PHẬT TÂM KINH PHẨM

(Cũng thông với Đại Tùy Cầu Đà La Ni)

KINH SỐ 920

Hán dịch: Tam Tạng BỒ ĐỀ LƯU CHI phụng chiếu dịch
Việt dịch: Sa Môn Thích Quảng Trí

 

QUYỂN THƯỢNG

Ta nghe như thế này. Một thời Phật trú tại đỉnh núi Kim Cang tại nước Cu Diễm Di, xem khắp 10 phương thấy toàn là màu sắc như lửa cháy. Thấy thế, Đức Phật khẽ thở dài nghĩ thương chúng sanh sai đường lạc lối lấy gì cứu thoát. Khi suy nghĩ như thế thời Thế Giới của chư Phật, cảnh giới của Bồ Tát, trên đến 33 cõi Trời, dưới đến tận cùng Kim Cang Tế, cung điện của Ma thảy đều rung rinh. Lập tức ba đời Chư Phật thảy đều suy nghĩ như vậy, lại các Bồ Tát nơi tự tâm bất động, các hàng Kim Cang khiến các quyến thuộc làm các Kim Cang sự nghiệp không thể ngồi yên nơi tòa bay đi khắp 10 phương, các hàng Chư Thiên, Tiên, Ma, sợ sệt không biết chạy nơi nào.

Bấy giờ có 10 Kim Cang Tạng Bồ Tát sửa sang y phục bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Đây là điềm gì? Là Thiện hay là Ác?” .

Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn lo suy nghĩ nên không trả lời. Bấy giờ ở trong Hội có một vị Bồ Tát tên là Kim Cang Mẫn bảo Kim Cang Tạng Bồ Tát rằng: “Đây là tướng không tốt. Nay Phật đang nhập Từ bi Tam muội, nên cần tịnh tâm chờ Phật giải thích ”

Bấy giờ lại có một vị Bồ Tát gọi là Đức Tạng hỏi Kim Cang Mẫn Bồ Tát rằng: “Vì sao gọi là Từ bi Tam Muội?” .

Kim Cang Mẫn Bồ Tát đáp rằng: “Lành thay! Lành thay Các ông có biết chúng sanh đang bị đắm chìm hay không? Ta vì tất cả chúng sanh không biết được Pháp, không biết được Tâm, không tự điều phục, bị các Ma sai sử, lấy gì để cứu hộ, lấy gì để nhiếp phục các Độc” .

Liền đó tức có ba chục ngàn vạn ức Bồ Tát đều là các Bậc Quán Đảnh Đại Pháp Vương Tử có đại oai đức tự tại lại bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Bọn chúng con có làm được không?”.

Phật bảo: “Không được” .

Lại có trăm ngàn hằng hà sa số thế giới Kim Cang Mật Tích, mỗi vị Mật Tích có bốn Thiên hạ Lực sĩ cũng bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Chúng con có thể làm được chăng ?”.

Phật bảo: “Không được” .

Lại các vị Đại Tự Tại Thiên trong tất cả Thế giới hay biến thân làm Phật lại bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Sức biến hóa của chúng con có thể nhiếp được chăng?”.

Phật bảo: “ Sức huyễn hoặc của các ông cũng không thể được”.

Lúc ấy, trong Hội có một vị Bồ Tát tên là Bảo Đức bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Tất cả chư Bồ Tát, Kim Cang, Thiên Tiên, cũng không ai nhiếp phục. Nay Thế Tôn lấy gì để cứu chúng sanh khỏi các nạn?”.

Thời Đức Thế Tôn bảo Bảo Đức Bồ Tát rằng: “Chỉ có Như Lai Tâm Trung Tâm là không thể sánh kịp. Vì sao vậy? Vì hay khiến các Ma sanh lòng từ mẫn, hay khiến các Pháp hiện tiền, hay khiến Chư Phật thường không xa lìa, hay khiến Chư Bồ Tát làm quyến thuộc, hay khiến các Kim Cang ban cho oai lực, hay khiến Chư Thiên thường luôn ủng hộ, các Đại Dạ Xoa, La Sát làm người trị Pháp, hay khiến tất cả các Đại Ma Thần sanh lòng hoan hỷ, hay khiến hành giả sức như Phật, tâm như Phật, trí như Phật, oai như Phật, hay khiến hành giả ra làm việc gì đều được tùy tâm, hay chặt đứt tất cả chướng nạn, Đế Thích, Phạm Vương đều theo phò trì, hay khiến tất cả cho đến Bồ Tát trọn không thối chuyển, tất cả sự nghiệp thế gian đều tự hiểu biết cho đến tất cả quá khứ, hiện tại, vị lai, tất cả thế giới có thông không thông, có Trí không Trí, hiền hay không hiền thảy đều quy phục. Bấy giờ đại chúng nghe xong thảy đều muốn nghe, ở nơi đại chúng hốt nhiên phát ánh sáng rực rỡ hơn trăm ngàn mặt trời .

Bảo Đức Bồ Tát lại bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Nhân duyên gì mà có ánh sáng này?”.

Phật bảo: “Đây là ánh sáng hoan hỷ từ Tâm Trung Tâm sanh ra, ánh sáng này không có hạn lượng, không thể xưng tán, không thể ca vịnh, cũng không ấn khả được. Vì sao vậy? Vì đồng với Chư Phật vô ấn khả vậy, đồng với Như Lai vô sở đắc vậy, tất cả các tướng cũng vô kiến vậy! Giữ gìn các căn không xả ly vậy! Khiến các Ma không sai sử vậy! Hay ngăn các Ma chướng ngại đạo vậy! Do các nhân duyên trên nên gọi là Tâm Trung Tâm” .

Bấy giờ tất cả đại chúng đều bạch Phật rằng: “Chúng con đã từng theo Phật tu học, chưa từng được nghe ca tụng Công Đức đại oai thần lực, cúi xin Thế Tôn vì chúng con mà nói chương cú tu chứng Giác Địa, cho chúng con được tu hành Pháp này” .

Bấy giờ Như Lai bảo rằng: “Này các Thiện Nam Tử! Nay Ta sẽ nói, muốn tu thành Phật có 10 cách nhất định sẽ thành tựu. Thế nào là mười .

Thứ nhất Trì Tâm, nơi Pháp không nghi, nơi Phật sanh tín, nơi Tâm bình đẳng, nơi chúng sanh sanh lòng thương xót, nơi sắc không đắm .

Thứ hai Trì Giới không phạm, thường nhiếp Tâm không nói láo, hay ban cho chúng sanh đoạn trừ ngã mạn .

Thứ ba không làm ác, không được sát hại, không ăn ác thực (thịt,cá …v…v…) xét kỹ mình không thấy lỗi của người .

Thứ tư ở nơi các Pháp không sanh phỉ báng, dùng Phật Pháp ngăn ngừa tội lỗi, ở nơi Chư Tăng xem như cha mẹ .

Thứ năm không quên lời Nguyện, đối với giàu nghèo có Tâm bình đẳng hay tùy thuận người .

Thứ sáu lời Phật nhớ kỹ, chỗ tu các Pháp cần cố giữ gìn, có người cầu xin thì phải dạy bảo không cần xem xét căn Thượng, Trung, Hạ .

Thứ bảy trì các Ấn Khế, không được dơ uế, không kết trái thời, không vì khen hay lợi lộc mà kết, không bỏ chúng sanh .

Thứ tám nơi tất cả không tham lam, không đoạt lý làm ác, không dua nịnh, giữ gìn Phật Pháp như giữ thân mạng. Cho đến dẫu đói nghèo cũng không sanh hai lòng .

Thứ chín cứu các nạn không được thoái Tâm, trừ kẻ không chí thành, không được khinh Pháp hay khiến kẻ khác khinh Pháp, không được phỉ báng hay khiến người phỉ báng, thường phải chân thật nói lời mềm mỏng, hay thích việc lành có lòng Từ Bi .

Thứ mười diệt trừ các tà hạnh, lòng tin bền chắc không từ lao nhọc, thường gần gũi Thiện trí thức, hoặc nơi suối rừng thanh tịnh có phát nguyện rộng cũng không được quên luôn luôn nhớ niệm, không khởi tà kiến, ở nơi đại chúng có Thiện trí thức cần nên lễ bái .

Như vậy, mười điều khiến người tu trì quyết định được bất thối chuyển mau đến Bồ đề, thành Bồ Tát được thân Kim Cang không khó”.

Khi ấy các vị Bồ Tát nghe Phật dạy xong, đều bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Chúng con xin nguyện tu học, cúi mong Thế Tôn lấy Tâm Đại Bi nói Thần Chú này, đệ tử chúng con muốn được thọ trì” .

Phật bảo: “ Các Thiện Nam Tử Lắng nghe! Lắng nghe! Ta sẽ vì các ông mà nói” .

Thời Như Lai dùng Bồ Đề Tâm Khế khiến cả đại chúng tâm không động mà nói Chú rằng:

Úm bạt ra bạt ra sam bạt ra sam bạt ra ấn địa lặc da vi du đạt nễ hàm hàm rô rô giá lệ ca rô giá lệ ta phạ ha .

Thứ nhất, Bồ Đề Tâm Khế:

Trước tiên, hai tay 2 ngón vô danh co lại để nơi lưng 2 ngón giữa, 2 ngón cái vịn đầu móng 2 ngón út, 2 ngón trỏ co lại móc đầu 2 ngón vô danh, chắp tay lại để nơi tim tức thành .

Nếu có người tu trì Ấn Khế này, tức được Tâm Bồ đề, đầy đủ Trí của Bồ Tát, đầy đủ các môn Ba La Mật ở nơi Tâm . Tất cả Pháp Môn bí mật của chư Phật và Bồ Tát đều do Ấn này mà thành. Ở nơi tịnh thất thọ trì Ấn Khế này trải qua 7 ngày, tất cả Pháp yếu đều hiện tiền, tất cả Ma Đạo, chúng sanh, đạo Quỷ Thần, đạo ẩn hình dấu thân, trì Ấn Khế này tức biết được chỗ ở của họ không thể biến hóa ẩn dấu được.

Các Thiện Nam Tử! Nếu được Ấn Khế này, khởi niệm tức có 10 phương Chư Phật vân tập trên đảnh, khởi niệm tức có 10 phương Bồ Tát làm Thị Giả, khởi niệm tức có 10 phương các Kim Cang theo sai khiến, khởi niệm tức có 10 phương chư Thiên gần gũi cúng dường, tất cả loài Ma, quyến thuộc của Ma tức bỏ chỗ ở lại giúp cho

Pháp thành tựu, tất cả Tỳ Na Dạ Ca cũng đều lại cúng dường

Các Thiện Tam Tử! Nếu muốn hàng phục Ma oán Ngoại Đạo, trước tiên kết Ấn Khế chú 21 biến để nơi tim, đứng thẳng xoay bên trái một vòng; đại địa tức thời rung rinh, tất cả loài Ma tức trốn xuống đất không dám xuất hiện, nếu có xuất hiện là do Phật thương xót cho phép, xuất hiện thời không dám giận oán. Người trì Chú không được giận dữ, vì như vậy Chư Phật không hoan hỷ, 10 phương không yên. Ấn Khế này là đầu của chư Phật, mẹ của các Pháp, vua của các Ấn, 10 phương chư Phật do đây sanh ra, như chư Phật Thế Tôn không ai dám vượt qua, cần phải xét kỹ không được lạm dụng, xem việc lớn nhỏ mà dùng. Nếu trì các Pháp, trước hết lấy Ấn Khế này làm đầu, không có Ấn Khế này các Pháp không có chủ, dầu có thành tựu thân tâm cũng không quyết định, chư Thần không vừa ý, chỗ làm các Pháp hay bị chướng nạn, cẩn thận, cẩn thận, không được bất tịnh dùng Ấn Khế .

Thứ hai, Bồ Đề Tâm Thành Tựu Ấn:

Còn gọi là Thập Phương Như Lai Đồng Ấn Đảnh Khế. Trước tiên, lấy hai tay 2 ngón giữa xoa nhau phải đè trái, đầu ngón ló ra nơi hổ khẩu, 2 ngón vô danh co lại đè lưng 2 ngón giữa, 2 ngón cái đầu dựa nhau dựa trên lưng 2 ngón vô danh, 2 ngón trỏ cũng dựa trên lưng 2 ngón vô danh đầu dính nhau; 2 ngón út dựa nhau đứng thẳng, đầu ngón dính nhau, tức thành .

Nếu các Thiện Nam Tử, Thiện Nữ Nhân được Ấn Khế này chuyển nghiệp tiêu chướng, mau chứng Vô thượng Chánh Đẳng Bồ Đề. Hay trì Ấn Khế này được “Văn trì bất vong” (nghe nhớ không quên), các Pháp yếu tự nhiên hiểu biế . Từ trước tới giờ dầu chưa tu trì, khởi Tâm làm việc gì đều không sai. Lúc trì tụng có các Ngoại Đạo và Ma Ba Tuần lại làm não loạn, khởi Tâm tức lui. Có cầu việc gì, lấy Ấn Khế chỉ đó tức lại, cho đến các loại dùng các Pháp biến hóa mê hoặc, kết Khế khởi Tâm tức hiện nguyên hình, phục tàng trong lòng đất, bảo châu nơi Long cung cần dùng, kết Khế khởi Tâm tức thời đem lại. Các Pháp yếu trong 10 phương Thế Giới, trong Tâm mong muốn, trong niệm chỉ bảo rõ ràng. Cầu việc nhỏ không quá 3 ngày, việc lớn không quá 7 ngày. Trong mộng, Phật tự ấn đảnh, tự hộ công lực. Nếu muốn thấy chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Quỷ Thần, Tinh Linh …v…v… kết Ấn Khế nơi mắt chú 108 biến tức thấy, cần phải an nhiên không được sợ sệt khiến thất tâm Đáng mất Tâm). Nếu bổn thổ có các tai họa, kết Khế chú 108 biến, lấy Khế chỉ lên trời viết chữ Phật, tai họa tức tiêu trừ. Nếu trì ấn khế bị các Ma làm não loạn, chỉ nói tiểu tặc không quá ba lần tức bỏ đi. Tất cả bệnh tật, tai nạn ở Thế Gian đều trừ không nghi. Kết Khế chú mãn một ngày, bệnh cùi hủi tiêu trừ trừ không chí tâm. Nếu cần Pháp yếu nơi Long Tạng, kết Khế kêu tên Long Vương, không quá một đêm các Pháp tự hiện. Khi thấy được rồi phải gắng thọ trì không được lãng quên. Nếu được thì cần phải giữ bí mật không được truyền cho Phi Nhân. Cẩn thận! Cẩn thận! Phải biết việc lớn nhỏ mà dùng Khế này, việc lớn nên dùng, việc nhỏ chớ dùng, dùng sẽ mất linh nghiệm. Nhớ kỹ, nhớ kỹ!

Thứ ba, Chánh Thọ Bồ Đề Khế :

Còn gọi là Nhiếp Thọ Chư Mật Môn Khế, còn gọi là Đảnh Luân Khế. Trước tiên, lấy 2 ngón vô danh để ló đầu nơi giữa 2 ngón trỏ và ngón giữa. Đầu 2 ngón trỏ và 2 ngón giữa dựa nhau, đầu bằng nhau, 2 ngón cái vịn tiết trên 2 ngón giữa, 2 ngón út đứng thẳng, đầu dựa nhau, chắp tay lại tức thành .

Các Thiện Nam Tử muốn trì Tâm Pháp củacChư Phật, Bồ Tát, Kim Cang, tùy theo Ấn này khởi niệm tức được Trí Bất Động biến khắp 10 phương. Là Thánh không phải Thánh, là Ma không phải Ma, cho đến các Thiên Tiên, Tứ Thánh quả, Đại Quỷ Thần …v…v… đồng thời ấn Bổn Tôn tức được khế hợp. Tất cả sự nghiệp nơi Thế Gian, phải hay không phải, do Ấn này đồng với Tâm Phật không khác. Vì sao vậy? Vì được Tam Muội của Chư Phật, các Bí tạng của Chư Phật, đều do Ấn này nhiếp hết; các Phật Đảnh Luân cũng do đây mà thành; các Kim Cang cũng do đây mà an trụ; tất cả chúng Thánh đều lại quy y; tất cả các ác đều hướng thiện vậy; tất cả các ác đều tự nhiếp tâm vậy; tất cả các chướng tự nhiên tiêu trừ; Thiên Ma Ba Tuần tự nhiên hàng phục; Lõa hình ngoại đạo tự biết xấu hổ; tất cả Long Tạng tự nhiên khai mở; tất cả các Thần phục tàng tự đem ban cho; Long Vương bảo châu tự nhiên xuất hiện; Diêm La Thiên Tử, Ngũ Đạo Thần Quan tự lại sám hối. Tất cả các Pháp không hiện tiền do Ấn này tự nhiên hiện tiền; tất cả các Pháp Môn hoặc thuận hoặc nghịch của Phật, Bồ Tát tự nhiên hiểu biết; tất cả oai quang của Chư Bồ Tát không che được thân Hành Giả vậy; việc nhỏ việc lớn cầu nguyện đều được. Nếu có kẻ trai lành, người gái tín được Ấn Khế này thọ trì, trước phải Tịnh Tâm không cho tán loạn, thường ở nơi Định, trước tụng Tam Quy và các Tâm Giới sau kết Ấn Khế này. Ngay lúc đó, Địa Thần ở 10 phương bưng lư hương cúng dường Hành Giả. Đế Thích, Phạm Vương hiện ra trước mặt nói rõ các bổn nguyện giữ gìn. Các Đại Thần Vương ở hai bên làm chứng minh . Quán Đảnh Luân Vương và các Chấp Kim Cang Thần ở trước sau tay cầm cây phất trần giữ gìn Hành Giả. Mười phương Như Lai ở 10 phương phóng bạch hào quang chiếu thân Hành Giả. Các Kim Cang Tạng ở trên hư không mưa các hoa báu an ủy Hành Giả. Trong hào quang có Hóa Phật cầm Đại Pháp Luân Ấn, Hành Giả được ấn đảnh rồi thì các môn Phật Pháp đều tự hiểu biết. Nếu muốn kết Ấn Khế này, thiêu ba thứ hương, một là Đàn Hương, hai là Huân Lục Hương, ba là Trầm Hương; mỗi khi thiêu hương, ba đời Chư Phật đều hiện trước mắt. Muốn triệu chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Thiên Địa Thần Kỳ, Nhật Nguyệt Tinh Tú, Ngũ Đạo Phù Quan, Tư Mạng Tư Lục, kết Ấn Khế này chú 21 biến, vận Tâm khắp 10 phương làm ba lần tất cả đều đến. Nếu muốn triệu 10 phương các Thần Bảo Tàng, Long Tàng, Phục Tàng, kết Ấn chỉ lên trời tức hiện trước mặt. Nếu muốn sai khiến Thần Quỷ, Kim cang, Thiên Thần, Bồ Tát, cho đến tất cả các bậc có Đạo Lực, kết Khế để nơi miệng đọc thầm 7 lần hoặc 21 lần, tức thời hiện tiền tùy ý sai sử. Mỗi ngày không luận đêm ngày sáng chiều, kết Khế tụng 1000 lần, 10 phương Như Lai tức hộ công lực. Các loại Nội Đạo, Ngoại Đạo, các loại có Pháp Thuật làm huyễn hoặc, muốn phá khởi Tâm tức phá. Tất cả các loại tật bệnh, dùng Tâm Đại Bi mà cứu hộ đều được trừ lành. Có các bệnh khổ lại cầu cứu, không cần đi, chỉ kết Ấn Khế miệng bảo: “Hãy đến bên bệnh nhân” tức có Thánh Giả tự biến hóa thân lại mà trị. Muốn dùng Pháp này cần phải nén hơi thì thầm, không được bất tịnh dùng Pháp, nếu có bất tịnh các Pháp không thành. Nếu các Ấn Pháp trì lâu không thành, kết Ấn Khế này, ngày tụng 1000 lần, không quá 7 ngày tức thành tựu. Không được tiết lộ, nhớ lấy, nhớ lấy, không được truyền phi khí nhân. Cần khổ luyện qua 21 ngày được thành Phật, Bồ Tát.

Thứ tư, Như Lai Mẫu Khế :

Còn gọi Kim Cang Mẫu, còn gọi Bồ Tát Mẫu, còn gọi Chư Phật Trí Mẫu, Chư Pháp Mẫu, Chư Ấn Mẫu, Tự Tại Thiên Mẫu, còn gọi Khế Trì Mẫu, Tổng Trì Mẫu . Hai tay chắp lại, 2 ngón út trong lòng bàn tay, 2 ngón trỏ như câu 2 đầu ngón út, 2 ngón cái áp lên lóng giữa 2 ngón trỏ, 2 ngón vô danh đứng thẳng đầu dựa nhau, 2 ngón giữa đặt lên lưng 2 ngón vô danh, đầu 4 ngón bằng nhau, chắp cổ tay lại tức thành .

Ngồi Kiết già phu tụng Chú nho nhỏ tức linh nghiệm . Nếu có kẻ trai lành, người gái tín muốn trì ấn khế này, tâm niệm 10 phương Chư Phật 7 lần, sau đó kết ấn. Ấn này ngày Rằm kết ấn tụng vạn biến, 10 phương thế giới tất cả tự tại Pháp môn tức thời hiện tiền cho đến 33 cõi trời cần đến tức đến không sai khác. Chư Phật trường sanh ta cũng trường sanh, Chư Phật thành đạo ta cũng thành đạo, Chư Phật vô ngại ta cũng vô ngại, Chư Phật hóa thân ta cũng hóa thân, Chư Phật phóng quang ta cũng phóng quang, Chư Phật tịch định ta cũng tịch định, Chư Phật tam muội ta cũng tam muội, Chư Phật thuyết pháp ta cũng thuyết pháp, Chư Phật không ăn ta cũng không ăn, cho đến tất cả việc gì Chư Phật làm ta cũng có thể làm như vậy. Vì sao thế? Vì ở trong tám loại Mẫu vậy, và tám tự tại, Chư Phật thường nói tám tự tại. Ta cũng từ trong đó mà ra không khác. Khế Ấn này hay nhiếp lực tự tại trong 8 phương, mỗi mỗi phương giới đều có 8 phương, mỗi mỗi phương đều có 8 loại tùy tâm. Tám loại như vầy: một là Biến hóa tùy tâm, hai là Từ Bi tùy tâm, ba là Cứu khổ tùy tâm, bốn là Thuyết pháp tùy tâm, năm là Thuận nghịch tự tại tùy tâm, sáu là Nhiếp chư yếu khế tự lai tương trục tùy tâm, bảy là tất cả độc ác khiến đều hướng thiện cho đến thành Phật không thối chuyển tùy tâm, tám là tất cả quả báo Phước Đức ở nơi thế gian cần cho thì cho cần bỏ thì bỏ cần tu thì tu, muốn thành tức thành muốn phá tức phá tùy tâm.

Thiện Nam Tử! như vậy trong các loại Tùy tâm, mỗi loại đề có trăm ngàn việc tùy tâm không thể nói hết, nếu có cầu việc gì sáng chiều kết khế ấn mà cầu đều, nếu không như vậy Chư Phật tức vọng ngôn. Nếu có kẻ trai lành người gái tín muốn trì ấn khế này cầu Phật vị, cầu Bồ tát vị, cầu Kim Cang vị, cầu Thiên thần vị, cầu hiện 10 phương, cầu sanh Tây phương, cầu sanh hạ phương, cầu sanh trong 10 phương tự tại, cầu trí thế gian biện luận giỏi v…v… chỉ cần chí tâm suy nghĩ việc đó ngày tụng 1000 biến, trong 7 ngày tức được một lần ra khỏi không có trở lại. Vì sao vậy? Vì đồng thân Phật được Phật thần thông, vì đồng tâm Phật được Phật từ vậy, vì đồng Phật nhãn thấy như Phật, vì đồng Phật lực được Phật giữ gìn, vì đồng Phật hành ở nơi thế gian, vì đồng Phật ấn gần gũi lãnh thọ, vì biến hóa đồng với Chư Phật, vì được Pháp thân chư Ma Ngoại đạo tự hàng phục. Lấy gì hàng phục? Thấy hai thân tức thấy một thân, thấy hai Phật tức thấy một Phật.

Thiện Nam Tử! Nên biết khế này chỉ Phật với Phật mới có kẻ nhớ trì, không phải kẻ sơ tâm, không phải Kim Cang. Phật ban cho khế này không phải là kẻ hạ căn vậy.

Thiện Nam Tử! Nếu đem khế này 10 phương thế giới các chỗ thông linh không có gì không biết, không gì không nhiếp thọ được, không ai không đảnh lễ, không ai không theo, không ai không ủng hộ, 10 phương Như Lai thảy đều ấn khả, làm cho trăm ngàn hằng hà sa số thế giới, đại địa thảy đều tràn ngập, núi Tu Di nát như bụi chỉ có Phật thân là không thay đổi. Nên biết khế này Chư Phật nắm giữ, nếu có Bồ Tát không từ nơi Phật thọ khế này mà biết là điều vô lý, hết cả thế giới Chư Thiên không thể thấy nghe được. Vì sao vậy? Vì Phật cho không vậy

Thiện Nam Tử! Nên biết khế này có vô lượng lực. Nếu hay chí thành trì qua 3 ngày, đại địa chấn động như Phật ra đời, ánh sáng mặt trời mặt trăng tự nhiên lu mờ. Vì sao vậy? Vì do lực của khế.

Thiện Nam Tử! Kết Khế Ấn này của Ta, mọi việc làm Ta chỉ là phụ thuộc; đồng như tâm Ta, Ta cũng chỉ phụ thuộc; đầy đủ Đại từ bi, Ta cũng chỉ là phụ thuộc; trưởng dưỡng Pháp tánh, Ta cũng chỉ phụ thuộc; hay độ chúng sinh cho đến Bồ đề, Ta cũng chỉ phụ thuộc; y theo kinh giáo nhớ nghĩ nơi tâm Ta cũng chỉ phụ thuộc; hay vì chúng sanh làm việc quyết dịnh, Ta cũng chỉ phụ thuộc; hay khiến chúng sanh tu hành Giới Hạnh, đối với chúng sanh làm các chế ước (điều kiện giao hẹn) khiến không dám sai, Ta cũng chỉ là phụ thuộc.

Thiện Nam Tử! Nên biết Khế này trì tụng trăm lần đưa lên đến đầu tức hay phóng quang, nên biết khế này là Như Lai Tâm. Kết khế trì trăm biến tự được Phật Tâm. Nên biết Khế này là con mắt của Như Lai, trì Khế trăm biến đưa để nơi mắt trái tức thấy như Phật, đưa để nơi mắt phải tức thấy như Bồ Tát, đưa để giữa chân mày tức thấy như Kim Cang bất hoại thần thông.

Thiện Nam Tử! Nên biết Ấn này là Như Lai thần thông biến hóa, kết Khế trì trăm lần đưa để đùi bên trái tức đồng Như Lai vô biên thân, ở trong thân quán thấy chúng sanh đầy đủ tự tại. Đưa ấn nơi đùi phải tức chuyển đại địa vào trong thân.

Thiện Nam Tử! Nên biết Ấn này là Như Lai thần túc vô ngại, kết Ấn Khế trì trăm lần trên dưới 8 hướng tức thời xuất hiện đều không quá 7 bước, nên biết khế này đồng Như Lai ngữ. Trì khế trăm lần để nơi miệng khi nói Pháp yếu đồng như Phật nói, tất cả đều hợp Khế Kinh, nên biết khế này là Như Lai đảnh luân, trì Khế trăm lần hay vì ác nghiệp chúng sanh làm đại phước điền thiện nghiệp chúng sanh chứng quả Thọ ký . Nên biết Khế này giả sử Chư Phật đồng thời ra đời, thần lực cũng như Chư Phật, nên biết khế này không thể nghĩ bàn. Nếu tu trì cần phải trân trọng, không được truyền cho Phi Khí Nhân (người chẳng có Căn Khí). Vì sao vậy? Vì Ta tự bảo hộ. Nếu truyền cho Phi Khí Nhân tức đồng phỉ báng Ta, nếu phỉ báng Ta làm sao mà được xuất ly; nếu không xuất ly làm sao thấy được 10 phương Chư Phật, làm sao được nghe danh hiệu 10 phương Chư Phật, làm thế nào thấy được Pháp Thân Chư Phật, vĩnh kiếp không được Chư Phật hộ niệm; một khi đọa vào Địa ngục, 10 hằng hà sa kiếp mới được ra khỏi, khi ra khỏi Địa ngục phải qua trăm ngàn kiếp làm thân đui mù. Nên phải biết Ấn Khế này cần trân trọng tu trì không dùng bừa bãi. Thọ Pháp Sám hối, trừ nạn cứu khổ, nhiếp chướng, độ người, hàng Ma, chế độc mới dùng, việc nhỏ dùng Pháp này không thành tựu tức mất hiệu nghiệm.

Nếu hay y như trên mà làm tức tự thành nghiệm. Giả sử Ta có nói rộng hết nghĩa lý bao trùm khắp đại địa cũng không thể nào hết được .

Thứ năm, Như Lai Thiện Tập Đà La Ni Khế :

Còn gọi là Nhiếp Nhất Thiết Bồ Tát Khế, còn gọi là Nhiếp Nhất Thiết Kim Cang Tạng Khế, Pháp Thân Khế, Tập Nhất Thiết Đà La Ni Thần Tạng Khế, Tập Nhất Thiết Oai Lực Tự Tại Khế. Chắp hai tay lại, 2 ngón giữa phải đè trái xoa nhau trong lòng bàn tay, 2 ngón cái trái đè phải vịn ngón giữa như cái vòng, 2 ngón vô danh, 2 ngón út đứng thẳng đầu dựa nhau, 2 ngón trỏ vịn 2 ngón vô danh vặn tiết trên tức thành .

Kẻ trai lành, người gái tín muốn trì khế này, nơi sớm chiều chí tâm xưng niệm Chư Phật trong ba đời, mặt ngó 10 phương nói Pháp Tam Quy, súc miệng rửa tay cho sạch sẽ, sau đó kết ấn bế tâm tịnh tọa, trong tâm tự biết lời của chư Phật trong 10

phương, một lòng nhớ nghĩ chứng Chư Phật Tâm, lời lẽ chư Phật từ đó mà ra, lời lẽ biến khắp thế giới chỗ có các Đà La Ni Pháp Môn hết thảy Đà La Ni Thần, trăm vạn ức Kim Cang Tạng Vương, trăm vạn ức thế giới Bồ Tát Ma Ha Tát và Chư Phật Đà La Ni, Long Tạng, Nhật Tạng, Nguyệt Tạng, Địa Tạng, A Tu La Tạng, Phục Tạng, Bảo Tạng, chư Phật bí mật cho đến tất cả Tạng Từ bi của Chư Phật đều tự khai mở trước mắt, biến khắp 10 phương thế giới chỗ có các Tạng Đà La Ni tự nhiên hiểu biết; hiểu biết xong thời tất cả các Pháp Đà La Ni lấy dụng không ngại.

Thiện Nam Tử! Nếu muốn thọ trì Pháp này cần đốt Đàn Hương, Huân Lục Hương, Trầm Hương …v…v… y phục sạch sẽ, xong phát thệ rằng : “ Con nay trì Pháp Ấn này là vì tất cả chúng sanh”. Phát lời thệ xong tức kết ấn trì đến 108 biến, tất cả chư Phật hóa làm trăm bách ức Thần cầm các khí trượng cùng các quyến thuộc vây quanh người trì Chú; trăm ức Thần quân, trăm ức Quỷ quân, trăm ức chư Thiên Tiên thảy đều tự tập hỏi rằng:“ Có sai sử điều gì ta sẽ làm cho không dám trái”; chỗ cần làm đều được, chỗ cần các thất bảo, các Pháp ẩn hình và dùng Pháp giáo hóa tứ thiên hạ có đại oai lực, các vị trên đều tự nhiên thuận phục. Nếu không thuận dùng Khế chỉ đó, tức trên Khế hóa ra binh chúng cầm lửa biến khắp 10 phương thế giới, các binh chúng thân cao lớn vi nhiễu, Vua Chuyển Luân Vương dùng Ấn này thống trị thiên hạ.

Muốn được Pháp tạng, trì ấn để nơi tim tức có Trì Đà La Ni Vương vì nói Pháp yếu tự nhiên hiểu rõ.

Muốn hàng phục ác thú dùng khế chỉ đó, tức thời trên Ấn có 5 con sư tử xuất hiện, ác thú tự nhiên quy phục. Xưa kia, Như Lai ở nước Ma Ha Đà La, dùng Ấn này hàng phục voi điên Hộ Tài.

Nếu muốn dời đổi núi non, kết Ấn Khế chú 1000 biến, dùng Ấn chỉ núi ba lần chỉ đất ba lần, tức thời Địa Tạng và Kim Cang Tế từ dưới núi vọt lên, đem núi dời qua phương khác mà tất cả chúng sanh không hay biết, Như Lai phóng quang động địa là dùng Ấn Khế này . Nếu có tai họa, tật bệnh lưu hành, mưa gió sấm sét, mưa đá …v…v… muốn dứt, kết ấn chú 7 lần, luân chuyển ba vòng, các tai họa đều tiêu.

Nếu trì các Chú lâu ngày không linh nghiệm, nên kết Ấn này để nơi đảnh đầu,tức được tối thắng thành tựu không nghi.

Các Thiện Nam Tử! Như Lai thần lực do đây mà có, Như Lai khế ấn Pháp do đây mà ra, quá khứ Chư Phật Pháp Tạng cũng do đây mà tập, chư Phật nhiếp phục Bồ Tát, Kim Cang thần lực, chư Thiên tiên, tất cả ngoại đạo để làm phục sự đều dùng Ấn Khế này.

Nếu tất cả các Pháp của chúng sanh không hiểu được, kết Ấn chỉ nơi tâm kẻ kia tức hiểu rõ. Chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang làm các việc thần thông người không biết được đều dùng Ấn Khế này, chứng đắc Đà La Ni, làm chấn động Tam Thiên thế giới không do Ấn Khế này mà được là điều vô lý. Các Khế Ấn trì tụng phần nhiều bị khuyết phạm, đắc Khế Ấn này không lo khuyết phạm, không sợ mất Pháp, tất cả các Thánh trên từ Chư Phật dưới đến các loại ẩn hình biến hóa đều lại cúng dường. Nếu trì Ấn này, thần lực cũng bằng Chư Phật, nếu người tu Vô Thượng Bồ Đề dùng đó tức có oai lực. Không truyền cho kẻ tiểu tâm tham lam, truyền cũng vô dụng lại khởi lòng phỉ báng.

Thiện Nam Tử! Nên biết Ấn này là thân Chư Phật hay nhiếp các Pháp tự thông rõ vậy, nên biết Khế này là thân Như Lai hay nhiếp các Thánh lại ủng hộ, nên biết Khế này là Như Lai Tâm nhiếp các Pháp Tạng tại nơi ý, nên biết Khế này là Như Lai Thân hay nhiếp Bồ Tát Kim Cang giúp đỡ thế gian, nên biết Khế này là Như Lai Thân hay nhiếp tất cả đại thần lo việc thế gian. Với Ấn Khế này ta chỉ là phụ thuộc, khế Ấn này tẩy rửa tay của chúng sanh hạ tiện vì các chúng sanh là do Bồ Tát dạy dỗ đắc thọ ký Bồ Đề, Ta chỉ là phụ thuộc.

Lành thay! Lành thay Thiện Nam Tử! Đừng nói chư Phật cũng do thân tâm dục, đừng khinh ấn này, cần nên hộ trì. Vì sao vậy? Vì Chư Phật không làm hạnh dâm dục, Chư Phật Bồ Tát không có dâm dục, nên biết khế này đồng với Chư Phật. Nếu trì Ấn Khế này, từng tạo nhân địa ngục đọa vào địa ngục tức khiến chúng sanh nhớ niệm tức được sanh Thiên, không có một ai phải chịu tội khổ. Thích Ca Như Lai thị hiện bệnh vào địa ngục cứu chúng sanh, thường dùng Khế Ấn này không có Khế Ấn nào bằng. Nếu Ta nói kiếp kiếp không ngừng nghỉ cũng không thể nói hết được. Nhớ lấy! Nhớ lấy!

Thứ sáu, Như Lai Ngữ Khế :

Còn gọi là Sắc Lịnh Chư Thần Khế, Sắc Lịnh Ma Vương Ngoại Đạo Khế, Văn Trì Bất Vong Khế, Tuyên Thuyết Chư Mật Môn Khế,, Đồng Nhất Thiết Chúng Sanh Ngôn Âm Khế, Nhất Thiết Nghịch Thuận Nhi Thuyết Vô Năng Giá Khế .

Chắp hai tay lại nơi ngón vô danh, 2 ngón út xoa nhau trong lòng bàn tay, dùng 2 ngón cái, trái đè phải vịn nơi móng 2 ngón vô danh và 2 ngón út, 2 ngón giữa đứng thẳng, 2 ngón trỏ đứng thẳng hơi cách 2 phân .

Nếu kẻ trai lành, người gái tín được ấn khế này hoặc thấy hoặc nghe, tất cả tội chướng nơi thân đều được tiêu trừ, các Pháp yếu hoặc không phải Pháp yếu nói ra đều thành sự thực, lời nói ra sắc triệu các việc khắp 10 phương thảy đều nghe biết, trong tâm có cần Pháp gì miệng chỉ cần nói ra: ta cần Pháp này, ta cần lực này, ta cần báu này, ta cần thuốc này, ta cần thuốc này, ta cần món ăn này, tất cả các việc cần chỉ tịnh tâm kết Ấn tụng chú 1080 biến, chỗ cần các thứ tức thời chư Thần tự đem đến dâng; cho đến 33 cõi Trời nghe lời nói cũng như chư Phật nói đều lại cúng dường, 10 phương các loại Dạ Xoa, La Sát, Quỷ Thần có tâm độc hại, nghe lời nói tâm độc tức trừ, tự tại cầu xin phát nguyện rộng lớn: “Chúng con xin nghe theo lời Phật không dám làm ác”. Hạ phương thế giới các Kim Cang Tạng nghe lời nói đem tòa Kim Cang dâng lên để người trì tụng ngồi lên trên đó. Duy Ma Cật lấy Kim Cang tọa ở Đông Phương dùng Ấn Khế này, Đa Bảo Như Lai cũng dùng sức của Ấn Khế này mà tứ dưới đất vọt lên, nói gì đều được không có sai chạy. Vì sao vậy? Vì lời nói của Chư Phật biến khắp 10 phương, nay lời nói đây cũng đồng với Chư Phật không khác, dùng lời nói quyết định như Chư Phật vậy, các Pháp nói ra đều không sai lầm, nhớ nghĩ không mất cũng như Chư Phật, nói ra điều gì chúng sanh nghe được đều hiểu rõ ràng, nói đúng nói sai các chúng sanh nghe thảy đều tin theo như nghe nói Pháp, dạy bảo việc gì chúng sanh nghe theo không có quên, dầu có nói bậy chúng sanh cũng nghe như Chánh Pháp mà hộ trì . Nếu có chúng sanh nào bị mất Tâm mất niệm muốn chết, Chân ngôn của Ta khiến được lại Bổn Tâm khiến được chánh định, chỗ tu các pháp yếu khiến các chúng sanh ưa nghe, lời lẽ nói ra không có vượt bực.

Thiện Nam Tử! Nếu trì Pháp này mãn 100 ngày, tất cả ngôn âm thảy đều hiểi biết, nếu hay chí tâm mà không hiểu được chư Phật tức vọng ngôn. Nếu Ta nói lực của Ấn Khế này không thể so sánh, không thể nói hết cho đến tất cả quá khứ, hiện tại, vị lai, các Thánh cũng không thể biết được sức của Ấn Khế này, trì tụng tự biết lấy, Ta cũng không thể hiểu biết được hết như là chưa thành Phật. Tất cả việc đều từ trong tâm khế này mà sanh, không được dùng bừa bãi. Nhớ kỹ, nhớ kỹ! Chúng sanh sơ tâm không được cho thấy Ấn Khế này, việc nhỏ cấm dùng, nếu dùng khiến mất nghiệm”.

Khi Thế Tôn nói Pháp này xong tất cả Bồ Tát, Kim Cang Tạng Vương cùng các quyến thuộc đều muốn tu trì Pháp này, Tất cả thiên địa, đại trắc nhật, nguyệt, tinh tú đều mất ánh sáng, tất cả Thần linh tự nhiên mất tiêu. Phật thấy như vậy tức khẽ mỉm cười, dùng Ngữ khế chỉ 10 phương giới Thiên Địa đại minh, thời các Bồ Tát tự hiện thân hình, mỗi khi cất bước, trời đất rung rinh không đứng vững được, dùng hết thần lực cũng không dừng được.

Bấy giờ, Đức Như Lai tức lại nơi tòa ngồi hỏi cùng đại chúng: “ Để Ta dùng Khế Ấn xem sao”, tức duỗi tay trái 4 ngón đưa về phía trước, ngón cái để nơi lòng bàn tay, tay phải cũng như tay trái để nơi vế phải, tức thời đại chúng và đại địa trở lại bình thường. Lành thay! Các ông nên biết, thần lực của Chư Phật là không thể nghĩ bàn, tâm các Bồ Tát được an ổn, được các Pháp, có chỗ gia trì, nếu không như vậy, dầu có tu hành cũng chẳng được gì” .

Bấy giờ, Đức Tạng bạch Phật rằng: “ Bạch Thế Tôn ! Khế Ấn này gia trì như thế nào? Sao Ngài không nói ra, nếu không nói ra cũng như có bệnh mà không có cách cứu chữa”

Bấy giờ, Phật bảo Đức Tạng Bồ Tát rằng: “Định Ấn này của Ta, tất cả chư Phật do đây được Định. Từ xưa đến nay chỉ có chư Phật mới có Khế Ấn này, tất cả chư Bồ Tát Kim Cang không có Khế Ấn này, nếu có tức đồng với Chư Phật. Sức Định lực này không có lời nào nói hết được, vì không nói hết được nên các Pháp cũng không thể nào nói cho hết được, không ai nói được, không ai hiểu được, chỉ Ta mới hiểu được thôi, chỉ có quá khứ Chư Phật là hiểu được; nếu có Bồ Tát mà hiểu được tức đồng với Chư Phật không phải là Bồ Tát.” .

Lúc Như Lai nói lời này xong, phương dưới có một vị Bồ Tát tên là Vô Ngại Thông từ dưới đất vọt lên trước Đức Phật buồn rầu ngồi yên, bảo tọa cũng không có, ngồi mà thở dài không xưng tán Phật khiến đại chúng rất là kinh quái, đều đồng hỏi Phật, Phật đáp rằng: “Để Ta sẽ hỏi”, tức bảo Vô Ngại Thông Bồ Tát: “Ông nay sao lại thở dài “ .

Vô Ngại Thông Bồ Tát tức thời vui vẻ, tòa báu xuất hiện oai quang rực rỡ chiếu khắp đại chúng, từ tòa bước xuống sửa y áo đến trước Phật bạch rằng: “ Con ở nơi phương dưới nghe Phật nói Tâm Trung Tâm và các Ấn Khế vui vẻ thọ trì được thần thông này, nay lại nơi đây . Lành thay! Thế Tôn! Xin chứng biết cho con !” .

Phật bảo: “Ta sở chứng cho ông nên cứu giúp chúng sanh, chỗ thấy biết đều ban cho họ. Ta sẽ đem Phật tâm ban cho. Nếu được Phật tâm ban cho tức Mạn Đà La”

Vô Ngại Thông Bồ Tát bạch rằng: “Thế Tôn! Người chưa thành Phật, người không quyết định, người nhiều ràng buộc, người không Từ bi, các hàng như trên có vào được không?” .

Phật bảo: “ Vô Ngại! Nay Ta nói Pháp chỉ vì hàng hạ liệt, các hàng như trên muốn vào được Mạn Đà La, trong ngày làm Đàn có ba viện, không cần đồ cúng, chỉ cần hương thơm; 3 cây kích, nếu không có kích dùng 3 cây đao thay thế; 3 chén nước thơm; 3 mặt kiếng; chu vi Đàn 8 thước. Viện thứ nhất màu trắng, viện thứ hai mà đỏ, viện thứ ba màu xanh y như 5 phương pháp. Viện thứ nhất cầu Phật, viện thứ hai cầu Bồ Tát, viện thứ ba cầu Kim Cang. Ngoài ra các Thiên Tiên Quỷ Thần, các Pháp ở nơi ngoài Đàn mà cầu, cử tâm đắc thành, không cần nhiều ngày đã có hiệu; không được truyền Ấn ; có công hiệu nên cố gắng cần phải tinh tấn các Pháp tự nhiên chứng được .

Bấy giờ đại chúng thưa với Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Pháp Khế này do đâu được trì, do được hoán đảnh, do được gia hộ được các thần thông biến khắp 10 phương hay khiến tất cả đều quy phục, hay khiến các Pháp tự nhiên hiện tiền, chỉ có người ở nơi Phật tu trì Pháp này mà được, các người như trên Phật tự chứng biết, nay chúng con cũng muốn thỉnh làm nơi quy y “.

Phật bảo: “ Các ông hãy chờ trong chốc lát sẽ thấy.” .

Tức thời Đức Phật ở nơi tự tâm kết trì Ngữ Khế bảo khắp 10 phương Phật tâm trung tâm rằng: “ Các ông mau lại, đại chúng muốn thấy” .

Bấy giờ, Đa La Bồ Tát dẫn Bồ Tát Tam Khế, các quyến thuộc trước sau vi nhiễu từ phương Đông biến thân làm Phật mà lại, tất cả đại chúng thành tướng Bồ Tát hiện ra trước Phật ; Kiên Ý Bồ Tát từ phương Nam đẫn các Bồ Tát Thành tựu khế hóa thân làm Phật, mỗi mỗi các quyến thuộc đều tự biến thân làm Bồ Tát; Tâm Vương Sư Tử Hống Vương Phật từ Tây Phương lại dẫn các Chánh Thọ Bồ Tát Khế từ nước kia mà lại, nơi đường gặp các loại chúng sanh thị tâm phi tâm đều dùng Ấn chỉ đó tức đều thành Phật, những người chưa nghe đều được thọ ký Bồ Tát. Tối Thắng Như Lai có một đồng tử 14 tuổi trì Mẫu Khế Ấn từ phương Bắc mà đến đi qua các nước có các quân của đại Dạ Xoa La Sát, quân Quỷ của Đại Hắc, các loại quân phun lửa đại hắc phong và rắn lớn, tất cả các loại như vậy dùng Phật Mẫu Khế chỉ đó đều phát lòng từ đưa dẫn đồng tử đến chỗ Phật, các loại ác thú đều được Phật tâm thọ ký Bồ Tát. Sư Tử Âm Phật từ phương dưới mà đến trì Bồ Tát tập Đà La Ni Khế có trăm vạn ức Thần Đà La Ni làm quyến thuộc bay trên hư không lại làm chứng. Phương trên Hương Tích Như Lai có một đồng tử có mùi thơm khắp thế giới trì Phật Ngữ Khế mà đến, các chúng ở hạ phương vì Hương Tích Như Lai, Phổ Quang Như Lai đều đến Diêm Phù Đề, đều đem hoa cúng dường đến trước Phật, tất cả đều là đồng tử .

Bấy giờ, Như Lai bảo đại chúng rằng: “ Như vậy các vị đã đến từ nãy giờ có đáng làm Thầy các ông không ? Các vị này đều nương theo Phật có đại thần thông không bao lâu sẽ đuợc thành tựu” .

Đại chúng không một ai lên tiếng. Phật bảo: “ Lắng nghe! Ta sẽ gọi một người khác” .

Tức bảo rằng : “ Nầy Đồng Tử Quang Minh! Hãy đến đây !” .

Bấy giờ, Đồng Tử đang ở tại núi Tuyết Sơn, nghe Phật gọi tức thời liền tới nơi đại chúng. Đại chúng nói rằng “ Phật gọi ông tới, còn quyến thuộc ở đâu ?” .

Đồng Tử đáp rằng: “ Tất cả các ông đều là quyến thuộc của ta” .

Đại chúng hỏi rằng: “Chúng ta cùng ông lâu không từng biết nhau, tại sao bảo chúng ta là quyến thuộc?” .

Bấy giờ đồng tử mật trì Ấn Khế chỉ nơi đại chúng, ngoại trừ Hóa Thân của Phật, còn tất cả chúng Bồ Tát thảy đều đảnh lễ Đồng Tử, khiến đại chúng đều không hiểu tại sao . Bốn Chúng lễ xong thưa rằng : “ Nay chúng tôi xin thỉnh Ngài làm Thầy”

Đồng tử đáp rằng: “ Như Lai Ngữ Khế chân thật không hư dối, các ông nên thọ trì sẽ được như Ta không khác” .

Thời tất cả đại chúng đồng lời bạch cùng Phật rằng: “ Đồng Tử này tu Pháp Khế lâu chưa mà nay có đủ thần lực nhiếp đại chúng ở đây” .

Phật bảo: “ Các ông lắng nghe, Ta sẽ vì các ông mà nói nhân duyên này : Khi xưa Ta ở núi Linh Thứu tu hành, thường có nhiều loại ác thú muốn ăn thịt. Lúc đó, ở trong Định, Ta nhớ lại Thầy Ta là Không Vương Như Lai có nói một câu Chú chỉ tụng một biến, tất cả các loại trùng thú độc ác đều được Phật Tâm không có làm hại, Ta lại niệm tiếp thời tất cả các loại ác trên đều được giới Bồ Tát, thảy đều ăn rau cỏ. Sau đó có một Đồng Tử đến lo lắng cung cấp thừa sự cho Ta một đêm nên ở nơi Ta trộm được Chú này. Sáng ra từ giã Ta mà đi, sau 7 ngày được đại thần lực. Sau đó gặp Ta muốn dùng thần thông nhiếp phục Ta hai ba lần không được. Các ông nên biết, trộm Pháp mà còn có được thần thông như vậy, huống là được công khai thọ học “

Đại chúng nghe Phật nói thảy đều mong muốn được như Đồng Tử có đại oai thần lực tự tại. Phật bảo: “ Qua 7 ngày sau các ông sẽ được trừ kẻ không có lòng tin”

Bấy giờ có một kẻ ngoại đạo ẩn hình vào trong đại chúng, Phật biết mà không nói ra, kẻ kia muốn dùng ấn khế này để hàng phục các vị Bồ Tát, vì khởi tâm ác lúc đang kết Khế, thân tâm bị thiêu đốt, các Pháp đều mất hết. Nên biết Pháp này không được vọng truyền, tất cả sự nghiệp đều tùy ý, chỉ trừ có lòng ác, lòng ganh tỵ tức không thành, bằng không quyết chứng không sai . “Lành thay ! Thế Tôn ! Xin nguyện ấn khả, xin nguyện ấn khả cho chúng con mau chứng quả Phật, mau được thân Phật !”

Bấy giờ, Như Lai vì muốn ấn khả cho tất cả đại chúng tức dùng chánh thọ Bồ Tát khế 3 lần chỉ khắp 10 phương, tức có gió đen thổi đến làm tất cả các vị Bồ Tát đều té nhào xuống đất . Khi các vị xuất hiện, tức có mây đỏ xuất hiện, mưa các thứ hương thơm Chiên Đàn, lại tuôn nước thơm tắm khắp đại chúng, đại chúng được tắm xong thảy đều được thần thông tự tại, được tự tại rồi tức tu Pháp này, trải qua 7 ngày đều được thân Phật. Phật sắp nhập Niết Bàn thọ cúng dường của các Hóa Phật đều do lực của Khế này. Khi đại chúng được nghe lực của khế này, tất cả ều cùng nhau tán thán công đức của Phật .

“Lành thay Đấng Cứu Thế!
Đầy đủ thần thông lớn
Hiện khắp mười phương cõi
Đủ các oai đức lớn
Thân Phật tức thân phàm
Đức lực đều bằng nhau
Pháp Thân rất vi diệu
Cần nên phải quyết định
Cầu chứng được quả này
Cho đến khắp vị lai
Lời lẽ của phàm phu
Đồng Phật âm không khác”

Bấy giờ Ngài Văn Thù Sư Lợi và các Bậc Pháp Vương đều dùng thần thông bào khắp 10 phương tán thán Đức Phật . Lành thay Đấng Sư Tử!

Từ quang chiếu thế gian
Pháp thân rất vi diệu
Hiện những việc ít có
Siêng tu, lâu không đắc
Phóng quang được Bồ Đề
Đồng thân như Chư Phật
Tức sức của Thầy Ta
Nên biết con đường tu
Không qua chữ Từ Bi
Nguyện cho người đời sau
Cũng như Ta không khác”

Tức thời Như Lai lại nói kệ rằng:

“Trong tất cả các thân
Không gì hơn thân Phật
Các loại Pháp vi diệu
Không gì hơn Phật Tâm
Chúng sanh có tâm này
Chúng sanh tức là Phật
Thần lực Phật như thế
Bồ Tát không hiểu được
Qua hằng hà số kiếp
Ta chỉ phụ thuộc thôi
Nếu người hay thọ trì
Thân đồng Phật không khác
Nếu có lòng chí thành
Trong mộng được Bồ Đề
Ta nói nhân trong mộng
Các người lắng nghe
Nếu cầu thấy Pháp thời
Tất hóa ra lầu các
Chư Phật nơi hư không
Đều tụ tại nơi đầu
Hoặc thấy qua sông lớn
Tự hóa ra thuyền bè
Hoặc thấy lên núi cao
Rất lẹ làng nhanh nhẹn
Hoặc thấy tạo chùa tháp
Nương hư không mà đi
Hoặc thấy các Pháp hội
Đại chúng nghe mình nói
Hoặc thấy loài voi dữ
Duỗi tay tức quy phục
Hoặc thấy các Kinh Điển
Mình tự cầm lên xem
Hoặc thấy các lầu các
Mình yên ở trong đó
Hoặc thấy sông biển lớn
Đi vào đó không chìm
Tất cả mộng tướng trên
Nhân thành tựu đến gần
Cần tu niệm như vậy
Y thọ lời Ta dạy
Nếu không làm theo đây
Cách Bồ Đề rất xa
Nay trong Khế Ấn này
Nên giữ gìn thận trọng

Bấy giờ đại chúng nghe Pháp xong, thảy đều vui vẻ làm theo và đồng lễ Phật mà lui ra.

 

QUYỂN HẠ

Lúc bấy giờ A Nan ngồi trong đại chúng bỗng nhiên buồn rầu bức rứt, tất cả kinh Phật tự nhiên quên hết . Tất cả chư Đại Kim Cang, chư Đại Bồ Tát, Linh thần trong thế giới cho đến các Thần, Tiên, Rồng, trăm ngàn vạn ức thế giới Tứ Thiên Vương, Phạm Thiên Đế Thích đều bị mờ mịt, tinh quang mất hết, chỉ có Chư Phật mới biết rõ nhân duyên tại sao có sự việc này. Các Ngài đều an nhiên nơi tòa phóng ra hào quang tự hiểu nhau .

Thời Đức Tỳ Lô Giá Na ở nơi thân tỏa ra trăm ngàn ánh sáng hào quang rực rỡ muôn màu, ánh quang chiếu cho đến tất cả chúng sanh dầu có tội không tội khiến được an ổn hết cả sợ sệt . Lại từ nơi trong hào quang nói ra trăm ngàn âm thanh vi diệu bảo Chư Phật rằng: “ Các vị ! Oai quang này khó biết được, khó lường được, chỉ có các vị Sức như Ta, tâm Từ như Ta, Bi như Ta, Giải như Ta, Trí như Ta, Biện như Ta cho đến tất cả trong thế giới những người hiểu biết hết mọi việc mới biết hết được ánh sáng này, do vì đầy đủ nhân duyên mà được tất cả tri kiến” .

Bấy giờ A Nan ở trong chỗ mờ mịt có được chút ít suy nghĩ đứng dậy hỏi Đức Tỳ Lô Giá Na rằng: “ Bạch Thế Tôn! Vậy ánh quang này chỉ có Chư Phật mới biết được sao ?” .

Phật bảo: “ Thiện nam tử ! Chỉ có Chư Phật là biết được, các Bồ tát chưa thấy được như Phật .”

Tức thời A Nan lễ lạy chân Phật năm vóc sát đất, mắt nhìn xuống, dùng kệ hỏi Phật:

Bồ Tát trong thế giới
Hiện thân được làm Phật
Thế giới có Bồ Tát
Hay hóa vô lượng thân
Thế giới có Bồ Tát
Hay biết như Phật biết
Thế giới có Bồ Tát
Hay mở trói chúng sanh
Thế giới có Bồ Tát
Hay vào các cõi Phật
Thế giới có Bồ Tát
Đầy đủ các phương tiện
Thế giới có Bồ Tát
Hay vào trong các khổ
Thế giới có Bồ Tát
Nhiếp chúng vào thân đó
Như vậy các Bồ Tát
Đều là Bậc Quán đảnh
Cũng như là Phật vậy
Ứng niệm vào cảnh giới
Thần thông, Ba La Mật
Đều không thể nghĩ bàn
Hay ở trong các nạn
Tự tại không sợ sệt
Con xem thấy các Ngài
Đều như Phật không khác
Nếu thọ trì đầy đủ
Đồng như Phật không lường
Tụng trì Phật Pháp Tạng
Tất cả đều rõ biết
Tức là Pháp Vân đảnh
Đầy đủ đầy địa vị
Tại sao các vị này
Không rõ được nhân duyên
Các Ngài còn như vậy
Chúng con biết sao được .

Bấy giờ Đức Tỳ Lô Giá Na ở trong hào quang phát ra tiếng lớn bảo A Nan rằng: “Lành thay Phật tử! Các Bồ Tát vì từ bi không đổi nên không biết được, chỉ vì nhẫn nhục không biến nên không biết được, vì thần thông không biến nên không biết được, chỉ có thị hiện, thị hiện không biến nên không biết được, chỉ có vô ngại, vô ngại không biến nên không biết được . Như vậy, tất cả các “bất biến” không biến các Bồ Tát đều có, nếu như người biến được tức đều hiểu biết Phật tánh, tức biết được Ta, tất cả mọi việc biết được Phật tánh là hiểu biết tất cả, nếu không làm sao biết được Như Lai Vô lượng xứ “.

A Nan bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Như vậy các Bồ Tát còn không hiểu được, các hàng chúng sanh làm sao có thể biết được việc này?” .

Phật bảo: “ Như ông gần gũi Ta, Thích Ca Mâu Ni Phật, nay hỏi lời này khiến chúng sanh tự nhiên được rõ, lấy đó phụng trì, tất cả chúng sanh tự nhiên được hiểu những lời Ta nói.” .

Bấy giờ A Nan hỏi Đức Thích Ca Mâu Ni Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Việc này là thế nào? Con đã từng thân cận cúng dường trải qua nhiều kiếp . Xin vì con mà giải thị hiện các Pháp yếu con muốn tu hành để tẩy sạch tâm chúng sanh.” .

Bấy giờ, Như Lai bảo A Nan rằng: “Ta nay sẽ thị hiện các Thần lực, các ông cần phải bình tĩnh không được sợ sệt.” .

A Nan vâng lời Phật dạy, tức bảo đại chúng rằng: “Đại chúng nên biết! Đại chúng nên biết!”. Nói lớn ba lần như vậy.

Bấy giờ A Nan không tự biết thân mình ở trên hư không, đại chúng ngước nhìn A Nan, tin là A Nan có được Vô Ngại Thông, cũng như âm thanh vang tới khắp nơi, cho đến Trời A Ca Ni Tra tất cả thế giới đều nghe biết.

A Nan bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Con đã báo cáo xong, xin Ngài thị hiện.”

Bấy giờ, Như Lai nhập Từ Mẫn Định chỉ niệm Tâm Trung Tâm chú, niệm xong dùng ngón út tay phải chỉ về hướng Nam, bấm ngón chân cái xuống đất tức thời thế giới phi thế giới tất cả Địa ngục đều vọt lên hư không, thế giới bên trên mưa hoa sen báu phá nát Địa ngục, không còn một ai phải chịu khổ, các uế ác đều tiêu trừ, được Pháp nhãn thấy các Như Lai, sau lại thị hiện các thế giới, các Đại Dạ Xoa, vua La Sát, Phạm Thiên Đế Thích, Tứ Thiên Vương, các loài Ngạ Quỷ, A Tu La, Vượng thảy đều đắc thần thông, tức là được Từ Mẫn thiện thông, thương xót chúng sanh đồng như Phật vậy. Lại có Đại thần thông ở trong hư không mưa vi diệu mưa khiến các loài khởi niệm mong cầu đều được đầy đủ, tật bịnh nặng nhẹ nghe được sức này thảy đều tiêu trừ. Kẻ đói được no đủ, kẻ nóng nảy được mát mẻ, lại có thần thông chỉ trong chốc lát tất cả chúng sanh thảy đều luận thuyết Phật tâm địa. Lại có Đại thần thông khiến các chúng sanh ở trong thai mẹ hay nhớ biết được quá khứ, tâm địa biết được chỗ sanh ra, biết được mọi việc đã qua, lại có thần thông khiến 10 thế giới tất cả tai họa ác độc tiêu diệt vĩnh viễn. Lại có thần thông phóng ra ánh sáng chiếu khắp thế giới trong 10 phương, tất cả trong mỗi thế giới đó, Chư Phật Bồ Tát cho đến Thanh Văn, bốn quả Sa Môn đều được sáng rõ không có ngăn ngại, một lúc liền thấy mọi việc khắp tam giới, diệt hết mọi khổ, sống lâu như Phật. Lại có thần thông, ánh sáng của thần thông hiện ra năm màu, trong mỗi màu sắc có trăm ngàn vạn ức na do tha hằng hà sa hóa Phật, đều đem quyến thuộc các chúng đại Bồ Tát từ không mà đến, các quyến thuộc kia đều hay luận thuyết các Pháp yếu của Phật Tâm Trung Tâm đều tự hiểu rõ. Lại có Thần thông, ánh sáng của Thần thông chiếu 10 phương cõi nước làm cho đại địa rung động 36 lần, mặt trời, mặt trăng, sao … thảy đều rơi rớt, chiếu khắp tám phương, tất cả ma và ma dân đều bỏ nghiệp ma, mất hết thần lực được Phật thông, được Phật thông rồi nhớ lại việc làm, tức cầu sanh sám hối cầu được xuất gia không một ai có tâm thay đổi. Phật bảo: “Này Thiện nam tử! Ánh sáng của Thần thông này chiếu khắp thế giới, có đại oai đức, đủ tam minh lục thông và bát giải thoát, y pháp tu hành chỉ trong thân này đắc được Phật quả. Vì sao vậy? Vì Chư Phật tâm đồng thời chứng . Vì chư Như Lai đồng ấn khả . Ta, Tỳ Lô Giá Na là Phật Mẫu thường ở nơi đây giữ gìn, có nguyện cầu tự ấn khả, tự mãn nguyện, tự gần gũi, tự vì tất cả làm Thầy quán đảnh, có người cầu học tự lại làm chứng biết được Phật tâm khiến Chư Thiên đều lại cúng dường, khiến các Kim Cang Tạng Vương Mật Tích Bồ Tát vì đoạn tại biến thường che chở vậy, khiến thiên hạ thường lại vi nhiễu cho đến trong thế giới tất cả các kẻ hóa hình,biến hình, dấu tích, ẩn tàng thường lại ủng hộ; Phạm Thiên Đế Thích các Thiên chúng thường lại phục tùng, Bạt Đà Quỷ tử mẫu, ác quỷ thần, các loại phi hành thảy đều thuận phục. Cần y như Pháp, y theo Phật tâm để đắc Phật tâm, cần được chứng nghiệm không dùng Pháp khác, tức hay thành tựu Pháp này.”.

Bấy giờ A Nan bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Như vậy tâm Pháp này Phật tự giữ, dùng đại thần thông tức được như vậy, cho đến Chư Bồ Tát Kim Cang chưa tới Phật hạnh, chưa tới chỗ Phật tức cần phải học, bền vững nhất định không lui sụt tức đắc Bồ Đề, như các hạ căn muốn cầu làm sao đến được, Phật lực rộng lớn oai đức khó lường, lao tâm khổ nhọc, chịu đựng gian khổ mới thành, nay làm sao có thể khiến cho chúng sanh tu học Pháp này, làm sao được như Pháp, làm sao chứng nghiệm, làm sao thấy hiểu. Tâm sự chúng sanh là như vậy, lấy Pháp nào hiểu được Chánh Tà, lấy Pháp gì khiến cho Ma Vương, các đại ác vương biến quái tự điều phục, lại lấy Pháp nào mau chứng Phật tâm ; con nghe trong Khế kinh nói cần lâu khổ nhọc đầy đủ các độ mới mong chứng được. Con nay không hiểu, mong Phật vì con mà nói tất cả Pháp yếu chứng nghiệm thành Phật cho thế gian cùng biết.” .

Phật khen A Nan: “Lành thay! Lành thay! Nay ông muốn biết, hãy lắng nghe kỹ, nay Ta sẽ nói. A Nan! Phật Tâm này Trên thế gian ai là người hiểu được, ai biết được, ai là người thực hành mà không nghi, ai có thể cho đến khi chết sống mà biết được hết? Chỉ có Phật với Phật mới có thể biết được việc này. A Nan! Tâm chú này cần phải có lòng từ bi, ngày đọc 1000 biến, mãn 100 ngày Phật lực tự thành các việc làm đều thành, sức lực của Thập Địa Bồ Tát còn không có thể hơn được. Lại có một Pháp muốn biết chứng nghiệm, tụng 10 vạn biến xong ngậm một miệng nước trì 100 biến, làm việc gì phun nươc đó tức thì các khổ tiêu diệt, nếu trừ được tức là có hiệu nghiệm . Trì cho đến 100 vạn biến, núi cũng phải đổ các tội đều trừ, nếu trong thế gian có các tai ách các việc không lành, mỗi sáng sớm phun một miệng nước mãn 3 ngày tức diệt, hay hộ Đại Thiên thế giới Địa và hư không. Nếu muốn biết tà, chánh, dùng một cái kiếng bằng đồng không cần lớn nhỏ chú vạn biến đem theo mình, mọi việc chánh tà đều biết.

Nếu muốn biết tâm niệm của kẻ khác, tâm Phật, tâm Bồ Tát, tâm Kim Cang, tâm Chư Thiên, tâm của bốn quả Thánh nhân, tâm Long Vương bốn biển, tâm vua Trời, tâm của Mặt trời, Mặt trăng, sao, Dạ Xoa, La Sát, tâm tất cả các loại quỷ thần, cho đến tâm của tất cả các loại ẩn hình ấu tích và tâm của tất cả chúng sanh trong thế gian này cùng chỗ suy nghĩ của họ, như trong Pháp Hoa Kinh nói, công đức trang nghiêm của 6 căn thảy đều chứng được, Phật tử, phàm phu, Bồ Tát, Kim Cang … cần nên tu Pháp này, ngoài ra không có Pháp khác.”.

A Nan lại bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Như muốn tu Pháp này, Đàn Pháp phải như thế nào? Cây thuốc phải như thế nào? Hương hoa, màu sắc cúng dường như thế nào, làm sao biết được? Xin Phật dạy cho!”.

Phật bảo A Nan: “ Ông nên biết, hỏi như vậy là đúng thời, vì điên đảo mà hỏi, nếu không điên đảo thì không hỏi như vậy. Tâm Phật là tùy sắc mà sanh. Tà chấp, tướng, sự ngã , các chấp như vậy ta không có, chỉ do tâm Pháp mà được chân thật tế. A Nan! không có một Pháp duyên nào đến chỗ Như Lai được, tâm không có cảnh nào khác, chỉ có Chân như.

A Nan! nếu tất cả các sự pháp làm được Phật, thì đâu cần phóng đại quang minh nơi thân tâm. Nếu thân tâm có mắc một Pháp thì không thể được gì. Vì sao vậy? Xưa Ta ở nơi địa vị phàm phu nơi núi Ni Khư La, thấy các chúng Tiên làm các pháp thuật, Ta lúc đó mới được chú này. Các chúng Tiên không biết cho Ta là kẻ ác, mới dùng tất cả các ác chú để hàng phục Ta, dùng tất cả thần lực chỉ tổ lao nhọc không làm gì được. Bấy giờ, Ta mới bảo các Tiên rằng: ‘ Nên biết Thần lực của các ông dầu cho hết đại kiếp này cũng không làm hại được Ta, chuyện đó không bao giờ có được!’.

Các Tiên đều lại hỏi Ta rằng: “Người được Tha tâm trí sao? Làm sao biết được là chúng ta hại Người?’.

Ta bảo rằng: “Các ông cho Ta là ác nhân nên lấy cỏ bện làm hình người ở nơi góc giếng kia dùng đao mà chặt, thì Ta sẽ chết không thể đi nói được việc làm của các ông”.

Bấy giờ các Tiên nghe Ta nói vậy, thảy đều tiều tụy lại đảnh lễ nơi Ta, lại hỏi Ta rằng: ‘Thánh giả làm sao biết được?’.

Ta bảo các Tiên rằng: ‘ Các ông là vọng, Ta là chân ; các ông là tà, Ta là chánh ; các ông thấy có, ta thấy không ; các ông là nhành lá, Ta là gốc rễ ; các ông là hư, Ta là thật ; các ông dua nịnh, Ta là chân tín ; các ông từ nơi Ta mà sanh ra, làm sao con lại hại cha mẹ được, cành lá làm sao hại được gốc rễ, hư vọng làm sao hại được chân thật, lửa đom đóm làm sao sánh được mặt trời, nắm đất làm sao lấp được biển, độc dược làm sao tiêu được nước cam lồ, La Sát làm sao hại được Phật thân, con kiến làm sao lay được núi Tu Di” .

Bấy giờ các Tiên nghe Ta nói vậy rất tức giận cùng Ta đấu lực, dùng tất cả Pháp thuật bao vây Ta . Bấy giờ Ta trong phút chốc nhớ niệm trong tâm, thổi một hơi lên trời tụng chú 7 biến, mây đen bao phủ cả hư không, mặt trời mặt trăng mất hết ánh sáng, tinh tú biến mất ; ta lại thổi nơi đất tức thời đất lung lay không vững; trải qua 7 ngày ta lại dùng tâm triệu thỉnh 10 phương Phật, 10 phương đồng thời lại ở trên đỉnh Ta, tất thời thân Ta khiến tất cả đều đồng một thứ, chỉ có Ta biết, Chư Phật cũng không hiểu thấu được ; sau đó, Ta dùng mắt xem khắp 10 phương. Bấy giờ các Tiên hết kế, sợ sệt đảnh lễ cầu qui y nơi Ta, sám hối các tội cầu xin cứu hộ khiến được an ổn. Ta tức dùng Phật tâm mà quán khiến hết sợ sệt, lại trao cho Phật Tâm Trung Tâm Pháp khiến được thần thông. A Nan ! Tất cả tâm pháp cùng 10 phương các ác tâm pháp là chủ, nếu người cầu pháp sự và phi pháp sự tức là thế gian và xuất thế gian Pháp, không y nơi tâm pháp mà được thần thông là điều không có được”.

Bấy giờ, A Nan lại hỏi Phật rằng: “Như trên có nói Định ấn, vậy ấn ấy ra sao? Cúi xin Ngài vì con mà nói Pháp ấn!”.

Phật bảo A Nan: “ Lành thay ! Hãy lắng nghe! Trước hết ngồi kết già phu đọc tâm chú 7 biến chú nơi tay, sau mơí kết Định ấn. Tay trái ngửa để nơi rốn, tay phải ngửa đặt lên lòng tay trái, 10 ngón ngay ngắn, ngón giữa bên phải nắm ngón cái vằn trên tức thành. Nếu tụng chú 108 biến 3 lần cử thân, thì trên đất, hư không cho đến 33 cõi trời sanh lòng lành, tất cả các Đại ác vương hay hại người hay chướng ngại người thảy đều niệm Phật không có phỉ báng. Tất cả chúng sanh được Phật, Bồ Tát không còn thối chuyển, nhớ được túc mạng. Như Lai thường dùng ấn này chiêu người không có duyên, thường dùng ấn này khiến cho đại địa 36 lần lung lay. Ấn này công lực không thể nói hết, tu tập tự biết lấy”.

Bấy giờ A Nan bạch Phật rằng: “ Như Lai sở trì như vậy, còn người chưa được Phật tâm làm sao trì được ? Con thấy các loại thuốc hoặc thơm hoặc thúi, các thứ nước hoặc dơ hoặc sạch, mặt trời mặt trăng hoặc sáng hoặc tối, các người tu hoặc phàm hoặc Thánh, hoặc Phật hoặc Ma, hoặc tưởng hoặc tượng, hoặc có hoặc không, hoặc an hoặc nguy, hoặc đúng hoặc sai, các việc như vậy có đến trăm ngàn, là do định kiến điên đảo huyễn hóa bất nhất. Vì sao Như Lai nói phàm phu đồng Phật trì, nếu được Phật trì nhất nhất đều là việc Phật, nếu không được Phật trì nhất nhất đều là Ma nghiệp. Tại sao Như Lai dùng các phàm phu đồng một Phật tâm?”.

Phật bảo A Nan: “Lành thay! Lành thay! Nếu như phàm phu nếu hay trì giới, tâm này đồng tâm Ta, lực tức bằng Ta, nếu không được vậy Ta thọ sanh tử trong 6 nẻo luân hồi, chỗ nói ra dạy người thảy đều là hư vọng dối gạt chúng sanh, Ta tức là Ma không phải là Như Lai. A Nan! Nay ông nghi ngờ, nghe Ta nói đây. Nếu có chúng sanh hay trì Pháp này tức là Như Lai tâm. Như Lai tâm ẩn chứa trong người này, nên biết người này là Như Lai nhãn, tất cả huyết mạch cùng đồng với Phật; nên biết người này là Như Lai đảnh, trên đảnh Như Lai đặt để người này ; nên biết người này là Như Lai tâm, Như Lai tâm tạng phụ thuộc người này ; nên biết người này là Như Lai y, các Phật trong quá khứ hộ giúp người này cứu độ thế gian ; nên biết người này là Như Lai thọ, tức là Phật vĩnh kiếp không hoại ; nên biết người này là Phật Kim Cang Sơn, giả sử thế giới trăm ngàn vạn ức tai biến đồng thời xuất hiện, đại địa ngửa nghiêng, tất núi non sông biển, núi Mục Chân Lân Đà, núi Thiết Vi, núi Đại Thiết Vi cùng 10 núi báu một thời sụp đổ, long tạng vọt lên, trời đất tiêu mất, trăng sao rơi rụng, chúng sanh tận diệt, người này không bị tiêu hoại, không bị các ác sai khiến vì được Chư Phật gia hộ giữ gìn, ở nơi áo Phật được che dấu, được an thân dưới lọng của Bồ Tát, được tất cả các Kim Cang vâng lời Phật ủng hộ vậy, tất cả thảy đều cung kính. Nếu thường thọ trì nên biết người này đắc được Phật thân không sai. A Nan! Nếu có chúng sanh trì Pháp này không được thành Phật, Ta tức thối vị đọa vào A Tỳ Địa ngục không có ngày ra khỏi, Phật thề vì tất cả chúng sanh và A Nan thân thể ra máu khắp cả đại địa, mặt trời mặt trăng không hiện, tinh tú biến mất bởi A Nan có lòng nghi mà Phật hiện ra việc như vậy.”.

A Nan bấy giờ thân tâm không biết nương đâu. Như Lai thấy A Nan hối hận mới nói kệ trừ nghi rằng:

Cảnh giới của Chư Phật
Hàng Tiểu căn không hiểu
Lời Chư Phật xưa nay
Bồ Tát còn không thấu
Thần thông của Chư Phật
Cảnh giới có không có
Chư Như Lai từ trước
Đồng ở một tâm này
Tâm này không là tâm
Tâm này tức là Phật
Nếu người theo tâm này
Không cần lìa thế gian
Phật tâm đời Quá khứ
Hiện tại cùng Vị lai
Cùng các vị Bồ Tát
Thân của chúng Chư Thiên
Hạng phàm phu hạ tiện
Nếu hay trì được tâm
Mau chứng Vô sanh nhẫn
Như không ở thế gian
Chúng Bồ Tát Thanh Văn
Cùng Tứ quả Sa Môn
Cho đến Chư Phật vậy
Đều do nơi đây sanh
Trì giới được đầy đủ
Tín thí được quả báo
Thường nghĩ không lãng quên
Nơi nơi mọi chỗ sanh
Vui vẻ được kính ngưỡng
Khi nói lời dạy dỗ
Đều do biết Phật tâm
Niệm niệm được quả báo
Tất cả do đây sanh
Hết thảy Chư Như Lai
Nói không thể nào hết
Hết thảy thần lực Phật
Lại có vô lượng phương
Khắp hết thảy các phương
Lại có vô lượng Phật
Hết thảy Phật thần túc
Đều từ Phật tâm sanh
Hết thảy trong Phật tâm
Đều nhập vào trong tâm
Như vậy Tâm Trung Tâm
Phật nói không thể nói
Hết thảy không nói được
Sanh ra là như vậy
Thế gian Không thế gian
Xuất thế Không xuất thế
Các phương tiện thiện xảo
Nói ra các lời lẽ
Bí mật Đà La Ni
Tha tâm tự tại Định
Quá khứ Hiện tại trí
Vị lai thành quả vị
Đều do từ đây ra
Ma vương, Chuyển Luân vương
Trời Phạm Thiên, Tự Tại
Những vị có thần lực
Đều do Phật tâm chuyển
Tà thuật cùng chánh ấn
Thấy nghe đều rõ biết
Lực Thánh tâm như vậy
Thông khắp mọi cảnh giới
Cũng từ đây sanh ra
Như Lai ấn đạo chúng
Hàng ma độ phi nhân
Các Thần biến tự tại
Đi vào các cảnh giới
Trừ các khổ chúng sanh
Chấn động các thế giới
Hay nhập vào các duyên
Thương xót khắp mười phương
Đều do từ đây ra
Chúng sanh tất cả loại
Làm tất cả việc phước
Là thành hay không thành
Tha tâm trí tự tại
Biết được sanh nơi đâu
Hết thảy trong mười phương
Khắp tất cả chúng sanh
Nghe lời đều tin Phật
Tướng lưỡi dài rộng này
Cũng là do đây sanh
Mười phương các cõi nưóc
Khắp nơi trên hết thảy
Cho đến trăm ngàn nơi
Mỗi mỗi trong các nơi
Đều có vạn thế giới
Chúng sanh không thể lường
Nghe nói đều tin Phật
Tướng lưỡi dài rộng này
Cũng đều do đây sanh
Trời Quan Âm Biến tịnh
Cùng các thế giới khác
Có hình hoặc không hình
Thảy đều có Phật tánh
Hữu lưu và vô lưu
Trong hư không các loài
Tùy hình mà thay đổi
Tin Phật đều nghe theo
Bất tín loại Xiển Đề
Nhớ Pháp không có lui
Đầy đủ các nhân duyên
Chúng sanh các loại này
Thừa quang mà xuất ly
Do ở đây sanh ra
Loài phàm phu hạ tiện
Nếu trì Phật Tâm chú
Thảy đều đồng như Phật
Đủ sáu Ba La Mật
Đắc được đại thần thông
Biến chiếu các cõi Phật
Tức đủ sáu thần thông
Lời nói đồng Phật nói
Khi dở bước hạ chân
Đều là đại thần biến
Nói đúng hay nói sai
Thảy giống nhau không khác
Là Phật không phải Phật
Chỗ nói Trí Như Lai
Phàm phu các việc Thánh
Phát niệm đến Bồ đề
Tất cả các quả vị
Đều là do Phật tâm.

Phật bảo A Nan Trừ Nghi Kệ này như hư không hoa, dùng thần lực của Phật khiến tại hư không có lọng của Bồ Tát, ở dưới lọng có trăm ức hằng hà sa thế giới bất khả thuyết thế giới vô lượng các Hóa Phật, lại có vô lượng bất khả thuyết vô lượng các Pháp thân Phật, lại có vô lượng bất khả thuyết vô lượng Báo thân Phật, tất cả quyến thuộc đều là các Bồ Tát đứng đầu hoằng truyền đạo Pháp, lại có vô lượng bất khả thuyết các Bồ Tát, mỗi mỗi Bồ Tát có vô lượng quyến thuộc đều là thầy dạy đạo trong nhân gian, đều là tam địa tứ địa, bát địa vây quanh. Như vậy Chư Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác, bốn quả Thánh, tất cả chư Thiên Tiên vô lượng thế giới,Tứ Thiên Vương, Phạm Vương, Đế Thích, A Tu La, các Dạ Xoa, La Sát, Quỉ thần, các vị có đại oai đức đại thần thông, đại hộ niệm, đại từ bi, đại tự tại … đoanh vậy nơi lọng giữ tâm bất thối thọ Phật Tâm Pháp. Lại có bất khả thuyết các Địa thần cầm các hoa sen ngàn cánh đem dâng chân người trì chú, phóng ánh quang minh nơi thân có màu vàng kim, tất cả chúng sanh thấy quang minh này đều dứt Hữu lậu nhập vào Phật định, thấy tất cả trong Đại thiên thế giới các nhân duyên, các sự nghiệp do đâu mà ra, thảy đều hiểu biết tường tận. Bấy giờ A Nan dùng kệ khen Phật: Lành thay Thầy ta Thích Ca Văn! Một lời trùm khắp Đại thiên giới

Chỉ dùng một lời mà độ khắp Tất cả chúng sanh không hay biết Lành thay Như Lai tự tại quang! Là tốt là xấu đều chiếu khắp

Trong tâm tuôn chảy nước Cam lồ Tẩy rửa được sạch không hay biết Lành thay vô úy tự tại tâm!

Hay dùng vô úy ban cho khắp
Cọp, Voi, Rồng độc đều điều phục
Tự nhiên sanh bi mà không biết
Lành thay Vô Úy Thần Thông vương!
Nói ra Đại thiên đều rung động
Tất cả thảy đều lại qui phục
Qui phục nhưng mà vẫn không hay
Lành thay Vô lượng từ bi tâm!
Hay dùng từ bi cứu các loài
Tất cả thảy đều nghe Phật Pháp
Lành thay Vô Lượng Thiện Tạng vương!
Hay dùng Tài pháp cho chúng sanh
Ai được thọ trì thảy thành tựu
Thế mà kẻ kia vẫn không hay
Lành thay Vô Lượng Bảo Tàng Vương!
Hay dùng bảo tàng che thế giới
Làm cho chúng sanh ra khỏi khổ
Tuy được khỏi khổ mà không hay
Lành thay Vô lượng Đại Pháp thọ!
Bóng mát che khắp tam thiên giới
Làm cho tất cả đều mát mẻ
Được lìa nóng bức mà không hay
Lành thay Vô lượng đại phát cảnh!
Chiếu soi phá mọi chốn tối tăm
Khiến từ nơi tâm phát trí huệ
Thế nhưng kẻ kia vẫn không hay
Lành thay Như Lai chỉ một lời!
Ai nghe cũng đều được một vị
Như thế một vị khắp chúng sanh
Cho nên được gọi Đại từ bi
Chúng con hạ tiện trí phàm phu
Muốn dùng tất cả lời xưng tán
Đầy đủ lòng thành xin dâng lên
Xin nguyện Thế Tôn thương xót nhận.

Bấy giờ, A Nan khen xong lại bạch Phật rằng: “Con nay xưng tán Như Lai, Thần đức của Thế Tôn con không nghĩ suy được, thần lực như vậy, tự tại như vậy đều quyết định, con chưa từng nghe thấy, vì sao Như Lai lại nói ra? Từ lâu Ngài đã biết chúng sanh căn tánh thấp hèn khó có thể học được, vì sao trước đây Ngài không nói?”.

Phật bảo A Nan: “Tâm Trung Tâm của Ta đây thường ở trước Ta. Khi Ta chưa ra đời, Tâm này đã có. Khi Ta chưa thọ sanh, Tâm này đã thọ sanh. Ta chưa được định tâm, Tâm này đã được Định. Như vậy, Định, Huệ, Lực là trụ xứ của Phật, là chỗ Phật ở, là chỗ Phật làm, chỗ Phật suy nghĩ, chỗ Phật hiểu biết, chỗ Phật làm Đạo, chỗ Phật quyết định. A Nan! Tất cả Bồ Tát, Kim Cang, Chư Thiên, phàm phu, các loại quỷ thần, Dạ Xoa, La Sát, Tinh tú, các loại huyễn thuật Ma vương, tất cả các loài như vậy nếu làm theo Tâm Ta tức được thần thông ; nếu không làm theo Tâm Pháp này mà ham muốn đắc thần thông là không bao giờ được.”.

A Nan lại bạch Phật rằng: “Tâm của Như Lai, Thập địa Bồ Tát còn không thể biết, nếu kẻ biết được là Phật thoái vị ; nay chúng sanh đều là hạ tiện, tâm không hiểu rõ các Nhân duyên tướng loại”.

Phật bảo A Nan: “ Nay Ta sẽ đem các tướng loại Nhân duyên Tâm Trung Tâm vì người mà nói, không lìa chúng sanh. Tâm này có 12 loại, là Phật Tâm Trung Tâm như thế nào.

Một là, tự thân có Khổ mà không lìa Khổ, tự tâm ở trong Khổ thấy chúng sanh khổ muốn cứu vớt, có Tâm quyết định thương xót chúng sanh,tự thân không thấy chúng sanh khổ, nơi các Pháp không đắc được. Hay thấy chúng sanh khổ, cứu vớt họ mau được xa lìa, khiến cho mau được ra khỏi là Tâm Phật thứ nhất.

Hai là, xem các Khổ trước mặt mà không thối chuyển, xem xét các Khổ, Tâm không thay đổi bất định, tự thân có Khổ cũng như vào Tam muội, nếu có các loại phiền não nhiễu hại tường như ở Định Tứ Thiền, tất cả oan gia đều tưởng như cha mẹ. Muốn cứu các Khổ, phải tưởng các kẻ khổ kia như con cháu trông cầu cha mẹ tức là Phật Tâm thứ hai.

Ba là tưởng Tâm mình như Tâm người, Tâm người như Tâm mình, cho đến tất cả thân phần, mong muốn của mình cũng như của người, của người cũng như của mình; tất cả các Tà tâm, Chánh tướng, các Pháp bảo cũng như thân mạng, tam quang cũng như mắt mình, cho đến thuốc thang, đồ ăn uống, bệnh khổ … thảy đều tưởng như trên, đây là Tâm thứ ba.

Bốn là chỗ Phật niệm tưởng là Phật, Ta thường ở nơi đó không xa lìa như vua Trời Tỳ Sa Môn chắp tay lễ tháp Xá Lợi, như 10 Kim Cang Tạng cùng giữ một châu Kim Cang, như 10 thế giới Thần Bạt Chiết La cùng giữ một chày Bạt Chiết La, như 10 thế giới xem một ánh sáng mặt trời, cũng như 10 thế giới chúng sanh cùng một thế giới, tức là Phật Tâm thứ tư.

Thứ năm là tất cả lời nói của Phật thuyết Pháp, ấn khế, thần thông, các thứ thần lực lớn nhỏ, cho đến tư tưởng kém hơn suy nghĩ luôn luôn không hề ngủ nghỉ, thân phải như Pháp trọng Đại Thiên thế giới, kẻ tin hay không tin đều không làm hại dù trong giấc ngủ, là Phật Tâm thứ năm. Nếu được như vậy tức được Ngũ nhãn Thanh Tịnh tay rõ các thế giới.

Thứ sáu là dùng Lục Độ để nhiếp Tâm, nhập Từ Mẫu Định nhiếp Tỳ Na dạ Ca làm 6 loại Thiện Trí Thức:

Thứ nhất, loại Tỳ Na Dạ Ca tên là Vô Hỉ, loại này thời khiến trong Tâm vui giận không định, ham làm các Pháp sát hại, thẩy tức dùng Sằn Đề Ba La Mật khiến vào Từ Mẫu Định làm Trì Nhẫn Vương

Thứ hai Tỳ Na Dạ Ca tên là Huyễn Hoặc, loại này tới thời Tâm phiền không định, không quyết định các Pháp và chúng sanh, khi bị như vậy dùng Thiền Ba La Mật nhập vào Bất Động Trí

Thứ ba Tỳ Na Dạ Ca tên là Vọng Thuyết, loại này lại thời khiến hay vui vẻ ham thích tâng bốc, sanh lòng quyết định những việc kỳ lạ, sanh tin tưởng vào lời nói ngông cuồng, nơi thanh tịnh hay sanh Tâm Tham dục, sanh Tâm Đắm nhiễm khiến cho điên đảo, tức dùng Thi Ba La Mật nhiếp làm Thiện Xảo Phương Tiện

Thứ tư Tỳ Na Dạ Ca tên là Chấp Phược, loại này tới thờng khiến hành giả kính lễ Ma Vương, Tỳ Na Dạ Ca thường cùng hành giả và tất cả Ma Vương làm bạn bè, hiện oai thân to lớn khiến cho quy y, nhiếp cho Tâm tin chắc, biết vậy tức dùng Ty Lê Gia Ba La Mật mà nhiếp làm Đại Lực Phương Tiện Vương

Thứ năm Tỳ Na Dạ Ca tên là Khổ Ý, loại này lại thời khiến người sanh tâm hy vọng chỉ tu hành lo cầu tài vật, trước dùng tài tâm sau đó ban cho tiền bạc cùng với vua Ngạ Quỷ ở nơi đồng trống, người này tâm thường không biết đủ, vì không biết đủ nên tất cả thần lực bị mất, tức dùng Đàn Ba La Mật nhiếp hiệu là Đại thí Chủ Vương, từ khi nhiếp phục, tham tâm tức trừ

Thứ sáu Tỳ Na Dạ Ca tên là Tác Vi, loại này lại thời chỉ nói việc phi pháp không có được Chánh trí, vọng sanh các Pháp tướng, không lợi cầu lợi, ham làm các lý luận kỳ lạ, muốn làm Đạo sư ở trong Chánh Pháp sanh tâm chê bai, dùng Bát Nhã Ba La Mật mà nhiếp phục làm Trí Huệ Tạng Vương ; lại có Tỳ Na Dạ Ca tên là Đoạn Tu, loại này lại thời tất cả tâm niệm đều tận, lại sanh các bệnh ham ưa ngủ nghỉ phát động ngoại ma làm nội chướng khiến người sợ sệt, khởi nhiều vọng kiến, suy nghĩ nhiếu Pháp lạ kỳ, các thứ như vậy đều dùng Vô Úy mà nhiếp phục, chỉ dùng Đại Bi nguyện làm quyến thuộc, kẻ đó tức tự thần phục, thần phục rồi không nên trách mắng dùng làm Tâm thứ sáu.

Thứ bảy là ở nơi Thất Bồ Đề phần cần tu học có các công đức thường ban cho khắp cả, nhiếp tất cả chúng sanh Khổ, thân Ta thường thọ trì khiến tất cả chúng sanh nghe hiểu biết, khiến tất cả chúng sanh xa lìa ma cảnh.

Thứ tám là ở trong Bát Thánh Đạo cần phải ráng tu thường sanh Thập tín giữ hạnh Thập Thiện, không nói lỗi người khác, không khen mình chê người, làm ơn không mong báo đáp, thường làm Bố thí, giữ gìn Pháp không mệt mỏi, y theo giáo Pháp không mất bổn tâm.

Thứ chín không nghi Pháp, không ngã mạn, không tăng thượng, không chấp trước, không lừa dối, thường hành chân thật, chỗ tu các nguyện gì thảy đều nhớ biết, Phật và Tăng bảo luôn luôn hộ trì, lễ các tôn tượng không được khinh mạn, tất cả đều y như Pháp .

Thứ mười là đầy đủ Thập Tín: một là tin Phật thường ở nơi đời có đại thần thông ; hai là tin Pháp sâu mầu có sức đại phương tiện, có quyết định lực ; ba là tin Phật thương xót tất cả chúng sanh nói các Pháp yếu để trừ diệt khổ ; ( Bốn ? Trong Kinh không có ghi ) ; năm là tin Phật ở nơi đời ngũ trược thường hiện từ quang ; sáu là tin Phật nơi lục tặc như cha mẹ ; bảy là tin Phật nơi bảy lỗ thường nói Phật âm ; tám là tin Phật nơi 62 kiến không có thương ghét ; chín là tin Phật nơi đời ngũ trược thường độ chúng sanh, nói tâm vô ngại không có bờ bến ; mười là tin Phật, Bồ Tát và các Kim Cang thường hiện thần lực để hóa độ chúng sanh thảy đều thành Phật .

Thứ mười một là ở nơi các Pháp, các lời nói luận nghĩa, biện bác không được khen phải thận trọng, không bỏ giàu nghèo sang hèn, luôn luôn nghĩ Bồ Tát ở trước mặt, tất cả sợ sệt từ từ mà hết, nhớ Chư Phật Bồ Tát tự nhiên tiêu diệt.

Thứ mười hai xem xét tự thân nếu có chút mạn thường phải biết lấy, nếu có oán ghét thường tự bỏ, thân nhiều mạn thường phải điều phục, nếu nhiều tham cũng như cầm lửa, nếu nhiều dục tưởng thịt thúi, nếu nhiều cấu uế thường tưởng bạo ngục, nếu hay như vậy tức là Phật Tâm Trung Tâm Pháp quyết định, Phật tâm khiến vô ngại.”.

Bấy giờ A Nan bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Như vậy Phật Tâm Trung Tâm tức là cảnh giới của Phật sao? Chúng sanh cảnh giới sao? Nếu như chúng sanh cảnh giới đồng với 12 Tâm, thì đây không phải chở tâm chúng sanh, nếu chúng sanh làm được như trên thì không có gì phải nghi, nhưng làm sao chúng sanh có thể làm được như vậy?”.

Phật bảo A Nan: “Cứ thọ trì đi, 10 phương sẽ làm chứng, ông không thể biết, các ông muốn hiểu Phật Tâm Trung Tâm sao?”.

A Nan liền bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Như vậy Pháp khế nói không có sai, nay con xin hỏi Phật có đồng ý không?”.

Phật bảo: “Ông muốn gì cứ tùy ý mà hỏi!” .

A Nan thưa với Phật rằng: “Nếu như có chúng sanh muốn cầu thoát Khổ, muốn cầu hàng Ma, muốn cầu nhiếp trì, có Pháp nào khác hay là chỉ có Tâm Trung Tâm thôi. Nếu dùng Tâm Trung Tâm thì chưa thấy cách thức.”.

Phật bảo: “Ông muốn biết, hãy lắng nghe đây! Nay Ta vì người nói Tùy Tâm Đà La Ni, tức nói Chú rằng:

Úm ma ni đạt rị hồng phấn tra

Nếu người thọ trì không cần chọn ngày giờ, tháng, năm, sao, không cần trai giới, chỉ ở trước Như Lai hoặc trước tượng, trong Tịnh thất hoặc trước Tháp Xá lợi, tùy ý dùng các món hương hoa cúng dường, ngày Rằm tắm rửa sạch sẽ, mặc quần áo mới, tùy theo sức mà sắm các món cúng dường, vì Hộ Pháp cần ăn ba món bạch thực, làm một Đàn vuông lớn nhỏ tùy ý, đèn phan tùy ý treo, tụng Tâm Trung Tâm chú và Tùy Tâm Chú mỗi thứ 1080 biến, ngay nơi chân tượng nằm ngủ nơi sáng chiều, Như Lai tức vì hiện thân các vị Thánh Kim Cang cũng đều hiện thân, 10 phương Bồ Tát Chư Thiên đều lại vi nhiễu, tất cả các nguyện đều được đầy đủ ; nếu trong thân tự biết có xúc phạm hoặc là có trọng tội, tụng đến vạn biến tức được thân quang minh thanh tịnh của Phật cho đến tất cả các Pháp tụng trăm vạn biến không gì là không biết, không có Pháp trì khác. Nếu có các tượng hay làm người sợ sệt, chỉ dùng ngón giữa tay phải co vào trong lòng bàn tay lấy ngón cái đè móng ngón giữa, đọc thầm Tùy Tâm Chú không quá 100 biến tự nhiên hàng phục, độc hại hỏa tai dùng hơi thổi tức trừ, khó trừ khó diệt đều hay trừ diệt. Nếu có tất cả các việc chướng ngại, lấy hai tay chắp lại, hai ngón trỏ hai ngón vô danh câu nhau bên trong, các ngón kia dựa nhau trong lòng bàn tay đâu mặt, hướng bốn phương mỗi phương tụng 108 biến, tội cấu tiêu trừ chướng nạn đều diệt ; nếu có Tỳ Na Dạ Ca muốn điều phục tức điều phục, nếu không chịu phục dùng ngón chân phải bấm xuống đất tụng chú 108 biến, Tỳ Na Dạ Ca bảy lỗ ra máu tức hàng phục, 10 phương thế giới các vị Thông linh và các Tiên trì chú bốn bộ Vệ Đà và 8 Tạng ở nơi Long Cung có các Pháp bí mật, các loại hữu tình tùy tâm kêu gọi thảy đều thuần phục, trừ Ác Pháp là không được. Nếu muốn cầu các hương Trời để cúng dường, ngửa mặt lên trời tụng 108 biến, hương tức xuống, muốn đến cảnh giới của Phật Bồ Tát ở quốc độ trong 10 phương, dùng ngón giữa chỉ lên trời kêu Ma Hê Thủ La cùng đi theo, các cõi Trời không vào, khi lâm chung 10 phương Chư Phật đến trụ trên đầu dẫn đến các thế giới của Chư Phật. Muốn cầu thân này không chết, tức cảnh giới của Phật, tụng cho đến 10 ức biến tức được sống lâu cùng trời đất trừ không chí tâm, nếu chí tâm mà không được Ta tức vọng ngôn, tất cả Kinh giáo đều là ma nói không phải Phật nói.

Lại có Pháp muốn cầu tiền tài, lấy đồng tiền đồng để nơi tiết giữa chú thầm 108 biến lấy chỉ vào người kia mơi tim, người đó tức cho tùy miệng mình xin. Nếu muốn kêu gọi quan,chúa, phi hậu … lấy một cụm hương thơm tốt viết tên kẻ kia đem để nơi ngón trỏ chú 1080 biến, kẻ kia tức lại. Nếu cần lúa gạo các thứ … lấy ba thức để nơi ngón giữa, y Pháp trên tức được tùy ý. Nếu muốn mọi người hoan hỷ, co ngón giữa để vào miệng chú 108 biến lấy ngón đó chỉ , người kia tức vui vẻ thuận phục.

Lại có một Pháp muốn kêu các Rồng lấy nước giếng, chú 1000 biến đem rảy nơi nớc có Rồng, Rồng kia tức lại cung kính.

Lại có Pháp nếu Trời không mưa, lấy Long não và nước giếng một hộc chú 1000 biến giữa trưa đem để ra ngoài nắng, tức có Rồng trắng từ trong nước vọt ra trời tức mưa; nếu mưa nhiều, dùng đất màu vàng hoặc đỏ, trên giấy vẽ một con rồng chú 1080 đem quăng xuống giếng, tức có Rồng đỏ vọt lên, trời tức tạnh.

Lại có Pháp dùng bơ 1 cân chú 1000 biến tùy theo hướng gió mà đốt, các loại lúa má ruộng đất được tốt tươi.

Lại có Pháp nếu có các bệnh tật trong thế gian, nơi giấy đỏ vẽ hình sao Chổi chú 1080 biến, bệnh tức trừ, sao này có 6 sao nhỏ hợp thành.

Lại có Pháp nếu trong nước có nạn đao binh nổi lên bốn phương không yên, lấy một cây đao chú 1000 biến, tùy hướng có giặc mà chỉ tức có thần binh hiện, các nạn ngoại xâm đều được tiêu trừ.

Lại có Pháp nếu muốn tập các thứ nghề nghiệp văn chương, công xảo, nội kinh, ngoại điển, các thứ huyễn thuật cảnh giới chỗ làm của Chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang, mỗi sáng chiều trì 1000 biến, qua 100 ngày không gì là không biết Nếu muốn được báu của Hải Long Vương, Chư Phật, Long Tạng thọ ký cần thiêu 5 loại hương: Đàn Hương, Trầm Hương, Huân Lục Hương, Long Não, Tất Lực Ca … ở nơi ban đêm thanh tịnh tụng chú mặt ngó 4 phương, mỗi phương 1080 biến, bấy giờ 4 phương Long Vương chủ các vật báu tự đem đến cho.

Lại có Pháp cần các báu nơi đất để dùng làm các việc Công đức, chỉ nói rằng: ‘Ta cần báu này để làm các việc Công đức’, sau đó lấy chân đạp xuống đất chú 1080 biến tức thời 10 phương Địa thần cầm các báu đem dâng cho tùy ý sử dụng ; nếu vì danh lợi hoặc dùng các việc ác thì không được.

Lại có Pháp nếu có người ghét nhau, dùng 5 thứ hoa chú 108 biến viết chữ Phật vào mỗi loại tức tự hòa thuận thương yêu.

Lại có Pháp, nếu người trước đã trì các chú mà không có hiệu nghiệm, nên lấy áo của người đó chú 1000 biến đem đi để nơi tòa Phật qua 7 ngày, xong lấy mặc vào, sau đó các Pháp yếu đều được hiệu nghiệm, tất cả Bồ Tát và Kim Cang Tạng tự nhiên thần phục, sai sử mau chóng mọi việc đều được.

Lại có Pháp nếu có tật bịnh kiếp nạn nổi lên, lấy 7 loại độc dược là: Ô Đầu, Phụ Tử, Lang Độc, Bã Đậu, Hổ Phách, Quang Minh Sa Long Não, Hương Nhục, Đậu Khấu chú 1080 biến dùng nước ngâm, lấy nước đó rảy lên thân người bệnh, không bệnh gì không lành. Nếu chân tay co quắp, chú đao 1000 biến mà chỉ đó, tức cử động được, trọn đời không bị lại nữa.”.

Phật bảo A Nan: “Nếu Ta nói các Pháp yếu ra, thì cùng kiếp cũng không hết được. Nếu có cầu nguyện điều gì y như trên thảy đều thành tựu, tất cả mọi việc làm không luận lớn nhỏ đều được thành tựu hết thảy không có nghi ngờ, nếu hay trì tụng sẽ được bất thoái chuyển cho đến thành Phật. Nếu hay mỗi ngày làm Pháp này, trì tâm này hay ở nơi thế gian làm Đại Thọ Vương che khắp chúng sanh khiến lìa các Khổ, hay khiến tất cả đều được Phật tâm, tất cả chúng sanh đều được bất thoái đều do oai lực của người trì tụng.”

Khi Như Lai nói chú pháp và công năng xong, tất cả Bồ Tát, Kim Cang, Thiên Tiên hào quang nơi thân thảy đều ẩn mất, chỉ có Phật quang chiếu khắp cõi Diêm Phù Đề, tức thời Chư Thiên ở trên hư không đều bị xoay tròn, tất cả Ma Cung thảy đều đổ nhào, phút chốc tiêu tan không còn gì cả, đến cả đại địa 6 lần chấn động, 10 phương thế các Bồ Tát đều cầm tràng hoa đến cúng dường Đức Thích Ca Mâu Ni Phật, ở trong các hoa phát ra âm thanh đều nói sự việc của Phật Tâm, ở trong Phật Tâm lại ứng hiện không thể nghĩ bàn các chỗ cần dùng, chỗ các hoa hương bất khả thuyết âm thanh đều nói các Thần lực bất khả thuyết, các Bồ Tát dùng lực Phật Tâm Trung Tâm biến hiện thần lực bất khả thuyết, Chư Bồ Tát ở 10 phương thấy quang minh Phật chiếu khắp cả Diêm Phù Đề, các vị ở nơi trong tâm dùng kệ khen Phật:

Lành thay ánh sáng này!
Là sức Phật Trung Tâm
Ma Vương xem thấy rồi
Thân tiêu tan vô hình
Lành Thay ánh sáng đây!
Sức vô ngại của Phật
Ma Vương tự tiêu trừ
Mười phương Bồ Tát lại
Lành thay đây ánh sáng!
Là lực Phật Tùy Tâm
Sức lực Chư Bồ Tát
Cho đến loại phàm phu
Bà cấp Bà lầu na
Các thần Quỉ tử mẫu
Các Trời chúng Dạ Xoa
Thảy đều lại cúng dường
Tất cả Kim Cang chúng
Cùng với Tự Tại Thiên
Phạm Vương cõi Hương Tích
Thảy đều lại quy y
Tất cả các tinh tú
Phong, Hỏa, Lôi, Điển thần
Tứ Thiên, các Long Tạng
Đem hoa lại cúng dường
Trên dưới khắp bốn phương
Hư không và đáy biển
Tuôn chảy khắp mười phương
Như Lai Tâm Trung Tâm
Trọn kiếp nói không tận
Giả sử biển trăm ngàn
Cũng không bằng một hào
Giả sử trăm thế giới
Không bằng bảy mảy lông
Đầy đủ tất cả trí
Cũng không bằng Phật Tâm
Chúng con tu nguyện lớn
Trải qua vô số kiếp
Nơi các Đức Như Lai
Chưa ngộ Tâm Trung Tâm
Như Lai Tâm Trung Tâm
Chỉ có Phật là hiểu
Bồ Tát khó biết đặng
Chẳng bằng một ánh quang
Hóa hiện trong mười phương
Là bởi Tâm Trung Tâm
Cho đến các hữu đảnh
Thảy đều tùy tâm sanh
Chư Phật nói tùy tâm
Coi theo tùy tâm học
Xin nguyện tu học xong
Xin Phật thọ ký cho
Nếu được tùy tâm thành
Tức thời thành Chánh Giác.

Bấy giờ đại chúng nghe Phật nói xong thảy đều chắp tay trì Phật Tâm Trung Tâm tức thời Như Lai duỗi cánh tay sắc vàng ấn đảnh thọ ký cho, các Bồ Tát, đại chúng được Phật thọ ký hoan hỷ phụng hành.

10/05/1996