dùng ý chỉ, vì chỗ trụ của tất cả pháp là không có chỗ để trụ. Chúng con không dùng bình đẳng cat đứt đức hay chẳng phải đức, vì vô thường sinh tử đưa đến các hành. Chúng con cũng không dùng thần túc, vì không còn hạnh do dự, cũng không hồ nghi, không sinh khởi sự qua lại. Chúng con không dùng các căn vì tin theo các căn là mất nghĩa. Chúng con không dùng lực, vì tất cả vạn pháp, vạn vật mà không lực đều suy yếu. Chúng con không dùng giác ý, vì các pháp hoàn toàn rỗng lặng không có chỗ giác. Chúng con cũng không dùng đạo, vì vô số đời cũng không cầu phi lợi. Chúng con không dùng sự vắng lặng, cũng không an nhiên. Chúng con cũng không có cứu độ chúng sinh bằng cái thấy của trí tuệ. Chúng con cũng không cầu biết nghĩa, như thế là luôn có nghĩa giải thoát của pháp giới mà không có sự ràng buộc. Chúng con cũng không dùng nghĩa Samôn, chỉ dùng chí vắng lặng để vượt qua sáu chỗ chướng ngại. Chúng con cũng không bỏ hình thức Phạm chí, vì như thế Phạm chí cũng không dưt chê bai. Chúng con cũng không dùng Tỳ-kheo, vì tướng tự nhiên của họ không có chỗ hoại diệt. Chúng con cũng không dùng các pháp Ba-la-mật, vì sáu nhập như thế là diệt tận. Chúng con không dùng chán đủ, vì cái gì là hanh không chán đủ. Chúng con cũng không có sự ham muốn, cũng không đủ biết. Đối với pháp không có chỗ thọ, đối với ngôn ngữ cũng không dùng ngôn ngữ như vậy, vì không có thân, không có ý, không có nói năng. Chúng con cũng chẳng phải là vô trụ, như thế ba cõi đều bình đẳng. Chúng con cũng chẳng phải không có chỗ tu tập như vậy, không vui cũng không cùng thấy. Chúng con cũng không sống nơi thanh vắng, vì tất cả ba cõi đều không có đời sống thanh vắng. Chúng con cũng không hành không, vì cũng không có chỗ để hành như vậy, vì chỗ nêu lên cũng không. Chúng con cũng không xin như vậy để trừ các vọng tưởng. Chúng con cũng không sợ sinh tử, vì tri kiến luôn bình đẳng chắc thật. Chúng con cũng không dâm, nộ, si, cũng không chê bai, cũng không suy nghĩ nhớ tưởng, cũng không vô tưởng. Chúng con cũng không đoạn trừ phiền não, vì tất cả đều ứng hiện tự nhiên, không có vướng mac. Chúng con cũng không có thân, cũng không có chỗ sinh ra, vì thân đó chẳng phải là thân. Chúng con cũng không quán những điều đã thấy, cũng không như vậy. Tướng tôn quý phát sinh, chúng con cũng không trừ các vết nhơ bẩn. Chúng con tự nhiên được giải thoát do lý bình đẳng, vô thường, khổ, lạc, trong sạch. Chúng con cũng không vượt qua nước kiết sử, như thế là chúng con không thấy bờ bên này hay bờ bên kia. Chúng con không dứt bỏ kẻ khác cũng không mong mỏi vượt ngang bằng như vậy, vì không ngôn ngữ, giải thoát, vô niệm. Chúng con không thọ xứ thì không có chỗ sinh khởi, không có chỗ mong cầu, vì cội nguồn của nó không có chỗ sinh hay trụ, cũng không đoạn trừ do dự, cũng không nghi ngờ nơi tịch tĩnh. Chúng con cũng không có tâm chân chánh hay ganh ghét để thoát nơi chánh tín, cũng không muốn đoạn ngôn thuyết như vậy, cũng không có tưởng niệm để thoát khỏi quá khứ.

Kính bạch Thế Tôn! Chúng con cũng không muốn vượt qua vô vi vì tất cả pháp đều vắng lặng và vô vi.”

Khi các hóa Tỳ-kheo nói những lời này, có hai trăm vị Tỳ-kheo đạt đến vô sinh, đoạn trừ lậu tận, ý được giác ngộ. Hai trăm vị Tỳkheo đã chứng đắc bốn Thiền đều từ chỗ ngồi đứng dậy bỏ đi ngay, sau cùng họ cũng đạt được những gì chưa đạt được. Họ nói: “Tất cả thế gian đều sống trong loạn động mà lại nói pháp như thế. Trước đây chúng toi đã nghe thuyết giảng những lời êm dịu và thích hợp. Nay những lời thuyết giảng ấy không liên hệ gì với hạnh luật, cũng chẳng phải là lời giáo hóa của Đức Thế Tôn.”

Lúc đó, Bân-nậu Văn-đà-ni Tử bạch với Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi: “Thưa Nhân giả! Hai trăm vị Tỳ-kheo này từ tòa ngồi đứng dậy bỏ đi và nói: Vì thuyết giảng những điều ấy làm rối loạn tất cả thế gian.” Bồ-tát Văn-thù nói: “Này Hiền giả Bân-nậu! Vì có lý do mới thuyết giảng pháp này, gọi là làm rối loạn tất cả thế gian. Vì sao? Vì bản chất của thế gian là vướng mắc nơi thân năm ấm, bốn đại, sáu nhập, sợ sinh tử, mong cầu vô vi. Họ không biết nên cho sinh tử là chỗ nhận giữ, cũng không được thuận hợp vô vi nên ưu sầu, ở trong sinh tử không có chỗ vui, cũng chẳng có Niết-bàn. Người chấp nhận được sự không sợ hãi, thì không trụ ở bốn Đế. Nếu có vướng mắc thì bị mê loạn, cũng không có không đế, thân trụ vào bốn việc, đối với đạo không tranh cãi mà lệ thuộc vào kinh. Muốn đắc đạo tức là hai, vì có hai nên bị loạn động. Nếu bình đẳng với tất cả pháp thì chân chánh. Giả sử đạt được không hai, vì không hai nên hanh động không loạn. Cầu theo sự chấp ngã thì khinh ngạo tự cao, đã có kiêu mạn thì loạn động. Giả như không có chỗ chấp trước, chẳng có chỗ hành động, cũng không bình đẳng tạo ra, cũng không làm theo tà kiến, cũng không làm, cũng chẳng phải không làm, cũng không thích vượt qua, cũng chẳng phải không thích vượt qua. Đó là không loạn, vì không loạn nên không có hai.”

Cho nên Đức Thế Tôn nói: “Ta không tranh cãi với đời, chỉ có đời tranh cãi với ta.” Vì sao? Vì Như Lai đã cắt đứt nguồn gốc của sự tranh loạn. Những gì là nguồn gốc của sự tranh loạn? Đó là thành thực tin vào sự dối trá này.

Vì thế Đức Thế Tôn bảo: “Lời nói thành thật là lời nói thế nào? Lời nói dối trá là lời nói thế nào? Lời nói ấy bình đẳng, không thiên về tà vạy. Những gì được nói ra, nghĩa là có thanh tịnh.”

Lúc ấy, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đối với hai trăm vị Tỳ-kheo bỏ đi lúc trước, tới giữa đường Bồ-tát bèn hóa ra đám lửa lớn bốc cháy khắp chốn. Các vị Tỳ-kheo đó muốn vượt ra khỏi, nhưng nơi nào cũng thấy ngập đầy lửa. Họ không thể vượt qua đám lửa lớn đó, nên muốn dùng thần túc bay lên hư không, nhưng lại thấy nơi không trung có lưới sắt giăng phủ, cũng lại thấy nước lớn hiện ra khắp mười phương cõi. Các vị Tỳ-kheo ấy vô cùng kinh sợ. Từ xa, họ trông thấy con đường trong vườn Kỳ thọ, khắp nơi đều có hoa sen xanh, hoa sen trắng, hoa sen vàng, hoa sen đỏ và mọi người hội họp. Họ liền trở về chỗ Đức Phật, muốn thọ lãnh giáo pháp nên vào vườn ấy, đến giảng đường Ca-lợi-la, tới chỗ Đức Phật, cúi đầu, đảnh lễ dưới chân rồi đứng qua một ben.

Bân-nậu hỏi: “Các Tỳ-kheo này đã đi đến chỗ nào? Từ đâu về lại đây?”

Các vị ấy đáp: “Thưa Hiền giả! Chúng tôi đã đắc quả A-la-hán, các lậu đã tận, việc làm đã xong, đạt được nhất tâm và thần túc Ba-lamật. Chúng tôi theo Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đến đây, nghe thuyết loạn pháp, nên từ tòa ngồi đứng dậy, bỏ đi. Chúng tôi vừa đi ra đã thấy trong cõi Phật khắp nơi đều đầy lửa. Chúng tôi không thể vượt qua đám lửa lớn đó. Vì thế chúng tôi trở về thỉnh vấn Đức Thế Tôn, sao gọi là quả vị La-hán dứt hết các lậu?”

Khi ấy, Đức Phật bảo Tôn giả Bân-nậu: “Nếu không tự tại làm việc cúng dường ở nơi lửa mà muốn vượt qua khỏi thì không thể được, sẽ bị rơi vào lưới kiến. Muốn vượt qua lưới sắt lại bị chìm đắm ở nơi hạnh ái dục. Muốn vượt qua dòng nước lớn ở đây, cũng không thể vượt qua được. Vì sao? Này Tôn giả Bân-nậu! Vì các Tỳ-kheo này chưa giải thoát khỏi lửa dâm, nộ, si, thì làm sao có thể vượt qua đám lửa lớn ấy? Đã rơi vào lưới kiến chấp thì làm sao có thể vượt khỏi lưới sắt được? Bị chìm đắm trong bể tham ái, thì làm sao có thể vượt qua dòng nước lớn?

Này Bân-nậu! Những hiện tượng nước, lửa, lưới sắt đó không từ đâu đến cũng chẳng đến nơi nào. Đó là sự biến hóa thị hiện của Bồtát Văn-thù-sư-lợi mà thôi. Như thế, này Bân-nậu! Những tâm ý dâm, nộ, si và các tà kiến tham ái đó không từ đâu lại mà cũng chẳng đến nơi đâu. Tất cả đều từ sự suy nghĩ nhớ tưởng của mình, của người khác và hạnh tà vạy làm gốc mà tạo ra, từ đó nó khởi lên của ta, của người đối với các sắc tướng. Thật ra thì không có ta, không có cái của ta và chỗ để thọ, ở đó chỉ hành hạnh bình đẳng, chấm dứt ý loạn động. Phát khởi một tâm vắng lặng, tích lũy hạnh công đức, chí chuyên cũng không có chỗ nắm bắt, cũng không chỗ để nhớ nghĩ, cũng không có chỗ vướng mắc. Hoàn toàn nhất tâm khởi niệm nơi kinh pháp.

Những gì là pháp sự? Sao gọi là pháp duyên? Ví như quan sát thật chắc chắn. Khi đã quán rồi có nhân duyên từ si liền khởi ra hành, đã có nhân duyên hành liền khởi ra thức, đã có nhân duyên thức liền khởi ra danh sắc, đã có nhân duyên danh sắc liền khởi ra sáu nhập, đã có nhân duyên sáu nhập liền khởi ra tập (xúc), đã có nhân duyên tập liền khởi ra thống dương (thọ), đã có nhân duyên thống dương liền khởi ra tham ái, đã có nhân duyên tham ái liền khởi ra thọ (thủ), đã có nhân duyên thọ liền khởi ra hữu, đã có nhân duyên hữu liền khởi ra sinh, đã có nhân duyên sinh, liền có già, bệnh, chết, khóc than, buồn rầu. Những khổ não, không vừa ý sinh ra hằng ngày. Như thế là cùng với đại khổ não tụ tập đủ lại. Đó là dùng si mà nuôi lớn thân.

Ngu si đã đoạn tận thì hành kia liền diệt. Hành đã đoạn tận thì các thức liền diệt. Các thức đã đoạn tận thì danh sắc liền diệt. Danh sắc đã đoạn tận thì sáu nhập liền diệt. Sáu nhập đã đoạn tận thì tập (xúc) kia liền diệt. Tập đã đoạn tận thì thống dương (thọ) liền diệt. Thống dương đã đoạn tận thì tham ái liền diệt. Tham ái đã đoạn tận thì chỗ thọ (thủ) liền diệt. Thọ kia đã đoạn tận thì hữu liền diệt. Hữu đã đoạn tận thì sinh khởi liền diệt. Già, bệnh, chết, sầu lo, không vừa ý… tất cả đều đoạn tận. Như thế, đại khổ não kia liền dứt trừ, là được bình đẳng đạt đến vô vi. Không hội hợp, được hoàn toàn vắng lặng, pháp lỗi lầm kia cũng không diệt. Quá khứ không thấu suốt cũng không diệt. Vị lai không thấu suốt cũng không tận. Hiện tại không thấu suốt là vì nhớ nghĩ. Thanh tịnh, vắng lặng tức là ở vị trí thông tuệ. Những nhớ nghĩ của mình thanh tịnh, thông tuệ, hay không thông tuệ, thì không lập. Đã không lập, thì đó là vắng lặng mãi mãi, gọi là chấm dứt không còn vô minh. Đã nhớ nghĩ thanh tịnh, thông tuệ, nên quán thân bốn đại, đó là thân ngu si, ví như cây cỏ.

Nếu như có ý, có tâm, có thức mà không có sắc thì không thể thấy. Không có âm thanh cũng không thể nói được. Ví như mộng ảo, cũng không trong, cũng không ngoài, cũng không ở giữa, trong ngoài cũng không được. Tỳ-kheo có sự nhớ nghĩ vắng lặng này, đối với tất cả pháp là không có chỗ khởi. Đã không có chỗ khởi, đó là nghĩa chân không.”

Khi Đức Phật giảng dạy những lời này, có hai trăm vị Tỳ-kheo chứng đắc lậu tận không còn sinh khởi, ý hoàn toàn tỏ ngộ.

Lúc ấy, Tát-già Ni-kiền Tử cùng với chúng đệ tử và năm trăm quyến thuộc đông đủ, đi đến giảng đường Ca-lợi-la ở vườn Kỳ thọ. Họ đến chỗ Phật, vái chào Đức Thế Tôn rồi nói những lời trách móc: “Tôi nghe rất nhiều về Sa-môn Cù-đàm, dùng sự huyễn ảo lam mê loạn, dụ dỗ đệ tử của người khác, nay chính mắt tôi mới thấy. Bồ-tát Văn-thùsư-lợi đã phá bỏ chúng hội của tôi, để làm tăng thêm số đông đệ tử cho Sa-môn Cù-đàm. Như vậy Thế Tôn đã dùng tà hạnh thâu nhận hàng đệ tử của tôi làm chúng không trở lại để nghe dạy dỗ, cũng không đọc tụng và không vâng theo lời tôi, cũng không đem tâm vâng thờ.”

Khi ấy, có đạo nhân tên Xà-da-mạt đang ngồi trong chúng hội, là chỗ quen thân cua Tát-già Ni-kiền Tử. Ông ta nói với Ni-kiền Tử: “Ông hãy im đi, chớ có ý không trong sạch đối với Đức Phật, cũng không được khởi tâm tranh chấp đối với Đức Phật, các đệ tử và Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi. Vì làm như thế ông chẳng được lợi ích gì, chỉ càng ở lâu trong đêm dài sinh tử, không được bình an, và đương lai sẽ rơi vào con đường khốn khổ. Này Ni-kiền Tử! Tôi muốn nói ví dụ, ông hãy lắng nghe. Ví như có người ngu si, muốn được váng sữa, đi tìm sữa mà đem nước đổ vào trong bình, rồi lắc chiếc bình ấy, cuối cùng rất nhọc mệt và vô cùng chán nản nhưng không có váng sữa.

Này Ni-kiền Tử! Hành động của các ngoại đạo cũng như vậy. Tuy là cố học và có hành đạo, nhưng không thể dứt trừ tà hạnh. Ví như nước trong chiếc bình lớn không thể cho ra váng sữa. Người không chịu thực hành pháp và luật thượng diệu của Như Lai khi chết sẽ bị đọa nơi địa ngục.

Này Ni-kiền Tử! Ví như người có trí tuệ, thấu suốt, muốn được váng sữa thì nên tìm sữa. Người ấy dùng nước sữa bỏ vào trong bình và lắc chiếc bình ấy, liền biến thành váng sữa, vì đã dùng nước sữa cho nên mới thành váng sữa.

Như thế, này Ni-kiền Tử! Có người ở trong giáo pháp của Như Lai, hoặc là cư sĩ, hoặc xuất gia, đều hết lòng thành kính tin tưởng học đạo, vui vẻ tinh tấn thực hành pháp Phật thì sẽ chứng đắc quả vị Hiền thánh, giải thoát. Như từ nước sữa mà thành váng sữa.

Này Ni-kiền Tử! Ví như có người đến nơi nhà khác mượn trăm ngàn đồ bằng sành đem phá bỏ đi, lại dùng đồ quý báu bồi thường cho người chủ. Người chủ ấy có thể nào nổi giận mà mắng nhiếc chăng?

Đáp: Không. Như thế, này Ni-kiền Tử! Các đệ tử ngoại đạo khác, ví như đồ sành, vì thế nên phá đi. Đối với pháp của Như Lai đã tạo thì như đồ dùng quý báu, không thể sân hận mắng nhiếc.

Này Ni-kiền Tử! Ví như mọi người có người dẫn đường mà không có phương tiện quyền xảo, sẽ dắt dẫn những người buôn đến đường xấu ác. Nếu vị thầy dẫn đường có phương tiện quyền xảo, sẽ dẫn dắt mọi người khách buôn ra khỏi nơi đường ác và ở nơi đường chân chánh.

Như thế, này Ni-kiền Tử! Thầy của các ngươi đã ở nơi con đường tà, không hiểu thấu nghĩa đạo, dắt dẫn vô số người rơi vào con đường ác. Đức Như Lai Vô Sở Trước Chánh Đẳng Chánh Giác biết rõ nghĩa, sẽ dắt dẫn vô lượng người ra khỏi nơi con đường ác và đặt họ nơi con đường chân chánh.”

Lúc này, Ni-kiền Tử bèn dẫn đồ chúng của ông ta ra đi.

Một vạn hai ngàn người và Ni-kiền Tử cùng nhau đi rồi, những người còn lại đều được thần thông. Đức Thế Tôn cho họ cạo tóc làm Tỳ-kheo.

Bấy giờ, Phật bảo Xà-da-mạt: “Ngươi có thấy một vạn hai ngàn người ấy và Tát-già cùng đi ra khỏi nơi đây không?”

“Bạch Thế Tôn! Con có thấy.”

Đức Phật nói: “Một vạn hai ngàn người này sẽ ở nơi đời của Đức Như Lai Di-lặc, sẽ xuống tóc làm Sa-môn, tại đại hội lần thứ nhất. Vì sao? Vì họ đã nghe giáo pháp sâu xa. Tát-già Ni-kiền Tử sẽ ở đời Đức Như Lai Di-lặc làm đệ tử, có trí tuệ cao tột, ví như vị đệ tử (trí tuệ bậc nhất) của ta là Xá-lợi-phất vậy. Vì sao? Vì đối với pháp Phật ông ta sinh tâm tự cao, khinh ngạo, sau đấy mới bỏ các kiến chấp đó.”

Đạo sĩ Xà-da-mạt bạch Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi: “Về sau, vào đời năm trược xấu ác sao lại có nhiều kẻ cao ngạo kiêu mạn?”

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi nói: “Đúng vậy, này thiện nam! Về sau những chúng sinh nơi đời năm trược xấu ác, phần nhiều là những kẻ xấu xa, thấp kém, ưa thích sự kiêu mạn. Vì sao? Vì họ đã không thể chứng đắc đầy đủ bốn Thiền, cho nên tự cao tự đại, đến khi bị đọa lạc nơi đời năm trược xấu ác, họ không còn cúng dường chúng Tỳ-kheo. Đó là các Tỳ-kheo ý khong trụ được nơi thiền định, huống gì là đạt đến thiền thứ tư. Vì những vị Tỳ-kheo đó đã để vào đời sau các vết nhơ, nên trong đời năm trược xấu ác, phần nhiều ưa thích kiêu mạn, tự cao, tự đại.

Khi đó, này các thiện nam! Vì hai việc mà tạo sự cao ngạo, khinh người. Đó là:

  1. Tự thấy mình có trí tuệ hơn hết.
  2. Vì thọ lãnh sự cúng dường về thức ăn uống, y phục, nên thể hiện sự trì giới, trí tuệ công đức, liền tự thoái đọa theo nghiệp lực, mà kiêu ngạo chê bai pháp Như Lai, sẽ phải bị đọa nơi địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh.”

“Thưa Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Lý do nào mà biết người khác có tâm kiêu ngạo?”

Đáp: “Kẻ phàm phu tâm loạn động, bất định, thì không thể gọi là A-la-hán. Giả sử họ nghe nói về những điều ấy mà sợ hãi, thì biết đó là kẻ phàm phu kiêu ngạo, được thấy Đức Như Lai nhưng không được thấy A-la-hán. Nếu như có kẻ nghe những lời này mà sợ hãi, thì biết đó là kẻ phàm phu kiêu ngạo, được Thế Tôn bố thí mà không bố thí cho La-hán. Nếu như người nghe những điều này mà sợ hãi, thì biết đó là kẻ cao ngạo. Đức Như Lai ca ngợi kẻ phàm phu, không ca ngợi A-la-hán. Nếu như có người nghe những điều này mà sợ hãi, thì biết đó là kẻ kiêu ngạo. Người đó không ra khỏi các phiền não, đều gọi là không có chỗ vướng mắc, là bậc Cao tột nhất nơi thế gian.

Giả sử có người thoát khỏi phiền não, thì đó là vướng mắc, chẳng phải là các sự che chở ở thế gian. Hoặc có người, ở nơi đây tu hành, thì đó là kiêu ngạo. Chỉ lãnh thọ tất cả các pháp bằng lời giảng nói, thì đó là kiêu ngạo. Cũng không biết tất cả cũng không có chỗ đoạn, cũng không có chỗ làm, cũng không tác chứng, đó mới là nơi chắc chắn chân thật.”

“Thưa Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Người dùng trí tuệ kiêu ngạo có điều gì để nói?”

Đáp: “Không tranh luận, cũng chẳng phải là không tranh luận thì không gọi là kiêu ngạo. Ví như sư tử là vua của trăm thú, khi nó gầm lên thì tất cả đều sợ hãi âm thanh của nó.

Như thế, này thiện nam! Tỳ-kheo là người không ưa thích kiêu ngạo, không sợ bất cứ âm thanh nào? Vì sao? Vì âm thanh ví như tiếng dội lại của tiếng gọi, tiếng vang đó cũng không có tâm ý thức. Do nhân duyên hợp lại, cho nên có tiếng vang phát ra.

Như thế, này thiện nam! Sự làm việc của tâm ý thức xét rõ như trí tuệ, nhưng người kia không phân biệt được. Các duyên đầy đủ thì âm thanh phát ra. Còn tiếng vang vọng thì không thể tự phát. Tiếng vang của Đức Phật kia cũng chẳng từ đâu lại, âm thanh của hàng ngoại đạo cũng chẳng có lo buồn. Âm thanh của Phật cũng không có những tiếng vang không nhận biết. Đối với các âm thanh sân giận, xấu ác, không lo chúng trở thành những tiếng vang phiền não. Tất cả âm thanh không có ý đến đi, đầu cuối. Tức là ấn chứng, ấn không có chỗ ưa thích. Ấn chứng các điều đã nói, không có cao, không có thấp, nên ấn được lập thành là ấn bình đẳng, tướng của nó là ấn tự nhiên. Như vậy dùng một ấn, nhập vào thành ấn chứng bình đẳng cho cả pháp giới. Ấn này không có hư hoại, xét rõ ấn vốn không có chỗ trụ, ấn là nghĩa của chân không, ấn của ba đời bình đẳng, ấn không khởi không diệt, ấn hiện tự nhiên. Do đó ấn chứng, ấn các pháp điều ưa thích hay không ưa thích cũng không có kiêu ngạo. Tỳ-kheo nghe thế này không có hồ nghi, không do dự, là không còn chấp nơi ngã.”

Khi ấy, Đạo sĩ Xà-da-mạt bạch Phật: “Lạy Đấng Thiên Trung Thiên! Con thân cận với nhà ngoại đạo Uất-xà, nghe thuyết công đức của Đại thừa. Hôm nay, cũng lại từ nơi Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi, đã được nghe biện tài nêu giảng nên phát tâm cầu đạo Chánh chân Vô thượng. Thế nên cúi mong Đức Thế Tôn thuyết pháp cho con, khiến con đầy đủ pháp đạo phẩm, chóng thành tựu đạo quả, đạt được tuệ giác vô thượng. Nhờ giáo pháp Phật chỉ dạy mà khai hóa độ thoát cho vô lượng vô số người, nhiều không tính kể.”

Đức Phật nói: “Xà-da-mạt! Hôm nay ta sẽ thuyết giảng về hạnh Bồ-tát cho ông nghe. Có hai pháp nhanh chóng đạt đến trí tuệ Đại thừa. Đó là:

  1. Tinh tấn.
  2. Không buông lung.

Thế nào gọi là Tinh tấn? Nghĩa là vì cầu của cải giáo pháp nên ban cho tất cả những gì mình có được mà không hề tiếc nuối, không mong cầu phước báo, mà chỉ khuyên giúp tâm đạo. Vì tinh tấn để đoạn trừ các pháp bất thiện, đầy đủ các pháp thiện, ý bình đẳng thực hành không buông thả. Đối với giơi trong sạch không mong cầu phát sinh gì cả. Tinh tấn còn có nghĩa là ý không tham thân, thực hành nhẫn nhục, không buông lung, là không có tâm tổn hại mà cứu giúp chúng sinh. Tinh tấn nghĩa là tích lũy các pháp công đức, không có buông thả mà không biết nhàm chán, đối với các chỗ tu điều thiện, tích đức, pháp hiền thiện để khuyến ý đạo. Tinh tấn nghĩa là nhất tâm hoàn toàn không nhàm chán, không buông thả, thiền định, không có tâm mong cầu và bất thoái chuyển. Tinh tấn nghĩa là mong được hiểu rộng nghe nhiều, đối với pháp thí, đó là không buông thả, thường trong sạch vắng lặng, tự nhiên, vâng giữ trí tuệ Hiền thánh. Tinh tấn nghĩa là bồi đắp hành bon ân, dùng phương tiện trí tuệ khéo léo truyền dạy, không buông thả. Tinh tấn nghĩa là thân, ý, hành. Thân, ý ấy không loạn động, tâm ở nơi trống không vắng lặng. Tinh tấn nghĩa là vì tất cả chúng sinh bình đẳng thể hiện tâm từ ái, đối với pháp nghĩa tinh tấn là tâm Từ không buông thả, đối với các pháp không có chỗ vướng mắc. Tinh tấn nghĩa là đối với tha nhân và chúng sinh, đều phát tâm đạo, không buông thả. Xét xem khắp thế gian ví như nhà lửa, mộng ảo, không xả bỏ tâm đạo. Tinh tấn nghĩa là thực hành các việc, như cứu lửa cháy đầu, vào nơi chân lý, không có buông thả, diệt nơi tận chứng, hiện bày vô sinh. Tinh tấn nghĩa là đầy đủ các tướng tốt, tích lũy căn lành, đi vào chỗ không buông thả, quán sát Pháp thân không sinh khởi. Tinh tấn nghĩa là trang nghiêm cõi Phật mà không buông thả, thanh tịnh nơi cõi chúng sinh. Tinh tấn nghĩa là nghiêm tịnh đầy đủ ba mươi bảy pháp đạo phẩm, giải thoát vô minh, vui thích phương tiện thiện xảo của Đức Như Lai và Bồ-tát. Tất cả đều từ tinh tấn đưa đến, đó gọi là trí tuệ theo phương tiện quyền xảo. Bồ-tát thọ các pháp này sẽ đạt đến sự hộ trì bất thoái chuyển, an lập nơi đạo Chánh chân Vô thượng.”

Khi Đức Phật thuyết giảng những lời này, Bồ-tát Xà-da-mạt chứng đắc pháp Nhẫn vô sinh, hân hoan, phấn chấn, nhảy vọt lên hư không, cách mặt đất bốn trượng chín thước. Khắp tam thiên đại thiên thế giới chấn động đủ sáu cách, ánh sáng chiếu khắp cõi Phật. Từ nơi hư không, mưa hoa trời, các loại âm nhạc tự phát ra âm thanh.

Lúc ấy, Đức Phật mỉm cười. Chư Phật, Thế Tôn luôn mỉm cười đúng như pháp, tức có trăm ngàn vô số không thể tính kể hào quang màu vàng, xanh, đỏ, trắng, từ miệng Phật tỏa ra, chiếu khắp vô lượng cõi Phật. Ánh sáng ấy quay trở lại, nhiễu quanh Đức Phật ba vòng, lên đến đảnh Phật, bỗng nhiên biến mất. Khi đó, Hiền giả A-nan từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa lại y phục, gối phải quỳ sát đất, chắp tay, cung kính, dùng kệ ca ngợi và thưa hỏi Đức Phật:

Sức trí tuệ, điềm lành chói rạng
Bảy bước hoa, ngơi sáng Đạo sư
Ba hai tướng tốt, thân vi diệu B
iết bao vẻ đẹp đều tròn đầy.
Như sư tử oai hùng giữa chúng
Mỗi bước chân dũng mãnh uy nghi
Hôm nay sao Phật lại mỉm cười?
Con mong Đức Thế Tôn giảng nói.
Pháp Phật thuyết mạnh như làn chớp
Tiếng trầm hùng sư tử gầm vang
Chim Yết-tùy hót vọng mây ngàn
Cõi Phạm thiên còn nghe thánh thót.
Khắp ba ngàn thế giới vang ngân
Các chúng hội đều nghe lời Phật
Cả nhân thiên ứng hiện pháp màu
Lời dịu êm tỏ ngộ sâu thẳm.
Chúng Thanh văn và hàng Duyên giác
Trí tuệ thấp nên chưa hiểu thấu
Trọn vô cùng khắp chốn ban ân
Chư Bồ-tát cũng không sánh kịp.
Nay ai đạt đến tuệ lực này?
Nguyện Đạo sư khai độ cho con
Hoặc trời, rồng hoặc ở cõi người
A-tu-la đều phát tâm đạo.
Để thoát khỏi nơi còn chấp thọ
Trong tâm nghe không chỗ vướng mắc
Hành vô lượng không hề chướng ngại
Trăm ngàn vô số vẫn không bằng.
Không hạn lượng và không thể tính
Phật đem bình đẳng độ thế nhân
Nay xin hỏi Đấng Không, Chánh tuệ
Vì cớ sao Phật lại mỉm cười?
Ánh hào quang rực rỡ muôn nơi
Xanh, vàng, đỏ, trắng ngời sắc sáng
Hào quang ấy nơi miệng Ngài chiếu
Cả hằng sa vô số cõi này.
Khắp vô lượng trăm ngàn cõi Phật
Muôn loài không khác thảy như nhau
Tất cả lặng yên không chỗ thấy
Phật ban lợi ích, không còn sợ.
Khi hào quang ấy vừa xuất hiện
Các đệ tử làm sao biết được
Ánh sáng này chưa có bao giờ!
Có lần Phật thuyết việc Duyên giác.
Nay xin Phật giải hạnh Đại thừa
Tuệ Nhất thiết trí là cao tột
Hào quang rực rỡ lại vào đảnh
Bao nhiêu cấu uế thảy tiêu tan.
Lành thay hạnh phúc cả chư Thiên
Và cả thế gian xin thờ kính
Nguyện xét rõ ràng thuyết nghĩa kinh
Mỗi lời Phật dạy là chân lý.
Chúng hội các nơi dứt hồ nghi
Nguyên nhân Bậc Chánh Giác mỉm cười
Nghe lời Phật phấn chấn vui mừng
Mang niềm vui khắp chốn nhân thiên.

Đức Phật bảo Hiền giả A-nan:

–Ông có thấy thiện nam Xà-da-mạt bay vụt lên hư không, cách mặt đất bốn trượng chín thước, đứng trong hư không và đã chứng đắc pháp nhẫn, chắp tay cung kính đảnh lễ ta và trăm ngàn chư Thiên cùng đến cúng dường không?

–Bạch Thế Tôn! Con có thấy.

Đức Phật bảo Hiền giả A-nan:

–Thiện nam Xà-da-mạt đã từng phụng thờ bảy mươi hai ức Đức Phật, tu điều thiện, tích đức, thường làm Chuyển luân thánh vương, và luôn tôn phụng chư Phật Thế Tôn. Sau khi chư Phật Bát-nê-hoàn, ông ấy vẫn ở nơi bảy mươi hai ức chỗ Đức Phật, kiến lập phạm hạnh thanh tịnh, hộ trì chánh pháp Phật.

Này Hiền giả A-nan! Thiện nam Xà-da-mạt đây, về sau, sẽ được gặp và tôn phụng năm hằng hà sa các Đấng Như Lai, cúng dường, hầu hạ, giáo hóa hành thanh tịnh. Ông ấy sẽ truyền dạy cho vô số Bồ-tát, sau đó, tích lũy pháp giác ý trong vô số kiếp nữa, rồi sẽ thành Phật, hiệu là Tuệ Vương Như Lai Vô Sở Trước, Chánh Đẳng Chánh Giác, đầy đủ mười tôn hiệu, cõi nước của Phật ấy tên là Hỷ kiến, kiếp tên là Nhất bảo nghiêm tịnh.

Này Hiền giả A-nan! Thế giới Hỷ kiến đó, ví như tầng trời thứ sáu là trời Tha hóa tự tại. Dân chung nơi cõi Phật Hỷ kiến có đời sống và sự cúng dường cũng giống như vậy. Vì thế dân chúng không tham đắm nơi sáu cảnh. Tất cả muôn dân gặp nhau đều hoan hỷ vui mừng. Họ rất hoan hỷ khi gặp Như Lai Tuệ Vương, nên thế giới đó có tên là Hỷ kiến. Khi ấy Như Lai chỉ một kiếp truyền dạy và thi hành Phật sự, nên chánh pháp cũng thọ một kiếp. Vì thế kiếp đó hiệu là Nhất bảo nghiêm tịnh. Đức Thế Tôn chỉ nhận toàn là Bồ-tát làm chúng, có chín mươi hai ức Bồ-tát đều đạt bất thoái chuyển. Các vị Bồ-tát này, đạt đến trí tuệ không chướng ngại, trí tuệ vượt sáng với vô lượng gốc công đức.

Khi Đức Như Lai Tuệ Vương sắp Bát-niết-bàn, có Bồ-tát tên là Sư Tử Quá Nhi Hành được thọ ký. Đức Như Lai nhập Niết-bàn rồi thì Bồ-tát Sư Tử Quá Nhi Hành sẽ thành Phật hiệu là Sư Tử Quá Nhi Hành Như Lai, truyền dạy chánh pháp cho thế gian. Khi Đức Như Lai đó vào Niết-bàn, chánh pháp trụ ở đời được mười tiểu kiếp. Xá-lợi của Đức Như Lai được gom lại đầy đủ và xây bảo tháp, dài rộng hai ngàn bốn trăm dặm, cao ba ngàn hai trăm dặm, tháp được làm bằng bảy báu, mọi người đều đến cúng dường.

Lúc này, thiện nam Xà-da-mạt, từ hư không hạ xuống, đến trước Đức Phật, cung kính đảnh lễ sát chân nói về pháp giới không có chỗ để hoại, rồi dùng kệ ca ngợi Đức Phật:

Riêng con và pháp giới
Mọi người cùng các loại
Cõi này là cõi tuệ
Nơi đây được thọ ký.
Pháp giới và phiền não
Hư không cũng bình đẳng
Tất cả pháp như vậy
Vì con đã đến pháp.
Các pháp dâm, nộ, si
Sân giận cũng như vậy
Đều như cõi hư không
Nơi đây, được thọ ký.
Cõi sinh tử Niết-bàn
Pháp giới là không khác
Nước cũng là như vậy
Và lửa, đất như nhau.
Ấm cái cùng pháp giới
Nhãn thức các hữu phần
Ý bộ cảnh pháp giới
Các phần số đều định.
Các pháp hữu vi kia
Cũng như cõi vô vi
Không thấy pháp có hại
Đó là trao thọ ký.
Thế Tôn không năm ấm
Bốn đại và các nhập
Không danh cũng không sắc
Cũng không có trong ngoài.
Phật dùng âm thanh nói
Trao thọ ký cho con
Nơi đây đều vang lặng
Do thiền định thọ ký.
Đức Phật không có ý
Như đây thọ ký con
Con nay không có biết
Phật thọ ký cho con.
Thọ ký này chắn chắn
Như thế là bình đẳng
Pháp giới không bị hoại
Tức vốn như không trụ.
Đẳng giác, chư Thiên nhân
Chánh lập nơi chánh pháp
Lặng lẽ như hư không
Đầy đủ quyền tuệ thiện.

Thiện nam Xà-da-mạt sau khi dùng kệ ca ngợi Đức Phật, rồi nhiễu quanh Phật ba vòng và ngồi qua một bên.

Đức Phật bảo Hiền giả A-nan:

–Hãy nên thọ trì đọc tụng kinh này và truyền bá cho mọi người.

Hiền giả A-nan bạch Phật:

–Thưa vâng, bạch Thế Tôn! Kinh này tên là gì? Phụng hành như thế nào?

–Này Hiền giả A-nan! Kinh này tên là Văn-thù-sư-lợi Sở Hiện Biến Hóa Hàng Phục Chúng Ma Hóa Chư Dị Học Phụng Thọ Chánh Pháp Giảng Thuyết, hoặc gọi là Bảo Tạng. Hãy nên theo đấy mà phụng hành và gìn giữ.

Đức Phật thuyết giảng như thế xong, Đồng tử Văn-thù-sư-lợi, Bồ-tát Xà-da-mạt, Hiền giả A-nan, chư Thiên, Nhân, A-tu-la, dân chúng trong thế gian… được nghe kinh đều hoan hỷ, đến trước Phật, cúi đầu, đảnh lễ và lui ra.

 

Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.