Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

KINH THỦ HỘ QUỐC GIỚI CHỦ ĐÀ LA NI

Hán dịch: Nước Kế Tân_ Tam Tạng Sa Môn BÁT NHÃ (Prajña: Trí Tuệ) cùng với MÂU NI THẤT LỢI (Muni-śrī:Tịch Mặc) dịch
Việt dịch: HUYỀN THANH

 

QUYỂN THỨ NHẤT

TỰA PHẨM THỨ NHẤT

Như vậy tôi nghe. Một thời Đức Bạc Già Phạm (Bhagavaṃ:Thế Tôn) trụ tại thành Già Gia (Gayā), ngồi dưới cây Bồ Đề (Bodhi-vṛkṣa) cách cái thành chẳng xa cùng với chúng Đại Tỳ Kheo gồm bảy ngàn người đến dự, đều là Đại A La Hán, đã tận hết các lậu (Āsrava:sự chảy rỉ, là tên gọi khác của phiền não), không có trở lại phiền não, đã làm chỗ cần làm, đã đủ chỗ cần đủ, Tâm khéo giải thoát, Tuệ khéo giải thoát, giống như con Rồng lớn được Túc Trụ Trí, đã buông bỏ gánh nặng đợi được lợi mình, dứt hết ba Hữu Kết (các phiền não của nhóm Tham, Sân, Si), không có trở lại Hậu Hữu (Punar-bhava: quả báo của đời vị lai), đối với tất cả Pháp (Dharma) được Trí chân thật, vào sâu trong Pháp Tính (Dharmatā) đến ở bờ kia (Pāra: Bỉ ngạn, cảnh giới Niết Bàn là bờ kia), nơi Pháp khéo léo, từ Pháp hóa sinh, nơi thuận nơi nghịch Tâm không có nhiễm dính, nói lời hòa nhã, ý liệu trước sự thăm hỏi, Phạm Hạnh (Brahmacaryā) trong sạch, Chính Niệm trong sáng, nơi Đại giải thoát đã được viên mãn. Chỉ có A Nan (Ānanda) trụ ở Học Địa

_Lại có Bồ Tát Ma Ha Tát (Bodhisatva-mahāsatva) gồm tám vạn bốn ngàn người, đều ở một đời sẽ được Bồ Đề (Bodhi). Đối với Nhất Thiết Trí (Sarva-Jñā) nhậm vận (tùy thuận sự tự nhiên của các Pháp mà vận làm) vào sâu đến tận nguồn cội, chư Phật mười phương thường hiện ngay trước mặt, được Vô Nhiễm Trước Đà La Ni, trụ các Môn Tam Muội của Thủ Lăng Nghiêm (Śuraṃgama). Được Đại Tự Tại Du Hý Thần Thông, các Môn giải thoát. Đã lìa tất cả phiền não chướng ngại. Dùng Đại Từ Bi che khắp tất cả Thế Giới ở mười phương, dạo khắp vô biên biển cõi của Pháp Giới (Dharma-dhātu), dùng tướng Vô Trụ vào Tính hư không, thường siêng năng lợi ích cho tất cả chúng sinh, nơi cảnh giới Phật đã được thiện xảo. Tâm, Ý, Trí Tuệ rộng lớn vô lượng giống như hư không, thâm sâu không có bờ mé giống như biển lớn, an trụ chẳng động giống như núi Tu Di (Sumeru), không có chỗ nhiễm dính giống như hoa sen, trong ngài thanh tịnh như báu Ma Ni, ánh sáng rực rỡ như vàng ròng nấu đúc, đầy đủ vô lượng vô biên các nhóm Công Đức như vậy.

Các vị ấy tên là: Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát, Phổ Nhãn Bồ Tát Ma Ha Tát, Phổ Quán Bồ Tát Ma Ha Tát, Phổ Quang Bồ Tát Ma Ha Tát, Phổ Diệm Bồ Tát Ma Ha Tát, Thắng Ý Bồ Tát Ma Ha Tát, Tăng Trưởng Ý Bồ Tát Ma Ha Tát, Vô Biên Ý Bồ Tát, Phương Quảng Ý Bồ Tát, Quảng Đại Ý Bồ Tát, Vô Tận Ý Bồ Tát, Trì Địa Ý Bồ Tát, Trì Chúng Sinh Ý Bồ Tát, Đắc Thắng Ý Bồ Tát, Thiện Phân Biệt Ý Bồ Tát, Đà La Ni Tự Tại Vương Bồ Tát, Chấp Bảo Cự Bồ Tát, Bảo Ấn Thủ Bồ Tát, Bảo Quan Bồ Tát, Bảo Kế Bồ Tát, Bảo Tích Bồ Tát, Bảo Sinh Bồ Tát, Bảo Phong Bồ Tát, Bảo Tràng Bồ Tát, Kim Cương Tạng Bồ Tát, Cát Tường Tạng Bồ Tát, Vô Cấu Tạng Bồ Tát, Thanh Tịnh Tạng Bồ Tát, Như Lai Tạng Bồ Tát, Trí Tạng Bồ Tát, Nhật Tạng Bồ Tát, Tam Muội Tạng Bồ Tát, Liên Hoa Tạng Bồ Tát, Giải Thoát Nguyệt Bồ Tát, Phổ Nguyệt Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Phổ Kiến Bồ Tát, Liên Hoa Nhãn Bồ Tát, Quảng Nghiêm Nhãn Bồ Tát, Phổ Uy Nghi Bồ Tát, Phổ Đoan Nghiêm Bồ Tát, Phổ Hành Ý Bồ Tát, Trí Tuệ Ý Bồ Tát, Pháp Ý Bồ Tát, Kim Cương Ý Bồ Tát, Sư Tử Du Hý Bồ Tát, Đại Vân Tự Tại Vương Bồ Tát, Sư Tử Uy Mãnh Âm Bồ Tát, Quảng Đại Thâm Diệu Thanh Bồ Tát, Vô Nhiễm Trước Bồ Tát, Ly Chư Cấu Bồ Tát, Nguyệt Quang Diệm Bồ Tát, Nhật Quang Diệm Bồ Tát, Trí Quang Diệm Bồ Tát, Trí Cát Tường Bồ Tát, Nguyệt Cát Tường Bồ Tát, Liên Hoa Cát Tường Bồ Tát, Hiền Cát Tường Bồ Tát, Bảo Cát Tường Bồ Tát, Diệu Cát Tường Đồng Tử Bồ Tát, Quán Tự Tại Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát….là bậc Thượng Thủ (Pramukha) đều ở Hiền Kiếp (Bhadra-kalpa) sẽ được Bồ Đề cùng với nhóm Bồ Tát Ma Ha Tát như vậy gồm tám vạn bốn ngàn người.

Lại có vô lượng Tứ Đại Vương Chúng Thiên do bốn vị Đại Thiên Vương (Catvāsraḥ mahā-rājikāḥ) làm Thượng Thủ

Lại có vô lượng Đao Lợi Thiên Tử do Thích Đề Hoàn Nhân (Śakra-devānāṃindra) làm Thượng Thủ

Lại có vô lượng Tu Dạ Ma Thiên Tử do Dạ Ma Thiên Vương (Yāma-devarāja) làm Thượng Thủ

Lại có vô lượng Đâu Suất Đà Thiên Tử do Đâu Suất Đà Thiên Vương (Tuṣita-deva-rāja) làm Thượng Thủ

Lại có vô lượng Hóa Lạc Thiên Tử do Diệu Hóa Lạc Thiên Vương (Sunirmāṇa-rati -deva-rāja) làm Thượng Thủ

Lại có vô lượng Tha Hóa Tự Thiên Tử do Tha Hóa Tự Tại Thiên Vương (Paranirmita-vaśa-vartin-deva-rāja) làm Thượng Thủ

Lại có Nhật Quang Thiên Tử, Mãn Nguyệt Thiên Tử, Thương Chủ Thiên Tử đều cùng với vô lượng Thiên Tử (Devaputra) quyến thuộc đến dự.

Lại có Đại Phạm Thiên Vương (Mahā-brahma-deva-rāja) cùng với vô lượng Phạm Chúng (Brahma-pāriṣadya) đến dự.

Lại có chư Thiên của cõi Tịnh Cư (Śuddha-vāsa), Ma Hề Thủ La Thiên Vương (Maheśvara-deva-rāja) đều cùng với vô lượng quyến thuộc (Parivāra) đến dự Như vậy vô lượng Trời (Deva), Rồng (Nāga), Dạ Xoa (Yakṣa), Càn Thát Bà (Gandharva), A Tu La (Asura), Ca Lâu La (Garuḍa), Khẩn Na La (Kiṃnara), Ma Hầu La Già (Mahoraga) đều cùng với vô lượng trăm ngàn quyến thuộc đến dự.

Lại có vô lượng Tỳ Kheo (Bhikṣu), Tỳ Kheo Ni (Bhikṣuṇi), Ưu Bà Tắc (Upāsaka), Ưu Bà Di (Upāsikā) đều cùng với quyến thuộc đến dự.

Như vậy vô biên tất cả Chúng Hội đều đến chỗ của Đức Phật, đỉnh lễ bàn chân của Đức Phật rồi lui về ngồi một bên, cung kính vây quanh

_Bấy giờ Đức Như Lai ở trong Chúng Hội, ngồi trên tòa Kim Cương (Vajrāsana), Uy Đức cao vòi vọi vượt qua tất cả như núi Tu Di (Sumeru) ló ra khỏi biển lớn, tướng ánh sáng rực rỡ tỏ rõ ví như mặt trời lên cao tỏa sáng khắp hư không, người nhìn thấy trong mát như trăng Thu tròn đầy, Thân Tâm vắng lặng như Đại Phạm Vương (Mahā-brahma-rāja), nơi Chúng kính sợ như Thiên Đế Thích (Indra), đầy đủ bảy báu Thánh như Chuyển Luân Vương (Cakra-varti-rāja), quyết định tuyên nói Pháp: Không (Śūnya:trống rỗng), Vô Ngã (Nirātman, hay Anātman) như tiếng sư tử rống (Siṃha-nāda), hào quang chiếu thông suốt tất cả Thế Giới như trong đêm tối mà đốt lửa lớn, phóng mọi loại ánh sáng chiếu khắp tất cả Thế Giới ở mười phương như ngọc Ma Ni (Maṇi) với mọi nhóm báu của cõi Trời, không có chỗ phân biệt. Giáng phục Ma Oán, đập nát các Dị Kiến như voi chúa to lớn (Mahā-gaja-rāja: Đại Tượng Vương). Nơi thuận, nơi nghịch, Tâm không có vẩn đục (cấu trược) như cái ao trong sạch. Ở trong Chúng không có sợ hãi giống như Sư Tử (Siṃha). Trí Tuệ sâu rộng vô lượng vô biên không thể đến được đáy, hay sinh tất cả nhóm báu Công Đức giống như biển lớn. Tuôn khắp cơn mưa Pháp thấm ướt tất cả, sinh trưởng thành thục giống như Rồng lớn (Mahā-nāga: Đại Long)…Đầy đủ vô lượng Công Đức của nhóm như vậy.

Khi ấy, tất cả Chúng Hội một lòng chắp tay, chiêm ngưỡng Đức Như Lai, sinh Tưởng khó gặp. Đức Như Lai dùng con mắt Đại Bi Từ quán khắp cả, Thân tỏa ánh sáng soi chiếu khắp.

Ngay lúc đó thời Bồ Đề Thụ Vương (cây vua Bồ Đề) ở bốn mặt đều cao bảy Do Tuần (Yojana). Trong hư không trên mặt đất: tám Bộ Trời Rồng, tất cả Chúng Hội giáp vòng tràn đầy khắp; không có chỗ nào khoảng như hạt bụi nhỏ, đầu sợi lông mà không có Thánh Chúng.

Tòa Kim Cương (Vajrāsana) mà Đức Như Lai đã ngồi, cao một Do Tuần, dài rộng đều bằng nửa Do Tuần. Dùng vô lượng loại, trăm ngàn vạn ức áo Trời vi diệu trải phủ bên trên. Treo mọi lọng báu, rũ các lưới chuông, mọi lụa là báu dùng làm phướng phan, chia bày dựng lập giáp vòng rũ treo ở bốn chung quanh cái Tòa, đều dùng Kim Cương (Vajra) làm mặt đất, bằng phẳng như lòng bàn tay, trong sạch, sáng bóng, thơm tho, mềm mại, chân đạp lên liền lún xuống, nhấc chân lên thì trở lại như cũ. Chúng sinh nhìn thấy vui thích không có chán ghét.

Bấy giờ chư Thiên vì cúng dường Đức Phật, tuôn mưa hoa màu nhiệm của cõi Trời là: hoa Chiêm Bác Ca (Caṃpakā), hoa A Đề Mục Đa Già (Adhimuktāya), hoa Bà Lợi Sư Ca (Vārṣika), hoa Mạn Đà La (Māndāra), hoa Ma Ha Mạn Đà La (Mahāmāndāra), hoa Mạn Thù Sa (Mañjūṣaka), hoa Ma Ha Mạn Thù Sa (Mahāmañjūṣaka). Dùng mọi nhóm hoa Trời như vậy tán rải trên Đức Phật với các Đại Chúng, che trùm khắp mặt đất, gió nhẹ thổi qua thì phát ra mùi thơm màu nhiệm thổi sạch các uế.

Đột nhiên ở mặt đất ấy mọc lên vô số hoa sen trăm báu, lớn như bánh xe, vàng ròng làm lá đều có trăm ngàn vạn, dùng Phệ Lưu Ly (Vaiḍurya) làm cọng, dùng ngọc Ma Ni (Maṇi), Đế Thanh (Nīla-muktā:ngọc báu màu xanh) làm đài, dùng báu A Thấp Ma Kiệt Ma (Aśma-garbha:Mã não) làm râu nhụy…phát ra mọi mùi thơm màu nhiệm vượt hơn các cõi Trời. Hoa ấy mềm mại, sáng sạch, trơn mềm vi diệu. Chúng sinh nhìn thấy không hề biết đủ, nếu có người tiếp chạm thì hay trừ được nhiệt não, Thân Tâm trong mát. Như vậy đều vì cúng dường Đức Như Lai cho nên hiện ra điềm lành này.

Ngay lúc ấy thời, cách tòa Kim Cương, ở bốn góc ấy, chẳng gần chẳng xa đều có cây báu từ dưới đất mọc lên. Cây ấy đều do bảy báu tạo thành, thân cây cao hai Do Tuần, một nửa là cành lá giáp vòng che trùm một Do Tuần.

_Khi ấy, Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử Bồ Tát Ma Ha Tát (Mañjuśrīdharma-rāja-putra) ở trong Chúng Hội chiêm ngưỡng Đức Như Lai ngồi trên tòa Kim Cương, Uy Đức đặc biệt tôn nghiêm, hào quang sáng tỏ che lấp Đại Chúng vượt hơn cả trăm ngàn mặt trời, bóng râm còn lại chiếu soi tất cả Chúng Hội.

(Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát) xem xét không hề biết đủ, phát Tâm thanh tịnh, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, quỳ gối, chắp tay dùng Diệu Già Tha khen Đức Phật rằng

_Uy dung Như Lai chẳng thể lường

Vượt hơn Người, Trời với chúng Thánh

Ví như trăng tròn, lọc hư không

Đoạt ánh sáng của mọi Tinh Tú

_Phật ở trong biển lớn Từ Bi

Phóng trăm ngàn ánh sáng chiếu soi

Ví như Tu Di rời biển lớn

Chư Thiên y trụ, phóng quang minh

_Đang trụ trong Thiền Định giải thoát

Ánh sáng tự tại chiếu tất cả

Ví như Tam Thiên Đại Phạm Chủ

Ánh sáng vắng lặng vượt Phạm Thiên

_Công Đức, Trí Tuệ dùng nghiêm Tâm

Tướng báu nghiêm Thân, chiếu sáng khắp

Như hào quang, Trí Tuệ Đế Thích

Vượt qua tất cả Trời Đao Lợi

_Ý Đại Từ Bi tự trang nghiêm

An lập chúng sinh nơi Thánh Đạo

Như bốn Thiên Vương hộ giúp đời

Ủy dụ, giáo hóa các chúng sinh

_Mặt trời Phật phóng ánh sáng Pháp

Chiếu khắp chúng sinh, diệt Tà Kiến

Ví như ngàn mặt trời chiếu sáng

Bóng đoạt ánh sáng lửa Ma Ni

_Mặt Phật tròn đầy, tướng trang nghiêm

Người thấy vui thích, Tâm thanh tịnh

Ví như trăng tròn sáng nửa đêm

Chúng sinh ưa nhìn được trong mát

_Đại Tiên luôn phóng ánh sáng Trí

Diệt trừ tất cả ám vô minh

Như đêm, núi cao đốt lửa lớn

Không xa chẳng chiếu, phát sáng tỏ

_Phật nói Vô Ngã, các Pháp Không

Tất cả Ngoại Đạo đều kinh sợ

Như trong hang núi, sư tử rống

Trăm thú nghe thấy, mất tinh quang

_Thân Phật như núi Tử Kim đúc

Ánh sáng chiếu che khắp Đại Chúng

Cũng như ánh sáng báu Ma Ni

Đoạt hết ánh sáng tất cả báu

_Phước Đức, Trí Tuệ, Môn phương tiện

Siêng năng tất cả đều khéo léo

Quán khắp Thế Giới không gì sánh

Huống chi có thể hơn Thế Tôn

_Con thấy Đại Hùng (Đức Phật) thương Thế Gian

Ánh sáng biển lớn Trí Tuệ chiếu

Năm vóc cúi lạy dưới chân Phật

Hớn hở, vui mừng khó tự giữ

_Con khen Như Lai, đèn Thế Gian

Hay sinh Công Đức,

Trí tối thắng Dùng nhóm

Phước này lợi hàm thức

Tất cả mau chứng Đại Bồ Đề.

Khi ấy, Văn Thù Sư Lợi Đồng Tử Bồ Tát Ma Ha Tát nói Già Tha (Gāthā:Kệ tụng) này xưng tán Đức Phật xong, chắp tay cung kính, chiêm ngưỡng Đức Như Lai chẳng chớp mắt, một lòng suy nghĩ chỗ mà Đức Như Lai đã trụ, Pháp Tính (Dharmatā) vi diệu thâm sâu khó vào, chẳng phải là tướng có thể nhìn thấy, khó thấy khó hiểu, chẳng phải là cảnh giới của Phàm Phu Ngoại Đạo, vắng lặng vi diệu chẳng thể nghĩ bàn, hay sinh Vô Đẳng Đẳng Trí (Asamasama-Jñāna:Trí không có gì ngang bằng được) chẳng thể nghĩ bàn của chư Phật, tuôn ra Giáo Pháp sai biệt chẳng thể nghĩ bàn của Pháp Giới. Chỉ có Đức Như Lai mới thấu đáo cùng tận, trụ cảnh giới hư không không có chỗ trụ, hiện chứng Bản Tính của các Pháp, bờ mé chân thật thanh tịnh, được nơi giải thoát không có ngăn ngại của chư Phật, thường trụ chẳng biến đổi, an vui, vắng lặng. Thân ấy tràn đầy tất cả cõi nước, hiện trước mặt tất cả chúng sinh, vào cội nguồn bình đẳng của ba đời [tam tế gồm có: tiền tế (Pūrvānta) chỉ quá khứ, trung tế (Madhyānta) chỉ hiện tại, hậu tế (Aparānta) chỉ vị lai], chẳng phải là cảnh giới xưng lượng của Tâm Thức, ở vô lượng kiếp suy tư tuyên nói chẳng thể cùng tận.

Văn Thù Sư Lợi xét đoán kỹ lưỡng như vậy, quán sát nhỏ nhiệm Pháp Tính sâu xa xong, yên lặng mà trụ

 

PHẨM THỨ HAI CHI MỘT

Bấy giờ Đức Thế Tôn thường trụ Pháp Tính bình đẳng của ba đời mà nhập vào Tam Muội tên là Tùy Thuận Chúng Sinh Tâm Hạnh. Dùng sức Tam Muội ở trong Hội đó, tất cả Đại Chúng đáng được điều phục, mỗi mỗi đều thấy mọi loại chẳng đồng của Đức Phật. Ấy là: hoặc có chúng sinh thấy thân tướng tốt của Như Lai, hoặc có chúng sinh thấy thân Thanh Văn, hoặc có chúng sinh thấy thân Bồ Tát, hoặc có chúng sinh thấy thân Phạm Thiên, hoặc có chúng sinh thấy thân Đại Tự Tại Thiên, hoặc có chúng sinh thấy thân Na La Diên Thiên, cho đến tám Bộ Trời Rồng, người, Phi Nhân…mọi loại sai biệt.

Người không có niềm tin đều không nhìn thấy, giống như sinh ra đã bị mù, chẳng thấy mặt trời mặt trăng. Người được nhìn thấy, tùy theo chủng loại ấy mà thấy mọi loại uy nghi của thân ấy, tùy theo âm thanh của loài ấy mà nghe mọi loại tiếng, tùy theo chỗ ưa thích ấy mà nghe mọi loại Pháp, tùy theo sức ấy mà hay sinh mọi loại hiểu biết. Tuy tùy theo chúng sinh, thấy biết như vậy nhưng thân Như Lai chỉ có một Vị không có hai, ấy là một vị giải thoát. Giống như hư không lìa tất cả thô tế, phân biệt với không phân biệt. Cũng như Địa Đại hay vì tất cả Thế (Loka, hay Laukika) Xuất Thế Gian (Lokottara), tám Bộ Trời Rồng nương giữ mà trụ, sinh trưởng thành thục mà không có mệt mỏi chán nản. Lại như Hỏa Đại hay thiêu đốt tất cả bụi dơ phiền não của chúng sinh cũng không có mệt mỏi chán nản. Lại như Thủy Đại đều hay sinh trưởng hết thảy căn lành của tất cả chúng sinh, diệt trừ sức nóng phiền não, được niềm vui trong mát cũng không có mệt mỏi chán nản.

_Bấy giờ, Đức Thế Tôn: đột nhiên ở trên đỉnh đầu, trong Nhục Kế (Uṣṇīṣa), da, xương, lỗ chân lông phóng ánh sáng lớn. Ấy sáng ấy trắng tinh, lại dùng vô lượng trăm ngàn ánh sáng làm quyến thuộc (Parivāra) chiếu khắp Thế Gian, bên dưới đến Địa Ngục A Tỳ (Avīci), bên trên đến cõi Trời A Ca Ni Tra (Akaniṣṭha-deva: Sắc Cứu Cánh Thiên), tất cả hết thảy đều đồng màu trắng. Chúng sinh trong ấy đều thấy tất cả núi, rừng, sông, biển, vật Tình Phi Tình đều đồng màu trắng tinh giống như màu sữa, cũng như núi Tuyết.

Lại từ trong miệng phóng ánh sáng lớn như màu ngọc xanh (Đế Thanh), cũng dùng vô lượng trăm ngàn ánh sáng làm quyến thuộc, chiếu soi phương Đông, từ phía Đông của tòa Kim Cương đến tận hằng hà sa Thế Giới. Trong ấy, hết thảy núi, sông, đá, tường vách, cỏ, cây, rừng rậm, cảnh Tình Phi Tình đều đồng màu ngọc xanh. Chúng sinh trong ấy đều thấy tất cả như màu ngọc xanh.

Lại ở vai phải phóng ánh sáng lớn như màu vàng nấu đúc (dong kim), cũng dùng vô lượng trăm ngàn ánh sáng làm quyến thuộc, chiếu soi phương Nam, từ phía Nam của tòa Kim Cương đến tận hằng hà sa Thế Giới ở phương Nam. Trong ấy, hết thảy đều đồng màu vàng nấu đúc. Các chúng sinh ấy cũng thấy tất cả đều như màu vàng nấu đúc

Lại ở trên lưng phóng ánh sáng lớn như màu pha lê hồng, cũng dùng vô lượng trăm ngàn ánh sáng làm quyến thuộc, chiếu soi phương Tây, từ phía Nam của tòa Kim Cương đến tận hằng hà sa Thế Giới ở phương Tây. Trong ấy, hết thảy đều đồng màu pha lê hồng. Chúng sinh trong ấy cũng thấy tất cả đều như màu pha lê hồng

Lại ở vai trái phóng ánh sáng năm màu là màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng với màu xanh lục….cũng dùng vô lượng trăm ngàn ánh sáng làm quyến thuộc, chiếu soi phương này, từ phía Bắc của tòa Kim Cương đến tận hằng hà sa Thế Giới ở phương Bắc. Trong ấy, hết thảy đều đồng năm màu, chúng sinh ấy cũng thấy tất cả đều đủ năm màu

Như vậy chiếu soi tất cả thế giới, mỗi mỗi bên dưới đến Địa Ngục A Tỳ, bên trên đến cõi Trời A Ca Ni Trá… chiếu các Thế Giới làm việc Phật xong, thu ánh sáng quay về cội nguồn

Ánh sáng màu trắng ấy quay lại từ bên trên xuống dưới, đi đến chỗ của Đức Phật, nhiễu quanh Đức Như Lai theo bên phải ba vòng xong, nhập vào đỉnh đầu của Đức Phật.

Ánh sáng màu ngọc xanh quay lại từ phương Đông, đi đến chỗ của Đức Phật, nhiễu quanh theo bên phải ba vòng rồi nhập vào miệng của Đức Phật

Ánh sáng màu vàng nấu đúc quay lại từ phương Nam, đi đến chỗ của Đức Phật, nhiễu quanh theo bên phải ba vòng rồi nhập vào vai phải của Đức Phật

Ánh sáng màu pha lê hồng quay lại từ phương Tây, đi đến chỗ của Đức Phật, nhiễu quanh theo bên phải ba vòng rồi nhập vào vai phải của Đức Phật

Ánh sáng năm màu quay lại từ phương Bắc, đi đến chỗ của Đức Phật, nhiễu quanh theo bên phải ba vòng rồi nhập vào vai trái của Đức Phật

Tuy ánh sáng này triển chiếu, thu về nhưng thân thể của Đức Như Lai không có thêm bớt, ví như ánh sáng của mặt trăng chiếu khắp hư không, không có thêm bớt. Cũng như nước dầu hòa với bơ rồi ném vào trong đống cát, cũng không có thêm bớt.

Lại như núi Tuyết bốc ra mây nổi tràn đầy hư không, phút chốc cuốn nhiếp quay về núi Tuyết, cực kỳ nhỏ nhiệm, không có dấu vết thừa tiếp, thể của núi Tuyết không có thêm bớt.

_Khi ấy, Đức Thế Tôn lại nhập vào Tam Muội (Samādhi), mà Tam Muội này không có tên gọi, không có lời, không có nói, chẳng thể nghĩ bàn. Tức là cảnh giới của chư Phật thuộc Nhất Thiết Trí Trí (Sarvajña-jñāna). Khi vào Tam Muội xong, thời Đại Địa này chấn động theo sáu cách là: phía Đông trồi lên thì phía Tây chìm xuống, phía Tây trồi lên thì phía Đông chìm xuống, phía Nam trồi lên thì phía Bắc chìm xuống, phía Bắc trồi lên thì phía Nam chìm xuống, chính giữa trồi lên thì chung quanh chìm xuống, chung quanh trồi lên thì chính giữa chìm xuống.

_Bấy giờ trong Hội có một vị Bồ Tát Ma Ha Tát tên là Nhất Thiết Pháp Tự Tại Vương (Sarva dharmeśvara-rāja) nương theo Thần Lực của Đức Phật, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, chỉnh uy nghi của thân, trật áo hở vai phải, đỉnh lễ bàn chân của Đức Phật, quỳ gối, chắp tay rồi bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Do Nhân nào, Duyên nào mà phóng ánh sáng khiến cho mặt đất chấn động theo sáu cách?”

Khi ấy Đức Phật bảo Nhất Thiết Pháp Tự Tại Vương Bồ Tát rằng: “Lành thay! Lành thay Thiện Nam Tử! Nay ông hay khéo thưa hỏi điều này, Ta sẽ vì ông phân biệt giải nói.

Này Thiện Nam Tử (Kula-putra)! Có bốn nhân duyên phóng ánh sáng này khiến cho Đại Địa chấn động. Nhóm nào là bốn?

Một là: chư Phật ba đời đều do nhập vào Thắng Tam Muội này, cho nên được A Nậu Đa La Tam Miểu Tam Bồ Đề (Anuttarā-samyaksaṃbuddhi:Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác). Ta cũng như vậy, ba vô số kiếp tu đủ các Độ (Pāramitā: Ba La Mật Đa), sáu năm Khổ Hạnh (Duṣkara-caryā, hay Tapas) chẳng chứng Bồ Đề (Bodhi). Do nhập vào Định này, liền được Vô Thượng Chính Đẳng Bồ Đề. Do nhân duyên đấy cho nên hiện ra điềm lành này.

Hai là: do Tam Muội này đã không có ngôn thuyết, Thể Tính tịch diệt chẳng thể tuyên bày. Do muốn dùng sức khéo léo của phương tiện (Upāya) này, vì chúng sinh nói, cho nên hiện ra điềm lành này

Ba là: Xưa kia, Ta ở dưới cây Bồ Đề (Bodhi-druma, Bodhi-taru, Bodhi-vṛkṣa) này được Tam Muội đấy, thành Đẳng Chính Giác (Samyaksaṃbuddha). Vì muốn báo ân cho nên nay ở chỗ đó nói Tam Muội này, nên hiện ra điềm lành này

Bốn là: muốn vì hằng sa Thế Giới ở mười phương, vô số các Bồ Tát Ma Ha Tát đi đến với chủ của nước Ma Già Đà (Maghada) là vua A Xà Thế (Ajātaśatru), Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di, Trời, Rồng, Dạ Xoa….các Chúng Hội này cùng với tất cả chúng sinh trong Pháp Giới, nói Tam Muội này. Do nhân duyên đó, cho nên hiện ra điềm lành này”

Lúc đó, Đại Chúng nghe nói xong thì hớn hở vui mừng, thân tâm trong mát, thương cảm ái mộ chẳng thể kềm chế được mình. Ví như có người bị trúng mũi tên độc tại trái tim, liền không có suy nghĩ gì khác ngoài việc nghĩ đến vị Lương Y nhổ trừ tên độc khiến cho ta an vui. Các chúng Bồ Tát cũng lại như vậy, Pháp chẳng thể nghĩ được thì chỉ mong Đức Như Lai nói Tam Muội này, nhổ bứt: đêm dài sinh tử, vô minh đen tối, không có chỗ thấy biết của các hữu tình; phá các phiền não, mở con mắt Chính Pháp, được ánh sáng của Trí.

Thời Chúng Hội này tuy sinh niệm này, vì Uy Đức của Phật cho nên chẳng dám thưa hỏi.

_Bấy giờ Nhất Thiết Pháp Tự Tại Vương Bồ Tát Ma Ha Tát nương theo Thần Lực của Đức Phật, cúi năm vóc sát đất, đỉnh lễ bàn chân của Đức Phật, quỳ gối, chắp tay rồi bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Tam Muội Bất Khả Tư Nghị Nhất Thiết Trí Trí Chư Phật Cảnh Giới (cảnh giới của chư Phật thuộc Nhất Thiết Trí Trí chẳng thể nghĩ bàn) ấy là dùng Pháp nào để làm Nhân (Hetu)? Lại dùng Pháp nào để làm gốc rễ (Mūla)? Làm sao tu tập (Bhāvanā)? Cứu cánh (Uttara) như thế nào?”

Khi ấy Đức Thế Tôn bảo Nhất Thiết Pháp Tự Tại Vương Bồ Tát Ma Ha Tát rằng: “Lành thay! Lành thay Thiện Nam Tử! Nay ông khéo hay thưa hỏi nghĩa này, ở đời vị lai nhiều chỗ lợi ích, nhiều chỗ an vui tất cả chúng sinh.

Hãy nghe cho kỹ! Hãy nghe cho kỹ! Hãy khéo nghĩ nhớ! Ta sẽ vì ông nói.

Này Thiện Nam Tử! Tam Muội sâu xa này, dùng Tâm Bồ Đề (Bodhi-citta) làm nhân, dùng Đại Từ Bi (Mahā-maitra-kāruṇa) làm gốc rễ, phương tiện tu tập Vô Thượng Bồ Đề làm cứu cánh.

Này Thiện Nam Tử! Trong đây, thế nào gọi là Bồ Đề (Bodhi)?

Thiện Nam Tử! Muốn biết Bồ Đề thì nên thấu tỏ Tâm của mình, nếu thấu tỏ Tâm của mình tức thấu tỏ Bồ Đề. Tại sao thế? Vì Tâm và Bồ Đề có cùng tướng chân thật, rốt ráo suy tính tìm cầu đều chẳng thể được, đồng với hư không cho nên tướng của Bồ Đề tức là tướng của hư không. Thế nên Bồ Đề không có tướng sở chứng (chỗ để chứng), không có tướng năng chứng (người hay chứng), cũng không có tướng khế hợp của Năng (chủ thể của động tác), Sở (khách thể của động tác). Tại sao thế? Vì Bồ Đề rốt ráo không có các tướng.

Thiện Nam Tử! Do tất cả Pháp tức là tướng của hư không, thế nên Bồ Đề rốt ráo không có tướng”

_Lúc đó, Nhất Thiết Pháp Tự Tại Vương Bồ Tát lại bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Nếu tướng của Bồ Đề này đồng với hư không thì Thể của Nhất Thiết Trí sẽ sinh ở chỗ nào?”

Đức Phật bảo Nhất Thiết Pháp Tự Tại Vương Bồ Tát rằng: “Này Thiện Nam Tử! Thể của Nhất Thiết Trí nên tìm cầu ở Tâm. Nhất Thiết Trí Trí cùng với Bồ Đề từ Tâm mà sinh. Tại sao thế? Vì Thật Tính của Tâm vốn thanh tịnh.

Thiện Nam Tử! Tính của Tâm này, chẳng ở bên trong, chẳng ở bên ngoài, chẳng ở khoảng giữa.

Thiện Nam Tử! Tất cả Như Lai nói tướng của Tâm này: chẳng phải xanh, chẳng phải vàng, chẳng phải đỏ, chẳng phải trắng, chẳng phải hồng, chẳng phải tím, chẳng phải màu vàng ròng, chẳng phải dài, chẳng phải ngắn, chẳng phải tròn, chẳng phải vuông, chẳng phái sáng, chẳng phải tối, chẳng phải nam, chẳng phải nữ, chẳng phải là phi nam nữ, cũng lại chẳng phải là cũng nam cũng nữ.

Thiên Nam Tử! Tâm này chẳng phải là Tính của cõi Dục (Kāma-dhātu), chẳng phải là Tính của cõi Sắc (Rūpa-dhātu), chẳng phải là Tính của cõi Vô Sắc (Arūpadhātu), chẳng phải Trời (Deva), chẳng phải Rồng (Nāga), chẳng phải Dạ Xoa (Yakṣa), chẳng phải Càn Thát Bà (Gandharva), chẳng phải A Tu La (Asura), chẳng phải Ca Lâu La (Garuḍa), chẳng phải Khẩn Na La (Kiṃnara), chẳng phải Ma Hầu La Già (Mahoraga), Người (Manuṣa), Phi Nhân (Amanuṣa)…tất cả đồng loại

Thiện Nam Tử! Tâm này chẳng trụ ở mắt (Cakṣu); cũng chẳng trụ ở tai (Śrotra), mũi (Ghrāṇa), lưỡi (Jihva), thân (Kāya), ý (Mano). Ở trong ba đời cũng chẳng thề thấy. Tại sao thế? Vì Tâm này đồng với tướng của hư không. Do nghĩa đó cho nên xa lìa tất cả phân biệt thô tế. Tại sao thế? Vì Tính của hư không này tức là Tính của Tâm, như Tính của Tâm ấy tức là Tính của Bồ Đề, như Tính của Bồ Đề tức là Tính của Đà La Ni (Dhāraṇī:Tổng Trì)

Thiện Nam Tử! Chính vì thế cho nên Tính của Tâm, hư không, Bồ Đề, Đà La ni này không có hai, không có hai phần, không có riêng biệt, không có chặt đứt. Như vậy tất cả đều dùng Đại Từ, Đại Bi để làm gốc rể, phương tiện là chỗ nhiếp thọ của Ba La Mật (Pāramitā)

Thiện Nam Tử! Chính vì thế nên biết. Nay Ta ở trong Đại Chúng của các nhóm Bồ Tát này, nói Pháp như vậy để tịnh Tâm Bồ Đề rộng lớn, để khiến cho tất cả thấu tỏ Tâm của mình.

Thế nên, Nhất Thiết Pháp Tự Tại Vương! Nếu có kẻ trai lành, người nữ thiện muốn biết Tính chân thật của Bồ Đề thì nên thấu tỏ Tâm của mình, như Tính của Tâm ấy tức là Tính của Bồ Đề.

Làm thế nào để có thể hiểu rỏ Tính của Tâm? Ấy là: Tính của Tâm này đối với tất cả tướng: hoặc hình, hoặc hiển; hoặc lại Sắc (Rūpa-skandha:hình thể vật chất), Thọ (Vedanā-skandha:cảm giác), Tưởng (Saṃjñā-skandha:tri giác), Hành (Saṃskāraskandha:lưu chuyển tạo ứng), Thức (Vijñāna-skandha: nhận biết phân biệt); hoặc lại sắc (Rūpa: hình sắc), thanh (Śabda: âm thanh), hương (Gandha:mùi ngửi), vị (Rasa: vị nếm), xúc (Spraṣṭavya:tiếp chạm); hoặc có chấp thọ, hoặc không có chấp thọ; hoặc mười hai Nhập (Dvādaśa āyatanani), hoặc mười tám Giới (Aṣṭādaśa dhātavaḥ). Pháp của nhóm như vậy, suy tính tìm cầu rốt ráo chẳng thể được

Này Thiện Nam Tử! Nếu các Bồ Tát biết rõ như vậy, liền được thành tựu Môn Đệ Nhất Thanh Tịnh Pháp Quang Minh. Trụ Môn này xong, nhậm vận (tùy thuận các Pháp tự nhiên mà vận làm) được Bất Khả Tư Nghị Nhất Thiết Trí Trí Chư Phật Cảnh Giới Thậm Thâm Tam Muội (Tam muội sâu xa trong cảnh giới của chư Phật thuộc Nhất Thiết Trí Trí chẳng thể nghĩ bàn) này. Bồ Tát đắc được Tam Muội này xong, cùng với tất cả Phật bình đẳng bình đẳng với được Nhất Thiết Chúng Sinh Ngữ Ngôn Đà La Ni Tam Muội, lại được Tùy Thuận Chư Chúng Sinh Tâm Đà La Ni Môn, thường hay không gián đoạn lợi ích chúng sinh, đối với Vô Vi Giới (Asaṃskṛtadhātu) đầy đủ viên mãn, xa lìa Đoạn, Thường tất cả Tà Kiến (Mythyā-dṛṣṭi) của 62 nhóm, Chính Kiến (Samyag-dṛṣṭi) tròn sáng.

Thiện Nam Tử! Nếu các Bồ Tát trụ Tam Muội đấy thì tất cả Phật Pháp chẳng cần dụng công, tự nhiên vận làm (nhậm vận) thành tựu

Thiện Nam Tử! Nay Ta lược nói. Nếu có người hay trụ Tam Muội này thì vô lượng vô số Công Đức thảy đều viên mãn.

_Bấy giờ, Nhất Thiết Pháp Tự Tại Vương Bồ Tát lại bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Như Đức Phật đã nói: “Như Tính của hư không tức là Tính của Tâm, như ở Tính của Tâm tức là Tính của Bồ Đề, như Tính của Bồ Đề tức là Tính của Đà La Ni. Tính của hư không, Tính của Tâm, Tính của Bồ Đề, Tính của Đà La Ni ấy không có hai, không có riêng biệt”. Nghĩa như vậy rất sâu xa, rất sâu xa, khó thể thông đạt, khó thể hướng vào, chẳng thể nghĩ bàn, vượt quá đất Tâm (Citta-bhūmi: Tâm địa), chẳng phải là chỗ mà kẻ phàm ngu phân tích kém (phàm ngu liệt giải) hiểu biết được.

Ở trong Hội này có hai loại người. Một là người viên mãn địa vị của Bồ Tát liền được lợi ích. Hai là kẻ chưa được thành tựu Công Đức của Bồ Tát như vua A Xà Thế, chủ của nước Ma Già Đà với Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di…vô lượng chúng sinh, tức không có lợi ích. Các kẻ Phàm Ngu này giống như người sinh ra đã bị mù chẳng thấy được ánh sáng của ngọn đèn, lại như người điếc chẳng nghe được lời nói nhỏ nhẹ, như đất sỏi đá mặn chẳng sinh được hoa sen

Thế Tôn! Như có quốc vương, đại thần, trưởng giả ở đời đói kém: ăn mọi thức ngon ngọt, các món ăn quý báu của cõi Trời, lên lầu gác cao báo cho vô lượng chúng sinh đói khổ, nói lời như vầy: “Ta ăn mọi loại Thượng Vị như vậy”. Tuy nói lời đấy nhưng đối với các người bị đói đều không có chỗ lợi ích. Nay điều Đức Phật đã nói, ở trong Chúng Hội này, người chưa thành tựu cũng lại như vậy, đều không có lợi ích”

Khi ấy, Đức Phật bảo Nhất Thiết Pháp Tự Tại Vương Bồ Tát rằng: “Lành thay! Lành thay Thiện Nam Tử! Khéo hay thưa hỏi Pháp sâu xa như vậy! Nhiều chỗ lợi lạc cho tất cả chúng sinh.

Hảy nghe cho kỹ! Hãy nghe cho kỹ! Hãy khéo nghĩ nhớ! Ta sẽ vì ông với Chúng Hội này, dùng các phương tiện chỉ dạy cho các ông, khiến cho ông được hiểu Bất Khả Tư Nghị Nhất Thiết Trí Trí Chư Phật Cảnh Giới Thậm Thâm Tam Muội (Tam muội sâu xa trong cảnh giới của chư Phật thuộc Nhất Thiết Trí Trí chẳng thể nghĩ bàn)

Này Thiện Nam Tử! Nếu các Phật Tử (Buddha-putra) muốn được thành tựu A Nậu Đa La Tam Miểu Tam Bồ Đề (Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác) hoặc người muốn khéo hay biết Tâm của mình, hoặc có kẻ muốn dùng bàn tay Đại Từ Bi kéo chúng sinh ra khỏi vũng bùn sinh tử….nên trước tiên phát khởi Tâm Đại Từ Bi, vì khắp chúng sinh quy y Tam Bảo, thọ Bồ Tát Giới, phát Tâm Bồ Đề, chí thành sám hối, nói lời như vầy:

Nguyện xin tất cả chư Phật cùng với các Đại Bồ Tát trụ Địa (sinh ra Thể căn bản của Pháp) được Trí Kim Cương (Vajra-Jñāna) ở mười phương hãy chứng biết cho con, hãy nghĩ nhớ đến con

Con (tên là….) cùng với…..phát Tâm Bồ Đề, chưa trụ Diệu Đạo. Nay đem thân mệnh quy y tất cả Tam Bảo ở mười phương. Nguyện xin chư Phật, các Đại Bồ Tát khởi Tâm Từ Bi thương xót nhiếp thọ.

Con (tên là….) cùng với…..từ vô thủy lưu chuyển đến nay, ở trong vòng sinh tử của ba cõi, chìm đắm tại nẻo ác, vào cái lồng đau khổ, điên đảo trong cũi tù, rơi vào các chỗ ác, cõi lưới vô minh có thế lực lớn, các đêm dài phiền não oán bức bách, không có chủ, không có sự cứu giúp, không có nơi quy về, không có chỗ nương dựa, không có chốn hướng đến, không có người chỉ đường, trụ ở trong đường hiểm ác Tà Kiến, hướng đến sinh tử, trở ngược lại buông bỏ Niết Bàn (Nirvāṇa), vào ba đường ác chẳng thể tự đi ra, rơi vào trong hầm sâu rộng lớn hiểm ác, chạy theo bạn ác, tùy thuận sự chỉ dạy ác, xa lìa tất cả các Thiện Tri Thức (Kalyāṇamitra); đều chẳng hiểu biết: điều nào gây tổn hại, điều nào tạo lợi ích, điều nào là Thiện (Kuśala), điều nào là Ác (Akuśala, hay Pāpa), làm Pháp Bất Thiện (Akuśala-dharma) cột dính chẳng buông xả, vứt bỏ tất cả Thánh Nhân (Ārya) của ba Thừa (Trīṇi-yānāni), đêm dài thường bị vây bủa bởi: sinh, già, bệnh, chết, lo buồn, khổ não, mọi loại Hoặc Nghiệp (Nghiệp mê mờ chẳng giải thoát, tên gọi chung của nghiệp phiền não), lo buồn sợ hãi, luôn đánh mất Tự Tính vắng lặng của Bản Tâm. Xa lìa mọi loại: Tam Ma Địa Môn (Samādhimukha), Đà La Ni Môn (Dhāraṇī-mukha), các Địa (Bhūmi), các Nhẫn (Kśānti), chỗ trụ sâu xa của Bát Nhã Ba La Mật Đa (Prajña-pāramitā); cũng lại xa lìa: Từ (Maitri), Bi (Kāruṇā), Hỷ (Muditā), Xả (Upakṣā), các Bồ Tát Giới (Giới luật của Bồ Tát), bốn Trí Vô Ngại (gồm có: Nghĩa Vô Ngại Trí, Pháp Vô Ngại Trí, Biện Vô Ngại Trí, Lạc Thuyết Vô Ngại Trí), sáu Thông [Ṣaḍ-abhijñāḥ: sáu Thần Thông gồm có: Thần Túc Thông (Ṛiddhi viṣaga-jñānaṃ), Thiên Nhãn Thông (Divyaṃ-cakṣuḥ-jñānaṃ), Thiên

Nhĩ Thông (Divyaṃ-śrotraṃ-jñānaṃ), Tha Tâm Thông (Paracitta-jñānaṃ), Túc Mệnh Thông (Purvanivasānusmṛiti-jñānaṃ), Lậu Tận Thông (Āsravakṣaya-jñānaṃ)], mười Lực (Daśa balāni: gồm có Xứ Phi Xứ Trí Lực, Nghiệp Dị Thục Trí Lực, Tĩnh Lự Giải Thoát Đẳng Trì Đẳng Chí Trí Lực, Thượng Căn Hạ Trí Lực, Chủng Chủng Thắng

Giải Trí Lực, Biến Thú Hành Trí Lực, Túc Trụ Tùy Niệm Trí Lực, Sinh Tử Trí Lực, Lậu Tận Trí Lực), bốn Vô Sở Úy [Catvāri vaiśāradyāni gồm có: Chư Pháp Hiện Đẳng Giác Vô Úy (Sarva-dharmābhisaṃbodhi-vaiśāradya), Nhất Thiết Lậu Tận Trí Vô Úy (Sarvāsrava-kṣaya-jñāna-vaiśāradya), Tùy Pháp Bất Hư Quyết Định Thọ Ký Vô Úy (Antarāyika-dharmānanyathātva-niścita-vyākaraṇa-vaiśāradya), Vi Chứng Nhất Thiết Cụ Túc Xuất Đạo Như Tính Vô Úy (Sarva-saṃpad-adhigamāya nairyāṇika-pratipattathātva-vaiśāradya)], Pháp không quên mất, Vô Trụ Niết Bàn (Aparatīṣṭhita-nirvāṇa). Thân của con đầy đủ tất cả Tùy Miên (Anuśaya: tên gọi khác của phiền não), thân của con trống rỗng không có tất cả Công Đức. Bảy Bồ Đề Phần [Sapta-bodhyaṅgāni: bảy Giác Chi gồm có Niệm Giác Chi (Smṛti-sambodhyaṅga), Trạch Pháp Giác Chi (Dharma-vicaya-sambodhyaṅga), Tinh Tiến Giác Chi (Vīrya-sambodyaṅga), Hỷ Giác Chi (Prīti-sambodhyaṅga), Khinh An Giác Chi (Prasrabdhi-sambodhyaṅga), Định Giác Chi (Samādhi-sambodhyaṅga), Xả Giác Chi (Upekṣā-sambodhyaṅga)] tám Thánh Đạo Phần [Aṣṭāṅgika: tám Chính Đạo gồm có Chính Kiến (Samyag-dṛṣṭi), Chính Tư Duy (Samyak-saṃkalpa), Chính Ngữ (Samyag-vāc), Chính Nghiệp (Samyak-karmānta), Chính Mệnh (Samyag-ājīva), Chính Tinh Tiến (Samyagvyāyāma), Chính Niệm (Samyag-smṛti), Chính Định (Samyak-samādhi)], trăm ngàn vạn loại Pháp của nhóm như vậy thảy đều xa lìa. Vô số khổ não, chướng ngại, lưu nạn…luôn gây não hại.

Nguyện xin chư Phật, các Đại Bồ Tát khởi Đại Từ Bi thương xót, hộ niệm. Vì con làm chủ, làm người cứu giúp, làm chỗ quy về, làm nơi nương dựa.

Nguyện khiến cho chúng con mau được viên mãn Đạo Đại Bồ Đề (Mahā-bodhimārga) với ở vô lượng quyến thuộc Bồ Đề: mười Lực của Như Lai (Tathāgata-daśa balāni), bốn Vô Sở Úy (Catvāri vaiśāradyāni), bốn Vô Ngại Giải [Catasraḥ pratisaṃvidaḥ gồm có: Pháp Vô Ngại Giải (Dharma-pratisaṃvid), Nghĩa Vô Ngại Giải (Artha-pratisaṃvid), Từ Vô Ngại Giải (Nirukti pratisaṃvid), Biện Vô Ngại Giải (Pratibhāna-pratisaṃvid)], mười tám Bất Cộng (18 Pháp chẳng cộng thông với Thanh Văn Duyên Giác gồm có: Chư Phật Thân Vô Thất, Khẩu Vô Thất, Niệm Vô Thất, Vô Dị Tưởng, Vô Bất Định Tâm, Vô Bất Tri Kỷ Xả Tâm, Dục Vô Diệt, Tinh Tiến Vô Diệt, Niệm Vô Diệt, Tuệ Vô Diệt, Giải Thoát Vô Diệt, Giải Thoát Tri Kiến Vô Diệt, Nhất Thiết Thân Nghiệp Tùy Trí Tuệ Hành, Nhất Thiết Khẩu Nghiệp Tùy Trí Tuệ Hành, Trí Tuệ Tri Kiến Quá Khứ Thế Vô Ngại Vô Chướng, Trí Tuệ Tri Kiến Vị Lai Thế Vô Ngại Vô Chướng, Trí Tuệ Tri Kiến Hiện Tại Thế Vô Ngại Vô Chướng), bốn Nhiếp [Catvāri saṃgraha-vastūni gồm có: Bố Thí Nhiếp (Dāna-saṃgraha), Ái Ngữ Nhiếp (Priyavādita-saṃgraha), Lợi Hành Nhiếp (Artha-caryā-saṃgraha), Đồng Sự Nhiếp (Samānārthatā-saṃgraha)], Tam Muội (Samādhi), Giải Thoát (Vimokṣa, hay Vimukti, mukti), Tổng Trì (Dhāraṇī), sáu Thông (Ṣaḍ-abhijñāḥ), các Độ (Pāramitā), Phước Đức (Puṇya-guṇa), Trí Tuệ (Prajñā)….Tất cả các biển Công Đức (Guṇasāgara) như vậy, nguyện khiến cho chúng con đều được đầy đủ.

Lại nữa tất cả chư Phật, các Đại Bồ Tát ở mười phương hãy chứng biết cho con, thương xót con, nhận sự cúng dường của con. Nguyện khiến cho vật cúng gom chứa tròn đủ cùng với Thân của con tràn đầy khắp tất cả Thế Giới ở mười phương; với nhiếp vô lượng vật cúng trang nghiêm rộng lớn không có chủ tể ở mười phương, hiện ra trước mặt cúng dường chư Phật Bồ Tát là: mọi loại báu màu nhiệm, cung điện của chư Thiên đều dùng báu màu nhiệm để trang nghiêm. Mọi lan can báu chia bày thành hàng. Cây báu, núi báu làm giải băng phản chiếu bóng sáng. Tòa báu, lọng báu, phướng báu, phan báu, vật khí báu, ngọc báu, chuông báu, lưới báu, ánh sáng báu, ánh lửa báu với Công Đức báu…mỗi mỗi vô lượng vô số viên ngọc báu, báu Ma Ni gom tụ tràn đầy trong chốn ấy. các cây đèn báu, mọi loại báu màu nhiệm sen kẽ trang nghiêm, ánh lửa vàng ròng phát sáng rực, lưới báu quây che.

Lại có vô số hoa sen báu màu nhiệm, dùng vàng Diêm Phù Đàn (Jambūnadasuvarṇa) làm đài, vàng ròng (Suvarṇa) làm lá, hạm đạm (hoa sen) nở rộ. Kéo mây báu của cõi Trời, tuôn mưa báu của cõi Trời, đưa cây báu của cõi Trời xuống dưới, rải hoa báu của cõi Trời, phát ra mọi ánh sáng báu, mở mọi kho tàng báu.

Lại có vô số vàng Diêm Phù Đàn, cung điện của chư Thiên, mọi báu trang nghiêm, mái hiên báu màu nhiệm, Kim Cương làm tường vách, mọi lan can báu giáp vòng vây quanh. Mọi loại vườn hoa, vườn thú màu nhiệm của Thiên Tiên. Rừng hoa, cỏ thơm tỏa hương thơm khắp. Vô số cung Rồng, cung A Tu La đều có mọi loại cây rừng, điện đường, hoa thơm, vật khí báu. Dùng vô lượng vô biên mọi vật cúng quý báu chưa từng thọ dụng của nhóm như vậy, đều cùng hồi hướng cúng dường chư Phật, Bồ Tát ở mười phương.

Lại nhiếp mọi loại thuốc màu nhiệm của tất cả Thế Giới ở mười phương với Cam Lộ (Amṛta) của cõi Trời, các món ăn quý báu có mùi vị thơm ngon tốt đẹp của cõi Trời….thảy đều đầy đủ.

Lại nhiếp các cây Diệu Hương, cây Long Não Hương, Cây Chiên Đàn Hương, cây Tùy Thời Hương, cây Đại Diệp Hương trong tất cả Thế Giới ở mười phương. Cây ấy bốn thời nở hoa, liên tục tỏa hương thơm mỹ diệu. Nếu có người ngửi thấy, liền ngưng đọng trầm lắng. Vô lượng cây hương như vậy tỏa mùi thơm tho nồng nàn, hay đoạt được tâm người.

Lại có vô lượng nhóm cây Như Ý không có chủ tể, tùy theo Tâm ước nguyện đều được đầy đủ mọi loại Ma Ni với báu Như Ý trong biển bớn.

Lại có mọi loại báu, núi Mê Lô (Meru), núi Ma Ha Mê Lô (Mahā-meru), núi Yết La Tư, núi Kiện Đà Mạt Đà (Gandhamādana), núi Ma La Gia (Malaya), núi Vĩ Nễ Gia (Vidya), núi Dân Đà La (Nimin-dhara), núi Ma Ha Dân Đà La (Mahā-nimindhara), núi Mục Lân Chân Đà (Mucilinda), núi Ma Ha Mục Lân Chân Đà (Mahāmucilinda), núi Kim Cương (Vajra)…Đỉnh núi như vậy có mọi loại báu trang nghiêm, mọi loại lầu gác báu, mọi loại hang núi báu, mọi loại lọng trướng báu, mọi loại hiên nhà báu, mọi loại thềm bậc báu, mọi loại cửa sổ báu, mọi loại vật trang điểm báu, mọi loại rường cột báu, mọi loại kho tàng báu, mọi loại tường vách báu của nhóm Phệ Lưu Ly.

Lại có mọi loại hình sắc kỳ diệu, cung điện của chư Thiên không có chủ thể.

Lại có mọi loại các thứ hoa màu nhiệm của cõi trời thuộc nhóm Câu Tô Ma (Kusuma). Người nhìn thấy không có nhàm chán, trong mát, ưa thích

Lại có mọi loại các âm thanh màu nhiệm hay khiến cho người nghe, thân tâm an vui, không có các nhiệt não mà được trong mát, chặt đứt Tham Sân, diệt tan Si Độc, tồi hoại nghiệp ác khiến không có dư sót. Ấy là: tiếng của Trời Đế Thích, tiếng của Phạm Thiên Vương, mọi loại tiếng của cõi Trời, tiếng ca vịnh của các Đại Tiên Nữ, các nhạc khí của cõi Trời chẳng do vỗ đánh phát ra tiếng vi diệu; tiếng của nhóm tiêu (cái sáo thổi dọc), Địch (cái sáo thổi ngang), Không Hầu (cây đàn vīṇā), Tỳ Bà (cây đàn Tuṇava), Cầm Sắt (một loại nhạc khí), Loa Bối (nhạc khí hình xoắn ốc)…tiếng trống của trời Đao Lợi, tiếng trống Mâu Đà La (Mudrā-duṇḍubhi)

Lại có mọi loại tiếng chim của chư Thiên với tiếng chim ở núi, rừng, suối, sông. Ấy là: tiếng kêu hót của mọi loài chim xinh đẹp như: Bạch Hạc (Haṃsa), Khổng Tước (Mayūra: chim công), vịt trời, chim nhạn, chim Uyên Ương, chim Câu Chỉ La, chim Mệnh Mệnh (Jīvaṃ-jīvaka), chim Ca Lăng Tần Già (Kalaviñka) với các âm thanh màu nhiệm của nhóm Lộc Vương (Mṛga-rāja: vua nai)

Lại có tiếng của mọi loại mây, tiếng của đất, tiếng của nước, tiếng của lửa, tiếng của gió, tiếng sóng to sóng nhỏ của biển lớn. Tiếng của nhóm như vậy, nếu người nghe thấy đều hiểu rõ, yêu thích không chán ghét, nhĩ căn (Śotrendriya:nói lược là lỗ tai) an tịnh, tiếng ấy sâu xa, tiếng chân thật thông suốt hay sinh căn lành. Văn, chữ, tên, câu thảy đều đầy đủ cùng với nghĩa tương ứng, khế hợp với Lý của Pháp thâm sâu, khéo hợp thời nghi. Ấy là tiếng bình đẳng của ba Thừa [Trīṇi-yānāni gồm có: Thanh Văn Thừa (Śrāvaka-yāna), Duyên Giác Thừa (Pratyeka-buddha-yāna), Bồ Tát Thừa (Bodhisatva-yāna) hay Đại Thừa (Mahā-yāna)], tiếng diễn nói ba Minh [Tri-vidya gồm có: Túc Mệnh Trí Chứng Minh (Pūrva -nivāsānusmṛti-jñāna-sākṣāt-kriya-vidyā), Sinh Tử Trí Chứng Minh (Cyuty-upapatti-jñāna-sākṣāt-kriya-vidyā), Lậu Tận Trí Chứng Minh (Āsrava-kṣaya-jñāna-sākṣāt-kriya-vidyā)], tiếng trang nghiêm Đàn Ba La Mật (Dāna-pāramitā:Bố Thí Ba La Mật), tiếng thanh tịnh Thi La Ba La Mật (Śīlapāramitā:Trì Giới Ba La Mật), tiếng hay sinh Sạn Đề Ba La Mật (Kṣāntipāramitā:Nhẫn Nhục Ba La Mật), tiếng siêng tu Tinh Tiến Ba La Mật (Vīryapāramitā), tiếng thành tựu Thiền Na Ba La Mật (Dhyāna-pāramitā:Thiền Định Ba La Mật), tiếng Bát Nhã Ba La Mật (Prajña-pāramitā:Trí Tuệ Ba La Mật) rộng lớn, tiếng cho Tâm hòa hợp với Đại Từ (Mahā-maitri), tiếng cho Giác hòa hợp với Đại Bi (Mahā-kāruṇa), tiếng cho ảnh ánh sáng hòa hợp với Đại Hỷ (Māhā-muditā), tiếng đồng với Đại Xả (Mahā-upekṣa) của hư không, tiếng sinh ra ba thừa, tiếng chẳng đoạn Tam Bảo [Tri-ratna, hay Ratna-traya gồm có: Phật (Buddha), Pháp (Dharma), Tăng (Saṃgha)], tiếng phân biệt ba Tụ (gồm có Chính Định Tụ, Tà Định Tụ, Bất Định Tụ), tiếng thanh tịnh ba Không (gồm có Ngã Không, Pháp Không, Câu Không), tiếng quán sát bốn Đế [Catvary-ārya-satyāni gồm có: Khổ Đế (Duḥkhaāryasatya), Tập Đế (Samudyaāryasatya), Diệt Đế (Nirodhaāryasatya), Đạo Đế (Mārgaāryasatya)], tiếng quán sát Trí Tuệ, tiếng bậc Trí chẳng hủy, tiếng bậc Thánh xưng tán, Tiếng lượng ngang bằng với hư không… xuất ra âm thanh thanh tịnh của nhóm như vậy, hồi hướng cúng dường chư Phật Bồ Tát.

Lại có mọi loại cây hoa (hoa thụ) phát ra mùi thơm của hoa màu nhiệm, mọi loại cây vòng hoa (man thụ) rũ các dây vòng hoa, mọi loại cây phướng (tràng thụ) cao hiển dựng lập, mọi loại cây phan (phan thụ) tiếp nối bóng ảnh phát sáng. Cầm tất cả vật màu nhiệm của nhóm như vậy, dùng Tâm Vô Ngã hồi hướng cúng dường tất cả chư Phật, các Đại Bồ Tát.

Lại dùng tất cả chỗ mà mắt Phật đã nhìn thấy đám mây cúng dường lớn trong vô biên tất cả Thế Giới ở mười phương, dùng để cúng dường. Ấy là: mọi loại mây hoa, mọi loại mây hương. Mọi loại mây trướng vòng hoa, mây hương xoa bôi, mây hương bột, mây lọng báu, mây tòa báu, mây phướng báu, mây phan báu, mây quần áo báu màu nhiệm, mây vật dụng làm bằng mọi báu, mây các Thượng Vị của cõi Trời, mây nhóm báu Ma Ni…Mọi loại mây cúng vô lượng sắc loại các báu như vậy, hồi hướng cúng dường tất cả chư Phật, các hàng Bồ Tát

Lại nên nguyện dùng một Tiểu Thiên Thế Giới làm một chén đèn, bên trong tràn đầy lượng dầu thơm, dùng khoảng một trăm núi Tu Di làm cây đuốc, dùng ánh lửa báu thắp sáng, phát ra ánh sáng lớn cúng dường tất cả chư Phật Bồ Tát. Như vậy cúng dường không có cùng tận.

Lại nên khuyến thỉnh tất cả Như Lai đến cây Bồ Đề, giáng phục chúng Ma, thành Đẳng Chính Giác (Samyaksaṃbudha), chuyển bánh xe Diệu Pháp (Saddharma-cakra), trụ lâu một Đại Kiếp (Mahā-kalpa), đừng vào Niết Bàn (Parinirvāṇa: Bát Niết Bàn)

Lại nên đem mọi loại căn lành này hồi hướng cho chúng sinh, nguyện các chúng

sinh mau chứng A Nậu Đa La Tam Miểu Tam Bồ Đề (Anuttarāsamyaksaṃbuddhi:Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác).

Như vậy khi hồi hướng thời chẳng thấy Tâm hay hồi hướng, chẳng nhận lấy cảnh đã hướng đến, chẳng vào nơi đã hồi hướng căn lành, ba Luân (gồm có Thân Luân, Khẩu Luân, Ý Luân) thanh tịnh

Lại nữa tất cả Như Lai, tất cả Bồ Tát, tất cả chúng sinh. Hết thảy Công Đức của nhómloại như vậy, con đều tùy vui.

Lại tác nguyện này: “Dùng căn lành này, nguyện khiến cho tất cả các chướng, nghiệp ác rất nặng của chúng con đều được tiêu diệt”.

_Bấy giờ Đức Thế Tôn liền nói Hồi Hướng Đà La Ni là:

“Án (1) sa-ma la, sa-ma la (2) vi ma nẵng (3) sa la (4) ma ha chước ca-la (5) phộc (6) hồng (7)”

Đức Phật nói: “Mọi loại vật cúng đã nói như trên, dùng sức của Hồi Hướng Đà La Ni này, ở trước mặt chư Phật đều được thành tựu cúng dường chân thật, tất cả chư Phật thảy đều nhiếp thọ.

Nếu kẻ trai lành, người nữ thiện có thể đối với Môn Đại Hồi Hướng Luân Đà La Ni này, hoặc đúng thời, chẳng đúng thời, hoặc ngày, hoặc đêm…ngầm niệm một biến, quán sát vận tưởng. đem vật cúng lúc trước cung kính cúng dường chư Phật Bồ Tát. Do sức này cho nên nghiệp tội rất nặng của nhóm năm Vô Gián đều được tiêu diệt, huống chi là tội nhẽ mà chẳng trừ diệt được sao!?…Tất cả phiền não đều được mỏng nhạt, như trước đã nói: mười Lực Vô Úy, các nhóm Công Đức thảy đều đầy đủ.

Nếu người tạm đối với Đà La Ni này, suy tư một lần, liền được trăm lần chuyển sinh trong cung Đế Thích, lại được trăm lần chuyển sinh trong cung Phạm Vương, ban đêm ở trong mộng thấy Phật Bồ Tát vì mình nói Diệu Pháp, không có các mộng ác, đối với các Tổng Trì đều được thành tựu, tùy Nguyện sinh về Tịnh Thổ của chư Phật.

KINH THỦ HỘ QUỐC GIỚI CHỦ ĐÀ LA NI

_QUYỂN THỨ NHẤT (Hết)_

*********

QUYỂN THỨ HAI

ĐÀ LA NI PHẨM THỨ HAI_CHI HAI

Bấy giờ Đức Thế Tôn như Tượng Vương (Gaya-rāja: vua của loài voi) quay lại quán sát khắp Đại Chúng, lại bảo Nhất Thiết Pháp Tự Tại Vương Bồ Tát Ma Ha Tát rằng: “Này Thiện Nam Tử! Trong Hội này có hai loại người, một là thành tựu, hai là chưa thành tựu. Nay Ta lại vì người chưa thành tựu dùng phương tiện khéo, tuỳ thuận thí dụ, ngôn từ của Thế Đế (Saṃvṛti-satya) nói Pháp Nhất Thừa (Ekayāna). Như đời có Pháp tên là Ca Lâu La (Garuḍa), muốn tu Pháp này thì trước tiên tô vẽ tượng Ca Lâu La (Garuḍa:Kim Sí Điểu), xem xét kỹ lưỡng, quán sát Quán Hạnh thuần thục. Song, rời tượng vẽ, tay kết Thủ Ấn, tưởng thân của mình thành Ca Lâu La, tác Ngũ Đại Quán (quán sát năm Đại):

Một là quán Đất (Pṛthivi) tác quán màu trắng.

Hai là Nước (Ab) tác quán màu xanh lục.

Ba là quán Lửa (Tejo) tác quán màu đỏ vàng.

Bốn là quán Gió (Vāyu) tác quán màu đen.

Năm là quán Không (Ākāśa:hư không) tác quán màu xanh

Quán này thành xong thì tất cả chất độc đều thành chẳng phải là chất độc (phi độc), nghĩa là hoặc chất độc của hữu tình, hoặc chất độc của Phi Tình (chẳng phải là hữu tình). Hoặc khiến quay lại hỗ trợ, hoặc lấy hoặc bỏ, nhận làm tự tại

_Thiện Nam Tử! Bồ Tát Ma Ha Tát cũng lại như vậy. Nếu muốn nhập vào Quán, trước tiên nên nhập vào Tỳ Lô Giá Na Như Lai Tam Muội, nghĩa là quán thân thể của mình thành Kim Cương bền cứng chẳng thể hoại. Nên dùng thân làm Kim Cương Kiết Già nghĩa là đem bàn chân phải đè trên bắp đùi trái, thẳng thân ngồi ngay ngắn, hơi động gốc lưỡi, môi răng hợp nhau, tác Kim Cương Ngữ. Kim Cương Ngữ là không có tiếng nói, chỉ dùng Tâm niệm thầm, dùng Trí bền chặt quán sát kỹ lưỡng, trái tim của mình dùng làm vành trăng ở ngay đầu lỗ mũi chẳng cho chạy tan, trong sạch tròn đầy, màu như tuyết đọng, sữa bò, thuỷ tinh….Song, vành trăng này là Tâm Bồ Đề (Bodhi-citta), Tâm Bồ Đề này vốn không có sắc tướng. Vì các chúng sinh chưa thành tựu, cho nên nói như vành trăng. Nên dùng tay phải tác Kim Cương Quyền để ngang trái tim nắm ngón cái của tay trái.

Đây gọi là Năng Dữ Vô Thượng Bồ Đề Tối Tôn Thắng Ấn, tức là Ấn của Bản Sư Tỳ Lô Giá Na Như Lai.

_Bấy giờ Đức Thế Tôn liền nói Đà La Ni là:

“Án, hồng, nhạ, hộ, sa”

 

Quán sát Đà La Ni này như thế nào? Nên đem chữ Án (輆: Oṃ) an trong vành trăng đã quán lúc trước, để ở trên đỉnh đầu. Quán chữ Án này có màu như Kha Tuyết (tuyết trắng tinh). Tưởng này thành xong, liền thấy thân của mình ngồi trong vành trăng, liền được thành tựu Tỳ Lô Giá Na (Vairocana), dùng vô lượng vô biên số bụi nhỏ Trí (Jñāna) của nhóm như vậy thành tựu thân này. Đây tức gọi là đủ tất cả Trí (Cụ Nhất Thiết Trí) cũng được tên gọi là đủ Trí Kim Cương (Cụ Kim Cương Trí). Tu Quán này là Trí của Du Già (Yoga), cũng là Bát Nhã Ba La Mật Đa (Prajña-pāramitā), cũng tức gọi là Quả của các Bồ Tát. Quả này hay được ba loại chân thật. Nhóm nào là ba? Một là được Chân Thật Bất Khả Tư Nghị Nhất Thiết Trí Trí Chư Phật Cảnh Giới Tam Muội lúc trước, hai là được Chân Ngôn bí mật chân thật lúc trước, ba là được Ấn Khế bí mật chân thật lúc trước.

Quán lúc trước thành xong. Liền tưởng trên đỉnh đầu tuôn ra ánh sáng trắng, lại dùng trăm ngàn vạn ức ánh sáng để làm quyến thuộc, bên dưới đến Địa Ngục A Tỳ (Avīcī), bên trên đến cõi Trời A Ca Ni Tra (Akaniṣṭha-deva:Sắc Cứu Cánh Thiên). Trong đó hết thảy tất cả chúng sinh sống chết từ vô thuỷ, Vô Minh đen tối, mù loà không có con mắt Trí (Jñāna-cakṣu:Trí Nhãn) do ngọn đèn Bát Nhã Ba La Mật Đa này mở được con mắt Phật (Buddha-cakṣu Phật Nhãn) ấy. Như chỗ u ám trong sơn cốc sâu thẳm là nơi mà ánh sáng của mặt trời mặt trăng chẳng thể soi chiếu đến, nếu thắp một ngọn đèn thì sự tăm tối lâu dài được trừ bỏ tất cả. Tại sao thế? Do Pháp như vậy, cho nên Tỳ Lô Giá Na Như Lai Tam Muội phóng ánh sáng màu trắng cũng lại như vậy.

_Lại nữa Thiện Nam Tử! Hành Giả từ Tam Muội này khởi xong. Tiếp theo lại nhập vào Bất Động Tam Muội, hướng mặt về phương Tây cũng tác Kim Cương Kiết Già như lúc trước, thẳng thân ngồi ngay ngắn, nên dùng tay trái nắm lấy hai góc của y phục đã mặc quấn quanh cổ tay trái, dùng Quyền nắm bên trên ló ra hai góc, tay phải đè mặt đất. Đây tức tên là Năng Tồi Phục Ấn, tất cả chúng Ma với các Ngoại Đạo, các nhóm Hoặc Nghiệp đều chẳng thể lay động. Tức là Ấn của A Súc Như Lai.

 

Tiếp theo, cũng ngầm tụng Tỳ Lô Giá Na Như Lai Chân Ngôn như trên đã nói. Nên đem chữ Hồng (猲:Hūṃ) ở trong vành trăng đặt ở trên đỉnh đầu, quán chữ Hồng (猲:Hūṃ) này màu xanh. Quán tưởng thành xong, tiếp theo quán khắp thân đều là màu xanh, thân này liền thành A Súc Như Lai (Akṣobhya-tathāgata).

Quán này thành xong, liền từ trên đỉnh đầu phóng ánh sáng màu xanh, cũng dùng vô số trăm ngàn ánh sáng làm quyến thuộc. Trong mỗi một ánh sáng đều có vô lượng Kim Cương Bồ Tát màu xanh hiện ra, đều tác Ấn này, ánh sáng chiếu trong hằng hà sa số Thế Giới ở phương Đông, trong ấy chúng sinh gặp được ánh sáng này thì hết thảy Tâm: lừa dối, cướp đoạt, giết hại thảy đều buông lìa, vắng lặng chẳng động.

_Này Thiện Nam Tử! Hành Giả từ Tam Muội này đấy lên xong. Lại ở phương Nam, ngồi hướng mặt về phương Bắc, cũng làm Kim Cương Kiết Già như trên, ngồi ngay ngắn, thân ngay thẳng, tay trái như lúc trước cầm hai góc áo, ngửa lòng bàn tay phải, gọi là Mãn Nguyện Ấn. Đây tức là Ấn của Bảo Sinh Như Lai (Ratnasaṃbhava-tathāgata)

Tiếp theo, cũng tụng Tỳ Lô Giá Na Như Lai Chân Ngôn lúc trước, tác quán chữ Nhạ (Ja), nên đem chữ này ở trong vành trăng đặt ở trên đỉnh đầu như màu vàng sáng rực. Quán Tưởng thành xong, dần dần quán khắp thân đều là màu vàng sáng rực, thân này liền thành Bảo Sinh Như Lai.

Quán này thành xong, liền từ trên đỉnh đầu phóng ánh sáng màu vàng ròng, cũng dùng vô số trăm ngàn ánh sáng làm quyến thuộc. Trong mỗi một ánh sáng đều có vô lượng Kim Cương Bồ Tát màu vàng ròng hiện ra, đều làm Ấn này, trong bàn tay của mỗi một vị Bồ Tát đều tuôn mưa báu Như Ý, ánh sáng chiếu hằng sa Thế Giới ở phương Nam. Chúng sinh trong ấy gặp được ánh sáng này thì hết thảy nguyện cầu đều được đầy đủ.

_Lại ở phương Tây, ngồi hướng mặt về phương Đông, cũng làm Kim Cương Kiết Già như trên, ngồi ngay ngắn, thân ngay thẳng,ngửa lòng bàn tay trái để ở trên rốn, ngửa lòng bàn tay phải đặt chồng lên trên bàn tay trái, đem ngón cái khiến cùng trụ đầu ngón. Ấn này gọi là Ấn của Tam Muội tối thắng bậc nhất, hay diệt cuồng loạn, tất cả vọng niệm, khiến Tâm có một cảnh, tức là Ấn của A Di Đà Như Lai (Amitābhatathāgata)

Cũng tụng Tỳ Lô Giá Na Như Lai Chân Ngôn như trên, tác quán chữ Hộ (旭:Ho), nên đem chữ này ở trong vành trăng đặt ở trên đỉnh đầu như màu hoa sen hồng. Quán Tưởng thành xong, dần dần quán khắp thân đều là màu hoa sen hồng, liền thành A Di Đà Như Lai (Amitābha-tathāgata)

Quán này thành xong, liền từ trên đỉnh đầu phóng ánh sáng màu hoa sen hồng, cũng dùng vô số trăm ngàn ánh sáng làm quyến thuộc. Trong mỗi một ánh sáng đều có vô lượng Bồ Tát màu hoa sen hồng hiện ra, đều làm Ấn này, nhập vào Tam Muội (Samādhi), ánh sáng chiếu hằng sa Thế Giới ở phương Tây. Chúng sinh trong ấy gặp được ánh sáng này đều nhập vào Tam Muội.

_Lại ở phương Bắc, ngồi hướng mặt về phương Nam, cũng làm Kim Cương Kiết Già như trên, ngồi ngay ngắn, thân ngay thẳng, Tay trái như lúc trước cầm hai góc áo, tay phải giương lòng bàn tay dựng thẳng năm ngón tay ngang vai, hướng ra bên ngoài, gọi là Thí Vô Úy. Ấn này hay ban cho tất cả chúng sinh an vui không có sợ hãi, tất cả người ác chẳng thể gây não hại, tức là Ấn của Bất Không Thành Tựu Như Lai (Amogha-siddhi-tathāgata)

 

Tiếp theo, cũng tụng Tỳ Lô Giá Na Như Lai Chân Ngôn như trên, tác quán chữ Sa (屹:Sa), nên đem chữ này ở trong vành trăng đặt ở trên đỉnh đầu, đủ cả năm màu. Quán Tưởng thành xong, dần dần quán khắp thân đều là năm màu,liền thành Bất

Không Thành Tựu Như Lai (Amogha-siddhi-tathāgata)

Quán này thành xong, liền từ trên đỉnh đầu phóng ánh sáng năm màu, cũng dùng vô số trăm ngàn ánh sáng làm quyến thuộc. Trong mỗi một ánh sáng đều có vô lượng Quang Minh Bồ Tát năm màu hiện ra, đều làm Ấn này, đều ban cho sự không sợ hãi, ánh sáng chiếu hằng sa Thế Giới ở phương Bắc. Chúng sinh trong ấy gặp được ánh sáng này đều được sự không sợ hãi”.

_Đức Phật lại bảo Nhất Thiết Pháp Tự Tại Vương Bồ Tát rằng: “ Như trên đã nói Pháp của Tự Chứng, chỉ tự mình chứng biết, chẳng phải là lời có thể nói, lìa các tướng thấy (kiến tướng). Vì các chúng sinh chưa thành tựu cho nên ở trong Vô Tướng dùng Tướng hiển bày, ở trong Vô Ngôn Thuyết dùng lời tuyên nói. Ví như thành Càn Thát Bà trong hư không, chẳng phải là thật mà hiện ra thật”.

Bấy giờ, Đức Phật lại bảo Nhất Thiết Pháp Tự Tại Vương Bồ Tát với các Đại Chúng rằng: “Này các Phật Tử! Trong tất cả các Thế Giới ở mười phương, vô lượng vô số trăm ngàn vạn ức chúng sinh khác loài, hoặc có chúng sinh chẳng đủ các Căn, hoặc lại đầy đủ năm nghiệp Vô Gián, người giết mổ (đồ nhi), đao phủ (khôi quái), Chiên Đà La (Caṇḍāla:người hiểm ác)… Đối với tất cả, đều ở trong Tam Muội chẳng thể nghĩ bàn, tu tập hướng vào (thú nhập) thảy đều có phần, trừ năm loại người.

Nhóm nào là năm? Một là chẳng tin, hai là Đoạn Kiến (Uccheda-dṛṣṭi:chấp trước cho rằng ta và thế gian cuối cùng đều bị diệt hết, không còn gì cả, không có nhân quả nối tiếp nhau), ba là Thường Kiến (Nitya-dṛṣṭi hay Śaśvata-dṛṣṭi: chủ trương Thế Giới là thường trụ chẳng biến đổi, Tự Ngã của nhân loại chẳng diệt, con người sau khi chết thì Tự Ngã chẳng bị tiêu diệt, lại sinh trở lại, tức nói cái Ta là thường trụ), bốn là Tà Kiến (Mithyā-dṛṣṭi: Chấp biết sai lệc. Chủ yếu là bài xích bốn Đế, đạo lý của Nhân Quả), năm là hoài nghi. Năm loại người như vậy không có Từ Bi

_Thiện Nam Tử! Nếu lại có người hay tạm tu tập Tam Muội này, thân thâm nhẹ nhàng an ổn, liền hay sinh ở năm loại Tam Muội.

Nhóm nào là năm? Một là Sát Na Tam Muội, hai là Vi Trần Tam Muội, ba là Tiệm Hiện Tam Muội, bốn là Khởi Phục Tam Muội, năm là An Trụ Tam Muội.

Thế nào gọi là Sát Na Tam Muội (Kṣana-samādhi)? Ấy là quán vành trăng mỗi một Sát Na (Kṣana), tạm nắm giữ tương ứng, xét tìm lại nhanh chóng mất đi. Thế nên gọi là Sát Na Tam Muội.

Thế nào gọi là Vi Trần Tam Muội (Aṇu-raja-samādhi)? Ấy là ở Tam Muội (samādhi) có chút phần tương ứng, ví như có người chẳng biết mùi vị của Mật, chỉ được khoảng hạt bụi nhỏ ở cái lưỡi (thiệt căn) ấy thì yêu thích an vui, đều quên đi cái niệm đói khát bệnh tật, chỉ lần lượt chuyên tâm mong cầu được nhiều. Tâm của Tam Muội này cũng lại như vậy, được chút phần tương ứng đều quên đi tất cả phiền não đói khát, Tâm được an vui, chuyên luân phiên mong cầu.

Thế nào gọi là Tiệm Hiện Tam Muội? Ấy là do được chút ít, yêu thích an vui dần dần tăng thắng, lông trên thân đều dựng đứng, buồn khóc rơi nước mắt, như trong vật màu đen nhìn thấy một sợi dây trắng. Đây cũng như vậy, do quán vành trăng được chút phần, trụ ở trong Vô Minh ám tối phiền não, thấy chút phần nhỏ nhiệm của Tâm Định hiển hiện.

Thế nào gọi là Khởi Phục Tam Muội? Ấy là Quán Hạnh chưa thuần, hoặc dấy lên hoặc diệt, như cái cân hạ xuống đưa lên, quán thành hoặc diệt, quán mất hoặc sinh

Thế nào gọi là An Trụ Tam Muội? Do bốn Tâm Định lúc trước được an trụ, đều hay thủ hộ tất cả Pháp tốt lành (thiện Pháp), tăng triển sự tốt lành mới (tân thiện), thân tâm an vui. Như trong mùa hạ cực nóng, lặn lội qua bãi cát xa xăm, chịu nóng khát lâu ngày, chợt được nước trong mát lạnh của núi tuyết thì hết thảy nóng khát, lo khổ đều trừ. Đây cũng như vậy, được Tam Muội này thì Nghiệp, Hoặc, Khổ tất cả đều phân phát đi. Đây là mầm Vô Thượng Bồ Đề sinh ra.

Thiện Nam Tử! Như trên đã nói, các chúng sinh ác chẳng đủ các căn, có năm nghiệp Vô Gián còn ở trong đây tu nhận có phần, huống chi là tất cả Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di mà chẳng hướng vào được sao?!…

_Thiện Nam Tử! Nay Đại Chúng này, vô số chúng sinh nghe Pháp này xong đều đối với A Nậu Đa La Tam Miểu Tam Bồ Đề (Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác) được chẳng chuyển lùi, Thần Thông, mười Lực, bốn Vô Sở Úy, niệm niệm tăng tiến, vô số Tam Muội thảy đều hiện trước mặt. Ấy là: Yếm Ly Nhất Thiết Pháp Tam Muội, Siêu Quá Nhất Thiết Pháp Tam Muội, Nhất Thiết Pháp Bình Đẳng Tam Muội, Ly Chư Kiến Trù Lâm Tam Muội, Viễn Ly Vô Minh Ám Tam Muội, Nhất Thiết Pháp Ly Tướng Tam Muội, Giải Thoát Nhất Thiết Trước Tam Muội, Ly Nhất Thiết Giải Đãi Tam Muội, Thậm Thâm Pháp Phát Quang Tam Muội, Như Tu Di Sơn Tam Muội, Vĩnh Vô Thất Hoại Tam Muội, Tồi Hoại Ma Quân Tam Muội, Bất Trước Tam Giới Tam Muội, Xuất Sinh Quang Minh Tam Muội… Dùng nhóm như vậy làm Thượng Thủ, vô số Tam Muội đều hiện ngay trước mặt.

_Lại có vô lượng mọi loại chúng sinh được nơi vô số Đà La Ni Môn. Ấy là: Quán Chư Pháp Tính Đà La Ni Môn, Phát Bồ Đề Tâm Đà La Ni Môn, Sanh Bồ Đề

Nha Đà La Ni Môn, Liễu Kim Cương Tính Đà La Ni Môn, Đắc Phật Bình Đẳng Đà La Ni Môn, Nhất Thiết Pháp Bản Tính Thanh Tịnh Đà La Ni Môn, Nhất Thiết Pháp Bản Tính Nhiếp Thọ Đà La Ni Môn, Nhất Thiết Pháp Bản Tính Bất Khả

Đắc Đà La Ni Môn, Nhất Thiết Pháp Xuất Sinh Trí Tuệ Đà La Ni Môn, Nhất Thiết Pháp Giai Tất Thành Tựu Đà La Ni Môn, Nhất Thiết Pháp Chuyển Biến Tự Tại Đà La Ni Môn, Nhất Thiết Pháp Đại Quang Phổ Chiếu Đà La Ni Môn, Nhất Thiết

Pháp Viễn Ly Si Ám Đà La Ni Môn, Nhất Thiết Pháp Tâm Trí Thanh Tịnh Đà La Ni Môn, Nhất Thiết Pháp Giai Bất Khả Đắc Đà La Ni Môn, Phổ Tán Nhất Thiết Chúng Bảo Diệu Hoa Đà La Ni Môn, Bản Tính Hiển Hiện Xuất Sinh Chư Pháp Đà La Ni Môn, Viễn Ly Nhất Thiết Chư Huyễn Hóa Pháp Đà La Ni Môn, Như Kính Viên Minh Xuất Sinh Ảnh Tượng Đà La Ni Môn, Xuất Sinh Nhất Thiết Chúng Sinh Âm Thanh Đà La Ni Môn, Lệnh Chư Chúng Sinh Tối Cực Hoan Hỷ Đà La Ni

Môn, Xảo Thuận Nhất Thiết Chúng Sinh Âm Thanh Đà La Ni Môn, Xuất Sinh Chủng Chủng Âm Thanh Tự Cú Đà La Ni Môn, Vô Hữu Chướng Ngại Đà La Ni Môn, Bản Tính Xảo Tiện Đà La Ni Môn, Giải Thoát Phiền Não Đà La Ni Môn, Ly Nhất Thiết Trần Đà La Ni Môn, Phân Biệt Tự Nghĩa Đà La Ni Môn, Giải Liễu Chư Pháp Đà La Ni Môn, Nhất Thiết Pháp Vô Ngại Tế Đà La Ni Môn, Do Như Hư Không Đà La Ni Môn, Do Như Kim Cương Đà La Ni Môn, Cận Sắc Quang Vương Đà La Ni Môn, Đắc Tối Tôn Thắng Đà La Ni Môn, Bất Thoái Chuyển Nhãn Đà La Ni Môn, Pháp Giới Xuất Sinh Đà La Ni Môn, Thường Thí An Ủy Đà La Ni Môn, Như Sư Tử Hống Đà La Ni Môn, Siêu Chúng Sinh Phước Đức Đà La Ni Môn, Ly Chư Ưu Não Đà La Ni Môn, Ly Chư Quá Ác Đà La Ni Môn, Diệu Hoa Trang Nghiêm Đà La Ni Môn, Phá Chư Nghi Võng Đà La Ni Môn, Chư Pháp Thuận Như

Đà La Ni Môn, Xuất Hiện Chư Pháp Đà La Ni Môn, Đại Thanh Thanh Tịnh Tự Tại Vương Đà La Ni Môn, Vô Tận Bảo Khiếp Đà La Ni Môn, Vô Biên Tuyền Phúc Đà La Ni Môn, Hải Ấn Đà La Ni Môn, Liên Hoa Trang Nghiêm Đà La Ni Môn, Năng Nhập Vô Trước Đà La Ni Môn, Tiệm Tiệm Thâm Nhập Tứ Vô Ngại Trí Đà La Ni Môn, Nhất Thiết Chư Phật Hộ Trì Trang Nghiêm Đà La Ni Môn… Nhóm Pháp như vậy làm Thượng Thủ, vô lượng vô số Đà La Ni Môn thảy đều hiện trước mặt”.

_Lúc đó, Nhất Thiết Pháp Tự Tại Vương Bồ Tát Ma Ha Tát bạch Phật rằng: ‘Thế Tôn! Vô số Đà La Ni Môn như vậy thời nhóm Đà La Ni Môn nào hay khiến cho Bồ Tát tổng trì Diệu Pháp do chư Phật đã nói mà chẳng bị hoại mất? Nhóm Đà La Ni Môn nào hay khiến cho Bồ Tát khi nói Pháp này thời biện tài không có ngăn ngại? Nhóm Đà La Ni Môn nào hay khiến cho Bồ Tát khi nói Pháp này thời tất cả chúng sinh yêu thích vui vẻ?”

Đức Phật bảo Nhất Thiết Pháp Tự Tại Vương Bồ Tát rằng: “Này Thiện Nam Tử! Có tám Đà La Ni Môn, nếu thọ trì sẽ hay khiến cho Bồ Tát tổng trì Phật Pháp, biện tài không cùng tận, chúng sinh ưa thích nghe. Nhóm nào là tám? Ấy là: Đại Thanh Thanh Tịnh Tự Tại Vương Đà La Ni Môn, Vô Tận Bảo Khiếp Đà La Ni Môn, Vô Biên Tuyền Phúc Đà La Ni Môn, Hải Ấn Đà La Ni Môn, Liên Hoa Trang Nghiêm Đà La Ni Môn, Năng Nhập Vô Trước Đà La Ni Môn, Tiệm Tiệm Thâm Nhập Tứ Vô Ngại Trí Đà La Ni Môn, Nhất Thiết Chư Phật Hộ Trì Trang Nghiêm Đà La Ni Môn…Nếu Bồ Tát hay đối với tám loại Đà La Ni Môn này thọ trì, tu tập tức hay tổng trì Diệu Pháp mà tất cả Như Lai đã nói, biện tài không cùng tận, cũng khiến cho chúng sinh yêu thích vui vẻ”.

_Khi ấy, Nhất Thiết Pháp Tự Tại Vương Bồ Tát bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Nguyện xin Đức Như Lai thương xót chúng con, rộng phân biệt nói như tám loại Đà La Ni Môn này, Bồ Tát được nghe tức hay ở đây siêng năng cầu hướng vào”

Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo Nhất Thiết Tự Tại Vương Bồ Tát rằng: “Lành thay! Lành thay Thiện Nam Tử! Hãy nghe cho kỹ! Hãy nghe cho kỹ! Hãy khéo nghĩ nhớ! Nay sẽ vì ông rộng phân biệt nói, khiến cho Bồ Tát được vào Môn này.

Thiện Nam Tử! Thế nào gọi là Đại Thanh Thanh Tịnh Đà La Ni Môn? Nếu có Bồ Tát tu tập nơi Đà La Ni Môn này thì nên dùng niệm màu nhiệm thanh tịnh không có dính mắc, an trụ chân thật, Tâm dứt hết sự dao động, Uy Nghi lặng yên, dùng Tâm quyết định nói Pháp vi diệu, khiến cho hết thảy chúng sinh trong một cõi Phật, tùy theo âm của loài ấy nghe được khắp tiếng ấy, đều hiểu nghĩa ấy. Như vậy hoặc hai cõi Phật, hoặc một ngàn cõi Phật, hoặc hai ngàn cõi Phật cho đến mười phương vô lượng vô biên câu chi na do tha trăm ngàn cõi Phật, chúng sinh trong đấy cũng đều tùy theo loài, nghe được khắp tiếng ấy, đều hiểu nghĩa ấy.

Này Thiện Nam Tử! Nếu Bồ Tát này ở trong Chúng Hội, ngồi trên tòa Sư Tử. Tòa ấy cao một câu lô xá (Krośa: 500 Cung, hay 5 dặm), dùng uy lực của Sư Tử Vương (Siṃha-rāja) gìn giữ mọi báu nghiêm sức. Như vậy, hoặc lại cao khoảng nửa Do Tuần (Yojana), một Do Tuần, một ngàn Do Tuần, hoặc lại cao bằng Tu Di Sơn Vương, hoặc lại cao đến cõi Phạm Thiên. Tùy theo nơi mà Tâm của các chúng sinh ưa thích, khiến cho họ đều thấy thân, tòa lớn nhỏ để mà thuyết Pháp. Ngay lúc nói Pháp thời chư Phật ở mười phương đều hiện ra trước mặt, vì Bồ Tát này diễn nói Diệu Pháp (Saddharma). Bồ Tát nghe xong, liền hay dùng sức của Đà La Ni này, một thời nghe kỹ thì tổng trì chẳng quên, vào sâu trong nghĩa lý, hiện chứng tương ứng, thân tâm vui sướng, trong mỗi một Pháp thành Tính của một cảnh, mỗi một chữ, câu, văn không có chỗ nghe tức vào lúc lắng nghe Pháp như vậy thời thường diễn nói không có chướng ngại

Nếu các Bồ Tát vào sâu trong Môn tiếng của một chữ (Nhất Tự Thanh Môn) như vậy thì tất cả Pháp đều nhập vào Môn này, tức từ Môn này sinh ra diễn nói tất cả các Pháp.

Lại trước tiên nói Môn chữ A (唒) thứ nhất sinh ra vô biên vô số Pháp Môn.

Ấy là: A là tất cả Pháp không có đến, do Thể (Svabhāva: Chân Thể hoặcThể Tính) của tất cả Pháp không có đến (vô lai)

Lại chữ A là tất cả Pháp không có đi, do Thể của tất cả Pháp không có đi (vô khứ)

Lại chữ A là tất cả Pháp không có lưu chuyển tạo ứng (Saṃskāra:Hành) vì Thể không có lưu chuyển tạo ứng.

Lại chữ A là tất cả Pháp không có đứng lại (Trụ) Thể không có đứng lại.

Lại chữ A là tất cả Pháp không có Bản Tính vì Thể vốn thanh tịnh.

Lại chữ A là tất cả Pháp không có gốc rễ vì Thể khởi đầu chưa sinh ra Lại chữ A (唒) là tất cả Pháp không có kết thúc vì Thể không có khởi đầu

Lại chữ A là tất cả Pháp không có tận hết vì Thể không có chỗ đi.

Lại chữ A là tất cả Pháp không có sanh ra vì Thể không có lưu chuyển tạo ứng.

Lại chữ A  là tất cả Pháp không có xuất ra vì Thể không có người tạo làm.

Lại chữ A là tất cả Pháp không có mong cầu vì Thể không có tướng.

Lại chữ A là tất cả Pháp không có ngăn ngại vì Tướng của Thể quan hệ buộc vào nhau.

Lại chữ A là tất cả Pháp không có diệt vì Thể không có Chủ Tể.

Lại chữ A là tất cả Pháp không có chỗ đến (vô hành xứ) vì Thể không có nguyện.

Lại chữ Alà tất cả Pháp không có sống chết vì Thể lìa phân biệt, không phân biệt

Lại chữ là tất cả Pháp không có lời nói (vô ngôn thuyết) vì âm tiếng cùng tột của Thể buộc vào nhau

Lại chữ A là tất cả Pháp chẳng thể nói vì Thể không có âm tiếng Lại chữ A (唒) là tất cả Pháp không có sai biệt vì Thể không có nơi chốn.

Lại chữ A là tất cả Pháp không có phân biệt vì Thể thanh tịnh.

Lại chữ A là tất cả Pháp không có Tâm Ý vì Thể chẳng thể mong cầu.

Lại chữ A là tất cả Pháp không có cao thấp vì Thể vốn bình đẳng

Lại chữ A là tất cả Pháp chẳng thể hiểu biết vì Thể như Hư Không.

Lại chữ A là tất cả Pháp chẳng thể nói vì Thể vượt qua đường nói năng. Lại chữ A (唒) là tất cả Pháp không có hạn lượng vì Thể không có nơi chốn Lại chữ A (唒) là tất cả Pháp không có sinh ra vì Thể không có nơi sinh ra.

Lại chữ A là tất cả Pháp không có Bản Tịnh (xưa nay trong sạch) vì Thể không có tướng.

Lại chữ A là tất cả Pháp không có cái ta (vô ngã) vì Thể tức là Tính của cái ta (ngã tính)

Lại chữ A là tất cả Pháp không có chúng sinh vì Thể vốn thanh tịnh.

Lại chữ Alà tất cả Pháp không có tuổi thọ (thọ giả) vì Thể không có gốc của mạng sống (mệnh căn)

là tất cả Pháp không có Bổ Đặc Già La (Pudgala: con người, chúng sinh, tên gọi riêng của cái Ta) vì Thể lìa nơi nắm lấy (sở thủ)

Lại chữ A là tất cả Pháp không có Bản Không (xưa nay trống rỗng) vì tính của Thể vắng lặng.

Lại chữ A là tất cả Pháp không có tướng vì Tính của Thể thật không có bờ mé.

Lại chữ A là tất cả Pháp không có hòa hợp vì Tính của Thể không có sinh ra.

Lại chữ A là tất cả Pháp không có lưu chuyển tạo ứng (vô hành) vì Thể vốn không có tạo làm (Asaṃskāra: vô vi)

Lại chữ A là tất cả Pháp không có tạo làm (Asaṃskāra: vô vi) vì Thể vượt qua lưu chuyển tạo ứng (hành), không có lưu chuyển tạo ứng (vô hành).

Lại chữ A là tất cả Pháp không có chung cùng (bất cộng) vì Thể không có người hay hiểu biết.

Lại chữ A là tất cả Pháp không có tụ hội vì Thể không có gom chứa

Lại chữ A là tất cả Pháp không có xuất ra vì Thể không có nơi xuất ra.

Lại chữ A là tất cả Pháp không có Bản Tính vì Thể không có thân.

Lại chữ A là tất cả Pháp không có tướng vì Tướng của Thể xưa nay thanh tịnh (bản tịnh)

Lại chữ A là tất cả Pháp không có Nghiệp (Karma) vì Thể không có người tạo làm

Lại chữ A là tất cả Pháp không có Quả (Phala) vì Thể không có con đường của nghiệp (Karma-mārga)

Lại chữ A là tất cả Pháp không có gieo trồng vì Thể không có hạt giống (chủng tử)

Lại chữ A là tất cả Pháp không có cảnh giới vì Thể chẳng có thể nắm lấy

Lại chữ A là tất cả Pháp không có Địa Giới vì Thể không có các liên kết

Lại chữ A là tất cả Pháp không có cột buộc vì Thể vốn tan diệt

Lại chữ A là tất cả Pháp không có tụ, tanThể vốn không có tạo làm.

Lại chữ A là tất cả Pháp không có chảy rỉ vì Thể chẳng sinh ra mê hoặc

Lại chữ A là tất cả Pháp không có tự sinh ra vì Thể khởi đầu không có sinh ra.

Lại chữ A là tất cả Pháp không có vẩn đục vì Thể không có đối chiếu.

Lại chữ A là tất cả Pháp không có đối chiếu vì Thể vốn không có tạo làm

Lại chữ A là tất cả Pháp không có hình sắc vì Thể không có Đại Chủng  (Mahā-bhūta: yếu tố của bốn Đại: đất, nước, gió, lửa kết cấu thành Sắc Pháp)

Lại chữ A là tất cả Pháp không có thọ nhận vì Thể không có người thọ nhận.

Lại chữ A là tất cả Pháp không có tưởng (Saṃjña: tri giác) vì Thể vượt qua các tướng

Lại chữ A là tất cả Pháp không có động tác hành vi (Acarita: vô hạnh) vì Thể lìa sự yêu thích cái có (hữu ái)

Lại chữ A là tất cả Pháp không có nhận thức (Vijñāna:thức) vì Thể không có phân biệt

là tất cả Pháp không có Giới (Dhātu) vì Thể trống rỗng (Śūnya:không), bình đẳng (sama)

Lại chữ A là tất cả Pháp không có Nhập (Āyatana:xứ) vì Thể vượt qua môn cảnh giới

Lại chữ A là tất cả Pháp không có cảnh giới (Viṣaya) vì Thể không có nơi đi

Lại chữ A là tất cả Pháp không có ham muốn vì Thể lìa phân biệt.

Lại chữ A là tất cả Pháp không có Sắc (Rūpa: hình thể màu sắc) vì Thể không có gốc rễ

Lại chữ A là tất cả Pháp không có Vô Sắc (Arūpa: không hình thể màu sắc) vì Thể khó nghĩ thấy

Lại chữ A là tất cả Pháp không có loạn vì Thể không có thể loạn

Lại chữ A  là tất cả Pháp chẳng nghĩ bàn vì Thể chẳng thể đắc được

Lại chữ A là tất cả Pháp không có Ý vì Thể vốn không có hai

Lại chữ A là tất cả Pháp chẳng thể nắm nhận vì Thể vượt qua con đường của cảnh giới.

Lại chữ A là tất cả Pháp không có A Lại Gia (Ālaya: Tàng Thức) vì Thể không có Nhân Duyên.

Lại chữ A là tất cả Pháp không có thường vì Thể vốn không có Nhân (Hetu)

Lại chữ A là tất cả Pháp không có chặt đứt vì Thể chẳng ngăn ngại Nhân (Hetu).

Lại chữ A là tất cả Pháp không có tên gọi vì Thể không có tướng mạo.

Lại chữ A là tất cả Pháp không có lìa vì Thể chẳng nhập vào nhau

Lại chữ A là tất cả Pháp không có trụ vì Thể không có chỗ trụ

Lại chữ A là tất cả Pháp không có nhiệt não vì Thể không có phiền não.

Lại chữ A là tất cả Pháp không có lo lắng bực dọc vì Thể không có nghiệp ác

Lại chữ A là tất cả Pháp không có Tập Khí vì Thể vốn không có dơ bẩn.

Lại chữ A là tất cả Pháp không có dơ bẩn vì Thể vốn trong sạch.

Lại chữ A là tất cả Pháp không có vốn trong sạch (bản thanh tịnh) vì Thể không có hình chất .

Lại chữ là tất cả Pháp không có Thể (Svabhāva: Chân Thể hoặc Thể Tính) vì Thể không có Y Chỉ (Āśraya: nương dựa dừng trụ ở nơi có sức có Đức mà chẳng lìa)

Lại chữ A là tất cả Pháp không có Y Chỉ vì Thể không có lay động tạo làm

Lại chữ A là tất cả Pháp không có lay động vì Thể lìa chấp dính.

Lại chữ A là tất cả Pháp không có chướng ngại vì Thể đồng với Hư Không

Lại chữ A là tất cả Pháp đồng với Hư Không vì Thể không có phân biệt.

Lại chữ A là tất cả Pháp không có Sắc, Tướng, ThểThể không có Nhân của cảnh giới

Lại chữ A là tất cả Pháp không có hiển bày vì Thể đều tương tự nhau.

Lại chữ A là tất cả Pháp không có tương tự nhau vì Thể không có cảnh giới

A là tất cả Pháp không có cảnh giới vì Thể như Hư Không thườngbì

Lại chữ A là tất cả Pháp không có ám tối vì Thể không có sáng

Lại chữ A là tất cả Pháp không có sáng vì Thể không có đối chiếu.

Lại chữ A là tất cả Pháp không có lỗi lầm vì Thể tốt lành màu nhiệm (diệu thiện)

Lại chữ A là tất cả Pháp không có đúng phải vì Thể không có sằng bậy

Lại chữ A là tất cả Pháp không có mở hiểu vì Thể không có lay động

Lại chữ A là tất cả Pháp không có nhìn thấy vì Thể không có hình sắc

Lại chữ A là tất cả Pháp không có nghe vì Thể không có âm tiếng

Lại chữ A là tất cả Pháp không có ngửi vì Thể không có mùi hương

Lại chữ A là tất cả Pháp không có thường vì Thể không có mùi vị

Lại chữ A là tất cả Pháp không có tiếp chạm vì Thể không có chỗ tiếp chạm

Lại chữ A là tất cả Pháp không có biết vì Thể không có Pháp

Lại chữ A là tất cả Pháp không có niệm vì Thể lìa Tâm, Ý, Thức

Lại chữ A là tất cả Pháp chẳng nghĩ bàn vì Tính của Thể là Bồ Đề bình đẳng, bình đẳng không có cao thấp

Lại chữ là tất cả Pháp vắng lặng vì Thể vốn chẳng sinh chẳng diệt

Này Thiện Nam Tử! Bồ Tát như vậy được Đại Thanh Thanh Tịnh Đà La Ni Môn này khi nhập vào chữ A thứ nhất thời diễn nói các Pháp, hoặc trải qua một năm, hoặc lại mười năm, trăm năm, ngàn năm, hoặc trăm ngàn năm, hoặc một Tiểu Kiếp, hoặc một Đại Kiếp cho đến vô lượng vô số Đại Kiếp…. khi nói Pháp này thời chẳng lìa chữ A. Như nói nghĩa của chữ A không có tận, nói các chữ khác cũng lại như vậy, chẳng thể cùng tận. Như vậy dựng lập, mở bày con mắt Pháp (Dharma-sakṣu: Pháp Nhãn), nghĩa ấy sâu xa, xảo diệu, đầy đủ sự trắng trong (thanh bạch: Phẩm hạnh thuần khiết không có điểm dơ)

Lại nữa, Thiện Nam Tử! Bồ Tát trụ Đà La Ni này cho nên được Thân thanh tịnh, uy nghi vắng lặng. Được Ngữ thanh tịnh cho nên biện tài không có ngại. Được Ý thanh tịnh cho nên Từ Bi quán sát. Được Thí thanh tịnh cho nên không có tiếc Tài Pháp, tùy vui ban cho người khác. Được Giới thanh tịnh cho nên không có phá, không có luồn lách, không có Khuyết lậu (nhân giữ Giới chẳng nghiêm mà vị phạm lỗi). Được Nhẫn thanh tịnh cho nên không có oán, không có đối nghịch, không có chướng ngại. Được Cần thanh tịnh (tinh tiến thanh tịnh) cho nên đối với sự nghiệp màu nhiệm không có chuyển lùi. Được Thiền thanh tịnh cho nên không có dính mắc, không có ngạo mạn, không có mùi vị. Được Tuệ thanh tịnh cho nên mở con mắt Trí Tuệ tháo bỏ màng si mê. Được Nghiệp thanh tịnh cho nên tu khắp tất cả Nghiệp thắng thiện. Được con mắt thanh tịnh cho nên có con mắt Trời (thiên nhãn) từ xa nhìn thấy tất cả hình sắc. Được lỗ tai thanh tịnh cho nên có lỗ tai Trời (thiên nhĩ) từ xa nghe được Pháp của chư Phật. Được lỗ mũi thanh tịnh cho nên ngửi khắp mùi hương Tịnh Giới của Như Lai. Được cái lưỡi thanh tịnh cho nên đắc được mùi vị thanh tịnh tùy theo Tâm. Được thân thanh tịnh cho nên tuy hiện ở trong mỗi một bào thai nhưng chẳng bị nhiễm. Được Ý thanh tịnh cho nên khéo hay phân biệt Pháp nhỏ nhiệm. Được hình sắc thanh tịnh cho nên khéo trang nghiêm hết thảy Sắc Tướng. Được âm tiếng thanh tịnh cho nên chỗ nghe được đều là thuận theo Pháp. Được mùi hương thanh tịnh cho nên được xông ướp mùi hương của Thí (bố thí), Giới (trì Giới),  Văn (lắng nghe). Được mùi vị thanh tịnh cho nên được tướng Thượng Vị của Đại Trượng Phu. Được tiếp chạm thanh tịnh cho nên nơi mà thân, tay tiếp chạm đều mềm mại nhiệm màu. Được Pháp thanh tịnh cho nên chỗ biết đều được Pháp Minh Môn. Được Niệm thanh tịnh cho nên nơi đã nghe được thì ghi nhớ, giữ gìn không có nghi ngờ quên mất. Được Tâm thanh tịnh cho nên vượt qua tất cả cảnh giới của Ma. Được Hạnh thanh tịnh cho nên vượt qua Pháp thâm sâu đã hiểu.

Này Thiện Nam Tử! Bồ Tát được Tối Thắng Bất Cộng Đại Thanh Thanh Tịnh Đà La Ni này cho nên âm tiếng lớn tràn khắp mười phương Thế Giới, ánh sáng chiếu khắp, vì chúng sinh trong tất cả Thế Giới ấy, phân biệt diễn nói Diệu Pháp mà tất cả Như Lai đã nói, khiến cho họ mở sáng tất cả con mắt Pháp

Thiện Nam Tử! Nay Ta lược nói Đại Thanh Thanh Tịnh Đà La Ni Môn này, bắt đầu nhập vào theo thứ tự Đức của chút phần trong một Môn. Nếu rộng nói, lại có vô số vô lượng vô biên Nghĩa chẳng thể nói. Như nói nơi một Môn chữ A này đều vô lượng vô biên chẳng thể cùng tận. Mỗi một chữ còn lại cũng lại như vậy đều dùng Môn Trí Tuệ không có dính mắc, dần dần tu nhập vào.

_Lại nữa, Thiện Nam Tử! Thế nào gọi là Vô Tận Bảo Khiếp Đà La Ni Môn?

Tiện Nam Tử! Ấy là trong một chữ nói tất cả Pháp đều không có cùng tận. Nhóm nào là tất cả Pháp không có cùng tận? Ấy là nói hình sắc (Rūpa: Sắc) không có tận. Như vậy nói hình sắc không có thường (vô thường), không có tận.

Nói hình sắc là Khổ (Duḥkha), không có tận

Nói hình sắc không có cái Ta (vô ngã), không có tận.

Nói hình sắc tịch diệt, không có tận

Nói hình sắc vắng lặng, không có tận

Nói hình sắc như đám bọt nổi, không có tận

Nói hình sắc như ảo, không có tận

Nói hình sắc như dợn nước dưới ánh nắng (dương diễm), không có tận

Nói hình sắc như mặt trăng trong nước, không có tận

Nói hình sắc như giấc mộng, không có tận

Nói hình sắc như tiếng vang dội lại (hưởng), không có tận

Nói hình sắc như hình tượng trong gương, không có tận

Nói hình sắc không có Bản Tính, không có tận

Nói hình sắc vốn không có (bản vô), không có tận

Nói hình sắc không có duyên tụ hội, không có tận

Nói hình sắc là cửa trống rỗng (không môn), không có tận

Nói hình sắc không có tướng, không có tận

Nói hình sắc không có Nguyện, không có tận

Nói hình sắc không có Hành, không có tận

Nói hình sắc sinh Pháp, không có tận

Nói hình sắc không có sinh, không có tận

Nói hình sắc Tiền Tế (Pūrvānta:chỉ quá khứ), không có tận

Nói hình sắc Trung Tế (Madhyānta:chỉ hiện tại), không có tận

Nói hình sắc Hậu Tế (Aparānta:chỉ tương lai), không có tận

Nói hình sắc tịch diệt, không có tận

Nói hình sắc gần gũi vắng lặng, không có tận

Nói hình sắc không có Tâm, Hành, Xứ, không có tận

Nói hình sắc không có đường nói năng (vô ngôn ngữ đạo), không có tận

Nói hình sắc chẳng thể nghĩ bàn, không có tận

Nói hình sắc chẳng thể so lường, không có tận

Nói hình sắc không có cái Ta (vô ngã), không có tận

Nói hình sắc không có chúng sinh, không có tận

Nói hình sắc không có tuổi thọ (thọ giả), không có tận

Nói hình sắc không có người nuôi dưỡng, không có tận

Nói hình sắc không có Bổ Đặc Già La, không có tận

Nói hình sắc không có biết, không có tận

Nói hình sắc không có tạo làm, không có tận

Nói hình sắc như cỏ, cây, ngói, sỏi, đá, tường vách; không có tận Nói hình sắc không có cầu được, không có tận

Nói hình sắc không có nơi mà Đại Chủng đã sinh ra, không có tận

Nói hình sắc không có âm tiếng, không có tận

Nói hình sắc không có dấu hiệu tiêu biểu, không có tận

Nói hình sắc chẳng thể nói, không có tận

Nói hình sắc vốn có mùi vị thanh tịnh, không có tận

Nói hình sắc từ nhân duyên sinh, không có tận

Nói hình sắc không có chặt đứt, không có tận

Nói hình sắc không có âm tiếng, không có tận

Nói hình sắc không có người tạo làm, không có tận

Nói hình sắc không có người thọ nhận, không có tận

Nói hình sắc không có nghiệp quả, không có tận

Nói hình sắc là Pháp Giới bình đẳng, không có tận

Nói hình sắc trụ Chân Như, không có tận

Nói hình sắc trụ Thật Tế, không có tận

Nói hình sắc không có cái của Ta (vô ngã sở), không có tận

Nói hình sắc không có Chủ Tể, không có tận

Nói hình sắc không có cầm giữ nhận lấy, không có tận

Nói hình sắc chẳng thể nghĩ được, không có tận

Nói hình sắc chẳng thể xưng được, không có tận

Nói hình sắc chẳng thể đo lường, không có tận

Nói hình sắc không có bờ mé (vô hữu biên), không có tận

Nói hình sắc tức là Tính của Bồ Đề, không có tận

Nói hình sắc tức là Tính của Niết Bàn, không có tận

Như vậy rộng nói Pháp của nhóm Giới, Xứ…tên gọi, câu cú, văn, thân, tất cả Phật Pháp thảy đều nhập vào Môn Trí Tuệ của Nhất Tự Thanh (âm tiếng của một chữ) này, như dùng bốn Đại đồng một cái tráp thân (thân khiếp). Đây cũng như vậy Nhất Tự Thanh (âm tiếng của một chữ), nghe được bao nhiếp, sinh ra Pháp Môn thâm sâu của báu Trí vô tận, thế nên gọi là Vô Tận Bảo Khiếp. Ta mới lược nói nghĩa của chút phần trong một Môn này như một hạt bụi trong mặt đất. Nếu rộng nói thì vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp chẳng thể cùng tận.

_Lại nữa, Thiện Nam Tử! Thế nào gọi là Vô Biên Tuyền Phúc Đà La Ni Môn?

Này Thiện Nam Tử! đã nói Biên (một phía, một bên) là Đoạn với Thường, mười hai Nhân Duyên là Vô Minh duyên Hành, Hành duyên Thức, Thức duyên Danh Sắc, Danh Sắc duyên sáu Nhập, sáu Nhập duyên Xúc, Xúc duyên Thọ, Thọ duyên Ái, Ái duyên Thủ, Thủ duyên Hữu, Hữu duyên Sinh, Sinh duyên già, chết, lo buồn, khổ não.

Nói Vô Biên (không có bờ mé) tức là cõi bí mật không có nhóm Đoạn, Thường hướng vào thâm sâu, gọi là Tuyền Phúc (Tính xoay vần, quay trở lại), thế nên gọi là Vô Biên Tuyền Phúc Đà La Ni Môn.

Lại nữa, Biên (một bên, một phía) nói gọi là lấy, bỏ (thủ xả). Đã nói Tuyền

(xoay vần, quay trở lại) là nói chẳng lấy bỏ

Lại nữa, Biên là nói có sinh diệt. Tuyền là nói không có sinh diệt.

Lại nữa, Biên là phiền não sinh tử. Tuyền là Bản Tính thanh tịnh

Biên là có tướng, không có tướng. Tuyền là đều không có chỗ lưu chuyển tạo ứng (vô sở hành)

Biên là suy nghĩ thô tế. Tuyền là không có tìm, không có dò xét

Biên Nhân (hetu:căn do, nguyên nhân) với các Kiến (Darśana: sự thấy biết).

Tuyền là Trí thấu tỏ Nhân, Kiến

Biên Danh (Nāma) với Sắc (Rūpa). Tuyền là không có biểu thị

Biên Hữu Vi (Saṃskṛta), Vô Vi (Asaṃskṛta). Tuyền ba luân (cảnh đã biết, Trí hay biết, người hay biết) thanh tịnh

Biên là nói bên trong với bên ngoài. Tuyền là nhận thức Thể không có trụ

Biên là nói Nghiệp (karma) với Quả (Phala). Tuyền là không có Thể của nghiệp Quả

Biên Thiện (Kuśala) với Bất Thiện (Akuśala). Tuyền là không có Thể của lưu chuyển tạo ứng (hành thể)

Biên là lỗi lầm với không có lỗi lầm. Tuyền Thể không có hai

Biên là nói Nghiệp với Phiền Não (Kleśa). Tuyền là Tính của Thể là ánh sáng

Biên cái Ta (ngã) với không có cái Ta (vô ngã). Tuyền là Tính của Thể là thanh tịnh

Biên sinh tử (Jāti-maraṇa, hay saṃsāra), Niết Bàn (Nirvāṇa). Tuyền là Bản Tính của các Pháp tức là Niết Bàn

Này Thiện Nam Tử! Như vậy lược nói, nếu rộng nói thì nói Biên có vô lượng

Môn, nói Tuyền cũng có vô lượng Môn

Nếu các Bồ Tát trụ Tuyền Phúc Đà La Ni Môn này, tùy thuận vô biên tất cả Pháp sâu xa, Trí không có cùng tận, hoặc nghĩa của chữ cũng không có cùng tận, dần theo thứ tự hướng vào Vô Biên Tuyền Phúc Đà La Ni Môn. Đã hay tùy thuận ánh sáng của Trí Tuệ cho nên tùy thuận Giác Tính vốn thanh tịnh, mở ánh sáng Trí Tuệ tháo bỏ màng si mê, tùy thuận Giải Thoát (Vimukti) hiểu biết Tính của Thể.

KINH THỦ HỘ QUỐC GIỚI CHỦ ĐÀ LA NI

_QUYỂN THỨ HAI (Hết)_

********

QUYỂNT HỨ BA

ĐÀ LA NI PHẨM THỨ HAI CHI BA

_Lại nữ, Thiện Nam Tử! Nhóm nào gọi là Hải Ấn Đà La Ni Môn?

Thiện Nam Tử! Như nước của biển lớn ấn hiện tất cả. Ấy là hết thảy sắc tướng trong bốn Thiên Hạ, hoặc sắc tướng của chúng sinh, hoặc sắc tướng của Phi Chúng Sinh, núi, đồng, nguồn, gò, cây, gỗ, rừng rậm, thuốc, cỏ, lúa đậu, mặt trời, mặt trăng, ngôi sao, Ma Ni, mây, chớp điện, làng xóm, doanh trại, tụ lạc, thành, ấp, vương đô cùng với cung điện của chư Tiên nam nữ, tất cả vật dụng, rừng hương, ao, đầm, mương lạch, sông, suối, dòng nước… hoa mỹ diễm lệ nghiêm sức. Nhóm loại như vậy, phẩm thượng trung hạ, tất cả sắc tướng ở trong biển lớn, bình đẳng ấn hiện, cho nên nói biển lớn là Ấn thứ nhất, Ấn màu nhiệm tối thắng, mới lạ hiếm có, thù đặc… không có gì ngang bằng, không có gì hơn được.

Bồ Tát Ma Ha Tát cũng lại như vậy, trụ Hải Ấn Thậm Thâm Tam Muội này, được cùng với Thân Bình Đẳng Ấn của tất cả chúng sinh, được cùng với Ngữ Bình Đẳng Ấn của chúng sinh, được cùng với Tâm Bình Đẳng Ấn của chúng sinh, Ngữ Nghiệp chuyển bánh xe Diệu Pháp của chư Phật trong mười phương Thế Giới. Bồ Tát đều từ nơi mà Hải Ấn đã tuôn chảy, ở trong Khẩu Môn bình đẳng diễn nói, tùy theo chỗ nói đều cùng với Pháp Ấn của chư Phật không có tạo làm cũng không có nghi ngờ, hoặc khiến cho tất cả chúng sinh thảy đều hiểu thấu (ngộ giải).

Nói Ấn này là bậc thượng trong các Ấn. Ấy là:

Ấn của chữ A (A) [A Tự Ấn] là: do tất cả Pháp Tính (Dharmatā) không có sinh

Ấn của chữ La (RA) là: do tất cả Pháp không có nhiễm dính

Ấn của chữ Bả (PA) là: Môn Thắng Nghĩa Đế chẳng thể đắc

Ấn của chữ Giả (CA) là: con mắt với các Hạnh đều thanh tịnh Ấn của chữ Na (巧:NA) là: Danh Sắc, Tính Tướng chẳng thể đắc.

Ấn của chữ La (LA) là: Nhân Duyên của nhánh yêu thích (ái chi) liên tục chẳng đứt đoạn, đều chẳng hiện

Ấn của chữ Noa (DA) là: tỏ ngộ nhập vào Môn mười Lực thanh tịnh.

Ấn của chữ Ma (BA) là: Lực với Bồ Đề Phần đều thanh tịnh.

Ấn của chữ Noa ( ḌA) là: Lìa các oán địch với lo lắng bực bội.

Ấn của chữ Sái (ṢA) là: sáu Thông viên mãn không có chướng ngại.

Ấn của chữ Phộc (VA) là: con đường không có hai, cắt đứt sự nói năng.

Ấn của chữ Đa (TA) là: Tỏ ngộ nghĩa chân thật của tất cả Pháp.

Ấn của chữ Giả (YA) là: Xứng với Lý Như Thật mà diễn nói.

Ấn của chữ Sắt-Tra (ṢṬA) là: Chế phục, nhậm trì chẳng thể đắc.

Ấn của chữ Ca (KA) là: Xa lìa Thế Luận, không có người tạo làm.

Ấn của chữ Sa (SA) là: tỏ ngộ bốn Chân Đế đều bình đẳng.

Ấn của chữ Mãng (MA) là: tỏ ngộ đường lối thanh tịnh của tất cả Pháp.

Ấn của chữ Nga (GA) là: Nhập vào Pháp sâu xa, không có lưu chuyển tạo ứng (Hành), chọn lấy (thủ).

Ấn của chữ Sa-Tha (THA) là: Hiển nói rằng: Thế Lực chẳng thể đắc.

Ấn của chữ Nhạ (JA) là: Vượt qua sinh tử, năng Sở sinh.

Ấn của chữ Thấp-Phộc (SVA) là: Đều xa lìa nơi mà Phiền Não đã lưu hành.

Ấn của chữ Đà (DHA) là: Thể Tính của Pháp Giới chẳng tạp loạn.

Ấn của chữ Xả (ŚA) là: Nhập vào sâu Chỉ Quán đều đầy đủ.

Ấn của chữ Kha (KHA) là: Tỏ ngộ Pháp như hư không không có tận.

Ấn của chữ Khất-Xoa (KṢA) là: Nhập vào Tận Trí, Vô Sinh Trí. Ấn của chữ Sa-Đa-Dã-A (STA) là: Xa lìa Chướng hôn trầm, lười biếng Ấn của chữ Chỉ-Nhương (ÑA) là: Thể Trí Tuệ của tất cả chúng sinh. Ấn của chữ Hạ (RTHA) là: Đều xa lìa Thể đập ác, tiến Thiện Ấn của chữ (BHA) là: Tập quen quán sát Thể Giác Ngộ.

Ấn của chữ Giả-Xa (CHA) là: Xa lìa Tính ngăn che của Tham Sân Si Ấn của chữ Sa-Mãng (SMA) là: Niệm chẳng tán động, không có quên mất. Ấn của chữ Ha-Bà (HVA) là: Có thể dùng Thể hô triệu thỉnh mệnh Ấn của chữ Đá-Sa (TSA) là: Thể dũng mãnh xua đuổi các Hoặc.

Ấn của chữ Già (GHA) là: Diệt tan mây nặng, màn Vô Minh.

Ấn của chữ (ṬHA) là: Gom chứa Thể cùng tận của các Hạnh cùng tận Ấn của chữ Ba-La (仕: ṆA) là: Tùy thuận Thể Tịch Chiếu tối thắng. Ấn của chữ Phả (民: PHA) là: Thể quả báo viên mãn vòng khắp

Ấn của chữ Sa-Ca(SKA) là: Thấu tỏ Thể của tất cả nhóm Uẩn.

Ấn của chữ Dã-Sa (YSA) là: Hay trừ già, chết, tất cả bệnh.

Ấn của chữ Thất_giả (ŚCA) là: Hiện tiền Giác Ngộ chưa từng có.

Ấn của chữ Tra  (ṬA) là: Chặt đứt con đường sinh tử, được Niết Bàn.

Ấn của chữ Sắt_Xá (ḌHA) là: Hiểu thấu Thể không có bờ mé, không có tận.

Này Thiện Nam Tử! Bồ Tát dùng mọi loại Pháp Tướng của nhóm như vậy, phân biệt diễn nói các Tự Ấn Môn

Thiện Nam Tử! Đây gọi là Thâm Nhập Hải Ấn Tam Muội Đà La Ni Môn.

_Lại nữa, Thiện Nam Tử! Thế nào gọi là Liên Hoa Trang Nghiêm Đà La Ni Môn?

Này Thiện Nam Tử! Bồ Tát trụ Đà La Ni Môn này, tùy ở trong vô lượng Đại Hội ấy khi nói Diệu Pháp thời liền có tòa hoa sen màu nhiệm rộng lớn phun lên hiện trước mặt với mọi loại sắc tường thù diệu trang nghiêm.Người nhìn thấy đều không biết chán. Tòa này vừa hiện thì thân liền an ngồi, tức ở trong hư không tuôn mưa hoa mọi báu, trong mọi loại hoa phát ra mọi loại âm thanh, trong mọi loại âm thanh nói mọi loại Pháp. Ấy là: hoặc Pháp vô lượng thâm sâu, hoặc nói Pháp danh cú xảo diệu, hoặc nói mọi loại các Môn thí dụ (Avadāna). Như vậy hoặc nói Tu Đa La (Sūtra:Khế Kinh), Kỳ Dạ (Geya:Ứng Tụng), Hòa Già La Na (Vyākaraṇa:Ký Biệt), Già Tha (Gāthā:Phúng Tụng), Ốn Đà Na (Udāna:Tự Thuyết), Ni Đà Na (Nidāna:Nhân Duyên), Bản Sự (Ittivṛtaka), Bản Sinh (Jātaka), Phương Quảng (Vaipulya), Hy Pháp (Adbhuta-dharma), Ưu Ba Đề Xá (Upadeśa:Luận Nghị). Nói nhóm 12 Phần Giáo như vậy với mọi loại Môn… đều vì đoạn trừ các phiền não của tất cả chúng sinh. Rồi Tâm của Bồ Tát an trụ Đại Xả, Thiền Định vắng lặng, liền hay Đẳng Dẫn (Samāhita: một tên gọi của Định). Âm thanh như vậy nói Pháp chẳng dứt, diệt khổ của chúng sinh, làm các Phật Sự.

Lại ở khắp lỗ chân lông trên thân của Bồ Tát tuôn ra mọi loại ánh sáng, trong mỗi một ánh sáng sinh ra mọi loại hoa sen báu màu nhiệm, trên mỗi một hoa có một vị Bồ Tát, đến khắp ở trong vô lượng vô biên các Thế Giới để làm Phật Sự.

Đây là bắt đầu nhập vào Liên Hoa Trang Nghiêm Đà La Ni Môn. Nếu rộng nói thì chẳng thể cùng tận.

_Lại nữa, Thiện Nam Tử! Thế nào gọi là Năng Nhập Vô Trước Đà La Ni Môn?

Này Thiện Nam Tử! Bồ Tát trụ Đà La Ni Môn này, đối với một Pháp Môn, Tâm không có chỗ dính mắc. Như vậy, hoặc hai, hoặc ba, hoặc mười, hoặc trăm, hoặc ngàn, hoặc trăm ngàn, hoặc câu chi, hoặc na do tha, cho đến a tăng kỳ vô lượng vô biên vô đẳng, chẳng thể đếm, chẳng thể nghĩ, chẳng thể đo lường, chẳng thể nói…Pháp Môn, đều là Tâm bình đẳng mà không có chỗ dính mắc

Như vậy số Pháp Môn nhiều như số hạt bụi nhỏ của cõi Diêm Phù Đề (Jambudvīpa), số Pháp Môn nhiều như số hạt bụi nhỏ trong bốn Thiên Hạ, số Pháp Môn nhiều như số hạt bụi nhỏ trong ba ngàn Đại Thiên Thế Giới. Hoặc một cõi Phật, hoặc mười cõi Phật, hoặc trăm, hoặc ngàn, hoặc số Pháp Môn nhiều như số hạt bụi nhỏ trong hằng sa cõi Phật, cho đến số Pháp Môn nhiều như số hạt bụi nhỏ trong tất cả cõi Phật, cũng đều là Tâm bình đẳng không có chỗ dính mắc.

Nếu nói một Môn nhiếp số Pháp Môn như số hạt bụi trong tất cả cõi Phật bên trên, đều nhập vào một Môn, một thời diễn nói. Như ở một Môn, hoặc hai, hoặc ba cho đến vô lượng vô biên Pháp Môn cũng đều như vậy, trong một Môn nhiếp tất cả Môn, một thời diễn nói. Như vậy khi nói thời Tâm không có chỗ dính mắc, không có chỗ trụ, lợi ích an vui cho tất cả chúng sinh. Nghĩa ấy sâu xa, xứng với Lý Như Thật, thứ tự không có loạn, đầy đủ nghĩa của văn.

Thiện Nam Tử! Đạy gọi là Năng Nhập Vô Trước Đà La Ni Môn.

_Lại nữa, Thiện Nam Tử! Thế nào gọi là dần dần vào sâu trong Tứ Vô Ngại Trí Đà La Ni Môn?

Này Thiện Nam Tử! Nếu các Bồ Tát an trụ ở Đà La Ni Môn này thời được Vi

Tế Sai Biệt Pháp Môn Vô Tận Trí, được Vi Tế Thậm Thâm Nghĩa Môn Vô Tận Trí, được Vi Tế Từ (lời văn) Môn Vô Tận Trí, được Vi Tế Vô Biên Biện (tranh biện, phân biệt) Môn Vô Tận Trí. Được Trí này cho nên hết thảy chúng sinh ở phương Đông đồng một Đạo Trường, đều tùy theo loại âm tiếng, phương tiện khéo léo mà hỏi Pháp ấy. Hết thảy chúng sinh ở phương Nam đồng một Đạo Trường, đều tùy theo loại âm tiếng, phương tiện khéo léo mà hỏi Nghĩa ấy. Hết thảy chúng sinh ở phương Tây đồng một Đạo Trường, đều tùy theo loại âm tiếng, phương tiện khéo léo mà hỏi Từ (lời văn) ấy. Hết thảy chúng sinh ở phương Bắc đồng một Đạo Trường, đều tùy theo loại âm tiếng, phương tiện khéo léo mà hỏi Biện (tranh biện, phân biệt) ấy.

Như vậy, tất cả chúng sinh ở bốn phương, một lúc hỏi mọi loại Pháp Môn thời Bồ Tát một Niệm đều hay tiếp nhận (lãnh thọ), Tâm không có rối loạn, sáng suốt ghi nhận không có mất. Nơi một Ngữ Nghiệp phát ra mọi loại âm tiếng, mỗi một âm thanh nói tất cả Pháp, tùy theo nơi ưa thích thuộc chủng loại của các chúng sinh mà đều khác nhau, đều được Lãnh Giải (lý giải được điều mà người khác đã dạy bảo), Tâm vui mừng hớn hở, mãn túc ước nguyện.

Thiện Nam Tử! Đây là Bồ Tát dần dần vào sâu trong Tứ Vô Ngại Trí Đà La Ni Môn.

_Lại nữa, Thiện Nam Tử! Thế nào gọi là Chư Phật Hộ Trì Trang Nghiêm Đà La Ni Môn?

Này Thiện Nam Tử! Bồ Tát được Đà La Ni này cho nên ở trong Đại Hội, ngồi trên tòa Đại Pháp, ở chính giữa nơi cao nhất của Nhục Kế, chỗ xương của đỉnh đầu giao nhau, chợt hiện thân Như Lai màu vàng ròng với tướng tốt trang nghiêm, rồi dùng bàn tay phải xoa đỉnh đầu của Bồ Tát. Tức thời Bồ Tát liền được sắc thân với tướng tốt trang nghiêm, viên mãn đầy đủ, được viên mãn đầy đủ mọi loại Phật Pháp của nhóm như vậy. Đã được điều này xong, tùy theo tất cả chúng sinh trong Đại Hội này: Tâm Giới chẳng đồng, ham thích sai biệt, chỗ nghi ngờ khác nhau mà nói mọi loại Pháp. Hoặc một ngày đêm, hoặc hai, hoặc ba, nửa tháng, một tháng, một năm, trăm năm tùy theo sự ưa thích của Tâm, lâu gần, nhiều ít… thường nói Diệu Pháp không có cùng tận. Khi nói như vậy thời chẳng uống chẳng ăn, chẳng yếu đuối, chẳng gầy còm, thân tâm chẳng mệt mỏi.

Do sức uy đức hộ trì chẳng thể nghĩ bàn của Đức Như Lai nên Bồ Tát được bốn loại Đại Trí. Thế nào là bốn? Ấy là Vi Tế Liễu Tri Chúng Sinh Tâm Hạnh Các Sai Biệt Trí, Vi Tế Phân Biệt Nhất Thiết Chư Pháp Vô Cùng Tận Trí, Thiện Năng Phân Biệt Tam Thừa Tu Hành Chư Thứ Đệ Trí, Cụ Túc Viên Mãn Tùy Thuận Kham Nhậm Diễn Thuyết Pháp Trí.

Thiện Nam Tử! Đây gọi là lược nói Chư Phật Hộ Trì Trang Nghiêm Đà La Ni Môn. Nếu rộng nói thì vô lượng vô biên đẳng hư không giới không có cùng tận, cùng với nhóm Như Lai làm lợi ích cho các chúng sinh

Thiện Nam Tử! Đây là tám loại Đà La Ni Môn. Nếu có Bồ Tát an trụ ở tám Đà La Ni Môn này, tức hay tổng trì Diệu Pháp mà tất cả Như Lai với các Bồ Tát đã nói, khiến cho các Bồ Tát biện tài không có ngăn ngại. Tất cả chúng sinh, nếu có người nghe được đều yêu thích, vui vẻ, không có chán ghét”

_Khi ấy, Nhất Thiết Pháp Tự Tại Vương Bồ Tát nghe Pháp này xong, Tâm hớn hở dùng Kệ khen rằng:

“_Thiện Thệ (Sugata) nói tám Pháp Tổng Trì

Quyết định khiến được Vi Diệu Thừa

Diễn trăm ngàn ức Tu Đa La (Sūtra: Khế Kinh)

Nơi nghĩ với văn, không chỗ dính

Tiếng lớn thanh tịnh không bờ mé

Trăm ngàn vô lượng cõi đều nghe

Thành Tâm vắng lặng của chúng sinh

Đây tên Đại Thanh Thanh Tịnh Nghĩa

_Một chữ diễn nói tất cả Pháp

Nhiều kiếp không có lúc cùng tận

Mỗi một môn chữ (tự môn) lại cũng thế

Đây trụ Bảo Khiếp Chân Ngôn Địa

Xa lìa các Biên (một phía, một bên) được thanh tịnh

Bình đẳng không dính, đồng Như Lai

Sát na Chính Niệm trừ phiền não

Đây tên Pháp Nghĩa Tuyền Phúc Xứ

_Các sắc tướng trong bốn Thiên Hạ

Đại Hải Ấn hiện, không bỏ sót

Nói Môn khó nghĩ không tận này

Đây tên Hải Ấn Chân Ngôn Đức

_Đủ tướng Đại Nhân ở Đại Chúng

Ngồi hoa hoa sen, tuôn mưa Trời

Hoa diễn câu chi Môn Diệu Pháp

Liên Hoa Trang Nghiêm Tổng Trì Dụng

_Vào Pháp một câu (nhất cú) không chỗ dính

Ức Sát Vi Trần Cú (số câu nhiều như số bụi nhỏ của một ức cõi) cũng thế

Câu Câu diễn sướng Môn khó nghĩ

Vô Trước Tổng Trì đều tự tại.

_Đầy đủ Pháp, Nghĩa với Từ (lời văn), Biện

Chúng sinh bốn phương đều khải nghi (thưa hỏi sự nghi ngờ)

Lưới Nghi ta người đều đoạn trừ

Đây là Tứ Biện Tổng Trì Lực

_Bồ Tát nhảy lên tòa Đại Pháp

Trên đỉnh hiện Phật như núi vàng

Liền duỗi tay phải, tướng trang nghiêm

Ân trọng xoa đỉnh đầu Bồ Tát

Được Vi Diệu Biện đồng với Phật

Đây tên Hộ Niệm Phật Trang Nghiêm

_Được vào Môn Tổng Trì tối thắng

Liền được Đức khó nghĩ không tận

Như sen chẳng nhiễm, ở ba cõi

Năm Trần (Sắc, thanh, hương, vị, xúc) chẳng động, ngang Tu Di

_Được Đà La Ni tối thắng này

Vô Đẳng Trí (Trí không có gì ngang bằng) vượt ba cõi, chuyển

Hay Sư Tử Hống (tiếng gầm rống của Sư Tử) không chỗ sợ

Phá các Ngoại Đạo, đập núi Tà.

_Được Đà La Ni tối thắng này

Xa lìa nhận sinh các Nghiệp Quả

Như đất sinh trưởng các Thiện Pháp

Như nước rửa dơ, sạch không sót

Như lửa thiêu đốt chẳng chọn củi

Như gió thổi quạt, không chỗ trụ

Như Y (thầy thuốc) khéo biết thuốc của

Pháp Trừ bệnh chúng sinh, được an ninh.

_Được Đà La Ni tối thắng này

Trí diễn các Pháp không nghiêng động

Như trăng sáng tròn không điểm dơ

Tỏa sáng, vô tư soi chiếu khắp.

_Được Đà La Ni tối thắng này

Chúng Hội nhìn thấy không chán bỏ

Như mặt trời sáng, bình đẳng chiếu

Phá ám sinh tử, Giác (thức tỉnh) quần mê

_Được Đà La Ni tối thắng này

Hay trừ Khát Ái của hữu tình

Như Chuyển Luân Vương dại mười Thiện

Như Tỳ Sa Môn giàu Pháp Tài

_Được Đà La Ni tối thắng này

Từ Niệm (niệm thương yêu giúp đỡ) chúng sinh, tuôn mưa Pháp

Như Rồng kéo mây, hiện uy đức

Sấm Sét, Diệu Điện đều vô tư (không có sự riêng tư)

_Được Đà La Ni tối thắng này

Vắng lặng không Tâm, không chấp dính

Trang nghiêm vi diệu như Đế Thích

Đại Trí tùy diễn Pháp Môn

_Được Đà La Ni tối thắng này

Giống như Ngưu Vương ở Đại Chúng

Như Đại Phạm Vương trụ Từ Định

Quán khắp Thế Giới, vượt qua hết

_Được Đà La Ni tối thắng này

Thường được năm Thông (5 loại Thần Thông) không chuyển lùi

Dạo khắp Pháp Giới, cõi khó nghĩ

Như Phạm Thiên Vương, khắp Phạm Cung (cung điện của Phạm Thiên)

_Được Đà La Ni tối thắng này

Cúng dường biển chư Phật mười phương

Chư Phật đồng xem như con trưởng

Đồng thời khen Đức, khó nghĩ bàn

_Được Đà La Ni tối thắng này

Chẳng lâu được Công Đức của Phật

Biện Tài rộng rãi không cùng tận

Diễn nói Tu Đa La (Khế Kinh) sâu rộng

_Được Đà La Ni tối thắng này

Diệu Biện (biện thuyết khéo léo) như tóc không đoạn tuyệt

Trí Tuệ, thông minh không vọng niệm

Vô biên phương tiện đồng hư không

_Được Đà La Ni tối thắng này

Kiêu Mạn, dối nịnh đều trừ đứt

Định Tuệ kèm tuôn không đoạn tuyệt

Từ Bi đều khởi, chẳng lìa nhau

_Được Đà La Ni tối thắng này

Dứt hẳng các lỡi của Thế Gian

Khéo biết Pháp Ngôn Ngữ chúng sinh

Tâm, Hạnh, Căn, Dục đều không còn

_Được Đà La Ni tối thắng này

Nói Pháp, đầu lông không lầm lỗi

Niệm Xứ, Chính Đoạn với Thần Túc

Căn, Lực, Giác Đạo, Định đều tròn

_Được Đà La Ni tối thắng này

Liền được Thù Diệu Tịnh Pháp Trí

Tùy thuận các Độ (Pāramitā: Ba La Mật) đến bờ kia

Thông đạt bốn Nhiếp không có sót

_Được Đà La Ni tối thắng này

Hay biết cảnh giới của Thiện Thệ (Sugata: một trong mười hiệu của Đức Phật)

Tự nhiên gần Phật, vắng lặng sâu

Dựng lập vạn Hạnh điều (diều hòa, sắp xếp) chúng sinh

_Được Đà La Ni tối thắng này

Ở tất cả thời không thác loạn

Đắc được Uẩn, Giới, Nhập không dơ

Thai (bào thai) chẳng nhiễm, đều biết rõ

_Được Đà La Ni tối thắng này

Thấy Phật như Tâm sen chẳng dính

Ba Nghiệp luôn tùy Trí Tuệ chuyển

Động, tịch không ngại lợi chúng sinh

_Được Đà La Ni tối thắng này

Nói Pháp thường nương chư Phật giúp

Đại Trí hay làm chủ chúng sinh

Nhiều kiếp khen ngợi chẳng thể hết”

Bấy giờ, Đức Thê Tôn khen ngợi Nhất Thiết Tự Tại Vương Bồ Tát rằng: “Lành thay! Lành thay Thiện Nam Tử1 Ông hay khen nói Đà La Ni này, như chư Phật nói ngang bằng không có khác. Nay Ta tùy vui.

Này Thiện Nam Tử! Nay trong Hội này có sáu mươi ức na do tha Bồ Tát xuất gia cùng với vô số trăm ngàn vạn ức Bồ Tát tại gia… nghe Đà La Ni Môn này đều được Vô Sinh Pháp Nhẫn (Anutpattika-dharma-kṣānti). Vô lượng Trời, Rồng, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, a Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Già, người, Phi

Nhân, Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di… đều đối với A Nậu Đa La Tam Miểu Tam Bồ Đề (Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác) được chẳng chuyển lùi”.

 

ĐẠI BI THAI TẠNG XUẤT SINH PHẨM THỨ BA

Bấy giờ, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Ma Ha Tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trật áo hở vai phải, quỳ gối phải sát đất, lễ Đức Phật rồi chắp tay cung kích bạch Phật rằng: “Thế Tốn Như Đức Phật đã nói: Tâm (Citta) với Hư Không (Ākāśa), Đà La Ni (Dhāraṇī), Bồ Đề (Bodhi) không có hai, không có khác… đều dùng Đại Bi (Mahākāruṇa) làm gốc rễ (Mūla: căn). Nhưng Đại Bi này lại dùng Pháp nào để làm gốc rễ?”

Đức Phật bảo Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát rằng: “Lành thay! Lành thay! Thiện Nam Tử thẳng thắn phát ra câu hỏi này vì muốn lợi lạc cho nhiều chúng sinh. Hãy nghe cho kỹ! Hãy nghe cho kỹ! Hãy khéo nghĩ nhớ! Ta sẽ vì ông phân biệt giải nói.

Này Thiện Nam Tử! Gốc rễ Đại Bi này lại dùng chúng sinh thọ nhận khổ đau làm gốc rễ”

_Văn Thù Sư Lợi lại bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Chúng sinh thọ nhận khổ đau lại dùng Pháp nào để làm gốc rễ?”

Đức Phật nói: “Từ phiền não (Kleśa) sinh ra”

_Lại hỏi: “Phiền não dùng cái gì làm gốc rễ?”

Đức Phật nói: “Từ mọi loại Tà Kiến (Mithyā-dṛṣṭi) điên đảo mà sinh ra”

_Lại hỏi: “Mọi loại Tà Kiến điên đảo dùng cái gì làm gốc rễ?”

Đức Phật nói: “Từ hư vọng phân biệt (Vitatha-vikalpa) sinh ra”

_Lại hỏi: “Hư vọng phân biệt dùng cái gì làm gốc rễ?”

Đức Phật nói: “Vọng phân biệt này không có gốc rễ, không có sắc tướng, khó biết, khó chặt đứt.

Này Thiện Nam Tử! Do nghĩa này cho nên Bồ Tát Ma Ha Tát vì các chúng sinh khởi Tâm Đại Bi, nhọc nhằn, khiêm nhường, quên mệt mỏi… ví như cây mía cùng với mè, dùng vật đè ép thì dầu, tương liền hiện. Bồ Tát cũng thế, Đại Bi sâu nặng lại khởi 16 Tâm Đại Bi, tác niệm rằng: “Thương thay! Chúng sinh thường bị Thân Kiến (Satkaya-dṛṣṭi) cột buộc, dùng mọi loại Tà Kiến (Mithyā-dṛṣṭi) làm hang, nhà… Ta sẽ vì kẻ ấy, diễn nói Diệu Pháp đều khiến cho trừ đứt. Thương thay! Chúng sinh đối với Đoạn (Uccheda), Thường (Nitya) chấp dính dựng lập”

_Văn Thù Sư Lợi bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Thế nào gọi là Đoạn Kiến (Uccheda-dṛṣṭi), Thường Kiến (Nitya-dṛṣṭi hay Śāsvata-dṛṣṭi)?

Đức Phật bảo: “Này Thiện Nam Tử! Nói Đoạn Kiến là: bố thí, cúng dường đều không có quả báo. Làm Thiện, làm Ác thì đời này đời sau đều không có quả. Cha mẹ biến hóa thảy đều chặt đứt, không có. Tại sao thế? Ví như biết thiêu đốt củi xong thì thành tro, cuối cùng không có Lý sinh ra. Đây gọi là Đoạn Kiến

Nói Thường Kiến là: Nhà vua thường đem sự quý hiển của vua thường làm sự quý trọng. Nhóm loại: Nam nữ nghèo, giàu, đoan chính, xấu xí, voi, ngựa thường không có biến đổi. Tại sao thế? Ví như hạt giống tùy theo bản loại của nó đều sinh ra mầm khác nhau, cuối cùng không có tạp loạn.

Này Thiện Nam Tử! Nhóm chúng sinh này tạo làm chỗ thấy biết (Dṛṣṭi: Kiến) như vậy đều không có quả báo. Bồ Tát vì kẻ ấy khởi Tâm Đại Bi (Mahā-kāruna-citta) mở bày diễn nói Môn Duyên Khởi (Pratītya-samutpāda) khiến cho kẻ ấy tin vào Nhân Duyên (Hetu-pratyaya), Quả Báo (Vipāka).

Bồ Tát lại niệm: “Thương thay! Chúng sinh dấy lên bốn thứ điên đảo: Không có Thường lại tính là Thường, không có vui lại tính là vui, không có cái Ta (ngã) lại tính là cái Ta, không có trong sạch lại tính là trong sạch. Ta sẽ vì kẻ ấy nói Pháp thâm sâu khiến trừ điên đảo.

Thương thay! Chúng sinh ở trong Vô Ngã (không có cái Ta), Vô Ngã Sở (không có cái của Ta) lại tính là Ngã (Ātman:cái Ta), Ngã Sở (Mama-kāra:cái của Ta). Ta sẽ vì kẻ ấy nói Pháp vi diệu khiến cho kẻ ấy trừ dứt chỗ thấy biết về Ngã, Ngã Sở

Thương thay! Chúng sinh bị các Cái Chướng (Āvaraṇa:một tên gọi của phiền não) che lấp. Tâm trong mũi tên Tham, lửa giận dữ cháy mạnh đều thiêu đốt thân tâm. Say mê hôn trầm, nằm ngủ…trạo cử (Auddhatya:tác dụng của tinh thần phù động chẳng yên) làm ác ràng buộc chẳng buông bỏ, đối với Pháp thâm sâu thường ôm giữ sự nghi hoặc. Ta sẽ vì kẻ ấy nói Pháp vi diệu khiến cho kẻ ấy hủy hoại các lưới che trùm.

Thương thay! Chúng sinh vướng dính sáu Xứ. Con mắt vừa nhìn thấy hình sắc, tùy theo danh tướng của hình sắc mà sinh chấp dính. Lỗ tai nghe âm thanh, lỗ mũi ngửi mùi thơm, hôi. Cái lưỡi nếm nhiều mùi vị. Cái thân tiếp chạm sự trơn mềm nhỏ nhiệm. Ý phân biệt Pháp… đều tùy theo danh tướng mà sinh chấp dính. Ta sẽ vì kẻ ấy nói Pháp sâu xa màu nhiệm khiến cho chẳng ưa dính nhóm trống rỗng của sáu Xứ Thương thay! Chúng sinh phần nhiều khởi các Mạn là: Mạn (Māna), Quá Mạn (Ati-māna) với Mạn Quá Mạn (Mānāti-māna), Ngã Mạn (Ātma-māna), Tăng Thượng Mạn (Adhi-māna), Ty Mạn (Ūna-māna), Tà Mạn (Mithyā-māna)

Thế nào là Mạn (Māna)? Ấy là đối với chúng sinh thấp kém, thì tính là Ta hơn kẻ kia

Nói Quá Mạn (Ati-māna) là đối với người ngang bằng với mình thì nói là ta hơn hẳn kẻ kia Mạn Quá Mạn (Mānāti-māna) là đối với người khác hơn hẳn ta, lại tính là ta hơn kẻ ấy.

Nói Ngã Mạn (Ātma-māna) là đối với hình sắc lại tính là Ta, cho đến đối với Thức (Vijñāna: sự nhận thức) cũng tính là ở Ta, khiến cho Tâm ngẩng cao lên (cao cử)

Nói Tăng Thượng Mạn (Adhi-māna) là: Chưa từng đắc được Thánh Pháp tăng thượng mà lại hướng về người khác nói rằng Ta được Thánh Pháp.

Nói Ty Mạn (Ūna-māna) là: Đối với người hơn hẳn mình nhiều phần thì nói rằng ta yếu kém.

Nói Tà Mạn (Mithyā-māna) là ở trong Tà Kiến không có Đức của mình, lại nói rằng mình là chính đúng, trở ngược lại bảo người khác là Tà.

Nhóm mạn như vậy, Ta sẽ vì kẻ ấy nói Pháp thâm sâu khiến cho kẻ ấy trừ dứt, trụ ở bình đẳng.

_Thương thay! Chúng sinh hướng theo đường Tà là lìa đường Thánh. Ta sẽ vì kẻ ấy nói Pháp của con đường chính đúng khiến cho xa lìa lối Tà.

Thương thay! Chúng sinh làm nô dịch cho sự ân ái, nhận chịu sự sai khiến của nó. Thê thiếp, nam nữ dùng làm xiềng xích, gông cùm cột trói, nhiễm dính, ham đắm mùi vị… chẳng thể xa lìa khiến cho thân miệng ý chẳng được tự tại. Ta sẽ vì kẻ ấy nói Pháp lìa Tham khiến cho ba nghiệp của kẻ ấy động, dừng không có sự ràng giữ.

Thương thay! Chúng sinh luân phiên tranh đấu với nhau, giận dữ kết hận trợ nhau làm oán thù. Ta sẽ vì họ nói Pháp khiến cho trừ dứt

Thương thay! Chúng sinh xa Thiện Tri Thức (Kalyāṇa-mitra) tùy chạy theo bạn ác chẳng xa lìa nhau, như ngón tay với móng tay hòa hợp cùng dựa vào nhau, làm các nghiệp ác không có tạm ngưng nghỉ. Ta sẽ vì họ nói Pháp khiến cho buông bỏ bạn ác, gần gũi Thiện Tri Thức.

Thương thay! Chúng sinh tham cầu danh lợi không có chán ghét như biển nuốt dòng sông được sự đầy tràn, như lửa được chất thêm củi, xa lìa Trí Tuệ Thật Tướng không dơ bẩn. Ta sẽ vì kẻ ấy nói Pháp chân thật khiết chặt đứt danh lợi, được Trí thanh tịnh.

Thương thay! Chúng sinh vô minh đen tối, trong Pháp Vô Ngã ngang ngạnh dấy lên Ngã Kiến, chúng sinh, Thọ Mệnh, Bổ Đặc Già La (Pudgala). Ta sẽ vì họ nói Pháp đoạn trừ mọi loại Tà Kiến như vậy khiến loại bỏ màng che mờ mắt, mở con mắt Trí trong sạch.

Thương thay! Chúng sinh bị ngục tù sinh tử, luân hồi cấm buộc, bị oán tặc năm uẩn giết hại. Ta sẽ vì họ nói Pháp khiến cho ra khỏi ba cõi.

Thương thay! Chúng sinh bị sợi dây Ba cột trói, năm Dục ràng buộc chẳng được thoát lìa. Ta sẽ vì họ nói Pháp vượt qua Ma khiến dứt hẳn sợi dây Ma, chặt đứt sự ràng buộc của năm Dục.

Thương thay! Chúng sinh đóng cửa Niết Bàn, mở đường sinh tử. Ta sẽ vì họ nói Pháp khiến đóng ba ác vào cửa Niết Bàn.

Thiện Nam Tử! Đây là Bồ Tát Ma Ha Tát khởi 16 loại Tâm Đại Bi”.

_Khi ấy, Đức Thế Tôn lại bảo Văn Thù Sư Lợi Đồng Tử rằng: “Thiện Nam Tử! Đại Bi Môn này tức là mẹ của tất cả Bồ Tát. Bồ Tát trụ trong Đại Bi này liền hay dựng lập 32 loại sự nghiệp chẳng chung cùng (bất cộng sự nghiệp), ngày đêm siêng tu, mau được viên mãn.

Thế nào gọi là 32 loại sự nghiệp chẳng chung cùng?

Ấy là: Bồ Tát nếu thấy tất cả chúng sinh ngu si, ngủ say trong đêm dài tối tăm nặng nề, không có Trí thi liền dùng Trí Tuệ, trước tiên tự mình hiểu biết rõ ràng, lại dùng Trí Tuệ giác ngộ tất cả chúng sinh ngu si. Đây gọi là sự nghiệp chẳng chung cùng thứ nhất của Bồ Tát.

Nếu thấy chúng sinh yêu thích Nhị Thừa, Tâm hạn hẹp kém cỏi. Bồ Tát liền khởi Tâm rộng lớn khiến cho kẻ ấy an trụ trong Pháp Đại Thừa. Đây gọi là sự nghiệp chẳng chung cùng thứ hai của Bồ Tát.

Nếu thấy chúng sinh yêu thích Phi Pháp (Adharma), buông thả ba nghiệp, không có Thiện Pháp (Kuśala-dharma), tham muốn. Bồ Tát tự trụ tại vườn Chính Pháp, lại khiến cho chúng sinh trụ trong Chính Pháp. Đây gọi là sự nghiệp chẳng chung cùng thứ ba của Bồ Tát.

Nếu thấy chúng sinh Tà Mệnh (Mitya-jīva), tự sống giả trá lừa dối, tham cầu. Trước tiên đem thân của mình trụ ở Chính Mệnh (samyag-ājīva). Lại khiến cho chúng sinh an trụ trong Pháp Chính Mệnh trong sạch. Đây gọi là sự nghiệp chẳng chung cùng thứ tư của Bồ Tát.

Nếu thấy chúng sinh xoay hướng không có Nhân Quả với tất cả Pháp, khởi Đại Tà Kiến thì tự mình trụ Chính Kiến (Samyag-dṛṣṭi) lại khiến cho chúng sinh an trụ trong Pháp Chính Kiến không có dơ bẩn. Đây gọi là sự nghiệp chẳng chung cùng thứ năm của Bồ Tát.

Nếu thấy chúng sinh không có hiểu biết (vô tri), nghĩ ác, gom chứa phiền não thì tự mình dùng con mắt Trí an Tâm Chính Niệm (Samyak-smṛti). Lại khiến cho chúng sinh trụ ở Chính Niệm, phá tăm tối Vô Tri, mở ánh sáng Trí Tuệ. Đây gọi là sự nghiệp chẳng chung cùng thứ sáu của Bồ Tát.

Nếu thấy chúng sinh vứt bỏ Pháp chính đúng (Chính Pháp) trụ Pháp chẳng chính đúng (Bất Chính Pháp). Trước tiên tự mình an trụ trong Chính Pháp (Saddharma), lại khiến cho chúng sinh hiểu thấu Chính Pháp. Đây gọi là sự nghiệp chẳng chung cùng thứ bảy của Bồ Tát.

Nếu thấy chúng sinh bị sự keo kiệt che lấp. Bồ Tát tự thân khởi Tâm không có keo kiệt, tất cả đều buông bỏ. Lại khiến cho chúng sinh siêng tu Hạnh buông bỏ. Đây gọi là sự nghiệp chẳng chung cùng thứ tám của Bồ Tát.

Nếu thấy chúng sinh hủy phảm Giới trong sạch (tịnh giới), đối với Biểu (Kiểu mẫu, mực thước, tiêu biểu) Vô Biểu (không có mẫu mực, không có mực thước, không có tiêu biểu) chẳng thể tuân hành thì liền dùng Giới trong sạch trang nghiêm thân của mình, lại khiến cho chúng sinh giữ gìn bền chắc Giới trong sạch. Đây gọi là sự nghiệp chẳng chung cùng thứ chín của Bồ Tát.

Nếu thấy chúng sinh sân hận mãnh liệt, gom chứa chồng chất các ác thì dùng sức Từ Bi và Nhẫn Nhục (Từ Nhẫn lực) để tự trang nghiêm, lại khiến cho chúng sinh an trụ Pháp này. Đây gọi là sự nghiệp chẳng chung cùng thứ mười của Bồ Tát.

Nếu thấy chúng sinh thân tâm lười biếng, xa lìa tinh tiến thì từ mình dùng giáp trụ tinh tiến nghiêm thân, lại khiến cho chúng sinh buông bỏ Tâm lười biếng, siêng năng mạnh mẽ chẳng uể oải. Đây gọi là sự nghiệp chẳng chung cùng thứ mười một của Bồ Tát.

Nếu thấy chúng sinh tán loạn, vọng niệm. Bồ Tát tự trụ Tam Ma Hứ Đa (Samāhita:Đẳng Dẫn) vắng lặng quán sát cũng khiến cho chúng sinh buông loạn trụ Định. Đây gọi là sự nghiệp chẳng chung cùng thứ mười hai của Bồ Tát.

Nếu thấy chúng sinh ác tuệ, không có trí. Liền dùng Trí Tuệ để tự trang nghiêm, lại khiến cho chúng sinh buông lìa Ác Tuệ, đầy đủ Bát Nhã Ba La Mật Đa (Prajñapāramitā). Đây gọi là sự nghiệp chẳng chung cùng thứ mười ba của Bồ Tát.

Nếu thấy chúng sinh tác Ý chẳng đúng Lý (phi lý tác ý), hành nơi Tà Đạo. Bồ Tát liền dùng phương tiện khéo léo suy nghĩ như Lý cũng khiến cho chúng sinh buông bỏ nơi chẳng đúng Lý (phi lý), an trụ Chính Đạo. Đây gọi là sự nghiệp chẳng chung cùng thứ mười bốn của Bồ Tát.

Nếu thấy chúng sinh tối tăm rối loạn không có hiểu biết, bị phiền não gây hại. Bồ Tát tự trụ tùy niệm phân biệt mọi loại phân biệt, nhỏ nhiệm phân biệt tất cả cảnh giới xa lìa phiền não, lại khiến cho chúng sinh đoạn trừ phiền não trụ trong Chính Pháp. Đây gọi là sự nghiệp chẳng chung cùng thứ mười lăm của Bồ Tát.

Nếu thấy chúng sinh bị ngục tù Thân Kiến (Satkaya-dṛṣṭi), Hữu Kiến (Astivaniśrita:Chấp dính vào sự biến hiện của cái có) cột trói thì nên dùng Trí Tuệ thấu đạt thân của mình chẳng bị cái thấy (Kiến) trói buộc, lại khiến cho chúng sinh xa lìa Thân Kiến, chẳng tính toán ở cái có (Bhava: hữu), trụ Chính Trí Tuệ. Đây gọi là sự nghiệp chẳng chung cùng thứ mười sáu của Bồ Tát.

Nếu thấy chúng sinh phóng túng buông thả (túng đãng) các Căn (Indriya), chạy theo cảnh giới (Viṣaya) chẳng thể chế phục thì tự mình nhu hòa Tâm không có phóng dật (Pramāda: buông thả), lại khiến cho chúng sinh an trụ Luật Nghi (Saṃvaraḥ), khéo thủ hộ Căn Môn, ba nghiệp đều thuận. Đây gọi là sự nghiệp chẳng chung cùng thứ mười bảy của Bồ Tát.

Nếu thấy chúng sinh không có Tàm (Hrī:Tâm sùng kính các Công Đức với người có Đức), không có Quý (Apatrāpya:Tâm sợ tội lỗi), chẳng biết báo Ân, chặt đứt căn lành thì liền dùng Tàm Quý để tự trang nghiêm, biết Ân, biết báo đáp, tu các căn lành. Lại vì chúng sinh nói Pháp mở bày khiến cho đủ Tàm Quý, hay biết Ân Đức, viên mãn căn lành. Đây gọi là sự nghiệp chẳng chung cùng thứ mười tám của Bồ Tát.

Nếu thấy chúng sinh bị nước lũ lớn, sóng lớn, sóng nhỏ cuốn chìm, tùy theo nghiệp nổi chìm chẳng thể ra được. Bồ Tát tự mình hiện vượt qua giòng nước lũ đến ở bờ kia. Lại khiến cho chúng sinh đoạn trừ nghiệp ác, vượt giòng sinh tử, đến bờ Niết Bàn. Đây gọi là sự nghiệp chẳng chung cùng thứ mười chín của Bồ Tát.

Nếu thấy chúng sinh cang cường khó hóa độ thì dùng thân của mình nhún nhường, nhân nhượng, vâng thuận Sư Trưởng. Lại khiến cho chúng sinh an trụ khiêm kính (khiêm tốn cung kính). Đây gọi là sự nghiệp chẳng chung cùng thứ hai mươi của Bồ Tát.

Nếu thấy chúng sinh ôm giữ tâm ganh ghét, đối với người tu Thiện phần lớn sinh nhiều chướng ngại. Liền dùng căn lành tự nghiêm thân của mình, lại khiến cho chúng sinh buông lìa Tâm nghi ngờ, ghen ghét gây chướng ngại… an trụ Chính Pháp. Đây gọi là sự nghiệp chẳng chung cùng thứ hai mươi mốt của Bồ Tát.

Nếu thấy chúng sinh nghèo túng không có Pháp Tài (ví dụ chỉ Phật Pháp). Bồ

Tát hiện bày có vô lượng vật dụng giúp cho sinh sống, đủ bảy Thánh Tài (7 loại Thánh Pháp của Phật Đạo). Lại khiến cho chúng sinh không có chỗ túng thiếu, trụ trong Thánh Tài. Đây gọi là sự nghiệp chẳng chung cùng thứ hai mươi hai của Bồ Tát.

Nếu thấy chúng sinh thường bị bệnh tật, khổ đau, bốn Đại, rắn độc… trợ nhau lật ngược gây thương tổn, hại cho thân tâm. Bồ Tát liền dùng công đức không có bệnh để tự trang nghiêm, lại đặt để chúng sinh trong Pháp an vui không có các bệnh. Đây gọi là sự nghiệp chẳng chung cùng thứ hai mươi ba của Bồ Tát.

Nếu thấy chúng sinh ngu si, không có Trí, xa lìa ánh sáng của Trí. Bồ Tát liền dùng ánh sáng Trí Tuệ tự nghiêm thân của mình, lại khiến cho chúng sinh an trụ trong Pháp Trí Tuệ không có ngu si. Đây gọi là sự nghiệp chẳng chung cùng thứ hai mươi bốn của Bồ Tát.

Nếu thấy chúng sinh ưa dính hầm sâu uế ác trong ba cõi, luân hồi trong năm đường. Bồ Tát khéo hay tự mình ra khỏi ba cõi, lại dùng con đường khéo léo ra khỏi ba cõi, vận chuyển chúng sinh. Đây gọi là sự nghiệp chẳng chung cùng thứ hai mươi lăm của Bồ Tát.

Nếu thấy chúng sinh trái nghịch con đường chính đúng (chính đạo), đi vào lối Tà (tà kính) thì tự mình an Chính Pháp, lại khiến cho chúng sinh trụ trong Chính Pháp. Đây gọi là sự nghiệp chẳng chung cùng thứ hai mươi sáu của Bồ Tát.

Nếu thấy chúng sinh yêu dính thân mệnh, nhiêm sức nuôi dưỡng mong cho nó được trường tồn mà chẳng biết thân này là không có thường (vô thường), chẳng trong sạch, không có Tàm Quý, chẳng biết ân đức. Bồ Tát liền hiện chán ghét thân của mình, vứt bỏ sự ưa thích vinh hoa, lại khiến cho chúng sinh quán sát Vô Thường, sinh tưởng chán lìa. Đây gọi là sự nghiệp chẳng chung cùng thứ hai mươi bảy của Bồ Tát.

Nếu thấy chúng sinh xa lìa Phật, Pháp, Tăng. Bồ Tát tự thân nối tiếp mầm giống ba báu, lại khiến cho chúng sinh nối tiếp Phật Pháp Tăng khiến chẳng đoạn tuyệt. Đây gọi là sự nghiệp chẳng chung cùng thứ hai mươi tám của Bồ Tát.

Nếu thấy chúng sinh lùi mất Thiện Pháp. Bồ Tát liền dùng Thiện Pháp nghiêm thân, lại khiến cho chúng sinh trụ trong Thiện Pháp. Đây gọi là sự nghiệp chẳng chung cùng thứ hai mươi chín của Bồ Tát.

Nếu thấy chúng sinh xa lìa Sư Trưởng, chẳng hành sáu niệm (niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Thí, niệm Giới, niệm Thiên). Bồ Tát liền dùng sáu niệm tự trang nghiêm, lại khiến cho chúng sinh thường tu sáu niệm như thật quán Trí. Đây gọi là sự nghiệp chẳng chung cùng thứ ba mươi của Bồ Tát.

Nếu thấy chúng sinh bị lưới Nghiệp phiền não che lấm quấn quanh. Bồ Tát liền hiện xé rách lưới Nghiệp Hoặc, cũng khiến cho chúng sinh dứt hẳn Nhân sinh tử, an trụ Chính Pháp. Đây gọi là sự nghiệp chẳng chung cùng thứ ba mươi mốt của Bồ Tát.

Nếu thấy chúng sinh đủ các Bất Thiện (Akuśala) xa lìa căn lành. Bồ Tát liền tự mình trừ hết các vật dụng, các trang nghiêm ác. Lại khiến cho chúng sinh đầy đủ căn lành, xa lìa Bất Thiện. Đây gọi là sự nghiệp chẳng chung cùng thứ ba mươi hai của Bồ Tát.

Này Thiện Nam Tử! Đây là 32 loại sự nghiệp chẳng chung cùng của Bồ Tát. Nếu các Bồ Tát an trụ Nghiệp này thì tất cả Thiện Pháp luôn tự tăng trưởng, viên mãn đầy đủ.

_Lại nữa, Thiện Nam Tử! Bồ Tát lại có vô lượng sự nghiệp. Tại sao thế? Vì chúng sinh vô biên, phiền não của chúng sinh cũng lại vô lượng vô biên như vậy. Bồ Tát tùy theo phiền não sai biệt của tất cả chúng sinh ấy, cũng nói vô biên Môn giải thoát.

Này Thiện Nam Tử! Giả sử hết thảy Hạnh của chúng sinh tràn đầy trong hằng hà sa Thế Giới, hoặc hết thảy sự nghiệp của Thanh Văn Hạnh, hoặc Duyên Giác Hạnh…đem so với hết thảy sự nghiệp của Bồ Tát mới bắt đầu đã phát Tâm Bồ Đề này thì trăm phần chẳng theo kịp một phần, ngàn phần chẳng theo kịp một phần. Như vậy trăm ngàn phần, câu chi phần, trăm câu chi phần, ngàn câu chi phần, toán phần, ca la số phần, dụ phận, ưu ba ni sa đà phần đều chẳng theo kịp một phần. Tại sao thế? Vì Nhị Thừa tự đoạn trừ phiền não cho thân của mình, còn sự nghiệp của Bồ Tát chẳng vì tự thân mình, lại khắp vì trừ dứt các phiền não của tất cả chúng sinh. Thế nên hết thảy sự nghiệp của Bồ Tát đem so với Nhị Thừa thì thù thắng hơn cả, Công Đức đã được nhiều vô lượng vô biên. Tại sao thế? Vì sự nghiệp mà chúng sinh phàm phu đã tu đều cùng tương ứng với tất cả điên đảo, chỗ làm của Nhị Thừa thì Tâm ấy hạn hẹp thấp kém, còn sự nghiệp của Bồ Tát thì xa lìa điên đảo vô lượng vô biên. Thế nên Công Đức mà Bồ Tát đã được cũng lại vô lượng vô biên như vậy. Do nghĩa này cho nên vượt qua tất cả Phàm Phu, Nhị Thừa”.

Bấy giờ, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát nghe Pháp này xong thời hớn hở vui mừng, khắp thân sung sướng, Tâm được trong mát… rồi nói lời này: “Hiếm có! Bạch Đức Thế Tôn, thật là hiếm có! Đức Thế Tôn khéo hay phân biệt mọi loại Đà La Ni Môn, Môn của Đại Bi cùng với Môn của sự nghiệp chẳng chung cùng (bất cộng sự nghiệp) của Bồ Tát thâm sâu vi diệu cùng với Môn. Con nghe Đức Phật nói, nên con vui vẻ đỉnh lễ nhận giữ (đỉnh thọ), như Pháp phụng hành.

 

KINH THỦ HỘ QUỐC GIỚI CHỦ ĐÀ LA NI

_QUYỂN THỨ BA (Hết)_

*********

QUYỂN THỨ TƯ

NHẬP VÀO ĐẠI BI CHẲNG THỂ NGHĨ BÀN CỦA NHƯ LAI PHẨM THỨ TƯ

Bấy giờ Văn Thù Sư Lợi Đồng Tử liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trật áo hở vai phải, quỳ gối phải sát đất, chắp tay cung kính rồi bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Nguyện xin Đức Như Lai Ứng Chính Đẳng Giác vì con tuyên nói chư Phật Như Lai đối với các chúng sinh, Đại Bi tùy chuyển

Thế Tôn! Đại Bi của Như Lai có bao nhiêu loại? Dùng cái gì làm Tướng? Dùng cái gì làm Nhân? Dùng cái gì làm Duyên? Trụ ở chỗ nào?

Lành thay Thế Tôn! Nguyện xin vì con tuyên nói đầy đủ với nói sự nghiệp hiện chứng Nhất Thiết Trí Trí của Như Lai”

Khi ấy, Đức Phật bảo Văn Thù Sư Lợi Đồng Tử rằng: “Lành thay! Lành thay! Thiện Nam Tử khéo hay thưa hỏi nghĩa sâu xa như vậy. Hãy nghe cho kỹ! Hãy nghe cho kỹ! Hãy khéo nghĩ nhớ! Ta sẽ vì ông phân biệt giải nói tướng một giọt nước trong Môn Biển Đại Bi của chư Phật Như Lai

Này Thiện Nam Tử! Tất cả Như Lai đối với chúng sinh, hết thảy Đại Bi chẳng sinh chẳng diệt. Tại sao thế? Vì Đại Bi của Như Lai thường hằng chẳng đứt đoạn, không có lúc nào chẳng chuyển. Do ở vô lượng a tăng kỳ kiếp gom tập viên mãn các Công Đức cho nên không có đi, không có đến, thường hằng chẳng buông bỏ tất cả chúng sinh thảy đều hộ niệm mà nhiếp thọ, cho nên Đại Bi của Như Lai vô lượng vô biên không có cùng tận, thâm sâu, thâm sâu chẳng thể nghĩ bàn, bền chắc mạnh bén khó hiểu khó vào, chẳng phải là nơi mà ngôn ngữ có thể tuyên nói. Tại sao thế? Thiện Nam Tử! Ví như Như Lai (Tathāgata) được Đại Bồ Đề (Mahā-bodhi) đối với các chúng sinh khởi Tâm Đại Bi cũng lại như vậy.

Thế nào là Như Lai được nơi Bồ Đề? Thiện Nam Tử! Đức Phật được Bồ Đề không có gốc rễ, không có chỗ trụ.

Thế nào là gốc rễ? Thế nào là chỗ trụ? Thân Kiến (Satkaya-dṛṣṭi) là gốc rễ, Vọng Tưởng (Vikalpa) là chỗ trụ. Nhưng Thân Kiến, Vọng Tưởng cùng với Bồ Đề bình đẳng, vì bình đẳng cho nên nói Bồ Đề không có gốc rễ, không có chỗ trụ. Y theo nghĩa này mà Đức Phật được Bồ Đề. Tất cả chúng sinh chẳng biết không có gốc rễ, không có chỗ trụ. Vì muốn cho họ giác ngộ như thật, thế nên Như Lai duyên khắp chúng sinh mà khởi Đại Bi.

_Lại nữa, Thiện Nam Tử! Bồ Đề vắng lặng (tịch tĩnh), gần gũi vắng lặng (thân cận tịch tĩnh)

Nói vắng lặng (tịch tĩnh) tức là ở bên trong, gần gũi vắng lặng (thân cận tịch tĩnh) tức là ở bên ngoài. Tại sao thế? Vì con mắt (nhãn) trống rỗng (śūnya: không), cái Ta (ngã) trống rỗng, cái của Ta (ngã sở) cũng trống rỗng. Tính (Prakṛti:Thể thật của sự vật) như vậy cho nên gọi là vắng lặng (tịch tĩnh)

Lỗ Tai (nhĩ) trống rỗng, cái lưỡi (tỵ) trống rỗng, cái thân trống rỗng, ý trống rỗng, cái Ta trống rỗng, cái của Ta cũng trống rỗng. Tính như vậy cho nên gọi là vắng lặng (tịch tĩnh)

Do con mắt trống rỗng cho nên chẳng đi theo cảnh của hình sắc (sắc cảnh), thế nên gọi là gần gũi vắng lặng (thân cận tịch tĩnh)

Do con mắt, lỗ tai, lỗ mũi, cái thân, Ý trống rỗng cho nên chẳng đi theo cảnh của âm thanh (thanh), mùi ngửi (hương), vị nếm (vị), tiếp chạm (xúc), Pháp (Pháp trần)… thế nên gọi là gần gũi vắng lặng (thân cận tịch tĩnh)

Chúng sinh chẳng biết vắng lặng (tịch tĩnh), gần gũi vắng lặng (thân cận tịch tĩnh) như vậy. Vì muốn khiến cho họ biết, thế nên Như Lai đối với các chúng sinh, Đại Bi tùy chuyển.

_Lại nữa, Thiện Nam Tử! Bản Tính của Bồ Đề là ánh sáng trong sạch (thanh tịnh quang minh). Tại sao thế? Vì Tính thật của Tâm vốn trong sạch (thanh tịnh).

Thế nào là trong sạch (thanh tịnh)? Vì Tính ( Prakṛti) không có hợp, giống như Tính của Hư Không vốn trong sạch, cũng như Hư Không không có Tướng, cũng như Tính của Hư Không vốn bình đẳng. Thế nên Bồ Đề gọi là ánh sáng trong sạch cùng tột (tối cực thanh tịnh quang minh). Phàm phu ấu trĩ ngu muội chẳng thể hiểu biết ánh sáng trong sạch (tịnh quang minh) này do bị Khách Trần phiền não che lấp. Vì muốn khiến cho chúng sinh giác ngộ như thật, thế nên Như Lai đối với các chúng sinh, Đại Bi tùy chuyển.

_Lại nữa, Thiện Nam Tử! Bồ Đề không có lấy bỏ (vô thủ xả). Tại sao thế? Buông bỏ (xả) bờ sinh tử, cắt ngang dòng nước chảy xiết (bộc lưu), đến ở bờ bên kia thì gọi là lấy bỏ (thủ xả). Như Lai vào sâu trong Đệ Nhất Nghĩa Đế (Paramārthasatya) chẳng thấy bờ bên này, chẳng thấy bờ bên kia. Do tất cả Pháp không có bên kia (bỉ) bên này (thử), thế nên Bồ Đề không có lấy bỏ. Phàm phu chẳng biết không có lấy bỏ, vì muốn khiến cho họ biết điều này, thế nên Như Lai đối với các chúng sinh, Đại Bi tùy chuyển.

_Lại nữa, Thiện Nam Tử! Bồ Đề không có Tướng, cũng không có quán sát.

Thế nào là không có Tướng?. Ấy là Nhãn Thức (Cakṣu-vijñāna: sự nhận biết của con mắt) chẳng thể đắc được vậy.

Thế nào gọi là không có quán sát? Vì Nhãn Thức đối với hình sắc không có phân biệt.

Như vậy Nhĩ Thức (Śrotra-vijñāna: sự nhận biết của lỗ tai) chẳng thể đắc được, cho nên gọi là không có tướng. Nhĩ Thức đối với âm thanh, chẳng phân biệt, cho nên gọi là không có quán sát.

Tỵ Thức (Ghrāṇa-vijñāna: sự nhận biết của lỗ mũi) chẳng thể đắc được, cho nên gọi là không có tướng. Tỵ Thức đối với mùi ngửi, chẳng phân biệt, cho nên gọi là không có quán sát.

Thiệt Thức (Jihva-vijñāna: sự nhận biết của cái lưỡi) chẳng thể đắc được, cho nên gọi là không có tướng. Thiệt Thức đối với vị nếm, chẳng phân biệt, cho nên gọi là không có quán sát.

Thân Thức (Kāya-vijñāna: sự nhận biết của cái thân) chẳng thể đắc được, cho nên gọi là không có tướng. Thân Thức đối với sự tiếp chạm, chẳng phân biệt, cho nên gọi là không có quán sát.

Ý Thức (Mano-vijñāna: sự nhận biết của cái lưỡi) chẳng thể đắc được, cho nên gọi là không có tướng. Ý Thức đối với Pháp, chẳng phân biệt, cho nên gọi là không có quán sát.

Không có Tướng, không có quán sát như vậy là cảnh của bậc Thánh (Ārya) vượt qua ba cõi, cho nên chẳng phải là chỗ hay biết của kẻ phàm tiểu (Phàm Phu và người của Tiểu Thừa). Vì muốn khiến cho họ hiểu biết như thật, thế nên Như Lai đối với các chúng sinh, Đại Bi tùy chuyển.

_Lại nữa, Thiện Nam Tử! Bồ Đề chẳng phải là quá khứ, chẳng phải là hiện tại, chẳng phải là vị lai, Tam Tế (ba đời) bình đẳng, chặt đứt hết ba Luân (Cảnh đã biết, Trí hay biết, người hay biết).

Thế nào gọi là chặt đứt hết ba Luân? Đối với Tâm quá khứ kia, chẳng khởi. Đối với Thức (sự nhận thức) vị lai kia, chẳng hành. Đối với Ý hiện tại, chẳng làm. Tâm, Ý, Thức này không có chỗ trụ.

Thế nào gọi là Tam Tế bình đẳng? Việc quá khứ chẳng thể nghĩ lường, Thức vị lai chẳng thể tuyên bày, Ý hiện tại chẳng thể nói

Chúng sinh chẳng biết Tam Tế bình đẳng, ba Luân thanh tịnh thâm sâu như vậy. Vì muốn khiến cho họ giác ngộ như thật, thế nên Như Lai đối với các chúng sinh, Đại Bi tùy chuyển.

_Lại nữa, Thiện Nam Tử! Bồ Đề không có thân, Bồ Đề không có tạo làm (vô vi).

Thế nào là không có thân? Ấy là Nhãn Thức (sự nhận thức của con mắt) chẳng thể biết. Như vậy sự nhận thức của cái tai, lỗ mũi, cái lưỡi, cái thân, cái Ý chẳng thể biết

Thế nào là không có tạo làm (vô vi)? Vì không có sinh, không có diệt cũng không có trụ cho nên nói Vô Vi xa lìa ba tướng. Như tướng của Vô Vi, tướng của Hữu Vi cũng lại như vậy. Tại sao thế? Vì Tính của tất cả các Pháp như vậy. Tính của Vô Tính (Niḥsvabhātva, Niḥsvabhāva, hay Asvabhāva), Tính này chẳng phải là không có. Hai cái không có hai này là Tính của Bồ Đề. Phàm phu ấu trĩ ngu muội chẳng chẳng hiểu chẳng biết Tướng của không có thân với không có tạo làm (vô vi) như vậy. Vì muốn khiến cho hiểu biết, thế nên Như Lai đối với các chúng sinh, Đại Bi tùy chuyển.

_Lại nữa, Thiện Nam Tử! Bồ Đề chẳng thể hoại, không có dấu vết của chỗ đã chứng (vô sở chứng tích)

Thế nào là chỗ đã chứng (sở chứng) với chẳng thể hoại? Ấy là: Chân Như (Bhūta-tathatā hay Tathatā) là dấu vết của chỗ đã chứng, do không có chỗ trụ cho nên chẳng thể hoại

Pháp Giới (Dharma-dhātu) là chỗ đã chứng (sở chứng), do không có mọi loại cho nên chẳng thể hoại.

Thật Tế (Bhūta-koṭi) là chỗ đã chứng (sở chứng), do chẳng thể động cho nên chẳng thể hoại.

Không Môn (Śūnyatā) là chỗ đã chứng (sở chứng), do chẳng thể đắc được cho nên chẳng thể hoại.

Không có Tướng (Animitta: Vô Tướng) là chỗ đã chứng (sở chứng), do không có phân biệt cho nên chẳng thể hoại.

Không có Nguyện (Apraṇihita: Vô Nguyện) là chỗ đã chứng (sở chứng), do chẳng thể mong cầu cho nên chẳng thể hoại.

Không có chúng sinh là chỗ đã chứng (sở chứng), do không có Bản Tính cho nên chẳng thể hoại.

Hư Không (Gagana, hay Ākāśa) là chỗ đã chứng (sở chứng), do chẳng thể chọn lấy cho nên chẳng thể hoại.

Không có sinh là chỗ đã chứng (sở chứng), do không có diệt cho nên chẳng thể hoại.

Không có tạo làm (vô vi) là chỗ đã chứng (sở chứng), do không có các Hành cho nên chẳng thể hoại.

Bồ Đề (Bodhi) là chỗ đã chứng (sở chứng), do đối với vắng lặng (tịch tĩnh) gần gũi vắng lặng cho nên chẳng thể hoại.

Niết Bàn (Nirvāṇa) là chỗ đã chứng (sở chứng), do vốn không có sinh cho nên chẳng thể hoại.

Chúng sinh chẳng biết dấu vết của nơi đã chứng với chẳng thể hoại như vậy. Vì muốn khiến cho giác ngộ, thế nên Như Lai đối với các chúng sinh, Đại Bi tùy chuyển.

_Lại nữa, Thiện Nam Tử! Bồ Đề chẳng thể dùng Thân đắc được, chẳng thể dùng Tâm đắc được. Tại sao thế? Vì Thân không có biết, Tâm thì như huyễn. Như vậy biết chính đúng thì gọi là Bồ Đề, tùy thuận Thế Đế (Saṃvṛti-satya:Chân lý của Thế Gian) nói có Bồ Đề. Nên biết Thể của Bồ Để chẳng thể đắc được, không thể nói được. Nơi nào chẳng thể đắc được? Hoặc Thân, hoặc Tâm, hoặc Lý, hoặc Phi Lý (chẳng phải là Lý), hoặc không có, hoặc có, hoặc thật, hoặc hư giả… đều chẳng thể đắc được.

Thể nào là chẳng thể nói được? Vì mọi loại phương tiện cũa tất cả Pháp chẳng thể hiển nói Bồ Đề này, cho nên không có chút phần để trụ nơi Pháp. Do không có trụ cho nên chẳng phải là cảnh giới của văn tự, ngôn thuyết… ví như Hư Không không có chỗ trụ, chẳng thể tuyên nói. Bồ Đề cũng thế, không có trụ, không có nói. Đức Như Lai như thị như thật quán sát các Pháp đều chẳng thể nói được. Tại sao thế? Vì trong tất cả Pháp không có ngữ ngôn, trong các ngữ ngôn cũng không có Pháp. Như Diệu Pháp (Sad-dharma) này thì tất cả chúng sinh chẳng hiểu chẳng biết. Vì muốn khiến cho hiểu biết, thế nên Như Lai đối với các chúng sinh, Đại Bi tùy chuyển.

_Lại nữa, Thiện Nam Tử! Bồ Đề chẳng thể chọn lấy, không có chỗ nương dựa

Thế nào là chẳng thể chọn lấy? Thế nào là không có chỗ nương dựa? Ấy là con mắt (Cakṣu: nhãn) chẳng thể đắc được, cho nên chẳng thể chọn lấy. Hình sắc (Rūpa:sắc) chẳng thể đắc được, cho nên không có chỗ nương dựa.

Lỗ tai (Śrotra: nhĩ) chẳng thể đắc được, cho nên chẳng thể chọn lấy. Âm thanh (Śabda:thanh) chẳng thể đắc được, cho nên không có chỗ nương dựa.

Lỗ mũi (Ghrāṇa: tỵ) chẳng thể đắc được, cho nên chẳng thể chọn lấy. Mùi ngửi (Gandha: hương) chẳng thể đắc được, cho nên không có chỗ nương dựa.

Cái lưỡi (Jihva:thiệt) chẳng thể đắc được, cho nên chẳng thể chọn lấy. Vị nếm (Rasa:vị) chẳng thể đắc được, cho nên không có chỗ nương dựa.

Cái thân (Kāya:thân) chẳng thể đắc được, cho nên chẳng thể chọn lấy. Sự tiếp chạm (Spraṣṭavya:xúc) chẳng thể đắc được, cho nên không có chỗ nương dựa.

Ý (Manojñā) chẳng thể đắc được, cho nên chẳng thể chọn lấy. Pháp (Dharma:Pháp) chẳng thể đắc được, cho nên không có chỗ nương dựa.

Đức Như Lai (Tathāgata) như vậy không có chọn lấy, không có nương dựa, cho nên ở Bồ Đề hiện Chính Đẳng Giác (Samyaksaṃbuddha)

Do con mắt không có chọn lấy, hình sắc không có chỗ nương dựa cho nên sự nhận thức (Vijñāna:Thức) không có nơi nương theo (Āsraya:sở y)

Do lỗ tai không có chọn lấy, âm thanh không có chỗ nương dựa cho nên sự nhận thức (Vijñāna) không có nơi nương theo

Do lỗ mũi không có chọn lấy, mùi ngửi không có chỗ nương dựa cho nên sự nhận thức (Vijñāna) không có nơi nương theo

Do cái lưỡi không có chọn lấy, vị nếm không có chỗ nương dựa cho nên sự nhận thức (Vijñāna) không có nơi nương theo

Do cái thân không có chọn lấy, sự tiếp chạm không có chỗ nương dựa cho nên sự nhận thức (Vijñāna) không có nơi nương theo

Do Ý không có chọn lấy, Pháp không có chỗ nương dựa cho nên sự nhận thức (Vijñāna) không có nơi nương theo

Do không có nơi nương theo (vô sở Y) cho nên sự nhận thức (Vijñāna:thức) không có chỗ trụ, tất cả chúng sinh hư vọng ngang ngạnh chấp sự nhận thức (Thức) có chỗ trụ.

Thế nào là chỗ mà Tâm Thức chúng sinh đã trụ? Đây có bốn loại, ấy là Sắc Uẩn (Rūpa-skandha), Thọ Uẩn (Vedanā-skandha), Tưởng Uẩn (Saṃjñā-skandha), Hành Uẩn (Saṃskāra-skandha) tức là chỗ mà sự nhận thức (Vijñāna: Thức) của chúng sinh đã trụ. Đức Như Lai hiểu rõ chỗ trụ của chúng sinh tức là không có chỗ trụ, tận cùng không có bờ mé trụ. Tất cả chúng sinh chẳng hiểu chẳng biết. Vì muốn khiến cho hiểu biết, thế nên Như Lai đối với các chúng sinh, Đại Bi tùy chuyển.

_Lại nữa, Thiện Nam Tử! Nói Bồ Đề gọi là Thể Tính trống rỗng (Śūnya:

không). Do Thể trống rỗng cho nên tức Bồ Đề trống rỗng, do Thể trống rỗng cho nên tất cả Pháp trống rỗng. Đức Như Lai như vậy như Thể trống rỗng ấy, ở tất cả Pháp hiện Chính Đẳng Giác. Do nghĩa này cho nên chẳng dùng Không Giác mà hiểu nơi trống rỗng. Đây tức gọi là một Trí của ba Bồ Đề (Thanh Văn Bồ Đề, Duyên Giác Bồ Đề, Vô Thượng Chính Đẳng Bồ Đề).

Nói là: hoặc trống rỗng (Śūnya:Không), hoặc Bồ Đề (Bodhi)…chút phần không có hai. Trống rỗng với Bồ Đề chẳng thể phân biệt, cùng với tất cả Pháp cũng lại như vậy không có hai, không có hai tướng. Suy xét kỹ lưỡng, quán sát tất cả các Pháp không có tên gọi (Nāma:Danh), không có Tướng (Lakṣaṇa), không có Năng Hành (hay chủ động mà thực hành), cũng không có Sở Hành (đối tượng để thực hành), không có chỗ hướng đến, không có lời, không có nói, không có chấp giữ, không có chọn lấy. Đây gọi là trống rỗng (Śūnya: không), trong Đệ Nhất Nghĩa (chân lý tối cao của Phật Giáo) thì trống rỗng (Śūnya:không) cũng không thể đắc được mà chỉ có lời nói. Như nói hư không chỉ có trống rỗng, nói trống rỗng chẳng phải là cảnh của lời nói. Như vậy nói trống rỗng gọi là chẳng thể nói. Đây gọi là nhập vào tất cả Pháp Môn.

Nói là: tất cả Pháp không có Danh (Nāma: tên gọi thật) Tự (Akṣara:chữ, tên gọi giả). Ở trong không có tên gọi (vô danh) gắng gượng dùng tên gọi (danh) nói. Như vậy Danh Tự ở tất cả Pháp không có chỗ trụ. Tại sao thế? Vì y theo tất cả Tướng giả lập tên gọi (danh) ấy, Bản Tính của tướng vốn trống rỗng thì tên gọi y theo đâu mà lập?!… Đức Như Lai như vậy dùng Trí như thật biết tất cả Pháp. Ở đây, thế nào là biết (tri)? Cái biết (tri) từ xưa nay (bản lai) chẳng sinh, chẳng xuất ra, chẳng dấy lên (khởi), chẳng diệt, không có ngăn che, không có trở ngại, không có tướng, không có tạo làm… lìa Tâm Ý Thức, không có Danh Tự, không có âm thanh…. thấy biết như vậy mà được giải thoát. Giải thoát như vậy chẳng cột chẳng cởi, tại sao thế? Vì Tính bình đẳng, nhưng Phàm Phu chẳng hiểu chẳng biết. Vì muốn khiến cho họ hiểu biết như thật, thế nên Như Lai đối với các chúng sinh, Đại Bi tùy chuyển

_Lại nữa Thiện Nam Tử! Bồ Đề, Hư Không bình đẳng. Bình Đẳng nhưng Hư Không ấy không có ngang bằng (vô đẳng), không có gì chẳng ngang bằng (vô bất đẳng). Bồ Đề cũng vậy, không có ngang bằng (đẳng), chẳng ngang bằng (bất đẳng). Tại sao thế? Vì các Pháp như thật, không có sinh, không có diệt cho nên tất cả Pháp không có ngang bằng (đẳng), chẳng ngang bằng (bất đẳng).

Đức Như Lai Như Thị như thật thấy biết không có ngang bằng (vô đẳng), chẳng ngang bằng (bất đẳng) cho nên ở các Pháp hiện Đẳng Chính Giác. Thế nên ở bên trong không có chút Pháp nói ngang bằng (đẳng) chẳng ngang bằng (bất đẳng), đối với tất cả Pháp như thật mà biết. Nên biết như thế nào? Biết tất cả Pháp không có gốc rễ (căn bản), không có sinh, không có diệt. Tất cả các Pháp xưa không có, nay có… đã rồi trở lại không có. Cái ấy không có sinh cũng không có diệt, như vậy sinh diệt theo Nhân Duyên sinh, theo Nhân Duyên chuyển. Trong đây không có chút Pháp có thể chuyển. Như Lai vì chặt đứt con đường sinh tử nguy hiểm lâu dài, cho nên nói Pháp Như Thị Như Thật. Tất cả chúng sinh chẳng hiểu chẳng biết chặt đứt con đường sinh tử, cũng lại chẳng biết Pháp Tính bình đẳng với chẳng bình đẳng. Vì muốn khiến cho họ hiểu biết như thật, thế nên Như Lai đối với các chúng sinh, Đại Bi tùy chuyển.

_Lại nữa, Thiện Nam Tử! Chỗ mà Bồ Đề đã chứng tức là Như Như (Tathā). Như Bồ Đề, như hình sắc cũng như vậy, nơi Đệ Nhất Nghĩa chẳng một chẳng khác

(bất tức bất ly).

Như Bồ Đề như thật (Tathā:Như, như như, như thật, Bản Tính của tất cả sự vật chân thật chẳng biến đổi), ở Thọ (Vedanā), Tưởng (Saṃjñā), Hành (Saṃskāra), Thức (Vijñāna) như thật (Tathā) cũng chẳng một chẳng khác.

Như Bồ Đề như thật (Tathā), nơi Địa Giới (Pṛthivi-dhātu) như thật (Tathā)… Thủy Giới (Ab-dhātu), Hỏa Giới (Tejo-dhātu), Phong Giới (Vāyu-dhātu) như thật (Tathā) cũng chẳng một chẳng khác.

Như Bồ Đề như thật (Tathā), nơi Nhãn Giới (Cakṣu-dhātu), Sắc Giới (Rūpadhātu), Nhãn Thức Giới (Cakṣu-vijñāna-dhātu) như thật (Tathā) cũng chẳng một chẳng khác

Như Bồ Đề như thật (Tathā), nơi Nhĩ Giới (Śrotra-dhātu), Thanh Giới (Śabdadhātu), Nhĩ Thức Giới (Śrotra-vijñāna-dhātu) như thật (Tathā), cho đến Ý Giới (Mano-dhātu), Pháp Giới (Dharma-dhātu), Ý Thức Giới (Mano-vijñāna-dhātu) như thật (Tathā) cũng chẳng một chẳng khác

Như vậy các Uẩn (Skandha) với nhóm Giới (Dhātu), Xứ (Āyatana) cũng chẳng một chẳng khác (bất tức bất ly)

Đức Như Lai xứng như thật (Tathā) biết tất cả Pháp, thế nên hiện tiền thành Đẳng Chính Giác (Samyaksaṃbuddha), xứng với Tính, Tướng, Đẳng Chính Giác. Như hiện tại, như quá khứ, vị lai cũng lại như vậy… mé trước (tiền tế) chẳng sinh, mé sau (hậu tế) chưa đến, mé giữa (trung tế) vắng lặng. Bình Đẳng như vậy tức là chỗ mà Bồ Đề chân thật đã chứng. Chỗ chứng như vậy, một Pháp chẳng khác tất cả Pháp, tất cả Pháp chẳng khác một Pháp. Do trong như thật hoặc một, hoặc hai, hoặc lại nhiều Pháp đều chẳng thể đắc được. Chúng sinh Phàm Phu chẳng hiểu chẳng biết chỗ chứng như vậy, Ta sẽ khiến cho họ hiểu, thế nên Như Lai đối với các chúng sinh, Đại Bi tùy chuyển

_Lại nữa, Thiện Nam Tử! Bồ Đề không có tướng, khéo vào các tướng

Thế nào là Tướng? Thế nào là không có Tướng? Trong đây, Tướng là bắt đầu tu khởi tất cả Thiện Pháp. Nói không có Tướng là tất cả Pháp đều chẵng thể đắc được.

Lại nữa, Tướng là nơi mà Tâm không có trụ (vô trụ Tâm) đã trụ. Nói không có Tướng tức là Vô Tướng Tam Muội Giải Thoát

Lại nữa, Tướng là Pháp của Tâm (Citta), Tâm Sở (Caitasika) cân lường quán sát tất cả các Pháp. Nói không có Tướng là vượt qua chỗ cân lường, tùy theo nhận thức (Vijñāna: Thức) gây tạo Nghiệp (Karma)

Lại nữa, Tướng là đối với Pháp Hữu Vi (Saṃskṛta) quán sát tinh tế rõ ràng. Nói không có Tướng là đồi với Pháp Vô Vi (Asaṃskṛta) hiện chứng tương ứng.

Phàm Phu chẳng hiểu Môn Tướng, Vô Tướng thâm sâu như vậy, Ta sẽ khiến cho họ hiểu, thế nên Như Lai đối với các chúng sinh, Đại Bi tùy chuyển.

_Lại nữa, Thiện Nam Tử! Bồ Đề không có chảy rỉ (vô lậu), không có Uẩn phiền não. Trong đây, thế nào là chảy rỉ (Āsrava: lậu, tên gọi riêng của phiền não), không có chảy rỉ (Anāsvara:Vô Lậu). Lậu (chảy rỉ) có bốn loại là Dục Lậu (phiền não của cõi Dục), Hữu Lậu (phiền não của cõi Sắc, cõi Vô Sắc), Vô Minh Lậu (gọi chung cho vô minh của ba cõi), Kiến Lậu (phiền não của quan niệm thấy biết). Đối với bốn Lậu này thảy đều xa lìa cho nên gọi là Vô Lậu

Thế nào gọi là không có Uẩn phiền não? Vì xa lìa bốn loại Uẩn phiền não là xa lìa Dục Uẩn, xa lìa Tà Kiến Uẩn, xa lìa Ngã Kiến Uẩn, xa lìa Giới Cấm Thủ Uẩn. Bốn phiền não này đều bị Vô Minh đen tối che lấp, mù quáng không có con mắt Trí. Bị sự ham muốn, tham lam, khát ái (Tṛṣṇa: yêu thích năm Dục) sai khiến thiêu cháy, gom chứa dựng lập cho nên gọi là Uẩn (Skandha)

Đức Như Lai biết nhóm Ngã Kiến này hoặc không có gốc rễ, xưa nay thanh tịnh, cũng tùy thuận biết chúng sinh thanh tịnh. Nếu Ta thanh tịnh, nếu chúng sinh thanh tịnh không có hai, không có hai tướng. Không có hai tướng này tức là nghĩa không có sinh (vô sinh), nghĩa không có sinh này tức là nghĩa không có diệt (vô diệt). Ở trong không có sinh, không có diệt này nhóm Tâm Ý Thức thảy đều chẳng chuyển. Nơi Tâm Ý Thức chẳng chuyển này chẳng sinh phân biệt. Nếu có phân biệt tức Pháp sinh tử sinh ra, nếu không có phân biệt tức Pháp giải thoát sinh ra. Nếu Pháp giải thoát sinh ra tức Vô Minh (Avidya) chẳng dấy lên, nếu Vô Minh chẳng dấy lên tức mười hai Hữu Chi (12 nhân duyên) chẳng sinh ra, nếu mười hai Hữu Chi chẳng sinh ra tức là không có sinh, nếu không có sinh tức là giải thoát (Vimukti), nếu giải thoát tức là liễu nghĩa (Nītārtha:trực tiếp hiện rõ nghĩa của Pháp), liễu nghĩa tức là Đệ Nhất Nghĩa Đế (Paramārtha-satya)

Thế nào gọi là Đệ Nhất Nghĩa Đế? Ấy là không có cái Ta (vô ngã), nếu không có cái Ta tức chẳng thể nói, nếu chẳng thể nói tức là nghĩa của nhân duyên hòa hợp, Như nghĩa của nhân duyên hòa hợp tức là nghĩa của tất cả Pháp, nghĩa của tất cả Pháp tức là nghĩa của Như Lai. Do nghĩa này cho nên nếu thấy Pháp của nhân duyên hòa hợp tức thấy các Pháp, nếu thấy các Pháp tức thấy Như Lai. Như vậy trong Chân Kiến Đệ Nhất Nghĩa quán sát tinh tế rõ ràng, chẳng thấy chút phần

Thế nào là chút phần? Ấy là quán sát, tùy theo Tâm quán sát, thấy chân thật ấy thì gọi là chân thật kiến, như vậy mà biết các Pháp bình đẳng, thế nên Như Lai hiện Đẳng Chính Giác. Chúng sinh Phàm Phu chẳng hiểu chẳng biết không có chảy rỉ (vô lậu), không có Uẩn phiền não này thì Ta sẽ khiến cho họ hiểu, thế nên Như Lai đối với các chúng sinh, Đại Bi tùy chuyển.

_Lại nữa, Thiện Nam Tử! Bồ đề thanh tịnh, không có dơ bẩn (vô cấu), không có xứ sở. Trong đây Pháp nào gọi là thanh tịnh? Thế nào là không dơ bẩn? Thế nào lại gọi là không có xứ sở? Ấy là: trống rỗng (Śūnyatā: Không Môn) tức thanh tịnh, không có tướng (Animitta:vô tướng) tức là không có dơ bẩn, không có nguyện (Apraṇihita:vô nguyện) tức không có xứ sở.

Không có sinh tức là thanh tịnh, không có lưu chuyển tạo ứng (vô hành) tức là không có dơ bẩn, không có dấy lên (vô khởi) tức không có xứ sở.

Bản Tính của các Pháp tức là thanh tịnh, truy cứu đến cùng thì thanh tịnh tức là không có dơ bẩn, ánh sáng của Bản Tính tức không có xứ sở.

Thể chẳng thể nói tức là thanh tịnh, Thể không có phân biệt tức là không có dơ bẩn, lìa lời nói lặng yên tức không có xứ sở.

Chân Đế (Paramārtha) thanh tịnh, Pháp Tính (Dharmatā) không có dơ bẩn, bờ mé của chân thật tức không có xứ sở.

Biết Uẩn (Skandha) thanh tịnh, biết Bản Tính của Giới (Dhātu) tức là không có dơ bẩn, biết Nhập (Āyatana) xa lìa tức không có xứ sở.

Biết Trí cùng tận ở quá khứ thanh tịnh, biết Trí không có sinh ở vị lai tức là không có dơ bẩn, biết trụ xứ của Pháp giới ở hiện tại tức không có xứ sở.

Có nhóm như vậy là nghĩa của thanh tịnh, không có dơ bẩn, không có xứ sở thảy đều nhập vào trong một chỗ chứng (sở chứng)

Nói chỗ chứng tức là vắng lặng, vắng lặng tức là tịch diệt, tịch diệt tức là thân chứng, thân chứng tức là không có tướng, không có tướng tức Thắng Nghĩa Đế, Thắng Nghĩa Đế tức là tướng của Hư Không, như Tướng của hư không tức tướng của Bồ Đề cũng lại như vậy. Như Tướng của Bồ Đề, tướng của tất cả Pháp cũng lại như vậy. Như tất cả Pháp, tất cả chúng sinh cũng lại như vậy. Như các chúng sinh, tất cả cõi Phật cũng lại như vậy. Như tất cả cõi nước, Đại Bát Niết Bàn cũng lại như vậy. Thế nên Ta nói tất cả các Pháp tức là tướng của Niết Bàn. Đây là tướng thật tế rốt ráo, không có tướng đối, vô thủy thanh tịnh, xưa nay không có dơ bẩn, từ gốc trở đi không có xứ sở.

Đức Như Lai như vậy ở mọi loại sắc tướng của nhóm như vậy, thấy không có sắc tướng cho nên ở các Pháp hiện Đẳng Chính Giác. Đẳng Chính Giác xong quán khắp mười phương, thấy các chúng sinh trự ở chỗ chẳng trong sạch, dấy lên nơi dơ bẩn, chấp dính xứ sở, liền đối với chúng sinh khắp đều phát khởi Du Hý Đại Bi, dùng phương tiện khéo muốn chuyển bánh xe Pháp rồi nhớ đến Phạm Vương, đời vị lai chân thành cầu thỉnh”

Khi ấy, Thi Diệp Đại Phạm Thiên Vương (Śikhi) biết điều mà Đức Phật nghĩ đến, cùng với 84 ức vị Trời là quyến thuộc của cõi Phạm Thiên, trước sau vây quanh, ở Phạm Cung (Brahma-pūra) ẩn mất, hiện ra trước mặt Đức Phật, đỉnh lễ bàn chân của Đức Phật rồi bạch Phật rằng: “Nguyện xin Đức Thế Tôn (Bhagavaṃ) chuyển bánh xe

Pháp. Nguyện xin Đấng Thiện Thệ (Sugata) chuyển bánh xe Pháp” Liền nói Kệ rằng:

“_Chỗ Như Lai chứng rất vắng lặng

Thanh tịnh, không dơ, sáng màu nhiệm

Chẳng thể tuyên nói, không tên, lời (danh ngôn)

Phật Tịnh Trí Tuệ (Trí Tuệ trong sạch của Phật) Đức cùng tột

Vì Kinh này, ở nhiều ức Kiếp

Khổ Hạnh (Duḥskara-caryā) khó hành, trải qua hết

Vô thủy: Si (Moha:ngu si), Ái (Tṛṣṇa:yêu mến), Ngã (Ātma:cái Ta), tùy miên (Anuśaya: tên gọi khác của phiền não)

Chúng sinh điên đảo, khiến giác ngộ

_Chúng sinh Hội này nhiều thiện lợi

Xưa ở chỗ Phật đã tu Nhân (Hetu)

Nguyện xin rộng mở cửa Cam Lộ (Amṛta-mukha)

Chuyển Tối Thắng Luân lợi Hàm Thức (Satva: hữu tình, chúng sinh)

Họ sẽ giác ngộ Pháp tối thượng

Nghiền nát quân Ma không dư sót

Dẫn dắt chúng sinh trong đường Tà

Trụ đường chân chính của Như Lai

_Đại Bi Như Lai là tối thượng

Vì lợi tất cả, chẳng nghĩ bàn

Nay con khuyến thỉnh Thiên Nhân Sư (Śāstā-deva-manuṣyānāṃ:Thầy của hàng Trời, Người)

Chuyển nơi Pháp vi diệu tối thượng

Như Phật Câu Lưu Tôn (Krakucchanda) đã chuyển

Cũng như Câu Na Hàm Mâu Ni (Kanaka-muṇi)

Ca Diếp Thiện Thệ (Kāśyāpa-sugata) chuyển Pháp Luân (Dharma-cakra:

bánh xe Pháp)

Nay thỉnh Thế Tôn như vậy chuyển

_Ví như mây lớn tuôn mưa ngọt

Cỏ, thuốc, cây nát đều phát sinh

Nguyện Phật kéo mây Đại Từ Bi

Tuôn mưa Diệu Pháp khó nghĩ bàn

Như Lai mới sinh, sư tử hống (Siṃha-nāda: tiếng rống của Sư Tử)

Thề giải thoát khắp các hữu tình

Nguyện rưới nước Pháp đúng thời kỳ

Thỏa mãn Trời, Người khát ngưỡng sâu”

Này Thiện Nam Tử! Thi Diệp Phạm Vương nói Kệ thỉnh xong. Ở lúc đó, Ta nhận sự cầu thỉnh của Phạm Vương, chẳng buông bỏ Du Hý Đại Bi của Như Lai, ở trong Tiên Nhân Đạo Xứ Thí Lộc Lâm (Mṛgadāva:Rừng dành cho loài nai vui sống) trong thành Ba La Nại (Vārāṇasī), bắt đầu chuyển bánh xe Pháp vô thượng… nơi mà Sa Môn (Śramaṇa), hoặc Bà La Môn (Brāhmaṇa), hoặc Trời (Deva), Ma (Māra), Phạm (Brahma) chẳng thể chuyển. Khi chuyển bánh xe Pháp, khắp cả ba ngàn Đại Thiên Thế Giới đều nghe được, thời A Nhã Kiều Trần Như (Ājñāta-kauṇḍimya) đầu tiên nghe Pháp, ngộ giải (hiếu biết thấu tỏ) được Quả. Lúc đó, Ta nói Kệ rằng:

“Chẳng thể nói sâu xa

Thắng Nghĩa không văn tự

Ta nói Phi Vô Quả (chẳng phải là không có Quả)

Trần Như (Ājñāta-kauṇḍimya) mới ngộ giải”

Thiện Nam Tử! Khi Ta chuyển bánh xe Pháp, lại có vô lượng vô số chúng sinh đều ở Du Hý Đại Bi của Như Lai mà được điều phục, lại có vô lượng vô số chúng sinh phát Tâm Bồ Đề. Thế nên Như Lai đối với các chúng sinh, Đại Bi thường chuyển.

Này Thiện Nam Tử! Đây là viên mãn đầy đủ mười sáu Đại Bi của Như Lai, thường trụ trong ấy thì chẳng mượn công dụng, nhậm vận (tự nhiên tùy thuận các Pháp mà vận làm) luôn luôn chuyển. Vì một chúng sinh, trải qua hằng sa Kiếp ở Đại Địa Ngục nhận chịu đủ mọi nỗi khổ mà chúng sinh này hoặc có điều phục, hoặc chưa điều phục. Cần thiết khiến cho điều phục rồi đặt ở trong Chính Pháp của Như Lai. Như vì một chúng sinh, vì tất cả chúng sinh ắt cũng như vậy. Như vậy trải qua, ở trong vô lượng Kiếp nhận chịu nỗi khổ của Địa Ngục không có mệt mỏi chán nản, Tâm Đại Bi cũng không có giảm thiếu, thế nên Như Lai đối với các chúng sinh, Đại Bi sâu nặng chẳng thể nghĩ bàn, Tâm Bi của Nhị Thừa như cắt bỏ lớp da bên ngoài, Tâm Bi của Bồ Tát như cắt bỏ mỡ thịt, Đại Bi của Như Lai tẩy trừ sâu đến xương tủy.

Lại nữa, tùy thuận Trí của PhậtThanh Văn Bi (tâm Bi của Thanh Văn), khuyên các chúng sinh phát Tâm Bồ Đề là Bồ Tát Bi (tâm Bi của Bồ Tát)

Thọ ký sẽ thành Phật là Như Lai Bi (tâm Bi của Như Lai), nhân vào Tâm Từ (Maitra-citta) dấy lên là Thanh Văn Bi, nhân hóa độ chúng sinh là Bồ Tát Bi

Nhân vào cứu cánh thành thục chúng sinh là Phật Đại Bi (Đại Bi của Phật), cầu chặt đứt sinh tử là Thanh Văn Bi, vận chuyển đưa chúng sinh đến ở bờ bên kia (bờ giải thoát) là Bồ Tát Bi

Khắp hay độ thoát tất cả sinh tử, tất cả phiền não đến ở bờ bên kia là Phật Đại Bi. Chính vì thế cho nên biết Đại Bi của Như Lai rất ư tối thắng, vì muốn điều phục các chúng sinh, hoặc trải qua một Kiếp, hoặc lại trăm Kiếp, hoặc trăm ngàn Kiếp trụ lâu dài ở đời chẳng vào Cứu Cánh Vô Dư Niết Bàn

_Này Thiện Nam Tử! Cách đây lâu xa hơn a tăng kỳ Kiếp, lúc đó có Đức Phật hiện ra ở đời, tên là Chiên Đàn Xá Đa Đà A Già Độ A La Ha Tam Miểu Tam Phật Đà (Candana-ja tathāgatāya arhate samyaksaṃbuddhāya: Chiên Đàn Như Lai Ứng Cúng Chính Đẳng Chính Giác), Thế Giới tên là Hữu Hương, Kiếp tên là Tối Thắng Hương, Đức Phật sống đến sáu mươi tám vạn bốn ngàn tuổi, số Đệ Tử Thanh Văn đã tập hội gồm có sáu mươi tám vạn bốn ngàn người. Trong các lỗ chân lông trên thân của Đức Như Lai ấy luôn luôn tuôn ra mùi thơm màu nhiệm tràn khắp ba ngàn Đại Thiên Thế Giới, tất cả xông ướp không có các uế ác. Tường vách, nhà cửa, cây cối, núi sông, mọi loại sắc tướng không có gì chẳng có mùi thơm, cho nên Thế Giới này có tên gọi là Hữu Hương. Chúng sinh trong cõi ấy ngửi thấy mùi thơm này thì ba nghiệp thanh tịnh, đầy đủ mọi Thiện, rời bỏ nhà tu Đạo, vào sâu trong bốn Thiền. Trong Thế Giới này, một vạn Đức Như Lai nối tiếp nhau hiện ra, đều đồng một Danh Hiệu Chiên Đàn Xá (Candana-ja), thế nên Kiến này có tên gọi là Tối Thắng Hương.

Đức Chiên Đàn Xá Như Lai làm Phật Sự xong, đến lúc Niết Bàn (Nirvāṇa), lại dùng Thiên Nhãn (Devya-cakṣu) tịnh diệu vượt qua tất cả người Trời, quán khắp chúng sinh: Nhóm chúng sinh nào chưa được Phật điều phục, nhóm chúng sinh nào mà Ta đang điều phục, cho đến Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Thiên (Naivaśañjñānasañjñāyatana) có một chúng sinh nào trong đời quá khứ từng gieo trồng căn lành (Kuśalamūla:thiện căn), ưa thích nghe Đại Thừa (Mahā-yāna), Tâm được thanh tịnh thì Ta nên điều phục. Nhưng chúng sinh này còn trải qua tám vạn bốn ngàn kiếp trụ trong cõi Trời ấy, qua đấy mới từ cõi Trời giáng xuống, sinh vào nhân gian, chư biết năm Dục, nghe khen Đại Thừa liền phát Tâm A Nậu Đa La Tam Miểu Tam Bồ Đề (Anuttarāsamyaksaṃbuddhi: Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác), đối với Đại Thừa vĩnh viễn chẳng thoái lùi

Khi ấy, Đức Chiên Đàn Xá Như Lai dùng phương tiện Đại Bi quán sát khắp cả xong, liền bảo các Tỳ Kheo (Bhikṣu): “Trong đêm nay, Ta sẽ vào Niết Bàn”. Liền nhập vào Đại Bi Lân Mẫn Tam Muội, vào Tam Muội (Samādhi) xong hiện bày Niết Bàn. Sau khi Đức Phật diệt độ, phân chia Xá Lợi (Śarīra), người Trời ở mười phương cung kính cúng dường. Chính Pháp trụ ở đời tám vạn bốn ngàn năm lợi ích an vui cho vô lượng chúng sinh, thuần dùng một vị của Chính Pháp hóa độ con người, không có Tượng Pháp (Saddharma-pratirūpaka) lưu hành ở đời.

Đức Phật Thế Tôn ấy tuy hiện bày Niết Bàn nhưng dùng sức Thần Thông của Đại Bi Lân Mẫn Tam Muội ấy gìn giữ, lại trụ ở đời tám vạn bốn ngàn Kiếp, ẩn thân tướng tốt đẹp, đời không thể nhìn thấy. Trải qua tám vạn bốn ngàn kiếp xong, có một chúng sinh kia trụ ở cõi Phi Tưởng (Naivaśañjñānasañjñā-yatana) mới sinh vào cõi người, trong nhà Đại Hào quý. Năm được tám tuổi thời Đức Như Lai ấy từ Tam Muội khởi dậy, đến nhà của Đồng Tử, hiện thân tướng tốt đẹp, trụ trước mặt Đồng Tử, chỉ có Đồng Tử này với một vạn hai ngàn vị Thiên Tử nên điều phục, được thấy Đức Như Lai, còn lại không ai có thể nhìn thấy.

Lúc đó, Đức Như Lai ấy trước tiên làm cho Đồng Tử phát khởi Đại Thừa, lại vì Đồng Tử diễn nói tai họa của năm Dục rồi bảo rằng: “Này Thiện Nam Tử! Năm Dục quá ác, rất ư đáng sợ, ví như năm con rắn độc tụ hội cao lớn, tùy theo một con rắn độc tức liền hại người huống chi là năm con tụ hội, cũng như cất chứa gom tụ năm thứ thuốc độc, nếu nếm chút phần liền hay hại người huống chi là ăn cả năm nhóm. Thế nên, ngươi cần phải đừng tham dính”

Bấy giờ, Đồng Tử nghe lời nói này xong, quán sát nhà cửa, vật dụng sinh sống, hoặc nam hoặc nữ, tất cả hết thảy đều như rắn độc, sinh chán lìa sâu xa, liền đối với A

Nậu Đa La Tam Miểu Tam Bồ Đề, phát Tâm sâu nặng, được chẳng thoái lùi

Đức Phật biết thân tâm của Đồng Tử lắng sạch, đầy đủ mọi Thiện, liền cho Thọ Ký (Vyākaraṇa) rồi bảo Đồng Tử rằng: “Nay, Đồng Tử này trải qua bảy mươi hai a tăng kỳ kiếp sẽ được A Nậu Đa La Tam Miểu Tam Bồ Đề (Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác), tên là Tối Thắng Bảo Như Lai Ứng Chính Đẳng Giác hiện ra ở đời”

Lúc Đức Phật thọ ký thời người khác chẳng nghe được, chỉ có Đồng Tử này với một vạn hai ngàn vị Thiên Tử có thể trụ Pháp Khí thảy đều được nghe. Thời các vị Thiên Tử đều Phát Tâm A Nậu Đa La Tam Miểu Tam Bồ Đề, tác Nguyện này: “Nếu lúc Đức Tối Thắng Bảo Như Lai thành Phật, thời chúng con sẽ sinh vào cõi nước của Phật ấy”

Khi ấy, Đức Chiên Đàn Xá Như Lai bảo: “Các Thiên Tử sẽ được vãng sinh, Đức Tối Thắng Bảo Như Lai kia sẽ trao cho các ông A Nậu Đa La Tam Miểu Tam Bồ Đề Ký

Bấy giờ, Đức Chiên Đàn Xá Như Lai thọ ký riêng cho Bồ Tát kia xong, sau đó rốt ráo nhập vào Niết Bàn, tất cả người Trời cúng dường Xá Lợi.

_Này Thiện Nam Tử! Do nghĩa này cho nên Đại Bi sâu nặng viên mãn đầy đủ của tất cả Như Lai chẳng phải là cảnh giới của các Thanh Văn (Śrāvaka), Duyên Giác (Pratyeka-buddha)

Này Thiện Nam Tử! Pháp Môn như vậy hay khiến cho mầm giống Phật của các ông chẳng đứt đoạn. Nếu có chúng sinh nghe Pháp Môn này, thọ trì, đọc tụng, viết chép, giải nói cho đến một chữ, một câu, một Kệ thì căn lành đã được khi chưa vào Niết Bàn luôn nối tiếp nhau chẳng đứt đoạn. Tại sao thế? Vì Nhân (Hetu) chẳng bị đứt đoạn vậy.

Như Lai ở trong chúng Hội này, khi nói Pháp Môn sâu xa của Đại Bi thời có một hằng hà sa số chúng sinh phát Tâm A Nậu Đa La Tam Miểu Tam Bồ Đề, hai hằng hà sa Bồ Tát được Tùy Thuận Nhẫn, ba hằng hà sa Bồ Tát được mười sáu Đại Bi của Như Lai với Quán Đỉnh Pháp Nhẫn của tất cả Phật.

_Bấy giờ, tất cả Đại Chúng nghe Pháp Môn này xong thì vui mừng hớn hở, trong mát thích thú, đảo lộn thân tâm, chắp tay hướng về Đức Phật rồi bạch Phật rằng: “Lành thay Như Lai! Lành thay Thiện Thệ! Thích nói nghĩa này”.

Liền đem mọi loại vật cúng của người Trời duỗi bày cúng dường, hoặc dùng mọi loại Anh Lạc báu, hoặc dùng mọi loại quần áo thượng diệu, hoặc dùng mọi loại món ăn uống trân quý. Hoặc dùng quần áo Pháp, phướng, pháp, dù lọng… cầm mọi loại vật cúng của nhóm như vậy, cung kính tôn trọng cúng dường Đức Phật.

 

KINH THỦ HỘ QUỐC GIỚI CHỦ ĐÀ LA NI

_QUYỂN THỨ TƯ (Hết)_

********

QUYỂN THỨ NĂM

NHẬP VÀO SỰ NGHIỆP SÂU XA CHẲNG THỂ NGHĨ BÀN CỦA NHƯ LAI PHẨM THỨ NĂM_CHI MỘT

_Bấy giờ, Đức Thế Tôn lại bảo Văn Thù Sư Lợi Đồng Tử rằng: “Thiện Nam Tử! Thế nào là biết sự nghiệp hiện chứng của Như Lai Ứng Chính Đẳng Giác?

Này Thiện Nam Tử! Như Lai có 32 loại sự nghiệp của Chính Giác. Nhóm nào gọi là 32 loại?

Thiện Nam Tử! như Lai đối với Xứ (Đối với mỗi một việc, Lý không có trái ngược nhau), Phi Xứ (Đối với mỗi một việc, Lý có trái ngược nhau) như thật mà biết Thiện Nam Tử! Thế nào là Xứ? Thế nào là Phi Xứ?

Nói Phi Xứ là các chúng sinh không có phương tiện, nghiệp của thân miệng ý tạo làm nghiệp chẳng lành (Akuśala-dharma-karma: bất thiện nghiệp), nếu được như Ý, yêu thích tùy theo Tâm, thỏa mãn Quả mong cầu thì không có điều này

Đã nói Xứ. Nếu các chúng sinh có đủ phương tiện, nghiệp của thân miệng ý tạo làm các hạnh tốt lành (Kuśala-caryā: thiện hạnh), đắc được như Ý, yêu thích tùy theo Tâm, thỏa mãn Quả mong cầu thì có điều này

Lại nữa, Thiện Nam Tử! Nói Phi Xứ. Nếu các chúng sinh không có phương tiện, Tâm ôm ấp sự keo kiệt mà được đại phú quý, phá Tịnh Giới mà được thân của Trời Người, thường có giận dữ mà được Báo đoan chính, Thâm Tâm lười biếng mà được Trí Tuệ, Người tán loạn mà hay được giải thoát, chúng sinh có Tuệ ác mà hay chặt đứt Tập Khí (Vāsanā), các phiền não (Kleśa) thì không có điều này.

Nếu các chúng sinh có đủ phương tiện, tu hành Bố Thí được đại phú quý, hộ trì Tịnh Giới được sinh làm Người Trời, thường tu Nhẫn Nhục (Kṣānti) được Báo đoan chính, siêng hành tinh tiến (Vīrya) được Trí Tuệ, Tâm chẳng tán loạn được Chính Giải Thoát, khéo tu Trí Tuệ hay chặt đứt Tập Khí, các phiền não thì có điều này.

Lại nữa, gây tạo năm tội Nghịch mà được Tâm an vui thì không có điều này. Trong sạch trì Cấm Giới được Tâm an vui thì có điều này.

Lại nữa, nếu có chúng sinh chấp dính vào Hữu Kiến (Astiva-niśrita:chấp dính vào thiên kiến của sự có được, còn gọi là Thường Kiến) mà được Thuận Nhẫn thì không có điều này. Yêu thích tu trống rỗng (Śūnya:Không) được Tùy Thuận Nhẫn thì có điều này

Lại nữa, nếu các chúng sinh phần lớn trụ ở Tâm hối cải (hối tâm) mà được Tâm an vui thì không có điều này. Nếu Tâm không có sự hối cải, được Tâm an vui thì có điều này

Lại nữa, nếu khiến cho người nữ được Chuyển Luân Vương (Cakra-varti-rāja) làm vua của bốn Thiên Hạ; hoặc được làm Đế Thích (Indra), Đại Phạm Thiên Vương (Mahā-brahma-deva-rāja), thành Phật (Buddha) hiện ra thì không có điều này. Nếu buông bỏ thân người nữ được thân người nam, làm Chuyển Luân Vương làm vua của bốn Thiên Hạ; hoặc làm Đế Thích, Đại Phạm Thiên Vương với thành Phật thì có điều này

Lại nữa, nếu Chuyển Luân Vương dùng Phi Pháp (Trái ngược với Luật Pháp, chẳng hợp với khuôn phép) để sửa trị quốc gia, giáo hóa người dân (trị hóa) thì không có điều này. Nếu Chuyển Luân Vương dùng Chính Pháp để sửa trị quốc gia, giáo hóa người dân (trị hóa) thì có điều này

Lại nữa, nếu các Đế Vương (Rājendra) tham lam hèn hạ (tham ổi) kiêu căng xa xỉ (kiêu xa) mà hay sắp đặt được việc chính đáng của quốc gia (quốc chính) thì không có điều này. Nếu các Đế Vương không có tham lam, giản dị, hay sắp đặt được việc chính đáng của quốc gia (quốc chính) thì có điều này.

Nếu các Nhân Vương (Nārendra:vua của con người) chấp vào Đoạn Kiến (Uccheda-dṛṣti), Thường Kiến (Nitya-dṛṣṭi hay Śāsvata-dṛṣṭi) mà khiến cho sắp đặt được việc chính đáng của đất nước (quốc chính) thì không có điều này. Nếu các Nhân Vương sáng suốt, tin vào Nhân Quả mới sắp đặt được việc chính đáng của đất nước (quốc chính) thì có điều này.

Nếu các Nhân Vương, Tâm chẳng quân bình mà hay sửa trị được việc chính đáng của đất nước (quốc chính) thì không có điều này. Nếu các Nhân Vương vô tư bình đẳng, hay sửa trị được việc chính đáng của đất nước (quốc chính) thì có điều này.

Lại nữa, Bắc Câu Lô Châu (Uttara-kuru) sau khi buông xả Báo Thân bị đọa vào ba đường ác (Địa Ngục, Quỷ đói, súc sinh) thì không có điều này. Nếu nói Bắc Châu sau khi chết được sinh vào cõi Trời thì có điều này.

Lại nữa, nếu thực hành sự giết hại mà được sống sâu, cho đến Tà Kiến (Mithyādṛṣṭi) thọ nhận thực hành Tà Pháp (Mithyā-dharma) mà được Thánh Đạo (Āryamārga) thì không có điều này. Nếu chẳng sát sinh được Thọ Mệnh lâu dài, cho đến Chính Kiến (Samyag-dṛṣṭi) thọ nhận thực hành Chính Pháp (Sad-dharma) được Thánh Đạo thì có điều này.

Lại nữa, A La Hán Hướng (Arhat-pratipannaka) chẳng xác định được Quả thì không có điều này. Nếu La Hán Hướng xác định được Quả thì có điều này

Lại nữa, người Tu Đà Hoàn (Srotāpanna) thọ nhận đời thứ tám thì không có điều này. Nếu Tu Đà Hoàn không có đời thứ tám thì có điều này

Lại nữa, Tư Đà Hàm (Sukṛtāgami) thọ nhận đời thứ ba thì không có điều này. Nếu Tư Đà Hàm không có đời thứ ba, một lần sinh làm người Trời, hay dứt hết bờ mé cuối cùng của khổ đau (khổ tế) thì có điều này

Lại nữa, nếu A Na Hàm (Anāgami) sinh trở lại vào cõi Dục (Kāma-dhātu) thì không có điều này. Nếu A Na Hàm chẳng sinh vào cõi Dục, hay dứt hết bờ mé cuối cùng của khổ đau (khổ tế), được Niết Bàn thì có điều này.

Lại nữa, nếu A La Hán (Arhat) thọ nhận thân sinh tử thì không có điều này. Nếu A La Hán chẳng thọ nhận sinh tử, nhập vào Niết Bàn thì có điều này.

Lại nữa, nếu có người nói: “Trừ Phật Đại Sư ra, còn có Thánh Nhân vượt hơn hẳn Đức Phật” thì không có điều này. Nếu nói: “Chỉ có Đức Phật là bậc Thầy của Trời Người, không có ai hơn được” thì có điều này

Lại nữa, nếu có người nói: “Được Vô Sinh Nhẫn (Anutpattika-kṣānti) mà có chuyển lùi” thì không có điều này. Nếu được Vô Sinh (Anutpāda) chẳng chuyển lùi thì có điều này

Lại nữa, có người nói: “Ngồi Bồ Đề Trường (Bodhi-maṇḍa) chẳng thành Chính Giác (Samyksaṃbodhi)” thì không có điều này. Nếu ngồi Bồ Đề Trường quyết định thành Chính Giác thì có điều này

Lại nữa, nếu có người nói: “Chư Phật do có Tập Khí phiền não” thì không có điều này. Nếu nói: “Chư Phật không có Tập Khí phiền não” thì có điều này.

Lại nữa, nếu có người nói: “Trí của tất cả Như Lai có chướng ngại” thì không có điều này. Nếu nói: “Trí của Như Lai không có chướng ngại” thì có điều này.

Lại nữa, nếu có người nói: “Tướng Đỉnh Kế (Uṣṇīṣa) của Như Lai có thể nhìn thấy” thì không có điều này. Nếu nói: “Không thể nhìn thấy Đỉnh Kế của Như Lai” thì có điều này

Lại nữa, nếu có người nói: “Đức Phật chẳng gia thêm Uy Năng (uy phong và bản lãnh) lại biết được nơi mà Tâm của Như Lai đã sinh ra” thì không có điều này. Nếu nói: “Đức Phật gia thêm Uy Năng mới biết nơi mà Tâm của Như Lai đã trụ” thì có điều này

Lại nữa, nếu có người nói: ‘Như Lai cũng có chẳng trụ Tam Muội (Samādhi), Tam Ma Hứ Đa (Samāhita: Đẳng Dẫn)” thì không có điều này. Nếu nói: “Như Lai thường trụ tại Tam Muội, Đẳng Dẫn, Công Đức” thì có điều này

Lại nữa, nếu có người nói: “Lời nói của tất cả Như Lai có sự hư vọng với có lỗi lầm” thì không có điều này. Nếu nói: “Lời nói của Như Lai không có hư vọng cũng không có lỗi lầm” thì có điều này.

Lại nữa, nếu có người nói: Như Lai tạo làm Nghiệp có sự sai lầm” thì không có điều này. Nếu nói: “Nghiệp mà Như Lai đã làm không có sai lầm” thì có điều này.

Này Thiện Nam Tử! Dùng thuyết của nhóm như vậy đối với Như Lai biết Xứ, Phi Xứ có vô lượng Môn chẳng phải là chỗ mà lời nói theo kịp, như ở Thật Đế (đồng nghĩa với Chân Đế) không có biến dị (Biến hóa, chẳng đồng, hiện tượng quái dị). Đây là sự nghiệp Chính Giác thứ nhất của Như Lai.

Khi ấy, Đức Thế Tôn muôn tuyên lại nghĩa ấy một lần nữa, nên nói Kệ rằng:

“_Đại Địa có thể dời

Hư Không có thể động

Như Lai trọn chẳng nói

Phi Xứ dùng làm Xứ

_Hư Không ứng làm Thân

Đồng năm màu Sĩ Phu

Như Lai trọn chẳng nói

Phi Xứ dùng làm Xứ

_Tất cả Xứ sai biệt

Thượng Trung Hạ chẳng đồng

Như Lai đã tuyên nói

Quyết định không sai khác

_Tất cả Phi Xứ khác

Thượng Trung Hạ chẳng đồng

Như Lai đã tuyên nói

Quyết định là Phi Xứ

_Hoặc Xứ, hoặc Phi Xứ

Như Lai biết như thật

Tùy chúng sinh ưa muốn

Đầy đủ mà tuyên nói

_Sa Môn, Bà La Môn

Chảnh biết Xứ, Phi Xứ

Hư vọng giữ các cảnh

Trí của Phật biết hết (vô bất tri: không có gì chẳng biết)

_Chúng sinh: mọi loại Chấp

Phi Xứ cầu giải thoát

Được đủ nơi đời trọng

Vì nói Xứ chân thật

_Kia chấp Phi Pháp Khí (chẳng phải là Pháp Khí)

Nên Phật bỏ chúng sinh

Khi thuần giải thoát

Lại vị họ tuyên nói

-Đây là Phật Đệ Nhất

Tối Thắng Sự Nghiệp Môn (Môn sự nghiệp tối thắng thứ nhất của Đức Phật)

Xa lìa các Quá Phi (lỗi lầm chẳng đúng với sự thật)

Thoát khổ của chúng sinh _Pháp Xứ, Phi Xứ này

Vô lượng không bờ mé

Khó khuất phục, phá hết (vô bất tồi: không có gì chẳng phá vỡ, bẻ gẫy được) Đây tên sức Đại Tiên

_Lại nữa, Thiện Nam Tử! Như Lai ở đời quá khứ, hiện tại, vị lai nơi tạo làm hạnh nghiệp, Thệ Nguyện (Praṇidhāna) chẳng đồng, mọi loại xứ sở, mọi loại nhân duyên, mọi loại sự tướng, mọi loại dị thục (Vipāka: quả báo), vô lượng sai biệt đều biết như thật. Vì sao mà biết?

Thiện Nam Tử! Trong đây Hạnh Nghiệp, Thệ Nguyện ở quá khứ, dùng căn lành (Kuśala-mūla: Thiện Căn) làm Nhân (hetu) xa lìa Bất Thiện (Akuśala), đời vị lai được quả. Nếu Hạnh Nghiệp, Thệ Nguyện ở quá khứ dùng Căn chẳng lành (Akuśalamūla:bất thiện căn) để làm Nhân, xa lìa căn lành, đời sau được quả… Mọi loại như vậy, Đức Như Lai mỗi mỗi đều biết như thật.

Lại nữa, hoặc có Hạnh Nguyện, đời vị lai giảm dần. Hoặc có Hạnh Nguyện, đời vị lai tăng dần. Hoặc có Hạnh Nguyện, đời hiện tại giảm dần, đời vị lai tăng dần. Hoặc có Hạnh Nguyện, đời hiện tại tăng dần, đời vị lai giảm dần. Hoặc có Hạnh Nguyện, đời hiện tại, vị lai đều giảm thiểu dần. Hoặc có Hạnh Nguyện, đời hiện tại, vị lai tăng trưởng dần… Mọi loại như vậy đều biết như thật.

Lại nữa, hoặc có Hạnh Nguyện, đời hiện tại là Nhân nhỏ hẹp, đời sau lại rộng lớn. Hoặc hiện tại rộng lớn, đời vị lai nhỏ bé. Hoặc khởi đầu nhỏ nhiệm dần dần tăng hơn. Hoặc đầu tiên rộng lớn, sau lại nhỏ nhiệm dần… Mọi loại như vậy đều biết như thật

Lại nữa, hoặc có Hạnh Nguyện sẽ được Thanh Văn. Hoặc có Hạnh Nguyện sẽ được Duyên Giác. Hoặc có Hạnh Nguyện sẽ thành Nhân (hetu) của Phật… đều biết như thật.

_Lại nữa, hoặc có Hạnh Nguyện: Nhân (Hetu) khổ, Quả (Phala) vui. Hoặc có Hạnh Nguyện. Nhân vui, Quả khổ. Hoặc có Hạnh Nguyện: Nhân Quả đều khổ. Hoặc có Hạnh Nguyện: Nhân Quả đều vui… đều biết như thật.

Này Thiện Nam Tử! Như vậy quá khứ hiện tại vị lai: mọi loại Hạnh Nghiệp, Dị

Thục (Vipāka: quả báo) đã chiêu cảm, Nhân Quả tương thuận giống như bóng ảnh (ảnh) với âm thanh vang dội lại (hưởng). Đức Như Lai mỗi mỗi đều biết như thật. Biết như vậy xong tùy theo chỗ tương ứng mà nói Pháp. Đây là Sự nghiệp Chính Giác thứ hai của Như Lai.

Khi ấy, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa này một lần nữa, nên nói Kệ rằng:

“_Trí khéo (Thiện Xảo Trí) của Như Lai

Biết nghiệp quả chúng sinh

Ba đời đều không sót

Mắt Trí (Trí Nhãn) đều không dính (vô trước)

_Nhân lành được quả vui

Dị Thục (quả báo) ở người, Trời

Ác chiêu cảm Nhân khổ

Như Lai đều thấy biết

_Nghiệp lành, nghiệp chẳng lành

Mỗi mỗi Quả sẽ thành

Thiện Thệ (Sugata) đều hay biết

Như Ma Ni (Maṇi: viên ngọc báu) trong tay

_Có Nghiệp rất nhỏ nhiệm

Sẽ thành Nhân rộng lớn

Trước lớn, sau nhỏ bé

Như Lai đều thấy biết

_Có Nghiệp: Hạnh Thanh Văn

Có Nghiệp: Nhân (Hetu) Duyên Giác

Có Nghiệp thành Như Lai

Thiện Thệ đều thấy biết

_Hoặc Nhân vui, Quả khổ

Nhân khổ, Quả rất vui

Nhân Quả đều đồng khổ

Nhân Quả đều an vui

_Nghiệp cùng với Pháp Tính

Nhân Quả chẳng trái ngược

Như Lai biết như thật

Tính Tướng đều cùng tột

_Tất cả Chúng Sinh Giới

Nghiệp ba đời luân hồi

Mỗi mỗi không có khác

Như Lai đều thấu tỏ”

_Lại nữa, Thiện Nam Tử! vô số ưa thích ham muốn (lạc dục), mọi loại sai biệt của tất cả chúng sinh. Đức Như Lai mỗi mỗi biết như thật.

Đức Phật biết như thế nào? Hoặc có chúng sinh trụ Hạnh Tham Dục (Lobha, Rāga, Abhidhyā, hoặc đồng với Tṛṣṇā:khát ái), ưa thích nơi phẫn nộ oán hận (Dveṣa: sân khuể). Hoặc có chúng sinh an trụ phẫn nộ oán hận, ưa thích nơi Dâm Dục. Hoặc có chúng sinh an trụ Ngu Si (Moha), ưa thích nơi Dâm Dục cùng với giận dữ oán hận. Đức Như Lai mỗi mỗi đều biết như thật.

Hoặc có chúng sinh an trụ Thiện Pháp (Kuśala-dharma) ưa thích ham muốn điều chẳng lành (Akuśala: bất thiện) đều biết như thật.

Hoặc có chúng sinh đã tạo làm nhỏ bé mà ưa thích ham muốn rộng lớn. Hoặc có chúng sinh đã tạo làm rộng lớn mà ưa thích ham muốn nhỏ bé. Hoặc có chúng sinh, lúc đầu ở trong Nhân (hetu) ưa thích ham muốn nhỏ bé, đến ở trong Quả (Phala) lại ưa thích ham muốn rộng lớn. Hoặc có trong Nhân, ưa thích ham muốn rộng lớn, đến ở trong Quả lại ưa thích ham muốn nhỏ bé…. Mọi loại như vậy đều biết như thật

Hoặc có chúng sinh ưa thích nhóm Tà Kiến, trong Nhân chẳng quyết định, sẽ thành quyết định. Hoặc có ưa thích ham muốn trong điều chính đúng, chẳng quyết định sẽ thành quyết quyết định. Hoặc có ưa thích ham muốn trong Nhân chính đúng (chính nhân) quyết định sẽ được giải thoát…. Mỗi mỗi sai biệt ấy, Đức Như Lai đều biết.

Hoặc có ưa thích ham muốn sẽ vượt qua cõi Dục (Kāma-dhātu). Hoặc có ưa thích ham muốn sẽ vượt qua cõi Sắc (Rūpa-dhātu). Hoặc có ưa thích ham muốn sẽ vượt qua ba cõi (Trayo-dhātavaḥ). Mỗi mỗi điều như vậy, Đức Như Lai đều biết.

Hoặc có ưa thích ham muốn ngày ngày giảm chút ít, sau này sẽ dần dần được tăng rộng lớn hơn. Hoặc có ưa thích ham muốn rộng lớn tối thắng, sau này dần dần giảm chút ít, được Bất Khả Ý (Do đối với các Dục chẳng thể ưa thích)…. Mọi loại như vậy đều biết như thật

Lại có ưa thích ham muốn mọi loại đời được mọi loại hình sắc, thọ dụng vật dụng sinh sống. Sự sai biệt như vậy, Đức Như Lai đều biết.

Hoặc có ưa thích ham muốn ở trong cõi người, trên Trời. Hoặc có ưa thích ham muốn sẽ được giải thoát.

Sự sai biệt như vậy, Đức Như Lai mỗi mỗi đều biết như thật. Biết như vậy xong, tùy theo chỗ tương ứng mà nói Pháp. Đây là sự nghiệp Chính Giác thứ ba của Như Lai.

Khi ấy, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa này một lần nữa, nên nói Kệ rằng:

“_Chúng sinh: mọi ham muốn

Ý thích vô số lượng

Như Lai Nhất Thiết Trí

Như thật đều hay biết

_Mỗi mỗi chúng sinh ấy

Trụ tham thích (tham lạc), giận oán (sân khuể)

Trụ sân (giận dữ) ưa ngu si (si minh) Mỗi mỗi biết như thật

_Trụ si (moha) ưa dục tham (Lobha)

Trụ Thiện (Kuśala) ưa Bất Thiện (Akuśala)

Tâm ấy, mọi loại biến

Thiện Thệ (Sugata) đều hay biết.

_Chúng sinh: Nhân (hetu) thấp kém

Tâm luôn ưa rộng lớn

Trụ rộng, ưa rộng lớn

Trụ cầu Thắng (hơn) liệt (kém) trung (khoảng giữa không hơn không kém)

_Lại nữa, có chúng sinh

Nhân liệt (kém), Quả siêu thắng

Nhân thắng, Quả trung (khoảng giữa không hơn không kém) liệt (kém)

Như Lai biết như thật.

_Trụ trong chẳng định

Lúc sau sẽ quyết định

Trụ Chính thoát ba cõi

Như Lai biết như thật.

_Hoặc thích mọi loại đời

Sắc tướng với vật dụng

Ở cõi người, trên Trời

Giải thoát, muốn tương ứng

_Các chúng sinh ba đời

Ưa muốn, Phật đều biết

Tùy theo Tâm, nói Pháp

Đây Môn nghiệp thứ ba”.

_Lại nữa, Thiện Nam Tử! Đức Như Lai đối với vô số Thế Giới, mọi loại cõi khác nhau đều biết như thật. Đức Phật biết như thế nào? Ấy là biết Thế Giới này, chúng sinh trong đấy tu các Công Đức. Chúng sinh trong cõi này tạo làm các nghiệp ác. Chúng sinh trong cõi này tu nghiệp giải thoát. Chúng sinh trong cõi này sẽ được ra khỏi Thế Gian (Lokottara: xuất thế). Mọi loại như thế đều biết như thật.

_Lại nữa, Thiện Nam Tử! Như Lai biết Nhãn Giới (Cakṣu-dhātu), Sắc Giới (rūpa-dhātu), Nhãn Thức Giới (Cakṣu-vjjñāna-dhātu). Làm thế nào mà biết? Có ba Nhân là: biết Nội Không (Adhyātma-śūnyatā: sáu căn bên trong đều không có cái ta, không có cái của ta, cũng không có Pháp bên trong. Hoặc bên trong trống rỗng), Ngoại Không (Bahirdhā-śūnyatā: sáu cảnh bên ngoài đều không có cái ta, không có cái của ta, cũng không có Pháp bên ngoài. Hoặc bên ngoài trống rỗng), Nội Ngoại Không (Adhyātma-bahirdhā-śūnyatā: sáu căn bên trong, sáu cảnh bên ngoài đều không có cái ta, không có cái của ta, cũng không có Pháp bên trong bên ngoài. Hoặc bên trong bên ngoài đều trống rỗng), cho đến biết Ý Giới (Mano-dhātu), Pháp Giới (Dharma-dhātu), Ý Thức Giới Mano-vijñāna-dhātu), Nội Không (Bên trong trống rỗng), Ngoại Không (bên ngoài trống rỗng), Nội Ngoại Không (bên trong bên ngoài đều trống rỗng).

Lại nữa, biết nơi Địa Giới (Pṛthivi-dhātu), Thủy Giới (Ab-dhātu), Hỏa Giới

(Tejo-dhātu), Phong Giới (Vāyu-dhātu) đều như Hư Không

Lại nữa, biết Cõi Dục (Kāma-dhātu), cõi Sắc (Rūpa-dhātu), cõi Vô Sắc (Arūpadhātu) từ nơi vọng tưởng phân biệt đã dấy lên

Lại nữa, biết Hành Tướng của Hữu Vi Giới hiện tiền có cùng tận cho nên biết Vô Vi Giới không có Hành Tướng. Biết tướng Khách Trần (Akasmāt-kleśa:nghĩa của phiền não) của Phiền Não Giới, thấu tỏ dòng chảy của phiền não thì có thể chặt đứt hết, đạt được tướng ánh sáng của Bản Tính. Biết vọng niệm Vô Minh của các Hạnh Giới làm Tướng ấy cho nên biết Tướng Trí Tuệ của Niết Bàn Giới là tướng của Chính Niệm

Này Thiện Nam Tử! Như vậy, như vậy! Thế Giới an lập. Thoạt đầu Thế Giới ở hiện tại chuyển diệt, đến ở đời khác sinh khởi Nhân Duyên y trụ làm Nghiệp. Sự sai biệt như vậy, Đức Như Lai mỗi mỗi đều biết như thật. Biết xong, tùy theo chỗ tương ứng mà nói Pháp. Đây là sự nghiệp Chính Giác thứ tư của Như Lai

Khi ấy, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa này một lần nữa, nên nói Kệ rằng: “_Phật nơi Giới, khéo léo

Với Thời trụ, chuyển, giảm

Chút Thiện (Kuśala) thành Quả lớn

Nhân Sư Tử (Nṛ-siṃha: Hiệu của Đức Phật) hay rõ

_Giới: có Phước, không Phước

Phước mở cửa giải thoát

Giới Giải Thoát chẳng đồng

Nhất Thiết Trí (Sarva-jñā) thấy rõ

_Như Lai biết Nhãn Giới

Sắc Thức Giới đều Không (Śūnya: trống rỗng)

Nhĩ Giới, Tỵ, Thiệt, Thân

Ý Pháp Không (Śūnya: trống rỗng) cũng thế

_Giới: đất, nước, lửa, gió

Rõ như thật đều Không (Śūnya: trống rỗng)

Tâm vọng niệm ba cõi

Nhân Sư Tử hay rõ

_Tướng: phiền não (Kleśa), Không Trần

Các Pháp Tính (Dharmatā) đều không (vô: không có)

Hành, chẳng hành như Không (hư không)

Ấy ba tướng Niết Bàn

_Thế Giới Bất Thiện (Akuśala) khởi

Thành xong, hoại diệt đồng

Cõi này với phương khác

Vô Niệm (không có niệm hư vọng) đều thấy biết

_Mười phương không bờ mé

cõi (Dhātu: Giới), Phật hay biết

Trí Phật thắng (thù thắng) không bờ (vô nhai)

Chúng sinh chẳng thể lường.

_ Đây là Thanh Tịnh Chủ

Đệ Tứ Điều Sinh Môn (Môn điều hòa đời sống thứ tư của bậc Thanh Tịnh Chủ)

Tu đây chẳng lùi lại

Quyết chứng quả Bồ Đề”

_Lại nữa, Thiện Nam Tử! Đức Như Lai đối với các chúng sinh: các căn hơn kém, tinh tiến, lười biếng, hoặc lanh lợi (lợi), hoặc chậm chạp (độn) đều biết như thật. Làm thế nào để hay biết? Thiện Nam Tử! Chúng sinh Độn Căn, ngu ám thấp kém, Trung Căn, Thắng Căn đều biết như thật

Lại nữa, tùy theo Căn như vậy phân biệt sinh Tham (Lobha, hay Rāga). Tùy theo Căn như vậy phân biệt sinh giận dữ (Dveṣa: sân). Tùy theo Căn như vậy phân biệt sinh Si Mê (Moha: si) với nương theo cảnh bên ngoài sinh Tham Sân Si… Đức Như Lai đều biết.

Lại nữa, tùy theo Căn phân biệt sinh Tham Sân Si triển chuyển tăng rộng. Hoặc lại tùy theo Căn mà nơi phân biệt đã sinh chút ít Tham Sân Si, lại chẳng tăng trưởng… Đức Như Lai đều biết

Lại nữa, Căn này là Nhân của căn lành (Kuśala-mūla:thiện căn). Căn này tức là Nhân của căn chẳng lành (Akuśala-mūla: bất thiện căn). Căn này tức là Nhân của con đường giải thoát (Vimukti-mārga:giải thoát đạo). Căn này là Nhân ra khỏi con đường sinh tử… Mọi loại như vậy, Đức Như Lai đều biết.

Lại nữa, Thiện Nam Tử! Đức Phật như thật biết sáu Căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; Mệnh Căn của nam nữ, căn khổ, căn vui, căn: lo lắng, vui mừng, buông bỏ, căn tin tưởng (tín căn), căn: Niệm, Định, Tuệ… Căn chưa biết sẽ biết, Căn đã biết, Căn biết đầy đủ…. Mọi loại như vậy, Đức Như Lai đều biết.

Lại nữa, nhân vào Nhãn Căn (con mắt) Tâm trụ ở Nhĩ Căn (lỗ tai) chẳng trụ ở nhóm lỗ mũi, cái lưỡi, thân. Nhân vào Nhĩ Căn (lỗ tai) Tâm trụ ở Tỵ Căn (lỗ mũi) chẳng trụ ở Căn khác. Nhân vào Tỵ Căn (lỗ mũi) Tâm trụ ở Thiệt Căn (cái lưỡi). Nhân vào Thiệt Căn (cái lưỡi) Tâm trụ ở Thân Căn (thân xác). Nhân vào Thân Căn (thân xác) Tâm trụ ở NHãn Căn (con mắt)…. Mọi loại Căn như vậy, Đức Như Lai đều biết.

Lại nữa, nếu có chúng sinh có Căn Bố Thí hiện trì Tịnh Giới. Đức Như Lai biết kẻ ấy từ vô thủy đến nay, các Căn triển chuyển có nhiều sai biệt, thế nên vì họ nói Đàn Ba La Mật (Dāna-pāramitā: Bố Thí Ba La Mật)

Nếu có chúng sinh có Căn Tịnh Giới hiện thực hành Bố Thí. Đức Như Lai biết kẻ ấy từ vô thủy đến nay, các Căn triển chuyển có nhiều sai biệt, thế nên vì họ nói Thi Ba La Mật (Śīla-pāramitā: Trì Giới Ba La Mật).

Hoặc có chúng sinh có Căn Nhẫn Nhục hiện thực hành Tinh Tiến. Đức Như Lai biết kẻ ấy từ vô thủy đến nay, các Căn triển chuyển có nhiều sai biệt, thế nên vì họ nói Nhẫn Ba La Mật (Kṣānti-pāramitā: Nhẫn Nhục Ba La Mật).

Hoặc có chúng sinh có Căn Tinh Tiến hiện thực hành Nhẫn Nhục. Đức Như Lai biết kẻ ấy từ vô thủy đến nay, các Căn triển chuyển có nhiều sai biệt, thế nên vì họ nói Cần Ba La Mật (Vīrya-pāramitā: Tinh Tiến Ba La Mật).

Hoặc có chúng sinh có Căn Thiền Định hiện tu Trí Tuệ. Đức Như Lai biết kẻ ấy từ vô thủy đến nay, các Căn triển chuyển có nhiều sai biệt, thế nên vì họ nói Thiền Ba La Mật (Dhyāna-pāramitā: Thiền Định Ba La Mật).

Hoặc có chúng sinh có Căn Trí Tuệ hiện trụ Thiền Định. Đức Như Lai biết kẻ ấy từ vô thủy đến nay, các Căn triển chuyển có nhiều sai biệt, thế nên vì họ nói Thậm Thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa thâm sâu (Gaṃbhīra-prajñā-pāramitā: Thậm Thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa) khiến cho kẻ ấy tu tập tất cả Pháp Bồ Đề Phần (Bodhyaṅga) rộng lớn.

Lại nữa, biết chúng sinh có Căn Thanh Văn hiện tu Hạnh Duyên Giác đã thực hành. Đức Như Lai biết kẻ ấy từ vô thủy đến nay, các Căn triển chuyển có nhiều sai biệt, thích hợp nhận (kham nhận) Thanh Văn, thế nên vì họ nói Pháp Thanh Văn Thừa (Śrāvaka-yāna)

Nếu có chúng sinh có Căn Duyên Giác tu Hạnh Thanh Văn (Śrāvaka-caryā). Đức Như Lai biết kẻ ấy từ vô thủy đến nay, các Căn triển chuyển có nhiều sai biệt, thích hợp nghe (kham văn) Duyên Giác, thế nên vì họ nói Pháp của Duyên Giác (Pratyeka-buddha).

Hoặc có chúng sinh có Căn Đại Thừa tu Hạnh Nhị Thừa. Đức Như Lai biết kẻ ấy từ vô thủy đến nay, các Căn triển chuyển có nhiều sai biệt, thích hợp nghe (kham văn) Đại Pháp (Mahā-dharma) nên vì họ nói Đại Thừa (Mahā-yāna).

Lại có chúng sinh có Căn thấp kém (hạ liệt căn) hiện tu Đại Thừa. Đức Như Lai biết kẻ ấy từ vô thủy đến nay, các Căn triển chuyển có nhiều sai biệt, nên vì họ nói Pháp khiến cho buông bỏ sự thấp kém, tu tập Đại Thừa.

Lại có chúng sinh chẳng thể nhận làm Pháp Khí. Đức Như Lai biết kẻ ấy từ vô thủy đến nay, các Căn triển chuyển có nhiều sai biệt, lâu dài chưa thích hợp nhận được, nên tạm vứt bỏ gốc rễ chờ đợi (đãi căn), khi thuần thục thời thích hợp nhận làm Pháp Khí, phát Tâm ân trọng, Đức Như Lai sẽ vì họ ân cần nói Pháp

Này Thiện Nam Tử! Đức Như Lai như vậy biết các chúng sinh. Hoặc Căn đã thuần thục, hoặc Căn chưa thuần thục, muốn ra khỏi ba cõi hoặc chẳng muốn ra khỏi… Mọi loại như vậy, Đức Như lai đều biết.

Làm thế nào để biết? Biết căn bản ấy tu tập như thế nào, Tính như thế nào, Tướng như thế nào, Nhân như thế nào, Duyên như thế nào, suy nghĩ như thế nào, Quả như thế nào, Báo như thế nào, Ý rốt ráo (cứu Ý) như thế nào… Đức Như Lai mỗi mỗi đều biết như thật. Đây là sự nghiệp Chính Giác thứ năm của Như Lai.

Khi ấy, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa này một lần nữa, nên nói Kệ rằng:

“_Phật biết Căn, Trí đến bờ kia

Tùy thuận chúng sinh, mọi loại khác

Phẩm Thượng Trung Hạ đều biết rõ

Thắng Nghiệp chiêu vời Quả giải thoát

_Rõ bờ phiền não (phiền não tế) chỉ hư giả

Sâu, mỏng, nhẹ, nặng thảy đều biết

Khéo biết các Hoặc (mê mờ, nghi ngờ), Môn đối trị

Ác (Pāpa, hay Akuśala) vời sinh tử, Thiện (Kuśala) giải thoát

_Biết: mắt đến Ý, mệnh nam nữ

Căn: khổ, vui, lo, mừng, buông xả

Tín (Śraddha), Tấn (Vīrya), Niệm (Smṛti), Định (Samādhi), Tuệ (Prajña) nên biết

Đều rõ Căn: đã biết, biết đủ

_Biết Nhân con mắt (Cakṣu) chỉ trụ tai (Śrotra: lỗ tai)

Cho đến Nhân Thân (Kāya) trụ trong Mắt

Căn Thí (bố thí) trì Giới nên nói Đàn (Dāna-pāramitā)

Căn Giới hành Thí (bố thí) nên nói Giới (Śīla-pāramitā)

Căn Nhẫn tu Cần nên nói Nhẫn (Kṣānti-pāramitā)

Căn Tiến tu Nhẫn nên nói Cần (Vīrya-pāramitā)

Căn Định tu Tuệ nói các Thiền (Dhyāna-pāramitā)

Căn Tuệ trụ Định nói Bát Nhã (Prajña-pāramitā)

_Căn Thanh Văn tu Hạnh Duyên Giác

Đã biết Căn nên nói Thanh Văn (Śrāvaka)

Căn Duyên Giác trụ Hạnh Thanh Văn

Biết Căn, vì họ nói Duyên Giác (Pratyeka-buddha)

_Thấp kém xa lìa Pháp thượng thừa

Đại Bi nên nói các Môn Độ (Pāramitā: Ba La Mật Đa)

Căn thuần, chưa thuần Phật đều biết

Khí này nói buông Phi Khí

_Các Căn, Hành Tướng, Tính tu tập

Tùy Nhân Duyên ấy với suy nghĩ

Quả Báo, Cứu Ý (Ý rốt ráo), biết như vậy

Phật Đệ Ngũ Chân Thật Nghiệp (Nghiệp chân thật thứ năm của Phật)”

_Lại nữa, Thiện Nam Tử! Đức Như Lai đối với khắp lối nẻo hướng đến (Thú Hướng) đều biết như thật. Làm thế nào để biết? Biếy Giới chúng sinh Chính Định, biết Giới chúng sinh Bất Định, biết Giới chúng sinh Tà Định

Vì sao mà biết chúng sinh Chính Định? Ấy là chúng sinh này có sức của Nhân (Hetu) to lớn, đời trước gieo trồng nhiều Phước, thông minh, căn lanh lợi, Trí Tuệ khai mở. Đức Như Lai như thật biết điều tốt lành xưa kia (tích thiện) xong, nên hoặc vì họ nói Pháp, hoặc chẳng nói Pháp, xứng với Pháp Khí ấy đều khiến cho giải thoát.

Vì sao mà biết chúng sinh Bất Định? Ấy là chúng sinh kia có sức Duyên lớn, Căn Tướng thành thục. Nếu tùy theo Tâm ấy được nghe Chính Pháp liền được giải thoát. Nếu chẳng nghe Pháp thì chẳng được giải thoát. Đức Như Lai vì chúng sinh Bất Định này nói Pháp Nhân Duyên hòa hợp, các chúng sinh kia tùy nghe Pháp, Tâm được thanh tịnh đều chứng Đạo Quả. Đức Như Lai vì chúng sinh Bất Định này mà hiện ra ở đời.

Làm thế nào biết chúng sinh ở Tà Định? Ấy là chúng sinh này ngu si che trùm Tâm, chẳng phải là Pháp Khí, lại không có phương tiện có thể dùng hóa dụ ví như người mù đối với ánh sáng mặt trời. Nếu vì họ nói Pháp với chẳng nói Pháp thì đều không có lợi ích, không có phần giải thoát. Đức Như Lai biết kẻ ấy chẳng phải là Pháp Khí, liền vứt bỏ. Vì chúng sinh ấy, thế nên Bồ Tát mặc áo giáp Đại Bi.

_Lại nữa, Thiện Nam Tử! Đức Như Lai khéo biết khắp lối nẻo hướng đến của ba Độc (tham, sân, si) của chúng sinh, biết Hạnh Tham Dục có ba loại. Thế nào là ba? Ấy là hoặc có Tham Dục (Rāga) từ cảnh màu nhiệm (diệu cảnh) sinh ra, hoặc có Tham Dục từ tưởng yêu thích (ái tưởng) sinh ra, hoặc có Tham Dục từ thói quen của đời trước (túc tập) sinh ra.

Biết Hạnh giận dữ cũng có ba loại. Thế nào là ba? Ấy là hoặc có Sân Độc (Dveṣa) từ oán hận mà sinh ra, hoặc có Sân Độc từ cảnh trái ngược mà sinh ra, hoặc có Sân Độc từ Tùy Miên (Anuśaya: tên gọi khác của phiền não) của quá khứ đã sinh ra

Biết Hạnh ngu si cũng có ba loại. Thế nào là ba? Ấy là hoặc có Ngu Si (Moha) từ Vô Minh (Avidya) sinh ra, hoặc có Ngu Si từ Thân Kiến (Satkaya-dṛṣti) sinh ra,

hoặc có Ngu Si từ Tâm hoài nghi (Vicikitsa-citta) sinh ra Mọi loại như vậy, Đức Như Lai đều biết.

_Lại nữa, Đức Như Lai biết Khổ Hạnh (Duṣkara-caryā, hay Tapas) ấy mau chóng thông đạt thì biết là Căn lanh lợi (lợi). Lại biết Khổ Hạnh chậm chạm thông đạt thì biết là Căn ngu độn (độn). Biết Hạnh An Lạc mau chóng thông đạt thì biết là Căn lanh lợi (lợi). Lại biết Hạnh An Lạc chậm chạm thông đạt thì biết là Căn ngu độn (độn).

Lại biết có Hạnh (Caryā) chậm chạm thông đạt thì xa lìa Chính Niệm. Lại biết có hạnh mau chóng thông đạt thì hay giữ gìn bền chắc

Lại nữa, khéo biết có Hạnh mau chóng (tốc tật hạnh) chậm chạp thông đạt thì nên Sổ Tức Quán (Ānāpāna-smṛti: niệm hơi thở ra vào). Có Hạnh mau chóng (tốc tật hạnh) mau chóng thông đạt thì Tâm chẳng dính mắc

Lại nữa, khéo biết Hạnh chọn lựa Pháp (Dharma-pravicaya: Trạch Pháp). Ấy là hoặc có Hạnh Tuệ nhiều Định ít, hoặc lại có Hạnh Định nhiều Tuệ ít, hoặc có Định Tuệ đều chẳng đầy đủ, hoặc có Định Tuệ cả hai đều viên mãn. Đức Như Lai đều biết.

_Hoặc lại có Hạnh Tâm lực đầy đủ, Thân Lực chẳng đủ. Hoặc lại có Hạnh Thân Lực đầy đủ, Tâm Lực chẳng đủ. Hoặc lại có Hạnh cả hai (Thân Lực, Tâm Lực) đều chẳng đủ. Hoặc lại có Hạnh cả hai (Thân Lực, Tâm Lực) đều đầy đủ. Đức Như Lai mỗi mỗi đều biết như thật.

Hoặc lại có Hạnh khiến cho Nghiệp của Thân trong sạch, miệng, ý chẳng trong sạch. Hoặc lại có Hạnh khiến cho miệng, ý trong sạch, nghiệp của Thân chẳng trong sạch. Hoặc khiến cho ba Nghiệp đều được thanh tịnh, hoặc khiến cho ba Nghiệp đều chẵng thanh tịnh.

Các Hạnh như vậy, hoặc là Nhân sinh tử trong ba cõi, hoặc là Nhân giải thoát… Đức Như Lai đều dùng cón mắt Trí không có ngăn ngại, tùy chuyển tất cả. Đây là sự nghiệp Chính Giác thứ sáu của Như Lai.

Khi ấy, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa này một lần nữa, nên nói Kệ rằng:

“_Tất cả Xứ, Hạnh Phật biết hết

Chúng sinh Chính Định: sức Nhân (Hetu) lớn

Chúng sinh Bất Định: tướng Căn thuần

Tà Định: Phi Khí, Không (Śūnya: trống rỗng), có Bi

_Chúng sinh Hạnh Tham (rāga): ba loại nhân

Giận Oán (Dveṣa), Ngu Si (Moha) cũng ba loại

Mọi loại Giới phiền não vô biên

Khắp Hạnh: nhân khởi, Phật đều biết

_Khổ Hạnh mau được nhân

Lợi Căn Độn Căn chậm chạp chẳng thể đạt

Lạc Hạnh mau chóng do Căn lợi

Độn Căn yếu kém, Phật đều biết

_Có Hạnh chậm chạp, dần lắng trong

Lại có chậm chạm, mau thanh tịnh

Có Hạnh mau chóng được nhỏ kém

Vượt qua mau chóng: Nhân không dính (vô trước nhân)

_Có Hạnh Trí tăng, Trạch Pháp sinh

Có Hạnh Định tăng thành Pháp Khí

Có Hạnh đều ít, Phi Pháp Khí

Định Tuệ hòa hợp, Thắng Đạo sinh

_Có Hạnh Tâm Lực đủ, Thân không

Thân Lực đủ, Tâm chẳng đủ

Đại Uy Đức nên Thân Tâm đủ

Tất cả người thấy thảy đều biết

_Có Hạnh chẳng thể tịnh Ngữ, Tâm

Hoặc có hay khiến Thân, Ngữ tịnh

Hoặc có chẳng thể Tâm tịnh mãi (vĩnh tịnh)

Có Hạnh chỉ hay thanh tịnh Tâm

_Hoặc có chẳng thể tịnh Ngữ Ngôn

Có Hạnh hay khiến Tâm, Ngữ tịnh

Hoặc có chẳng thể Thân tịnh mãi

Có Hạnh ba nghiệp tịnh, không vết (tỳ vết)

_Có Hạnh dựng lập Nhân sinh tử

Có Hạnh làm Nhân vời giải thoát

Khắp Hạnh như vậy, Phật đều rõ

Đây Nghiệp thứ sáu: Môn giải thoát

_Lại nữa, Thiện Nam Tử! Đức Như Lai đối với tất cả Tĩnh Lự (Dhyāna: Thiền Định), Giải Thoát (Vimukti), Đẳng Trì (samādhi), Đẳng Chí (Samāpatti) lại diệt Phiền Não (Kleśa) tăng trưởng Nhân Duyên (Hetu-pratyaya) đều biết như thật. Đức Phật biết như thế nào? Ấy là biết chúng sinh sinh khởi phiền não, do Nhân (Hetu) nào sinh? Do Duyên (Pratyaya) nào diệt?. Trong đây, phiền não sinh Nhân Duyên chẳng suy nghĩ chính đúng (bất chính tư duy) dùng làm Nhân ấy, Vô Minh

(Avidya) làm Duyên. Vô Minh làm Nhân, Hành (Saṃskāra) làm Duyên. Hành Làm Nhân, Thức (Vijñāna) làm Duyên. Thức làm Nhân, Danh Sắc (Nāma-rūpa) làm Duyên. Danh Sắc làm Nhân, sáu Xứ (Ṣaḍāyatana) làm Duyên. Sáu Xứ làm Nhân, Xúc (Sparśa) làm Duyên. Xúc làm Nhân, Thọ (Vedanā) làm Duyên. Thọ làm Nhân, Ái (Tṛṣṇā) làm Duyên. Ái làm Nhân, Thủ (Upādāna) làm Duyên. Thủ làm Nhân, Hữu (Bhāva) làm Duyên. Hữu làm Nhân, Sinh (Jāti) làm Duyên. Sinh làm Nhân, Lão Tử (Jarā-maraṇa) làm Duyên. Phiền Não (Kleśa) làm Nhân, Nghiệp (Karma) làm Duyên. Kiến (Dṛṣṭi) làm Nhân, Tham (Rāga) làm Duyên. Tùy Miên Phiền Não (Anuśayakleśa:chỉ hạt giống Vô Minh phiền não ẩn tàng ở trong Thức thứ tám) làm Nhân, Hiện Hành Phiền Não (Abhisaṃskara-kleśa: chỉ sáu Căn đối với sáu trần cảnh, hiện khởi phiền não của nhóm tham sân si) làm Duyên. Đây là Phiền Não sinh khởi Nhân Duyên.

Chúng sinh làm sao diệt được các phiền não với hết thảy Nhân Duyên? Có lại loại Nhân, có hai loại Duyên. Thế nào là hai? Một là từ người khác, lắng nghe tùy thuận theo tiếng của Pháp. Hai là Nội Tâm khởi lên Chính Niệm.

Lại nữa có hai loại Nhân, hai loại Duyên hay khiến cho chúng sinh thanh tịnh giải thoát là Xa Ma Tha (Śamatha: Thiền Chỉ) Tâm duyên theo một cảnh, Tỳ Bát Xá

Na (Vipaśyana: Thiền Quán) hay khéo léo

Lại nữa có hai loại Nhân, hai loại Duyên là Bất Lai Trí Tri Lai Trí

Lại nữa có hai loại Nhân Duyên là quán sát nhỏ nhiệm lý không có sinh (vô sinh) cho nên gần sát với giải thoát

Lại nữa có hai loại Nhân Duyên là: Đầy đủ Hạnh (Caryā) cho nên Trí Tuệ giải thoát hiện ngay trước mặt.

Lại nữa có hai loại Nhân Duyên là Tận TríVô Sinh Trí

Lại nữa có hai loại Nhân Duyên là: Tùy thuận giác ngộ Chân Đế cho nên tùy thuận được Trí Chân Đế.

Đây là chúng sinh trừ diệt phiền não, thanh tịnh nhân duyên. Đức Như Lai đều biết

_Lại nữa, Thiện Nam Tử! Nhân Duyên của phiền não có vô số lượng, Nhân Duyên của giải thoát cũng không có lượng. Hoặc có Phiền Não hay cùng với Giải Thoát dùng làm Nhân Duyên, do quán Thật Thể. Hoặc có Giải Thoát cùng với Phiền Não dùng làm Nhân Duyên , do sinh chấp sinh. Hạnh rộng lớn không có chướng ngại như vậy, Đức Như Lai đều biết.

Này Thiện Nam Tử! Đức Như Lai thảy đều đầy đủ Thiền Định (Dhyāna), Trí

Tuệ (Prajña). Ấy là lìa Dục Ác với Pháp chẳng lành, có Tầm (Vitarka), có Tứ (Vicāra), Ly Sinh, Hỷ Lạc nhập vào Sơ Tĩnh Lự (Prathama-dhyāna: Sơ Thiền). Sơ Tĩnh Lự khởi diệt nhóm Tầm, Tứ tùy thuận thứ tự nhập vào tám giải thoát (Aṣṭauvimokṣāḥ), Tam Ma Bát Để (Samāpatti), ngược theo thứ tự nhập vào trụ các Tam Ma Địa (samādhi). Hoặc lại vượt qua khoảng cách, chiều ngang, chiều dọc không có ngăn ngại, trụ ở Đẳng Chí (Samāpatti) hiển bày Tam Muội (Samādhi). Đức Như Lai biết rõ Tam Ma Bát Để cùng với Môn Tam Muội không có chút sai biệt.

Tam Muội (Samādhi), Tam Ma Bát Để (Samāpatti) của Như Lai chẳng từ Nhân Duyên. Nhập vào một Tam Muội thì tất cả Tam Muội thảy đều hiện trước mặt, một Tam Muội dấy lên thì hay liền nhập vào tất cả Tam Muội. Đức Như Lai trọn chẳng tác niệm như vầy: “Nay Ta hay nhập vào Tam Muội như vậy” mà thường trụ Tam Muội không có Tâm chẳng Định (bất định tâm)

Tất cả không có thể đo lường biết được hết thảy Tam Muội của Như Lai. Tam Muội của Duyên Giác vượt qua Thanh Văn, Tam Muội của Bồ Tát vượt qua Duyên Giác, Tam Muội của Như Lai vượt qua Bồ Tát và Tam Muội của Đức Phật thì không gì có thể vượt qua được. Trí Tuệ của Như Lai ở tất cả nơi chốn không có chướng ngại, chuyển thì không có gì có thể hơn được, tùy thuận giáo hóa tất cả Thanh Văn sinh Thanh Văn Định; Duyên Giác, Bồ Tát cũng lại như vậy.

Mọi loại như vậy, Đức Như Lai biết xong, tùy theo chỗ tương ứng để mà nói Pháp. Đây là sự nghiệp Chính Giác thứ bảy của Như Lai.

Khi ấy, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa này một lần nữa, nên nói Kệ rằng:

“_Trí chân thật của Phật Pháp Vương

Biết Nhân nhiễm, tịnh của chúng sinh

Nhân Duyên như vậy sinh Phiền Não

Nhân Duyện như vậy được giải thoát

_Nghĩ lệch (tà tư) làm Nhân (Hetu), Vô Minh Duyên (Pratyaya)

Vô Minh làm Nhân, Hành làm Duyên

Thức với nhóm Danh Sắc, sáu Nhập

Hữu Chi (một trong 12 nhân duyên) Nhân Duyên đều như vậy

_Phiền não làm Nhân, Nghiệp làm Duyên

Các Kiến làm Nhân, Tham làm duyên

Tùy Miên Kiết Hoặc dùng làm

Nhân Hiện Hành Phiền Não dùng làm Duyên.

_Hai Nhân Duyên (khiến) chúng sinh giải thoát

Nghe tiếng của Pháp khởi tùy thuận

Nội Tâm Chính Niệm quán Pháp Không (Śūnya: trống rỗng)

Giải thoát biển được siêu thăng

_Chỉ (Śamatha), Quán (Vipaśyana) trợ nương nhau

Không chút đi, lại mà có được

Quán kỹ không sinh cũng không diệt

Gần gũi giải thoát được trong mát (thanh lương).

_Trụ ba Hạnh, nuôi lớn ba Minh

Tu tập giải thoát chẳng phóng dật

Tận Vô Sinh Trí được Thật Đế

Do Nhân Duyên này, Tâm thanh tịnh

_Phật vào Môn Chính Định Tam Muội

Ra vào Diệt Định (Nirodha-samāpatti: Diệt Thọ Tưởng Định), niệm đầy đủ

Pháp Vương Thiền Định không gì bằng (vô đẳng đẳng: không có hàng nào ngang bằng được)

Vào tám giải thoát, nhiều Đẳng Trì (Samāhita)

_Ngược thuận thứ tự vượt khoảng cách

Một Định hiển bày vô biên Định

Tâm không trăm Ải (nơi hiểm trở) không phân biệt

Tuy thường trụ Định, không Tâm Định

_Thanh Văn Duyên Giác Tam Ma Đề

Bồ Tát trăm ngàn mọi loại Định

Phật Tam Ma Địa vượt các Định

Trí nghiệp khéo léo này (thiện xảo nghiệp Trí) khó lường”

_Lại nữa, Thiện Nam Tử! Đức Như Lai dùng Túc Trụ Trí (Pūrva-

nivāsānusmṛti-jñāna) biết vô số việc ở đời trước trong quá khứ của thân của mình với các chúng sinh, ấy là: một đời, hai đời, mười đời, trăm đời, ngàn đời, vạn đời, ức trăm ngàn đời, Kiếp thành (Vivarta-kalpa), Kiếp Hoại (Saṇvarta-kalpa), Kiếp Thành Hoại (Vivarta-saṇvarta-kalpa, vô số Kiếp Thành, vô số Kiếp Hoại, vô số Kiếp Thành Hoại… Ta với chúng sinh có tên gọi (danh tự) như vậy, Chủng Tính như vậy, ăn uống như vậy, hình tướng như vậy, sắc loại như vậy, khổ vui như vậy, xứ sở như vậy, Thọ Mệnh như vậy, sinh tử như vậy, ở nơi (tên là…) mất đi rồi sinh ở nơi (tên là…), vô số mọi loại việc của đời trước thảy đều nghĩ nhớ được.

Lại biết mỗi mỗi chúng sinh ấy, quá khứ dùng Nhân (Hetu) như vậy sinh vào Thế Giới này. Đức Như Lai biết xong, tùy theo chỗ tương ứng ấy mà nói Pháp. Lại biết như thật, Tâm Hạnh quá khứ của chúng sinh, niệm lúc trước như vậy theo thứ tự Nhân diệt nối tiếp nhau dẫn khởi niệm lúc sau như vậy, hoặc lại Duyên bị thiếu nên niệm lúc sau chẳng sinh được. Mọi loại như vậy, Đức Như Lai đều biết

Như một chúng sinh: Tâm như vậy diệt, Tâm như vậy sinh, luân chuyển chẳng đứt đoạn, vô lượng vô biên hằng hà sa kiếp nói chẳng thể hết. Như một chúng sinh, tất cả chúng sinh cũng lại như vậy, niệm niệm sinh diệt, Tâm Tâm nối tiếp nhau, nói chẳng thể hết. Đức Như Lai mỗi mỗi đều biết như thật. Giả sử tận hết kiếp ở bờ mé vị lai nói việc đời trước mà Đức Như Lai đã biết thì chẳng thể cùng tận, cho nên nói Túc Trụ Trí Tuệ của Như Lai chẳng thể nghĩ bàn, chẳng thể xưng lường, khó biết bờ mé, nói chẳng thể hết.

_Bấy giờ, Đức Như Lai phát ra tiếng Đại Bi (Mahā-kāruṇa-śabda) giống như Ngưu Vương (Ṛṣabha) bảo khắp chúng sinh: “Các ngươi cần phải niệm niệm suy nghĩ, đời quá khứ: xa, gần từng gieo trồng căn lành, hoặc ở chỗ của Đức Phật từng gieo trồng căn lành, hoặc ở chỗ của Nhị Thừa gieo trồng các căn lành…”.

Các chúng sinh ấy do Uy Lực của Đức Phật đều nhớ đến điều tốt lành xưa kia. Đức Như Lai biết xong, tùy ứng nói Pháp. Các chúng sinh ấy được nghe Pháp xong, như căn lành xưa kia đều ở nơi Thừa (Yāna) của mình được chẳng chuyển lùi. Đây là sự nghiệp Chính Giác thứ tám của Như Lai.

Khi ấy, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa này một lần nữa, nên nói Kệ rằng:

“_Phật, Thế Gian Đăng (một tên gọi của Phật) nhớ Kiếp xưa

Vô biên ức số na do tha

Thấu tỏ chính mình với chúng sinh

Như xem quả A Ma Lặc (Amla-phala) trong tay

_Như vậy họ tên, sắc phân biệt

Thọ Mệnh, trú xứ, sinh tử khác

Do nhân duyên đó sinh chốn này

Khéo biết Thời nên vì nói Pháp

_Lại biết vô biên Kiếp quá khứ

Chúng sinh: Tâm (Citta), Tâm Sở (Caitasika) chẳng đồng

Vô lượng chùng loại đều sinh Tâm

Đại Trí Như Lai đều biết rõ

_Quá khứ: Tâm tuôn chảy chẳng dứt

Mỗi một chúng sinh, Phật đều biết

Số Kiếp (Kalpa) ngang bằng các sông Hằng

Vô biên Hành ấy, nói không hết

_Tận mé vị lai, hết thảy Kiếp

Chẳng thể nói Nhân trước (Nhân của đời trước) của Phật

Trí Tuệ vô đẳng, không bờ mé

Giống như biển lớn không bờ mé

_Phật trụ Lợi Trí, sức Thắng Thông

Nhớ Nhân trắng sạch, xưa đã tu

Với chúng sinh kia gieo căn lành

Quá khứ hoặc từng cúng dường Phật

_Sức Uy Thần Phật khiến nghĩ nhớ

Như Nhân Pháp trắng (Thiện Pháp trong sạch) trước đã làm

Nhớ dùng Giáo này trụ ba Thừa

Thanh tịnh giải thoát, không thoái lùi

_Thiện Thệ (Sugata) vô lượng Nhân (Hetu) quá khứ

Tất cả chúng sinh khó đo lường

Dủng nghiệp thứ tám này làm Nhân

Vô số chúng sinh đều điều phục”.

_Lại nữa, Thiện Nam Tử! Thiên Nhãn (Devya-cakṣu) của Như Lai hơn hẳn con mắt của loài người, nhìn thấy các chúng sinh: sinh ở chỗ này, chết ở chỗ kia. Ấy là: thấp kém, tối thắng, hình sắc thiện, hình sắc ác, hoặc tốt, hoặc xấu… mọi loại như vậy tùy theo Nghiệp thọ sinh. Hoặc có chúng sinh Thân đủ hạnh ác, hoặc có chúng sinh miệng đủ hạnh ác, hoặc có chúng sinh Ý đủ hạnh ác, hoặc chê bai Hiền Thánh với nhóm Tà Kiến…Do Nhân Duyên của Nghiệp cho nên buông bỏ thân này xong thì bị đọa vào Địa Ngục.

Lại có chúng sinh Thân đủ hạnh thiện, hoặc có chúng sinh miệng đủ hạnh thiện, hoặc có chúng sinh Ý đủ hạnh thiện, chẳng chê bai Hiền Thánh với nhóm Chính Kiến…Do Nhân Duyên của Nghiệp cho nên buông bỏ thân này xong thì sinh ở trên Trời.

Thiên Nhãn của Như Lai thảy đều thấy biết. Như vậy mười phương cùng tận Pháp Giới, tột cùng cõi Hư Không vô lượng vô biên, vượt qua số lượng hết thảy Thế Giới… Ở khoảng giữa ấy, hoặc có Thế Giới bị Kiếp Hỏa (Kalpāgni: tai vạ do lửa dấy lấy trong thời Hoại Kiếp) thiêu đốt nên trống rỗng, không còn nơi nào có được (vô sở hữu)

Hoặc có Thế Giới: mọi loại chúng sinh sinh ở chỗ này, chết ở chỗ kia. Hoặc các Bồ Tát du hành các cõi nước, hoặc các Như Lai hướng đến Đạo Thụ (cây Bồ Đề) chứng Đại Bồ Đề, chuyển bánh xe Pháp, tương ứng dứt hết dấu vết tăm tối, bày vào Niết Bàn… Mỗi mỗi Thanh Văn đều hiện được giải thoát nhập vào Niết Bàn, mỗi mỗi Duyên Giác kia hiện mọi loại Thông (Abhijña: Thần Thông) hay khiến cho kẻ gặp được tăng trưởng Công Đức. Mọi loại như vậy, Đức Phật đều thấy rõ như đối trước mắt.

Lại thấy Thế Giới có các chúng sinh không có thân tướng, chẳng phải là chỗ mà Thiên Nhãn của Ngoại Ngũ Thông (năm loại Thần Thông của Ngoại Đạo), cũng chẳng phải là nơi mà con mắt của Nhị Thừa với Bồ Tát nhìn thấy được, chỉ có Thiên Nhãn của Như Lai mới thấy rõ

Hoặc có đất ấy lớn như bánh xe, các chúng sinh không có thân tướng ấy tràn đầy bên trong, nhiều như hết thảy người Trời trong ba ngàn Đại Thiên Thế Giới… Đức Phật đều thấy rõ, dùng Thiên Nhãn thanh tịnh quán sát nhỏ nhiệm hết thảy chúng sinh trong tất cả Thế Giới, kẻ có thể điều phục được thì khiến cho mỗi một kẻ đều thấy thân Phật hiện ngay trước mặt, mỗi một chúng sinh ấy cũng chẳng biết nhau.

Đây là sự nghiệp Chính Giác thứ chín của Như Lai.

Khi ấy, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa này một lần nữa, nên nói Kệ rằng:

“_Thiên Nhãn trong sáng của Như Lai

Uy Đức soi thấy vô biên Kiếp

Mười phương mọi cõi nước khó nghĩ

Chúng sinh thọ sinh Sắc Tướng nào

_Hoặc có đã hiện, đang sinh khác

Sắc (Rūpa), không Sắc (Arūpa), mọi loại khác

Hoặc nẻo người Trời, hoặc ba đường (Địa Ngục, Quỷ đói, súc sinh)

Phẩm Thượng Trung Hạ sinh chẳng một.

_Chết rồi, sẽ sinh mọi loại khác

Tất cả người thấy không dư sót

Trầm luân ở nẻo gây tội ác

Tu Phước vượt lên, ở người Trời

_Hoặc có tu hành Hạnh Bồ Tát (Bodhisatva-caryā)

Ra vào, gieo trồng căn Bồ Đề

Hoặc ngồi Đạo Thụ (cây Bồ Đề) phá chúng Ma (Māra)

Giác ngộ Đạo Bồ Đề tối thắng.

Chuyển Diệu Pháp Luân (Saddharma-cakra: bánh xe Pháp màu nhiệm) đều tự tại

Người Trời giải thoát, khó nghĩ lường

Làm Phật Sự xong, bày Niết Bàn

Thiên Nhãn Như Lai đều thấy rõ

_Hoặc nghe từ Thầy, được Chính Niệm

Dẫm đạp Tịch Diệt được trong mát (thanh lương)

Hoặc vượt biển có (hữu hải) chẳng do Thầy

Giải Thoát an vui, Như Lai thấy

_Hoặc có vô số chúng Thanh Văn

Hoặc lại tu hành Duyên Giác Thừa (Pratyeka-buddha-yāna)

Giới chúng sinh ấy không bờ mé

Thiên Nhãn của Phật đều thấy rõ.

_Hoặc có chúng sinh không sắc tướng

Lớn như bánh xe có nhiều Chúng

Hơn người Trời trong Tam Thiên Giới (ba ngàn Đại Thiên Thế Giới)

Nhỏ nhiệm như vậy, Như Lai thấy.

_Phật thấy tất cả chúng sinh giới

Lưu chuyển năm đường không bờ mé

Nhất Thiết Trí rõ suốt chúng sinh

Dùng Đại Từ Bi nên điều phục

_Hoặc kẻ có Lợi Căn đáng độ

Đều thấy Như Lai hiện trước mặt

Nói Pháp thù thắng, hợp Tâm ấy

Đây Phật Đệ Cửu Thiên Nhãn Nghiệp (Nghiệp Thiên Nhãn thứ chín của Đức Phật)

_Lại nữa, Thiện Nam Tử! Như Lai đã dứt hết các Lậu (Asrava), không còn phiền não trở lại nữa, Tâm khéo giải thoát, Tuệ khéo giải thoát, Tự Giác hiện trước mặt viên mãn đầy đủ, tác tiếng rống Sư Tử phát ra lời như vầy: “Ta đã dứt hết sự sinh khởi (Jāti), đã dựng lập Phạm Hạnh (Brhama-caryā), chỗ cần làm đã làm xong, chẳng còn thọ nhận thân sau nữa”.

Đức Như Lai biết phiền não cùng tận này trọn không có cấu nhiễm, thanh tịnh sáng sủa, tất cả Tập Khí (Vāsanā) không có gì chẳng diệt hết. Thanh Văn (Śrāvaka) chặt đứt Hoặc (trạng huống mê loạn của Nội Tâm) có cái hết, có lượng Tập Khí chẳng trừ được. Duyên Giác (Pratyeka-buddha) dứt hết Hoặc cũng còn có phần lượng, xa lìa Đại Bi, thiếu Vô Ngại Biện (biện tài không có trở ngại). Chỉ có Như Lai (Tathāgata) một sát na Tâm bình đẳng tương ứng tất cả phiền não, các tướng phiền não, căn bản phiền não, tập khí phiền não dứt hẳn hết không có dư sót, Đại Bi khéo nhiếp, Biện Tài (tranh biện lanh lợi) không có sợ hãi thảy đều viên mãn, tất cả Thế Gian không có ai có thể vượt qua được.

Tại sao thế? Chư Phật Như Lai diệt hết tất cả Tập Khí của các Nghiệp, Tập Khí của phiền não, các Tập Khí sai lầm của Uy Nghi… ví như Bản Tính của Hư Không trong sạch, không có khói bụi, không có chỗ nương dựa. Đức Như Lai cũng thế, được Trí cùng tột của phiền não…các Nghiệp phiền não, tất cả Tập Khí không có chỗ nương trụ, mà Tâm của Như Lai dùng tướng không có trụ, Trí của nơi dứt hết phiền não, an trụ vi diệu trong bình đẳng. Vì chặt đứt tất cả phiền não, năm Uẩn Hữu Lậu (Sāsrava) của chúng sinh mà nói Diệu Pháp (saddharma). Nói lời như vầy: “Thương thay! Chúng sinh ở trong chỗ Vô Sự (không có sự biến đổi, không có tạo làm) lại ngang ngạnh sinh phiền não. Các ngươi cần phải suy nghĩ, chọn lựa, quán sát như thật

Lại vì chúng sinh, dùng mọi loại khéo léo, mọi loại thí dụ, nói Tính của Phiền Não không không có chỗ có được. Các chúng sinh kia quán như thật xong, chẳng thất chút Pháp nào mà có thể nắm giữ, mọi loại nhậm vận của phiền não được diệt hết, nhập vào Niết Bàn.

Đây là sự nghiệp Chính Giác thứ mười của Như Lai

Khi ấy, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa này một lần nữa, nên nói Kệ rằng:

“_Thập Lực Thế Tôn sức viên mãn

Thành tựu Môn thâm sâu rộng lớn

Tương ứng Trí dứt Phiền Não Chướng

Được Thắng Bồ Đề rất vắng lặng

_Thanh Văn chặt Hoặc (trạng huống mê loạn của Nội Tâm) được Tận Trí (Trí cùng tột)

Có lượng Tập Khí do chưa trừ

Duyên Giác chặt Hoặc được Bồ Đề (Bodhi)

Đại Bi, Biện Tài đều chẳng đủ

Phật là Thế Chủ Nhân Trung Thắng

Hoặc, Tập đều diệt, Đức đều tròn

Tận mé phiền não, tăng Đại Bi

Biện Tài vô lượng, đều thành tựu

_Phật trụ Trí tột cùng phiền não

Biết chúng sinh, hoặc vọng (xằng bậy) chẳng chân (chân thật)

Thương các hữu tình hành Tà Đạo

Chẳng hành Chính Pháp của Như Lai

Đại Bi mạnh bén vì Chúng nói

Môn Vô Thường, Khổ, Không, Vô Ngã

Các ngươi suy nghĩ Bản Tính Không (Śūnya: trống rống)

Thường được Tối Thắng Diệu Tịch Tĩnh

_Chúng sinh chẳng được, luôn chọn nẻo (lối nẻo luân hồi)

Người làm (tác giả) cùng với Ma Nạp Bà (Mānava: Thắng Ngã)

Vì các chúng sinh vướng Tà Kiến

Đại Giác (Đức Phật) hưng Bi (Kāruṇa) nói giải thoát (Vimukti)

Ở tất cả Thời không mệt chán

Chưa từng một Niệm bỏ chúng sinh

Thường trụ tam Muội (Samādhi) không dao động

Vì lợi chúng sinh, nói Diệu Pháp

_Nhóm tướng như vậy, sự nghiệp Phật

Mười Lực trụ ở trong Lực Địa

Chuyển Vô Đẳng Đẳng Tối Thắng Luân (bánh xe tối thắng không có hàng nào ngang bằng được)

Hay phá Oán Địch khó nghiêng động”

 

KINH THỦ HỘ QUỐC GIỚI CHỦ ĐÀ LA NI

_QUYỂN THỨ NĂM (Hết)_

********

QUYỂN THỨ SÁU

NHẬP VÀO SỰ NGHIỆP SÂU XA CHẲNG THỂ NGHĨ BÀN CỦA NHƯ LAI PHẨM THỨ NĂM_CHI HAI

_Lại nữa, Thiện Nam Tử! Đức Như Lai an trụ bốn Vô Sở Úy (Catvārivaiśāradyāni gồm có: Chư Pháp Hiện Đẳng Giác Vô Úy, Nhất Thiết Lậu Tận Trí Vô Úy, Chướng Pháp Bất Hư Quyết Định Thọ Ký Vô Úy, Vi Chứng Nhất Thiết Cụ Túc Xuất Đạo Như Tính Vô Úy) hay làm mọi loại sự nghiệp của chư Phật, ấy là biết thân của mình tức là Chính Đẳng Chính Giác. Tất cả Thế Gian: hoặc Trời, hoặc Người… không ai có thể như Lý nói rằng: “Đức Như Lai Thế Tôn chẳng phải là bậc Chính Giác”.

Do Nhân Duyên nào mà nói các Như Lai là Chính Đẳng Giác? Ấy là các Như Lai đối với tất cả Pháp, bình đẳng hiểu biết chính đúng (chính giác) không có cao thấp

Nhóm nào là tất cả Pháp? Ấy là Pháp của Phàm Phu (Pṛthag-jana), Pháp của bậc Hữu Học (Śaikṣa), Pháp của bậc Vô Học (Aśaikṣa), Pháp của Duyên Giác (Pratyeka-buddha), Pháp của Bồ Tát (Bodhisatva), Pháp của chư Phật (Buddhānāṃ). Các Pháp như vậy đều bình đẳng hiểu biết chính đúng (Đẳng Chính Giác)

Lại có Pháp Thế Gian (Loka), Pháp Xuất Thế Gian (Lokottara), Pháp Thiện (Kuśala), Pháp Bất Thiện (Akuśala), Pháp Hữu Lậu (Sāsrava), Pháp Vô Lậu (Anāsvara), Pháp Hữu Vi (Saṃskṛta), Pháp Vô Vi (Asaṃskṛta). Các Pháp như vậy, Đức Như Lai hiểu biết chính đúng (chính giác) Thể bình đẳng

Thế nào là bình đẳng (Sama)? Ấy là Không (Śūnyatā: tính trống rỗng) là bình đẳng, thấy Bản Tính của tất cả Pháp đều trống rỗng (Không).

Không có tướng (Animitta:vô tướng) là bình đẳng, vì Bản Tính của Tướng vậy

Không có Nguyện (Apraṇihita:vô nguyện) là bình đẳng, vì Tính của ba cõi vậy

Không có sinh (Anutpāda:vô sinh) là bình đẳng, vì Bản Tính của Sinh (Utpāda) vậy

Không có Hành (Asaṃskāra:vô hành) là bình đẳng, vì Bản Tính của Hành (Saṃskāra) vậy

Vô Xuất (Không có chỗ đắc được) là bình đẳng, vì Bản Tính của Xuất (đắc được) vậy

Không có A Lại Gia (Ālaya:tên gọi của Tâm Thức là Thức thứ tám hay Tàng

Thức) là bình đẳng, vì Bản Tính của Tâm (Citta) vậy

Chân Đế (Paramārtha-satya) như vậy là bình đẳng, vì Tính của ba đời vậy

Giải Thoát (Vimokṣa, hay Vimukti) là bình đẳng, vì Tính Bản Thể của

Minh (Avidya), Hữu Ái (Tṛṣṇa) vậy

Niết Bàn (Nirvāṇa) là bình đẳng, vì Tính Bản Thể của sinh tử luân chuyển vậy.

Tất cả các Pháp bình đẳng như vậy, Đức Như Lai đều hiểu biết chính đúng (chính giác). Do Nhân Duyên này, cho nên nói: “Đức Như Lai đúng là bậc Vô Thượng Chính Đẳng Giác

Thành nơi Chính Đẳng Giác như vậy xong, dùng Tâm Đại Bi phát ra ngôn từ màu nhiệm, vì các chúng sinh nói mọi loại Pháp, bày con đường giải thoát (Vimuktimārga:Giải Thoát Đạo) khiến cho ra khỏi bờ mé khổ đau (khổ tế).

Ngoài ra, các chúng sinh thật chẳng phải là Đại Sư, tự nói: “Ta là bậc Chính Đẳng Giác”. Đức Như Lai vì các chúng sinh này, cho nên tự mình xướng lên Đức Hiệu, nói lời như vầy: “Chỉ có Ta, Như Lai là Chính Đẳng Giác khiến cho Phi Pháp Khí thành Pháp Khí”. Đây là sự nghiệp Chính Giác thứ mười một của Như Lai.

Khi ấy, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy một lần nữa, nên nói Kệ rằng:

“_Bậc tự nhiên giác ngộ

Hiểu các Pháp bình đẳng

Nên Hiệu là Như Lai (Tathāgata)

Chính Giác thấy bình đẳng

_Tất cả Pháp Phàm Phu

Với Pháp Phật bình đẳng

Hữu Học với Vô Học

Pháp Duyên Giác cũng vậy

_Pháp Thế (Loka) với Xuất Thế (Lokottara)

Cả hai cũng bình đẳng

Pháp Thiện (Kuśala) với Bất Thiện (Akuśala)

Cùng Niết Bàn (Nirvāṇa) bình đẳng

_Pháp Không (Śūnyatā), Pháp Vô Tướng (Animitta)

Pháp Vô Nguyện (Apraṇihita), Vô Sinh (Anutpāda)

Các Pháp nhóm Vô Hành (Asaṃskṛta)

Bình đẳng mà hiển bày

_Phật Đại Bi rộng nói

Giác ngộ các chúng sinh

Nghe Pháp được giải thoát

Phật Tối Thắng Nghiệp (Nghiệp tối thắng của Đức Phật)”

_Lại nữa, Thiện Nam Tử! Đức Như Lai tự biết các Lậu Phiền Não đã rốt ráo dứt hết. Tất cả Thế Gian: hoặc Trời, hoặc người… không ai có thể nói lời như vầy: “Đức Như Lai chưa dứt hết các Lậu Phiền Não

Vì sao Đức Như Lai tự biết các Lậu Phiền Não đã rốt ráo dứt hết? Ấy là đối với Dục Phiền Não thì Tâm được giải thoát tất cả Hạnh ham muốn (Dục Hạnh), Tập Khí Phiền Não chứng Diệt Đế (Nirodha-satya). Đối với Hữu Phiền Não thì Tâm được giải thoát tất cả Hạnh giận dữ (Sân Hạnh), Tập Khí Phiền Não chứng Diệt Đế. Đối với Vô Minh Phiền Não thì Tâm được giải thoát các Hạnh Ngu Si (Ngu Si Hạnh), Tập Khí Phiền Não chứng Diệt Đế. Đối với Kiến Phiền Não thì Tâm được giải thoát các Hạnh Phiền Não (phiền não Hạnh) cùng với Tập Khí, chứng Diệt Đế…. do nghĩa này cho nên tùy thuận Tục Đế (Saṃvṛti-satya) nói nơi mà Đức Như Lai rốt ráo dứt hẳn các Lậu Phiền Não thì Thánh Giả Tuệ Nhãn xưng là Chân Đế (Paramārtha)

Quán sát Hiện Chứng không có chút Pháp nào mà có thể đắc được. Ấy là: Hoặc Năng Diệt Trí (Trí hay diệt), hoặc Sở Diệt Hoặc (Hoặc đã diệt), hoặc suy nghĩ, hoặc tu cho đến Hiện Chứng đều chẳng thể đắc được. Tại sao thế? Khi Tự Tính kia tận thì không có gì chẳng tận, chẳng từ Nhân Duyên đối đãi mà nói tận, Tận này là Chân Thật Tận. Chân Thật Tận chẳng cùng với Pháp khác mà tạo làm Nhân Duyên, cho nên Tận này tức là Vô Vi (Asaṃskṛta) tức trong Pháp này không có sinh, không có diệt cũng không có trụ. Không có sinh diệt này, hoặc Phật ra đời hoặc chẳng ra đời thì Pháp Giới thường trụ. Như Pháp Giới thường thì Trí này thành tựu cũng lại như vậy. Như thành tựu này tức chẳng phải là thành tựu (phi thành tựu)

Nếu hay như vậy, như chỗ đã dạy trụ (sở giáo trụ) được không có phiền não, chẳng phải là chặt đứt phiền não được phiền não không có. Đức Như Lai Đại Bi tùy thuận Tục Đế vì chúng sinh nói Pháp diệt phiền não. Đây là sự nghiệp Chính Giác thứ mười hai của Như Lai.

Khi ấy, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy một lần nữa, nên nói Kệ rằng:

“_Phật không (không có) Dục Tập Khí

Nên không (không có) Dục Phiền Não

Tập Khí Oán giận tận

Hữu Phiền Não chẳng sinh

_Thiện Thệ (Sugata) lìa Vô Minh (Avidya)

Do diệt gốc rễ Si (Moha)

Các Hoặc Tập Khí tận

Kiến Hoặc (Darśana-mārga-prahātavyānuśaya) tức chẳng sinh

_Phật y Môn Tục Đế

Nên nói phiền não tận

Trong Chân (chân thật) chẳng thể đắc

Không giảm cũng không tăng.

_Tận Trí (Kṣaya-jñāna) chẳng đối Duyên

Thánh biết vốn tự tận

Do không có ba tướng

Tận này tức Vô Vi

_Pháp Giới thường chẳng dời (bất thiên: chẳng dời đổi)

Biết đây, đến bờ kia

Biết xong, nói như vậy

Nghiệp này, Phật năng cùng (hay truy cứu đến cùng tận)”

_Lại nữa, Thiện Nam Tử! Đức Như Lai bình đẳng đối với các Pháp chướng ngại, không có chướng ngại biết rõ như thật. Tất cả Thế Gian: hoặc Trời, hoặc người… không ai có thể nói như Lý rằng: “Đức Như Lai đã nói Pháp chướng ngại, chẳng phải là chướng ngại”

Trong đây, thế nào là Pháp gây chướng ngại? Ấy là có một Pháp hay gây chướng ngại, tức là Tâm trược loạn

Lại có hai Pháp hay gây chướng ngại là: không có sùng kính các Công Đức với người có Đức (vô Tàm), không có Tâm ghê sợ tội lỗi (vô Quý)

Lại có ba Pháp hay gây chướng ngại là: hành động ác của Thân, hành động ác của miệng, hành động ác của Ý

Lại có bốn Pháp hay gây chướng ngại là: dùng sự tham lam (Lobha:Tham) mà thực hành Phi Pháp, hoặc dùng sự giận dữ (Dveṣa:Sân) mà thực hành Phi Pháp, có dùng sự ngu si (Moha:Si) mà thực hành Phi Pháp, có dùng sự sợ hãi (Vibhiṣaṇa: bố úy) mà thực hành Phi Pháp

Lại có năm Pháp hay gây chướng ngại là: sự sát sinh (Pāṇāṭipātā- paṭivirati), trộm cắp (Adattādānā-dvirati), Tà Hạnh (Kāma-mithyācārā-dvirati), nói dối (Mṛṣāvādāvirati), với uống các loại rượu

Lại có sáu Pháp hay gây chướng ngại là: chẳng tôn kính Phật (Buddha), chẳng tôn kính Pháp (Dharma), chẳng tôn kính Tăng (Saṃgha), chẳng tôn kính Giới (Śīla), chẳng tôn kính Định (Samādhi), chẳng tôn kính các Thiện Tri Thức (Kalyāṇa-mitra)

Lại có bảy Pháp hay gây chướng ngại là: Mạn (Māna), Quá Mạn (Ati-māna) với Mạn Quá Mạn (Mānāti-māna), Ngã Mạn (Ātma-māna), Tăng Thượng Mạn (Adhi-māna), Ti Mạn (Ūna-māna), Tà Mạn (Mithyā-māna)

Lại có tám Pháp hay gây chướng ngại là: Tà Kiến (Mithya-dṛṣṭi), Tà Tư Duy (Mithya -saṃkalpa), Tà Ngữ (Mithya -vāc), Tà Nghiệp (Mithya -karmānta), Tà Mệnh (Mithya -ājīva), Tà Tinh Tiến (Mithya -vyāyāma), Tà Niệm (Mithya -smṛti), Tà Định (Mithya -samādhi)

Lại có chín Pháp hay gây chướng ngại là: Đã từng não hại Ta, hiện đang não hại Ta, sẽ gây não hại Ta, quá khứ từng ghét bạn tốt của Ta, hiện tại ghét bạn tốt cả Ta, vị lai ghét bạn tốt của Ta, quá khứ yêu Oan Gia của Ta, hiện tại yêu Oan Gia của Ta, Vị Lai yêu Oan Gia của Ta. Đối với chín loại này, nghĩ nhớ đối cảnh tăng thêm Tâm Bất  Thiện nên gọi là chướng ngại

Lại có mười Pháp hay gây chướng ngại. Thế nào là mười? Ấy là: sát sinh (Pāṇāṭipātā- paṭivirati), trộm cắp (Adattādānā-dvirati:thâu đạo), Tà Hạnh (Kāmamithyācārā-dvirati), nói dối (Mṛṣāvādāvirati:vọng ngữ), nói hai lưỡi (Paisunyātvirati:lưỡng thiệt), miệng nói điều ác (Pāruṣyātprativirati), nói thêu dệt phù phiếm (Saṃbhinnapralāpāt-prativirati:Ỷ ngữ), tham dục (Abhidhyāyāḥ-

prativirati), giận dữ (Vyāpādāt-prativirati), Tà Kiến (Mithyā-dṛṣṭi-prativirati). Đây gọi là mười.

Như vậy cho đến dấy lên niệm Bất Thiện (Akuśala), ưa dính Nhân Duyên, an trụ tất cả Phiền Não (Kleśa), Kiết Sử (Saṃyojana), thường cùng tương ứng với điên đảo chướng ngại, nắm giữ bền chắc chẳng buông bó Ái Kiến Phiền Não. Pháp hết thảy Nghiệp thân miệng ý đều cùng tương ứng với danh lợi, các Dục. Như vậy tất cả đều gọi là chướng ngại

Đức Như Lai đều biết, vì chúng sinh, như thật nói nơi Pháp không có chướng ngại, khiến cho chướng ngại ấy bị chặt đứt hẳn chẳng sinh ra nữa. Đây là sự nghiệp Chính Giác thứ mười ba của Như Lai.

Khi ấy, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy một lần nữa, nên nói Kệ rằng:

“_Phật hiểu Pháp chướng ngại

Chẳng thể chứng giải thoát

Là Tâm chẳng thanh tịnh

Không Tàm (Hrī: sùng kính các Công Đức với người có Đức) cũng không Quý (Apatrāpya: ghê sợ tội lỗi)

_Trong Nghiệp thân miệng ý

(không có), Hữu (có được), Vô Biểu Giới

Tham Dục (Lobha), Sân (Dveṣa), Si (Moha), Bố (Vibhīṣaṇa:sợ hãi)

Khởi Ác Hạnh vô biên

Giết, trộm, với Tà Dâm

Nói dối, uống các rượu

Sáu Bất Kính, bảy Mạn

Tám Tà Đạo thường hành

Chín não, mười nhân ác

Phật nói đều chướng ngại

Tu tập niệm Bất Thiện

_Phật biết nguồn điên đảo

Trong Không (Abhāva:vô) chấp dính chặt

Từ Bi vì nói Pháp

Khiến lìa Nhân (Hetu) chướng ngại”

_Lại nữa, Thiện Nam Tử! Đức Như lai như thật tuyên nói hay chấm dứt con đường đau khổ (Duḥkha-mārga: khổ đạo), tất cả chúng sinh y theo đây tu tập đều được giải thoát.

Ở trong nghĩa này, tất cả Thế Gian: hoặc Trời hoặc người không ai có thể nói như Lý rằng: ‘Điều mà Đức Như Lai đã nói chẳng phải là con đương giải thoát

(Vimukti-mārga:giải thoát đạo)”

Thế nào gọi là Chân Giải Thoát Đạo? Ấy là: một con đường là con đường giải thoát, đối với các chúng sinh khởi Tâm thanh tịnh

Lại có hai con đường là con đường giải thoát, ấy là: Xa Ma Tha (Śamatha:Thiền Chỉ), Tỳ Bát Xá Na (Vipaśyana:Thiền Quán)

Lại có ba con đường là con đường giải thoát, ấy là: Pháp Môn Không  (Śūnyatā), Vô Tướng (Animitta), Vô Nguyện (Apraṇihita)

Lại có bốn con đường là con đường giải thoát, ấy là bốn Niệm Xứ (Catvārismṛty-upasthānāni) là Thân, Thọ, Tâm, Pháp

Thế nào là Thân Niệm Xứ (Kāya-smṛty-upasthānāni)? Ấy là quán Nội Thân Tuần Thân Quán (quán sát thân của mình: từ đầu đến chân theo thứ tự trải qua việc xem xét 36 vật là: tóc, lông, răng…), Tâm được an trụ. quán Ngoại Thân Tuần Thân Quán (quán sát sắc xứ bên ngoài thân của mình, theo thứ tự trải qua việc xem xét hình sắc, âm thanh, mùi ngửi, vị nếm, sự tiếp chạm),Tâm được an trụ. quán Nội Ngoại Thân Tuần Thân Quán (quán sát thân của mình với sắc xứ bên ngoài thân, theo thứ tự trải qua việc xem xét 36 vật trong thân với hình sắc, âm thanh, mùi ngửi, vị nếm, sự tiếp chạm bên ngoài),Tâm được an trụ. Đây gọi là Thân Niệm Xứ

Thế nào là Thọ Niệm Xứ (Vedana-smṛty-upasthānāni)? Ấy là quán sát cảm giác được sinh bên trong thân (nội thọ), cảm giác được sinh ra bên ngoài thân (ngoại thọ), cảm giác được sinh ra bên trong và bên ngoài thân (nội ngoại thọ), xem xét theo thứ tự các cảm giác đã trải qua (tuần thọ quán), Tâm được an trụ

Thế nào là Tâm Niệm Xứ (Citta-smṛty-upasthānāni)? Ấy là quán sát Tâm ở bên trong thân (nội tâm), Tâm ở bên ngoài thân (ngoại tâm), Tâm ở bên trong và bên ngoài thân (nội ngoại tâm), xem xét theo thứ tự các Tâm đã trải qua (tuần tâm quán), Tâm được an trụ

Thế nào là Pháp Niệm Xứ (Dharma-smṛty-upasthānāni)? Ấy là quán sát Pháp ở bên trong thân (nội Pháp), Pháp ở bên ngoài thân (ngoại Pháp), Pháp ở bên trong và bên ngoài thân (nội ngoại Pháp), xem xét theo thứ tự các Pháp đã trải qua (tuần pháp quán), Tâm được an trụ

Lại nữa có năm con đường là con đường giải thoát. Thế nào là năm? Ấy là: Tín Căn (Śraddha-indriya), Tiến Căn (Vīrya-indriya), Niệm Căn (Smṛti-indriya), Định Căn (Samādhi-indriya), Tuệ Căn (Prajña-indriya)

Lại nữa có sáu con đường là con đường giải thoát. Thế nào là sáu? Ấy là: Niệm Phật (Buddhānu-smṛti), Niệm Pháp (Dharmānu-smṛti), Niệm Tăng (Saṃghānusmṛti), Niệm Giới (Śīlānu-smṛti), Niệm Xả (Tyāgānu-smṛti:niệm thí), Niệm Thiên (Devānu-smṛti)

Lại nữa có bảy con đường là con đường giải thoát. Thế nào là bảy? Ấy là: Niệm Giác Phần (Smṛti-saṃbodhyaṅga), Trạch Pháp Giác Phần (Dharma-pravicayasaṃbodhyaṅga), Tinh Tiến Giác Phần (Vīrya-saṃbodhyaṅga), Hỷ Giác Phần (Prītisaṃbodhyaṅga), Khinh An Giác Phần (Prasabahi-saṃbodhyaṅga), Định Giác Phần (Samādhi-saṃbodhyaṅga), Xả Giác Phần (Upekṣa-saṃbodhyaṅga)

Lại nữa có tám con đường là con đường giải thoát. Thế nào là tám? Ấy là: Chính Kiến (Samyag-dṛṣti), Chính Tư Duy (Samyak-saṃkalpa), Chính Ngữ (Samyag-vāc), Chính Nghiệp (Samyak-karmānta), Chính Mệnh (Samyag-ājīva), Chính Tinh Tiến (Samyag-vyāyāma), Chính Niệm (Samyag-smṛti), Chính Định (Samyak-samādhi)

Lại nữa có chín con đường là con đường giải thoát. Ấy là: Sơ Thiền (Prathamadhyāna), Nhị Thiền (Dvitīya-dhyāna), Tam Thiền (Tṛtīya-dhyāna), Tứ Thiền (Catvāri-dhyāna), Không Xứ (Ākāśanantyāyatana), Thức Xứ (Vijñānantyāyatana), Vô Sở Hữu Xứ (Ākiṃcanyāyatana), Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ (Naivasaṃjñānāsaṃjñāyatana), Diệt Thọ Tưởng Định (Nirodha-samāpatti)

Lại nữa có mười con đường là con đường giải thoát. Ấy là: chẳng sát sinh (Pāṇāṭipātā- paṭivirati), chẳng trộm cắp (Adattādānā-dvirati), chẳng Tà Hạnh (Kāmamithyācārā-dvirati), chẳng nói dối (Mṛṣāvādāvirati), chẳng nói hai lưỡi (Paisunyātvirati), chẳng nói điều ác (Pāruṣyātprativirati), chẳng nói thêu dệt phù phiếm (Saṃbhinnapralāpāt-prativirati), chẳng tham dục (Abhidhyāyāḥ-prativirati), chẳng giận dữ (Vyāpādāt-prativirati), chẳng Tà Kiến (Mithyā-dṛṣṭi-prativirati). Đây gọi là mười.

Như vậy hết thảy các Thiện (Kuśala), Pháp Bồ Đề Phần (Bodhyaṅga), hoặc Giới Uẩn (Śīla-skandha:nghiệp Thân Ngữ vô lậu) tương ứng, hoặc Định Uẩn (Samādhi-skandha:ba Tam Muội của hàng Vô Học là Không, Vô Tướng Vô Nguyện) tương ứng, Tuệ Uẩn (Prajñā-skandha: Chính Kiến, Chính Tri của hàng Vô Học) tương ứng, Giải Thoát Uẩn (Vimukti-skandha:cùng với Thắng Giải của Chính Kiến tương ứng) tương ứng, Giải Thoát Tri Kiến Uẩn (Vimukti-jñāna-darśana-skandha:Tận Trí, Vô Sinh Trí của hàng Vô Học) tương ứng, hoặc Thánh Đế (Ārya-satya) tương ứng đều là con đường giải thoát

Lại có con đường giải thoát. Ấy là Chân Chính Trung Đạo không có chút gì có thể đắc được, chẳng tăng chẳng giảm, chẳng lấy chẳng bỏ, chẳng nhiếp chẳng tan, được con đường chân thật, hai Niệm chẳng sinh do tất cả Pháp vốn không có hai.

Đức Như Lai ở trong con đường giải thoát này thấy biết chân thật, cũng vì chúng sinh tuyên nói như vậy, nếu có người tu tập thì hay dứt hết được cội nguồn đau khổ. Đây là sự nghiệp Chính Giác thứ mười bốn của Như Lai

Khi ấy, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy một lần nữa, nên nói Kệ rằng:

“_Tu tập Đạo thanh tịnh

Tăng ích, vô lượng vui

Hay hướng nẻo Cam Lộ

Trí Phật biết tự nhiên

_Hết thảy mọi Nhân (Hetu) Thiện

Là Phật Bồ Đề Phần

Người tu được giải thoát

Không thể nói là sai (phi)

_Chính Niệm diệt trần lao

Hay cùng Thiện hòa hợp

Xa sai (phi), chẳng chấp dính

Được Niết Bàn an vui

_Khéo léo quán Nhân Duyên

Như rỗng (Śūnya:không) không chỗ có

Như Huyễn cũng như Mộng

Hay thoát dòng sinh tử

_Y Định (Samādhi) khởi Tâm Bi

Thoát luân chuyển các cõi (chư hữu)

Đây là nghiệp Đại Tiên

Thế Gian không gì bằng”

_Lại nữa, Thiện Nam Tử! Thân của Đức Như Lai không có lỗi lầm. Tất cả Phàm Phu hoặc người Thắng Trí tìm được chút phần lỗi lầm của Đức Như Lai thì không có điều này.

Tại sao thế? Vì Thân Nghiệp của Đức Như Lai có Nghi Phạm (dáng vẻ trang nghiêm khuôn mẫu, lễ pháp, lễ nghi) đoan nghiêm, đi không có liếc nhìn, khoác Tăng Già Lê (Saṅghatī: một trong ba loại áo của Tỳ Kheo), mặc áo, ôm bình bát: đi, đứng, ngồi, nằm, tiến, dừng, quay lại, ra vào thôn phường, đi lại thành ấp… Như vậy tất cả thận trọng kỹ lưỡng an lành, bàn chân chẳng chạm đất nhưng khiến ở mặt đất hiện ra tướng bánh xe ngàn căm rõ ràng, lại có hoa sen thơm tho thù diệu nâng đỡ bàn chân ấy. Phàm các loài động vật (xuẩn động) tiếp chạm với vết tích của Đức Như Lai thì bảy ngày bảy đêm an ổn bình tĩnh (thái nhiên), đời sau sinh vào cõi người, Trời thọ nhận niềm vui thắng diệu.

Ca Sa (Kaṣaya:áo hoại sắc không có màu chính) của Đức Như Lai lìa thân bốn Thốn (4/3 dm) mà chẳng bị rơi xuống, gió xoáy gió mạnh chẳng thể thổi cho lay động, thân thường tỏa ánh sáng, phàm chỗ được chiếu chạm đến, cho đến bờ mé bên dưới, địa ngục A Tỳ (Avīci) lìa khổ được trong mát. Do nhóm như vậy cho nên nói Thân Nghiệp của Đức Như Lai không có lỗi lầm.

.)Lại nữa, Thiện Nam Tử! Ngữ Nghiệp của Đức Như Lai không có lỗi lầm. Tất cả Phàm Phu, hoặc ngu hoặc trí tìm được lỗi lầm thì không có điều này. Tại sao thế?

Này Thiện Nam Tử! Đức Như Lai biết lúc nào nên nói, cho nên Thời Ngữ, Chân Ngữ, Thật Ngữ, Nghĩa Ngữ…. như Thuyết mà thực hành không có sai lầm. Nói chẳng cần lập lại, tất cả chúng sinh nghe được, đều vui vẻ, dùng nghĩa của chữ sâu xa trang nghiêm ngữ ngôn, một âm nói Pháp thì nhóm khác loài đều hiểu được. Do nghĩa này cho nên nói ngữ nghiệp của Đức Như Lai không có lỗi lầm.

.)Lại nữa, Thiện Nam Tử! Ý Nghiệp của Đức Như Lai không có lỗi lầm. Tất cả Phàm Phu hoặc ngu hoặc trí tìm được lỗi lầm thì không có điều này. Tại sao thế? Vì Đức Như Lai thường trụ Tam Ma Hứ Đa (Samāhita: Đẳng Dẫn) thực hành Hạnh của chư Phật thường không có tán loạn. Dùng Trí không có dính mắc (vô trước Trí) biết tất cả Pháp, thế nên Ý Nghiệp của Đức Như Lai không có lỗi lầm.

Thiện Nam Tử! Đức Như Lai tự trụ Pháp không có lỗi lầm, cũng vì chúng sinh nói Pháp như vậy, khiến cho được Pháp không có lỗi lầm của Như Lai. Đây là sự nghiệp Chính Giác thứ mười lăm của Như Lai.

Khi ấy, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy một lần nữa, nên nói Kệ rằng:

“_Thế Tôn: trong (nội:bên trong) không phiền não, sai (phi)

Nghiệp thân miệng ý: sạch không vết

Thế Tôn: trong (nội:bên trong) không phiền não, sai (phi)

Hay lợi ích khắp các Hàm Thức (Satva: hữu tình, chúng sinh)

_Muốn chặt lỗi lầm của chúng sinh

Nên nói Môn vắng lặng tối thắng

Khiến không lầm lỗi, đồng Thế Tôn

Đây Nghiệp Như Lai thứ mười lăm

_Lại nữa, Thiện Nam Tử! Đức Như Lai không có tướng khác, âm tiếng (Śabda:

thanh) của nhóm khổ vui, thế nên tất cả người, Trời, Ngoại Đạo, hoặc Ma (Māra) hoặc Phạm (Brahma) không ai có thể nói âm tiếng của Đức Phật có lỗi lầm.

Không có tiếng của nhóm nào? Ấy là Đức Như Lai không có âm tiếng lo lắng, vui vẻ. Tại sao thế? Vì lìa yêu, giận vậy. (Đối với) Tất cả chúng sinh: mọi loại cúng dường, cung kính, khen ngợi… thì chẳng sinh Tâm vui vẻ cũng chẳng cao ngạo. (Đối với) Tất cả chúng sinh chẳng tu kính dưỡng, chê bai, mắng chửi… thì chẳng sinh Tâm oán giận cũng chẳng thấp kém

Đức Như Lai không có âm tiếng hối hận. Tại sao thế? Vì sự nghiệp đã làm không có chút gian nan, đã rốt ráo vậy.

Đức Như Lai không có âm tiếng tranh luận. Tại sao thế? Vì xưa kia thường trụ A Lan Nhã (Araṇya:nơi vắng lặng thích hợp cho người xuất gia tu hành và cư trú), lìa cái Ta (Ātman:Ngã), cái của Ta (Mama-kāra:Ngã sở), không có chọn lấy, không có tìm cầu, đã thoát phiền não, các sự trói buộc vậy.

Này Thiện Nam Tử! Đức Như Lai tự trụ âm tiếng không có tướng khác, cũng vì chúng sinh nói Pháp như vậy, khiến lìa âm tiếng của tướng khác như vậy. Đây là sự nghiệp Chính Giác thứ mười sáu của Như Lai.

Khi ấy, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy một lần nữa, nên nói Kệ rằng:

“_Cung kính, khen ngợi, Tâm chẳng cao

Khinh mạn, mắng chửi, Tâm chẳng thấp

Xa lìa Pháp yêu, giận với Phi Pháp

Đời trước Diệu Hạnh không ky hiềm (chê trách, nghi ngờ, ghét bỏ)

_Phật, xưa tu trì nơi vắng lặng (Araṇya: A Lan Nhã)

Ngã Sở (Mama-kāra:cái của Ta), Thủ Kết (Parāmarśa-saṃjojana: một trong 9 loại phiền não cột trói chúng sinh) đều không có

Trụ Pháp như vậy, nói như vậy

Nghiệp Tối Thắng này, duy (chỉ có) Như Lai”

_Lại nữa, Thiện Nam Tử! Đức Như Lai không có quên mất Niệm (Smṛti:nghĩ nhớ), không có chút Pháp nào mà chẳng ghi nhớ rõ. Do đâu không có quên? Ấy là các Tĩnh Lự (Dhyāna: Thiền), Giải Thoát (Vimukti), Tam Muội (Samādhi:Định), Tam Ma Bát Để (Samāpatti: Đẳng Chí)… trong Pháp như vậy đều không có quên mất. Lại biết Tâm Hạnh của chúng sinh khởi động, nhìn ngó, qua lại… tùy nghi nói Pháp cũng không có quên mất. Trong nghĩa của Pháp (Pháp nghĩa), phân tích lời văn (từ biện), không có chỗ sợ hãi (vô sở úy) cũng không có quên mất.

Đức Như Lai tự trụ Trí Tuệ không có dính mắc, Trong Pháp của ba đời nghĩ nhớ không có quên mất, cũng vì chúng sinh nói Pháp như vậy, khiến cho được nơi nghĩ nhớ không có quên mất. Đây là sự nghiệp Chính Giác thứ mười bảy của Như Lai

Khi ấy, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy một lần nữa, nên nói Kệ rằng:

“_Tối Thắng Pháp Vương không quên mất

Nhóm Thiền Định, Pháp Trí không sót

Tâm Hạnh chúng sinh thảy đều biết

Tùy nghi tuyên nói không chỗ sợ

_Các Thừa (Yāna), tất cả Pháp ba đời

Trí Tuệ không dính cũng không quên

Tù không quên mất, nói cũng thế

Sự Nghiệp của Trượng Phu tối thắng”

_Lại nữa, Thiện Nam Tử! Tất cả Như Lai không có Tâm chẳng định (bất định Tâm). Ấy là: đi, đứng, nằm, ngồi, ăn uống, nói năng, im lặng. Trong Thời như vậy thường trụ Tam Ma Hứ Đa (Samāhita: Đẳng Dẫn) thâm sâu, vào các Tam Muội, đến ở bờ bên kia, ở các Thiền Định không có chướng ngại, tất cả loại người Trời không có một ai có thể quán được chỗ trụ Tam Ma Hứ Đa (Samāhita) của Đức Như Lai, chỉ trừ uy đức của đấng Thế Tôn mới đến kịp

Đức Như Lai tự trụ Tâm không có gì chẳng Định (vô bất định Tâm), cũng vì chúng sinh nói Pháp như vậy, khiến cho buông bỏ tán loạn. Đây là sự nghiệp Chính Giác thứ mười tám của Như Lai.

Khi ấy, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy một lần nữa, nên nói Kệ rằng:

“_Như Lai thường trụ Tam Ma Địa (Samādhi)

Đi, đứng, nằm, ngồi, tất cả Thời

Ăn uống, nói, nín… lợi chúng sinh

Luôn ở Tam Muội, không dao động

Chúng sinh trong mười phương Thế Giới

Không thể lường Tâm Định (Tam Muội Tâm) của Phật

Cũng vì chúng sinh nói Môn này

Đây sự nghiệp khó bàn (nan tư) của Phật”

_Lại nữa, Thiện Nam Tử! Tất cả Như Lai không có mọi loại Tưởng (Saṃjñā). Do lìa mọi loại các Tưởng khác, cho nên Tâm không có cao thấp.

Vì sao mà Đức Như Lai không có mọi loại Tưởng? Ấy là ở các cõi Phật (Buddha-kṣetra: Phật sát) không có mọi loại Tưởng vì Thể Tính của cõi Phật đồng với Hư Không không có cùng tận vậy. Nơi các chúng sinh không có mọi loại Tưởng vì Bản Tính của chúng sinh đồng với Vô Ngã (Anātman) vậy. Ở trong chư Phật không có moại loại Tưởng vì đồng với Trí bình đẳng chứng Chân Pháp Giới, một Tướng không có tạp không có phá hoại vậy. Ở trong Phật Pháp không có mọi loại tưởng vì Tính của tất cả các Pháp không có nhiễm vậy. Thấy người Trì Giới chẳng sinh niệm yêu thích, thấy người hủy Cấm Giới chẳng sinh giận oán. Ta Người (tự tha) được lợi thì Tâm chẳng tăng cao, Ta Người (tự tha) mất lợi thì Tâm chẳng giảm ít. Đối với bậc Chính Kiến cũng chẳng tôn trọng, đối với kẻ Tà Kiến cũng chẳng khinh rẻ. Tại sao thế? Vì Đức Như Lai trụ ở Tính bình đẳng vậy.

Đức Như Lai tự trụ các Pháp bình đẳng, không có mọi loại Tưởng, cũng vì chúng sinh nói Pháp như vậy khiến cho lìa các Tưởng. Đây là sự nghiệp Chính Giác thứ mười chín của Như Lai.

Khi ấy, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy một lần nữa, nên nói Kệ rằng:

“_Bậc Thiện Thệ (Sugata) không các Tưởng khác

Vì lợi chúng sinh trong Phật Pháp

Các Tưởng như vậy, trọn không có

Nơi Đấng Đại Danh Xưng đã trụ

_Trì Giới, phá Giới với được, mất

Dễ điều, khó điều: Tâm bình đẳng

Lưỡng Túc Tôn (Dvipadottama:Tôn Hiệu của Đức Phật) vì các chúng sinh

Nói Pháp khiến thoát các Tà Chấp

_Lại nữa, Thiện Nam Tử! Đức Như Lai Chính Giác không có gì chẳng chọn buông bỏ (trạch xả). Tại sao thế? Đức Như Lai tu tập buông bỏ (xả) các Thiện Đạo (Kuśala-mārga:con đường tốt lành) chẳng phải là chẳng tu tập mà có chỗ buông bỏ. Ấy là tu tập Thân Giới, Tâm Tuệ như vậy rồi buông bỏ. Sự buông bỏ của Đức Như Lai cùng với Trí (Jñāna) tương ứng, chẳng phải là không biết con đường Xuất Thế (Lokottara-mārga:xuất thế đạo) này. Buông bỏ Thánh Giải Thoát chẳng phải là Thế Gian chẳng phải là Thánh Giải Thoát mà có chỗ buông bỏ. Sự buông bỏ như vậy chẳng buông bỏ Đại Bi (Mahā-kāruṇa) hay chuyển Phạm Hạnh (Brahma-caryā), lợi ích chúng sinh tự nhiên thành tựu, chẳng phải là đợi đối với Nhân Duyên hòa hợp mà được thành tựu. Sự buông xả của Đức Như Lai này không có cao thấp, bình đẳng an trụ được chẳng dao động. Thể không có hai, xa lìa hai tướng, thảy đều vượt qua hẳn có lượng, không có lượng. Đợi Thời mà buông bỏ, chẳng vượt qua nơi Thời, chẳng phải là Cảnh Giới động niệm của Tâm Ý Thức, chẳng phải là mượn an lập, chẳng phải là có phân biệt, chẳng phải là gom chứa (tích tụ), chẳng phải là thấy sai biệt. Sự buông bỏ như vậy là chân thắng nghĩa thường hằng chẳng biến đổi. Đây là Đại Xả viên mãn của Đức Như Lai, cũng vì chúng sinh nói Pháp như đây khiến cho được Đại Xả viên mãn như vậy.

Đây là sự nghiệp Chính Giác thứ hai mươi của Như Lai.

Khi ấy, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy một lần nữa, nên nói Kệ rằng:

“_Như Lai không có chẳng chọn bỏ

Tu Đạo tối thắng, nhân duyên Thiện

Thân Giới, Tâm Tuệ thứ tự tu

Tối thắng trong người, không yêu giận

_Chẳng mượn phân biệt, không phân biệt

Chẳng gom chứa, bỏ (xả) cùng tương ứng

Chân thật chẳng biến, trong Đại Xả

Rộng vì chúng sinh, nói như vậy”

_Lại nữa, Thiện Nam Tử! Chư Phật Như Lai ưa muốn không có giảm, ấy là muốn Pháp tốt lành (Kuśala-dharma:Thiện Pháp). Thế nào gọi là muốn của Pháp tốt lành? Ấy là Đức Như Lai muốn Đại Từ (Mahā-maitra) không có giảm, muốn Đại Bi (Mahā-kāruṇa) không có giảm, muốn nói Pháp không có giảm, muốn điều phục chúng sinh không có giảm, muốn thành thục chúng sinh không có giảm, muốn thích ở chỗ vắng lặng không cho giảm, muốn các chúng sinh phát Tâm Bồ Đề không có giảm, muốn khiến cho các chúng sinh nối tiếp mầm giống Tam Bảo không có giảm. Đức Như Lai không có muốn tùy theo sự xấu ác của Tâm.

Phàm có Trí muốn sự tốt lành (Thiện Dục Trí) làm con đường sáng (quang đạo), muốn tự đẩy đủ sự tốt lành, cũng vì chúng sinh nói Pháp như vậy, khiến cho muốn được Nhất Thiết Trí viên mãn tối thắng của Như Lai. Đây là sự nghiệp Chính Giác thứ hai mươi mốt của Như Lai.

Khi ấy, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy một lần nữa, nên nói Kệ rằng:

“_Phật muốn Thiện Pháp đã viên cực (viên mãn đến cùng tột)

Từ Bi thường chuyển, độ chúng sinh

Thành thục khuyên phát Tâm Bồ Đề

Nối mầm Tam Bảo chẳng đoạn tuyệt

_Chẳng thuận Tham Dục (Lobha), sân (dveṣa), si (Moha), sợ (Vibhīṣaṇa)

Phàm Trí có chỗ muốn (hữu sở dục Trí) làm đầu

Bậc Tối Thắng Trí biết như vậy

Thương xót chúng sinh nhiều lười biếng

Không muốn Thiện Pháp, nhiều ác dục

Dạy khiến muốn Thiện, tu Chính Cần (Samyag-vīrya:chính tinh tiến)

Nghiệp Vô Đẳng Trí lợi chúng sinh

Hữu Tình nhân đây đều điều phục”

_Lại nữa, Thiện Nam Tử! Đức Như Lai không có giảm hết thảy tinh tiến. Đức Như Lai đối với tinh tiến nào không có giảm? Ấy là điều phục chúng sinh: quán sát xem xét kỹ lưỡng, tinh tiến không có giảm.

Nếu có chúng sinh chuyên Tâm nghe Pháp thì vị họ diễn nói, chẳng ngại khó nhọc, tinh tiến không có giảm.

Nếu có chúng sinh một Kiếp nghe Pháp, Thân Tâm chẳng mệt mỏi thì Đức Phật cũng một Kiếp hoặc hơn một Kiếp chẳng rời khỏi tòa ngồi, chẳng ăn, chẳng uống, nói Pháp không có đứt đoạn.

Nếu lại vượt qua bên ngoài hằng sa cõi nước, có một chúng sinh kham nhậm điều phục, liền đến giáo hóa khiến tu Chính Hạnh mà Thân Tâm của Đức Phật không có lười biếng mệt mỏi, an vui vắng lặng tự thực hành tinh tiến được Thánh Giải Thoát, cũng vì chúng sinh khen ngợi tinh tiến. Đây là sự nghiệp Chính Giác thứ hai mươi hai của Như Lai

Khi ấy, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy một lần nữa, nên nói Kệ rằng:

“_Tinh tiến sinh ra Nhân Sư Tử (Nṛsiṃha: một Tôn Hiệu của Đức Phật)

Thế nên thường khen nơi tinh tiến

Niệm niệm dũng mãnh, không lúc giảm

Có kham nghe Pháp, thường tuyên nói

_Thiện Thệ tinh tiến không ngơi nghỉ

Nghiệp thâm miệng ý chẳng mệt mỏi

Tụ nhiên mạnh cứng, lìa sai quấy (Phi)

Cũng khuyên chúng sinh khởi tinh tiến”

 

_Lại nữa, Thiện Nam Tử! Đức Như Lai Chính Giác ở tất cả Thời, khắp tất cả

Xứ, Chính Niệm (Samyak-smṛti) không có giảm

Thế nào là Thời Xứ chính niệm không có giảm? Này Thiện Nam Tử! Đức Như Lai bắt đầu từ con đường không có gián đoạn, sau này được A Nậu Đa La Tam Miểu Tam Bồ Đề (Anuttarā-samyaksaṃbuddhi: Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác). Tức quán tất cả chúng sinh trong ba đời: Tâm Hạnh nối tiếp nhau sinh diệt chảy rót. Biết như vậy xong thì niệm niệm chẳng quên, chẳng cầu chẳng lùi cho nên thường không có giảm

Đức Như Lai hay quán sát khắp ba Tụ (chính định tụ, tà định tự, bất định tụ) Chính Niệm không có giảm. Ấy là vào sâu trong các Căn, Tâm Hạnh của chúng sinh, tuy Niệm không có động mà xét tìm phân biệt, rồi vì họ nói Pháp không có thác loạn. Thế nên Đức Như Lai niệm không có giảm thiếu, cũng vì chúng sinh nói Pháp này khiến cho Niệm không có giảm. Đây là sự nghiệp Chính Giác thứ hai mươi ba của Như Lai.

Khi ấy, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy một lần nữa, nên nói Kệ rằng:

“_Phật niệm chẳng nghĩ, thường chẳng giảm

Biết hết chúng sinh giới không sót

Từ khi giác ngộ Đại Bồ Đề (Mahā-bodhi)

Biết khắp ba đời, không nghĩ lại (tái niệm)

Khéo biết chúng sinh: Tâm Hạnh khác

Các Căn, ưa muốn đều chẳng đồng

Trụ Vô Công Dụng Nghiệp thường hằng

Cũng vì chúng sinh, nói Thắng Pháp”

_Lại nữa, Thiện Nam Tử! Hết thảy Tam Muội của Như Lai không có giảm. Vì sao Tam Muội của Như Lai không có giảm? Vì Tam Muội của Như Lai đối với tất cả Pháp bình đẳng, không có hai, không có cao thấp như Chân Thật Nghĩa Đế của tất cả

Pháp

Tại sao thế? Vì Tam Muội (Samādhi) tức là Thể Tính của các Pháp bình đẳng, Tính này bình đẳng tức Tam Muội bình đẳng, Tam Muội bình đẳng tức là Như Lai. Do nghĩa này cho nên nói Tam Muội của Phật được ở Tính bình đẳng của các Pháp.

Thế nào là Tính bình đẳng của các Pháp? Ấy là bờ mé nhiễm dục bình đẳng tức lìa bờ mé Dục bình đẳng, bờ mé oán giận bình đẳng tức lìa bờ mé giận dữ bình đẳng, bờ mé ngu si bình đẳng tức lìa bờ mé ngu si bình đẳng, bờ mé Hữu Vi bình đẳng tức bờ mé Vô Vi bình đẳng, bờ mé sinh tử bình đẳng tức bờ mé Niết Bàn bình đẳng. Nhập vào bình đẳng này, thế nên nói gọi hết thảy Tam Ma Hứ Đa (Samāhita), Tam Muội (Samādhi) của Như Lai không có giảm. Vì sao không có giảm? Vì cùng với bình đẳng không có tăng giảm vậy

Lại Tam Muội của Đức Phật chẳng cùng với con mắt hợp, chẳng cùng với lổ tai hợp, chẳng cùng với lỗ mũi, cái lưỡi, thân xác, Ý hòa hợpĐức Như Lai không có phân biệt Căn (Indriya) vậy.

Tam Muội của Như Lai cũng chẳng cùng với Địa Giới hòa hợp, cũng chẳng hợp với Giới: Thủy (nước), Hỏa (lửa), Phong (gió), cũng chẳng hợp với ba cõi ba đời. Thể Tính chẳng hòa hợp này bình đẳng, cũng vì chúng sinh nói như Pháp này, đều khiến cho được Tam Muội này không có giảm. Đây là sự nghiệp Chính Giác thứ hai mươi bốn của Như Lai.

Khi ấy, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy một lần nữa, nên nói Kệ rằng:

“_Tam Muội Như Lai không tăng giảm

Thường tại Đẳng Dẫn (Samāhita) lợi chúng sinh

Thể Tính bình đẳng không cao thấp Chẳng cùng các Pháp mà hòa hợp

_Quán sát Giới: đất, nước, lửa, gió

Cõi Dục (Kāma-dhātu), Sắc (Rūpa-dhātu), Vô Sắc (Arūpa-dhātu) cũng thế

Luôn nói Môn không giảm không hợp

Nên Định của Như Lai không giảm”

_Lại nữa, Thiện Nam Tử! Trí Tuệ của Như Lai không có giảm. Thế nào gọi là Trí Tuệ không có giảm? Ấy là hiện chứng Trí Tự Thể của tất cả Pháp, khắp vì tất cả chúng sinh sai biệt, mở bày diền nói Trí của tất cả Pháp, Trí Tuệ khéo léo không có ngăn ngại, nhỏ nhiệm thâm sâu không có cùng tận, Trí phân tích một câu nhập vào vô số câu, trăm ngàn ức Kiếp thọ trì diễn nói không có cùng tận, Trí mỗi mỗi thưa hỏi riêng, mỗi mỗi đều chặt đứt nghi ngờ, ở tất cả xứ đều không có dính mắc, Trí hay nói sự sai biệt thứ tự nối tiếp nhau của ba Thừa, Trí hay biết tám vạn bốn ngàn Tâm Hạnh sai biệt của chúng sinh, dùng tám vạn bốn ngàn Pháp Uẩn (Dharmaskandha) tùy theo căn cơ nói, Trí điều phục chúng sinh chẳng lỗi Thời

Do nghĩa này cho nên nói Trí Tuệ của Như Lai không có bờ, không có mé, không có tận, có vô lượng Môn, ấy là Trí Tuệ của Như Lai không có giảm, cũng vì chúng sinh tuyên nói như vậy, khiến cho được Trí Tuệ không có cùng tận của Như Lai.

Đây là sự nghiệp Chính Giác thứ hai mươi lăm của Như Lai.

Khi ấy, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy một lần nữa, nên nói Kệ rằng:

“_Trong tất cả Giáo (Śāstra) Trí hiện tiền

Không ngại, tự tại đến bờ kia

Tự nhiên nói Pháp, lợi Hàm Thức

Tùy Căn, một câu vào vô biên

_Hiểu Hạnh chúng sinh, khó xưng lường

Vì nói tám vạn bốn ngà Pháp

Trí Tuệ vô biên không thể giảm

Nghiệp mười sức tối thắng (tối thắng thập lực nghiệp) khó lường”

_Lại nữa, Thiện Nam Tử! Sự Giải Thoát (Vimukti) của Đức Như Lai Thế Tôn không có giảm.

Vì sao sự giải thoát của Như Lai không có giảm? Ấy là sự giải thoát của Thanh Văn tùy thuận vào âm tiếng mà được. Sự giải thoát của Duyên Giác do ngộ được Nhân Duyên sinh xa lìa tất cả nơi chấp dính đã dây lên, chẳng duyên vào Tiền Tế (quá khứ), chẳng nhập vào Hậu Tế (tương lai), chẳng dính mắc hiện tại. Đối với con mắt, đối với hình sắc chẳng dính mắc hai tướng. Lỗ tai với âm thanh, cái mũi với mùi ngửi, cái lưỡi với vị nếm, cái thân với sự tiếp chạm, cái Ý với Pháp… cũng thế, chẳng dính mắc hai tướng cho nên gọi là Giải Thoát.

Lại có sự nhỏ nhiệm, hoặc chấp, hoặc dính mắc, hoặc Ý phân biệt… xa lìa ba điều này liền được giải thoát, thấy ánh sáng Trí Tuệ thuộc Tự Tính của Tâm, cho nên Giải Thoát này tức là Trí Tuệ. Thế nên nói một sát na Tâm cùng với Trí tương ứng, liền được A Nậu Đa La Tam Miểu Tam Bồ Đề (Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác)

Đức Như Lai Đẳng Chính Giác như vậy xong, cũng vì chúng sinh nói Pháp như vậy khiến cho được giải thoát. Đây là sự nghiệp Chính Giác thứ hai mươi sáu của Như Lai.

Khi ấy, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy một lần nữa, nên nói Kệ rằng:

“_Thanh Văn tùy thuận tiếng (Śabda) giải thoát

Bích Chi Phật ngộ Nhân Duyên sinh Thiện Thệ giải thoát như Hư Không

Không dơ, không dính rất tôn thắng

_Biết rõ Tâm quá khứ chảy rót

Bản Tính giải thoát, được không cột

Nơi không trói buộc biết như thật

Nên nói Giải Thoát chẳng thể giảm”

_Lại nữa, Thiện Nam Tử! Trí Thân Nghiệp của Đức Như Lai là con đường trước tiên, tùy theo Trí Tuệ thực hành, ấy là Thân Nghiệp của Đức Như Lai viên mãn đầy đủ. Hoặc có chúng sinh vừa mới thấy Thân của Đức Phật mà được điều phục. Hoặc nghe nói năng (ngữ ngôn) mà được điều phục, hoặc thấy im lặng mà được điều phục, hoặc thọ nhận thức ăn uống mà được điều phục. Như vậy, hoặc bốn uy nghi, hoặc nhìn thấy tướng tốt đẹp, hoặc chẳng nhìn thấy Đỉnh (Uṣṇīsa:đỉnh kế, nhục kế), hoặc lại nhìn ngó, hoặc phóng ánh sáng, nhấc bàn chân, hạ bàn chân, khi ra vào thành ấp thôn xóm thời chúng sinh nhìn thấy đều được điều phục, cho nên uy nghi của Đức Phật không có chút phần nào chẳng thể điều phục tất cả chúng sinh. Thế nên nói rằng: “Trí Thân Nghiệp của Đức Như Lai làm con đường trước tiên, tùy theo Trí Tuệ chuyển”.

Đây là sự nghiệp Chính Giác thứ hai mươi bảy của Như Lai.

Khi ấy, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy một lần nữa, nên nói Kệ rằng:

“_Nếu thấy uy nghi Thân tối thắng

Hoặc ra, hoặc vào, hoặc tướng tốt

Hoặc thấy tướng Ô Sắt Ni Sa (Uṣṇīsa:đỉnh kế, nhục kế)

Đều đặt chúng sinh trong điều phục

_Tối Thắng Tôn hoặc phóng ánh sáng Vô lượng chúng sinh đều an vui

Người chạm ánh sáng đều điều phục

Nghiệp Lưỡng Túc Tôn rất khó lường”

_Lại nữa, Thiện Nam Tử! Hết thảy tất cả Trí Ngữ Nghiệp của Đức Như Lai làm con đường trước tiên, tùy thuận Trí thực hành.

Thế nào gọi là tùy thuận Trí thực hành? Đức Như Lai nói Pháp không có chướng ngại, hay nói đầy đủ văn nghĩa không có thiếu, âm tiếng (Śabda: thanh) của lời nói phát ra nhập vào Tâm của chúng sinh phát sinh Trí Tuệ. Ấy là tiếng chẳng cao, tiếng chẳng thấp, tiếng chính trực, tiếng chẳng chẳng khiếp sợ, tiếng chẳng ngượng nghịu, tiếng chẳng tục tằn thô kệch, tiếng không có Trù Lâm (Gahana: dụ cho phiền não tà kiến của chúng sinh), tiếng rất nhu nhuyễn, tiếng có kham nhận, tiếng chẳng phá vỡ, tiếng luôn xem xét quyết định, tiếng chẳng nhanh quá, tiếng chẳng chậm quá, tiếng không có sai lầm, tiếng phân tích khéo, tiếng của ngôn từ màu nhiệm, tiếng màu nhiệm sâu xa, tiếng màu nhiệm rộng lớn, tiếng suối tuôn chảy, tiếng chẳng đứt đoạn, tiếng trau chuốt tinh tường (nhuận thục), tiếng tinh thâm hay khéo (thâm mỹ), tiếng hòa hợp, tiếng trang nghiêm, tiếng lợi ích, tiếng trong trẻo, tiếng không có vết tích ô nhiễm (Rajas:trần, bụi bặm), tiếng không có phiền não, tiếng không có nhiễm dơ (cấu nhiễm), tiếng không có ngu si, tiếng rất hăng hái mạnh mẽ (sí thịnh), tiếng không có chỗ dính mắc, tiếng khéo giải thoát, tiếng rất thanh tịnh, tiếng không có quanh co, tiếng không có thấp kém, tiếng không có cứng ngắc, tiếng không có chậm chạp (mạn hoãn), tiếng hay sinh an vui, tiếng khiến cho Thân thanh tịnh, tiếng khiến cho Tâm vui vẻ, tiếng mừng vui con đường trước tiên, tiếng Ý trước tiên thưa hỏi, tiếng hay làm sạch Tham Dục, tiếng chẳng dấy lên oán giận, tiếng hay diệt ngu si, tiếng hay ăn nuốt chúng Ma, tiếng hay phá vỡ nghiệp ác, tiếng hay thiêu đốt Ngoại Luận, tiếng tùy thuận giác ngộ, tiếng như đánh trống Trời, tiếng người Trí nghe vui, Tiếng Thích Đề Hoàn Nhân (Śakra-devānām-indra:Trời Đế Thích), tiếng Đại Phạm Thiên Vương, tiếng sóng dâng lên của biển lớn, tiếng mây sấm rền khắp, tiếng đại địa chấn động, tiếng Ca Lăng Phả Già (Kalaviñka), tiếng chim Câu Chỉ La (), tiếng chim Mệnh Mệnh (Jīvaṃ-jīvaka), tiếng Lộc Vương (Mṛga-rāja), tiếng Ngưu Vương (Vṛṣbha-rāja), tiếng Nhạn Vương (Haṃsa-rāja), tiếng chim Hạc kêu, tiếng chim Công (Mayūra), tiếng đàn Không Hầu (Vīṇā), tiếng kèn, tiếng đàn Tỳ Bà (Tuṇava), tiếng đàn Tranh, tiếng sáo, tiếng vỏ ốc (tiếng loa), tiếng dễ hiểu biết, tiếng rõ ràng, tiếng đáng yêu, tiếng ưa thích nghe, tiếng thâm sâu, tiếng không có nhàm chán, tiếng khiến cho tai an vui, tiếng hay sinh căn lành, tiếng câu chữ viên mãn, tiếng câu chữ của lời văn tuyệt diệu, tiếng hòa hợp lợi ích, tiếng hòa hợp với Pháp, tiếng khéo biết thời tiết, tiếng hợp tất cả Thời, tiếng không có Phi Thời, tiếng nói xưa kia các Căn triển chuyển nối tiếp nhau, tiếng trang nghiêm bố thí, tiếng hay trì Tịnh Giới, tiếng hay sinh An Nhẫn, tiếng tinh tiến mạnh mẽ, tiếng kham nhận Tĩnh Lự (Dhyāna: Thiền Định), tiếng Trí Tuệ rộng lớn, tiếng Đại Từ hòa hợp, tiếng Đại Bi không có mệt mỏi, tiếng Pháp Hỷ sáng tỏ, tiếng Đại Xả sâu rộng, tiếṅ an trụ ba Thừa, tiếng chẳng chặt đứt Tam Bảo, tiếng phân biệt ba Tụ, tiếng ba Thoát Môn, tiếng tu tập các Đế, tiếng tu tập các Trí, tiếng tương ứng bậc Trí, tiếng bậc Thánh khen ngợi, tiếng tùy thuận Hư Không, tiếng không có phân chia cân nhắc (phân lường), tiếng đầy đủ các Tướng.

Này Thiện Nam Tử! Ngữ Nghiệp của Đức Như Lai đầy đủ vô lượng âm thanh như vậy, cho nên nói Trí tất cả Ngữ Nghiệp của Như Lai làm con đường trước tiên, tùy theo Trí Tuệ chuyển. Đây là sự nghiệp Chính Giác thứ hai mươi tám của Như Lai.

Khi ấy, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy một lần nữa, nên nói Kệ rằng:

“_Phật Ngữ (lời nói của Đức Phật) vô đẳng (không gì ngang bằng được), sạch không vết

Tất cả Công Đức đều viên mãn

Một Âm (Ghoṣa:tiếng, giọng) tràn khắp vô biên cõi (sát)

Mỗi mỗi đều nghe tùy loại Âm

_Hoặc có được nghe tiếng Thanh Văn

Hoặc có được nghe Pháp Duyên Giác

Hoặc nghe đại uy đức (của) Như Lai

Liền phát Tâm Vô Thượng Bồ Đề

_Nghĩa câu, chữ, văn đều tròn trịa

Thứ tự an bày đều không ngại

Mà Tâm không có phân biệt khác

Hay nói Diệu Pháp Môn khó lường

_Tiếng tối thắng trong người như vậy

Âm thanh tuôn ra như tiếng vang

Không công, không Tâm mà ứng khắp

Tiếng của không tiếng (vô thanh): Tâm, Vật thích”

 

KINH THỦ HỘ QUỐC GIỚI CHỦ ĐÀ LA NI

_QUYỂN THỨ SÁU (Hết)_

********

QUYỂN THỨ BẢY

NHẬP VÀO SỰ NGHIỆP SÂU XA CHẲNG THỂ NGHĨ BÀN CỦA NHƯ LAI PHẨM THỨ NĂM_CHI BA

_Bấy giờ, Đức Thế Tôn lại bảo Văn Thù Sư Lợi Đồng Tử Bồ Tát Ma Ha Tát rằng: “Thiện Nam Tử! Trí Ý Nghiệp của Như Lai làm con đường trước tiên, tùy theo Trí Tuệ chuyển.

Thế nào là Ý Nghiệp tùy theo Trí Tuệ chuyển? Này Thiện Nam Tử! Đức Như Lai không có Tâm Ý Thức lỗi lầm. Tại sao thế? Vì Tâm, Ý, Thức của Đức Như Lai đều chẳng thể biết, chỉ từ Trí của Phật mà hiển hiện, cho nên Trí Tuệ của Như Lai bèn làm Chủ vậy.

Thiện Nam Tử! Trí Tuệ của Như Lai tùy thuận tất cả Tâm (Citta) của chúng sinh chuyển, tùy thuận hướng vào các Ý (Manas) của chúng sinh, tùy thuận hiểu rõ các Thức (Vijñāna) của chúng sinh, sinh ra các Pháp với các Tam Muội. Thế nên, nhóm Tâm Ý Thức của Đức Như Lai, không ai có thể biết, vướt qua Nhân Địa, xa lìa Nhân Duyên, chẳng phải là con đường của ba cõi (tam hữu đạo), giải thoát các Mạn (Māna), sự nghiệp của các Ma (Māra), nịnh hót lừa dối, huyễn hoặc, Ngã Chấp (ātmagrāha), Ngã Sở Chấp (Mama-kāra-grāha), ngu si (Moha), Vô Minh (Avidya), tối tăm che lấp… khéo tu Đạo Phẩm mà không có tán loạn, không có chỗ phân biệt, nhập vào Tính bình đẳng (Samatā) giống như Hư Không. Có vô lượng sự nghiệp của nhóm như vậy, mỗi mỗi đều dùng Trí (Jñāna) làm con đường trước tiên. Đây là sự nghiệp Chính Giác thứ hai mươi chín của Như Lai.

Khi ấy, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy một lần nữa, nên nói Kệ rằng:

“_Tâm Lưỡng Túc Tôn chẳng thể lường

Tịnh Trí, Nhân Duyên hơn hẳn đời

Trí Phật ngang đồng với Pháp Giới

Tùy thuận vào khắp Tâm chúng sinh

_Thiền Định, giải thoát thảy đều tròn

Tâm Ý phân biệt không dao động

Vướt qua cảnh Ma với nghiệp Ma

Không dơ, không biến như Hư Không”

_Lại nữa, Thiện Nam Tử! Đức Như Lai Chính Giác thấy đời quá khứ không có dính mắc, không có ngăn ngại… Trí Tuệ tùy chuyển. Trí chuyển như thế nào? Ấy là mọi loại cõi Phật ở quá khứ, hiển hiện thành, hoại vô lượng vô số … Đức Như Lai đều biết.

Trong các cõi ấy, cỏ, cây, rừng rậm, bụi cây xoăn quấn nhau, dây leo, cỏ thuốc … Đức Như Lai đều biết.

Hết thảy loại chúng sinh trong cõi ấy: loài sinh trong trứng (Aṇḍaja-yoni:noãn sinh), loài sinh trong bào thai (Jārayurā:thai sinh), loài sinh ở nơi ẩm thấp (Saṃsvedajā-yoni:thấp sinh), loài sinh theo cách biến hóa (Upapādukā-yoni:hóa sinh), có hình sắc, không có hình sắc, không có Tưởng, chẳng phải có Tưởng, chẳng phải không có Tưởng.Như vậy tất cả… Đức Như Lai đều biết.

Trong các cõi ấy: Hữu Tình, Phi Tình, mọi loại âm thanh …Đức Như lai đều biết.

Cõi ấy: hết thảy Đức Như Lai hiện ra nói mọi loại Pháp, mọi loại Chúng Hội, Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di, tất cả chúng sinh ở trong ba Thừa đều được điều phục. Mọi loại Thọ Lượng, mọi loại Pháp Trụ… Đức Như Lai đều biết

Các chúng sinh ấy: thở ra, hít vào, mọi loại ăn uống, mọi loại vật dụng, mọi loại tướng mạo, mọi loại Căn Khí, mọi loại Hành Giải (cảnh tướng mà Tâm Sở chọn lấy), mọi loại Tâm Tính, chết ở chỗ này, sinh ở chỗ kia, sát na chảy rót, sát na sinh diệt nối tiếp nhau… Đức Như Lai đều biết

Như vậy, tất cả nơi mà Hiện Lượng (Pratyakṣa-pramaṇa:sự phản ánh trực tiếp của khí quan Cảm Giác khi đối với sự vật) đã được chẳng phải là chỗ biết của Tỷ Lượng (Anumāna-Pramāṇa: sự cân nhắc do so sánh mà biết). Thế nào là Hiện Lượng? Ấy là chẳng động niệm, như thật mà biết, chẳng phải là Tâm chảy rót nhập vào quá khứ. Như vậy, như Thời, Trí Tuệ đầy đủ tùy theo Tâm chúng sinh, nói mọi loại Pháp

Đây gọi là sự nghiệp Chính Giác thứ ba mươi của Như Lai

Khi ấy, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy một lần nữa, nên nói Kệ rằng:

“_Trí Phật vô lượng, không chỗ dính

Biết cõi quá khứ: Phật, chúng sinh

Đại Hội nói Pháp, danh tướng khác

Tâm Hạnh (Citta-carya: tác dụng, hoạt động, trạng huống, biến hóa bên trong

Tâm), Căn (Mūla), Dục (Chanda, hay rajas) nhiều sai biệt

Đều y ba Thừa được điều phục

Rốt ráo đồng quy nguồn giải thoát

Với biết Tâm sinh diệt chảy rót

Tất cả người thấy, hiểu chân thật (chân thật giác)”

_Lại nữa, Thiện Nam Tử! Trí Tuệ của Đức Như Lai nhìn thấy đời vị lai, không có dính mắc, không có ngăn ngại như nhìn thấy hiện tại. Nhìn thấy (kiến) như thế nào? Ấy là hết thảy đời vị lai: mọi loại chúng sinh, mọi loại các Pháp, mọi loại cõi nước, đang sinh, đang diệt, từng trụ, đang trụ. Như vậy tất cả… Đức Như Lai đều biết

Kiếp (Kalpa) của hết thảy cõi nước (Kṣetra:sát) đang thiêu đốt, đang thành, đang trụ. Trong cõi nước đang thành hết thảy các đất, cây cối, rừng rậm, trăm loài cỏ, cỏ thuốc, hình sắc thô kệch, hình sắc tinh tế, mặt trời, mặt trăng, tinh tú cho đến hạt bụi nhỏ… đều biết như thật,

Trong mỗi một cõi nước: chư Phật đang hiện, đang có Thanh Văn, đang thành Duyên Giác, đang thành Bồ Tát, đang có vật dụng, thở ra, hít vào, qua lại, tiến dừng, lấy bỏ, uy nghi… Đức Như Lai đều biết.

Trong mọi loại cõi nước: chúng sinh như vậy đang được giải thoát ở trong ba Thừa, giải thoát sai biệt… Đức Như lai đều biết.

Lại, tất cả chúng sinh trong cõi nước ấy: hết thảy các Uẩn, các Nhập, các Giới, Tâm, Tâm Sở, Pháp… đang sinh, đang diệt. Đức Như Lai đều biết

Tuy đối với tất cả, đều biết như thật nhưng Tâm của Đức Như Lai cũng chẳng chảy rót nhập vào vị lai, vì khiến cho chúng sinh ngộ Tính vị lai, nên nói Pháp như vậy. Đây là sự nghiệp Chính Giác thứ ba mươi mốt của Như Lai.

Khi ấy, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy một lần nữa, nên nói Kệ rằng:

“_Phật, đời vị lai, mắt Vô Cấu (chuyển con mắt thịt thành con mắt Pháp)

Thấy khắp hết thảy: đã, đang thành

Tất cả chư Phật, trong cõi nước (Kṣetra: sát)

Không có tơ hào, biết chẳng tận

Trong mỗi việc ấy, không thác loạn

Tinh tế quán thấy Nhân (Hetu) vị lai

Tùy Tâm chúng sinh, nói Pháp Môn

Đây Lưỡng Túc Tôn Siêu Thắng Nghiệp (Nghiệp siêu thắng của Đức Phật)”

_Lại nữa, Thiện Nam Tử! Đức Như Lai thấy biết hiện tại không có dính mắc, không có chướng ngại chuyển

Điều này Chuyển như thế nào? Ấy là ở mười phương, hiện tiền hết thảy tất cả cõi Phật, dùng ba loại nhân (Hetu) thấy biết nhỏ nhiệm tinh tế là biết Tướng ấy hoặc sinh, hoặc diệt.

Biết nhóm Pháp nào? Ấy là tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát, tất cả Thanh Văn, tất cả Duyên Giác, tất cả hình sắc tinh tế, tất cả hình sắc thô kệch… Đức Như Lai đều biết.

Tất cả Địa Giới (Pṛthivi-dhātu) phân tích nhỏ nhiệm, đều dùng nhiều loại hạt bụi nhỏ khác nhau (nhược can vi trần) làm thành. Tất cả Thủy Giới (Ab-dhātu) dùng giọt nước như sợi lông để biết số lượng ấy. Tất cả Hỏa Giới (Tejo-dhātu), lửa khởi diệt đều biết số ấy. Tất cả Phong Giới (Vāyu-dhātu) sắc tướng thổi đánh nhiều loại hạt bụi nhỏ khác nhau (nhược can vi trần). Hư Không (Ākāśa)ở mười phương dùng một đầu sợi lông so lường vòng khắp, biết bờ mé ấy

Nhóm cảnh như vậy, biết hết Tướng ấy, cũng biết cảnh ấy sinh, cũng biết cảnh ấy diệt, cũng dùng ba loại biết Chúng Sinh Giới. Biết Địa Ngục Giới (cõi Địa Ngục): Nhân (hetu) sinh vào Địa Ngục, Nhân (hetu) ra khỏi Địa Ngục. Biết Súc Sinh Giới (cõi súc sinh): Nhân (hetu) sinh làm súc sinh, Nhân (hetu) xả bỏ súc sinh. Biết Diệm Ma Giới (cõi Diệm Ma): Nhân (hetu) sinh Diệm Ma, Nhân (hetu) diệt Diệm Ma. Biết ở Nhân Giới (cõi người): Nhân (hetu) hướng đến sinh làm thân người, Nhân (hetu) hướng đến đánh mất thân người. Biết các Thiên Giới (cõi Trời): Nhân (hetu) sinh vào cõi Trời, Nhân (hetu) lùi mất cõi Trời.

Như vậy tất cả… Đức Như Lai hiện tiền thảy đều biết rõ, biết sự chảy rót của Tâm chúng sinh, Tâm có phiền não, Tâm không có phiền não. Nhiều loại chúng sinh khác nhau: các Căn điều phục. Nhiều loại chúng sinh khác nhau: các Căn chẳng điều phục… Đức Như Lai đều biết.

Đức Như Lai như vậy đối với cảnh hiện tiền, không có hai Trí chuyển Bất Nhị

Hiện Hành (hiển bày Công Đức thù thắng một hướng không có chướng ngại của Đức Thế Tôn), cũng vì chúng sinh tuyên nói như vậy. Đây là sự nghiệp Chính Giác thứ ba mươi hai của Như Lai

Khi ấy, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy một lần nữa, nên nói Kệ rằng:

“_Cảnh giới Như Lai không bờ mé

Chẳng thể nghĩ bàn, chẳng thể xưng

Không có gì bằng, như Hư Không

Tất cả chúng sinh, há thể lường

_Mười phương, hết thảy loại chúng sinh

Cảnh giới hiện tiền, sự nghiệp khác

Như Lai: tất cả đều hay biết

Trí Nghiệp của tự nhiên tối thắng”

Thiện Nam Tử! Ba mươi hai sự nghiệp thâm sâu của Như Lai này thì chư Phật thảy đều viên mãn đầy đủ. Vì muốn điều phục tất cả chúng sinh, khiến cho họ ngộ nhập, nên lược nói chút phần. Nhưng thật ra, hết thảy sự nghiệp của Như Lai nhiều vô lượng vô biên, chẳng thể tuyên nói.

_Thiện Nam Tử! Đức Như Lai lại có sự nghiệp chân thật, không có phần lượng, chẳng thể nghĩ bàn, là nơi mà tất cả Thế Gian chẳng thể đo lường, là nơi mà tất cả văn tự chẳng thể truyền đạt được, tất cả Tâm Thức chẳng thể hiểu rõ, Tất cả Trí Tuệ chẳng thể hướng vào, vòng khắp tất cả, an lập cõi nước (sát thổ), tùy thuận Trí Bình Đẳng của tất cả Phật, vượt qua tất cả sự nghiệp của Thế Gian, mọi loại ban cho, tạo làm nhưng không có chỗ tạo tác, Thể Tính bình đẳng giống như Hư Không, Pháp Giới hiện tiền không có phân biệt.

Tại sao thế? Này Thiện Nam Tử! Chư Phật Thế Tôn hiển bày Pháp Giới không có hai Tính, mọi loại các Pháp, mọi loại chúng sinh, mọi loại cõi nước, mọi loại Tâm Thức, mọi loại giải thoát, mọi loại Niết Bàn… Các Pháp như vậy, hoặc Thể hoặc Tướng rốt ráo đều trống rỗng (Śūnya: Không)

Thiện Nam Tử! Đức Như Lai như vậy tự hiểu một Vị của Pháp Giới, không có Tướng, lìa Pháp nhân duyên, muốn khiến cho chúng sinh bình đẳng ngộ nhập giống như Pháp không có ngăn ngại của Hư Không, cho nên vì các chúng sinh chuyển bánh xe Pháp vô thượng chẳng chuyển lùi.

Thiện Nam Tử! Ví như người thợ giỏi, khéo hay mài giũa đá quý, ngọc Ma Ni, báu màu nhiệm… khéo biết chọn lựa đá núi có Tính báu, lấy thuốc Khất Xoa La, dùng nước xoa mài, lấy lông con dê đen (cổ dương) lau cho óng ánh. Lau óng ánh rồi chưa xong, lại dùng thuốc riêng tên là Lợi Thố Vị hòa với nước thấm ướt gỗ mềm nhũn lau chùi. Do công chưa xong, lại dùng thuốc Ma Ha Bệ Xá lấy vật nhỏ nhiệm mà lau cho óng ánh. Bên trên chưa có ánh sáng, liền đưa vào lửa rực thiêu đốt bảy ngày thì khoáng chất dơ của đá, tất cả tiêu trừ. Biết báu chẳng phải là giả, tên là Vô Giá Ma Ha Lưu Ly Ma Ni Diệu Bảo.

Thiện Nam Tử! Chư Phật Như Lai cũng lại như vậy, biết các chúng sinh yêu thích sinh tử, dơ bẩn chẳng sạch nên vì họ nói Pháp: Vô Thường (Anitya), Khổ (Duḥka), Không (Śūnya), Vô Ngã (Anātman), Bất Tịnh (Aśubha) khiến cho sinh chán lìa, nhập vào Thánh Pháp, điều phục Thân Tâm. Như vậy, Đức Như Lai tinh tiến chẳng ngưng nghỉ.

Tiếp theo, vì họ nói Không (Śūnyatā), Vô Tướng (Animitta), Vô Nguyện (Apraṇihita), khiến cho kẻ ấy thấy biết, giác ngộ con mắt của Phật (Phật nhãn). Đức Như Lai tinh tiến cũng lại như vậy.

Tiếp theo lại vì họ chuyển bánh xe Pháp chẳng thoái lùi. Đức Như Lai tinh tiến cũng chẳng ngưng nghỉ. Tức cuối cùng vì họ nói ba Luân thanh tịnh, cảnh giới của Như Lai khiến cho các chúng sinh hiểu rõ nhân duyên thấy Bản Tính của Pháp, cho đến vào khắp Pháp Thể bình đẳng của tất cả Như Lai.

Thiện Nam Tử! Thế nên các ông nên như vậy hiểu sự nghiệp của Như Lai chẳng thể nghĩ bàn.

Nếu các Bồ Tát an trụ ở sự nghiệp của Như Lai chẳng thể nghĩ bàn này, tuy ở các Pháp, Tâm được bình đẳng nhưng tùy thuận biết tất cả các Pháp lìa các lỗi lầm. Tuy hay tùy thuận ba đời bình đẳng nhưng chẳng đoạn tuyệt Chúng Tính của Tam Bảo. Tuy biết Tính của Thân giống như Hư Không vốn không có dao động nhưng ở mười phương tất cả cõi Phật hiện khắp Thân ấy. Tuy biết Thể của các Pháp chẳng thể nói nhưng dùng ngữ ngôn phát ra tùy loại âm, nói tất cả Pháp. Tuy tùy theo Tâm Hạnh chẳng đồng của chúng sinh, nói các nhân duyên nhưng lìa chúng sinh với các Pháp Tướng.

Thiện Nam Tử! Chư Phật Như Lai vì muốn thanh tịnh Tâm của Bồ Tát, cho nên hiện ra ở đời nhưng thật ra Đức Như Lai không có biến hóa, thường trụ ở sự nghiệp khó suy nghĩ này, chẳng buông bỏ tinh tiến, trao cho Bồ Tát Ký, nói Pháp chẳng dứt”.

_Khi ấy, Đức Thế Tôn nói Pháp Môn sâu xa, sự nghiệp khó suy nghĩ của Như Lai xong, thời mười phương vô lượng a tăng xí gia vượt qua sự tính đếm cõi nước của chư Phật, Đại Địa chấn động theo sáu cách, phóng ánh sáng lớn, tuôn mưa mọi loại hoa của cõi Trời.

Trong Đại Hội này, các Đại Uy Đức, vô lượng Bồ Tát, chư Thiên cõi Dục, Nam Diêm Phù Đề (Jaṃbu-dvīpa): mười sáu nước lớn với các Tiểu Vương, Long Thần, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Già, Người, Phi Nhân… với Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di nghe Pháp Môn này thì Tâm trong sạch, vui mừng hớn hở vô lượng, đem các vật cúng cúng dường Đức Phật. Ấy là: mọi loại hoa màu nhiệm, mọi loại hương nổi tiếng, hương xoa bôi, hương bột, quần áo, chuỗi Anh Lạc, phướng, phan, vòng hoa, lọng… dùng để cúng dường.

Hoặc dùng mọi loại âm thanh vi diệu, ca vịnh, khen ngợi, cung kính cúng dường.

Hoặc dùng viên Minh Châu trong búi tóc trên đỉnh đầu, viên Minh Châu gắn trên trán, ngọc châu đeo tai, ngọc đeo ở cổ mà dùng cúng dường.

Hoặc đem Ma Ni (Maṇi), chuỗi Anh Lạc báu màu nhiệm, chuỗi Anh lạc châu báu, chuỗi Anh Lạc hình mặt trăng, mọi loại chuỗi Anh Lạc nghiêm sức các thân phần, vòng xúc xích báu, Ấn báu, xuyến báu, vòng báu, gương báu, rương báu, mão báu, mọi quần áo màu nhiệm, mọi loại vật nghiêm sức, các chuông mõ màu nhiệm… đều rải tại Đạo Trường, cung kính cúng dường.

Hoặc đem mọi loại báu màu nhiệm cúng dường. Ấy là báu Phệ Lưu Ly (Vaiḍūrya), báu Diêm Phù Châu, báu A Thấp Ma Nghiệt Ma (Ásma-garbha:mã não), báu Thất Lợi Nghiệt Ma (Śrī-garbha), báu Nhân Đà La Ni La (Indra-nīla:Đế Thanh), báu Pha Chi Ca (Sphaṭika:pha lê) màu hồng, báu như màu lửa, báu ánh sáng lửa, báu vô biên màu sắc… nhóm báu như vậy phụng hiến Đức Phật, mà làm cúng dường

Lại có chúng sinh đem mọi loại bột báu của nhóm vàng, bạc để làm cúng dường. Hoặc dùng hương Trầm, hương Đa Già Lâu, hương tùy theo Thời, hương Chiên Đàn (Candana) màu nhiệm, hương Long Hoa Tu, hương châu báu đỏ (Lohitamukta). Đem mọi loại bột hương của nhóm như vậy để làm phụng tán

Hoặc lại có rải mọi loại hoa Trời để làm cúng dường. Ấy là hoa Ba Lợi Gia Đát La Ca, hoa Mạn Đà La (Māndāra), hoa Ma Ha Mạn Đà La (Mahā-māndāra), hoa Mạn Thù Sa (Mañjuṣaka), hoa Ma Ha Mạn Thù Sa (Mahā-mañjuṣaka), hoa Lô Già

Ca, hoa Ma Ha Lô Già Ca, hoa Tát Tha La, hoa Ma Ha Tát Tha La, hoa Chước Yết La, hoa Vô Cấu Chước Yết La, hoa trăm cánh, hoa ngàn cánh, hoa trăm ngàn cánh, hoa Phổ Quang, hoa Phổ Hương, hoa Quang Diệm, hoa Tối Thắng, hoa Vô Biên Sắc, hoa Đại Phổ Biến, hoa Ái Lạc Kiến… để làm cúng dường.

Hoặc có chúng sinh rải hoa sinh trên mặt đất. Ấy là hoa Phộc Lý Sắc Chỉ (Vārṣikāṇiśa), hoa Tô Mạn Na (Sumana), hoa Câu Tô Ma (Kusuma), hoa A Đề Mục

Đa Ca (Ati-muktaka), hoa Chiêm Bác Ca (Caṃpaka), hoa A Thâu Ca (Aśoka), hoa Đà Nỗ Sắc Ca Lý, hoa Ba Tra La (Pāṭala), hoa Mục Chân Lân Đà, hoa Ma Ha Mục Chân Lân Đà

Hoặc có chúng sinh rải hoa sinh trong nước, phụng tán cúng dường. Ấy là hoa Ưu Bát La (Utpāla), hoa Bát Đầu Ma (Padma), hoa Câu Vật Đầu (Kumuda), hoa Phân Đà Lợi (Puṇḍarika)… rải mọi loại hoa màu nhiệm của nhóm như vậy, cúng dường Đức Phật.

Tất cả chư Thiên ở trong Hư Không tấu các nhạc Trời: âm thanh vi diệu, âm hưởng trong trẻo vang xa, thanh cao thoát tục để làm cúng dường. Ấy là: Tiêu, sáo, đàn Không Hầu (Vīṇa), đàn Tỳ Bà (Tuṇava), vỏ ốc, mọi loại trống Trời… đánh khua phát ra âm tiếng mỹ diệu, mọi loại ca múa cung kính , khen ngợi, cúng dường Đức Phật.

Lại tuôn mưa các hoa màu nhiệm của mọi loại Trời, mọi loại hương bột, mọi loại báu màu nhiệm, mọi loại Anh Lạc, mọi loại quần áo… Như vậy, vật cúng của chư Thiên vi diệu, cúng dường Đức Phật

Bấy giờ, mười phương hết thảy Thế Giới: các chúng Đại Bồ Tát Ma Ha Tát đều đến tập hội, với các hàng Bồ Tát trong Chúng (Saṃgha) này vì cúng dường Đức Phật đều bay lên Hư Không, mỗi mỗi vị đều biến Thân làm hình tượng chư Thiên. Mới biến thân xong, dùng sức của Bồ Tát cho nên đem mọi loại lưới báu che trùm khắp Đại Hội. Lưới ấy giáp vòng nhiễu quanh cây Bồ Đề, ở bốn mặt đều bốn Do Tuần (Yojana), đều dầy đặc tám Bộ… rũ treo mọi loại viên ngọc của chuỗi Anh Lạc châu báu, mọi lưới treo chuông lắc tay, chuông báu hòa vang…ḍùng mọi hoa sen báu xen kẽ nhau nghiêm sức. Trong mỗi một viên ngọc của chuỗi Anh Lạc ngọc ấy đều có vô số Bồ Tát đồng thời hiện ra. Hiện ra xong cung kính nhiễu quanh Đức Phật bảy vòng. Nhiễu quanh Đức Phật xong, vì các Bồ Tát mỗi mỗi đều hóa mọi Tòa Liên Hoa Sư Tử (Padmasiṃhāsana) báu

Khi ấy mỗi một Đức Như Lai trong vô lượng cõi Phật ở mười phương, đều dùng sức Uy Thần tự tại mỗi mỗi đều khiến cây báu Như Ý, lưới báu với các vật cúng thù đặc hiếm có, bình đẳng đến khắp bên dưới cây Bồ Đề trong Thế Giới Ta Bà (Sāhaloka-dhātu) xếp bày cây báu giáp vòng vây quanh, chia bày vật cúng trang nghiêm Đạo Trường. Vì muốn cúng dường Đức Thích Ca Như Lai với Kinh này cho nên làm thời trang nghiêm cúng dường này. Trong Hội này: vô số chúng sinh phát Tâm A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề (Anuttarā-samyaksaṃbuddhi: Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác), vô lượng Bồ Tát được Vô Sinh Pháp Nhẫn (Anutpattika-dharma-kṣānti)

_Bấy giờ, Đức Thế Tôn quán khắp tất cả Bồ Tát, Đại Chúng rồi nói lời như vầy: “Này các hàng Phật Tử! Ai hay phát khởi Thệ Nguyện rộng lớn, dùng Uy Đức lớn lưu giữ cái lưới Anh Lạc ở Đạo Trường được trang nghiêm bằng mọi loại báu màu nhiệm chẳng thể nghĩ bàn này, che trùm trú xứ của Bồ Tát với mười phương đưa đến các cây Như Ý hoa quả xen bày, phát ra ánh lửa sáng rực rỡ, thường không có biến đổi, đợi khi Đức Phật Di Lặc (Maitreya) hạ sinh, tuổi mới mới sáu, ngồi ở Đạo Trường, Chính Pháp bắt đầu tròn đủ, nói Kinh Thủ Hộ Quốc Giới Chủ này, mở bày diễn nói Đà La Ni (Dhāraṇī) này. Ngay lúc đó thời đem Thân cúng dường, cho đến ngàn Đức Phật đời Hiền Kiếp (Bhadra-kalpa) hiện ra, cũng lại như vậy, dùng làm cúng dường”

Nói lời này xong, thời trong Hội này có một vị Bồ Tát tên là Thần Thông Tự Tại Vương (Abhijñeśvara-rāja) ở tòa hoa sen (Padmāsana), chỉnh uy nghi của thân, quỳ gối phải trên đài hoa sen, cung kính chắp tay, rồi bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Con hay như vậy, như Giáo Sắc của Đức Phật lưu giữ Đạo Trường này, cúng dường Đức Từ Thị (Maitreya) cho đến tất cả Như Lai Ứng Chính Đẳng Giác (Tathāgatāyaarhate-samyaksaṃbuddhāya) của đời Hiền Kiếp”

Lúc đó, trong Hội có vị Thần Thông Ma (Abhijña-māra) tên là Diệu Kiến Lập trụ bốn Đại Châu, nghe lời nói này xong, liền thưa với Thần Thông Tự Tại Vương Bồ Tát rằng: “Thánh Giả dùng nhóm vật khí nào an trí ở Chúng Bảo Anh Lạc Trang Nghiêm Đạo Trường này, trải qua đến Thời ấy mà khiến chẳng bị tổn hoại?”

Thời Thần Thông Tự Tại Vương Bồ Tát bảo vị Ma (Māra) kia rằng: “Nhân Giả nên biết tất cả Khí Vật mau chóng phá hoại, nhiều các chướng ngại. Hư Không là vật khí chẳng thể tổn hoại, không có chướng ngại. Trong tất cả vật khí là tối thắng. Ông đừng chớp con mắt, quán sát kỹ lưỡng thân của Ta thì tự sẽ thấy vật khí rộng lớn của Ta”

Vị Ma như lởi dạy bảo ấy, quán sát kỹ lưỡng Bồ Tát thì thấy trong vành rốn trên thân của Bồ Tát có một Thế Giới tên là Thủy Quang Vương (Jala-prabha-rāja) là Thế Giới tràn đầy nước lớn (đại thủy), giống như biển lớn cho nên lập tên gọi ấy. Ở trong Thế Giới có một Đức Như Lai tên là Cát Tường Bảo Liên Hoa (Śrī-ratnapadma) Như Lai, Ứng Cúng, Chính Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn (Tathāgatāya_arhate_samyaksaṃbuddha-vidyā-caraṇa-saṃpanna_sugata_lokavid_anuttara_puruṣa-damya-sārathi_śāstā-deva-manuṣyānāṃ_buddha_lokanātha) chỉ có chúng Đại Bồ Tát thanh tịnh. Ở trong nước (Jala: thủy) ấy sinh tràn đầy mọi hoa sen báu, Đức Cát Tường Như Lai ngồi trên Bảo Hoa Vương, các chúng Bồ Tát đều ngồi trên hoa báu, cung kính vây quanh. Thời Đức Như Lai ấy ở trong Đại Chúng, nói Pháp màu nhiệm sâu xa, dạy bày lợi vui. Khi Thần Thông Ma thấy việc này xong, liền đứng dậy, chắp tay cung kính, lễ bái Bồ Tát Thần Thông Tự Tại Vương.

Lúc đó, Bồ Tát bảo rằng: “Nhân Giả thấy vật khí rộng lớn như vậy của Bồ Tát chưa?”

Vị Ma đáp: “Đã nhìn thấy. Lạ thay! Đại Sĩ hay làm được việc này! Vật khí lớn như vậy đến trăm ngàn câu chi na do tha Kiếp cũng chẳng thể bị hư hoại, cho nên Đại Bảo Trang Nghiêm Đạo Trường này nhận giữ, không có khuyết, không có dơ bẩn, luôn trong sạch, không có biến đổi, ở đâu mà chẳng thể được”

Thời Thần Thông Ma nói lời này xong, đỉnh lễ bàn chân của Đức Phật, rồi bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Con tự suy nghĩ, ở đời quá khứ chưa từng nhìn thấy việc thần thông của Bồ Tát Thần Thông Tự Tại Vương này, chưa từng nghe được Thời của Pháp Môn này. Đối với Thanh Văn Thừa siêng năng tu hành tinh tiến, muốn ra khỏi ba cõi, tự mình cầu Niết Bàn. Con ở ngày nay nghe được việc này xong, liền đối với A Nậu Đa La Tam Miểu Tam Bồ Đề (Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác) phát khởi Tâm quyết định rất sâu nặng.

Thế Tôn! Giả sử khiến cho con nơi hằng hà sa kiếp ở Đại Địa Ngục thọ nhận mọi loại khổ, rồi sau này được thành A Nậu Đa La Tam Miểu Tam Bồ Đề thì con cam nhận khổ này, cuối cùng chẳng buông bỏ Tâm Bồ Đề”

Khi ấy, Đức Thế Tôn khen ngợi vị Ma rằng: “Lành thay! Lành thay! Ông, bậc Đại Trượng Phu hay đối với A Nậu Đa La Tam Miểu Tam Bồ Đề (vô thượng Chính

Đẳng Chính Giác), mặc giáp trụ lớn, chẳng lâu cũng như Bồ Tát Thần Thông Tự Tại

Vương, viên mãn đầy đủ tất cả Công Đức”

 

ANH LẠC TRANG NGHIÊM CỦA BỒ TÁT PHẨM THỨ SÁU_CHI MỘT

Bấy giờ, các Bồ Tát từ mọi loại cõi Phật ở mười phương đi đến với hàng Trời, Rồng, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Già, Người, Phi Nhân và Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di trong Đại Hội này, Tâm sinh khát ngưỡng, muốn nghe Diệu Pháp (Sad-dharma)

Khi ấy, Đức Thế Tôn biết Tâm nghĩ nhớ của Hội Chúng này, thích nghe Pháp sâu xa, có thể gìn giữ Pháp Tạng (Dharma-garbha), vui vẻ sung sướng, lại muốn vì họ một lần nữa mở bày hiển nói Kinh Thủ Hộ Quốc Giới Chủ Đà La Ni, phóng ánh sáng ở đỉnh kế không thể nhìn thấy (Vô Kiến Đỉnh) của tướng Đại Nhân, ánh sáng này tên là chẳng buông bỏ tinh tiến. Ánh sáng nhiễu quanh khắp Đại Hội Bồ Tát này bảy vòng xong, lại nhiễu quanh Văn Thù Sư Lợi Đồng Tử trăm ngàn vạn vòng, làm việc này xong, nhập vào đỉnh đầu của Văn Thù. Ánh sáng ấy nhập vào xong, khiến cho hào quang uy đức của thân Văn Thù với tòa Sư Tử (Siṃhāsana) ở chốn ấy hơn hẳn Đại Chúng gấp trăm ngàn vạn lần, giống như ánh trăng tròn đầy tước đoạt ánh sáng của mọi ngôi sao.

Lúc đó, Văn Thù Sư Lợi Đồng Tử nương theo Uy Thần của Đức Phật, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trật áo hở vai phải, quỳ gối, chắp tay khen Công Đức của Phật, rồi nói Kệ là:

“_Phật phóng ánh sáng Trí của Thân

Mắt thấy tận khắp, không nghĩa khác

Bản Tính tự nhiên, các thiện xảo

Đức chẳng thể nghĩ, đều tròn đủ

_Trượng Phu Ngưu Vương (Puruṣa-ṛṣabha) phóng đại quang (ánh sáng lớn)

Chiếu khắp, làm sạch khắp ba Nghiệp

Nhiễu quanh con một trăm ngàn vòng

Nhiễu xong, từ Đỉnh (Mūrdha: đỉnh đầu) vào Thân Tâm

_Trí Tuệ, Biện Tài xưa của con

Ánh sáng Tổng Trì chiếu nhỏ kém

Nhân Thiên Chủ Quang (ánh sáng của vị chủ người Trời) vừa chạm con

Vượt quá ngàn lần, hơn lúc trước

Thân con trong mát, Tâm con tịnh

Vui mừng hớn hở đều bình đẳng

Trí Phật (Buddha-jñāna: Phật Trí) khéo làm không bờ mé

Thảy đều chảy vào trong thân con

_Uy Đức Như Lai, khó biết lượng

Sức nhỏ chẳng thể giữ niệm này

Nương sức Trí Phật, nay thưa hỏi

Vì muốn lợi lạc các chúng sinh

Vì vào các Môn Bồ Tát Hạnh

Lại khiến chư Phật ra dựng đời

Trí Thần Thông phóng Quang Quán Đỉnh

Nguyện thành Đức này, hỏi Như Lai

_Chúng tạp hội này, rộng vô biên

Trong Tối Thượng Thừa đã tu nhập

Còn người chưa được, dốc Tâm Niệm

Vì lợi lạc họ, hỏi Như Lai

_Nguyện Vô Đẳng Trí (Trí không có gì ngang bằng) thuận thời cơ

Mở Tạng Diệu Pháp lợi hàm thức (chúng sinh)

Phá hết Ma Vương (Māra-rāja) với quyến thuộc

Nơi Như Lai Giáo khéo tu hành

_Trí Tuệ Đại Hùng không có bờ

Khéo léo không tận, không giới hạn

Mà Trí Tuệ con chẳng thể rõ

Thế nên, thưa hỏi Đức Như Lai

_Trí Tuệ Thế Tôn biết như thật

Ở vô lượng Kiếp, liên tục (trường thời) chuyển

Nhiều Kiếp siêng tu, nay tự tại

Nguyện mở Trí Phật, dạy (thị, thông báo, bảo cho biết) chúng sinh”

Lúc đó, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát nói Kệ này xong, bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Cảnh giới của Như Lai chẳng thể nghĩ bàn, chẳng phải là cảnh giới xưng lường của Bồ Tát mà Trí Tuệ của Phật nói Pháp không có mệt mỏi, Đại Bi thương xót, chẳng buông bỏ chúng sinh, cho nên con nương theo sức của Phật mạn dạn muốn thưa hỏi

Thế Tôn! Thế nào gọi là Anh Lạc (Muktāhāra) của Bồ Tát? Thế nào là Anh Lạc trang nghiêm (Muktāhāra-vyūha, hay Muktāhāra-alaṃkāra) của Bồ Tát? Thế nào là Bồ Tát được Hạnh thù thắng? Thế nào là Bồ Tát được ánh sáng của Diệu Pháp chẳng thể nghĩ bàn, xa lìa ngu ám với các nghi hoặc? Thế nào là Bồ Tát được ở Đại Pháp Minh Môn của Như Lai đều hay thanh tịnh?

Lành thay Thế Tôn! Nguyện xin vì con, quyết định tuyên nói Pháp Môn (Dharma-paryāya) Xuất Sinh của các chúng Bồ Tát. Nếu các Bồ Tát được nghe điều này xong, hay phá chúng Ma, phiền não, oán địch… vào tất cả Pháp vĩnh viễn không có nghi hoặc, hiện tiền biết rõ cảnh giới của Như Lai, biết Tâm của chúng sinh, thanh tịnh Hạnh của chúng sinh, dạo các cõi Phật, tồi phục quân Ma, mau hay nhiếp nhận sự dạy bảo của tất cả Phật, ở tất cả Pháp tự tại mà chuyển”

Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát rằng: “Lành thay! Lành thay Thiện Nam Tử! Ông hay phát khởi Tâm đại dũng mãnh, phát ra tiếng rống Sư Tử (Siṃha-nāda: sư tử hống) thưa hỏi Như Lai nghĩa màu nhiệm như vậy. Ông đã hay ở vô lượng cảnh giới của tất cả Như Lai, thông đạt biết rõ, hay hỏi nghĩa này

Này Thiện Nam Tử! Hãy nghe cho kỹ! Hãy nghe cho kỹ! Hãy khéo nghĩ nhớ! Ta sẽ vì ông phân biệt giải nói cảnh giới như vậy với vô lượng các Công Đức Pháp khác, đều khiến cho các ông mau được viên mãn, ở tất cả Pháp tự tại mà chuyển”. Văn Thù Sư Lợi vâng theo nhận sự chỉ dạy.

_Đức Phật bảo Văn Thù Sư Lợi rằng: “Thiện Nam Tử! Tất cả Bồ Tát thảy đều có bốn loại Anh Lạc. Thế nào là bốn? Ấy là Giới (Śīla) làm Anh Lạc, Định (Samādhi) làm Anh Lạc, Tuệ (Prajña) làm Anh Lạc, Đà La Ni Môn (Dhāraṇī-mukha) làm Anh Lạc. Đây gọi là bốn.

Thiện Nam Tử! Thế nào gọi là Giới làm Anh Lạc?

Này Thiện Nam Tử! Bồ Tát có một Anh Lạc Tịnh Giới là đối với chúng sinh khởi Tâm không có oán giận, không có chướng ngại khiến cho chúng sinh nhìn thấy đều vui vẻ, không có biết đủ (yếm túc)

Lại nữa, Thiện Nam Tử! Bồ Tát có hai Anh Lạc Tịnh Giới, ấy là đóng cửa nẻo ác, mở lối Người Trời

Lại nữa, Thiện Nam Tử! Bồ Tát có ba Anh Lạc Tịnh Giới là Thân, miệng, Ý thảy đều thanh tịnh.

Lại nữa, Thiện Nam Tử! Bồ Tát có bốn Anh Lạc Tịnh Giới là chỗ mong muốn đều thỏa thích, chỗ ước nguyện đều thành, chỗ ưa thích đều được, đầu cuối rốt ráo.

Lại nữa, Thiện Nam Tử! Bồ Tát có năm Anh Lạc Tịnh Giới là: đầy đủ Tam Muội (Samādhi), đầy đủ Trí Tuệ (Prajña), đầy đủ giải thoát (Vimukti), đầy đủ giải thoát tri kiến (Vimukti-Jñāna-darśana), đầy đủ Đại Bát Niết Bàn (Mahā-parinirvāṇa)

Lại nữa, Thiện Nam Tử! Bồ Tát có sáu Anh Lạc Tịnh Giới là: chẳng phá Giới trọn không có hối hận, chẳng phá hỏng làm thủng Giới (xuyên lậu giới) không có lỗi khác, chẳng lẫn lộn Giới (tạp giới) không có hòa hợp, Thanh Tịnh Giới nuôi lớn Pháp Trắng (Śukla-dharma: pháp tốt lành thanh tịnh), Tự Tại Giới tùy ý đi đến Thể đầy đủ; Tự Tại Chuyển Giới ở tất cả Thời, Trí tự tại.

Lại nữa, Thiện Nam Tử! Bồ Tát có bảy Anh Lạc Tịnh Giới. Ấy là: Thí (Dāna:ban cho, bố thí) được thanh tịnh, Nhẫn (Kṣānti) được thanh tịnh, Cần (Vīrya:tinh tiến) được thanh tịnh, Định (Samādhi) được thanh tịnh, Tuệ (Prajña) được thanh tịnh, Phương Tiện (Upāya) được thanh tịnh, chẳng phóng dật (Apramāda) được thanh tịnh

Lại nữa, Thiện Nam Tử! Bồ Tát có tám Anh Lạc Tịnh Giới đều viên mãn riêng. Ấy là: mười Địa viên mãn, chẳng hối hận viên mãn, chẳng lười biếng viên mãn, chẳng hiềm thù oán hận viên mãn, cúng dường Phật viên mãn, lìa tám nạn viên mãn, tu Bố Thí viên mãn, được bạn lành (Kalyāna-mitra:thiện hữu) viên mãn.

Lại nữa, Thiện Nam Tử! Bồ Tát có chín Anh Lạc Tịnh Giới. Thế nào là chín? Ấy là: được không có chỗ sợ hãi, được không có kinh hãi, được Tâm quyết định, được gần sát Tịch Tĩnh, được Tâm điều phục, được Tâm không có tham, được Tâm dũng mãnh kiên quyết, được biết tâm niệm của tất cả chúng sinh, được Tịch Tĩnh Địa. Đây gọi là chín.

Lại nữa, Thiện Nam Tử! Bồ Tát có mười Anh Lạc Tịnh Giới. Thế nào là mười? Ấy là: Anh Lạc của thân, viên mãn tướng tốt đẹp làm trang nghiêm. Anh Lạc của Ngữ, như Thuyết tu hành làm trang nghiêm. Anh Lạc của Ý, dùng không có phiền não làm trang nghiêm. Anh Lạc của cõi nước, dùng viên mãn Nguyện làm trang nghiêm. Anh Lạc lợi cho người khác, hay thanh tịnh Tâm làm trang nghiêm. Anh Lạc của nơi sinh ra, chẳng gây tạo các điều ác làm trang nghiêm. Anh Lạc của Bồ Tát Hạnh (Bodhisatva-caryā) tùy học Hạnh của Phật làm trang nghiêm. Anh Lạc của Trí Tuệ, rõ tất cả Pháp thảy đều huyễn hóa làm trang nghiêm. Anh Lạc của Bồ Đề Trường (Bodhi-maṇḍa) tất cả căn lành thảy đều hồi hướng làm trang nghiêm. Lực Vô Sở Úy (10 loại Trí Lực với 4 loại Vô Sở Úy), Pháp Bất Cộng của Đức Phật (Āveṇikabuddha-dharma) dùng làm Anh Lạc, chẳng buông bỏ Thể Tính căn bản của Giới trong sạch làm trang nghiêm. Đây gọi là mười.

_Này Thiện Nam Tử! Thế nào là Bồ Tát tu các Tam Muội Anh Lạc Trang Nghiêm?

Thiện Nam Tử! Bồ Tát có một loại Tam Muội Anh Lạc Trang Nghiêm. Thế nào là một? Ấy là ở trong tất cả chúng sinh giới, phát khởi Tâm yêu thương giúp đỡ

(Maitra-citta:Tâm Từ)

Thiện Nam Tử! Bồ Tát lại có hai loại Tam Muội Anh Lạc Trang Nghiêm là Tâm ngay thẳng chính đúng với Tâm mềm mại.

Bồ Tát lại có ba loại Tam Muội Anh Lạc Trang Nghiêm. Ấy là: chẳng phải huyễn (phi huyễn), chẳng phải nịnh hót (phi siểm), chẳng phải giả dối (phi giả).

Bồ Tát lại có bốn loại Tam Muội Anh Lạc Trang Nghiêm là: chẳng tùy thuận ưa muốn (Chanda: dục), chẳng tùy thuận giận dữ (Dveṣa:sân), chẳng tùy thuận nơi Si (Moha), chẳng thuận nơi sợ hãi (Vibhīṣaṇa: bố).

Bồ Tát lại có năm loại Tam Muội Anh Lạc Trang Nghiêm. Ấy là: chặt đứt nơi năm loại Chướng Ngại (Āvaraṇāni). Một là Ái Dục (Rāga), hai là Sân Hại (Pratigha), ba là Hôn Trầm (Satyāna-middha), bốn là Điệu Hối (Auddhatya-kaukṛtya), năm là Tâm nghi ngờ (Vicikitsā). Chặt đứt năm sự chướng ngại (Pañca-āvaraṇāni:ngũ cái) này dùng làm trang nghiêm.

Bồ Tát lại có sáu loại Tam Muội Anh Lạc Trang Nghiêm là: Niệm Phật (Buddhānu-smṛti), Niệm Pháp (Dharmānu-smṛti), Niệm Tăng (Saṃghānu-smṛti), Niệm Giới (Śīlānu-smṛti), Niệm Xả (Tyāgānu-smṛti:niệm thí), Niệm Thiên (Devānusmṛti)

Bồ Tát lại có bảy loại Tam Muội Anh Lạc Trang Nghiêm là chẳng quên mất Tâm Bồ Đề (Bodhi-citta) tùy thuận tu học bảy Bồ Đề Phần (Sapta-bodhyaṅgāni) là Niệm Giác Phần (Smṛti-saṃbodhyaṅga), Trạch Pháp Giác Phần (Dharmapravicaya-saṃbodhyaṅga), Tinh Tiến Giác Phần (Vīrya-saṃbodhyaṅga), Hỷ Giác Phần (Prīti-saṃbodhyaṅga), Khinh An Giác Phần (Prasabahi-saṃbodhyaṅga), Xả Giác Phần (Upekṣa-saṃbodhyaṅga), Định Giác Phần (Samādhi-saṃbodhyaṅga).

_Bồ Tát lại có tám loại Tam Muội Anh Lạc Trang Nghiêmtám Thánh Đạo (Āryāṣṭāṅgika-mārga): Chính Kiến (Samyag-dṛṣti), Chính Tư Duy (Samyaksaṃkalpa), Chính Ngữ (Samyag-vāc), Chính Nghiệp (Samyak-karmānta), Chính Mệnh (Samyag-ājīva), Chính Tinh Tiến (Samyag-vyāyāma), Chính Niệm (Samyagsmṛti), Chính Định (Samyak-samādhi)

Bồ Tát lại có chín loại Tam Muội Anh Lạc Trang Nghiêm. Thế nào là chín?

Thiện Nam Tử! Tâm của Bồ Tát này không có quên mất, Uy Lực của Đại Bi chẳng buông bỏ chúng sinh, tu tập dựng lập chín thứ tự Định (Navānupūrvasamāpattayaḥ) là: lìa Dục ác, điều chẳng tốt lành. Pháp có tìm kiếm (Vitarka:tầm), có dò xét (Vicāra: tứ) lìa hẳn sự sinh của ba cõi (ly sinh), vui mừng (Prīti:hỷ), thích thú (Sukha:lạc) nhập vào Sơ Thiền (Prathama-dhyāna) được viên mãn trụ.

Trừ diệt tìm kiếm tầm), dò xét (tứ), bên trong tịnh một Tâm, không có tìm kiếm, không có dò xét, sinh vui mừng (hỷ), thích thú (lạc) nhập vào Đệ Nhị Thiền (Dvitīya-dhyāna) được viên mãn trụ.

Lìa vui mừng (hỷ) trụ buông bỏ (Upekṣa: xả), thành tựu Định (hữu niệm) biết chính đúng thân thọ nhận sự thích thú (Sukha: lạc), nơi mà chư Thánh đã nói hay buông bỏ (xả) thành tựu Định (hữu niệm) thọ nhận sự thích thú (lạc) nhập vào Đệ Tam Thiền (Tṛtīya-dhyāna) được viên mãn trụ

Chặt đứt sự thích thú (lạc) trừ khổ lo, vui mừng đã diệt, chẳng khổ chẳng vui, niệm buông bỏ (xả niệm) thanh tịnh, nhập vào Đệ Tứ Thiền (Catvāri-dhyāna) được viên mãn trụ

Vượt qua tất cả Sắc Tưởng (Rūpa-saṃjñā), diệt Tưởng có đối ngại, chẳng nhớ mọi loại Tưởng, nhập vào Hư Không vô biên, ở Không Vô Biên Xứ

(Ākāśanantyāyatana) được viên mãn trụ

Vượt qua tất cả Không Vô Biên Xứ, nhập vào sự nhận thức (Vijñāna: thức) vô biên, ở Vô Biên Thức Xứ (Vijñānantyāyatana) được viên mãn trụ

Vượt qua tất cả Thức Vô Biên Xứ (Vijñānantyāyatana), nhập vào nơi không có chút sở hữu, ở Vô Sở Hữu Xứ (Ākiṃcanyāyatana) được viên mãn trụ

Vượt qua tất cả Vô Sở Hữu Xứ, nhập vào nơi chẳng phải Tưởng (Naivasaṃjña:phi tưởng) chẳng phải là chẳng phải Tưởng (Anāsaṃjñāyatana:phi phi tưởng), ở Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ (Naivasaṃjñā-nāsaṃjñāyatana) được viên mãn trụ

Vượt qua tất cả Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xú, nhập vào Diệt Thọ Tưởng Định, ở Diệt Thọ Tưởng Định (Nirodha-samāpatti) được viên mãn trụ

Do sức phương tiện khéo léo như vậy, nên Chân Tế (bản thể của vũ trụ, cảnh giới thành Phật) hiện tiền. Do sức diệt lúc trước, ở đây an trụ, sau đó lợi lạc tất cả chúng sinh, tùy các Pháp Môn khiến được thành thục. Đây gọi là chín loại Tam Muội Anh Lạc Trang Nghiêm của Bồ Tát.

_Thiện Nam Tử! Bồ Tát lại có mười loại Tam Muội Anh Lạc Trang Nghiêm. Nhóm nào là mười? Ấy là: Pháp Tính (Dharmatā) không có loạn, Diệu Định viên mãn, chẳng buông bỏ tinh tiến, thường ưa thích vắng lặng, chẳng bị đứt căn lành, Tâm chẳng tán loạn, Thân được an vui, quán sát các Pháp, được Tâm tự tại, được chủng Tính của bậc Thánh.

Thiện Nam Tử! Đây là mười loại Tam Muội Anh Lạc Trang Nghiêm của Bồ Tát.

_Này Thiện Nam Tử! Thế nào gọi là Trí Tuệ Anh Lạc Trang Nghiêm của Bồ Tát?

Thiện Nam Tử! Bồ Tát Ma Ha Tát có một loại Trí Tuệ Anh Lạc Trang Nghiêm. Thế nào là một? Ấy là trong tất cả Pháp, đoạn trừ nghi hoặc.

Lại nữa, Thiện Nam Tử! Bồ Tát lại có hai loại Trí Tuệ Anh Lạc Trang Nghiêm là xa lìa việc làm ác, hiện khởi phiền não

Bồ Tát lại có ba loại Trí Tuệ Anh Lạc Trang Nghiêm là: đoạn trừ ngu si, phá kho tàng Vô Minh, trừ bỏ sự đen tối

Bồ Tát lại có bốn loại Trí Tuệ Anh Lạc Trang Nghiêm là: Trí Tuệ biết Khổ (Duḥkha-satya:sự thật của tất cả nỗi khổ đau), Trí Tuệ chặt đứt Tập (Samudāya-satya: sự thật chứa nhóm mê lầm phiền não), Trí Tuệ chứng Diệt (Duḥkha-nirodha-satya: sự thật dứt trừ hẳn mọi sự đau khổ), Trí Tuệ tu Đạo (Mārga-satya: sự thật của con đường giúp cho người tu hành giải thoát mọi khổ não)

Bồ Tát lại có năm loại Trí Tuệ Anh Lạc Trang Nghiêm là: Giới Uẩn (Śīlaskandha) thanh tịnh vì Thể của Giới như trống rỗng (Śūnya:không) chẳng thể đắc được. Định Uẫn (Samādhi-skandha) thanh tịnh vì phát Thắng Trí Tuệ khởi động niệm. Giải Thoát Uẩn (Vimukti-skandha) thanh tịnh vì Thể của tất cả các Pháp không có hai. Giải Thoát Tri Kiến Uẩn (Vimukti-jñāna-darśana-skandha) vì biết rõ Thể của ba đời bình đẳng. Pháp Uẩn (Dharma-skandha) thanh tịnh vì Thể Tính của các Pháp không có nhiễm dính.

_Bồ Tát lại có sáu loại Trí Tuệ Anh Lạc Trang Nghiêm là: ba Luân (ta, chúng sinh, Tâm) thanh tịnh của Bố Thí Ba La Mật Đa (Dāna-pāramitā) là: Ngã Luân thanh tịnh, vì biết cái Ta (ngã) như Thể của huyễn, bình đẳng. Chúng Sinh Luân thanh tịnh, vì rõ biết nơi hóa sinh đều như giấc mộng. Bồ Đề Tâm Luân thanh tịnh, vì chẳng cầu quả Dị Thục của Thế Gian.

Ba Luân (thân, miệng, ý) thanh tịnh của Tịnh Giới Ba La Mật Đa (Śīlapāramitā) là: Thân Luân thanh tịnh, vì giống như Thể của hình tượng trong cái gương, bình đẳng, Ngữ Luân thanh tịnh, vì giống như Thể của âm tiếng vang dội lại, bình đẳng. Ý Luân thanh tịnh, vì rõ biết Tâm như Thể của huyễn, bình đẳng

Ba Luân (cảnh đã biết, trí hay biết, người hay biết) thanh tịnh của An Nhẫn Ba La Mật Đa (Kṣānti-pāramitā) là: lìa giận dữ (ly sân) thanh tịnh vì nhẫn chịu được sự thô ác gia thêm sự chửi mắng làm nhục, lìa yêu thích (ly ái) thanh tịnh, vì chặt đứt nhóm xưng tán, kính dưỡng. chặt đứt chi tiết (đoạn chi tiết) thanh tịnh, vì quán sát thân thể của Pháp không có hai.

Ba Luân (cảnh đã biết, trí hay biết, người hay biết) thanh tịnh của Tinh Tiến Ba La Mật Đa (Vīrya-pāramitā) là: không có công dụng thanh tịnh vì quán sát sinh tử giống như giấc mộng. Kiên Cố thanh tịnh vì Tâm như Kim Cương chẳng thể hoại. Lấy, bỏ (thủ xả) thanh tịnh, vì vượt qua các Tướng không có lấy, bỏ

Ba Luân (cảnh đã biết, trí hay biết, người hay biết) thanh tịnh của Tĩnh Lự Ba La Mật Đa (Dhyāna-pāramitā) là: Bản Tính thanh tịnh, vì Trí không có chuyển. Diệu Quán thanh tịnh, vì không có chấp dính. Nhân Duyên thanh tịnh, vì sinh ra Thần Thông.

Ba Luân (cảnh đã biết, trí hay biết, người hay biết) thanh tịnh của Phương Tiện Ba La Mật Đa (Upāya-pāramitā) là: Tài Nhiếp thanh tịnh, vì thành thục tất cả chúng sinh giới. Tổng Trì thanh tịnh, vì thọ trì tất cả Pháp Môn màu nhiệm. Đại Nguyện thanh tịnh, vì trang nghiêm mọi loại thanh tịnh cõi Phật.

_Bồ Tát lại có bảy loại Trí Tuệ Anh Lạc Trang Nghiêm. Ấy là: Trí Tuệ không có niệm, vì trụ ở lìa niệm bốn niệm trụ (Catvāri smṛty-upasthānāni). Trí không có sinh diệt, vì trụ Chính Đoạn (Samyak-prahāṇāni:chính cần). Thân Tâm vắng lặng, vì trụ Thần Túc (Ṛddhi-viṣaya-jñāna). Trí biết đủ Căn, vì trụ các căn. Tối phá bốn Ma, vì trụ các Lực (bala). Biết Bản Tính của Pháp, vì trụ bảy Giác (Saptabodhyaṅgāni:bảy Giác Chi). Trí biết đi lại, vì trụ tám Chính (Āryāṣṭāṅgikamārga:tám Thánh Đạo).

_Bồ Tát lại có tám loại Trí Tuệ Anh Lạc Trang Nghiêm là: Trí biết sự chính đúng màu nhiệm (diệu chính) vì nhập vào vắng lặng. Trí biết Quán sâu sa, vì không có che chướng. Trí biết các Uẩn vì tỏ ngộ Pháp Uẩn, Trí biết các Giới, vì trống rỗng (Śūnya:không) bình đẳng. Trí biết các Xứ vì hiểu rõ nhóm trống rỗng (không tụ). Trí biết Nhân Duyên vì trụ Vô Ngã. Trí biết Chân Đế vì Tâm không có loạn. Trí biết chán lìa vì như thật quán sát Pháp chân thật.

_Bồ Tát lại có chín loại Trí Tuệ Anh Lạc Trang Nghiêm. Thế nào là chín? Ấy là Trí biết quá khứ Tiền Tế (quá khứ) thanh tịnh. Trí biết vị lai Hậu Tế (vị lai) thanh tịnh. Trí biết hiện tại Trung Tế (hiện tại) thanh tịnh. Trí biết Chính Định, vì Nhân (hetu) không có diệt, Trí biết chẳng định, vì Duyên (Pratyaya) hòa hợp. Trí biết Tà Định, vì Tà Nghiệp thành. Trí bình đẳng của Phật (Buddha), vì Đức của Pháp Thân (Dharma-kāya). Trí bình đẳng của Pháp (Dharma), vì Pháp không có nhiễm. Trí bình đẳng của Tăng (Saṃgha:hợp chúng), vì Đức của Vô Vi (Asaṃskṛta). Đây gọi là chín.

Bồ Tát lại có mười loại Trí Tuệ Anh Lạc Trang Nghiêm. Nhóm nào là chín? Ấy là: Trí biết như huyễn, vì tướng gom chứa. Trí biết như giấc mộng, vì tướng phân biệt. Trí biết như đám lửa, vì tướng luân chuyển. Trí biết như hình tượng, vì chẳng qua lại. Trí biết như bóng ảnh, vì Nhân Duyên hợp. Trí biết như âm vang dội lại, vì tướng duyên khởi. Trí biết Pháp Giới, vì chẳng thể hoại. Trí biết Chân Như, vì tướng không có trụ. Trí biết Chân Tế, vì an nhiên trong sạch. Trí biết Hữu Vi, vì Tính của Vô Vi. Đây gọi là mười.

Thiện Nam Tử! Đây là mười loại Trí Tuệ Anh Lạc Trang Nghiêm của Bồ Tát.

_Này Thiện Nam Tử! Thế nào gọi là Đà La Ni Môn Anh Lạc Trang Nghiêm của tất cả Bồ Tát?

Thiện Nam Tử! Bồ Tát có một Đà La Ni Môn Anh Lạc Trang Nghiêm. Thế nào là một? Ấy là Chính Niệm chẳng quên.

Lại nữa, Thiện Nam Tử! Bồ Tát có hai Đà La Ni Môn Anh Lạc Trang Nghiêm là: Văn Trì, Nghĩa Trì.

Bồ Tát có ba Đà La Ni Môn Anh Lạc Trang Nghiêm là: Ở nghĩa khéo léo, ở Văn khéo léo, phân tích khéo léo.

Bồ Tát có bốn Đà La Ni Môn Anh Lạc Trang Nghiêm là: lời nói chẳng có dính mắc, lời nói chẳng ngọng nghịu thô kệch, lời nói êm tai rõ ràng, lời nói không có tạp loạn.

Bồ Tát có năm Đà La Ni Môn Anh Lạc Trang Nghiêm là: Biết nghĩa của chỗ đã nghe rồi tùy thuận thực hành. Biết các thân của văn rồi tùy thuận thực hành. Biết Kinh liễu nghĩa rồi tùy thuận thực hành. Biết âm thanh, Pháp Trí của Bổ Đặc Già La (Pudgala: cá nhân, chúng sinh) rồi tùy thuận thực hành. Biết các Pháp Thế Gian, Xuất Thế Gian rồi tùy thuận thực hành.

Bồ Tát có sáu Đà La Ni Môn Anh Lạc Trang Nghiêm là: Như Lý đã nói mà tu hành. Chứng Chân khởi nói, tùy nghi diễn. Chỗ đã nói thì chân thật xem xét rõ ràng, không có lừa dối. Lời nói thường có uy đức, chẳng buông bỏ Đại Bi nói Chính Pháp. Khéo biết căn khí, khéo hay diễn nói không có thêm bớt. Được Trí của Thế Gian, biết Thời mà nói chẳng phải chẳng đúng Thời (bất phi thời).

Bồ Tát có bảy Đà La Ni Môn Anh Lạc Trang Nghiêm. Ấy là: Biện luận mau chóng, biện luận lanh lợi, biện luận như Ý, biện luận không có dính mắc, biện luận có uy đức, biện luận không có sai lầm, biện luận tất cả sự màu nhiệm tối thượng của Thế Gian.

Bồ Tát có tám Đà La Ni Môn Anh Lạc Trang Nghiêm. Ấy là: khéo biết ngôn ngữ của chư Thiên, ngôn ngữ của Rồng, ngôn ngữ của Dạ Xoa, ngôn ngữ của Càn Thát Bà, ngôn ngữ của A Tu La, ngôn ngữ của Ca Lâu La, ngôn ngữ của Khẩn Na La, ngôn ngữ của Ma Hầu La Gia, Người, Phi Nhân cho đến tất cả chúng sinh.

Bồ Tát có chín Đà La Ni Môn Anh Lạc Trang Nghiêm. Nhóm nào là chín? Ấy là: ở trong Chúng không có sợ hãi. Phá vỡ các Dị Học (học thuyết khác), Nói Pháp không có sợ. Khéo trả lời sự vấn nạn. Biết nói rộng lớn. Biết nói tùy theo ý. Thực hành Hạnh ngay thẳng chính đúng hiển sức của Kim Cương. Hiện bày Kiếp Thiêu (hỏa tai của thời Hoại Kiếp) phá tưởng dính mắc vào Thường (Nitya). Nói Pháp của các Thừa (Yāna) thành tựu chúng sinh. Đây gọi là chín.

Bồ Tát có mười Đà La Ni Môn Anh Lạc Trang Nghiêm. Nhóm nào là mười? Ấy là: Khéo hay đoạn trừ tất cả nghi ngờ căn vặn (nghi nan). Khéo biết tất cả Pháp Môn rộng lớn. Khéo được Trí Tuệ tự nhiên không có Thầy. Khéo biết Pháp Môn câu chữ không có cùng tận. Khéo biết tất cả nghĩa sâu xa viên mãn. Khéo hay mở bày Phật Pháp vô biên. Khéo hay nói vô biên phiền não, lỗi lầm lo lắng (quá hoạn). Khéo biết vô lượng Môn giải thoát sâu xa. Khéo hay vào sâu Căn Tính của chúng sinh. Khéo vào

Trí Tuệ biện tài không có dính mắc, không có ngăn ngại của Như Lai. Đây gọi là mười.

Thiện Nam Tử! Đây gọi là Đà La Ni Môn Anh Lạc Trang Nghiêm của Bồ Tát.

 

KINH THỦ HỘ QUỐC GIỚI CHỦ ĐÀ LA NI

_QUYỂN THỨ BẢY (Hết)_

********

QUYỂN THỨ TÁM

ANH LẠC TRANG NGHIÊM CỦA BỒ TÁT PHẨM THỨ SÁU_CHI HAI

Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa của bốn Anh Lạc một lần nữa, nên nói Kệ rằng:

“_Bậc Đại Trí Tuệ: bốn Anh Lạc

Trang nghiêm Thừa tối thượng bậc nhất

Môn Tịnh Giới (Śīla), Tam Muội (Samādhi), Trí Tuệ (Prajña)

Chân Ngôn (Mantra) thắng diệu, quyết định nói

_Chúng sinh không sân (không giận dữ) đều yêu thích

Đóng bít tất cả của nẻo ác

Hay khiến kẻ Trí ở người, Trời

Giới viên mãn này làm Anh Lạc (Muktāhāra)

_Nghiệp thân, miệng, ý đều thanh tịnh

Hết thảy Nguyện muốn đều tròn đủ

Hạnh Chính Tinh Tiến (Samyag-vyāyāma) cầu bền chắc

Thể Anh Lạc Trang Nghiêm (Muktāhāra-vyūha) (của) Giới này

_Thành tựu Định (Samādhi), Tuệ (Prajña) với Giải Thoát (Vimukti)

Giải Thoát Tri Kiến (Vimukti-jñāna-darśana) cũng như thế

Với chứng Đại Niết Bàn (Mahā-nirvāṇa) vô thượng

Thể Anh Lạc Trang Nghiêm (Muktāhāra-vyūha) (của) Giới này

_Chẳng phá Thi La (Śīla): Giới thanh tịnh

Thuần tịnh không tạp với trong mát

Được Thân (Kāya) tự tại, Pháp cũng thế

Thể Anh Lạc Trang Nghiêm (Muktāhāra-vyūha) (của) Giới này

_Nếu được đủ nơi cho (Dāna: bố thí) thanh tịnh

An Nhẫn (Kṣānti), Tinh Tiến (Vīrya) cũng thanh tịnh

Các Môn Thiền (Dhyāna), Trí Tuệ (Prajña), Phương Tiện (Upāya)

Với Trí chẳng phóng dật thanh tịnh

_Bền chắc chẳng động, khéo an lập

Chứng Giáo (Śāstra) thâm sâu, Tâm chẳng lui

Xa lìa lười biếng, tu biết đủ (tri túc)

Thể Anh Lạc Trang Nghiêm (Muktāhāra-vyūha) (của) Giới này

_Bậc Thánh khen Giới, siêng tinh tiến

Người kia chẳng còn sinh ưu não (lo lắng bực dọc)

Mọi Thiện (Kuśala) đã làm, không Tâm hối (hối hận)

Đây Thể Trang Nghiêm của Tịnh Giới

_Ở Chúng (Saṃgha:hợp chúng) không sợ, không kinh hãi

Được cực quyết định, Tâm vắng lặng

Lao ngục ba cõi chẳng thể buộc (cột trói, ràng buộc)

Được Đại Danh Xưng, sức kham nhận

_Đã tự điều phục, biết Ý người

Đây nơi trang nghiêm của Tịnh Giới

Dùng các tướng tốt trang nghiêm thân

Tức Thể Trang Nghiêm của Tịnh Giới

_Như Thuyết mà hành, hay Tịnh Ngữ (nói chân thật)

Tức đầy đủ Trí, Ngữ trang nghiêm

Được Tâm trang nghiêm không phiền não

Tức là Anh Lạc của Tịnh Giới

_Đại Nguyện tối thắng, nghiêm cõi Phật

Thành tựu chúng sinh, Đệ Nhất Thừa (Tên gọi khác của Đại Thừa)

Chẳng làm tất cả Nhân (Hetu) nghiệp ác

Khiến nơi sinh ra đều nghiêm sức

_Học Phật hay nghiêm Bồ Tát Hạnh (Bodhisatva-caryā)

Căn lành hồi hướng, nghiêm Đạo Trường

Pháp Lực Vô Úy trang nghiêm hết

Cũng lại trang nghiêm Trí biến hóa

_Anh Lạc Từ Định (Maitra-samādhi) hay che khắp

Nhu hòa, chất trực (ngay thẳng chân thật), Trí đều tròn

Dứt hẳn Tâm huyễn ngụy dối lừa

Yêu (Tṛṣṇa), giận (Dveṣa), si (Moha), sợ (Vibhīṣaṇa)… không tùy chuyển

_Đoạn trừ năm Cái (Pañca-āvaraṇāni:ngũ cái, 5 sự chướng ngại) làm Anh Lạc

Siêng tu sáu Niệm (Ṣaḍ-anusmṛtayaḥ) chỗ trang nghiêm

Bảy Giác (Sapta-bodhyaṅgāni: bảy Bồ Đề Phần), tám Đạo (Āryāṣṭāṅgikamārga:tám Thánh Đạo) Tam Ma Đề (Samādhi: Định)

Chín thứ tự Định (Navānupūrva-samāpattayaḥ) thường tu tập

_Xứng Tính (Prakṛti) siêng tu nơi Chỉ (Śamatha), Quán (Vipaśyana)

Ưa trụ vắng lặng, suy nghĩ kỹ

Chính Niệm (Samyag-smṛti) chẳng dứt các căn lành

Được Chủng Tính Thánh (Ārya-gotra), Tâm tự tại

_Trí nơi các Pháp, không nghi hoặc

Hiện hành làm ác…dứt chẳng sinh

Vô Minh, si ám thảy đều trừ

Ở trong Đế Trí, chiếu sáng khắp

_Trí Khổ (Duḥkha-satya), Tập (Samudāya-satya), Diệt (Duḥkha-nirodhasatya), Đạo (Mārga-satya) thanh tịnh

Chẳng thể đắc, nên Tịnh Thi La (tịnh giới)

Vượt qua Niệm Tuệ, Thiền thanh tịnh

Hai tướng đều quên, tịnh giải thoát

_Trí thấy chẳng dính mắc ba đời

Pháp Uẩn (Dharma-skandha) thanh tịnh, thành không nhiễm

Cũng không hay niệm, Tâm thanh tịnh

Trí Tuệ trang nghiêm đều đầy đủ.

_Do y Trí Tuệ làm Anh Lạc

Hay tịnh ba luân nhóm Thí (Dāna), Giới (Śīla)

Dùng tướng không trụ, cho chúng sinh

Được ba Luân tịnh của Bố Thí

_Chúng sinh, Bồ Đề với chính mình

Biết như mộng huyễn, không chỗ cầu

Dùng Trí Tuệ, nên Giới (Śīla) trang nghiêm

Hay được ba Luân tịnh của Giới

_Thân, Ngữ, Tâm như Tượng (hình tượng) trong gương

Như Hưởng (âm vang dội lại) như huyễn, sạch không vết

Dùng Trí Tuệ, nên Nhẫn (Kṣānti) trang nghiêm

Ba Luân của Nhẫn, thanh tịnh hết

_Trí đạt không cao cũng không thấp

Thường quán Tịnh Diệu Chân Pháp Thân

Dùng Trí Tuệ, nên Cần (Vīrya: tinh tiến) trang nghiêm

Ba Luân của Tinh Tiến, thanh tịnh

_Tâm ấy nhậm vận, hay bền chắc

Không lấy, không bỏ, tướng đều không

Dùng Trí Tuệ, nên Định (Dhyāna:thiền định) trang nghiêm

Thiền Định liền được ba Luân tịnh

_Bản Tính quán sâu, nhân duyên tịnh

Không động, không dính, khởi Thần Thông

Dùng Trí Tuệ, nên Phương Tiện (Upāya) nghiêm

Ấy được ba luân, thanh tịnh hết

_Khéo nhiếp Chân Ngôn, Nguyện tinh tiến

Hóa sinh Diệu Pháp, cõi (Kṣetra: cõi nước) trang nghiêm

Thường trụ Niệm Xứ (Catvāri smṛty-upasthānāni: bốn Niệm Xứ), Tâm không niệm

Ở trong Chính Đoạn (Samyak-prahāṇāni), Tâm chẳng hai.

_Muốn siêng, Tâm quán đủ Thần Thông

Biết Căn Tính chúng sinh sai khác

An trụ các Lực (Bala) phá chúng Ma (Māra)

Chính Niệm hiểu biết các Pháp Tính (Dharmatā)

_Không đi, không đến, Đạo cũng thế

Đây tên Trí Tuệ Anh Lạc Nghiêm

Vào sâu Xa Ma Tha (Śamatha: thiền chỉ) vắng lặng

Tỳ Bát Xá Na (Vipaśyana: thiền quán) soi chiếu khắp (vô bất chiếu: không có gì chẳng soi chiếu được)

_Biết rõ Pháp Uẩn thành Uẩn Trí

Biết Giới bình đẳng như Hư Không

Các xứ, Không Tụ (nhóm trống rỗng) cũng khéo biết

Pháp vốn Vô Ngã (Anātman) nhân duyên khởi.

_Biết bốn Chân Đế không tán loạn

Quán Pháp chân thật, chán Thế Gian

Trí ba đời (tam tế trí) tịnh, Tâm không dính

Vì an chúng sinh, rõ ba Tụ (chính định tụ, tà định tụ, bất định tụ)

_Biết Thể Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng) đồng một tướng

Nơi Trí Anh Lạc đã trang nghiêm

Trí gom chứa tướng như huyễn thành

Phân biệt căn bản đều như mộng

_Luân chuyển không thật như dương diệm (dợn nước dưới ánh nắng)

Không đi, không lại (như) Thân trong gương (Kính tượng thân: Thân hiện hình tượng trong gương)

Nhân duyên hòa hợp như ảnh (cái bóng đi theo hình) sinh

Chỉ từ duyên khởi giống như hưởng (âm vang dội lại)

_Pháp Giới, Tính chân thường không hoại

Chân Đế (Paramārtha) không trụ, mới hay biết

Chân Tế lặng yên chẳng dao động

Hữu Vi (Saṃskṛta), Vô Vi (Asaṃskṛta) không hai Thể

_Trí sâu rộng này làm Anh Lạc

Trang nghiêm Bồ Tát, chứng Bồ Đề

Được niệm không quên Môn Tổng Trì

Nghĩa ngữ đã nghe, giữ không mất

_Nghĩa tất cả chữ, hiểu tinh tế

Khéo léo chia gỡ, Trí thường thông

Đều quên lời (ngữ) chấp dính, ngọng thô

Rõ Lý của Từ (lời văn) không thác loạn

_Tùy Pháp đã nghe, thường tìm nghĩa

Nơi văn đầy đủ, Trí siêu thắng

Y Kinh liễu nghĩa mà thực hành

Biết tướng vô ngã trong Pháp Thể

_Khéo biết Thế Pháp (Loka-dharma, hau Laukika-dharma) Xuất Thế Pháp (Lokottara-dharma)

Đều là nơi Tổng Trì (Dhāraṇī) trang nghiêm

Tùy Chân Đế chuyển, như Thuyết hành

Biết Thời (Kāla) nói Pháp, người kính nhận.

_Người nói Pháp này không lầm lỗi

Thuận Thời không khuyết, Tâm không hối (hối hận)

Đắc được Diệu Biện Tài mau chóng

Lanh lợi như Ý, không chỗ dính

_Cụ Đức (bậc có đầy đủ Đức) không lầm, khéo phân tích

Như vòng trang sức khéo trang nghiêm

Khéo biết ngữ ngôn của Trời (Deva), Rồng (Nāga)

Dạ Xoa (Yakṣa), Càn Thát (Gandharva), A Tô Lạc (Asura)

Nhóm Ca Lâu (Garuḍa), Khẩn Na (Kiṃnara), Ma Hầu (Mahoraga)

Ngữ ngôn của tất cả chúng sinh

Chúng (Saṃgha) không sợ, như Ngưu Vương (Ṛṣabha)

Phá các Ngoại Đạo như Hương Tượng (Gandha-hastin, hay gandha-gaja: con voi lớn tỏa ra mùi thơm)

_Nói Pháp không sợ, như Sư Tử (Siṃha)

Căn vặn đều đáp như suối chảy

Nói Pháp rộng lớn phá núi Mạn (Māna: ngạo mạn)

Tùy Tâm ưa nói đều như Ý

_Hung ác, hiện bày tượng Kim Cương

Kiếp Hỏa (Kalpāgni) thiêu đốt Tâm năm Dục

Tùy Cơ đã thích, nói ba Thừa

Nghĩa, Phi Nghĩa này đều quyết rõ

_Hiển bày giác ngộ, Pháp rộng lớn

Trí tự nhiên hiện, chẳng từ Thầy

Nói chữ không tận, Trí không sót

Hiểu nghĩa nhỏ nhiệm đều viên mãn.

_Nói các Phật Pháp không bờ mé

Như lỗi phiền não cũng vô biên

Công Đức giải thoát khó xưng lường

Biết căn chúng sinh tận cùng khắp.

_Được điều Phật nói, bốn Vô Úy

Anh Lạc bí mật làm trang nghiêm

Các Anh Lạc ấy trang nghiêm Thân

Đã nói, chưa nói các Công Đức

Lại siêng năng trải qua nhiều Kiếp

Công Đức có được, chẳng cùng tận”

Khi ấy, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát nghe Pháp này xong, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay cung kính, đỉnh lễ bàn chân của Đức Phật, rồi bạch Phật rằng: “Hiếm có! Bạch Đức Thế Tôn! Đức Phật ra khỏi Thế Gian, nói Pháp màu nhiệm thù thắng, nhiễu chỗ lợi lạc cho tất cả chúng sinh, đều xứng với Căn Tính khiến cho họ vui vẻ, ở đời vị lai hay sinh tất cả căn lành của Bồ Tát, hay khiến cho tất cả người mới phát Tâm, sinh Tâm thanh tịnh, hướng đến Bồ Đề, thực hành Đạo Nhất Thừa (Eka-yāna), được chẳng chuyển lùi, thọ nhận Quán Đỉnh (Abhiṣeka) của Phật. Tức ở đời này được Bồ Đề Phần (Bodhyaṅgāni), một đời sẽ chứng Vô Thượng Bồ Đề (Agra-bodhi), hiển Nhân (Hetu) Quả (Phala) của Bồ Tát này chẳng diệt. Vì chúng sinh Chính Định nói Nhân (hetu) ấy, vì chúng sinh Tà Định hiện bày Đại Bi lâu dài khiến cho hướng vào, chúng sinh Bất Định đều tùy theo sự sai biệt của Tâm ấy mà an nơi chốn, người ưa thích ba Thừa đều tùy theo Căn ấy khiến cho Nguyện mãn túc… cho đến hàng Trời, Người, A Tu La đều khiến trang nghiêm. Tại sao thế? Nếu Đức Phật ra đời, tức mọi loại Pháp kỳ đặc hiếm có của nhóm như vậy thảy đều hiện ra chúng Đại Bồ Tát, tòa báu, trướng báu, mọi loại cây báu vi diệu trang nghiêm Đại Hội Đạo Trường thảy đều hiện ra. Tất cả Thanh Văn với Bích Chi Phật ở trăm ngàn Kiếp chẳng thể nghĩ lường được, huống chi là hay hiển bày.

Thế Tôn! Như con chỉ nghĩ, chúng sinh không có Trí rất là đáng thương! Đức Phật nói Đại Thừa thâm sâu như vậy, hiển bày Đạo Trường đặc biệt kỳ lạ như vậy thì chẳng thể phát khởi Tâm Đại Bồ Đề, mà ngược lại mong cầu Niết Bàn của Nhị Thừa, sự an vui của Người Trời, nên thật đáng thương. Tại sao thế? Vì Bồ Tát mới phát Tâm Bồ Đề thì Công Đức có được nhiều vô lượng vô biên, tất cả Nhị Thừa chẳng thể đếm kịp

Thế Tốn Ví như có người vứt bỏ báu Phệ Lưu Ly vô giá, rồi lấy viên ngọc Lưu Ly hư giả. Tất cả chúng sinh cũng lại như vậy, vứt bỏ Đại Thừa, rồi tìm cầu Bồ Đề của Thanh Văn Duyên Giác, sự an vui của Người Trời.

Thế Tốn Nếu nhóm kẻ trai lành, người nữ thiện nghe Pháp Môn này, hoặc đã phát khởi Tâm Đại Bồ Đề, hoặc đang phát khởi thì chẳng lâu đều được Vô Thượng Bồ Đề với viên mãn đầy đủ Công Đức thù thắng đã nói”

Lúc nói Pháp Môn Anh Lạc này thời ở trong Hội, ba mươi câu chi na do tha trăm ngàn chúng sinh đều phát Tâm A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề (Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác).

 

ĐẠI QUANG PHỔ CHIẾU TRANG NGHIÊM PHẨM THỨ BẢY

_Bấy giờ, Đức Thế Tôn quán khắp Đại Chúng: Bồ Tát, Người, Trời… biết họ đối với sự sâu xa của Pháp, sinh Tâm khát ngưỡng chưa đầy đủ, nên bảo Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát rằng: “Thiện Nam Tử! Bồ Tát Ma Ha Tát có tám loại Pháp Môn Đại Quang Phổ Chiếu Trang Nghiêm. Do ánh sáng ấy chiếu soi, cho nên Tâm mở hiểu rõ, xa lìa ngu ám, dùng sự trang nghiêm của Đại Trượng Phu Bồ Tát mà trang nghiêm thân ấy, tu Hạnh Bồ Tát với an chúng sinh. Ở trong Hạnh (Caryā) này thì nhóm nào là tám? Ấy là: Niệm Quang Phổ Chiếu, Ý Quang Phổ Chiếu, Giải Quang Phổ Chiếu, Pháp Quang Phổ Chiếu, Trí Quang Phổ Chiếu, Đế Quang Phổ Chiếu, Thần Thông Quang Phổ Chiếu, Tu Hành Quang Phổ Chiếu. Đây là tám loại Quang Chiếu trang nghiêm

Này Thiện Nam Tử! Thế nào gọi là Niệm Quang Phổ Chiếu (ánh sáng của Niệm soi chiếu khắp)?

Thiện Nam Tử! Bồ Tát có tám Niệm Quang Phổ Chiếu Trang Nghiêm (ánh sáng của Niệm soi chiếu trang nghiêm khắp). Thế nào là tám? Ấy là:

Một là: nghĩ nhớ khắp điều Thiện (Kuśala) thường chẳng quên mất.

Hai là: Đã tu căn lành thì nên khiến cho tăng trưởng

Ba là: Tùy theo Pháp đã nghe được, nhớ giữ chẳng quên

Bốn là: đối với nghĩa thâm sâu, hiểu rõ tinh tế

Năm là: Tâm ấy chẳng tùy theo sáu Trần Cảnh chuyển

Sáu là: Luôn dùng Chính Niệm thụ hộ Căn Môn

Bảy là: Vì chặt đứt tất cả Pháp bất Thiện (Akuśala_dharma), vì khiến cho Pháp Thiện (Kuśala-dharma) được viên mãn cho nên thường niệm chư Phật.

Tám là: Vì muốn thủ hộ các cái thành của Phật Pháp, niệm là con đường trước tiên được ánh sáng lớn

Thiện Nam Tử! Đây gọi là tám loại Niệm Quang Phổ Chiếu Trang Nghiêm của Bồ Tát.

_Này Thiện Nam Tử! Bồ Tát có tám Ý Quang Phổ Chiếu Trang Nghiêm (Ánh sáng của Ý soi chiếu trang nghiêm khắp). Thế nào là tám? Ấy là:

Y vào Ý của nghĩa, chẳng y theo Ý của lời nói.

Y vào Ý của Trí, chẳng y theo Ý của Thức.

Y vào Ý của Pháp, chẳng y theo Ý của phiền não.

Y vào Ý của Lý, chẳng y theo Ý của Phi Lý.

Y vào Ý của Tâm Bồ Đề, chẳng y theo Ý của Nhị Thừa. Y vào Ý rộng lớn, chẳng y theo Ý hạn hẹp

Y vào Ý của Phật, chẳng y theo Ý của chúng Ma.

Y vào Ý của Đại Bi, chẳng y theo Ý tổn hại chúng sinh.

Đây gọi là tám loại Ý Quang Phổ Chiếu Trang Nghiêm của Bồ Tát.

_Này Thiện Nam Tử! Bồ Tát có tám Giải Quang Phổ Chiếu Trang Nghiêm (Ánh sáng của sự hiểu biết soi chiếu trang nghiêm khắp) hay biết các Pháp. Nhóm nào là tám? Ấy là:

Biết tất cả Pháp.

Biết Hạnh của chúng sinh.

Biết Tâm của chúng sinh.

Biết bốn vô ngại.

Biết Thể Tính của Pháp vốn có ánh sáng.

Biết Pháp trang nghiêm rộng lớn.

Biết nơi Pháp liễu nghĩa, chẳng liễu nghĩa.

Biết Pháp màu nhiệm sâu rộng của tất cả Phật.

Đây gọi là tám loại Giải Quang Phổ Chiếu Trang Nghiêm của Bồ Tát.

_Này Thiện Nam Tử! Bồ Tát có tám Pháp Quang Phổ Chiếu Trang Nghiêm (Ánh sáng của Pháp soi chiếu trang nghiêm khắp). Thế nào là tám? Ấy là:

Ánh sáng của Pháp Thế Gian soi chiếu trang nghiêm, nói các nghiệp mà chúng sinh đã gây tạo

Ánh sáng của Pháp Xuất Thế Gian soi chiếu trang nghiêm, vì cầu giải thoát các hàng chúng sinh, nên nói Bát Nhã

Ánh sáng của Pháp không có qua nhiễm soi chiếu trang nghiêm, nên tu tập Diệu Trí với Thánh Đạo

Ánh sáng của Pháp không có phiền não soi chiếu trang nghiêm, nên chẳng khởi Dục Hữu (cõi Dục) Vô Minh Kiến (Vô Minh chẳng rõ sự lý, chấp vào mọi loại Tà Kiến)

Vì ánh sáng của Pháp Vô Vi soi chiếu trang nghiêm, nên Vô Tác Giải Thoát (tức Vô Nguyện Giải Thoát) thường hiện trước mặt

Ánh sáng của Pháp phiền não của Thánh soi chiếu trang nghiêm, nên quán sát tướng Khách Trần phiền não

Ánh sáng của Pháp không có phiền não soi chiếu trang nghiêm, nên biết ánh sáng trong sạch thuộc Bản Tính của Tâm

Ánh sáng của Pháp Đại Niết Bàn soi chiếu trang nghiêm, nên biết tất cả Pháp vốn tịch diệt

Đây là tám loại Pháp Quang Phổ Chiếu Trang Nghiêm của Bồ Tát.

_Này Thiện Nam Tử! Bồ Tát có tám Trí Quang Phổ Chiếu Trang Nghiêm (Ánh sáng của Trí soi chiếu trang nghiêm khắp). Nhóm nào là tám? Ấy là:

Ánh sáng Trí của tám người (tám người thuộc bốn Hướng, bốn Quả) soi chiếu trang nghiêm

Ánh sáng Trí của Tu Đà Hoàn (Śrotāpanna) soi chiếu trang nghiêm

Ánh sáng Trí của Tư Đà Hàm (Sukṛtāgami) soi chiếu trang nghiêm

Ánh sáng Trí của A Na Hàm (Anāgami) soi chiếu trang nghiêm

Ánh sáng Trí của A La Hán (Arhat) soi chiếu trang nghiêm

Ánh sáng Trí của Bích Chi Phật (Prartyeka-buddha) soi chiếu trang nghiêm

Ánh sáng Trí của các Bồ Tát (Bodhisatvānāṃ) soi chiếu trang nghiêm

Ánh sáng Trí Bồ Đề của Phật (Buddha) soi chiếu trang nghiêm

Đây gọi là tám loại Trí Quang Phổ Chiếu Trang Nghiêm của Bồ Tát.

_Này Thiện Nam Tử! Bồ Tát có tám Đế Quang Phổ Chiếu Trang Nghiêm (Ánh sáng của sự chân thật không có sai lầm (đế) soi chiếu trang nghiêm khắp). Nhóm nào là tám? Ấy là:

Tu tập Chân Đế (Paramārtha) hay được Giải Thoát Hiện Tiền Giác. Đây là Đế Quang Phổ Chiếu Trang Nghiêm thứ nhất của Bồ Tát

Tu tập Chân Đế (Paramārtha) được Tu Đà Hoàn. Đây là Quang Chiếu Trang Nghiêm thứ hai

Tu tập Chân Đế (Paramārtha) được Tư Đà Hàm. Đây là Quang Chiếu Trang Nghiêm thứ ba

Tu tập Chân Đế (Paramārtha) được A Na Hàm. Đây là Quang Chiếu Trang Nghiêm thứ tư

Tu tập Chân Đế (Paramārtha) được A La Hán. Đây là Quang Chiếu Trang Nghiêm thứ năm

Tu tập Chân Đế (Paramārtha) được Bích Chi Phật. Đây là Quang Chiếu Trang Nghiêm thứ sáu

Tu tập Chân Đế (Paramārtha) được Nhẫn (Kṣānti) của Bồ Tát. Đây là Quang Chiếu Trang Nghiêm thứ bảy

Tu tập Chân Đế (Paramārtha) tỏ ngộ Bồ Đề (Bodhi) của Phật. Đây là Quang  Chiếu Trang Nghiêm thứ tám

Đây gọi là tám loại Đế Quang Phổ Chiếu Trang Nghiêm của Bồ Tát.

_Này Thiện Nam Tử! Bồ Tát có tám Thần Thông Đại Quang Phổ Chiếu Trang Nghiêm (Ánh sáng lớn của Thần Thông soi chiếu trang nghiêm khắp). Nhóm nào là tám? Ấy là:

Ánh sáng lớn của hào quang (quang minh) soi chiếu trang nghiêm khắp, nên

Thiên Nhãn (Devya-cakṣu) nhìn thấy hết mọi loại hình sắc

Ánh sáng của Trí Tuệ tinh tế soi chiếu trang nghiêm, nên Thiên Nhĩ (Devyaśrotra) từ xa nghe được mọi loại Pháp

Ánh sáng của tùy thuận Chính Niệm soi chiếu trang nghiêm, nên nghĩ nhớ được việc của đời trước trong vô lượng Kiếp quá khứ

Ánh sáng Trí Tuệ của Bản Tính soi chiếu trang nghiêm, nên tinh tế quán sát Tâm của chúng sinh.

Ánh sáng của sự biết Tính của Hư Không không có chướng ngại soi chiếu trang nghiêm, nên tự tại đi trong vô biên loại cõi nước.

Ánh sáng của Trí Tuệ thanh tịnh soi chiếu trang nghiêm, nên được viên mãn Trí không có phiền não.

Ánh sáng của nhóm Phước Đức lớn soi chiếu trang nghiêm, nên nhớ nuôi nấng yêu thương giúp đỡ các chúng sinh.

Ánh sáng của nhóm Đại Trí Tuệ soi chiếu trang nghiêm, nên chặt đứt mọi loại nghi ngờ của chúng sinh.

Đây gọi là tám loại Thần Thông Quang Phổ Chiếu Trang Nghiêm của Bồ Tát.

_Này Thiện Nam Tử! Bồ Tát có chín Nhân (Hetu) tu hành được ánh sáng soi chiếu trang nghiêm. Nhóm nào là chín? Ấy là:

Từ Nhân tu hành được ánh sáng Trí soi chiếu, dùng để trang nghiêm

Từ Nhân tu hành được ở ánh sáng Bát Nhã soi chiếu trang nghiêm

Từ Nhân tu hành được ở ánh sáng Giác Ngộ soi chiếu trang nghiêm

Từ Nhân tu hành được ở ánh sáng Chính Kiến soi chiếu trang nghiêm

Từ Nhân tu hành được ở ánh sáng Xa Ma Tha (Śamatha:Thiền Chỉ) soi chiếu trang nghiêm

Từ Nhân tu hành được ở ánh sáng của Quán màu nhiệm sâu xa soi chiếu trang ng

Từ Nhân tu hành được ở ánh sáng biết Tâm người khác soi chiếu trang nghiêm

Từ Nhân tu hành được ở ánh sáng của chẳng động lui với Chính Giải Thoát soi chiếu trang nghiêm

Từ Nhân tu hành được ở ánh sáng cực cứu cánh soi chiếu trang nghiêm

Đây gọi là chín Nhân tu hành của Bồ Tát, được ánh sáng chiếu khắp, dùng để trang nghiêm

Khi ấy, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa này một lần nữa, nên nói Kệ là:

“_Tịnh Nghiệp đời quá khứ

Lợi sinh, nhớ chẳng quên

Định, Tuệ gom căn lành

Làm vật đều hồi hướng

_Tùy nghe, nghĩ nhớ đúng

Nghĩa sâu, biết tinh tế

Chính Niệm giữ Căn Môn

Trần Cảnh an nhiên tịnh

_Chẳng nên làm Pháp ác

Cần phải tu Pháp Thiện

Viên mãn nhớ trang nghiêm

Tự được Phật gia hộ.

_Pháp thành, hay khéo giữ

Thắng Pháp lợi chúng sinh

Lìa ám, tròn Tuệ Quang (ánh sáng Tuệ)

Hay lợi chúng Trời Người

_Được Niệm Quang này chiếu

Thảy đều trừ nghi hoặc

Tự nhiên trong Niệm Trí

Mau chứng Quả Bồ Đề

_Dùng nghĩa trang nghiêm Ý

Chẳng tùy tiếng với văn

Y Trí, thanh tịnh tu

Chẳng y Thức phân biệt.

_Pháp Trí trang nghiêm Ý

Phá Hoặc (phiền não) lìa ngu si Bát Nhã

Giáo Trí tròn Bồ Đề không thác loạn.

_Cầu Ý Thắng Bồ Đề

Chẳng tạp ở Nhị Thừa

Tâm rộng lớn không kém

Thuận: Phật, ngược: Ma dạy

_Đại Bi trang nghiêm Ý

Chẳng cáu giận chúng sinh

Pháp đã biết, không nghi

Chẳng liễu nghĩa, khéo léo

_Biết chúng sinh không sợ

Trí không ngại (vô ngại trí) vô biên

Người làm (tác giả) xưa nay rỗng (Śūnya: không)

Rõ Pháp, nhân duyên khởi

_Khéo léo nói rộng lớn

Môn Thắng Yếu thâm sâu

Các Phật Pháp vô biên

Hiểu rõ đều cùng tận

_Dùng Thế Pháp Quang (ánh sáng Pháp của đời) chiếu

Ắt biết nghiệp chúng sinh

Ánh sáng Pháp Xuất Thế

Bát Nhã, tướng hư không

_Có lỗi với không lỗi

Trí tự tại đều biết

Trí hợp Thánh Đạo tu

Lợi vật đều gặt quả

_Hữu Lậu với Vô Lậu

Ánh sáng Pháp biết hết (vô bất tri: không có gì chẳng biết)

Chặt hẳn nguồn phiền não

Hay làm lợi Người, Trời

_Pháp Hữu Vi, Vô Vi

Trí Tuệ thường thuận biết

Cấu Uế thảy đều không

Các Hạnh được quyết định

_Xa lìa Pháp sinh tử

Trí không ngại (vô ngại trí) thường hành

Biết nguồn gốc phiền não

Tính (Prakṛti): Thể ánh sáng sạch

_Pháp Niết Bàn giải thoát

Sinh khởi xưa nay như (tathā)

Vô biên ánh sáng Pháp

Trang nghiêm Thể Đại Thừa

_Người thứ tám (?tám hạng người trong 4 Hướng 4 Quả), Trí khác (tha trí)

Tu Đà Hoàn cũng thế

Cùng với Tư Đà Hàm

A Na Hàm cũng vậy

La Hán, Bích Chi Phật

Bồ Tát với Như Lai

Trí ở trong Pháp này

Mỗi mỗi đều tùy chuyển.

_Đế Quang chiếu đầy đủ

Cúng mạnh khéo tu hành

Nương Nhân (Hetu) được Quả (Phala) tròn

Chẳng biến (thay đổi, biến đổi) Nghĩa chân thắng

_Tu tập các Thánh Đế

Vào Giải Thoát Quả Môn

Bốn Quả thứ tự thành

Duyên Giác, Bồ Tát Nhẫn

_Hay phá các Đạo khác

Giống như vua Sư Tử

Giác Ngộ Phật Bồ Đề

Đều do Đế Quang chiếu

_Thần Thông Thiên Nhãn thấy

Sắc nhỏ nhiệm không sót

Thiên Nhĩ nghe rõ ràng

Tiếng mười phương, rõ khắp

_Nhớ na do Kiếp xưa

Pháp Giới, các Như Lai

Khéo biết Tâm chúng sinh

Tự nhiên Trí Quang chiếu

_Tự tại dạo các cõi

Trí Quang chiếu không sót

Sắc tướng như hư không

Vô Lậu Quang nghiêm Thể

 

_Đầy đủ Phước vô biên

Nuôi khắp các chúng sinh

Trí không dính (vô trước trí), trang nghiêm

Chặt lưới nghi hữu tình

_Nhân tu được Trí Tuệ

Giác Ngộ, biện vô biên

Thấy đúng (chính kiến) Tâm Chỉ (Śamatha), Quán (Vipaśyana)

Rốt ráo mé vô biên

_Biết Giáo (śāstra), hành đầy đủ

Tâm niệm, Pháp, Trí tròn

Đế Quang với Thần Thông

Pháp Quang Chiếu Trang Nghiêm

_Tám loại đều thanh tịnh

Đại Uy Đức Quang này

Tuy chưa được Bồ Đề

Hay làm các việc Phật”

Lúc đó, Đức Thế Tôn nói Pháp Thần Thông Đại Quang Phổ Chiếu Trang Nghiêm này xong thời các Bồ Tát đi đến từ cõi Phật ở mười phương với các Người, Trời, Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di dùng mọi loại cúng dường, cung kính lễ bái. Vô lượng vô số vô biên chúng sinh đều phát Tâm A Nậu Đa La Tam Miểu Tam Bồ Đề (Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác), vô lượng Bồ Tát được Vô Sinh Pháp Nhẫn.

 

BÁT NHÃ CĂN BẢN SỰ NGHIỆP TRANG NGHIÊM PHẨM THỨ TÁM

Lúc đó, trong Hội có một vị Bồ Tát tên là Bát Nhã Phong (Prajña-kūṭa) nương theo Thần Lực của Đức Phật, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trật áo hở vai phải, lễ hai bàn chân của Đức Phật, quỳ gối phải sát đất, cung kính chắp tay, rồi bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Như Đức Phật đã nói Môn Hồi Hướng Trang Nghiêm Đà La Ni của các Đại Bồ

Tát, sự nghiệp Đại Bi của chư Phật Bồ Tát, Pháp Môn Anh Lạc Đại Quang Phổ Chiếu Trang Nghiêm của Bồ Tát. Làm sao tu được tất cả Pháp ấy? Dùng Pháp nào để làm căn bản (Mūla)? Làm sao được rồi thì vĩnh viễn chẳng quên mất, nhớ yêu thương giúp đỡ (Maitra-smṛti:từ niệm), nuôi nấng tất cả chúng sinh?

Khi ấy, Đức Thế Tôn bảo Bát Nhã Phong Bồ Tát Ma Ha Tát rằng: “Thiện Nam Tử! Bồ Tát hiện tại hay đối với căn bản của Bát Nhã thâm sâu (Gaṃbhīra-prajña:Trí Tuệ thâm sâu) an trụ chẳng động với hay làm sự nghiệp của Bát Nhã, liền được Hồi Hướng Tổng Trì như lúc trước, cho đến Công Đức của Quang Chiếu Trang

Nghiêm. Được xong chẳng quên, tức là nơi sinh trưởng nuôi nấng tất cả chúng sinh Thời Bát Nhã Phong Bồ Tát lại bạch Phật rằng: “Lành thay Thế Tôn! Nguyện vì con nói. Thế nào gọi là căn bản của Bát Nhã? Thế nào gọi là sự nghiệp của Bát  Nhã?”

Đức Phật nói: “Này Thiện Nam Tử! Hãy nghe cho kỹ! Hãy nghe cho kỹ! Hãy khéo nghĩ nhớ! Ta sẽ vì ông phân biệt giải nói.

Thiện Nam Tử! Căn Bản của Bát Nhã hay sinh ra Bát Nhã (Prajña: trí tuệ), tức là mẹ của Bát Nhã (Prajña-mātṛ: Bát Nhã Mẫu). Sự nghiệp của Bát Nhã tức là chỗ đã được sinh ra (sở sinh)

Thiện Nam Tử! Nếu các Bồ Tát nghe được tất cả Pháp Môn chưa được nghe, tức là mẹ của Bát Nhã Căn Bản. Như chỗ đã được nghe ấy, rộng vì người khác nói, tức là sự nghiệp mà Bát Nhã đã tạo làm.

Tùy theo Pháp đã được nghe, xem xét suy nghĩ kỹ lưỡng, tức là mẹ của Bát Nhã Căn Bản. Nếu suy nghĩ xong, vì người khác hiển bày, tức là sự nghiệp mà Bát Nhã đã tạo làm.

Chính Niệm quán sát là mẹ của Bát Nhã. An trí chúng sinh ở trong Chính Niệm là Nghiệp của Bát Nhã

Chỗ làm tinh tiến là mẹ của Bát Nhã. Lúc tu hành chính đúng là nghiệp của Bát Nhã

Tự Tâm sáng tỏ là mẹ của Bát Nhã. Hiển bày cho người khác là nghiệp của Bát Nhã

Ưa thích trụ vắng lặng là mẹ của Bát Nhã. Biến vốn vắng lặng là nghiệp của Bát Nhã

Ưa thích ở một mình là mẹ của Bát Nhã. Một đường lối thanh tịnh là nghiệp của Bát Nhã.

Tu hành Diệu Quán (Pratyave-kṣaṇa) là mẹ của Bát Nhã. Được Tuệ Giải Thoát (Prajñā-vimukti) là nghiệp của Bát Nhã.

Tu ba Giải Thoát Môn (Trīṇi-vimokṣa-mukhāni: gồm có Không Môn, Vô Tướng Môn, Vô Nguyện Môn) là mẹ của Bát Nhã. Ba Trí hiện tiền là nghiệp của Bát Nhã

Tu tập Niệm Xứ (Smṛty-upasthāna) là mẹ của Bát Nhã. Lìa niệm thanh tịnh là nghiệp của Bát Nhã

Tu tập Chính Đoạn (Samyak-prahāṇāni:chính cần) là mẹ của Bát Nhã. Biết Pháp Tính Đoạn (Dharmatā-prahāṇāni) là nghiệp của Bát Nhã

Tu tập Thần Túc (Ṛddhi-viṣaya-jñāna) là mẹ của Bát Nhã. Vô Công Dụng Hạnh (chỉ Trí thuần thục không có phân biệt của Bồ Tát ở Bất Động Địa, Thiện Tuệ Địa, Pháp Vân Địa) là nghiệp của Bát Nhã

Hay tin Nhân Duyên (Hetu-pratyaya) là mẹ của Bát Nhã. Vượt qua các sự dính mắc là nghiệp của Bát Nhã.

Tinh ròng không có tạp là mẹ của Bát Nhã. Thân Tâm an vui là nghiệp của Bát Nhã.

Thường niệm Pháp tốt lành (Kuśala-dharma:thiện pháp) là mẹ của Bát Nhã. Chẳng trụ tướng niệm là nghiệp của Bát Nhã.

Biết thứ tự Định (Samādhi) là mẹ của Bát Nhã. Được Đẳng Dẫn (Samāhita) của Tính (Prakṛti) là nghiệp của Bát Nhã

Tu tập căn lành là mẹ của Bát Nhã. Khéo biết quá khứ triển chuyển Căn Tính là nghiệp của Bát Nhã.

Trụ chắc ở năm Lực (Pañca-balāni: gồm có Tín Lực, Tinh Tiến Lực, Niệm Lực, Định Lực, Tuệ Lực) là mẹ của Bát Nhã. Hay phá vỡ các Ma (Māra) là nghiệp của Bát Nhã

Thuận nhẫn theo Pháp bảy loại Bồ Đề Phần (Sapta-bodhyaṅgāni) là mẹ của Bát Nhã. Biết các Pháp Tính (Dharmatā) tùy thuận giác ngộ là nghiệp của Bát Nhã Tập Thánh Đạo Phần (Āryāṣṭāṅgika-mārga:tám Thánh Đạo) là mẹ của Bát Nhã. Biết như kết bè vượt qua sông (phiệt dụ) đã tỏ ngộ Pháp Thể (Dharmasvabhāva: thể tính của các Pháp) chẳng trụ ở Pháp (Dharma) cùng với Phi Pháp (Adharma) là nghiệp của Bát Nhã

Khéo hay tu hành Khổ, Tập, Diệt, Đạo là mẹ của Bát Nhã. Diệt Đế (Duḥkhanirodha-satya) hiện tiền là nghiệp của Bát Nhã

Quán sát nhỏ nhiệm tinh tế Kinh chẳng liễu nghĩa là mẹ của Bát Nhã. Y theo Kinh liễu nghĩa tùy thuận tu hành là nghiệp của Bát Nhã.

Tùy theo Pháp đã được nghe, tổng trì chẳng quên là mẹ của Bát Nhã. Tùy theo nghĩa tu hành là nghiệp của Bát Nhã

Y theo Trí quán sát là mẹ của Bát Nhã. Tùy thuận Trí thực hành là nghiệp của Bát Nhã

Chẳng chấp Ta, Người là mẹ của Bát Nhã. Y theo Pháp tu hành là nghiệp của Bát Nhã

Quán sát các Pháp thảy đều không có thường (Anitya:vô thường) là mẹ của Bát Nhã. Biết tất cả Pháp vốn chẳng sinh diệt là nghiệp của Bát Nhã

Quán sát các lưu chuyển tạo ứng (Saṃskāra:hành) thảy đều là Khổ (Duḥkha) là mẹ của Bát Nhã. Rõ tất cả Pháp vốn không có lưu chuyển tạo ứng (hành) là nghiệp của Bát Nhã

Quán sát nhỏ nhiệm tinh tế các Pháp không có cái Ta (Anātman:vô ngã) là mẹ của Bát Nhã. Biết các chúng sinh vốn có Trí thanh tịnh là nghiệp của Bát Nhã.

Quán sát nhỏ nhiệm tinh tế Niết Bàn vắng lặng là mẹ của Bát Nhã. Biết tất cả Pháp vốn tự Niết Bàn là nghiệp của Bát Nhã.

Nghe nghĩa thâm sâu, Tâm chẳng kinh sợ là mẹ của Bát Nhã. Được nghĩa không có ngăn ngại là nghiệp của Bát Nhã.

Nghe Thắng Nghĩa Đế, Tâm chẳng kinh sợ là mẹ của Bát Nhã. Được Pháp không có ngăn ngại là nghiệp của Bát Nhã.

Nghe ngôn từ màu nhiệm, phân tích nghĩa của câu mà Tâm chẳng kinh sợ là mẹ của Bát Nhã. Được Từ (lời văn) không có ngăn ngại là nghiệp của Bát Nhã.

Nghe Biện Tài của Phật mà chẳng kinh sợ là mẹ của Bát Nhã. Được Biện (biện bác, biện luận) không có ngăn ngại là nghiệp của Bát Nhã.

Nhân vào chúng sinh với Pháp duyên theo Từ (Maitra:Yêu thương giúp đỡ) là mẹ của Bát Nhã. Không có Duyên mà yêu thương giúp đỡ (Maitra:từ) là nghiệp của Bát Nhã

ta người thương xót (Kāruṇa: bi) là mẹ của Bát Nhã. Xa lìa hai loại ta người thì Đại Bi (Mahā-kāruṇa) là nghiệp của Bát Nhã.

Suy nghĩ Pháp Hỷ là mẹ của Bát Nhã. Không lấy không bỏ là nghiệp của Bát Nhã

Lìa Tham (Lobha) Sân (Dveṣa) mà buông bỏ (Upekṣa:xả) là mẹ của Bát Nhã. Không có hai loại buông bỏ là nghiệp của Bát Nhã

Thường niệm chư Phật là mẹ của Bát Nhã. Hiểu rõ Pháp Thân (Dharma-kāya) là nghiệp của Bát Nhã.

Thường niệm nơi Pháp là mẹ của Bát Nhã. Ở Pháp không có nhiễm là nghiệp của Bát Nhã.

Chuyên Tâm niệm Tăng là mẹ của Bát Nhã. Quán Tính Vô Vi là nghiệp của Bát Nhã.

Thường niệm nơi buông bỏ là mẹ của Bát Nhã. Buông bỏ các phiền não (Kleśa) là nghiệp của Bát Nhã.

Thường niệm Tịnh Giới là mẹ của Bát Nhã. Biết Giới không có hành (vô hành giới) là nghiệp của Bát Nhã.

Thường niệm nơi chư Thiên là mẹ của Bát Nhã. Pháp Thể thanh tịnh là nghiệp của Bát Nhã.

Đầy đủ Đa Văn (Bahu-śruta) là mẹ của Bát Nhã. Ở trong Chúng (Saṃgha) không có sợ hãi là nghiệp của Bát Nhã.

Tu nghiệp Thắng Thiện là mẹ của Bát Nhã. Biết không có nghiệp báolà nghiệp của Bát Nhã.

Biết sự biến hóa của Phật là mẹ của Bát Nhã. Được Đại Trí Tuệ là nghiệp của Bát Nhã.

Vì lợi cho chính mình là mẹ của Bát Nhã. Lợi mình lợi người là nghiệp của Bát Nhã.

Hay đối với tám vạn bốn ngàn Pháp Uẩn (Dharma-skandha) bình đẳng thọ trì là mẹ của Bát Nhã. Được ở tám vạn bốn ngàn Pháp Trí (Dharma-jñāna) là nghiệp của Bát Nhã.

Biết nói Pháp Trí là mẹ của Bát Nhã. Biết nói chẳng trống rỗng (bất không) là nghiệp của Bát Nhã.

Dạy bảo khiến cho chúng sinh phát Tâm Bồ Đề là mẹ của Bát Nhã. An trí chúng sinh trong Bát Nhã Ba La Mật Đa Phương Tiện Thiện Xảo Bất Thoái Địa là nghiệp của Bát Nhã.

Sợ hãi Nhân (hetu) Nghiệp (Karma) thọ sinh trong ba cõi là mẹ của Bát Nhã. Chẳng buông bỏ sinh tử, tùy ý thọ nhận Thân là nghiệp của Bát Nhã.

Nhẫn nại thọ nhận âm thanh là mẹ của Bát Nhã. Tu hành sự nhẫn nại của Tính là nghiệp của Bát Nhã.

Nếu được Tận Trí (Kṣaya-jñāna) là mẹ của Bát Nhã. Được Vô Sinh Trí (Anutpāda-jñāna) của Tính là nghiệp của Bát Nhã.

Được Tùy Thuận Nhẫn là mẹ của Bát Nhã. Được Vô Sinh Nhẫn là nghiệp của Bát Nhã.

Trụ Bất Thoái Địa là mẹ của Bát Nhã. Được Quán Đỉnh Địa là nghiệp của Bát Nhã.

Ngồi dưới cây Bồ Đề là mẹ của Bát Nhã. Biết không có gì chẳng cùng tận, hiểu biết khắp niệm nhỏ nhiệm, hiện chứng Như Như (Tathatā), sát na Tâm diệt cùng với Trí tương ứng, được A Nậu Đa La Tam Miểu Tam Bồ Đề (Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác). Đây là sự nghiệp cứu cánh trang nghiêm của Bát Nhã của Bồ Tát.

Khi ấy, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa này một lần nữa, nên nói Kệ là:

“_Nghe Pháp chẳng phóng dật

Tịnh trì Bát Nhã Mẫu (Prajñā-mātṛ: mẹ của Trí Tuệ)

Sức Từ (Maitra) vì người nói

Siêng tu nghiệp Bát Nhã

_Chính Niệm khéo suy nghĩ

Đây là Bát Nhã Mẫu

Tự nghĩ, vì người nói

Tức sự nghiệp Bát Nhã

_Nếu Chính Niệm tu tập

Đây là Bát Nhã Mẫu

Tự tu, khiến người trụ

Tức sự nghiệp Bát Nhã

_Nếu tu Chính Tinh Tiến

Đây là Bát Nhã Mẫu

Nếu tu xong, diễn nói

Tức là nghiệp Bát Nhã

_Nếu Tâm và Trí đủ

Đây là Bát Nhã Mẫu

Nếu hay nói Tâm (citta), Trí (Jñāna)

Tức sự nghiệp Bát Nhã

_Nếu riêng hành vắng lặng

Đây là Bát Nhã Mẫu

Nếu không có Thân Tâm

Tức sự nghiệp Bát Nhã

_Nếu xa lìa hội nháo (hỗn tạp rối loạn ồn ào)

Đây là Bát Nhã Mẫu

Nếu riêng trụ Chính Niệm

Tức sự nghiệp Bát Nhã

_Nếu yêu thích quán sâu

Đây là Bát Nhã Mẫu

Nếu được Trí Giải Thoát (Jñāna-vimukti)

Tức sự nghiệp Bát Nhã

_Nếu tu ba Giải Thoát (không, vô tướng, vô nguyện)

Đây là Bát Nhã Mẫu

Ba Trí hiện trước mặt

Tức sự nghiệp Bát Nhã

_Nếu tập Niệm Trụ (Smṛty-upasthānāni)

Đây là Bát Nhã Mẫu

Vô niệm (không có niệm hư vọng) hiện trước mặt

Tức sự nghiệp Bát Nhã

_Bỏ ác tu nghiệp thiện

Đây là Bát Nhã Mẫu

Pháp này Bản Tính tịnh

Tức sự nghiệp Bát Nhã

_Tu tập bốn Thần Túc (Catvāra-ṛddhipādāḥ: gồm có Dục Tam Ma Địa Đoạn  Hành Thành Tựu Thần Túc, Tâm Tam Ma Địa Đoạn Hành Thành Tựu Thần Túc, Cần Tam Ma Địa Đoạn Hành Thành Tựu Thần Túc, Quán Tam Ma Địa Đoạn Hành Thành Tựu Thần Túc)

Đây là Bát Nhã Mẫu

Thần Túc (Ṛddhipādāḥ) không công dụng

Tức sự nghiệp Bát Nhã

_Tin sâu Môn giải thoát

Đây là Bát Nhã Mẫu

Tâm xa lìa, không dính

Tức sự nghiệp Bát Nhã

_Thường tinh tiến không giảm

Đây là Bát Nhã Mẫu

Nếu Thân Tâm an vui

Tức sự nghiệp Bát Nhã

_Khéo niệm, chẳng phóng dật

Đây là Bát Nhã Mẫu

Chẳng trụ tất cả xứ

Tức sự nghiệp Bát Nhã

_Diệu Định tùy giác ngộ

Đây là Bát Nhã Mẫu

Bản Tính, Đẳng Dẫn (Samāhita) hành

Tức sự nghiệp Bát Nhã

_Nếu trụ căn Diệu Tuệ

Đây là Bát Nhã Mẫu

Biết các Căn chúng sinh

Tức sự nghiệp Bát Nhã

_Nếu tu tập năm Lực (Pañca-balāni)

Đây là Bát Nhã Mẫu

Được Trí không tồi phục

Tức sự nghiệp Bát Nhã

_Thuận nhẫn bảy Giác Phần (Sapta-bodhyaṅgāni)

Đây là Bát Nhã Mẫu

Tùy hiểu các Pháp Tính

Tức sự nghiệp Bát Nhã

_Tu tập Thánh Đạo Chi (tám Thánh Đạo)

Đây là Bát Nhã Mẫu

Hay bỏ Pháp (Dharma), Phi Pháp (Adharma)

Tức sự nghiệp Bát Nhã

_Biết Khổ Ác Tập (tức Tập Đế: Samudaya-satya) sinh

Đây là Bát Nhã Mẫu

Tịch diệt (Vyupaśama) hiện trước mặt

Tức sự nghiệp Bát Nhã

_Quán sát bất liễu nghĩa

Đây là Bát Nhã Mẫu

Y nơi Kinh liễu nghĩa

Tức sự nghiệp Bát Nhã

_Nghe Pháp, giữ không quên

Đây là Bát Nhã Mẫu

Tùy Giáo (Śāstra) hay phụng hành

Tức sự nghiệp Bát Nhã

_Chẳng y Thức (Vijñāna) tu Thiền (Dhyāna)

Đây là Bát Nhã Mẫu

Y Trí (Jñāna) mà phụng hành

Tức sự nghiệp Bát Nhã

_Không chút chấp ta, người

Đây là Bát Nhã Mẫu

Y Pháp mà tu hành

Tức sự nghiệp Bát Nhã

_Biết các Hành (saṃskṛta) không thường (vô thường)

Đây là Bát Nhã Mẫu

Biết Pháp vốn chẳng sinh

Tức sự nghiệp Bát Nhã

_Tin các Hành là khổ

Đây là Bát Nhã Mẫu

Nếu biết không có Hành

Tức sự nghiệp Bát Nhã

_Nơi nghĩa rỗng (śūnya: không), quán sát

Đây là Bát Nhã Mẫu

Thuận nghĩa, không hai bên

Tức sự nghiệp Bát Nhã

_Nghĩa Vô Ngã (Anātman) dứt nghi

Đây là Bát Nhã Mẫu

Pháp này vốn thanh tịnh

Tức sự nghiệp Bát Nhã

_Tin Niết Bàn (Nirvāṇa) vắng lặng

Đây là Bát Nhã Mẫu

Chúng sinh Bản Tính tịch (lặng yên

Tức sự nghiệp Bát Nhã

_Tùy thuận quán nghĩa sâu

Đây là Bát Nhã Mẫu

Tùy hiểu nghĩa không ngại

Tức sự nghiệp Bát Nhã

_Nếu tin sâu Pháp Tính (Dharmatā)

Đây là Bát Nhã Mẫu

Được Pháp Vô Ngại Giải (Dharma-pratisaṃvid)

Tức sự nghiệp Bát Nhã

_Nghe các Tiếng (Śabda:thanh) không sợ

Đây là Bát Nhã Mẫu

Phân tích Từ (lời nói) không ngại

Tức sự nghiệp Bát Nhã

_Tâm chẳng sợ biện tài

Đây là Bát Nhã Mẫu

Được biện tài không ngại

Tức sự nghiệp Bát Nhã

_Nhân sinh Pháp, khởi Từ (Maitra:yêu thương giúp đỡ)

Đây là Bát Nhã Mẫu

Nếu được Vô Duyên Từ

Tức sự nghiệp Bát Nhã

_Vì ta người khởi Bi (Kāruṇa)

Đây là Bát Nhã Mẫu

Không hai lợi (lợi mình lợi người) mà Bi

Tức sự nghiệp Bát Nhã

_Nơi Pháp: yêu, thích, vui

Đây là Bát Nhã Mẫu

Không lo, không yêu vui

Tức sự nghiệp Bát Nhã

_Nếu hay không yêu, giận

Đây là Bát Nhã Mẫu

Ở hai, được giải thoát

Tức sự nghiệp Bát Nhã

_Đầy đủ niệm chư Phật

Đây là Bát Nhã Mẫu

Nếu tùy thuận Pháp Thân

Tức sự nghiệp Bát Nhã

_Luôn thường hay niệm Pháp

Đây là Bát Nhã Mẫu

Nếu biết Pháp không dính

Tức sự nghiệp Bát Nhã

_Được đầy đủ niệm Tăng

Đây là Bát Nhã Mẫu

Nơi Vô Vi tùy hiểu

Tức sự nghiệp Bát Nhã

_Người Trí luôn niệm xả

Đây là Bát Nhã Mẫu

Nếu buông (xả) các phiền não

Tức sự nghiệp Bát Nhã

_Nếu niệm Giới thanh tịnh

Đây là Bát Nhã Mẫu

Trụ Giới không phiền não

Tức sự nghiệp Bát Nhã

_Niệm Đại Uy Đức Thiên

Đây là Bát Nhã Mẫu

Luôn niệm nơi vắng lặng

Tức sự nghiệp Bát Nhã

_Tùy cầu, lắng nghe Pháp

Đây là Bát Nhã Mẫu

Không Pháp có thể cầu

Tức sự nghiệp Bát Nhã

_Hay làm nghiệp diệu thiện

Đây là Bát Nhã Mẫu

Không Nghiệp có thể làm

Tức sự nghiệp Bát Nhã

_Biết hiện bày Niết Bàn

Đây là Bát Nhã Mẫu

Được uy đức Đại Trí

Tức sự nghiệp Bát Nhã

_Được lợi mình đầy đủ

Đây là Bát Nhã Mẫu

Hay nhiều lợi chúng sinh

Tức sự nghiệp Bát Nhã

_Thọ trì Diệu Pháp Uẩn

Đây là Bát Nhã Mẫu

Tự biết, ngộ (tỏ ngộ) chúng sinh

Tức sự nghiệp Bát Nhã

_Nếu biết Tâm Trí người

Đây là Bát Nhã Mẫu

Trụ ba Thừa (Triṇi-yāyāni: gồm có Thanh Văn Thừa, Duyên Giác Thừa, Bồ Tát Thừa), xuất ly (Naiṣkramya:vượt thoát khổ của sinh tử luân hồi mà thành biện Phật Đạo)

Tức sự nghiệp Bát Nhã

_Khiến khởi Hạnh lợi người

Đây là Bát Nhã Mẫu

Nếu hay lợi bình đẳng

Tức sự nghiệp Bát Nhã

_Sợ các cõi (chư hữu) thiêu đốt

Đây là Bát Nhã Mẫu

Chẳng bỏ nơi sinh tử

Tức sự nghiệp Bát Nhã

_Tùy thuận âm thanh nhẫn

Đây là Bát Nhã Mẫu

Tu hành nơi Tính nhẫn

Tức sự nghiệp Bát Nhã

_Nếu được nơi Tận Trí (Kṣaya-jñāna)

Đây là Bát Nhã Mẫu

Nếu được Vô Sinh Trí (Anutpattika-jñāna)

Tức sự nghiệp Bát Nhã

_Nếu tu Tùy Thuận Nhẫn Đây là Bát Nhã Mẫu

Nếu được Vô Sinh Nhẫn

Tức sự nghiệp Bát Nhã

_Nếu đến Bất Thoái Địa (Avinivartanīya-bhūmi)

Đây là Bát Nhã Mẫu

Nếu được Quán Đỉnh Địa (Abhiṣeka-bhūmi)

Tức sự nghiệp Bát Nhã

_Ngồi dưới cây Bồ Đề

Đây là Bát Nhã Mẫu

Nếu được Nhất Thiết Trí (Sarva-jñā)

Tức sự nghiệp Bát Nhã

_Các Nghiệp Bát Nhã này

Do phát Tâm Bồ Đề

Nếu được Tâm giải thoát (Citta-vimukti:do sức Định mà ở cảnh Định dược giải thoát)

Thành các nghiệp Bát Nhã _Nếu ở Tâm Bồ Đề

Thường an trụ chẳng động

Liền thành Bát Nhã Mẫu

Thường làm các sự nghiệp

_Như vậy các nghiệp thiện

Các Thắng Nghĩa của Phật

Thần Lực, Vô Ngại Biện (biện luận không có trở ngại)

Do Tâm Thắng Bồ Đề

_Nếu khen Tâm Bồ Đề

Hết thảy các Công Đức

Trải qua nhiều ức Kiếp

Xưng tán chẳng thể hết

_Đã sinh Phật ba đời

Tất cả các Công Đức

Nên nói Tâm Bồ Đề

Các Phật Mẫu (Buddha-mātṛ) mười phương

_Nếu có muốn cúng dường

Vô lượng Tịch Tĩnh Tôn Nên phát Tâm Bồ Đề Phước hơn cúng dường Phật”

Khi Đức Thế Tôn nói Pháp Môn Sự Nghiệp Trang Nghiêm của Bát Nhã Ba La Mật Đa Mẫu này thời mười phương vô lượng vô số cõi Phật chấn động theo sáu cách. Đạo Trường Chúng Diệu Bảo Trang Nghiêm này cũng lại chấn động.

Lúc đó, Bát Nhã Phong Bồ Tát bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Do nhân duyên nào mà mười phương giới vô lượng vô số các cõi nước Phật này chấn động theo sáu cách? Đạo trường Chúng Bảo Võng Trang Nghiêm này trụ tại hư không cũng chấn động theo sáu cách?

Đức Phật bảo Bát Nhã Phong Bồ Tát rằng: “Thiện Nam Tử! Do Pháp Môn Sự Nghiệp Bát Nhã Trang Nghiêm của Bát Nhã Ba La Mật Đa Mẫu này, chư Phật quá khứ đã nói, chư Phật vị lai sẽ nói, chư Phật hiện tại nay nói. Nếu các Bồ Tát được Bát Nhã này thì Tâm như Hư Không, không có trụ dính. Nay Ta vì ông với Đại Chúng này nói Pháp Môn này. Do nhân duyên đấy, nay Đại Địa của các Thế Giới đều chấn động”

Bấy giờ, trung Chúng có một vị Bồ Tát tên là Vô Úy Biện Tài liền từ chỗ ngồi đứng dậy, tiến lên phía trước, bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Do nhân duyên nào mà vị Bồ Tát này có tên gọi là Bát Nhã Phong (Prajñā-kūṭa)?”

Đức Phật nói: “Này Thiện Nam Tử! Về thời xa xưa, có Đức Phật hiện ra, tên là Cát Tường Thủ Hộ Như Lai (Śrī-rakṣa-tathāgata) Ứng Cúng, Chính Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn… Thế Giới tên là Diệu Hữu, Kiếp tên là Vô Cấu (Amala). Chúng sinh ở cõi ấy thọ nhận mọi loại vui thích, thọ mệnh nửa kiếp, không có người chết yểu. Trong Thế Giới ấy, hết thảy Người Trời, sắc tướng, thức ăn uống, cung điện, lầu gác, thọ dụng vật dùng đều ngang bằng không có khác. Chỉ có con người ở trên mặt đất, chư Thiên ở hư không… để phân loại riêng. Trong Thế Giới ấy, chỉ có Đức Phật là Pháp Vương (Dharma-rāja) lại không có vị vua khác, chẳng phụng sự chư Thiên khác, cũng chẳng lễ bái phụng sự các vị Thần Kỳ khác, cũng chẳng làm Nghiệp khác, chẳng khởi niệm khác. Chỉ siêng năng cúng Phật, lắng nghe Diệu Pháp. Chẳng ở trong bào thai (thai tạng) mà đều hóa sinh. Không có tên gọi người nữ, cũng không có tên gọi tội, cũng không có tên gọi phạm Giới. Chúng sinh trong cõi ấy chỉ thường siêng năng tu Pháp Môn Sự Nghiệp Bát Nhã Trang Nghiêm của Bát Nhã Mẫu này. Đức Cát Tường Thủ Hộ Như Lai ấy có bốn vạn hai ngàn các chúng Bồ Tát, tám vạn bốn ngàn Thanh Văn Đệ Tử

Thiện Nam Tử! Các Bồ Tát ấy đều có Biện Tài, Trí Tuệ rộng lớn vô lượng vô biên

Lúc đó, Đức Phật ấy tập hợp một trăm câu chi câu hỏi căn vặn (nạn vấn), rồi báo cho khắp tất cả chúng Bồ Tát rằng: “Trong Đại Chúng các ông, ai hay dũng mãnh phát khởi Tâm Đại Trượng Phu Xuất Thế, đối với một trăm câu chi câu hỏi căn vặn mà Ta đã tập hợp, có thể ở bao nhiêu Thời, trong mỗi một câu hỏi đều dùng trăm ngàn câu chi Pháp Môn để giải thích?”

Trời trong Hội này, có vị Bồ Tát tiến lên phía trước, bạch Phật rằng: “Con ở một ngày sẽ giải thích được”.

Hoặc có vị Bồ Tát nói: “Bảy ngày đêm sẽ giải thích được”.

Hoặc nói nửa tháng, hoặc nói một tháng, hoặc nói sáu tháng, hoặc nói một năm sẽ giải thích được

Bấy giờ, trong Hội có một vị Bồ Tát tên là Niệm Ý (Smṛty-manas) tiến lên phía trước bạch với Đức Phật Cát Tường Thủ Hộ rằng: “Thế Tôn! Con sẽ chẳng rời khỏi tòa ngồi, chẳng dời đổi uy nghi, đối trước Đấng Như Lai với Đại Chúng, đều hay giải thích các câu hỏi như vậy”

Nói lời này xong, liền ở lúc đấy, tác tiếng rống Sư Tử, hiện sức tự tại, khiến cho ba ngàn Đại Thiến Thế Giới chấn động theo sáu cách, phóng ánh sáng lớn chiếu khắp Thế Giới, khiến cho nơi ấy cảnh giác.

Thời Đại Chúng của Hội với Tứ Thiên Vương Thiên (Cāturmahārājakāyikadeva), Tam Thập Tam Thiên (Trayastriṃśa), Tô Dạ Ma Thiên (Suyama), Đâu Suất Đà Thiên (Tuṣita), Lạc Biến Hóa Thiên (Nirmāṇa-rati), Tha Hóa Tự Tại Thiên (Paranirmita-vaśa-vartin) cho đến Tịnh Cư (Śuddhāvāsa). Chư Thiên như vậy được ánh sáng cảnh giác thảy đều tập hội. Với các Rồng (Nāga), Thần (Devatā), Dạ Xoa (Yakṣa), Càn Thát Bà (Gandharva), A Tu La (Asura), Ca Lâu La (Garuḍa), Khẩn Na La (Kiṃnara), Ma Hầu La Già (Mahoraga), Người (Manuṣya), Phi Nhân (Amanuṣya), Tại Gia (Gṛha-stha), Xuất Gia (Pravrajyā), vô lượng phẩm loại được ánh sáng cảnh giác thảy đều đến ngồi trong Hội. Như vậy trải qua một khoảng sát na chưa đến chốc lát, khiến cho Đạo Trường này rộng dài bẳng phẳng ngay ngắn mười ngàn Do Tuần.

Khi ấy, Niệm Ý Bồ Tát thấy Đại Chúng này đều đã vân tập, liền dùng sức của Phước Đức với sức của Trí Tuệ, sức của niệm, sức của Pháp, sức của Đà La Ni, sức của Diệu Biện Tài, sức của Đại Vô Úy, sức Uy Đức của Phật. Dùng sức này cho nên một trăm câu chi câu hỏi được tập hợp ấy, nghe xong thọ trì, đối trước Đức Chư Lai với Đại Chúng, trong câu hỏi lúc trước mỗi mỗi đều dùng trăm ngàn câu chi Pháp Môn giải thích tròn đủ không có khuyết thiếu, không thể tồi hoại, tùy theo nhóm loại ấy ứng với căn khí ấy mà diễn nói liên tục chẳng đứt đoạn, phân tích vi diệu nghĩa lý của câu chữ.

Khi nói Pháp này thời âm thanh ấy tràn đầy khắp ba ngàn Đại Thiên Thế Giới, từ Tứ Thiên Vương Thiên cho đến Tịnh Cư, tất cả chư Thiên đều nghe âm thanh ấy, đều hiểu nghĩa ấy. Các Thiên Chúng này phát ra lời nói như vầy: “Ký đặc hiếm có! Bồ Tát Niệm Ý mới có thể như vậy!”

Này Thiện Nam Tử! Lúc Niệm Ý Bồ Tát nói Pháp này thời trong Hội có sáu mươi ngàn câu chi na do tha chúng sinh phát Tâm A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề (Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác), bốn mươi ngàn câu chi na do tha Bồ Tát được Vô Sinh Pháp Nhẫn (Anutpattika-dharma-kṣānti)

Bấy giờ, Đức Cát Tường Thủ Hộ Như Lai khen ngợi Bồ Tát Niệm Ý rằng:

“Lành thay! Lành thay Chân Đại Trượng Phu!”

_Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Śākya-muṇi) bảo Vô Úy Biện Tài Bồ Tát rằng: “Thiện Nam Tử! Ý của ông thế nào? Niệm Ý Bồ Tát lúc đó, há là người nào khác, nay chính là Bát Nhã Phong Bồ Tát vậy.

Thiện Nam Tử! Do Bồ Tát này có vô lượng Biện Tài Trí Tuệ cao thắng như vậy, nên có tên là Bát Nhã Phong (Prajñā-kūṭa: đỉnh núi Trí Tuệ). Nhân vào Biện Tài Trí Tuệ của Bồ Tát này khiến cho Pháp Môn Bát Nhã Sự Nghiệp Trang Nghiêm của Bát Nhã Ba La Mật Mẫu hiện ra tại Thế Gian”.

Đức Phật lời này xong. Khi ấy, mười phương vô lượng vô số chẳng thể tính đếm, chẳng thể xưng nói, chẳng thể đo lường mọi loại cõi Phật, các Bồ Tát Ma Ha Tát có uy đức lớn, với vô lượng chư Thiên có uy đức lớn, Rồng, Thần, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Già, Người, Phi Nhân, Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di… tất cả Đại Chúng nghe Đức Phật nói Pháp Môn Bát Nhã Sự Nghiệp Trang Nghiêm của Bát Nhã Ba La Mật Mẫu này, đều vui mừng hớn hở. Đem mọi loại hoa, hương, hương xoa bôi, hương bột với các chuỗi Anh Lạc, vòng hoa, dây đai, quần áo, phướng, phan, dù lọng với mọi loại âm nhạc là đàn Không Hầu, đàn Tỳ Bà, trống, sáo, ca thổi âm nhạc mỹ diệu…. dùng cúng dường Đức Phật với Đại Chúng. Vô lượng chúng sinh phát Tâm A Nậu Đa La Tam Miểu Tam Bồ Đề, ba mươi sáu câu chi na do tha Bồ Tát đều được Vô Sinh Pháp Nhẫn.

 

KINH THỦ HỘ QUỐC GIỚI CHỦ ĐÀ LA NI

_QUYỂN THỨ TÁM (Hết)_

********

QUYỂN THỨ CHÍN

ĐÀ LA NI CÔNG ĐỨC NGHI QUỸ PHẨM THỨ CHÍN

Bấy giờ, trong Hội có một vị Bồ Tát Ma Ha Tát tên là Bí Mật Chủ Kim Cương Thủ (Guhyādhipati-vajra-pāṇi) liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trật áo hở vai phải, quỳ gối phải sát đất, đỉnh lễ bàn chân của Đức Phật, chắp tay cung kính, rồi bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Như Đức Phật đã nói Đà La Ni Môn (Dhāraṇī-mukha), tất cả Đà La Ni Mẫu (Dhāraṇī-mātṛ) thì nhóm Đà La Ni nào hay lợi lạc khắp cho tất cả chúng sinh? Nhóm Đà La Ni nào hay khiến cho hữu tình mau được A Nậu Đa La Tam Miểu Tam Bồ Đề (Anuttarā-samyaksaṃbuddhi: Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác)?”

Khi ấy, Đức Thế Tôn bảo Bí Mật Chủ Kim Cương Thủ rằng: “Lành thay! Lành thay! Thiện Nam Tử hay hỏi Như Lai (Tathāgata) nghĩa sâu xa như vậy. Nay Ta vì ông phân biệt giải nói.

Này Thiện Nam Tử! Có một Đà La Ni tức là mẹ của tất cả Đà La Ni tên là Thủ Hộ Quốc Giới Chủ. Nếu có Bồ Tát thọ trì, chứng được Đà La Ni này, liền được thân ấy đồng với báu Như Ý, chúng sinh nhìn thấy được đầy đủ ước nguyện, cũng hay mau được Vô Thượng Bồ Đề (Agra-bodhi).

Lúc đó, Kim Cương Thủ nghe lời nói này xong thì bạch Phật rằng: “Lành thay Thế Tôn! Nguyện vì con nói chút phần công năng, quỹ nghi, pháp tắc của Đà La Ni này. Chúng con nghe xong, liền hay chứng được Đà La Ni này”

Đức Phật bảo Bí Mật Chủ rằng: “Thiện Nam Tử! Đức Thế Tôn Tỳ Lô Giá Na (Vairocana) ở cõi Trời Sắc Cứu Cánh (Akaniṣṭha, hay Aghaniṣṭha) vì Thiên Đế Thích (Śakra-devānāṃ-indra) với Thiên Chúng đã rộng tuyên nói. Nay Ta ở Kim Cương Đạo Trường (Vajra-maṇḍa) dưới cây Bồ Đề (Bodhi-vṛkṣa) vì các quốc vương cùng với các ông, lược nói Đà La Ni Môn này. Các ông hãy nghe cho kỹ!

Này Thiện Nam Tử! Mẹ của Đà La Ni (Dhāraṇī-mātṛ: Đà La Ni Mẫu) là chữ

Án (OṂ). Tại sao thế? Vì ba chữ hợp chung lại làm chữ ÁnA (A), Ô (U), Mãng (MA)

1_Chữ A (A) là nghĩa của Tâm Bồ Đề (Bodhi-citta), là nghĩa của các Pháp

Môn (Dharma-paryāya), cũng là nghĩa không có hai (Advaya), cũng là nghĩa của các Pháp Quả (Dharma-phala), cũng là nghĩa của Tính (Prakṛti), là nghĩa Tự Tại (Iśvara). Giống như quốc vương: đen (Kṛṣṇa), trắng (Śukla), thiện (Kuśala), ác (Pāpa, hay

Akuśala) tùy Tâm tự tại. Lại là nghĩa Pháp Thân (Dharma-kāya)

2_Chữ Ô (U) tức nghĩa Báo Thân (Saṃbhoga-kāya)

3_Chữ Mãng :MA) tức nghĩa Hóa Thân (Nirmāṇa-kāya)

Đem hợp ba chữ cộng làm chữ Án nhiếp nghĩa vô biên, cho nên là cái Đầu của tất cả Đà La Ni cùng với nghĩa của các chữ mà làm con đường trước tiên, tức là nơi mà tất cả Pháp đã sinh ra. Chư Phật ba đời đều quán chữ này mà được Bồ Đề (Bodhi) cho nên là mẹ của tất cả Đà La Ni, tất cả Bồ Tát từ đây mà sinh ra., tất cả chư Phật từ đây hiện ra. Tức là nơi mà chư Phật, tất cả Bồ Tát, các Đà La Ni tập hội. Giống như quốc vương trụ ở Vương Thành có thần tá phụ giúp, cung nữ vây quanh, hoặc ra ngoài dạo chơi, đi tuần rồi quay về cung vua (hoàng cư), dùng bốn đạo binh nghiêm ngặt từ ngàn vạn người. Chỉ nói vua trụ ở sự đi lại của vua, tuy chẳng nói điều khác nhưng không có việc gì chẳng thâu nhiếp . Đà La Ni này cũng lại như vậy, tuy nói một chữ, nhưng không có chỗ nào chẳng thâu nhiếp”

__Khi ấy, Bí Mật Chủ Kim Cương Thủ lại bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Như Đức Phật đã nói, chư Phật thường trụ Tam Muội Bình Đẳng, nhìn chúng sinh như nhau, giống như một đứa con. Ngày nay, vì sao chỉ nói thủ hộ cho vị chủ của quốc giới, còn các chúng sinh (chư hữu) nghèo túng, cô độc, khốn khổ, không có nơi nương tựa, không có chỗ về, không có người cứu, không có người hộ giúp… vì sao chẳng thương xót mà thủ hộ vậy?”

Bấy giờ, Đức Như Lai Vô Thượng Điều Ngự bảo Bí Mật Chủ Kim Cương Thủ rằng: “Thiện Nam Tử! Hãy nghe cho kỹ! Hãy nghe cho kỹ! Ta sẽ vì ông nói. Chư Phật Như Lai chẳng phải là chẳng trụ ở Tam Muội Bình Đẳng. Do bình đẳng cho nên thủ hộ quốc vương.

Này Thiện Nam Tử! Ví như người thầy thuốc giỏi (lương y) thấy đứa trẻ thơ, khắp thân bị bệnh tật, chẳng thể dùng y thuật chữa trị được nên khiến người mẹ uống thuốc. Do sức thuốc mà người mẹ uống thấm vào sữa, đứa con ấy uống sữa thì bệnh tật đều tiêu trừ. Chư Phật Như Lai cũng lại như vậy, thương xót tất cả nên thủ hộ quốc vương. Nếu che chở cho quốc vương sẽ được bảy lợi ích tốt đẹp (thắng ích). Nhóm nào là bảy?

Ấy là: hay thủ hộ quốc vương tức là thủ hộ vị Thái Tử của đất nước. Nếu thủ hộ Thái Tử tức thủ hộ Đại Thần. Nếu thủ hộ Đại Thần tức thủ hộ trăm họ. Nếu thủ hộ trăm họ tức thủ hộ kho tàng. Nếu thủ hộ kho tàng tức thủ hộ bốn binh [Catur-aṅgabala: gồm có Tượng Quân (Hasti-kāya), Mã Quân (Aśva-kāya), Xa Quân (Rathakāya), Bộ Quân (Patti-kāya)]. Nếu thủ bộ bốn binh tức thủ hộ nước láng giềng. Nếu hay như vậy thì tất cả đều yên.

Này Thiện Nam Tử! Thế nên quốc vương giúp cho chúng sinh làm mặt trời, làm mặt trăng, làm ngọn đèn, làm con mắt, làm cha, làm mẹ. Nếu các hữu tình không có con mắt, không có ngọn đèn, không có mặt trời, không có mặt trăng, không có cha, không có mẹ thì thân mệnh há tồn tại được chăng?!. Nếu không có quốc vương thì chẳng thể an lập được.

Lại Thiện Nam Tử! Như ao Rồng lớn, nếu khi Rồng trụ thời nước thường tràn đầy: loài Giải, cá sấu, cá, ba ba, thủy tộc đều yên. Nếu khi Rồng bỏ đi thời nước liền khô cạn, loài thuộc Thủy Tính đều bị diệt không có sót. Quốc vương cũng vậy, nếu các quốc vương thọ trì Đà La Ni Môn này thì hay khiến cho vô lượng vô số chúng sinh hiện tại an vui, được tôn quý lâu dài, khi thân hoại mệnh dứt thì được sinh vào đường tốt lành. Do đây, biết Quốc Chủ (vị vua) khéo hay đóng bít các cửa của nẻo ác, mở bày lối chính đúng của người, Trời, Niết Bàn. Cho nên Ta nói nghiêng về thủ hộ quốc vương”.

_Khi ấy, Đức Thế Tôn lại bảo Bí Mật Chủ Kim Cương Thủ rằng: “Thiện Nam Tử! Như ông đã hỏi về Quỹ Nghi, Pháp Tắc. Hãy nghe cho kỹ! Hãy nghe cho kỹ! Nay Ta vì Đà La Ni này, cho nên nói Quỹ Nghi, Pháp Tắc của Kim Cương Thành Đại Mạn Trà La

Thiện Nam Tử! Nếu lúc muốn dựng lập Mạn Trà La (Maṇḍala: Đàn Trường) thời vị Kim Cương A Xà Lê (Vajra-ācārya) trước tiên chọn lựa đất ấy: hoặc ở núi, hoặc ở nơi hoang vắng. Đấy ấy, hoặc có mọi loại cây có quả trái, cỏ mềm mại, hoa thơm đẹp, đất bẳng phẳng đáng ưa thích. Hoặc có ao đầm trong sạch, vực sâu lặng trong, suối chảy tràn đầy… chư Phật khen ngợi thì có thể dùng để dựng lập mạn Trà La Trường. Hoặc bên cạnh sông lớn, hoặc gần ao Rồng có hoa sen trang nghiêm. Ấy là: hoa Ưu Bát La (utpala), hoa Câu Vật Đầu (Kumuda), hoa Ba Đầu Ma (Padma), hoa Phân Đà Lợi (Puṇḍarika). Lại có vịt trời, chim nhạn (Dhārtarāṣṭra), uyên ương, bạch hạc (Haṃsa), chim công (Mayūra), chim Anh Vũ (Krauñca), chim Xá Lợi (Śāli), chim Câu Chỉ La… các Diệu Điểu Vương bay lượn tụ tập trang nghiêm.

Hoặc là nơi mà chư Phật với các Bồ Tát, Độc Giác, Thanh Văn đã từng dừng trụ, khen ngợi vắng lặng. Nơi mà các hàng Trời, Rồng thủ hộ với thành ấp, thôn xóm, phòng dành cho chư Tăng, nhà cửa, điện đường, lầu gác, tháp, miếu, đền thờ cúng Trời (thiên từ), nơi mà loài bò trú ngụ… Trong chốn nhàn tĩnh, vườn hoa vườn thú, nhà trống… đều có thể dựng lập Mạn Trà La này.

Nếu không có nơi xứng với Pháp như vậy thì không có nhiều sự lựa chọn, tùy theo chỗ tiện nghi mà dùng an trí, chỉ tùy theo Tâm Địa làm Mạn Trà La.

_Lại nữa, Thiện Nam Tử! Nếu A Xà Lê (Ācārya) chọn lựa đất thời đất ấy, hoặc có cát, đá, ngói, đá sỏi, rễ cây, gốc cây, cây không có nhánh, tóc, lông, móng, răng, vỏ trấu, tro, than, xương trắng, gò mả, hang rắn, hang kiến… nhóm đất như vậy chẳng thể dựng lập Mạn Trà La Trường.

Đã chọn được đất xong, A Xà Lê nên chọn ngày có sao (Nakṣatra) trực. Vào lúc sáng sớm, giờ có tướng cát tường thời cúi năm vóc sát đất, lễ bàn chân của Đức Như Lai. Tùy theo sức, phân chia tùy theo Tâm rộng hẹp đề dựng Đàn Trường. Lượng cực lớn là một ngàn Do Tuần, hoặc lại chín trăm, bảy trăm, năm trăm, ba trăm, một trăm, một Do Tuần… Hoặc khoảng bảy khuỷu tay, năm khuỷu tay, ba khuỷu tay, hoặc một khuỷu tay. Hoặc một lòng bàn tay cho đến khoảng một móng tay

_Nay Ta sẽ nói Nghi Tắc của độ lượng làm Kim Cương Thắng Thành Mạn Trà La. Nên chỉnh sửa ngay ngắn, mỗi phương làm một mặt, mở một cửa, bên trên an Phiệt Duyệt (ghi chép công nghiệp của Tổ Tiên) dùng để trang nghiêm

Một mặt đều có lượng khoảng ba mươi hai gang tay, bốn phía giáp vòng có lan can, vẽ thành ba lớp, tổng cộng có mười hai góc, dùng mọi loại báu làm vòng hoa để làm trang nghiêm.

Ở chính giữa Đàn, vẽ tượng Tỳ Lô Giá Na Như Lai (Vairocana-tathāgata) kèm vẽ bốn vị Ba La Mật Bồ Tát. Bốn Đức Phật ở bốn phương đều có bốn vị Bồ Tát, hoặc an Chủng Tử (Bīja), mỗi một vị Bồ Tát đều có một câu chi na do tha Bồ Tát dùng làm quyến thuộc (Parivāra, hay Pariṣad), tiếp theo an mười hai vị Cúng Dường Bồ Tát.

Một viện ở ngoài cùng, an trí mười vị Trời, mỗi một Tôn ấy đều có Chân Ngôn.

Chân Ngôn của năm Đức Phật đã nói như bên trên.

“Án (1) tát đát-phộc (2) phộc nhật-lý (3) sa-phộc hạ (4)”

“Án (1) la đát-nẵng (2) phộc nhật-lý (3) sa-phộc hạ (4)”

“Án (1) đạt ma (2) phộc nhật-lý (3) sa-phộc hạ (4)”

“Án (1) yết ma (2) phộc nhật-lý (3) sa-phộc hạ (4)”

“Án (1) phộc chiết-la (2) tát đỏa-phộc (3) sa-phộc hạ (4)”

“Án (1) phộc chiết-la (2) la tá (3) sa-phộc hạ (4)”

“Án (1) phộc chiết-la (2) la nga (3) sa-phộc hạ (4)”

“Án (1) phộc chiết-la (2) sa độ (3) sa-phộc hạ (4)”

“Án (1) phộc chiết-la (2) la đát-nẵng (3) sa-phộc hạ (4)”

“Án (1) phộc chiết-la (2) đế giả (3) sa-phộc hạ (4)”

“Án (1) phộc chiết-la (2) kế đổ (3) sa-phộc hạ (4)”

“Án (1) phộc chiết-la (2) tất mật đa (3) sa-phộc hạ (4)”

“Án (1) phộc chiết-la (2) đạt ma (3) sa-phộc hạ (4)”

“Án (1) phộc chiết-la (2) đế khất sử na (3) sa-phộc hạ (4)”

“Án (1) phộc chiết-la (2) hệ đổ (3) sa-phộc hạ (4)”

“Án (1) phộc chiết-la (2) ma sái (3) sa-phộc hạ (4)”

“Án (1) phộc chiết-la (2) yết ma (3) sa-phộc hạ (4)”

 

“Án (1) phộc chiết-la (2) la khất-sái (3) sa-phộc hạ (4)”

“Án (1) phộc chiết-la (2) dược khất-sái (3) sa-phộc hạ (4)”

“Án (1) phộc chiết-la (2) san đệ (3) sa-phộc hạ (4)”

“Án (1) phộc chiết-la (2) la tẩy (3) sa-phộc hạ (4)”

“Án (1) phộc chiết-la (2) ma lệ (3) sa-phộc hạ (4)”

“Án (1) phộc chiết-la (2) nghĩ đế (3) sa-phộc hạ (4)”

“Án (1) phộc chiết-la (2) nễ-lý đế (3) sa-phộc hạ (4)”

“Án (1) phộc chiết-la (2) nỗ bế (3) sa-phộc hạ (4)

“Án (1) phộc chiết-la (2) bổ sáp-bế (3) sa-phộc hạ (4)”

“Án (1) phộc chiết-la (2) a lỗ kế (3) sa-phộc hạ (4)”

“Án (1) phộc chiết-la (2) hiến đệ (3) sa-phộc hạ (4)”

“Án (1) phộc chiết-la (2) a ngu xá (3) sa-phộc hạ (4)”

“Án (1) phộc chiết-la (2) ba xá (3) sa-phộc hạ (4)”

 

“Án (1) phộc chiết-la (2) sa-phổ tra (3) sa-phộc hạ (4)”

 

“Án (1) phộc chiết-la (2) hiến tra (3) sa-phộc hạ (4)”

“Án (1) nhân đạt-la dã (2) sa-phộc hạ (3)”

“Án (1) a ngật-nãi duệ (2) sa-phộc hạ (3)”

“Án (1) diêm ma dã (2) sa-phộc hạ (3)”

“Án (1) nê dĩ đê (2) sa-phộc hạ (3)”

“Án (1) phộc lỗ na dã (2) sa-phộc hạ (3)”

“Án (1) ma na phệ (2) sa-phộc hạ (3)”

 

“Án (1) câu mễ la dã (2) sa-phộc hạ (3)”

“Án (1) y xá na (2) sa-phộc hạ (3)”

“Án (1) đà la nê (2) sa-phộc hạ (3)”

“Án (1) mạt-la một nê (2) sa-phộc hạ (3)”

_Bấy giờ, Đức Phật bảo Bí Mật Chủ rằng: “Y theo Quỹ Nghi này, thứ tự an bày đều giáp vòng xong. A Xà Lê ấy vì người vào Đàn, trước hết nên trao cho Tam Muội Gia Giới dùng làm con đường trước tiên, sau đó Quán Đỉnh (Abhiṣeka). Quán Đỉnh sau, sau đó dạy bảo kẻ ấy niệm tụng Chân Ngôn: môi răng hợp nhau, cái lưỡi ấy hơi lay động, đừng cho phát ra âm thanh. Lượng sức ghi nhớ Số với Thời nhiều ít làm hạn định thông thường, cần thiết phải được cảnh giới thù thắng. Nếu không đạt được thì chẳng ra khỏi Đạo Trường. Như vậy tinh cần dùng cầu Tất Địa (Siddhi). Nay Ta sẽ nói cách dùng chuỗi hạt (châu) khác nhau Rồi nói Kệ là:

“_Phật Bộ (Buddha-kalāya) nối Phật Chủng (Buddha-vaṃśa: hạt giống thành Phật)

Nên dùng hạt Bồ Đề

Chuỗi (châu) trong Kim Cương Bộ (Vajra-kulāya)

Cũng dùng hạt Kim Cương (Akṣa, hay Rudrākṣa:Kim Cương tử)

_Ở trong Bảo Bộ (Ratna-kulāya) dùng

Vàng (Suvarṇa), nhóm báu làm hạt

Chân châu làm chuỗi hạt (niệm châu)

Nơi chư Phật khen ngợi

_Trong Liên Hoa Bộ (Padma-klāya) dùng

Hạt hoa sen làm Tôn

Hạt (châu) trong Yết Ma Bộ (Karma-kulāya)

Mọi loại hòa hợp làm

_Pháp lần hạt (châu) năm Bộ

Dùng ngón cái giống nhau

Phật Bộ: ngón trỏ nâng

Kim Cương Bộ: ngón giữa

Bảo Bộ: ngón vô danh

Liên Hoa Bộ: hợp ba

Yết Ma: bốn ngón nâng

Đều dùng lóng đầu tiên

_Hạt vàng: Phước (Puṇya) gấp đôi

Chân châu được câu chi (Koṭi:một trăm triệu)

Hạt Kim Cương, hoa sen

Trăm ngàn câu chi Phước

_Nếu trì hạt Bồ Đề

Cùng với hạt hòa hợp

Vô số Phước trang nghiêm

Nơi chư Phật đã nói

_Hạt (châu) có trăm lẻ tám

Nhiếp loạn, Tâm chẳng chạy (trì: rong ruổi, theo đuổi, chạy nhanh)

Tỳ Lô Giá Na Ấn (Vairocana-mudra)

Cột Tưởng ngay đầu mũi

Vì trừ nhóm phiền não

Tăng trưởng Tam Ma Đề (Samādhi)

Nên tưởng nơi Bản Tôn

Hộ Ma (Homa) siêng niệm tụng

_Trước quán vành trăng (nguyệt luân) sạch

Tưởng mình ngồi trong trăng (Luân:vành trăng)

Phát ánh sáng lửa rực

Ngàn ánh sáng nghiêm thân (tự thể)

_Mười phương: Phật hiện tại

Năm màu: xanh, trắng, đỏ

Trang nghiêm rất tôn quý

Thường quán trụ trước mặt

_Ba ngàn (ba ngàn Đại Thiên Thế Giới) trần số (số hạt bụi) Phật

Đều đến, vào thân Ta

Thân Ta bằng Hư Không

Phiến Để Ca (Śāntika: Tức Tai) cúng dường

_Tưởng Bồ Tát vui vẻ

Là tăng trưởng Hộ Ma

Phẫn Nộ (Krodha) vào thân Ta

Oán trong ngoài đều diệt

_Bồ Tát sắc đẹp, vào

Tưởng tướng Kính Ái (Vaśīkaraṇa) thành

Du Già Nội Hộ Ma

Chư Phật quá khứ nói”

_Lúc đó, Đức Thế Tôn nói Kệ này xong, bảo Bí Mật Chủ Kim Cương Thủ rằng: “Thiện Nam Tử! Hãy nghe cho kỹ! Hãy nghe cho kỹ! Nhất Tự Đà La Ni Môn này tức là mẹ của tất cả Đà La Ni, vô biên câu chi Đà La Ni Môn dùng làm quyến thuộc. Nếu có quán sát Đà La Ni này thì vô biên câu chi Tam Muội hiện trước mặt. Tất cả chư Phật quá khứ, hiện tại do quán sát Đà La Ni này, cho nên được A Nậu Đa La Tam Miểu Tam Bồ Đề (Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác).

Này Thiện Nam Tử! Nay Ta vì các quốc vương, lược nói một chữ khiến được thọ trì. Nếu các quốc vương được Nhất Tự Quán thì khoảng một sát na liền được năm loại Tam Muội hiện trước mặt, hết thảy phiền não chẳng hiện khởi lại được

Thiện Nam Tử! Hết thảy công năng (Samartha) của Đại Kim Cương Thành Mạn Trà La này chẳng thể nghĩ bàn. Nếu kẻ trai lành, người nữ thiện có thể vào Mạn Trà La này, liền được nhìn thấy tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát. Tại sao thế? Vì Mạn Trà La này tức là nơi mà tất cả chư Phật, Hiền Thánh tập hội nghị luận Pháp thâm sâu. Nếu người hay vào, tức được chư Phật, tất cả Bồ Tát chứng biết, hộ niệm. Là người con chân thật (chân tử) của Như Lai Pháp Vương, hay làm người cha của tất cả chúng sinh, nối tiếp mầm giống Tam Bảo chặt đứt ba nẻo ác, mở cửa Người Trời, trụ Bất Thoái Địa (Avaivartika-bhūmi). Xa lìa tất cả tội, được ba mươi bảy Bồ Đề Phần Pháp (Sapta-triṃśad bodhi-pākṣikā dharmāḥ), mười lực vô úy dùng làm Anh Lạc (Muktāhāra) mà tự trang nghiêm.

Thiện Nam Tử! Tùy theo thành ấp ấy, có Đạo Trường này thọ trì tu hành thì Tứ

Thiên Đại Vương (bốn vị Thiên Vương gồm có Trì Quốc Thiên Vương, Tăng Trưởng Thiên Vương, Quảng Mục Thiên Vương, Tỳ Sa Môn Thiên Vương), Đế Thích (Indra), chư Thiên, tám Bộ ủng hộ. Ở cõi nước này thường không có đói khát, cũng không có oán địch. Tất cả con người, súc vật không có các tai dịch, Tiểu Vương của các nước khâm phục Đức Độ chịu quy thuận. Ở trong các vua là thù thắng bậc nhất, xa lìa tất cả lo lắng khổ não, tùy theo thọ mệnh ấy an vui khoái lạc, cho đến trong mộng thường thấy tất cả chư Phật Bồ Tát, chuyển thân thọ sinh thường được an vui, có đại danh xưng, giàu có tài bảo, ưa hành Tuệ Thí, hay tu An Nhẫn, đầy đủ Trí Tuệ, yêu thích Pháp Thiện, đời đời thường được Túc Trụ Trí Tuệ (Trí Tuệ biết rõ việc của đời trước), ở trăm ngàn được làm Chuyển Luân Vương (Cakra-varti-rāja) na do tha Kiếp làm Thiên Đế Thích (Śakra-devānāṃ-indra), trăm câu chi đời thường làm Nhân Vương (Nāra-rāja)

Này Bí Mật Chủ! Nếu có kẻ trai lành, người nữ thiện đem bảy báu tràn đầy trong hằng hà sa Thế Giới, cầm dùng bố thí. Hoặc lại có người vì muốn lợi lạc cho tất cả chúng sinh, phát Tâm Bồ Đề, vào Kim Cương Mạn Trà La (Vajra-maṇḍala) này thì phước ấy hơn hẳn người kia

Khi ấy, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa này một lần nữa, nên nói Kệ là:

“_Mạn Trà La chư Phật

Đã nói Pháp ba Thân

Pháp Thân (Dharma-kāya) với Báo (Saṃbhoga-kāya), Hóa (Nirmāṇa-kāya) Nối tiếp thứ tự thành.

_Tu trong Phật Bồ Đề (Buddha-bodhi:Tuệ Giác của Đức Phật)

Pháp vi diệu tối thắng

Chẳng lâu sẽ thành Phật

Ba Thân được viên mãn

_Các Thế Tôn mười phương

Cùng chứng biết, hộ niệm

Sẽ thành Pháp Vương Tử (Dharma-rāja-putra)

Giữ Phật Chủng vẹn toàn

_Đã chặt Nhân (hetu) nẻo ác

Lại xa các Quả (phala) khổ

Tùy thuận chẳng chuyển lùi

Tu hành đến Bồ Đề

_Thường an trụ siêng tu

Ba mươi bảy Đạo Phẩm

Lại trụ bốn Phạm Trú (bốn Tâm vô lượng: Từ, Bi, Hỷ, Xả)

Trong mười lực Vô Úy

_Nếu thấy Đạo Trường này

Xa lìa tất cả tội

Ứng nhận hàng Người, Trời

Tâm kính dưỡng, tôn trọng

_Đời này thành Như Lai

Diệt si ám chúng sinh

Chúng sinh thường thấy Phật

Thường giữ cửa Đạo Trường

_Trong Kim Cương Đạo Trường

Nếu người được Quán Đỉnh

Pháp Vương Tử Quán Đỉnh

Chẳng lâu ắt sẽ thành

_Ngàn đời làm Luân Vương

Na do tha Đế Thích

Ức kiếp Tứ Vương Vị (địa vị của bốn Thiên Vương)

Vô số đời Nhân Vương

_Mười Độ (Daśa-pāramitā: mười Ba La Mật) đều tròn đủ

An trụ ở mười Địa (Daśa-bhūmi)

Thành tựu mười Chủng Trí

Mười Tự Tại đều thông

_Đến ba Giải Thoát Môn

Dựng lập Pháp ba Thừa

Tùy thuận thành Phật Địa (Buddha-bhūmi)

Tướng tốt dùng trang nghiêm.

_Chuyển sinh, thân nhận được

Được vui Đại Danh Xưng

Hay thoát các bệnh não

Trí Tuệ quyết không nghi

_Phú quý cho nghèo túng

An nhẫn yêu thích Thiện (Kuśala)

Đời đời biết Túc Trụ

Đời đời trọn trang nghiêm

_Thế Giới như hằng sa (cát của sông Hằng)

Bên trong đầy bảy báu

Tịnh Tâm đem bố thí

Duyên Giác với Thanh Văn

Nếu phát Tâm Bồ Đề

Vị lợi các Hàm Thức (chúng sinh)

Người vào Đạo Trường này

Phước này hơn hẳn trước

_Từ phát Tâm Bồ Đề

Sinh Phật với Bồ Tát

Từ Bồ Đề tuôn ra

Duyên Giác và Thanh Văn

_Với Sắc Cứu Cánh Thiên

Sát Lợi (Kṣatriya) các Tộc Tính

Kèm các nghiệp Thiện khác

Nơi Phàm Phu đã hành

_Tâm Bồ Đề sinh ra

Bồ Tát Bất Thoái Địa

Nên tu các Thắng Hạnh

Trước phát Tâm Bồ Đề”

_Lúc đó, Bí Mật Chủ Kim Cương Thủ nghe nói điều này xong, liền bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Nay con nghe Đại Kim Cương Thành Mạn Trà La, mẹ của tất cả Đà La Ni, Tâm thành Pháp Chính Giác của tất cả Như Lai… được thanh tịnh, vui mừng hớn hở. Tùy theo quốc độ, thành ấp sở tại ấy, nếu có dựng lập Mạn Trà La này thì con, Bí Mật Chủ đem Đà La Ni để làm cúng dường.

Liền nói Đà La Ni là:

“Nẵng mô (1) la đát-nẵng đát-la dã gia (2) nẵng mô phộc chiết-la bá nẵng duệ (3) ma hạ (4) dược khất-xoa tê na bát đái duệ (5) ma hạ ma la (6) bát-la cật-la ma dã (7) ma hạ phộc chiết-la (8) mê la phộc dã (9) Án (10) a một-lật đa (11) quân tra lê (12) hồng (13) phát (14) ế hệ (15) ế hề (16) a kiếp lạp ma (17) a kiếp lạp ma

(18) a ca lý-sái dã (19) a ca lý-sái dã (20) phộc chất-lý nẵng (21) tát phộc nỗ sắt-tra (22) na già nan (23) thất la tư (24) tần na tần na (25) phộc chiết-la nẵng (26) bả tra dã, bả tra dã (27) phộc chiết-la nẵng (28) hồng hồng hồng (29) phát phát phát (30) sân đà, sân đà, sân đà (31) phộc chiết-la nẵng (32) tát phộc nỗ sắt-tra (33) na kiện nan (34) tỳ sái gi, tỳ sái gia (35) ngật-la sa, ngật-la sa (36) sa ma, sa ma (37) di bột-đa, nhập-phộc la (38) ma lý na (39) phộc chiết-lý na (40) na lại dã, na lại dã (41) hộ lô, hộ lô (32) hồng hồng hồng (43) a một-lý đa (44) phộc lý-sái nễ (45) phộc lý sát đổ (46) nỉ phộc sa mãn đê nẵng (47) phát phát phát phát phát phát phát (48) khư khư khư khư khư khư khư (49) khư hứ, khư hứ, khư hứ, khư hứ, khư hứ, khư hứ, khư hứ (50) la la la (51) sa-phộc hạ (52)”

 

_Thế Tôn! Nay con lại nên nói Niệm Tụng, Quỹ Nghi, Pháp Tắc. Phàm Kim Cương A Xà Lê muốn làm điều gì thì trước tiên đối với chúng sinh khởi Tâm Từ Bi.

Nếu có quốc thổ bị hạn hán (kháng dương: khí dương cực thịnh) không có mưa. Kim Cương A Xà Lê đến chỗ ao Rồng lớn có hoa sen, hoặc bờ sông, hoặc lại ao nhỏ… nên kết Đại Giới, hoặc Tứ Phương Giới (giới bốn phương), hoặc Tứ Ngung Giới (giới bốn góc), kết hộ thân mình ở chỗ này làm Đàn. Trên Đàn tô vẽ vị Long Vương có bảy đầu, rải mọi loại hoa, đốt mọi loại hương, hương xoa bôi, hương bột, vòng hoa, vật dụng, mọi loại cúng dường. Bốn mặt của Đàn Trường treo phan màu xanh, dựng cây phướng màu đỏ. Nên dùng Cốc Mạch, mè, Đại Mạch, Lạp Đạp Tử (?) bạc, vàng, tiền… ném vào trong ao Rồng. Nhiễu quanh bốn mặt theo bên phải, chắp tay lễ bái dùng làm cúng dường.

Tiếp theo, chuẩn bị thức ăn uống dùng để cúng dường là: Lạc (váng sữa đặc),

Mật, bơ, cháo sữa , cơm gạo tẻ màu trắng, mọi loại ăn uống… chuyển đọc Kinh Đại Khổng Tước Vương, khởi Tâm Đại Bi, pháp Thệ Nguyện lớn, vì các chúng sinh cầu tuôn mưa ngọt

Làm Pháp này xong, nếu chẳng tuôn mưa xuống thì nên dùng Phẫn Nộ Tôn Đà La Ni niệm tụng gia trì thì Ta (Kim Cương Thủ) sẽ tự đi đến, dùng chày Kim Cương chỉ hướng vào đầu Rồng khiến cho vị ấy kinh sợ. Thời Rồng trong mây cung kính chắp tay tuôn mưa nhỏ nhiệm tràn khắp, thấm đẫm…Rồng cũng vui vẻ, chỉ trừ chúng sinh có nghiệp quyết định thì chẳng thể tuôn mưa ngọt, ngoài ra đều ứng với Tâm.

Khi niệm tụng thời ăn ba thức ăn màu trắng là: sữa, lạc với gạo tẻ trắng… tụng mười vạn biến liền được thành tựu.

.)Nếu mưa quá nhiều liền tụng Chỉ Vũ (ngưng mưa) Đà La Ni là:

Án (1) a mật-lật đê để (2) hồng (3) để sắt-tra (3) sa-phộc hạ (5)”

Tụng Đà La Ni này bảy biến xong, hoặc dùng bình bát, hoặc cái bình, cái vại… chứa đầy hoa Thục Quỳ. Đem nhóm bát, bình… đổ úp trên mặt đất, liền tạnh mưa ngay.

.)Nếu oán địch ở phương khác đi đến xâm nhiễu, nên tụng Đà La Ni này là:

“Nam mô (1) la đát-nẵng đát-la gia dã (2) Án (3) a mật lật đa (4) phộc nhậtlý, a mật lật đê (5) hồng (6) nghiệt xa, nghiệt xa (7) duệ tha tô khư (8) tam muội dã (9) ma nô tam mạt la (10) sa-phộc hạ (11)”

 

Đốt An Tất Hương, đem hoa để trong lòng bàn tay, tác Kim Cương Hợp

Chưởng, tụng Chân Ngôn này rồi rải hoa bốn hướng thì oán tặc lui tan

_Nếu bên trong quốc thổ có tất cả tại nạn, các Quỷ Thần ác lưu hành dịch độc gây hại cho con người, súc vật với oán địch ở phương khác đến xâm nhiễu thì nên làm Cực Đại Uy Đức Phẫn Nộ Vương Kim Cương Thủ, Cam Lộ Quân Trà Lợi Kim Cương… cười ha hả. Cần yếu là Pháp Thắng Bí Mật Tâm, cũng lấy các gai độc dùng lửa thiêu đốt, niệm tụng mà làm Hộ Ma, ắt tai nạn như bên trên thảy đều tiêu diệt.

Nếu muốn hiệu nghiệm, trước tiên tụng Chân Ngôn đủ mười vạn biến, liền được Tất Địa.

_Nếu muốn biết trước việc thiện ác, tốt xấu, quyết định, chẳng quyết định… thì cần phải tụng Đà La Ni này là:

“Nam mô (1) la đát-nẵng đát-la gia dã (2) nam mô (3) thủy-chiến noa phộc chiết-la bả nẵng duệ (4) ma hạ (5) dược khất-xoa tê na bát đái duệ (6) ế man (7) vật đình-dã (8) bát la khất-xoa mính (9) sa mính (10) vật đình-dã (11) tam một lý đình-dã đổ (12) Án (13) a mật-lật đê phát (14) đát nễ-dã tha (15) chiến nê, chiến nê (16) ấn nê mẫn nê (17) tăng yết lại ma (18) mẫn nê (19) a vĩ xa, kiểu nỉ (20) bátla vĩ xa, kiểu nỉ (21) a tất mẫn (22) a ngu sắt-tra (23) mạn trà lý (24) bát phiến nỗ (25) na la ca (26) na lý ca (27) nễ vĩ na (28) chước sô sái (29) a bế đổ (30) ma nỗ sơn (31) chước sô nhập miên chước sô (32) bả-la phộc đa dã (33) đổ hệ na hột-lý đan (34) duệ tả hột-lý đan (35) duệ đát-la (36) tất tha bỉ đan (37) đát (38) tát vãn  (39) nại lý-sái dã (30) sa-phộc hạ (41)”

_Tiếp theo nói Quỹ Nghi Trì Niệm. Trước tiên, Kim Cương A Xà Lê dùng Cồ

Ma Di (Gomayi:phân bò) xoa tô thành các Đàn vuông vức. Dùng sữa, lạc, bột làm NễDã A Lạc-Đa chứa đầy trong cái bát nhỏ (oản) rồi để ở bốn góc của Đàn, bốn góc để đèn, sau đó rải thoa, đốt An Tất Hương. Hoặc ở trong cây kiếm, hoặc cái gương, hoặc bức tường, hoặc ngón tay, hoặc lòng bàn tay, hoặc cây đèn, hoặc tượng Phật, hoặc thủy tinh, hoặc Đàn, hoặc trong Lưu Ly xứng với sự mong muốn của Tâm để nhìn thấy việc Thiện Ác. Nên dùng Đồng Nam, hoặc có Đồng Nữ thân không có vết sẹo, trong sạch không có lỗi lầm, tắm gội thân thể, mặc áo trắng, tụng Chân Ngôn này dùng gia trì thì Ta (Kim Cương Thủ) sẽ đến chỗ ấy, tự hiện thân, tùy theo chỗ hỏi việc của ba đời thì thảy đều nói rõ, tùy theo Tâm nghi hoặc thảy đều đoạn trừ.

Nếu người bị Quỷ Mỵ dựa vào gây điên loạn thì nên dùng cành Dương với cành Thạch Lựu, dùng Chân Ngôn bên trên gia trì bảy biến, đốt An Tất Hương, vẽ hình tượng của Quỷ Thần ấy ở mặt đất. Khiến Đồng Tử lúc trước cầm nhóm cành Dương đánh quất vào lưng, bụng của hình tượng Quỷ Thần đã tô vẽ ấy, thời người bệnh kia như bị quất vào thân, kêu gào khóc lóc, cúi đầu cầu cứu, từ nay trở đi vĩnh viễn chẳng dám đi đến nữa. Thời A Xà Lê khiến Quỷ lập lời thề: “Nếu đi đến lần nữa, nguyện cho tôi với quyến thuộc bị diệt chết không còn sót”. Quỷ lập lời thề sau này chẳng đi đến nữa thì người bệnh được bình phục. Chẳng phải là chỉ trừ khử bệnh mà mọi loại việc thù thắng do sức Tổng Trì này đều được xứng Tâm, thành tựu điều đã làm”

_Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo Bí Mật Chủ Kim Cương Thủ Bồ Tát rằng: “Lành thay! Lành thay Thiện Nam Tử! Đà La Ni này hay cho tất cả chúng sinh thời vị lai làm lợi ích lớn, tất cả Như Lai thảy đều tùy vui. Đà La Ni này hay khiến cho chúng sinh phát Tâm Bồ Đề, lại khiến cho tất cả Ngoại Đạo Dị Kiến thảy đều điều phục, cho các Phật Pháp dùng làm con đường trước tiên. Tùy các quốc thổ có Tổng Trì này thì đất nước không có đói khát, người dân an vui, Quốc Chủ (vua) không có bệnh , không có oán địch, Phật Pháp lưu thông không có các chướng ngại.

Bí Mật Chủ! Bồ Tát dùng Đà La Ni này làm chủ, che giúp thân của mình, hay cầm giữ mọi loại báu Đà La Ni, ở trong đêm tối mà làm cây đước sáng, lại dùng mọi loại Đà La Ni Môn để làm Anh Lạc trang nghiêm thân ấy. Dùng Đà La Ni này đề làm con đường trước tiên. Dùng Đà La Ni này đề làm khí trượng, quá khứ hiện tại vị lai luôn nên nắm giữ. Dùng Đà La Ni này đề làm nhà cửa, an trụ trong ấy mà hành bố thí, thủ hộ Tịnh Giới, tu tập An Nhẫn, siêng hành tinh tiến Thiền Định thâm sâu, Bát Nhã chiếu sáng.

_Này Bí Mật Chủ! Thế nào là Bồ Tát an trụ ở trong Đà La Ni này để thực hành Bố Thí?

Bí Mật Chủ! Do Bồ Tát này chẳng buông bỏ bình đẳng mà thực hành bố thí. Ấy là: Do Đà La Ni bình đẳng cho nên bố thí bình đẳng. Do Bố Thí bình đẳng cho nên Ta (ngã) bình đẳng. Do Ta bình đẳng cho nên chúng sinh bình đẳng. Do chúng sinh bình đẳng cho nên Pháp bình đẳng. Do Pháp bình đẳng cho nên Bồ Đề bình đẳng. Do Bồ Đề bình đẳng tức Đà La Ni bình đẳng. Bồ Tát này trụ Đà La Ni hay thực hành bố thí. Bố thí như vậy chẳng phải là tùy theo phiền não để thực hành bố thí, mà cùng với Thắng Nghĩa Pháp tương ứng bố thí, ắt hay buông lìa tất cả phiền não, gọi là Tối Thắng Xả, các Kiến (Darśana:kiến giải, tư tưởng, chủ nghĩa, chủ trương…) chẳng khởi, quyến thuộc nội ngoại tất cả đều buông bỏ.

Bí Mật Chủ! Đây là an trụ Đà La Ni trụ xứ tu hành bố thí.

_Này Bí Mật Chủ! Thế nào là Bồ Tát trụ Đà La Ni tu hành Tịnh Giới? Vị Bồ Tát này thấy Bản Tính của thân miệng ý vắng lặng mà hộ trì Giới. Đối với thân miệng ý, Tâm không có chỗ dính mắc, chẳng dựa vào đời này, chẳng dựa vào đời khác, chẳng dựa ở bên trong, chẳng dựa ở bên ngoài, chẳng dựa vào Uẩn Giới Xứ, chẳng dựa vào Bồ Đề, cũng chẳng dựa vào Đà La Ni Môn, chẳng dựa vào Niết Bàn với tất cả Pháp. Hộ trì Tịnh Giới cũng chẳng nghĩ nói: “Ta hay trì Giới”. Đây là Bồ Tát an trụ Tổng Trì hộ trì Tịnh Giới.

_Này Bí Mật Chủ! Thế nào là Bồ Tát trụ Đà La Ni tu tập An Nhẫn? Khi Bồ Tát này tu Nhẫn Nhục thời chẳng thấy thân mình, chẳng thấy chúng sinh, chẳng thấy Bổ Đặc Già La (Pudgala), chẳng thấy tuổi thọ, chẳng thấy ở cái Ta (Ātman:Ngã) cùng với cái của Ta (Mama-kāra:Ngã Sở). Nội Tâm của Bồ Tát này thanh tịnh, chúng sinh thanh tịnh, tất cả Pháp thanh tịnh. Dùng không có chỗ nương dựa (vô sở y), y theo Tâm thanh tịnh mà hành An Nhẫn.

Khi Bồ Tát này tu An Nhẫn thời không có chút Pháp nào mà có thể tu tập, cũng không có chút Pháp nào mà có thể tổn giảm, cũng không có chút Pháp nào mà có thể tăng trưởng, cũng chẳng phải ở chút Pháp nào sinh, cũng chẳng phải ở chút Pháp nào diệt, cũng chẳng phải ở chút Pháp nào tận, cũng chẳng phải ở chút vắng lặng nào, cũng chẳng phải ở Tính Vô Ngã của chúng sinh, cũng chẳng phải ở Tính vắng lặng của chúng sinh, cũng chẳng phải ở không có sợ hãi, cũng chẳng phải ở thân diệt tận, cũng chẳng phải ở ngôn ngữ tận, cũng chẳng phải ở Tâm Ý tận, và cũng chẳng phải ở Pháp của nhóm như vậy tu tập An Nhẫn.

Khi Bồ Tát này ở thân tu an nhẫn, bị người khác gây hại, chẻ bửa mỗi mỗi lóng đốt, chân tay thì nên tự quán sát thân với cỏ cây, tường vách, gạch ngói… không có khác

Khi Bồ Tát này ở ngữ tu an nhẫn, bị người khác hủy nhục thì dùng ngôn từ khéo léo mà đáp trả lại, tự tại quán sát Tính của ngôn ngữ vốn trống rỗng (Śūnya: không) chẳng thể nắm giữ, Thể Tính vắng lặng không có chỗ trụ. Lại Thể của Pháp này đều chẳng đợi nhau, mỗi mỗi sát na chẳng nối tiếp nhau, cho nên như vậy quán sát tu hành an nhẫn.

Khi Bồ Tát này ở ngữ tu an nhẫn thời không có trược loạn, cũng không có cao thấp, thấy Thân và Tâm đều chẳng biết nhau, thấy rõ Thân Tâm không có chỗ trụ. Đây là Bồ Tát an trụ Tổng Trì tu tập an nhẫn

_Này Bí Mật Chủ! Thế nào là Bồ Tát trụ Đà La Ni siêng hành tinh tiến? Bồ Tát này vì muốn tăng trưởng các Pháp thiện cho nên siêng hành tinh tiến mà quán Pháp Giới, chẳng thấy tăng trưởng, chẳng thấy tổn giảm, không có chút chân thật nào có thể được thành tựu, không có chút điên đảo nào có thể được hoại diệt, không có Thế Giới thành, không có Thế Giới hoại, y theo Đà La Ni Môn thanh tịnh này, quán sát các Pháp cũng lại như vậy, chẳng thấy Pháp thiện mà có thể tăng trưởng, chẳng thấy Pháp ác mà có thể giảm diệt. Tính của các Pháp ấy không có lớn, không có nhỏ, không có chỗ trụ, đến không có chỗ theo, đi không có chỗ đến, hư vậy thấy biết tất cả các Pháp. Y theo Pháp như vậy trang nghiêm thân của mình, vì khiến cho chúng sinh chân thật hiểu rõ Pháp điên đảo mà vì họ nói Pháp.

Như vậy khi nói thời quán sát chúng sinh thật chẳng thể đắc. Do biết chúng sinh chẳng thể đắc, tức tất cả Pháp cũng chẳng thể đắc. Tại sao thế? Vì lìa chúng sinh thì không có chút Pháp nào mà có thể đắc, lìa Pháp cũng không có chúng sinh có thể đắc.

Lại Tính của Pháp này tức là Tính của Ta (ngã tính), Tính của Ta tức là Tính của tất cả Pháp, Tính của tất cả Pháp tức là Tính của Phật (Buddhatā:Phật Tính). Vì Thể của Bản Tính đây kia bình đẳng cho nên quán sát tìm cầu. Như vậy Phật Pháp không có chút nào có thể đắc.Do Pháp chẳng thể đắc cho nên Phật chẳng thể đắc,lại hay quán Tâm còn chẳng thể đắc huống chi là Pháp đã mong cầu mà sẽ có thể đắc. Bên trong (nội), bên ngoài (ngoại), hai tướng Năng, Sở đều quên…. như vậy nói Pháp Đây là Bồ Tát an trụ Tổng Trì siêng hành tinh tiến.

_Này Bí Mật Chủ! Thế nào là Bồ Tát trụ Đà La Ni tu tập Tĩnh Lự (Dhyāna:thiền định)? Bồ Tát này nếu nhập vào các Định thì nên nhập vào Thể Tính bình đẳng của các Thiền, chẳng phải có thành tựu, chẳng phải không có thành tựu, quán sát các Định không có tăng không có giảm, chẳng dựa theo các cảnh mà có quán sát, tỏ ngộ các Thiền Định với Thể Tính bình đẳng của tất cả Pháp, chẳng loạn, chẳng diệt, chẳng chướng ngại lẫn nhau. Đối với Công Đức rừng, cành của các Tĩnh Lự chẳng dựa vào Thân cầu, chẳng dựa vào Tâm cầu. Như vậy khi nhập vào thời dựa vào Thật Tướng, Chân Tế (Bản thể của vũ trụ), Pháp Tính mà nhập vào Định. Quán Thể Tính của chúng sinh bình đẳng, các Pháp không có sinh, như vậy tương ứng tu tập nơi Định. Nhập Định như vậy thì Tâm chẳng trụ bên trong, cũng chẳng trụ bên ngoài, cũng chẳng trụ Tâm.

Bồ Tát này chẳng trụ ở Thức (Vijñāna: nhận thức) vượt qua tất cả Hữu (các cõi), thấy chúng sinh trì Giới vào Thiền. Cũng đều vượt qua tất cả Ngoại Đạo, Ngũ Thông Thần Tiên, Thanh Văn, Duyên Giác, tất cả Tam Muội (Samādhi), Tam Ma Bát Để (Samāpatti). Hết thảy Thiền Định của Bồ Tát này từ Đà La Ni mà được sinh ra, xa lìa các Kiến với các phiền não, rồi đều hồi hướng Vô Thượng Bồ Đề, thành tựu chúng sinh, thường thuần một Tam Muội chân thật, cho đến Niết Bàn không có biến đổi sai khác (biến dị)

Đây là Bồ Tát trụ Đà La Ni tu tập Tĩnh Lự

_Này Bí Mật Chủ! Thế nào là Bồ Tát trụ Đà La Ni tu tập nơi Pháp Tỳ Bát Xá Na (Vipaśyana: Thiền Quán)? Ấy là Bồ Tát dùng con mắt Trí Tuệ thấy rõ các Pháp, chẳng phải là cái thấy của con mắt thịt, chẳng phải là cái thấy của con mắt Trời (thiên nhãn). Khi Bồ Tát này thấy như vậy thời thấy Pháp vắng lặng, thấy gần sát vắng lặng, thấy không có chỗ hành, thấy không có hợp hội, vắng lặng vứt bỏ, không có thành tựu.

Bồ Tát này dùng cái thấy như vậy, thấy tất cả Pháp. Nếu thấy có chút Pháp nào thì chẳng gọi là thấy, chẳng thấy chút Pháp nào thì gọi là thấy. Tại sao thế? Nếu thấy Pháp Thể Trí Tuệ chẳng sinh, nếu không có Trí Tuệ cũng không có vô Trí (không có Trí), cũng không có thấy. Như vậy thấy Pháp chẳng phải có Ngã Kiến (Ātama-dṛṣṭi: cái thấy hư vọng, chấp dính thật có cái ta), chẳng phải là Chúng Sinh Kiến (cái thấy hư vọng, chấp dính thật có chúng sinh), chẳng phải là Thọ Giả Kiến (cái thấy hư vọng, chấp dính thật có thọ mệnh), chẳng phải là Dưỡng Dục Kiến, chẳng phải là Sĩ Phu Kiến ,chẳng phải là Bổ Đặc Già La Kiến (Pudgala-dṛṣṭi)… thấy như vậy thì gọi là thấy Pháp, thấy Pháp như vậy tức thấy chúng sinh hư vọng điên đảo. Thế nên Bồ Tát đối với các chúng sinh khởi Tâm Đại Bi rất bền chắc, tác niệm này, nói là: “Lạ thay chúng sinh! Diệu Pháp như vậy! Thanh Tịnh như vậy! Vì sao mà bị phiền não ràng buộc luôn chịu dau khổ lớn?!… Vì muốn khiến cho họ giải thoát khổ đau hư vọng mà khởi Đại Bi”

Đây là Bồ Tát trụ Đà La Ni tu tập nơi Pháp Tỳ Bát Xá Na (Vipaśyana: Thiền Quán)”

_Đức Phật nói: “Này Bí Mật Chủ! Ta ở trong vô lượng Kiếp tu tập Ba La Mật Đa (Pāramitā) như vậy, đến thân cuối cùng, sáu năm khổ hạnh, chẳng được A nậu Đa La Tam Miểu Tam Bồ Đề (Vô Thượng CHính Đẳng Chính Giác) thành Tỳ Lô Giá Na (Vairocana: Đại Nhật). Khi ngồi ở Đạo Trường thời vô lượng vị Hóa Phật (Nirmāṇabuddha) giống như hạt mẻ tràn đầy khắp hư không. Chư Phật đồng thanh mà bảo Ta rằng: “Thiện Nam Tử! Vì sao mà cầu thành Đẳng Chính Giác (Samyaksaṃbuddha)?”

Ta bạch Phật rằng: “Con là Phàm Phu chưa biết chỗ mong cầu. Nguyện xin Từ Bi vì con giải nói”

Lúc đó chư Phật đồng bảo Ta rằng: “Thiện Nam Tử! hãy nghe cho kỹ! Hãy nghe cho kỹ! Ta sẽ vì ông nói. Nay ông thích ứng, nên ở đầu mũi tưởng vành trăng trong sạch, ở trong vành trăng làm Án Tự Quán. Làm Quán này xong, vào lúc sau đêm được thành A Nậu Đa La Tam Miểu Tam Bồ Đề.

Này Thiện Nam Tử! Mười phương Thế Giới như hằng hà sa chư Phật ba đời chẳng ở vành trăng làm Án Tự Quán mà được thành Phật thì không có điều này. Tại sdao thế? Vì chữ Án (輆:OṂ) tức là tất cả Pháp Môn, cũng là cây đuốc báu, chìa khóa của tám vạn bốn ngàn Pháp Môn.

Chữ Án (輆:OṂ) tức là Chân Thân của Tỳ Lô Giá Na Phật.

Chữ Án (輆:OṂ) tức là mẹ của tất cả Đà La Ni. Từ đây hay sinh tất cả Như Lai, từ Như Lai sinh tất cả Bồ Tát, từ Bồ Tát sinh tất cả chúng sinh, cho đến chút phần nơi có căn lành

Thiện Nam Tử! Đà La Ni này có đủ công dụng, uy đức chẳng thể nghĩ bàn của nhóm như vậy, cùng Kiếp diễn nói kiếp số có thể hết, nhưng công dụng, uy đức của Đà La Ni này chẳng thể cùng tận”

Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn hiển bày Công Đức thù thắng của Đà La Ni này một lần nữa, nên nói Kệ rằng:

“_Nếu lìa bụi phiền não

Hay chặt mọi dơ bẩn (cấu)

Lìa (cấu), Tâm thanh tịnh

Đây Bảo Cự (cây đuốc báu) Tổng Trì _Nếu thân miệng ý sạch (tịnh)

Bình đẳng khởi Tâm Từ (maitra-citta)

Ánh sáng như trăng trong

Đây Bảo Cự Tổng Trì

_Giải thoát các hai Kiến (đoạn kiến và thường kiến)

Xa lìa niệm với nghi

Được Trí Tuệ Tưởng Tâm

Đây Bảo Cự Tổng Trì

_Vào ở Niệm Trí Môn

Đủ công đức Đại Trí

Như Không Tế (tên gọi khác của Niết Bàn) không dơ

Đây Bảo Cự Tổng Trì

_Chẳng đứt mầm Tam Bảo (tam bảo chủng)

Xa lìa ba loại dơ

Thoát Hoặc (tên gọi khác của phiền não), Khổ ba cõi

Đây Bảo Cự Tổng Trì _Diệt hết tham sân si

Các phiền não che lấp

Chẳng bị Kiếp trược loạn

Đây Bảo Cự Tổng Trì

_Thế Giới thượng trung hạ

Hết thảy các âm thanh

Khéo vào tướng không bụi (vô trần)

Đây Bảo Cự Tổng Trì

_Đầy đủ Pháp thâm sâu

Các câu chữ vô biên

Thoát Ngã Sở (cái của ta), hai Kiến (thường kiến và đoạn kiến)

Đây Bảo Cự Tổng Trì

_Khéo dựng lập bốn Hạnh

Đầy đủ ở bốn Thiền

Tùy thuận được giải thoát Đây Bảo Cự Tổng Trì

_Được mắt Pháp thắng nghĩa

Bốn Nhiếp, Phạm Trụ tròn

Năm Thông làm lối trước (tiên đạo: con đường trước tiên)

Đây Bảo Cự Tổng Trì

_Dựng lập Diệu Niệm Xứ

Thường tùy thuận Chính Đoạn

Luôn tu bốn Thần Túc

Đây Bảo Cự Tổng Trì

_Đủ năm Căn nhóm Tín (tín căn, tinh tiến căn, niệm căn, định căn, tuệ căn)

An trụ ở năm Lực (tín lực, tinh tiến lực, niệm lực, định lực, tuệ lực)

Mau trụ bảy Giác Phần

Đây Bảo Cự Tổng Trì

_Tám Chính Đạo dẫn nhiếp

Trụ ở ngọn Chỉ (Śamatha), Quán (Vipaśyana)

Đều giải thoát dẫn đường

Đây Bảo Cự Tổng Trì

_Mãn Tự Tại Hành Địa

Thường tùy đường giải thoát (giải thoát đạo)

Dứt hẳn tất cả lỗi

Đây Bảo Cự Tổng Trì

_Ánh sáng chiếp khắp đời

Như Nhật Nguyệt trong sáng

Hay khiến mắt thanh tịnh

Đây Bảo Cự Tổng Trì

_Thiên Nhãn khéo thanh tịnh

Tuệ Nhãn không che chướng

Pháp Nhãn cũng thanh tịnh

Đây Bảo Cự Tổng Trì

_Hay tịnh Phiền Não Ma

Với tịnh đường Uẩn Ma

Tử Ma đã giáng phục

Các quân Ma lui diệt

_Tổng Trì tự tại trụ

Trong na do tha cõi

Thấy na do tha Phật

Lắng nghe Pháp vô thượng

_Nghe Pháp rộng lớn này

Sức Chân Minh niệm trì

Văn nghĩa thảy đều tròn

Rộng vì chúng sinh nói

_Người trụ Tổng Trì này

Nơi Pháp, biết tinh tế

Phân biệt các nhân duyên

Tâm Trí, sát na diệt

_Người mãn Tổng Trì này

Không dính, không chỗ dựa

Ba Trí Nhãn đã sáng An trụ ba giải thoát

_Được Tối Thắng Trì này

Rộng nói Chân Ngôn yếu (sự thiết yếu của Chân Ngôn)

Được nhiều Pháp Tổng Trì

Vô lượng, khó thể xưng

_Các Định với giải thoát

Vô lượng không có bờ

Dạo chơi các Thông Minh

Vô biên Môn đều đủ

_Như biển lớn vô lượng

Nay nhận các giòng sông

Như vậy Tối Thắng Minh

Nơi quy vô biên Pháp

_Muốn ngộ Trí không tận

Khéo vào tiếng không tận

Diệt hẳn duyên kết buộc

Nói Pháp Chân Minh này.

_Nếu muốn các sắc tướng

Chủng Tộc đều tôn sùng

Đời đời thân thù thắng

Đắc được báu Như Ý

Hay vào Giáo (Śāstra) thâm sâu

Nhẫn chẳng xuất, chẳng sinh

Trí Địa chẳng dao động

Nói Pháp Tổng Trì này

_Vô số các Bồ Tát

Cầu Vô Thượng Bồ Đề (Agra-bodhi)

Được Đà La Ni này

Bồ Đề chẳng khó được

_Tất cả Phật mười phương

Nói Pháp lợi chúng sinh

Được Tối Thắng Minh này

Biện Tài thường chẳng dứt

_Được Pháp Chân Minh này

Nói Pháp đều chẳng rỗng (bất không)

Biết thân căn tốt đẹp

Vô lượng chúng sinh vui

_Trụ Pháp Chân Minh này

Chuyển bánh xe tối thắng

Chúng sinh thoát nguồn khổ

An trụ Tối Thắng Thừa

_Na do tha ức Kiếp

Khen ngợi công năng này

Đông Đức này vô biên

Phật nói chẳng thể hết”

Bấy giờ, Bí Mật Chủ Kim Cương Thủ Bồ Tát Ma Ha Tát nghe nói điều này xong, thời vui mừng hớn hở, liền đứng dậy chắp tay, nhiễu quanh đức Thế Tôn theo bên phải trăm ngàn vòng rồi quay về chỗ ngồi của minh, cug kính chiêm ngưỡng.

Khi Đức Phật nói Phẩm Công Đức của Đà La Ni này thời ba mươi hai na do tha Bồ Tát được Đà La Ni này, vô lượng vô số chúng sinh phát Tâm A Nậu Đa La Tam Miểu Tam Bồ Đề (Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác)

 

KINH THỦ HỘ QUỐC GIỚI CHỦ ĐÀ LA NI

_QUYỂN THỨ CHÍN (Hết)_

*********

QUYỂN THỨ MƯỜI

THỌ KÝ CHO VUA A XÀ THẾ PHẨM THỨ MƯỜI

Bấy giờ trong Hội, chủ của nước Ma Già Đà (Magadha) là vua A Xà Thế (Ajātaśatru) liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trật áo hở vai phải, quỳ gối phải sát đất, chắp tay cung kính, đỉnh lễ bàn chân của Đức Phật rồi bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Nay Đức Như Lai ở tại đất nước của con, dưới cây Bồ Đề nói Đà La Ni với Mạn Trà La đã có vô lượng Công Đức như vậy. Vì sao nước Ma Già Đà: gió mưa chẳng đúng thời tiết, hạn hán ngập úng chẳng điều hòa, mất mùa đói kém (Durbhi-ksāntara: cơ cận) liên tiếp nhau, oán địch xâm nhiễu, vô lượng bệnh dịch, trăm ngàn tai nạn … Nguyện xin Đức Thế Tôn chặt đứt lưới nghi ngờ của con”

Khi ấy, Đức Thế Tôn khen A Xà Thế rằng: “Đại Vương! Lành thay! Lành thay! Thích hỏi nghĩa này, ở đời vị lai lợi ích nhiều cho tất cả chúng sinh.

Đại Vương hãy lắng nghe! Hãy nghe cho kỹ! Hãy khéo nghĩ nhớ! Ta sẽ vì ông phân biệt giải nói.

Này Đại Vương! Như vua đã nói: “Ở trong nước của con thường có mất mùa đói kém, oán địch…”. Thủ Hộ Quốc Giới Chủ Đà La Ni này dùng sáu mươi câu chi na do tha Đà La Ni để làm quyến thuộc, Đại Kim Cương Thành Mạn Trà La này có ba ngàn năm trăm Mạn Trà La dùng làm quyến thuộc. Song, tất cả đều dùng Tâm tin tưởng làm căn bản, dùng Bát Nhã (Prajña) làm con đường trước tiên; Tâm bồ Đề (Bodhi-citta) với Tâm Đại Bi (Mahākāruṇa-citta) dùng làm trang nghiêm.

Đại Vương! Tất cả Pháp tốt lành (thiện pháp) thảy đều từ Đà La Ni này sinh.

Tất cả tội ác do chẳng tin Nhân Quả dùng làm căn bản

Đại Vương! Nay ông chẳng tin nhân quả, ham mê nănm Dục Lạc như gió mạnh lớn thổi Tâm tin tưởng ấy với Tâm Bồ Đề, Đại Bi Tổng Trì thảy đều đi xa

Đại Vương nay tuy có con mắt, lỗ tai… như người mù điếc chẳng nghe sấm sét, chẳng thấy mặt trời mặt trăng. Tại sao thế? Vì danh tự vua của ông còn chẳng tự mình nghe được, huống chi là âm thanh khác. Thế nào là tên gọi vua? Phàm nói vua tức là nghĩa của La Nhạ (Rāja)

Tiếng của Chữ La (RĀ) là tiếng khổ não. Tiếng khóc lóc, buồn than, không có chủ, không có nơi quy về, không có cứu giúp… thì vị vua nên an ủi dạy bảo (úy dụ) nói lời như vầy: “Ngươi đừng khổ não, Ta là chủ của ngươi, sẽ cứu giúp ngươi”. Rồi lau nước mắt, thương yêu giúp đỡ, vỗ về nuôi nấng

Nói tiếng của chữ Nhạ (JA) là nghĩa tối thắng, là nghĩa phú quý, là nghĩa tự tại, là nghĩa thù thắng, là nghĩa dũng mãnh, là nghĩa đoan chính, là nghĩa Trí Tuệ, là nghĩa hay tồi tiệt tất cả chúng sinh kiêu mạn tự cao, lấn hiếp khinh mệt người khác.

Đại Vương! Ngày nay ông chẳng tin nhân quả, gần gũi bạn ác là Đề Bà Đạt Đa (Devadatta) giết cha sinh ra mình: nhốt tù, cột trói, để cho đói khát…vẫn chẳng chết rồi chặt chân của ông ấy. Lại khiến Điều Đạt (Devadatta) làm cho thân Phật chảy máu, phá hòa hợp Tăng. Lại thả Hộ Tài là con voi ác: say rượu nổi điên, dữ tợn dẫm đạp Như Lai.

Đại Vương! Nay ông lại có tội nặng rất lớn. Ấy là thiêu đốt con mắt Pháp thanh tịnh của tất cả chúng sinh, chặt đứt hết Pháp chân chính của chư Phật, đóng kín cửa Người, Trời, Niết Bàn… mở bày nẻo ác sinh tử trong ba đường (Địa Ngục, Quỷ đói, súc sinh). Tại sao thế? Vì ông là quốc vương đi ra dạo chơi vườn hoa vườn thú, chuẩn bị nghiêm mật voi, xe ngựa một vạn hai vạn. Người đánh xe, ngựa hai ba mươi vạn… dùng làm tùy tùng hộ vệ. Lại đem hết thảy máu mỡ (cao huyết) của trăm họ, dùng xoa bôi voi, ngựa”.

_Khi vua A Xà Thế nghe lời nói này xong, liền bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Nay con suy nghĩ kỹ, chưa từng dùng máu mỡ của trăm họ để xoa bôi voi ngựa. Vì sao Đức Thế Tôn lại nói như vậy?!…”

Đức Phật nói: “Này Đại Vương! Voi ngựa của nhà vua, mỗi mỗi đều dùng Uất Kim, Long Não, Chiên Đàn, Trầm, Xạ hòa làm bùn hương dùng xoa bôi voi ngựa. Nhóm hương như vậy đều lấy ra từ trăm họ, đánh thuế trăm họ như ép mè. Hàng ngàn nhà nghèo túng, khốn khổ, tiền của chẳng thể cung cấp đủ cho chi phí của một con voi. Chính vì thế nên biết máu mỡ của trăm họ rất là dễ được, nhưng nhóm hương như vậy rất khó tìm cầu. Nếu Đại Vương nghi ngờ thì nên tự đi tuần tra, xem xét tất cả nhà tù, sẽ thấy vạn Tính chịu khổ hơn cả Đại Địa Ngục.

Đại Vương cưỡng ép cướp đoạt hết thảy tiền của của trăm họ, ban cho kẻ có địa vị khiến cho họ giàu có, ngày thêm xa xỉ. Còn người nghèo túng càng nghèo cùng hơn, khiến các người nghèo, cô độc, khốn khổ… chân đi không có đất đều cầu xuất gia. Người như vậy không có Hòa Thượng với A Xà Lê, tự mình khoác áo Cà Sa, chẳng thọ nhận Cấm Giới, không có Pháp tự ở… khiến cho các hữu tình sinh Tâm khinh kẻ chẳng muốn thấy nghe. Đấy là Đại Vương thiêu đốt con mắt Pháp ấy, chặt đứt hết Phật Pháp, đóng bít đường người Trời, mở của nẻo ác. Thế nên Ta nói Đại Vương chẳng nghe danh tự của chính mình, do Nhân Duyên này thì làm sao được Thần Lực gia hộ của Đà La Ni này!…

Đại Vương! Nay Ta sẽ nói nhân duyên của thời xa xưa (cổ tích), nhà vua nên suy nghĩ kỹ lưỡng để hiểu rõ nghĩa ấy

Này Đại Vương! Đời xa xưa có Đức Phật hiện ra, tên là Ca Diệp Ba (Kāśyapa) Như Lai, Ứng Cúng, Chính Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Đức Phật ấy nói Pháp: chặng đầu tốt lành, chặng giữa tốt lành, chặng sau tốt lành, mở bày Phạm Hạnh (Brāhma-caryā)

Thời đó, có một vị vua tên là Cật Lý Chỉ đối với Đức Như Lai ấy sinh niềm tin trong sạch sâu xa. Nhà vua ở trong đêm được hai loại mộng.

1_Mộng thấy mười con vượn (Markaṭa: di hầu) thì có chín con vượn nhiếp loạn trong thành. Tất cả người dân, thê thiếp, nam nữ xâm đoạt thức ăn uống, phá hoại mười vật (các khí cụ phẩm vật sinh hoạt hàng ngày), liên tiếp dùng thứ chẳng trong sạch (bất tịnh) làm cho vấy bẩn nhơ nhớp. Chỉ có một con vượn giữ Tâm biết đủ, ngồi yên trên cây chẳng quấy nhiễu cư nhân (người cư trú, người có nhà ở). Thời chín con vượn đồng tâm não loạn con vượn biết đủ này, tạo làm các lưu nạn (nạn gây chướng ngại) xua đuổi ra khỏi chúng hội của vượn.

2_Mộng thấy con voi trắng giống như ngọn núi lớn ở ngay của của Đế Vương, đầu đội có cái miệng đều ăn cỏ, uống nước. Tuy luôn ăn uống nhưng thân thường gầy ốm.

Khi nhà vua tỉnh giấc thì rất sợ hãi, triệu người xem tướng (chiêm tướng giả) hỏi căn nguyên giấc mộng ấy. Người xem tướng bạch với nhà vua: “Chín con vượn tức là chín vị vua, con vượn biết đủ ấy tức là Đại Vương, đây tức là chín vị vua đồng lòng soán đoạt địa vị quý báu của Đại Vương, Con voi có hai miệng tức là chín vị vua ăn quốc ấp này kèm ăn vương quốc”.

Nhà vua nghe lời nói này thì kinh sợ, dựng đứng lông tóc, nhưng Tâm chưa quyết định, suy nghĩ muốn gặp Đức Phật để chặt đứt sự nghi ngờ này. Liền sai Tả Hữu chuẩn bị nghiêm mật mọi loại vật cúng dường, một lòng đi đến chỗ của Đức Phật Ca Diệp (Kāśyapa-buddha). Đến xong, làm lễ, đem các vật cúng dâng lên, phụng hiến Đức Như Lai rồi khom mình chắp tay, bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Con ở đêm hôm qua có giấc mộng chẳng lành. Nguyện xin Đức Thế Tôn vì con giải nói, khiến chặt đứt lưới nghi ngờ”

Thời nhà vua trình bày đủ giấc mộng, thưa bạch với Đức Phật

Đức Phật nói: “Này Đại Vương! Giấc mộng của nhà vua chẳng liên quan gì đến nhà vua nên đừng sinh lo sợ. Nhà vua hãy khéo nghe cho kỹ! Ta sẽ vì nhà vua nói. Đây là đời ác năm trược ở vị lai, có Đức Phật hiện ra, Hiệu là Thích Ca Mâu Ni (Śākyamuṇi), sau khi diệt độ lưu lại tướng của Pháp”.

Này Đại Vương! Mười con vượn tức là mười loại Đệ Tử của Đức Phật ấy”

_Nhà vua bạch Phật rằng: “Thế Tốn Thế nào gọi là mười loại Đệ Tử của Đức Phật ấy?’

Đức Phật Ca Diệp nói: “Một là: nghèo túng sợ chẳng sinh sống nổi mà làm Sa Môn (Śramaṇa:danh xưng chung cho người xuất gia tu Đạo). Hai là: đày tớ có sự sợ hãi mà làm Sa Môn. Ba là: sợ hãi phải mang nợ mà làm Sa Môn. Bốn là: Tìm kiếm lỗi lầm của Phật Pháp mà làm Sa Môn. Năm là: muốn hơn người khác mà làm Sa Môn. Sáu là: vì danh tiếng mà làm Sa Môn. Bảy là: vì muốn sinh lên cõi Trời mà làm Sa Môn. Tám là: vì lợi dưỡng mà làm Sa Môn. Chín là: vì muốn cầu địa vị của vua chúa ở đời vị lai mà làm Sa Môn. Mười là: Tâm chân thật mà làm Sa Môn”.

_Thời Đại Vương ấy bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Mười Sa Môn này thời Tướng ấy như thế nào?”

Đức Phật ấy đáp rằng: “Đại Vương! Người nghèo túng sợ chẳng sinh sống nổi mà làm Sa Môn. Có nhiều chúng sinh chẳng tin nhân quả, tham cầu tài bảo, trợ nhau xâm đoạt, liền cảm thấy trời đất, mưa móc chẳng đúng Thời, năm loại lúa đậu chẳng chín (tức mất mùa), chẳng đóng đủ Thuế của quan, nghèo đói áp bức, mua bán nam nữ, không có chỗ nhờ cậy, lấy thứ vứt bỏ treo trên cây làm áo Cà Sa, tự cạo râu tóc làm tượng Sa Môn, không có A Xà Lê cũng không có Hòa Thượng, không có Giới, không có Pháp, tương tự Sa Môn, lâu dài nhận hành tất cả Pháp ác, vào Tăng Già Lam (Saṃghārāma: vườn rừng có Tăng Chúng cư trú) tự xưng “Ta là Luật Sư, Thiền Sư, Pháp Sư, Đại Đức”. Ngồi ở trong Chúng, nói với vị Tăng khác là: “Các ngươi đều là Đệ Tử của Ta”. Đối với nhà của Thanh Tín Sĩ, Tộc Tính, Trưởng Giả, Bà La Môn ra vào giao du tạo nhiều lỗi lầm. Đây gọi là loại thứ nhất nghèo túng sợ chẳng sinh sống nổi mà làm Sa Môn

Đại Vương! Thế nào gọi là đày tớ có sự sợ hãi mà làm Sa Môn? Ấy là kẻ nô tỳ thấp hèn tác suy nghĩ này: “Vì sao một đời phải chịu sự sai khiến của người khác?” rồi chạy trốn mà xuất gia. Đây là loại thứ hai.

Đại Vương! Thế nào gọi là sợ hãi phải mang nợ mà làm Sa Môn? Ấy là có chúng sinh vay nợ công, tư tức lợi đã nhiều mà trả lại chẳng đủ, nên bị bức bách phải trốn đi mà xuất gia. Đây là loại thứ ba.

Đại Vương! Thế nào gọi là tìm kiếm lỗi lầm của Phật Pháp mà làm Sa Môn? Ấy là các Ngoại Đạo sinh Tâm ganh ghét liền cùng nhau tập hội luận bàn, ai có thông minh, căn lanh lợi, tuệ biện luận thì vào trong Phật Pháp, học hết thảy Pháp Thế Xuất Thế ấy, dòm ngó sự đúng sai ấy rồi quay vể chỗ của chúng ta, đối trước Quốc Vương, Đại Thần, Trưởng Giả… dựng cây cờ (Dhvaja) luận nghị nêu ra lỗi lầm ấy, tồi hoại phá diệt Chính Pháp của Đức Phật ấy. Đây gọi là loại thứ tư.

Đại Vương! Thế nào gọi là muốn hơn người khác mà làm Sa Môn? Ấy là hoặc có chúng sinh nghe có người (họ tên là…) khoác áo cạo tóc có nhiều kỹ năng thông đạt ba Tạng (Trīṇi-piṭakāni) thì Tâm sinh nóng bức tức liền xuất gia, học Kinh (Sūtrānta-piṭaka: Kinh tạng), Luật (Vinaya-piṭaka: Luật Tạng), Luận (Abhidharmapiṭaka: Luận Tạng)… Pháp thiện đã tu đều muốn hơn người kia. Đây là loại thứ năm.

Đại Vương! Thế nào gọi là vì danh tiếng mà làm Sa Môn? Ấy là hoặc có người tự suy nghĩ: “Nếu Ta ở nhà thì không có danh tiếng. Ta nên cạo tóc, khoác áo xuất gia, siêng học Đa Văn, thọ trì Cấm Giới, ở trong Đại Chúng ngồi Thiền, vào Định… khiến cho người vật biết tên”. Đây là loại thứ sáu.

Đại Vương! Thế nào gọi là cầu sinh lên cõi Trời mà làm Sa Môn? Ấy là hoặc có người nghe trong chư Thiên được sống lâu khoái lạc. Ta không có phương tiện để được sinh lên trên. Liền cạo tóc nhuộm áo xuất gia, tu trì Thiện Pháp đều nguyện sinh lên cõi Trời. Đây là loại thứ bảy.

Đại Vương! Thế nào gọi là vì lợi dưỡng mà làm Sa Môn? Ấy là hoặc có người trước tiên có tài bảo lài cầu nơi hơn nữa, được tịnh xá tốt, phòng viện trang sức hoa lệ. có thể dùng nghỉ ngơi, thọ dụng hết thảy tài sản của ta người. Đây gọi là loại thứ tám.

Đại Vương! Thế nào gọi là vì địa vị vua chúa đời vị lai mà làm Sa Môn? Ấy là có chúng sinh thấy nơi quốc vương tự tại, tôn sùng, phú quý, an vui liền sinh yêu thích, bèn cầu xuất gia, căn lành đã tu chỉ nguyện sẽ được ở địa vị của vua. Đây gọi là loại thứ chín.

Đại Vương! Thế nào gọi là Tâm chân thật mà làm Sa Môn? Ấy là có chúng sinh tuy sinh vào nhà Sát Lợi, Đại Thần, Tộc Tính, Bà La Môn. Hoặc sinh trong nhà Trưởng Giả, Cư Sĩ, Thương Chủ, Phú Quý… thịnh niên (tuổi từ 21 đến 29) mỹ mạo. Quán các tài sắc, phú quý, vinh hiển giống như mây nổi, bọt nước, huyễn, ánh điện… sinh diệt chẳng trụ, bèn khởi chán lìa, phát Tâm Bồ Đề. Thân có trân tài tất cả đều buông bỏ, xuất gia mộ Đạo, gìn giữ Luật Nghi, học Pháp, tu Thiền tinh cần chẳng lười biếng. Phàm chỗ đã làm đều vì chúng sinh, chỉ cầu quả Vô Thượng Bồ Đề. Đây gọi là loại thứ mười Tâm chân thật mà làm Sa Môn.

Đại Vương nên biết, như nhà vua đã nằm mộng thấy một con vượn ít ham muốn biết đủ, ở một mình trên cây, chẳng quấy nhiễu con người, tức là Sa Môn chân thật trong Pháp lưu lại của Đức Thích Ca Như Lai. Chín con vượn ấy nhiễu loạn mọi người, đồng lòng xua đuổi một con vượn tức là chín loại Sa Môn lúc trước trong Pháp lưu lại của Đức Thích Ca Như Lai, không có Pháp của Sa Môn cho nên gọi chung là tương tự Sa Môn đồng hành hạnh ác, cùng nhau xua đổi một Sa Môn chân thật ra bên ngoài Chúng.

Đại Vương! Sa Môn ác này phá Giới hành ác, ô uế tất cả nhà Tộc Tính, hướng vào quốc vương, đại thần, quan trưởng… luận nói hủy báng Sa Môn chân thật. Ngang ngạnh nói đúng sai, nói là người ác phá Giới hành ác, chẳng hợp cùng với Tỳ Kheo trì Giới của Ta cùng chung Chỉ Trụ (an bình vĩnh cửu), Bố Tát (Poṣadha:Tỳ Kheo đồng trụ, cứ mỗi nửa tháng tập hội tại một chỗ) nói Giới, cũng chẳng hợp đồng ở một Tự Xá, đồng một quốc ấp. Tất cả việc ác đều đẩy cho vị Sa Môn chân thật ấy, lừa dối quốc vương, đại thần, quan trưởng khiến xua đuổi vị Sa Môn chân thật ra khỏi quốc giới. Kẻ phá Giới tụ tại du hành, rồi cùng với quốc vương, đại thần, quan trưởng… cùng nhau có quan hệ thân mật

Này Đại Vương! Hết thảy Giáo Pháp của Đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai ấy, tất cả Thiên Ma, Ngoại Đạo, người ác, Ngũ Thông Thần Tiên đều chẳng thể hoại cho đến chút phần. Nhưng Các Sa Môn ác có danh tướng này thảy đều hủy diệt khiến không có dư sót. Như núi Tu Di (Sumeru) giả sử hết thảy cỏ cây ở trong ba ngàn Đại Thiên Thế Giới đều đem làm củi, thiêu đốt lâu dài cũng không có hao tổn một sợi lông nhỏ. Nếu Kiếp Hỏa (Kalpāgni) dấy lửa từ bên trong sinh ra, ắt liền đốt diệt không còn dư sót tro tàn”

Bấy giờ Đức Phật Ca Diệp Ba vỉ vua Cật Lý Chỉ, một lẩn nữa nói Kệ rằng:

“_Nghèo sợ khó sống mà cạo tóc

Nói được kính dưỡng thoát nghèo cùng

Tán loạn bay cao (cao cử) cốt nhiều tiền

Trong rỗng chẳng thật như lau sậy (lô vi)

_Say mê quyến thuộc, nơi phiền não

Người này lìa xa Đại Bồ Đề

Như giữ vàng ròng, lại vứt bỏ

Nhặt củi gánh vác, sinh vui vẻ

_Danh lợi buộc quanh, thêm lười biếng

Lười tăng, diệt hết Tâm Tịnh Tín

Tâm tin đã diệt, Tịnh Giới không

Không Giới chặt hết quả người Trời

“_Lan Nhã (Araṇya: nơi vắng lặng), rừng vắng (nhàn lâm), tự an ở

Vốn cầu danh lợi với Thân Tri (bạn bè thân thích)

Xa lìa Tâm Giới, Định, Trí Tuệ

Chỉ nương hào quý (địa vị), trụ bạn thân (thân thức)

_Tự tìm ba ác với tám nạn

Nghèo cùng thấp kém, sinh biên địa

Ví như người mù đến bãi báu

Lấy đá, vứt bỏ báu Như Ý

_Phóng Dật (Pramāda), buông lung thêm thắng bại

Xa lìa Giới Hạnh, Tâm Chính Niệm

Đọa ngục A Tỳ (Acīvi) rất đáng sợ

Trải câu chi Kiếp, khó giải thoát.

_Nội Tâm luôn vì cầu danh tiếng

Thân, miệng hiện nói vì Bồ Đề

Như chim trên không, gặp gió mạnh

Rơi vào sinh tử, biển khổ lớn

_Phước mỏng đắm nhiễm Thiên Nhân Nữ

Phá Giới, xa lìa Nhân (Hetu) nghiệp Thiện (Kuśala-karma)

Phật dạy đều bị lửa Dục đốt

Như núi Tu Di gặp Kiếp Hỏa

_Không Bồ Đề Vị (mùi vị của Bồ Đề) chỉ cầu lợi

Luôn vì người nói cầu Bồ Đề

Tâm chẳng trụ ở trong giải thoát

Như con vượn được quả dừa cứng

_Như Lai (Tathāgata) vì cầu báu Chính Pháp

Ném thân: vách núi, hầm lửa lớn

Đã nghe Pháp xong, tùy thuận tu

Oán thân, bình đẳng đều Từ Tế (yêu thương giúp đỡ cứu vớt)

_Vì sao nghe Công Đức của Phật

Chẳng sinh một niệm, Tâm ưa thích

Chỉ yêu Phi Pháp xa Bồ Đề

Như người bị mù bày đường khác”

_Đức Ca Diệp Như Lai nói Kệ này xong, lại bảo vua Cật Lý Chỉ rằng: “Này Đại Vương! Giác mộng mà ông đã thấy, con voi trắng có hai miệng ở trước cửa của Đế Vương luôn ăn cỏ uống nước mà thân gầy ốm, cũng chẳng phải là việc của nhà vua. Tức là Pháp lưu lại của Đức Thích Ca Như Lai trong đời ác năm trược: trăm quan, Huyện Lệnh (lệnh trưởng) chẳng tin nhân quả, bên trên nhận lấy công danh lợi lộc, quang vinh của Đế Vương, bên dưới đối với trăm họ thì truy tìm điều Phi Lý. Tuy lại tham cầu mà nhiều thiếu thốn, thu thuế vô độ vạn dân nghèo cùng, mua bán con cháu, nghiệp nhà hỏng hết, vào chùa cạo tóc, chùa lại hoang vu, nhiều Tỳ Kheo ác phát Tâm không có Địa (Bhūmi), bèn xuất gia theo nhóm Ngoại Đạo Lộ Già Gia (Lokāyata) học điều khác lạ (dị học) theo các Kiến Đoạn, Thường. Do nhân duyên Tà Kiến nên thầy trò đều bị đọa, tự vào Địa Ngục, lại cùng với nhiều người mở cửa Địa Ngục, cùng dẫn nhau hăm hở chạy vội đến ba đường ác, đóng nẻo người Trời, không do đâu mà giải thoát được

Đại Vương nên biết hai giấc mộng này đều là tướng của Pháp lưu lại của Đức Thích Ca Như Lai, chẳng liên quan gì đến việc của nhà vua”

Vua Cật Lý Chỉ nghe nói điều này xong, chặt đứt hẳn lưới nghi ngờ, vui mừng hớn hở. Lại đem mọi loại vật cúng thượng diệu, cung kính cúng đường Đức Ca Diệp Như Lai, đỉnh lễ bàn chân của Đức Phật, nhiễu quanh theo bên phải rồi lui ra.

_Bấy giờ, Đức Thích Ca Như Lai nói lời này xong, thời chủ của nước Ma Già Đà là vua A Xà Thế lại bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Như Đức Phật đã nói, các chúng sinh ác vào chốn Địa Ngục. Làm sao biết ai là người đã từng nhìn thấy? Làm sao biết sẽ đọa vào Quỷ đói với Súc Sinh, sẽ sinh làm Người Trời và ai là người đã nhìn thấy?

Khi ấy, Đức Thế Tôn bảo A Xà Thế rằng: “Đại Vương cần phải một lòng lắng nghe. Ta sẽ vì nhà vua nói khiến cho nhà vua được thấy biết ngay trước mặt.

Đại Vương nên biết, nếu người chết đi bị đọa vào Địa Ngục sẽ có mười lăm tướng. Nếu sinh làm Người, Trời đều có mười tướng.

_Này Đại Vương! Nhóm nào là mười lăm tướng sẽ sinh vào Địa Ngục?

1_ Đối với vợ chồng, con trai, con gái, quyến thuộc của mình thì dùng con mắt ác ngó nhìn

2_ Đưa hai tay lên sờ bắt mô phỏng hư không

4_Thiện Tri Thức (Kalyāṇa-mitra) dạy bảo thì chẳng chịu thuận theo

4_Buồn bã kêu gào, khóc lóc, khóc khàn tiếng, rơi nước mắt

5_Khi đại tiện, tiểu tiện đều chẳng hay chẳng biết

6_Nhắm mắt chẳng mở

7_Thường che đầu mặt

8_Nằm nghiêng mà ăn uống

9_Thân miệng hôi thối

10_Bàn chân, đầu gối run rẩy

11_Sống mũi nghiêng một bên

12_Con mắt trái co giựt

13_Hai con mắt đỏ ngầu

14_Gục mặt mà nằm

15_Thân co quắp, nghiêng hông trái nằm sát đất

Đại Vương nên biết, nếu lúc lâm chung có đủ mười lăm tướng thì chúng sinh như vậy quyết định sẽ sinh vào Địa Ngục A Tỳ.

_Đại Vương nên biết, nếu lại có người khi lâm chung thời có tám loại tướng sẽ biết bị đọa vào cảnh giới Diêm Ma La trong đường quỷ đói. Thế nào là tám?

1_Thích liếm môi

2_Thân nóng như lửa

3_Thường lo đói khát, ưa nói ăn uống

4_Há miệng chẳng khép lại

5_Hai con mắt khô cằn như chim kên kên, chim công

6_Không thể đại tiện, tiểu tiện

7_Đầu gối phải bị lạnh trước tiên

8_Tay phải thường nắm lại

Tại sao thế? Vì Tâm ôm giữ sự keo kiệt cho đến chút nước cũng chẳng ban cho người.

Đại Vương! Nếu đủ tám tướng thì khi mệnh chung, quyết định sinh trong nẻo quỷ đói

_Đại Vương nên biết, nếu lại có người khi lâm chung có năm tướng hiện ra thì người này quyết định rơi vào nẻo súc sinh. Thế nào là năm?

1_Yêu nhiễm vợ con, tham gần gũi chẳng buông bỏ

2_Tay chân co quắp lại

3_Khắp thân đổ mổ hôi

4_Phát ra tiếng thô rít

5_Trong miệng nhấm nuốt nước bọt

Đại Vương! Nếu có đủ năm điều này thì khi mệnh chung, quyết định đọa vào nẻo súc sinh

_Đại Vương nên biết, nếu lại có người khi lâm chung có mười tướng hiện ra thì người này quyết định sinh trong cõi người. Thế nào là mười?

1_Khi lâm chung, sinh niệm tốt lành là: sinh Tâm như nhuyễn, Tâm phước đức, Tâm vi diệu, Tâm phát khời, Tâm không có lo lắng.

2_Thân không có khổ đau

3_Ít nói lời giống như đúng mà chẳng đúng, một lòng nghĩ nhớ cha mẹ sinh ra mình

4_Đối với vợ con, nam nữ khởi Tâm thương xót, như thường ngó nhìn không có yêu không có giận. Tai muốn nghe tên họ của anh em trai, chị em gái, bạn thân

5_Đối với Thiện, đối với ác thì Tâm chẳng thác loạn

6_Tâm ấy ngay thẳng chính đúng, không có nịnh nọt lừa dối

7_Biết cha mẹ, bạn thân, quyến thuộc hộ niệm cho ta

8_Thấy nơi sửa sang thì Tâm sinh khen ngợi

9_Dặn dò giao lại việc nhà, chỉ rõ nơi cất chứa tài bảo

10_Khởi Tâm tin tưởng trong sạch, thỉnh Phật Pháp Tăng đối diện quy kính, nói “Nam mô Phật Đà. Nam mô Đạt Ma. Nam mô Tăng Già. Nay con quy y. Nếu không có Phật ở đời thì quy y Ngũ Thông Tiên

Đại Vương! Nếu khi lâm chung có đủ mười tướng này thì quyết định được sinh ở trong nẻo người.

_Đại Vương nên biết, nếu lại có người khi lâm chung có mười loại tướng thì quyết định được sinh vào cõi Trời. Thế nào là mười?

1_Khởi Tâm thương xót

2_Khởi Tâm thiện lành

3_Khởi Tâm vui vẻ

4_Chính Niệm hiện tiền

5_Không có mùi hôi thối

6_Mũi không có nghiêng lệch

7_Tâm không có giận dữ

8_Đối với tài bảo của nhà, vợ con, quyến thuộc thì Tâm không có yêu luyến

9_Con mắt hiện sắc thanh tịnh

10_Ngửa mặt tươi cười, tưởng nhớ cung Trời sẽ đến nghênh đón ta

Nếu khi lâm chung có đủ mười tướng này thì quyết định sinh vào cõi Trời

Này Đại Vương! Tướng thiện ác khi lâm chung như vậy thời ông cần phải biết”

_Khi vua A Xà Thế nghe Đức Phật nói xong thời tự mình suy nghĩ: “Lời nói này của Đức Như Lai là sự thật hay chỉ là sự hư dối?!… Hay Đức Thế Tôn có đầy đủ biện tài nên tạm thời (quyền) nói này?!…”

Bấy giờ, Đức Như Lai biết ý nghĩ trong Tâm của vua A Xà Thế, liền dùng Thần Lực khiến cho A Xà Thế nhìn thấy tướng ác ấy. Bất chợt có Địa Ngục tràn đầy vật khí gây khổ, có các Ngục Tốt cầm nắm dụng cụ gây khổ, vô lượng chúng sinh rơi vào Địa Ngục như hạt mưa rơi nhanh. Lúc đó, Ngục Tốt trợn mắt ra oai, chỉ vào A Xà Thế mà nói lời này: “Đây là ngưới ách nghịch giết cha, hãy mau bắt giữ đưa vào trong Đại Địa Ngục A Tỳ để khổ trị (dùng sự đau khổ để sửa trị)

Khi A Xà Thế nghe lời nói này xong thì rất hoảng sợ, lông trên thân đều dựng đứng, khắp thân đổ mồ hôi, vội vàng từ chỗ ngồi đứng dậy muốn chạy trốn, nhưng lại choáng váng té xuống đất chẳng hay biết nữa. Ví như gió mạnh chặt cái cây không có gốc, lâu dài chẳng sống lại được…. cho đến dùng mọi loại phương pháp thích hợp cứu giúp nên (vua A Xà Thế) dần dần được sống lại, luôn miệng xướng rằng: “Thế Tôn! Nguyên xin Đức Thế Tôn ban cho thọ mệnh! Nguyện xin ban cho thọ mệnh! Nguyện xin ban cho thọ mệnh! Như con ngày nay không có nơi y theo, không có chỗ nương cậy, từ nay quyết định quy y Phật Pháp Tăng”

Lúc đó, Đức Như Lai thu nhiếp Thần Lực lại, các tướng chẳng hiện, rồi hỏi A Xà Thế rằng: “Đại Vương hướng thấy các việc khổ khi vào Địa Ngục chăng?”

Thời A Xà Thế buồn rầu đáp rằng: “Nay con đã thấy. Điều mà Đức Thế Tôn đã nói, chỉ nêu lên chút phần, nơi con đã hướng thấy thì việc khổ rất nhiều. Đức Như Lai Thế Tôn là bậc Chân Ngữ, là bậc Thật Ngữ.

Thế Tôn! Con ở thân này tạo các nghiệp ác. Nay đối trước Đức Thế Tôn, các Đại Bồ Tát, Chúng Tăng, Đại Hội tỏ bày sám hối, ngưng dứt các ác, chặt đứt Tâm nối tiếp. Con từ ngày nay cho đến Bồ Đề, thề giữ năm Giới làm Ưu Bà Tắc. Như Đức Phật đã nói tất cả công năng của Nhất Tự Đà La Ni dùng Tâm Bồ Đề làm con đường trước tiên. Từ nay trở đi, một ngày ba thời tinh cần tu tập, đem căn lành này thảy đều hồi hướng cho tất cả chúng sinh”

Đức Phật khen nhà vua rằng: “Lành thay! Lành thay! Đại Vương hãy nghe cho kỹ! Nay Ta vì nhà vua nói Già Đà (Gāthā:Kệ Tụng) vi diệu của Phật quá khứ” Liền nói kệ là:

“Nếu tạo tội năm Nghịch rất nặng

Tỏ bày sám hối, tội nhỏ nhẹ

Chặt hết nối tiếp, diệt gốc tội

Như người tráng kiện nhổ gốc cây”

Đức Phật nói Kệ xong, lại bảo nhà vua rằng: “Đại Vương nên biết ném cục sắt vào nước thì chìm mất. Nếu để các bình bát trên mặt nước tức liền nổi.

Đại Vương! Người có Trí Tuệ như cái bình bát ấy chẳng chìm trong biển khổ. Ông tạo nghiệp ác hợp vào trong Đại Địa Ngục A Tỳ một Kiếp chịu khổ. Do ông có Trí, tỏ bày sám hối nên tạm vào liền thoát ra, như nam nữ tráng kiện dùng bàn tay vỗ quả cầu, tạm thời chạm đất tức liền nảy vọt lên. Từ lúc mệnh chung này sẽ sinh lên cõi Trời Đâu Suất (Tuṣiṭa) thấy Từ Thị Tôn (Maitreya: Di Lặc) liền được thọ ký (Vyākaraṇa)”.

Khi A Xà Thế nghe Đức Phật nói xong thì Tâm được niềm tin trong sạch, đem mọi loại vật cúng cúng dường Đức Phật, rồi quay lại chỗ ngồi của mình.

Ngay lúc Đức Như Lai nói Pháp này thời vô số câu chi na chúng sinh đều phát Tâm A Nậu Đa La Tam Miểu Tam Bồ Đề (Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác), ba mươi ba câu chi na do tha Bồ Tát được Tùy Thuận Nhẫn.

 

ĐỨC NHƯ LAI CĂN DẶN GIAO PHÓ PHẨM THỨ MƯỜI MỘT

Bấy giờ, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Ma Ha Tát bạch Phật rằng: “Thật hiếm có! Bạch Đức Thế Tôn! Thật hiếm có! Bạch đấng Thiện Thệ! Đức Thế Tôn nói Đà La Ni Môn này tức là Đà La Ni quyết định màu nhiệm tối thắng của chư Phật. Dùng vô lượng Môn tên gọi, câu chữ tuyên nói, hướng vào nghĩa lý vô biên. Nghĩa ấy sâu xa tùy thuận giác ngộ Tính của nhân duyên

Khó vào vì biếng nhác lười biếng nên không do đâu vào được

Khó hiểu vì kẻ chấp Đoạn Kiến, Thường Kiến nên chẳng thể hiểu được

Khó thấy vì nương bám vào sáu Xứ nên chẳng thể nhìn thấy

Khó tỏ ngộ vì người ưa thích Hạ Thừa nên chẳng thể hiểu biết

Vượt hẳn sự tạm thời vì là cảnh thâm sâu của Bồ Tát

Không có tướng vì là Ấn chân thật của tất cả Pháp

Không có mở vì Pháp Giới bình đẳng không có năng (hướng chủ động), sở  (hướng bị động)

Không có khác vì Thể đồng hư không, lìa hai tướng

Không có A Lại Gia (Ālaya: tàng thức) vì vượt qua tất cả chỗ đã nương dựa

Biết tất cả Hành của chúng sinh vì khéo hiểu tất cả Pháp nhân duyên

Được Bát Nhã thâm sâu (Gaṃbhīra-prajña) vì ánh sáng chiếu thấy Tính của các Pháp

Sinh ra các Độ (Pāramitā:Ba La Mật Đa) vì thành tựu tất cả phương tiện khéo

Khéo phân biệt Pháp vì đầy đủ bốn loại Trí không có ngăn ngại

Thân Tâm tràn khắp vì hay được các Thần Thông rộng lớn

Bình Đẳng hiểu biết Pháp vì an trụ trong Giáo Pháp của Nhất Thừa (Ekayāna)

Không có Hạnh không có khác (vô vô dị hạnh) vì ở tất cả nơi chốn không có đối đãi

Đây không có hàng nào ngang bằng được vì tất cả không có ngang bằng, chỉ cùng với chư Phật Như Lai ngang bằng

Xa lìa hai tướng vì sinh ra Thể Tịch Diệt của các Pháp

Quán sát kỹ văn tự vì muốn an lập tất cả Pháp

Chẳng phải là lời hay nói được tức là Thắng Nghĩa Đế chân thật

Chẳng ngại tuyên nói vì hay tùy thuận khắp Thế Tục Đế

Hay sinh ra Tam Bảo, hay rộng lớn ba Thừa, hay mở ba Môn giải thoát, hay vượt ra khỏi ba cõi, hay khéo hiểu biết ba Trí, hay sinh Tam Muội Kim Cương của Như Lai, là nơi mà tất cả Pháp đã trụ, là Môn Trí Tuệ của tất cả Phật, hay nuôi dưỡng khắp tất cả chúng sinh

Thế Tôn! Các nhóm kẻ trai lành, người nữ thiện cần phải đối với Môn Vô Lượng Tam Mật Nhất Tự Đà La Ni của Thế Tôn này phát Tâm A Nậu Đa La Tam Miểu Tam Bồ Đề (Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác). Nếu nghe hết thảy nghĩa lý của Pháp này thì cần phải tin nhận, cần phải viết chép, cần phải đọc tụng, cần phải tu tập, cần phải vì người mở bày tuyên nói.

Thế Tôn! Nếu hay như vậy, cho đến một bài Kệ, một câu, một chữ thời người như vậy được Phước vô lượng. Đây tức gọi là biết ơn của Phật, là nhớ ơn của Phật, là báo ơn của Phật”

_Khi ấy, Đức Thế Tôn khen Văn Thù Sư Lợi rằng: “Lành thay! Lành thay Thiện Nam Tử! Như ông đã nói, người như vậy đắc được Phước Đứng chẳng thể xưng lường.

Này Thiện Nam Tử! Tất cả cõi Phật mà con mắt của Phật đã nhìn thấy, giả sử có người đem tất cả vật báu tràn đầy trong các cõi ấy, cầm dùng phụng thí tất cả Như Lai thì có được Công Đức vô lượng vô biên. Nếu lại có người hay nghe một câu một chữ của Kinh này, hoặc sinh tin tưởng ưa thích, hoặc hay thọ trì, hoặc lại viết chép, hoặc đang đọc tụng, hoặc chính tu tập, hoặc rộng vì người diễn sướng tuyên nói, đi đứng ngồi nằm thường siêng năng tinh tiến. Vì khiến cho Diệu Pháp trụ lâu dài trong Thế Gian, vì khiến cho Tam Bảo chẳng đoạn tuyệt cho nên Phước Đức của người này hơn hẳng Phước Đức bố thí chư Phật lúc trước.

Lúc đó, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa này một lần nữa, nên nói Kệ là:

“_Mắt Phật đã thấy các cõi Phật

Trong đầy châu báu dâng Như Lai

Ta nói Phước này còn nhỏ nhẹ

Do chẳng nghe Kinh thâm sâu này

Nếu được nghe Diệu Kinh Điển này

Thắng nghĩa thâm sâu thảy đều tròn

Thế nên đọc tụng, thọ trì Kinh

Phước này tối thắng hơn người kia

_Chư Phật chỉ trụ ở trong Pháp

Chẳng do bố thí được Bồ Đề

Nếu có thọ trì Phật Pháp Môn

Tức là hay biết ơn của Phật

Thế nên so Phước cúng dường Phật

Chẳng bằng cúng dường Kinh sâu (thâm kinh: kinh thâm sâu) này

Nhóm Phước tối thắng thảy đều tròn

Từ đây hay sinh nơi Thiện Thệ (Sugata)

_Nếu đời không có báu Thắng Kinh (kinh thù thắng)

Phật Chủng, Pháp Thí đều không có

Cũng không nghe Pháp với tu hành

Chúng sinh thường chìm trong biển khổ

_Chúng sinh vô ân chê Điển này

Ấy phá thuyền Pháp vượt biển khổ

Chặt hết Tam Bảo, gốc tội sâu

Đọa Ngục A Tỳ không ra nổi

_Sáu Độ (sáu Ba La Mật) chiếu sáng như đèn, đuốv

Nhóm báu cát tường ngang Tu Di (Sumeru)

Thủ Lăng Nghiêm Định (Śūraṃgama-samādhi) ngang vô biên

Với tất cả Pháp từ đây ra

_Nếu có ngu si che tâm, mắt

Đây làm Tuệ Nhật (mặt trời Tuệ) phá Tâm mê

Nơi Hách Nhật (mặt trời đỏ hồng) đốt thiêu ưu não

Đây là trăng đầy, trong mát chiếu

_Lên Tối Thượng Thừa chẳng phóng dật

Bồ Tát này trụ, siêng tu hành

Hay được Đại Bồ Đề cực tịnh

Chẳng phải Thừa thấp kém đạt được

_Hết thảy người trời: thắng diệu lạc

Thanh Văn, Duyên Giác được Bồ Đề

Kinh này tất cả đều hay sinh

Như báu Ma Ni tùy Tâm Nguyện”

Lúc đó, Đức Thế Tôn nói Kệ này xong, phát ra âm thanh lớn bảo khắp tất cả hàng Bồ Tát Ma Ha Tát, các Đại Chúng rằng: “Này các Phật Tử! Ta ở trong vô lượng kiếp, tinh cần chẳng lười biếng, một lòng chuyên cầu tu tập nơi Kinh Thành Tựu Bồ Đề Bất Khả Tư Nghị Bí Mật Nhất Tự Đà La Ni của chư Phật Thế Tôn này. Trong Đại Chúng này, ai hay phát khởi Tâm đại dũng mãnh làm Đại Trượng Phu (Mahāpuruṣa) hay ở sau lúc Đức Như Lai nhập diệt (Parinirvāṇa:Bát Niết Bàn) thọ trì, đọc tụng, rộng tuyên lưu bày, khiến cho Diệu Pháp này trụ lâu dài ở đời”

Khi ấy, trong Chúng: bảy mươi câu chi Bồ Tát Ma Ha Tát đều từ chỗ ngồi đứng dậy, cung kính chắp tay, khác miệng đồng âm mà bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Chúng con hay ở sau lúc Đức Như Lai diệt độ, thọ trì nơi Đức Phật này, vô số kiếp siêng năng cầu tu tập Kinh Thành Tựu Bồ Đề Bí Mật Nhất Tự Đà La Ni rộng tuyên lưu bày, khiến cho tất cả chúng sinh trong đời năm trược nghe Pháp Môn này thì Tâm được niềm tin trong sạch, cung kính tôn trọng, gieo trồng các căn lành. Nguyện xin Thần Lực của Như Lai gia bị cho”

Bấy giờ, Đức Thế Tôn Nhất Thiết Chủng Trí bảo các Bồ Tát Ma Ha Tát rằng: “Lành thay! Lành thay! Các ông hay phát Nguyện lớn này. Nay Ta sẽ dùng sức Uy

Thần hộ trì Kinh này” Rồi nói Kệ rằng:

“_ Như Lai nói chân thật

Thường trụ Pháp chân thật

Thần Lực của chư Phật

Ủng hộ nơi Kinh này _Mặc giáp trụ Đại Bi

Thường trụ trong Đại Bi

Thương xót chúng sinh nên

Ủng hộ nơi Kinh này

_Được nhóm Phước viên mãn

Từ đây sinh nhóm Trí

Vì tròn đủ Phước Trí

Ủng hộ nơi Kinh này

_Hay diệt tất cả Ma

Tồi phá các Ngoại Đạo

Đoạn trừ Tà Kiến nên

Ủng hộ nơi Kinh này

_Đế Thích (Indra), Hộ Thế Vương (Loka-pāla-rāja)

Hàng Tu La (Asura), Tầm Hương (Gandharva)

Vì Ta như mang vác

Sẽ hộ trì Kinh này

_Đất với trong hư không

Các Thiên Chúng mười phương

Chư Phật gia bị nên

Sẽ thọ trì Kinh này

_Muốn được tròn Phạm Trú

Thứ tự trang nghiêm Thể

Với thủ hộ Chúng Hội

Sẽ ủng hộ Kinh này

_Sắc (Rūpa) biến làm rỗng không (Śūnya:không)

Rỗng không biến làm sắc

Không thể biến nơi Phật

Ủng hộ khiến dao động”

_Khi ấy, bốn vị Thiên Vương hộ giúp cho đời, đều từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay, đồng thanh mà bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Con đối trước Đức Như Lai phát Nguyện sâu nặng, ở đời vị lại ủng hộ Kinh này với cá quốc vương, đại thần, Trưởng

Giả, tất cả người dân thọ trì Kinh này” Rồi nói Kệ là:

“_Tùy nơi nói Kinh này

Với Chúng Hội nghe Pháp

Con và các quyến thuộc

Đều sẽ cùng thủ hộ

Nếu có siêng thọ trì

Với phát ý Bồ Đề

Sẽ ở nơi bốn phương

Ủng hộ thường chẳng lìa”

_Lúc đó, Thích Đề Hoàn Nhân (Śakra-devānāṃ-indra) vì muốn ủng hộ Kinh Điển như vậy với người trì Kinh, nên chắp tay hướng về Đức Phật rồi nói Kệ là:

“Con nghe Phật nói đây

Kinh vi diệu tối thắng

Quyết định thành Bồ Đề

Biết ơn Phật khó báo

Vì báo đáp ơn Phật

Như chư Phật hộ trì

Sẽ thủ hộ Kinh này

Với hộ người trì Kinh”

_Khi ấy, Đại Phạm Thiên Vương (Mahā-brahma-deva-rāja) vì hộ Kinh này với người trì Kinh, nên chắp tay bạch Phật rồi nói Kệ là:

_Bốn Thiền, bốn Vô Lượng

Các Thừa (Yāna) với giải thoát

Đều từ Kinh này ra

Do đủ nghĩa thâm sâu

Tùy có nói Kinh này

Con buông vui Phạm Thiên

Đến nơi ấy nghe nhận

Cúng dường kèm hộ trì”

_Lúc đó, Đâu Suất Đà Thiên Tử (Tuṣiṭa-devaputra) vì hộ Kinh này với người trì Kinh, nên chắp tay hướng về Đức Phật rồi nói Kệ là:

“Muốn đến Trời Đâu Suất

Tiếp, sinh được giải thoát

Nên thọ trì nơi đây

Nơi chư Phật hộ Kinh

Tùy có nói Kinh này

Con buông vui cõi Trời

Trụ Diêm Phù (jaṃbu-dvīpa) ủng hộ

Vì báo ơn chư Phật”

_Khi ấy, Ma Thiên Tử (Māra-rājaputra), Thương Chủ Thiên Tử vì hộ Kinh này với người trì Kinh, nên chắp tay hướng về Đức Phật rồi nói Kệ là:

“Muốn cạn biển nghiệp Ma

Chẳng tùy chỗ Ma hành

Nên thọ trì Kinh này

Đầy đủ nghĩa thâm sâu

Ta nhớ ơn của Phật

Phát Tâm siêng tinh tiến

Thủ hộ nơi Kinh này

Khiến rộng tuyên lưu bày”

_Lúc đó, Ma Vương Ba Tuần (Māra-pāpman, hay Pāpīyas) vì hộ Kinh này với người trì Kinh, nên chắp tay hướng về Đức Phật rồi nói Kệ là:

“Nếu người trì Kinh này

Phiền não diệt, chẳng sinh

Ta chẳng vì người ấy

Gây chướng ngại lưu nạn

Nơi có Thắng Kinh này

Ta ở gần hộ trì

Khiến Ma chẳng vào Tâm

Vì nhớ ơn của Phật”

_Khi ấy, Tô Dạ Ma Thiên Vương (Suyama-deva-rāja) vì ủng hộ Kinh với người trì Kinh, nên chắp tay hướng về Đức Phật rồi nói Kệ là:

“Mọi Bồ Đề của Phật

Ở trong Kinh này nói

Nếu người thọ trì Kinh

Đã cúng các Như Lai

Con trì Kinh của Phật

Vì câu chi Thiên nói

Khiến ân trọng nghe nhận

Phát Tâm Đại Bồ Đề”

_Lúc đó, Từ Thị Bồ Tát (Maitreya-bodhisatva) vì muốn ủng hộ Kinh thâm sâu này với người trì Kinh, nên chắp tay hướng về Đức Phật rồi nói Kệ là:

“Nếu buông các quyến thuộc

Siêng tu Đạo Bồ Đề

Vì thủ hộ Kinh này

Chẳng tiếc thân mạng mình

Con nương Thần Lực Phật

Thân từ Đâu Suất đến

Khiến Kinh thâm sâu này

Thường rộng tuyên lưu bày”

_Khi ấy, Cụ Thọ Đại Ca Diệp Ba (Mahā-kāśyapa) vì muốn hộ Kinh này với người trì Kinh, nên chắp tay hướng về Đức Phật rồi nói Kệ là:

“Xưa con theo Thế Tôn

Từng nghe trăm ngàn Kinh

Chưa từng nghe Kinh này

Pháp sâu mầu như vậy

Nay con đối trước Phật

Thọ trì nơi Kinh này

Vì các Bồ Tát nên

Khiến rộng tuyên lưu bày”

_Bấy giờ, Đức Thế Tôn khen ngợi Thích Đề Hoàn Nhân, bốn vị Đại Thiên Vương, Đại Phạm Thiên Vương, Đâu Suất Thiên Tử, Thương Chủ Thiên Tử với Ma Ba Tuần, Bồ Tát, Thanh Văn, các người hộ Kinh… rồi nói như vầy: “Lành thay! Lành thay! Các ông quả thật là Trượng Phu dũng mãnh, vì khiến cho Diệu Pháp được trụ lâu dài cho nên hay tác tiếng rống Sư Tử lớn như vậy.

Các Thiện Nam Tử nên nghe Ta nói. Nếu các chúng sinh tu hành Đại Thừa chưa được Pháp Nhẫn thì dùng Thần Lực của Phật thọ trì Kinh này, tinh cần tu tập, tiếp đến ở chỗ của Đức Phật sau này liền được thọ ký. Như vậy hoặc hai, hoặc ba chẳng quá bảy Đức Phật quyết định sẽ được A Nậu Đa La Tam Miểu Tam Bồ Đề Ký.

Nếu chúng sinh có chủng tính của Thanh Văn Thừa được nghe Kinh này thì ở trong Long Hoa Đệ Nhất Thanh Văn Hội của Đức Phật Từ Thị (Maitreya) sẽ là Thanh Văn tối thượng bậc nhất.

Nếu chúng sinh có chủng tính của Duyên Giác Thừa được nghe Kinh này, thọ trì tu tập thì sau khi Ta vào Niết Bàn, chẳng được nghe Pháp, ắt sẽ được thành Độc  Giác Bồ Đề

Khi Đức Phật nói Kinh Thủ Hộ Quốc Giới Chủ Đà La Ni này thời vô lượng vô số mọi loại chúng sinh phát Tâm A Nậu Đa La Tam Miểu Tam Bồ Đề, vô số Bồ Tát trụ Bất Thoái Địa, vô số Thế Giới chấn động theo sáu cách. Nơi u ám mà ánh sáng của mặt trời, mặt trăng chẳng thể chiếu đến đều sáng rực, tuôn mưa mọi hoa Trời rực rỡ rối rít rơi xuống

Các vị Bồ Tát từ cõi nước ở mười phương đi đến tại Hội này, vì cúng dường Đức Phật với Kinh này cho nên ở bốn mặt Đạo Trường của cây Bồ Đề đều rộng bốn do tuần, đem mọi loại báu, mọi loại hoa tạp màu nhiệm trang nghiêm đất ấy, khác miệng đồng âm bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Ngày nay chúng con được lợi ích lớn, chẳng rỗng không mà quay về, được nghe nơi Kinh Điển quyết định tối thắng vi diệu này. Nguyện xin Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni kéo dài thọ mệnh. Nguyện khiến cho Kinh này trụ lâu chẳng diệt, ở tất cả cõi nước của Diêm Phù Đề làm lợi ích lớn.

Thế Tôn! Nếu Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di, Quốc Vương, Đại Thần, tất cả người dân thọ trì Kinh này sẽ trừ các bệnh khổ, thọ mệnh dài lâu, hay lợi lạc khắp cho tất cả chúng sinh”.

_Khi ấy, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát bạch Phật rằng: “Thật hiếm có! Bạch Đức Thế Tôn! Thật hiếm có! Bạch Đức Thế Tôn! Kinh Điển quyết định tối thắng như vậy, ngôn từ vi diệu, văn tự, câu nghĩa trang nghiêm viên mãn hay khiến cho tất cả Bồ Tát, Đại Chúng sinh sinh Tâm vui vẻ, tồi phục tất cả các Ma, Ngoại Đạo, khéo hay nhận giữ tất cả Pháp Môn, tùy thuận hướng vào biển lớn Công Đức của Như Lai. Nếu có người hay ở Kinh Điển như vậy, tinh cần tuyên bày tất cả chẳng trống rỗng (bất không)”

Lại bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Nên dùng tên nào gọi Kinh này? Chúng con phụng trì như thế nào?”

Đức Phật bảo Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Ma Ha Tát rằng: “Kinh này có đủ một ngàn danh tự. Tên gọi ấy là Tỳ Lô Giá Na Quảng Đại Tam Mật Thậm Thâm Nhất Tự Kinh, cũng gọi là Tam Giới Tối Tôn Thắng Kinh, cũng gọi là Như Lai Thuyết Đại Bi Môn, cũng gọi là Văn Như Lai Pháp Bất Không Đắc Ký, cũng gọi là Như

Lai Vi Diệu Pháp Tạng, cũng gọi là Như Lai Diệu Cứu Cánh Quả, cũng gọi là Như Lai Vi Diệu Pháp Nhãn, cũng gọi là Phổ Chiếu Chư Pháp Bảo Cự, cũng gọi là Năng Đoạn Nhất Thiết Tà Kiến, cũng gọi là Hiển Thị Chư Pháp Bình Đẳng. Có một ngàn danh tự của nhóm như vậy”.

Thời Văn Thù Sư Lợi lại bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Trong tên gọi như vậy tuy đều thâm sâu. Nguyện xin Đức Như Lai vì con quyết định nói một danh tự khiến cho con phụng trì”

Đức Phật nói: “Thiện Nam Tử! Kinh này quyết định nên gọi là Thủ Hộ Quốc Giới Chủ Đà La Ni. Dùng danh tự này, ông nên phụng trì. Tại sao thế? Do một ngàn tên gọi đều y theo đây mà sinh ra vậy”

Bấy giờ, Đức Thế Tôn nói Kinh này xong, thời tất cả Thế Gian, Trời, Người, A Tu La, Càn Thát Bà… vô lượng Đại Chúng nghe điều mà Đức Phật đã nói, đều rất vui vẻ, tin nhận, phụng hành.

KINH THỦ HỘ QUỐC GIỚI CHỦ ĐÀ LA NI

_QUYỂN THỨ MƯỜI (Hết)_

Dịch xong một Bộ gồm mười quyển vào ngày 17/12/2013

Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.