KINH TÍN LỰC NHẬP ẤN PHÁP MÔN

Hán dịch: Nguyên Ngụy, Tam tạng Đàm Ma Lưu Chi
Việt dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh

 

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Đức Thế Tôn ở nơi cảnh giới trú trì của Như Lai cách đạo tràng Tịch diệt không xa, đó là pháp điện Phổ Quang là nơi thành tựu nhiều thiện căn và phước đức; nơi bình đẳng bao dung không phân biệt; nơi đầy đủ vô lượng công đức; nơi làm bằng Kim cang bền chắc; nơi ổn định bền vững không thể hoại diệt; nơi trang nghiêmbằng những loại hoa và tất cả ngọc ngà châu báu; nơi trang nghiêm bằng những châu báu rực rỡ, sáng ngời, không còn những nhơ bẩn; nơi thị hiện của biển quý ngọc Đại Ma-ni, có vô lượng ánh sáng vĩ đại; nơi sinh ra ngọc báu và mưa báu như ý không cùng tận; nơi trang nghiêm bằng cành cây ngọc Ma-ni và những loại hoa xoay vòng như bánh xe; nơi xen lẫn ngọc báu và tất cả hoa hương thơm; nơi thị hiện tất cả chúng sinh và chư Phật Phấn tấn trụ trì; nơi tốt đẹp nhất trong các thế giới; nơi phát sinh tất cả ngọc vô cấu, có năng lực thị hiện trang nghiêm khắp thế giới chư Phật.

Đạo tràng trang nghiêm, vắng lặng là nơi tích tụ, tăng trưởng và có tính chất sinh ra ngọc báu đại Tỳ-lưu-ly; nơi có lan can bằng Như ý bảo vương; nơi trang nghiêm bằng lưới Trân châu Như ý; nơi dựng lên phan lọng phướn báu và những loại linh báu xen lẫn trang nghiêm; nơi dùng Ưu-trà-già kiên cố chiên-đàn trải trên đất; nơi được che phủ bằng lưới cây Bảo vương và ngọc Ma-ni thanh tịnh trang nghiêm Phổ Quang; nơi đặt đấng đẹp bằng ngọc Ma-ni Bảo vương Sư tử mao; nơi trang nghiêm lầu gác và các loại cửa bằng ngọc Ma-ni bảo Vương Sư tử tòa tràng; nơi trang nghiêm bằng sự kiến lập các loại tràng phan, bảo cái; nơi tập họp những loại hoa tươi đẹp nhất cõi trời người, như hoa: Mạn-đà-la, Ma-ha Mạn-đà-la, Mạn-thù-sa, Ma-ha Mạn-thù-sa, Uất-già, Ma-ha Uất-già, Chất-ca-la, Ma-ha Chất-ca-la, Tu-ma-na, Bàsư-ca, Đa-la-ni, Bà-la, Vệ-đa-la-ni, Cực diệu hương, Đà-sư-ca-ly-ca, Thiên Tu-ma-na, Ưu-bát-la, Ba-đầu-ma, Câu-vật-đầu, Phân-đà-lợi. Các loại hoa trang nghiêm nơi tòa Sư tử không bị sự trở ngại nào.

Nơi trú xứ này, Đức Thế Tôn có trí tuệ thanh tịnh, được thành tựu viên mãn hạnh vô nhị, đạt đến các pháp cứu cánh vô tướng, y nơi sự hành đạo của chư Phật mà hành đạo, được nơi bình đẳng của tất cả chư Phật. Đạt đến nơi hoàn toàn không chướng ngại; đạt đến chỗ pháp luân không thoái chuyển; được đến cảnh giới không thể hàng phục; được chỗ sai biệt bất tư nghì; được chỗ bình đẳng ba đời; được sự không chướng ngại thời quá khứ, vị lai của các thế gian; được trí vô ngại tất cả pháp; được trí viên mãn tất cả hạnh, được đến chỗ trí nơi tất cả chư Như Lai; được pháp tân không phân biệt, đạt đến cảnh giới bờ kia của Phật; đạt đến cứu cánh giải thoát vô ngại không sai biệt của chư Phật Như Lai; đạt đến địa vị Phật bình đẳng không thiên lệch; đạt đến tự nhiên trí của chư Phật quảng đại như pháp giới, cứu cánh như hư không, không có bờ bến và tất cả sự hành dụng của chư Phật Như Lai không ngừng nghỉ. Đạt đến chỗ có thể chuyển pháp luân bất thoái tận cùng tất cả kiếp đời vị lai và có thể thị hiện kho tàng trí tuệ trang nghiêm vô ngại. Đạt đến chỗ nương tựa vào trí Nhất thiết trí và Nhất thiết chủng trí không có sai khác.

Trong một lúc, nơi mười phương thế giới thị hiện giáng sinh từ cung trời Đâu-suất, rồi xuất gia thực hành khổ hạnh, đền đạo tràng hàng phục giặc ma, chứng đại Bồ-đề, chuyển bánh xe pháp, thị hiện Niết-bàn, trụ trì pháp Phật. Cho đến lúc pháp diệt, khéo thị hiện cùng bất kảh thuyết ức na-do-tha trăm ngàn vạn các vị Đại Bồ-tát số nhiều như vi trần tập hợp nơi mười cõi Phật. Tất cả các vị Đại Bồ-tát đó đều đã chứng được thành tựu vô lượng pháp hạnh khởi Đà-la-ni môn. Thế giới không có Phật, khéo thị hiện vô lượng chư Phật, có thể làm thanh tịnh các thế giới nhiễm ô. Có vô lượng, vô số Thiên long, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lầu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già, Thích Đề-hoàn Nhân, Đại Phạm thiên vương, Hộ thế tứ vương, nhân và phi nhân.

Bấy giờ, Đại Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi Pháp vương tử, từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa y phục tề chỉnh, gối phải quỳ sát đất, chắp tay hướng về Đức Phật thưa:

–Bạch Thế Tôn! Cúi xin Thế Tôn vì các Đại Bồ-tát mà dạy pháp sơ đại thanh tịnh để họ đạt được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi.

Đức Phật bảo Đại Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi Pháp vương tử:

–Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp làm thanh tịnh Hoan hỷ địa thứ nhất để được vô lượng sự an ổn, không sợ hão. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi tâm một vị nên sinh tâm an ổn, vì làm cho người khác trụ nơi tâm một vị nên khởi tâm yên ổn. Gọi là tâm một vị nghĩa là chánh tâm; chánh tâm nghĩa là tin mỗi mỗi thiện căn thù thắng đều không sai khác.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ tâm tăng thượng nên sinh tâm an ổn, vì làm cho người khác trụ tâm tăng thượng nên khởi tâm an ổn. Tâm tăng thượng nghĩa là trực tâm, trực tâm nghĩa là đại hạnh rốt ráo của chư Phật Như Lai chỗ có thể nắm giữ sự tinh tấn thù thắng vì quán rõ các pháp.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi tâm cung kính nên sinh tâm an ổn, vì làm cho người khác trụ nơi tâm cung kính nên khởi tâm an ổn. Tâm cung kính nghĩa là chánh tín, chánh tín nghĩa là tin vào những điều nền tảng của Bát-nhã.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi tâm hoan hỷ nên sinh tâm an ổn, vì làm cho người khác trụ nơi tâm hoan hỷ nên khởi tâm an ổn. Tâm hoan hỷ nghĩa là thân tâm hoàn toàn vắng lặng.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta trụ được nơi nghiệp ma và nghiệp Phật với trí không sai khác nên sinh tâm an ổn, vì là cho người khác trụ nơi nghiệp ma và nghiệp Phật với trí không sai khác nên khởi tâm an ổn. Nghiệp ma và nghiệp Phật nghĩa là có thể sinh khởi tất cả tà kiến điên đảo. Từ các tà kiến nên sinh khởi nghiệp ma, mà các nghiệp ma này cùng nghiệp Phật kia không có sai khác. Vì sao? Vì thể của nghiệp ma tức là thể của nghiệp Phật địa nên không khác nhau.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này thì có thể thanh tịnh ở địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trú nơi không trí không sai biệt với tà kiến, nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi không trí không sai biệt tà kiến nên sinh tâm an ổn. Không trí, không sai biệt tà kiến nghĩa là thể của tà kiến tức là thể của không trí. Sự tạo tác tà kiến chẳng khác sự tạo tác của Không trí. Vì thể của Không trí chẳng khác thể của tà kiến, thể của tà kiến chẳng khác thể của Không trí, tức thể của tà kiến và sự tạo tác tà kiến là không. Thể tà kiến và sự tạo tác tà kiến ấy nương vào trí không, vì tất cả pháp Không sai biệt, không thủ không xả.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trí tuệ sai biệt không, không sai nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi trí sai biệt không không sai nên sinh tâm an ổn. Trí tuệ sai biệt không không sai biệt, nghĩa là thể sai biệt tức thể không sai biệt. Vì sao? Vì thể không sai biệt chẳng khác thể sai biệt, thể sai biệt chẳng khác thể không sai biệt, tức thể sai biệt vì vốn không sai biệt. Thể sai biệt ấy nương vào trí không sai biệt, vì tất cả pháp vốn không sai biệt.

3. Bồ phát tâm thế này: Ta đã được trí trụ nơi tăng thượng không khác với không tăng thượng nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi trí tăng thượng không khác với không tăng thượng nên phát khởi tâm an ổn. Trí tăng thượng không khác với không tăng thượng, nghĩa là thể tăng thượng tức thể không tăng thượng. Vì sao? Vì thể không tăng thượng chẳng khác thể tăng thượng, thể tăng thượng chẳng khác thể không tăng thượng, tức thể tăng thượng vốn không tăng thượng. Thể tăng thượng ấy, nương vào trí không tăng thượng, vì tất cả pháp không tăng thượng.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trí trụ nơi điên đảo không khác với không điên đảo nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác được trí trụ nơi điên đảo không khác nên phát khởi tâm an ổn. Trí điên đảo không khác với không điên đảo nghĩa là thể điên đảo tức thể không điên đảo. Vì sao? Vì thể không điên đảo chẳng khác thể điên đảo, thể điên đảo chẳng khác thể không điên đảo, tức thể điên đảo không điên đảo. Thể điên đảo kia nương vào trí không điên đảo, vì tất cả pháp không điên đảo.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trí trụ nơi thủ xả không khác với không thủ không xả nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi trí thủ không khác với không thủ xả nên phát khởi tâm an ổn. Trí thủ xả không khác với không thủ không xả, nghĩa là thể của thủ xả tức là thể của không thủ không xả. Vì sao? Vì thể không thủ không xả chẳng khác thể thủ xả, thể của thủ xả chẳng khác thể của không thủ không xả, tức thể của thủ xả vốn không thủ không xả. Thể của thủ xả kia nương vào trí không thủ không xả vì tất cả pháp không thủ không xả.

Văn-thù-sư-lợi! Đó là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này thì có thể thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất và được nhiều an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng an ổn, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trí trụ nơi hữu vi, không khác với vô biên vi nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác được trí nơi hữu vi không khác với vô vi nên phát khởi tâm an ổn. Trí hữu vi không khác với vô vi, nghĩa là thể của hữu vi tức thể của vô vi. Vì sao? Vì thể của vô vi chẳng khác thể của hữu vi, thể của hữu vi chẳng khác thể của vô vi, tức thể của hữu vi là vô vi. Thể của hữu vi kia nương vào trí vô vi, vì tất cả pháp vốn vô vi không sai biệt.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trí trụ nơi sự, không khác với vô sự nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác được trí nơi sự không khác với vô sự nên phát khởi tâm an ổn. Trí sự không khác với vô sự, nghĩa là thể của sự tức thể của vô sự. Vì sao? Vì thể của vô sự chẳng khác thể của sự, thể của sự chẳng khác thể của vô sự, vì thể của sự là vô sự. Thể của sự kia nương vào trí vô sự, vì tất cả pháp vốn sự.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trí trụ nơi chỗ nương tựa, không khác với không chỗ nương tựa nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi trí chỗ nương tựa không khác với không chỗ nương tựa nên phát khởi tâm an ổn. Trí chỗ nương tựa không khác với không chỗ nương tựa, nghĩa là thể của chỗ nương tựa tức thể của không chỗ nương tựa. Vì sao? Vì thể không chỗ nương tựa chẳng khác thể chỗ nương tựa, thể chỗ nương tựa chẳng khác thể không chỗ nương tựa, tức thể chỗ nương tựa vốn không. Thể của chỗ nương tựa kia nương vào trí không chỗ nương tựa, vì tất cả pháp không chỗ nương tựa.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trí trụ nơi quán không, khác với không quán nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi quán không khác với không quán nên phát khởi tâm an ổn. Trí quán không khác với không quán, nghĩa là thể của quán tức thể của không quán. Vì sao? Vì thể không quán chẳng khác thể quán, và thể của quán chẳng khác thể không quán, thể quán là không quán không. Thể của quán nương vào trí không quán, vì tất cả pháp không quán.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trí trụ nơi đối trị, khác với không đối trị nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi trí đối trị không khác với không đối trí nên phát khởi tâm an ổn. Trí đối trị không khác với không đối trị, nghĩa là thể của đối trị tức thể của không đối trị. Vì sao? Vì thể của không đối trị chẳng khác thể của đối trị, thể của đối trị chẳng khác thể của không đối trị, tức thể của đối trị là không đối trị. Thể của đối trị kia nương vào trí không đối trị, vì tất cả pháp không đối trị.

Văn-thù-sư-lợi! Đây gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này có thể thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trí trụ nơi tướng không khác với vô tướng nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi trí tướng không khác với vô tướng nên phát khởi tâm an ổn. Trí tướng không khác với vô tướng, nghĩa là thể của tướng tức thể vô tướng. Vì sao? Vì thể vô tướng khác thể tướng, tức thể tướng là vô tướng. Thể tướng kia nương vào trí vô tướng, vì tất cả pháp vô tướng.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trí trụ nơi thật không khác với trí không thật nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi trí thật không khác với trí không thật, nên phát khởi tâm an ổn. Trí thật không khác với trí không thật, nghĩa là thể của thật tức thể không thật. Vì sao? Vì thể không thật chẳng khác thể thật, thể thật chẳng khác thể không thật. Tức thể thật là không thật. Thể thật ấy nương vào trí không thật, vì tất cả pháp không thật.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trí trụ nơi nhị không khác với bất nhị, nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi trí nhị, không khác với bất nhị, nên phát khởi tâm an ổn. Trí nhị không khác với bất nhị, nghĩa là thể của nhị tức thể của bất nhị. Vì sao? Vì thể của bất nhị chẳng khác thể của nhị, thể của nhị chẳng khác thể bất nhị, tức thể của nhị là bất nhị. Thể nhị kia nương vào trí bất nhị vì tất cả pháp bất nhị.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trí trụ nơi sắc không sai khác với vô sắc, nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi trí sắc không khác vô sắc, nên phát khởi tâm an ổn. Trí sắc không khác với vô sắc, nghĩa là thể của sắc tức thể vô sắc. Vì sao? Vì thể vô sắc chẳng khác thể sắc, thể sắc chẳng khác thể vô sắc, tức thể của sắc là vô sắc. Thể của sắc ấy nương vào trí vô sắc vì tất cả pháp sắc.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trí trụ nơi thế gian, không khác với Niết-bàn, nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác được trí trụ nơi thế gian không khác với Niết-bàn, nên phát khởi tâm an ổn. Trí thế gian không khác với Niết-bàn, nghĩa là thể của thế gian tức thể Niết-bàn. Vì sao? Vì thể của Niết-bàn chẳng khác của thế gian, thế của thế gian chẳng khác thể Niết-bàn, tức thể thế gian là Niết-bàn. Thể của thế gian kia nương vào trí Niết-bàn vì tất cả pháp Niết-bàn.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này có thể thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trí trụ nơi chướng ngại không khác với không chướng nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi trí chướng ngại không khác với không chướng ngại, nên phát khởi tâm an ổn. Trí chướng ngại không khác với không chướng ngại, nghĩa là thể của chướng ngại tức thể không chướng ngại. Vì sao? Vì thể không chướng ngại khác thể chướng ngại, thể chướng ngại chẳng khác thể không chướng ngại. Tức thể chướng ngại là không chướng ngại Thể chướng ngại kia nương vào trí không chướng ngại, vì tất cả pháp không chướng ngại.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trí trụ nơi chấp trước không khác với không chấp trước nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi trí chấp trước không khác với không chấp trước, nên phát khởi tâm an ổn. Trí chấp trước không khác với không chấp trước, nghĩa là thể của chấp trước tức thể của không chấp trước. Vì sao? Vì thể không chấp trước chẳng khác thể chấp trước, thể chấp trước chẳng khác thể không chấp trước. Tức thể chấp trước là không chấp trước Thể chấp trước kia nương vào trí không chấp trước, vì tất cả pháp không chấp trước.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trí trụ nơi trí không khác vô trí nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi trí không khác vô trí, nên phát khởi tâm an ổn. Trí về trí không khác với vô trí, nghĩa là thể của trí tức thể vô trí. Vì sao? Vì thể vô trí khác thể trí, thể trí không khác thể vô trí. Thể trí tức vô trí. Thể trí kia nương vào trí vô trí, vì tất cả pháp vô trí.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trí trụ nơi hữu không khác trí vô nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi trí hữu không khác trí vô, nên phát khởi tâm an ổn. Trí hữu không khác trí vô, nghĩa là hữu thể tức vô thể. Vì sao? Vì thể không khác hữu thể và hữu thể không khác vô thể, thể hữu tức vô. Hữu thể nương vào vô trí vì tất cả pháp là không.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trí trụ nơi thức không khác vô thức nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi trí thức không khác với vô thức, nên phát khởi tâm an ổn. Trí thức không khác với vô thức, nghĩa là thể của thức tức thể của vô thức. Vì sao? Vì thể vô thức chẳng khác thể thức, thể thức không khác thể vô thức, tức thể thức là vô thức. Thể thức kia nương vào trí vô thức, vì tất cả pháp vô thức.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này có thể thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trí trụ nơi danh, không khác với vô danh nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác được trí trụ nơi danh không khác vô danh nên phát khởi tâm an ổn. Trí về danh không khác với vô danh, nghĩa là thể của danh tức thể vô danh. Vì sao? Vì thể vô danh chẳng khác thể danh, thể danh chẳng khác thể vô danh, thể danh tức là vô danh. Thể danh đó nương vào trí vô danh, vì tất cả pháp vô danh.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trí trụ nơi ngã không khác với vô ngã nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác được trí trụ nơi ngã không khác với vô ngã, nên phát khởi tâm an ổn. Trí về ngã không khác với vô ngã, nghĩa là ngã thể tức vô ngã thể. Vì sao? Vì vô ngã thể chẳng khác ngã thể, ngã thể chẳng khác vô ngã thể, tức ngã thể là vô ngã thể. Ngã thể đó nương vào trí vô ngã, vì tất cả pháp vô ngã.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trú trụ nơi nhân duyên hòa hợp, không khác với vô nhân duyên hòa hợp nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác được trí trụ nơi nhân duyên hòa hợp, không khác với vô nhân duyên hòa hợp, nên phát khởi tâm an ổn. Trí về nhân duyên hòa hợp không khác với vô nhân duyên hòa hợp, nghĩa lag thể của nhân duyên hòa hợp tức thể vô nhân duyên hòa hợp. Vì sao? Vì thể của vô nhân duyên hòa hợp chẳng khác thể của nhân duyên hòa hợp, thể của nhân duyên hòa hợp chẳng khác thể của vô nhân duyên hòa hợp, tức thể của nhân duyên hòa hợp là vô nhân duyên hòa hợp. Thể nhân duyên hòa hợp nương vào trí vô nhân duyên hòa hợp, vì tất cả pháp đều vô nhân duyên hòa hợp.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trí trụ nơi biệt tướng không khác với vô biệt tướng nên sinh tâm an ổn, làm cho ngưới khác được trí nơi biệt tướng không khác với vô biệt tướng nên phát khởi tâm an ổn. Trí về biệt tướng không khác với vô biệt tướng, nghĩa là thể của biệt tướng tức thể của vô biệt tướng. Vì sao? Vì thể vô biệt tướng chẳng khác thể biệt tướng, thể bit tướng chẳng khác thể vô biệt tướng, tức thể biệt tướng là vô biệt tướng. Thể biệt tướng nương vào trí vô biệt tướng vì tất cả pháp vô biệt tướng.

5. Bồ-tát phát tam thế này: Ta đã được trí trụ nơi văn tự không khác với không văn tự nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác được trí trụ nơi trí văn tự không khác với không văn tự, nên phát khởi tâm an ổn. Trí về văn tự không khác với không văn tự, nghĩa là thể của văn tự tức thể không văn tự. Vì sao? Vì thể không văn tự chẳng khác thể văn tự, thể căn tự chẳng khác thể không văn tự, tức thể văn tự là không văn tự. Thể văn tự kia nương vào trí không văn tự, vì tất cả pháp không văn tự.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này có thể thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trí trụ nơi kiêu mạn không khác với không kiêu mạn nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác được trí trụ nơi kiêu mạn không khác với không kiêu mạn, nên phát khởi tâm an ổn. Trí về kiêu mạn không khác với không kiêu mạn, nghĩa là thể của kiêu mạn tức thể của không kiêu mạn. Vì sao? Vì thể không kiêu mạn chẳng khác thể kiêu mạn, thể kiêu mạn chẳng khác thể không kiêu mạn, tức thể kiêu mạn vốn không kiêu mạn. Thể kiêu mạn kia nương vào trí không kiêu mạn, vì tất cả pháp không kiêu mạn.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trí trụ nơi tự ca ngợi không khác với không tự ca ngợi nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác được trí trụ nơi tự ca ngợi không khác với không tự ca ngợi, nên phát khởi tâm an ổn. Trí về sự ca ngợi không khác với không tự ca ngợi, nghĩa là thể của tự ca ngợi tức thể của không tự ca ngợi. Vì sao? Vì thể không tự ca ngợi chẳng khác thể tự ca ngợi, thể tự ca ngợi chẳng khác thể không tự ca ngợi, tức thể tự ca ngợi vốn không tự ca ngợi. Thể tự ca ngợi kia nương vào trí không tự ca ngợi, vì tất cả pháp không tự ca ngợi.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trí trụ nơi không liễu nghĩa không khác với liễu nghĩa nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác được trí trụ nơi liễu nghĩa không khác với không liễu nghĩa nên phát khởi tâm an ổn. Trí về sự liễu nghĩa không khác với không liễu nghĩa, nghĩa là thể của bất liễu nghĩa tức liễu nghĩa. Vì sao? Vì thể liễu nghĩa chẳng khác thể bất liễu nghĩa và thể bất liễu nghĩa chẳng khác thể liễu nghĩa, tức thể bất liễu nghĩa là liễu nghĩa. Thể bất liễu nghĩa kia nương vào trí liễu nghĩa, vì tất cả đều liễu nghĩa.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trí trụ nơi nhân pháp không khác với không nhân pháp nên sinh an ổn, làm cho người khác được trí trụ nơi nhân pháp không khác không nhân pháp, nên phát khởi tâm an ổn. Trí về pháp không khác với không nhân pháp, nghĩa là thể của nhân pháp tức thể của không nhân pháp. Vì sao? Vì thể không nhân pháp chẳng khác thể nhân pháp, và thể nhân pháp chẳng khác thể không nhân pháp, tức thể nhân pháp là không nhân pháp. Thể nhân pháp kia nương vào trí không nhân pháp, vì tất cả pháp không nhân pháp.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trí trụ nơi tà kiến không khác với chánh kiến nên sinh tam an ổn, làm cho người khác được trí trụ nơi tà kiến không khác với chánh kiến nên phát khởi tâm an ổn. Trí về tà kiến không khác với chánh kiến, nghĩa là thể của tà kiến tức thể của chánh kiến. Vì sao? Vì thể tà kiến chẳng khác thể chánh kiến, thể chánh kiến chẳng khác thể tà kiến, tức thể tà kiến là chánh kiến. Thể của tà kiến kia nương vào trí của chánh kiến, vì tất cả pháp chánh kiến.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này có thể thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trí trụ nơi không bình đẳng không khác với bình đẳng nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác được trí trụ nơi không bình đẳng không khác với bình đẳng, nên phát khởi tâm an ổn. Trí không bình đẳng không khác với bình đẳng, nghgĩa là thể của không bình đẳng tức thể của bình đẳng. Vì sao? Vì thể của bình đẳng chẳng khác thể không bình đẳng, thể không bình đẳng chẳng khác thể bình đẳng, tức thể không bình đẳng là bình đẳng. Thể không bình đẳng kia nương vào trí bình đẳng, vì tất cả pháp bình đẳng.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trí trụ nơi hữu hạn không khác với vô hạn nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác được trí trụ nơi hữu hạn không khác với vô hạn, nên phát khởi tâm an ổn. Trí về hữu hạn không khác với vô hạn, nghĩa là thể của hữu hạn tức thể của vô hạn. Vì sao? Vì thể của vô hạn chẳng khác thể của hữu hạn, thể hữu hạn chẳng khác thể vô hạn, tức thể hữu hạn là vô hạn. Thể hữu hạn ấy nương vào trí vô biên, vì nên tất cả trí vô hạn.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trí trụ nơi tri khả tri không khác với trí nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tri khả tri không khác với trí, nên phát khởi tâm an ổn. Tri khả tri không khác với trí, nghĩa là thể của tri khả tri tức là thể của trí. Vì sao? Vì thể của trí chẳng khác thể của tri khả tri. Thể của tri khả tri chẳng khác thể của trí, tức thể tri khả tri là thể trí. Thể tri khả tri kia nương vào trí, vì để có về trí nhất thiết pháp.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trí trụ nơi thủ không khác với không thủ nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác được trí trụ nơi thủ khác với không thủ, nên phát khởi tâm an ổn. Trí về việc không khác với không thủ, nghĩa là thể của thủ tức thể của không thủ. Vì sao? Vì thể của không thủ chẳng khác thể của thủ, thể của thủ chẳng khác thể không thủ, tức thể thủ là không thủ. Thể thủ kia nương vào trí không thủ, vì tất cả pháp không thủ.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trí trụ nơi tu hành không khác với không tu hành, nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi trí tu hành không khác với không tu hành nên phát khởi tâm an ổn. Trí tu hành không khác với không tu hành, nghĩa là thể của tu hành tức thể không tu hành. Vì sao? Vì thể tu hành chẳng khác không tu hành, thể không tu hành chẳng khác thể tu hành, tức thể là tu hành là không tu hành. Thể tu hành kia nương vào trí không tu hành, vì tất cả pháp không tu hành.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này có thể thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trí trụ nơi phi trung đạo không khác với trung đạo nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác được trí trụ nơi phi trung đạo không khác với trung đạo, nên phát khởi tâm an ổn. Phi trung đạo không khác với trung đạo, nghĩa là thể của phi trung đạo tức thể của trung đạo. Vì sao? Vì thể của trung đạo chẳng khác thể phi trung đạo, thể phi trung đạo chẳng khác thể trung đạo, tức thể phi trung đạo là trung đạo. Thể của phi trung đạo kia nương vào trí trung đao, vì tất cả pháp trung đạo.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trí trụ nơi phi hư không, không khác với hư không nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác được trí trụ nơi phi hư không không khác với hư không, nghĩa là thể của chẳng phải hư không tức thể của hư không. Vì sao? Vì thể hư không chẳng khác thể chẳng phải hư không, thể chẳng phải hư không chẳng khác thể hư không, tức thể chẳng phải hư không là hư không. Hư không trí nương vào thể của phi hư không, vì biết tất cả pháp hư không.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trí trụ nơi chẳng phải Thạch nữ tử bình đẳng không khác với Thạch nữ tử bình đẳng nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi trí chẳng phải Thạch nữ tử bình đẳng không khác Thạch nữ tử bình đẳng nên phát khởi tâm an ổn. Trí chẳng phái Thạch nữ tử bình đẳng không khác con của Thạch nữ bình đẳng, nghĩa là thể chẳng phải Thạch nử tử bình đẳng tức thể Thạch nữ tử bình đẳng. Vì sao? Vì thể Thạch nữ tử bình đẳng chẳng khác thể chẳng phải Thạch nử tử bình đẳng, thể chẳng phải Thach nữ tử bình đẳng chẳng khác với thể Thạch nử tử bình đẳng, tức thể chẳng phải con của Thạch nữ tử bình đẳng, là Thạch nữ tử bình đẳng. Thể chẳng phải Thạch nữ tử bình đẳng kia nương vào trí Thạch nữ tử bình đẳng, vì tất cả pháp là Thạch nữ tử bình đẳng.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trí trụ nơi chẳng phải quáng nắng không khác với như quáng nắng nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác được trí trụ nơi chẳng phải quáng nắng không khác như quáng nắng, nên phát khởi tâm an ổn. Trí chẳng phải như quáng nắng không khác với như quáng nắng, nghĩa là thể của chẳng phải như quáng nắng tức thể như quáng nắng. Vì sao? Vì thể như quáng nắng tức thể chẳng phải như quáng nắng, thể chẳng phải như quáng nắng tức thể như quáng nắng. Vì thể chẳng phải như quáng nắng tức thể như quáng nắng. Thể chẳng phải như quáng nắng nương vào trí như quáng nắng, vì tất cả pháp như quáng nắng.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trí trụ nơi tà kiến không khác với không tà kiến, nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác được trí trụ nơi tà kiến không khác với không tà kiến, nên phát khởi tâm an ổn. Trí tà kiến không khác với không tà kiến, nghĩa là thể của tà kiến tức thể của không tà kiến. Vì sao? Vì thể không tà kiến chẳng khác thể tà kiến, thể tà kiến chẳng khác thể không tà kiến, tức thể tà kiến nên không tà kiến. Thể của tà kiến kia nương vào trí không tà kiến, vì tất cả pháp không tà kiến.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này có thể thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trí trụ nơi vô minh không khác với minh nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác được trí trụ nơi vô minh không khác với minh, nên phát khởi tâm an ổn. Trí vô minh không khác với minh, nghĩa là thể của vô minh tức thể của minh. Vì sao? Vì thể của minh chẳng khác thể của vô minh, thể vô minh chẳng khác thể minh. Thể của vô minh kia nương vào trí của minh, vì tất cả pháp minh.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trí trụ nơi tham không khác với không tham nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác được trí trụ nơi tham không khác với không tham, nên phát khởi tâm an ổn. Trí tham không khác với không tham, nghĩa là thể xủa tham tức thể của không tham. Vì sao? Vì thể không tham chẳng khác thể tham, thể tham chẳng khác thể không tham, tức thể tham là không tham. Thể tham kia nương vào trí của không tham, vì tất cả pháp không tham.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trí trụ nơi sân không khác với không sân nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác được trụ nơi trí sân không khác với không sân, nên phát khởi tâm an ổn. Trí sân không khác với không sân, nghĩa là thể của sân tức thể của không sân. Vì sao? Vì thể của không sân chẳng khác thể sân, thể sân chẳng khác thể không sân, tức thể sân là không sân. Thể sân kia nương vào trí không sân, vì tất cả pháp không sân.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trí trụ nơi si không khác với không si nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác được trụ nơi trí si không khác với không si, nên phát khởi tâm an ổn. Trí si không khác với không si, nghĩa là thể của si tức thể của không si. Vì sao? Vì thể của không si chẳng khác thể si, thể si chẳng khác thể không si, tức thể si là không si. Thể si kia nương vào trí không si, vì tất cả pháp không si.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trí trụ nơi y cứ không khác với không y cứ nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi trí y cứ không khác với không y cứ, nên phát khởi tâm an ổn. Trí y cứ không khác với không y cứ, nghĩa là thể của y cứ tức là thể của không y cứ. Vì sao? Vì thể không y cứ chẳng khác thể y cứ, thể y cứ chẳng khác thể không y cứ, tức thể y cứ là không y cứ. Thể y cứ kia nương vào trí của không y cứ, vì tất cả pháp không y cứ.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này có thể thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trí trụ nơi bố thí và thực hành thâu nhận sự nên sinh tam an ổn, làm cho người khác được trí trụ nơi bố thí và thực hành thâu nhận sự nên phát khởi tâm an ổn. Trí bố thí và thực hành thâu nhận sự nghĩa là bố thí và hồi hướng.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trí trụ nơi ái ngữ và thực hành thâu nhận sự nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác được trí trụ nơi ái ngữ và thực hành thâu nhận sự nên phát khởi tâm an ổn. Trí ái ngữ và thực hành thâu nhận sự nghĩa là trực tâm để tu hành.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trí trụ nơi lợi ích và thực hành thâu nhận sự nên sinh tam an ổn, làm cho người khác được trí trụ nơi lợi ích và thực hành thâu nhận sự nên phát khởi tâm an ổn. Trí lợi ích và thực hành thâu nhận sự nghĩa là đại Từ đại Bi.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trí trụ nơi đồng sự và thực hành thâu nhận sự nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác được trí trụ nơi đồng sự và thực hành thâu nhận sự nên phát khởi tâm an ổn. Trí đồng sự và thực hành thâu nhận sự nghĩa là phương tiện và trí tuệ.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trí trụ nơi phát tâm và thực hành thâu nhận sự nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác được trí trụ nơi phát tâm và thực hành thâu nhận sự nên phát khởi tâm an ổn. Trí phát tâm nghĩa là trực tâm và tu hành.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này có thể thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trí trụ nơi tâm ly tham nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác được trí trụ nơi tâm ly tham nên phát khởi tâm an ổn. Tâm ly tham nghĩa là không chấp trước tất cả pháp.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trí trụ nơi tâm ly sân nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác được trí trụ nơi tâm ly sân nên phát khởi tâm an ổn. Tâm ly sân nghĩa là không sinh tâm hiềm khích, sân hận đối với tất cả những chúng sinh khác.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trí trụ nơi thân nghiệp không tạo những hành động ác nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi thân nghiệp không tạo các hành động ác nên phát khởi tâm an ổn. Thân nghiệp không tạo những hành động ác nghĩa là xa lìa ba loại hành vi ác của thân.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trí trụ nơi khẩu nghiệp không tạo những hành vi ác nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi khẩu nghiệp không tạo các hành vi ác nên phát khởi tâm an ổn. Khẩu nghiệp không tạo những hành vi ác nghĩa là xa lìa bốn thứ lỗi của khẩu nghiệp.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trí trụ nơi ý nghiệp không tạo những thói ác nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi ý nghiệp không tạo những thói ác nên phát khởi tâm an ổn. Ý nghiệp không tạo những thói ác nghĩa là xa lìa những thói ác: Tham, sân, si.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này có thể thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm như thế này: Ta đã được trụ nơi chánh niệm về Phật nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi chánh niệm về Phật nên phát khởi tâm an ổn. Chánh niệm về Phật nghĩa là nghĩ về hạnh thanh tịnh của Phật.

2. Bồ-tát phát tâm như thế này: Ta đã được trụ nơi chánh niệm về Pháp nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi chánh niệm về Pháp nên phát khởi tâm an ổn. Chánh niệm về Pháp nghĩa là thấy Pháp thanh tịnh.

3. Bồ-tát phát tâm như thế này: Ta đã được trụ nơi chánh niệm về Tăng nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi chánh niệm về Tăng nên phát khởi tâm an ổn. Chánh niệm về Tăng nghĩa là vào địa vị Bồ-tát.

4. Bồ-tát phát tâm như thế này: Ta đã được trụ nơi chánh niệm về xả nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi chánh niệm về xả nên phát khởi tâm an ổn. Chánh niệm về xả nghĩa là buông bỏ tất cả những chấp chặt.

5. Bồ-tát phát tâm như thế này: Ta đã được trụ nơi chánh niệm về giới nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi chánh niệm về giới nên phát khởi tâm an ổn. Chánh niệm về giới nghĩa là được tất cả pháp.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này có thể thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát suy nghĩ thế này: Ta đã được trụ nơi pháp quán vô thường nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi pháp quán vô thường nên phát khởi tâm an ổn. Quán vô thường nghĩa là vượt qua sự tham Dục giới, Sắc giới, tham Vô sắc giới.

2. Bồ-tát suy nghĩ thế này: Ta đã được trụ nơi pháp quán vô ngã nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi pháp quán vô ngã nên phát khởi tâm an ổn. Quán vô ngã nghĩa là không đắm trước tất cả sự quán.

3. Bồ-tát suy nghĩ thế này: Ta đã được trụ nơi pháp chắc thật nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi pháp chắc thật nên phát khởi tâm an ổn. Pháp chắc thật nghĩa là không dối gạt chư Thiên và loài người.

4. Bồ-tát suy nghĩ thế này: Ta đã được trụ nơi pháp thật nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi pháp thật nên phát khởi tâm an ổn. Pháp thật nghĩa là không dối chư Thiên và chính mình.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi các pháp hành nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi các pháp hành nên phát khởi tâm an ổn. Các pháp hành nghĩa là nương tựa tất cả các pháp hành.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này có thể thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi giới kiên cố nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi giới kiên cố phát khởi tâm an ổn. Giới kiên cố nghĩa là không phạm cho dù một giới rất nhỏ, không tạo tác một tội nào dù nhỏ.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi giới trọn vẹn nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi giới trọn vẹn phát khởi tâm an ổn. Không khuyết giới nghĩa là không mong cầu những thừa khác.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi giới hoàn thiện nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi giới hoàn thiện phát khởi tâm an ổn. Giới hoàn thiện nghĩa là xa lìa tất cả những hành động xấu ác.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi giới không vẩn đục nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi giới không vẩn đục phát khởi tâm an ổn. Giới không vẩn đục nghĩa là bảo hộ tất cả Bồ-tát.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi giới khéo hộ trì nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi giới khéo hộ trì phát khởi tâm an ổn. Giới khéo hộ trì nghĩa là sinh tâm tôn kính đối với tất cả Bồ-tát.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này có thể thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi giới khéo nghiêm mật nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi giới khéo nghiêm mật phát khởi tâm an ổn. Giới khéo nghiêm mật nghĩa khéo gìn giữ tất cả các căn.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi giới danh xưng nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi giới danh xưng phát khởi tâm an ổn. Giới danh xưng nghĩa là nhập vào pháp giới các pháp không sai biệt, vì trí bất nhị không chướng ngại.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi giới tri túc nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi giới tri túc phát khởi tâm an ổn. Giới tri túc nghĩa là xa lìa tất cả tham.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi giới sai biệt nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi giới sai biệt phát khởi tâm an ổn. Giới sai biệt nghĩa là thân vắng lặng.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ giới nơi chỗ A-lannhã nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi giới A-lan-nhã nên phát khởi tâm an ổn. Giới nơi chỗ A-lan-nhã nghĩa là nhập vào các pháp vô trung, vô biên.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này có thể thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng an ổn, không sợ hãi.

**********

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất và được nhiều an ổn, không sợ hãi đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi tâm đại Từ nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tâm đại Từ nên phát khởi tâm an ổn. Tâm đại Từ nghĩa là cứu giúp sự khổ não của tất cả chúng sinh, là thân tâm tu tập tất cả các công đức.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi tâm đại Bi nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tâm đại Bi nên phát khởi tâm an ổn. Tâm đại Bi nghĩa là giáo hóa các chúng sinh không còn cái khổ nào mà không chấp thủ, không có lạc nào mà không buông xả.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi tâm đại Hỷ nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tâm đại Hỷ nên phát khởi tâm an ổn. Tâm đại Hỷ nghĩa được nghe đại sự của chư Phật nên sinh tâm hoan hỷ.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi tâm đại Xả nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tâm đại Xả nên phát khởi tâm an ổn. Tâm đại Xả nghĩa là Bồ-tát xa lài tâm ái.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi phương tiện lun nghĩa nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi phương tiện luận nghĩa nên phát khởi tâm an ổn. Phương tiện luận nghĩa, nghĩa là nhập vào các pháp không ngôn ngữ.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này thì có thể thanh tịnh ở địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi giới nhẫn nhục nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi giới nhẫn nhục nên phát khởi tâm an ổn. Giới nhẫn nhục nghĩa là không sinh tâm sân hận đối với tất cả chúng sinh.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi giới tinh tấn nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi giới tinh tấn nên phát khởi tâm an ổn. Giới tinh tấn nghĩa là Bồ-tát làm cho chúng sinh trụ nơi pháp không thoái chuyển.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi giới Thiền định nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi giới Thiền định nên phát khởi tâm an ổn. Giới Thiền định nghĩa là Bồ-tát làm cho chúng sinh trụ nơi thiền.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi giới Bát-nhã nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi giới Bát-nhã nên phát khởi tâm an ổn. Giới Bát-nhã nghĩa là làm cho tất cả chúng sinh trụ nơi các thiện căn.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi giới không thô ác nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi giới không thô ác nên phát khởi tâm an ổn. Giới không thô ác nghĩa là tâm nhu hòa đối với tất cả pháp Phật.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này thì có thể thanh tịnh ở địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi giới không hối nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi giới không hối nên phát khởi tâm an ổn. Giới không hối nghĩa là khéo làm những việc đáng làm.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi giới không kiêu mạn nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi giới không kiêu mạn nên phát khởi tâm an ổn. Giới không kiêu mạn nghĩa là giáo hóa tất cả chúng sinh, giúp đỡ những việc làm cho tất cả chúng sinh.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi giới thiện nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi giới thiện nên phát khởi tâm an ổn. Giới thiện nghĩa là giáo hóa tất cả chúng sinh, có thể nhẫn chịu sự sân hận, mắng chửi, nhục mạ của chúng sinh.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi giới tiếp nhận pháp nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi giới tiếp nhận pháp nên phát khởi tâm an ổn. Giới tiếp nhận pháp nghĩa là tin các pháp Không giải thoát.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi giới Phật Tammuội nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi giới Phật Tammuội nên phát khởi tâm an ổn. Giới Phật Tam-muội nghĩa là có tâm bình đẳng đối với tất cả chúng sinh.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này thì có thể thanh tịnh ở địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi trí Khổ đế nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi trí Khổ đế nên phát khởi tâm an ổn. Trí Khổ đế nghĩa là trí biết các ấm không sinh.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi trí Diệt đế nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi trí Diệt đế nên phát khởi tâm an ổn. Trí Tập đế nghĩa là trí đoạn trừ các ái.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi trí Tập đế nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi trí Tập đế nên phát khởi tâm an ổn. Trí Diệt đế nghĩa là trí không sinh các nghiệp kết sử vô minh.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi trí Đạo đế nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi trí Đạo đế nên phát khởi tâm an ổn. Trí Đạo đế là trí được các pháp bình đẳng không điên đảo.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi sự quán sát lỗi tự thân nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác quán sát lỗi tự thân nên phát khởi tâm an ổn. Quán sát lỗi tự thân nghĩa là tự tâm được vắng lặng quán sát giới của chính mình.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này thì có thể thanh tịnh ở địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi tâm hộ trì người khác nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tâm hộ trì người khác nên phát khởi tâm an ổn. Tâm hộ trì người khác nghĩa là thấy lỗi của người không sinh sân hận.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi tâm thuần thục nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tâm thuần thục nên phát khởi tâm an ổn. Tâm thuần thục nghĩa là giáo hóa chúng sinh không mệt mỏi.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi tâm không sân hận nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tâm không sân hận nên phát khởi tâm an ổn. Tâm không sân hận nghĩa là đối với tất cả chúng sinh không sinh ác tâm.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi sự quán sát tự thân nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi quán sát tự thân nên phát khởi tâm an ổn. Quán sát tự thân nghĩa là quán vô ngã.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi chỗ không còn một mảy may phiền não nào nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi chỗ không còn một mảy may phiền não nào nên phát khởi tâm an ổn. Không một may may phiền não nghĩa là thân nghiệp vắng lặng một cách hoàn hảo.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này thì có thể thanh tịnh ở địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi Vô sinh pháp nhẫn nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi Vô sinh pháp nhẫn nên phát khởi tâm an ổn. Vô sinh pháp nhẫn nghĩa là chứng tịch diệt.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi vô diệt pháp nhẫn nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi vô diệt pháp nhẫn nên phát khởi tâm an ổn. Vô diệt pháp nhẫn nghĩa là chứng Vô sinh pháp nhẫn.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi trí niệm thọ nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi trí niệm thọ nên phát khởi tâm an ổn. Trí niệm thân nghĩa là xa lìa thân tâm.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi trí niệm thân nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi trí niệm thân nên phát khởi tâm an ổn. Trí niệm thọ nghĩa là chấm tất cả thọ.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi trí niệm tâm nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi trí niệm tâm, nên phát khởi tâm an ổn. Trí niệm tâm nghĩa là quán tâm giống như huyễn.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này thì có thể thanh tịnh ở địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể thanh tịnh hoan hỷ địa và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi trí niệm pháp nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi trí niệm pháp, nên phát khởi tâm an ổn. Trí niệm pháp nghĩa là biết như thật tất cả các pháp.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi tín căn nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tín căn, nên phát khởi tâm an ổn. Tín căn nghĩa là không nương tựa vào tất cả những pháp khác.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi tinh tấn căn nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tinh tấn căn, nên phát khởi tâm an ổn. Tín căn nghĩa là biết như thật tất cả các pháp.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi niệm căn nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi niệm căn, nên phát khởi tâm an ổn. Niệm căn nghĩa là khéo làm những việc cần làm.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi định căn nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi định căn, nên phát khởi tâm an ổn. Định căn nghĩa là được tâm giải thoát.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này thì có thể thanh tịnh ở địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể thanh tịnh hoan hỷ địa và được vô lượng sự an ổn không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi tuệ căn nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tuệ căn, nên phát khởi tâm an ổn. Tuệ căn nghĩa là hiện biết tất cả pháp.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi tín lực nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tín lực, nên phát khởi tâm an ổn. Tín lực nghĩa là vượt qua tất cả những nghiệp ma.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi trí lực nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi trí lực, nên phát khởi tâm an ổn. Trí lực nghĩa là xa lìa vô trí.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi tinh tấn lực nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tinh tấn lực, nên phát khởi tâm an ổn. Tinh tấn lực nghĩa là thành tựu pháp bất thoái.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi niệm lực nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi niệm lực, nên phát khởi tâm an ổn. Niệm lực nghĩa là nắm giữ tất cả pháp Phật.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này thì có thể thanh tịnh ở địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể thanh tịnh hoan hỷ địa và được vô lượng sự an ổn không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi Tam-muội lực nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi Tam-muội lực, nên phát khởi tâm an ổn. Tam-muội lực nghĩa là xa lìa tất cả giác quán.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi Bát-nhã lực nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi Bát-nhã lực, nên phát khởi tâm an ổn. Bát-nhã lực nghĩa là trí tuệ không thể bị người khác chinh phục được.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi niệm giác phần nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi niệm giác phần, nên phát khởi tâm an ổn. Niệm giác phần nghĩa là như thật biết các pháp niệm giác phần.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi trạch pháp giác phần nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi trạch pháp giác phần, nên phát khởi tâm an ổn. Trạch pháp giác phần nghĩa là soi biết tất cả pháp.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi tinh tấn giác phần nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tinh tấn giác phần, nên phát khởi tâm an ổn. Tinh tấn giác phần nghĩa là biết như thật tất cả pháp Phật.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này thì có thể thanh tịnh ở địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể thanh tịnh hoan hỷ địa và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi hỷ giác phần nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi hỷ giác phần, nên phát khởi tâm an ổn. Hỷ giác phần nghĩa là Tam-muội Tam-ma-bạt-đề.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi ỷ giác phần nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi ỷ giác phần, nên phát khởi tâm an ổn. Ỷ giác phần nghĩa là khéo làm những việc cần là đối với tất cả pháp.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi định giác phần nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi định giác phần, nên phát khởi tâm an ổn. Định giác phần nghĩa là biết tất cả pháp một cách bình đẳng.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi xả giác phần nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi xả giác phần, nên phát khởi tâm an ổn. Xả giác phần nghĩa là không có tâm ưa thích đắm trước trong các Thánh pháp và không có tâm nhàm chán, xem thường phi Thánh pháp.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi chánh kiến nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi chánh kiến, nên phát khởi tâm an ổn. Chánh kiến nghĩa là nhập định vị.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này thì có thể thanh tịnh ở địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi chánh giác phần nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi chánh giác phần, nên phát khởi tâm an ổn. Chánh giác phần nghĩa là xa lìa các sự phân biệt như phân biệt rộng, phân biệt sai khác.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi chánh ngữ nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi chánh ngữ, nên phát khởi tâm an ổn. Chánh ngữ nghĩa là ở nơi tất cả danh tự, âm thanh không sinh các tướng.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi chánh nghiệp nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi chánh nghiệp, nên phát khởi tâm an ổn. Chánh nghiệp nghĩa là nhp vào tất cả quả báo pháp nghiệp.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi chánh mạng nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi chánh mạng, nên phát khởi tâm an ổn. Chánh mạng nghĩa là xa lìa những sự mong cầu.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi chánh tu hành nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi chánh tu hành, nên phát khởi tâm an ổn. Chánh tu hành nghĩa là bỏ bờ bên này để đến bờ bên kia.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này thì có thể thanh tịnh ở địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi Bố thí ba-la-mật nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi Bố thí ba-la-mật, nên phát khởi tâm an ổn. Bố thí ba-la-mật nghĩa là khéo giáo hóa chúng sinh bỏ tâm tham lam, ganh ghét.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi giới Ba-la-mật nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi giới Ba-la-mật, nên phát khởi tâm an ổn. Giới Ba-la-mật nghĩa là khéo giáo hóa chúng sinh hủy giới cấm.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi Nhẫn nhục ba-lamật nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi Nhẫn nhục ba-lamật, nên phát khởi tâm an ổn. Nhẫn nhục ba-la-mật nghĩa là khéo giáo hóa tâm sân hận chúng sinh.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi Tinh tấn ba-lamật nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi Tinh tấn ba-lamật, nên phát khởi tâm an ổn. Tinh tấn ba-la-mật nghĩa là khéo giáo hóa sự lười biếng của chúng sinh.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi Thiền ba-la-mật nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi Thiền ba-la-mật, nên phát khởi tâm an ổn. Thiền ba-la-mật nghĩa là khéo giáo hóa chúng sinh khỏi tâm tán loạn.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này thì có thể thanh tịnh ở địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi Bát-nhã ba-la-mật nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi Bát-nhã ba-la-mật, nên phát khởi tâm an ổn. Bát-nhã ba-la-mật nghĩa là khéo giáo hóa chúng sinh hết ngu si.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi giới nắm giữ chánh pháp nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi giới nắm giữ chánh pháp, nên phát khởi tâm an ổn. Giới nắm giữ chánh pháp nghĩa là hộ trì các Bồ-tát.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi các công đức nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi các công đức, nên phát khởi tâm an ổn. Các công đức nghĩa là cúng dường các Đại Bồ-tát, ca ngợi tên của các Bồ-tát trong mười phương.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi trí công đức nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi trí công đức, nên phát khởi tâm an ổn. Trí công đức nghĩa là cho các Bồ-tát và ban cho y phục, thực phẩm, ngọa cụ, thuốc thang, ba trí tăng thượng.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi công đức vắng lặng nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi công đức vắng lặng, nên phát khởi tâm an ổn. Công đức vắng lặng nghĩa là thâm nhập các pháp bình đẳng, không sinh tâm cao thấp.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này thì có thể thanh tịnh ở địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi công đức chánh kiến nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi công đức chánh kiến, nên phát khởi tâm an ổn. Công đức chánh kiến nghĩa là thâm nhập tất cả pháp không có đầu, giữa và sau cùng.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi bố thí nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi bố thí, nên phát khởi tâm an ổn. Bố thí nghĩa là xả bỏ tất cả pháp.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi giữ giới nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi giữ giới, nên phát khởi tâm an ổn. Giữ giới nghĩa là không tạo ra tất cả điều ác.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi nhẫn nhục nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi nhẫn nhục, nên phát khởi tâm an ổn. Nhẫn nhục nghĩa là tin các pháp.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi tinh tấn nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tinh tấn, nên phát khởi tâm an ổn. Tinh tấn nghĩa là thâm nhập tất cả công đức không mỏi mệt.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được

năm pháp này thì có thể thanh tịnh ở địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi Thiền định nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi thiền định, nên phát khởi tâm an ổn. Thiền định nghĩa là không trú nơi một niệm nào.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi Bát-nhã nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi Bát-nhã, nên phát khởi tâm an ổn. Bát-nhã nghĩa là hiện tiền thấy các pháp.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi sự thâu giữ tất cả pháp của Như Lai nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi sự thâu giữ tất cả pháp của Như Lai, nên phát khởi tâm an ổn. Thâu giữ tất cả pháp của Như Lai nghĩa là trực tâm thâu giữ tâm Bồ-đề.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi chỗ như pháp mà thuyết nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi chỗ như pháp mà thuyết, nên phát khởi tâm an ổn. Như pháp mà thuyết là trí tuệ hành thưo ngôn ngữ của Như Lai.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi chánh niệm nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi chánh niệm, nên phát khởi tâm an ổn. Chánh niệm nghĩa là thâm nhập các pháp, không hề quên mất.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này thì có thể làm thanh tịnh ở địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể làm thanh tịnh Sơ địa Hoan hỷ và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi tâm ý nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tâm ý, nên phát khởi tâm an ổn. Tâm ý nghĩa là biết như thật ý trình tự của các pháp.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi tâm vững bền nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tâm vững bền, nên phát khởi tâm an ổn. Tâm vững bền nghĩa là thành tựu hạnh oai nghi.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi tâm trừ bỏ nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tâm trừ bỏ, nên phát khởi tâm an ổn. Tâm trừ bỏ nghĩa là thâm nhập nghĩa lý.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi giải thoát chân chánh nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi giải thoát chân chánh, nên phát khởi tâm an ổn. Giải thoát chân chánh nghĩa là chứng vi diệu.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi sự xa lìa tâm phiền não nên sinh tâm an ổn. Làm cho người khác trụ nơi tâm xa lìa phiền não, nên phát khởi tâm an ổn. Xa lìa tâm phiền não nghĩa là hối hận lỗi phiền não đã phát khởi và không tạo tác những phiền não mới, nên sinh thiện pháp.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này thì có thể làm thanh tịnh ở địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể làm thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi như hạnh nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi như hạnh chân chánh, nên phát khởi tâm an ổn. Như hạnh nghĩa là là trụ sự thành tựu hạnh Bồ-tát.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi làm những điều đáng làm nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi làm những điều đáng làm, nên phát khởi tâm an ổn. Làm những điều đáng làm là tin và chân không giải thoát cho nên tin các nghiệp.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi sự xa lìa mong cầu bằng tâm ác nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác lìa sự mong cầu bằng tâm ác, nên phát khởi tâm an ổẫc lìa sự mong cầu bằng tâm ác nghĩa là không tạo tác các việc ác để mong cầu những sự cung kính cúng dường.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi sự không ca ngợi chính mình chê bai người nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác không ca ngợi chính mình mà chê bai người, nên phát khởi tâm an ổn.

Không ca ngợi chính mình mà chê bai người nghĩa là tự thân không sinh tưởng công đức chân thật và không chê bai hay che giấu công đức chân thật của người khác.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi pháp chân thật nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi pháp chân thật, nên phát khởi tâm an ổn. Pháp chân thật nghĩa là ở nơi các pháp khởi tướng và không chấp trước tướng.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này thì có thể làm thanh tịnh ở địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể làm thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi đoạn trừ vô minh tập khí phiền não nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi đoạn trừ vô minh tập khí phiền não, nên phát khởi tâm an ổn. Đoạn trừ vô minh tập khí phiền não nghĩa là không nhàm chán căn bản phàm phu ngu si nên không nghĩ đến địa vị Thanh văn, Bích-chiphật.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi sự không chạy theo ái dục nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi không chạy theo ái dục, nên phát khởi tâm an ổn. Không chạy theo ái dục nghĩa là các pháp ác bất thiện chưa sinh làm cho không sinh, các thiện pháp đã sinh làm cho không mất đi.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi trí hiển hiện nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi trí hiển hiện, nên phát khởi tâm an ổn. Trí hiển hiện nghĩa là chứng Thánh đế.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi tâm chánh trực nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tâm chánh trực, nên phát khởi tâm an ổn. Tâm chánh trực nghĩa là không phân biệt Thánh đạo.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi không sinh thân tướng khác nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi không sinh thân tướng khác, nên phát khởi tâm an ổn. Không sinh thân tướng khác nghĩa là xa lìa sự tăng trưởng pháp ác.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này thì có thể làm thanh tịnh ở địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể làm thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi ý ngữ đầu tiên nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi ý ngữ đầu tiên, nên phát khởi tâm an ổn. Ý ngữ trước tiên nghĩa là trước hết đã phát ra ngôn ngữ thiện cho nên cùng với những lời an ủi, dẫn dụ không hề mỏi mệt với những tại nạn, bệnh tật.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi trí không chướng ngại nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi trí không chướng ngại, nên phát khởi tâm an ổn. Trí không chướng ngại nghĩa là tự nhiên biết tất cả luận nghị, kỹ thuật và nghiệp của xuất thế gian và nghiệp của thế gian nơi tất cả thế giới nơi mười phương.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi trí vô ngại nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi trí vô ngại, nên phát khởi tâm an ổn. Trí vô ngại trong các nghiệp nghĩa là đoạn trừ chấp thường và chấp đoạn.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi sở thuyết không ngôn ngữ mà nói ngôn ngữ nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi sở thuyết không ngôn ngữ mà nói ngôn ngữ, nên phát khởi tâm an ổn. Chỗ nói không ngôn ngữ mà nói ngôn ngữ nghĩa là xa lìa sự nhớ nghĩ của tâm ý và ý thức.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi trí pháp giới nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi trí pháp giới, nên phát khởi tâm an ổn. Trí pháp giới nghĩa là không lìa trí pháp giới bất nhị của tất cả các pháp.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này thì có thể làm thanh tịnh ở địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể làm thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi tâm xa lìa nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tâm xa lìa, nên phát khởi tâm an ổn. Tâm xa lìa nghĩa là không chấp trước tướng ở trong các pháp quán vô tưởng.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi trí không chướng ngại nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi trí không chướng ngại, nên phát khởi tâm an ổn. Trí không chướng ngại nghĩa là trí thanh tịnh đối với hữu biên hay vô biên.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi ý thuyết ngôn ngữ nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi ý thuyết ngôn ngữ, nên phát khởi tâm an ổn. Ý thuyết ngôn ngữ nghĩa là nương vào nguyện lực thù thắng để hồi hướng các thiện căn.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi pháp nhu hòa nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi pháp nhu hòa, nên phát khởi tâm an ổn. Pháp nhu hòa nghĩa là làm cho tất cả chúng sinh tin vào điều thiện.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi sự xa lìa các nghiệp nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi sự xa lìa các nghiệp, nên phát khởi tâm an ổn. Xa lìa các nghiệp là biết các kiến chấp.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này thì có thể làm thanh tịnh ở địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể làm thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trở về nương tựa Phật nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trở về nương tựa Phật, nên phát khởi tâm an ổn. Trở về nương tựa Phật nghĩa là không hủy phạm giới Như Lai.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trở về nương tựa Pháp nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trở về nương tựa Pháp, nên phát khởi tâm an ổn. Trở về nương tựa Pháp nghĩa là không hủy báng Pháp.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trở về nương tựa Tăng nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trở về nương tựa Tăng, nên phát khởi tâm an ổn. Trở về nương tựa Tăng nghĩa là quán sát giới.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi sự không kiêu mạn nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi sự không kiêu mạn, nên phát khởi tâm an ổn. Không kiêu mạn nghĩa là sinh tâm tôn trọng đối với tất cả chúng sinh.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi tâm không sân hận nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tâm không sân hận, nên phát khởi tâm an ổn. Tâm không sân hận nghĩa là từ bỏ tâm nóng như lửa.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này thì có thể làm thanh tịnh ở địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể làm thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi sự không dua nịnh nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi sự không dua nịnh, nên phát khởi tâm an ổn. Không dua nịnh nghĩa là xa lìa những sự cúng dường, ăn uống… vì làm ân cho người khác.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi xa lìa vọng ngữ nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi xa lìa vọng ngữ, nên phát khởi tâm an ổn. Xa lìa vọng ngữ nghĩa là giáo hóa chúng sinh không thủ không xả.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi sự không vì lợi dưỡng mà nói nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi sự không vì lợi dưỡng mà nói, nên phát khởi tâm an ổn. Không vì lợi dưỡng mà nói nghĩa là tiếp nối dòng Thánh nên thành tựu viên mãn các công đức của hạnh Đầu-đà.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi chánh mạng nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi chánh mạng, nên phát khởi tâm an ổn. Chánh mạng nghĩa là thâm nhập giáo pháp nên không có khổ nào mà không thọ và không có lạc nào mà không xả.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi chỗ độc hành không đồng bạn nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi chỗ độc hành không đồng bạn, nên phát khởi tâm an ổn. Trụ nơi chỗ độc hành không đồng bạn nghĩa là xa lìa sự nói năng.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này thì có thể làm thanh tịnh ở địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể làm thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi pháp lạc nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi pháp lạc, nên phát khởi tâm an ổn. Pháp lạc nghĩa là sợ khổ nơi ba cõi và không mất tâm Bồ-đề.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi sự xa lìa cửu chủng nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi sự xa lìa cửu chủng, nên phát khởi tâm an ổn. Xa lìa cửu chủng nghĩa là xa lìa chín loại trú xứ của chúng sinh.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi tâm vắng lặng nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tâm vắng lặng, nên phát khởi tâm an ổn. Tâm vắng lặng. Nghĩa là tâm không hối tiếc.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi công đức tu hạnh Xa-ma-tha nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi công đức tu hạnh Xa-ma-tha, nên phát khởi tâm an ổn. Công đức tu hạnh Xa-matha nghĩa là tâm nhu nhuyến.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi tâm không buông lung nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tâm không buông lung, nên phát khởi tâm an ổn. Tâm không buông lung nghĩa là không buông lung giới nên thực hành về giới, thấy lỗi lầm hủy phạm cấm giới của tất cả những kiến chấp.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này thì có thể làm thanh tịnh ở địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể làm thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi sự không dối gạt trời nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi sự không dối gạt trời, nên phát khởi tâm an ổn. Không dối gạt trời, người nghĩa là không xả bỏ tâm Bồ-đề.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi sự tu hành nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi sự tu hành, nên phát khởi tâm an ổn. Tu hành nghĩa là ban hạnh phúc an vui cho các chúng sinh nên lấy sự bình an tối thượng.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi việc không có hành vi xấu ác nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi việc không có hành vi xấu ác, nên phát khởi tâm an ổn. Không có hành vi xấu ác nghĩa là khéo điều phục tâm.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi làm đệ tử cho tất cả chúng sinh nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi việc làm đệ tử cho tất cả chúng sinh, nên phát khởi tâm an ổn. Làm đệ tử cho tất cả chúng sinh nghĩa là làm đệ tử phụng sự cho tất cả chúng sinh, cho nên họ có làm gì đều nên giúp họ.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi sự tùy thuận và phục tùng tất cả chúng sinh nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi sự tùy thuận và phục tùng tất cả chúng sinh, nên phát khởi tâm an ổn. Tùy thuận và phục tùng tất cả chúng sinh nghĩa là không có tâm kiêu mạn đối với phước điền.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này thì có thể làm thanh tịnh ở địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể làm thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất và được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi sự cầu pháp thành tựu nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi sự cầu pháp thành tựu, nên phát khởi tâm an ổn. Cầu pháp thành tựu nghĩa là giáo hóa tất cả chúng sinh không mỏi mệt và được ở cõi nước Phật thanh tịnh nên có tăng thượng. Thường cầu giới, nghe pháp nhưng không thủ bố thí, không xả tham ganh, không thủ giữ giới, không xả phá giới, không thủ nhẫn nhục, không xả sân, không thủ tinh tấn, không xả giải đãi, không thủ thiền định, không xả giác quán, không thủ Bát-nhã, không xả ngu si, không thủ thiện căn, không xả bất thiện căn.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi tâm tôn trọng nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tâm tôn trọng, nên phát khởi tâm an ổn. Tâm tôn trọng nghĩa là đối với pháp luôn như thật tu hành.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi tâm tôn trọng đối với Pháp sư nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tâm tôn trọng đối với Pháp sư, nên phát khởi tâm an ổn. Tâm tôn trọng đối với Pháp sư nghĩa là đối với Pháp sư luôn xem như Phật.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi tâm không ác khẩu nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tâm không ác khẩu, nên phát khởi tâm an ổn. Tâm không ác khẩu nghĩa là nói những lời giáo hóa điều phục chúng sinh.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã được trụ nơi tâm không sân nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tâm không sân, nên phát khởi tâm an ổn. Tâm không sân nghĩa là nhập vào các nghiệp.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này thì có thể làm thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất, được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi.

*********

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất, được vô lượng an ổn, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi sự bố thí nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi sự bố thí nên phát khởi tâm an ổn. bố thí nghĩa là thuyết đúng như pháp đã nghe.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi ái ngữ nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi ái ngữ nên phát khởi tâm an ổn. Ái ngữ nghĩa là tâm không vì sự ăn uống mà thuyết pháp.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi sự lợi ích nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi sự lợi ích nên phát khởi tâm an ổn. Lợi ích nghĩa là giáo hóa tất cả chúng sinh làm cho họ thọ trì, đọc tụng không mệt mỏi.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi đồng sự nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi đồng sự nên phát khởi tâm an ổn. Đồng sự nghĩa là bố thí làm cho các chúng sinh trụ nơi Đại thừa.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi Bồ-đề nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi sự bố thí nên phát khởi tâm Bồ-đề. Tâm Bồ-đề nghĩa là làm cho giáo pháp mãi mãi thường còn, không bị đoạn diệt, nên tâm muốn phát tâm tinh tấn và tâm thâu giữ, tâm tu hành chân chánh.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này thì có thể thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất, được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể làm thanh tịnh địa Hoan hỷ được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi nghĩa vô ngại nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi nghĩa vô ngại nên phát khởi tâm an ổn. Nghĩa vô ngại nghĩa là thâm nhập pháp như thật.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi pháp vô ngại nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi pháp vô ngại nên phát khởi tâm an ổn. Pháp vô ngại nghĩa là trí thâm nhập tất cả Phật.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi từ vô ngại nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi từ vô ngại nên phát khởi tâm an ổn. Từ vô ngại nghĩa là trí thâm nhập tất cả âm thanh, văn tự.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi lạc thuyết vô ngại nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi lạc thuyết vô ngại, nên phát khởi tâm an ổn. Lạc thuyết vô ngại nghĩa là trí thâm nhập tất cả pháp và phương tiện văn cú khác nhau.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi trí không chướng ngại nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi trí không chướng ngại nên phát khởi tâm an ổn. Trí không chướng ngại nghĩa là trí thuyết tất cả pháp Phật không ngừng nghỉ. Giữ một câu pháp tồn tại trong vô biên kiếp để giảng nói mà không khởi tâm.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này thì có thể thanh tịnh Sơ địa Hoan hỷ, được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể làm thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi sự giáo hóa tất cả chúng sinh nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi sự giáo hóa tất cả chúng sinh, nên phát khởi tâm an ổn. Giáo hóa tất cả chúng sinh nghĩa là có thể nhẫn thọ tất cả những phiền não nhiễm ô của chúng sinh. phiền não nhiễm ô nghĩa là cả thân và tâm đều bị bức rức khó chịu.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi đều không bị những sự mất mát nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi đều không bị những sự mất mát, nên phát khởi tâm an ổn. Không bị những sự mất mát nghĩa là không mất các thiện căn.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi tâm không tương ưng xúc nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tâm không tương xúc, nên phát khởi tâm an ổn. Tâm không tương ưng xúc nghĩa là không mất các thiện căn.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi tinh tấn nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tinh tấn, nên phát khởi tâm an ổn. Tinh tấn nghĩa là thành tựu viên mãn các thiện pháp nên xa lìa tất cả pháp bất thiện.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi tâm Từ quán sát các chúng sinh nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tâm Từ quán sát các chúng sinh, nên phát khởi tâm an ổn. Tâm từ quán sát các chúng sinh nghĩa là tâm bình đẳng với tất cả các chúng sinh.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này thì có thể thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất, được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể làm thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi tâm không tổn hại nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tâm không tổn hại, nên phát khởi tâm an ổn. Tâm không tổn hại nghĩa là che chở tất cả các chúng sinh.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi tâm xa lìa nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tâm xa lìa, nên phát khởi tâm an ổn. Tâm xa lìa nghĩa là vào tất cả các pháp trong ba đời đều bình đẳng.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi pháp nhớ nghĩ tâm Từ nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi pháp nhớ nghĩ tâm Từ, nên phát khởi tâm an ổn. Pháp nhớ nghĩ tâm Từ nghĩa là không thấy tất cả pháp nên không chấp trước sự không thấy pháp.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi công đức ban đầu nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi công đức trụ ban đầu, nên phát khởi tâm an ổn. Công đức trụ ban đầu nghĩa là không xả bỏ tâm Bồ-đề nên tùy thuận tất cả hạnh Bồ-tát. Tùy thuận tất cả hạnh Bồ-tát nghĩa là tâm đại Từ bình đẳng bao trùm tất cả chúng sinh, là hóa giải tất cả tâm đố kỵ của họ, xa lìa tất cả những sự phá giới, xa lìa tất cả tâm sân hận, xa lìa tất cả tâm ngu si. Có bốn Nhiếp pháp là che chở và giáo hóa các chúng sinh; đối với các chúng sinh đều bằng tâm bình đẳng như mặt đất bao la không nhớ đến tâm Tiểu thừa thấp kém; tùy thuận các hạnh lành của tất cả chúng sinh đã làm; đầy đủ trọn vẹn tâm đại Bi, Bố thí, Giữ giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định và Bátnhã. Lãnh hội các pháp vi diệu thù thắng của chư Phật học các thiện nghiệp căn bản của Bát-nhã nên luôn luôn hành hai hạnh trang nghiêm là công đức và trí tuệ.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi tướng hy hữu nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tướng hy hữu, nên phát khởi tâm an ổn. Tướng hy hữu nghĩa là tất cả pháp không có hai tướng, nên đối với tất cả hạnh sinh tướng tự hành.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này thì có thể làm thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất, được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể làm thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi nhẫn nhục nhu hòa nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi nhẫn nhục nhu hòa, nên phát khởi tâm an ổn. Nhẫn nhục nhu hòa nghĩa là khi bị người khác dùng lời ác khẩu mắng nhiếc và những chê bai bất thiện mà vẫn không sinh tâm sân hận.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi nhan sắc tươi vui nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi nhan sắc tươi vui, nên phát khởi tâm an ổn. Nhan sắc tươi vui nghĩa là không nói lỗi của người khác.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi tất cả pháp vô sự nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tất cả pháp vô sự, nên phát khởi tâm an ổn. Tất cả pháp vô sự nghĩa là tất cả chỉ là danh từ. Vì sao. Vì thể của vô sự chẳng khác thể sự và thể sự chẳng thể vô sự; tức thể sự là vô sự. Trí vô sự nương vào thể sự kia vì tất cả pháp vô sự.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi pháp trụ trì nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi pháp trụ trì, nên phát khởi tâm an ổn. Pháp trụ trì nghĩa là tất cả pháp bất động.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi pháp nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi pháp, nên phát khởi tâm an ổn. Trụ nơi pháp nghĩa là sự sai biệt không y trú.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này thì có thể làm thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất, được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể làm thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất, được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nhập nơi phi trí tuệ đoạn phiền não và phi bất đoạn phiền não nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nhập nơi phi trí tuệ đoạn phiền não và phi bất đoạn phiền não, nên phát khởi tâm an ổn. Nhập nơi phi trí tuệ đoạn phiền não và phi bất đoạn phiền não nghĩa là thể của trí tuệ tức thể của phiền não. Vì sao? Vì thể trí tuệ phiền não và thể phiền não chẳng khác thể trí tuệ; tức thể trí tuệ là phiền não, tức thể phiền não là thể trí tuệ. Do nghĩa này, chẳng trái trí tuệ có thể đoạn được phiền não. Ví như đầu ngón tay không thể tự xúc chạm nó được, cũng như vậy, chẳng phải trí tuệ có thể đoạn được phiền não.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ sự chẳng thường, chẳng bất thường của Như Lai nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi sự chẳng thường, chẳng bất thường của Như Lai, nên phát khởi tâm an ổn. Nhập sự chẳng thường, chẳng bất thường của Như Lai nghĩa là không chấp lấy tướng và thể.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nhập trí bất tư nghì của Như Lai nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nhập trí bất tư nghì của Như Lai, nên phát khởi tâm an ổn. Nhập trí bất tư nghì của Như Lai nghĩa là tùy tâm chúng sinh có thể hóa độ thì thuyết pháp khế hợp với họ chứ không thể nói quá xa.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ vào vô sắc nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ vào vô sắc, nên phát khởi tâm an ổn. Vì sao? Vì thể vô sắc tướng chẳng khác thể sắc tướng và thể sắc tướng chẳng khác thể vô sắc tướng; tức thể sắc tướng là vô sắc tướng. Thể sắc tướng nương vào trí vô sắc tướng kia, vì tất cả pháp vô sắc tướng.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi phương tiện nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi phương tiện, nên phát khởi tâm an ổn. Phương tiện nghĩa là tiếp nhận tất cả pháp.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này thì có thể làm thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất, được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể làm thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất, được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi công đức không cùng tận nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi công đức không cùng tận, nên phát khởi tâm an ổn. Công đức không cùng tận nghĩa là đem các thiện căn hướng về giác ngộ.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi trí công đức nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi trí công đức, nên phát khởi tâm an ổn. Trí công đức nghĩa là tin tất cả pháp là Không.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi Bát-nhã căn bản thiện nghiệp nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi Bát-nhã căn bản thiện nghiệp, nên phát khởi tâm an ổn. Pháp Bát-nhã căn bản thiện nghiệp nghĩa là tự thân trụ nơi bạch pháp. Pháp Bát-nhã căn bản thiện nghiệp nghĩa là làm cho người khác trụ nơi bạch pháp Bát-nhã.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi Tam-muội nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi Tam-muội, nên phát khởi tâm an ổn. Tam-muội nghĩa là Thiền định vắng lặng Tam-muội.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi tâm viên mãn nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tâm viên mãn, nên phát khởi tâm an ổn. Tâm viên mãn nghĩa là nhập vào tất cả các việc làm.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này thì có thể làm thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất, được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể làm thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất, được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi tâm viên mãn nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tâm viên mãn, nên phát khởi tâm an ổn. Tâm viên mãn nghĩa là nhập vào tất cả các việc làm.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi tâm viên mãn nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tâm viên mãn, nên phát khởi tâm an ổn. Tâm viên mãn nghĩa là nhập vào tất cả các việc làm.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi tâm viên mãn nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tâm viên mãn, nên phát khởi tâm an ổn. Tâm viên mãn nghĩa là nhập vào tất cả các việc làm.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi tâm viên mãn nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tâm viên mãn, nên phát khởi tâm an ổn. Tâm viên mãn nghĩa là nhập vào tất cả các việc làm.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi tâm viên mãn nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tâm viên mãn, nên phát khởi tâm an ổn. Tâm viên mãn nghĩa là nhập vào tất cả các việc làm.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này thì có thể làm thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất, được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể làm thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất, được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi trí trung đạo nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi trí trung đạo, nên phát khởi tâm an ổn. Trí trung đạo nghĩa là trí cứu cánh thanh tịnh. Vì sao? Vì thể trung đạo chẳng khác thể một bên và thể một bên chẳng khác thể trung đạo, tức thể một bên là thể trung đạo.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi tất cả pháp vô thường nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tất cả pháp vô thường, nên phát khởi tâm an ổn. Tất cả pháp vô thường nghĩa là các pháp có ở giữa, có ranh giới, cho nên các pháp có ở giữa, có ranh giới. Vì sao? Vì thể hữu vi không khác thể có ở giữa có ranh giới và thể có giữa có ranh giới không khác thể hữu vi, thể hữu vi không khác thể có giữa có ranh giới.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi tất cả pháp thường nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tất cả pháp thường, nên phát khởi tâm an ổn. Tất cả pháp thường nghĩa là các pháp không ở giữa không bờ mé, cho nên các pháp không ở giữa không bờ mé. Vì sao? Vì thể vô vi không khác thể không ở giữa không bờ mé, thể không ở giữa không bờ mé thể vô vi; thể vô vi chẳng khác thể không ở giữa không bờ mé. Không ở giữa không bờ mé nghĩa là luôn luôn tịnh, không thay đổi.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi sự thù thắng cúng dường Phật nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi sự thù thắng cúng dường Phật, nên phát khởi tâm an ổn. Thù thắng cúng dường Phật nghĩa là cúng dường Phật hiện tại, tin giáo pháp Đại thừa. Các Bồ-tát khéo cung kính cúng dường, thỉnh hỏi, luận bàn, nghe pháp và đem các thực phẩm, ngọa cụ… dâng cúng, cấp cho tùy theo khả năng, sức lực mà làm cho họ trụ nơi Đại thừa.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi tất cả pháp vô vi nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tất cả pháp vô vi, nên phát khởi tâm an ổn. Tất cả pháp vô vi nghĩa là khái niệm hữu vi vậy. Vì sao? Vì thể vô vi chẳng khác thể hữu vi, thể hữu vi chẳng khác thể vô vi; tức thể hữu vi là vô vi, thể hữu vi nương vào trí vô vi vì tất cả pháp vô vi.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này thì có thể làm thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất, được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể làm thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất, được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi. Đó là:

1.Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi tất cả pháp khó thấy nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tất cả pháp khó thấy, nên phát khởi tâm an ổn. Tất cả pháp khó thấy nghĩa là thể nhân duyên của tất cả pháp.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi tất cả pháp khó biết nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tất cả pháp khó biết, nên phát khởi tâm an ổn. Tất cả pháp khó biết nghĩa là quán tâm niệm vốn không thật thể.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi tất cả pháp khó hiểu nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tất cả pháp khó hiểu, nên phát khởi tâm an ổn. Tất cả pháp khó hiểu nghĩa là biết rõ sự biết rõ bình đẳng về tất cả pháp.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi không vẩn đục tất cả pháp nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi không vẩn đục tất cả pháp, nên phát khởi tâm an ổn. Không vẩn đục tất cả pháp nghĩa là thường thanh tịnh vậy.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi tất cả pháp không cùng tận nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tất cả pháp không cùng tận, nên phát khởi tâm an ổn. Tất cả pháp không cùng tận nghĩa là không có bản thể mà ví dụ.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này thì có thể làm thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất, được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể làm thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất, được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi tất cả pháp không hoại diệt nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tất cả pháp không hoại diệt, nên phát khởi tâm an ổn. Tất cả pháp không hoại diệt nghĩa là nhập các pháp bình đẳng khắp ba đời. Vì tất cả pháp không xa lìa pháp nên pháp không sai biệt.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi bốn Thánh đế không sai biệt nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi bốn Thánh đế không sai biệt, nên phát khởi tâm an ổn. Bốn thánh đế không sai biệt nghĩa là bốn Thánh đế không sai biệt. Nói cách khác bốn Thánh đế không sai biệt là thường thanh tịnh vậy.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi vô minh duyên hành không sai biệt nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi vô minh duyên hành không sai biệt, nên phát khởi tâm an ổn. Vô minh duyên hành không sai biệt nghĩa là vô minh tức là duyên hành. Vì sao? Vì nhân vô minh chẳng khác có sự duyên hành. Nếu nhân vô minh mà khác sự duyên hành thì phải không có nhân mà có các hành. Do nghĩa này nên nhân vô minh chẳng khác sự hiện hữu các hành quả. Như vậy, nghĩa nhân quả thành vì do bản lai thanh tịnh.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi tất cả pháp thường nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tất cả pháp thường, nên phát khởi tâm an ổn. Tất cả pháp thường nghĩa là thể vô thường tức là thể thường. Vì sao? Vì thể thường chẳng khác thể vô thường, thể vô thường chẳng khác thể thường, tức thể vô thường là thể thường.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi sự không sinh không diệt của Như Lai nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi sự không sinh không diệt của Như Lai, nên phát khởi tâm an ổn. Như Lai không sinh không diệt nghĩa là dùng pháp không đối trị. Ví như hư không không sinh không diệt, vì hư không không có ranh giới cũng không ở khoảng giữa. Nhưng dựa vào nhân quán sát mà thấy có thượng trung hạ, hư không của lỗ kim, hư không của lỗ bình, là lỗ hư không vô lượng. Nhưng hư không không có thượng trung hạ, vì nó không sinh không diệt, không phân biệt mà hư không tự nhiên không phân biệt. Tất cả những sự việc hiện thấy hiện tiền như vậy là vì bất cộng tương ưng pháp.

Văn-thù-sư-lợi! Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri không sinh, không diệt, không chính giữa, không bở mé như vậy nhưng vì tất cả chúng sinh mà thấy có thượng trung hạ, dựa vào tâm không chính giữa, không bờ mé mà thấy sác sự kiện như vậy: Đây là Thanh văn thừa, đây là Bích-chi thừa, đây là Phật thừa. Tất cả chúng sinh có thể thọ, có thể dụng, nhưng Như Lai không phân biệt, lìa phân biệt và tự nhiên không phân biệt. Những sự tạo tác như vậy do pháp Bất cộng tương ưng.

Văn-thù-sư-lợi! Ví như ánh sáng mặt trời nương vào trú xứ mà trông thấy có nhiều hình ảnh khác nhau, nhưng ánh sáng mặt trời không phân biệt và xa lìa sự phân biệt là do pháp Bất cộng tương ưng.

Văn-thù-sư-lợi! Thế nên Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri nương vào tâm chúng sinh quán thấy vô số trí sai biệt, nhưng Như Lai không phân biệt và xa lìa sự phân biệt mà tự nhiên không phân biệt. Hiện thấy tất cả những sự kiện như vậy vì do pháp Bất cộng tương ưng và không có sác thừa cho đến Đại thừa.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được

năm pháp này thì có thể làm thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất, được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể làm thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất, được vô lượng sự công đức, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi sự xa lìa các phiền não vì tất cả chúng sinh nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi sự xa lìa các phiền não vì tất cả chúng sinh, nên phát khởi tâm an ổn. Tất cả pháp không hoại diệt nghĩa là nhập các pháp bình đẳng khắp ba đời. Xa lìa các phiền não vì tất cả chúng sinh nghĩa là pháp môn sáng suốt khắp thân tâm.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi Bát-nhã môn nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi Bát-nhã môn, nên phát khởi tâm an ổn. Bát-nhã môn nghĩa là tên của bốn pháp, đó là tín, bất phóng dật, trực tâm và tăng thượng tâm. Các Bồ-tát được thành tựu pháp minh môn Bát-nhã và nương vào pháp minh môn Bát-nhã nên các Đại Bồ-tát xa lìa những con đường ác.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi trí minh môn Bát-nhã nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơảtí minh môn Bát-nhã, nên phát khởi tâm an ổn. Trí minh môn Bát-nhã là tên của bốn pháp đó là: Công đức, tín không, giải thoát, làm cho chúng sinh trụ nơi tâm Bồ-đề. Các Bồ-tát được thành tựu trí minh môn Bát-nhã, nương vào trí minh môn đó, các Đại Bồ-tát đoạn trừ các nghiệp ma.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi bố thí không cùng tận mà tu hành Bát-nhã nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tâm bố thí không cùng tận mà tu hành Bát-nhã, nên phát khởi tâm an ổn. Tâm bố thí không cùng tận mà tu hành Bát-nhã nghĩa là có thể giáo hóa chúng sinh thành tựu không còn tâm lý bỏn sẻn, tật đố.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi tâm giới không cùng tận tu hành Bát-nhã nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tâm giới không cùng tận tu hành Bát-nhã, nên phát khởi tâm an ổn. Tâm giới không cùng tận tu hành Bát-nhã nghĩa là có thể giáo hóa các chúng sinh phá giới, làm cho họ được thanh tịnh.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này thì có thể làm thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất, được vô lượng công đức.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể làm thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất, được vô lượng sự công đức, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi vắng lặng nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi vắng lặng, nên phát khởi tâm an ổn. Vắng lặng nghĩa là xa lìa thân tâm, phát khởi tất cả thiện căn, không khiếp nhược.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi pháp hữu vi nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi pháp hữu vi, nên phát khởi tâm an ổn. Pháp hữu vi nghĩa là tất cả pháp chẳng phải không, chẳng phải bất không; chẳng phải điên đảo, chẳng phải không điên đảo, chẳng phải tăng thượng, chẳng phải không tăng thượng; chẳng phải sự, chẳng phải bất sự; chẳng phải hữu vi, chẳng phải vô vi; chẳng phải tướng, chẳng phải bất tương; chẳng pháp nương tựa, chẳng phải không nương tựa; chẳng phải nhị, chẳng phải bất nhị; chẳng phải diệt, chẳng phải bất diệt; chẳng phải thủ, chẳng phải bất thủ. Vào được như vậy mới gọi là thể của pháp hữu vi.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi pháp vô vi nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi pháp vô vi, nên phát khởi tâm an ổn. Pháp vô vi nghĩa là các pháp này không sai biệt, không sinh, không khởi tâm, không điên đảo, không phân biệt và xa lìa sự phân biệt. Đó gọi là thể của Pháp vô vi.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi chánh kiến nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi chánh kiến, nên phát khởi tâm an ổn. Chánh kiến nghĩa là nhập tướng nhị và bất nhị. Vì sao? Vì thể bất nhị chẳng khác thể nhị và thể nhị chẳng khác thể bất nhị, tức thể nhị là bất nhị. Nếu có thể nhập tướng nhị và bất nhị này thì gọi là chánh kiến.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi tâm không sân hận nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tâm không sân hận, nên phát khởi tâm an ổn. Tâm không sân hận nghĩa là tâm an ổn đi vào nghiệp của tất cả chúng sinh.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này thì có thể làm thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất, được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể làm thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất, được vô lượng sự công đức, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ vào đạo Ba-la-mật nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ vào đạo Ba-la-mật, nên phát khởi tâm an ổn. Nhập đạo Ba-la-mật nghĩa là phương tiện nắm lấy Bát-nhã.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi chỗ sinh ra trong nhà chư Phật nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi chỗ sinh ra trong nhà chư Phật, nên phát khởi tâm an ổn. Sinh ra trong nhà chư Phật nghĩa là trang nghiêm công đức và trang nghiêm trí tuệ.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi sự phát tâm Bồ-đề nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi sự phát tâm Bồ-đề, nên phát khởi tâm an ổn. Phát tâm Bồ-đề nghĩa là an trú nơi tâm Đại Từ, đại Bi. Vì sao? Vì được vào nơi tất cả pháp.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi Bát-nhã nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi Bát-nhã, nên phát khởi tâm an ổn. Bát-nhã nghĩa là pháp hữu vi và vô vi không sai biệt.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi phương tiện nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi phương tiện, nên phát khởi tâm an ổn. Phương tiện nghĩa là giáo hóa tất cả chúng sinh.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này thì có thể làm thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất, được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể làm thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất, được vô lượng sự công đức, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi hạnh có chướng ngại nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi hạnh có chướng ngại, nên phát khởi tâm an ổn. Hạnh có chướng ngại nghĩa là năm Ba-lamật.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi hạnh không chướng ngại nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi hạnh không chướng ngại, nên phát khởi tâm an ổn. Hạnh không chương ngại nghĩa là Bát-nhã ba-la-mật.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi hạnh hữu lậu nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi hạnh hữu lậu, nên phát khởi tâm an ổn. Hạnh hữu lậu nghĩa là thấy các pháp hành.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi hạnh vô lậu nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi hạnh vô lậu, nên phát khởi tâm an ổn. Hạnh vô lậu nghĩa là không thấy các pháp hành.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi hạnh hữu lượng nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi hạnh hữu lượng, nên phát khởi tâm an ổn. Hạnh hữu lượng nghĩa là trú nơi các tướng tâm.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này thì có thể làm thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất, được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể làm thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất, được vô lượng sự công đức, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi hạnh vô lượng nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi hạnh vô lượng, nên phát khởi tâm an ổn. Hạnh vô lượng nghĩa là không có các hành tướng của tâm.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi trí hữu lượng nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi trí hữu lượng, nên phát khởi tâm an ổn. Trí hữu lượng nghĩa là quán sát ấm, giới, nhập, nhân duyên tích tập là xứ, là phi xứ và quán sát trí tướng phương tiện.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi Vô lượng tác trí nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi vô lượng tác trí, nên phát khởi tâm an ổn. Vô lượng tác trí nghĩa là chỗ của tâm hành vô tác.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi hưũ biên nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi hữu biên, nên phát khởi tâm an ổn. Hữu biên nghĩa là năm Ba-la-mật.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi vô biên nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi vô biên, nên phát khởi tâm an ổn.

Vô biên nghĩa là Bát-nhã ba-la-mật.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này thì có thể làm thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất, được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể làm thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất, được vô lượng an ổn, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi chỗ tự thân có thể vắng lặng nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tự thân có thể vắng lặng, nên phát khởi tâm an ổn. Tự thân có vắng nghĩa là quán sát pháp vô ngã.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi thân tân vắng lặng nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi thân tâm vắng lặng, nên phát khởi tâm an ổn. Thân tâm vắng lặng nghĩa là giáo hóa tất cả chúng sinh mà không mỏi mệt.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi trực tâm thanh tịnh nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi trực tâm thanh tịnh, nên phát khởi tâm an ổn. Trực tâm thanh tịnh nghĩa là quán sát tất cả chúng sinh.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi sự quán sát tất cả chúng sinh nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi sự quán sát tất cả chúng sinh, nên phát khởi tâm an ổn. Quán sát tất cả chúng sinh nghĩa là quán sát tất cả chúng sinh.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi công đức bình đẳng đối với tất cả chúng sinh nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi công đức bình đẳng đối với tất cả chúng sinh, nên phát khởi tâm an ổn. Công đức bình đẳng đối với tất cả chúng sinh nghĩa là năm công đức Ba-la-mật.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này thì có thể làm thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất, được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể làm thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất, được vô lượng an ổn, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi sự hàng phục tâm bỏn sẻn, ganh ghét nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi sự hàng phục tâm bỏn sẻn, nên phát khởi tâm an ổn. Hàng phục tâm bỏn sẻn, ghanh ghét nghĩa là buông xả tất cả vật bên trong lẫn ngoài.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi sự không nói quanh co nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi sự không nói quanh co, nên phát khởi tâm an ổn. Không nói quanh co nghĩa là có tâm bình đẳng đối với tất cả chúng sinh.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi sự cúng dường Phật nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi sự cúng dường Phật, nên phát khởi tâm an ổn. Cúng dường Phật nghĩa là chỗ nương tựa, cúng dường, nắm giữ, có khả năng sinh ra pháp xuất thế của chư Phật, Bồ-tát.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi trí hạnh cúng dường Như Lai nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi trí hạnh cúng dường Như Lai, nên phát khởi tâm an ổn. Trí hạnh cúng dường Như Lai nghĩa là làm cho tất cả chúng sinh an trú nơi pháp không lui sụt.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi tâm khẩu hạnh nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tâm khẩu hạnh, nên phát khởi tâm an ổn. Tâm khẩu hạnh nghĩa là làm cho chúng sinh từ bỏ lỗi về tâm và khẩu để được thanh tịnh.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này thì có thể làm thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất, được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể làm thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất, được vô lượng an ổn, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi việc Phật không thấy việc ma nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi việc Phật không thấy việc ma, nên phát khởi tâm an ổn. Trụ nơi việc Phật không thấy việc ma nghĩa là không thấy nghiệp ma để giáo hóa chúng sinh.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi đức tin chư Phật Như Lai nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi đức tin chư Phật Như Lai, nên phát khởi tâm an ổn. Tin chư Phật Như Lai là thường nghĩa là chư Phật thường dùng không sai biệt.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi niềm tin chư Phật Như Lai là lạc nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi niềm tin chư Phật Như Lai là lạc, nên phát khởi tâm an ổn. Tin chư Phật Như Lai là lạc nghĩa là tin chư Phật Như Lai luôn luôn hành dụng những hạnh Phật không ngưng nghỉ.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi niềm tin chư Phật Như Lai là tịnh nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi niềm tin chư Phật Như Lai là tịnh, nên phát khởi tâm an ổn. Tin chư Phật Như Lai là tịnh mghĩa là không có sự không thấy, nghe, suy nghĩ.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi tin chư Phật Như Lai là ngã nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tin chư Phật Như Lai là ngã, nên phát khởi tâm an ổn. Tin chư Phật Như Lai là ngã nghĩa là tin thân Như Lai vô biên. Vô biên thân nghĩa là nói về Như Lai có thân vô biên.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này thì có thể làm thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất, được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể làm thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất, được vô lượng an ổn, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi an ổn sự nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi an ổn sư, nên phát khởi tâm an ổn. An ổn sự nghĩa là làm cho tất cả chúng sinh được bảo vệ thân tâm chính mình khỏi sự bức bách. Không có một pháp nhỏ nào có thể sinh ra khổ mà không thọ và không có một pháp nhỏ nào có thể sinh ra lạc mà không xả.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi tất cả pháp vô tướng nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tất cả pháp vô tướng, nên phát khởi tâm an ổn. Tất cả pháp vô tướng nghĩa là thể vô tướng. Vì sao? Vì không chấp thể vô tướng vậy.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi sự quay về nương tựa Phật nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi sự quay về nương tựa Phật, nên phát khởi tâm an ổn. Quay về nương tựa Phật nghĩa là không làm tất cả hành động ác.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi sự quay về nương tựa Pháp nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi sự quay về nương tựa Pháp, nên phát khởi tâm an ổn. Quay về nương tựa Pháp nghĩa là tích tập nhân duyên để nương tựa phá.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi quay về nương tựa Tăng nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi quay về nương tựa Tăng, nên phát khởi tâm an ổn. Quay về nương tựa Tăng nghĩa là xa lìa tâm yêu ghét.

Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi tâm Bồ-đề nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tâm Bồ-đề, nên phát khởi tâm an ổn. Tâm Bồ-đề nghĩa là phát khởi trí chẳng thể nghĩ bàn.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này thì có thể làm thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất, được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể làm thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất, được vô lượng an ổn, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi thân vô biên sai biệt nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi thân vô biên sai biệt, nên phát khởi tâm an ổn. Thân vô biên sai biệt nghĩa là vượt qua tất cả các pháp tướng.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi tín không sai biệt nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi tín không sai biệt, nên phát khởi tâm an ổn. Tín không sai biệt nghĩa là tin các nghiệp và quả báo.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi trí Tam-ma-bạt-đề nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi trí Tam-ma-bạt-đề, nên phát khởi tâm an ổn. Trí Tam-ma-bạt-đề nghĩa là trí quán sát nhập bản thể.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi pháp không sai biệt nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi pháp không sai biệt, nên phát khởi tâm an ổn. Pháp không sai biệt nghĩa là pháp tu hành.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi Thiện tri thức không sai biệt nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi Thiện tri thức không sai biệt, nên phát khởi tâm an ổn. Thiện tri thức không sai biệt nghĩa là không khi dối các Thiện tri thức.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này thì có thể làm thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất, được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể làm thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất, được vô lượng an ổn, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi pháp tùy thuận nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi pháp tùy thuận, nên phát khởi tâm an ổn. Pháp tùy thuận nghĩa là đói với các pháp như thật mà tu hành.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi hạnh hổ thẹn nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi hạnh hổ thẹn, nên phát khởi tâm an ổn. Hạnh hổ thẹn nghĩa là tu hạnh lành về nghiệp thân, miệng, ý.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi sự xa lìa tâm ái nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác xa lìa tâm ái, nên phát khởi tâm an ổn. Xa lìa tâm ái nghĩa là pháp lành chưa sinh có thể làm cho sinh.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi sự xa lìa tâm sân nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác xa lìa tâm sân, nên phát khởi tâm an ổn. Xa lìa tâm sân nghĩa là không đánh mất pháp lành đã sinh.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi thiện căn phòng hộ tự thân và người khác nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi thiện căn phòng hộ tự thân và người khác, nên phát khởi tâm an ổn. Thiện căn phòng hộ tự thân nghĩa là phòng hộ hành động đưa đến nghiệp; Thiện căn phòng hộ người khác nghĩa là hộ trì làm cho họ an trú nơi Đại Từ, đại Bi.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này thì có thể làm thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất, được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi.

Này Văn-thù-sư-lợi! Các Đại Bồ-tát có năm pháp có thể làm thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất, được vô lượng an ổn, không sợ hãi. Đó là:

1. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi trí giải thoát không chướng ngại nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi trí giải thoát không chướng ngại, nên phát khởi tâm an ổn. Trí giải thoát không chướng ngại nghĩa là thanh tịnh không hai.

2. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi niềm tin về các pháp do nhân duyên sinh nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi niềm tin về các pháp do nhân duyên sinh, nên phát khởi tâm an ổn. Tin về các pháp do nhân duyên sinh nghĩa là thấy thể của các pháp nhân duyên không sinh.

3. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi các pháp không có trú xứ nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi các pháp không có trú xứ, nên phát khởi tâm an ổn. Các pháp không có trú xứ nghĩa là tất cả pháp không có chỗ sai biệt trong mười phương cõi.

4. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi chư Phật Như Lai như hư không nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi chư Phật Như Lai như hư không, nên phát khởi tâm an ổn. Chư Phật Như Lai như hư không nghĩa là Phật không sai biệt và không chỗ trú.

5. Bồ-tát phát tâm thế này: Ta đã trụ nơi chư Phật Như Lai xa lìa tâm ý và ý thức nên sinh tâm an ổn, làm cho người khác trụ nơi chư Phật Như Lai xa lìa tâm ý và ý thức, nên phát khởi tâm an ổn. Chư Phật Như Lai xa lìa tâm ý và ý thức nghĩa là chư Phật đạt đến trí tự nhiên, do đó được trí không chướng ngại.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là năm pháp. Các Đại Bồ-tát nào được năm pháp này thì có thể làm thanh tịnh địa Hoan hỷ thứ nhất, được vô lượng sự an ổn, không sợ hãi.

*********

 

Bấy giờ, Văn-thù-sư-lợi Pháp vương tử biết Đức Như Lai thuyết pháp xong, nên hỏi Đại Bồ-tát Phổ Hiền:

–Phật tử! Thế nào là trí không chướng ngại của chư Phật Như Lai?

Thế nào là sức giáo hóa chúng sinh của chư Phật Như Lai?

Thế nào là trí tự nhiên hiện hữu khắp nơi của chư Phật Như Lai?

Thế nào là trí chẳng thể nghĩ bàn thanh tịnh cõi nước của chư Phật Như Lai?

Thế nào là thân vô biên khắp mọi nơi của chư Phật Như Lai?

Thế nào là cảnh giới bất kảh tư nghì của chư Phật Như Lai?

Thế nào là trí không sai biệt của, không nương tựa của chư Phật Như Lai?

Thế nào là thân không chướng ngại của chư Phật Như Lai?

Đại Bồ-tát Phổ Hiền nói với Văn-thù-sư-lợi Pháp vương tử:

–Văn-thù-sư-lợi! Pháp môn này khó thấy kho biết, chẳng phải cảnh giới giác, và khó có thể tin được.

Văn-thù-sư-lợi! Người nào tin được pháp môn này, phải biết người đó đã từng cúng dường vô lượng, vô biên trăm ngàn vạn ức nado-tha Đức Phật.

Văn-thù-sư-lợi! Tôi vì tất cả chúng sinh mù tối nên nói pháp môn này để làm ngọn đèn soi sáng.

Văn-thù-sư-lợi Pháp vương Tử thưa:

–Đúng thế! Đúng thế! Phật tử! Các chúng sinh đó đã từng tu tập vô lượng, vô biên công đức trí tuệ, cho nên tôi vì những chúng sinh đó mà hỏi. Các chúng sinh đó có vô lượng a-tăng-kỳ nghiệp, phải vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, nên tôi vì họ mà hiện thân, làm cho nghiệp chướng của họ được tiêu trừ, cho nên tôi vì những chúng sinh đó mà

hỏi. Vì những chúng sinh không có sự không thấy nghe mà cúng dướng, nên tôi vì những chúng sinh ấy mà hỏi.

Phật tử! Người nào không tin pháp môn này thì không bao giờ có thể đạt đến Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Phật tử! Vì số đông chúng sinh mong được an ổn, vì ba phát vô lượng niềm vui cho chúng sinh; vì tất cả tâm thương xót các thế gian nên làm cho nhiều người được lợi ích; vì sự an ổn khoái lạc của số đông trời nên nói pháp môn này.

Bấy giờ, Đại Bồ-tát Phổ Hiền trả lời Văn-thù-sư-lợi Pháp vương Tử:

–Văn-thù-sư-lợi! Thế nào là trí không chướng ngại của chư Phật Như Lai?

Văn-thù-sư-lợi! Nghĩa là ở mỗi mỗi tứ thiên hạ, một một thế giới trong tất cả thế giới khắp mười phương thế giới, chư Phật Như Lai đều có thể hóa độ cả trời người và chư Bồ-tát. Nếu với người mà cần hiện thân sắc vàng ròng thì chư Phật Như Lai liền vì họ mà thị hiện, làm cho những chúng sinh đó được thấy thân sắc vàng ròng của Như Lai mà không có chướng ngại.

Văn-thù-sư-lợi! Nếu có thể hóa độ chúng sinh mà cần hiện thân màu Hỏa quang minh diệm như ý bảo vương thì chư Phật Như Lai liền vì họ thị hiện, làm cho chúng sinh đó được thấy thân màu Hỏa quang minh diệm như ý bảo vương của Như Lai mà không có chướng ngại.

Văn-thù-sư-lợi! Nếu có thể hóa độ chúng sinh mà cần hiện thân màu Điện quang minh diệm như ý bảo vương thì chư Phật Như Lai liền vì họ thị hiện, làm cho chúng sinh đó được thấy thân màu Điện quang minh diệm như ý bảo vương của Như Lai mà không có chướng ngại.

Văn-thù-sư-lợi! Nếu có thể hóa độ chúng sinh mà cần hiện thân màu Nhật nguyệt đăng minh như ý bảo vương thì chư Phật Như Lai liền vì họ thị hiện, làm cho chúng sinh đó được thấy thân màu Nhật Nguyệt đăng minh của Như Lai mà không có chướng ngại.

Văn-thù-sư-lợi! Nếu có thể hóa độ chúng sinh mà cần hiện thân màu Thập nhất thiết quang minh như ý bảo vương thì chư Phật Như Lai liền vì họ thị hiện, làm cho chúng sinh đó được thấy thân màu Tập nhất thiết quang minh như ý bảo vương của Như Lai mà không có chướng ngại.

Văn-thù-sư-lợi! Nếu có thể hóa độ chúng sinh mà cần hiện thân màu Tự tại vương như ý bảo vương thì chư Phật Như Lai liền vì họ thị hiện, làm cho chúng sinh đó được thấy thân màu Tự tại vương như ý bảo vương của Như Lai mà không có chướng ngại.

Văn-thù-sư-lợi! Nếu có thể hóa độ chúng sinh mà cần hiện thân màu Sư tử vương như ý bảo vương thì chư Phật Như Lai liền vì họ thị hiện, làm cho chúng sinh đó được thấy thân màu sư tử vương như ý bảo vương của chư Phật Như Lai mà không có chướng ngại.

Văn-thù-sư-lợi! Nếu có thể hóa độ chúng sinh mà cần hiện thân màu Sư tử tràng như ý bảo vương thì chư Phật Như Lai liền vì họ thị hiện, làm cho chúng sinh đó được thấy thân mắng tử tràng như ý bảo vương của Như Lai mà không có chướng ngại.

Văn-thù-sư-lợi! Nếu có thể hóa độ chúng sinh mà cần hiện thân màu Đế Thích vương anh lạc như ý bảo vương thì chư Phật Như Lai liền vì họ thị hiện, làm cho chúng sinh đó được thấy thân màu Đế Thích vương anh lạc như ý bảo vương của Như Lai mà không có chướng ngại.

Văn-thu-sư-lợi! Nếu có thể hóa độ chúng sinh mà cần hiện thân màu Nhất thiết chư Thiên ánh sáng như ý bảo vương thì chư Phật Như Lai liền vì họ thị hiện, làm cho chúng sinh đó được thấy thân màu Nhất thiết chư Thiên ánh sáng như ý bảo vương của Như Lai mà không có chướng ngại.

Văn-thù-sư-lợi! Nếu có thể hóa độ chúng sinh mà cần hiện thân màu Kim cang như ý bảo vương thì chư Phật Như Lai liền vì họ thị hiện, làm cho chúng sinh đó được thấy thân màu Kim cang như ý bảo vương của Như Lai mà không có chướng ngại.

Văn-thù-sư-lợi! Nếu có thể hóa độ chúng sinh mà cần hiện thân màu Kim cang như ý bảo vương thì chư Phật Như Lai liền vì họ thị hiện, làm cho chúng sinh đó được thấy thân màu Kim cang như ý bảo vương của Như Lai mà không có chướng ngại.

Văn-thù-sư-lợi! Nếu có thể hóa độ chúng sinh mà cần hiện thân màu Thanh thủy như ý bảo vương thì chư Phật Như Lai liền vì họ thị hiện, làm cho chúng sinh đó được thấy thân màu Thanh thủy như ý bảo vương của Như Lai mà không có chướng ngại.

Văn-thu-sư-lợi! Nếu có thể hóa độ chúng sinh nếu có người cần thấy thân màu Ba-đầu-ma hoa như ý bảo vương thì chư Phật Như Lai liền vì họ thị hiện, làm cho chúng sinh đó được thấy thân màu Ba-đầuma hoa như ý bảo vương của Như Lai mà không có chướng ngại.

Văn-thù-sư-lợi! Nếu có thể hóa độ chúng sinh nếu có người cần thấy thân màu Tùy tâm tư duy như ý bảo vương thì chư Phật Như Lai liền vì họ thị hiện, làm cho chúng sinh đó được thấy thân màu Tùy tâm tư duy như ý bảo vương của Như Lai mà không có chướng ngại.

Văn-thù-sư-lợi! Nếu có thể hóa độ chúng sinh nếu có người cần thấy thân màu Đại lưu ly như ý bảo vương thì chư Phật Như Lai liền vì họ thị hiện, làm cho chúng sinh đó được thấy thân màu Đại lưu ly như ý bảo vương của Như Lai mà không có chướng ngại.

Văn-thù-sư-lợi! Nếu có thể hóa độ chúng sinh nếu có người cần thấy thân màu Đế Thích vương đại thanh lưu ly như ý bảo vương thì chư Phật Như Lai liền vì họ thị hiện, làm cho chúng sinh đó được thấy thân màu Đế Thích vương đại thanh lưu ly như ý bảo vương của Như Lai mà không có chướng ngại.

Văn-thù-sư-lợi! Nếu có thể hóa độ chúng sinh nếu có người cần thấy thân màu Mã não như ý bảo vương thì chư Phật Như Lai liền vì họ thị hiện, làm cho chúng sinh đó được thấy thân maù Mã não như ý bảo vương của Như Lai mà không có chướng ngại.

Văn-thù-sư-lợi! Nếu có thể hóa độ chúng sinh nếu có người cần thấy thân màu Công đức tạng như ý bảo vương thù thắng thì chư Phật Như Lai liền vì họ thị hiện, làm cho chúng sinh đó được thấy thân màu Công đức tạng như ý bảo vương thù thắng của Như Lai mà không có chướng ngại.

Văn-thù-sư-lợi! Nếu có thể hóa độ chúng sinh nếu có người cần thấy thân màu Thanh tịnh trang nghiêm như ý bảo vương thì chư Phật Như Lai liền vì họ thị hiện, làm cho chúng sinh đó được thấy thân màu Thanh tịnh trang nghiêm như ý bảo vương của Như Lai mà không có chướng ngại.

Văn-thù-sư-lợi! Nếu có thể hóa độ chúng sinh nếu có người cần

thấy thân màu Vô chướng ngại như ý bảo vương thì chư Phật Như Lai liền vì họ thị hiện, làm cho chúng sinh đó được thấy thân màu Vô chướng ngại như ý bảo vương của Như Lai mà không có chướng ngại.

Văn-thù-sư-lợi! Nếu có thể hóa độ chúng sinh nếu có người cần thấy thân màu Bạch trân châu như ý bảo vương thì chư Phật Như Lai liền vì họ thị hiện, làm cho chúng sinh đó được thấy thân màu Bạch trân châu như ý bảo vương của Như Lai mà không có chướng ngại.

Văn-thù-sư-lợi! Nếu có thể hóa độ chúng sinh nếu có người cần thấy thân màu Thanh trân châu như ý bảo vương thì chư Phật Như Lai liền vì họ thị hiện, làm cho chúng sinh đó được thấy thân màu Thanh trân châu như ý bảo vương của Như Lai mà không có chướng ngại.

Văn-thù-sư-lợi! Nếu có thể hóa độ chúng sinh nếu có người cần thấy thân màu Tạp trân châu như ý bảo vương thì chư Phật Như Lai liền vì họ thị hiện, làm cho chúng sinh đó được thấy thân màu Tạp trân châu như ý bảo vương của Như Lai mà không có chướng ngại.

Văn-thù-sư-lợi! Nếu có thể hóa độ chúng sinh nếu có người cần thấy thân màu Hư không quang minh trân châu như ý bảo vương thì chư Phật Như Lai liền vì họ thị hiện, làm cho chúng sinh đó được thấy thân màu Hư không quang minh trân châu như ý bảo vương của Như Lai mà không có chướng ngại.

Văn-thù-sư-lợi! Nếu có thể hóa độ chúng sinh nếu có người cần thấy thân màu Xuất a-tăng-kỳ công đức trang nghiêm đại hải âm thanh như ý bảo vương thì chư Phật Như Lai liền vì họ thị hiện, làm cho chúng sinh đó được thấy thân màu Xuất a-tăng-kỳ công đức trang nghiêm đại hải âm thanh như ý bảo vương của Như Lai mà không có chướng ngại.

Văn-thù-sư-lợi! Nếu có thể hóa độ chúng sinh nếu có người cần thấy thân màu Xuất a-tăng-kỳ trí công đức trang nghiêm đại hải âm thanh như ý bảo vương thì chư Phật Như Lai liền vì họ thị hiện, làm cho chúng sinh đó được thấy thân màu Xuất a-tăng-kỳ trí công đức trang nghiêm đại hải âm thanh như ý bảo vương của Như Lai mà không có chướng ngại.

Văn-thù-sư-lợi! Nếu có thể hóa độ chúng sinh nếu có người cần thấy thân màu Xuất a-tăng-kỳ Ba-la-mật đại hải âm thanh như ý bảo vương thì chư Phật Như Lai liền vì họ thị hiện, làm cho chúng sinh đó được thấy thân màu Xuất a-tăng-kỳ Ba-la-mật đại hải âm thanh như ý bảo vương của Như Lai mà không có chướng ngại.

Văn-thù-sư-lợi! Nếu có thể hóa độ chúng sinh nếu có người cần thấy thân màu Xuất a-tăng-kỳ trụ địa đại hải âm thanh như ý bảo vương thì chư Phật Như Lai liền vì họ thị hiện, làm cho chúng sinh đó được thấy thân màu Xuất a-tăng-kỳ trụ địa đại hải âm thanh như ý bảo vương của Như Lai mà không có chướng ngại.

Văn-thù-sư-lợi! Nếu có thể hóa độ chúng sinh nếu có người cần thấy thân màu Xuất a-tăng-kỳ Đà-la-ni đại hải âm thanh như ý bảo vương thì chư Phật Như Lai liền vì họ thị hiện, làm cho chúng sinh đó được thấy thân màu Xuất a-tăng-kỳ Đà-la-ni đại hải âm thanh như ý bảo vương của Như Lai mà không có chướng ngại.

Văn-thù-sư-lợi! Nếu có thể hóa độ chúng sinh nếu có người cần thấy thân màu Xuất a-tăng-kỳ Tam-muội đại hải âm thanh như ý bảo vương thì chư Phật Như Lai liền vì họ thị hiện, làm cho chúng sinh đó được thấy thân màu Xuất a-tăng-kỳ Tam-muội đại hải âm thanh như ý bảo vương của Như Lai mà không có chướng ngại.

Văn-thù-sư-lợi! Nếu có thể hóa độ chúng sinh nếu có người cần thấy thân màu Xuất a-tăng-kỳ giải thoát đại hải âm thanh như ý bảo vương thì chư Phật Như Lai liền vì họ thị hiện, làm cho chúng sinh đó được thấy thân màu Xuất a-tăng-kỳ giải thoát đại hải âm thanh như ý bảo vương của Như Lai mà không có chướng ngại.

Văn-thù-sư-lợi! Nếu có thể hóa độ chúng sinh nếu có người cần thấy thân màu Xuất a-tăng-kỳ vô ngại nhạo thuyết biện tài đại hải âm thanh như ý bảo vương thì chư Phật Như Lai liền vì họ thị hiện, làm cho chúng sinh đó được thấy thân màu Xuất a-tăng-kỳ vô ngại nhạo thuyết biện tài đại hải âm thanh như ý bảo vương của Như Lai mà không có chướng ngại.

Văn-thù-sư-lợi! Nếu có thể hóa độ chúng sinh nếu có người cần thấy thân màu Xuất a-tăng-kỳ thần thông đại hải âm thanh như ý bảo vương thì chư Phật Như Lai liền vì họ thị hiện, làm cho chúng sinh đó được thấy thân màu Xuất a-tăng-kỳ thần thông đại hải âm thanh như ý bảo vương của Như Lai mà không có chướng ngại.

Văn-thù-sư-lợi! Nếu có thể hóa độ chúng sinh nếu có người cần thấy thân màu Xuất a-tăng-kỳ đại nguyện đại hải âm thanh như ý bảo vương thì chư Phật Như Lai liền vì họ thị hiện, làm cho chúng sinh đó được thấy thân màu Xuất a-tăng-kỳ đại nguyện đại hải âm thanh như ý bảo vương của Như Lai mà không có chướng ngại.

Văn-thù-sư-lợi! Nếu có thể hóa độ chúng sinh nếu có người cần thấy thân màu Xuất a-tăng-kỳ phát động cần tinh tấn đại hải âm thanh như ý bảo vương thì chư Phật Như Lai liền vì họ thị hiện, làm cho chúng sinh đó được thấy thân màu Xuất a-tăng-kỳ phát cần tinh tấn đại hải âm thanh như ý bảo vương của Như Lai mà không có chướng ngại.

Văn-thù-sư-lợi! Nếu có thể hóa độ chúng sinh nếu có người cần thấy thân màu Xuất a-tăng-kỳ đắc an ổn đại hải âm thanh như ý bảo vương thì chư Phật Như Lai liền vì họ thị hiện, làm cho chúng sinh đó được thấy thân màu Xuất a-tăng-kỳ đắc an ổn đại hải âm thanh như ý bảo vương của Như Lai mà không có chướng ngại.

Văn-thù-sư-lợi! Nếu có thể hóa độ chúng sinh nếu có người cần thấy thân màu Xuất a-tăng-kỳ linh nhập Bồ-tát hạnh đại hải âm thanh như ý bảo vương thì chư Phật Như Lai liền vì họ thị hiện, làm cho chúng sinh đó được thấy thân màu Xuất a-tăng-kỳ linh nhập Bồ-tát hạnh đại hải âm thanh như ý bảo vương của Như Lai mà không có chướng ngại.

Văn-thù-sư-lợi! Nếu có thể hóa độ chúng sinh nếu có người cần thấy thân màu Xuất a-tăng-kỳ linh nhập Như Lai đại hải âm thanh như ý bảo vương thì chư Phật Như Lai liền vì họ thị hiện, làm cho chúng sinh đó được thấy thân màu Xuất a-tăng-kỳ linh nhập Như Lai đại hải âm thanh như ý bảo vương của Như Lai mà không có chướng ngại.

Văn-thù-sư-lợi! Nếu có thể hóa độ chúng sinh nếu có người cần thấy thân màu Xuất a-tăng-kỳ linh nhập tùy thuận chúng sinh tâm hạnh đại hải âm thanh như ý bảo vương thì chư Phật Như Lai liền vì họ thị hiện, làm cho chúng sinh đó được thấy thân màu Xuất a-tăng-kỳ linh nhập tùy thuận chúng sinh tâm hạnh đại hải âm thanh như ý bảo vương của Như Lai mà không có chướng ngại.

Văn-thù-sư-lợi! Nếu có thể hóa độ chúng sinh nếu có người cần

thấy thân màu Xuất a-tăng-kỳ linh nhập kiếp đại hải âm thanh như ý bảo vương thì chư Phật Như Lai liền vì họ thị hiện, làm cho chúng sinh đó được thấy thân màu Xuất a-tăng-kỳ linh nhập kiếp đại hải âm thanh như ý bảo vương của Như Lai mà không có chướng ngại.

Văn-thù-sư-lợi! Nếu có thể hóa độ chúng sinh nếu có người cần thấy thân màu Xuất a-tăng-kỳ linh nhập thế giới đại hải âm thanh như ý bảo vương thì chư Phật Như Lai liền vì họ thị hiện, làm cho chúng sinh đó được thấy thân màu Xuất a-tăng-kỳ linh nhập thế giới đại hải âm thanh như ý bảo vương của Như Lai mà không có chướng ngại.

Văn-thù-sư-lợi! Nếu có thể hóa độ chúng sinh nếu có người cần thấy thân màu Xuất a-tăng-kỳ làm cho nhập tam thế thuyết đại hải âm thanh như ý bảo vương thì chư Phật Như Lai liền vì họ thị hiện, làm cho chúng sinh đó được thấy thân màu Xuất a-tăng-kỳ làm cho nhập tam thế thuyết đại hải âm thanh như ý bảo vương của Như Lai mà không có chướng ngại.

Văn-thù-sư-lợi! Nếu có thể hóa độ chúng sinh nếu có người cần thấy thân màu Xuất a-tăng-kỳ làm cho nhập tam thế đại hải âm thanh như ý bảo vương thì chư Phật Như Lai liền vì họ thị hiện, làm cho chúng sinh đó được thấy thân màu Xuất a-tăng-kỳ linh nhập tam thế đại hải âm thanh như ý bảo vương của Như Lai mà không có chướng ngại.

Văn-thù-sư-lợi! Nếu có thể hóa độ chúng sinh nếu có người cần thấy thân màu Xuất a-tăng-kỳ linh nhập bất bì quyện tâm đại hải âm thanh như ý bảo vương thì chư Phật Như Lai liền vì họ thị hiện, làm cho chúng sinh đó được thấy thân màu Xuất a-tăng-kỳ linh nhập bất bì quyện tâm đại hải âm thanh như ý bảo vương của Như Lai mà không có chướng ngại.

Văn-thù-sư-lợi! Nếu có thể hóa độ chúng sinh nếu có người cần thấy thân màu Xuất a-tăng-kỳ linh nhập không sai biệt trí đại hải âm thanh như ý bảo vương thì chư Phật Như Lai liền vì họ thị hiện, làm cho chúng sinh đó được thấy thân màu Xuất a-tăng-kỳ linh nhập không sai biệt trí đại hải âm thanh như ý bảo vương của Như Lai mà không có chướng ngại.

Vì sao? Vì được tương ưng với pháp Bất cộng vậy?

Văn-thù-sư-lợi! Như đại lưu ly như ý vảo vương bị quấn trông vải nhơ, dựa vào tấm vải nhơ ấy mà hiện ra nhiều sự việc nhưng đại lưu ly như ý bảo vương không phân biệt và xa lìa sự phân biệt mà tự nhiên vậy. Tự nhiên như vậy không phân biệt và xa lìa sự phân biệt mà hiện ra nhiều sự việc. Vì sao? Vì tương ưng với pháp Bất cộng vậy.

Văn-thù-sư-lợi! Cũng vậy, chư Phật, Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri nương vao chúng sinh có thể hóa độ, thị hiện các sắc hạnh như vậy mà chư Phật Như Lai không phân biệt và lìa sự phân biệt mà tự nhiên vậy. không phân biệt và xa lìa sự phân biệt, tự nhiên như vậy mà có thể thấy các sự kiện nhiều loại khác nhau. Vì sao? Vì tương ưng với pháp Bất cộng vậy.

Văn-thù-sư-lợi! Đây gọi là trí không chướng ngại của chư Phật Như Lai.

Văn-thù-sư-lợi! Thế nào là trí không chướng ngại của chư Phật Như Lai?

Văn-thù-sư-lợi! Nghĩa là tất cả chủng loại thế giới sai khác nhau, mỗi mỗi thế giới, vi trần số thế giới, mười phương thế giới, chư Phật Như Lai đều khiến biển lớn trí tuệ nhập vào vi trần số thế giới như vậy mà không hề chướng ngại.

Văn-thù-sư-lợi! Tất cả thế giới chủng loại khác nhau, mỗi mỗi thế giới, mỗi mỗi tứ thiên hạ, công đức tất cả thế giới nhiều như bụi trần khác nhau, mỗi mỗi công đức trang nghiêm như biển lớn. Trong mỗi mỗi niệm có vô số thuyết trí khác nhau mà không có chướng ngại.

Các chủng loại thế giới khác nhau như vậy, có trí nhiều như số vi trần trong tất cả cõi Phật, công đức trang nghiêm như biển lớn. Trong khoảng một niệm, có a-tăng-kỳ thuyết trí sai khác mà không hề có chướng ngại.

Các chủng loại thế giới khác nhau như vậy, biển lớn đạt an ổn nhiều như bụi trần trong tất cả cõi Phật. Trong khoảng mỗi mỗi niệm có vô số thuyết trí khác nhau mà không có chướng ngại.

Các chủng loại thế giới khác nhau như vậy, biển lớn làm cho vào hạnh Bồ-tát nhiều như bụi trần trong tất cả cõi Phật. Trong khoảng mỗi mỗi niệm có vô số thuyết trí khác nhau mà không có chướng ngại.

Các chủng loại thế giới khác nhau như vậy, biển lớn làm cho thâm nhập Như Lai nhiều như bụi trần trong tất cả cõi Phật. Trong khoảng mỗi mỗi niệm có vô số thuyết trí khác nhau mà không có chướng ngại.

Các chủng loại thế giới khác nhau như vậy, biển lớn làm cho nhập vào tâm hạnh tùy thuận chúng sinh nhiều như bụi trần trong tất cả cõi Phật. Trong khoảng mỗi mỗi niệm có vô số thuyết trí khác nhau mà không có chướng ngại.

Các chủng loại thế giới khác nhau như vậy, biển lớn làm cho nhập kiếp nhiều như bụi trần trong tất cả cõi Phật. Trong khoảng mỗi mỗi niệm có vô số thuyết trí khác nhau mà không có chướng ngại.

Các chủng loại thế giới khác nhau như vậy, biển lớn làm cho nhập vào thế giới nhiều như bụi trần trong tất cả cõi Phật. Trong khoảng mỗi mỗi niệm có vô số thuyết trí khác nhau mà không có chướng ngại.

Các chủng loại thế giới khác nhau như vậy, biển lớn làm cho nhập vào tam thế thuyết nhiều như bụi trần trong tất cả cõi Phật. Trong khoảng mỗi mỗi niệm có vô số thuyết trí khác nhau mà không có chướng ngại.

Các chủng loại thế giới khác nhau như vậy, biển lớn làm cho nhập vào ba đời nhiều như bụi trần trong tất cả cõi Phật. Trong khoảng mỗi mỗi niệm có vô số thuyết trí khác nhau mà không có chướng ngại.

Các chủng loại thế giới khác nhau như vậy, biển lớn làm cho nhập vào tâm không nhọc mệt nhiều như bụi trần trong tất cả cõi Phật. Trong khoảng mỗi mỗi niệm có vô số thuyết trí khác nhau mà không có chướng ngại.

Các chủng loại thế giới khác nhau như vậy, biển lớn làm cho nhập vào trí không sai biệt nhiều như bụi trần trong tất cả cõi Phật. Trong khoảng mỗi mỗi niệm có vô số thuyết trí khác nhau mà không có chướng ngại.

Vì sao? Vì đã được trí tự nhiên.

Văn-thù-sư-lợi! Ví như trong núi, sông, hang sâu nghe có tiếng

vang. Nương vào âm thanh khác nhau, danh tự khác nhau mà phát ra những loại âm thanh khác nhau; nhưng núi, hang không có phân biệt và lìa sự phân biệt, nhiều loại âm thanh như vậy tự nhiên xuất hiện. Vì sao? Vì tương ưng với pháp Bất cộng vậy.

Văn-thù-sư-lợi! Âm thanh thuyết pháp của chư Phật Như Lai tùy theo tâm chúng sinh cũng như vậy. Tùy theo những chúng sinh nào có thể hóa độ, chư Phật dùng vô số pháp môn, nghe những loại âm thanh và nhiều thứ ngôn từ, nhưng chư Phật Như Lai không phân biệt và xa lìa sự phân biệt; tự nhiên như vậy, không phân biệt xa lìa sự phân biệt; tự nhiên như vật mà xuất hiện nhiều loại âm thanh. Vì sao? Vì chư Phật đã đạt tương ưng với pháp Bất cộng vậy.

Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi nói sơ lược về trí vô chướng ngại của chư Phật, Như Lai. Nếu nói rộng ra thì đến hết đời vị lai, nắm giữ vô số kiếp, cũng không nói hết.

Văn-thù-sư-lợi! Thế nào gọi là sức giáo hóa chúng sinh của chư Phật Như Lai?

Văn-thù-sư-lợi! Nhục kế của chư Phật Như Lai nơi mười phương thế giới, tất cả thế giới, tất cả trú xứ, nơi từng thế giới hay mỗi mỗi Diêm-phù-đề không có chướng ngại, không có sai khác. Nhục kế ấy bao phủ tất cả pháp giới hư không, tất cả thế gian mà giáo hóa chúng sinh, đến tận đời vị lai biến khắp đến cả vô biên thế giới, trú trì trong vô số kiếp không có ngừng nghỉ.

Văn-thù-sư-lợi! Ba mươi hai tướng của Như Lai như vậy thì ở nơi mỗi mỗi tướng hiện khắp mười phương thế giới, tất cả thế giới, tất cả trú xứ, mỗi mỗi thế giới hay mỗi mỗi Diêm-phù-đề đều mà không bị chướng ngại, không có sai khác. Tướng ấy bao phủ tất cả pháp giới hư không, tất cả thế gian mà giáo hóa chúng sinh, đến tận đời vị lai biến khắp đến cả vô biên thế giới, trú trì trong vô số kiếp không có ngừng nghỉ.

Văn-thù-sư-lợi! Tám mươi vẻ đẹp của Như Lai cũng như vậy cứ ở nơi mỗi mỗi vẻ đẹp hiện khắp mười phương thế giới, tất cả thế giới, tất cả trú xứ, mỗi mỗi thế giới, mỗi mỗi Diêm-phù-đề mà không bị chướng ngại, không có sự sai khác. Vẻ đẹp ấy bao phủ tất cả pháp giới hư không, tất cả thế gian mà giáo hóa chúng sinh, đến tận đời vị lai biến khắp đến cả vô biên thế giới, trú trì trong vô số kiếp không có ngừng nghỉ.

Văn-thù-sư-lợi! Tất cả lỗ chân lông của Như Lai cũng như vậy nơi mỗi mỗi lỗ chân lông hiện khắp mười phương thế giới, tất cả thế giới, tất cả trú xứ, mỗi mỗi thế giới, mỗi mỗi Diêm-phù-đề mà không bị chướng ngại, không có sự sai khác. Tất cả lỗ chân lông ấy bao phủ tất cả pháp giới hư không, tất cả thế gian mà giáo hóa chúng sinh, đến tận đời vị lai biến khắp đến cả vô biên thế giới, an trú ở đời trong vô số kiếp không hề có ngừng nghỉ.

Văn-thù-sư-lợi! Tất cả của cải của Như Lai hiện khắp mười phương thế giới, tất cả thế giới, tất cả trú xứ, mỗi mỗi thế giới, mỗi mỗi Diêm-phù-đề mà không bị chướng ngại, không có sự sai khác. Tất cả của cải ấy bao phủ tất cả pháp giới hư không, tất cả thế gian mà giáo hóa chúng sinh, đến tận đời vị lai biến khắp đến cả vô biên thế giới, an trú ở đời trong vô số kiếp không hề có ngừng nghỉ.

Vì sao? Vì được tương ưng với pháp Bất cộng vậy. Tương ưng với pháp Bất cộng nghĩa là nương vào sức bản nguyện, màvì chúng sinh an trú ở đời hộ trì Phật pháp.

Văn-thù-sư-lợi! Đó là nói tóm lược về sức giáo hóa chúng sinh của chư Phật Như Lai. Nếu nói rộng hơn thì tận cùng số kiếp vị lai cũng không thể nói hết được.

Văn-thù-sư-lợi! Thế nào gọi là chư Phật Như Lai hiện hữu khắp nơi?

Văn-thù-sư-lợi! Nghĩa là chư Phật Như Lai nơi mười phương thế giới, tất cả thế giới, tất cả trú xứ, mỗi mỗi thế giới, mõ một Diêmphù-đề, mỗi mỗi hạt bụi.

Văn-thù-sư-lợi! Trải qua năm mươi thế giới, vi trần biển lớn, vi trần số thế giới, số trăm ngàn vạn ức na-do-tha vi trần số tất cả thế giới, nơi mỗi mỗi thế giới có vi trần số biển lớn Bồ-tát sai khác nhau, ở nơi nhiều trí xứ như vậy mà không bị chướng ngại nhau. Tất cả chúng sinh ở nơi bốn thiên hạ, các núi Tu-di, núi Đại Tu-di, núi Chấtca-la, núi Ma-ha Chất-ca-la, thành ấn, xóm làng, các cõi nước, sông lớn, hồ rộng mà không có sự chướng ngại, vẫn như vậy không khác mà có sự thể này. Vì sao? Vì được tương ưng pháp Bất cộng vậy.

Nhưng tùy theo tâm của chúng sinh, tùy theo chúng sinh nào có thể hóa độ, như Thiên, long, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già, Đế Thích, Phạm thiên, người và phi nhân, các Bồ-tát, mỗi loại đều thấy chư Phật Như Lai hiện hữu trước mặt họ. Vì sao? Vì được tương ưng pháp Bất cộng vậy.

Văn-thù-sư-lợi! Đó là nói lược về sự hiện hữu khắp nơi của chư Phật Như Lai. Nếu nói rộng hơn thì tận cùng số kiếp vị lai cũng không thể nói hết được.

Văn-thù-sư-lợi! Thế nào gọi là thanh tịnh cõi Phật của chư Phật Như Lai?

Văn-thù-sư-lợi! Nghĩa là chư Phật Như Lai nơi mười phương thế giới, tất cả thế giới, nhiều kiểu trú xứ, mỗi mỗi thế giới, trong mỗi mỗi bụi trần nhập biển lớn công đức trang nghiêm, vào biển thế giới nhiều như bụi trần của tất cả thế giới, có vô số trí thuyết khác nhau có thể thanh tịnh cõi Phật.

Hoặc có biển thế giới, biển lớn trí tuệ công đức trang nghiêm, có vô số trí thuyết khác nhau có thể thanh tịnh cõi Phật.

Hoặc có biển thế giới, biển lớn Ba-la-mật, có vô số trí thuyết khác nhau có thể thanh tịnh cõi Phật.

Hoặc có biển thế giới, biển lớn trụ địa, có vô số trí thuyết khác nhau có thể thanh tịnh cõi Phật.

Hoặc có biển thế giới, biển lớn Đà-la-ni, có vô số trí thuyết khác nhau có thể thanh tịnh cõi Phật.

Hoặc có biển thế giới, biển lớn Tam-muội, có vô số trí thuyết khác nhau có thể thanh tịnh cõi Phật.

Hoặc có biển thế giới, biển lớn giải thoát, có vô số trí thuyết khác nhau có thể thanh tịnh cõi Phật.

Hoặc có biển thế giới, biển lớn vô ngại nhạo thuyết biện tài, có vô số trí thuyết khác nhau có thể thanh tịnh cõi Phật.

Hoặc có biển thế giới, biển lớn thần thông, có vô số trí thuyết khác nhau có thể thanh tịnh cõi Phật.

Hoặc có biển thế giới, biển lớn đại nguyện, có vô số trí thuyết khác nhau có thể thanh tịnh cõi Phật.

Hoặc có biển thế giới, biển lớn phát cần tinh tấn, có vô số trí thuyết khác nhau có thể thanh tịnh cõi Phật.

Hoặc có biển thế giới đạt biển lớn an ổn, có vô số trí thuyết khác nhau có thể thanh tịnh cõi Phật.

Hoặc có biển thế giới làm cho nhập vào biển lớn hạnh Bồ-tát, có vô số trí thuyết khác nhau có thể thanh tịnh cõi Phật.

Hoặc có biển thế giới làm cho nhập vào biển lớn Như Lai, có vô số trí thuyết khác nhau có thể thanh tịnh cõi Phật.

Hoặc có biển thế giới làm cho nhập vào biển lớn tùy thuận tâm hạnh chúng sinh, có vô số trí thuyết khác nhau có thể thanh tịnh cõi Phật.

Hoặc có biển thế giới làm cho nhập vào biển lớn kiếp số, có vô số trí thuyết khác nhau có thể thanh tịnh cõi Phật.

Hoặc có biển thế giới làm cho nhập vào biển lớn thế giới, có vô số trí thuyết khác nhau có thể thanh tịnh cõi Phật.

Hoặc có biển thế giới làm cho nhập vào biển lớn thuyết ba đời, có vô số trí thuyết khác nhau có thể thanh tịnh cõi Phật.

Hoặc có biển thế giới làm cho nhập vào biển lớn ba đời, có vô số trí thuyết khác nhau có thể thanh tịnh cõi Phật.

Hoặc có biển thế giới làm cho nhập vào biển lớn tâm không mỏi mệt, có vô số trí thuyết khác nhau có thể thanh tịnh cõi Phật.

Hoặc có biển thế giới làm cho nhập vào biển lớn trí không sai khác, có vô số trí thuyết khác nhau có thể thanh tịnh cõi Phật. Nhưng chư Phật Như Lai ở bản xứ vẫn bất động. Vì sao? Vì đã đạt được pháp bất động.

Văn-thù-sư-lợi! Đó lược nói về cõi nước của chư Phật Như Lai mà không có sợ hãi. Nếu nói rộng thì trọn kiếp số đời vị lai cũng không thể nói hết được.

Văn-thù-sư-lợi! Thế nào gọi là thân vô biên của chư Phật Như Lai?

Văn-thù-sư-lợi! Nghĩa là chư Phật Như Lai khắp mười phương thế giới nơi tất cả thế giới, nơi mỗi mỗi thế giới, nơi mỗi mỗi tứ thiên hạ, đó qua năm mươi thế giới, vi trần biển lớn, vi trần số thế giới, số trăm ngàn vạn ức na-do-tha vi trần số chư Phật Như Lai, đại chúng Bồ-tát và mỗi mỗi biển lớn đại chúng Bồ-tát; trải qua năm mươi thế giới vi trần số thế giới vi trần đại hải ngàn vạn ức na-do-tha vi trần số chư Phật Như Lai, đại chúng Bồ-tát, mỗi mỗi biển lớn đại chúng Bồtát, tất cả đều đã đắc vô số biển lớn công đức thù thắng với nhiều loại khác nhau để tự trang nghiêm. Vì đã đạt được sức công đức thù thắng nhiều loại khác nhau như vậy, nên tất cả đều được thấy số chư Phật Như Lai như vậy hiển hiện.

Văn-thù-sư-lợi! Trải qua năm mươi thế giới vi trần số thế giới vi trần đại hải, vô số trăm ngàn vạn ức na-do-tha vi trần số chư Phật Như Lai, đại chúng Bồ-tát mỗi mỗi biển lớn đại chúng Bồ-tát, tất cả đều được biển lớn vô số chủng loại khác nhau các Ba-la-mật thù thắng để tự trang nghiêm. Vì đạt được sức giữ vững các Ba-la-mật thù thắng với nhiều chủng loại khác nhau như vậy, tất cả đều được thấy số chư Phật Như Lai như vậy hiển hiện.

Văn-thù-sư-lợi! Trải qua năm mươi thế giới vi trần số thế giới vi trần số biển lớn, có trăm ngàn vạn ức na-do-tha vi trần số chư Phật Như Lai, đại chúng Bồ-tát, mỗi mỗi đều có biển lớn đại chúng Bồ-tát, tất cả đều được vô số biển lớn vô số chủng loại khác nhau trụ địa thù thắng để tự trang nghiêm. Vì đạt được sức giữ vững các trụ địa thù thắng với nhiều chủng loại khác nhau như vậy, tất cả đều được thấy số chư Phật Như Lai như vậy hiển hiện.

Văn-thù-sư-lợi! Trải qua năm mươi thế giới vi trần số thế giới vi trần số biển lớn, có trăm ngàn vạn ức na-do-tha vi trần số chư Phật Như Lai, đại chúng Bồ-tát, mỗi mỗi đều có biển lớn đại chúng Bồ-tát, tất cả đều được vô số chủng loại khác nhau các biển lớn Đà-la-ni thù thắng để tự trang nghiêm. Vì đạt được sức giữ vững các Đà-la-ni thù thắng với nhiều chủng loại khác nhau như vậy, tất cả đều được thấy số chư Phật Như Lai như vậy hiển hiện.

Văn-thù-sư-lợi! Trải qua năm mươi thế giới vi trần số thế giới vi trần số biển lớn, có trăm ngàn vạn ức na-do-tha vi trần số chư Phật Như Lai, đại chúng Bồ-tát, mỗi mỗi đều có biển lớn đại chúng Bồ-tát, tất cả đều được vô số chủng loại khác nhau các biển lớn Tam-muội thù thắng để tự trang nghiêm. Vì đạt được sức giữ vững các Tam-muội thù thắng với nhiều chủng loại khác nhau như vậy, tất cả đều được thấy số chư Phật Như Lai như vậy hiển hiện

Văn-thù-sư-lợi! Trải qua năm mươi thế giới vi trần số thế giới vi trần số biển lớn, có trăm ngàn vạn ức na-do-tha vi trần số chư Phật Như Lai, đại chúng Bồ-tát, mỗi mỗi đều có biển lớn đại chúng Bồ-tát, tất cả đều được vô số chủng loại khác nhau các biển lớn giải thoát thù thắng để tự trang nghiêm. Vì đạt được sức giữ vững các giải thoát thù thắng với nhiều chủng loại khác nhau như vậy, tất cả đều được thấy số chư Phật Như Lai như vậy hiển hiện.

Văn-thù-sư-lợi! Trải qua năm mươi thế giới vi trần số thế giới vi trần số biển lớn, có trăm ngàn vạn ức na-do-tha vi trần số chư Phật Như Lai, đại chúng Bồ-tát, mỗi mỗi đều có biển lớn đại chúng Bồ-tát, tất cả đều được vô số chủng loại khác nhau các biển lớn vô ngại nhạo thuyết biện tài thù thắng để tự trang nghiêm. Vì đạt được sức giữ vững các vô ngại nhạo thuyết biện tài thù thắng với nhiều chủng loại khác nhau như vậy, tất cả đều được thấy số chư Phật Như Lai như vậy hiển hiện.

Văn-thù-sư-lợi! Trải qua năm mươi thế giới vi trần số thế giới, vi trần số đại hải, vô số trăm ngàn vạn ức na-do-tha vi trần số chư Phật Như Lai, đại chúng Bồ-tát, mỗi mỗi biển lớn đại chúng Bồ-tát, tất cả đều được vô số chủng loại khác nhau các biển lớn thần thông thù thắng để tự trang nghiêm. Vì đạt được sức giữ vững các thần thông thù thắng với nhiều chủng loại khác nhau như vậy, nên tất cả đều được thấy số chư Phật Như Lai như vậy hiện tiền.

Văn-thù-sư-lợi! Trải qua năm mươi thế giới vi trần số thế giới, vi trần số đại hải, vô số trăm ngàn vạn ức na-do-tha vi trần số chư Phật Như Lai, đại chúng Bồ-tát, mỗi mỗi biển lớn đại chúng Bồ-tát, tất cả đều được vô số chủng loại khác nhau các biển lớn đại nguyện thù thắng để tự trang nghiêm. Vì đạt được sức giữ vững các đại nguyện thù thắng với nhiều chủng loại khác nhau như vậy, nên tất cả đều được thấy số chư Phật Như Lai như vậy hiện tiền.

Văn-thù-sư-lợi! Trải qua năm mươi thế giới vi trần số thế giới, vi trần số đại hải, vô số trăm ngàn vạn ức na-do-tha vi trần số chư Phật Như Lai, đại chúng Bồ-tát, mỗi mỗi biển lớn đại chúng Bồ-tát, tất cả đều được vô số chủng loại khác nhau các biển lớn công đức trang nghiêm thù thắng để tự trang nghiêm. Vì đạt được sức giữ vững các công đức trang nghiêm thù thắng với nhiều chủng loại khác nhau như vậy, nên tất cả đều được thấy số chư Phật Như Lai như vậy hiện tiền.

Văn-thù-sư-lợi! Trải qua năm mươi thế giới vi trần số thế giới, vi trần số đại hải, vô số trăm ngàn vạn ức na-do-tha vi trần số chư Phật Như Lai, đại chúng Bồ-tát, mỗi mỗi biển lớn đại chúng Bồ-tát, tất cả đều được vô số chủng loại khác nhau các biển lớn trí công đức trang nghiêm thù thắng để tự trang nghiêm. Vì đạt được sức giữ vững làm cho trí công đức trang nghiêm thù thắng với nhiều chủng loại khác nhau như vậy, nên tất cả đều được thấy số chư Phật Như Lai như vậy hiện tiền.

Văn-thù-sư-lợi! Trải qua năm mươi thế giới vi trần số thế giới, vi trần số đại hải, vô số trăm ngàn vạn ức na-do-tha vi trần số chư Phật Như Lai, đại chúng Bồ-tát, mỗi mỗi biển lớn đại chúng Bồ-tát, tất cả đều được vô số chủng loại khác nhau các biển lớn làm cho nhập vào hạnh Bồ-tát thù thắng để tự trang nghiêm. Vì đạt được sức giữ vững làm cho nhập vào hạnh Bồ-tát thù thắng với nhiều chủng loại khác nhau như vậy, nên tất cả đều được thấy số chư Phật Như Lai như vậy hiện tiền.

Văn-thù-sư-lợi! Trải qua năm mươi thế giới vi trần số thế giới, vi trần số đại hải, vô số trăm ngàn vạn ức na-do-tha vi trần số chư Phật Như Lai, đại chúng Bồ-tát, mỗi mỗi biển lớn đại chúng Bồ-tát, tất cả đều được vô số chủng loại khác nhau các biển lớn làm cho nhập vào Như Lai thù thắng để tự trang nghiêm. Vì đạt được sức giữ vững làm cho nhập vào Như Lai thù thắng với nhiều chủng loại khác nhau như vậy, nên tất cả đều được thấy số chư Phật Như Lai như vậy hiện tiền.

Văn-thù-sư-lợi! Trải qua năm mươi thế giới vi trần số thế giới, vi trần số đại hải, vô số trăm ngàn vạn ức na-do-tha vi trần số chư Phật Như Lai, đại chúng Bồ-tát, mỗi mỗi biển lớn đại chúng Bồ-tát, tất cả đều được vô số chủng loại khác nhau các biển lớn làm cho nhập vào tâm hạnh tùy thuận chúng sinh thù thắng để tự trang nghiêm. Vì đạt được sức giữ vững làm cho nhập vào tâm hạnh tùy thuận chúng sinh thù thắng với nhiều chủng loại khác nhau như vậy, nên tất cả đều được thấy số chư Phật Như Lai như vậy hiện tiền.

Văn-thù-sư-lợi! Trải qua năm mươi thế giới vi trần số thế giới, vi trần số đại hải, vô số trăm ngàn vạn ức na-do-tha vi trần số chư Phật Như Lai, đại chúng Bồ-tát, mỗi mỗi biển lớn đại chúng Bồ-tát, tất cả đều được vô số chủng loại khác nhau các biển lớn làm cho nhập vào tâm muội thù thắng để tự trang nghiêm. Vì đạt được sức giữ vững làm cho nhập vào Tam-muội thù thắng với nhiều chủng loại khác nhau như vậy, nên tất cả đều được thấy số chư Phật Như Lai như vậy hiện tiền.

Văn-thù-sư-lợi! Trải qua năm mươi thế giới vi trần số thế giới, vi trần số đại hải, vô số trăm ngàn vạn ức na-do-tha vi trần số chư Phật Như Lai, đại chúng Bồ-tát, mỗi mỗi biển lớn đại chúng Bồ-tát, tất cả đều được vô số chủng loại khác nhau các biển lớn làm cho nhập vào thế giới thù thắng để tự trang nghiêm. Vì đạt được sức giữ vững làm cho nhập vào thế giới thù thắng với nhiều chủng loại khác nhau như vậy, nên tất cả đều được thấy số chư Phật Như Lai như vậy hiện tiền.

Văn-thu-sư-lợi! Trải qua năm mươi thế giới vi trần số thế giới, vi trần số đại hải, vô số trăm ngàn vạn ức na-do-tha vi trần số chư Phật Như Lai, đại chúng Bồ-tát, mỗi mỗi biển lớn đại chúng Bồ-tát, tất cả đều được vô số chủng loại khác nhau các biển lớn làm cho nhập vào tam thế thuyết thù thắng để tự trang nghiêm. Vì đạt được sức giữ vững làm cho nhập vào tam thế thuyết thù thắng với nhiều chủng loại khác nhau như vậy, nên tất cả đều được thấy số chư Phật Như Lai như vậy hiện tiền.

Văn-thù-sư-lợi! Trải qua năm mươi thế giới vi trần số thế giới, vi trần số đại hải, vô số trăm ngàn vạn ức na-do-tha vi trần số chư Phật Như Lai, đại chúng Bồ-tát, mỗi mỗi biển lớn đại chúng Bồ-tát, tất cả đều được vô số chủng loại khác nhau các biển lớn làm cho nhập vào ba đời thù thắng để tự trang nghiêm. Vì đạt được sức giữ vững làm cho nhập vào ba đời thù thắng với nhiều chủng loại khác nhau như vậy, nên tất cả đều được thấy số chư Phật Như Lai như vậy hiện tiền.

Văn-thù-sư-lợi! Trải qua năm mươi thế giới vi trần số thế giới, vi trần số đại hải, vô số trăm ngàn vạn ức na-do-tha vi trần số chư Phật Như Lai, đại chúng Bồ-tát, mỗi mỗi biển lớn đại chúng Bồ-tát, tất cả đều được vô số chủng loại khác nhau các biển lớn làm cho nhập vào tâm không mỏi mệt thù thắng để tự trang nghiêm. Vì đạt được sức giữ vững làm cho nhập vào tâm không mỏi mệt thù thắng với nhiều chủng loại khác nhau như vậy, nên tất cả đều được thấy số chư Phật Như Lai như vậy hiện tiền.

Văn-thù-sư-lợi! Trải qua năm mươi thế giới vi trần số thế giới, vi trần số đại hải, vô số trăm ngàn vạn ức na-do-tha vi trần số chư Phật Như Lai, đại chúng Bồ-tát, mỗi mỗi biển lớn đại chúng Bồ-tát, tất cả đều được vô số chủng loại khác nhau các biển lớn làm cho nhập vào không sai biệt thù thắng để tự trang nghiêm. Vì đạt được sức giữ vững làm cho nhập vào trí không sai biệt thù thắng với nhiều chủng loại khác nhau như vậy, nên tất cả đều được thấy số chư Phật Như Lai như vậy hiện tiền.

Văn-thù-sư-lợi! Trải qua năm mươi thế giới vi trần số thế giới, vi trần số đại hải, vô số trăm ngàn vạn ức na-do-tha vi trần số chư Phật Như Lai, đại chúng Bồ-tát, mỗi mỗi biển lớn đại chúng Bồ-tát, tất cả đều được vô số chủng loại khác nhau các biển lớn làm cho nhập vào Như Lai thù thắng để tự trang nghiêm. Vì đạt được sức giữ vững làm cho nhập vào Như Lai thù thắng với nhiều chủng loại khác nhau như vậy, nên tất cả đều được thấy số chư Phật Như Lai như vậy hiện tiền.

Văn-thù-sư-lợi! Trải qua năm mươi thế giới vi trần số thế giới, vi trần số đại hải, vô số trăm ngàn vạn ức na-do-tha vi trần số chư Phật Như Lai, đại chúng Bồ-tát, mỗi mỗi biển lớn đại chúng Bồ-tát, tất cả đều được vô số chủng loại khác nhau các biển lớn làm cho nhập vào Như Lai thù thắng để tự trang nghiêm. Vì đạt được sức giữ vững làm cho nhập vào Như Lai thù thắng với nhiều chủng loại khác nhau như vậy, nên tất cả đều được thấy số chư Phật Như Lai như vậy hiện tiền.

Văn-thù-sư-lợi! Như vậy nói tóm lược về việc đạt được những sự chỗ nương tựa là các tướng hy hữu như hành Thiện tri thức, phát tâm chuyên cần tinh tấn, được tâm an ổn, giáo hóa chúng sinh, thọ ký giới cấm, nhập hạnh Bồ-tát, nhập hạnh Như Lai, nhập hạnh chúng sinh, nhập biển thế giới, nhập biển các kiếp, nhập pháp ba đời, nhập tâm phát khởi, không sinh mỏi mệt, các trí sai biệt Đà-la-ni môn, nói về những tâm hiền thiện bao trùm của Như Lai, các hạnh Phổ hiền, các loại pháp tướng của tâm đại Bi, nhân duyên tâm Bồ-tát, cung kính Thiện tri thức, các hạnh phát tâm, những hạnh tu thanh tịnh, các Ba-lamật, như thật hiểu biết, được thể nhập các lực như thật là diệu lực bình đẳng của các cõi, thuyết các pháp Phật, nắm lấy sự diễn thuyết lưu loát, các trí tăng thượng, đạt đến chỗ không chấp trước, tâm được bình đẳng, phát sinh các trí, thị hiện ứng hóa, nắm giữ các pháp, được an ổn lớn, thâm nhập các pháp sâu xa, nương tựa Phật pháp, nương tựa để an trụ, được sinh tâm Từ, không có tâm khiếp nhược, dứt các lưới nghi, được sự phát tâm, không thể nghĩ bàn.

Dựa vào ý nào để nói các loại phương tiện? Dựa vào các trí phương tiện khác nhau để nói, được các Tam-muội, được tất cả nhập, được các giải thoát, các thông, các minh. Tất cả được tâm tự tại giải thoát, những ao nước trong bình, những lầu gác tốt đẹp, những trang nghiêm thù thắng, các tâm không thoái lui, không bỏ tâm an trụ, tất cả trực tâm, trí tuệ như biển, giống như các châu báu.

Bồ-tát phát tâm được như Kim cang để phát khởi tâm, phát tâm Đại thừa, phát tâm bình đẳng, phát tâm cứu cánh, được những tâm tôn trọng không hủy hoại. Thọ ký các pháp, hồi hướng các căn lành, được trí tăng thượng, phát tâm bình đẳng vô biên không thiên lệch, được những kho báu, được những giới cấm, được những tự tại, được những nhanh chóng. Tất cả cảnh giới, tất cả các lực, tất cả không sợ hãi, đầy đủ vô lượng pháp Bất cộng, giáo hóa tất cả Bồ-tát.

Tất cả nghiệp thân, tất cả các thân, được các nghiệp khẩu, các tâm phát tâm, tâm bao trùm khắp tất cả các căn, các tâm ngay thật, các tâm tăng thượng, các hạnh các tín, nhập vào thế giới tín, nhập các sự huân tập, được nhập các giới, vào hạnh như thật, vào hạnh thành tựu, vào địa vị Bồ-tát, các pháp định Bồ-tát, các pháp tiến đến con đường đạo, thân cận Thiện tri thức, được các Thiện tri thức, đạo phi đạo, lượng phi lượng, thành tựu kiến đạo, đầy đủ công đức của đạo, tu hành các đạo, trang nghiêm các đạo.

Văn-thù-sư-lợi! Tất cả đều được giảng nói rộng rãi như vậy, nhưng chư Phật Như Lai không phân biệt và xa lìa phân biệt mà tự nhiên như vậy. Chư Phật không phân biệt, tự nhiên như vậy mà thị hiện đủ thứ. Vì sao? Vì được tương ưng với pháp Bất cộng.

Văn-thù-sư-lợi! Thế nên Như Lai nơi mười phương thế giới, tất cả thế giới, tất cả trú xứ, nơi mỗi mỗi thế giới, mỗi mỗi Diêm-phù-đề một thời thị hiện, tùy theo chúng sinh nào có thể hóa độ, tự họ sẽ thấy chư Phật Như Lai. Nhưng chư Phật Như Lai không phân biệt, lìa sự phân biệt, tự nhiên như vậy mà thị hiện đủ thứ. Vì sao? Vì được tương ưng với pháp Bất cộng và vì thân Như Lai không có chướng ngại.

Văn-thù-sư-lợi! Đó là nói tóm lược về thân vô biên của chư Phật Như Lai, nếu nói rộng thì tận cùng số kiếp đời vị lai cũng không thể nói hết được.

Văn-thù-sư-lợi! Thế nào gọi là sự thấy biết khắp tất cả của chư Phật Như Lai?

Văn-thù-sư-lợi! Ta sẽ nói ví dụ. Vì sao? Người có trí tuệ dựa vào những ví dụ mà được hiểu nghĩa rõ ràng.

Văn-thù-sư-lợi! Như ao rộng năm trăm do-tuần, hoặc ngàn dotuần, nước ao tràn đầy đến mặt đất, có hoa và lá sen rất lớn phủ kín mặt ao. Có một người ngồi trong xe sắt chạy trên hoa lá sen ấy. Bánh xe sắt có đủ ngàn căm, xe này do ngựa kéo chạy nhanh chóng vô cùng, hơn cả chim đại bàng. Xe sắt đó chạy nhanh chóng như vậy mà không bị nước làm ướt bánh xe và căm xe, cho đến chân ngựa. Bánh xe và chân ngựa không làm hư nát lá và hoa sen. Người trên ao đó chạy xe như vậy, thì ngay lúc ấy, trong ao sinh ra con rắn độc lớn. Lúc ấy, thế nào? Bánh xe và chân ngựa lúc ấy, cùng chuyển động theo ý nghĩ kia. Con rắn lớn bò quanh xe bảy vòng.

Văn-thù-sư-lợi! Lúc ấy, thế nào? Rắn độc lớn bò quanh xe một vòng, cũng với sát-na đó. Tỳ-kheo A-nan thuyết pháp mười lần cho khắp tất cả, và Tôn giả còn chỉ dạy nghĩa lý của pháp ấy nữa. Lúc ấy, thế nào? Tỳ-kheo A-nan thuyết pháp khắp tất cả, cũng với sát-na đó Tỳ-kheo Xá-lợi-phất thuyết pháp ngàn lần khắp tất cả, làm cho chúng sinh được hiểu biết. Những lúc ấy, thế nào? Tỳ-kheo Xá-lợi-phất thuyết pháp khắp tất cả, cũng với sát-na đó, Đại Mục-kiền-liên có thể đi qua tám mươi ngàn thế giới. Lúc ấy, thế nào? Đại Mục-kiền-liên đi qua một thế giới, cùng với sát-na đó chư Phật Như Lai nơi tất cả thế giới, tất cả trú xứ, mỗi mỗi thế giới, mỗi mỗi Diêm-phù-đề, trong một khoảng thời gian, chẳng trước chẳng sau, Như Lai từ Đâu-suất giáng sinh rồi đi xuất gia, thực hành khổ hạnh, ngồi nơi đạo tràng, chinh phục giặc ma, thị hiện chứng thành Chánh giác, chuyển bánh xe pháp, thị hiện Niết-bàn, giữ gìn pháp Phật, thị hiện các pháp hoại diệt. Chư Phật có thể làm cho các gốc sinh ra tất cả sự thành hoại của ngoại đạo, họ cùng thấy một lúc, chứ không có thấy trước hay sau. Vì sao? Vì không bị chướng ngại; không bị chướng ngại vì không sai biệt; không sai biệt vì không chỗ nương tựa.

Văn-thù-sư-lợi! Như chiếc áo vô giá bằng ngọc báu đại lưu ly như ý, được quấn trong thân, dựa vào chiếc áo ấy mà thấy các loại hình tướng, nhưng ngọc báu đại lưu ly như ý không có phân biệt và lìa sự phân biệt mà tự nhiên như vậy. Không có phân biệt và lìa sự phân biệt, tự nhiên như vậy mà thấy các loại hình tướng. Vì sao? Vì được tương ưng pháp Bất cộng.

Văn-thù-sư-lợi! Chư Phật, Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri cũng như vậy, có thể hóa độ chúng sinh nơi mười phương thế giới, tất cả thế giới, tất cả trú xứ cùng một thời gian, không có trước sau. Từng ý nghĩ như vậy, các chúng sinh thấy nhiều hiện tượng khác nhau, nhưng chư Phật Như Lai không phân biệt và lìa sự phân biệt mà tự nhiên như vậy. Như Lai không phân biệt và lìa sự phân biệt, tự nhiên như vậy mà thấy những sự khác nhau. Vì sao? Vì được tương ưng pháp Bất cộng.

Văn-thù-sư-lợi! Ví như mặt trăng hay mặt trời ở cõi Diêm-phùđề có thể hiện rõ ở ngay trong nước sạch đựng ở các vật mà không bị chướng ngại, nhưng mặt trời hay mặt trăng vẫn không di động.

Văn-thù-sư-lợi! Đức Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri cũng vậy, ở nơi mười phương thế giới, tất cả thế giới mà không bị ngăn ngại cũng như vậy. Các Như Lai có thể hóa độ chúng sinh, khiến tâm họ được thanh tịnh và đều được thấy Đức Như Lai mà chư Phật Như Lai vẫn như như bất động ở cõi trời Đâu-suất-đà. Như vậy mười phương tất cả thế giới, tất cả chúng sinh trong tâm phát khởi đều được thấy Phật hiện hữu trước mặt. Vì sao? Vì Như Lai được trí bất thoái.

Văn-thù-sư-lợi! Ví như tất cả chúng sinh trong thế gian, dựa theo những quả báo cao thấp vừa thì các pháp hữu vi cao thấp vừa đều được thành tựu. Nhưng các pháp hữu vi không phân biệt và lìa sự phân biệt mà tự nhiên như vậy. Không phân biệt và lìa sự phân biệt mà tự nhiên như vậy mà nhiều loại sự việc như vậy được thành tựu. Vì sao? Vì được tương ưng pháp Bất cộng.

Văn-thù-sư-lợi! Những chúng sinh đó dựa vào nghiệp quả báo cao, thấp, vừa cho nên thấy chư Phật Như Lai có cao thấp vừa, nhưng chư Phật Như Lai không phân biệt và lìa sự phân biệt mà tự nhiên như vậy. Không phân biệt và lìa sự phân biệt, tự nhiên như vậy mà thấy có cao thấp vừa. Vì sao? Vì được tương ưng pháp Bất cộng.

Văn-thù-sư-lợi! Ví như một trận mưa có màu sắc và mùi vị như nhau rơi xuống Diêm-phù-đề, tùy theo vật chứa nước mưa mà có những loại màu sắc, những mùi vị, những hương thơm khác nhau, nhưng trận mưa lớn không phân biệt và lìa sự phân biệt mà tự nhiên như vậy. Không phân biệt và lìa sự phân biệt mà tự nhiên như vậy có sắc, hương, vị khác nhau. Vì sao? Vì được tương ưng pháp Bất cộng.

Văn-thù-sư-lợi! Chư Phật Như Lai một vị pháp giới, tùy thuộc chúng sinh nào có thể hóa độ mà thấy các pháp có nhiều loại khác nhau, nhưng chư Phật Như Lai không phân biệt và lìa sự phân biệt mà tự nhiên như vậy. Không phân biệt và lìa sự phân biệt mà tự nhiên như vậy thấy các pháp có khác. Vì sao? Vì được tương ưng pháp Bất cộng.

Văn-thù-sư-lợi! Ví như nơi sinh ra ngọc Tự tại như ý bảo vương thì nơi ấy không có sắt sinh, nơi đó không có những loại đồ vật bằng sắt. Vì sao? Vì được tương ưng pháp Bất cộng.

Văn-thù-sư-lợi! Nơi nào phát sinh ánh sáng của chư Phật Như Lai thì nơi ấy không sinh ánh sáng của lửa, ánh sáng của điện, ánh sáng của mặt trời, mặt trăng; không sinh các loại ánh sáng như ý mani bảo vương, không sinh ánh sáng của Thiên, Long, Dạ-xoa, Cànthát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già, vua trời Đế Thích, Đại Phạm thiên vương, Hộ thế tứ vương. Nơi ấy không thi hành sắc lệnh của Thiên tử. Nơi ấy không sinh bốn dòng họ khác nhau. Nơi ấy không sinh tám nạn như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Nơi ấy không sinh mười nghiệp đạo ác. Nơi ấy không sinh các thứ hoan lạc. Nơi ấy không sinh những ngoại đạo khác có đời sống xấu ác như Ni-kiền Tử.

Văn-thù-sư-lợi! Nhưng chư Phật Như Lai không phân biệt và lìa sự phân biệt mà tự nhiên như vậy. Không phân biệt và lìa sự phân biệt mà tự nhiên như vậy không sinh những sự việc. Vì sao? Vì được tương ưng pháp Bất cộng.

Văn-thù-sư-lợi! Đó gọi là nói tóm lược về cảnh giới không thể nghĩ bàn của chư Phật Như Lai. Nếu nói rộng hơn thì tận cùng số kiếp đời vị lai cũng không thể nói hết được.

**********

Đức Phật bảo:

–Văn-thu-sư-lợi! Thế nào là trí tự nhiên của chư Phật Như Lai.

Văn-thù-sư-lợi! Ví như mười phương, mỗi phương đều trải qua năm mươi thế giới vi trần số thế giới, vi trần số biển lớn, vô số trăm ngàn vạn ứ na-do-tha thế giới nhiều như bụi trần, tất cả thế giới, mỗi mỗi thế giới, mỗi mỗi Diêm-phù-đề, nơi khoảng một niệm thì tất cả đều thấy sắc thân Phật cùng một lúc mà chẳng phải thấy trước hay thấy sau chư Phật Như Lai không hề phân biệt và xa lìa sự phân biệt mà tự nhiên như vậy. Như Lai không phân biệt và xa lìa sự phân biệt, tự nhiên như vậy mà cùng một lúc đều thấy khắp tất cả. Vì sao? Vì được tương ưng với pháp Bất cộng.

Văn-thù-sư-lợi! Mỗi phương trong mười phương đều trải qua năm mươi thế giới biển lớn bụi trần số thế giới, nhiều như bụi trần, vô số trăm ngàn vạn ức na-do-tha thế giới nhiều như bụi trần, tất cả thế giới, mỗi mỗi thế giới, mỗi mỗi Diêm-phù-đề, nơi khoảng từng ý nghĩ trí tự nhiên của Phật Như Lai nương theo thiện căn khác nhau, chỗ tu hành khác nhau của chúng sinh, tất cả nhiều loại kỹ thuật khác nhau mà tự nhiên thị hiện, nhưng chư Phật Như Lai không phân biệt và xa lìa sự phân biệt mà tự nhiên như vậy. Như Lai không phân biệt và xa lìa sự phân biệt, tự nhiên như vậy mà hiện các kỹ thuật. Vì sao? Vì được tương ưng với pháp Bất cộng.

Văn-thu-sư-lợi! Nơi mười phương thế giới, tất cả biển thế giới, tất cả trú xứ, thế gian và xuất thế gian, tất cả pháp thành tựu, tất cả những việc đó đều hiện trước mắt chư Phật Như Lai một cách tự nhiên. Vì sao? Vì được tương ưng với pháp Bất cộng.

Văn-thù-sư-lợi! Ví như mặt đất nương tựa vào mặt đất, chứa giữ tất cả các hạt giống, cỏ cây và những rừng cây. Đất có khả năng nuôi

dưỡng cây sinh trưởng, cao thấp, lớn nhỏ đều được thành tựu, nhưng mặt đất đó không có phân biệt, lìa sự phân biệt tự nhiên như vậy. Đất không có phân biệt, lìa sự phân biệt tự nhiên như vậy mà sinh trưởng cao thấp, lớn nhỏ được thành tựu. Vì sao? Vì được tương ưng với pháp Bất cộng.

Văn-thù-sư-lợi! Cũng vậy, dựa vào sự nắm giữ của chư Phật Như Lai nơi cõi biển thế giới nơi mười phương, mà ngoại đạo Ni-kiền Tử với tất cả sự tạo tác và những nghiệp thiện căn của các chúng sinh, hoặc nghiệp thế gian và xuất thế gian, đều được sinh trưởng rộng hẹp, lớn nhỏ và được thành tựu, nhưng chư Phật Như Lai không phân biệt và xa lìa sự phân biệt mà tự nhiên như vậy. Như Lai không phân biệt và xa lìa sự phân biệt, tự nhiên như vậy mà sự rộng hẹp, lớn nhỏ đều được thành tựu. Vì sao? Vì được tương ưng với pháp Bất cộng.

Văn-thù-sư-lợi! Ví như có người đến nơi có cây cỏ thuốc trừ được gai độc thì những gai độc ấy đều rơi rớt ra, nhưng chỗ đến ấy không phân biệt và xa lìa sự phân biệt mà tự nhiên như vậy. Không phân biệt và xa lìa sự phân biệt, tự nhiên như vậy mà những gai độc ấy bị cỏ thuốc đều tự rơi rụng. Vì sao? Vì được tương ưng với pháp Bất cộng.

Văn-thù-sư-lợi! Cũng vậy, tất cả chúng sinh cho đến tiếp xúc trọn vẹn ánh sáng chư Phật Như Lai, hoặc có người kinh qua các gai chướng ngại thì các chúng sinh đó do nơi nhân này mà tất cả chướng ngại gai nhọn tham dục, sân hận, ngu si đều rơi rụng, nhưng chỗ chư Phật Như Lai không phân biệt, lìa sự phân biệt mà tự nhiên như vậy. Không phân biệt, lìa sự phân biệt, tự nhiên như vậy mà gai nhọn tham, sân, si đều rơi rụng. Vì sao? Vì được tương ưng với pháp Bất cộng.

Văn-thù-sư-lợi! Ví như có ngọc như ý bảo vương tùy sự mong cầu của chúng sinh, mà được ban phát nhưng ngọc như ý bảo vương không phân biệt và lìa sự phân biệt mà tự nhiên như vậy, không phân biệt và lìa sự phân biệt, tự nhiên như vậy mà người nào có sự mong cầu thì được ban phát. Vì sao? Vì được tương ưng với pháp Bất cộng.

Văn-thù-sư-lợi! Nếu có người, trời hoặc các Đại Bồ-tát đi đến chỗ chư Phật Như Lai được nghe pháp, suy gẫm ý nghĩ thì những vị trời, người đó, đều được nghe pháp như vậy, nhưng chư Phật Như Lai không phân biệt và xa lìa sự phân biệt mà tự nhiên như vậy. Không phân biệt và xa lìa sự phân biệt, tự nhiên như vậy mà tất cả đều được nghe pháp như thế. Vì sao? Vì được tương ưng với pháp Bất cộng.

Văn-thù-sư-lợi! Đó là nói tóm lược về trí không chướng ngại của chư Phật Như Lai. Nếu nói rộng hơn thì tận cùng số kiếp đời vị lai cũng không thể nói hết được.

Văn-thù-sư-lợi! Thế nào gọi là cảnh giới bất khả tư nghì của chư Phật Như Lai?

Văn-thù-sư-lợi! Nghĩa là chư Phật Như Lai nơi mười phương thế giới, tất cả thế giới, mỗi mỗi thế giới, tất cả bụi trần, mỗi mỗi bụi trần đều nhập vào tất cả biển thế giới, bụi trần thế giới, mỗi mỗi thế giới, mỗi mỗi Diêm-phù-đề cũng vậy.

Văn-thù-sư-lợi! Trải qua năm mươi thế giới vi trần số thế giới, vi trần số biển lớn, vô số trăm ngàn vạn ức na-do-tha biển lớn công đức trang nghiêm nhiều loại khác nhau của chư Phật Như Lai nhiều như bụi trần, diễn thuyết vô số những loại pháp khác nhau, thị hiện trong từng ý nghĩ mà không bị trở ngại, không có sự sai khác, trú trì khắp pháp giới hư không không bờ bến cho đến tạn cùng số kiếp đời vị lai.

Biển lớn trí tuệ công đức trang nghiêm vô số chủng loại khác nhau, diễn thuyết vô số pháp khác nhau, nhiều việc khác nhau như vậy, thị hiện trong từng ý nghĩ mà không trở ngại, không sai khác, nắm giữ khắp pháp giới hư không, không bờ bến cho đến tận cùng số kiếp đời vị lai.

Biển lớn Ba-la-mật vô số chủng loại khác nhau, diễn thuyết vô số pháp khác nhau như vậy, nhiều việc khác nhau như vậy, thị hiện trong từng ý nghĩ mà không trở ngại, không sai khác, trú giữ khắp pháp giới hư không, không bờ bến cho đến tận cùng số kiếp đời vị lai.

Biển lớn trụ địa vô số chủng loại khác nhau, diễn thuyết vô số pháp khác nhau như vậy, nhiều việc khác nhau như vậy, thị hiện trong từng ý nghĩ mà không trở ngại, không sai khác, nắm giữ khắp pháp giới hư không, không bờ bến cho đến tận cùng số kiếp đời vị lai.

Biển lớn Đà-la-ni vô số chủng loại khác nhau, diễn thuyết vô số pháp khác nhau như vậy, nhiều việc khác nhau như vậy, thị hiện trong từng ý nghĩ mà không trở ngại, không sai khác, trú giữ khắp pháp giới hư không, không bờ bến cho đến tận cùng số kiếp đời vị lai.

Biển lớn Tam-muội vô số chủng loại khác nhau, diễn thuyết vô số pháp khác nhau như vậy, nhiều việc khác nhau như vậy, thị hiện trong từng ý nghĩ mà không trở ngại, không sai khác, trú giữ khắp pháp giới hư không, không bờ bến cho đến tận cùng số kiếp đời vị lai.

Biển lớn giải thoát vô số chủng loại khác nhau, diễn thuyết vô số pháp khác nhau như vậy, nhiều việc khác nhau như vậy, thị hiện trong từng ý nghĩ mà không trở ngại, không sai khác, trú trì khắp pháp giới hư không, không bờ bến cho đến tận cùng số kiếp đời vị lai.

Biển lớn nhạo thuyết biện tài vô ngại vô số chủng loại khác nhau, diễn thuyết vô số pháp khác nhau như vậy, nhiều việc khác nhau như vậy, thị hiện trong từng ý nghĩ mà không trở ngại, không sai khác, trú giữ khắp pháp giới hư không, không bờ bến cho đến tận cùng số kiếp đời vị lai.

Biển lớn được an ổn vô số chủng loại khác nhau, diễn thuyết vô số pháp khác nhau như vậy, nhiều việc khác nhau như vậy, thị hiện trong từng ý nghĩ mà không trở ngại, không sai khác, trú giữ khắp pháp giới hư không, không bờ bến cho đến tận cùng số kiếp đời vị lai.

Biển lớn làm cho nhập vào hạnh Bồ-tát vô số chủng loại khác nhau, diễn thuyết vô số pháp khác nhau như vậy, nhiều việc khác nhau như vậy, thị hiện trong từng ý nghĩ mà không trở ngại, không sai khác, trú trì khắp pháp giới hư không, không bờ bến cho đến tận cùng số kiếp đời vị lai.

Biển lớn trụ địa vô số chủng loại khác nhau, diễn thuyết vô số pháp khác nhau như vậy, nhiều việc khác nhau như vậy, thị hiện trong từng ý nghĩ mà không trở ngại, không sai khác, trú giữ khắp pháp giới hư không, không bờ bến cho đến tận cùng số kiếp đời vị lai.

Biển lớn làm cho nhập vào Như Lai vô số chủng loại khác nhau, diễn thuyết vô số pháp khác nhau như vậy, nhiều việc khác nhau như vậy, thị hiện trong từng ý nghĩ mà không trở ngại, không sai khác, trú trì khắp pháp giới hư không, không bờ bến cho đến tận cùng số kiếp đời vị lai.

Biển lớn làm cho nhập vào sự tùy thuận tâm hạnh của chúng sinh vô số chủng loại khác nhau, diễn thuyết vô số pháp khác nhau như vậy, nhiều việc khác nhau như vậy, thị hiện trong từng ý nghĩ mà không trở ngại, không sai khác, trú trì khắp pháp giới hư không, không bờ bến cho đến tận cùng số kiếp đời vị lai.

Biển lớn làm cho nhập kiến vô số chủng loại khác nhau, diễn thuyết vô số pháp khác nhau như vậy, nhiều việc khác nhau như vậy, thị hiện trong từng ý nghĩ mà không trở ngại, không sai khác, trú trì khắp pháp giới hư không, không bờ bến cho đến tận cùng số kiếp đời vị lai.

Biển lớn làm cho nhập vào kiếp, với vô số chủng loại khác nhau, diễn thuyết vô số pháp khác nhau như vậy, nhiều việc khác nhau như vậy, thị hiện trong từng ý nghĩ mà không trở ngại, không sai khác, trú giữ khắp pháp giới hư không, không bờ bến cho đến tận cùng số kiếp đời vị lai.

Văn-thù-sư-lợi! Mười phương thế giới, tất cả thế giới, biển lớn thế giới của quá khứ, vị lai, hiện tại, chư Phật Như Lai nơi tất cả chân lông, mỗi mỗi chân lông, nơi tất cả mọi thời không có thời gian trước hay sau đều thị hiện. Vì sao? Vì chư Phật đã đạt đến đời bất nhị.

Văn-thù-sư-lợi! Đó là nói tóm lược về cảnh giới bất khả tư nghì của chư Phật Như Lai. Nếu muốn nói rộng thì tận cùng số kiếp đời vị lai cũng không thể nói hết được.

Văn-thù-sư-lợi! Thế nào gọi là sự thấy cùng khắp của chư Phật Như Lai?

Văn-thù-sư-lợi! Nghĩa là chư Phật Như Lai trong mười phương thế giới, trong tất cả thế giới thấy các chúng sinh hoặc sinh hoặc diệt, hoặc vào đường lành, hoặc vào đường ác. Như thế, chư Phật Như Lai thấy khắp mỗi mỗi tướng trên đỉnh Như Lai, thấy tướng hào quang trắng của Như Lai, thấy tất cả tướng của Như Lai như vậy; thấy khắp mỗi mỗi tất cả những tướng tốt đẹp của Như Lai như vậy thấy khắp mỗi mỗi tất cả lỗ chân lông Như Lai như vậy, thấy cùng một lúc chứ không thấy trước hay sau. Thấy các chúng sinh nơi tất cả thế giới, hoặc sinh hay diệt, hoặc vào đường lành hay đường dữ.

Văn-thù-sư-lợi! Đó là nói lược về sự thấy cùng khắp của chư Phật Như Lai. Nếu nói rộng hơn thì tận cùng số kiếp đời vị lai cũng không thể nói hết được.

Văn-thù-sư-lợi! Thế nào gọi là danh xưng của chư Phật Như Lai?

Văn-thù-sư-lợi! Nghĩa là chư Phật Như Lai trong mười phương thế giới, tất cả thế giới, mỗi mỗi thế giới, mỗi mỗi Diêm-phù-đề, mỗi mỗi bụi trần, tất cả thế giới bụi trần, nhập vào biển tất cả thế giới. Mỗi mỗi thế giới, mỗi mỗi Diêm-phù-đề như vậy, nơi từng ý nghĩ, chúng sinh số nhiều như bụi trần trong tất cả thế giới. Như Lai thị hiện một cách nhanh chóng không bị chướng ngại, không sai khác khắp pháp giới hư không, không bờ bến, có thể giáo hóa chúng sinh, và nắm giữ cho đến tận cùng số kiếp đời vị lai. Vì sao? Vì được tương ưng pháp Bất cộng.

Ở các cõi Phật nhanh chóng như vậy, với thân nhanh chóng như vậy, với nguyện nhanh chóng như vậy, với cảnh giới nhanh chóng như vậy, với trí tuệ nhanh chóng như vậy, với thần thông nhanh chóng như vậy, với lực nhanh chóng như vậy, tất cả những sự thể nhanh chóng như vậy, trong khoảng một niệm đều thị hiện nhanh chóng nơi tất cả thế giới nhiều như bụi trần mà không có chướng ngại, không có sai khác, khắp pháp giới hư không, không có bờ bến, có thể giáo hóa chúng sinh và trú giữ cho đến kiếp số đời vị lai. Vì sao? Vì được tương ưng pháp Bất cộng.

Văn-thù-sư-lợi! Đó là nói tóm lược về danh xưng của chư Phật Như Lai. Nếu nói rộng hơn thì tận cùng số kiếp đời vị lai cũng không thể nói hết được.

Văn-thù-sư-lợi! Thế nào gọi là không chỗ nương tựa và không sai biệt chư Phật Như Lai?

Văn-thù-sư-lợi! Nghĩa là chư Phật Như Lai không sai biệt với thế giới này, mà còn không sai biệt với thế giới khác nữa.

Văn-thù-sư-lợi! Chư Phật Như Lai không chỗ nương tựa thế giới này, mà còn không chỗ nương tựa thế giới khác.

Văn-thù-sư-lợi! Chư Phật Như Lai không sai biệt nơi Diêm-phùđề này, mà còn không sai biệt nơi Diêm-phù-đề khác.

Văn-thù-sư-lợi! Chư Phật Như Lai không chỗ nương tựa Diêmphù-đề này và cũng không chỗ nương tựa Diêm-phù-đề khác.

Văn-thù-sư-lợi! Chư Phật Như Lai không sai biệt nơi đường súc sinh này, mà còn không sai biệt nơi đường súc sinh khác.

Văn-thù-sư-lợi! Chư Phật Như Lai không sai biệt nơi đường ngạ quỷ này, mà còn không sai biệt nơi đường ngạ quỷ khác.

Văn-thù-sư-lợi! Chư Phật Như Lai không chỗ nương tựa nơi đường súc sinh này, mà cũng không chỗ nương tựa nơi đường súc sinh khác.

Văn-thù-sư-lợi! Chư Phật Như Lai không sai biệt nơi cõi Dục, để chỗ nương tựa nơi cõi Sắc.

Văn-thù-sư-lợi! Đó là nói tóm lược về sự không chỗ nương tựa, không sai biệt của chư Phật Như Lai. Nếu nói rộng hơn thì tận cùng số kiếp đời vị lai cũng không thể nói hết được.

Văn-thù-sư-lợi! Thế nào gọi là thân Như Lai không có chướng ngại?

Văn-thù-sư-lợi! Nghĩa là chư Phật Như Lai nơi mười phương thế giới, tất cả thế giới, cõi nước biển lớn, tất cả trú xứ, vô biên các chúng sinh trong ba đời, tùy theo tâm của họ, tùy theo chúng sinh nào đáng được hóa độ, thì trong khoảng từng ý nghĩ, nơi đỉnh tướng của chư Phật Như Lai thị hiện pháp tướng sinh diệt. Chúng sinh nào đáng được thấy, nghe thì chư Phật làm cho họ được thấy, nghe và hiểu. Hư không bao la còn có thể thấy được, nhưng họ không bao giờ có thể thấy được đỉnh tướng của Như Lai. Như thế, Như Lai nơi mười phương thế giới, tất cả thế giới, cõi nước biển lớn, tất cả trú xứ, vô biên tất cả chúng sinh trong ba đời, tùy theo tâm của họ, tùy theo chúng sinh nào đáng được hóa độ thì trong khoảng ý nghĩ, tất cả tướng tốt của Như Lai, mỗi mỗi tướng tốt, tất cả lỗ chân lông, mỗi mỗi lỗ chân lông đều được thị hiện pháp tướng sinh diệt. Nếu chúng sinh nào đáng được thấy, nghe thì Như Lai làm cho dị được thấy nghe và hiểu. Hư không bao la còn có thể thấy, nhưng tướng một lỗ chân lông của chư Phật Như Lai thì không bao giờ thấy được. Có những vị Bồ-tát hay trời, người nào, tùy tâm chúng sinh, tùy theo chúng sinh nào có thể hóa độ được, nên nương vào pháp tướng sinh diệt ấy mà thuyết pháp cho họ. Nếu họ đã có niềm tin thì hãy làm cho họ thâm nhập trong pháp ấy.

Văn-thù-sư-lợi! Nếu có vị Bồ-tát hay trời, người nào thấy đỉnh tướng Như Lai mà phát vô lượng biển lớn công đức trang nghiêm để nói những pháp khác nhau; biết pháp như vậy rồi, những vị ấy giảng nói cho chúng sinh, làm cho họ được nghe và tin hiểu, thâm nhập trong pháp.

Hoặc có chúng sinh biết vô số lời pháp khác nhau về biển lớn trí công đức trang nghiêm; có chúng sinh nghe vô số âm thanh lời pháp thù thắng về biển lớn Ba-la-mật; có chúng sinh nghe vô số âm thanh lời pháp thù thắng về biển lớn trụ địa; có chúng sinh nghe vô số âm thanh lời pháp thù thắng về biển lớn Đà-la-ni; có chúng sinh nghe vô số âm thanh lời pháp thù thắng về biển lớn Tam-muội; có chúng sinh nghe vô số âm thanh lời pháp thù thắng về biển lớn giải thoát; có chúng sinh nghe vô số âm thanh lời pháp thù thắng về biển lớn nhạo thuyết biện tài; có chúng sinh nghe vô số âm thanh lời pháp thù thắng về biển lớn thần thông; có chúng sinh nghe vô số âm thanh lời pháp thù thắng về biển lớn phát cần tinh tấn; có chúng sinh nghe vô số âm thanh lời pháp thù thắng về biển lớn đắc an ổn; có chúng sinh nghe vô số âm thanh lời pháp thù thắng về biển lớn làm cho nhập vào hạnh Bồ-tát; có chúng sinh nghe vô số âm thanh lời pháp thù thắng về biển lớn làm cho nhập vào Như Lai; có chúng sinh nghe vô số âm thanh lời pháp thù thắng về biển lớn làm cho nhập vào hạnh tùy thuận tâm chúng sinh; có chúng sinh nghe vô số âm thanh lời pháp thù thắng về biển lớn làm cho nhập vào thế giới; có chúng sinh nghe vô số âm thanh lời pháp thù thắng về biển lớn làm cho nhập vào kiếp; có chúng sinh nghe vô số âm thanh lời pháp thù thắng về biển lớn làm cho nhập vào ba đời; có chúng sinh nghe vô số âm thanh lời pháp thù thắng về biển lớn làm cho nhập vào thuyết ba đời; có chúng sinh nghe vô số âm thanh lời pháp thù thắng về biển lớn làm cho nhập vào tâm không mỏi mệt; hoặc Bồ-tát hay trời, người thấy nơi đỉnh tướng của Phật phát ra vô số biển lớn trí không sai khác và lời pháp khác nhau.

Trong khoảng từng ý nghĩ nơi tất cả tướng tốt, mỗi mỗi tướng tốt, tất cả lỗ chân lông, mỗi mỗi lỗ chân lông như vậy, nơi mười phương thế giới, tất cả thế giới, mỗi mỗi thế giới như vậy, tùy tâm chúng, tùy theo chúng sinh có thể hóa độ, thì Bồ-tát và trời, người thấy tướng một lỗ chân lông của chư Phật Như Lai phát ra vô số biển pháp khác nhau và lời pháp khác nhau. Biết pháp như vậy rồi, các vị ấy giảng nói cho chúng sinh, làm cho chúng sinh được nghe và tin hiểu, thâm nhập trong pháp.

Văn-thù-sư-lợi! Đó là nói tóm lược về thân không chướng ngại của chư Phật Như Lai. Nếu nói rộng hơn thì tận cùng số kiếp đời vị lai cũng không thể nói hết được.

Văn-thù-sư-lợi! Thế nào gọi là đỉnh tướng không thể thấy của chư Phật Như Lai?

Văn-thù-sư-lợi! Nghĩa là chư Phật Như Lai trải qua năm mươi thế giới, vi trần số thế giới, vi trần số biển lớn, vô số trăm ngàn vạn ức na-do-tha vi trần số chư Phật Như Lai, Đại Bồ-tát, và biển lớn đại chúng.

Văn-thù-sư-lợi! Trải qua năm mươi thế giới, vi trần số thế giới, vi trần số biển lớn như vậy, vô số trăm ngàn vạn ức na-do-tha vi trần số chư Phật Như Lai, Đại Bồ-tát, và biển lớn đại chúng.

Văn-thù-sư-lợi! Hoặc có Bồ-tát thấy thân Như Lai cao một trăm do-tuần; có Bồ-tát thấy thân Như Lai cao một ngàn do-tuần; có Bồ-tát thấy thân Như Lai cao mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi ngàn dotuần; có Bồ-tát ở ngay trong đại chúng thấy thân Như Lai cao ngàn dotuần; có Bồ-tát thấy thân Như Lai cao mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi ngàn do-tuần. Như vậy, hoặc có Bồ-tát ở ngay trong đại chúng thấy thân Như Lai cao ngàn do-tuần; có Bồ-tát thấy thân Như Lai cao mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi ngàn do-tuần; có Bồ-tát thấy thân Như Lai cao ức do-tuần; có Bồ-tát thấy thân Như Lai cao mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi ức do-tuần. Như vậy, có Bồ-tát thấy thân Như Lai cao ngàn ức do-tuần; có Bồ-tát thấy thân Như Lai cao mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi ức do-tuần; có Bồ-tát thấy thân Như Lai cao vạn ức do-tuần; có Bồ-tát thấy thân Như Lai cao mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi ngàn ức do-tuần. Nơi mười phương thế giới, tất cả thế giới biển lớn, tất cả Diêm-phù-đề cùng một lúc đều thấy Như Lai chứ không thấy trước hoặc sau.

Văn-thù-sư-lợi! Ví như có vị Đại Bồ-tát trụ Tam-muội giải thoát bất tư nghì, nơi khoảng từng ý nghĩ, thế giới nhiều như bụi trần trong năm mươi thế giới dùng làm một bước, đi đến thế giới phương Đông, vị ấy bước từng bước. Trải qua năm mươi thế giới, vi trần số thế giới, vi trần số biển lớn, vị ấy đi về phương Đông vì muốn quán sát đỉnh tướng của Như Lai. Cứ như vậy mà đi, vị ấy trải qua năm mươi thế giới biển lớn số kiếp nhiều như bụi trần và đi đến chỗ ấy để quán sát đỉnh tướng Như Lai thì cao thành hai lần. Vì sao? Vì Như Lai tương ưng với pháp Bất cộng.

Văn-thù-sư-lợi! Đó là nói tóm lược đỉnh tướng Như Lai không thể quán sát. Nếu nói rộng hơn thì tận cùng số kiếp đời vị lai cũng không thể nói hết được.

Văn-thù-sư-lợi! Thế nào gọi chư Phật Như Lai nắm giữ hạnh Bồtát giáo hóa chúng sinh?

Văn-thù-sư-lợi! Nghĩa là chư Phật Như Lai nơi mười phương thế giới, số thế giới nhiều như bụi trần vẫn còn là ít. Chư Phật Như Lai vượt hơn số này nơi tất cả thế giới, mỗi mỗi thế giới, mỗi mỗi bụi trần mà giáo hóa hành sự.

Văn-thù-sư-lợi! Nghĩa là tùy theo thân Như Lai là bao nhiêu thì nói về hạnh Bồ-tát là bấy nhiêu, vậy mà không thấy đỉnh tướng Như Lai. Tất cả các tướng trong mỗi mỗi tướng, tất cả các vẻ đẹp trong mỗi mỗi vẻ đẹp, tất cả chân lông trong mỗi mỗi chân lông trong khoảng một niệm Như Lai thường phát ra vô số biển lớn ánh sáng trong tất cả thế giới số nhiều như bụi trần; hoặc thường phát ra vô số biển lớn ánh sáng trí công đức trang nghiêm; hoặc thường phát ra vô số biển lớn ánh sáng Ba-la-mật; hoặc thường phát ra vô số biển lớn ánh sáng trụ địa; hoặc thường phát ra vô số biển lớn ánh sáng Đà-la-ni; hoặc thường phát ra vô số biển lớn ánh sáng giải thoát; hoặc thường phát ra vô số biển lớn ánh sáng vô ngại nhạo thuyết biện tài; hoặc thường phát ra vô số biển lớn ánh sáng đại nguyện; hoặc thường phát ra vô số biển lớn ánh sáng đắc an ổn; hoặc thường phát ra vô số biển lớn ánh sáng khiến thể nhập hạnh Bồ-tát; hoặc thường phát ra vô số biển lớn ánh sáng khiến Như Lai; hoặc thường phát ra vô số biển lớn ánh sáng khiến nhập vào sự tùy thuận tâm hạnh chúng sinh; hoặc thường phát ra vô số biển lớn ánh sáng khiến nhập vào thế giới; hoặc thường phát ra vô số biển lớn ánh sáng khiến nhập vào kiếp; hoặc thường phát ra vô số biển lớn ánh sáng khiến nhập vào thuyết ba đời; hoặc thường phát ra vô số biển lớn ánh sáng khiến nhập vào tâm không mỏi mệt.

Văn-thù-sư-lợi! Như vậy, Như Lai thờng phát ra vô số biển lớn ánh sáng, biển lớn trí không sai biệt, không chướng ngại, không sai biệt, khắp pháp giới hư không không có bờ bến, nắm giữ trong vô số kiếp mà giáo hóa chúng sinh, không có sợ hãi.

Văn-thù-sư-lợi! Chư Phật Như Lai với những sự không thể nghĩ bàn như vậy, nơi mười phương thế giới, tất cả biển lớn thế giới, một khi nghĩ đến biển lớn chúng sinh là đồng thời giáo hóa. Hoặc có biển chúng sinh, chư Phật dùng vô số biển lớn công đức trang nghiêm khác nhau và thuyết trí khác nhau để giáo hóa họ. Hoặc có biển chúng sinh, chư Phật dùng vô số biển lớn trí công đức trang nghiêm khác nhau và thuyết trí khác nhau để giáo hóa họ. Hoặc có biển chúng sinh, chư Phật dùng vô số biển lớn Ba-la-mật khác nhau và thuyết trí khác nhau để giáo hóa họ. Hoặc có biển chúng sinh, chư Phật dùng vô số biển lớn Tam-muội khác nhau và thuyết trí khác nhau để giáo hóa họ. Hoặc có biển chúng sinh, chư Phật dùng vô số biển lớn giải thoát khác nhau và thuyết trí khác nhau để giáo hóa họ. Hoặc có biển chúng sinh, chư Phật dùng vô số biển lớn nhạo thuyết biện tài vô ngại khác nhau và thuyết trí khác nhau để giáo hóa họ. Hoặc có biển chúng sinh, chư Phật dùng vô số biển lớn thần thông khác nhau và thuyết trí khác nhau để giáo hóa họ. Hoặc có biển chúng sinh, chư Phật dùng vô số biển lớn đại nguyện khác nhau và thuyết trí khác nhau để giáo hóa họ. Hoặc có biển chúng sinh, chư Phật dùng vô số biển lớn phát cần tinh tấn khác nhau và thuyết trí khác nhau để giáo hóa họ. Hoặc có biển chúng sinh, chư Phật dùng vô số biển lớn đắc an ổn khác nhau và thuyết trí khác nhau để giáo hóa họ. Hoặc có biển chúng sinh, chư Phật dùng vô số biển lớn làm cho nhập vào hạnh Bồ-tát khác nhau và thuyết trí khác nhau để giáo hóa họ. Hoặc có biển chúng sinh, chư Phật dùng vô số biển lớn làm cho nhập vào Như Lai khác nhau và thuyết trí khác nhau để giáo hóa họ. Hoặc có biển chúng sinh, chư Phật dùng vô số biển lớn làm cho nhập vào tùy thuận tâm hạnh chúng sinh khác nhau và thuyết trí khác nhau để giáo hóa họ. Hoặc có biển chúng sinh, chư Phật dùng vô số biển lớn làm cho nhập vào thế giới khác nhau và thuyết trí khác nhau để giáo hóa họ. Hoặc có biển chúng sinh, chư Phật dùng vô số biển lớn làm cho nhập vào kiếp khác nhau và thuyết trí khác nhau để giáo hóa họ.

Như vậy, hoặc có biển chúng sinh, chư Phật kàm cho họ nhập vào ba đời. Hoặc có biển chúng sinh, chư Phật làm cho họ nhập vào thuyết ba đời. Hoặc có biển chúng sinh, chư Phật làm cho họ nhập vào tâm không mỏi mệt. Hoặc có biển chúng sinh, chư Phật làm cho họ nhập vào trí không sai biệt. Hoặc có biển chúng sinh, chư Phật làm cho họ nhập vào trí nhanh chóng. Hoặc có biển chúng sinh, chư Phật làm cho họ nhập vào cõi nước trí nhanh chóng. Hoặc có biển chúng sinh, chư Phật làm cho họ nhập vào pháp trí nhanh chóng. Hoặc có biển chúng sinh, chư Phật làm cho họ nhập vào thân trí nhanh chóng. Hoặc có biển chúng sinh, chư Phật làm cho họ nhập vào nguyện trí nhanh chóng. Hoặc có biển chúng sinh, chư Phật làm cho họ nhập vào cảnh giới trí nhanh chóng. Hoặc có biển chúng sinh, chư Phật làm cho họ nhập vào trí nhanh chóng. Hoặc có biển chúng sinh, chư Phật làm cho họ nhập vào thần thông trí nhanh chóng. Hoặc có biển chúng sinh, chư Phật làm cho họ nhập vào trí lực nhanh chóng.

Như vậy, chư Phật luôn nhớ nghĩ đến biển lớn chúng sinh, tất cả số bụi trần, tất cả bao nhiêu trí số nhiều như bụi trần đều dùng vô số thuyết trí khác nhau để hóa độ họ.

Văn-thù-sư-lợi! Đó là nói tóm lược sự giáo hóa chúng sinh không sợ hãi của chư Phật Như Lai. Nếu nói rộng hơn thì tận cùng số kiếp đời vị lai cũng không thể nói hết được

Văn-thù-sư-lợi! Có người thiện nam, thiện nữ nào đối với các chúng sinh số nhiều như bụi trần nơi tất cả thế giới, hàng ngày đem nước cam lộ trời và những thực phẩm thơm ngon, cho đến y phục trời và đồ nằm, thuốc thang cung cấp cúng dường cho họ; Như vậy, cho đến trải qua đến vô lượng hằng hà sa số thế giới biển kiếp số nhiều như bụi trần mà cung cấp cúng dường.

Văn-thù-sư-lợi! Lại có người thiện nam, thiện nữ nào đối với một Ưu-bà-tắc hoàn toàn tin Tam bảo, giữ gìn mười thiện nghiệp đạo mà giúp đỡ cho người ấy với ý nghĩ thế này: Người này học Phật và các giới hạnh, cho đến một ngày cúng dường người ấy một bữa ăn, Văn-thù-sư-lợi! Phước người này hơn người trước vô lượng, vô số lần.

Văn-thù-sư-lợi! Có người thiện nam, thiện nữ nào đối với tất cả thế giới số nhiều như bụi trần nhưng Ưu-bà-tắc hoàn toàn tin Tam bảo, gữ gìn mười thiện nghiệp đạo, hàng ngày đem nước cam lộ trời và những thực phẩm thơm ngon, cho đến y phục trời và đồ nằm, thuốc thang cung cấp cúng dường. Như vậy, cho đến vô lượng hằng hà sa số thế giới biển kiếp số nhiều như bụi trần mà cung cấp cúng dường cho họ.

Văn-thù-sư-lợi! Có người thiện nam, thiện nữ nào đối với một Tỳ-kheo vị ấy cho đến một ngày cúng dường một bữa ăn, Văn-thù-sưlợi! Phước người này hơn người trước vô lượng, vô số lần.

Văn-thù-sư-lợi! Có người thiện nam, thiện nữ nào đối tất cả thế giới Tỳ-kheo số nhiều như bụi trần, hàng ngày đem nước cam lộ trời và những thực phẩm thơm ngon, cho đến y phục trời và đồ nằm, thuốc thang dâng cúng dường. Như vậy, cho đến vô lượng hằng hà sa số thế giới, biển kiếp số nhiều như bụi trần mà cúng dường những vị Tỳkheo.

Văn-thù-sư-lợi! Hoặc có người thiện nam, thiện nữ nào đối với một tùy tín hạnh mà hộ trì ho cho đến một ngày cúng dường một bữa ăn, Văn-thù-sư-lợi! Phước người này hơn người trước vô lượng, vô số lần.

Văn-thù-sư-lợi! Có người thiện nam, thiện nữ nào đối những người Tùy Tín Hạnh nơi tất cả thế giới số nhiều như bụi trần, hàng ngày đem nước cam lộ trời và những thực phẩm thơm ngon, cho đến y phục trời và đồ nằm, thuốc thang dâng hiến cúng dường. Như vậy, cho đến vô lượng hằng hà sa số thế giới, biển kiếp số nhiều như bụi trần mà cúng dường tùy pháp hạnh này.

Văn-thù-sư-lợi! Có người thiện nam, thiện nữ nào đối với một trong tám hạng người trên mà hộ trì ho cho đến một ngày cúng dường một bữa ăn, Văn-thù-sư-lợi! Phước người này hơn người trước vô lượng, vô số lần.

Văn-thù-sư-lợi! Có người thiện nam, thiện nữ nào đối một trong tám hạng người nơi tất cả thế giới số nhiều như bụi trần, hàng ngày đem nước cam lộ trời và những thực phẩm thơm ngon, cho đến y phục trời và đồ nằm, thuốc thang dâng hiến cúng dường. Như vậy, cho đến vô lượng hằng hà sa số thế giới, biển kiếp số nhiều như bụi trần mà cúng dường những người đó.

Văn-thù-sư-lợi! Có người thiện nam, thiện nữ nào đối với một vị Tu-đà-hoàn hướng mà hộ trì họ, cho đến một ngày cúng dường một bữa ăn, Văn-thù-sư-lợi! Phước người này hơn người trước vô lượng, vô số lần.

Văn-thù-sư-lợi! Nếu lại có người thiện nam, thiện nữ nào đối với một người trong tám hạng người trong tất cả thế giới như vi trần, mà hộ trì họ, cho đến mỗi ngày cúng dường họ một bữa ăn, Văn-thù-sưlợi! Phước người này hơn người trước vô lượng, vô số lần.

Văn-thù-sư-lợi! Nếu có người thiện nam, thiện nữ nào đối với một vị Tu-đà-hoàn hướng mà hộ trì họ, cho đến mỗi ngày cúng dường một bữa ăn, Văn-thù-sư-lợi! Phước người này hơn người trước vô lượng, vô số lần.

Văn-thù-sư-lợi! Có người thiện nam, thiện nữ nào đối với các vị Tu-đà-hoàn hướng trong tất cả thế giới số nhiều như bụi trần, hàng ngày đem nước cam lộ trời và những thực phẩm thơm ngon, cho đến y phục trời và đồ nằm, thuốc thang dâng hiến cúng dường. Như vậy, cho đến vô lượng hằng hà sa số thế giới, biển kiếp số nhiều như bụi trần mà vẫn cúng dường vị Tu-đà-hoàn hướng.

Văn-thù-sư-lợi! Có người thiện nam, thiện nữ nào đối với một vị Tu-đà-hoàn mà hộ trì họ cho đến một ngày cúng dường một bữa ăn, phước người này hơn người trước vô lượng, vô số lần.

Văn-thù-sư-lợi! Có người thiện nam, thiện nữ nào đối với các vị Tu-đà-hoàn trong tất cả thế giới số nhiều như bụi trần, hàng ngày đem nước cam lộ trời và những thực phẩm thơm ngon, cho đến y phục trời và đồ nằm, thuốc thang dâng hiến cúng dường. Như vậy, cho đến vô lượng hằng hà sa số thế giới, biển kiếp số nhiều như bụi trần mà cúng dường vị Tu-đà-hoàn này.

Văn-thù-sư-lợi! Có người thiện nam, thiện nữ nào đối với một vị Tư-đà-hàm hướng mà hộ trì họ cho đến một ngày cúng dường một bữa ăn, phước người này hơn người trước vô lượng, vô số lần.

Văn-thù-sư-lợi! Có người thiện nam, thiện nữ nào đối với các vị

Tư-đà-hàm hướng trong tất cả thế giới số nhiều như bụi trần, hàng ngày đem nước cam lộ trời và những thực phẩm thơm ngon, cho đến y phục trời và đồ nằm, thuốc thang dâng hiến cúng dường. Như vậy, cho đến vô lượng hằng hà sa số thế giới, biển kiếp số nhiều như bụi trần mà cúng dường vị Tư-đà-hàm hướng này.

Văn-thù-sư-lợi! Có người thiện nam, thiện nữ nào đối với một vị Tư-đà-hàm mà hộ trì họ cho đến một ngày cúng dường một bữa ăn, Văn-thù-sư-lợi! Phước người này hơn người trước vô lượng, vô số lần.

Văn-thù-sư-lợi! Có người thiện nam, thiện nữ nào đối với các vị Tư-đà-hàm trong tất cả thế giới số nhiều như bụi trần, hàng ngày đem nước cam lộ trời và những thực phẩm thơm ngon, cho đến y phục trời và đồ nằm, thuốc thang dâng hiến cúng dường. Như vậy, cho đến vô lượng hằng hà sa số thế giới, biển kiếp số nhiều như bụi trần mà cúng dường vị Tư-đà-hàm này.

Văn-thù-sư-lợi! Có người thiện nam, thiện nữ nào đối với một vị A-na-hàm hướng mà hộ trì họ cho đến một ngày cúng dường một bữa ăn thì Văn-thù-sư-lợi! Phước người này hơn người trước vô lượng, vô số lần.

Văn-thù-sư-lợi! Có người thiện nam, thiện nữ nào đối với các vị A-na-hàm hướng trong tất cả thế giới số nhiều như bụi trần, hàng ngày đem nước cam lộ trời và những thực phẩm thơm ngon, cho đến y phục trời và đồ nằm, thuốc thang dâng hiến cúng dường. Như vậy, cho đến vô lượng hằng hà sa số thế giới, biển kiếp số nhiều như bụi trần mà cúng dường vị A-na-hàm hướng này.

Văn-thù-sư-lợi! Có người thiện nam, thiện nữ nào đối với một vị A-na-hàm mà hộ trì họ cho đến một ngày cúng dường một bữa ăn thì phước người này hơn người trước vô lượng, vô số lần.

Văn-thù-sư-lợi! Có người thiện nam, thiện nữ nào đối với các vị A-na-hàm trong tất cả thế giới số nhiều như bụi trần, hàng ngày đem nước cam lộ trời và những thực phẩm thơm ngon, cho đến y phục trời và đồ nằm, thuốc thang dâng hiến cúng dường. Như vậy, cho đến vô lượng hằng hà sa số thế giới, biển kiếp số nhiều như bụi trần mà cúng dường vị A-na-hàm này.

Văn-thù-sư-lợi! Có người thiện nam, thiện nữ nào đối với một vị A-la-hán hướng mà hộ trì họ cho đến một ngày cúng dường một bữa ăn thì Văn-thù-sư-lợi! Phước người này hơn người trước vô lượng, vô số lần.

Văn-thù-sư-lợi! Có người thiện nam, thiện nữ nào đối với các vị A-la-hán trong tất cả thế giới số nhiều như bụi trần, hàng ngày đem nước cam lộ trời và những thực phẩm thơm ngon, cho đến y phục trời và đồ nằm, thuốc thang dâng hiến cúng dường. Như vậy, cho đến vô lượng hằng hà sa số thế giới, biển kiếp số nhiều như bụi trần mà cúng dường vị A-la-hán này.

Văn-thù-sư-lợi! Có người thiện nam, thiện nữ nào đối với một vị Bích-chi-phật mà hộ trì họ cho đến một ngày cúng dường một bữa ăn thì Văn-thù-sư-lợi! Phước người này hơn người trước vô lượng, vô số lần.

Văn-thù-sư-lợi! Có người thiện nam, thiện nữ nào đối với các vị Bích-chi-phật trong tất cả thế giới số nhiều như bụi trần, hàng ngày đem nước cam lộ trời và những thực phẩm thơm ngon, cho đến y phục trời và đồ nằm, thuốc thang dâng hiến cúng dường. Như vậy, cho đến vô lượng hằng hà sa số thế giới, biển kiếp số nhiều như bụi trần mà cúng dường vị Bích-chi-phật.

Văn-thù-sư-lợi! Có người thiện nam, thiện nữ nào thấy một bức họa tượng Phật trên vách, hay trong hộp đựng kinh thì Văn-thù-sư-lợi! Phước người này hơn người trước vô lượng, vô số.

Huống chi chắp tay hoặc đem một cành hoa dâng cúng tượng Phật, hoặc dùng một nén hương bột, hương xoa hay đốt một ngọn đèn thì Văn-thù-sư-lợi! Phước người này hơn người trước vô lượng, vô số.

Văn-thù-sư-lợi! Có người thiện nam, thiện nữ nào đối với chư Phật Như Lai và Thanh văn Tăng nơi tất cả thế giới số nhiều như bụi trần, hàng ngày đem nước cam lộ trời và những thực phẩm thơm ngon, cho đến y phục trời và đồ nằm, thuốc thang dâng hiến cúng dường. Như vậy, cho đến vô lượng, vô biên hằng hà sa số thế giới, biển kiếp số nhiều như bụi trần mà cúng dường các vị.

Văn-thù-sư-lợi! Có người thiện nam, thiện nữ nào đối với người đi xe dê, hành Bồ-tát đạo được trực tâm, tùy theo một căn lành có thể nuôi dưỡng hạt giống Phật mà hộ trì Bồ-tát ấy cho đến mỗi một ngày dùng thực phẩm thô để cúng dường vị ấy một bữa ăn, thì Văn-thù-sưlợi! Phước người này hơn người trước vô lượng, vô số lần.

Văn-thù-sư-lợi! Có người thiện nam, thiện nữ nào đối với người hành Bồ-tát đạo đi xe dê nơi tất cả thế giới số nhiều như bụi trần, hàng ngày đem nước cam lộ trời và những thực phẩm thơm ngon, cho đến y phục trời và đồ nằm, thuốc thang dâng hiến cúng dường. Như vậy, cho đến vô lượng, vô biên hằng hà sa số thế giới, biển kiếp số nhiều như bụi trần mà cúng dường các vị đó.

Văn-thù-sư-lợi! Nếu người thiện nam, thiện nữ nào đối với người hành Bồ-tát đạo đi xe voi, tùy theo một căn lành có thể nuôi dưỡng hạt giống Phật mà hộ trì vị ấy, cho đến mỗi ngày cúng dường vị ấy một bữa ăn thì Văn-thù-sư-lợi! Phước người này hơn người trước vô lượng, vô số lần.

Văn-thù-sư-lợi! Hoặc có người thiện nam, thiện nữ nào đối với người hành Bồ-tát đạo đi xe voi nơi tất cả thế giới số nhiều như bụi trần, hàng ngày đem nước cam lộ trời và những thực phẩm thơm ngon, cho đến y phục trời và đồ nằm, thuốc thang dâng hiến cúng dường. Như vậy, cho đến vô lượng, vô biên hằng hà sa số thế giới, biển kiếp số nhiều như bụi trần mà cúng dường các vị đó.

Văn-thù-sư-lợi! Có người thiện nam, thiện nữ nào đối với người hành Bồ-tát đạo đi xe nhật nguyệt, nuôi dướng căn lành có thể nuôi dưỡng hạt giống Phật mà hộ trì vị ấy, cho đến mỗi ngày cúng dường một bữa ăn thì Văn-thù-sư-lợi! Phước người này hơn người trước vô lượng, vô số lần.

Văn-thù-sư-lợi! Có người thiện nam, thiện nữ nào đối với người hành Bồ-tát đạo đi xe nhật nguyệt nơi tất cả thế giới số nhiều như bụi trần, hàng ngày đem nước cam lộ trời và những thực phẩm thơm ngon, cho đến y phục trời và đồ nằm, thuốc thang dâng hiến cúng dường. Như vậy, cho đến vô lượng, vô biên hằng hà sa số thế giới, biển kiếp số nhiều như bụi trần mà cúng dường các vị đó.

Văn-thù-sư-lợi! Có người thiện nam, thiện nữ nào đối với người hành Bồ-tát đạo thần thông Thanh văn thừa mà hộ họ, cho đến mỗi ngày cúng dường một bữa ăn thì Văn-thù-sư-lợi! Phước người này hơn người trước vô lượng, vô số lần.

Văn-thù-sư-lợi! Có người thiện nam, thiện nữ nào đối với người

hành Bồ-tát đạo Thanh văn thừa nơi tất cả thế giới số nhiều như bụi trần, hàng ngày đem nước cam lộ trời và những thực phẩm thơm ngon, cho đến y phục trời và đồ nằm, thuốc thang dâng hiến cúng dường. Như vậy, cho đến vô lượng, vô biên hằng hà sa số thế giới, biển kiếp số nhiều như bụi trần mà cúng dường các vị đó.

Văn-thù-sư-lợi! Có người thiện nam, thiện nữ nào đối với người hành Bồ-tát đạo bằng thần thông Thanh của Như Lai mà hộ họ, cho đến mỗi ngày cúng dường một bữa ăn thì Văn-thù-sư-lợi! Phước người này hơn người trước vô lượng, vô số lần.

Văn-thù-sư-lợi! Có người thiện nam, thiện nữ nào đối với người hành Bồ-tát đạo bằng thần thông của Như Lai ở nơi tất cả thế giới số nhiều như bụi trần, hàng ngày đem nước cam lộ trời và những thực phẩm thơm ngon, cho đến y phục trời và đồ nằm, thuốc thang dâng hiến cúng dường. Như vậy, cho đến vô lượng, vô biên hằng hà sa số thế giới, biển kiếp số nhiều như bụi trần mà cúng dường các vị đó.

Văn-thù-sư-lợi! Có người thiện nam, thiện nữ nào đối với pháp môn này tự mình biên chép bảo người khác biên chép thì Văn-thù-sưlợi! Phước người này hơn người trước vô lượng, vô số lần.

Văn-thù-sư-lợi! Tội do nghiệp bất thiện, ta cũng nói tương tự như vậy, hãy khéo hiểu biết.

Văn-thù-sư-lợi! Như vậy người thực hành bằng xe dê, xe voi, xe nhật nguyệt, Thanh văn thừa thần thông, Bồ-tát cho đến ở trong đường súc sinh, làm cho họ đều sinh căn lành. Hoặc người nam, người nữ khởi lên một chút tâm sân hận, tướng mạo biến đổi, cho đến chướng ngại một thiện căn đối với đường súc sinh thì Văn-thù-sư-lợi! Tội này hơn trước vô lượng, vô số lần.

Văn-thù-sư-lợi! Có người nam, người nữ nào đối với các chúng sinh nơi mười phương thế giới, tất cả thế giới số nhiều như bụi trần mà móc mắt, cướp đoạt hết tất cả tài sản của họ.

Văn-thù-sư-lợi! Hoặc có người thiện nam, thiện nữ ở chỗ một Bồ-tát phát khởi tâm khinh mạn, mắng nhiếc hủy nhục, thì tội này nhiều hơn trước vô lượng, vô số lần.

Văn-thù-sư-lợi! Có người nam, người nữ nào đối với một vị Bồ-

tát, vì một nguyên nhân nhỏ nào đó mà đem tâm khinh mạn, mắng nhiếc, hủy nhục; người nam hay nữ này bị đọa trong đại địa ngục Khiếu hoán, thân hình lớn hoặc nhỏ năm trăm do-tuần, có năm trăm đầu, nơi mỗi mỗi cái đầu có năm trăm miệng, nơi mỗi mỗi cái miệng cso năm trăm lưỡi, nơi mỗi mỗi lưỡi có năm trăm cái cày để cày lên lưỡi người đó. Có người nam, người nữ nào đối với một vị Bồ-tát, vì một nguyên nhân nhỏ nào đó mà đem tâm khinh mạn, mắng nhiếc, hủy nhục; người nam hay nữ này bị đọa trong đại địa ngục Khiếu hoán, thân hình lớn hoặc nhỏ năm trăm do-tuần, có năm trăm đầu, nơi mỗi mỗi cái đầu có năm trăm miệng, nơi mỗi mỗi cái miệng có năm trăm lưỡi, nơi mỗi mỗi lưỡi có năm trăm cái cày đó. Văn-thù-sư-lợi! Hoặc có người nam, người nữ nơi tam thiên thế giới có bao nhiêu chúng sinh, họ dùng dao gậy để chặt, đánh, giết, các chúng sinh đó và cướp đoạt tất cả tài sản của họ. Văn-thù-sư-lợi! Hoặc có người nam, người nữ ở chỗ Bồ-tát sinh tâm khinh mạn, khởi ý sân hận, tội này nhiều hơn trước vô lượng, vô số lần.

Văn-thù-sư-lợi! Có người nam, người nữ nào phát khởi ác tâm, không sinh tâm an ổn của chúng sinh, ở nơi hằng hà sa số tất cả thế giới, mỗi mỗi thế giới, mỗi mỗi Diêm-phù-đề họ giết sạch hằng hà sa số tất cả những vị A-la-hán, hằng hà sa số chư Phật Như Lai. Họ hủy hoại tất cả, làm cho tiêu diệt đến tận cùng những tháp miếu bằng bảy báu, lan can bằng bảy báu và tràng phan bảo cái báu. Văn-thù-sư-lợi! Lại có người nam, người nữ nào đối với Đại thừa Bồ-tát cho đến vì một chút xíu nguyên nhân nào đó mà họ sinh tâm khinh mạn, sân hận, mắng nhiếc, thì tội đây nhiều hơn trước vô lượng, vô số lần. Vì sao? Vì chư Phật sinh ra từ Bồ-tát và từ Bồ-tát không đoạn mất hạt giống của chư Phật Như Lai. Nếu người nào hủy báng Bồ-tát thì gọi người đó là kẻ hủy báng pháp Phật.

Văn-thù-sư-lợi! Có người nam, ngưỡi nữ nào nơi mười phương thế giới tất cả thế giới, tất cả chúng sinh mà dùng tâm sân hận trói buộc họ vào địa ngục Hắc ám.

Văn-thù-sư-lợi! Có người nam, người nữ nổi sân đối với Bồ-tát, cho đến quay mình ngoảnh mặt hướng khác, không nhìn họ thì tội này nhiều hơn trước vô lượng, vô số lần.

Văn-thù-sư-lợi! Có người nam, ngưỡi nữ nào ở Diêm-phù-đề cướp đoạt tất cả của cải, tài sản tất cả chúng sinh.

Văn-thù-sư-lợi! Hoặc có người nam, người nữ đem tâm sân hận, mắng nhiếc, hủy nhục đối với một vị Bồ-tát dầu tốt hay xấu thì tội này nhiều hơn trước vô lượng, vô số lần.

Văn-thù-sư-lợi! Ví như núi chúa Tu-di có ánh sáng chiếu rực rỡ hơn những núi khác, vượt hơn nghĩa là phương diện cao, thấp, rộng, hẹp.

Văn-thù-sư-lợi! Cũng vậy Bồ-tát tin vào pháp môn này, thì đối với các Bồ-tát trong mười phương thế giới, tất cả thế giới số nhiều như bụi trần là tối thượng tối thắng. Vì sao? Nếu có Bồ-tát nào tin pháp môn này, tu hành trong vô số kiếp năm Ba-la-mật, là nơi phát sinh công đức và tất cả căn lành. Người tin pháp môn này, phước ấy là tối thắng. Thắng nghĩa là cao đối với thấp, rộng đối với hẹp.

Văn-thù-sư-lợi! Có thiện nam, thiện nữ nào đối với các vị Bồ-tát nơi mười phương thế giới số nhiều như vi trần, làm cho họ phát tâm Bồ-đề. Văn-thù-sư-lợi! Có thiện nam, thiện nữ nào tin pháp môn này là pháp xuất thế gian, thì phước này nhiều hơn trước vô lượng, vô số lần.

Văn-thù-sư-lợi! Có thiện nam, thiện nữ nào đối với tất cả chúng sinh tin pháp môn này, làm cho họ phát tâm Bồ-đề. Văn-thù-sư-lợi! Hoặc có thiện nam, thiện nữ nào tin pháp môn này, tin rồi ghi chép, dạy người khác ghi chép; hoặc tự mình tụng, dạy người khác tụng, cho đến ghi chép kính tin với cái hộp đựng kinh, thọ trì, cúng dường, thắp đèn và dùng hoa thơm, hương bột, hương xoa vòng hoa để cúng dường pháp môn này, thì phước này nhiều hơn trước vô lượng, vô số lần.

Văn-thù-sư-lợi! Có thiện nam, thiện nữ nào đối với các chúng sinh nơi tất cả thế giới tin nơi Thanh văn đạo. Những chúng sinh đó trụ nơi Thanh văn đạo, tất cả Chuyển luân thánh vương được trụ nơi thiện căn và tất cả thiện căn thắng diệu được sinh Thiên, và làm cho các thiện căn ấy bị tiêu diệt hết.

Văn-thù-sư-lợi! Và có người khác đối với một vị Đại Bồ-tát ngăn chận một thiện căn, thì tội người này nhiều hơn trước vô lượng, vô số. Huống gì sân hận, mắng chửi, hủy nhục.

Văn-thù-sư-lợi! Có thiện nam, thiện nữ nào hủy hoại, thiêu đốt hằng hà sa số tháp miếu của chư Phật. Văn-thù-sư-lợi! Và có người nam, người nam, người nữ nào đối với Bồ-tát hay chúng sinh có tâm tin Đại thừa mà sinh khởi tâm sân hận, mắng nhiếc, hủy nhục Vănthù-sư-lợi! Tội này nhiều hơn trước vô lượng, vô số. Vì sao? Vì chư Phật từ Bồ-tát sinh ra và từ chư Phật mới có tháp miếu. Nhân nơi Phật mới có chư Thiên và loài người nơi tất cả thế gian. Thế nên sự cúng dường chư Bồ-tát tức là cúng dường chư Phật ba đời. Hủy nhục Bồ-tát tức hủy nhục chư Phật ba đời.

Văn-thù-sư-lợi! Nếu người thiện nam, thiện nữ nào muốn được cúng dường vô thượng đến chư Phật Như Lai thì nên cúng dường chư

Bồ-tát.

Văn-thù-sư-lợi! Trong thành ấp, xóm làng có một ức hoặc ngàn ức, trăm ngàn ức, vô lượng, vô biên vô số Bồ-tát không sinh tâm tin nơi pháp môn này; những Bồ-tát đó gặp rắc rối về vua, rắc rối về nghiệp, hoặc có nạn nước, nạn hiểm nguy, nạn lửa, nạn giặc. Nhưng trong thành ấp, xóm làng đó có một vị Bồ-tát tin pháp môn này, thì tuy những Bồ-tát kia có vô số nghiệp tội cũng đều được hoàn toàn xa lìa các nạn. Nhưng Bồ-tát này ở trong thành ấp, xóm làng đó không có nạn vua, không có nghiệp nạn, không có nạn nước, không có nạn hiểm nguy, không có nạn lửa, không có nạn giặc, không có nạn chúng sinh ác không tin giáo pháp. Bồ-tát nào tin vào pháp môn này thì trong vô số kiếp có bao nhiêu tội đáng lẽ vào địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ thì nay đều tiêu trừ. Và Bồ-tát kia có vô số kiếp không thể nói hết tội nghiệp vô cùng nặng nơi địa ngục A-tỳ, hiện thân được tiêu trừ, tất cả nạn khổ đều được chấm dứt. Hoặc mười, hai mươi, ba mươi kiếp bị nghiệp tội vô cùng nặng nơi địa ngục A-tỳ cũng đều tiêu diệt. Vì sao? Vì nhờ tích tập nhiều công đức lớn nhiều như vậy.

Văn-thù-sư-lợi! Như cái ao rộng lớn trăm do-tuần, nước trong ao có đủ tám vị. Có người đem một chút chất độc bỏ vào ao, cho đến bỏ cả ngàn cân, nước ao vẫn không bị khí độc. Vì sao? Vì ao được chứa quá nhiều nước.

Văn-thù-sư-lợi! Cũng vậy, tuy có vô lượng, vô biên những nghiệp tội ác, đang đọa vào đại ngục, ngạ quỷ, súc sinh trọn một kiếp nhưng vẫn được tiêu diệt. Vì sao? Vì tin pháp môn này nên có công đức lớn vô lượng, vô biên.

Khi Đức Phật dạy pháp môn này xong, nơi mười phương thế giới, các vị Đại Bồ-tát đến từ khắp nơi và chúng trong đại hội cùng chư Thiên, Long, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già nghe lời Phật dạy, hoan hỷ kính nhận thực hành.

KINH TÍN LỰC NHẬP ẤN PHÁP MÔN

HẾT

(TRỌN BỘ 5 QUYỂN)