Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

PHẬT THUYẾT PHÁT BỒ-ĐỀ TÂM PHÁ CHƯ MA KINH

Hán dịch: Đời Triệu Tống, Đại sư Thi Hộ
Việt dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh

 

QUYỂN THƯỢNG

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Đức Phật ngụ tại tinh xá Trúc lâm Ca-lan-đà, thuộc thành Vương xá, cùng với chúng đại Bí-sô một ngàn hai trăm năm mươi người hội đủ và chư vị Đại Bồ-tát vân tập đến.

Bấy giờ, tại thành Vương xá, có đại Bà-la-môn họ Ca-diếp, vào một đêm, chợt nằm mộng thấy thế giới Diêm-phù-đề này có hoa sen rộng lớn gồm ngàn cánh, bảy báu trang nghiêm, thanh tịnh, đáng yêu thích. Nơi hoa sen lại có vầng trăng lớn, trong lành, đầy đặn, ánh sáng tỏa chiếu rực rỡ, Bà-la-môn thấy được hình ảnh này, tâm vô cùng hoan hỷ, thích thú, khoan khoái. Từ nơi mộng tỉnh giấc, ông ta suy nghĩ: “Ta nghe Sa-môn Cù-đàm là bậc Đại trí, những người có trí khác không ai hơn được. Ngài cũng gồm đủ đại tuệ cùng các phương tiện thiện xảo, ta nên đến đó để thưa hỏi về hình ảnh kia.” Sáng hôm sau, Bà-la-môn đến thẳng chỗ ở của Đức Thế Tôn là tinh xá Trúc lâm Ca-lan-đà. Đến nơi, Bà-la-môn đầu mặt lễ sát chân Phật rồi chắp tay, cung kính đem điều mộng thấy của mình bạch đầy đủ lên Phật.

Đức Thế Tôn bảo Bà-la-môn:

–Như chỗ ông mộng thấy thì hình ảnh này là rất tốt.

Này Bà-la-môn! Ông nay nên biết! Nếu trong mộng, người nào thấy được bốn thứ tướng sau đây thì đều là hình tướng thù thắng, an lành tối thượng. Bốn thứ ấy là gì?

  1. Hoa sen trắng.
  2. Dù lọng trắng.
  3. Vầng trăng.
  4. Tượng Phật.

Nếu thấy bốn loại hình ảnh như vậy thì phải hiểu đó là điều lợi lớn trên hết.

Bấy giờ Đức Thế Tôn muốn lập lại nghĩa này nên nói kệ:

Trong mộng nếu thấy tướng hoa sen
Và dù lọng trắng đều ân lành
Hoặc thấy vầng trăng lớn thanh tịnh
Người mộng sẽ được lợi tối thượng,
Lại nữa, nếu thấy hình tượng Phật
Tướng này tối thắng trong tối thượng
Ai ai cũng kính người ấy
Các công đức sẽ thường thành tựu.
Bà-la-môn lại bạch Phật:

–Kính thưa Thế Tôn! Những gì gọi là lợi lớn tối thượng? Phật do duyên gì mà nói như vậy?

Thế Tôn liền dùng kệ đáp:

Về lợi lớn nay ta thuyết giảng
Bà-la-môn! Ông hãy lắng nghe
Nếu người nào phát tâm Bồ-đề
Thành Lưỡng Túc Tôn là lợi lớn.
Chuyển luân vương ngôi vị tôn thắng.
Thống lãnh bốn đại châu tự tại
Nếu có chúng sinh ưa thành tựu
Phải nên phát khởi tâm Bồ-đề.
Thiên chủ Đế Thích phước báo hơn
Tự tại trong trời Tam thập tam
Nếu có chúng sinh ưa thành tựu
Phải nên phát khởi tâm Bồ-đề.
Trong ba cõi Dục, Sắc, Vô sắc
Mỗi cõi phước báo đều tăng hơn
Nếu có chúng sinh ưa thành tựu
Phải nên phát khởi tâm Bồ-đề.
Cảnh giới chúng sinh hiện vô biên
Theo đấy nên khéo hóa độ khắp
Như có tạo mọi lợi lạc rộng
Phải nên phát khởi tâm Bồ-đề.
Đại y vương hiện có thế gian
Trị liệu khắp tất cả các bệnh
Nếu có chúng sinh ưa thành tựu
Phải nên phát khởi tâm Bồ-đề.
Tạo ánh sáng lớn hiện thế gian
Mọi nơi tối tăm đều chiếu sáng
Nếu có chúng sinh ưa thành tựu
Phải nên phát khởi tâm Bồ-đề.
Tuy lại sinh ở trong ba cõi
Đoạn trừ tất cả hành điên đảo
Nếu có chúng sinh muốn lìa khỏi
Phải nên phát khởi tâm Bồ-đề.
Các chướng ngại, phiền não hiện có
Và mọi thứ pháp bất thiện khác
Nếu có chúng sinh vui đoạn trừ
Phải nên phát khởi tâm Bồ-đề.
Ba cõi, các kết sử hiện có
Tùy chỗ tạo tác bị ma thâu
Nếu có chúng sinh vui trừ đoạn
Phải nên phát khởi tâm Bồ-đề.
Nơi vô minh, nếu khéo điều phục
Mọi lưới ái, đều có thể đoạn
Nếu có chúng sinh vui xuất ly
Phải nên phát khởi tâm Bồ-đề.
Pháp tham ái kia nếu đoạn trừ
Tất cả cấu nhiễm đều thanh tịnh
Nếu có chúng sinh vui xuất ly
Phải nên phát khởi tâm Bồ-đề.
Nơi sinh tộc họ cùng sắc, lực
Người ngu dựa đấy sinh kiêu mạn
Nếu có chúng sinh vui đoạn trừ
Phải nên phát khởi tâm Bồ-đề.
Ngu chấp ngã kiến chấp thọ mạng
Nơi tự thiện lợi sinh kiêu căng
Nếu có chúng sinh vui đoạn trừ
Phải nên phát khởi tâm Bồ-đề.
Với các sắc pháp sinh kiêu mạn
Tội lỗi lớn sinh từ nhiễm ái
Nếu có chúng sinh vui đoạn trừ
Phải nên phát khởi tâm Bồ-đề.
Đa văn, trì giới và tu hành
Người ngu cậy đó sinh kiêu mạn
Nếu có chúng sinh vui đoạn trừ
Phải nên phát khởi tâm Bồ-đề.
Trụ A-lan-nhã hành khất thực
Với việc như vậy sinh kiêu mạn
Nếu có chúng sinh vui đoạn trừ
Phải nên phát khởi tâm Bồ-đề.
Ứng cúng, tự tại, thần thông đủ
Cậy mình tột bậc sinh kiêu mạn
Nếu có chúng sinh vui đoạn trừ
Phải nên phát khởi tâm Bồ-đề.
Kẻ ngu chấp trước tướng nhân, ngã
Cậy nơi, tướng ngã sinh kiêu mạn
Nếu có chúng sinh vui đoạn trừ
Phải nên phát khởi tâm Bồ-đề.
Thế Tôn, Phật hiện tại, vị lai
Tôn trọng, cung kính mà được phước
Nếu có chúng sinh thích lợi ấy
Phải nên phát khởi tâm Bồ-đề.
Chư Phật xuất hiện nơi thế gian
Chuyển đại pháp luân, hóa độ khắp
Nếu có chúng sinh vui nghe, nhận
Phải nên phát khởi tâm Bồ-đề.
Mọi pháp ác đều cần phải đoạn
Mọi pháp thiện đều cần phải tu
Nếu có chúng sinh vui thành tựu
Phải nên phát khởi tâm Bồ-đề.
Các hành giả cần tu phạm hạnh
Do đấy chứng đắc đạo vô lậu
Nếu có chúng sinh vui thành tựu
Phải nên phát khởi tâm Bồ-đề.
Ta đã thuyết giảng pháp vô thường
Mỗi mỗi nơi thân tự xem xét
Nếu có chúng sinh thích biết rõ
Phải nên phát khởi tâm Bồ-đề.
Ta nói hữu lậu đều là khổ
Người trí thấy khổ sinh chán lìa
Nếu có chúng sinh muốn xuất ly
Phải nên phát khởi tâm Bồ-đề.
Ta vì hữu tình rộng tuyên thuyết
Nên biết mọi pháp đều vô ngã
Nếu có chúng sinh muốn thông đạt
Phải nên phát khởi tâm Bồ-đề.
Nêu bày Niết-bàn, pháp tịch diệt
Chứng ngộ đại Bồ-đề vô thượng
Nếu có chúng sinh muốn thành tựu
Phải nên phát khởi tâm Bồ-đề.
Điều ta xưng tán tâm Bồ-đề
Này Bà-la-môn! Cung kính nghe
Như nghe, tin sâu nên phát tâm
Nên gọi là tu hạnh Bồ-đề.

Bà-la-môn sau khi nghe Phật nói kệ này rồi, liền bạch Phật:

–Kính thưa Thế Tôn! Nếu có người phát tâm Bồ-đề thì người này sẽ đạt được bao nhiêu phước?

Đức Thế Tôn lại nói kệ để trả lời Bà-la-môn:

Giả sử hết thảy loài chúng sinh
Tụ tập khắp trong cõi Phật này
Mỗi mỗi tu trì, hành tịnh giới
Đều hay an trú bậc học giới,
Khối phước kia lượng chứa vô biên
Ở trong các phước là tối thượng
Nếu người dốc phát tâm Bồ-đề
Mười sáu phần kia không bằng một.
Giả sử hết thảy mọi chúng sinh
Tụ tập khắp trong cõi Phật này
Mỗi mỗi phát tâm tín thanh tịnh
Thường hay an trụ bất tín hạnh,
Khối phước kia lượng chứa vô biên
Ở trong các phước là tối thượng
Nếu người dốc phát tâm Bồ-đề
Mười sáu phần kia không bằng một.
Giả sử hết thảy mọi chúng sinh
Tụ tập khắp trong cõi Phật này
Mỗi mỗi tu trì, diệu pháp môn
Đều hay an trụ bậc pháp hạnh,
Khối phước kia lượng chứa vô biên
Ở trong các phước là tối thượng
Nếu người hay phát tâm Bồ-đề
Mười sáu phần kia không bằng một.
Giả sử hết thảy mọi chúng sinh
Tụ tập khắp trong cõi Phật này
Rộng tu pháp hành Tu-đà-hoàn
Đều trụ quả vị Tu-đà-hoàn,
Khối phước kia lượng chứa vô biên
Ở trong các phước là tối thượng
Nếu người thường phát tâm Bồ-đề
Mười sáu phần kia không bằng một.
Giả sử hết thảy mọi chúng sinh
Tụ tập khắp trong cõi Phật này
Rộng pháp tu hành Tư-đà-hàm
Đều trụ quả vị Tư-đà-hàm,
Khối phước kia lượng chứa vô biên
Ở trong các phước là tối thượng
Nếu người thường phát tâm Bồ-đề
Mười sáu phần kia không bằng một.
Giả sử hết thảy mọi chúng sinh
Tụ tập khắp trong cõi Phật này
Rộng pháp tu hành A-na-hàm
Đều trụ quả vị A-na-hàm,
Khối phước kia lượng chứa vô biên
Là trên hết đối trong các phước
Nếu người thường phát tâm Bồ-đề
Mười sáu phần kia không bằng một.
Giả sử hết thảy mọi chúng sinh
Tụ tập khắp trong cõi Phật này
Rộng pháp tu hành A-la-hán
Đều trụ quả vị A-la-hán,
Khối phước kia lượng chứa vô biên
Là trên hết đối trong các phước
Nếu người thường phát tâm Bồ-đề
Mười sáu phần kia không bằng một.
Nếu người ở thế giới Phật này
Rộng gom hương Chiên-đàn thượng diệu
Tạo chùa, tháp Phật rất trang nghiêm
Cao, rộng ngang mức núi Tu-di,
Khối phước như vậy cũng vô biên
Là trên hết đốt trong các phước
Nếu người hay phát tâm Bồ-đề
Mười sáu phần kia không bằng một.
Lại nếu tạo lập các tháp Phật
Chỗ nên làm phân lượng như kia
Tùy chỗ tạo rồi rộng trang nghiêm
Chúng sinh này được quả thù thắng,
Mà phước lợi kia rộng vô biên
Là trên hết đối trong các phước
Nếu người hay phát tâm Bồ-đề
Mười sáu phần kia không bằng một.
Lại nếu tất cả loài chúng sinh
Giả sử sống lâu trọn một kiếp
Giúp chúng sinh bằng các thứ vui
Theo ý chúng sinh khiến đầy đủ,
Khối phước như vậy lượng vô biên
Là trên hết đối trong các phước
Nếu người hay phát tâm Bồ-đề
Mười sáu phần kia không bằng một.
Chỗ ta thuyết giảng đều như vậy
Mỗi một đều là pháp tối thượng
Nếu có chúng sinh lòng vui thích
Nên cầu quả Bồ-đề tịch tĩnh
Trụ nơi quả này được lợi lớn
Tối tôn thắng không gì sánh kịp.
Do vậy nếu người nghe pháp này
Phải nên tôn trọng hành chánh tuệ
Rộng tu khối phước lớn như thế
Mau chứng đại Bồ-đề Vô-thượng.

Bà-la-môn nghe Phật Thế Tôn xưng tán về tâm Bồ-đề như vậy, liền bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Con ở trong tâm Bồ-đề không một chút pháp nào có thể lay chuyển được.

Phật bảo Bà-la-môn:

–Đúng vậy, đúng vậy! Này Bà-la-môn! Nếu người phát tâm Bồ-đề thì quả thật không một pháp nào có thể chuyển. Tại sao? Này Bà-la-môn, nên biết Bồ-đề có ba loại. Những gì là ba? Ấy là Bồ-đề của Thanh văn, Bồ-đề của Duyên giác và Bồ-đề Vô thượng.

Này Bà-la-môn! Sao gọi là Bồ-đề của Thanh văn? Nghĩa là, như có người tuy phát tâm Bồ-đề nhưng ưa thích với tự lợi, không ưa thích lợi tha. Với lợi tha, tâm không thể phát khởi, không thể tu trì, không thể hướng nhập, không thể an trụ. Đối với kinh pháp ấy không thích lắng nghe, ghi nhận, cũng lại không thể thuyết giảng cho người khác nghe… Trong đời sau không còn thọ thân, đoạn trừ tướng đến, đi cũng không thể đạt được chánh trí bình đẳng, ở nơi đời hiện tại ưa cầu giải thoát. Này Bà-la-môn! Do nghĩa như vậy nên gọi là Bồ-đề của Thanh văn.

Lại nữa, sao gọi là Bồ-đề của Duyên giác? Nghĩa là, như có người tuy phát tâm Bồ-đề, nhưng đối với pháp Đại thừa không thích tu tập, không ghi nhớ, lại cũng tự lợi, hướng cầu chứng quả, không ưa lợi tha. Đối với lợi tha, tâm không thể tu trì, không thể hướng nhập, không thể an trụ. Với kinh pháp ấy không thích lắng nghe, thọ nhận, cũng không thuyết giảng chỉ bày cho ai, không thể an trụ nơi chánh trí bình đẳng, chỉ khởi tâm niệm quán mối liên hệ của các pháp, tùy chỗ quán sát mà được giải thoát. Này Bà-la-môn! Do nghĩa này, nên gọi là Bồ-đề của Duyên giác.

Lại nữa, sao gọi là Bồ-đề Vô thượng? Nghĩa là, như có người, tự mình có thể phát sinh tâm Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề, rồi lại khuyên người khác cũng phát tâm như vậy, đối với kinh pháp ấy tự mình lắng nghe, thọ nhận, tu tập, ghi nhớ, lại vì người khác giảng nói cho họ biết về ý nghĩa một cách rộng rãi. Nơi thân luân hồi không sinh nhàm chán mệt mỏi. Vui, muốn vì tất cả chúng sinh tạo mọi lợi lạc. Trụ ở trí bình đẳng, tự giải thoát rồi, lại muốn khiến cho hết thảy chúng sinh đều được giải thoát. Tự lợi, lợi tha đều được an ổn lợi lạc. Đem điều thiện lợi của mình giúp khắp cả đại chúng trời, người. Này Bà-la-môn! Do ý nghĩa ấy nên gọi là Bồ-đề Vô thượng. Tu tập hạnh này gọi là người hành thừa Bồ-tát. Này Bà-la-môn! Ông nay nên biết, lời Phật dạy là hết sức chân thật không có hư dối. Như chỗ ta nói về tâm vô thượng chánh đẳng Bồ-đề là nghĩa tối thượng. Nếu rời tâm đại Bồ-đề này mà phát khởi tâm Thanh văn, Duyên giác thì không thể lợi tha, rốt cuộc không đến được cảnh giới đại Niết-bàn. Vì sao? Vì hàng Thanh văn, Duyên giác, kia do từ chỗ lợi mình lại không sinh khởi hạnh lợi tha cao cả. Do duyên cớ ấy nên không thể hội đủ các phần nơi Phật pháp. Tuy phát tâm Bồ-đề tự cho là giải thoát nhưng tâm Bồ-đề kia cũng không thể đạt được quả báo lợi tha. Này Bà-la-môn! Nếu người có thể phát tâm Bồ-đề Chánh đẳng Vô thượng thì nơi tự nơi tha thảy đều bình đẳng. Đem chỗ lợi của mình hoan hỷ bố thí tức là đem cái tâm này thâu tóm khắp tất cả chúng sinh nơi thế gian. Chính là lợi lớn tối thượng của thế gian, cũng gọi đây là khéo, chế ngự giáo hóa thế gian. Như vậy, tức có thể trụ ở trí bình đẳng tối thượng, tối thắng không thể nghĩ bàn. Này Bà-la-môn!

Đây tức là tâm đại Bồ-đề, ông nên hiểu rõ đúng sự thật là như vậy.

Bấy giờ, Bà-la-môn bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Phật nói giải thoát vì sao sự giải thoát ấy lại có nhiều thứ loại như thế?

Phật nói:

–Này Bà-la-môn! Sự giải thoát của Như Lai, Thanh văn, Duyên giác không có nhiều thứ loại hình tướng. Này Bà-la-môn! Ví như có người dùng ba loại xe thú nhằm đi đến chốn báu, tuy phương tiện đi lại có sai biệt song nơi chốn hướng đến thì không có khác. Ba con thú kia, đó là lừa, ngựa, voi. Xe lừa thì sức mạnh của nó kém yếu. Do nhân duyên ấy nên người này tuy đến chốn báu nhưng không thể lấy các thứ châu báu ở đây để giúp cho chúng sinh rộng rãi, chỉ vui với cái lợi của mình, chứng đắc Niết-bàn. Xe ngựa thì nhẹ, lợi, nhanh chóng. Do sức ấy, nên người này tuy đến chốn báu cũng lại không thể sử dụng châu báu ở đây để rộng giúp chúng sinh, chỉ cùng với chúng sinh làm phước điền trong sạch. Còn xe voi kia thì bước đi thăng bằng, mạnh mẽ nhiều lực. Do sức lực như thế nên người này đến được tất cả kho báu ở trong thành rộng, lớn. Đến thành ấy rồi bèn suy nghĩ: “Châu báu của ba xe đều từ đây mà ra. Ta sẽ đem châu báu không kể xiết này cứu giúp khắp tất cả chúng sinh vô biên, vì họ mà tạo lợi lạc lớn rộng khắp.” Này Bà-la-môn! Người đi trên ba xe kia và người tu pháp ba thừa, cũng lại như vậy. Xe lừa kia tức là thừa Thanh văn. Xe ngựa ấy tức là thừa Duyên giác và xe voi chính là Đại thừa. Ông nay nên biết, nẻo hành nơi ba thừa kia tuy có nhiều loại hình tướng song chỗ chứng Niết-bàn, chỗ đạt được giải thoát thì không nhiều loại hình tướng, cũng không sai khác. Này Bà-la-môn! Lại như thế gian có ba người, đều muốn vượt qua một đoạn sâu của con sông lớn. Người thứ nhất dựa vào một chiếc bè lá nhỏ nổi mà qua sông. Người thứ hai so với người trước thì hơn, ông ta dựa vào tấm ván nổi mà sang sông. Người thứ ba so với hai người trước thì hơn hẳn, ông ta dùng thuyền lớn cùng với mọi người ngồi an ổn mà qua đến bờ bên kia. Điều này giống như người con trưởng của thế gian, khuyên bảo cha mẹ mình, chốn khỏi phải phòng hộ là ở tất cả nơi nào đã xa lìa các ưu não. Này Bà-la-môn! Người thứ nhất dựa vào bè lá mà qua sông nên biết đó là người theo thừa Thanh văn. Người thứ hai dựa vào tấm ván mà qua sông nên biết đó là người theo thừa Duyên giác. Người thứ ba ngồi thuyền lớn qua sông nên biết đó là người theo thừa Bồ-tát, từ chỗ tự độ lại độ người khác. Này Bà-la-môn! Do vậy, nên biết người theo ba thừa kia, tuy pháp tu hành có nhiều loại hình tướng, song chỗ chứng đắc về Niếtbàn của Thanh văn, Duyên giác và Như Lai không có nhiều hình tướng.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn lập lại nghĩa này, nên nói kệ:

Ba thừa chứng Niết-bàn
Pháp Niết-bàn chỉ một
Chứng đạo tuy sai biệt
Niết-bàn không hai tướng
Tất cả Phật ba đời
Đạt giải thoát tối thượng
Các pháp nhãn như thế
Bậc Chánh Giác nên giảng
Là pháp trí tối thượng
Sinh ra các phương tiện
Các hành giả tu tập
Phải nên học như vậy.

 

PHẬT THUYẾT PHÁT BỒ-ĐỀ TÂM PHÁ CHƯ MA KINH

QUYỂN HẠ

Bấy giờ, Đại Bà-la-môn bạch Phật:

–Thưa Thế Tôn! Người tu các pháp Đại thừa thì phải tu những hạnh gì?

Phật bảo Bà-la-môn:

–Hiện như ta đã thuyết giảng phải nên tu hạnh như vậy. Này Bà-la-môn! Ông nay nên biết, nếu có người tu pháp Đại thừa thì sau khi tự phát tâm Bồ-đề Chánh đẳng Vô thượng xong, lại khuyên người khác cũng phát tâm như vậy. Đối với kinh pháp ấy thì vì người khác thuyết giảng chỉ bày một cách rộng rãi. Những người như vậy, phải nên gần gũi, tôn trọng, cung kính. Người ấy đem bốn Nhiếp pháp thâu tóm khắp các chúng sinh. Những gì là bốn? Đó là: Bố thí, Ái ngữ, Lợi hành, Đồng sự.

Ở đây, sao gọi là Bố thí? Nghĩa là, ở trong việc đem của cải bố thí hoặc ít, hoặc nhiều, tùy theo chỗ tự lực bố thí ấy mà khởi tâm rộng lớn, đem chỗ bố thí này thâu hóa sự tham lam bỏn sẻn kia. Như vậy gọi là tu Bố thí nơi nhiếp pháp của Đại thừa.

Sao gọi là Ái ngữ? Nghĩa là nơi tất cả xứ, thấy các chúng sinh luôn với vẻ mặt vui vẻ rộng lượng, ngôn ngữ hòa nhã, thuận hợp dùng các phương tiện đem điều thiện đến để an ủi và bằng ái ngữ này, thâu hóa các sự thô ác kia. Như vậy gọi là tu Ái ngữ nơi nhiếp pháp của Đại thừa.

Sao gọi là Lợi hành? Nghĩa là thấy các pháp thiện thì ngày đêm siêng năng thực hành. Đối với mọi loài chúng sinh thì khởi tâm Từ bi, dùng lòng tin trong sạch đã phát sinh để thâu hóa những kẻ không lòng tin. Lấy sự gìn giữ tịnh giới để thâu hóa kẻ phá bỏ giới cấm ở khắp mọi nơi thường đạo lợi ích an lạc. Như vậy gọi là tu Lợi hành nơi nhiếp pháp của Đại thừa.

Sao gọi là Đồng sự? Nghĩa là tất cả mọi nơi, trước hết phải hòa đồng với sự việc đó. Lại dùng phương tiện để giáo hóa nhằm làm cho tâm Bồ-đề thêm tinh tấn, kiên cố. Các người có trí, đối với pháp như vậy phải nên tu hành như thế. Nếu thực hành như vậy là chỗ tu chánh hạnh của Bồ-tát. Nếu dũng mãnh như thế mới gọi là tối thắng, đến được bờ kia, tất có thể thống đạt pháp môn tối thượng. Như vậy, gọi là tu Đồng sự nơi nhiếp pháp của Đại thừa.

Khi ấy, Bà-la-môn bạch Phật:

–Thưa Thế Tôn! Các Đại Bồ-tát dựa vào những gì để trụ mới có thể thành tựu được hai quả là Phước và Trí? Trụ có bao nhiêu loại? Xin Đức Thế Tôn Phật thuyết giảng các pháp trụ hiện có? Ngài thuyết giảng như vậy tức là đồng thời nêu bày rõ về pháp môn Bồđề tối thượng hy hữu.

Phật bảo Bà-la-môn:

–Ông nay nên biết! Trụ có ba loại, đó là: Thiên trụ, Phạm trụ và Thánh trụ. Sao gọi là Thiên trụ? Nghĩa là chỉ tu hạnh Từ. Nếu người trước ở phương Đông, thân nghiệp hành Từ, ngữ nghiệp hành Từ, ý nghiệp hành Từ một cách mạnh mẽ rộng lớn. Các phương Nam, Tây, Bắc, bốn hướng, thượng, hạ cũng lại thực hiện như vậy. Vì thân nghiệp hành động theo Từ, ngữ nghiệp nói năng theo Từ, ý nghiệp suy nghĩ theo Từ một cách mạnh mẽ rộng lớn, nên gọi là Thiên trụ.

Sao gọi là Phạm trụ? Nghĩa là tu bốn hạnh vô lượng. Bốn thứ ấy là gì? Đó là Từ, Bi, Hỷ, Xả. Đây gọi là Phạm trụ.

Sao gọi là Thánh trụ? Nghĩa là tu ba môn giải thoát. Ba môn ấy là gì? Đó là Không, Vô tướng, Vô nguyện. Đây gọi là Thánh trụ. Đại Bồ-tát phải nương tựa trong Thánh trụ như vậy mà an trụ.

Đức Thế Tôn muốn lập lại ý nghĩa này, nêu nói kệ:

Chỗ ta nói ba trụ
Là pháp dũng mãnh nhất
Vì các chúng Bồ-tát
Theo chỗ hợp nêu rõ.
Nếu ở mọi thời điểm
Như lời mà hành hóa
Ta sẽ luôn xưng tán
Người cầu Bồ-đề.
Thiên trụ và Phạm trụ
Thánh trụ cũng như vậy
Ở trong ba trụ này
Tùy thuận mà an trụ
Nếu ai trụ như vậy
Sẽ được pháp không diệt.
Bà-la-môn bạch Phật:

–Thưa Thế Tôn! Pháp môn Bồ-tát nghĩa ấy là thế nào? Trong đời vị lai, nếu có chúng sinh hỏi con về nghĩa này, con không có trí tuệ, Phật pháp hiện có không thể thông đạt, vào lúc đó con sẽ trả lời như thế nào? Xin Phật Thế Tôn vì con mà giảng nói rõ. Đức Thế Tôn vì Bà-la-môn mà nói kệ:

Bà-la-môn nên biết
Chỗ vì ông, ta nói
Chánh pháp rộng lớn này
Khuyên phát tâm Bồ-đề
Các người không trí tuệ
Do đấy mà thu đạt
Nếu hiểu pháp môn này
Tức là nghĩa Bồ-đề.
Chánh pháp được nêu ấy
Khuyên phát tâm Bồ-đề
Tùy chỗ hỏi chúng sinh
Mỗi một đều mở bày
Chánh pháp được nêu ấy
Khuyên phát tâm Bồ-đề
Các nghi hoặc, tà kiến
Tất cả đều đoạn trừ.
Ở trong đời sau cùng
Nếu có người đạt được
Chánh pháp đến với mình
Người này nếu bố thí
Tức tài sản rộng lớn
Hạnh thí đã viên mãn
Do thí được thành tựu
Được đến nơi bờ kia.
Lại nữa trong đời cuối
Có người được điều ấy
Chánh pháp đến với mình
Người này nếu trì giới
Thanh tịnh mà đầy đủ
Tức giới hạnh viên mãn
Do giới mà thành tựu
Được đến nơi bờ kia.
Lại nữa trong đời cuối
Có người được điều này
Chánh pháp đến với mình
Người này nếu nhẫn nhục
An thọ các nhiễu não
Tức hạnh nhẫn tròn đầy
Do nhẫn mà thành tựu
Được đến nơi bờ kia.
Lại nữa trong đời sau
Có người được điều này
Chánh pháp đến với mình
Người này nếu tinh tấn
Dũng mãnh mà phát khởi
Tức tròn hạnh tinh tấn
Do tinh tấn thành tựu
Được đến nơi bờ kia.
Lại nữa trong đời sau
Có người được điều này
Chánh pháp đến với mình
Người này nếu tu định
Trụ Tam-ma-hí-đa
Tức hạnh Định tròn đầy
Do định mà thành tựu
Được đến nơi bờ kia.
Lại nữa trong đời sau
Có người được điều này
Chánh pháp đến với mình
Người này nếu tu tuệ
Hiểu rõ pháp tối thắng
Tức thắng tuệ viên mãn
Do tuệ mà thành tựu
Được đến nơi bờ kia.
Lại nữa trong đời cuối
Có người được điều này
Chánh pháp đến với mình
Thường tôn trọng, cúng dường
Nên biết người như vậy
Gọi là cầu Bồ-đề
Được gần Bồ-đề Phật
Quyết định sẽ thành tựu.
Tám mươi câu-chi Phật
Giữ vững chánh pháp này
Nếu được đến với mình
Đạt pháp tụ tối thượng.
Nếu hiện tại trước Phật
Lãnh hội chánh pháp này
Nên biết người như vậy
Hiểu rõ nghĩa Bồ-tát,
Mến mộ Bồ-đề Phật
Ta biết người như thế
Ta thấy người như vậy
Ta niệm danh tự kia
Ta và tất cả Phật
Cũng chung chỗ xưng tán.
Nếu người nghe pháp này
Không chuyển, vì người giảng
Ai sinh tâm ngã mạn
Tạo lỗi lầm rộng khắp
Nên biết các người ấy
Không tôn trọng chánh pháp.

Khi ấy, Bà-la-môn bạch Phật:

–Lành thay! Bạch Thế Tôn! Thế Tôn khéo giảng nói pháp môn này tức là nghĩa Bồ-đề. Nếu người ở trong đời hiện tại, mến mộ hiểu rõ nghĩa như vậy, thì người này không bao lâu sẽ đạt được dũng mãnh lớn trong thế gian này, còn trong đời vị lai khéo giảng nói thắng pháp, an trụ nơi Bồ-đề, rộng vì mọi người tạo lợi ích lớn.

Phật bảo:

–Này Bà-la-môn! Ông nay đã có thể đạt được trí tuệ, chân chánh có thể nói lên những lời lẽ lợi ích như vậy. Này Bà-la-môn! Nếu có người hiện tại ở nước ta, nghe pháp này rồi, sau khi ta Niếtbàn, ở trong đời vị lai, nếu có thể đối với chánh pháp này biên chép gìn giữ, đọc tụng, nên biết người ấy yêu mến Thánh đạo, phát tâm Bồ-đề. Này Bà-la-môn! Vào thuở xa xưa, ta cầu Bồ-đề, ở một nơi vắng vẻ, gặp một Bí-sô thuyết giảng pháp này. Đang lúc ta vừa được nghe qua pháp này, liền xót xa đến rơi lệ ràn rụa, tự nghĩ: “Trong đời quá khứ, ta do nghiệp chướng gì mà chánh pháp này không được nghe?” Suy nghĩ như thế rồi, ta liền đem thức ăn cúng cho Bí-sô ấy. Sau đó lại thưa: “Nghe Bí-sô giảng pháp như vậy, nhưng tôi không thể hiểu, nay tôi muốn nghe lại, xin Bí-sô vui lòng rộng nói cho”. Lúc đó, Bí-sô ấy theo như yêu cầu, đã nói rõ lại cho ta nghe. Này Bà-la-môn! Ngay khi ta được nghe pháp này rồi liền phát nguyện: “Nguyện vào đời vị lai, ta đem chánh pháp này, ở trong đời sau cùng ra sức gìn giữ, hộ niệm, vì chúng sinh mà diễn nói, nêu bày rộng khắp”. Này Bà-la-môn! Khi ấy ta lại nghĩ: “Nay chánh pháp này, vào thời điểm nào, đối với chúng sinh thích hợp để thuyết giảng về sau, trong đời cuối cùng, các loài chúng sinh ở đây, ít có thể ái mộ, tu tập. Sau nữa, các đời kế tiếp, Phật không hiện tiền, chánh pháp này vẫn tồn tại ở đời? Đối với việc này, lòng ta vô cùng thương cảm. Này Bà-la-môn! Lúc ta suy nghĩ như thế thì có Đức Phật hiệu là Vô Lượng Quang dạy: “Nhờ nguyện lực nên quả báo sẽ thành tựu”. Này Bà-la-môn! Về ý nghĩa này mà ta thương xót tất cả chúng sinh do tích tập si ám nên phải thọ nhận luân hồi sợ hãi, về sau trong đời cuối có các Bí-sô đối với chánh pháp này khởi tâm nhàm chán, xa lánh, hủy hoại giới cấm hành không đúng luật nghi, duyên cớ ấy nên không thể thuyết giảng lưu thông chánh pháp như vậy. Vì thế, này Bà-la-môn! Ta vì đem lại lợi ích cho các chúng sinh nên giảng nói rộng rãi kinh này. Ông nên biết, nay chánh pháp này là pháp môn rộng lớn, thâu tóm chung bốn loại A-hàm. Bốn loại là gì? Đó là Tạp A-hàm. Trường A-hàm. Trung A-hàm và Tăng nhất A-hàm. Như thế là cùng thâu tóm chung tất cả Pháp tạng Thanh văn.

Các hàng Thanh văn nếu ở trong pháp ấy tu học, tức là tạng Thanh văn, từ đấy có thể sinh ra quả vị của Thanh văn thừa, cũng thu tóm cả pháp Bồ-tát phần của Thanh văn. Lại nữa, trong kinh này còn thâu tóm tất cả chỗ nêu giảng về pháp tạng Bồ-tát tối thượng. Cho nên được gọi là mẹ của các pháp. Tạng Tỳ-nại-da và tạng A-tỳ-đạtma hiện có cũng được tìm thấy trong kinh này. Cho đến tám vạn bốn ngàn pháp uẩn, mỗi một pháp đều từ trong kinh này mà ra. Lại nữa, kinh pháp này, tức là cội nguồn tối thượng của Nhất thiết trí xuất sinh trí của hàng Thanh văn, Duyên giác. Cội nguồn kia là rộng lớn sâu thẳm, không thể nghĩ bàn. Là ánh sáng lớn chiếu khắp ba cõi, đây tức từ cội rễ của Nhất thiết trí xuất sinh mọi công đức Bố thí hiện có của chư Phật Bồ-tát, các công đức của Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Trí tuệ và sự giải thoát tối thắng kia. Các tạng công đức như vậy đều ở nơi kinh này nêu giảng đúng như lý. Lại nữa, bốn pháp Thánh đế: Khổ, Tập, Diệt, Đạo cũng được nêu giảng trong kinh này. Nói tóm lại kinh này, thuyết giảng tổng quát về các hành vô thường, các pháp vô ngã, Niết-bàn tịch tĩnh. Do ý nghĩa ấy nên, hoặc thừa Thanh văn, hoặc thừa Duyên giác, hoặc pháp Đại thừa, tùy chỗ ứng hợp, trong đó đã đề cập rộng. Lại nữa, kinh này ở trong các pháp đã tán thán, ca ngợi rộng khắp về tâm Bồ-đề kia, cho nên kinh này là tối thượng, tối thắng.

Này Bà-la-môn! Nếu có người hiện gặp chư Phật, được gần gũi nghe pháp này nên biết người ấy từ vị Phật trước đã được nghe kinh Bảo Nghiêm. Ở trong kinh kia đã được nghe pháp này. Do đó, nay phải hiểu kinh pháp này, ở trong ba đời không hề bị đoạn tuyệt. Mọi chúng sinh theo căn cơ ứng hợp đều được nghe.

Khi ấy, Bà-la-môn bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Thật là hy hữu! Pháp của Phật nêu giảng là tối thượng, là sâu thẩm. Nếu các chúng sinh không trí được nghe chánh pháp tối thượng, với tạng công đức vô lượng, như thế không thể sinh tâm yêu thích sâu xa thì người này đối với đạo quả Chánh đẳng Chánh giác Vô thượng sẽ dùng nhân duyên gì để có thể thành tựu? Lại nữa, thưa Thế Tôn! Do nhân duyên nào mà có nhiều chúng sinh, ở trong pháp Đại thừa tối thượng ấy tâm lại sinh nghi hoặc?

Phật bảo:

–Này Bà-la-môn! Ông nay nên biết, trong tam thiên đại thiên thế giới này có hàng trăm câu-chi cung điện Thiên ma, hàng trăm câu-chi Ma vương và mỗi mỗi Ma vương lại hàng trăm câu-chi quyến thuộc của Thiên ma. Đối với pháp môn vô thượng này chúng thường dò xét, tìm kiếm, chỗ thuận lợi để gây ra khó khăn trở ngại không khiến cho chúng sinh biên chép gìn giữ, đọc tụng. Vì sao? Vì trong tam thiên đại thiên thế giới này, có nhiều chúng sinh thủ chứng quả A-la-hán, nay được nghe pháp môn Đại thừa này, có những thiện nam, thiện nữ phát tâm cầu đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thì các công đức trước kia lại cân nhắc, lường xét, so tính tức không bằng chỗ phát tâm Bồ-đề này. Vì thế nên Thiên ma dò xét, tìm cầu gây tạo tai nạn. Ma là nạn, nên có nhiều chúng sinh do nhân duyên này mà sinh tâm nghi hoặc. Này Bà-la-môn! Lại nữa, kinh này là vua trong các pháp, do duyên cớ ấy nên có nhiều khó khăn, trở ngại.

Bà-la-môn bạch Phật:

–Kính thưa Thế Tôn! Dùng phương tiện gì để có thể khiến các ma tự điều phục?

Phật bảo:

–Này Bà-la-môn! Ta có pháp môn Tổng trì bí mật gọi là Phá ma. Nếu khi ta nêu bày pháp môn này thì những gì tất cả ma và ma chúng hiện có thảy đều bị phá hủy. Này Bà-la-môn! Ví như vầng mặt trời phát ra ánh sáng chiếu rọi thế gian, thì tất cả tối tăm đều tan biến hết. Pháp môn Phá ma cũng lại như vậy. Nếu khi ta nói lên thì tất cả chúng ma đều bị phá trừ hết.

Bà-la-môn bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Pháp môn Tổng trì bí mật gọi là Phá ma là pháp môn như thế nào? Xin Phật vì con thuyết giảng rõ.

Phật bảo Bà-la-môn:

–Ông phải lắng nghe kỹ về pháp môn Phá ma. Tên gọi ấy là như thế này:

“Na mô a đế đa a na, nga đa bát là đát dụ, đát bán, nê tỳ dược, tát lý phược, một đề, tỳ dụ, bà nga phược nột, tỳ dược, đát ninh tha, ốt lý một na, sa ma lý một, na ốt một na một na, nhất hạ một na, thả đát la, một na, nhĩ nga ma, đa la hí, lạp một đà, đát đát la, một, đát lỗ hạ nga đa, nga ma na trí, ma hí, nậu sa ma, nột nột, ma phược la tô kha, a la di, đa y ca la xoa”.

Khi Đức Thế Tôn nói pháp môn Tổng trì bí mật gọi là Phá ma này, thì tất cả cung điện của ma đều bị chấn động lớn. Tất cả ma vương và chúng ma thảy đều lay động, kinh hãi run rẫy tâm sinh khổ não không thể ngồi yên, đều suy nghĩ “Thế Tôn vì tất cả chúng sinh, thương xót, tạo lợi ích, khiến đều được an ổn, lấy Từ, Bi, Hỷ, Xả làm lợi ích cho khắp chúng sinh. Vì sao hiện giờ, các ma chúng ta không có được lợi ích ấy mà chỉ nhận lấy khổ não, không thể ngồi yên?

Lại nữa, này Bà-la-môn! Như Lai nay cùng chương cú Tổng trì bí mật này mà củng cố, gìn giữ kinh điển Đại Thừa Phát Tâm Bồ-đề. Về sau, trong đời cuối, ở tất cả mọi chốn khi thuyết giảng kinh này, không bị tất cả hàng Trời, Rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, Atu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già, Nhân phi nhân dò xét tìm chỗ tiện lợi để gây trở ngại, khó khăn, nên nêu bày rõ, lưu truyền khắp, không bị chướng ngại. Nếu có người biên chép, gìn giữ, đọc tụng chánh pháp này, thì người này lìa xa hết thảy các nạn vua quan, nạn giặc cướp nạn: Nước, lửa, trùng, thú… Vì sao? Vì nay chánh pháp bí mật tối thượng này Như Lai vì thương xót tạo lợi lạc cho tất cả chúng sinh, nên đã nêu giảng rõ như vậy. Này Bà-lamôn! Phật không bao giờ xa lìa Từ, Bi, Hỷ, Xả, tạo lợi ích cho chúng sinh. Nếu thiện nam, tín nữ, như chỗ đã thuyết giảng mà tu tập đúng như lý thì những người này sẽ được ba nghiệp hành thiện, diệt trừ các tội, lúc nào cũng xa lìa khổ não. Này Bà-la-môn! Do nhân duyên ấy nên ông phải biết, nay chánh pháp này có thể trừ tất cả khổ, có thể diệt tất cả tội, có thể phá trừ tất cả ma, thành tựu tất cả pháp.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn lập lại ý nghĩa này nên nói kệ:

Ma đối người tu thiện
Thường dò tìm chỗ kém
Nhằm gây các trở ngại
Phá hoại pháp thiện kia.
Nếu nghe thuyết kinh này
Một câu hoặc một kệ
Các chúng ma ác kia
Thảy đều tự điều phục.
Run rẩy, rất kinh sợ
Khổ não không ngồi an
Do nhân nghiệp tội ấy
Gặt quả báo như vậy,
Với tất cả chúng sinh
Thường khởi tâm não hại
Các pháp thiện cách ngăn
Nhân ấy, quả không mất.
Nếu người, với pháp này
Biên chép, giữ đọc tụng
Người này sẽ xa lìa
Nạn vua và nạn giặc
Nạn nước, lửa, thú, trùng
Các nạn không thể xâm
Cho đến nhân phi nhân
Dò không được chỗ kém
Thân, ngữ, tâm hành thiện
Đoạn trừ hết thảy tội
Ở trong tất cả thời
Không sinh các khổ não
Xa lìa các ma sự
Không thấy các tướng ma
Và lìa các phiền não
Là do trì kinh này.
Nếu nghe kinh này rồi
Khéo tu học như nghe
Khéo hiểu tất cả pháp
Tiến đến nơi bờ kia.
Nếu người tu pháp này
Hạnh Bồ-đề thông đạt
Từ đạo Bồ-đề tới
Thành tựu Chánh đẳng giác.

Phật thuyết giảng kinh này rồi, Đại Bà-la-môn họ Ca-diếp, các Bồ-tát, Thanh văn, các hàng Trời, Người, A-tu-la, Càn-thát-bà… ở thế gian tất cả đại chúng nghe lời Phật dạy, đều vô cùng hoan hỷ, tin, nhận, phụng hành.

 

Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.