Kinh Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn Phật
(Đại Bát nhã Ba La Mật đa Kinh)
Hán dịch: Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang
Việt dịch: Phật Tử Bùi Đức Huề và Phật Tử Bùi Anh Tuấn dịch năm 2015

 

Kinh Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn Phật, quyển thứ ba mươi sáu.

Thứ hai mươi sáu phần bảy Phẩm Dạy bảo truyền dạy phần đầu.

Thiện Hiện ! Ngài lại xem nghĩa ra sao, nói rằng :

Tức thời nói thêm hoặc Có làm hay Không có làm các Phật Bình Đẳng Chính Đẳng Bồ Đề là Bồ Tát Bồ Tát lớn sai sao ?

Thế Tôn ! Có làm, Không có làm các Phật Bình Đẳng Chính Đẳng Bồ Đề. Cuối cùng còn Không thể được. Do tính Có sai. Huống chi có nói thêm Có làm, Không có làm các Phật Bình Đẳng Chính Đẳng Bồ Đề. Nói thêm này đã có sai. Như thế có thể nói rằng : Tức thời nói thêm hoặc Có làm hay Không có làm các Phật Bình Đẳng Chính Đẳng Bồ Đề là Bồ Tát Bồ Tát lớn.

Thiện Hiện ! Ngài lại xem nghĩa ra sao, nói rằng :

Tức thời nói thêm hoặc Có thấm bẩn hay Không có thấm bẩn các Phật Bình Đẳng Chính Đẳng Bồ Đề là Bồ Tát Bồ Tát lớn sai sao ?

Thế Tôn ! Có thấm bẩn, Không có thấm bẩn các Phật Bình Đẳng Chính Đẳng Bồ Đề. Cuối cùng còn Không thể được. Do tính Có sai. Huống chi có nói thêm Có thấm bẩn, Không có thấm bẩn các Phật Bình Đẳng Chính Đẳng Bồ Đề. Nói thêm này đã có sai. Như thế có thể nói rằng : Tức thời nói thêm hoặc Có thấm bẩn hay Không có thấm bẩn các Phật Bình Đẳng Chính Đẳng Bồ Đề là Bồ Tát Bồ Tát lớn.

Thiện Hiện ! Ngài lại xem nghĩa ra sao, nói rằng :

Tức thời nói thêm hoặc sinh hay là mất các Phật Bình Đẳng Chính Đẳng Bồ Đề là Bồ Tát Bồ Tát lớn sai sao ?

Thế Tôn ! Sinh, mất các Phật Bình Đẳng Chính Đẳng Bồ Đề. Cuối cùng còn Không thể được. Do tính Có sai. Huống chi có nói thêm sinh, mất các Phật Bình Đẳng Chính Đẳng Bồ Đề. Nói thêm này đã có sai. Như thế có thể nói rằng : Tức thời nói thêm hoặc sinh hay là mất các Phật Bình Đẳng Chính Đẳng Bồ Đề là Bồ Tát Bồ Tát lớn.

Thiện Hiện ! Ngài lại xem nghĩa ra sao, nói rằng :

Tức thời nói thêm hoặc thiện hay là thiện sai các Phật Bình Đẳng Chính Đẳng Bồ Đề là Bồ Tát Bồ Tát lớn sai sao ?

Thế Tôn ! Thiện, thiện sai các Phật Bình Đẳng Chính Đẳng Bồ Đề. Cuối cùng còn Không thể được. Do tính Có sai. Huống chi có nói thêm thiện, thiện sai các Phật Bình Đẳng Chính Đẳng Bồ Đề. Nói thêm này đã có sai. Như thế có thể nói rằng : Tức thời nói thêm hoặc thiện hay là thiện sai các Phật Bình Đẳng Chính Đẳng Bồ Đề là Bồ Tát Bồ Tát lớn.

Thiện Hiện ! Ngài lại xem nghĩa ra sao, nói rằng :

Tức thời nói thêm hoặc có tội hay là không có tội các Phật Bình Đẳng Chính Đẳng Bồ Đề là Bồ Tát Bồ Tát lớn sai sao ?

Thế Tôn ! Có tội, không có tội các Phật Bình Đẳng Chính Đẳng Bồ Đề. Cuối cùng còn Không thể được. Do tính Có sai. Huống chi có nói thêm có tội, không có tội các Phật Bình Đẳng Chính Đẳng Bồ Đề. Nói thêm này đã có sai. Như thế có thể nói rằng : Tức thời nói thêm hoặc có tội hay là không có tội các Phật Bình Đẳng Chính Đẳng Bồ Đề là Bồ Tát Bồ Tát lớn.

Thiện Hiện ! Ngài lại xem nghĩa ra sao, nói rằng :

Tức thời nói thêm hoặc có Phiền não hay là không có Phiền não các Phật Bình Đẳng Chính Đẳng Bồ Đề là Bồ Tát Bồ Tát lớn sai sao ?

Thế Tôn ! Có Phiền não, không có Phiền não các Phật Bình Đẳng Chính Đẳng Bồ Đề. Cuối cùng còn Không thể được. Do tính Có sai. Huống chi có nói thêm có Phiền não, không có Phiền não các Phật Bình Đẳng Chính Đẳng Bồ Đề. Nói thêm này đã có sai. Như thế có thể nói rằng : Tức thời nói thêm hoặc có Phiền não hay là không có Phiền não các Phật Bình Đẳng Chính Đẳng Bồ Đề là Bồ Tát Bồ Tát lớn.

Thiện Hiện ! Ngài lại xem nghĩa ra sao, nói rằng :

Tức thời nói thêm hoặc Thế gian hay là ra ngoài Thế gian các Phật Bình Đẳng Chính Đẳng Bồ Đề là Bồ Tát Bồ Tát lớn sai sao ?

Thế Tôn ! Thế gian, ra ngoài Thế gian các Phật Bình Đẳng Chính Đẳng Bồ Đề. Cuối cùng còn Không thể được. Do tính Có sai. Huống chi có nói thêm Thế gian, ra ngoài Thế gian các Phật Bình Đẳng Chính Đẳng Bồ Đề. Nói thêm này đã có sai. Như thế có thể nói rằng : Tức thời nói thêm hoặc Thế gian hay là ra ngoài Thế gian các Phật Bình Đẳng Chính Đẳng Bồ Đề là Bồ Tát Bồ Tát lớn.

Thiện Hiện ! Ngài lại xem nghĩa ra sao, nói rằng :

Tức thời nói thêm hoặc bẩn hỗn tạp hay là Thanh tịnh các Phật Bình Đẳng Chính Đẳng Bồ Đề là Bồ Tát Bồ Tát lớn sai sao ?

Thế Tôn ! Bẩn hỗn tạp, Thanh tịnh các Phật Bình Đẳng Chính Đẳng Bồ Đề. Cuối cùng còn Không thể được. Do tính Có sai. Huống chi có nói thêm bẩn hỗn tạp, Thanh tịnh các Phật Bình Đẳng Chính Đẳng Bồ Đề. Nói thêm này đã có sai. Như thế có thể nói rằng : Tức thời nói thêm hoặc bẩn hỗn tạp hay là Thanh tịnh các Phật Bình Đẳng Chính Đẳng Bồ Đề là Bồ Tát Bồ Tát lớn.

Thiện Hiện ! Ngài lại xem nghĩa ra sao, nói rằng :

Tức thời nói thêm hoặc thuộc sinh chết hay là thuộc Niết Bàn các Phật Bình Đẳng Chính Đẳng Bồ Đề là Bồ Tát Bồ Tát lớn sai sao ?

Thế Tôn ! Thuộc sinh chết, thuộc Niết Bàn các Phật Bình Đẳng Chính Đẳng Bồ Đề. Cuối cùng còn Không thể được. Do tính Có sai. Huống chi có nói thêm thuộc sinh chết, thuộc Niết Bàn các Phật Bình Đẳng Chính Đẳng Bồ Đề. Nói thêm này đã có sai. Như thế có thể nói rằng : Tức thời nói thêm hoặc thuộc sinh chết hay là thuộc Niết Bàn các Phật Bình Đẳng Chính Đẳng Bồ Đề là Bồ Tát Bồ Tát lớn.

Thiện Hiện ! Ngài lại xem nghĩa ra sao, nói rằng :

Tức thời nói thêm hoặc ở bên trong hay là ở bên ngoài, hoặc ở giữa hai bên các Phật Bình Đẳng Chính Đẳng Bồ Đề là Bồ Tát Bồ Tát lớn sai sao ?

Thế Tôn ! Ở bên trong, ở bên ngoài, ở giữa hai bên các Phật Bình Đẳng Chính Đẳng Bồ Đề. Cuối cùng còn Không thể được. Do tính Có sai. Huống chi có nói thêm ở bên trong, ở bên ngoài, ở giữa hai bên các Phật Bình Đẳng Chính Đẳng Bồ Đề. Nói thêm này đã có sai. Như thế có thể nói rằng : Tức thời nói thêm hoặc ở bên trong hay là ở bên ngoài, hoặc ở giữa hai bên các Phật Bình Đẳng Chính Đẳng Bồ Đề là Bồ Tát Bồ Tát lớn.

Thiện Hiện ! Ngài lại xem nghĩa ra sao, nói rằng :

Tức thời nói thêm hoặc có thể được hay là không thể được các Phật Bình Đẳng Chính Đẳng Bồ Đề là Bồ Tát Bồ Tát lớn sai sao ?

Thế Tôn ! Có thể được, không thể được các Phật Bình Đẳng Chính Đẳng Bồ Đề. Cuối cùng còn Không thể được. Do tính Có sai. Huống chi có nói thêm có thể được, không thể được các Phật Bình Đẳng Chính Đẳng Bồ Đề. Nói thêm này đã có sai. Như thế có thể nói rằng : Tức thời nói thêm hoặc có thể được hay là không thể được các Phật Bình Đẳng Chính Đẳng Bồ Đề là Bồ Tát Bồ Tát lớn.

Thế Tôn ! Sắc thân và Pháp cùng với nói thêm. Sắc thân và bình thường, Biến đổi cùng với Pháp cộng với nói thêm. Đã không thể được mà nói rằng : Nói thêm Sắc thân và Pháp. Cùng với nói thêm Sắc thân và bình thường, Biến đổi cộng với Pháp, là Bồ Tát Bồ Tát lớn giả. Không có nơi đó.

Phật bảo Thiện Hiện. Thiện thay, thiện thay ! Như thế, đúng như thế ! Như được Ngài nói.

Thiện Hiện ! Sắc thân và Pháp cùng với Sắc thân và bình thường, Biến đổi cùng với Pháp. Do không thể được. Nói thêm Sắc thân và Pháp, cùng với nói thêm Sắc thân và bình thường, Biến đổi cùng với Pháp. Cũng không thể được. Pháp và nói thêm do không thể được. Bồ Tát Bồ Tát lớn cũng không thể được. Bồ Tát Bồ Tát lớn do không thể được. Làm được Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn cũng không thể được.

Thiện Hiện ! Các Bồ Tát Bồ Tát lớn khi tu hành Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn. Nên học như thế.

Lại tiếp theo Thiện Hiện ! Khi trước Ngài nói rằng : Con không thấy có Pháp có tên là Bồ Tát Bồ Tát lớn giả. Như thế đúng như thế ! Như được Ngài nói.

Thiện Hiện ! Các Pháp không thấy các Pháp. Các Pháp không thấy Cõi Pháp. Cõi Pháp không thấy các Pháp. Cõi Pháp không thấy Cõi Pháp.

Thiện Hiện ! Cõi Pháp không thấy Cõi Sắc thân. Cõi Sắc thân không thấy Cõi Pháp. Cõi Pháp không thấy Cõi Nhận, Tưởng nhớ, Làm, Biết. Cõi Nhận, Tưởng nhớ, Làm, Biết không thấy Cõi Pháp.

Thiện Hiện ! Cõi Pháp không thấy cảnh giới nơi Mắt. Cảnh giới nơi Mắt không thấy Cõi Pháp. Cõi Pháp không thấy cảnh giới nơi Tai mũi lưỡi Thân Ý. Cảnh giới nơi Tai mũi lưỡi Thân Ý không thấy Cõi Pháp. Cõi Pháp không thấy cảnh giới nơi Sắc thân. Cảnh giới nơi Sắc thân không thấy Cõi Pháp. Cõi Pháp không thấy cảnh giới nơi Tiếng nói, Hương, Vị, Xúc chạm, Pháp. Cảnh giới nơi Tiếng nói, Hương, Vị, Xúc chạm, Pháp không thấy Cõi Pháp.

Thiện Hiện ! Cõi Pháp không thấy cảnh giới Mắt, Cõi Sắc thân, cảnh biết của Mắt. Cảnh giới Mắt, Cõi Sắc thân, cảnh biết của Mắt không thấy Cõi Pháp. Cõi Pháp không thấy cảnh biết của Mắt, cảnh giới Tai, cảnh giới Tiếng nói. Cảnh biết của Mắt, cảnh giới Tai, cảnh giới Tiếng nói không thấy Cõi Pháp. Cõi Pháp không thấy cảnh biết của Mũi, cảnh giới Hương, cảnh giới Tai. Cảnh biết của Mũi, cảnh giới Hương, cảnh giới Tai không thấy Cõi Pháp. Cõi Pháp không thấy cảnh biết của Lưỡi, cảnh giới mùi Vị, cảnh giới Lưỡi. Cảnh biết của Lưỡi, cảnh giới mùi Vị, cảnh giới Lưỡi không thấy Cõi Pháp. Cõi Pháp không thấy cảnh biết của Thân, cảnh giới Xúc chạm, cảnh giới Thân. Cảnh biết của Thân, cảnh giới Xúc chạm, cảnh giới Thân không thấy Cõi Pháp. Cõi Pháp không thấy cảnh biết của Ý, Cõi Pháp, cảnh giới Ý. Cảnh biết của Ý, Cõi Pháp, cảnh giới Ý không thấy Cõi Pháp.

Thiện Hiện ! Cõi Pháp không thấy Cõi Đất. Cõi Đất không thấy Cõi Pháp. Cõi Pháp không thấy Cõi Nước, Lửa Gió, Rỗng, Biết. Cõi Nước, Lửa Gió, Rỗng, Biết không thấy Cõi Pháp.

Thiện Hiện ! Cõi Pháp không thấy cảnh giới Khổ Chân lý bậc Thánh. Cảnh giới Khổ Chân lý bậc Thánh không thấy Cõi Pháp. Cõi Pháp không thấy cảnh giới Tập hợp khổ, mất khổ, Đạo mất Khổ Chân lý bậc Thánh. Cảnh giới Tập hợp khổ, mất khổ, Đạo mất Khổ Chân lý bậc Thánh không thấy Cõi Pháp.

Thiện Hiện ! Cõi Pháp không thấy Cõi Ngu tối. Cõi Ngu tối không thấy Cõi Pháp. Cõi Pháp không thấy cảnh giới Làm, Biết, Sắc thân giả, sáu Nơi, Xúc chạm, Nhận, Yêu, Lấy, Có, Sinh, Già, Chết, Buồn than, Khổ, Lo buồn. Cảnh giới Làm thậm chí Già, Chết, Buồn than, Khổ, Lo buồn không thấy Cõi Pháp.

Thiện Hiện ! Cõi Pháp không thấy Cõi Tham muốn. Cõi Tham muốn không thấy Cõi Pháp. Cõi Pháp không thấy Cõi Sắc thân, Cõi Không có Sắc thân. Cõi Sắc thân, Cõi Không có Sắc thân không thấy Cõi Pháp.

Thiện Hiện ! Cõi Có hình không thấy Cõi Không có hình. Cõi Không có hình không thấy Cõi Có hình. Cớ là sao ?

Thiện Hiện ! Rời Có hình sai làm ra Không có hình. Do rời Không có hình sai làm ra Có hình.

Thiện Hiện ! Bồ Tát Bồ Tát lớn khi tu hành Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn như thế. Với tất cả Pháp đều không đâu thấy. Với tất cả Pháp thời không đâu thấy. Tâm họ không hoảng không sợ không hãi. Với tất cả Pháp tâm không chìm xuống cũng không buồn hận. Sở dĩ thế nào ? Bồ Tát Bồ Tát lớn đó khi tu hành Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn. Không thấy Sắc thân. Không thấy Nhận, Tưởng nhớ, Làm, Biết. Không thấy nơi Mắt. Không thấy nơi Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý. Không thấy nơi Sắc thân. Không thấy nơi Tiếng nói, Hương, Vị, Xúc chạm, Pháp. Không thấy cảnh biết của Mắt, Cõi Sắc thân, cảnh giới Mắt. Không thấy cảnh biết của Tai, cảnh giới Tiếng nói, cảnh giới Tai. Không thấy cảnh biết của Mũi, cảnh giới Hương, cảnh giới Mũi. Không thấy cảnh biết của Lưỡi, cảnh giới mùi Vị, cảnh giới Lưỡi. Không thấy cảnh biết của Thân, cảnh giới Xúc chạm, cảnh giới Thân. Không thấy cảnh biết của Ý, cảnh giới Vị, cảnh giới Ý. Không thấy Cõi Đất. Không thấy Cõi Nước, lửa, gió, Rỗng, Biết. Không thấy Khổ Chân lý bậc Thánh. Không thấy Tập hợp khổ, mất khổ, Đạo mất Khổ Chân lý bậc Thánh. Không thấy Ngu tối. Không thấy Làm, Biết, Sắc thân giả, sáu Nơi, Xúc chạm, Nhận, Yêu, Lấy, Có, Sinh, Già, Chết, Buồn than, Khổ, Lo buồn. Không thấy Cõi Tham muốn. Không thấy Sắc thân, Cõi Không có Sắc thân. Không thấy Có làm. Không thấy Không có làm. Không thấy Tham muốn, thù giận, ngu si. Không thấy cắt đứt Tham muốn, thù giận, ngu si. Không thấy được bản Thân. Không thấy chúng sinh Có tình, có mệnh, có sinh, có nuôi dưỡng, Sĩ Phu, Chúng sinh, Bồ Tát, Học trò nhỏ, Người làm, sai người làm, nổi lên, khiến nổi lên, nhận lấy, khiến nhận lấy, biết được, thấy được. Không thấy Thanh Văn. Không thấy Pháp Thanh Văn. Không thấy Duyên Giác. Không thấy Pháp Duyên Giác. Không thấy Bồ Tát. Không thấy Pháp Bồ Tát. Không thấy Phật. Không thấy Pháp Phật. Không thấy Bình Đẳng Chính Đẳng Bồ Đề.

Thiện Hiện ! Bồ Tát Bồ Tát lớn với tất cả Pháp đều không đâu thấy như thế. Khi với tất cả Pháp đều không đâu thấy. Tâm họ không hoảng không lo không sợ. Với tất cả Pháp tâm không đắm chìm cũng không lo hận.

Cụ Thọ Thiện Hiện báo cáo Phật nói rằng : Thế Tôn ! Do Nhân duyên thế nào. Bồ Tát Bồ Tát lớn đó với tất cả Pháp tâm không đắm chìm cũng không buồn hận ?

Phật nói rằng : Thiện Hiện ! Bồ Tát Bồ Tát lớn đó với tất cả tâm, Pháp được tâm đều không thấy không được. Do Nhân duyên này. Bồ Tát Bồ Tát lớn đó với tất cả Pháp tâm không đắm chìm, cũng không buồn hận.

Cụ Thọ Thiện Hiện lại báo cáo Phật nói rằng : Thế Tôn ! Bồ Tát Bồ Tát lớn đó ra sao với tất cả Pháp. Tâm họ không hoảng không lo không sợ ?

Phật nói rằng : Thiện Hiện ! Bồ Tát Bồ Tát lớn đó với tất cả cảnh biết của Ý, cảnh giới Ý, đều không thấy, không được. Bồ Tát Bồ Tát lớn với tất cả Pháp như thế. Tâm họ không hoảng không lo không sợ.

Thiện Hiện ! Các Bồ Tát Bồ Tát lớn với tất cả Pháp đều không đâu được. Nên thực hành Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn.

Thiện Hiện ! Các Bồ Tát Bồ Tát lớn khi tu hành Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn. Ở tất cả nơi không được Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn. Không được tên Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn. Không được Bồ Tát. Không được tên Bồ Tát. Không được tâm Bồ Tát.

Thiện Hiện ! Cần dạy bảo truyền dạy cho các Bồ Tát Bồ Tát lớn như thế. Giúp cho tu học thành quả với Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn.

 

Phần tám Phẩm Khuyên học phần đầu.

Khi đó Cụ Thọ Thiện Hiện báo cáo Phật nói rằng :

Thế Tôn ! Bồ Tát Bồ Tát lớn muốn đầy đủ Nhiều Bố thí tới Niết Bàn. Nên học Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn. Bồ Tát Bồ Tát lớn muốn đầy đủ Nhiều Giới hạnh sạch, yên Nhịn, Tinh tiến, nghĩ Tĩnh lặng, Trí tuệ tới Niết Bàn. Nên học Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn. Bồ Tát Bồ Tát lớn muốn biết Sắc thân khắp nơi. Nên học Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn. Bồ Tát Bồ Tát lớn muốn biết Nhận, Tưởng nhớ, Làm, Biết khắp nơi. Nên học Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn. Bồ Tát Bồ Tát lớn muốn biết nơi Mắt khắp nơi. Nên học Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn. Bồ Tát Bồ Tát lớn muốn biết nơi Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý khắp nơi. Nên học Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn. Bồ Tát Bồ Tát lớn muốn biết nơi Sắc thân khắp nơi. Nên học Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn. Bồ Tát Bồ Tát lớn muốn biết Tiếng nói, Hương, Vị, Xúc chạm, Pháp khắp nơi. Nên học Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn. Bồ Tát Bồ Tát lớn muốn biết cảnh biết của Mắt, Cõi Sắc thân, cảnh giới Mắt khắp nơi, cùng với chạm biết của Mắt và các Nhận là Duyên sinh do chạm biết của Mắt. Nên học Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn. Bồ Tát Bồ Tát lớn muốn biết cảnh biết của Tai, cảnh giới Tiếng nói, cảnh giới Tai khắp nơi, cùng với chạm biết của Tai và các Nhận là Duyên sinh do chạm biết của Tai. Nên học Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn.

Bồ Tát Bồ Tát lớn muốn biết cảnh biết của Mũi, cảnh giới Hương, cảnh giới Mũi khắp nơi, cùng với chạm biết của Mắt và các Nhận là Duyên sinh do chạm biết của Mũi. Nên học Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn. Bồ Tát Bồ Tát lớn muốn biết cảnh biết của Lưỡi, cảnh giới mùi Vị, cảnh giới Lưỡi khắp nơi, cùng với chạm biết của Lưỡi và các Nhận là Duyên sinh do chạm biết của Lưỡi. Nên học Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn. Bồ Tát Bồ Tát lớn muốn biết cảnh biết của Thân, cảnh giới Xúc chạm, cảnh giới Thân khắp nơi, cùng với chạm biết của Thân và các Nhận là Duyên sinh do chạm biết của Thân. Nên học Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn. Bồ Tát Bồ Tát lớn muốn biết cảnh biết của Ý, Cõi Pháp, cảnh giới Ý khắp nơi, cùng với chạm biết của Ý và các Nhận là Duyên sinh do chạm biết của Ý. Nên học Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn.

Bồ Tát Bồ Tát lớn muốn biết Cõi Đất khắp nơi. Nên học Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn. Bồ Tát Bồ Tát lớn muốn biết Cõi Nước, Lửa, Gió, Rỗng, Biết khắp nơi. Nên học Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn. Bồ Tát Bồ Tát lớn muốn biết Khổ Chân lý bậc Thánh khắp nơi. Nên học Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn. Bồ Tát Bồ Tát lớn muốn biết Tập hợp khổ, mất khổ, Đạo mất Khổ Chân lý bậc Thánh khắp nơi. Nên học Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn. Bồ Tát Bồ Tát lớn muốn biết Ngu tối khắp nơi. Nên học Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn. Bồ Tát Bồ Tát lớn muốn biết Làm, Biết, Sắc thân giả, sáu Nơi, Xúc chạm, Nhận, Yêu, Lấy, Có, Sinh, Già, Chết, Buồn than, Khổ, Lo buồn khắp nơi. Nên học Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn. Bồ Tát Bồ Tát lớn muốn vĩnh cắt đứt Tham muốn, thù giận, ngu si. Nên học Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn. Bồ Tát Bồ Tát lớn muốn vĩnh cắt đứt thấy bản thân và được bản thân, cầm giữ Giới cấm, nghi hoặc, Tham muốn, thù giận. Nên học Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn. Bồ Tát Bồ Tát lớn muốn vĩnh cắt đứt tham muốn Sắc thân, tham muốn không có Sắc thân, Ngu tối, kiêu mạn, nổi lên xứng đáng. Nên học Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn. Bồ Tát Bồ Tát lớn muốn vĩnh cắt đứt tất cả kết buộc, ngáp ngủ. Nên học Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn. Bồ Tát Bồ Tát lớn muốn vĩnh cắt đứt bốn loại ăn. Nên học Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn. Bồ Tát Bồ Tát lớn muốn vĩnh cắt đứt bốn giòng tàn hại, ách xe, cầm lấy. Nên học Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn.

Bồ Tát Bồ Tát lớn muốn vĩnh cắt đứt bốn trói buộc Thân, bốn Đảo lộn. Nên học Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn. Bồ Tát Bồ Tát lớn muốn vĩnh cắt đứt ba thấm bẩn, ba Căn không thiện. Nên học Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn. Bồ Tát Bồ Tát lớn muốn rời xa mười Đạo Nghiệp không thiện. Nên học Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn. Bồ Tát Bồ Tát lớn muốn luyện, làm mười Đạo Nghiệp thiện.  Nên học Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn. Bồ Tát Bồ Tát lớn muốn tu luyện bốn nghĩ Tĩnh lặng, bốn Vô lượng, bốn Định Không có Sắc thân. Nên học Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn. Bồ Tát Bồ Tát lớn muốn tu luyện bốn dừng ở nghĩ nhớ. Nên học Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn. Bồ Tát Bồ Tát lớn muốn tu luyện bốn cắt đứt đúng, bốn Thần biến, năm Căn, năm Lực, bảy loại nhánh hiểu, tám nhánh Đạo Thánh. Nên học Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn. Bồ Tát Bồ Tát lớn muốn được mười Lực của Phật. Nên học Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn. Bồ Tát Bồ Tát lớn muốn được bốn Không đâu sợ, bốn Hiểu không trở ngại, Từ lớn nhất, Bi lớn nhất, Vui lớn nhất, Bố thí lớn nhất, mười tám không cùng Pháp Phật, Tất cả Trí tuệ, Trí tuệ của hình tướng Đạo, Trí tuệ của tất cả hình tướng. Nên học Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn. Bồ Tát Bồ Tát lớn muốn được sáu Thần thông Tự do. Nên học Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn. Bồ Tát Bồ Tát lớn muốn được bốn nghĩ Tĩnh lặng, bốn Định Không có Sắc thân, Định mất hết, Tự do thứ tự vượt qua thuận nghịch. Nên học Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn. Bồ Tát Bồ Tát lớn muốn với tất cả môn Đà La Ni, môn Tam muội, đều được Tự do. Nên học Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn.

Bồ Tát Bồ Tát lớn muốn được Tam muội đầy đủ nhánh hiểu, Tam muội Sư tử du chơi, Tam muội Sư tử phóng nhanh, Tam muội Sư Tử nhăn mày, Tam muội Sư tử há miệng, Tam muội đi khỏe mạnh, Tam muội ấn báu, Tam muội mặt Trăng vi diệu, Tam muội hình tướng cờ mặt Trăng, Tam muội tất cả ấn Pháp, Tam muội ấn tưới đỉnh đầu, Tam muội quyết định Cõi Pháp, Tam muội quyết định hình tướng cờ, Tam muội dụ dẫn Kim Cương, Tam muội nhập vào tất cả ấn Pháp, Tam muội yên ở định lớn nhất, Tam muội ấn lớn nhất, Tam muội lực Tinh tiến, Tam muội cùng bay ra, Tam muội quyết định nhập vào tất cả câu nói, Tam muội quyết định nhập vào tất cả tên chữ, Tam muội quan sát phương hướng, Tam muội ấn Đà La Ni, Tam muội không quên mất, Tam muội cùng hướng về ấn biển các Pháp, Tam muội che khắp khoảng không, Tam muội Thanh tịnh ba vầng, Tam muội Thần thông hướng tới Không chuyển lui, Tam muội trong khí cụ bay ra, Tam muội hình tướng cờ tốt nhất, Tam muội thiêu đốt các Phiền não, Tam muội hàng phục bốn Ma, Tam muội đuốc Trí tuệ lớn, Tam muội sinh ra mười Lực.

Bồ Tát Bồ Tát lớn muốn được như thế, cùng với vô lượng trăm nghìn môn Tam muội. Nên học Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn.

Bồ Tát Bồ Tát lớn muốn đầy đủ mong nguyện của tâm chúng sinh Có tình. Nên học Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn. Bồ Tát Bồ Tát lớn muốn đầy đủ Căn thiện tốt đẹp như thế. Do Căn thiện này. Vĩnh không rơi xuống Đạo ác. Không sinh gia đình nghèo hèn. Không rơi xuống bậc Thanh Văn và Duyên Giác. Với đỉnh Bồ Tát cuối cùng không rơi lui. Nên học Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn.

Thời Xá Lợi Phất hỏi Thiện Hiện nói rằng : Thế nào tên là rơi đỉnh Bồ Tát ?

Thiện Hiện trả lời nói rằng : Nếu các Bồ Tát không có Phương tiện thiện khéo mà thực hành sáu Pháp tới Niết Bàn. Không có Phương tiện thiện khéo dừng ở ba môn Giải thoát. Rơi xuống bậc Thanh Văn hoặc Duyên Giác. Không vào tính đúng của Bồ Tát rời sinh. Như thế tên là rơi đỉnh Bồ Tát. Liền rơi đỉnh này. Cũng tên là sinh.

Thời Xá Lợi Phất lại liền hỏi nói rằng : Nhân duyên ra sao rơi đỉnh Bồ Tát, tên là sinh ?

Thiện Hiện trả lời nói rằng : Sinh gọi là yêu Pháp. Nếu các Bồ Tát thuận theo Đạo yêu Pháp. Nói tên là sinh.

Thời Xá Lợi Phất nói rằng : Thế nào gọi là Bồ Tát thuận theo Đạo yêu Pháp ?

Thiện Hiện trả lời nói rằng : Nếu Bồ Tát Bồ Tát lớn khi tu hành Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn. Với Sắc thân dừng ở Rỗng, mà sinh tưởng nhớ nương nhờ. Với Nhận, Tưởng nhớ, Làm, Biết, mà sinh tưởng nhớ nương nhờ. Với Sắc thân dừng ở không có hình tướng, mà sinh tưởng nhớ nương nhờ. Với Nhận, Tưởng nhớ, Làm, Biết dừng ở không có hình tướng, mà sinh tưởng nhớ nương nhờ. Với Sắc thân dừng ở không có nguyện, mà sinh tưởng nhớ nương nhờ. Với Nhận, Tưởng nhớ, Làm, Biết dừng ở không có nguyện, mà sinh tưởng nhớ nương nhờ. Với Sắc thân dừng ở Biến đổi, mà sinh tưởng nhớ nương nhờ. Với Nhận, Tưởng nhớ, Làm, Biết dừng ở Biến đổi, mà sinh tưởng nhớ nương nhờ. Với Sắc thân dừng ở Khổ, mà sinh tưởng nhớ nương nhờ. Với Nhận, Tưởng nhớ, Làm, Biết dừng ở Khổ, mà sinh tưởng nhớ nương nhờ. Với Sắc thân dừng ở không được bản thân, mà sinh tưởng nhớ nương nhờ. Với Nhận, Tưởng nhớ, Làm, Biết dừng ở không được bản thân, mà sinh tưởng nhớ nương nhờ. Với Sắc thân dừng ở không sạch, mà sinh tưởng nhớ nương nhờ. Với Nhận, Tưởng nhớ, Làm, Biết dừng ở không sạch, mà sinh tưởng nhớ nương nhờ. Với Sắc thân dừng ở Tĩnh lặng, mà sinh tưởng nhớ nương nhờ. Với Nhận, Tưởng nhớ, Làm, Biết dừng ở Tĩnh lặng, mà sinh tưởng nhớ nương nhờ. Với Sắc thân dừng ở rời xa, mà sinh tưởng nhớ nương nhờ. Với Nhận, Tưởng nhớ, Làm, Biết dừng ở rời xa, mà sinh tưởng nhớ nương nhờ. Đó là Bồ Tát thuận theo Đạo yêu Pháp.

Lại tiếp theo Xá Lợi Phất ! Nếu Bồ Tát Bồ Tát lớn làm nghĩ nhớ đó nói rằng : Cần cắt đứt Sắc thân đó. Cần cắt đứt Nhận, Tưởng nhớ, Làm, Biết đó. Do điều này cho nên cần cắt đứt Sắc thân.  Do điều này cho nên cần cắt đứt Nhận, Tưởng nhớ, Làm, Biết. Cần biết hết Khổ đó. Do điều này cho nên cần biết hết Khổ. Cần vĩnh cắt đứt Tập hợp Khổ đó. Do điều này cho nên cần vĩnh cắt đứt Tập hợp Khổ. Cần làm chứng mất Khổ đó. Do điều này cho nên cần làm chứng mất Khổ. Cần tu luyện Đạo mất Khổ đó. Do điều này cho nên cần tu luyện Đạo mất Khổ. Là bẩn hỗn tạp, là Thanh tịnh. Là cần thân thiết, là không cần thân thiết. Là cần làm, là không cần làm. Là Đạo, là Đạo sai. Là cần học, là không cần học. Là Nhiều Bố thí tới Niết Bàn, là Nhiều Bố thí tới Niết Bàn sai. Là Nhiều Giới hạnh sạch tới Niết Bàn, là Nhiều Giới hạnh sạch tới Niết Bàn sai. Là Nhiều Yên nhịn tới Niết Bàn, là Nhiều Yên nhịn tới Niết Bàn sai. Là Nhiều Tinh tiến tới Niết Bàn, là Nhiều Tinh tiến tới Niết Bàn sai. Là Nhiều nghĩ Tĩnh lặng tới Niết Bàn, là Nhiều nghĩ Tĩnh lặng tới Niết Bàn sai. Là Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn, là Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn sai. Là Phương tiện thiện khéo, là Phương tiện thiện khéo sai. Là Bồ Tát sinh, là Bồ Tát rời sinh.

Xá Lợi Phất ! Nếu Bồ Tát Bồ Tát lớn khi tu hành Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn. Dừng ở như thế cùng với Pháp. Mà sinh tưởng nhớ nương nhờ. Đó là Bồ Tát thuận theo Đạo yêu Pháp. Yêu Pháp như thế. Nói tên là sinh. Như vốn dĩ sinh ăn. Có thể là hoạn nạn cũ.

Thời Xá Lợi Phất hỏi Thiện Hiện nói rằng : Vì sao Bồ Tát Bồ Tát lớn nhập vào tính đúng rời sinh.

Thiện Hiện trả lời nói rằng : Nếu Bồ Tát Bồ Tát lớn khi tu hành Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn. Không thấy Rỗng bên trong, không dựa vào Rỗng bên trong, mà xem Rỗng bên ngoài. Không thấy Rỗng bên ngoài, không dựa vào Rỗng bên ngoài, mà xem Rỗng bên trong. Không dựa vào Rỗng bên ngoài, mà xem Rỗng bên ngoài. Không thấy Rỗng bên ngoài, không dựa vào Rỗng bên ngoài, mà xem Rỗng của trống rỗng. Không dựa vào Rỗng bên ngoài, mà xem Rỗng của trống rỗng. Không thấy Rỗng của trống rỗng, không dựa vào Rỗng của trống rỗng, mà xem Rỗng bên ngoài. Không dựa vào Rỗng của trống rỗng, mà xem Rỗng lớn nhất. Không thấy Rỗng lớn nhất, không dựa vào Rỗng lớn nhất, mà xem Rỗng của trống rỗng. Không dựa vào Rỗng lớn nhất, mà xem Rỗng của nghĩa tốt. Không thấy Rỗng của nghĩa tốt, không dựa vào Rỗng của nghĩa tốt, mà xem Rỗng lớn nhất. Không dựa vào Rỗng của nghĩa tốt, mà xem Rỗng của Có hình. Không thấy Rỗng của Có hình, không dựa vào Rỗng của Có hình, mà xem Rỗng của nghĩa tốt. Không dựa vào Rỗng của Có hình, mà xem Rỗng của Không hình. Không thấy Rỗng của Không hình, không dựa vào Rỗng của Không hình, mà xem Rỗng của Có hình. Không dựa vào Rỗng của Không hình, mà xem Rỗng của thành quả. Không thấy Rỗng của thành quả, không dựa vào Rỗng của thành quả, mà xem Rỗng của Không hình. Không dựa vào Rỗng của thành quả, mà xem Rỗng của không giới hạn.

Không thấy Rỗng của không giới hạn, không dựa vào Rỗng của không giới hạn, mà xem Rỗng của thành quả. Không dựa vào Rỗng của không giới hạn, mà xem Rỗng của tan rời. Không thấy Rỗng của tan rời, không dựa vào Rỗng của tan rời, mà xem Rỗng của không giới hạn. Không dựa vào Rỗng của tan rời, mà xem Rỗng của không biến đổi. Không thấy Rỗng của không biến đổi, không dựa vào Rỗng của không biến đổi, mà xem Rỗng của tan rời. Không dựa vào Rỗng của không biến đổi, mà xem Rỗng của bản tính. Không thấy Rỗng của bản tính, không dựa vào Rỗng của bản tính, mà xem Rỗng của không biến đổi. Không dựa vào Rỗng của bản tính, mà xem Rỗng của tự tướng. Không thấy Rỗng của tự tướng, không dựa vào Rỗng của tự tướng, mà xem Rỗng của bản tính. Không dựa vào Rỗng của tự tướng, mà xem Rỗng của cùng hình tướng. Không thấy Rỗng của cùng hình tướng, không dựa vào Rỗng của cùng hình tướng, mà xem Rỗng của tự tướng. Không dựa vào Rỗng của cùng hình tướng, mà xem Rỗng của tất cả Pháp. Không thấy Rỗng của tất cả Pháp, không dựa vào Rỗng của tất cả Pháp, mà xem Rỗng của cùng hình tướng. Không dựa vào Rỗng của tất cả Pháp, mà xem Rỗng của không thể được. Không thấy Rỗng của không thể được, không dựa vào Rỗng của không thể được, mà xem Rỗng của tất cả Pháp. Không dựa vào Rỗng của không thể được, mà xem Rỗng của không tính. Không thấy Rỗng của không tính, không dựa vào Rỗng của không tính, mà xem Rỗng của không thể được. Không dựa vào Rỗng của không tính, mà xem Rỗng của Tự tính. Không thấy Rỗng của Tự tính, không dựa vào Rỗng của Tự tính, mà xem Rỗng của không tính. Không dựa vào Rỗng của Tự tính, mà xem Rỗng của tự tính không có tính. Không thấy Rỗng của tự tính không có tính, không dựa vào Rỗng của tự tính không có tính, mà xem Rỗng của Tự tính.

Xá Lợi Phất ! Bồ Tát Bồ Tát lớn khi tu hành Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn. Nếu làm quan sát như thế. Tên là nhập vào tính đúng của Bồ Tát rời sinh.

Lại tiếp theo Xá Lợi Phất ! Các Bồ Tát Bồ Tát lớn khi tu hành Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn. Cần học như thế. Cần biết không nên nương nhờ Sắc thân. Cần biết không nên nương nhờ Nhận, Tưởng nhớ, Làm, Biết. Cần biết không nên nương nhờ danh Sắc : Tên của Sắc thân. Cần biết không nên nương nhờ tên của Nhận, Tưởng nhớ, Làm, Biết. Cần biết không nên nương nhờ nơi Mắt. Cần biết không nên nương nhờ nơi Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý. Cần biết không nên nương nhờ tên nơi Mắt. Cần biết không nên nương nhờ tên của nơi Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý. Cần biết không nên nương nhờ nơi Sắc thân. Cần biết không nên nương nhờ tên của nơi Tiếng nói, Hương, Vị, Xúc chạm, Pháp. Cần biết không nên nương nhờ tên của nơi Sắc thân. Cần biết không nên nương nhờ tên của nơi Tiếng nói, Hương, Vị, Xúc chạm, Pháp. Cần biết không nên nương nhờ cảnh biết của Mắt, cảnh giới Tai, cảnh giới Sắc thân. Cần biết không nên nương nhờ tên cảnh biết của Mắt, cảnh giới Tai, cảnh giới Sắc thân. Cần biết không nên nương nhờ cảnh biết của Mắt, cảnh giới Tai, cảnh giới Tiếng nói. Cần biết không nên nương nhờ tên cảnh biết của Tai, cảnh giới Tai, cảnh giới Tiếng nói.

Cần biết không nên nương nhờ cảnh biết của Mũi, cảnh giới Mũi, cảnh giới Hương. Cần biết không nên nương nhờ tên cảnh biết của Mũi, cảnh giới Mũi, cảnh giới Hương. Cần biết không nên nương nhờ cảnh biết của Lưỡi, cảnh giới Lưỡi, cảnh giới mùi Vị. Cần biết không nên nương nhờ tên cảnh biết của Lưỡi, cảnh giới Lưỡi, cảnh giới mùi Vị. Cần biết không nên nương nhờ cảnh biết của Thân, cảnh giới Thân, cảnh giới Xúc chạm. Cần biết không nên nương nhờ tên cảnh biết của Thân, cảnh giới Thân, cảnh giới Xúc chạm. Cần biết không nên nương nhờ cảnh biết của Ý, cảnh giới Ý, Cõi Pháp. Cần biết không nên nương nhờ tên cảnh biết của Ý, cảnh giới Ý, Cõi Pháp. Cần biết không nên nương nhờ Cõi Đất. Cần biết không nên nương nhờ Cõi Nước, Lửa, Gió, Rỗng, Biết. Cần biết không nên nương nhờ tên Cõi Đất. Cần biết không nên nương nhờ tên Cõi Nước, Lửa, Gió, Rỗng, Biết. Cần biết không nên nương nhờ Khổ Chân lý bậc Thánh. Cần biết không nên nương nhờ Tập hợp khổ, mất khổ, Đạo mất Khổ Chân lý bậc Thánh. Cần biết không nên nương nhờ tên của Khổ Chân lý bậc Thánh. Cần biết không nên nương nhờ tên của Tập hợp khổ, mất khổ, Đạo mất Khổ Chân lý bậc Thánh. Cần biết không nên nương nhờ Ngu tối. Cần biết không nên nương nhờ Làm, Biết, Sắc thân giả, sáu Nơi, Xúc chạm, Nhận, Yêu, Lấy, Có, Sinh, Già, Chết, Buồn than, Khổ, Lo buồn. Cần biết không nên nương nhờ tên của Ngu tối. Cần biết không nên nương nhờ tên của Làm thậm chí Già, Chết, Khổ, Lo buồn. Cần biết không nên nương nhờ bốn nghĩ Tĩnh lặng.

Cần biết không nên nương nhờ bốn Vô lượng, bốn Định Không có Sắc thân. Cần biết không nên nương nhờ tên của bốn nghĩ Tĩnh lặng. Cần biết không nên nương nhờ tên của bốn Vô lượng, bốn Định Không có Sắc thân. Cần biết không nên nương nhờ năm Mắt. Cần biết không nên nương nhờ sáu Thần thông. Cần biết không nên nương nhờ tên của năm Mắt. Cần biết không nên nương nhờ tên của sáu Thần thông. Cần biết không nên nương nhờ Nhiều Bố thí tới Niết Bàn. Cần biết không nên nương nhờ Nhiều Giới hạnh sạch, yên Nhịn, Tinh tiến, nghĩ Tĩnh lặng, Trí tuệ tới Niết Bàn. Cần biết không nên nương nhờ tên của Nhiều Bố thí tới Niết Bàn. Cần biết không nên nương nhờ tên của Nhiều Giới hạnh sạch, yên Nhịn, Tinh tiến, nghĩ Tĩnh lặng, Trí tuệ tới Niết Bàn. Cần biết không nên nương nhờ bốn dừng ở nghĩ nhớ. Cần biết không nên nương nhờ bốn cắt đứt đúng, bốn Thần biến, năm Căn, năm Lực, bảy loại nhánh hiểu, tám nhánh Đạo Thánh. Cần biết không nên nương nhờ tên của bốn dừng ở nghĩ nhớ. Cần biết không nên nương nhờ tên của bốn cắt đứt đúng thậm chí tám nhánh Đạo Thánh. Cần biết không nên nương nhờ mười Lực của Phật. Cần biết không nên nương nhờ bốn Không đâu sợ, bốn Hiểu không trở ngại, Từ lớn nhất, Bi lớn nhất, Vui lớn nhất, Bố thí lớn nhất, mười tám không cùng Pháp Phật, Tất cả Trí tuệ, Trí tuệ của hình tướng Đạo, Trí tuệ của tất cả hình tướng. Cần biết không nên nương nhờ tên mười Lực của Phật. Cần biết không nên nương nhờ tên của bốn Không đâu sợ thậm chí Trí tuệ của tất cả hình tướng.

Lại tiếp theo Xá Lợi Phất ! Các Bồ Tát Bồ Tát lớn khi tu hành Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn. Cần học như thế. Cần biết không nên nương nhờ tâm Bồ Đề. Cần biết không nên nương nhờ tên của tâm Bồ Đề. Cần biết không nên nương nhờ tâm Không sánh bằng. Cần biết không nên nương nhờ tên của tâm Không sánh bằng. Cần biết không nên nương nhờ tâm rộng lớn. Cần biết không nên nương nhờ tên của tâm rộng lớn. Cớ là sao ? Là tâm, tâm sai. Do tính vốn dĩ Thanh tịnh.

Thời Xá Lợi Phất hỏi Thiện Hiện nói rằng : Tâm đó tính vốn dĩ Thanh tịnh ra sao ?

Thiện Hiện trả lời nói rằng : Tính vốn có của tâm đó tương ứng, không tương ứng sai với Tham muốn sai. Tương ứng, không tương ứng sai với Thù hận sai. Tương ứng, không tương ứng sai với Ngu si sai. Tương ứng, không tương ứng sai với các kết buộc, ngáp ngủ sai. Tương ứng, không tương ứng sai với các loại hướng tới thấy, thấm bẩn, giòng tàn hại, ách xe, cầm lấy sai. Tương ứng, không tương ứng sai với các tâm Thanh Văn, Duyên Giác sai.

Xá Lợi Phất ! Tâm đó như thế tính vốn dĩ Thanh tịnh.

Xá Lợi Phất nói rằng : Tâm đó là tính tâm sai của có tâm phải không ?

Thiện Hiện trả lời nói rằng : Trong tính tâm sai có tính, không có tính là có thể được phải không ?

Xá Lợi Phất nói rằng : Không phải vậy ! Thiện Hiện !

Thiện Hiện trả lời nói rằng : Trong tính tâm sai có tính, không có tính đã không thể được. Có thể hỏi ra sao ? Tâm đó là tính tâm sai của có tâm phải không ?

Xá Lợi Phất nói rằng : Tên thế nào là tính tâm sai của tâm ?

Thiện Hiện trả lời nói rằng : Với tất cả Pháp không biến đổi, không phân biệt. Tên đó là tính tâm sai của tâm.

Xá Lợi Phất nói rằng : Nếu tâm không biến đổi, không phân biệt. Sắc thân cũng không biến đổi, không phân biệt sao ?

Thiện Hiện trả lời nói rằng : Như thế ! Nếu tâm không biến đổi, không phân biệt. Nhận, Tưởng nhớ, Làm, Biết cũng không biến đổi, không phân biệt sao ?

Trả lời nói rằng : Như thế ! Nếu tâm không biến đổi, không phân biệt. Nơi Mắt cũng không biến đổi, không phân biệt sao ?

Trả lời nói rằng : Như thế ! Nếu tâm không biến đổi, không phân biệt. Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý cũng không biến đổi, không phân biệt sao ?

Trả lời nói rằng : Như thế ! Nếu tâm không biến đổi, không phân biệt. Nơi Sắc thân cũng không biến đổi, không phân biệt sao ?

Trả lời nói rằng : Như thế ! Nếu tâm không biến đổi, không phân biệt. Nơi Tiếng nói, Hương, Vị, Xúc chạm, Pháp cũng không biến đổi, không phân biệt sao ?

Trả lời nói rằng : Như thế ! Nếu tâm không biến đổi, không phân biệt. Cảnh biết của Mắt, cảnh giới Mắt, Cõi Sắc thân cũng không biến đổi, không phân biệt sao ?

Trả lời nói rằng : Như thế ! Nếu tâm không biến đổi, không phân biệt. Cảnh biết của Tai, cảnh giới Tai, cảnh giới Tiếng nói, cũng không biến đổi, không phân biệt sao ?

Trả lời nói rằng : Như thế ! Nếu tâm không biến đổi, không phân biệt. Cảnh biết của Mũi, cảnh giới Mũi, cảnh giới Hương cũng không biến đổi, không phân biệt sao ?

Trả lời nói rằng : Như thế ! Nếu tâm không biến đổi, không phân biệt. Cảnh biết của Lưỡi, cảnh giới Lưỡi, cảnh giới mùi Vị cũng không biến đổi, không phân biệt sao ?

Trả lời nói rằng : Như thế ! Nếu tâm không biến đổi, không phân biệt. Cảnh biết của Thân, cảnh giới Thân, cảnh giới Xúc chạm cũng không biến đổi, không phân biệt sao ?

Trả lời nói rằng : Như thế ! Nếu tâm không biến đổi, không phân biệt. Cảnh biết của Ý, cảnh giới Ý, Cõi Pháp cũng không biến đổi, không phân biệt sao ?

Trả lời nói rằng : Như thế ! Nếu tâm không biến đổi, không phân biệt. Cõi Đất cũng không biến đổi, không phân biệt sao ?

Trả lời nói rằng : Như thế ! Nếu tâm không biến đổi, không phân biệt. Cõi Nước, Lửa, Gió, Rỗng, Biết cũng không biến đổi, không phân biệt sao ?

Trả lời nói rằng : Như thế ! Nếu tâm không biến đổi, không phân biệt. Khổ Chân lý bậc Thánh cũng không biến đổi, không phân biệt sao ?

Trả lời nói rằng : Như thế ! Nếu tâm không biến đổi, không phân biệt. Tập hợp khổ, mất khổ, Đạo mất Khổ Chân lý bậc Thánh, cũng không biến đổi, không phân biệt sao ?

Trả lời nói rằng : Như thế ! Nếu tâm không biến đổi, không phân biệt. Ngu tối cũng không biến đổi, không phân biệt sao ?

Trả lời nói rằng : Như thế ! Nếu tâm không biến đổi, không phân biệt. Làm, Biết, Sắc thân giả, sáu Nơi, Xúc chạm, Nhận, Yêu, Lấy, Có, Sinh, Già, Chết, Buồn than, Khổ, Lo buồn cũng không biến đổi, không phân biệt sao ?

Trả lời nói rằng : Như thế ! Nếu tâm không biến đổi, không phân biệt. Bốn nghĩ Tĩnh lặng cũng không biến đổi, không phân biệt sao ?

Trả lời nói rằng : Như thế ! Nếu tâm không biến đổi, không phân biệt. Bốn Vô lượng, bốn Định Không có Sắc thân cũng không biến đổi, không phân biệt sao ?

Trả lời nói rằng : Như thế ! Nếu tâm không biến đổi, không phân biệt. Năm Mắt cũng không biến đổi, không phân biệt sao ?

Trả lời nói rằng : Như thế ! Nếu tâm không biến đổi, không phân biệt. Sáu Thần thông cũng không biến đổi, không phân biệt sao ?

Trả lời nói rằng : Như thế ! Nếu tâm không biến đổi, không phân biệt. Nhiều Bố thí tới Niết Bàn cũng không biến đổi, không phân biệt sao ?

Trả lời nói rằng : Như thế ! Nếu tâm không biến đổi, không phân biệt. Nhiều Giới hạnh sạch, yên Nhịn, Tinh tiến, nghĩ Tĩnh lặng, Trí tuệ tới Niết Bàn cũng không biến đổi, không phân biệt sao ?

Trả lời nói rằng : Như thế ! Nếu tâm không biến đổi, không phân biệt. Bốn dừng ở nghĩ nhớ cũng không biến đổi, không phân biệt sao ?

Trả lời nói rằng : Như thế ! Nếu tâm không biến đổi, không phân biệt. Bốn cắt đứt đúng, bốn Thần biến, năm Căn, năm Lực, bảy loại nhánh hiểu, tám nhánh Đạo Thánh cũng không biến đổi, không phân biệt sao ?

Trả lời nói rằng : Như thế ! Nếu tâm không biến đổi, không phân biệt. Mười Lực của Phật cũng không biến đổi, không phân biệt sao ?

Trả lời nói rằng : Như thế ! Nếu tâm không biến đổi, không phân biệt. Bốn Không đâu sợ, bốn Hiểu không trở ngại, Từ lớn nhất, Bi lớn nhất, Vui lớn nhất, Bố thí lớn nhất, mười tám không cùng Pháp Phật. Thậm chí Bình Đẳng Chính Đẳng Bồ Đề cũng không biến đổi, không phân biệt sao ?

Trả lời nói rằng : Như thế !

Thời Xá Lợi Phất ca ngợi Thiện Hiện nói rằng : Thiện thay, Thiện thay ! Được như Ngài nói. Ngài là Con Phật chân thực. Sinh từ tâm Phật. Sinh từ miệng Phật. Sinh từ Pháp Phật. Hóa sinh từ Pháp. Nhận phận Pháp Phật. Không nhận phận tiền. Ở trong các Pháp thân tự làm chứng. Mắt tuệ hiện thấy mà hay sinh ra nói. Thế Tôn nói Ngài trong chúng Thanh Văn dừng ở yên Định không tranh đấu là cao bậc nhất. Như được Phật nói, chân thực không sai.

Thiện Hiện ! Bồ Tát Bồ Tát lớn với Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn nên học như thế. Nếu Bồ Tát Bồ Tát lớn hay học như thế với Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn. Nên biết đã dừng ở bậc Không chuyển lui. Không rời Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn.

Thiện Hiện ! Muốn học bậc Thanh Văn đó. Đang với Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn nên siêng nghe luyện, đọc khen, nhận giữ, như Lý suy nghĩ. Giúp cho họ thành quả. Muốn học bậc Duyên Giác đó. Đang với Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn nên siêng nghe luyện, đọc khen, nhận giữ, như Lý suy nghĩ. Giúp cho họ thành quả. Muốn học bậc Bồ Tát Bồ Tát lớn đó. Đang với Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn nên siêng nghe luyện, đọc khen, nhận giữ, như Lý suy nghĩ. Giúp cho họ thành quả. Muốn học bậc Như Lai đó. Đang với Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn nên siêng nghe luyện, đọc khen, nhận giữ, như Lý suy nghĩ. Giúp cho họ thành quả. Cớ là sao ? Ở trong Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn như thế. Do rộng nói, mở tỏ rõ Pháp ba Bậc đó. Nếu Bồ Tát Bồ Tát lớn học Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn. Chắc là học khắp cả ba Bậc. Cũng với Pháp ba Bậc đều được thiện khéo.

 

Thứ nhất phần chín Phẩm Không dừng ở phần đầu.

Khi đó Cụ Thọ Thiện Hiện báo cáo Phật nói rằng :

Thế Tôn ! Con với Bồ Tát Bồ Tát lớn cùng với Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn, đều không thấy không được. Làm thế nào giúp cho Con dùng Pháp tương ứng với Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn dạy bảo truyền dạy các Bồ Tát Bồ Tát lớn.

Thế Tôn ! Con với các Pháp không thấy không được, hoặc tập hợp hay là tan. Nếu dùng Pháp này dạy bảo truyền dạy các Bồ Tát Bồ Tát lớn, hoặc đang có hối hận.

Thế Tôn ! Con với các Pháp không thấy không được, hoặc tập hợp hay là tan. Làm sao có thể nói đây là Bồ Tát Bồ Tát lớn ? Đây là Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn ?

Thế Tôn ! Tên của Bồ Tát Bồ Tát lớn đó và tên của Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn. Đều không đâu dừng ở, cũng không dừng ở sai. Cớ là sao ? Do nghĩa của hai tên đó đã không đâu có. Hai tên đó đều không đâu dừng ở, cũng không dừng ở sai.

Thế Tôn ! Con với Sắc thân, Nhận, Tưởng nhớ, Làm, Biết. Không thấy không được, hoặc tập hợp hay là tan. Làm sao có thể nói đây là Sắc thân, thậm chí đây là Biết ?

Thế Tôn ! Sắc thân đó cùng với tên, đều không đâu dừng ở, cũng không dừng ở sai. Cớ là sao ? Do Sắc thân cùng với tên nghĩa, đã không đâu có. Sắc thân cùng với tên, đều không đâu dừng ở, cũng không dừng ở sai.

Thế Tôn ! Con với nơi Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý. Không thấy không được, hoặc tập hợp hay là tan. Làm sao có thể nói đây là nơi Mắt, thậm chí đây là nơi Ý ?

Thế Tôn ! Nơi Mắt đó cùng với tên, đều không đâu dừng ở, cũng không dừng ở sai. Cớ là sao ? Do nơi Mắt cùng với tên nghĩa, đã không đâu có. Nơi Mắt cùng với tên, đều không đâu dừng ở, cũng không dừng ở sai.

Thế Tôn ! Con với nơi Sắc thân, Tiếng nói, Hương, Vị, Xúc chạm, Pháp. Không thấy không được, hoặc tập hợp hay là tan. Làm sao có thể nói đây là nơi Sắc thân, thậm chí đây là nơi Pháp ?

Thế Tôn ! Nơi Mắt đó cùng với tên, đều không đâu dừng ở, cũng không dừng ở sai. Cớ là sao ? Do nơi Mắt cùng với tên nghĩa, đã không đâu có. Nơi Mắt cùng với tên, đều không đâu dừng ở, cũng không dừng ở sai.

Thế Tôn ! Con với cảnh biết của Mắt, cảnh giới Mắt, Cõi Sắc thân cùng với Chạm biết của Mắt, các Nhận là Duyên sinh do chạm biết của Mắt. Không thấy không được, hoặc tập hợp hay là tan. Làm sao có thể nói đây là cảnh giới Mắt, thậm chí đây là các Nhận, là duyên sinh do chạm biết của Mắt ?

Thế Tôn ! Cảnh giới Mắt đó cùng với tên, đều không đâu dừng ở, cũng không dừng ở sai. Cớ là sao ? Do cảnh giới Mắt cùng với tên nghĩa, đã không đâu có. Cảnh giới Mắt cùng với tên, đều không đâu dừng ở, cũng không dừng ở sai.

Thế Tôn ! Con với cảnh biết của Tai, cảnh giới Tai, cảnh giới Tiếng nói cùng với chạm biết của Tai, các Nhận là Duyên sinh do chạm biết của Tai. Không thấy không được, hoặc tập hợp hay là tan. Làm sao có thể nói đây là cảnh giới Tai, thậm chí đây là các Nhận, là duyên sinh do chạm biết của Tai ?

Thế Tôn ! Cảnh giới Tai đó cùng với tên, đều không đâu dừng ở, cũng không dừng ở sai. Cớ là sao ? Do cảnh giới Tai cùng với tên nghĩa, đã không đâu có. Cảnh giới Tai cùng với tên, đều không đâu dừng ở, cũng không dừng ở sai.

Thế Tôn ! Con với cảnh biết của Mũi, cảnh giới Mũi, cảnh giới Hương cùng với chạm biết của Mũi, các Nhận là Duyên sinh do chạm biết của Mũi. Không thấy không được, hoặc tập hợp hay là tan. Làm sao có thể nói đây là cảnh giới Mũi, thậm chí đây là các Nhận, là duyên sinh do chạm biết của Mũi ?

Thế Tôn ! Cảnh giới Mũi đó cùng với tên, đều không đâu dừng ở, cũng không dừng ở sai. Cớ là sao ? Do cảnh giới Mũi cùng với tên nghĩa, đã không đâu có. Cảnh giới Mũi cùng với tên, đều không đâu dừng ở, cũng không dừng ở sai.

Thế Tôn ! Con với cảnh biết của Lưỡi, cảnh giới Lưỡi, cảnh giới mùi Vị, cùng với chạm biết của Lưỡi, các Nhận là Duyên sinh do chạm biết của Lưỡi. Không thấy không được, hoặc tập hợp hay là tan. Làm sao có thể nói đây là cảnh giới Mũi, thậm chí đây là các Nhận, là duyên sinh do chạm biết của Lưỡi ?

Thế Tôn ! Cảnh giới Lưỡi đó cùng với tên, đều không đâu dừng ở, cũng không dừng ở sai. Cớ là sao ? Do cảnh giới Lưỡi cùng với tên nghĩa, đã không đâu có. Cảnh giới Lưỡi cùng với tên, đều không đâu dừng ở, cũng không dừng ở sai.

Thế Tôn ! Con với cảnh biết của Thân, cảnh giới thân, cảnh giới Xúc chạm, cùng với chạm biết của Thân, các Nhận là Duyên sinh do chạm biết của Thân. Không thấy không được, hoặc tập hợp hay là tan. Làm sao có thể nói đây là cảnh giới Thân, thậm chí đây là các Nhận, là duyên sinh do chạm biết của Thân.

Thế Tôn ! Cảnh giới Thân đó cùng với tên, đều không đâu dừng ở, cũng không dừng ở sai. Cớ là sao ? Do cảnh giới của Thân cùng với tên nghĩa, đã không đâu có. Cảnh giới Mắt cùng với tên, đều không đâu dừng ở, cũng không dừng ở sai.

Thế Tôn ! Con với cảnh biết của Ý, cảnh giới Ý, Cõi Pháp, cùng với chạm biết của Ý, các Nhận là Duyên sinh do chạm biết của Ý. Không thấy không được, hoặc tập hợp hay là tan. Làm sao có thể nói đây là cảnh giới Ý, thậm chí đây là các Nhận, là duyên sinh do chạm biết của Ý ?

Thế Tôn ! Cảnh giới Ý đó cùng với tên, đều không đâu dừng ở, cũng không dừng ở sai. Cớ là sao ? Do cảnh giới Ý cùng với tên nghĩa, đã không đâu có. Cảnh giới Ý cùng với tên, đều không đâu dừng ở, cũng không dừng ở sai.

Thế Tôn ! Con với Cõi Đất, Nước, Lửa, Gió, Rỗng, Biết. Không thấy không được, hoặc tập hợp hay là tan. Làm sao có thể nói đây là Cõi Đất, thậm chí đây là Cõi Biết ?

Thế Tôn ! Cõi Đất đó cùng với tên, đều không đâu dừng ở, cũng không dừng ở sai. Cớ là sao ? Do Cõi Đất cùng với tên nghĩa, đã không đâu có. Cõi Đất cùng với tên, đều không đâu dừng ở, cũng không dừng ở sai.

Thế Tôn ! Con với Khổ, tập hợp Khổ, mất Khổ, Đạo mất khổ chân lý Bậc Thánh. Không thấy không được, hoặc tập hợp hay là tan. Làm sao có thể nói đây là Khổ Chân lý bậc Thánh, thậm chí đây là Đạo mất Khổ Chân lý bậc Thánh ?

Thế Tôn ! Khổ Chân lý bậc Thánh đó cùng với tên, đều không đâu dừng ở, cũng không dừng ở sai. Cớ là sao ? Do Khổ Chân lý bậc Thánh cùng với tên nghĩa, đã không đâu có. Khổ Chân lý bậc Thánh cùng với tên, đều không đâu dừng ở, cũng không dừng ở sai.

Thế Tôn ! Con với Ngu tối, Làm, Biết, Sắc thân giả, sáu Nơi, Xúc chạm, Nhận, Yêu, Lấy, Có, Sinh, Già, Chết, Buồn than, Khổ, Lo buồn. Không thấy không được, hoặc tập hợp hay là tan. Làm sao có thể nói đây là Ngu tối, thậm chí đây là Già, Chết, Buồn than, Khổ, Lo buồn ?

Thế Tôn ! Ngu tối đó cùng với tên, đều không đâu dừng ở, cũng không dừng ở sai. Cớ là sao ? Do Ngu tối cùng với tên nghĩa, đã không đâu có. Ngu tối cùng với tên, đều không đâu dừng ở, cũng không dừng ở sai.

Thế Tôn ! Con với mất Ngu tối, thậm chí mất Già, Chết, Buồn than, Khổ, Lo buồn. Không thấy không được, hoặc tập hợp hay là tan. Làm sao có thể nói đây là mất Ngu tối, thậm chí đây là mất Già, Chết, Buồn than, Khổ, Lo buồn.

Thế Tôn ! Mất Ngu tối đó cùng với tên, đều không đâu dừng ở, cũng không dừng ở sai. Cớ là sao ? Do mất Ngu tối cùng với tên nghĩa, đã không đâu có. Mất Ngu tối cùng với tên, đều không đâu dừng ở, cũng không dừng ở sai.

Thế Tôn ! Con với Tham muốn thù giận Ngu si, tất cả kết buộc, ngáp ngủ, thấy hướng tới, các Căn không thiện. Không thấy không được, hoặc tập hợp hay là tan. Làm sao có thể nói đây là Tham muốn, thậm chí đây là các Căn không thiện ?

Thế Tôn ! Tham muốn đó cùng với tên, đều không đâu dừng ở, cũng không dừng ở sai. Cớ là sao ? Do Tham muốn cùng với tên nghĩa, đã không đâu có. Tham muốn cùng với tên, đều không đâu dừng ở, cũng không dừng ở sai.

Thế Tôn ! Con với bốn nghĩ Tĩnh lặng, bốn Vô lượng, bốn Định Không có Sắc thân. Không thấy không được, hoặc tập hợp hay là tan. Làm sao có thể nói đây là bốn nghĩ Tĩnh lặng, thậm chí đây là bốn Định Không có Sắc thân ?

Thế Tôn ! Bốn nghĩ Tĩnh lặng đó cùng với tên, đều không đâu dừng ở, cũng không dừng ở sai. Cớ là sao ? Do bốn nghĩ Tĩnh lặng cùng với tên nghĩa, đã không đâu có. Bốn nghĩ Tĩnh lặng cùng với tên, đều không đâu dừng ở, cũng không dừng ở sai.

Kinh Nhiều Trí tuệ tới Niết Bàn Phật, quyển thứ ba mươi sáu.