Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

KINH THẬP TRỤ

Hán dịch: Đời Hậu Tần, Tam tạng Cưu-ma-la-thập, người nước Quy Tư
Việt dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh

Phẩm 1: ĐỊA HOAN HỶ

Tôi nghe như vầy:

Một thuở nọ, Đức Phật ở tại bảo điện Ma-ni, trong cung vua trời Tha hóa tự tại, cùng với chúng đại Bồ-tát từ những cõi khác đến đây. Những Bồ-tát này đều là những người đối với quả Vô thượng Bồ-đề, không còn thoái chuyển, đầy đủ trí tuệ, hạnh nghiệp của Bồ-tát, đều đạt tự tại, nhập vào chỗ trí tuệ Như Lai, khéo giáo hóa tất cả thế gian, tùy thời thị hiện những pháp thần thông, ở mỗi niệm đều thành tựu đầy đủ biện tài và sở nguyện của tất cả Bồ-tát. Trải qua nhiều kiếp ở đời ở khắp mọi nơi, luôn tu tập hạnh Bồ-tát, đầy đủ phước đức và trí tuệ không cùng tận của Bồ-tát, làm lợi ích cho tất cả, được đến bờ giải thoát với đủ trí tuệ phương tiện của Bồ-tát; thị hiện việc sinh tử, Niếtbàn cho chúng sinh, không hề cắt đứt các hạnh của Bồ-tát, đạt tất cả môn Thiền định giải thoát Tam-muội thần thông tuệ sáng của Bồ-tát; làm mọi việc; thị hiện thần túc vô tác của Bồ-tát; trong khoảnh khắc đến được đại hội của chư Phật trong mười phương, học hỏi phát tâm, thọ trì xe chánh pháp luôn cúng dường chư Phật bằng tâm rông lớn; luôn tu tập các hạnh nghiệp rộng lớn của Bồ-tát, thị hiện thân mình ở vô số thế giới, âm thanh vang xa không chỗ nào mà không có; tâm không đạt, thấy rõ công đức của Bồ-tát trong ba đời, tu tập đầy đủ. Công đức của các Đại Bồ-tát vô lượng vô biên như vậy dù trải qua vô số kiếp cũng không thể nói hết. Đó là Đại Bồ-tát Kim Cang Tạng, Bồtát Bảo Tạng, Bồ-tát Liên Hoa Tạng, Bồ-tát Đức Tạng, Bồ-tát Liên Hoa Đức Tạng, Bồ-tát Nguyệt Tạng, Bồ-tát Tịnh Nguyệt Tạng, Bồ-tát Chiếu Nhất Thiết Thế Gian Trang Nghiêm Tạng, Bồ-tát Trí Tuệ Chiếu Minh Tạng, Bồ-tát Diệu Đức Tạng, Bồ-tát Chiên Đàn Đức Tạng, Bồ-tát Hoa Đức Tạng, Bồ-tát Ưu-bát-la Hoa Đức Tạng, Bồ-tát Thiên Đức Tạng, Bồ-tát Phước Đức Tạng, Bồ-tát Vô Ngại Thanh Tịnh Trí Đức Tạng, Bồ-tát Công Đức Tạng, Bồ-tát Na-la-diên Đức Tạng, Bồ-tát Vô Cấu Tạng, Bồ-tát Ly Cấu Tạng, Bồ-tát Chủng Chủng Nhạo Thiết Trang Nghiêm Tạng, Bồ-tát Đại Quang Võng Tạng, Bồ-tát Tịnh Minh Oai Đức Vương Tạng, Bồ-tát Đại Kim Sơn Quang Minh Oai Đức Vương Tạng, Bồ-tát Nhất Thiết Tướng Trang Nghiêm Tịnh Đức Tạng, Bồ-tát Kim Cang Diệm Đức Tướng Trang Nghiêm Tạng, Bồ-tát Diệm Xí Tạng, Bồ-tát Túc Vương Quang Chiếu Tạng, Bồ-tát Hư Không Vô Ngại Diệu Âm Tạng, Bồ-tát Đà-la-ni Công Đức Trì Nhất Thiết Thế Gian Nguyện Tạng Hải Trang Nghiêm Tạng, Bồ-tát Tu-di Đức Tạng, Bồ-tát Tịnh Nhất Thiết Công Đức Tạng, Bồ-tát Như Lai Tạng, Như Lai Phật Đức Tạng, Như Lai Giải Thoát Nguyệt. Các Bồ-tát như thế nhiều đến vô lượng vô biên không thể nghĩ bàn, không thể xưng kể. Đại Bồ-tát Kim Cang Tạng là người đứng đầu.

Bấy giờ, Đại Bồ-tát Kim Cang Tạng nương oai thần của Phật, nhập Tam-muội Đại trí tuệ quang minh của Bồ-tát. Lúc ấy, ở một phương kia, cách vô số thế giới như cát bụi trong mười phương ức cõi Phật, lại có Đức Như Lai tên Kim Cang Tạng. Như thế-lần lượt, chư Phật nhiều như số vi trần trong mười ức cõi Phật đều hiện thân hiệu là Kim Cang Tạng. Các cõi nước trong mười phương cũng đều như vậy.

Các Đức Phật cùng cất lời khen ngợi:

–Lành thay! Lành thay! Kim Cang Tạng! Ông có thể nhập Tammuội đại trí tuệ quang minh của Bồ-tát, được vô số chư Phật ở khắp mười phương cõi, đều đồng một hiệu, đều dùng oai lực gia hộ cho ông.

Đó là do bản nguyện của Phật Lô-xá-na. Lại vì ông và tất cả Bồ-tát có trí tuệ lớn không thể nghĩ bàn. Pháp minh của chư Phật đó là pháp làm cho nhập địa trí tuệ, nhiếp thâu tất cả căn lành, khéo phân biệt chọn lựa Phật pháp; biết rộng các pháp, quyết định giảng các pháp, khéo phân biệt trí không phân biệt; tất cả các trí thế gian không thể ô nhiễm; căn lành thanh tịnh xuất thế gian, đạt trí lực không thể nghĩ bàn, đạt Nhất thiết trí trong cõi nhân trí; lại đạt mười địa của Bồ-tát, giảng thuyết thật nghĩa sai khác của mười địa của Bồ-tát; giảng thuyết phân biệt pháp vô lậu mà không chấp trước, khéo chọn lựa sự trang nghiêm bằng ánh sáng đại trí tuệ phân biệt, khiến nhập đầy đủ môn pháp trí; tùy nơi ưng trụ mà tuần tự thuyết giảng, đạt vô ngại nhạo thuyết ánh sáng, đầy đủ trí địa đại vô ngại; không quên mất tâm Bồđề, giáo hóa thành tựu các tánh của chúng sinh, đạt trí quyết định đến khắp tất cả.

Lại nữa, Kim Cang Tạng! Ông đang thuyết giảng sự sai biệt pháp môn, đó là do thần lực của chư Phật, do ông kham nhận được thần lực của Như Lai, nhờ căn lành của ông thanh tịnh, tánh của tánh pháp thanh tịnh, vì tánh lợi ích chúng sinh, làm cho chúng sinh đạt Pháp thân và trí thân thanh tịnh, được chư Phật thọ ký, được thân cao lớn tối thượng trong chúng sinh, vượt qua các đạo của cõi thế gian, căn lành thanh tịnh của xuất thế gian.

Lúc đó, chư Phật ở mười phương thị hiện thân Phật vô lượng chân thật Kim Cang Tạng, với biện tài nhạo thuyết không chướng ngại, với trí tuệ thanh tịnh khéo phân biệt, với sự nhớ kỹ không quên, với ý quyết định chắc chắn, với trí biết khắp nơi, với lực vô hoại của chư Phật, với sự không khiếp nhược vô sở úy của chư Phật, với trí vô ngại phân biệt các pháp khéo chỉ dạy pháp môn của chư Phật, với việc làm của thân, khẩu, ý nghiệp thượng diệu của tất cả chư Phật. Vì sao? Vì đạt được pháp Tam-muội đại trí tuệ quang minh của Bồ-tát. Đó cũng là sức bản nguyện của Bồ-tát, tâm chí thanh tịnh, trí tuệ sáng suốt, khéo tu tập pháp trợ đạo, khéo tu bản nghiệp, có khả năng giữ vô số niệm, tin hiểu pháp thanh tịnh sáng soi, khéo đạt pháp môn Đà-la-ni không phân biệt, dùng trí ấn khéo ấn pháp tánh.

Lúc này, chư Phật ở mười phương đều đưa cánh tay xoa đầu của Bồ-tát Kim Cang Tạng.

Bồ-tát Kim Cang Tạng ra khỏi định, bảo các Bồ-tát:

–Các Phật tử! Mọi việc làm của Bồ-tát, trước phải khéo tự quyết định, không bị cái lỗi là, không phân biệt, thanh tịnh sáng rõ, rộng lớn như pháp tánh, rốt ráo như hư không, bao trùm hết chúng sinh trong mười phương cõi Phật, phải vì cứu độ tất cả thế gian, phải vì sự bảo vệ thần lực của chư Phật. Vì sao? Vì các Đại Bồ-tát nhập trí địa của chư Phật ở quá khứ, cũng là nhập trí địa của chư Phật ở hiện tại, vị lai.

Các Phật tử! Thế nào là trí địa của Đại Bồ-tát? Các Phật tử, Trí địa của Đại Bồ-tát có mười. Chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai đã nói, đang nói, sẽ nói, cũng là những địa này. Tôi cũng nói như vậy. Mười địa đó là gì? Đó là:

  1. Hỷ địa.
  2. Tịnh địa.
  3. Minh địa.
  4. Diệm địa.
  5. Nan thắng địa.
  6. Hiện tiền địa.
  7. Thâm viễn địa.
  8. Bất động địa.
  9. Thiện tuệ địa.
  10. Pháp vân địa.

Các Phật tử! Mười địa này chư Phật ba đời đã nói, đang nói, sẽ nói. Tôi không thấy chư Phật ở cõi nước nào mà không nói mười Địa của Bồ-tát. Vì sao? Vì mười Địa này là đạo tối thượng vi diệu của Bồtát; là pháp môn tối thượng minh tịnh, nghĩa là phân biệt được việc của mười trụ. Các Phật tử! Việc này không thể nghĩ bàn, đó là các trí tuệ địa mà Đại Bồ-tát phải tùy thuận.

Đại Bồ-tát Kim Cang Tạng, nói tên của mười Địa Bồ-tát xong, im lặng mà trụ, không phân biệt nghĩa thú. Nghe nói tên của mười địa Bồ-tát xong, các Bồ-tát lúc này đều khao khát, muốn nghe giải thích tiếp. Trong chúng Đại Bồ-tát đó, có Bồ-tát tên Giải Thoát Nguyệt, biết tâm niệm của các Bồ-tát, dùng kệ hỏi Bồ-tát Kim Cang Tạng:

Bậc tuệ niệm tịnh trí
Vì sao nói danh hiệu
Của địa Bồ-tát rồi
Im lặng không giải thích
Nay các Đại Bồ-tát
Đều hoài nghi do dự
Vì sao nói danh hiệu
Mà không giảng thật nghĩa
Các Bồ-tát trí lớn
Đều muốn được nghe giảng
Thật nghĩa của các Địa
Xin phân biệt giảng thuyết
Các Đại Bồ-tát này
Thanh tịnh không vết nhơ
An trụ pháp vững chắc
Đủ công đức trí tuệ
Đều đem tâm cung kính
Mà chiêm ngưỡng hiền giả
Đều muốn được nghe giảng
Như khát, nghĩ nước ngọt.
Bồ-tát Kim Cang Tạng
Nghe nói việc này rồi
Muốn làm vui đại chúng

Nên nói lời kệ rằng:
Hạnh nghiệp của Bồ-tát
Khó suy xét thứ nhất
Phân biệt các Địa này
Nguồn gốc của chư Phật
Vi diệu rất khó thấy
Chẳng phải tâm hiểu được
Từ trí tuệ Phật sinh
Ai nghe không còn mê
Giữ tâm như Kim cang
Tin sâu trí tuệ Phật
Là vi diệu tối thượng
Tâm không có nghi ngờ
Xa lìa tâm chấp ngã
Và địa tâm sở hành
Các Bồ-tát như vậy
Mới có thể nghe được
Trí tịch diệt vô lậu
Phân biệt khó giảng thuyết
Như vẽ trong hư không
Nắm gió trong hư không
Tôi nghĩ trí tuệ Phật
Thật khó thể nghĩ bàn
Chúng sinh ít tin tưởng
Vì vậy tôi lặng thinh.

Nghe xong, Bồ-tát Giải Thoát Nguyệt nói với Bồ-tát Kim Cang Tạng:

–Phật tử! Các Đại Bồ-tát này, thâm tâm thanh tịnh, khéo hành Bồ-tát, khéo tu tập pháp trợ đạo, khéo cung kính cúng dường chư Phật, thành tựu vô lượng công đức sâu dày, lìa si, nghi, hối, không còn tham chấp trói buộc, thân tâm tin hiểu, an trụ bất động, ở trong chánh pháp, không tùy thuận giáo pháp khác. Vì vậy, Phật tử, hãy nương oai thần của Phật diễn giảng thật nghĩa. Các Bồ-tát này đều có thể chứng biết được pháp sâu xa đó.

Bấy giờ, Bồ-tát Giải Thoát Nguyệt muốn nêu lại nghĩa trên nên nói kệ rằng:

Xin nói pháp an ổn
Hạnh vô thượng Bồ-tát
Phân biệt các trụ địa
Để trí tuệ thanh tịnh
Các Bồ-tát trong sạch
An trụ tin hiểu sâu
Ở chỗ vô lượng Phật
Chứng biết nghĩa mười Địa.
Bồ-tát Kim Cang Tạng nói:

–Phật tử! Đại chúng này, tuy đều thanh tịnh, lìa si, nghi, hối; ở trong pháp này, không tùy thuận pháp khác. Nhưng còn có những người thích tiểu pháp, nghe việc sâu xa khó nghĩ bàn này sẽ sinh nghi hối. Những người này mãi mãi chịu các sự suy não, tôi vì thương xót họ nên im lặng.

Bồ-tát Kim Cang Tạng muốn làm sáng tỏ nghĩa trên nên nói kệ rằng:

Đại chúng tuy thanh tịnh
Hiểu sâu lìa nghi hối
Tâm chí đã vững chắc
Không tùy thuận pháp khác
Vững chãi như Tu-di
Yên lặng như biển lớn
Nhưng còn người thô cạn
Trí tuệ chưa sáng soi
Theo thức không theo trí
Nghe rồi sinh nghi hối
Họ sẽ đọa ác thú
Thương xót nên không nói.
Bồ-tát Giải Thoát Nguyệt nói:

–Phật tử! Xin hãy nương oai lực của Phật, khéo léo phân biệt, pháp bất tư nghì này, chư Phật sẽ hộ niệm, làm cho mọi người dễ tin hiểu. Vì sao? Vì khéo thuyết nghĩa mười Địa, thì sẽ được chư Phật nơi mười phương hộ niệm; các Bồ-tát đều ủng hộ việc này, siêng năng tu hành. Vì sao? Vì là hạnh tối thượng của Bồ-tát, đạt đến tất cả Phật pháp. Ví như các kinh đều được thâu tóm ở phần đầu (đề mục). Phần đầu là cội gốc, không có một nghĩa nào nằm ngoài. Phật tử! Cũng thế, mười Địa này là nguồn gốc của tất cả Phật pháp, Bồ-tát thực hành đầy đủ mười Địa này, sẽ đạt được Nhất thiết trí tuệ. Vì vậy, Phật tử, xin hãy thuyết nghĩa này, sẽ được chư Phật hộ niệm, dùng thần lực làm cho mọi người tin nhận, không thể phá hoại.

Bồ-tát Giải Thoát Nguyệt muốn hiển thị nghĩa trên nên nói kệ rằng:

Lành thay Đấng trí tuệ
Đầy đủ hạnh thanh tịnh
Xin nói hạnh mười Địa
Pháp thâm nhập mười Địa
Để có đủ trí tuệ
Thành tựu pháp Bồ-đề
Chư Phật ở mười phương
Đấng tối tôn cõi người
Đều hộ niệm cho ngài
Nói thật nghĩa mười Địa
Mười địa là nguồn gốc
Là nơi trí tuệ hành
Cũng là đạo rốt ráo
Vô lượng pháp tụ Phật
Ví như các kinh sách
Thâu tóm ở phần đầu
Trí công đức của Phật
Mười Địa là nguồn gốc.

Lúc ấy, các Đại Bồ-tát đồng thanh nói kệ thỉnh Bồ-tát Kim Cang Tạng thuyết giảng:

Đấng trí tuệ thượng diệu
Giảng thuyết không hạn lượng
Đức nặng như núi chúa
Thương xót nói mười
Địa Giới niệm tuệ thanh tịnh
Nói thật nghĩa mười Địa
Nguồn gốc của mười Lực
Bản hạnh trí vô ngại
Giới định tuệ công đức
Nhóm tại tâm hiền giả
Kiêu mạn và tà kiến
Đều đã trừ diệt hết
Chúng này tâm không nghi
Xin muốn được nghe giảng
Như người khát nước tìm
Như đói nghĩ đến ăn
Như bệnh cần lương y
Như ong ưa hút mật
Chúng tôi cũng như vậy
Nghe pháp vị cam lồ
Nhờ đó mở rộng ý
Xin nói địa ban đầu
Cho đến Địa thứ mười
Tuần tự giảng thuyết cho.

Lúc ấy, Đức Phật Thích-ca Mâu-ni, từ tướng lông trắng giữa chặng mày, phóng ra ánh sáng Bồ-tát lực, có vô số trăm ngàn ánh sáng khác làm quyến thuộc. Ánh sáng đó chiếu soi các cõi Phật ở mười phương, không nơi nào là không chiếu đến, cái khổ đau trong ba đường ác đều ngừng lại; chiếu đến đại hội của chư Phật ở mười phương, thuyết pháp cho đại chúng, hiện rõ lực bất tư nghì của Như Lai. Ánh sáng đó, chiếu khắp đại hội của chư Phật và các Bồ-tát ở mười phương xong, ở trong hư không làm thành đài mây sáng lớn. Chư Phật ở mười phương cũng đều làm như vậy; cũng từ tướng lông trắng giữa chặng mày, phóng ra ánh sáng Bồ-tát lực, có vô số trăm ngàn ánh sáng khác làm quyến thuộc, hiển hiện lực bất tư nghì của Như Lai, chiếu khắp đại hội của tất cả Đức Phật, chiếu đến cõi Ta-bà và đại chúng của Phật Thích-ca Mâu-ni, chiếu đến Đại Kim Cang Tạng và tòa Sư tử. Chiếu xong, ở trong hư không làm thành đài mây sáng lớn. Nhờ thần lực của Phật từ trong đài mây sáng ấy phát ra tiếng kệ rằng:

Chư Phật, không ai bằng
Công đức như hư không
Mười Lực và Vô úy
Đấng Tối Tôn thế gian
Ở trước Phật Thích-ca
Thị hiện thần lực này
Dùng Phật lực khai thị
Tạng Pháp vương Sư tử
Thuyết hạnh nghiệp các Địa
Và các nghĩa sai biệt
Nương lực Phật thuyết giảng
Không ai hủy hoại được
Người nào nghe pháp bảo
Được chư Phật hộ niệm
Dần đầy đủ các địa
Thành tựu đạo quả Phật
Người nào nghe nhận được
Tuy ở trong biển lớn
Và trong lửa kiếp tận
Sẽ được nghe kinh này
Người nào si, nghi, hối
Trọn không thể nghe được
Vì thế nay Phật tử
Thuyết trí đạo các Địa
Nhập uy lực quán pháp
Tuần tự mà tu tập
Đạt đến các Địa khác
Đều có được lợi ích
Lợi ích các thế gian
Hãy nói chớ đoạn dứt.

Lúc ấy, Bồ-tát Kim Cang Tạng quán sát mười phương, muốn cho đại chúng càng thêm kính tin nên nói kệ rằng:

Thánh đạo của chư Phật
Vi diệu, thật khó hiểu
Chẳng suy lường mà được
Là nơi người trí hành.
Tánh ấy từ xưa nay
Tịch nhiên không sinh diệt
Xưa nay đều là không
Diệt trừ các khổ não
Và xa lìa các cõi
Giống như tướng Niết-bàn
Không giữa cũng không sau
Chẳng ngôn từ để thuyết
Vượt qua khỏi ba đời
Tướng ấy như hư không
Hành xứ của chư Phật
Thanh tịnh và tịch diệt
Nói năng không thể được
Địa hành chẳng như vậy
Nói mà còn khó khăn
Huống gì chỉ dạy người
Trí tuệ của chư Phật
Đạo lìa tâm đếm biết
Không thể nghĩ bàn được
Chẳng có ấm, giới, nhập
Dùng trí có thể biết
Thức không thể đạt đến
Như hư không khó nói
Huống gì chỉ bày tướng
Nghĩa mười Địa như vậy
Không phải tâm biết được
Việc này tuy là khó
Phát nguyện hành Từ bi
Dần dần đù các địa
Không phải tâm đạt được
Các địa hành như thế
Vi diệu khó thấy biết
Không dùng tâm hiểu được
Phải nương Phật lực thuyết
Các ông phải cung kính
Lắng tâm mà nghe kỹ
Hành tướng nhập các địa
Tu tập sinh pháp môn
Trải vô số ức kiếp
Cũng không thể nói hết
Nay lược nói như thật
Nghĩa đó không còn thừa
Lắng tâm cung kính đợi
Nay nương sức Phật thuyết
Đại âm xướng nhân dụ
Danh nghĩa không chống trái
Thấn lực Phật vô lượng
Đều ở trong thân tôi
Những gì tôi giảng thuyết
Như giọt nước biển lớn.

Nói kệ xong, Bồ-tát Kim Cang Tạng bảo đại chúng:

–Các Phật tử! Chúng sinh nào dày công tu tập nhiều căn lành, tu các hạnh lành, khéo tu tập pháp trợ đạo, cúng dường chư Phật, tu pháp thanh bạch, được thiện tri thức bảo hộ, nhập tâm sâu rộng, tâm tin thích pháp lớn, luôn hướng về Từ bi, thích cầu trí tuệ Phật, thì chúng sinh đó có thể phát tâm Vô thượng Bồ-đề. Vì muốn đạt Nhất thiết chủng trí, vì đạt mười lực, vì đạt đại vô úy; vì đạt đầy đủ Phật pháp, vì cứu tất cả thế gian, vì thanh tịnh tâm đại Từ bi, vì hướng đến trí vô dư vô ngại, đối với mười phương vì làm thanh tịnh hết tất cả cõi Phật, vì ở trong một niệm, biết việc của ba đời, vì tự tại chuyển bánh xe pháp lớn, thị hiện rộng thần lực của Phật, nên các đại Bồ-tát phát tâm như vậy.

Chư Phật tử! Tâm đó dùng đại Bi làm đầu, trí tuệ tăng thượng, phương tiện bảo hộ; trực tâm, thâm tâm thuần chí, đồng với Phật lực, khéo lường biết lực Phật, lực chúng sinh, hướng đến trí vô ngại, tùy thuận trí tự nhiên, lãnh thọ tất cả Phật pháp, dùng trí tuệ giáo hóa, rộng lớn như pháp tánh, rốt ráo như hư không, cùng tận đời vị lai.

Các Phật tử! Bồ-tát phát tâm như vậy, sẽ vượt địa phàm phu, nhập địa vị Bồ-tát, sinh trong nhà Phật, dòng họ cao quý, không ai chê trách, vượt qua tất cả đạo thế gian, nhập đạo xuất thế, trụ trong pháp Bồ-tát; ở trong hàng Bồ-tát, bình dẳng nhập chủng tánh Như Lai ba đời, nhất định rốt ráo đạt quả Vô thượng Bồ-đề. Bồ-tát trụ pháp này là trụ địa Hoan hỷ, vui nhiều, là pháp Bất cộng. Các Phật tử! Đại Bồ-tát trụ địa Hoan hỷ này, vui nhiều, tin sâu, thanh tịnh nhiều, hoan hỷ nhiều, nhu nhuyến, kham nhẫn nhiều, không thích tranh đấu, không thích não loạn chúng sinh, không ưa sân hận.

Các Phật tử! Bồ-tát trụ địa Hoan hỷ, vì luôn nghĩ đến chư Phật, nên sinh tâm hoan hỷ; vì nghĩ đến các Phật pháp nên sinh tâm hoan hỷ; vì nghĩ về các Đại Bồ-tát nên sinh hoan hỷ; vì nghĩ đến việc làm của các Bồ-tát nên sinh tâm hoan hỷ; vì nghĩ đến tướng thanh tịnh của các Ba-la-mật nên sinh tâm hoan hỷ; vì nghĩ đến các Bồ-tát và các sự thù thắng nên sinh tâm hoan hỷ; vì nghĩ đến oai lực không thể phá hoại của Bồ-tát nên sinh tâm hoan hỷ; vì nghĩ đến các pháp mà các Như Lai dùng để giáo hóa nên sinh tâm hoan hỷ; vì nghĩ đến những việc có thể đem lợi ích cho chúng sinh nên sinh tâm hoan hỷ; vì nghĩ đến pháp môn phương tiện mà hết thảy chư Phật, chư Bồ-tát nhập trí tuệ nên sinh tâm hoan hỷ.

Các Phật tử! Bồ-tát lại nghĩ: Ta vì rời khỏi các cảnh giới của các thế gian nên sinh tâm hoan hỷ; nhập pháp bình đẳng của chư Phật nên sinh tâm hoan hỷ; xa lìa địa phàm phu nên sinh tâm hoan hỷ, gần đạt địa trí tuệ nên sinh tâm hoan hỷ, đoạn trừ tất cả các cõi ác nên sinh tâm hoan hỷ; làm chỗ nương tựa cho chúng sinh nên sinh tâm hoan hỷ; thân cận các Đức Phật nên sinh tâm hoan hỷ, sinh ở cõi Phật nên sinh tâm hoan hỷ, vào hàng ngũ của Bồ-tát nên sinh tâm hoan hỷ, không còn lo sợ nên sinh tâm hoan hỷ. Vì sao? Vì Đại Bồ-tát này, đạt địa Hoan hỷ thì xa lìa được tất cả lo sợ; như sợ không sống, sợ tiếng xấu, sợ chết, sợ đọa đường ác, sợ oai đức đại chúng. Lìa được tất cả những lo sợ như vậy. Vì sao? Vì Bồ-tát này lìa tướng ngã, ngay thân mình còn không tham muốn huống gì những thứ cần dùng? Vì vậy, không còn sợ không sống. Tâm không mong cầu cung kính cúng dường, mà còn cung cấp mọi thứ cần dùng cho chúng sinh, nên không còn sợ tiếng xấu. Lìa ngã kiến, không còn tướng ngã nên không còn sợ chết. Lại nghĩ: Nếu ta chết, rồi sinh ra, nhất định sẽ không rời chư Phật, Bồtát, nên không sợ đọa đường ác. Niềm vui của ta, không ai sánh bằng, huống có người hơn, nên không còn sợ oai đức của đại chúng. Các

Phật tử! Bồ-tát đó lìa tất cả lo sợ.

Các Phật tử! Bồ-tát đó dùng đại Bi làm đầu, thâm nhập tâm rộng lớn vững chãi, siêng tu tất cả căn lành. Đó là vì tín tâm tăng thượng nên thực hành tịnh tâm, tâm hiểu biết thanh tịnh, phần nhiều đều do tín tâm, phân biệt phát tâm Bi mẫn, thành tựu đại Từ tâm không lười mỏi; trang nghiêm bằng tâm hổ thẹn, thành tựu nhẫn nhục nhu hòa, kính thuận giáo pháp của chư Phật, tin quý tôn trọng, ngày đêm thường tu căn lành không nhàm chán, gần gũi Thiện tri thức, luôn yêu thích pháp, cần cầu học rộng không chán, chánh quán pháp được nghe, tâm không tham chấp, không cầu lợi dưỡng, tiếng khen, cung kính. Đối với vật cần dùng trong đời sống, tâm không tham tiếc, luôn phát tâm chân thật không nhàm chán, ham thích địa Nhất thiết trí; luôn mong đạt oai lực, pháp Vô úy, pháp Bất cộng của chư Phật; cầu Pháp Ba-la-mật trợ lực, lìa dua nịnh, làm đúng lời dạy, luôn nói thật, không làm ố dòng Phật, không bỏ học giới của Bồ-tát, sinh vào dòng Nhất thiết chủng trí, tâm vững chãi như núi chúa lớn, không thích các việc của thế gian, thành tựu căn lành xuất thế gian, tu pháp trợ Bồ-đề phàn không chán, luôn cầu đạo thù thắng trong pháp thắng.

Các Phật tử! Đại Bồ-tát thành tựu địa pháp thanh tịnh như vậy gọi là an trụ địa Hoan hỷ của Bồ-tát. Bồ-tát an trụ địa Hoan hỷ, phát thệ nguyện lớn, tâm quyết định vững chắc, đó là: Ta nên cúng dường tất cả các Đức Phật không để thiếu, tùy ý cúng dường tất cả vật càn dùng, tâm thanh tịnh thông đạt. Phát nguyện lớn như vậy, rộng sâu như pháp tánh, rốt ráo như hư không, đến tận đời vị lai. Cúng dường chư Phật trong tất cả kiếp, luôn cúng dường vật cần dùng, không ngừng nghỉ. Lại nữa, đối với kinh pháp mà chư Phật giảng thuyết đều thọ trì, gìn giữ tất cả pháp Vô thượng Bồ-đề của chư Phật, tùy thuận tất cả giáo pháp mà chư Phật dùng giáo để giáo hóa, bảo vệ Phật pháp. Phát nguyện lớn như vậy, rộng sâu như pháp tánh, rốt ráo như hư không, đến tận đời vị lai, đến cùng tận tất cả kiếp giữ gìn tất cả Phật pháp không ngừng nghỉ. Đối với tất cả chư Phật trong tất cả thế giới từ cung trời Đâu-suất giáng trần nhập thai ở trong thai, lúc mới sinh, lúc xuất gia, lúc thành đạo ta đều khuyến thỉnh chuyển đại pháp luân; khi Phật thị hiện đại Niết-bàn, ta đến cúng dường, việc đầu tiên là thâu nhận giáo pháp, giáo hóa ba thời. Phát nguyện lớn như thế, rộng sâu như pháp tánh, rốt ráo như hư không, đến tận đời vị lai, khắp tất cả kiếp, phụng kính cúng dường tất cả chư Phật không ngừng nghỉ. Lại nữa, việc làm của Bồ-tát rộng lớn, cao xa khôn lường, không thể hoại, không ai phân biệt được, thâu tóm trong Bala-mật; thanh tịnh các địa, sinh các pháp trợ đạo, đạo hữu tướng, vô tướng; có thành có hoại, các đạo địa đã hành và bản hạnh Ba-la-mật của tất cả Bồ-tát là giáo hóa, làm cho thực hành và tâm được tăng trưởng. Phát nguyện lớn như vậy, rộng sâu như pháp tánh, rốt ráo như hư không, đến tận đời vị lai, đến cùng tận hạnh nghiệp của Bồtát, trong tất cả kiếp, dùng pháp mà giáo hóa thuần thục chúng sinh không ngừng nghỉ. Tất cả chúng sinh hoặc có sắc, không sắc, có tưởng, không tưởng, phi hữu tưởng, phi vô tưởng, hoặc sinh bằng thai, trứng, ẩm thấp, biến hóa trong ba cõi đều trói buộc trong sáu đạo. Dù sinh ở đâu, cũng đều thuộc về danh sắc, giáo hóa thuần thục tất cả chúng sinh, đoạn trừ tất cả đạo của thế gian, làm cho chúng sinh an trụ trong Phật pháp, tu tập Nhất thiết trí tuệ, không để sót. Phát nguyện lớn như vậy, rộng sâu như pháp tánh, rốt ráo như hư không, đến tận đời vị lai, đến cùng tận tất cả kiếp để giáo hóa tất cả chúng sinh, không ngừng nghỉ. Lại nữa, tất cả thế gian rộng hẹp, cao thấp, vô số không thể phân biệt, không thể dời đổi; không thể nói to nhỏ, ngay thẳng, nghiêng, đứng, đầu thân đầy đặn, bằng phẳng vuông tròn. Tùy thuận nhập các cõi thế gian như vậy; trí như lưới Đế Thích, trải qua các việc huyễn ảo sai khác. Đều biết trước hết tất cả các cõi nước sai biệt trong mười phương. Phát nguyện lớn như vậy, rộng sâu như pháp tánh, rốt ráo như hư không, đến tận đời vị lai, đến tận tất cả kiếp. Các cõi như vậy đều biết tường tận ngay, không ngừng nghỉ. Lại đem tất cả cõi Phật nhập vào một cõi Phật; một cõi Phật nhập vào tất cả cõi Phật. Mỗi cõi Phật, được trang nghiêm bằng vô số ánh sáng, xa lìa cấu uế dầy đủ đạo thanh tịnh, có vô lượng trí tuệ, chúng sinh đông nhiều trong đó, luôn có được sức thần thông lớn của chư Phật, tùy tâm chúng sinh mà thị hiện. Phát nguyện lớn như vậy, rộng sâu như pháp tánh, rốt ráo như hư không, đến tận đời vị lai, đến tận tất cả kiếp, làm thanh tịnh tất cả các cõi nước như vậy không ngừng nghỉ.

Lại nữa, các Bồ-tát đồng tâm tu học, cùng tu tập pháp thiện, không ganh ghét, chỉ chú tâm vào một việc, tâm bình đẳng, hòa hợp, không rời nhau, tùy ý mà hiện thân Phật; ở trong tâm mình, đều hiểu biết thần lực, trí tuệ của Phật, luôn được thần thông như ý, đi lại tất cả các cõi nước, hiện tướng thân trong tất cả hội Phật; ở đâu cũng sinh trong hội Phật, có trí tuệ lớn không thể nghĩ bàn như vậy, luôn đầy đủ hạnh Bồ-tát. Phát nguyện lớn như vậy, rộng sâu như pháp tánh, rốt ráo như hư không, đến tận đời vị lai, đến tận tất cả kiếp, hành đạo trí tuệ lớn như vậy không ngừng nghỉ. Lại đi xe bất thoái, hành tất cả đạo Bồ-tát, việc làm của thân, khẩu, ý không luống uổng, chúng sinh thấy được đều an định nơi Phật pháp; nghe tiếng thì đạt đạo trí tuệ chân thật; ai thấy được cũng đều vui mừng, lìa phiền não, giống như cây thuốc hay, đạt được tâm như vậy, mà hành đạo Bồ-tát. Phát nguyện lớn như vậy, rộng sâu như pháp tánh, rốt ráo như hư không, đến tận đời vị lai, đến tận tất cả kiếp, hành đạo bất thoái, việc làm không uổng công, không ngừng nghỉ.

Lại ở trong các cõi, đạt Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề, ở mỗi đầu sợi lông, thị hiện thân vào thai, xuất gia, ngồi nơi đạo tràng, thành Phật đạo, chuyển bánh xe pháp, độ chúng sinh, thị hiện đại Niết-bàn, hiện dại thần trí của chư Như Lai, tùy thuận tất cả chúng sinh mà độ những kẻ đáng độ. Trong mỗi niệm, đạt Phật đạo, độ chúng sinh, diệt khổ não, biết tất cả pháp như tướng Niết-bàn, dùng một âm thanh, làm cho tất cả chúng sinh đều vui vẻ; thị hiện đại Niết-bàn mà không đoạn hạnh Bồ-tát; thị hiện đại trí địa cho chúng sinh, làm cho chúng sinh biết tất cả pháp là giả dối, hư ngụy; với trí tuệ lớn thần thông lớn mà tự tại biến hóa. Phát nguyện lớn như vậy, rộng sâu như pháp tánh, rốt ráo như hư không, đến tận đời vị lai, đến tận tất cả kiếp, thành tựu việc Phật, cầu trí tuệ lớn, thần thông lớn, không ngừng nghỉ.

Này các Phật tử! Bồ-tát trụ địa Hoan hỷ lấy mười nguyện làm đầu, phát trăm ngàn vạn a-tăng-kỳ nguyện lớn như vậy. Do mười pháp không cùng tận mà phát sinh những nguyện này. Để viên mãn nguyện này, nên siêng năng tu tập. Mười pháp đó là gì?

  1. Chúng sinh không cùng tận.
  2. Cõi nước không cùng tận.
  3. Hư không không cùng tận.
  4. Pháp tánh không cùng tận.
  5. Niết-bàn không cùng tận.
  6. Phật ra đời không cùng tận.
  7. Trí tuệ chư Phật không cùng tận.
  8. Tâm duyên không cùng tận.
  9. Trí phát khởi không cùng tận.
  10. Hạt giống thế gian, hạt giống pháp, hạt giống trí tuệ không cùng tận.

Như chúng sinh cùng tận, nguyện của con mới cùng tận, như thế gian tận, hư không tận, pháp tánh tận, Niết-bàn tận, Phật ra đời tận, trí tuệ chư Phật tận, tâm duyên tận, trí tuệ phát khởi tận, hạt giống của đạo cùng tận; thì nguyện của con mới cùng tận. Nhưng chúng sinh thật không cùng tận; thế gian, hư không, pháp tánh, Niếtbàn, Phật ra đời, trí tuệ chư Phật, tâm duyên, trí phát khởi, hạt giống đạo thật không thể cùng tận, nên phước đức thệ nguyện của con cũng không cùng tận.

Này các Phật tử! Bồ-tát quyết định phát nguyện lớn này, sẽ đạt tâm an lạc lợi ích, tâm nhu nhuyến, tâm điều thuận, tâm thiện, tâm tịch diệt, tâm hòa nhã, tâm ngay thật, tâm không loạn, tâm không nhiễm, tâm không ô trược; do đó sẽ thành người tin ưa thích tướng của lòng tin; phân biệt công đức, tin vào sự hành đạo từ xưa của chư Phật, nhờ tin vào hạnh Ba-la-mật mà được tăng trưởng, tin vào sự khéo nhập các địa mà đạt công đức thù thắng, tin vào sự thành tựu mười Lực của Phật; tin đầy đủ bốn Vô sở úy, pháp Bất cộng, không thể hoại; tin pháp chư Phật không thể nghĩ bàn, tin oai lực của chư Phật không ở giữa, không ở bên, tin vào vô lượng hạnh môn của Như Lai, tin do nhân duyên mới thành quả báo. Nói tóm lại, tin vào các Bồ-tát thực hành hết công đức trí tuệ, sức oai thần của chư Phật.

Chư Phật tử! Bồ-tát nghĩ thế này: Chánh pháp của Chư Phật sâu xa, lìa tướng tịch diệt, trống rỗng, không có tướng, không tạo tác, không nhiễm ô, không thể lường, rộng lớn, khó hoại, như vậy mà các phàm phu thì tâm rơi vào tà kiến, bị vô minh ngu tối che lấp tuệ nhãn, luôn dựng cờ kiêu mạn, bị rơi vào lưới khát ái, tùy thuận dua nịnh, luôn xan tham ganh ghét, tạo nhân duyên cho nơi thọ sinh thân đời sau; tạo nhiều tham dục, sân hận ngu si, khởi sinh các nghiệp nặng; bị gió dữ hiềm hận, thổi lửa tội lỗi làm cho bừng cháy, có làm việc gì cũng đều tương ưng điên đảo; những dòng đục, hữu, vô minh, kiến, liên tục phát khởi; tâm ý thức gieo mầm khổ não trong ba cõi. Đó là danh sắc hòa hợp, tăng trưởng sáu nhập, từ căn trần sinh ra xúc, từ xúc làm duyên sinh thọ, ham thọ lạc nên sinh khát ái, khát ái tăng trưởng sinh thủ, thủ tăng trưởng nên khởi hậu hữu, từ nhân duyên hữu sinh ra già, chết ưu, bi, khổ, não. Đó là nhân duyên đưa đến các khổ não. Chúng sinh tuy chịu khổ não nhưng trong đó không có ngã, ngã sở, không người tạo tác, không người lãnh thọ, không người biết, ví như cỏ, cây, đá, ngói, lại cũng như bóng. Kẻ phàm phu đáng thương, không hay không biết, nên chịu khổ não, nên sinh trí tuệ đại Bi để cứu thoát chúng sinh; làm cho chúng sinh trụ trong niềm vui cứu cánh của Phật đạo rồi phát sinh trí tuệ đại Từ. Đại Bồ-tát tùy thuận pháp đại Từ bi như vậy, dùng tâm thâm diệu, trụ ở Địa thứ nhất. Đối với các vật không hề tham tiếc, tôn trọng trí vi diệu rộng lớn của Phật, học hạnh đại Xả, tức thời có thể bố thí tất cả vật sở hữu, như là kho lúa gạo, vàng bạc, ma-ni, châu ngọc, xa cừ, mã não, lưu ly, san hô, hổ phách, kha bối, anh lạc, các vật trang sức nơi thân, các trân bảo và voi, ngựa, xe cộ, kiệu, lọng, dân chúng, nô tỳ, quyến thuộc, đất nước, thành ấp, xóm làng, vườn rừng, công viên, vợ con, trai gái; bố thí tất cả những vật yêu quý như đầu, mắt, tai, mũi, tay chân, thân thể. Vì tôn trọng Phật trí nên không tham tiếc. Đại Bồ-tát, trụ ở Địa thứ nhất phải luôn thực hành đại Xả. Bồ-tát này, dùng tâm đại Bi, tâm đại Xả để cứu tất cả chúng sinh, siêng năng làm việc thù thắng, đem lợi ích cho thế gian và xuất thế gian, tâm không lười mỏi, do đó Bồ-tát này phát sinh được công đức không mỏi mệt. Đối với kinh sách, tự tìm hiểu rõ nên phát sinh công đức hiểu kinh pháp. Đạt trí tuệ biết kinh pháp như vậy; khéo cân nhắc; biết việc nên làm, không nên làm; tùy thuận chúng sinh thượng, trung, hạ mà hành sự; tùy những người nương tựa gần gũi, tùy sức mà làm lợi ích, nên phát sinh công đức trí thế gian; đạt công đức trí thế gian ấy thì biết thời, biết lượng, biết trang nghiêm, biết hổ thẹn; tu tập đạo tự lợi, lợi tha nên sinh công đức hổ thẹn. Ở trong hạnh công đức như vậy, siêng năng tu tập, tâm không thoái lui, đó là công đức tinh tấn không thoái lui, tức thời đạt được lực có thể chịu đựng. Đạt được lực có thể chịu đựng rồi, siêng tu cúng dường chư Phật, làm theo Phật pháp dạy.

Các Phật tử! Bồ-tát này, biết pháp địa thanh tịnh sinh khởi như vậy. Nghĩa là tin vào sự Từ, Bi, Hỷ, Xả không lười mỏi, biết kinh pháp, khéo hiểu thế pháp, đủ sức chịu đựng hổ thẹn, cúng dường chư Phật, thực hành theo như pháp.

Lại nữa, Bồ-tát trụ địa Hoan hỷ, nhờ phát nguyện nên gặp được số trăm ngàn vạn ức na-do-tha Phật. Lúc gặp Phật, tâm Bồ-tát vui mừng khôn xiết, thâm tâm cung kính, trổi nhạc của Bồ-tát để cúng dường Phật và chư Tăng, lại hồi hướng phước đức ấy về đạo Vô thượng Bồ-đề. Nhờ cúng dường chư Phật, nên Bồ-tát phát sinh được pháp giáo hóa chúng sinh, luôn dùng hai Nhiếp để thâu giữ chúng sinh, đó là Bố thí, Ái ngữ. Sau pháp hai Nhiếp, chỉ dùng sức tin hiểu khéo thực hành thiện pháp chưa thông đạt. Bồ-tát này tùy sự cúng dường chư Phật, giáo hóa chúng sinh, đều có thể thọ lãnh thực hành địa pháp thanh tịnh; các công đức đó tự nhiên được hồi hướng về Nhất thiết chủng trí, nên càng thêm sáng rực, mang tính hữu dụng.

Phật tử! Ví như người thợ luyện vàng, tùy vào sức lửa vừa phải để dùng mà làm cho ánh sáng càng rực rỡ. Cũng thế, Bồ-tát tùy sự cúng dường chư Phật, giáo hóa chúng sinh mà thọ hành pháp các địa thanh tịnh, rồi hồi hướng công đức đó về Nhất thiết chủng trí để càng thêm sáng rỡ, mà tùy ý sử dụng.

Lại nữa, các Phật tử! Đại Bồ-tát đạt tướng mạo ở Địa thứ nhất, nên đến chỗ của chư Phật, Bồ-tát và Thiện tri thức để học hỏi thành tựu pháp địa, không nên chán bỏ. Bồ-tát trụ Địa thứ nhất, nên đến chỗ của Phật. Bồ-tát và Thiện tri thức để học hỏi tướng mạo của Địa thứ hai mà tâm không hề chán bỏ. Cứ như thế đến chỗ chư Phật, Bồ-tát và Thiện tri thức mà học hỏi tướng mạo của Địa thứ ba, bốn, năm, sáu, bảy, tám, chín, mười, và thành tựu pháp thập địa mà không hề phế bỏ. Bồ-tát này, biết rõ pháp thuận nghịch của các Địa, khéo biết sự thành hoại, tướng mạo, nhân quả, sự được mất, phần hành thanh tịnh của các địa. Biết rõ hạnh từ một địa này đến một địa khác, biết rõ các địa là xứ, chẳng phải là xứ; biết rõ các địa và nơi sẽ sinh; biết rõ sự sai biệt của việc trước việc sau các địa; biết rõ các địa đạt tướng không thoái chuyển. Cho đến biết rõ tất cả các địa pháp thanh tịnh của Bồ-tát, biết rõ việc nhập trí của địa Như Lai. Phật tử! Bồ-tát này, biết rõ tướng mạo từ lúc chưa phát tâm ở Địa thứ nhất, đến Địa thứ mười, biết rõ là không chướng ngại. Vì đạt ánh sáng trí tuệ của các địa, nên đạt ánh sáng trí tuệ của chư Phật.

Các Phật tử! Như chủ buôn lớn, dẫn nhiều người buôn khác muốn đến thành phố lớn, trước phải hỏi đường đi tới, lui để vượt qua những nguy hiểm và điều lợi hại ở trên đường có thể phát sinh, biết lúc dừng nghỉ trên đường. Biết rõ tất cả mọi việc để đến được thành ấy; dùng trí tuệ suy xét, so lường, để đem đầy đủ mọi vật dụng không cho thiếu thốn; dẫn dắt mọi người đến được thành phố kia, vượt qua hoạn nạn nguy hiểm, thì mình và mọi người sẽ không còn gì phải lo lắng.

Các Phật tử! Đại Bồ-tát cũng thế, trụ ở Địa thứ nhất nhưng khéo biết rõ pháp thuận nghịch của các địa, cho đến biết rõ pháp thanh tịnh của các Bồ-tát, biết rõ việc nhập trí địa Như Lai. Lúc ấy, Bồ-tát tập họp trí tuệ và phước đức lớn làm tư lương, là thương chủ của chúng sinh; tùy nghi giáo hóa, làm cho chúng sinh thoát khỏi nơi hiểm nạn, xấu ác sinh tử; chỉ dạy đường an ổn và an trụ trong thành lớn trí tuệ của Nhất thiết chủng trí, không còn những ưu não. Vì thế, các Phật tử! Đại Bồ-tát tâm không lười mỏi, siêng năng tu tập bản hạnh các địa, khéo biết nhập trí địa Như Lai.

Các Phật tử! Đó là lược nói pháp môn Đại Bồ-tát nhập địa Hoan hỷ. Nếu rộng nói, thì có vô lượng trăm ngàn vạn ức vô số việc. Đại Bồ-tát trụ địa này, thường làm vua cõi Diêm-phù-đề, giàu có tự tại, ủng hộ chánh pháp, thâu giữ chúng sinh bằng pháp bố thí, trừ hết xan tham cấu bẩn của chúng sinh. Luôn hành đại bố thí, không keo kiệt, không ngừng tạo các nghiệp thiện. Hoặc bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự, làm những việc này nhưng không rời niệm Phật và pháp; không rời suy nghĩ về Bồ-tát chúng bạn, về hạnh nghiệp của Đại Bồ-tát, về Bala-mật, về mười Địa, về Lực, về Vô úy, về pháp Bất cộng; cho đến không rời cụ túc niệm Nhất thiết chủng trí. Luôn nghĩ: Bất cứ lúc nào, trong chúng sinh, ta cũng đều là người đứng đầu, là người thù thắng, là tôn quý, là cao thượng, là vô thượng, là người dẫn đường, là bậc thầy, là chỗ dựa cho chúng sinh.

Các Phật tử! Đại Bồ-tát này, nếu muốn xuất gia, siêng năng tu tập thì trong nháy mắt có thể từ bỏ vợ con, nhà cửa, năm dục, được xuất gia trong Phật pháp. Được xuất gia rồi, siêng năng tu tập, chẳng bao lâu sẽ đạt được trăm pháp Tam-muội, được gặp trăm Đức Phật, biết trăm thần lực của Phật, làm chuyển động trăm cõi Phật, bay qua trăm cõi Phật, chiếu soi trăm cõi Phật, giáo hóa chúng sinh trong trăm cõi Phật, sống lâu trăm kiếp, biết được mọi việc trong hàng trăm kiếp ở quá khứ, vị lai, hiện tại, nhập được trăm pháp môn, biến ra trăm thân, mỗi thân lại thị hiện trăm Bồ-tát quyến thuộc.

Nếu dùng nguyện lực tự tại thị hiện, thì hơn con số trên, có đến vô số trăm ngàn vạn ức na-do-tha, không thể tính đếm được.

Lúc ấy, Đại Kim Cang Tạng, muốn tuyên rõ nghĩa trên, nên nói kệ rằng:

Nếu có các chúng sinh
Tu tập nhiều căn lành
Thành tựu pháp bạch tịnh
Gần gũi các Đức Phật
Thanh tịnh sức tin lớn
Tùy thuận tâm Từ bi
Người này phát khởi được
Vô lượng trí tuệ Phật
Nhất thiết trí của Phật
Sức Vô lượng thanh tịnh
Sức chịu đựng vững chắc
Thành tựu các Phật pháp
Tâm Bi cứu thế gian
Thanh tịnh các cõi Phật
Chuyển thuyết bánh xe pháp
Phát thệ nguyện vô thượng
Một niệm biết ba đời
Nhưng không hề thay đổi
Mỗi lúc có sai biệt
Thị hiện ở thế gian
Nói gọn là mong cầu
Công đức của chư Phật
Phát khởi tâm rộng lớn
Giống như là hư không
Tâm Bi trí tuệ đầu
Phương tiện để tu hành
Tâm tịnh tín sâu xa
Oai lực không hạn lượng
Tâm chí không chướng ngại
Chẳng tùy thuận pháp khác
Bình đẳng như chư Phật
Mà sinh tâm rộng lớn
Phật tử nào phát khởi
Tâm chân thật như thế
Sẽ lìa hạnh phàm phu
Nhập hạnh nghiệp chư Phật
Sinh trong nhà Như Lai
Không ai chê trách được
Giống như các Đức Phật
Sẽ thành đạo Vô thượng
Lúc phát khởi tâm ấy
Đạt được Địa thứ nhất
Tâm ấy không thể động
Vững chãi như núi chúa
Bồ-tát này có được
Tướng hoan hỷ hiển hiện
Tâm luôn luôn thanh tịnh
Làm được những việc lớn
Tâm không thích tranh đấu
Chẳng vui hại chúng sinh
Không có tâm sân hận
Biết hổ thẹn cung kính
Lại tập hành trực tâm
Và bảo hộ các căn
Luôn nghĩ cứu thế gian
Cầu mong trí của Phật
Tâm luôn luôn vui vẻ
Ta sẽ được việc này
Đạt địa Hoan hỷ rồi
Vượt qua năm điều sợ
Sợ không sống, sợ chết
Và lo sợ tiếng xấu
Sợ đọa ba đường ác
Sợ oai đức đại chúng
Vì không tham chấp ngã
Không tham chấp ngã sở
Các Phật tử như vậy
Xa lìa mọi lo sợ
Luôn hành tâm Từ bi
Tin tưởng và cung kính
Đủ công đức hổ thẹn
Ngày đêm thêm pháp lành
Thích công đức lợi ích
Không ham thích dục lạc
Những giáo pháp được nghe
Luôn suy xét kỹ lưỡng
Không có hạnh tham chấp
Đoạn tâm cầu lợi dưỡng
Luôn thích pháp Bồ-đề
Nhất tâm cầu trí Phật.
Hành các Ba-la-mật
Xả bỏ tâm dua nịnh
Thực hành theo lời dạy
An trụ trong lời Phật
Không ô nhiễm dòng Phật
Chẳng bỏ hạnh Bồ-tát
Xa sự nghiệp thế gian
Lợi lạc ở thế gian
Cầu pháp lành không chán
Tinh tấn ngày thêm lớn
Những Bồ-tát như thế
Ưa thích các công đức
Phát thệ nguyện rộng lớn
Mong được thấy chư Phật
Hộ pháp đến chỗ Phật
Hành diệu hạnh Bồ-tát
Độ tất cả chúng sinh
Thanh tịnh các cõi Phật
Trong cõi Phật của mình
Đông đúc các Bồ-tát
Các Bồ-tát đồng tâm
Kiến văn đều chẳng luống
Ở trong các bụi trần
Thành tựu đạo của Phật
Phát khởi vô số ức
Vô biên nguyện rộng lớn
Nguyện ấy không cùng tận
Như chúng sinh, hư không
Pháp tánh, cõi Niết-bàn
Trí tuệ của chư Phật
Từ tâm sinh trí chủng
Ta nguyện an trụ vậy
Phát thệ nguyện rộng lớn
Tâm nhu nhuyến điều thuận
Tin công đức của Phật
Mà quán sát chúng sinh
Biết từ nhân duyên sinh
Nên sinh từ tâm mẫn
Ta nguyện cứu độ hết
Chúng sinh đang đau khổ
Vì tất cả chúng sinh
Mà thực hành bố thí
Bố thí cõi nước đẹp
Các trân báu vô giá
Voi ngựa cùng xe cộ
Quyến thuộc và nhân dân
Đầu, mắt, tay, cùng chân
Thịt, xương, không hối hận
Học tất cả kinh sách
Tâm không hề mệt mỏi
Hiểu rõ thật nghĩa đó
Tùy thế gian thực hành
Tâm hổ thẹn, chịu đựng
Dần dần được tăng trưởng
Dùng tâm ý cung kính
Cúng dường vô lượng Phật
Người trí, suốt ngày đêm
Siêng tu tập như vậy
Căn lành hiểu sáng suốt
Giống như luyện vàng ròng
Bồ-tát trụ địa này
Hiểu biết rõ mười trụ
Lúc tuần tự tu tập
Không hề có chướng ngại
Ví như người chủ buôn
Muốn lợi ích người buôn
Trước hỏi rõ đường đi
Biết mọi việc nguy hiểm
Bồ-tát trụ sơ địa
Phải biết hạnh các địa
Không có các chướng ngại
Đạt đến địa của Phật
Trụ trong Địa thứ nhất
Thường làm vua Diêm-phù
Biết rõ các giáo pháp
Luôn hành tâm Từ bi
Đúng pháp mà giáo hóa
Tất cả đều kính tín
Khuyến khích tu bố thí
Để cầu trí tuệ Phật
Bồ-tát bỏ đất nước
Xuất gia trong Phật pháp
Siêng năng mà tu tập
Đạt được trăm Tam-muội
Gặp được trăm Đức Phật
Chấn động trăm cõi nước
Độ chúng sinh trăm nơi
Thâm nhập trăm pháp môn
Nhớ biết việc trăm kiếp
Thị hiện trăm loại thân
Lại thị hiện cả trăm
Bồ-tát làm quyến thuộc
Nếu dùng sức thệ nguyện
Hơn vô lượng số đó
Nay giảng nghĩa sơ địa
Chỉ nói gọn mà thôi
Nếu muốn nói rộng ra
Ức kiếp không thể hết
Địa Bồ-tát thứ nhất
Tên là địa Hoan hỷ
Vì tạo lợi ích cho chúng sinh
Nay đã phân biệt nói.

 

Phẩm 2: ĐỊA LY CẤU

Tất cả các Bồ-tát
Nghe nói nghĩa Sơ địa
Tâm chí đều thanh tịnh
Vui vẻ khó tả hết
Từ chỗ mình đang ngồi
Bay lên trên hư không
Cởi áo đẹp trên thân
Để cúng Kim Cang Tạng!
Đồng cất lời khen ngợi
Khéo nói địa Bồ-tát
Bồ-tát Giải Thoát Nguyệt
Biết tâm chúng thanh tịnh
Muốn được nghe giảng thuyết
Tướng mạo Địa thứ hai
Thưa với Kim Cang Tạng
Đại trí hãy giảng thuyết
Tướng mạo Địa thứ hai
Tất cả đều muốn nghe.

Bấy giờ, Đại Bồ-tát Kim Cang Tạng, nói với Bồ-tát Giải Thoát Nguyệt:

–Phật tử! Đại Bồ-tát đã đầy đủ Địa thứ nhất, muốn đạt Địa thứ hai, phát khởi mười tâm. Mười tâm đó là gì? Đó là các tâm:

  1. Nhu nhuyến.
  2. Điều hòa.
  3. Chịu đựng.
  4. Thiện.
  5. Tịch diệt.
  6. Chân.
  7. Không tạp.
  8. Không tham.
  9. Vui vẻ.
  10. Rộng lớn.

Đại Bồ-tát đã đầy đủ Địa thứ nhất, muốn đạt Địa thứ hai trước phải phát khởi mười tâm này. Phật tử! Bồ-tát trụ địa Ly cấu, từ xưa đến nay xa lìa tất cả việc sát sinh, vứt bỏ dao gậy, không có tâm sân hận, biết hổ thẹn; đối với chúng sinh, phát khởi tâm Từ, thường tìm việc vui, không có tâm ác, làm hại chúng sinh, huống gì tâm thô ác! Bỏ mọi việc trộm cắp, biết đủ với vật cần dùng, không phá tài sản của người. Vật của người thì người thọ dụng. Vật của người giữ gìn, thì dù một cọng cỏ, lá cây của người ta mà đã không cho, thì không lấy, huống chi là những vật quý báu hơn. Bỏ tà dâm, bằng tâm với vợ mình, không tham vợ người, không sinh tham dục với vợ người huống gì cùng hành dâm. Bỏ nói dối, luôn nói lời chân thật, lời ngay thẳng, không nói dối để làm các điều ác, ngay cả trong mộng cũng không nói dối huống gì cố ý nói dối! Bỏ nói hai lưỡi, không có tâm hủy hoại, nghe lời người này không nói lại cho người kia nghe, nghe lời người kia không nói lại cho người này, hòa hợp những người tranh tụng ly tán. Bỏ lời nói ác. Những lời nói thô ác khó nghe làm cho người khác sân hận buồn bậc; hoặc vì sân hận kiêu mạn làm cho người khác buồn phiền lo sợ không vui thích, đó là tự hại, mà cũng là hại người, tất cả những lời nói ấy đều xả bỏ hết. Nói năng vui vẻ, êm dịu, làm vui lòng người, chuyển hóa tâm người, nhu hòa, đầy đủ, được nhiều người nhớ tưởng, làm cho người khác vui vẻ, phải luôn nói những lời như vậy. Bỏ lời nói thêu dệt, luôn cẩn thận trong lời nói; biết những gì nên nói, không nên nói; luôn nói đúng lúc, chân thật, lợi ích, đúng pháp, có chừng mực, không nói đùa, nói cợt. Không nói những lời phù phiếm huống gì cố ý nói! Không tham vật của người. Nếu vật thuộc người khác, người khác đã tham trước, đã thâu dụng, thì không nghĩ là sẽ lấy vật ấy. Bỏ tâm sân hại, hiềm thù, bức não. Đối với chúng sinh luôn khởi tâm tốt, yêu mến, lợi ích, từ bỏ. Bỏ việc xem tướng, làm việc bằng chánh kiến, tin sâu chắc nhân duyên tội phước, bỏ dua nịnh, thành tín Tam bảo, phát tâm vững chắc. Bồ-tát luôn hộ đạo lành, thường suy nghĩ: Chúng sinh đọa vào đường ác, đều do mười nhân bất thiện. Ta nên trụ trong mười pháp lành, nói mười pháp lành cho chúng sinh, để biết chỗ mà tu hành chánh pháp. Vì sao? Vì người nào không làm lành mà nói pháp cho người khác an trụ trong pháp lành thì không bao giờ có. Bồ-tát lại nghĩ: Vì làm mười pháp ác mà đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh; còn thực hành mười pháp lành thì được sinh lên cõi người hoặc sinh đến cõi trời Hữu đảnh.

Lại nữa, mười pháp lành này là pháp người trí tuệ, hòa hợp tu tập. Những kẻ tâm yếu đuối thích ít công đức, chán sợ ba cõi, ít tâm đại Bi, nghe pháp chỉ đạt đến Thanh văn thừa. Lại, có người thực hành mười pháp lành này, không nghe pháp từ người khác mà tự nhiên hiểu biết, không đầy đủ đại Bi phương tiện nhưng thâm nhập pháp duyên sinh thì đật đến Bích-chi-phật thừa. Người thực hành mười pháp lành, đầy đủ thanh tịnh, tâm rộng lớn vô lượng, vô biên, đối với chúng sinh, phát tâm đại Bi, có sức phương tiện, chí nguyện bền vững, vì không hề bỏ chúng sinh, vì cầu trí tuệ lớn của Phật, vì làm thanh tịnh các địa của Bồ-tát, vì thanh tịnh các Ba-la-mật, thâm nhập hạnh rộng lớn sâu xa.

Lại nữa, thanh tịnh thực hành mười pháp lành này, sẽ đạt được mười Lực, bốn Vô sở úy, bốn Trí vô ngại, đại Từ bi của Phật và đạt được đầy đủ Nhất thiết chủng trí, tu tập pháp của Phật. Vì thế chúng ta nên hành mười pháp lành, luôn cầu Nhất thiết trí.

Bồ-tát lại suy nghĩ: Mười pháp bất thiện này, ở bậc thượng thì nó là nhân của địa ngục, bậc trung là nhân của súc sinh, bậc hạ là nhân của ngạ quỷ.

Tội sát sinh, làm cho chúng sinh đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. nếu sinh vào cõi người, thì chịu hai quả báo: Một là chết yểu; hai là nhiều bệnh.

Tội trộm cướp cũng làm cho chúng sinh đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Nếu sinh trong cõi người thì chịu hai quả báo: Một là nghèo thiếu; hai là có của chung, không có chủ quyền.

Tội tà dâm làm cho chúng sinh đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Nếu sinh vào cõi người, thì chịu hai quả báo: Một là vợ không trinh thuận; hai là bà con không vừa ý.

Tội nói dối, làm cho chúng sinh đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Nếu sinh vào cõi người, thì chịu hai quả báo: Một là bị nhiều người phỉ báng; hai là bị nhiều người lừa dối.

Tội nói hai lưỡi cũng làm cho chúng sinh đọa vào ba đường ác. Nếu sinh vào cõi người, thì chịu hai quả báo: Một là bị con tệ ác; hai là bà con không hòa thuận.

Tội nói ác làm cho chúng sinh đọa vào ba đường ác. Nếu sinh vào cõi người, thì chịu hai quả báo: Một là thường nghe tiếng xấu; hai là bị người tranh tụng.

Tội thêu dệt, làm cho chúng sinh đọa vào ba đường ác. Nếu sinh vào cõi người, thì chịu hai quả báo: Một là nói năng không được người tin; hai là nói năng không rõ ràng.

Tội tham dục, làm cho chúng sinh đọa vào ba đường ác. Nếu sinh vào cõi người, thì chịu hai quả báo: Một là nhiều dục vọng; hai là không biết chán đủ.

Tội sân não, làm cho chúng sinh đọa vào ba đường ác. Nếu sinh vào cõi người, thì chịu hai quả báo: Một là luôn bị người moi tìm chỗ hay dở; hai là bị người khác làm hại.

Tội tà kiến, làm cho chúng sinh đọa vào ba đường ác. Nếu sinh vào cõi người, thì chịu hai quả báo: Một là sinh trong nhà tà kiến; hai là có tâm dua nịnh.

Các Phật tử! Mười pháp bất thiện đều là nhân duyên của các loại khổ đau. Bồ-tát lại nghĩ: Vì sao chúng ta không bỏ mười pháp bất thiện, thực hiện mười pháp thiện và làm cho người khác hành mười pháp thiện? Nghĩ như vậy xong, bỏ mười pháp bất thiện, an trụ mười pháp thiện, lại làm cho người khác cũng phát tâm hành mười pháp thiện.

Lúc này, Bồ-tát ở trong chúng sinh sinh tâm an ổn, tâm hỷ lạc, tâm Từ bi, tâm lân mẫn, tâm lợi ích, tâm thủ hộ; tâm làm thầy, tâm làm thầy giỏi. Có những tâm ấy, rồi lại nghĩ: Chúng sinh rơi vào tà kiến, chạy theo tâm tà, đi trong đường tà nguy hiểm, thật đáng xót thương. Ta nên làm cho chúng sinh này trụ trong đạo chánh kiến và pháp như thật. Chúng sinh thường đấu tranh, sân hận, phân biệt ta người; ta nên làm cho chúng sinh trụ trong tâm đại Từ vô thượng. Chúng sinh không biết chán đủ, thường tham tài vật của người khác, nuôi sống bằng nghề tà vạy; ta nên làm cho chúng sinh, trụ trong nghiệp thân, khẩu, ý thanh tịnh. Chúng sinh chạy theo nhân tham lam, sân hận, si mê, thường bị lửa lớn phiền não thiêu đốt, không tìm được cách ra khỏi; ta nên làm cho chúng sinh, dập tắt lửa phiền não an ổn ở nơi mát mẻ. Chúng sinh thường bị vô minh đen tối che lấp, thường vào chỗ tối tăm, cách xa ánh sáng trí tuệ, ở trong đường hiểm sinh tử, rơi vào đủ các tà kiến; ta nên làm cho chúng sinh được tuệ nhãn thanh tịnh vô ngại. Nhờ tuệ nhãn này, biết thật tướng của các pháp, không tùy thuận giáo pháp khác, đạt trí như thật không chướng ngại. Chúng sinh ở trong đường hiểm sinh tử, sắp rơi vào hầm sâu địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, bị nhốt trong lưới tà kiến xấu ác, bị rừng rậm ngu si che mờ, xa cách bậc thầy có trí. Không phải đạo xuất thế lại cho là đạo xuất thế, rơi vào đường ác ma, tùy thuận ý ma, xa cách Phật ý; ta nên độ cho những chúng sinh này, thoát khỏi nạn sinh tử nguy hiểm, đặt chúng trong thành lớn vô úy Nhất thiết trí nhân, không còn những suy não. Chúng sinh chìm trong dòng thác phiền não, trôi lăn trong dòng dục, hữu, kiến, vô minh; chạy theo sinh tử liên tục không dứt, vào trong sông ái lớn, bị uy lực phiền não cuốn hút, không thể cầu đạo xuất thế; luôn bị các loại trùng độc dục, sân não, gây hại; bị La-sát thân kiến trong biển bắt giữ; rơi trong dòng xoáy sâu xa khổ nạn của năm dục bị bùn tham ái làm ô nhiễm; tiều tụy khô gầy, rơi trong vùng ngã mạn, không nơi hướng tới, không ra khỏi làng xóm giặc oán mười hai nhập, không gặp bậc Đạo sư dắt đi con đường chánh; ta nên làm cho những chúng sinh này sinh đại Từ bi, dùng sức của căn lành mà cứu thoát chúng đến nơi an ổn, xa nơi lo sợ đắm chìm, trụ trong đảo tuệ báu Nhất thiết trí. Chúng sinh tâm quá tham đắm; luôn bị lo lắng, khổ não, hoạn nạn, yêu ghét trói buộc; bị cột chặt trong cùm dục vọng, đi vào rừng rậm vô minh của ba cõi; ta nên làm cho chúng sinh này ra khỏi những tham chấp ở ba cõi; làm cho chúng sinh an trụ Niếtbàn vô ngại lìa tướng. Chúng sinh chấp chặt ngã, ngã sở; không ra khỏi hang ổ năm ấm, chạy theo bốn điên đảo, dựa vào làng xóm trống không sáu nhập; bị bốn đại xâm hại; bị các giặc phiền não giết hại; chịu vô lượng khổ não; ta nên làm cho chúng sinh này lìa tất cả sự tham đắm, trụ trong đạo trí không, vô ngã; đó là Niết-bàn, đoạn tất cả chướng ngại. Chúng sinh có tâm nhỏ hẹp, kém cỏi, thích pháp nhỏ, xa cách Nhất thiết trí tuệ vô thượng. Vì tâm tham chấp tiểu thừa, nên không cầu pháp xuất thế Đại thừa rộng lớn; ta nên làm cho những chúng sinh này trụ tâm rộng lớn, ở trong Phật pháp vô lượng, vô biên; đó là Đại thừa vô thượng.

Các Phật tử! Bồ-tát này thường tùy thuận năng lực trì giới, thường khéo mở rộng tâm đại Từ bi. Bồ-tát trụ địa Ly cấu, gặp được trăm ngàn Phật thì cung kính cúng dường các vật cần dùng như y phục, thức uống ăn, thuốc men, ngọa cụ; ở chỗ chư Phật thì sinh tâm cung kính, thọ trì mười pháp lành. Từ lúc lãnh thọ cho đến lúc đạt Vô thượng Bồ-đề, không hề quên mất. Bồ-tát này đã trải qua vô số trăm ngàn vạn ức kiếp; xa lánh trần cấu, xan tham, phá giới; tịnh tu bố thí, trì giới.

Phật tử! Ví như luyện vàng ròng, nếu lọc hết cặn bã ra khỏi quặng, thì vàng càng sáng rực; cũng thế, Bồ-tát trụ địa Ly cấu này, phải trải qua trăm ngàn vạn ức kiếp xa lìa trần cấu, sân tham, phá giới; tịnh tu bố thí, trì giới. Lúc này trong bốn Nhiếp pháp, Bồ-tát tu nhiều về ái ngữ. Trong mười Ba-la-mật. Giới Ba-la-mật là nhiều thù thắng. Còn các Ba-la-mật khác cũng tu tập nhưng chỉ tùy trụ địa mà tăng trưởng.

Các Phật tử! Đó là Địa thứ hai Ly cấu của Đại Bồ-tát. Bồ-tát trụ ở địa này, thường làm Chuyển luân thánh vương, làm đại Pháp vương, đạt nhiều pháp lực, thành tựu bảy báu, có sức tự tại; trừ hết được trần cấu, xan tham, phá giới của chúng sinh, dùng phương tiện khéo léo làm cho chúng sinh được an trụ trong mười pháp lành; tu bố thí rộng nhưng không cùng tận việc tạo những thiện nghiệp; hoặc bố thí, ái ngữ, lợi ích đồng sự đều không rời nghĩ đến Phật và pháp, không rời nghĩ đến chúng bạn Bồ-tát, không rời nghĩ đến sự hành đạo của Bồtát; không rời nghĩ đến các Ba-la-mật, mười Địa, mười Lực, bốn Vô úy, các pháp Bất cộng, cho đến không rời nghĩ về Nhất thiết chủng trí một cách trọn vẹn. Bồ-tát luôn nghĩ: Bất cứ lúc nào, trong chúng sinh, ta cùng đều là người đứng đầu, là tối thắng, là cao lớn, là tốt đẹp, là vô thượng, tối thượng; là người dẫn dắt, là bậc tôn quý, là chỗ dựa cho chúng sinh.

Các Phật tử! Đại Bồ-tát này nếu bỏ nhà, siêng năng tu tập, thì trong nháy mắt, bỏ vợ con, nhà cửa, năm dục, xuất gia trong Phật pháp. Đã xuất gia rồi sẽ siêng năng tu tập, trong khoảnh khắc, đạt ngàn môn Tam-muội, gặp ngàn Phật, biết thần lực của ngàn Phật, chấn động ngàn cõi Phật, vượt qua ngàn cõi Phật, chiếu sáng ngàn cõi Phật, hóa độ ngàn thế giới chúng sinh, sống lâu ngàn kiếp, biết mọi việc trong ngàn kiếp quá khứ, hiện tại, vị lai; khéo thâm nhập ngàn pháp môn; biến thành ngàn thân, mỗi thân thị hiện ngàn Bồ-tát quyến thuộc. Nếu dùng nguyện lực tự tại mà thị hiện, thì hơn số này đến trăm ngàn vạn ức na-do-tha, không thể tính kể.

Lúc ấy, Bồ-tát Kim Cang Tạng muốn nêu lại nghĩa trên nên nói kệ rằng:

Bồ-tát tâm nhu nhuyến
Tâm điều hòa, chịu đựng
Thiện tâm, tịch diệt tâm
Chân tâm, bất tạp tâm
Không có tâm tham tiếc
Tâm vui và tâm lớn
Đạt đủ mười tâm này
Nhập trụ Địa thứ hai
Bồ-tát trụ địa này
Thành tựu các công đức
Thường lìa bỏ sát sinh
Không làm hại tất cả
Xa bỏ việc trộm cướp
Không sinh tâm tà dâm
Lời thật, không hai lưỡi
Chẳng nói ác, thêu dệt
Vật sở hữu của người
Không sinh tâm tham chấp
Không tổn não chúng sinh
Trực tâm hành chánh kiến
Không có tâm kiêu mạn
Cũng chẳng tâm dua nịnh
Nhu nhuyến không phóng dật
Hộ trì giáo Phật pháp
Những khổ não đớn đau
Địa ngục và súc sinh
Ngạ quỷ, thiêu đốt thân
Đều trừ tâm ác sinh
Nay ta đã trừ hết
Những việc ác như vậy
Hành nghĩa lý chân thật
Pháp lành và tịch diệt
Từ người đến Hữu đảnh
Những nơi hưởng dục lạc
Vui thiền, vui ba thừa
Đều từ mười pháp lành
Suy xét như vậy rồi
Tâm không hề buông bỏ
Tự mình trì tịnh giới
Lại dạy người gìn giữ
Quán sát khắp chúng sinh
Chịu các loại khổ não
Vì thương xót chúng sinh
Phát khởi tâm đại Bi
Phàm phu thật đáng thương
Rơi vào các tà kiến
Tâm mang nhiều sân hận
Luôn thích tranh tụng nhau
Tham đắm trong năm dục
Mong cầu không biết chán
Nhân duyên khởi ba độc
Ta nên độ chúng sinh
Bị ngu si che mờ
Đi đường hiểm sinh tử
Rơi trong lưới tà kiến
Nhốt trong lồng thế gian
Luôn bị các giặc ma
Và phiền não gây hại
Chúng sinh thật đáng thương
Ta nên độ thoát chúng
Chìm sâu biển phiền não
Trôi dạt trong bốn dòng
Chịu đủ trăm ngàn thứ
Khổ não của ba cõi
Ở trong hang năm ấm
Sinh tâm ngã, ngã sở
Ta vì độ khổ này
Nên siêng năng hành đạo
Bỏ tuệ Phật vô thượng
Lại sinh tâm thấp kém
Làm cho trụ trí Phật
Phát vô lượng tinh tấn
Bồ-tát trụ địa này
Có vô số công đức
Được gặp các Đức Phật
Phụng sự và cúng dường
Chính vì nhân duyên này
Căn lành càng sáng tịnh
Ví như vàng ròng tốt
Được lọc ra khỏi quặng
Phật tử trụ địa này
Thường làm Chuyển luân vương
Làm cho các chúng sinh
Trụ trong mười pháp lành
Từ phát tâm đến giờ
Tu tập các phước đức
Nguyện cứu độ thế gian
Đạt mười Lực của Phật
Nếu muốn bỏ ngôi vua
Xuất gia tu học đạo
Tâm siêng năng tu tập
Thâm nhập ngàn Tam-muội
Được thấy ngàn Đức Phật
Cúng dường nghe nhận pháp
Bồ-tát trụ địa này
Thị hiện việc như vậy
Nếu dùng nguyện lực mình
Thị hiện các thần thông
Độ thoát những chúng sinh
Hơn số này vô lượng
Luôn luôn vì thế gian
Tìm cầu những việc tốt
Đã giảng nói đầy đủ
Hạnh nghiệp Địa thứ hai.

*********

Phẩm 3: ĐỊA MINH

Các Bồ-tát nghe được
Hạnh không thể nghĩ bàn
Trong tâm vui khôn tả
Cung kính khó thể lường
Lúc ấy, trong hư không
Mưa các loại hoa thơm
Hoa nhiều như đám mây
Cúng dường Kim Cang Tạng
Đều khen ngợi lành thay!
Lành thay! Kim Cang tạng
Khéo nói các đại nhân
Thanh tịnh hộ trì giới
Ở trong các chúng sinh
Phát tâm Từ bi lớn
Trình bày và giảng nói
Hành xứ Địa thứ hai
Hạnh vi diệu Bồ-tát
Chân thật không thay đổi
Những vị Bồ-tát này
Đầy đủ hạnh thanh tịnh
Vì tất cả chúng sinh
Luôn cầu việc tốt đẹp
Địa Tịnh minh thứ hai
Nay đã giảng thuyết xong
Đấng trời người cung kính
Xin nói Địa thứ ba
Khéo thị hiện các hạnh
Bồ-tát hành bằng trí
Xin nói các đại nhân
Làm sao hành bố thí
Giữ giới và nhẫn nhục
Hành tinh tấn thiền định
Trí tuệ cùng phương tiện
Và tâm Từ bi lớn
Làm sao hành pháp ấy
Thanh tịnh nơi hạnh Phật.
Bồ-tát Giải Thoát Nguyệt
Lại hỏi Kim Cang Tạng:
Bồ-tát dùng tâm gì
Đến được Địa thứ ba.

Đại Bồ-tát Kim Cang Tạng, nói với Bồ-tát Giải Thoát Nguyệt:

–Phật tử! Các Đại Bồ-tát tâm thanh tịnh sâu xa, hành Địa thứ hai xong; muốn đạt được Địa thứ ba, phải dùng mười tâm để đạt được. Mười tâm đó là gì? Đó là các tâm: 1. Tịnh. 2. Mạnh mẽ lợi ích. 3. Chán xa. 4. Lìa bỏ. 5. Bất thoái. 6. Kiến cố. 7. Minh thịnh. 8. Không tự mãn. 9. Vui vẻ. 10. Rộng lớn.

Các Phật tử! Đại Bồ-tát dùng mười tâm này nhập Địa thứ ba, quán sát tướng như thật của các pháp hữu vi. Đó là vô thường, khổ, không, vô ngã, bất tịnh, không tồn tại, không thể tin tưởng, niệm niệm sinh diệt. Lại không sinh, không diệt, không đến từ quá khứ, không đi về vị lai, hiện tại không dừng. Cứ thế, Bồ-tát quán thật tướng của các pháp hữu vi. Biết các pháp này; không tạo tác, không phát khởi, không đến đi. Những chúng sinh thì bị ưu bi, khổ não, yêu ghét trói buộc, không ngừng chứa nhóm, không nơi kiên định, luôn bị lửa tham, sân, si thiêu đốt, thổi hừng ngọn lửa khổ não của đời sau, không có thật tánh, như huyễn hóa. Thấy vậy rồi, Bồ-tát dần chán xa hết thảy các pháp hữu vi, hướng đến trí tuệ Phật. Bồ-tát này, biết được trí tuệ của Như Lai là không thể nghĩ bàn, không thể xưng kể; có uy lực lớn không ai hơn được; không có tướng tạp loạn; không có các khổ, suy não, ưu bi, đến được thành lớn an ổn không lo sợ; không còn trở lại; cứu độ vô lượng chúng sinh khổ não. Do vậy thấy biết được trí của Phật là vô lượng, pháp hữu vi là vô lượng khổ não; đối với tất cả chúng sinh phải phát mười tâm thù thắng. Mười tâm đó là gì? Đó là: Chúng sinh đáng thương; cô độc không ai cứu; chịu khổ không chỗ nương; lửa ba độc bừng cháy không dứt; bị nhốt trong ngục tam hữu chắc chắn; luôn sống trong rừng ác phiền não; không có sức chánh quán; ở trong pháp lành bị tâm dục lạc trói buộc; mất diệu pháp của chư Phật; luôn trôi theo dòng sinh tử; sợ Niết-bàn. Bồtát này, thấy chúng sinh có nhiều khổ não, nên phát tinh tấn lớn, cứu độ chúng sinh, giải thoát chúng sinh, làm cho chúng sinh được thanh tịnh, được cứu thoát, ưa thích pháp lành, an trụ vui vẻ, biết những việc cần làm, cứu độ, diệt trừ khổ não. Bồ-tát này, xa lìa tất cả pháp hữu vi, luôn nghĩ đến tất cả chúng sinh, thấy Nhất thiết trí của Phật có vô số lợi ích nên muốn được đầy đủ trí tuệ của Phật để cứu độ chúng sinh, siêng hành đạo Bồ-tát, và luôn nghĩ: Ta phải dùng phương tiện gì, nhân duyên gì để cứu những chúng sinh đang rơi trong khổ lớn phiền não, được ra khỏi và an trụ vĩnh viễn trong thường lạc cứu cánh, biết trụ trong trí tuệ giải thoát vô ngại mới có thể đạt được trí tuệ giải thoat vô ngại này, không rời trí như thật thông đạt các pháp, hành tuệ vô hành. Ánh sáng trí tuệ đó, do đâu có được? Phải biết trí tuệ đó không ngoài đa văn quyết định. Lại nghĩ: Các pháp vô ngại giải thoát của chư Phật lấy gì làm gốc? Gốc của nó chính là việc nghe pháp. Nghĩ như vậy, Bồ-tát lúc nào cũng siêng năng cầu pháp, ngày đêm luôn thích nghe pháp không biết chán, tâm không ngừng nghỉ, vui pháp, mến pháp, nương pháp, theo pháp, trọng pháp, trung thành với pháp, quy y pháp, cứu độ pháp, tùy thuận hành pháp; Bồ-tát với phương tiện như vậy, thì đối với châu báu, của cải vàng bạc, kho tàng không luyến tiếc, cầu pháp không thấy những vật ấy là khó được, chỉ lo khó gặp Pháp sư. Vì cầu pháp mà mọi vật trong ngoài có được ở thế gian đều có thể đem bố thí cả. Những vật đó là đất nước, nhân dân, quyến thuộc, sản nghiệp, ruộng vườn, tài vật, ngọc báu ma-ni, vàng bạc kho tàng, voi, ngựa, xe cộ, trân bảo, anh lạc, đồ trang sức, vợ con, trai gái, tay, chân, tai, mắt, mũi, lưỡi, bố thí cả toàn thân không hề tham tiếc. Cũng vì cầu pháp, mà đối với Pháp sư, phải tận tâm cung kính, cúng dường hầu hạ, phá trừ kiêu mạn, ngã mạn, đại mạn… các khổ não xấu ác, những việc trái lý đều có thể chịu đựng. Vì thành thật cầu pháp, nên được một câu pháp chưa từng được nghe, thì mừng hơn được trân bảo đầy cả tam thiên đại thiên thế giới. Được nghe một bài kệ chánh pháp, còn hơn vô lượng ức kiếp được làm Chuyển luân thánh vương, Thích Đềhoàn Nhân, Phạm thiên vương. Nếu có người đến nói với Bồ-tát: Ta cho ông nghe một câu kinh mà Phật giảng, có thể thanh tịnh đạo hạnh của Bồ-tát, nếu như ông vào hầm lửa lớn làm người chịu khổ não lớn, thì ta mới ban cho. Bồ-tát liền nghĩ: Ta vì lãnh thọ một câu pháp mà phải chịu đựng ở trong hầm lửa của tam thiên đại thiên thế giới, Ta từ cõi Phạm thiên rơi xuống còn được, huống gì chỉ bị rơi trong hầm lửa nhỏ! Vì cầu pháp, ta chịu hết tất cả khổ não của địa ngục, huống gì khổ não nhỏ của cõi người. Vì cầu pháp mà phát tâm như vậy.

Lại nữa, Bồ-tát phải luôn vui vẻ với pháp đã nghe, phải quán sát đúng đắn; nghe pháp xong phải hàng phục tâm, ở chỗ thanh vắng, tâm luôn nghĩ: Thực hành đúng pháp sẽ đạt Phật pháp, không phải chỉ là lời nói suông ở miệng. Bồ-tát như vậy có thể an trụ địa Minh, lìa các ái dục và pháp bất thiện, có giác, có quán, ly sinh hỷ lạc, nhập Sơ thiền. Diệt giác quán, bên trong tâm thanh tịnh, an trụ một chỗ, không giác không quán, định sinh hỷ lạc, nhập Nhị thiền. Ly hỷ, hành xả tâm niệm, an ổn bằng tuệ, thân thọ lạc, nhập Tam thiền. Đoạn lạc, đoạn khổ, trước diệt ưu hỷ; không còn khổ không còn lạc, hành, xả, niệm đều thanh tịnh, nhập Tứ thiền. Bồ-tát này vượt qua các sắc tướng, diệt tất cả tướng hữu đối, không nghĩ đến tướng sai khác, biết hư không vô biên, liền nhập định cõi thức vô sắc. Vượt qua hết thảy vô sở hữu xứ, biết sự an ổn của phi hữu tưởng phi vô tưởng, liền nhập định phi hữu tưởng phi vô tưởng vô sắc. Chỉ tùy thuận pháp mà hành chứ không tham chấp.

Bồ-tát này nhờ tâm Từ rộng lớn vô lượng; không sân, không hận, không làm hại, có sức tin hiểu, rộng khắp một phương, hai phương, ba phương, bốn phương, bốn góc, trên dưới cũng vậy; tâm Bi, tâm Hỷ, tâm Xả rộng lớn vô lượng, không sân, không hận, không não hại, có sức tin hiểu rộng khắp một phương, hai, ba, bốn phương; bốn góc trên, dưới cũng lại như vậy. Bồ-tát này có đủ các sức thần thông, có thể làm chấn động đại địa, biến một thân thành nhiều thân, nhiều thân thành một thân, hiện mất, rồi lại xuất hiện, vượt qua cả tường đá, núi cao chướng ngại, đi trong hư không, ở trong hư không, kiết già, tới lui, ví như chim bay; ra vào đất như đi vào nước, đi trên nước như đi trên đất, thân phóng khối ánh lửa lớn; mặt trời, mặt trăng có oai lực thần đức lớn mà Bồ-tát có thể dùng tay chạm được; thần lực tự tại lên đến cõi Phạm thiên.

Bồ-tát này, dùng Thiên nhĩ thanh tịnh, vượt hơn tai người nghe hết âm thanh xa gần của trời, người. Bồ-tát này, dùng Tha tâm trí biết như thật tâm người khác. Tâm ô nhiễm thì biết như thật là tâm nhiễm ô; tâm lìa nhiễm ô thì biết như thật là tâm lìa nhiễm ô. Tâm sân, lìa tâm sân, tâm si, lìa tâm si, tâm cấu uế, lìa tâm cấu uế; tâm lớn, tâm nhỏ; tam tán loạn thì biết như thật là tâm tán loạn; tâm định, tâm bất định; tâm bị trói buộc, tâm cởi mở; tâm cao thượng, tâm không cao thượng thì biết như thật là tâm cao thượng hay không cao thượng. Như vậy là dùng tâm mình để biết tâm người.

Bồ-tát này, biết đời sống, nơi thọ sinh kiếp trước; biết một đời, hai, ba, bốn, năm đời cho đến mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi, năm mươi, một trăm, ngàn, vạn, trăm ngàn vạn ức na-do-tha đời; biết một kiếp, hai kiếp cho đến trăm ngàn vạn ức na-do-tha vô lượng vô số kiếp. Trong những kiếp ấy, có vô số sự thành hoại, biết được nhân duyên trải qua trong các kiếp ấy. Biết ta sinh ở nơi đó, dòng họ đó, tên đó, ăn uống như vậy, khổ vui như vậy, sống lâu như vậy; biết ta chết ở đó mà sinh ở cõi này; biết chết ở cõi này mà sinh ở cõi kia; nhớ biết hết tất cả nhân duyên tướng mạo.

Bồ-tát này dùng Thiên nhãn thanh tịnh vượt hơn mắt người, thấy chúng sinh sống chết, hình sắc đẹp xấu, thiện ác, nghèo khổ, giàu sang, đến cõi lành, cõi ác, theo nghiệp chịu quả báo, tất cả đều biết như thật. Đó là: Biết chúng sinh này, thành tựu nghiệp ác về thân, khẩu, ý, chống nghịch Hiền thánh, tin thọ tà kiến; do nhân duyên nghiệp tội nên thân chết đọa vào đường ác, sinh vào địa ngục. Các chúng sinh này, thành tựu nghiệp thiện về thân, nghiệp thiện miệng, nghiệp thiện ý, không nghịch Thánh hiền. Do nhân duyên nghiệp thiện này nên sau khi chết, được sinh lên trời.

Bồ-tát này thường ra vào thiền định Tam-muội giải thoát nhưng không tùy sinh; chỉ thấy nơi nào có pháp trợ Bồ-đề thì vì nguyện lực nên sinh ở đó. Bồ-tát trụ địa Minh, thấy được trăm ngàn vạn ức nado-tha các Đức Phật, hết sức cung kính, cúng dường, tôn trọng, khen ngợi; cung phụng y phục, thức ăn uống, ngọa cụ, thuốc men; gần gũi chư Phật để nghe nhận kinh pháp; nghe pháp rồi thì tùy lực mà thực hành.

Lúc ấy, Bồ-tát quán các pháp không sinh, không diệt, chúng đều do duyên sinh. Trải qua trăm ngàn vạn ức kiếp bị dục trói buộc, bây giờ dần dần mới thoát khỏi hết những trói buộc của hữu, những trói buộc của vô minh; tất cả đều không còn chứa nhóm nữa. Vì không chứa nhóm, nên đoạn trừ được tà tham, sân, si.

Phật tử! Ví như vàng ròng mà được người thợ mài dũa, thì càng đẹp hơn, ánh sáng nó gấp bội. Bồ-tát cũng vậy trụ địa Minh không bị ba sự trói buộc, đoạn trừ tà tham, sân, si, căn lành dần tăng trưởng và sáng tịnh. Bồ-tát này đủ tâm nhẫn nhục; tâm nhu nhuyến, tâm mỹ diệu, tâm không hoại, không động, không ô trược, không cao thấp; tâm làm mọi việc mà không mong cầu báo đáp; ai làm gì cho mình dù nhỏ, cũng luôn có tâm báo đáp; tâm không dua nịnh, không nhiễm loạn, dần dần được sáng sạch.

Lúc ấy, Bồ-tát ở trong bốn Nhiếp pháp, thực hành nhiều về ái ngữ và lợi hành. Trong mười Ba-la-mật, tu nhiều về Nhẫn nhục và Tinh tấn ba-la-mật. Các pháp trợ Bồ-đề khác cũng đều thông sáng.

Phật tử! Đó là địa Minh, Địa thứ ba của Bồ-tát. Đại Bồ-tát, ở trụ địa này, thường làm Thích Đề-hoàn Nhân, trí tuệ nhanh lẹ, thường dùng nhân duyên phương tiện, chuyển hóa chúng sinh; làm cho chúng sinh lìa dâm dục, mọi việc làm lành như bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự đều không rời nghĩ về Phật, cho đến không rời nghĩ về cụ túc Nhất thiết chủng trí. Thường sinh tâm nghĩ: Bất cứ lúc nào, ở trong chúng sinh ta cũng là người đứng đầu, tôn quý, làm chỗ dựa cho tất cả chúng sinh. Vị ấy nếu siêng năng tu tập, thì chẳng bao lâu sẽ đạt mười vạn Tam-muội, cho đến việc có thể thị hiện được mười vạn Bồ-tát làm quyến thuộc, tùy nguyện lực thần thông tự tại không thể kể được. Dù trải qua trăm ngàn vạn ức na-do-tha kiếp cũng không thể đếm biết được.

Lúc ấy, Bồ-tát Kim Cang Tạng muốn làm sáng tỏ lại nghĩa trên, bèn nói kệ rằng:

Bồ-tát dùng tâm này
Đạt trụ Địa thứ ba
Tâm tịnh, tâm chán xa
Tâm lìa, tâm bất thoái
Vững tâm, kham nhận tâm
Tâm vui, tâm rộng lớn
Dùng những tâm như vậy
An nhập Địa thứ ba
Bậc trí trụ địa Minh
Quán các pháp hữu vi
Bất tịnh, vô thường, khổ
Vô ngã, tướng hư hoại
Không có tánh chắc thật
Không tồn tại, luôn diệt
Suy xét biết như vậy
Như bệnh và ung nhọt
Bị tâm ái trói buộc
Sinh các khổ ưu bi
Chỉ vì ngọn lửa dữ
Tham, sân, si thiêu đốt
Từ vô thỉ đến nay
Hừng hực không dừng nghỉ
Bấy giờ, sinh nhàm chán
Tất cả pháp ba cõi
Tâm không hề tham chấp
Pháp hữu vi: Giặc ác
Chỉ cầu trí tuệ Phật
Vô biên, vô hạn lượng
Sâu xa khó nghĩ bàn
Thanh tịnh, không khổ não
Thấy trí Phật như vậy
Không còn những khổ đau
Thương yêu các chúng sinh
Nghèo thiếu không phước tuệ
Lửa ba độc luôn đốt
Không một ai cứu hộ
Đọa vào trong địa ngục
Trăm thứ khổ bức não
Kẻ phàm phu buông thả
Chìm trong nhà phiền não
Mù tối không thấy biết
Mất của báu Phật, pháp
Trôi theo dòng sinh tử
Mà không hề lo sợ
Đối với chúng sinh này
Ta nên siêng độ thoát
Siêng năng cầu trí tuệ
Làm người đem lợi ích
Suy nghĩ tìm cách gì
Để cứu độ được chúng
Chỉ có các Như Lai
Trí vô ngại tốt, sâu
Trí này từ đâu sinh
Được sinh từ trí tuệ
Suy xét trí tuệ này
Siêng cầu pháp nghe nhiều
Ngày đêm luôn tinh tấn
Nghe nhận không lười chán
Tụng đọc, ham thích pháp
Chỉ có pháp là quý
Vì mong cầu chánh pháp
Đem những đồ châu báu
Vợ con, người thân yêu
Các quyến thuộc tùy tùng
Đất nước hay xóm làng
Những vật để nuôi sống
Vui vẻ và ban cho
Tâm không có tham tiếc
Đầu, mắt, tai và mũi
Lưới, răng, cùng tay chân
Xương, thịt, thân và máu
Tim, gan, cùng tủy, não
Đem cho người tất cả
Vẫn không xem là khó
Muốn được nghe chánh pháp
Mới là điều khó nhất!
Giả sử có người nào
Nói với Bồ-tát rằng:
Nay ngươi hãy nhảy vào
Đống lửa hừng hực kia
Sau đó ta sẽ nói
Phép của chư Phật dạy
Nghe rồi liền vui mừng
Tự nhảy vào đống lửa.
Giả sử ngọn lửa dữ
Đang đốt ngàn cảnh giới
Từ cung trời rơi xuống
Vẫn không cho là khó
Chỉ cầu mong cầu một câu
Pháp chư Phật thuyết giảng
Cứu độ người khổ não
Được việc đó mới khó
Từ lúc mới phát tâm
Đến lúc thành Phật đạo
Trong khoảng thời gian ấy
Hết bao nhiêu kiếp số
Vì mong cầu giáo pháp
Chịu khổ ngục A-tỳ
Huống là ở cõi người
Chỉ chịu khổ nhỏ nhặt
Nhờ nhân duyên nghe pháp
Phát sinh các thiền định
Các Tam-muội sâu xa
Và năm thứ thần thông
Tuần tự phát khởi hết
Tự tại không tùy sinh.
Bồ-tát trụ địa này
Dùng tâm ý quyết định
Thường cúng dường chư Phật
Nghe nhận những giáo pháp
Đoạn tà kiến sân hận
Các phiền não giảm bớt
Giống như luyện vàng ròng
Điều hòa được vừa ý
Bồ-tát trụ Địa này
Phước đức đầy tràn kho
Thường làm vua Đao-lợi
Tự tại độ kẻ dục
Vì thích công đức Phật
Hóa độ vô lượng chúng
Làm cho chúng an trụ
Trong Phật đạo Vô thượng.
Siêng năng mà tu tập
Đạt trăm ngàn Tam-muội
Được gặp các Đức Phật
Thân trang nghiêm tướng tốt
Tâm chí dần lanh lợi
Nguyện lực được thù thắng
Luôn luôn vì chúng sinh
Siêng làm những việc tốt
Phân biệt giảng thuyết đó
Địa thứ ba địa Minh.

 

Phẩm 4: ĐỊA DIỆM

Các Phật tử nghe giảng
Tướng nghĩa, Địa thứ ba
Sâu xa không hạn lượng
Đều vui mừng khôn tả
Rải các loại hoa thơm
Cúng dường các Như Lai
Đất rộng và biển lớn
Đều chấn động rền vang
Các ngọc nữ cõi trời
Đang ở trong hư không
Cùng cất tiếng vi diệu
Khen pháp tối thượng này
Tha hóa tự tại vương
Nghe được rất vui mừng
Làm mưa báu ma-ni
Rải cúng dường Đức Phật
Vui mừng khen ngợi rằng
Hay thay! Phật ra đời
Kho công đức ban cho
Lợi ích khắp chúng ta
Nay ta đã được nghe
Tướng nghĩa Bồ-tát địa
Việc này trăm ngàn kiếp
Khó nghe, lại được nghe
Xin giảng thuyết địa sau
Lợi ích trời và người
Tất cả muốn được nghe
Đạt hành tướng các địa
Bồ-tát Giải Thoát Nguyệt
Lại thỉnh Kim Cang Tạng
Xin vì các Bồ-tát
Thuyết hạnh Địa thứ tư.

Lúc ấy, Bồ-tát Kim Cang Tạng, nói với Bồ-tát Giải Thoát Nguyệt:

–Phật tử! Các Đại Bồ-tát đã đầy đủ hạnh thanh tịnh của Địa thứ ba rồi, muốn đạt Địa thứ tư, phải dùng mười pháp môn sáng để nhập.

Mười pháp đó là gì?

  1. Suy xét tánh chúng sinh.
  2. Suy xét tánh của pháp.
  3. Suy xét tánh của thế giới.
  4. Suy xét tánh của hư không.
  5. Suy xét tánh của thức.
  6. Suy xét tánh của cõi dục.
  7. Suy xét tánh của cõi sắc.
  8. Suy xét tánh cõi vô sắc.
  9. Suy xét tánh của vui vẻ tin hiểu.
  10. Suy xét tánh của tâm lớn.

Các Phật tử! Bồ-tát nhờ mười pháp môn sáng này mà từ Địa thứ ba được nhập Địa thứ tư. Các Phật tử! Đại Bồ-tát được địa Diệm thứ tư, thì được ở nhà Như Lai, dần dần có nhiều uy lực, đạt nội pháp, có mười loại trí. Mười trí đó là gì?

  1. Tâm không thoái chuyển.
  2. Đạt trí rốt ráo thanh tịnh, có tâm tin Tam bảo không hư hoại.
  3. Tu tập quán pháp sinh diệt.
  4. Tu tập quán các pháp từ xưa đến nay vốn không sinh.
  5. Tu tập biết hoàn chuyển hạnh thế gian.
  6. Tu tập biết do nghiệp mà thọ sinh.
  7. Tu tập biết phân biệt sự sai khác của sinh tử.
  8. Tu tập biết nghiệp sai khác của chúng sinh.
  9. Tu tập biết sự sai khác đời trước, đời sau.
  10. Tu tập biết các hành ở hiện tại luôn diệt, không trụ.

Nhờ mười tâm trí này mà được sinh vào nhà của Phật, dần dần có uy lực. Lại nữa, các Phật tử! Đại Bồ-tát trụ Địa thứ tư, quán nội thân, toàn thân, siêng năng nhất tâm trừ tham ưu của thế gian. Quán ngoài thân, toàn thân; siêng năng nhất tâm trừ tham ưu của thế gian. Quán thọ bên trong, thọ bên ngoài, thọ bên trong bên ngoài; tâm bên trong, tâm bên ngoài, tâm bên trong, ngoài, pháp bên trong, pháp bên ngoài, pháp bên trong bên ngoài; quán toàn pháp, siêng năng nhất tâm trừ tham ưu thế gian. Bồ-tát này, siêng năng phát tâm chân chánh, không cho những pháp ác bất thiện chưa sinh phát sinh; phát tâm tinh tấn chân chánh, đoạn trừ những pháp ác đã sinh; siêng năng phát tâm chân chánh làm phát sinh những pháp lành chưa sinh; siêng năng phát tâm chân chánh an trụ không mất và làm tăng trưởng rộng lớn những pháp lành đã sinh. Bồ-tát này tu hành bốn Như ý phần: Thành tựu dục định đoạn hành như ý phần; chỗ nương tựa yểm, ly, diệt, hồi hướng bằng xả, thành tựu tinh tấn định đoạn như ý phần; thành tựu tâm định đoạn hành như ý phần; thành tựu tư duy định đoạn hành như ý phần; chỗ nương tựa yểm, ly, diệt, hồi hướng bằng xả. Bồ-tát này tu hành tín căn, chỗ nương tựa yểm, ly, diệt, hồi hướng bằng xả; tu hành tinh tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn, chỗ nương tựa yểm, ly, diệt, hồi hướng bằng xả; Bồ-tát này tu hành niệm giác phần, chỗ nương tựa yểm, ly, diệt, hồi hướng bằng xả; tu hành trạch pháp, tinh tấn, hỷ, trừ, định, xả giác phần, chỗ nương tựa yểm, ly, diệt, hồi hướng bằng xả. Bồ-tát này tu hành chánh kiến, chỗ nương tựa yểm, ly, diệt, hồi hướng bằng xả; tu hành chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, chỗ nương tựa yểm, ly, diệt, hồi hướng bằng xả. Bồ-tát tu hành không bỏ tâm chúng sinh, nhờ sức bản nguyện, lấy tâm đại Bi làm đầu, thực hành cùng tâm đại Từ mà thâu nhiếp Nhất thiết trí, nghiêm trang cõi Phật, có đủ các Lực, Vô úy, pháp Bất cộng, ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp của Phật; đầy đủ âm thanh; tùy thuận pháp giải thoát sâu xa của Phật mà suy xét phương tiện trí tuệ lớn để tu hành.

Các Phật tử! Đại Bồ-tát trụ ở địa Diệm, thì những thân kiến, ngã, chúng sinh, nhân, thọ, người biết, người thấy, năm ấm, mười hai nhập, mười tám giới, đối với sự đứng lên, co, duỗi, ra, vào, tìm cầu tâm sở hành, ái trước vật báu, coi trọng sở kiến, là nơi quy thú, là bến bãi đều đoạn trừ hết. Bồ-tát càng thêm tinh tấn, tùy sự tu hành pháp trợ đạo mà trí tuệ phương tiện phát sinh; tâm dần dần được nhu hòa, chịu đựng hữu ích; tâm không lười mỏi, cầu pháp cao thượng, trí tuệ thêm lớn, cứu tất cả thế gian, tùy thuận Pháp sư, cung kính thọ giáo, thực hành theo lời dạy. Lúc ấy, Bồ-tát biết ân, báo ân, tâm dần dần hòa thiện, ở trong sự an lạc; có tâm ngay thật, nhu nhuyến, không tà vạy; hành hạnh chánh định, không kiêu mạn; uyển chuyển lời lẽ, tùy thuận dạy dỗ, người nghe vừa ý; đầy đủ tâm thiện, tâm nhu nhuyến, tâm tịch diệt, tâm nhẫn nhục như vậy; rồi suy xét tu hành các pháp Tịnh địa. Lúc này, Bồ-tát thành tựu tinh tấn không thoái chuyển: Tinh tấn không bỏ, tinh tấn không hoại, tinh tấn không chán, tinh tấn không lười mỏi; tinh tấn rộng lớn, tinh tấn vô biên mãnh lợi, tinh tấn vô đẳng đẳng, tinh tấn cứu tất cả chúng sinh; tinh tấn phân biệt đúng đạo, trái đạo. Bồ-tát này tâm trí thanh tịnh, không mất tâm sâu xa, tin hiểu sáng suốt, các căn lành tăng trưởng, xa lìa cấu trược của thế gian; bất tín, nghi, hối đều chấm đứt, không nghi, không hối, thành tựu đầy đủ các pháp ấy, không chán bỏ những việc lớn, tin hiểu Phật pháp, tự nhiên an lạc, luôn có tâm vô lượng. Bồ-tát trụ Địa thứ tư địa Diệm này, thấy được trăm ngàn vạn ức na-do-tha Phật; cung kính, tôn trọng, ngợi khen, cúng dường y phục, thức ăn uống, ngọa cụ, thuốc men; gần gũi chư Phật, nhất tâm nghe pháp, nghe rồi tin tưởng phụng hành, thường ở chỗ Phật xuất gia tu đạo. Bồ-tát này tâm an lạc, sâu xa, thanh tịnh, tin hiểu, bình đẳng, ngày thêm sáng suốt, sống lâu trăm ngàn vạn ức na-do-tha kiếp, căn lành ngày đêm tăng trưởng. Các Phật tử! Ví như vàng ròng mà làm đồ trang sức thì những đồ khác không bằng. Đại Bồ-tát cũng vậy, trụ ở địa Diệm này thì các căn lành ngày thêm sáng suốt, các Bồ-tát ở địa dưới không bằng. Ví như ngọc ma-ni, ánh sáng trong suốt chiếu khắp bốn phương, các trân bảo khác không bằng, dù bị ngấm nước mưa, ánh sáng vẫn không mất. Bồ-tát cũng vậy, trụ ở địa Diệm thì các Bồ-tát ở địa dưới không sánh bằng. Tất cả các loại ma chướng, phiền não đều không thể hủy hoại trí tuệ của vị này. Các Phật tử! Đó là lược nói Địa thứ tư địa Diệm của Đại Bồ-tát. Đại Bồ-tát trụ ở địa này, thường làm Thiên vương Dạ-ma, giáo hóa nhiều chúng sinh, phá trừ tâm chấp ngã, tu tập thiện nghiệp như bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự; đều không rời niệm Phật, không rời niệm và không rời niệm các đại Bồ-tát là bạn pháp; cho đến không rời niệm cụ túc Nhất thiết chủng trí. Luôn nghĩ: Bất cứ lúc nào, ở trong chúng sinh cũng luôn là người đứng đầu, người tôn quý, cho đến làm chỗ nương tựa cho tất cả chúng sinh. Đại Bồ-tát này, nếu siêng năng tu tập, thì trong khoảnh khắc, đạt trăm ức Tam-muội, thị hiện được trăm ức Bồ-tát quyến thuộc. Nếu dùng nguyện lực, tự tại thị hiện, thì hơn cả số này, tới trăm ngàn vạn ức na-do-tha, không sao kể hết được.

Lúc ấy, Bồ-tát Kim Cang Tạng muốn nêu lại nghĩa trên, nên nói kệ rằng:

Các Bồ-tát đầy đủ
Tu tập địa Minh rồi
Quán tánh của chúng sinh
Tánh pháp, tánh ba cõi
Tánh hư không, tánh thức
Tin hiểu, tánh ba cõi
Tâm thanh tịnh sâu xa
Nhập trụ Địa thứ tư
Ở trong nhà Như Lai
Dần dần được uy lực
Không thoái chuyển Phật đạo
Không hoại tin Tam bảo
Quán sinh, diệt, vô tác
Biết vận chuyển thế gian
Từ nghiệp nên mới có
Sinh tử khác Niết-bàn
Biết nghiệp của chúng sinh
Quán pháp lúc trước sau
Không trụ tướng thường đoạn
Mạnh mẽ ở nhà Phật
Các Đại Bồ-tát này
Đã đạt những pháp đó
Thương yêu các chúng sinh
Tu thân, thọ, tâm, pháp
Trong ngoài bốn Niệm xứ
Nương tựa nơi yểm ly
Và nương tựa tịch diệt
Hồi hướng về Niết-bàn
Vì trừ diệt pháp ác
Thiện pháp được tăng trưởng
Tu hành bốn Chánh pháp
Và bốn phần Như ý
Phụng vì năm Căn, Lực
Tám Chánh, bảy Giác ý
Tu tập các pháp ấy
Đều là vì chúng sinh
Tâm Từ bi làm gốc
Hộ trợ cho bản nguyện
Mong cầu Nhất thiết trí
Thanh tịnh các cõi Phật
Đủ công đức mười Lực
Vô úy, pháp Bất cộng
Các âm thanh ngôn thuyết
Pháp đạo sâu vi diệu
Và giải thoát vô ngại
Phương tiện đại trí tuệ
Theo thân kiến làm gốc
Có sáu hai tà kiến
Chúng sinh kiến, nhân kiến
Mạng kiến và tri kiến
Đối với ấm giới nhập
Là chỗ sinh tham chấp
Đạt Địa thứ tư này
Đoạn trừ hết tất cả
Tùy đoạn nghiệp phiền não
Tâm cũng được tịnh theo
Tu tập các nghiệp lành
Đều vì cứu thế gian
Bồ-tát tâm nhu nhuyến
Luôn sống không buông thả
Tâm chịu đựng, chánh trực
Tâm cầu lợi chúng chánh
Làm những việc như vậy
Đều vì đạo vô thượng
Đấng có trí tuệ lớn
Làm lợi ích thế gian
Thâm tâm kính dưỡng sư
Vui tu theo lời dạy
Biết ân và báo ân
Chuyển hóa không sân hận
Không có tâm tà vạy
Cùng vui vẻ, nhu hòa
Tu tập các pháp ấy
Tinh tấn không thoái chuyển
Bồ-tát trụ địa này
Thâm tâm và trực tâm
Tinh tâm và tin hiểu
Ngày càng thêm sáng tịnh
Tăng trưởng các căn lành
Pháp nghi, hối, cấu, trược
Tất cả mọi pháp ấy
Đều trừ diệt không còn
Các Bồ-tát an trụ
Địa thứ tư địa Diệm
Gặp được vô lượng
Phật Học hỏi lãnh thọ pháp
Lại ở chỗ chư Phật
Xuất gia không ai hoại
Như vàng ròng trang sức
Các thứ khác không bằng
Bồ-tát trụ địa này
Công đức tâm sâu xa
Trí tuệ và phương tiện
Thực hành đạo thanh tịnh
Cho dù ngàn ức ma
Đều không thể hủy hoại
Như minh châu vi diệu
Không bị nước mưa hoại
Bồ-tát trụ địa này
Được trời người cúng dường
Thường làm vua Dạ-ma
Chuyển hóa kẻ tà kiến
Tu tập các nghiệp lành
Đều vì trí tuệ Phật
Tâm luôn luôn vững chãi
Không ai lay chuyển được
Nếu siêng năng tu tập
Đạt trăm ức Tam-muội
Gặp được trăm ức Phật
Nguyện lực thì hơn đây
Trụ Địa thứ tư này
Thanh tịnh tên là Diệm
Đủ vô lượng phước đức
Nay đã giảng nói xong.

 

Phẩm 5: ĐỊA NAN THẮNG

Các Bồ-tát nghe được
Hành pháp Địa thứ tư
Tâm vui mừng khôn tả
Không thể nào đo lường
Trời mưa các hoa báu
Lả tả như tuyết rơi
Đều khen ngợi: Hay thay!
Bồ-tát Kim Cang Tạng
Tha-hóa-tự-tại vương
Và vô số quyến thuộc
Đang ở trong hư không
Đều phát tâm vui vẻ
Phóng các ánh sáng đẹp
Trổi kỹ nhạc cõi trời
Khen ngợi công đức Phật
Và các hàng Bồ-tát
Các ngọc nữ cõi trời
Đều dùng tiếng vi diệu
Đồng thanh khen ngợi Phật
Bằng lời lẽ như vầy:
Thế Tôn từ lâu xa
Cần khổ mà thệ nguyện
Đạo Vô thượng Chánh chân
Đến nay mới đạt được
Đấng lợi ích trời người
Từ lâu nay mới gặp
Phật Thích-ca Mâu-ni
Nay đã đến cõi trời
Từ lâu xa đến nay
Mới có tướng biến động
Từ lâu xa đến nay
Mới có được an lạc
Mới phóng ánh sáng diệu
Chúng sinh từ lâu nay
Từ lâu mới được nghe
Tiếng phước đức từ bi
Công đức vượt bờ kia
Lâu xa mới được gặp
Thánh vương có thể phá
Tâm chấp ngã kiêu mạn
Đấng siêu việt đáng cúng
Nay mới được cúng dường
Khai mở đạo chư Phật
Khiến đạt Nhất thiết trí
Thế Tôn rất thanh tịnh
Vô lượng như hư không
Chẳng nhiễm pháp thế gian
Như hoa sen trong bùn
Đấng tối cao trong đời
Như núi chúa Tu-di
Như trong biển rộng lớn
Cho nên mừng đảnh lễ
Các Thiên nữ như vậy
Đều dùng lời vi diệu
Tâm cung kính khen ngợi
Im lặng chiêm ngưỡng
Phật Bồ-tát Giải Thoát Nguyệt
Thưa với Kim Cang Tạng
Bồ-tát đạt năm Địa
Tướng mạo, nhân duyên gì?

Đại Bồ-tát Kim Cang Tạng nói với Bồ-tát Giải Thoát Nguyệt:

–Phật tử! Các Đại Bồ-tát đã đầy đủ ở Địa thứ tư, muốn đạt Địa thứ năm, phải dùng mười tâm bình đẳng. Mười tâm đó là gì?

  1. Pháp chư Phật ở quá khứ bình đẳng.
  2. Pháp chư Phật ở vị lai bình đẳng.
  3. Pháp chư Phật ở hiện tại bình đẳng.
  4. Tịnh giới bình đẳng.
  5. Tâm tịnh bình đẳng.
  6. Trừ, kiến, nghi, hối, thanh tịnh bình đẳng.
  7. Biết đạo, phi đạo thanh tịnh bình đẳng.
  8. Hành tri kiến thanh tịnh bình đẳng.
  9. Tăng trưởng thanh tịnh các pháp Bồ-đề phần bình đẳng.
  10. Hóa độ chúng sinh thanh tịnh bình đẳng.

Phật tử! Đại Bồ-tát, dùng mười tâm thanh tịnh bình đẳng này, nhập Địa thứ năm, khéo tu pháp Bồ-đề, tâm sâu xa thanh tịnh, cầu đạo thù thắng, nên đạt được Phật đạo. Bồ-tát này được nguyện lực lớn, dùng tâm Từ bi không bỏ tất cả chúng sinh, đạt được uy lực của đạo lý tâm tuệ, tu tập phước tuệ, không bỏ phương tiện; muốn được địa thù thắng ở trên, sáng suốt quán sát pháp, nhẫn được thần lực của chư Phật hộ niệm, phát sinh tâm kiên định không thoái chuyển. Biết đúng như thật đây là Khổ thánh đế, Khổ tập đế, Khổ diệt đế, cho đến Khổ diệt đạo đế. Bồ-tát này khéo biết Thế đế; khéo biết Đệ nhất nghĩa đế, tướng đế, sai biệt đế, thị thành đế, sự đế, sinh khởi đế, tận vô sinh đế; khéo biết nhập đạo đế, tuần tự thành tựu các địa của Bồ-tát. Khéo biết tu tập trí đế Như Lai. Lúc ấy, Bồ-tát thường an trụ Nhất thừa nên khéo biết Đệ nhất nghĩa đế, tùy tâm chúng sinh khiến chúng vui vẻ. Biết thế đế vì phân biệt tự tướng của các pháp. Biết tướng đế vì các pháp đều sai khác. Biết sai biệt đế vì phân biệt ấm, giới, nhập. Biết thị thành đế vì thân tâm khổ não. Biết khổ đế vì các đạo sinh liên tục. Biết Tập đế vì rốt ráo diệt trừ hết các phiền não. Biết diệt đế vì phát khởi pháp không hai. Biết đạo đế vì Nhất thiết chủng trí. Biết thứ tự các pháp, thành tựu các địa của Bồ-tát. Khéo biết sự tu tập trí đế Như Lai vì có sức tin hiểu. Biết phi đắc vô tận đế trí. Bồ-tát dùng những đế trí ấy, để biết đúng như thật tất cả pháp hữu vi là hư giả lừa dối, là tướng hư hoại, giả dối, không tồn tại lâu, mê hoặc kẻ phàm phu. Lúc ấy, đối với chúng sinh, tâm đại Bi của Bồ-tát, dần dần tăng trưởng và ngay trước mắt phóng ánh sáng đại Từ, đạt sức trí tuệ như vậy; không bỏ chúng sinh, luôn cầu trí tuệ của Phật. Quán sát như thật về các pháp hữu vi ở quá khứ, vị lai. Biết chúng sinh từ xưa vì vô minh, hữu, ái nên lưu chuyển trong sinh tử, không thay đổi được năm ấm, lại làm thêm lớn nhóm phiền não. Trong những thứ đó không có ngã, ngã sở, chúng sinh, nhân, người biết, thọ mạng; vị lai cũng như vậy, đều là không sở hữu; nhưng vì ngu si tham chấp không dứt được, không biết vô biên hữu xuất, vô xuất. Lúc ấy, Bồ-tát nghĩ: Chúng sinh phàm phu thật kì lạ, vì vô minh ngu si nên có vô lượng, vô biên a-tăng-kỳ thân đã diệt, đang diệt, sẽ diệt, cứ thế luôn chịu sinh tử, không thể đối với thân sinh tưởng viễn ly, dần dần làm tăng trưởng bộ máy khổ ở thân, làm cho thân luôn trôi nổi trong dòng sinh tử, không quay lại được; không bỏ năm ấm, không thể rời xa, không sợ rắn độc bốn đại, không nhổ được mũi tên kiêu mạn tà kiến, không dập tắt ngọn lửa tham, sân, si, không hủy hoại được vô minh ngu tối, không làm khô được biển lớn ân ái, không cầu đấng Đạo sư Thánh giả đủ mười Lực; mà luôn chạy theo tâm ma, ở trong thành sinh tử, bị các giác quán ác chuyển hóa. Những chúng sinh khổ não nghèo thiếu đơn độc đó, không ai cứu hộ, không có nơi nương tựa, không biết con đường đi tới cứu cánh! Chỉ có ta, không ai khác phải tu tập phước đức trí tuệ; dùng hành trang này làm cho chúng sinh trụ trong chỗ rốt ráo thanh tịnh, rồi làm cho chúng sinh đạt được trí lực vô ngại của Phật ở trong tất cả pháp. Suy xét quán sát đúng như vậy, nên trí lực theo đó phát sinh; phát nguyện tu tập tất cả căn lành là đều vì độ sinh, vì chúng sinh mà làm việc tốt, làm việc an lạc, làm việc lợi ích cho chúng sinh; vì giải thoát chúng sinh, vì diệt khổ não thô ác của chúng sinh, vì thanh tịnh tâm chúng sinh, vì điều phục, vì diệt tất cả khổ não và làm mãn nguyện chúng sinh.

Lúc này, Bồ-tát trụ trong Địa thứ năm Nan thắng. Vì không quên các pháp nên gọi là niệm. Vì trí tuệ quyết định nên gọi là trí. Vì biết thứ tự của ý kinh nên gọi là hữu đạo. Vì tự hộ, hộ tha nên gọi là có hổ thẹn. Vì không bỏ giữ giới nên gọi là tâm bền vững. Vì khéo suy xét thị xứ, phi xứ nên gọi là giác. Vì không tùy thuận người khác nên gọi là tùy trí. Vì khéo phân biệt thật nghĩa chương cú của các pháp nên gọi là tùy tuệ. Vì khéo tu Thiền định nên gọi là đạt thần thông. Vì tùy pháp thế gian mà thực hành nên gọi là phương tiện. Vì khéo tu tập hành trang phước đức, nên gọi là không đủ chán. Vì thường cầu nhân duyên trí tuệ, nên gọi là không bỏ. Vì tu tập nhân duyên đại Từ đại Bi, nên gọi là không lười mỏi. Vì ý luôn chánh niệm, nên gọi là xa lìa phá giới. Vì dùng tâm sâu xa cầu mười Lực, bốn Vô sở úy, mười tám pháp Bất cộng của Phật; nên gọi là luôn niệm Phật pháp. Vì thường khiến chúng sinh bỏ ác tu thiện, nên gọi là trang nghiêm cõi Phật. Vì trồng các phước đức trang nghiêm, ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp; nên gọi là hành đủ tất cả thiện nghiệp. Vì cầu thân, khẩu, ý trang nghiêm của Phật, nên gọi là siêng năng tu tập. Vì cúng dường tất cả Bồ-tát thuyết pháp, nên gọi là vui vẻ cung kính. Đối với tất cả phương tiện ở thế gian. Bồ-tát có tâm không san ngại, nên gọi là vô ngại. Vì luôn thích giáo hóa chúng sinh, nên gọi là ngày đêm xa lìa những tâm khác. Lúc ấy, Bồ-tát hành bố thí là vì giáo hóa chúng sinh; hành ái ngữ, lợi ích, đồng sự cũng vì giáo hóa chúng sinh; thị hiện sắc thân cũng vì giáo hóa chúng sinh; thuyết pháp cũng vì giáo hóa chúng sinh; thị hiện những hạnh nghiệp của Bồ-tát cũng là để giáo hóa chúng sinh; thị hiện việc lớn của Phật cũng là để giáo hóa chúng sinh; thị hiện tội ác sinh tử cũng là để giáo hóa chúng sinh; thị hiện trí tuệ lợi ích của chư Phật cũng là để giáo hóa chúng sinh. Bồ-tát tu tập như vậy dùng đại thần lực, đủ các nhân duyên, phương tiện cũng là để giáo hóa chúng sinh. Bồ-tát này, tuy dùng đủ các thứ nhân duyên phương tiện; nhưng tâm luôn đặt ở trí Phật, không lui không mất căn lành, lại luôn cầu pháp lợi ích thù thắng cho chúng sinh. Vị này, vì tạo lợi ích cho chúng sinh, nên làm mọi việc của thế gian; như kinh thơ, kỹ nghệ, văn chương, toán số, danh tánh kinh sách; sách trị bệnh khô gầy, bệnh trẻ thơ, quỷ nhập, trùng độc, ung nhọt, hoặc các kinh sách về kỹ nhạc, ca múa, vui chơi hoan lạc; đất nước, xóm làng, nhà cửa, vườn quán, ao suối, hoa trái, cỏ cây, vàng bạc, ma-ni, san hô, hổ phách, xa cừ, mã não, các thứ trân bảo, mặt trăng, mặt trời, năm sao, hai mươi tám vì sao, xem tướng tốt xấu, tướng lạ, sách mộng, động đất; các tướng trong thân, bố thí, trì giới, nhiếp phục tâm, thần thông, thiền định, bốn Thiền, bốn Vô lượng tâm, bốn Định vô sắc; tất cả những việc không làm hại chúng sinh, đem an lạc cho chúng sinh. Vì thương xót chúng sinh, nên làm những việc này, khiến cho chúng sinh nhập pháp vô thượng của chư Phật. Bồ-tát trụ địa Nan thắng này, gặp được trăm ngàn vạn ức Phật; tôn trọng, cung kính, ngợi khen, cúng dường y phục, thức ăn uống, ngọa cụ, thuốc men, gần gũi nghe pháp. Nghe pháp rồi xuất gia, xuất gia rồi lãnh thọ kinh pháp của Phật, làm Pháp sư thuyết pháp lợi ích, càng học rộng hiểu nhiều, chứa nhóm Tam-muội, cho dù trải qua trăm ngàn vạn ức kiếp, vẫn không quên việc này. Lúc này tất cả căn lành phước đức của Bồ-tát dần dần tăng trưởng, sáng trong.

Phật tử! Ví như luyện vàng ròng, dùng xa cừ mài dũa ánh sáng càng rực rỡ. Bồ-tát trụ ở địa này, vì sức phương tiện trí tuệ nên công đức lành càng thanh tịnh thù thắng, các địa dưới không thể sánh bằng. Lại như mặt trời, mặt trăng, các ngôi sao, cung điện cõi trời dù bị phong luân đưa đi nhưng không mất pháp đã độ.

Phật tử! Bồ-tát cũng thế, trụ ở địa Nan thắng, vì tư duy phương tiện nên phước đức căn lành ngày càng thêm bội phần thù thắng, nhưng không thủ chứng cũng không vội thành Phật.

Các Phật tử! Nay đã lược nói địa Nan thắng của Bồ-tát, Đại Bồ-tát trụ ở địa này, thường làm vua cõi trời Đâu-suất-đà, các căn lanh lẹ, hàng phục được tất cả ngoại đạo. Tu tập những nghiệp lành như bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự, đều không rời niệm Phật niệm pháp, niệm chúng Bồ-tát là bạn, cho đến không rời niệm Cụ nhất thiết chủng trí. Lại nghĩ: Bất cứ lúc nào, ở đâu, trong chúng sinh; ta luôn là người đứng đầu, người tôn quý, luôn làm chỗ nương tựa cho chúng sinh.

Các Phật tử! Các Bồ-tát này nếu siêng năng tu tập, thì trong khoảnh khắc sẽ đạt được ngàn ức Tam-muội, và thị hiện được ngàn ức Bồ-tát làm quyến thuộc. Nếu dùng nguyện lực và thần lực tự tại, thì hơn số này đến trăm ngàn vạn ức lần không thể biết được.

Lúc ấy, Bồ-tát Kim Cang Tạng muốn làm cho rõ lại nghĩa trên, nên nói kệ rằng:

Bồ-tát đã đầy đủ
Pháp hành Địa thứ tư
Suy xét Phật ba đời
Giới và tâm bình đẳng
Trừ các kiến, nghi, hối
Hành đạo cùng phi đạo
Quán các pháp bình đẳng
Được nhập Địa thứ năm
Bốn Niệm xứ là cung
Các căn là tên nhọn
Bốn Chánh cần là ngựa
Bốn Như ý là xe
Năm Lực là áo giáp
Phá các giặc phiền não
Mạnh mẽ không thoái chuyển
Nhập thẳng Địa thứ năm
Áo hổ thẹn không nhơ
Tịnh giới là hương thơm
Thất giác là vòng hoa
Thiền định là hương xoa
Trí tuệ cùng phương tiện
Trang nghiêm bằng các niệm
Như vậy là được vào
Vườn rừng Đà-la-ni
Bốn Như ý là chân
Chánh niệm là đỉnh đầu
Từ bi mắt sáng sạch
Trí tuệ lợi là răng
Không, tiếng gầm vô ngã
Phá các giặc phiền não
Đấng Sư tử cõi người
Nhập được Địa thứ năm
Bồ-tát này đã đến
Trụ Địa thứ năm rồi
Dần tu pháp thắng tịnh
Đều là vì Phật đạo
Luôn hành tâm Từ bi
Chưa bao giờ lười chán
Chỉ vì sự tu tập
Hành pháp Địa thứ năm
Chuyên tu hai tư lương
Phước đức và trí tuệ
Dùng các sức phương tiện
Muốn được pháp quán sáng
Luôn được Phật ủng hộ
Thành tựu các niệm tuệ
Tuần tự quán sát rõ
Biết như thật các đế
Đệ nhất đế, thế đế
Sai biệt đế, thành đế
Quán sát các đế đó
Tâm thanh tịnh vi diệu
Tuy là chưa đạt được
Giải thoát vô chướng ngại
Nhưng vì có trí tuệ
Và có sức tin tưởng
Vượt qua hết tất cả
Trí tuệ của thế gian
Quán các đế như vậy
Biết hết pháp hữu vi
Hư dối và lường gạt
Chẳng kiên cố, chắc thật
Đạt ánh sáng Từ bi
Của các Đức Như Lai
Chỉ vì các chúng sinh
Chuyên tâm cầu tuệ Phật
Biết trước sau hữu vi
Chúng sinh thật đáng thương
Đọa trong tối vô minh
Bị ái và duyên buộc
Bồ-tát này nhổ được
Khổ não của thế gian
Biết pháp không người thọ
Giống như những cây cỏ
Chúng sinh thường vì hai
Nhân duyên phiền não đó
Từ đời trước đến nay
Đời sau cũng như vậy
Liên tục không dứt đoạn
Không chấm dứt hết khổ
Phát tâm thương yêu chúng
Và độ thoát chúng sinh
Không vượt nhà năm ấm
Chẳng sợ bốn hại lớn
Không nhổ tên tà kiến
Không tắt lửa ba độc
Không phá tối vô minh
Sẽ rơi biển ái lớn
Chẳng có trí tuệ sáng
Vì lìa bậc Đạo sư
Biết các việc như vậy
Ngày thêm siêng năng hơn
Nếu khởi nghiệp tạo tác
Đều vì độ chúng sinh
Thường niệm tuệ chân chánh
Tu đạo biết hổ thẹn
Tâm trí tuệ bền vững
Ngày thêm tăng trưởng hơn
Tu phước tuệ không chán
Giữ giới chẳng yếu kém
Nghe nhiều chẳng mỏi mệt
Chánh tu tịnh cõi Phật
Gieo tướng tốt, tiếng hay
Nhân duyên không chán đủ
Làm tất cả thiện nghiệp
Đều vì lợi chúng sinh
Chỉ vì lợi thế gian
Sáng tác những kinh sách
Thuốc chữa trị các bệnh
Và vui chơi ca múa
Lầu gác cùng vườn rừng
Y phục và thức ăn
Thị hiện các trân bảo
Để chúng sinh vui mừng
Xem trăng, trời, năm sao
Hai mươi tám sao khác
Đất động, tướng tốt xấu
Sách đoán mộng việc lạ
Bố thí và giữ giới
Lìa dục, tu thiền định
Bốn vô lượng thần thông
Vì an lạc thế gian
Bồ-tát trí tuệ lớn
Đạt địa Nan thắng này
Cúng dường ngàn ức Phật
Theo Phật nghe thọ pháp
Tu tập các căn lành
Đều được thanh tịnh sáng
Ví như ngọc xà cừ
Vàng ròng được mài dũa
Lại như cung điện báu
Theo phong luân không mất
Không nhiễm lợi thế gian
Như hoa sen trong bùn
Bồ-tát trụ địa này
Thường làm Đâu-suất vương
Các căn đều nhậm lẹ
Phá tà kiến, ngoại đạo
Tạo ra các nghiệp lành
Đều nhờ trí tuệ Phật
Đạt Phật lực, vô úy
Độ thoát các chúng sinh
Bồ-tát này siêng tu
Thêm sức lớn tinh tấn
Đạt được ngàn vạn ức
Tam-muội thật vi diệu
Cúng dường ngàn ức Phật
Chấn động ngàn thế giới
Tùy nguyện lực của mình
Hơn số đó vô lượng
Địa thứ năm như vậy
Đủ các loại phương tiện
Bậc Thượng nhân đại trí
Như pháp đã thuyết xong.

*********

Phẩm 6: ĐỊA HIỆN TIỀN

Các Bồ-tát nghe nói
Hành tướng của địa trên
Đang ở trong hư không
Mưa các loại hoa quý
Phóng ánh sáng thanh tịnh
Cúng dường Đấng Thế Tôn
Đều khen ngợi: Hay thay!
Hay thay! Kim Cang Tạng
Lại có vô lượng ức
Chư Thiên tâm hoan hỷ
Đang ở trong hư không
Làm mưa hương vị diệu
Ánh sáng đẹp xen lẫn
Thơm dịu thật đáng ưa
Các hoa thơm ánh lạc
Cờ lọng cúng dường Phật
Tha-hóa-tự-tại vương
Và các hàng quyến thuộc
Mưa các loại báu vật
Lả tả như tuyết rơi
Ngợi khen cúng dường Phật
Ca tụng Kim Cang Tạng
Đều nói: Hay thay!
Hay thay! Vui giảng thuyết.
Ngàn vạn ức Thiên nữ
Đang ở trong hư không
Trỗi các âm nhạc trời
Khen ngợi công đức Phật
Đều đồng thanh nói:
Giáo pháp của Như Lai
Vi diệu không hạn lượng
Diệt trừ các phiền não
Tánh các pháp vốn không
Không có một tướng nào
Trống rỗng, chẳng phân biệt
Giống như là hư không
Không có tướng đi đứng
Cũng không có hý luận
Xưa nay thường thanh tịnh
Như hư không phân biệt
Người nào không đạt được
Tánh của tất cả pháp
Ở trong hữu trong vô
Tâm không hề dao động
Chỉ dùng tâm đại Bi
Độ thoát các chúng sinh
Đó là các Phật tử
Sinh từ khẩu Phật pháp
Thường tu tập bố thí
Lợi ích các chúng sinh
Xưa nay tuy thiện, tịnh
Kiên tâm giữ tịnh giới
Tuy biết pháp không hại
Nhưng tu tập nhẫn nhục
Tuy biết pháp tánh lìa
Nhưng tu hạnh tinh tấn
Tuy đã diệt phiền não
Nhưng vẫn nhập thiền định
Tuy đã hiểu pháp không
Nhưng vẫn phân biệt pháp
Tuy đủ trí tịch diệt
Nhưng cầu lợi thế gian
Diệt trừ mọi pháp ác
Gọi là bậc đại nhân
Thiên nữ cõi trời ấy
Dùng trăm ngàn tiếng hay
Khen ngợi ca tụng xong
Đều im lặng nhìn Phật.

Bồ-tát Giải Thoát Nguyệt Thưa với Kim Cang Tạng Nên dùng tướng mạo gì Thành tựu Địa thứ sáu?

Bồ-tát Kim Cang Tạng nói:

–Này các Phật tử! Các Đại Bồ-tát đã đầy đủ hạnh của Địa thứ năm, muốn nhập Địa thứ sáu, phải dùng mười pháp bình đẳng để nhập. Mười pháp đó là gì? 1. Vô tánh. 2. Vô tưởng. 3. Vô sinh. 4. Vô diệt. 5. Xưa nay thanh tịnh. 6. Không hý luận. 7. Không thủ xả. 8. Xa lìa. 9. Như mộng huyễn. 10. Có không chẳng hai.

Các Phật tử! Các Đại Bồ-tát đã đầy đủ hạnh của Địa thứ năm, dùng mười pháp bình đẳng này tức nhập Địa thứ sáu. Các Phật tử! Đại Bồ-tát quán tánh của tất cả pháp như vậy thì có khả năng chịu đựng, tùy thuận đạt Địa thứ sáu. Vô sinh pháp nhẫn tuy chưa hiện tiền nhưng tâm đã sáng suốt lanh lợi, thành tựu thuận nhẫn. Bồ-tát này quán tướng của tất cả các pháp như vậy, dùng đại Bi làm đầu, tăng trưởng đầy đủ, lại vượt lên quán sát tướng sinh diệt của thế gian, nên nghĩ: Chúng sinh thọ thân và chỗ ở trong thế gian đều vì tham trước ngã. Nếu lìa tham chấp ngã, sẽ không có chỗ thọ sinh trong thế gian. Kẻ phàm phu bị ngu si che mù, tham chấp nơi ngã, thích tìm cầu hữu, luôn theo tà niệm thực hành đạo tà vọng, ba hành phát sinh: Hành tội, hành phước, hành bất động; từ những hành đó mà khởi chủng tử của tâm nhiệt não, tâm hữu lậu hữu thủ, tạo thân sinh tử. Đó có nghĩa là nghiệp là đất, thức là hạt giống, vô minh che lấp, nước ái thấm nhuận, tâm ngã tưới tắm, các loại tà kiến ngày càng làm cho thêm lớn, tạo mầm danh sắc. Do danh sắc mà có các căn. Vì các căn hợp nên có xúc, từ xúc có sinh thọ. Vì ham thọ nên có khát ái. Vì khát ái tăng trưởng nên có bốn thủ. Vì bốn thủ có nhân duyên nên tạo nghiệp, rồi từ hữu có thân năm ấm gọi là sinh, năm ấm suy yếu gọi là già, năm ấm diệt là chết. Do già chết nên có các khổ, ưu, bi, nhiệt não tụ tập. Mười hai nhân duyên này không có người tạo tác, tự nhiên có, không có người làm tan mất, tự nhiên tan mất. Nhân duyên hợp thì có, nhân duyên tan thì không. Đại Bồ-tát ở trong Địa thứ sáu tùy phải thuận quán mười hai nhân duyên.

Lại nghĩ: Vì không biết như thật Đệ nhất nghĩa đế nên có vô minh che tâm, nghiệp quả của vô minh là các hành. Từ các hành có thức ban đầu, cùng sinh với thức có bốn thủ ấm, dựa vào thủ ấm có danh sắc, danh sắc thành tựu có sáu nhập. Các căn chạy theo trần nên có thức. Từ sự hòa hợp đó có xúc hữu lậu. Cùng sinh với xúc là thọ, tham vui nơi thọ là ái, ái tăng trưởng là thủ, từ thủ tạo ra nghiệp hữu lậu. Có nghiệp nên có quả báo năm ấm là sinh. Năm ấm chín muồi là già, năm ấm hoại là chết. Lúc chết thì có xa lìa; kẻ ngu si buồn phiền tham chấp gọi là ưu bi, năm thức khóc kể là khổ. Ý thức là ưu. Ưu khổ càng nhiều là não. Cứ thế sinh ra rừng khổ lớn, khối khổ lớn. Khối khổ mười hai nhân duyên này không có ngã, ngã sở; không có ngưòi tạo tác, không có kẻ sai khiến sự tạo tác.

Bồ-tát lại nghĩ: Nếu có người tạo tác thì có việc được tạo tác. Nếu không có người tạo tác thì không có việc tạo tác. Trong Đệ nhất nghĩa, không có người tạo tác và việc tạo tác.

Lại nghĩ: Ba cõi hư dối chỉ do tâm tạo. Đức Như Lai dạy: Mười hai nhân duyên có được đều dựa vào tâm. Vì sao? Vì tùy thuận vào việc mà sinh tâm tham dục. Tâm ấy chính là thức; việc là hành; vì hành lừa dối tâm nên gọi là vô minh. Nơi thức nương tựa gọi là danh sắc. Vì nhập sinh tâm tham nên gọi là sáu nhập. Ba việc hòa hợp có xúc, sinh với xúc là thọ, tham chấp thọ là khát ái, không bỏ khát ái là thủ, thủ hòa hợp là hữu. Hữu lại hữu, hữu liên tục là sinh. sinh suy yếu là già, già hoại là chết. Trong đó vô minh có hai loại: 1. Duyên si. 2. Nhân của hành. Hành có hai: 1. Sinh ra quả báo đời sau. 2.

Nhân của thức. Thức có hai: 1. Làm cho hữu liên tục. 2. Nhân của sinh sắc. Danh sắc có hai: 1. Nương tựa tạo thành. 2. Nhân của sáu nhập. Sáu nhập có hai: 1. Duyên sáu trần. 2. Nhân của xúc. Xúc có hai: 1. Xúc cảnh sở duyên. 2. Nhân của thọ. Thọ có hai: 1. Biết việc yêu ghét. 2. Nhân của si. Ái có hai: 1. Sinh tâm tham chấp với cảnh đáng nhiễm. 2. Nhân của thủ. Thủ có hai 1. Tăng trưởng phiền não. 2. Nhân của hữu. Hữu có hai: 1. Sinh ở các cõi khác. 2. Nhân của sinh. Sinh có hai: 1. Sinh năm ấm. 2. Nhân của già. Già có hai: 1. Làm cho các căn yếu kém. 2. Nhân của chết. Chết có hai: 1. Hoại thân năm ấm. 2. Vì không thấy biết nên liên tục không dứt. Trong đó, vô minh duyên các hành, vô minh làm cho hành không đoạn, hỗ trợ cho hành thành tựu. Hành duyên thức, làm cho thức không đoạn, hỗ trợ cho thức thành tựu. Thức duyên danh sắc, làm cho danh sắc không đoạn, hỗ trợ cho danh sắc thành tựu cho đến sinh duyên già, chết, ưu, bi, khổ, não, làm cho sinh không đoạn, liên tục hỗ trợ cho thành. Vì vô minh diệt, nên các hành diệt; cho đến già, chết, ưu, bi, khổ, não cũng thế. Trong đó, nếu vô minh không thì các hành cũng không. Nhân diệt thì quả diệt, các phần khác cũng như vậy. Trong đó ba phần là vô minh, ái, thủ không đoạn phiền não đạo; các hành, hữu không đoạn nghiệp đạo; các phần khác của nhân duyên không đoạn khổ đạo. Vì trước sau nối tiếp không dứt, nên ba đạo không đoạn. Ba đạo này lìa ngã, ngã sở nhưng có sinh diệt. Ví như hai cây tre dựa vào nhau mà đứng thì không vững mà giống như vững. Nhân duyên, vô minh, các hành thuộc về việc quá khứ; thức, danh sắc, Sáu nhập, xúc, thọ là việc hiện tại; ái, thủ, hữu, sinh, già, chết là việc vị lai. Như vậy là có ba đời. Vô minh diệt, nên các hành diệt; gọi đó là đoạn trừ sự liên tục. Mười hai nhân duyên gồm có ba khổ: Vô minh, hành, thức, danh sắc, sáu nhập là hành khổ. Xúc, thọ là khổ khổ. Ái, thủ, hữu, sinh, già, chết ưu, bi, khổ, não là hoại khổ. Vô minh diệt nên hành diệt, cho đến già chết gọi là đoạn trừ ba khổ liên tục. Do vô minh mà các hành sinh, các phần khác cũng thế. Vô minh diệt các hành diệt, vì thể tánh của các hành là không; các phần khác cũng thế. Do vô minh nên các hành sinh khởi trói buộc, các phần khác cũng thế. Vô minh diệt nên các hành diệt, vì diệt sự trói buộc, các phần khác cũng thế. Vô minh làm duyên cho các hành là tùy thuận quán vô sở hữu. Vô minh diệt nên các hành diệt là tùy thuận quán diệt tận; các phần khác cũng thế. Cứ thế có mười hai cách nghịch thuận để quán pháp mười hai nhân duyên. Đó là, nhân duyên chia thành thứ tự thuộc về thân tâm, hỗ trợ thành pháp, không tách rời nhau, tùy ba đạo hành, phân biệt có trước sau, ba khổ sai khác, từ nhân duyên có sinh diệt trói buộc, có quán vô sở hữu tận.

Lúc ấy, Bồ-tát tùy thuận mười hai nhân suyên mà quán không ngã, không chúng sinh, không thọ mạng, không nhân, tánh trống rỗng, không có người tạo tác, kẻ khiến tạo tác, không có chủ tớ, nhân duyên là vô sở hữu. Lúc quán như vậy thì pháp môn không giải thoát hiện tiền. Diệt các việc đó thì không có sự liên tục khác, nên gọi là môn vô tướng giải thoát hiện tiền. Biết hai môn này, thì không còn thích thọ sinh, chỉ trừ tâm đại Bi để giáo hóa chúng sinh, nên gọi là môn vô nguyện giải thoát hiện tiền. Bồ-tát tu hành ba môn giải thoát này; lìa những tướng nhân, ngã, người tạo tác, người thọ; lìa tướng có không, tâm bi tăng trưởng. Vì tôn trọng tâm bi nên siêng năng tu tập. Tuy chưa đầy đủ các trợ pháp Bồ-đề, nhưng vì muốn được đầy đủ, Bồ-tát nghĩ: Pháp hữu vi do hòa hợp nên tăng, ly tán thì diệt. Đủ các duyên thì tăng, không đủ thì diệt. Ta đã biết pháp hữu vi nhiều tội lỗi, không nên tạo duyên hòa hợp, cũng chẳng cần diệt sạch hết pháp hữu vi là vì để giáo hóa chúng sinh.

Các Phật tử! Bồ-tát biết pháp hữu vi nhiều tội lỗi, không có tánh chân thật, lìa tướng bền vững, không sinh diệt, như vậy nên hòa hợp với đại Từ bi, không bỏ chúng sinh, tức thời đạt Bát-nhã ba-la-mật không chướng ngại, ánh sáng hiện tiền; đạt trí tuệ như vậy, tu tập đầy đủ, tạo duyên Vô thượng Bồ-đề nhưng không sống trong pháp hữu vi. Quán tánh của pháp hữu vi là tướng tịch diệt, cũng không trụ trong đó, vì muốn đầy đủ phần Vô thượng Bồ-đề. Bồ-tát trụ địa Hiện tiền, đạt Tam-muội quyết định không, Tam-muội tánh không, Tam-muội Đệ nhất nghĩa không, Tam-muội Đệ nhất không, Tam-muội đại không, Tam-muội hợp không, Tam-muội sinh không, Tam-muội như thật không phân biệt khômg, Tam-muội nhiếp không, Tam-muội ly bất ly không. Cứ thế, vạn môn Tam-muội không hiện tiền. Tam-muội vô tướng vô nguyện cũng thế. Bồ-tát này trụ ở địa Hiện tiền đạt tâm chí thành, tâm quyết định, tâm thâm, tâm diệu, tâm không thay đổi, tâm không xả, tâm rộng lớn, tâm vô biên, tâm lạc trí, tâm tuệ phương tiện hòa hợp. Các tâm ấy dần tăng trưởng, thù thắng; tùy thuận Vô thượng Bồ-đề. Tất cả luận sư ngoại đạo không thể lay đổ được, nhập vào trí địa, chuyển hóa Thanh văn, Bích-chi-phật, quyết định hướng đến trí Phật. Tất cả ma chướng, phiền não không làm gì được, an trụ trong trí sáng của Bồ-tát; khéo tu pháp môn giải thoát ứng với Không, Vô tướng, Vô nguyện. Chuyên dùng phương tiện trí tuệ, tu hành pháp trợ Bồ-đề.

Bồ-tát trụ địa Hiện tiền, ở trong Bát-nhã ba-la-mật, đạt hạnh thù thắng, đạt thượng thuận nhẫn thứ ba, vì lấy thuận làm pháp, nên không trái nghịch, Bồ-tát trụ ở địa Hiện tiền, được gặp vô số trăm ngàn ức Phật, tôn trọng, cung kính, khen ngợi, cúng dường y phục, thức ăn uống, thuốc men, ngọa cụ; được gần gũi chư Phật, ở chỗ chư Phật nghe pháp. Nghe pháp rồi, thật sự theo ánh sáng trí tuệ tu hành theo pháp, khiến chư Phật hoan hỷ. Vị ấy càng thăng tiến, biết được tạng pháp của chư Phật; cho đến trải qua trăm ngàn vạn ức kiếp, các căn lành cũng dần dần được tinh diệu sáng suốt. Các Phật tử! Ví như vàng ròng, dùng lưu ly mài dũa, thì ánh sáng màu sắc càng rực rỡ hơn. Bồ-tát trụ ở địa Hiện tiền nhờ phương tiện trí tuệ nên căn lành dần thù thắng, sáng suốt vắng lặng, các địa khác không thể sánh bằng. Các Phật tử! Ví như trăng sáng có thể làm cho chúng sinh dễ chịu, bốn loại gió thổi không lấn át được. Cũng thế, Đại Bồ-tát trụ địa Hiện tiền, căn lành dần được thù thắng, dập tắt được vô lượng phiền não của chúng sinh, bốn loại ác ma không hại được.

Các Phật tử! Đó là địa Hiện tiền của Đại Bồ-tát. Bồ-tát trụ địa này, thường làm Thiên vương Tha hóa tự tại, trí tuệ sắc bén, phá trừ tất cả kẻ tăng thượng mạn, các Thanh văn, không bị cùng tận. Làm những việc như bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự đều không rời niệm Phật, niệm pháp và niệm chúng Bồ-tát bạn, cho đến không rời niệm Nhất thiết chủng trí, thường phát nguyện: Ta ở trong chúng sinh, luôn là người đứng đầu, người tôn quý, cho đến làm chỗ nương tựa cho tất cả chúng sinh. Bồ-tát này, siêng năng tu tập, thì trong khoảnh khắc, sẽ đạt được mười vạn ức Tam-muội, cho đến thị hiện được mười vạn ức Bồ-tát làm quyến thuộc. Nếu dùng nguyện lực thì hơn cả số kia, dù trải qua trăm ngàn vạn ức kiếp cũng không tính kể được.

Bấy giờ, Bồ-tát Kim Cang Tạng, muốn nêu lại nghĩa trên, bèn nói kệ rằng:

Các Bồ-tát đã đạt
Hạnh nghiệp Địa thứ năm
Biết các pháp không tánh
Không tướng, chẳng sinh diệt
Xưa nay luôn thanh tịnh
Không có sự hý luận
Tu tập trí như vậy
Được nhập Địa thứ sáu
Các pháp luôn lìa tướng
Không thủ cũng không xả
Tánh không, giống như huyễn
Lìa hai, không phân biệt
Ai có thể tùy thuận
Thật nghĩa vi diệu đó
Tâm không hề trái nghịch
Được nhập Địa thứ sáu
Trụ ở lợi thuận nhẫn
Đạt trí tuệ thần lực
Quán sát hết tất cả
Tướng sinh diệt thế gian
Nên biết được thế gian
Đều từ si ám sinh
Khi si ám đoạn diệt
Thì không còn thế gian
Quán sát pháp nhân duyên
Tùy thuận Đệ nhất nghĩa
Nhưng không hoại nhân quả
Tạo tác và giả danh
Như thật không người làm
Cũng chẳng có người nhận
Quán pháp hữu vi vậy
Như mây, không có thật
Không biết nghĩa chân đế
Nên gọi là vô minh
Từ đó có suy xét
Quả báo thân, khẩu hành
Do hành nên có thức
Liền tạo ra danh sắc
Cứ thế sinh ra đời
Đến chỗ sinh già chết
Hiểu rõ ba cõi này
Chỉ do tâm mà có
Biết mười hai nhân duyên
Đều từ một tâm này
Như vậy sự sống chết
Đều từ tâm mà có
Một khi tâm diệt rồi
Thì không còn sống chết
Vô minh có hai loại
Ngu si và tạo nghiệp
Cho đến già và chết
Phá tan loại năm ấm
Từ những việc như vậy
Nên có đủ khổ não
Việc này chấm dứt hết
Phiền não cũng không còn
Nếu đầy đủ vô minh
Thì liên tục không đoạn
Nếu chẳng đủ nhân duyên
Thì không còn liên tục
Vô minh và ái thủ
Chính là phiền não đạo
Hành hữu là nghiệp đạo
Các thứ khác khổ đạo
Từ si đến sáu nhập
Được gọi là hành khổ
Xúc thọ là khổ khổ
Các thứ khác hoại khổ
Diệt ba khổ liên tục
Thì không còn ngã chấp
Vô minh và các hành
Là việc đời quá khứ
Từ thức cho đến thọ
Là việc của hiện tại
Từ ái đến sinh khổ
Là việc đời vị lai
Một khi vô minh diệt
Thì không còn khổ não
Si từ nhân duyên sinh
Nên có sự trói buộc
Chúng duyên nếu đã diệt
Các trói buộc cũng diệt
Từ nhân nên có quả
Nhân diệt thì quả diệt
Cứ thế quán các pháp
Tự tánh là trống không
Tùy thuận ở vô minh
Nên mới có thế gian
Nếu không thuận vô minh
Thì thế gian không có
Do đây nên có kia
Đây không thì kia không
Cứ thế mười cách quán
Pháp nhân duyên sâu xa
Quán nhân duyên liên tục
Khứ, lai và hiện tại
Không ngoài một tâm này
Phân biệt có ba đạo
Từ ba khổ quán sát
Các pháp sinh diệt kia
Không sỡ hữu, cùng tận
Nên quán theo thuận nghịch
Bồ-tát dần thâm nhập
Pháp mười hai nhân duyên
Biết trống không như huyễn
Như mộng, lại như bóng
Như ánh lửa, huyễn hóa
Giả dối không người tạo
Cũng chẳng có người nhận
Chỉ lừa gạt kẻ ngu
Cứ thế quán nhân duyên
Người trí tu pháp không
Không duyên thì không tướng
Biết hai thứ giả hư
Trong tất cả hữu ấy
Nơi đó không sở nguyện
Chỉ dùng tâm đại Bi
Thương xót độ chúng sinh
Bậc Đại sĩ cứ thế
Tu tập môn giải thoát
Tâm bi luôn vui thích
Vô lượng công đức Phật
Biết các pháp hữu vi
Đều từ hòa hợp có
Nên đạt vạn định không
Vô tướng và vô nguyện
Trí tuệ dần tăng trưởng
Thâm nhập thượng thuận nhẫn
Đạt được trí giải thoát
Vô vi của Bồ-tát
Do vậy các căn lành
Dần dần thêm sáng trong
Cúng dường vô lượng Phật
Được chư Phật ngợi khen
Thường ở chỗ chư Phật
Xuất gia học Phật đạo
Đại tạng pháp chư Phật
Căn lành càng thêm lớn
Ví như dùng lưu ly
Để mài dũa vàng ròng
Ánh sáng càng rực rỡ
Dụ này cũng như vậy
Ví như trăng trong không
Tròn đầy và sáng rực
Bốn ngọn gió thổi đến
Cũng không thể ngăn dứt
Ánh sáng trí Bồ-tát
Dập tắt lửa phiền não
Bốn ma không thể phục
Dụ này cũng như vậy
Bồ-tát trụ địa này
Thường làm Thiện hóa vương
Các căn đều nhặm lẹ
Phá trừ tăng thượng mạn
Làm tất cả nghiệp lành
Đều tùy thuận trí tuệ
Thanh văn có vấn nạn
Vẫn không bị cùng tận
Phật tử này nếu muốn
Siêng năng mà tu tập
Thì đạt được trăm vạn
Vạn ức môn Tam-muội
Được gặp trăm ngàn vạn
Ức số mười phương Phật
Như mùa Xuân trong mát
Ánh sáng mặt trời đẹp
Địa thứ sáu như vậy
Sâu xa khó thấy biết
Thanh văn không hiểu được
Bồ-tát đã lược thuyết.

 

Phẩm 7: ĐỊA VIỄN HÀNH

Lúc ấy, các Thiên chúng
Đang ở trong hư không
Mưa hoa thơm trân bảo
Như mây cúng dường Phật
Vui mừng cất tiếng hay
Khen ngợi thật lành thay!
Lành thay! Kim Cang Tạng
Khéo biết nghĩa Đệ nhất
Có vô lượng công đức
Hoa sen trong cõi người
Nói hạnh nghiệp thượng diệu
Lợi ích các thế gian
Tha hóa tự tại vương
Phóng ra ánh sáng, hương, hoa
Như mưa tuyết cúng dường
Trừ khổ não ưu bi
Chư Thiên cùng Thiên vương
Đồng cất tiếng vi diệu
Người nghe nghĩa, địa này
Sẽ được lợi ích lớn
Đồng thời trổi trăm ngàn
Kỹ nhạc hay cõi trời
Chư Thiên nữ ca hát
Đều nương thần lực Phật
Phật là Đấng tịch diệt
Biến ác nghiệp thành thiện
Tất cả các thế gian
Đều cung kính tôn trọng
Tuy vượt qua thế gian
Mà thị hiện pháp thế gian
Biết thân tướng như thật
Thị hiện các loại thân
Tuy dùng các âm thanh
Diễn nói pháp tịch diệt
Nhưng vẫn biết ngôn ngữ
Không có tướng âm thanh
Vượt qua trăm ngàn cõi
Cúng Phật vật thượng diệu
Biết thân và cõi Phật
Bỏ tướng trí tự tại
Tuy giáo hóa chúng sinh
Nhưng không tưởng nhân ngã
Rộng tu công đức lớn
Nhưng vẫn không tham chấp
Vì tà kiến thủ tướng
Lửa ba độc đốt thiêu
Không thủ chấp các tướng
Từ bi lại siêng năng
Chư Thiên và Thiên nữ
Đều hoan hỷ cúng dường
Khen ngợi như vậy rồi
Im lặng chiêm ngưỡng Phật
Lúc ấy, Giải Thoát Nguyệt
Thưa với Kim Cang Tạng
Đại chúng đều thanh tịnh
Xin nói tướng thứ bảy.

Bồ-tát Kim Cang Tạng nói:

–Các Phật tử! Đại Bồ-tát đã đầy đủ hạnh nghiệp Địa thứ sáu, nếu muốn nhập Địa thứ bảy thì từ phương tiện tuệ phát khởi mười diệu hạnh. Mười diệu hạnh đó là gì?

  1. Bồ-tát khéo tu Không, Vô tướng, Vô nguyện, nhưng dùng tâm Từ bi ở trong chúng sinh.
  2. Tùy thuận pháp bình đẳng của chư Phật nhưng vẫn không rời sự cúng dường chư Phật.
  3. Luôn thích suy xét môn không trí, nhưng rộng tu tập tư lương phước đức.
  4. Vượt xa ba cõi nhưng vẫn trang nghiêm ba cõi.
  5. Diệt hết lửa phiền não, nhưng vẫn vì chúng sinh mà diễn nói pháp diệt trừ lửa tham, sân, si.
  6. Tùy thuận các pháp coi đó như huyễn, như mộng, như bóng vang, như huyễn hóa, như trăng trong nước, như ảnh trong gương, không có hai tướng.
  7. Biết tất cả cõi Phật trống rỗng như hư không, các cõi đều lìa tướng; nhưng vẫn phát tâm tu hạnh thanh tịnh cõi Phật.
  8. Biết Pháp thân của tất cả chư Phật là vô thân, nhưng vẫn hiện sắc thân ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp để trang nghiêm.
  9. Biết âm thanh của chư Phật là tướng không thể nói, tin hiểu âm thanh của Như Lai xưa nay là tướng vắng lặng nhưng vẫn tùy thuận tất cả chúng sinh mà phát ra bao nhiêu thứ âm thanh trang nghiêm.
  10. Biết chư Phật trong khoảnh khắc thông đạt việc của ba đời nhưng phải hiểu là trải qua bao nhiêu tướng, bao nhiêu thời gian, bao nhiêu kiếp số thì mới đạt quả Vô thượng Bồ-đề. Phải tùy thuận sự tin hiểu của chúng sinh mà nói như vậy.

Các Phật tử! Đó là mười diệu hạnh phát ra từ tuệ phương tiện. Đại Bồ-tát đầy đủ hạnh nghiệp của Địa thứ sáu, rồi tu tập diệu hạnh này, thì đạt được Địa thứ bảy. Các Phật tử! Như vậy tuệ phương tiện Hiện tiền, gọi là nhập Địa thứ bảy. Bồ-tát trụ Địa thứ bảy, nhập vô lượng tánh của chúng sinh, nhập vô lượng pháp giáo hóa chúng sinh của chư Phật, nhập vô lượng tánh của thế gian, nhập vô lượng cõi nước thanh tịnh của chư Phật, nhập vô lượng sự sai khác của các pháp, đạt vô lượng trí đắc đạo vô thượng của chư Phật, nhập vô lượng sự tính đếm số kiếp, nhập vô lượng sự thông đạt ba đời của chư Phật, nhập vô lượng sự tin thích sai khác của chúng sinh, nhập vô lượng sắc thân sai khác của chư Phật, nhập vô lượng căn tánh, chí hạnh sai khác của Phật và chúng sinh, nhập vô lượng âm thanh, ngôn ngữ của chư Phật làm cho chúng sinh vui vẻ, nhập vô lượng tâm, tâm sở hành sai khác của chúng sinh và chư Phật, nhập vô lượng hành tùy trí tuệ của chư Phật, nhập vô lượng sự tin hiểu của Thanh văn thừa, nhập vô lượng nhân duyên thuyết pháp để chúng sinh tin hiểu của chư Phật, nhập vô lượng sự tu tập trí tuệ của Bích-chi-phật, nhập vô lượng pháp môn do trí tuệ sâu xa của Phật đã thuyết giảng, nhập vô lượng đạo mà Bồ-tát đã thành, nhập vô lượng việc tu tập Đại thừa làm cho chúng sinh an nhập của chư Phật đã từng thuyết giảng. Bồ-tát lại nghĩ: Các Đấng Thế Tôn, có vô lượng, vô biên uy lực lớn như vậy, dù trải qua trăm ngàn vạn ức kiếp, cũng không thể biết được. Uy lực của chư Phật, ta nên tu tập, chứ không do sự phân biệt kia đây mà thành tựu; chỉ dùng sự không phân biệt, không thủ chứng mới thành. Bồ-tát dùng trí tuệ như thế khéo tư duy, thường tu tập đại tuệ phương tiện, để an trụ trong trí của Phật, vì pháp bất động. Nếu muốn phát khởi các phương độ chúng sinh không bị chướng ngại, thì thời vị lai cũng phát khởi, thời quá khứ cũng phát khởi; đi, đứng, nằm, ngồi cũng đều phát khởi phương pháp độ thoát chúng sinh; lìa các ấm cái, trụ trong oai nghi, không rời những tưởng niệm như vậy. Bồ-tát này, trong mỗi niệm có đầy đủ mười Ba-la-mật và mười Địa của Bồ-tát. Vì sao? Vì Đại Bồ-tát trong mỗi niệm, dùng tâm đại Bi làm đầu, tu tập tất cả Phật pháp, đều hồi hướng lên trí tuệ của Như Lai.

Mười Ba-la-mật là: Vì cầu Phật mà Bồ-tát tu tập căn lành, ban cho tất cả chúng sinh, đó là Bố thí ba-la-mật; dập tắt tất cả lửa phiền não là Thi-la ba-la-mật; dùng Từ bi làm gốc, không thương tổn chúng sinh là Nhẫn nhục ba-la-mật; cầu căn lành tăng trưởng, không chán ghét là Tinh tấn ba-la-mật; tâm tu tập đạo, không buông lung, luôn hướng về Nhất thiết trí là Thiền ba-la-mật; hiểu các pháp từ xưa nay không sinh là Bát-nhã ba-la-mật; phát khởi vô lượng môn trí tuệ là Phương tiện ba-la-mật mong trí tuệ càng thù thắng là Nguyện ba-lamật; tất cả ngoại đạo ma chướng không gây hại được là Lực ba-lamật; thành tựu như thật về tướng của tất cả pháp là Trí ba-la-mật. Cứ thế, trong mỗi niệm, đầy đủ mười Ba-la-mật. Lúc Bồ-tát đầy đủ mười Ba-la-mật thì cũng đầy đủ bốn Nhiếp pháp, ba mươi bảy pháp Bồ-đề phần, ba môn giải thoát. Nói tóm lại, trong mỗi niệm đều đầy đủ tất cả các pháp trợ đạo Vô thượng Bồ-đề.

Bấy giờ, Bồ-tát Giải Thoát Nguyệt hỏi Bồ-tát Kim Cang Tạng: Phật tử! Chỉ Bồ-tát ở Địa thứ bảy, mới đầy đủ pháp trợ Bồ-đề, hay trong các địa khác cũng đầy đủ?

Bồ-tát Kim Cang Tạng nói:

–Phật tử! Đại Bồ-tát ở trong mười địa, đều đầy đủ pháp trợ Bồđề, nhưng vì ở Địa thứ bảy thù thắng nên được gọi tên. Vì sao? Vì các Đại Bồ-tát ở Địa thứ bảy, đầy đủ công hạnh, nhập đạo trí tuệ thần thông. Phật tử! Bồ-tát ở Địa thứ nhất phát nguyện duyên với tất cả Phật pháp, đầy đủ pháp trợ Bồ-đề. Ở Địa thứ hai, trừ được tâm ác cấu nên đầy đủ pháp trợ Bồ-đề. Trong Địa thứ ba, thệ nguyện dần tăng trưởng, vì đạt được pháp sáng và đầy đủ pháp trợ Bồ-đề. Ở Địa thứ tư, vì được nhập đạo nên đầy đủ pháp trợ Bồ-đề. Ở Địa thứ năm, vì tùy thuận pháp hành thế gian nên đầy đủ pháp trợ Bồ-đề. Ở Địa thứ sáu vì nhập pháp môn sâu xa nên đầy đủ pháp trợ Bồ-đề. Ở Địa thứ bảy vì phát khởi tất cả Phật pháp nên đầy đủ pháp trợ Bồ-đề. Vì sao? Phật tử! Vì Đại Bồ-tát ở địa này, đạt trí tuệ do hành đạo, và nhờ sức này nên tự nhiên được thành tựu Địa thứ tám. Phật tử! Ví như hai hay ba tam thiên đại thiên thế giới, một bên thanh tịnh, một bên cấu uế; giữa hai cảnh giới khó vượt qua được, chỉ dùng sức tinh tấn lớn, sức thần thông lớn, sức nguyện lớn mới vượt qua. Các Phật tử! Bồ-tát thực hành các đạo khó vượt qua được, chỉ dùng sức nguyện lớn, sức trí tuệ lớn, sức phương tiện lớn thì mới có thể vượt qua được.

Bồ-tát Giải Thoát Nguyệt hỏi:

–Bồ-tát Địa thứ bảy gọi là Tịnh hạnh hay Cấu hạnh?

Bồ-tát Kim Cang Tạng nói:

–Từ địa Hoan hỷ thứ nhất đến địa này, mọi việc làm của Bồ-tát, đều lìa nghiệp phiền não, tội lỗi. Vì sao? Vì hồi hướng đạo Vô thượng Bồ-đề, tùy địa vị mà thực hành hạnh thanh tịnh, nên không gọi là tội lỗi. Phật tử! Ví như Chuyển luân thánh vương cỡi voi báu lớn, đi khắp bốn cõi, biết có kẻ nghèo, cùng, khổ, não; nhưng lỗi ấy không phải do vua; vì vua chưa khỏi thân người, nếu bỏ thân vua thì sinh lên cõi trời Phạm thế, ở trong cung Phạm thế du hành khắp ngàn thế giới tỏ rõ oai lực của Phạm thiên; Lúc ấy, bỏ thân người. Phật tử! Bồ-tát cũng thế, từ Địa thứ nhất đến đây, ở trong pháp Ba-la-mật, biết tất cả những việc làm, những phiền não cấu uế của chúng sinh, nhưng không bị phiền não nhiễm ô, vì nương đạo lành nên không gọi là tội lỗi. Nếu Bồ-tát, bỏ tất cả công hạnh đã tu từ Địa thứ bảy nhập Địa thứ tám, mới gọi là nương thừa thanh tịnh của Bồ-tát, biết hết tất cả phiền não cấu uế của thế gian nhưng không bị phiền não ô nhiễm, cũng gọi là lỗi.

Các Phật tử! Bồ-tát trụ ở Địa thứ bảy, nhiều lỗi tham dục phiền não. Chúng sinh ở Địa thứ bảy này không gọi là người có phiền não, cũng không gọi là người không phiền não. Vì sao? Vì tất cả phiền não không phát khởi, nên không gọi là có phiền não. Vì tham cầu trí tuệ Như Lai chưa mãn nguyện nên không gọi là người không phiền não. Bồ-tát trụ Địa thứ bảy, thành tựu thân nghiệp thanh tịnh, ngữ nghiệp thanh tịnh, ý nghiệp thanh tịnh; còn những nghiệp bất thiện bị chư Phật quở trách. Những kẻ tùy thuận phiền não, tạo nghiệp như vậy, đều phải có lỗi, nhưng thiện nghiệp được chư Phật khen ngợi, đó là thường hạnh. Lại nữa, những kinh sách kỹ nghệ của thế gian như đã nói trong Địa thứ năm, tự nhiên đạt được; ở trong tam thiên đại thiên thế giới, thật là hy hữu được làm bậc đại sư. Nhập Địa thứ tám, ngoài Như Lai ra không có chúng sinh nào mà tâm sâu xa, hạnh vi diệu sánh bằng. Bồ-tát này, đã có thiền định, thần thông, giải thoát Tam-muội, tuy chưa đạt quả báo nhưng tùy ý thọ thân tự tại, Bồ-tát trụ địa Viễn hành này trong mỗi niệm, tu tập đầy đủ sức tuệ phương tiện và tát cả pháp trợ Bồ-tát dần dần đầy đủ. Bồ-tát trụ địa Viễn hành này có thể nhập vào các Tam-muội Thiện trạch, Tam-muội Thiện tư nghĩa, Tammuội Ích ý, Tam-muội phân biệt nghĩa tạng, Tam-muội Như thật trạch pháp, Tam-muội Kiến căn an trụ, Tam-muội Tri thần thông môn, Tam-muội Pháp tánh, Tam-muội Như Lai lợi, Tam-muội Chủng chủng nghĩa tạng, Tam-muội Bất hướng sinh tử Niết-bàn. Cứ thế thành tựu đầy đủ trăm vạn Tam-muội của Bồ-tát có khả năng làm thanh tịnh địa này. Bồ-tát đạt Tam-muội và trí tuệ phương tiện đó, vì thanh tịnh hoàn toàn, vì đạt sức đại Bi sâu xa nên vượt qua địa Thanh văn, Bích-chiphật, hướng đến trí địa của Phật. Bồ-tát trụ ở địa này, vô lượng thân, khẩu, ý nghiệp đều hành vô tướng. Bồ-tát này, vì hạnh thanh tịnh mà sáng tỏ pháp Vô sinh nhẫn.

Bồ-tát Giải Thoát Nguyệt nói:

–Phật tử! Nếu Bồ-tát trụ ở Địa thứ nhất, thì có vô lượng thân, khẩu, ý nghiệp có thể vượt tất cả địa Thanh văn, Bích-chi-phật?

Bồ-tát Kim Cang Tạng nói:

–Vì duyên pháp lớn nên vượt qua được, chẳng phải là sức thật hành ở Địa thứ bảy đó, sức tự thật hành, tất cả Thanh văn, Bích-chi Phật không thể hủy hoại. Phật tử! Ví như sinh trong nhà vua thì hơn tất cả quần thần trăm quan. Vì sao? Vì nhờ sức tôn quý, thân gởi nơi cao lớn, thành tựu trí tuệ, chân thật vượt hơn. Phật tử! Các Đại Bồ-tát, lúc mới phát tâm đã hơn tất cả Thanh văn, Bích-chi-phật; vì phát nguyện lớn, tâm thanh tịnh sâu xa. Nay trụ ở địa này, tự dùng trí lực nên vượt hơn.

Phật tử! Bồ-tát trụ ở Địa thứ bảy, đạt vô hành xa lìa sâu xa, thân, khẩu, ý nghiệp chuyên cầu pháp thù thắng nhưng không xả bỏ, nên tâm được thù thắng, tuy hành thực tế nhưng không chứng thực tế.

Bồ-tát Giải Thoát Nguyệt hỏi:

–Đại Bồ-tát từ địa nào đến, thì nhập tịch diệt?

Bồ-tát Kim Cang Tạng nói:

–Đại Bồ-tát từ Địa thứ sáu trở đi thì nhập tịch diệt. Nay trụ địa này ở trong từng niệm đều có thể nhập tịch diệt nhưng không chứng tịch diệt. Đó gọi là Bồ-tát thành tựu thân, khẩu, ý nghiệp chẳng thể nghĩ bàn, hành thực tế nhưng không chứng thực tế. Phật tử! Ví như có người đi thuyền vào biển lớn, biết rõ cách đi, tướng nước thì không bị tai họa của nước; Đại Bồ-tát trụ Địa thứ bảy cũng thế; nương thuyền Ba-la-mật, thực hành thực tế nhưng không chứng thực tế. Đó là do sức nguyện lớn của Bồ-tát, đạt được sức trí tuệ; là do Thiền định trí tuệ mà phát sinh trí tuệ lớn. Tuy rất thích Niết-bàn nhưng hiện thân sinh tử. Tuy bà con thường vây quanh nhưng tâm luôn xa lìa; vì nguyện lực thọ sinh trong ba cõi nhưng không bị pháp thế gian làm nhiễm ô, tâm luôn tịch tĩnh. Vì sức phương tiện nên tuy qua lại trong lửa nhưng không bị lửa thiêu đốt; tùy thuận trí Phật, chuyển địa Thanh văn, Bíchchi-phật. Đạt đến pháp tạng của chư Phật, nhưng thị hiện ở trong cảnh giới ma. Tuy vượt bốn ma đạo, nhưng thị hiện hành hạnh của ma. Tuy thị hiện hành pháp ngoại đạo, nhưng thâm tâm không bỏ Phật pháp. Tuy hiện thân ở khắp thế gian, nhưng tâm luôn ở trong pháp xuất thế. Mọi việc đều trang nghiêm hơn Thiên, Long, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, Atu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già, Nhân phi nhân. Tứ thiên vương, Thích-đề-hoàn-nhân, Phạm thiên vương; nhưng không bỏ pháp lạc, pháp ái. Bồ-tát thành tựu trí tuệ như vậy, trụ trong địa Viễn hành, được gặp trăm ngàn vạn ức na-do-tha chư Phật, cung kính, tôn trọng, khen khợi, cúng dường y phục, thức ăn uống, giường chiếu; cúng dường chư Phật rồi hộ trì Phật pháp. Dù các Thanh văn, Bích-chi-phật tài trí vấn nạn, cũng không thể phá được. Bồ-tát này thường yêu chúng sinh, nên pháp nhẫn dần được thanh tịnh. Bồ-tát này trong trăm ngàn muôn ức na-do-tha kiếp, căn lành sẽ trở nên thù thắng và thanh tịnh.

Phật tử! Ví như luyện vàng ròng, mà biết trang sức lẫn lộn những báu vật đẹp thì sáng rực, đẹp đẽ hơn; các báu vật khác không thể sánh bằng. Các Phật tử! Bồ-tát cũng thế, trụ trong địa Viễn hành, các căn lành đều phát sinh từ trí tuệ phương tiện, nên dần dần được sáng suốt, không ai phá được.

Phật tử! Ví như ánh sáng mặt trời, ánh sáng của tất cả các ngôi sao và mặt trăng không thể sánh bằng. Nó có thể làm khô cạn nước bùn trong cõi Diêm-phù-đề. Bồ-tát cũng thế, trụ địa Viễn hành, căn lành dần dần thù thắng, tất cả Thanh văn, Bích-chi-phật không thể sánh bằng; lại có thể làm khô cạn bùn phiền não nhiễm ô của chúng sinh.

Phật tử! Đó là Bồ-tát trụ Địa thứ bảy, địa Viễn hành. Bồ-tát trụ địa này, thường làm Tha hóa tự tại Thiên vương, các căn lanh lợi, thường phát khởi duyên lành để chúng sinh ngộ đạo, tu tập những nghiệp lành như bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự và đều không rời niệm Phật, niệm pháp và niệm về chúng đại Bồ-tát bạn; cho đến không rời niệm đầy đủ nhất thế chủng trí. Luôn nghĩ: Bất cứ lúc nào, ở trong chúng sinh ta đều là người đứng đầu, người tôn quý, là chỗ nương tựa cho chúng sinh. Bồ-tát này nếu siêng năng tu tập thì trong khoảnh khắc, đạt trăm ngàn ức na-do-tha Tam-muội, và có thể thị hiện cả trăm ngàn ức na-do-tha Bồ-tát làm quyến thuộc. Nếu dùng nguyện lực tự tại thị hiện của Bồ-tát thì hơn số kia, dù có trải qua trăm ngàn vạn ức na-do-tha kiếp, vẫn không thể tính biết được.

Lúc ấy, Bồ-tát Kim Cang Tạng muốn nêu lại nghĩa trên, nên nói kệ rằng:

Trí tuệ sâu, tâm định
Đủ hạnh, Địa thứ sáu
Cùng lúc sinh phương tiện
Trí tuệ, nhập Thất địa
Không, Vô tướng, Vô nguyện
Và tu tâm Từ bi
Thuận Phật pháp bình đẳng
Mà cúng dường chư Phật
Tuy dùng trí quán không
Nhưng tu phước không chán
Sau đó được an nhập
Địa Viễn hành thứ bảy
Tuy trang nghiêm ba cõi
Nhưng tâm thích xa lánh
Tâm tuy luôn tịch diệt
Nhưng diệt những phiền não
Hành không, pháp bất nhị
Ví như là huyễn mộng
Nhưng hành tâm Từ bi
Được nhập Địa thứ bảy
Tuy quán khắp các cõi
Trống rỗng như hư không
Nhưng lại khéo trang nghiêm
Thanh tịnh các cõi Phật
Tuy biết thân của Phật
Đồng pháp tướng, không tướng
Nhưng có ba hai tướng
Và tám mươi vẻ đẹp
Tuy biết được chư Phật
Tướng, không thể nói năng
Trang Nghiêm âm thanh Phật
Khiến thế gian vui vẻ
Tuy biết được chư Phật
Thành đạo trong một niệm
Nhưng thị hiện nhiều kiếp
Dẫn dắt các chúng sinh
Cứ thế biết các pháp
Được ánh sáng pháp soi
Bồ-tát cứ như thế
Tức nhập Địa thứ bảy
Trụ địa này, quán sát
Vô lượng hạnh chúng sinh
Cũng biết được vô lượng
Uy lực của chư Phật
Thế gian và kiếp số
Pháp tánh đều vô lượng
Lại biết những chúng sinh
Ham thích các dục lạc
Biết giảng pháp ba thừa
Đều là vô lượng cả
Ta phải nên giáo hóa
Thành tựu các chúng sinh
Phải tư duy như vậy
Tuệ phương tiện hòa hợp
Dù đi, đứng, nằm, ngồi
Đều hành đạo như vậy
Trong mỗi mỗi tâm niệm
Đủ pháp trợ Bồ-đề
Đó chính là mười pháp
Ba-la-mật sâu xa
Các Bồ-tát như vậy
Tu tập nhiều phước đức
Bố thí cho chúng sinh
Là Thí ba-la-mật
Diệt trừ tâm nhơ, ác
Là Giới ba-la-mật
Không bị sáu trần hại
Nhẫn nhục ba-la-mật
Phát khởi pháp thù thắng
Tinh tấn ba-la-mật
Đạt được đạo bất động
Là Thiền ba-la-mật
Đạt Vô sinh pháp nhẫn
Bát-nhã ba-la-mật
Hồi hướng về Phật đạo
Phương tiện ba-la-mật
Cầu mong pháp thù thắng
Là Nguyện ba-la-mật
Không có ai hủy hoại
Là Lực ba-la-mật
Hiểu pháp nói như thật
Là Trí ba-la-mật
Các pháp trợ Bồ-đề
Thâu tóm trong mỗi niệm
Phát thệ nguyện rộng sâu
Làm những việc lớn lao
Công đức ở Sơ địa
Được gọi là đầy đủ
Địa thứ hai gọi là
Trừ các tâm nhơ xấu
Địa thứ ba nguyện lớn
Thứ tư là trụ đạo
Thứ năm tùy thế hành
Thứ sáu nhập thâm pháp
Đạt tướng phần vô sinh
Dần dần được tăng trưởng
Thứ bảy gom tất cả
Đủ pháp phần Bồ-đề
Phát sinh các công đức
Và tất cả thệ nguyện
Các công đức như vậy
Ở trong Địa thứ tám
Tất cả mọi hạnh nghiệp
Tự nhiên được thanh tịnh
Địa Viễn hành khó qua
Chỉ sức trí lớn được
Như ngằn mé hai nước
Khó có thể vượt qua
Ở trong Địa thứ bảy
Không có nhiễm như vua
Người trụ trong đạo này
Không gọi là tội lỗi
Nếu đạt Địa thứ tám
Địa trí tuệ Bồ-tát
Lúc này vượt ý giới
An trụ trong trí nghiệp
Như Phạm vương nhìn đời
Không được gọi là người
Bồ-tát tội không nhiễm
Như hoa sen trong nước
Bồ-tát trụ địa này
Vượt qua các phiền não
Không gọi là phiền não
Cũng không hết phiền não
Nhập trong chánh đạo này
Không có các phiền não
Nhờ nguyện cầu Phật đạo
Không gọi hết phiền não
Đối với pháp thế gian
Kinh sách và kỹ nghệ
Văn tụng và chú thuật
Tự nhiên biết rõ cả
Tu tập pháp thiền định
Và các pháp thần thông
Vô lượng tâm lợi đời
Phát khởi mọi việc ấy
Lúc ấy, Đại Bồ-tát
Vượt qua hạnh Nhị thừa
An trụ Địa thứ bảy
Trong các hạnh Bồ-tát
Từ lúc mới phát tâm
Sức của đại nguyện thù thắng
Nay ở trong địa này
Sức trí tuệ thù thắng
Ví như con của vua
Tuy nhỏ, thuộc tôn quý
Sau nhờ đủ công đức
Nên vượt hơn mọi người
Địa này được trí sâu
Dần phát tâm tinh tấn
Niệm niệm nhập tích diệt
Nhưng không hề thủ chứng
Ví như người đi thuyền
Vào trong biển rộng lớn
Tuy vào chỗ nước sâu
Nhưng không bị chìm chết
Hạnh Bồ-tát thù thắng
Với trí tuệ phương tiện
Đầy đủ các công đức
Thế gian khó biết được
Cúng dường vô lượng Phật
Tâm thì luôn thanh tịnh
Như vàng ròng trang sức
Xen lẫn các tạp báu
Được ánh sáng trí Phật
Làm khô dòng nước ái
Ví như ánh mặt trời
Làm khô các dòng nước
Bồ-tát trụ địa này
Làm Tha hóa tự tại
Các căn đều lanh lợi
Thông đạt được đạo quả
Nếu siêng năng tu tập
Được gặp mười ngàn ức
Na-do-tha Đức Phật
Dùng sức nguyện hơn đây
Địa thứ bảy trí sáng
Thế gian, hàng Nhị thừa
Đều không thể biết được
Nay đã lược nói xong.

 

Phẩm 8: ĐỊA BẤT ĐỘNG

Tha hóa tự tại vương
Chư Thiên và Bồ-tát
Nghe giảng thuyết thượng hạnh
Ai nấy đều vui mừng
Cúng dường Phật, đệ tử
Mưa các loại hoa thơm
Anh lạc và cờ lọng
Hương bột cùng áo báu
Ngọc ma-ni chân diệu
Các vật trang sức thân
Như mây trong hư không
Rải cúng Phật, đại chúng
Thiên nữ trong hư không
Trỗi các thứ kỹ nhạc
Cúng dường Đức Như Lai
Và các Đại Bồ-tát
Đồng cất tiếng vi diệu
Khen ngợi những công đức
Hết thảy bậc trí tuệ
Tối tôn trong chúng sinh
Vì thương xót thế gian
Đức Phật hiện thần thông
Hoa hương và trân bảo
Đều phát ra âm thanh
Nhiều lông như cát bụi
Thị hiện na-do-tha
Vô lượng các Đức Phật
Ở trong đó thuyết pháp
Trên mỗi đầu sợi lông
Thấy vô lượng cõi Phật
Tu-di, Thiết vi, biển
Thế gian không chật hẹp
Trên mỗi đầu sợi lông
Đủ cả ba đường ác Trời, người,
A-tu-la Đều phải chịu nghiệp báo.
Thấy trong các cõi Phật
Diệu âm của chư Phật
Chuyển pháp luân vô thượng
Tùy tâm niệm chúng sinh
Ở trong các cõi Phật
Đủ loại thân chúng sinh
Nước có thân chúng sinh
Thân chúng sinh có nước
Tất cả các trời người
Đều không được ở chung
Phật, trước đã quán sát
Sau mới thuyết giảng nói
Các cõi nước vi tế
Tâm chúng sinh tinh tế
Những cõi nước thô ác
Tâm tướng chúng sinh thô
Phật thị hiện như vậy
Đầy đủ sức thần thông
Vì chúng sinh thuyết pháp
Việc ấy không cùng tận
Dùng diệu âm như vậy
Khen ngợi Đức Thế Tôn
Ai nấy đều vui mừng
Im lặng chiêm ngưỡng Phật
Bồ-tát Giải Thoát Nguyệt
Thưa với Kim Cang Tạng
Phật tử! Hãy thuyết giảng
Nhập tướng Địa thứ tám.

Bồ-tát Kim Cang Tạng nói:

–Phật tử! Các Đại Bồ-tát, đã tu tập hạnh vi diệu của Địa thứ bảy, đạo phương tiện trí tuệ thanh tịnh, khéo tu tập pháp trợ đạo; với sức của đại nguyện, tâm an trụ bất diệt, được thần lực chư Phật hộ trì, được sức căn lành, luôn nghĩ và tùy thuận oai lực, vô úy và pháp Bất cộng của Như Lai; tâm hoan hỷ, tâm sâu xa, thành tựu thiện tịnh, phước đức trí lực; tâm đại Từ bi, không bỏ chúng sinh, tu hành vô lượng trí đạo, có thể nhập nguồn gốc của các pháp, không sinh, không diệt, không tướng, không xuất, không mất, không đi, không trở lại, không có tánh sở hữu, trước giữa sau bình đẳng, không khác Như Lai; trí không phân biệt; tất cả tâm, ý, thức, nghĩ nhớ, phân biệt, không có sự tham chấp; nhập tất cả pháp, như tánh hư khồng. Đó là Bồ-tát đạt Vô sinh pháp nhẫn, nhập Địa thứ tám, tức thời nhập địa Bất động, gọi là Bồ-tát có hạnh sâu xa, khó biết được, không thể phân biệt, lìa tất cả tướng, dứt tất cả tưởng, lìa tất cả tham chấp. Vô lượng, vô biên không thể nghĩ bàn tất cả Thanh văn, Bích-chi-phật không thể hủy hoại; trước mắt, luôn đạt được sự xa lìa lớn.

Phật tử! Ví như Tỳ-kheo đạt thần thông, thì tâm được tự tại, tuần tự nhập diệt tận định. Tất cả tâm xao động, nhớ tưởng, phân biệt, đều chấm dứt. Cũng thế, Bồ-tát trụ địa Viễn hành thì mọi việc đều chấm dứt, đạt được việc không thân, khẩu, ý, trụ trong xa lìa lớn.

Phật tử! Ví như người nằm mộng, muốn qua sông sâu; lúc ấy, người này phát tinh tấn lớn, tìm phương cách lớn để qua sông này, nhưng khi chưa qua sông bỗng nhiên thức dậy, thì những phương tiện và ý muốn qua sông đều mất hết cả.

Các Phật tử! Cũng vậy, Đại Bồ-tát từ Địa thứ nhất đến đây đã phát đại tinh tấn, rộng tu hành đạo; đến địa Bất động, tất cả sự sợ hãi đều vứt bỏ hết, không hành hai tâm, những nhớ nghĩ không còn hiện khởi. Ví như người sinh lên cõi Phạm thế thì phiền não của cõi dục không hiện khởi. Cũng thế, các Phật tử! Đại Bồ-tát trụ địa Bất động, tất cả tâm, ý, thức không còn hiện khởi; ngay cả tâm Phật, tâm Bồ-đề, tâm Niết-bàn cũng không hiện khởi, huống gì tâm đang sinh trong thế gian!

Phật tử! Đại Bồ-tát tùy thuận địa này là do sức bản nguyện. Lại nữa, chư Phật vì vị ấy mà hiện thân hình, trụ trong các địa, ở trong dòng nước pháp, lấy trí tuệ Như Lai làm nhân duyên. Chư Phật đều nói: Hay thay! Hay thay! Thiện nam! Ông đã đạt nhẫn, thứ nhất, tùy thuận pháp của tất cả chư Phật. Thiện nam! Ta có mười Lực, bốn Vô sở úy, mười tám pháp Bất cộng; ông nay chưa đạt được, nhưng để đạt công đức này nên siêng năng tu tập, đừng bỏ pháp nhẫn này. Thiện nam! Tuy ông đạt pháp giải thoát tịch diệt sâu xa bậc nhất này, nhưng phàm phu chúng sinh do bất thiện, không tịch tĩnh, nên thường phát khởi các phiền não, bị bao nhiêu là giác quán gây hại, ông nên thương xót những chúng sinh này. Lại nữa, thiện nam! Ông hãy nhớ bản nguyện của mình là muốn đem lợi ích lớn cho chúng sinh, muốn đạt môn trí tuệ không thể nghĩ bàn. Lại nữa, thiện nam! Tất cả tánh của các pháp, tất cả tướng của các pháp, hoặc có Phật, hoặc không Phật vẫn thường trụ, không khác. Các Đức Như Lai không vì đạt pháp này, mà gọi là Phật. Thanh văn, Bích-chi-phật cũng có thể đạt pháp tịch diệt không phân biệt này. Thiện nam! Ông hãy quán sát vô lượng thân tướng thanh tịnh của chúng ta, vô lượng trí tuệ, vô lượng cõi nước thanh tịnh; mà phát khởi vô lượng trí tuệ, vô lượng phương tiện, vô lượng ánh sáng, vô lượng tiếng thanh tịnh; nay ông nên phát khởi những việc như vậy. Lại nữa, thiện nam! Ông nay vừa đạt một pháp sáng, đó là tất cả pháp tịch diệt, không có sự phân biệt; pháp sáng không sinh, chúng ta đạt được, dù trải qua vô lượng, vô biên ức kiếp tính đếm, cũng không thể biết được. Vì đạt pháp này nên ông phải phát khởi hạnh này. Thiện nam! Ông quán vô lượng cõi nước ở mười phương, vô lượng chúng sinh, vô lượng pháp sai khác, ông phải thông đạt thật đúng đắn việc này, tùy thuận trí như vậy. Bồ-tát này, được chư Phật cho vô lượng, vô biên pháp môn làm nhân duyên để phát khởi trí tuệ như thế vì vô lượng pháp môn. Bồ-tát ấy có thể phát khởi vô lượng trí nghiệp sai khác, cũng đều thành tựu.

Các Phật tử! Nay tôi giảng thuyết cho các ông; nếu chư Phật không làm Bồ-tát này trụ môn trí tuệ đó, thì lúc ấy, Bồ-tát thủ chứng Niết-bàn rốt ráo, bỏ việc lợi ích chúng sinh. Vì chư Phật ban cho Bồtát này, vô lượng, vô biên nhân duyên để phát khởi trí tuệ, nên trong một niệm, trí tuệ được phát sinh. Nếu từ Địa thứ nhất cho đến hết Địa thứ bảy, mà so với địa này thì không bằng một phần trăm, cho đến không bằng một phần ngàn vạn ức, trăm ngàn vạn ức na-do-tha, cho đến không bằng một phần vô lượng, vô biên a-tăng-kỳ, cho dù tính đếm thí dụ thế nào, cũng không sánh kịp. Vì sao? Vì trước dùng một thân hành đạo tu tập công đức; nay ở địa này, đạt vô lượng thân, tu đạo Bồ-tát; dùng vô lượng âm thanh, dùng vô lượng trí tuệ, vô lượng chỗ thọ sinh, vô lượng cõi thanh tịnh, vô lượng sự giáo hóa chúng sinh, cúng dường hầu cận vô lượng Phật, tùy thuận vô lượng Phật pháp, vô lượng sức thần thông, vô lượng đại hội sai khác, vô lượng nghiệp thân, khẩu, ý tập trung, tất cả đạo hạnh của Bồ-tát, vì pháp bất động vậy.

Phật tử! Ví như có người đi thuyền vào biển lớn, lúc chưa vào biển thì dùng nhiều công sức, như dùng tay chèo, đến khi vào biển lớn rồi thì không dùng sức nữa, chỉ cần dùng sức gió. Khi vào trong biển lớn nếu chỉ do công sức của mình, thì dù có đi trăm ngàn năm, cũng không bằng được một ngày nhờ sức gió. Các Phật tử! Đại Bồ-tát cũng thế, tu tập nhiều căn lành tư lương, đi thuyền Đại thừa đến biển trí tuệ lớn của Bồ-tát, trong khoảnh khắc, không dùng công sức vẫn gần được trí tuệ của tất cả Phật; nếu dùng công sức của mình, thì dù trải qua một kiếp, trăm ngàn vạn kiếp cũng không thể đạt được.

Các Phật tử! Đại Bồ-tát Địa thứ tám, từ trí tuệ phương tiện của mình, phát sinh tâm vô công dụng, ở trong đạo Bồ-tát, tư duy uy lực trí tuệ của Phật. Đó là biết thế giới sinh diệt hoại thành. Biết do nghiệp nhân duyên gì diệt, nên thế giới hoại; biết do nghiệp nhân duyên gì tập họp, nên thế giới thành. Bồ-tát biết được tướng nhỏ của tánh đất; biết tướng lớn của tánh đất, tướng vô lượng, của tánh đất; biết tướng sai biệt của tánh đất; biết tướng nhỏ tướng lớn, tướng vô lượng, tướng sai biệt của tánh nước, gió, lửa; biết tướng nhỏ nhít của vi trần, biết tướng sai biệt của vi trần, sự sai khác của vi trần có trong một cõi nước đều biết hết. Biết trong một cõi nước có bao nhiêu vi trần, đất, nước, gió, lửa. Biết bao nhiêu là vi trần vật báu, bao nhiêu vi trần thân chúng sinh; vi trần vạn vật sai khác trong thế giới; phân biệt chúng sinh với thân thô thân tế bao nhiêu vi trần; thân sinh vào địa ngục; bao nhiêu là vi trần thân sinh vào súc sinh; bao nhiêu vi trần thân sinh vào ngạ quỷ, bao nhiêu là vi trần thân sinh vào A-tu-la bao nhiêu là vi trần, thân sinh cõi trời, bao nhiêu là vi trần thân sinh vào cõi người đều biết rõ. Bồ-tát này nhập vào trí phân biệt vi trần, biết sự thành hoại của cõi Dục, cõi Sắc, cõi Vô sắc, biết tướng nhỏ, tướng lớn, tướng vô lượng, tướng sai khác của cõi Dục, cõi Sắc và cõi Vô sắc biết ba cõi như thế. Đó là trợ trí sáng suốt giáo hóa chúng sinh của Bồ-tát. Khéo biết phân biệt thân chúng sinh, khéo quán sát nơi nên thọ sinh, tùy thuận nơi sinh của chúng sinh, tùy thân của chúng sinh mà thọ sinh. Bồ-tát này thị hiện thân có khắp trong tam thiên đại thiên thế giới, tùy thuận thân chúng sinh mà có sự sai khác. Ví như mặt trời hiện ảnh trong nước, thân có khắp trong hai, tam thiên đại thiên thế giới, hoặc trong ba, bốn, năm, mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi, năm mươi, trăm, tam thiên đại thiên thế giới, hoặc ngàn, vạn, trăm vạn, ngàn vạn, trăm ngàn vạn ức na-do-tha thế giới. Cho đến hiện thân khắp trong vô lượng, vô biên, không thể nghĩ bàn, tính kể tam thiên đại thiên thế giới, tùy thân sai khác của chúng sinh mà thọ thân. Bồtát này thành tựu trí tuệ như vậy rồi, ở trong một thế giới, thân không dao động, cho đến không thể kể xiết cõi Phật, tùy thân chúng sinh, tùy sự tin ưa, ở trong đại hội của chư Phật mà thị hiện thân hình. Nếu ở trong hội Sa-môn thì thị hiện hình sắc Sa-môn; nếu ở trong chúng Bàla-môn thì hiện hình sắc thân Bà-la-môn, nếu ở hàng Sát-đế-lợi thì hiện hình Sát-đế-lợi; nếu ở trong hàng cư sĩ thì thị hiện thân cư sĩ, nếu ở trong Tứ thiên vương, Đế Thích, Ma, Phạm thiên thì thị hiện thân Phạm thiên, cho đến thị hiện thân A-ca-nị-sắc của cõi trời A-ca-nị-sắc. Người đáng dùng thân Thanh văn để độ thoát thì hiện thân Thanh văn; người đáng dùng thân Bích-chi-phật, Bồ-tát, Phật thì hiện thân Bíchchi Phật, Bồ-tát, Phật để độ thoát. Phật tử! Có vô số cõi Phật, tùy thân hình chúng sinh và sự tin ưa sai khác mà thị hiện thọ thân; nhưng thật ra là đã xa lìa thân tướng sai biệt, luôn an trụ trong sự bình đẳng của các thân. Bồ-tát này biết thân chúng sinh, thân cõi nước, thân nghiệp báo, thân Thanh văn, thân Bích-chi-phật, thân Bồ-tát, thân Như Lai; biết thân trí, thân pháp, thân hư không. Bồ-tát này, biết sự ham thích sâu xa của chúng sinh; hoặc lấy thân chúng sinh làm thân mình; lấy thân chúng sinh làm thân cõi nước, thân nghiệp báo, thân Thanh văn, thân Bích-chi-phật, thân Bồ-tát, thân Như Lai, thân trí, thân pháp, thân hư không; hoặc lấy thân cõi nước làm thân mình, thân nghiệp báo, cho đến thân hư không; hoặc lấy thân nghiệp báo làm thân mình, cho đến thân hư không; hoặc lấy thân mình làm thân chúng sinh, thân cõi nước, thân nghiệp báo, thân Thanh văn, thân Bích-chi-phật, thân Bồ-tát, thân Như Lai, thân trí, thân pháp, thân hư không. Bồ-tát này biết thân tạo nghiệp, thân quả báo, thân phiền não, thân sắc, thân vô sắc, tướng to tướng nhỏ tướng nhơ tướng tịnh, tướng vô lượng, tướng rộng lớn, tướng điên đảo, tướng bằng phẳng, tướng quanh co, tướng vuông và tướng vuông sai khác của cõi nước Chư Phật; biết thân nghiệp báo là giả danh sai biệt; thân Thanh văn, thân Bích-chi-phật, thân Bồ-tát, thân Như Lai là giả danh sai biệt, khéo phân biệt giảng thuyết như thật các thân tướng: thân Bồ-đề, thân nguyện, thân hóa hiện, thân thọ thần lực, thân tướng tốt trang nghiêm, thân thế lực, thân ý sinh, thân phước đức, thân trí, thân pháp. Khéo phân biệt, giảng thuyết như thật các thân tướng; biết thân pháp là tướng bình đẳng, không hoại, biết thân hư không có tướng vô lượng, tướng cùng khắp, tướng vô hình. Bồtát này khéo biết sự sinh khởi các thân như vậy thì được mạng tự tại, tâm tự tại, tài vật tự tại, nghiệp tự tại, sinh tự tại, nguyện tự tại, tín giải tự tại, như ý tự tại, trí tự tại, pháp tự tại. Bồ-tát này đạt được mười tự tại của Bồ-tát. Lúc ấy, là người có trí chẳng thể nghĩ bàn, là người vô lượng trí, là người có trí rộng lớn, là người có trí không thể hoại. Bồtát tùy thuận trí tuệ như vậy, nên rốt ráo thường tịnh; phát khởi nghiệp thân, khẩu, ý, không có tội; nghiệp thân, nghiệp khẩu, nghiệp ý theo tác động của trí tuệ, lấy Bát-nhã ba-la-mật làm tăng thượng, đại Bi làm đầu, khéo tu phương tiện, khéo phát khởi thệ nguyện, được thần thông chư Phật ủng hộ, không bỏ trí làm lợi ích chúng sinh, biết tất cả mọi việc sai khác trong vô biên thế giới.

Các Phật tử! Nói tóm lại, Bồ-tát trụ địa Bất động, mọi việc làm của thân, khẩu, ý đều hợp với tất cả Phật pháp. Bồ-tát đạt địa này vì lìa được tất cả phiền não, nên an trụ trong tâm lực thanh tịnh; vì tâm không rời đạo, nên trụ trong tâm lực sâu xa; vì không bỏ chúng sinh, nên khéo an trụ trong bi lực rộng lớn; vì cứu tất cả thế gian, nên khéo trụ trong sức từ rộng lớn; vì không quên pháp đã nghe nên an trụ trong sức Đà-la-ni; vì phân biệt chọn lựa tất cả Phật pháp, nên khéo an trú trong tất cả sức nhạo thuyết; vì đi lại trong vô số thế giới khác, nên khéo an trụ trong sức thần thông; vì không bỏ hạnh nghiệp của Bồ-tát nên an trụ trong nguyện lực; vì tu tập tất cả Phật pháp nên an trụ trong lực Ba-la-mật; vì khéo phát khởi Nhất thiết chủng trí nên an trụ trong sức Như Lai. Bồ-tát này đạt trí lực như vậy, nên thị hiện làm mọi việc sẽ không bị lỗi lầm. Các Phật tử! Đại Bồ-tát ở địa này không thể bị hủy hoại, nên gọi là địa Bất động; trí tuệ không lay chuyển nên gọi là địa Không thoái chuyển; tất cả thế gian khó lường biết được, nên gọi là địa oai đức; không có tội lỗi gia nghiệp nên gọi là địa Vương tử; tùy ý tự tại nên gọi là địa sinh Bồ-tát; hoàn toàn không tạo tác nên gọi là địa Thành; khéo biết phân biệt nên gọi là địa cứu cánh; khéo phát khởi đại nguyện nên gọi là địa Biến hóa; không chấp các pháp nên gọi là địa Thắng xứ; khéo tu tập phát khởi tiên đạo, nên gọi là địa Vô công lực.

Các Phật tử! Đại Bồ-tát đạt trí tuệ như vậy, gọi là nhập cảnh giới Phật, được ánh sáng công đức Phật soi rọi, gọi là tùy oai nghi hạnh nghiệp của Phật, hướng đến Phật pháp, luôn được thần thông của Phật ủng hộ, luôn được Tứ Thiên vương, Thích Đề-hoàn Nhân, Phạm Thiên vương cung phụng, được thần Kim Cang mật tích hộ vệ, khéo phát khởi Thiền định sâu xa, luôn thị hiện vô lượng thân sai biệt. Trong mỗi thân, đều có uy lực, đạt quả báo lớn và sức thần thông, tự tại trong vô biên Tam-muội, được vô lượng sự thọ ký, tùy theo sự thành tựu của chúng sinh mà thị hiện thành tựu vô lượng Bồđề. Bồ-tát này nhập trí tuệ lớn như vậy, thông đạt hết các pháp, thường phóng ra ánh sáng trí tuệ lớn, vượt qua đạo pháp tánh không chướng ngại, biết đạo pháp sai khác của thế gian, thị hiện được tất cả công đức, tùy ý tự tại, hiểu rõ đời trước đời sau, nhập trong trí hồi chuyển ma đạo, nhập cảnh giới mà Như Lai đã tu hành, thường ở trong vô biên thế giới mà hành đạo Bồ-tát. Vì không tướng lay chuyển nên gọi địa này là Bất động.

Các Phật tử! Các Đại Bồ-tát ở địa Bất động, phát sinh sức Thiền định luôn gặp vô số chư Phật, không bỏ sự cúng dường nào, luôn cúng dường chư Phật. Bồ-tát này, trong mỗi kiếp, ở mọi nơi đều gặp vô số trăm ngàn vạn ức na-do-tha vô lượng, vô biên a-tăng-kỳ Phật để cung kính cúng dường, tôn trọng, ngợi khen tìm đủ mọi vật, mọi việc để cúng dường, gần gũi chư Phật, theo Phật học tất cả pháp môn sai khác của thế gian, dần dần vào sâu tạng pháp của Như Lai, học hỏi mọi sự sai khác của tánh thế gian, vẫn không cùng tận. Cho dù trải qua trăm ngàn vạn ức kiếp, cũng không thể nói hết, các căn lành lại càng sáng tịnh. Ví như vàng ròng đã được luyện thành xen lẫn tạp bảo làm ra chuỗi đeo vào cổ vị vua thống lãnh bốn châu thiên hạ, người cõi Diêm-phù-đề không thể đoạt được.

Các Phật tử! Đại Bồ-tát cũng thế, trụ địa Bất động này, các căn lành dần dần sáng tịnh, tất cả Thanh văn, Bích-chi-phật, cho đến Bồtát ở Địa thứ bảy cũng không thể hoại được. Bồ-tát trụ ở địa này khéo dùng môn trí phân biệt, nên ánh sáng trí tuệ diệt phiền não của chúng sinh. Phật tử! Ví như người làm chủ ngàn thế giới là Đại phạm Thiên vương, trong khoảnh khắc, lưu bố tâm Từ lan khắp ngàn thế giới, lại phóng ra ánh sáng khắp các cõi ấy. Phật tử! Đại Bồ-tát cũng thế, trụ trong địa Bất động, từ thân phóng ra ánh sáng soi khắp chúng sinh trong mười vạn tam thiên đại thiên thế giới, kế đến diệt trừ phiền não làm cho chúng được thanh tịnh.

Phật tử! Đó là lược nói địa Bất động của Đại Bồ-tát. Nếu nói rộng, thì dù trải qua vô lượng kiếp, cũng không thể nói hết. Bồ-tát trụ trong địa này, thường làm Đại phạm Thiên vương, chủ cả ngàn cõi, các căn lanh lợi, trao cho chúng sinh, đối với Thanh văn, Bích-chiphật, Bồ-tát thì đạo nhân duyên Ba-la-mật không bao giờ cùng tận. Nói trong tánh sai biệt của thế gian thì không ai hoại được. Làm những việc lành như bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự; tất cả đều không rời nhớ nghĩ về Phật, về pháp, về chúng Bồ-tát bạn; cho đến không rời nhớ nghĩ về Nhất thiết chủng trí. Luôn nghĩ: Bất cứ lúc nào, ở trong chúng sinh, ta cũng người đứng đu, người tôn quý, và luôn làm chỗ dựa cho tất cả chúng sinh. Bồ-tát này, nếu siêng năng tu tập thì trong khoảnh khắc sẽ đạt Tam-muội nhiều như số bụi trong trăm ngàn vạn tam thiên đại thiên thế giới; cho đến có thể thị hiện Bồ-tát quyến thuộc cũng nhiều như số vi trần trong trăm ngàn tam thiên đại thiên thế giới. Nếu dùng nguyện lực, thần thông tự tại, thì hơn số đấy; dù trải qua trăm ngàn ức kiếp cũng không thể nói hết.

Lúc ấy, Bồ-tát Kim Cang Tạng muốn nêu lại nghĩa trên, nên nói kệ rằng:

Bồ-tát Địa thứ bảy
Đã đạt tuệ phương tiện
Khéo tu pháp trợ đạo
Luôn luôn niệm đại nguyện
Được thần lực Phật hộ
Thành tựu các căn lành
Ví mong cầu thắng trí
An nhập Địa thứ tám
Khéo tu tập phước đức
Lại thêm Từ bi lớn
Bỏ những tâm hữu hạn
Tâm ví như hư không
Ở trong pháp giảng thuyết
Tâm đạt sức quyết định
Do vậy đạt tịch diệt
Vô sinh nhẫn vi diệu
Các pháp từ xưa nay
Không sinh cũng chẳng diệt
Không tướng, không xuất phát
Không mất cũng chẳng hành
Các pháp trước, giữa, sau
Như như, không phân biệt
Không có tâm ý hành
Ví như là hư không
Thành tựu nhẫn như vậy
Không có các hý luận
Đạt địa Bất động này
Hạnh sâu xa tịch diệt
Tất cả các thế gian
Không thể đo lường được
Tất cả tướng của tâm
Đều đã chấm dứt hết
Bồ-tát trụ địa này
Tâm thức không phân biệt
Như nhập diệt tận định
Không suy nghĩ phân biệt
Ví như người nằm mộng
Vội vàng muốn qua sông
Tỉnh dậy tâm trống rỗng
Tự biết không tạo tác
Đạt nhẫn sâu xa này
Diệt tất cả tưởng niệm
Cũng như các Phạm vương
Không phiền não cõi Dục
Trước nhờ nguyện lực hộ
Giờ được chư Phật dạy
Pháp nhẫn số một này
Là chức vị của Phật
Trí lực sâu của ta
Vô úy, pháp Bất cộng
Nay ông chưa có được
Hãy siêng năng tu tập
Ông nay tuy dập tắt
Tất cả lửa phiền não
Nhưng hãy xét thế gian
Phiền não luôn hừng hực
Hãy nhớ nguyện của mình
Muốn lợi ích chúng sinh
Nên hiểu hết các pháp
Rộng độ tất cả loài
Tướng thật tánh các pháp
Thường trụ không đổi khác.
Nhị thừa tuy đạt được
Không thể gọi là Phật
Chỉ đạt đến vô ngại
Trí sâu xa vi diệu
Nhờ thông hiểu ba đời
Nên được gọi là Phật
Là Đấng vô đẳng đẳng
Được trời người cúng dường
Mở bày các pháp trí
Khiến nhập pháp của Phật
Thành tựu không cùng tận
Vô lượng trí tuệ mầu
Các pháp hành từ trước
Chẳng bằng một niệm này
Các Bồ-tát như vậy
Đạt địa diệu trí tuệ
Dù chỉ trong một niệm
Thân đến khắp mười phương
Nhập môn trí tuệ này
Hành đạo nhanh không ngại
Như đi trong biển lớn
Nhờ sức gió đẩy nhanh
Bỏ hết tâm dụng công
Chỉ trụ trong trí nghiệp
Quán thế giới mười phương
Thành hoại và an trụ
Biết bốn đại là một
Lại biết mọi sai khác
Vô lượng tướng lớn nhỏ
Đủ các thứ sai biệt
Biết được số vi trần
Tam thiên đại thiên giới
Lại biết thân chúng sinh
Số vi trần bốn đại
Thân chư Thiên quý báu
Số vi trần sai khác
Soi sáng khắp mọi nơi
Các việc khác cũng vậy
Nhờ nhân duyên trí tuệ
Tâm dần được nhu hòa
Vì lợi ích chúng sinh
Thân cùng khắp các cõi
Lấy thân của chúng sinh
Làm thân của chính mình
Và các loại thân hình
Trong thế giới chư Phật
Như nhật nguyệt theo gió
Ảnh hiện trong dòng nước
Bồ-tát cũng như vậy
Tùy thuận gió trí tuệ
Thường trụ trong pháp tánh
Lặng yên không dời đổi
Với chúng sinh tâm tịnh
Hiện đủ loại thân hình
Tùy ý chúng ưa thích
Mà thị hiện thọ sinh
Ở trong hội trời người
Thị hiện thân hình ấy
Với nhân duyên Bồ-tát
Trong hòa hợp, tự tại
Cho đến tùy thuận ý
Mà thị hiện thân Phật
Thân chúng sinh, cõi nước
Thân nghiệp báo, Hiền thánh
Thân Trí và thân pháp
Biết đều là bình đẳng
Chính vì nhân duyên này
Đạt thần thông như ý
Vì khiến đời an vui
Mà hiện các thân hình
Nên đạt được mười thứ
Trí tự tại vi diệu
Làm việc bằng trí tuệ
Tùy thuận tâm Từ bi
Khéo léo tu tập hết
Tất cả pháp của Phật
Trụ trong ba tịnh nghiệp
Vững chãi như Tu-di
Lại đạt được mười lực
Của các Đại Bồ-tát
Tất cả chúng ma quân
Đều không lay chuyển được
Luôn được chư Phật hộ
Thích Phạm đều kính lạy
Thần Kim Cang mật tích
Luôn theo để hộ vệ
Bồ-tát đạt địa này
Công đức không hạn lượng
Trải qua trăm vạn kiếp
Không thể nói hết được
Gần gũi vô số Phật
Căn lành càng tăng trưởng
Như vàng ròng tạp bảo
Trang sức nơi cổ vua
Bồ-tát trụ địa này
Thường làm Đại Phạm vương
Làm chủ ngàn cõi nước
Công đức nhiều vô lượng
Thường dùng ba thừa giáo
Nhưng không hề cùng tận
Tâm từ sáng chiếu khắp
Phá trừ các phiền não
Nếu muốn trong chốc lát
Được vô số Tam-muội
Như số bụi trần trong
Tam thiên đại thiên cõi
Gặp được Phật mười phương
Số nhiều cũng như vậy
Nếu dùng nguyện lực mình
Hơn đây, không hạn lượng
Nay đã lược giảng thuyết
Diệu tướng Địa thứ tám
Nếu nói rộng về nó
Ngàn ức kiếp không hết.

*********

Phẩm 9: ĐỊA DIỆU THIỆN

Lúc Phật tử diễn thuyết
Diệu nghĩa Địa thứ tám
Do thần lực của Phật
Chấn động vô lượng cõi
Hiện thân Nhất thiết trí
Vô lượng quang vi diệu
Soi khắp mười phương cõi
Chúng sinh được an lạc
Ngàn vạn ức Bồ-tát
Đang trụ trong hư không
Cúng dường vật vi diệu
Vô số chư Thiên nhân
Đại tự tại Thiên vương
Và Tha hóa Thiên vương
Vui mừng và cúng dường
Phật, biển lớn công đức
Ngàn vạn các Thiên nữ
Cung kính và vui mừng
Cùng cất tiếng vi diệu
Khen ngợi công đức Phật
Vì thần lực của Phật
Phát sinh pháp vi diệu
Người khéo hành tịch diệt
Không có những tâm ác
Đều ở trong địa này
Tu tập hạnh Bồ-tát
Vì lợi ích thế gian
Đi khắp cả mười phương
Dạy chúng sinh Phật pháp
Tâm trống rỗng vô ngại
Thần lực các Bồ-tát
Cúng dường vật thượng diệu
Hơn trời người mười phương
Do phước đức đưa đến
Phật tử thích người trí
Nhờ đấy hiện Phật lực
Ở một cõi bất động
Mà hiện khắp mọi nơi
Lợi ích cho thế gian
Như trăng sáng tròn đầy
Dứt tất cả âm thanh
Ngôn ngữ và tưởng nhớ
Mà dùng các âm thanh
Thuyết pháp như tiếng vang
Tùy chúng sinh thấp kém
Tâm họ chán và đắm
Hiện nói đạo Thanh văn
Làm thoát khỏi các khổ
Tùy chỗ chúng sinh có
Giảng thuyết đạo Thanh văn
Những kẻ ít lanh lợi
Thích các pháp nhân duyên
Thì thuyết Bích-chi-phật
Tùy chỗ lợi căn có
Làm lợi ích chúng sinh
Có tâm Từ bi lớn
Thì giảng pháp Bồ-tát
Người tâm lớn vô thượng
Chắc chắn thích việc lớn
Thì hiện thành thân Phật
Thuyết vô lượng Phật pháp
Ví như nhà ảo thuật
Hiện các loại thân hình
Các thân tướng như vậy
Đều không thật sự có
Các Phật tử như vậy
Khéo biết giữ trí tuệ
Thị hiện tất cả hạnh
Tâm xa lìa có không
Ngàn vạn các Thiên nữ
Dùng tiếng hay ca ngợi
Ca ngợi như vậy rồi
Im lặng chiêm ngưỡng Phật
Giải Thoát Nguyệt lại thưa
Phật tử, Đại chúng tịnh
Nhất tâm và thích nghe
Chánh hạnh Địa thứ chín.

Bồ-tát Kim Cang Tạng nói:

–Phật tử! Các Đại Bồ-tát này dùng vô lượng trí như thế quán sát Phật đạo; muốn cầu tịch diệt giải thoát càng sâu xa hơn và muốn tư duy trí tuệ của Như Lai tốt hơn; muốn nhập pháp sâu xa bí mật của Như Lai; muốn phân biệt, nắm bắt đại trí tuệ không thể nghĩ bàn; muốn phân biệt các Tam-muội Đà-la-ni khiến thanh tịnh; muốn khiến các thần thông rộng lớn, muốn tùy thuận hạnh sai khác của thế gian; muốn tu tập các Lực, Vô úy, pháp Bất cộng của Phật, không ai hoại được; muốn tùy thuận hành sức chuyển pháp luân của chư Phật, không bỏ đại Bi, đại nguyện đã thọ trì được nhập Địa thứ chín. Bồtát trụ địa này biết như thật phát khởi hành pháp thiện, bất thiện, vô ký; biết hành pháp hữu lậu, vô lậu; hành pháp thế gian, xuất thế gian; hành pháp tư nghì, chẳng thể nghĩ bàn; hành pháp định, bất định; hành pháp Thanh văn, Bích-chi-phật, Bồ-tát, Như Lai; hành pháp hữu vi, vô vi. Tùy thuận trí tuệ như vậy, như thật biết tâm sở hành Bồ-đề khó, các phiền não khó, nghiệp khó, các căn khó, nguyện nhạo khó, tánh khó, chí tâm khó, thâm tâm khó, sinh khó, tàn khí khó, tam tụ sai biệt khó; biết tướng sai biệt của tâm, tướng tạp của tâm, tướng khinh chuyển của tâm; tướng hoại bất hoại của tâm, tướng của tâm, tướng vô biên tự tại của tâm, tướng vô hình, sai biệt thanh tịnh của tâm, tướng cấu, tướng vô cấu của tâm, tướng trói buộc của tâm, tướng cởi mở của tâm, tướng dua nịnh của tâm, tướng ngay thẳng của tâm, tướng tùy đạo của tâm… Tất cả đều biết như thật. Bồ-tát biết tướng sâu xa của phiền não, biết tướng thô cạn của phiền não, biết tướng bạn, tướng không rời của tâm phiền não, biết tướng trói buộc, sai khác, biết tướng tâm ấy tương ưng hay không tương ưng, biết tướng quả báo khi sinh, biết các tướng sai khác trong ba cõi, biết tướng ái, si, kiến nhập sâu như mũi tên, biết tướng tội nặng của kiêu mạn si; biết tướng nhân duyên ba nghiệp không đoạn, cho đến biết như thật tướng sai biệt của tám vạn bốn ngàn phiền não. Bồ-tát này biết tướng của các nghiệp thiện, bất thiện, vô ký, tướng phân biệt, chưa phân biệt; tướng bạn với tâm; tướng không xa lìa; tướng tự nhiên tận; tướng hành đạo tận; tướng chủng, tướng tập, tướng không mất quả báo, tướng thứ lớp, tướng hữu báo, tướng vô báo; tướng hắc hắc báo, bạch bạch báo; tướng hắc bạch hắc bạch báo; tướng không phải hắc, không phải bạch, chấm dứt nghiệp; biết tướng nơi khởi nghiệp; tướng thọ nghiệp pháp sai khác; biết tướng nghiệp vô lượng nhân duyên khởi; biết tướng sai khác của nghiệp thế gian, nghiệp xuất thế gian; tướng hiện báo, tướng sinh báo, tướng hậu báo; tướng tùy thuận các nghiệp định, bất định; cho đến biết như thật tướng sai biệt của tám vạn bốn ngàn nghiệp. Bồ-tát này biết tướng sai biệt của các căn nhu nhuyến, vừa phải, lanh lợi; biết tướng sai biệt của đời trước, đời sau, tướng không sai khác; biết tướng thượng trung hạ; biết tướng bạn của phiền não; tướng không, rời nhau; tướng tùy thuận các thừa, định, bất định; tướng thuần thục, tướng chưa thuần thục; tướng tùy tâm hành, tướng hư hoại, tướng giữ chặt, tướng tăng thượng, tướng không hoại được, tướng chuyển, tướng bất chuyển; tướng sai biệt của ba đời, tướng sai biệt sâu xa an ổn cùng sinh; cho đến biết như thật tướng sai biệt của tám vạn bốn ngàn căn. Bồ-tát này biết tướng nhu nhuyến, vừa phải, lanh lợi trong dục lạc của chúng sinh; cho đến biết như thật tướng sai khác của tám vạn bốn ngàn dục lạc. Bồ-tát này biết tướng các tánh nhu nhuyến, vừa phải, lanh lợi, cho đến biết như thật tướng sai biệt của tám vạn bốn ngàn tánh. Bồ-tát này biết tướng nhu nhuyến, lanh lợi, vừa phải, của tâm sâu xa, cho đến biết như thật tướng sai biệt của tám vạn bốn ngàn tâm sâu xa. Bồ-tát này phân biệt và biết được các kết sử trói buộc cùng sinh với tâm, không cùng sinh với tâm; tâm tương ưng, tâm không tương ưng; tướng thâm nhập, tướng từ vô thỉ đến nay theo não hại chúng sinh, trái với tất cả thiền định giải thoát, thần thông, nó trói buộc chắc chắn trong ba cõi, trói buộc tâm vô lượng không để hiện tiền, mở cửa các nghiệp, không hay biết tướng có thể đối trị tướng vô sở hữu, tướng vô định sự, tướng không khác Thánh đạo, tướng diệt động. Bồ-tát này biết như thật tướng sai biệt của chúng sinh; đó là sự sai biệt của địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ, A-tu-la, trời, người, sự sai biệt của Sắc giới, Vô sắc giới; sự sai biệt hữu tưởng, vô tưởng. Nghiệp là ruộng, ái là nước, vô minh là tối tăm, thức bị che là hạt giống, thân sau là mầm, danh sắc cùng sinh không rời nhau; tướng si ái tương tục; dục sinh, dục tác, dục ái không rời tướng ưa chúng sinh; phân biệt tướng sai biệt ba cõi, tướng tam hữu tương tục; tất cả đều biết như thật. Bồ-tát này biết như thật các tập khí, hoặc hữu dư, hoặc vô dư, tùy nơi thọ sinh có tập khí, tùy chúng sinh cộng trụ có tập khí, tùy nghiệp phiền não có tập khí; thiện, bất thiện, vô ký có tập khí; lìa dục có tập khí; tùy thân sau có tập khí; tuần tự rong ruổi có tập khí; tướng thâm nhập đạo đoạn, tướng trì phiền não, xa lìa thì không còn pháp. Tất cả đều biết như thật. Bồ-tát này biết như thật tướng định, tướng bất định của chúng sinh, tướng chánh định, tướng tà định; tướng bất định, tướng tà định trong tà kiến; tướng chánh định trong chánh kiến; rời xa hai tướng vô định này, mỗi cái ngũ nghịch là tướng tà định, năm căn là tướng chánh định, tà vị là tà định, chánh vị là chánh định. Vì không còn tạo tác nữa, lìa hai vị này, đó là tướng bất định, thâm nhập nhóm tà có tướng khó chuyển được, phải khiến tu tướng nhân duyên đạo vô thượng; nhóm bất định, nhóm tà định, tướng thủ hộ chúng sinh đều biết như thật.

Phật tử! Các Đại Bồ-tát tùy thuận trí như vậy, gọi là an trụ địa Diệu thiện. Bồ-tát trụ địa này, biết tướng các hành sai khác của chúng sinh, như thế tùy sự giải thoát mà tạo nhân duyên. Bồ-tát này, biết pháp giáo hóa chúng sinh, biết pháp độ chúng sinh. Biết như thật, rồi thuyết pháp về tướng của Thanh văn thừa, tướng Bích-chi-phật thừa, tướng Bồ-tát thừa, tướng Như Lai địa. Biết như thật tùy thuận nhân duyên của chúng sinh mà thuyết pháp; tùy tâm tánh, tùy căn cơ, tùy dục lạc sai khác mà thuyết pháp; tùy hành xứ, trí tuệ xứ mà thuyết pháp; biết tất cả hành xứ theo đó mà thuyết pháp; tùy tánh chúng sinh, thâm nhập chỗ khó mà thuyết pháp; tùy đạo, tùy cuộc sống, tùy phiền não, tập khí chuyển mà thuyết pháp; tùy ham thích khiến được giải thoát mà thuyết pháp. Bồ-tát trụ địa này, làm đại Pháp sư gìn giữ tạng pháp của chư Phật. Tùy ở nghĩa sâu xa, đại Pháp sư sẽ dùng vô lượng tuệ phương tiện, bốn trí vô ngại, phát khởi ngôn từ Bồ-tát mà thuyết pháp. Bồ-tát này thường tùy thuận bốn trí vô ngại, nhưng không phân biệt. Bốn pháp đó là gì? 1. Pháp vô ngại. 2. Nghĩa vô ngại. 3. Từ vô ngại. 4. Nhạo thuyết vô ngại.

Bồ-tát này dùng trí pháp vô ngại biết tự tướng các pháp; dùng trí nghĩa vô ngại biết sự sai biệt của các pháp; dùng trí từ vô ngại biết thuyết các pháp không phân biệt; dùng trí nhạo thuyết vô ngại biết các pháp nối nhau không dứt. Lại dùng trí pháp vô ngại biết các pháp không thể tánh; dùng trí nghĩa vô ngại biết tướng sinh diệt của các pháp; dùng trí từ vô ngại biết giả danh của các pháp nhưng nói không đoạn giả danh; dùng trí nhạo thuyết vô ngại, nói tùy giả danh không hoại vô biên. Lại dùng trí pháp vô ngại biết tướng sai biệt của các pháp hiện tại; dùng trí nghĩa vô ngại biết tướng sai biệt của các pháp quá khứ, vị lai, dùng trí từ vô ngại biết các pháp quá khứ, vị lai, hiện tại mà dùng không phân biệt thuyết giảng; dùng trí nhạo thuyết vô ngại để trong mỗi đời được giảng vô biên pháp tướng. Lại dùng trí pháp vô ngại để biết các pháp sai biệt; dùng trí nghĩa vô ngại để biết nghĩa sai biệt của các pháp; dùng trí từ vô ngại để biết tùy thuận ngôn ngữ mà thuyết pháp; dùng trí nhạo thuyết vô ngại để tùy thuận sự ham thích hiểu biết mà thuyết pháp. Lại dùng trí pháp vô ngại và dùng trí pháp để biết sự sai biệt của các pháp; dùng phương tiện để biết sự không sai biệt của các pháp; dùng nghĩa vô ngại và tỷ trí biết như thật sự sai biệt của các pháp dùng trí từ vô ngại, trí thế giảng thuyết sự sai biệt của các pháp; dùng trí nhạo thuyết vô ngại để khéo giảng thuyết đệ nhất nghĩa. Lại dùng trí pháp vô ngại để biết một tướng không hư hoại của các pháp; dùng trí nghĩa vô ngại để khéo nhập ấm, nhập giới, xét kỹ pháp nhân duyên; dùng trí từ vô ngại làm cho tất cả thế gian có chỗ quy thú, vì dùng lời hay, vì dùng trí nhạo thuyết vô ngại nên việc thuyết giảng thù thắng làm cho chúng sinh đạt vô biên pháp sáng. Lại dùng trí pháp vô ngại để biết các pháp không có phân biệt, thâu nhiếp trong một thừa; dùng trí nghĩa vô ngại nhập môn phân biệt sự sai biệt của các pháp; dùng trí từ vô ngại thuyết giảng các thừa, nghĩa không phân biệt; dùng trí nhạo thuyết vô ngại để dùng một pháp môn thuyết vô biên pháp môn. Lại dùng trí pháp vô ngại có thể nhập tất cả hạnh Bồ-tát: Trí hành, pháp hành, tùy trí hành; dùng trí nghĩa vô ngại có thể phân biệt, thuyết giảng nghĩa sai khác của mười địa; dùng trí từ vô ngại không phân biệt, thuyết giảng đạo tùy thuận các địa; dùng trí nhạo thuyết vô ngại, thuyết giảng tướng vô biên của các hành. Lại dùng trí pháp vô ngại đẻ biết tất cả Phật, trong một niệm, đạt được Bồ-đề; dùng trí nghĩa vô ngại để biết các loại sai biệt của thời, xứ, dùng trí từ vô ngại để tùy thuận thuyết giảng sự sai khác về việc đắc đạo của chư Phật; dùng trí nhạo thuyết vô ngại, dù trải qua vô biên kiếp, giảng thuyết pháp cú không cùng tận. Lại dùng trí pháp vô ngại biết tất cả Phật pháp, lực Phật, Vô sở úy, pháp Bất cộng, đại Từ, đại Bi, Trí vô ngại, Chuyển pháp luân tùy thuận Nhất thiết trí; dùng trí nghĩa vô ngại, tùy âm thanh của Như Lai phát ra tám vạn bốn ngàn, tùy tâm, tùy căn cơ và tùy sự ham thích sai biệt của chúng sinh; dùng trí từ vô ngại, dùng âm thanh Như Lai, không phân biệt thuyết giảng tất cả các hành; dùng trí nhạo thuyết vô ngại, dùng sức trí tuệ của chư Phật để tùy chúng sinh thích âm thanh gì mà thuyết giảng. Các Phật tử! Đại Bồ-tát khéo biết trí vô ngại như vậy, an trụ Địa thứ chín, gọi là đạt tạng pháp của chư Phật; có thể làm bậc đại pháp sư; thông đạt chúng nghĩa Đà-la-ni; chúng pháp Đà-la-ni; khởi trí, chúng minh Đà-la-ni, thiện ý Đà-la-ni, chúng tài Đà-la-ni, danh văn Đà-la-ni, oai đức Đà-la-ni, vô ngại Đà-la-ni, vô biên toàn Đà-lani, nghĩa Đà-la-ni. Đạt trăm vạn a-tăng-kỳ Đà-la-ni như vậy, tùy phương tiện mà giảng thuyết vô lượng pháp môn sai biệt như thế. Bồ-tát này đạt vô lượng môn Đà-la-ni như vậy, có thể ở chỗ vô lượng Phật nghe pháp, nghe rồi không quên, còn giảng thuyết lại cho mọi người bằng vô lượng pháp môn sai khác như đã nghe. Bồ-tát này, ở chỗ một Đức Phật, dùng trăm vạn a-tăng-kỳ Đà-la-ni nghe thọ pháp. Nghe pháp ở một Đức Phật như vậy, ở vô lượng, vô biên Đức Phật cũng vậy. Bồ-tát này lúc lạy Phật, nghe pháp sáng chẳng phải nhờ học nhiều ở Thanh văn đạo mà đạt sức mà trải qua mười vạn kiếp thọ trì. Bồ-tát này, đạt sức Đà-la-ni, các trí vô ngại, sức nhạo thuyết nên khi thuyết pháp, ngồi ở pháp tòa mà tùy ý thuyết pháp cho chúng sinh trong tam thiên đại thiên thế giới. Bồ-tát này ngồi trên pháp tòa là người thù thắng nhất, trừ chư Phật và các Đại Bồ-tát; Bồ-tát này trong tâm đạt vô lượng pháp minh. Bồ-tát này ngồi tại pháp tòa dùng một âm thanh, làm cho tất cả đại chúng đều hiểu rõ; hoặc dùng mọi thứ âm thanh, làm cho đại chúng đều hiểu rõ; hoặc im lặng chỉ phóng ra ánh sáng mà làm cho hết thảy đại chúng hiểu rõ pháp; hoặc từ tất cả lỗ chân lông phát ra pháp âm; hoặc vật có sắc, không sắc trong tam thiên đại thiên thế giới đều phát ra pháp âm; hoặc dùng một âm biến khắp các cõi, làm cho chúng sinh đều hiểu. Bồ-tát này, dù cả chúng sinh trong tam thiên đại thiên thế giới đồng thời vấn nạn, mỗi chúng sinh dùng vô lượng, vô biên âm thanh sai khác để vấn nạn, những gì người này hỏi, người khác không hỏi lại thì Bồ-tát ấy, trong một niệm, nhận tất cả sự vấn nạn nhưng chỉ dùng một âm thanh làm cho tất cả đều hiểu rõ. Cứ thế, dù hai tam thiên đại thiên thế giới; ba, bốn, năm, mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi, năm mươi, hoặc trăm, tam thiên đại thiên thế giới, hoặc ngàn tam thiên đại thiên thế giới, hoặc một vạn, mười vạn, trăm vạn, hoặc một ức tam thiên đại thiên thế giới, hoặc mười ức, trăm ngàn ức na-do-tha cho đến không thể nói, không thể nói tam thiên đại thiên thế giới, đầy cả chúng sinh trong đó cũng đều rộng thuyết pháp cho họ. Khi thuyết pháp, nương thần lực Phật, có thể chúng sinh rộng làm các việc Phật, siêng năng hơn nữa, để thâu giữ trí sáng như vậy. Giả như trong một hào ly, có không thể nói, không thể nói số thế giới vi trần đại hội, Đức Phật ở trong đó thuyết pháp, Phật tùy thuận bao nhiêu tâm chúng sinh mà thuyết pháp, làm cho mỗi chúng sinh đều đạt vô lượng pháp. Như một Đức Phật, tất cả chư Phật ở trong đại hội thuyết pháp, cũng đều như vậy; như đầu một sợi lông, tất cả thế giới ở mười phương cũng đều như vậy, ở trong đó, phát sinh sức nhớ nghĩ lớn; ở trong một niệm có thể đến chỗ tất cả Phật, thọ tất cả pháp sáng nhưng không mất một câu. Ví như vô số chúng sinh trong đại hội nghe pháp, lúc đó, Bồ-tát dùng pháp môn thanh tịnh quyết định thuyết giảng làm cho chúng đều khai ngộ. Trong một niệm, làm cho tất cả chúng sinh đều hoan hỷ, huống gì chúng sinh trong vài thế giới.

Bồ-tát trụ trong địa này, căn lành dần tăng trưởng, ngày đêm không còn niệm khác, thâm nhập hành xứ của chư Phật, thường ở chỗ Phật, thâm nhập giải thoát của Bồ-tát, thâm nhập tùy thuận của Bồtát. Nhờ trí như vậy, thường được gặp chư Phật. Trong mỗi kiếp, đem vô lượng, vô biên trăm ngàn ức phẩm vật vi diệu, cúng dường chư Phật, ở chỗ các Đức Phật học hỏi tất cả, thông đạt các pháp Đà-la-ni. Bồ-tát này, căn lành dần được sáng suốt. Phật tử! Ví như vàng ròng đã được luyện thành đồ trang sức, đầy đủ sự đẹp đẽ làm mão báu hay chuỗi ngọc cho Chuyển luân thánh vương sử dụng, thì tất cả những vua nhỏ và người trong bốn cõi không thể đoạt được. Các Phật tử! Đại Bồ-tát cũng thế, trụ ở địa Diệu thiện này, các căn lành dần dần được sáng suốt, không ai hoại được, Thanh văn, Bích-chi-phật và Bồ-tát ở các địa dưới không thể hoại được. Bồ-tát này, căn lành sáng suốt, chiếu khắp những chỗ hiểm nạn phiền não của chúng sinh, chiếu xong thâu lại.

Phật tử! Ví như Đại phạm vương, trong tam thiên đại thiên thế giới, soi rọi được tất cả những chỗ hiểm nạn. Bồ-tát cũng thế, trụ ở địa Diệu thiện, căn lành sáng suốt, soi chiếu tất cả chỗ hiểm nạn phiền não của chúng sinh, chiếu xong thâu lại.

Phật tử! Đó là lược nói địa Diệu thiện, Địa thứ chín của Đại Bồtát. Nếu nói rộng, thì dù trải qua vô lượng vô số kiếp, cũng không thể hết. Đại Bồ-tát trụ trong Địa này thường làm Đại phạm vương, làm chủ cả tam thiên đại thiên thế giới không ai hơn được. Người hiểu nghĩa như thật, ở trong tự tại mà đạt tự tại; khéo giảng thuyết cho Thanh văn, Bích-chi-phật, Ba-la-mật của Bồ-tát, chúng sinh có vấn nạn cũng không bị cùng tận. Tạo những nghiệp lành như Bố thí, Ái ngữ, Lợi hành, Đồng sự đều không rời niệm Phật, niệm pháp và niệm chúng Bồ-tát bạn, cho đến không rời niệm Nhất thiết chủng trí; luôn nghĩ, bất cứ lúc nào, ở trong chúng sinh ta là người đứng đầu, người tôn quý, cho đến là chỗ nương tựa cho tất cả chúng sinh. Bồ-tát này nếu siêng năng tu tập, thì trong khoảnh khắc, đạt số Tam-muội nhiều như số bụi trần trong trăm vạn a-tăng-kỳ tam thiên đại thiên thế giới; cho đến thị hiện được vô số Bồ-tát và quyến thuộc nhiều như số bụi trần trong trăm vạn a-tăng-kỳ tam thiên đại thiên thế giới. Nếu dùng nguyện lực, thần thông tự tại, thì hơn số này, dù trải qua trăm ngàn ức na-do-tha kiếp, cũng không thể nói hết.

Lúc ấy, Bồ-tát Kim Cang Tạng muốn nêu lại nghĩa trên nên nói kệ rằng:

Các Bồ-tát tùy thuận
Vô lượng trí lực sâu
Là vi diệu số một
Tất cả đời khó biết
Người lợi ích chúng sinh
Đạt đến Địa thứ chín
Được nhập tạng bí mật
Của tất cả chư Phật
Đạt được Đà-la-ni
Tam-muội vi diệu nhất
Sức thần thông rộng lớn
Khéo nhập tướng thế gian
Sức trí tuệ bền chắc
Quán sát các Phật pháp
Nguyện lớn, tâm bi tịnh
Nhập được Địa thứ chín
Thuận thành địa cao thượng
Giữ tạng pháp chư Phật
Liền thông đạt các pháp
Thiện, bất thiện, vô ký
Hữu lậu và vô lậu
Thế gian, xuất thế gian
Đây so lường xét được
Kia không thể suy lường
Biết pháp định, bất định
Đầy đủ tướng ba thừa
Suy xét và phân biệt
Tướng hữu vi, vô vi
Biết các pháp như vậy
Phá trừ tối vô minh
Tùy thuận tâm trí này
Là vi diệu số một
Biết tất cả chúng sinh
Hiểm nạn các tạp tâm
Tâm khinh suất chuyển đổi
Tâm vô biên tự tại
Tướng phiền não cạn sâu
Gần tâm, không rời tâm
Lại biết tướng trói buộc
Tùy thuận có liên tục
Biết đủ các tạp nghiệp
Với bao tướng sai khác
Nhân diệt, quả không mất
Thông đạt việc như vậy
Lại biết các chúng sinh
Các căn độn, vừa, lợi
Rộng lớn và sai biệt
Tướng đời trước, đời sau
Thượng, trung, hạ khác nhau
Và các thứ dục lạc
Cho đến biết tất cả
Tám vạn bốn ngàn loại
Tánh thế gian cũng thế
Chỗ phiền não khó thấy
Từ xưa nay không đoạn
Tất cả kết sử, tâm
Luôn cộng hành với tâm
Buộc tâm khó đoạn trừ
Biết tất cả kết sử
Chỉ vọng tưởng bất định
Không có chỗ dừng ở
Cũng là tướng bất định
Lại không rời xa thân
Và thật là khó biết
Sức Thiền định ngăn được
Kim Cang đạo đoạn được
Lại biết các chúng sinh
Vào sáu đạo sai khác
Sông ái, si, che lấp
Ruộng, nghiệp, biết là giống
Là mầm sinh thân sau
Danh sắc cùng tăng trưởng
Từ xưa nay, sinh tử
Liên tục trong ba cõi
Biết cả trời và rồng
Tâm phiền não nghiệp thân
Nếu xa lìa tâm ý
Thì không hề có gì
Tất cả các chúng sinh
Đều ở trong ba tụ
Hoặc chìm trong tà kiến
Hoặc ở trong trí đạo
Bồ-tát trụ địa này
Biết tâm của chúng sinh
Các căn và dục lạc
Đủ các thứ sai biệt
Thâm tâm khéo suy xét
Tùy nghi mà thuyết pháp
Trí vô ngại thông đạt
Khéo dùng ngôn từ dạy
Bồ-tát là Pháp sư
Ví như Sư tử chúa
Trâu chúa và núi chúa
An trụ không lo sợ
Mưa thức ăn cam lồ
Khắp tất cả các cõi
Ví như rồng chúa lớn
Mưa ngập cả biển lớn
Bồ-tát này khéo biết
Pháp, Nghĩa, Từ vô ngại
Tùy thuận mà thực hành
Đầy đủ sức nhạo thuyết
Và đạt được trăm vạn
A-tăng-kỳ Tổng trì
Lãnh thọ pháp của Phật
Như biển nhận nước mưa
Bồ-tát đã đạt được
Sức thanh tịnh sâu xa
Vô lượng Đà-la-ni
Và sức các Tam-muội
Chỉ trong một khoảnh khắc
Thấy được vô lượng Phật
Nghe Phạm âm thanh tịnh
Diễn nói pháp vi diệu
Bồ-tát này giáo hóa
Chúng sinh đại thiên giới
Tùy tâm căn ưa thích
Thuyết pháp khiến vui vẻ
Cứ thế có vô lượng
Tam thiên đại thiên cõi
Sâu xa và siêng năng
Suy xét việc như vậy
Trên đầu một sợi lông
Vô lượng Phật thuyết pháp
Phật vì tất cả chúng
Diễn nói pháp vi diệu
Bồ-tát lãnh thọ pháp
Như đất nhận hạt giống
Lại phát lời thệ nguyện
Tất cả các chúng sinh
Trong cõi nước mười phương
Đều hợp thành một hội
Chỉ trong một khoảnh khắc
Biết tâm niệm của chúng
Dùng một tiếng thuyết pháp
Đoạn trừ hết lưới nghi
Bồ-tát trụ địa này
Pháp vương của trời người
Làm bậc đại Pháp sư
Tùy thuận tâm chúng sinh
Suốt cả ngày lẫn đêm
Cùng ở chỗ chư Phật
An trụ thâm diệu
Tịch diệt trí giải thoát
Cúng dường vô lượng Phật
Căn lành dần sáng tịnh
Ví như Chuyển luân vương
Trang sức vàng trên mão
Ánh sáng chiếu chúng sinh
Nơi phiền não hiểm nạn
Như ánh sáng Phạm vương
Chiếu khắp đại thiên cõi
Bồ-tát trụ địa này
Thường làm Đại phạm vương
Chủ tam thiên đại thiên
Các căn đều lanh lợi
Khéo dùng phép ba thừa
Khai thị độ chúng sinh
Làm tất cả nghiệp lành
Đều tùy thuận chánh niệm
Chỉ trong một khoảnh khắc
Đạt Tam-muội nhiệm mầu
Nhiều như số bụi trần
Trong vô lượng cõi nước
Thấy mười phương chư Phật
Dùng diệu âm thuyết pháp
Thấy thần lực của Phật
Lại phát vô lượng nguyện
Địa thứ chín như thế
Nơi đại trí thực hành
Sâu xa khó thấy biết
Nay đã lược nói xong.

 

Phẩm 10: ĐỊA PHÁP VÂN

Đã nói việc vô thượng
Mà Bồ-tát thực hành
Vô số na-do-tha
Chư Thiên Thủ đà hội
Đang ở trong hư không
Đều vui mừng khôn xiết
Ai nấy đều cung kính
Cúng Phật vật thượng diệu
Na-do-tha Bồ-tát
Vui mừng không hạn lượng
Đốt các hương thơm lạ
Diệt trừ mọi phiền não.
Tha hóa tự tại vương
Và các chúng cõi trời
An trụ trong hư không
Tâm vui mừng khôn xiết
Ai nấy đều cung kính
Cúng dường đủ các loại
Và rải những y báu
Từ hư không bay xuấng.
Vô lượng ức Thiên nữ
Các căn đều tươi vui
Đang ở trong hư không
Cung kính cúng dường Phật
Lại trổi vô lượng ức
Na-do-tha kỹ nhạc
Trong tất cả mọi vật
Đều phát tiếng như vậy.
Phật ngồi ở nơi này
Nhưng hóa thân khắp cả
Trong cõi nước mười phương
Đều có Phật thị hiện
Đầy đủ vô lượng ức
Tướng tốt trang nghiêm thân
Xinh đẹp không ai bằng
Ở trong khắp mọi nơi
Trong mỗi lỗ chân lông
Phóng vô lượng ánh sáng
Dập tắt hết tất cả
Lửa phiền não thế gian
Như số bụi mười phương
Không thể nào đếm hết
Ánh sáng mỗi chân lông
Cũng không thể cùng tận
Thấy mỗi thân Đức Phật
Đủ ba hai tướng tốt
Và tám mươi vẻ đẹp
Chuyển xe pháp vô thượng
Hoặc thấy vô số Phật
Thuyết pháp cho chúng sinh
Hoặc thấy ở Đâu-suất
Giáo hóa các thiên nhân
Hoặc thấy từ Đâu-suất
Giáng hạ ở trong thai
Hoặc thấy lúc đản sinh
Hoặc thấy đêm xuất gia
Hoặc thấy ngồi nơi đạo tràng
Mà thành đạo Vô thượng
Hoặc thấy chuyển xe pháp
Hoặc thấy nhập Niết-bàn…
Ở vô lượng cõi nước
Thị hiện đủ mọi cách
Để độ thoát chúng sinh
Nên có việc như vậy.
Ví như nhà ảo thuật
Biết các thuật huyễn ảo
Thị hiện những chúng sinh
Đủ các loại hình tướng
Trí tuệ Phật cũng thế
Khéo léo mà thị hiện
Biến hóa các loại thân
Khắp tất cả thế gian
Như các pháp vắng lặng
Xưa nay không tánh tướng
Trống rỗng như hư không
Đại sư cũng như vậy
Thâm nhập nghĩa đệ nhất
Tánh tướng rất vi diệu
Tùy tánh tướng của pháp
Hiện đại thần lực Phật
Tánh hạnh của chư Phật
Của tất cả chúng sinh
Đều ở trong tánh ấy
Tướng, khả tướng, đồng tướng
Tất cả các pháp đó
Nhập vào nghĩa đệ nhất
Trong nghĩa thú tịch diệt
Hoàn toàn không có tướng
Nếu muốn được trí Phật
Hãy bỏ các vọng niệm
Thông đạt cả có không
Làm thầy của trời người
Các thể nữ cõi trời
Đều cất ngàn vạn tiếng
Vi diệu lại hay ho
Im lặng chiêm ngưỡng
Phật Bồ-tát Giải Thoát Nguyệt
Thấy đại chúng im lặng
Thưa với Kim Cang Tạng
Phật tử đại danh xưng
Bồ-tát từ cửu địa
An nhập Địa thứ mười
Xin đấng đại thần lực
Vì đại chúng lược nói.

Bấy giờ, Bồ-tát Kim Cang Tạng nói:

–Phật tử! Đại Bồ-tát có vô lượng trí tuệ như vậy, khéo tu hành Phật đạo đạt đến Địa thứ chín, khéo tu tập các bạch pháp, tu vô lượng pháp trợ đạo, được đại công đức trí tuệ hộ trì, rộng tu hạnh đại Bi, phân biệt biết rõ tánh sai biệt của thế gian, vào các chỗ nạn xứ của chúng sinh, đến chỗ của Như Lai hành, nhớ nghĩ tùy thuận vào chỗ hành tịch diệt của Như Lai, hướng đến Thần lực, Vô sở úy, pháp Bất cộng của Phật, kiên trì không bỏ, đạt địa vị Nhất thiết trí tuệ. Các Phật tử! Đại Bồ-tát tùy hành trí như vậy, gần địa vị Phật, thì hiện tiền đạt các Tam-muội ly cấu của Bồ-tát; lại nhập Tam-muội Pháp tánh sai biệt, Tam-muội Trang nghiêm đạo tràng, Tam-muội Vũ nhất thiết thế gian hoa quang, Tam-muội Hải tạng, Tam-muội Hải ấn, Tam-muội Hư không quảng, Tam-muội Quán trạch nhất thiết pháp tánh, Tam-muội Tùy nhất thiết chúng sinh tâm hành, Tam-muội Như thật trạch nhất thiết pháp, Tam-muội Đắc Như Lai trí tín; đạt trăm vạn a-tăng-kỳ Tam-muội như vậy ngay trong hiện tại. Bồ-tát này nhập được những Tam-muội này, biết rõ công dụng sai biệt của chúng. Tam-muội cuối cùng là Ích nhất thiết trí vị. Lúc Tam-muội này hiện tiền, hoa sen báu lớn xuất hiện tròn đầy, như trăm vạn tam thiên đại thiên thế giới. Tất cả các báu khác trang hoàng xen lẫn nhiều hơn tất cả những vật quý có trong thế gian, đó là sự phát sinh do căn lành xuất thế gian. Các pháp hành như huyễn, do tuệ tánh không thành tựu, ánh sáng soi chiếu tất cả thế giới. Cọng sen bằng lưu ly báu hơn tất cả vật báu có ở cõi trời, đài bằng chiên-đàn vương không thể lường, tua bằng mã não, cánh bằng vàng Diêm-phù-đàn. Bên trong có vô lượng ánh sáng, tất cả báu đẹp đều ở trong đó, lưới báu che bên trên. Lại có vô số hoa sen bao quanh, nhiều như số bụi trong mười tam thiên đại thiên thế giới. Lúc ấy, thân Bồ-tát tươi đẹp như đóa hoa. Bồ-tát này, vì đạt sức Tammuội Ích nhất thiết trí, nên hiện thân ngồi trên tòa sen lớn. Tức thời các quyến thuộc trên hoa sen đều có Bồ-tát vây quanh, mỗi Bồ-tát, ngồi trên hoa sen, đề đạt trăm vạn Tam-muội, đều nhất tâm cung kính, chiêm ngưỡng Đại Bồ-tát. Lúc Bồ-tát này lên tòa sen; tất cả các cõi nước hiện ở mười phương đều chấn động; tất cả cõi ác đều chấm dứt; ánh sáng chiếu khắp các cõi nước mười phương; tất cả cõi nước đều sáng đẹp, thấy nghe được tất cả đại hội của chư Phật. Vì sao? Vì Bồ-tát này khi ngồi trên tòa sen lớn, thì ở dưới chân phóng ra trăm vạn a-tăng-kỳ ánh sáng, chiếu khắp mười phương, đến tận ngục A-tỳ, diệt trừ khổ não cho chúng sinh. Trên hai đầu gối, phóng vô số ánh sáng, chiếu khắp mười phương, đến hết thảy loài súc sinh để diệt trừ khổ não. Từ rốn, phóng vô số ánh sáng, chiếu khắp mười phương, đến hết thảy loài ngạ quỷ để diệt trừ khổ não. Hai bên hông, phóng ra vô số ánh sáng, chiếu khắp cõi người ở mười phương, làm cho an ổn, khoái lạc. Hai tay phóng vô số ánh sáng, chiếu khắp cung điện cõi trời và Atu-la. Hai vai, phóng vô số ánh sáng, chiếu khắp mười phương, đến chúng Thanh văn. Cổ phóng vô số ánh sáng, chiếu khắp mười phương, đến chúng Bích-chi-phật. Miệng, phóng vô số ánh sáng, chiếu khắp mười phương, đến cả Bồ-tát trụ Địa thứ chín. Từ lông trắng, phóng vô số ánh sáng, chiếu khắp mười phương, đến vị Đại Bồ-tát. Tất cả cung ma đều bị che khuất không hiện. Trên đỉnh đầu, phóng vô số ánh sáng, nhiều như số bụi trong trăm ngàn a-tăng-kỳ tam thiên đại thiên thế giới, chiếu đến đại hội của chư Phật nơi mười phương, nhiễu quanh mười vòng, trụ trong hư không, thành lưới ánh sáng cao lớn rực rỡ, cúng dường chư Phật. Sự cúng dường của hàng Bồ-tát từ lúc phát tâm cho đến Địa thứ chín, so với sự cúng dường này, không bằng một phần trăm, cho đến không bằng một phần trăm ngàn vạn ức, cho dù tính đếm ví dụ thế nào cũng không bằng được. Lưới ánh sáng này hơn tất cả vật cúng dường của mười phương cõi nước như hương hoa, hương bột, hương đốt, hương xoa, y phục, cờ phướn lọng báu, chuỗi ngọc, châu ma-ni. Vì nó từ căn lành xuất thế phát sinh. Trên mỗi chư Phật của đại hội, đều có mưa báu vậy như mây lớn. Chúng sinh nào biết được sự cúng dường này chắc chắn sẽ đạt đạo lớn vô thượng. Phóng ra ánh sáng và mưa lớn cúng dường xong, nhiễu quanh đại hội chư Phật mười vòng, nhập dưới chân của chư Phật. Lúc ấy, chư Phật và các Đại Bồ-tát trong hội, biết từ nước nào, Đại Bồ-tát nào đã hành đạo như vậy, và đã thành tựu chức thọ đó.

Các Phật tử! Ngay lúc đó, vô biên Bồ-tát, kể cả những vị đạt Địa thứ chín, đều đến vây quanh thiết lễ đại cúng dường, nhất tâm cung kính, chiêm ngưỡng, lễ lạy. Các Bồ-tát đạt vạn Tam-muội và đạt chức vị đó, từ báu kim cương trang sức trên ngực, phóng luồng ánh sáng lớn gọi là phá ma tặc. Có vô số trăm ngàn ánh sáng vây quanh, chiếu khắp các cõi nước mười phương, thị hiện vô lượng thần lực, rồi lại nhập nơi ngực Đại Bồ-tát. Khi ánh sáng này mất, Bồ-tát ấy sẽ đạt thế lực lớn, thần thông trí tuệ gấp trăm ngàn vạn lần.

Các Phật tử! Lúc đó, chư Phật phóng luồng ánh sáng ở lông trắng giữa chặng mày gọi là Ích nhất thiết trí vị, có vô lượng, vô biên ánh sáng bao quanh, chiếu khắp các cõi nước mười phương, không sót nơi nào. Chiếu quanh các cõi nước mười phương mười vòng, thị hiện sức thần thông lớn của chư Phật, khuyên dạy vô lượng, vô biên trăm ngàn vạn ức Bồ-tát. Tất cả các cõi nước ở mười phương, chấn động sáu cách, diệt trừ tất cả khổ não trong đường ác. Tất cả cung ma bị che mất, thị hiện nơi đắc đạo của tất cả chư Phật, thị hiện việc trang nghiêm đại hội của tất cả chư Phật, rộng lớn như tánh pháp, cứu cánh như hư không. Chiếu sáng tất cả cõi nước xong, trụ trong hư không, quay bên phải, thị hiện việc trang nghiêm đại thần thông, nhập trên đỉnh đầu của Bồ-tát này. Các ánh sáng khác, thì nhập trên đỉnh đầu của các Bồ-tát quyến thuộc. Lúc ấy, Đại Bồtát đều đạt mười ngàn Tam-muội mà trước chưa đạt. Ánh sáng đó, nhập trên đỉnh đầu Bồ-tát này. Như ánh sáng của một Đức Phật, ánh sáng của tất cả Đức Phật cũng vậy. Lúc ánh sáng của chư Phật ở mười phương, nhập trên đỉnh đầu của Bồ-tát thì gọi là đạt chức, là nhập cảnh giới của chư Phật. Phật tử! Ví như trưởng tử của Chuyển luân thánh vương, do đại phu nhân sinh ra, thành tựu tướng Chuyển luân vương. Chuyển luân thánh vương bảo con ngồi trên tòa vàng Diêm-phù-đàn của voi trắng báu, trang sức đủ loại, tràng phan, kỹ nhạc; cầm chuông vàng, đem nước thơm bốn biển rưới trên đỉnh đầu của con thì gọi là quán đỉnh. Đại vương đầy đủ mười nghiệp thiện gọi là Chuyển luân thánh vương.

Các Phật tử! Cũng thế, Đại Bồ-tát lúc nhận chức, chư Phật dùng nước trí rưới trên đỉnh đầu của Bồ-tát gọi là quán đỉnh Pháp vương, là đủ mười lực của Phật, vào hàng số Phật. Phật tử, đó là chức trí tuệ lớn của Đại Bồ-tát. Vì chức này, các Đại Bồ-tát chịu vô lượng trăm ngàn vạn ức khổ, làm các việc khó làm. Bồ-tát đạt chức này, là an trụ Địa Pháp vân của Bồ-tát, có vô lượng công đức, trí tuệ tăng trưởng.

Các Phật tử! Bồ-tát trụ địa Pháp vân này biết như thật tập cõi Dục, tập cõi Sắc, tập cõi Vô sắc; biết như thật tập thế gian tánh, tập chúng sinh tánh, tập thức tánh, tập hữu vi tánh, tập vô vi tánh, tập hư không tánh, tập pháp tánh, tập Niết-bàn tánh, tập tà kiến chư phiền não tánh; biết như thật hành pháp, hoàn pháp của thế gian biết như thật tập đạo Thanh văn, tập đạo Bích-chi-phật, tập đạo Bồ-tát, tập oai Lực, Vô úy, pháp Bất cộng của Phật; tập sắc thân, Pháp thân; tập Nhất thiết trí tuệ; như vậy tập đạt Phật đạo, tập chuyển pháp luân, tập thị hiện diệt độ. Nói tóm lại, biết như thật thị hiện tập tất cả pháp sai biệt. Bồ-tát này, dùng trí tuệ ấy tùy thuận hạnh Bồ-đề, dần dần thâm nhập như thật, biết sự huyễn hóa của chúng sinh, của nghiệp, của phiền não, của tà kiến, của tánh thế gian, của pháp tánh, của Thanh văn, của Bích-chi-phật, của Bồ-tát, của Như Lai; tất cả sự huyễn hóa, có huyễn hóa phân biệt, không phân biệt. Lúc ấy, Bồ-tát biết như thật sự hộ trì của Phật lực, về pháp xứ, về nghiệp, về phiền não, về thời gian, về nguyện, về đời trước, về hành, về kiếp sống, về trí. Bồ-tát trụ Địa thứ mười này, thì bao nhiêu hành trí vi tế của Phật như: Trí sinh tử vi tế, trí thế, trí xuất gia, trí đạt đạo, trí thần lực tự tại, trí chuyển pháp luân, trí giữ mạng sống, trí thị hiện Niết-bàn, trí làm pháp tồn tại lâu, đều biết như thật. Lại nữa, những chỗ bí mật của chư Phật như: Bí mật thân, khẩu, ý; bí mật trù lương; bí mật thời, phi thời; bí mật thọ ký cho Bồ-tát; bí mật nhiếp phục chúng sinh; bí mật các thừa sai khác; bí mật tám vạn bốn ngàn các căn sai biệt; bí mật tạo nghiệp như thật; bí mật hành; bí mật đạt đạo Bồ-đề; tất cả bí mật như thế đều biết như thật. Bồ-tát này đối với trí nhập kiếp số của Phật như: Một kiếp thâu nhiếp a-tăng-kỳ kiếp, a-tăng-kỳ kiếp thâu nhiếp một kiếp; có số thâu nhiếp không số; không số thâu nhiếp có số; một niệm thâu nhiếp vô lượng đời; vô lượng đời thâu nhiếp một niệm; kiếp thâu nhiếp phi kiếp; phi kiếp thâu nhiếp kiếp; kiếp có Phật thâu nhiếp kiếp không Phật; kiếp không Phật thâu nhiếp kiếp có Phật; kiếp quá khứ vị lai thâu nhiếp kiếp hiện tại; kiếp hiện tại thâu nhiếp kiếp quá khứ, vị lai; kiếp vị lai, quá khứ thâu nhiếp kiếp hiện tại; kiếp hiện tại thâu nhiếp kiếp vị lai, quá khứ; kiếp dài thâu nhiếp kiếp ngắn; kiếp ngắn thâu nhiếp kiếp dài; tất cả tướng thâu nhiếp của các kiếp đều như thế. Bồ-tát này, đối với trí nhập mao đạo của Phật, hoặc trí nhập vi trần, hoặc trí cõi nước, trí thân tâm, trí đắc đạo, hoặc trí chúng sinh thân tâm đắc đạo, trí chúng sinh hành, đạt đạo, trí biến hành Phật đạo, trí thuận hành thị hiện, trí nghịch hạnh thị hiện, trí bất khả tư nghì, có thể biết thế gian, có thể biết Thanh văn, có thể biết Bích-chi-phật, có thể biết Bồ-tát, có cái không thể biết, chỉ có Như Lai mới có thể biết, đều nhập như thật.

Phật tử! Trí của chư Phật rộng lớn vô lượng, vô biên. Bồ-tát trụ

địa này, sẽ nhập được trí tuệ như vậy. Phật tử! Đại Bồ-tát này, tùy thuận địa hành, đạt giải thoát không thể nghĩ bàn của Bồ-tát, đạt vô ngại giải thoát, tịnh hạnh giải thoát, phổ môn minh giải thoát, Như Lai tạng giải thoát, tùy vô ngại luận giải thoát, nhập ba đời giải thoát, pháp tánh tạng giải thoát, giải thoát minh giải thoát, ly sai biệt giải thoát. Các Phật tử! Bồ-tát này trước hết đạt mười giải thoát này. Cứ thế đạt vô lượng, vô biên trăm ngàn vạn ức a-tăng-kỳ giải thoát. Đều ở địa này đạt trăm ngàn vạn vô lượng a-tăng-kỳ Tam-muội, trăm ngàn vạn ức a-tăng-kỳ Đà-la-ni, trăm ngàn vạn ức a-tăng-kỳ thần thông, cũng đều như thế. Bồ-tát này thành tựu trí tuệ như vậy, tùy thuận Bồ-đề, thành tựu sức niệm vô lượng; có thể trong một niệm đến vô lượng cõi Phật ở mười phương, thọ vô lượng pháp minh, vô lượng mưa pháp, tất cả đều có thể thọ trì. Ví như Bà-ca-la Long vương làm mưa lớn, ngoài biển ra, các nơi khác không thể chứa đựng hết.

Phật tử! Đại Bồ-tát cũng thế, thọ trì mưa pháp lớn, nhập chỗ bí mật của Như Lai. Mưa pháp lớn này, tất cả chúng sinh Thanh văn, Bích-chi-phật-đều không thể thọ trì. Bồ-tát từ Sơ địa đến Địa thứ chín cũng không thể thọ trì; chỉ có Đại Bồ-tát trụ địa Pháp vân, mới thọ trì được.

Phật tử! Ví như biển lớn, nhận lấy hết nước mưa của một con rồng. Cho dù hai, ba, bốn, năm, mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi, năm mươi, trăm, ngàn, vạn, ức, trăm ức, ngàn vạn ức na-do-tha cho đến vô lượng, vô biên con rồng lớn, khởi mây làm mưa cùng một lúc, thì biển cũng nhận lấy hết. Vì sao? Vì biển lớn là vật chứa vô lượng. Các Phật tử, Đại Bồ-tát cũng thế, trụ địa Pháp vân ở chỗ một Đức Phật thọ trì mưa pháp lớn ở hai Đức Phật, ba bốn, năm, mười, trăm, ngàn, vạn, ức cho đến vô lượng, vô biên không thể xưng, không thể nói hết, không thể hạn lượng, vượt trên sự tính đếm, ở trong một khoảnh khắc cũng có thể thọ trì mưa pháp lớn của vô số chư Phật như vậy. Vì thế địa này gọi là địa Pháp vân.

Hỏi:

–Phật tử! Trong một khoảnh khắc, Đại Bồ-tát có thể thọ trì mưa pháp lớn của bao nhiêu Đức Phật?

Đáp:

–Không thể nào tính đếm biết được, chỉ có thể dùng ví dụ để biết. Phật tử! Ví như vô số chúng sinh nhiều như số bụi trong trăm ngàn vạn ức na-do-tha cõi nước, đều nghe và thọ trì Đà-la-ni, làm thị giả Phật, làm đại Thanh văn, làm bậc Đa văn bậc nhất, ví như Đức Phật Kim Cương Liên Hoa Thượng có Tỳ-kheo Đại Trạch là bậc đa văn bậc nhất, mỗi chúng sinh đó đều thành tựu sức đa văn như thế, tất cả chúng sinh khác cũng đều như vậy. Giáo pháp của người thứ nhất thọ trì thì người thứ hai không thọ trì. Cứ thế tất cả đều khác nhau. Phật tử! Các ông nghĩ sao? Tất cả chúng sinh thọ trì sức đa văn nhiều không?

Đáp:

–Vô lượng!

–Phật tử! Tôi sẽ nói cho các ông, Bồ-tát trụ địa Pháp vân này, trong một khoảnh khắc, ở chỗ Đức Phật, có thể thọ trì tạng pháp tánh ba đời, tên là Đại pháp minh vũ. Sức đa văn của tất cả chúng sinh ở trên, so với vị này thì trong trăm phần không bằng một phần, ngàn phần, vạn phần, ngàn vạn ức na-do-tha phần cho đến tính đếm ví dụ thế nào cũng không bằng được. Ở chỗ chư Phật nhiều như số bụi trong vô số thế giới nơi mười phương thọ trì mưa pháp lớn, cho dù hơn số này vô lượng, vô biên đi nữa, thì trong khoảnh khắc cũng thọ trì được đại pháp minh vũ; vì thế gọi là địa Pháp vân. Lại nữa, đại Bồ-tát trụ địa Pháp vân này, từ nguyện lực tự phát sinh đại Từ bi, phát tiếng sấm pháp lớn, những kẻ thông minh không sợ, cho là ánh chớp; phát trí tuệ lớn như là gió mạnh, căn lành đại phước đức như là mây đen, hiện các thân hình như là mây tạp sắc, thuyết pháp hàng phục ma như là tiếng sấm. Trong một niệm, biến khắp thế giới như đã nói ở thiên, hoặc hơn số đó; mưa pháp cam lồ, pháp lành, dập tắt lửa phiền não do tâm vô minh ham thích của chúng sinh phát ra. Vì thế gọi là Địa Pháp vân.

Lại nữa, các Phật tử! Đại Bồ-tát trụ địa Pháp vân này, ở trong một thế giới, từ cõi trời Đâu-suất giáng hạ, cho đến thị hiện đại Niết-bàn, làm mọi việc Phật, tùy sự độ thoát chúng sinh mà hiện thần lực, hoặc hai, tam thiên thế giới, cho đến vô số thế giới nhiều như số bụi đã nói ở trên. Lại còn hơn số đó trăm ngàn vạn ức a-tăngkỳ thế giới, từ cõi Đâu-suất giáng hạ cho đến thị hiện đại Niết-bàn, làm mọi việc Phật, tùy chúng sinh độ thoát mà hiện thần lực. Bồ-tát trụ địa này đạt sức tự tại lớn trong trí tuệ, khéo chọn trí tuệ lớn, hoặc lấy cõi nước nhỏ làm lớn, cõi nước lớn làm nhỏ; hoặc lấy cõi nước nhơ làm sạch; cứ thế, tất cả tánh thế gian đều có thần lực. Bồ-tát này, hoặc trong một vi trần có một tam thiên đại thiên thế giới núi Thiết vi, sông suối nhưng không hề chật hẹp; hoặc có hai, ba, bốn, năm, mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi, năm mươi, trăm, ngàn, vạn, ức vô lượng vô lượng vô lượng thế giới, tất cả mọi việc trang nghiêm đều nhập vào một vi trần, hoặc biến mọi việc trang nghiêm trong một thế giới, thị hiện vô lượng vô lượng thế giới; hoặc đem chúng sinh trong vô lượng vô lượng thế giới đặt trong một thế giới nhưng vẫn không chật hẹp. Hoặc đem chúng sinh trong một thế giới, đặt trong vô lượng vô lượng thế giới, hoặc đem vô lượng vô lượng thế giới, đặt trên đầu một sợi lông nhưng không làm hại chúng sinh, hoặc trong một sợi lông, thị hiện tất cả việc trang nghiêm của thần lực Phật, hoặc trong một niệm thị hiện thân nhiều như số bụi trong vô lượng vô lượng thế giới nơi mười phương,trong mỗi thân thị hiện vô lượng tay, dùng tay ấy siêng năng cúng dường chư Phật ở mười phương, mỗi tay, cầm hằng hà sa số hoa sen, rải cúng Phật, các thứ như hương hoa, tạp hương, hương bột, hương xoa y phục, cờ phướn, báu vật; tất cả đồ trang sức đều dùng tay cầm dâng cúng Phật, mỗi thân đều như thế. Lại nữa, mỗi thân hóa hiện vô số đầu, mỗi đầu có vô số lưỡi, dùng thần lực đó tán thán chư Phật; trong mỗi niệm, đi khắp mười phương, làm những việc ấy. Trong mỗi niệm, dùng thần lực, ở vô lượng thế giới, thị hiện việc đạt Phật đạo, chuyển bánh xe pháp, cho đến nhập đại Niết-bàn. Ở trong ba đời, dùng sức thần thông, thị hiện vô lượng thân, từ trong mỗi thân, thị hiện vô lượng, vô biên việc trang nghiêm cõi Phật. Trong mỗi thân, thị hiện sự thành hoại của tất cả thế giới. Hoặc khiến tất cả gió đều phát ra từ một lỗ chân lông, mà không làm hại chúng sinh. Hoặc muốn đem vô lượng, vô biên thế giới làm thành nước của một biển; trong biển này, hóa hoa sen lớn, màu sắc rực rỡ, chiếu khắp vô lượng, vô biên thế giới. Ở đó, lại thị hiện việc mầu nhiệm là đạt Bồ-đề trang nghiêm, cho đến thị hiện đạt Nhất thiết chủng trí. Trong thân, lại có đủ tất cả ánh sáng của ma-ni, bảo châu, ánh chớp, mặt trời, mặt trăng, sao, cho đến tất cả những vật có ánh sáng trong thế giới nơi mười phương cũng đều hiện trong thân. Thổi một hơi thở, làm cho vô lượng, vô biên thế giới trong mười phương đều chấn động, nhưng không làm cho chúng sinh kinh sợ. Lại thị hiện thế giới mười phương, thủy kiếp hết; phong kiếp, hỏa kiếp hết; nhưng thân chúng sinh tùy ý trang nghiêm; hoặc thị hiện thân mình thành thân Như Lai, thân Như Lai thành thân mình, thân Như Lai thành cõi Phật mình, cõi Phật mình thành thân Như Lai.

Các Phật tử! Đại Bồ-tát ở Địa Pháp vân, có thần biến như vậy. Lại còn thị hiện vô lượng thần lực tự tại khác lạ. Lúc ấy, trong hội, các Bồ-tát, Trời, Rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Khẩn-na-la, Mahầu-la-già, Thích Đề-hoàn Nhân, Phạm thiên vương, Tứ Thiên vương, Thiên tử Tự tại, trời Tịnh cư đều nghĩ: Bồ-tát có vô lượng, vô biên sức thần thông trí tuệ như vậy, thì Đức Phật như thế nào?

Lúc ấy, Đại Bồ-tát Giải Thoát Nguyệt, biết những suy nghĩ trong tâm của đại chúng, bèn hỏi Kim Cang Tạng:

–Phật tử! Hiện giờ đại chúng đều nghi ngờ; vì nghe sức đại thần thông trí tuệ của Bồ-tát mà họ rơi vào lưới nghi, ngài hãy đoạn trừ tất cả nghi hoặc, thị hiện việc vi diệu trang nghiêm thần thông của Bồtát.

Kim Cang Tạng liền nhập Tam-muội thể tánh nhất thiết Phật quốc. Tất cả đại chúng Trời, Rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già, Thích Đề-hoàn Nhân, Phạm thiên vương, Hộ thế Thiên vương, Thiên tử Tự Tại, trời Tịnh cư đều thấy thân mình nhập vào thân Kim Cang Tạng. Ở trong thân thấy các việc trang nghiêm tam thiên đại thiên thế giới, cho dù qua một kiếp cũng không nói hết được. Ở đó, lại thấy cây đạo tràng của Phật. Chu vi cây rộng mười vạn tam thiên đại thiên thế giới, cao trăm vạn tam thiên đại thiên thế giới, che mát cả ba ngàn ức tam thiên đại thiên thế giới. Tương xứng với sự cao rộng của cây, có tòa Sư tử, trên tòa có Phật hiệu Nhất Thiết Trí Vương Như Lai. Tất cả đại chúng đều thấy Phật ngồi trên tòa; ở đó, có đủ mọi vật cúng dường thật tốt và trang nghiêm, mà dù trải qua một kiếp, cũng không thể nói hết. Bồ-tát Kim Cang Tạng thị hiện thần lực lớn như thế rồi, làm cho đại chúng trở về chỗ cũ. Lúc ấy, tất cả đại chúng đều ngạc nhiên, im lặng nhất tâm, nhìn Bồ-tát Kim Cang Tạng.

Bồ-tát Giải Thoát Nguyệt lại hỏi Bồ-tát Kim Cang Tạng:

–Phật tử! Thật là hy hữu, Tam-muội này có thần lực lớn, vậy Tam-muội này tên gì?

Đáp:

–Tam-muội này tên là Thể tánh nhất thiết Phật quốc.

Hỏi:

–Thế lực của Tam-muội này ra sao?

Đáp:

–Phật tử! Đại Bồ-tát tu tập thành tựu lực Tam-muội này; có khả năng hiện vô lượng hằng hà sa tam thiên đại thiên thế giới trong một thân; còn lại hơn số đó nữa. Phật tử! Đại Bồ-tát ở địa Pháp vân, đạt vô lượng, vô biên trăm ngàn ức Tam-muội. Vì thế, Bồ-tát trụ ở địa này, có thân và thân nghiệp khó lường biết, khẩu và khẩu nghiệp, ý và ý nghiệp cũng khó lường biết; sức oai thần tự tại, quán sát pháp ba đời cũng khó lường biết; hành nhập các Tam-muội, trí lực, các giải thoát du hý; tạo ra biến hóa, tạo ra thần lực, tạo ra uy lực cũng khó lường biết được. Nói tóm lại, cho đến cả việc cất chân lên lên đặt chân xuống; cho đến Bồ-tát Tiểu vương tử trụ ở địa Diệu thiện, cũng không thể lường biết được.

Phật tử! Bồ-tát trụ địa Pháp vân có đến vô lượng, nay đã lược nói. Nếu nói rộng, thì trải qua vô lượng, vô biên a-tăng-kỳ kiếp, cũng không thể nói hết.

Hỏi:

–Phật tử! Sức hành xứ sức thần thông của Bồ-tát như thế, thì sức hành xứ, sức thần thông của Phật ra sao?

Đáp:

–Phật tử! Ví như có người, lấy hai ba cục đất trong bốn cõi mà nói: Đất của vô biên thế giới nhiều như vầy sao? Việc ông hỏi cũng thế. Vô lượng trí tuệ của Như Lai làm sao dùng trí tuệ của Bồ-tát mà so lường được? Phật tử! Ví như người nắm một ít đất trong bốn cõi, số còn lại là rất nhiều. Các Bồ-tát ở địa Pháp vân, mà phải trải qua vô lượng kiếp để nói huống gì địa Như Lai? Phật tử! Ta sẽ nói cho các ông biết, việc chứng ngộ hiện tại của Phật. Ví như ở mỗi phương, có các thế giới Chư Phật nhiều như số vi trần trong vô lượng, vô biên thế giới, hàng Bồ-tát thập địa có đầy trong đó nhiều như lúa mè rừng cây. Các Bồ-tát này, có vô lượng, vô biên nghiệp, tu tập công đức, trí tuệ, thiền định của Bồ-tát thì đối với công đức trí tuệ của Như Lai, không bằng một phần trăm, một phần trăm ngàn vạn ức, cho đến tính đếm ví dụ thế nào cũng không bằng được.

Phật tử! Bồ-tát này, tùy trí tuệ ấy, thuận thân, khẩu, ý của Như Lai, cũng chẳng bỏ Tam-muội của Bồ-tát, lại siêng cúng dường chư Phật. Trong mỗi kiếp, dùng những vật vi diệu để cúng dường vô lượng, vô biên chư Phật, lại được thọ lãnh tất cả thần lực của Phật, dần dần thù thắng. Vấn nạn về pháp tánh thì không ai thắng được Bồ-tát này, cho dù trải qua vô lượng, vô biên trăm ngàn vạn ức kiếp, cũng không cùng tận. Phật tử! Ví như thợ luyện vàng, khéo biến chế vàng thành những vật trang sức, rồi xen lẫn ma-ni bảo châu quý giá, trang sức trên cổ của Tự tại Thiên vương, chư Thiên khác không thể đoạt được, tất cả đồ trang sức của chư Thiên khác cũng không sánh kịp.

Phật tử! Bồ-tát trụ Địa thứ mười, có căn lành, trí tuệ, công đức mà tất cả Bồ-tát từ Địa thứ nhất đến Địa thứ chín không thể sánh kịp. Bồ-tát trụ địa này, được trí tuệ chiếu sáng, nên có thể tùy thuận tất cả mọi trí tuệ; mà ánh sáng trí tuệ đó không thể hủy hoại được.

Phật tử! Ví như ánh sáng của Đại tự tại Thiên vương, hết thảy ánh sáng của chúng sinh nơi thọ sinh không thể sánh kịp, nó có thể khiến thân tâm chúng sinh được mát mẻ. Các Phật tử! Đại Bồ-tát cũng vậy; trụ ở địa Pháp vân, trí tuệ sáng suốt, hết thảy bậc Thanh văn, Bích-chi-phật không sao sánh kịp. Đại Bồ-tát từ Sơ địa đến Địa thứ chín cũng không thể sánh kịp. Bồ-tát tru địa này, làm cho vô lượng chúng sinh trụ trong đạo Nhất thiết trí.

Phật tử! Đại Bồ-tát trụ địa này, được chư Phật nơi mười phương vì họ mà giảng nói trí tuệ, làm cho thông đạt ba đời, biết đúng tướng của pháp tánh; dùng trí bao trùm tất cả thế gian, soi sáng tánh thế gian, đem tâm Từ bi lớn bao trùm khắp tất cả chúng sinh, biết đúng tất cả pháp. Nói tóm lại, Đức Phật nói tất cả, cho đến đạo Nhất thiết trí.

Phật tử! Đó là địa Pháp vân, Địa thứ mười của Đại Bồ-tát. Đại Bồ-tát trụ trong địa này, thường làm Ma-hê-thủ-la Thiên vương, trí tuệ minh đạt khéo giảng pháp Thanh văn, Bích-chi-phật và Ba-la-mật của Bồ-tát. Trong pháp tánh, dù ai vấn nạn cũng không cùng tận. Làm các việt tốt như Bố thí, Ái ngữ, Lợi hành, Đồng sự đều không rời niệm Phật, niệm pháp, niệm chúng Bồ-tát bạn, niệm hạnh Bồ-tát, niệm Bala-mật, niệm hành các địa cũng không rời niệm mười Lực, Vô sở úy, pháp Bất cộng, cho đến không rời niệm cụ túc Nhất thiết chủng trí. Luôn nghĩ: Lúc nào, đối với chúng sinh, ta cũng là người đứng đầu, người tôn quý, thắng diệu, to lớn, vô thượng, là thầy, người dẫn dắt, cho đến là chỗ dựa cho tất cả chúng sinh. Nếu siêng năng tu tập, thì trong khoảnh khắc, đạt Tam-muội nhiều như số bụi trong vô lượng trăm ngàn vạn ức na-do-tha bất khả thuyết thế giới, cho đến thị hiện số Bồ-tát quyến thuộc cũng nhiều như vậy. Nếu dùng nguyện lực thần thông tự tại thì hơn số đó là hành các vật cúng dường thượng diệu, tin hiểu sự tạo nghiệp hoặc thân, miệng, ánh sáng, các căn, như ý, âm thanh, thành xứ cho dù trải qua trăm ngàn vạn ức kiếp, cũng không thể đếm kể được.

Phật tử! Đó gọi là tuần tự thuận hành thú hướng Nhất thiết chủng trí các địa của Đại Bồ-tát.

Phật tử! Ví như bốn con sông chảy từ ao A-nậu-đạt lan khắp bốn cõi chảy mãi không cùng tận cho đến khi chảy vào biển lớn. Các Phật tử! Đại Bồ-tát cũng thế, từ Bồ-tát phát ra nước căn lành nguyện lớn, dùng bốn Nhiếp pháp độ hết chúng sinh nhưng không cùng tận, dần dần tăng trưởng đạt đến Nhất thiết chủng trí.

Phật tử! Các Bồ-tát mười địa, do trí Phật mà có sai biệt. Ví như từ mặt đất mới có mười núi lớn. Mười núi lớn đó là gì? Đó là núi Tuyết, núi Hương, núi Kha-lê-la, núi Tiên thánh, núi Do-càn-đà-la, núi Mã nhĩ, núi Ni-dân-đà-la, núi Phá-ca-bà-la, núi Chúng tướng, núi Tu-di.

Phật tử! Núi Tuyết lớn thì tất cả cỏ thuốc đều mọc ở đó không cùng tận. Phật tử! Cũng thế, Đại Bồ-tát trụ ở địa Hoan hỷ, biết hết kinh sách, kỹ nghệ, văn tụng, chú thuật của tất cả thế gian không cùng tận.

Phật tử! Núi Hương là nơi có tất cả hương thơm không cùng tận. Cũng vậy, Đại Bồ-tát trụ ở địa Ly cấu, tu tập tất cả giới, Đầu-đà, oai nghi, pháp trợ đạo không cùng tận.

Phật tử! Núi Kha-lê-la toàn bằng báu vật, đủ các hoa không cùng tận. Cũng thế, Đại Bồ-tát trụ địa Minh, tu tất cả thiền định, thần thông, giải thoát Tam-muội của thế gian không cùng tận.

Phật tử! Núi Tiên thánh toàn bằng báu vật, có nhiều thánh nhân đạt năm thần thông không cùng tận. Cũng vậy, Đại Bồ-tát trụ ở địa Diệm, làm cho chúng sinh có nhân duyên nhập đạo, học hỏi, đủ các vấn nạn không cùng tận.

Phật tử! Khi núi Do-càn-đà-la toàn bằng báu vật, tập họp nhiều đại thần Dạ-xoa, chúng La-sát không cùng tận. Cũng vậy, Đại Bồ-tát trụ địa Nan thắng, đủ tất cả thần thông, tự tại, như ý, nói không cùng tận.

Phật tử! Núi Mã nhĩ toàn bằng báu vật, đủ các trái ngon không cùng tận. Cũng vậy, dại Bồ-tát trụ địa Viễn hành, đủ các phương tiện trí tuệ, nói đạo Bích-chi-phật không cùng tận.

Phật tử! Núi Phá-ca-bà-la toàn bằng báu vật, đủ các vật có tâm tự tại không cùng tận. Cũng thế, Đại Bồ-tát trụ địa Vô động, đủ tất cả đạo tự tại của Bồ-tát, nói tánh thế gian không cùng tận.

Phật tử! Núi Chúng Tướng toàn bằng báu vật, đủ sức thần lớn, vô số A-tu-la không cùng tận. Cũng vậy, Đại Bồ-tát trụ địa Diệu thiện đủ hành trí để chuyển hóa chúng sinh, nói tướng thế gian không cùng tận.

Phật tử! Núi Tu-di toàn bằng báu vật, đủ vô số Thiên thần không cùng tận. Cũng thế, Đại Bồ-tát trụ địa Pháp vân, đủ mười Lực, bốn Vô sở úy của Như Lai, nói các Phật pháp không cùng tận.

Các Phật tử! Mười núi báu này đều ở trong biển lớn, do nước biển lớn mà có tướng sai biệt. Cũng vậy, mười địa của Bồ-tát đều ở trong trí Phật, từ Nhất thiết trí mà có tướng sai biệt.

Phật tử! Ví như biển lớn có mười tướng nên gọi là biển lớn, không ai hoại được. Mười tướng đó là gì?

  1. Càng ra xa càng sâu.
  2. Không chứa xác chết.
  3. Các dòng sông ra đến biển thì mất tên cũ.
  4. Một vị.
  5. Nhiều báu vật.
  6. Khó vào đến chỗ sâu xa.
  7. Rộng lớn vô lượng.
  8. Nhiều chúng sinh có thân lớn nương tựa và ở.
  9. Thủy triều không quá hạn mức thường có.
  10. Nhận tất cả nước mưa mà không tràn ngập.

Phật tử! Hạnh Bồ-tát cũng vậy, do mười duyên mà không ai hoại được. Mười duyên đó là gì? Ở trong địa Hoan hỷ dàn dần phát nguyện kiên cố; trong địa Ly cấu không ở chung với kẻ phá giới; trong địa Minh bỏ những giả danh của thế gian; trong địa Diệm, ở chỗ Phật, đạt nhất tâm tịnh tín không hoại; ở địa Nan thắng, phát sinh vô lượng phương tiện thần thông thế gian, làm việc thế gian; ở địa Hiện tiền, quán pháp nhân duyên sâu xa; ở địa Viễn hành dùng tâm rộng lớn phân biệt các pháp; ở địa Vô động, thị hiện mọi việc trang nghiêm; ở địa Diệu thiện, đạt giải thoát sâu xa, thông đạt hạnh thế gian, như thật không lỗi lầm; ở địa Pháp vân, thọ lãnh tất cả pháp minh vũ của chư Phật. Phật tử! Ví như ngọc ma-ni báu lớn, có mười việc đem đến báu vật cho chúng sinh. Mười việc đó là gì?

  1. Lấy ra từ biển lớn.
  2. Thợ khéo mài dũa.
  3. Dần tinh xảo.
  4. Trừ cấu uế.
  5. Luyện trong lửa.
  6. Các đồ báu trang sức.
  7. Xâu thành sợi báu.
  8. Đặt trên trụ cao lưu ly.
  9. Ánh sáng chiếu khắp bốn cõi.
  10. Tùy ý vua, mưa các vật báu.

Các Phật tử! Đại Bồ-tát phát tâm báu Bồ-đề, cũng có mười việc.

Mười việc đó là gì?

  1. Phát tâm bố thí lìa keo kiệt.
  2. Giữ giới Đầu-đà khổ hạnh.
  3. Thiền định Tam-muội giải thoát làm cho càng tinh diệu.
  4. Đạo hạnh thanh tịnh.
  5. Luyện phương tiện thần thông.
  6. Trang nghiêm bằng pháp nhân duyên sâu xa.
  7. Xuyên suốt các môn trí tuệ phương tiện sâu xa.
  8. Đạt thần thông tự tại.
  9. Quán hạnh chúng sinh, phóng ra ánh sáng đa văn trí tuệ.
  10. Chư Phật trao trí chức.

Lúc này, đối với tất cả chúng sinh, làm mọi việc Phật, ở trong Nhất thiết chủng trí. Các Phật tử! Tất cả pháp môn, công đức, trí tuệ mà Bồ-tát thực hành, những kẻ không trồng căn lành sâu thì không được nghe.

Hỏi:

–Người được nghe thì phải có bao nhiêu phước?

Đáp:

–Phước đức của người theo thế lực trí tuệ của Phật mà phát tâm Nhất thiết chủng trí có được như thế nào thì phước đức của người nghe pháp này cũng như vậy. Vì sao? Vì nếu không có tâm Bồ-tát mà nghe pháp môn này, thì không thể tin hiểu thọ trì, nên chẳng thể đem thân tu tập mà thành tựu được. Các Phật tử! Vì vậy nên biết, người này phải tùy thuận Nhất thiết chủng trí mới được nghe tin hiểu thọ trì tu hành.

Lúc giảng nói kinh này, nhờ thần lực Phật, vô số thế giới như vi trần, mười ức cõi Phật ở mười phương, chấn động sáu cách với mười tám tướng. Pháp thường là phải chấn động. Chư Thiên mưa nhiều hương hoa, anh lạc, y báu trời, phướn lọng, báu vật, những thứ trang sức nơi thân, trổi nhạc ca tụng, lại có tiếng lớn ca tụng việc thù thắng của mười địa. Kinh này được nói ở cung Tha hóa tự tại vương, đồng thời ở tất cả thế giới mười bốn cõi cũng đều giảng nói kinh thập địa này. Nhờ thần lực Phật, nên vô số Bồ-tát ở trong vô số cõi Phật, đều tập họp đến đầy khắp hư không mười phương, và đều nói:

–Hay thay! Hay thay! Bồ-tát Kim Cang Tạng! Ông đã khéo giảng thuyết tướng của các địa mà Đại Bồ-tát an trụ. Phật tử! Chúng tôi cũng đồng hiệu Kim Cang Tạng, từ thế giới Kim cang đức, nơi Phật Kim Cang Tạng đến đây. Những nơi chúng tôi đi qua, đều giảng thuyết kinh này, đại chúng, ngôn ngữ, nghĩa thú cũng vậy, không tăng giảm. Phật tử! Chúng tôi nương thần lực của Phật đến đây để chứng minh việc này. Phật tử! Cùng với chúng tôi đến đây, tất cả thế giới nơi mười phương, mỗi thế giới trong bốn cõi, lên đến bảo điện Ma-ni của cung Tha hóa tự tại cũng đều có vô số Bồ-tát nhiều như số vi trần trong mười ức cõi Phật cũng đến đây để chứng minh.

Lúc ấy, Bồ-tát Kim Cang Tạng quán sát mười phương, quán tất cả đại chúng, quán tánh sâu xa khen ngợi và hỗ trợ việc phát tâm Nhất thiết chủng trí, thị hiện đại lực của Bồ-tát cho chúng sinh, tùy thuận Nhất thiết chủng trí, trừ tất cả trần cấu của thế gian, đem lại nhân duyên Nhất thiết chủng trí cho chúng sinh; thị hiện những việc trí tuệ trang nghiêm vi diệu không thể nghĩ bàn; nói tất cả tướng sai biệt về công đức của Bồ-tát. Lại muốn làm rõ nghĩa lý này cho chúng sinh, nên nương thần lực Phật mà nói kệ rằng:

Hạnh nghiệp của Bồ-tát
Vui, tịch diệt hoàn toàn
Tâm không có tham chấp
Trống rỗng như hư không
Trừ cấu tham, sân, si
An trụ trong trí đạo
Hạnh vô thượng như vậy
Vui vẻ xin được nghe
Do vậy các Bồ-tát
Ở trong vô lượng kiếp
Siêng năng luôn tu tập
Vạn ức các căn lành
Cúng dường vô lượng Phật
Bích-chi, A-la-hán
Vì tạo lợi ích cho chúng sinh
Phát khởi tâm Bồ-đề
Siêng năng giữ giới hạnh
Đầu-đà trừ tội lỗi
Tu thiện nhẫn tăng trưởng
Đủ oai đức hổ thẹn
Nhờ nhân duyên phước tuệ
Tâm cao thắng sáng suốt
Vui thích trí của Phật
Phát Bồ-đề như Phật
Cúng dường tất cả Phật
Trong ba đời mười phương
Đất nước như hư không
Đều khiến được thanh tịnh
Tất cả pháp bình đẳng
Khéo thông đạt hết thảy
Vì độ thoát chúng sinh
Phát khởi tâm Bồ-đề
Các Bồ-tát như vậy
Phát khởi tâm vô lượng
Đạt đến địa Hoan hỷ
Dứt ác, thích bố thí
Đạt được sức bản nguyện
Tu nhiều tâm Từ bi
Hành sâu mười thiện nghiệp
Đạt đến địa Ly cấu
Đủ công đức giới, văn
Từ tâm thương thế gian
Dứt hẳn mọi cấu uế
Tâm sâu xa, thanh tịnh
Quán sát khắp thế gian
Lửa ba độc hừng hực
Các bậc Đại sĩ này
Nhập minh Địa thứ ba
Quán ba cõi đều không
Vô thường như bệnh tất
Như ung nhọt, ghẻ lở
Trăm thứ khổ đốt thiêu
Thấy các lỗi hữu vi
Ham thích công đức Phật
Đạt ánh sáng trí Phật
Nhập địa Diệm thứ tư
Thành tựu về niệm tuệ
Đạt đến đạo trí tuệ
Ở đây thường cúng dường
Trăm ngàn Đức Như Lai
Luôn tư duy tưởng niệm
Vô lượng đức của Phật
An nhập địa Nan thắng
Vượt tất cả thế gian
Dùng trí tuệ phương tiện
Thị hiện đủ mọi cách
Làm bất cứ việc gì
Đều vì lợi thế gian
Cúng dường các Đức Phật
Làm việc lợi chúng sinh
Chứng nhập pháp vô sinh
Được nhập địa Hiện tiền.
Hạnh nghiệp của Bồ-tát
Thế gian khó biết được
Không còn tâm chấp ngã
Lìa cả có lẫn không
Các pháp vốn vắng lặng
Mười hai duyên chuyển hành
Hiểu rõ pháp vi tế
Sẽ nhập địa Viễn hành
Hành trí tuệ phương tiện
Đạt tướng pháp tịch diệt
Các bậc Đại sĩ này
Khó lường, khó sánh kịp
Vì muốn cho thế gian
Đạt tịch diệt thanh tịnh
Nên tu tập các hạnh
Đủ mọi việc phước đức
Thâm nhập tâm hành xứ
Của tất cả chúng sinh
Do vậy được an nhập
Địa Bất động đều không
Bồ-tát bậc đại trí
Đầy đủ tất cả hạnh
Và các nghiệp trí tuệ
Cùng mười Lực tự tại
Dùng vô lượng, vô biên
Vô số các thân tướng
Hiện ở khắp mười phương
Vì chúng, thuyết diệu pháp
Thông đạt tánh thế gian
Và tánh của chúng sinh
Với tâm Từ bi lớn
Sẽ nhập địa Diệu thiện
Trí tịnh diệu số một
Quán sát các thế gian
Nghiệp phiền não trói buộc
Quanh co nơi hiểm nạn
Vì độ thoát chúng sinh
Đạt tạng pháp chư Phật
Giảng thuyết nghĩa đệ nhất
Không sai trái lỗi lầm
Tuần tự mà thực hành
Đầy đủ các thiện pháp
Đạt đến Địa thứ chín
Tu tập phước và tuệ
Mong đạt oai lực Phật
Lợi diệu thêm tối thượng
Ở chỗ tất cả Phật
Được lãnh thọ trí chức
Trước đạt vô số định
Trí hạnh rất rộng lớn
Sau cùng đạt Tam-muội
Trí chức khó hư hoại
Những ai đã đạt được
Tam-muội nhất thiết chức
Trang nghiêm các báu vật
Hoa sen lớn xuất hiện
Bồ-tát xứng hoa sen
Hiện thân ngồi trên đó
Các Bồ-tát hoa khác
Đều nhất tâm chiêm ngưỡng
Lúc ấy, Đại Bồ-tát
Từ thân phóng vô lượng
Trăm ngàn ức ánh sáng
Diệt các khổ thế gian
Sau từ đỉnh đầu phóng
Trăm ngàn ức ánh sáng
Chiếu khắp mười phương cõi
Hội chúng của chư Phật
Rồi ở lại hư không
Hóa thành dưới ánh sáng
Cúng dường Đức Phật xong
Nhập vào lưới chân Phật
Lúc ấy, các Đức Phật
Và các Đại Bồ-tát
Đều biết Bồ-tát này
Đã thọ lãnh trí chức
Do vậy các Đức Phật
Giữa mày phóng ánh sáng
Tên là Nhất thiết chức
Nhập đỉnh đầu Bồ-tát
Vô lượng các Đức Phật
Thọ ký chức Bồ-tát
Ví như Chuyển luân vương
Truyền ngôi cho thái tử
Lúc ấy, mười phương cõi
Thảy đều chấn động lớn
Dứt trừ tất cả khổ
Cho đến ngục A-tỳ
Bồ-tát vì tất cả
Trí tuệ được chức này
Như thế được gọi là
Địa Pháp vân vô thượng
Người trụ trong địa này
Trí tuệ không hạn lượng
Khéo biết cả nhân duyên
Độ thoát hết thế gian
Nhập pháp sắc, vô sắc
Cõi Dục, Sắc, Vô sắc
Biết được tánh chúng sinh
Tánh cõi nước, tánh pháp
Lại an nhập các pháp
Đếm được, không đếm được
Cho đến quán sát biết
Vô lượng tánh hư không
Nhập địa này có đủ
Thần biến của Bồ-tát
Sức oai thần của Phật
Việc kín, trí vi tế
Lại còn thông đạt được
Tất cả các kiếp số
Từ mỗi đầu sợi lông
Thấy rõ tánh thế gian
Tất cả Đức Như Lai
Ở Địa vô thượng này
Sinh ra rồi xuất gia
Đạt đạo, chuyển pháp luân
Thị hiện nhập Niết-bàn
Đều tùy thuận trí tuệ
Từ địa này đạt được
Tịch diệt và giải thoát
Các Đại sĩ địa này
Sức ức niệm rộng lớn
Thọ trì được tất cả
Đại mưa pháp của Phật
Cũng ví như biển lớn
Chứa hết nước rồng mưa
Bồ-tát cũng như vậy
Thọ trì mưa Phật pháp
Như ở chỗ một Phật
Lắng nghe thọ trì pháp
Chúng sinh nhiều như bụi
Vô lượng cõi mười phương
Đều được nghe Tổng trì
Thành tựu Thanh văn thừa
Chẳng bằng Bồ-tát này
Tính đếm cũng chẳng kịp
Vì sức trí tuệ lớn
Và sức thệ nguyện lớn
Chỉ trong một khoảnh khắc
Ở khắp vô lượng cõi
Mưa nước pháp cam lồ
Dập tắt lửa phiền não
Vì thế Đức Phật gọi
Đây là địa Pháp vân
Bồ-tát trụ địa này
Dâng vật cúng dường Phật
Hơn vật của chư Thiên
Thị hiện sức thần lớn
Sức thù thắng vi diệu
Hơn số này vô lượng
Người nào muốn suy lường
Chỉ rối thêm không hiểu
Đại trí trụ địa này
Việc cất chân, đặt chân
Tất cả các Bồ-tát
Kể cả Địa thứ chín
Đều không thể biết được
Huống gì chúng sinh khác
Ba đời các Thanh văn
Cùng với Bích-chi-phật
Trụ nơi chư Phật hiện
Tất cả việc trí tuệ
Lại khiến cho thông đạt
Trí vô ngại ba đời
Thị hiện tánh pháp lặng
Và bao nhiêu thần biến
Tất cả loài chúng sinh
Ở khắp mọi cõi nước
Thực hành tất cả pháp
Vi diệu và an ổn
Tuần tự hiện biết hết
Hết thảy công đức Phật
Bồ-tát trụ địa này
Dùng vật dụng tối thượng
Cúng dường mười phương
Phật Lan truyền khắp mọi nơi
Tất cả vật cúng dường
Của vô số chúng sinh
Và những cõi phương khác
Cũng không thể sánh kịp
Bậc trí, trụ địa này
Phá trừ được tất cả
Vô minh và tăm tối
Khai thị bằng Phật đạo
Như Tự tại Thiên vương
Phóng quang diệt phiền não
Ánh sáng trí, Phật tử
Diệt phiền não cũng vậy
Trụ địa này thường làm
Tự tại vương ba cõi
Thông đạt các trí tuệ
Dùng ba thừa hóa độ
Chỉ trong một khoảnh khắc
Đạt vô lượng Tam-muội
Thấy được vô số Phật
Đang ở khắp mười phương
Bồ-tát Kim Cang Tạng
Bảo các Đại sĩ rằng
Tôi đã lược thuyết giảng
Diệu hạnh của mười địa
Nếu nói rộng hết cả
Ngàn kiếp cũng không cùng
Đó chính là thanh tịnh
Các địa của Bồ-tát
Vì đạt trí của Phật
Trụ trong những địa này
An trụ không lay động
Ví như núi chúa lớn
Sơ địa đủ tất cả
Kinh sách và kỹ thuật
Ví như núi Tuyết lớn
Mọc đầy các cỏ thuốc
Giữ giới và đa văn
Trụ trong Địa thứ hai
Cũng giống như núi Hương
Đủ tất cả hương thơm
Như núi Kha-lê-la
Có nhiều hoa báu lạ
Địa Minh tập văn trí
Cũng giống như núi này
Địa Diệm tụ tập nhiều
Đạo pháp báu không hoại
Như trong núi Tiên thánh
Có nhiều đấng Thiện tịch
Thần thông Địa thứ năm
Không ai sánh kịp được
Như núi Do-càn-đà
Có nhiều thần Dạ-xoa
Địa thứ sáu phân biệt
Phước quả không cùng tận
Ví như núi Mã nhĩ
Có vô số trái cây
Tuệ lớn Địa thứ bảy
Không ai sánh kịp được
Như núi Ni-dân-đà
Có rất nhiều rồng chúa
Trụ trong Địa thứ tám
Vô lượng trí tự tại
Như núi Phá-ca-la
Có nhiều bậc Tự tại
Địa chín, tâm thanh tịnh
Thuyết pháp không chướng ngại
Ví như núi Chúng tướng
Rất nhiều A-tu-la
Địa thứ mười có đủ
Vô lượng đức của Phật
Ví như núi Tu-di
Rất nhiều chúng Thiên thần.
Lại nữa ở sơ địa
Phát thệ nguyện rộng lớn
Địa thứ hai giữ giới
Thứ ba tu công đức
Địa thứ tư tu thiền
Thứ năm làm việc tốt
Thứ sáu tướng sâu xa
Thứ bảy tâm rộng lớn
Địa thứ tám có đủ
Các thần thông trang nghiêm
Địa chín trí vi diệu
Vượt tất cả các cõi
Địa thứ mười thọ trì
Đại mưa pháp của Phật
Hạnh Bồ-tát như biển
Không cùng, khó lay động
Phát tâm xuất thế gian
An nhập Địa thứ nhất
Địa hai giữ tịnh giới
Địa ba tu thiền định
Địa tư đạo tịnh hạnh
Địa năm tuệ phương tiện
Địa sáu tu nhân duyên
Bảy, tuệ phương tiện sâu
Tám, đạt tràng lưu ly
Địa chín hành chúng sinh
Tất cả nơi hiểm nạn
Ánh sáng tuệ chiếu khắp
Địa mười thọ trí lực
Ví như vua trao ngôi
Tuần tự được thanh tịnh
Tâm Bồ-đề quý báu
Tất cả số bụi trần
Trong thế giới nơi mười phương
Chỉ trong một khoảnh khoắc
Tính biết được ít nhiều
Trên đầu một sợi lông
Tính biết khắp hư không
Công đức lớn của Phật
Vô lượng không cùng tận

Lúc giảng nói kinh Thập Trụ này, Tự tại Thiên vương, các Thiên chúng, Bồ-tát Giải Thoát Nguyệt, các Bồ-tát, tất cả thế gian đều rất vui mừng, tin thọ và phụng hành.

 

Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.