Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

KINH THIÊM PHẨM DIỆU PHÁP LIÊN HOA

Dịch Phạn ra Hán: Tùy Xà Na Quật Đa cộng Cấp Đa dịch
Dịch Hán ra Việt: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh

 

QUYỂN 1

Phẩm 1: TỰA

Tôi nghe như vầy:

Một thời Đức Phật ở núi Kỳ-xà-quật, thành Vương xá, cùng đại chúng Tỳ-kheo một vạn hai ngàn vị đều là bậc A-la-hán, các lậu đã hết không còn phiền não, đạt được lợi mình, dứt hết ràng buộc, tâm được tự tại.

Tên các vị đó là: A-nhã Kiều-trần-như, Ma-ha Ca-diếp, Ưu-lâu tần-loa Ca-diếp, Già-da-ca-diếp, Ma-đề Ca-diếp, Xá-lợi-phất, Đại Mục-kiền-liên, Ma-ha Ca-chiên-diên, A-nậu-lâu-đà, Kiếp-tân-na, Kiều-phạm-ba-đề, Ly-bà-đa, Tất-lăng-già-bà-sa, Bạc-câu-la, Ma-ha Câu-hy-la, Nan-đà, Tôn-đà-na-lan-đà, Phú-nâu-la Di-đa-la-ni Tử, Tu-bồ-đề, A-nan, La-hầu-la. Đó là những bậc A-la-hán mà mọi người đều biết. Lại có hai ngàn bậc Hữu học và Vô học, Tỳ-kheo-ni Ma-ha Ba-xà-ba-đề cùng với sáu ngàn vị thân cận, Tỳ-kheo-ni Gia- du-đà-la là mẹ của La-hầu-la cùng những người thân cận.

Có tám vạn Đại Bồ-tát, đều là bậc không thoái chuyển đối với quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, được pháp Đà-la-ni nhạo thuyết biện tài, chuyển pháp luân không thoái  chuyển, cúng dường vô lượng trăm ngàn chư Phật, ở nơi các Đức Phật trồng các công đức, thường được chư Phật khen ngợi, dùng pháp từ để tu thân và hoàn toàn đi vào trí tuệ Phật, thấu đạt được trí lớn đến bờ bên kia. Danh tiếng vang khắp vô lượng thế giới, có thể độ vô số trăm ngàn chúng sinh.

Tên các vị Bồ-tát ấy là Văn-thù-sư-lợi, Quán Thế âm, Đắc Đại Thế, Thường Tinh Tấn, Bất Hưu Tức, Bảo Chưởng, Dược Vương, Dũng Thí, Bảo Nguyệt, Nguyệt Quang, Mãn Nguyệt, Đại Lực, Vô Lượng Lực, Việt Tam Giới, Bạt-đà-bà-la, Di-lặc, Bảo Tích, Đạo Sư có tám vạn Đại Bồ-tát như vậy.

Bấy giờ, Thích Đề-hoàn Nhân cùng hai vạn Thiên tử thân cận. Lại có các Thiên tử: Minh Nguyệt, Phổ Hương, Bảo Quang. Tứ đại Thiên vương, một vạn Thiên tử quyến thuộc. Trời Tự tại và Đại tự tại cùng với ba vạn Thiên tử quyến thuộc. Chủ thế giới Ta-bà, Phạm thiên vương, Thi-khí Đại phạm, Quang Minh Đại phạm… đều cùng hai ngàn Thiên tử quyến thuộc.

Có tám vị Long vương: Nan-đà, Bạt-nan-đà, Bà-ca-la, Hòa-tu-kiết, Đức-xoa-ca, A-na-bà-đạt-đa, Ma-na-tư, Ưu-bát-la Long vương … cùng với trăm ngàn quyến thuộc.

Có bốn vị Khẩn-na-la vương là Pháp, Diệu Pháp, Đại Pháp, Trì Pháp Khẩn-na-la vương, đều cùng trăm ngàn quyến thuộc.

Có bốn vị Càn-thát-bà vương là Nhạc, Nhạc âm, Mỹ, Mỹ âm Càn-thác-bà vương đều cùng với trăm ngàn quyến thuộc.

Có bốn vị A-tu-la vương là Bà Trĩ, Khư-la-khiên-đà, Tỳ-ma-chất-đa-la, La-hầu A-tu-la vương đều cùng với trăm ngàn quyến thuộc.

Có bốn vị Ca-lầu-la vương là Đại Oai Đức, Đại Thân, Đại Mãn, Như ý Ca-lầu-la vương đều cùng với trăm ngàn quyến thuộc.
Vua A-xà-thế, con bà Vi-đề-hy, cùng trăm ngàn vị thân cận, đều đảnh lễ dưới chân Phật rồi ngồi qua một bên.

Khi ấy, bốn chúng vây quanh cúng dường, cung kính, tôn trọng, tán thán Đức Thế Tôn. Đức Phật đang giảng kinh Đại thừa tên là Vô Lượng Nghĩa Giáo Bồ-tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm cho các Bồ-tát. Nói kinh này xong, Đức Phật ngồi kiết già nhập thiền định Vô lượng nghĩa xứ, thân tâm không động.

Lúc ấy, trời mưa các loại hoa: Mạn-đà-la, Ma-ha mạn-đà-la, Mạn-thù-sa, Ma-ha mạn-thù-sa, tung rải khắp trên Đức Phật và đại chúng. Khắp cả cõi Phật, chấn động sáu cách. Lúc ấy trong hội Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Cận sự nam, Cận sự nữ, Trời Rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lầu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già, Nhân phi nhân… cùng các vị Tiểu vương, Chuyển luân thánh vương đều cho là việc chưa từng có, nên vui mừng chắp tay chăm chú nhìn Phật.

Lúc ấy, Đức Phật phóng ánh sáng từ tướng bạch hào giữa đôi chân mày chiếu khắp cả một vạn tám ngàn thế giới ở phương Đông. Chiếu xuống tận địa ngục A-tỳ và lên đến trời Hữu đảnh. Ở trong thế giới này đều thấy sáu đường chúng sinh, lại thấy Phật hiện tại và được nghe kinh pháp của Phật dạy. Và thấy các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Cận sự nam, Cận sự nữ, những người tu hành đắc đạo, lại thấy các Đại Bồ-tát, bằng các nhân duyên tin hiểu và tướng mạo để hành đạo Bồ-tát. Và thấy các Đức Phật vào Niết-bàn, lại thấy sau khi Đức Phật Niết-bàn, thâu xá-lợi và xây dựng tháp bảy báu.

Bấy giờ Bồ-tát Di-lặc suy nghĩ: “Hôm nay Đức Thế Tôn hiện tướng thần biến, vì sao có điềm lành này? Đức Thế Tôn đang nhập thiền định, đây là việc hiếm có không thể nghĩ bàn, vậy nên hỏi ai? Ai có thể đáp được?” Vị ấy lại suy nghĩ: “Ngài Văn-thù-sư-lợi là con Đấng Pháp Vương đã từng gần gũi cúng dường chư Phật quá khứ, đã từng trông thấy tướng hy hữu này. Ta nên hỏi vị ấy.”

Lúc đó, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Cận sự nam, Cận sự nữ và Trời, Rồng, Quỷ thần… đều suy nghĩ: “Tướng ánh sáng thần thông của Phật, nên hỏi ai?”

Bấy giờ muốn giải quyết sự nghi của mình và xem xét tâm của bốn chúng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Cận sự nam, Cận sự nữ và Trời, Rồng, Quỷ thần… nên Bồ-tát Di-lặc hỏi Văn-thù-sư-lợi:

– Vì sao mà có tướng lành thần thông này? Phật phóng ánh sáng chiếu khắp một vạn tám ngàn cõi ở phương Đông, thấy sự trang nghiêm của các cõi Phật ấy.

Muốn tuyên lại sự việc trên, Bồ-tát Di-lặc nói kệ:

Văn-thù-sư-lợi
Vì sao Đạo Sư
Từ tướng bạch hào
Hào quang chiếu khắp?
Mưa Mạn-đà-la
Hoa Mạn-thù-sa
Gió thơm Chiên-đàn
Vui đẹp lòng người
Vì lý do nào
Đất đều nghiêm tịnh
Cả thế giới này
Chấn động sáu cách?
Lúc này bốn chúng
Đều rất hoan hỷ
Thân tâm vui mừng
Được chưa từng có.
Ánh sáng bạch hào
Chiếu đến phương Đông
Vạn tám ngàn cõi
Đều như sắc vàng,
Từ ngục A-tỳ
Đến trời Hữu đảnh
Trong các thế giới
Sáu nẻo chúng sinh,
Sinh tử luân hồi
Do nghíệp thiện, ác
Nhận báo tốt, xấu
Ở đây thấy rõ.
Thấy các Đức Phật
Thánh chúa Sư tử
Diễn thuyết kinh điển
Vi diệu bậc nhất,
Tiếng Ngài trong trẻo
Giọng nói êm dịu
Dạy hàng Bồ-tát
Vô số ức muôn,
Phạm âm cực hay
Khiến người thích nghe
Ở mỗi thế giới
Giảng nói chánh pháp;
Đủ các nhân duyên
Làm rõ pháp Phật
Khai ngộ chúng sinh.
Nếu người bị khổ
Chán già, bệnh, chết
Thì nói Niêt-bàn
Dứt hết các khổ.
Nếu người có phước
Từng cúng dường Phật
Cầu pháp tối thắng
Thì nói Duyên giác.
Nếu có Phật tử
Tu đủ các hạnh
Cầu Tuệ vô thượng
Thì nói Tịnh đạo.
Văn-thù-sư-lợi!
Tôi ở nơi này
Thấy nghe như thế
Và ngàn ức việc,
Rất nhiều như vậy
Nay sẽ lược nêu.
Tôi thấy cõi kia
Hằng sa Bồ-tát
Bằng các nhân duyên
Để cầu Phật đạo
Hoặc hành bố thí
Vàng, bạc, san hô
Ngọc báu ma-ni
Xa cừ, mã não
Kim cương trân bảo
Nô tỳ, xe cộ
Kiệu báu quý đẹp
Vui vẻ bố thí
Hồi hướng Phật đạo
Nguyện chứng Thừa này
Đứng đầu ba cõi
Được chư Phật khen.
Hoặc có Bồ-tát
Xe báu bốn ngựa
Lọng hoa bao quanh
Bố thí xe đẹp.
Lại thấy Bồ-tát
Bố thí vợ con
Và cả tay chân
Cầu đạo Vô thượng.
Lại thấy Bồ-tát
Vui vẻ bố thí
Đầu, mắt, thân thể
Cầu trí tuệ Phật.
Văn-thù-sư-lợi!
Ta thấy các vua
Đi đến chỗ Phật
Hỏi đạo Vô thượng.
Liền bỏ ngôi báu
Cung điện vương phi
Cạo bỏ râu tóc
Mà mặc pháp phục.
Hoặc thấy Bồ- tát
Làm vị Tỳ-kheo
Ở riêng chỗ vắng
Ưa tụng kinh điển.
Lại thấy Bồ-tát
Tinh tấn dũng mãnh
Vào nơi núi sâu
Tư duy Phật đạo.
Thấy bậc Ly dục
Ở nơi thanh vắng
Vào sâu thiền định
Được năm thần thông.
Và thấy Bồ-tát
An định chắp tay
Dùng ngàn bài kệ
Khen các Pháp vương.
Lại thấy Bồ-tát
Trí sâu, chí bền
Hay hỏi chư Phật
Nghe xong thọ trì.
Và thấy Phật tử
Định tuệ đầy đủ
Dùng nhiều ví dụ
Giảng pháp cho chúng.
Ưa thích nói pháp
Độ các Bồ-tát
Dẹp phá ma quân
Đánh trống pháp lớn.
Hoặc thấy Bồ-tát
Ngồi im tĩnh lặng
Được trời, rồng kính
Không lấy làm vui.
Lại thấy Bồ-tát
Trong rừng phóng quang
Cứu khổ địa ngục
Khiến vào Phật đạo.
Và thấy Phật tử
Chưa từng ngủ nghỉ
Kinh hành trong rừng
Siêng cầu Phật đạo.
Bậc đủ giới đức
Oai nghi không thiếu
Sáng như ngọc báu
Để cầu Phật đạo.
Hoặc thấy Phật tử
Đủ sức nhẫn nhục
Bị tăng thượng mạn
Chửi mắng đánh đập
Đều nhẫn nhịn hết
Để cầu Phật đạo.
Lại thấy Bồ-tát
Xa lìa chơi đùa,
Cùng quyến thuộc si,
Gần gũi bậc Trí
Nhất tâm trừ loạn
Chánh niệm trong rừng
Ức ngàn vạn năm
Để cầu Phật đạo.
Hoặc thấy Bồ-tát
Thức ăn thượng hạng,
Trăm món thuốc thang
Cúng Phật và Tăng,
Y phục tốt đẹp
Giá đến ngàn vạn,
Y phục vô giá
Cúng Phật và Tăng;
Ngàn vạn ức thứ
Nhà báu Chiên-đàn
Đồ nằm tốt đẹp
Cúng Phật và Tăng;
Vườn rừng thanh tịnh
Hoa trái sum suê
Suối chảy ao tắm
Cúng Phật và tăng,
Cúng dường như thế
Đủ thứ tốt đẹp
Vui mừng không chán
Cầu đạo Vô thượng.
Hoặc có Bồ-tát
Nói pháp tích diệt
Dạy dỗ nhiều cách
Vô số chúng sinh.
Lại thấy Bồ-tát
Không có hai tướng
Cũng như hư không.
Lại thấy Phật tử
Tâm không lệ thuộc
Dùng diệu tuệ này
Cầu đạo Vô thượng.
Văn-thù-sư-lợi!
Lại thấy Bồ-tát
Sau Phật diệt độ
Cúng dường xá-lợi.
Hoặc thấy Phật tử
Xây dựng các tháp
Vô số hằng sa
Trang nghiêm cõi nước,
Tháp báu cao đẹp
Năm ngàn do-tuần
Ngang dọc bằng nhau
Hai ngàn do-tuần,
Mỗi một tháp Phật
Có ngàn tràng phan
Chuỗi ngọc giao nhau
Linh báu hòa vang
Các Trời, Rồng, Thần
Nhân, Phi nhân
Hương hoa âm nhạc
Thường đem cúng dường.
Văn-thù-sư-lợi!
Các Phật tử kia
Cúng dường Xá-lợi
Trang hoàng tháp Phật
Cõi nước tịnh nhiên
Tốt đẹp tuyệt vời
Như Thiên thọ vương
Nở hoa tươi đẹp.
Phật phóng ánh sáng
Tôi cùng chúng hội
Thấy cõi nước kia
Đủ thứ tốt đẹp,
Thần lực của Phật
Trí tuệ hiếm có
Phóng hào quang sáng
Chiếu khắp các cõi,
Chúng tôi thấy vậy
Hết sức thán phục.
Phật tử Văn-thù!
Xin giải nghi ngờ
Bốn chúng trông chờ
Nhìn ngài và tôi.
Vìsao Thế Tôn
Phóng ánh sáng kia?
Văn-thù hãy đáp
Giải nghi chúng mừng.
Vì lợi ích gì?
Phóng ánh sáng đó
Phật ngồi đạo tràng
Chứng pháp vi diệu
Do muốn nói pháp
Và sẽ thọ ký
Thi hiện cõi Phật
Các báu nghíêm sạch
Và thấy chư Phật
Việc không phải nhỏ
Văn-thù phải biết
Bốn chúng, Rồng, Thần
Chăm chú nhìn ngài
Sẽ nói điều gì?

Khi ấy Văn-thù-sư-lợi nói với Đại Bồ-tát Di-lặc và các Đại sĩ:

– Này các thiện nam! Như tôi suy nghĩ: “Hôm nay Đức Phật muốn nói pháp lớn, mưa pháp vũ lớn, thổi pháp loa lớn, đánh pháp cổ lớn, diễn pháp nghĩa lớn.”

Các thiện nam! Ta từng thấy điềm lành này ở các Đức Phật trong quá khứ, Đức Phật kia phóng ánh sáng rồi mới nói pháp lớn, vì vậy nên biết, nay Đức Phật hiện hào quang cũng như vậy. Muốn cho chúng sinh đều được nghe, thấy, biết diệu pháp mà tất cả trong đời khó tin, nên hiện điềm lành này.

Các Phật tử, vào quá khứ vô lượng, vô biên không thể nghĩ bàn vô số kiếp có Đức Phật, hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh, Như Lai, Ứng Cúng Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn, diễn nói chánh pháp, đầu, giữa, cuối đều hoàn hảo, nghĩa lý rất sâu xa, lời lẽ thông suốt, thuần nhất không tạp, đầy đủ sự phạm hạnh thanh bạch. Phật vì người cầu Thanh văn mà nói pháp Tứ đế, vượt qua sinh, già, bệnh, chết, đạt đến Nỉết-bàn, vì người cầu Bích-chi-phật mà nói pháp mười hai nhân duyên, vì các Bồ-tát mà nói sáu pháp Ba-la-mật để chứng được Chánh đẳng Chánh giác, thành tựu Nhất thiết chủng trí.

Kế đến, có Đức Phật hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh, lại có Đức Phật cũng hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh, như vậy có hai vạn Đức Phật đồng một hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh và đồng một họ, họ Phả-la-đọa.

Di-lặc nên biết, Đức Phật đầu tiên cho đến Đức Phật sau cùng đều đồng một hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh, đầy đủ mười hiệu. Những pháp Đức Phật nói ra đầu, giữa, sau đều hoàn hảo.

Lúc Đức Phật cuối cùng chưa xuất gia có tám vị vương tử, tên là: Hữu Ý, Thiện Ý, Vô Lượng Ý, Bảo Ý, Tăng Ý, Trừ Nghi Ý, Hưởng Ý, Pháp Ý. Tám vị vương tử này có oai đức tự tại, thống lãnh bốn châu thiên hạ . Nghe vua cha xuất gia chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác nên các vương tử đó rời bỏ ngôi vị đế vương, cũng theo cha xuất gia, phát tâm Đại thừa, thường tu phạm hạnh, đều làm Pháp sư, đã trồng các căn lành nơi ngàn vạn Đức Phật.

Khi ấy, trời mưa các hoa Mạn-đà-la, Ma-ha mạn-đà-la, Mạn-thù-sa, Ma-ha mạn-thù-sa để tung rải trên Đức Phật và đại chúng; khắp cõi Đức Phật chấn động sáu cách.

Lúc đó, trong chúng hội có Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Cận sự nam, Cận sự nữ, Trời, Rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già , Nhân phi nhân, cùng các vị tiểu vương, Chuyển luân thánh vương. Đại chúng này thấy được điều chưa từng có, vui mừng chắp tay, chiêm ngưỡng Phật.

Bấy giờ, Đức Như Lai phóng ánh sáng từ tướng bạch hào giữa đôi chân mày chiếu khắp cả một vạn tám ngàn cõi Phật ở phương Đông trùm hết tất cả như hiện nay đang thấy ở các cõi Phật này.

Di-lặc nên biết, khi ấy trong hội, có hai mươi ức Bồ-tát rất muốn được nghe pháp. Các vị Bồ-tát này trông thấy ánh sáng chiếu khắp cõi Phật, được điều chưa từng có, đều muốn biết vì nhân duyên gì mà phóng ánh sáng này?

Khi ấy, có Bồ-tát hiệu Diệu Quang có tám trăm người đệ tử. Bấy giờ Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh từ trong chánh định, vì Bồ-tát Diệu Quang mà nói kinh Đại thừa tên là Diệu Pháp Liên Hoa Giáo Bồ-tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm, trải qua sáu mươi tiểu kiếp không rời khỏi chỗ ngồi.

Lúc này, trong hội những người nghe pháp cũng đều ngồi một chỗ đến sáu mươi tiểu kiếp, thân tâm không động, nghe Đức Phật nói pháp cho là như trong khoảng bữa ăn.

Bấy giờ trong chúng không có người nào thân tâm mỏi mệt. Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh trong sáu mươi tiểu kiếp nói kinh đó rồi, liền ở trong chúng Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn, Trời, Người, A-tu-la tuyên bố thế này: “Vào giữa đêm nay, Như Lai sẽ nhập Niết-bàn.”

Khi ấy, có Bồ-tát hiệu Đức Tạng được Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh thọ ký và bảo các Tỳ-kheo:

– Bồ-tát Đức Tạng này thứ đến sẽ thành Phật, hiệu Tịnh Thân Như Lai, Ứng Cúng Chánh Đẳng Chánh Giác, thọ ký xong vào giữa đêm ấy, Phật nhập Niết-bàn.

Sau khi Phật diệt độ, Bồ-tát Diệu Quang trì kinh “Diệu Pháp Liên Hoa” đủ tám mươi tiểu kiếp và giảng giải cho người. Tám người con của Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh đều là đệ tử của ngài Diệu Quang, được Diệu Quang giáo hóa trở thành những bậc kiên cố hướng đến Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Sau khi cúng dường vô lượng trăm ngàn muôn ức Đức Phật, các vị vương tử này đều thành Phật đạo. Vị thành Phật cuối cùng hiệu là Nhiên Đăng. Trong tám trăm vị đệ tử, có một người tên Cầu Danh. Vị này tham ưa danh lợi, tuy có đọc tụng rất nhiều kinh điển nhưng không thông hiểu, phần nhiều quên mất, vì thế nên gọi là Cầu Danh. Vị này do có trồng các căn lành nên gặp được vô lượng trăm ngàn muôn ức Đức Phật, cúng dường, cung kính, tôn trọng, ngợi khen.

Di-lặc nên biết, lúc đó Bồ-tát Diệu Quang đâu phải là người nào khác mà chính là tôi, còn Bồ-tát Cầu Danh kia là ông. Thấy điềm lành này cùng với xưa không khác, nên tôi suy nghĩ: “Hôm nay Như Lai sẽ nói kinh Đại thừa tên Diệu Pháp Liên Hoa Giáo Bồ-tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm.”

Bấy giờ, giữa đại chúng Văn-thù-sư-lợỉ muốn tuyên lại nghĩa này nên nói kệ:

Ta nhớ thuở quá khứ
Vô lượng, vô số kiếp
Có Phật Nhân Trung Tôn
Hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh .
Đức Thế Tôn nói pháp
Độ vô lượng chúng sinh
Vô số ức Bồ-tát
Khiến vào trí tuệ Phật.
Khi Phật chưa xuất gia
Có sinh tám vương tử
Thấy Đại Thánh xuất gia
Cùng theo tu phạm hạnh,
Phật nói kinh Đại thừa
Tên là Vô Lượng Nghĩa
Ở trong hàng Đại chúng
Phân biệt nói rõ ràng.
Phật nói kinh này xong
Ngay tại pháp tòa ấy
Kiết già nhập chánh định
Tên Vô lượng nghĩa xứ.
Trời mưa hoa Mạn-đà
Trống trời tự nhiên vang
Các Trời, Rồng, Quỷ, Thần
Cúng dường Đức Thế Tôn.
Tất cả các cõi Phật
Đều chấn động sáu cách
Tướng bạch hào phóng quang
Hiện các việc hiếm có;
Ánh sáng chiếu phương Đông
Vạn tám ngàn cõi Phật
Hiện nghiệp báo sinh tử
Của tất cả chúng sinh.
Lại thấy các cõi Phật
Dùng các báu trang nghiêm
Màu lưu ly, pha lê
Đều do Phật soi sáng,
Và thấy các Trời, Người
Chúng Rồng, Thần, Dạ-xoa
Càn-thát, Khẩn-na-la
Đều cúng dường Đức Phật.
Lại thấy các Như Lai
Tư nhiên thành Phật đạo
Sắc thân như núi vàng
Đoan nghiêm rất đẹp đẽ
Như lưu ly sáng trong
Hiện ra tượng hoàng kim
Thế Tôn trong đại chúng
Diễn bày nghĩa thâm diệu.
Mỗi mỗi các cõi Phật
Vô số chúng Thanh văn
Nhờ ánh sáng Phật chiếu
Thấy hết đại chúng kia.
Hoặc có các Tỳ-kheo
Ở trong núi rừng sâu
Tinh tấn trì tịnh giới
Giống như giữ ngọc sáng.
Lại thấy các Bồ-tát
Hành bố thí, nhẫn nhục
Số nhiều như hằng sa
Nhờ ánh sáng Phật soi.
Lại thấy hàng Bồ-tát
Vào sâu các thiền định
Thân, tâm đều không động
Để cầu đạo Vô thượng.
Lại thấy các Bồ-tát
Biết tướng pháp tịch diệt
Trong mỗi cõi nước ấy
Nói pháp cầu Phật đạo.
Bấy giờ bốn bộ chúng
Thấy Phật Nhật Nguyệt Đăng
Hiện sức thần thông lớn
Tâm họ đều vui mừng
Mỗi người tự hỏi nhau
Vì sao có việc này?
Đấng trời. người tôn kính
Vừa từ chánh định ra
Khen Bồ-tát Diệu Quang:
Ông là mắt của đời
Mọi người đều tin theo
Khéo phụng trì tạng pháp,
Như lời của ta nói
Chỉ ông mới biết rõ.
Thế Tôn đã ngợi khen
Khiến Diệu Quang vui mừng
Nói kinh Pháp Hoa này
Suốt sáu mươi tiểu kiếp
Không rời khỏi chỗ ngồi
Giảng Diệu pháp tối thượng.
Ngài Pháp sư Diệu Quang
Đều thọ trì đầy đủ
Phật nói kinh Pháp Hoa
Khiến chúng sinh vui mừng
Ngay ở trong ngày đó
Dạy bảo chúng trời, người
Nghĩa thật tướng các pháp
Đã nói cho các ông,
Vào trong giữa đêm nay
Ta sẽ nhập Niết-bàn
Ông nhất tâm tinh tấn
Phải xa lìa buông lung
Chư Phật rất khó gặp
Ức kiếp mới gặp được.
Đệ tử của Thế Tôn
Nghe Phật sắp Niết-bàn
Đều rất là sầu thảm
Sao Phật sớm diệt độ?
Thánh chủ vua các pháp
An ủi vô lượng chúng
Nếu khi ta diệt độ
Các ông chớ lo sợ,
Bồ-tát Đức Tạng này
Tâm đã được thông đạt
Nói thật tướng vô lậu
Sau đó sẽ thành Phật
Danh hiệu là Tịnh Thân
Cũng độ vô lượng chúng.
Đêm ấy Phật diệt độ
Như củi hết, lửa tắt
Phân chia xá-lợi Phật
Xây dựng vô lượng tháp,
Tỳ-kheo. Tỳ-kheo-ni
Nhiều như cát sông Hằng
Ngày đêm thêm tinh tấn
Để cầu đạo Vô thượng.
Pháp sư Diệu Quang ấy
Giữ gìn tạng pháp Phật
Trong tám mươi tiểu kiếp
Rộng giảng kinh Pháp Hoa.
Tám vị vương tử đó
Được Diệu Quang dạy bảo
Vững nơi đạo Vô thượng
Thường thấy vô số Phật,
Cúng dường các Thế Tôn
Tùy thuận tu đại đạo
Tuần tự đều thà nh Phật
Thứ lớp thọ ký nhau;
Vị thành Phật cuối cùng
Hiệu là Phật Nhiên Đăng.
Đạo Sư của chư Tiên
Độ thoát vô lượng chúng
Khi ấy ngài Diệu quang
Có một người đệ tử
Tâm thường hay biếng nhác
Tham đắm nơi danh lợi
Cầu danh lợi không chán
Thường đến nhà giàu sang
Lơ là việc tu tập
Bỏ quên không thông thuộc,
Bởi vì lý do ấy
Nên gọi là Cầu Danh.
Cũng làm các việc lành
Được thấy vô số Phật
Cúng dường các Thế Tôn
Tùy thuận tu đại đạo,
Đủ sáu Ba-la-mật
Nay gặp Đức Thích-ca
Sau đó sẽ thành Phật
Hiệu là Phật Di-lặc.
Độ khắp các chúng sinh
Số đông không thể lường
Sau Phật ấy diệt độ
Người biếng nhác là ngài;
Còn Pháp sư Diệu Quang
Nay chính là ta đây.
Ta thấy Phật Đăng Mình
Điềm lành nay như xưa
Cho nên nay biết Phật
Sẽ nói kinh Pháp Hoa.
Tướng lành như điềm xưa
Là phương tiện của Phật
Nay Phật phóng ánh sáng
Làm rõ nghĩa thật tướng.
Các ông nay nên biết
Chắp tay chăm chú chờ
Phật sắp tuôn mưa pháp
Thấm nhuần người cầu đạo
Những người cầu ba thừa
Nếu có điều nào nghi
Phật sẽ giải thích cho
Thông suốt hết tất cả.

 

Phẩm 2: PHƯƠNG TIỆN

Bấy giờ, ra khỏi Tam-muội một cách an lạc, Đức Thế Tôn bảo Xá-lợi-phất:

– Trí tuệ của chư Phật rất sâu xa, môn trí tuệ đó khó hiểu khó vào, tất cả Thanh văn, Bích-chi-phật đều không thể biết. Vì sao?

Phật đã từng thân cận trăm ngàn muôn ức vô số Đức Phật, hoàn toàn tu vô lượng đạo pháp của Đức Phật, tinh tấn dũng mãnh, tiếng khen vang khắp, thành tựu pháp sâu xa chưa từng có, tùy theo trường hợp để giảng ý thú khó hiểu.

Xá-lợi-phất! Từ khi ta thành Phật cho đến nay, bằng nhân duyên, thí dụ rộng nói ngôn giáo, dùng vô số phương tiện để dìu dắt chúng sinh khiến ra khỏi các sự chấp trước. Vì sao? Đức Như Lai đã đầy đủ phương tiện, tri kiến và Ba-la-mật.

Xá-lợi-phất! Tri kiến của Như Lai rộng Iớn sâu xa, vô lượng vô ngại lực, vô sở úy, thiền đính giải thoát Tam-muội đã sâu xa không có giới hạn, thành tựu tất cả pháp chưa từng có.

Xá-lợi phất! Như Lai có thể thuyết pháp bằng nhiều cách khéo léo, dùng lời lẽ êm dịu, làm vui lòng mọi người.

Xá-lợi phất! Tóm lại Đức Phật đã thành tựu vô lượng, vô biên pháp chưa từng có.

Thôi đi Xá-lợi-phất, không cần phải nói nữa! Vì sao? Pháp khó hiểu hy hữu đệ nhất của Phật đã thành tựu thì chỉ có Phật với Phật mới có thể thông suốt hoàn toàn, thật tướng các pháp đó là tướng như vậy, tánh như vậy, thể như vậy, lực như vậy, tác như vậy, nhân như vậy, duyên như vậy, quả như vậy, báo như vậy, các pháp trước, sau rốt ráo đều như vậy.

Bấy giờ, muốn tuyên lại ý nghĩa trên, Thế Tôn nói kệ:

Bậc Thế Hùng khó lường
Chư Thiên và loài người
Và các loại chúng sinh
Không thể biết được Phật.
Phật lực, Vô sở úy
Giải thoát, các Tam-muội
Và các pháp của Phật
Không ai đo lường được.
Đã từ vô số Phật
Hành đầy đủ các đạo
Pháp nhiệm mầu rất sâu
Khó thấy, khó hiểu rõ,
Ở trong vô lượng kiếp
Đã tu đạo này rồi
Đắc quả nơi đạo tràng
Ta đều biết tất cả.
Phước báo lớn như thế
Đủ thứ tánh, tướng, nghĩa
Ta cùng Phật mười phương
Mới biết hết việc này,
Pháp ấy không nói được
Không thể dùng ngôn ngữ
Các loài chúng sinh khác
Không loài nào hiểu được.
Trừ các chúng Bồ-tát
Có sức tin kiên cố
Các hàng đệ tử Phật
Từng cúng dường Thế Tôn,
Đã diệt hết các lậu
Thân này là tối hậu
Những hạng người như thế
Sức họ không hiểu nổi.
Giả sử khắp thế gian
Giống như Xá-lợi-phất
Cùng suy tính, đo lường
Cũng không lường trí Phật.
Giả sử khắp mười phương
Đều như Xá-lợi-phất
Và các đệ tử khác
Khắp các cõi mười phương
Cũng đầy mười phương cõi
Cùng tư duy so hrờn
Vẫn không thể biết được.
Bích-chi-phật trí sáng
Thân vô lậu sau cùng
Khắp mười phương các cõi
Số đông như rừng tre,
Họ đều cùng nhất tâm
Trong vô lượng ức kiếp
Suy xét thật trí Phật
Chẳng biết được chút nào.
Bồ-tát mới phát tâm
Cúng dường vô số Phật
Thông đạt các nghĩa thú,
Lại khé thuyết giảng pháp
Như lúa, mè, tre, lau
Đầy các cõi mười pjương
Nhất tâm dùng diệu trí
Trải qua hằng sa kiếp
Đều cùng nhau suy lường
Chẳng biết được trí Phật.
Bồ-tát không thoái chuyển
Nhiều như cát sông Hằng
Nhất tâm cùng suy lường
Vẫn chẳng thể biết được.
Lại bảo Xá-lợi-phất
Pháp nhiệm mầu sâu sa
Vô lậu khó nghĩ bàn
Nay ta được đầy đủ,
Chỉ ta biết tướng này
Mười phương Phật cũng vậy
Xá-lợi-phất nên biết
Lời chư Phật không khác.
Pháp của Đức Phật nói
Phải nên hết lòng tin
Pháp Phật về sau này
Cần phải nói chân thật.
Bảo các chúng Thanh văn
Cùng hàng cầu Duyên giác
Ta khiến cho thoát khổ
Mau chứng được Niết-bàn.
Phật dùng sức phương tiện
Dạy giáo pháp ba thừa
Dẫn chúng sinh ra khỏi
Những nơi họ chấp trước.

Khi đó, trong đại chúng hàng Thanh văn lậu tận A-la-hán, A-nhã Kiều-trần-như cùng với một ngàn hai trăm người và hàng phát tâm Thanh văn, Bích-chi-phật, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di đều nghĩ: “Hôm nay, Đức Thế Tôn vì sao lại ân cần khen ngợi phương tiện và nói rằng: Pháp của Phật chứng, thâm sâu khó hiểu, những lời nói ra ý thú khó biết, tất cả Thanh văn, Bích-chi-phật không thể đạt được. Phật nói một nghĩa giải thoát, chúng ta cũng nhờ pháp này đạt đến Niết-bàn mà lại không biết nghĩa đó để đạt đến”.

Lúc ấy, Xá-lợi-phất biết lòng nghi của bốn chúng, chính mình cũng chưa rõ liền bạch Phật:

– Bạch Đức Thế Tôn! Vì lý do gì mà Ngài ân cần khen ngợi pháp phương tiện đệ nhất sâu xa, vi diệu, khó hiểu của chư Phật. Con từ xưa đến nay theo Phật chưa từng nghe nói như vậy, nay cả bốn chúng đều có lòng nghi, cúi xin Thế Tôn nói rõ việc này. Vì sao Ngài lại ân cần khen ngợi pháp vi diệu sâu xa khó hiểu.

Bấy giờ muốn tuyên lại nghĩa trên, Xá-lợi-phất nói kệ:

Bậc Tuệ Nhật Đại Thánh
Lâu mới nói pháp này
Pháp tự mình chứng được
Lực, Vô úy, Tam-muội,
Các Thiền định, Giải thoát
Không thể nghĩ bàn được
Pháp chứng nơi đạo tràng
Không ai có thể hỏi.
Con cũng khó nghĩ được
Không ai biết để hỏi
Không hỏi mà tự nói
Khen ngợi đạo đã làm.
Trí tuệ rất thâm sâu
Chư Phật đã chứng được
Hàng La-hán vô lậu
Và người cầu Niết-bàn
Nay rơi vào lưới nghi
Vì sao Phật nói vậy?
Hạng người cầu Duyên giác
Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni
Các Trời, Rồng, Quỷ, Thần
Cùng các Càn-thát-bà
Nhìn nhau lòng do dự
Chiêm ngưỡng Đấng Thế Tôn,
Việc này là thế nào?
Xin Phật giảng nói cho!
Phật bảo con hạng nhất
Ở trong chúng Thanh văn
Ngay cả chính trí con
Nghi ngờ không hiểu được
Vì pháp ấy rốt ráo
Là đạo của Phật làm
Con từ miệng Phật sinh
Chắp tay nhìn chờ đợi,
Xin ban tiếng nhiệm mầu
Đúng thời nói như thật
Các Trời, Rồng, Quỷ, Thần
Nhiều như cát sông Hằng,
Hàng Bồ-tát cầu Phật
Số nhiều đến tám vạn
Lại có vạn ức nước
Vua chuyển luân vương đến
Chắp tay lòng cung kính
Mong nghe đạo đầy đủ.
Khi ấy, Phật bảo Xá-ợi-phất:

– Thôi thôi, chẳng nên nói nữa, nếu ta nói việc này thì tất cả trời, người, thế gian sẽ sợ hãi nghi ngờ.

Xá-lợi-phất thưa:

– Bạch Đức Thế Tôn! Xin Thế Tôn giảng nóỉ, xin Thế Tôn giảng nói! Vì sao? Vì trong hội này vô số trăm ngàn vạn ức chúng sinh đã từng gặp các Đức Phật, các căn lanh lợi, trí tuệ sáng suốt, được nghe Phật dạy có thể tin kính.

Bấy giờ, Xá-lợi-phất muốn tuyên lại nghĩa trên, nói kệ:

Đấng Pháp Vương Vô thượng
Nguyện xin nói chớ lo
Vô lượng chúng hội này
Có người tin kính được.
Phật lại ngăn Xá-lợí-phất:

– Nếu ta nói việc này khắp cả Trời, Người, A-tu-la trong thế gian sẽ lo sợ nghi ngờ; Tỳ-kheo tăng thượng mạn sẽ rơi vào hố sâu.

Rồi Thế Tôn nói kệ:

Thôi thôi đừng nói nữa
Pháp của ta khó hiểu,
Những kẻ tăng thượng mạn
Nghe chắc không kính tin.

Xá-lợi-phất thưa:

– Bạch Đức Thế Tôn! Xin Thế Tôn thuyết giảng cho! Xin Thế Tôn thuyết giảng cho! Trong hội chúng này những người như con có đến trăm ngàn vạn ức, nhiều đời đã từng được Phật giáo hóa, những người này chắc sẽ sinh kính tin an ổn lâu dài được nhiều lợi ích.

Xá-lợi-phất dùng kệ nói lại nghĩa trên:

Đấng Lưỡng Túc Vô Thượng
Xin nói pháp đệ nhất,
Con là trưởng tử Phật
Xin giảng nói rõ ràng.
Vô lượng chúng hội này
Rất kính tin pháp ấy
Nhiều đời Phật đã từng
Giáo hóa chúng như vậy,
Cùng nhất tâm chắp tay
Lắng nghe lời Phật dạy
Chúng con ngàn hai trăm
Và những người cầu Phật
Xin vì đại chúng này
Xót thương giảng nói rõ
Chúng con nghèo pháp ấy
Sinh tâm rất vui mừng.
Đức Phật bảo Xá-lợi-phất:

– Ông đã ân cần ba phen thưa hỏi, ta không thể không nói. Nay ông hãy ghi nhớ rõ, khéo suy nghĩ, ta sẽ nói giảng nói cho ông.

Khi Phật nói lời này, trong hội chúng có năm ngàn Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, liền từ chỗ ngồi đứng dậy lễ Phật thoái lui. Vì sao? Vì hạng người ấy gốc tội sâu nặng và tăng thượng mạn, chưa đắc nói đắc, chưa chứng nói chứng, những người có lỗi như thế không còn ở lại đây, Đức Phật im lặng không ngăn cản. Đức Phật bảo Xá-lợi-phất:

– Trong chúng của ta đây, giờ không còn cành lá, chỉ toàn hạt chắc, những kẻ tăng thượng mạn như thế ra đi cũng tốt. Ông nên lắng nghe ta sẽ nói cho.

Xá-lợi-phất thưa:

– Bạch Đức Thế Tôn, con muốn được nghe!

Phật bảo:

– Xá-lợi-phất! Pháp thâm diệu này chư Phật Như Lai đúng thời mới nói, như hoa Linh thụy đúng thời mới trổ một lần.
Xá-1ợi-phất! Các ông nên tin lời Phật nói không hư dối. Xá-lợi-phất, chư Phật tùy nghi thuyết pháp, ý thú khó hiểu. Vì sao? Vì ta dùng vô số phương tiện, các thứ nhân duyên, thí dụ, ngôn từ diễn nói các pháp, pháp ấy không thể do suy lường mà hiểu được. Vì sao? Chư Phật vì một việc lớn nên xuất hiện ở đời.

Xá-lợi-phất thưa:

– Bạch Thế Tôn! Sao gọi là chư Phật vì một việc lớn nên xuất hiện ở đời?

Xá lợi-phất! Chư Phật vì muốn mở bày tri kiến giác ngộ làm cho chúng sinh được thanh tịnh mà hiện ra ở đời, muốn chỉ bày tri kiến giác ngộ cho chúng sinh mà xuất hiện ở đời. Muốn cho chúng sinh tỏ ngộ tri kiến giác ngộ mà xuất hiện ở đời. Muốn cho chúng sinh nhập được tri kiến giác ngộ mà xuất hiện ở đời.

Xá-lợi-phất! Đó là chư Phật vì một việc lớn nên xuất hiện ở đời. Phật bảo Xá-1ợi-phất:

– Chư Phật chỉ giáo hóa hàng Bồ-tát, những điều đã làm chỉ vì một việc khai thị tri kiến giác ngộ cho chúng sinh.
Xá-lợi-phất! Như Lai chỉ vì chúng sinh nói pháp Nhất thừa, không có hai hoặc ba thừa. Xá-lợi-phất! Tất cả pháp của chư Phật mười phương cũng vậy. Xá-lợi-phất! Chư Phật quá khứ dùng vô lượng, vô số phương tiện, nhân duyên, thí dụ , lời lẽ để diễn nói pháp cho chúng sinh , pháp đó đều là một Phật thừa, các chúng sinh ấy theo Phật, nghe pháp hoàn toàn chứng được Nhất thiết chủng trí. Xá-lợi-phất! Chư Phật vị lai ra đời cũng dùng vô lượng, vô số phương tiện, nhân duyên, thí dụ, ngôn từ, vì chúng sinh diễn nói các pháp. Các pháp ấy đều là một Phật thừa. Các chúng sinh theo Phật nghe Pháp hoàn toàn chứng được Nhất thiết chủng trí.

Xá lợi-phất! Hiện tại trong vô lượng trăm ngàn vạn ức cõi Phật khắp mười phương, các Đức Phật Như Lai cũng làm nhiều điều lợi ích an vui chúng sinh. Chư Phật cũng dùng vô lượng, vô số phương tiện, dùng các nhân duyên, lời lẽ, thí dụ để nói các pháp cho chúng sinh. Các pháp ấy đều là Phật thừa. Các chúng sinh được nghe pháp từ Phật hoàn toàn chứng được Nhất thiết chủng trí.

Xá-lợi-phất! Chư Phật ấy chỉ giáo hóa Bồ-tát, vì muốn đem tri kiến giác ngộ chỉ dạy cho chúng sinh; vì muốn chúng sinh tỏ ngộ tri kiến giác ngộ; vì muốn chúng sinh nhập vào tri kiến giác ngộ.

Xá-lợi-phất! Nay ta cũng như vậy, vì biết chúng sinh có các điều ưa muốn, tâm mê chấp nên ta tùy theo căn cơ của họ dùng các nhân duyên, lời lẽ, thí dụ cùng sức phương tiện để nói pháp.

Xá-lợi-phất! Khắp thế giới mười phương còn không có hai thừa, huống nữa là ba.

Xá-lợi-phất! Chư Phật xuất hiện trong đời ác năm trược. Đó là kiếp trược, phiền não trược, chúng sinh trược, kiến trược, mạng trược.

Xá-lợi-phất! Vào kiếp loạn trược, tâm chúng sinh xấu xa, bỏn sẻn, tham lam, ganh ghét tạo các căn chẳng lành nên chư Phật dùng sức phương tiện nơi một Phật thừa, phân biệt nói ba.

Xá-lợi-phất! Đệ tử của ta nếu tự cho mình là A-la-hán, là Bích-chi-phật mà không nghe, không biết việc của chư Phật Như Lai, chỉ giáo hóa Bồ-tát thì người ấy chẳng phải đệ tử Phật, chẳng phải A-la-hán, chẳng phải Bíeh-chi-phật.

Xá-lợi-phất! Các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni tự cho mình chứng đắc quả A-la-hán, là thân cuối cùng hoàn toàn giải thoát, lại không quyết chí cầu Vô thượng Bồ-đề; nên biết hạng người ấy đều là tăng thượng mạn. Vì sao? Vì Tỳ-kheo nào thực chứng đắc A-la-hán mà không tin pháp này thì điều ấy không thể có, chỉ trừ sau khi Phật diệt độ, lúc ấy không có Phật. Vì sao? Vì sau khi Phật diệt độ rất khó có được người có thể thọ trì, đọc tụng, hiểu nghĩa những kinh như thế, nếu gặp Đức Phật khác, ở trong pháp này liền được hiểu rõ.

Xá-lợi-phất! Các ông nên nhất tâm tin hiểu, thọ tỏ lời Phật dạy. Lời chư Phật không hư dối, không có thừa nào khác, chỉ có một Phật thừa. Khi ấy, Đức Thế Tôn dùng kệ nói lại nghĩa trên:

Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni
Có tâm tăng thượng mạn
Cận sự nam ngã mạn
Cận sự nữ chẳng tin,
Hàng bốn chúng như vậy
Gần có năm ngàn người
Không thấy được lỗi mình
Giữ giới còn khiếm khuyết
Che giấu các lỗi lầm
Hạng tiểu trí cặn bã
Trong hội này đi ra.
Vì oai đức của Phật
Hạng ấy kém phước đức
Không kham nhận pháp này.
Chúng đây không cành lá
Chỉ toàn những hạt chắc.
Xá-lợi-phất lắng nghe
Pháp chư Phật chứng đắc
Vơ lượng sức phương tiện
Thuyết giảng cho chúng sinh,
Tâm của họ suy nghĩ
Các việc đã được làm
Bao nhiêu tánh ham muốn
Nghiệp thiện ác đời trước
Phật rõ biết tất cả.
Dùng nhân duyên thí dụ
Lời lẽ sức phương tiện
Khiến tất cả vui mừng
Hoặc là nói Khế kính
Cô khởi cùng Bản sự
Bản sinh, Vị tằng hữu
Cũng nói những Nhân duyên
Thí dụ và Trùng tụng
Cùng Ưu-ba-đề-xá
Độn căn ưa pháp nhỏ
Tham đắm trong sinh tử
Nơi vô lượng Đức Phật
Chẳng tu đạo thâm diệu
Bị phiền não dày vò
Cho nên nói Niết-bàn.
Ta bày phương tiện này
Khiến được vào tuệ Phật
Chưa từng nói các ông
Sẽ được thành Phật đạo.
Sở dĩ chưa từng nói
Vì chưa được đúng thời
Nay thật là đúng lúc
Quyết định nói Đại thừa.
Chín bộ pháp của ta
Tùy thuận chúng sinh nói
Vào Đại thừa làm gốc
Nên mới nói kinh này.
Có Phật tử tâm tịnh
Nhu hòa, tánh lanh lợi
Nơi vô lương chư Phật
Mà tu đạo thâm diệu,
Vì các hàng Phật tử
Nói kinh Đại thừa này
Ta thọ ký người ấy
Đời sau thành Phật đạo.
Nhờ chí tâm niệm Phật
Tu trì giới thanh tịnh
Những người nghe thành Phật
Rất hớn hở vui mừng,
Phật biết tâm ấy rồi
Nên nói kinh Đại thừa
Thanh văn, hoặc Bồ-tát
Được nghe pháp ta nói
Dẫu chỉ một bài kệ
Chắc chắn sẽ thành Phật.
Trong cõi Phật mười phương
Chỉ có pháp Nhất thừa
Không hai, cũng không ba,
Trừ Phật phương tiện nói.
Chỉ mượn vào văn tự
Để dẫn dắt chúng sinh
Nên nói trí tuệ Phật
Phật xuất hiện ở đời
Chỉ có một Phật thừa,
Hai thừa kia chẳng thật
Quyết không dùng Tiểu thừa
Để cứu độ chúng sinh.
Phật an trụ Đạí thừa
Như pháp mình chứng đắc
Định, tuệ, lực trang nghiêm
Dùng hóa độ chúng sinh
Tự chứng đạo Vô thượng
Pháp Đại thừa bình đẳng.
Đem Tiểu thừa hóa độ
Cho đến chỉ một người
Thì ta đoạ xan tham
Việc ấy không thể làm,
Người tin, quy y Phật
Như Lai không dối gạt
Không ganh ghét, tham lam
Dứt sạch pháp bất thiện,
Chỉ Phật trong mười phương
Là không còn sợ hãi.
Ta dùng tướng trang nghiêm
Chiếu sáng khắp thế gian
Được chúng sinh tôn kính
Vì nói ấn thật tướng.
Xá-lợi-phất nên biết,
Ta vốn lập thệ nguyện
Muốn tất cả chúng sinh
Được như ta không khác
Như nguyện ta thuở xưa
Ngày nay được viên mãn
Giáo hóa các chúng sinh
Đều nhập vào Phật đạo.
Nếu ta gặp chúng sinh
Hết lòng dạy Phật đạo,
Kẻ vô trí rối loạn
Mê lầm không tiếp nhận,
Ta biết chúng sinh đó
Chưa từng tu pháp lành
Lệ thuộc vào năm dục
Si ái sinh khổ não,
Bởi nhân duyên các dục
Rơi vào ba đường ác
Luân hồi trong sáu nẻo
Chịu đủ các khổ độc.
Thân hèn thọ vào thai
Đời đời thường tăng trưởng
Người bạc phước thiếu đức
Bị các khổ dày vò,
Vào rừng rậm tà kiến
Hoặc chấp có, chấp không
Nương theo các chấp này
Đầy đủ sáu mươi hai
Pháp tà kiến hư vọng
Chấp chặt không xả bỏ
Ngã mạn và kiêu căng
Dua nịnh, tâm không thật.
Trong ngàn vạn ức kiếp
Không nghe danh hiệu Phật
Cũng chẳng nghe chánh pháp
Người như thế khó độ.
Cho nên Xá-lợi-phất
Vì họ ta phương tiện
Nói các đạo dứt khổ
Chỉ dạy pháp Niết-bàn,
Tuy ta nói Niết-bàn
Không phải diệt chân thật.
Pháp từ xưa đến nay
Tướng thường tự vắng lặng
Phật tử hành đạo rồi
Đời sau được thành Phật
Ta có sức phương tiện
Khai mở pháp ba thừa
Tất cả các Thế Tôn
Đều nói đạo Nhất thừa.
Nay trong đại chúng đây
Phải dứt trừ nghi ngờ
Lời chư Phật không khác
Chỉ một, không hai thừa.
Vô số kiếp quá khứ
Vô lượng Phật diệt độ
Trăm ngàn vạn ức Phật
Số nhiều không thể lường,
Các Thế Tôn như vậy
Dùng nhân duyên, thí dụ
Vô sô sức phương tiện
Diễn nói tướng các pháp.
Các Đức Thế Tôn ấy
Đều nói pháp Nhất thừa
Độ vô lượng chúng sinh
Khiến nhập vào Phật đạo.
Lại các Đại Thánh Chủ
Biết rõ tâm ưa muốn
Trời, người, các chúng sinh
Trong tất cả thế gian,
Liền dùng phương tiện khác
Hiện bày Đệ nhất nghĩa
Nếu có các chúng sinh
Gặp chư Phật quá khứ
Hoặc nghe pháp, bố thí,
Hoặc trì giới. nhẫn nhục
Tinh tấn, thiền và trí
Tu tập các phước tuệ
Những người như thế đó
Đều đã thành Phật đạo.
Sau khi Phật diệt độ
Nếu có các chúng sinh
Tâm hiền hòa, thuần thục
Đều đã thành Phật đạo.
Sau khi Phật diệt độ
Người cúng dường xá-lợi
Xây dựng muôn ức tháp
Dùng vàng bạc, pha lê,
Xa cừ cùng mã não
Ngọc mai khôi, lưu ly
Để trang hoàng các tháp
Rất quang đãng, tráng lệ
Hoặc có tạo tháp đá
Chiên-đàn và trầm thủy
Gỗ mật cùng gỗ khác
Gạch, ngói và bùn đất,
Hoặc ở trong đồng trống
Dồn đất thành tháp Phật
Cho đến đồng tử giỡn
Nhóm cát thành tháp Phật
Các người làm việc ấy
Đều đã thành Phật đạo.
Nếu có người vì Phật
Tạo lập các hình tượng
Chạm trổ thành các tướng
Đều đã thành Phật đạo.
Hoặc dùng bảy thứ báu
Thau, đồng đỏ. đồng trắng
Bạch lạp cùng thiết chì
Sắt, gỗ cùng với bùn,
Hoặc dùng keo, sơn, vải
Trang hoàng làm tượng Phật
Những người làm việc đó
Đều đã thành Phật đạo.
Hoặc vẽ thành tượng Phật
Tướng trang nghiêm trăm phước
Tự làm hoặc bảo người
Đều đã thành Phật đạo.
Cho đến đồng tử giỡn
Dùng cỏ cây và bút
Hoặc chỉ dùng móng tay
Mà vẽ thành tượng Phật,
Những người như thế ấy
Dần dần chứa công đức
Đầy đủ tâm đại Bi
Đều đã thành Phật đạo
Chỉ dạy các Bồ-tát
Độ thoát vô lượng chúng
Người đối với tháp Phật
Hoặc tượng báu, tượng vẽ,
Dùng hương, hoa, cờ, lọng
Tâm cung kính cúng dường
Hoặc bảo người thổi nhạc
Đánh trống, thổi tù và
Tiêu, địch, đàn, không hầu
Tỳ bà, chiên, chập chõa
Âm nhạc hay như vậy
Đều đem cúng dường hết,
Hoặc với tâm hoan hỷ
Ca ngâm khen Đức Phật
Cho đến một tiếng nhỏ
Đều đã thành Phật đạo.
Người nào tâm tán loạn
Dầu chỉ dùng một bông
Để cúng dường tượng vẽ
Sẽ gặp vô số Phật,
Hoặc có người lễ bái
Hoặc chỉ có chắp tay
Cho đến giơ một tay
Hoặc chỉ hơi cúi đầu,
Dùng để cúng dường tượng
Sẽ gặp vô lượng Phật
Tự thành đạo Vô thượng.
Độ khắp vô số chúng
Nhập Vô dư Niết-bàn
Như củi hết, lửa tắt,
Người nào tâm tán loạn
Vào trong tháp của Phật
Chỉ xưng Nam-mô Phật
Đều đã thành Phật đạo.
Chư Phật trong quá khứ
Hiện tại hoặc diệt độ
Có người nghe pháp này
Đều đã thành Phật đạo.
Các Thế Tôn vị lai
Số nhiều không thể lường
Các Đức Như Lai ấy
Cũng phương tiện nói pháp
Tất cả các Như Lai
Dùn vô lượng phương tiện
Độ thoát các chúng sinh,
Nhập Phật trí vô lậu
Nếu có người nghe pháp
Không ai chẳng thành Phật.
Chư Phật vốn thệ nguyện
Ta tu hành Phật đạo
Muốn tất cả chúng sinh
Cũng đồng được đạo này,
Chư Phật đời vị lai
Dẫu nói trăm ngàn ức
Vô số các pháp môn
Kỳ thật chỉ nhất thừa.
Chư Phật Lưỡng Túc Tôn
Biết pháp thường vô tánh
Giác ngộ theo duyên khởi
Cho nên nói Nhất thừa
Pháp trụ pháp vị này
Tướng thế gian sinh diệt
Đã chứng nơi đạo tràng
Đức Phật phương tiện nói
Được trời, người cúng dường.
Mười phương Phật hiện tiền
Số nhiều như hằng sa
Xuất hiện ở thế gian
Vì an ổn chúng sinh
Cũng nói pháp như vậy
Biết tịch diệt đệ nhất
Nên dùng sức phương tiện
Dầu bày nhiều con đường
Kỳ thật vì Phật thừa,
Biết việc làm tâm niệm
Của tất cả chúng sinh
Nghiệp tích chứa quá khứ
Tham muốn hoặc tinh tấn
Độn căn hoặc lợi căn,
Nên dùng các nhân duyên
Thí dụ cùng lời lẽ
Tùy cơ phương tiện nói
Nay ta cũng như vậy
Vì an ổn chúng sinh
Nên dùng các pháp môn
Tuyên dương về Phật đạo.
Ta dùng sức trí tuệ
Biết tánh dục chúng sinh
Phương tiện nói các pháp
Làm cho họ vui mừng.
Xá-lợi-phất nên biết
Ta dùng mắt Phật xem
Thấy sáu đường chúng sinh
Nghèo cùng không phước tuệ,
Vào đường hiểm sinh tử
Khổ nối luôn không dứt
Chìm đắm nơi năm dục,
Như trâu mao mến đuôi
Do tham ái ngăn che
Đui mù không thấy biết
Không cầu uy lực Phật,
Và cùng pháp dứt khổ
Vào sâu các tà kiến
Bỏ khổ lại lấy khổ
Phật vì chúng sinh này
Mà khởi tâm đại Bi
Xưa ta ngồi đạo tràng
Xem cây và kinh hành
Trong hai mươi mốt ngày
Suy nghĩ víệc như vầy
Trí tuệ ta chứng đạt
Vi diệu tối thắng nhất
Chúng sinh nhiều độn căn
Tham vui si làm mù
Các hạng người như thế
Làm sao có thể độ?
Bấy giờ các Phạm vương
Và các trời Đế Thích
Bốn Thiên vương hộ thế
Và trời Đại tự tại
Cùng với trăm ngàn vạn
Quyến thuộc chúng trời khác
Chắp tay cung kính lễ
Thỉnh ta chuyển pháp luân.
Ta liền tự suy nghĩ:
Nếu chỉ khen Phật thừa
Chúng sinh chìm trong khổ
Không thể tin pháp đó,
Vì phá pháp, không tin
Rơi vào ba đường ác
Ta thà không nói pháp
Mau nhập vào Niết-bàn!
Nhớ nghĩ Phật quá khứ
Đã dùng sức phương tiện
Đạo mà ta đã chứng
Cũng nên nói ba thừa.
Lúc suy nghĩ như thế
Mười phương Phật hiện ra
Phạm âm an ủi ta
Hay thay Đức Thích-ca
Bậc Đạo Sư đệ nhất.
Chứng đắc pháp Vô thượng.
Tất cả các Đức Phật
Đều dùng sức phương tiện,
Chúng ta cũng chứng đắc
Pháp vi diệu bậc nhất,
Vì các loại chúng sinh
Phân ra nói ba thừa.
Trí kém ưa pháp nhỏ
Không tin mình thành Phật
Cho nên dùng phương tiện
Phân biệt nói các quả,
Tuy nói pháp ba thừa
Chỉ dạy hàng Bồ-tát
Xá-lợi-phất nên biết,
Ta nghe Thánh Sư Tử
Tiếng vi diệu thanh tịnh
Xưng “Nam-mô chư Phật”.
Lại suy nghĩ như vậy
Ta ra đời ác trược,
Như chư Phật đã nói
Ta cũng tùy thuận làm
Suy nghĩ việc đó rồi
Liền đến Ba-la-nại
Tướng các pháp tịch diệt
Không thể dùng ngôn ngữ
Mà chỉ dùng phương tiện
Dạy cho năm Tỳ-kheo
Gọi là Chuyển pháp luân.
Liền có tiếng Niết-bàn
Và bậc A-la-hán
Tên Pháp, Tăng sai khác
Từ số kiếp lâu xa
Chi khen pháp Niết-bàn,
Chặt đứt khổ sinh tử
Ta thường nói như vậy.
Xá-lợi-phất nên biết
Ta thấy các Phật tử
Chí nguyện cầu Phật đạo
Vô lượng ngàn vạn ức,
Đều dùng tâm cung kính
Và đi đến chỗ Phật
Từng nghe từ Đức Phật
Dùng phương tiện nói pháp.
Ta liền tự suy nghĩ:
“Như Lai mà ra đời
Nhằm nói trí tuệ Phật
Nay chính đã đúng lúc.”
Xá-lợi-phất nên biết
Người độn căn trí kém
Kẻ chấp tướng kiêu mạn
Không thể tin pháp ấy,
Ta nay vui không sợ
Ở trong hàng Bồ-tát
Thẳng tiến bỏ phương tiện
Chỉ nói đạo Vô thượng.
Bồ-tát nghe pháp đó
Đều đã trừ lưới nghi
Ngàn hai trăm La-hán
Cũng đều sẽ thành Phật.
Như nghi thức chư Phật
Ba đời đã nói pháp
Nay, ta cũng như vậy
Nói pháp không phân biệt.
Chư Phật hiện thế gian
Lâu xa rất khó gặp
Giả sử Phật ra đời
Nói pháp này đã khó,
Vô lượng, vô số kiếp
Nghe được pháp cũng khó
Người nghe được pháp đó
Cũng lại còn khó hơn.
Thí như hoa Ưu-đàm
Mọi người đều ưa thích
Hiếm có trong trời, người
Lâu lắm mới xuất hiện,
Người nghe pháp mừng khen
Cho đến chỉ một lời
Tức là đã cúng dường
Tất cả Phật ba đời.
Người đó rất hiếm có
Hơn cả hoa Ưu-đàm,
Các ông chớ có nghi
Ta là Đấng Pháp Vương
Bảo khắp các đại chúng
Chỉ dùng đạo Nhất thừa
Giáo hóa hàng Bồ-tát
Không có hàng Thanh văn.
Xá-lợi-phất các ông
Thanh văn và Bồ-tát
Nên hiểu Diệu pháp này
Bí yếu của chư Phật;
Bởi đời ác năm trược
Tham đắm nơi các dục,
Các chúng sinh như vậy
Không thể cầu Phật đạo.
Người ác ở đời sau
Nghe Phật nói Nhất thừa
Mê lầm không tin nhận
Phá pháp đọa đường dữ,
Người hổ thẹn thanh tịnh
Quyết chí cầu Phật đạo
Nên vì các người ấy
Khen ngợi đạo Nhất thừa.
Xá-lợi-phất nên biết
Pháp chư Phật như vậy
Dùng vạn ức phương tiện
Tùy căn cơ nói pháp,
Người không có tu học
Chẳng thể hiểu việc này
Các ông biết chư Phật
Là bậc Thầy trong đời,
Dùng phương tiện thích hợp
Nên không còn nghi ngờ
Tâm hết sức vui mừng
Biết mình sẽ thành Phật.

Pages: 1 2 3 4 5 6 7
Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.