KINH TỲ KHEO NA TIÊN
Càn Long Đại Tạng Kinh Quyển 108, trang 706-753
Thiện Nhựt phỏng dịch và tìm hiểu

 

C. Phần Tìm hiểu Nghĩa Ý

098.- Xuất-xứ của quyển Tì-kheo Na-Tiên.

Kinh Tì-kheo Na-Tiên được kết-tập trong Hán-Tạng, Càn-Long Đại-Tạng-Kinh, quyển thứ 108, từ trang 706 đến trang 753, chẳng có tên Dịch-giả ra Hán-văn, chỉ thấy ghi là sưu-tập vào đời Đông-Tấn (Trung-hoa). Tác-giả của quyển Kinh, theo truyền-thuyết, là Ngài Long-Thọ (Nagarjuna), vị Tổ-sư thứ 14 của Thiền-tông Ấn-độ. Tên quyển Kinh trong Tạng Pali là Milinda panha (Vua Di-lan hỏi Đạo), thuộc Tiểu-Bộ-Kinh (Khuddaka Nikaya). Cũng theo truyền-thuyết, Ngài Long-Thọ muốn mượn tên Tì-kheo Na-Tiên (Pali: Nagasena) để tự ám-chỉ mình; còn tên Di-lan (Pali: Milinda) lại ám-chỉ đức Vua Ménandre, để nhơn cuộc đối-đáp giữa hai người mà trình-bày Giáo-lý dưới hình-thức giản-dị, dễ hiểu, và nhứt là để giúp ta dứt bỏ được các mối hoài-nghi về Chánh-Pháp.

Kinh Milinda panha được dịch ra rất nhiều thứ tiếng. Tại Việt-Nam trước đây, đại-cư-sĩ Đoàn-Trung-Còn có dựa theo bản dịch Pháp-văn, phối-hợp với bản Hán-văn, cho xuất-bản quyển Na-Tiên Tì-Kheo Kinh, đã được rất nhiều cơ-sở Phật-giáo tái-bản và ấn-tống.

Quyển Tì-kheo Na-Tiên nầy được gọi là Kinh, có lẽ vì đã được ghi trong Kinh-Tạng, Tiểu-Bộ-Kinh. Nhưng xét theo văn-từ, quyển nầy vốn là một bộ Luận, được một bậc đại-sư sáng-tác; các vị kết-tập Kinh-Tạng gọi đó là Kinh, chắc cũng chẳng ngoài lý-do là đề-cao cùng tán-thán tác-phẩm nầy. Trải qua năm tháng, quyển ”Kinh” được sự hâm-mộ nồng-nhiệt của mọi người Phật-tử khắp thế-giới.

Thiện-Nhựt mạo-muội phỏng-dịch từ Hán-tạng ra tiếng Việt thông-thường ngày nay. Vì tôn-trọng chánh-văn trong Đại-Tạng, tôi giữ nguyên các danh-từ chuyên-môn Phật-học dùng trong bản dịch Hán-văn, và xin được phép nói rõ lại các chữ ấy theo các thuật-ngữ ngày nay, trong Phần Tìm hiểu Nghĩa Chữ và Nghĩa Ý, tách riêng ra khỏi Phần Phỏng-dịch.

*

099.- Bố-cục quyển Tì-kheo Na-Tiên .

Tuy Kinh Tì-kheo Na-Tiên được chia ra làm ba quyển: thượng, trung, hạ; nhưng xét kỹ về ý-tưởng trong các quyển đó chẳng thấy có điểm khác-biệt sâu-sắc nào để chia thành ba cuốn; vả lại, các câu hỏi vua Di-Lan nêu lên trong ba quyển ấy thường được lập đi lập lại đôi ba lần. Vì lẽ đó, Thiện Nhựt xin đề-nghị xem toàn-bộ quyển sách như một cuốn và chia ra làm ba phần chánh:

1.- Tiền-kiếp của Tì-kheo Na-Tiên và Vua Di-Lan (từ tiểu-mục số 001 đến số 008, bản Phỏng-dịch).

2.- Các câu vấn-đáp giữa Vua Di-Lan và Tì-kheo Na-Tiên. Đây là phần chánh, chiếm gần hết quyển sách (từ tiểu-mục số 009 đến số 096).

3.- Tâm-trạng hoan-hỉ của Na-Tiên và Di-Lan sau cuộc đàm-luận (tiểu-mục số 097).

Sau đây, xin tóm lược ba phần chánh đó.

*

100.- Tóm-lược về Tiền kiếp của Na-Tiên và Di-Lan .

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, có đông-đảo các vị Tì-kheo, Tì-kheo-ni và hơn vạn dân-chúng tham-dự để nghe giảng Pháp. Nhận thấy hôm ấy, tâm-trạng của đại-chúng chẳng an, Đức Phật liền rời tịnh-xá đi vào rừng tòng an-tịnh, để niệm Đạo. Vào lúc ấy có Tượng-vương (voi chúa) cũng rời bầy voi đang đùa nghịch, đi tìm nơi thanh-vắng. Tượng-vương trông thấy Đức Phật liền qùi xuống làm lễ. Đức Phật vì Tượng-vương nói Pháp, nhờ đó tâm Tượng-vương khai-ngộ. Kể từ đó, Tượng-vương thừa-sự Đức Phật và quanh-quẩn bên cạnh Ngài luôn. Về sau, khi Đức Phật nhập Niết-bàn, Tượng-vương mến-tiếc và đến chùa Ca-La-Hoàn nghe chư Tăng tụng Kinh vào các ngày trai. Khi thọ-mạng hết, Tượng-vương được tái-sanh lại làm người, con trai trong một gia-đình Bà-la-môn. (Xin xem lại các tiểu-mục số 001, 002, và 003).

Lớn lên, người con trai ấy nhớ đến Kinh Phật được nghe ở đời trước, mới rời nhà, lên non học Đạo. Cùng với một tu-sĩ Bà-la-môn khác, anh kết làm bạn thiện-tri-thức với nhau. Một người nguyện kiếp sau sẽ làm vua một nước; một người nguyện sẽ làm sa-môn. Như lời họ ước-nguyện, trong kiếp sau, một người sanh ra làm Thái-tử tên là Di-Lan, tại một nước ở ven biển; còn một người tái-sanh lại ở huyện Kế-Tân, nước Thiên-Trúc (Ấn-độ xưa), khi sanh ra có áo cà-sa quấn quanh mình, được cha-mẹđặt tên là Na-Tiên.

Do đó, tiền-kiếp của Na-Tiên là Tượng-vương; còn tiền-kiếp của vua Di-Lan là một tu-sĩ theo đạo Bà-la-môn. (Xin xem lại tiểu-mục số 004 nơi bản Phỏng-dịch).

*

101.- Na-Tiên đắc quả A-la-hán .

Năm mười sáu tuổi, Na-Tiên thọ giới Sa-di với người cậu là vị sa-môn tên Lâu-Hán; vị nầy đã đắc được đạo-quả A-la-hán. Na-Tiên học thông Kinh-Kệ, giữ-gìn Giới-luật thanh-tịnh, đến năm 20 tưổi được thọ giới Đại-Sa-môn. Vào ngày Rằm, Na-Tiên đến chùa Hoà-Thiền-Tự để dự lễ Bố-tát, đọc tụng Kinh-Giới. Vị Thượng-Tọa trụ-trì nhận thấy Na-Tiên qùi giữa các vị Tì-kheo đều đã đắc quả A-la-hán, thuyết Kinh thí-dụ, giữa các hột gạo trắng có lộn hột gạo đen, đó là Na-Tiên, còn chưa đắc quả A-la-hán. Na-Tiên buồn rầu, cúi lạy xin sám-hối và đi ra khỏi chùa.

Na-Tiên lại theo học với Sư Ca-Duy-Viết, là một thiền-sư hơn tám mươi tuổi, tánh rất nghiêm-khắc. Buổi sáng, Na-Tiên mang bình bát của Sư-phụ đi đến nhà một cư-sĩ thường hay cúng-dường thực-phẩm cho chư Tăng. Sư Ca-Duy-Viết ra lịnh cho Na-Tiên phải ngậm một ngụm nước mặn trong khi đến nhà vị cư-sĩ đó. Đến nơi, vị cư-sĩ dâng hiến thực-phẩm quí-giá. Thể theo lời yêu-cầu của vị cư-sĩ, Na-Tiên thuyết kinh cho nghe, như thế là Na-Tiên phạm điều cấm-đoán của Sư Ca-Duy-Viết, vì phải nhổ ngụm nước mặn ra để nói Pháp. Sau thời Pháp, cả hai, người nói lẫn người nghe, đều chứng quả Tu-đà-huờn. Trở về chùa, Na-Tiên bị trục-xuất vì vi-phạm giới cấm của Thầy, mặc dầu thuyết-pháp thành-công có hiệu-quả lớn. Na-Tiên lạy Thầy, rời chùa, lên non, ẩn tu. Chẳng bao lâu, nhờ tinh-tấn hành Thiền, Na-Tiên chứng quả A-la-hán, đắc được các thần-thông.

Na-Tiên trở lại chùa Hoà-Thiền-Tự, với tư-cách A-la-hán, lạy sám-hối với chư Tăng; rồi ra đi, châu-du khắp nơi để giảng-dạy Kinh-Pháp. Chẳng bao lâu, danh-tiếng của Na-Tiên vang dội gần xa; biện-tài luận-đàm được mọi người kính-phục; đệ-tử theo học Đạo rất đông-đảo, có nhiều vị nhờ đó mà đắc được các Thánh-quả. (Xin xem các tiểu-mục số 005, 006, 007, 008)

*

102.- Sa-môn Dã-Hoà-La bị vua Di-Lan hỏi bí .

Vua Di-Lan cai-trị nước Xá-Kiệt (Pali: Sàgalà) rất giàu-có, đất-đai phì-nhiêu, dân-chúng hiền-lành, việc buôn-bán rất thạnh-vượng. Nhà Vua tuổi trẻ tài cao, văn-võ tinh-thông, thường bàn-luận về các Kinh-kệ ngoại-đạo đủ loại.

Một hôm, nhơn đi du-ngoạn ra ngoài thành, Đức Vua thấy còn sớm, muốn tìm một bực tu-hành đắc đạo để thưa hỏi về các Kinh cao và khó. Các quan mời Vua đến gặp vị sa-môn Dã-Hoà-La được nổi tiếng là bực có đức-hạnh cao. Vua hỏi vị sa-môn:

– Vì sao Khanh cạo râu, cắt tóc, rời bỏ gia-đình đi tu? Khanh theo đạo nào?

– Tôi học hạnh trung-chánh của đạo Phật, đời nầy được phước, đời sau cũng được phước. Vì lẽ đó, tôi xuống tóc, cạo râu, rời bỏ gia-đình, đi tu làm sa-môn.

– Các người còn mặc áo trắng, tu tại-gia mà theo đúng hạnh trung-chánh đó, có được phước đời nầy và đời sau không?

– Các người tu tại nhà, theo đúng hạnh trung-chánh của đạo Phật, cũng được phước ấy trong đời nầy và cả về đời sau.

– Thế thì, tại sao Khanh lại bỏ cả gia-đình đi tu?

Sa-môn Dã-Hoà-La im lặng, trả lời chẳng được. Các quan hầu-cận liền nói: ”Đức Vua đắc-thắng. Nhà Vua đã thắng vị đạo-nhơn.”

Nhà Vua có vẻ tự-mãn, quay lại hỏi các quan:

– Còn có vị sa-môn nào khác đủ sức cùng Ta đối-đáp về các Kinh cao và khó chăng?

Viên quan hầu-cận tên Triêm-Di-Lợi tâu:

– Có một vị Tì-kheo tên là Na-Tiên, vừa đến nước Xá-Kiệt nầy, nổi tiếng là thông-đạt các Kinh-Kệ của Đức Phật, giải-đáp mọi nghi-ngờ rất thông-suốt, có thể cùng nhà Vua bàn-luận về các Kinh cao và khó.

Vua liền sai Triêm đi thỉnh Tì-kheo Na-Tiên đến hội-kiến.

(Xin xem lại các tiểu-mục số 009, 010, 011).

Trước khi kể tiếp, Thiện Nhựt xin mở ngoặc để tìm hiểu thêm về hạnh trung-chánh mà Sa-môn Dã-Hoà-La nói đến. Hạnh, còn đọc là hành, nghĩa là làm; chữ đức-hạnh có nghĩa là lối-sống, là hạnh-kiểm, đứng-đắn, theo con đường lành; chữ giới-hạnh có nghĩa là đời- sống đúng theo giới-luật nhà Phật, tránh mọi điều răn-cấm. Trung-chánh có nghiã: trung là ở thẳng ngay chính giữa, chẳng nghiêng qua hai bên, chánh là chơn-chánh, ngay-thẳng, đứng-đắn.

Hạnh trung-chánh được nói ở đây tức là lối sống theo đúng với Giới-luật do Đức Phật đặt ra: Ngũ Giới cho người tu tại nhà, Cụ-túc-giới cho các tì-kheo và tì-kheo-ni tu trong chùa. Nhưng, theo sự suy-đoán của Thiện-Nhựt, có lẽ dịch-giả bản Hán-văn đã dùng ba chữ hạnh trung-chánh để nói đến con đường Trung-Đạo và cả Bát-Chánh-Đạo ghi trong bản Kinh Chuyển-Pháp-Luân, là bản Kinh đầu-tiên của Đức Phật thuyết-giảng tại vườn Lộc-Uyển. Con đường Trung-Đạo là con đường ở giữa, chẳng nghiêng qua bên tham-muốn các lợi-dưỡng, các thú vui vật-chất, mà cũng chẳng ngã sang bên tu-hành ép-xác. Thực-hiện con đường Trung-Đạo đó, thì phải theo đúng tám ngành của Bát-Chánh-Đạo. Bát-Chánh-Đạo gồm có: (1) chánh-kiến, sự thấy-biết chơn-chánh (2) chánh tư-duy, sự suy-nghĩ đứng-đắn; (3) chánh-ngữ, lời nói ngay thật; (4) chánh mạng, lối mưu-sanh đúng-đắn với nghề-nghiệp chơn-chánh; (5) chánh nghiệp, giữ gìn thân-nghiệp chẳng làm quấy, khẩu-nghiệp nói lời chơn-chánh; ý-nghiệp suy-tư đứng-đắn; (6) chánh tinh-tấn, nỗ-lực làm điều thiện hơn thêm lên; (7) chánh-niệm, biết giữ-gìn tư-tưởng trong tâm thanh-tịnh; và (8) chánh-định, tâm-ý an-trụ đứng-đắn.

Xin đóng dấu ngoặc lại và kể tiếp.

*

103.- Vua Di-Lan thử-thách Tì-kheo Na-Tiên .

Khi quan Triêm-Di-Lợi đến mời, Na-Tiên liền cùng chư tì-kheo tới nơi vua đang ngự. Từ xa, nhìn đoàn tì-kheo di-chuyển, nhà Vua trông thấy một vị sa-môn đi đứng trang-nghiêm, thân-tướng đẹp-đẽ, đoán ngay đó là Na-Tiên. Triêm-Di-Lợi đến gần bên Vua, tâu rằng, vị tì-kheo Na-Tiên vừa đến, và chỉ ngay chính người mà Đức Vua dự-đoán là Na-Tiên. Lòng Vua rất mừng, nhưng tâm ngài lại cảm thấy xao-xuyến. Ngài tự nghĩ: ”Tâm ta đang bàng-hoàng trước mặt Na-Tiên, chắc là Na-Tiên sẽ thắng ta.”

Sau khi xưng tên và các lời thăm hỏi xã-giao, cuộc đàm-luận bắt đầu. Vua Di-Lan liền dùng một câu hỏi khó, hỏi Na-Tiên:

– Na-Tiên! Ai là Na-Tiên? Đầu, mắt, tai… là Na-Tiên chăng?

Mỗi câu vua hỏi, Na-Tiên đều đáp:

– Chẳng phải là Na-Tiên.

(Để tránh sự trùng-điệp với Phần Phỏng-dịch, tại đây, Thiện Nhựt chẳng thuật lại đầy-đủ các chi-tiết hỏi và đáp giữa hai người, xin độc-giả chịu phiền xem lại tiểu-mục số 013, Phần Phỏng-dịch).

Rồi Na-Tiên hỏi ngược lại Đức Vua:

– Xe là gì? Trục xe, vành bánh xe, căm xe… có phải là xe chăng?

Mỗi câu Na-Tiên hỏi về các bộ-phận của chiếc xe, Vua đều trả lời:

– Chẳng phải là xe.

Na-Tiên liền hỏi câu chót:

– Vậy cái gì mới thật là xe?

Đức Vua im lặng, chẳng đáp được.

Na-Tiên liền kết-luận bằng cách trích-dẫn một đoạn Kinh Phật, hiệp-tụ các bộ-phận (…) đó lại, là nguyên-nhân để có được chiếc xe; con người cũng vậy, hễ hiệp-tụ các bộ-phận trong thân-tâm lại thì thành ra con người, được đặt tên để gọi là Na-Tiên.

Vua khen: ”Lành thay! Lành thay!”

Nhà Vua lại hỏi một câu rất khó, để thử-thách sự lanh-trí của Na-Tiên. Vua nói:

– Ta có điều muốn hỏi.

– Xin Đại-Vương cứ hỏi.

– Ta đã hỏi xong.

– Tôi cũng đã đáp xong.

– Đáp những gì đâu?

– Đại-Vương hỏi tôi những gì đâu?

Đến đây, Thiện Nhựt lại xin ngưng việc tóm-tắt bản Phỏng-dịch, và một lần nữa, xin mở dấu ngoặc để nêu lên chỗ Vua Di-Lan đã thử-thách Na-Tiên về những điểm nào.

Trước nhứt là câu hỏi: Ai là Na-Tiên? Nghĩa sâu-kín của câu hỏi đó là: Vậy chớ cái gì mới thật là Na-Tiên? Bản-chất của con người là gì? Nơi thân-tâm con người, có cái gì là cái Ta, là bản-ngã không? Hoặc nói theo những người còn mê-tín, trong thân-tâm nầy, có cái linh-hồn tồn-tại mãi qua thời-gian chăng?

Các câu trả lời của Na-Tiên, cùng lời kết-luận trích dẫn Kinh Phật đều qui về một vấn-đề căn-bản của Giáo-lý nhà Phật: lý vô-ngã, trong thân-tâm con người chẳng hề có cái Ta, chẳng hề có cái bản-ngã. Tuy Na-Tiên chẳng nói rõ ra, nhưng ta biết thân-tâm con người chỉ là sự tập-hợp của năm uẩn: sắc-uẩn là phần vật-chất, gọi là thân, và bốn uẩn kia, thọ, tưởng, hành, thức- uẩn thuộc về phần tinh-thần, tức là tâm. Chẳng hề thấy trong thân-tâm nầy, đâu là ông chủ gọi là Ta, đâu là linh-hồn, gọi là phần hồn của Ta cả, chỉ có các uẩn tập-hợp lại mà thôi. Đó là lý-lẽ vững-chắc chứng-minh Chơn-lý vô-ngã của Phật-học.

Na-Tiên đã vượt qua dễ-dàng chỗ Vua thử-thách bằng cách hỏi ngược lại: Xe là gì? Cái gì trong xe là xe? Vua chẳng trả lời được, như thế Na-Tiên đã thắng. Rất tiếc, nhà Vua chẳng hỏi thêm chi-tiết về lý vô-ngã nữa, để chúng ta được dịp học-hỏi về cách Na-Tiên giải các mối nghi-ngại còn sót lại về Chơn-Lý quan-trọng nầy.

Nhưng nhà Vua lại đưa ra thêm một câu hỏi rất khó, nếu ai mà lớ-quớ, chẳng nhanh-trí như Na-Tiên, thì liền lọt vào cạm-bẫy ngay. Hỏi mà chẳng nêu câu hỏi là hỏi làm sao? Đáp mà chẳng nói ra lời, là đáp cách nào? Vua và Na-Tiên đang so gươm trí-huệ với nhau đấy!

Nhà Vua muốn hỏi Na-Tiên mà chẳng nêu câu hỏi lên, tức là Nhà Vua muốn hỏi gì? Hai đằng hiện đang bàn-luận về giáo-pháp, thế thì câu Nhà Vua muốn hỏi là câu hỏi thuộc về Pháp (Dharma, giáo-pháp) chớ gì. Tại sao Vua lại chẳng nói đó là câu hỏi về Pháp. Bởi lý-lẽ rất cao-siêu là Pháp vốn Không, tức là Pháp vốn rỗng-rang, chẳng chứa đựng gì, chẳng dính mắc gì, chẳng có hình-tướng gì, thì làm sao diễn-tả ra bằng lời nói được. Nếu có nói ra câu hỏi về Pháp, tức là mặc-nhiên phủ-nhận tánh-chất rỗng-rang của Pháp rồi, đâu nêu lên được chỗ Pháp-Không trong giáo-lý, lại còn khoác thêm cho Pháp một hình-tướng ngôn-từ.

Na-Tiên quả là nhanh-trí, biết ngay chỗ ẩn-ý của nhà Vua, nên mới đáp là, đã đáp xong, mà chẳng nêu rõ là đáp những gì. Nếu Na-Tiên vô-tình hỏi lại Vua, Vua vừa nói: đã hỏi rồi, là hỏi gì đâu? thì Na-Tiên liền rơi vào cạm-bẫy của Vua, chờ đợi một câu hỏi về Pháp bằng ngôn-từ. Pháp vốn là Không, sao diễn ra bằng hình-tướng của lời nói để hỏi thành câu hỏi, hóa ra còn chưa hiểu được điểm giáo-lý rất quan-trọng nầy của nhà Phật sao?

Trở lại câu hỏi đầu-tiên Ai là Na-Tiên? Y-nghĩa sâu-xa của tiểu-mục số 013, là vấn-đề Ngã-không, trong Giáo-Lý Nam-Tông. Câu hỏi của Vua và cách đáp của Na-Tiên ở tiểu-mục số 015, liên-quan đến vấn-đề Pháp-không, trong Giáo-lý Bắc-Tông. Cả hai vấn-đề khó-khăn nầy đều được Na-Tiên vượt qua một cách xuất-sắc. Và xuất-sắc hơn nữa là tác-giả quyển Tì-kheo Na-Tiên nầy, đã trình-bày hai vấn-đề cực-kỳ tế-nhị ấy dưới hình-thức hết sức đơn-giản, dễ hiểu và đầy hứng-thú!

*

104.- Thái-độ trong khi bàn-luận Giáo-pháp.

Còn một vấn-đề cực-kỳ quan-trọng mà các người ưa thảo-luận về giáo-pháp nên lưu-tâm. Đó là thái-độ thích-nghi của những người tham-dự cuộc bàn-luận về các vấn-đề tôn-giáo.

(Tiểu-mục số 014, bản Phỏng-dịch, là một đoạn văn hết sức thiết-yếu, kính mong người đọc xem lại kỹ và suy-gẫm thêm).

Sau khi thử-thách Tì-kheo Na-Tiên, Vua Di-Lan mới ngỏ ý muốn cùng Sư bàn-luận về Giáo-Pháp. Bằng lời nói bộc-trực, Na-Tiên thẳng-thắn nói:

– Nếu Vua dùng trí-huệ để hỏi tôi, thì có thể cùng nhau bàn-luận. Nếu Vua dùng ý lời vương-giả kiêu-quí, thì chẳng thể cùng Vua bàn-luận được.

Sự phân-biệt giữa lời nói của trí-huệ và lời nói của vương-giả đã được Na-Tiên trình-bày rất minh-bạch. Lời nói ngay-thẳng, chơn-chánh, hướng về Chơn-lý, có thua có thắng, thất-bại chẳng chút giận-hờn, là lời nói của bực trí-giả. Lời nói kiêu-quí, phóng theo cảm-nghĩ riêng, gặp chỗ chẳng vừa ý thì trừng-phạt, đó là lời nói của bực vương-giả.

Đức khiêm-cung của nhà Vua cũng được biểu-lộ ra rất rõ-ràng, đáng cho ta khâm-phục, khi Ngài đáp:

– Nguyện dùng lời nói của bực trí-giả, chẳng dùng lời nói của vương-giả, chẳng giữ ý-nghĩ vương-giả trong lời mình nói… khiến cho lòng mình chẳng mang sợ-hãi, thành-tâm cùng được khai-ngộ.

Nhơn vấn-đề quan-trọng nầy, Thiện Nhựt, theo thiển-ý của mình, xin thưa thêm một vài điều:

1.- Kinh-sách Phật-học thường nhắc đến lời Phật dạy là phải tránh các cuộc hí-luận. Thế nào là hí-luận? Hí là vui-đùa. Luận là bàn-cãi. Thường thấy, tiếp theo các buổi trà-dư tửu-hậu, nhiều người tự-nhận là bực ”trí-thức hiểu Đạo” ngồi nhâm-nhi tách trà, bàn-luận nhau với lời-lẽ dao to búa lớn mà ý-nghĩa lại rỗng-tuếch, phê-bình vị đại-sư nầy, khen-ngợi vị thiền-giả kia, từ Đông sang Tây, hết kim đến cổ; đó là … bàn-luận chơi cho vui, vậy thôi, chớ nào phải đi tìm Chơn-lý, để rút lấy kinh-nghiệm tu-tập. Thế cho nên, Đức Phật mới gọi là hí-luận và dạy ta cần phải tránh.

2.- Kinh-sách Phật-học phân-biệt hai loại Chơn-lý: (1) sự-thật ở thế-gian, có thể đúng nơi nầy, vào lúc nầy, mà có thể chẳng hợp với chỗ kia, vào một thời khác, cho nên gọi đó là tục-đế, nghĩa là sự-thật tương-đối trong đời sống thế-tục; (2) sự-thật đúng muôn đời và khắp mọi nơi, đưa con người tu-hành đến nơi giác-ngộ và giải-thoát; vì thế cho nên mới gọi là chơn-đế, nghĩa là sự-thật tuyệt-đối, thuộc lãnh-vực xuất-thế-gian. Dùng lời-lẽ của thế-gian khó mà vươn lên đến tận Chơn-lý tuyệt-đối của lãnh-vực xuất-thế. Bởi thế cho nên, người hiểu-biết bao giờ cũng nghĩ là mình chưa hề nắm vững được Chơn-đế, nên phải giữ thái-độ khiêm-hoà, chẳng dám liều-lĩnh bảo rằng điều mình nói là sự-thật duy-nhứt và tối-thượng. Trái lại, tâm-trạng người ấy nên mở rộng ra đón nhận tạm-thời lời-lẽ của người đối-thoại, hẹn với lòng mình sẽ truy-cứu và soát-xét kỹ lại các chỗ đúng cùng sai, hầu rút lấy kinh-nghiệm tu-tập cho bản-thân.

3.- Thái-độ thích-nghi trong khi luận-bàn về Giáo-lý là phải thành-khẩn trong tư-tưởng và lời nói:

a.- Về phiá người thưa hỏi, ở vào vị-thế của người đi học Đạo, cần phải giữ lễ-độ đối với người mà mình thưa-thỉnh. Thái-độ đứng-đắn là nêu ra các câu hỏi cho rõ-ràng, chú-trọng đến chỗ mình còn nghi-ngờ chưa được giải rõ. Và khi nghe lời giảng-giải, phải lắng lòng, chú-tâm, chẳng vội chấp-nhận, cũng chẳng bài-bác ngay, nếu có chỗchưa kịp hiểu, thì xin được minh-chứng thêm bằng các thí-dụ cụ-thể trong đời sống hằng ngày.

b.- Về phiá người được hỏi, chẳng bao giờ để khởi lên trong lòng mình một chút ý-nghĩ tự-hào cỏn-con nào rằng mình biết Đạo hơn người kia, nếu chẳng đáng làm Thầy thì cũng là người đi trước. Và khi giảng-giải, phải tùy theo căn-cơ của người nghe mà dùng lời-lẽ giản-dị, rõ-ràng, dễ hiểu, kèm theo các thí-dụ trong thực-tế.

4.- Trong một cuộc thảo-luận về các vấn-đề đạo-giáo, có hai điều mà kẻ hỏi và người đáp cần nên tránh, thì mới xứng-danh là một cuộc thảo-luận đứng-đắn và hữu-ích.

a.- Về phía người hỏi, chớ bao giờ có hậu-ý muốn dồn kẻ đối-thoại vào … ngỏ bí. Trên địa-hạt tâm-linh, có nhiều vấn-đề mà chính Đức Phật đã gọi là bất-khả tư-nghì, nghĩa là chẳng thể nghĩ-bàn được với lời-lẽ của thế-gian. Đừng đòi-hỏi có cho được những bằng-cớ thật cụ-thể, tai nghe mắt thấy, có thực-nghiệm của khoa-học chứng-minh, rồi mới chấp-nhận. Điều mình chẳng tin được, trong khung-cảnh thời-gian và không-gian hiện-tại, chưa chắc hẳn là chẳng thể nào có được, biết đâu đó lại là một sự-thật tại một cảnh-giới khác, vào một thời khác. Thế cho nên, thái-độ khoa-học chơn-chánh là phải tỏ ra dè-dặt, chớ vội bác-bỏ hoàn-toàn mà chẳng cứu-xét kỹ lại khả-năng thông-hiểu của trí-óc con người.

b.- Về phía người đóng vai-trò hướng-dẫn, tưởng cũng chẳng nên đưa ra ”tối-hậu-thơ”: tôi nói như thế, có tin thì tu theo, còn chẳng tin, thì cứ giữ lấy quan-niệm của mình vậy. Người thưa hỏi thành-tâm muốn được giải chỗ còn hoài-nghi, nghe câu nói đó rất chán-nản, và đạo-tâm vì thế mà lùi sụt. Lại nữa, cũng đừng nên dùng luôn câu nói quá dễ-dàng nầy: tôi nói thế, đạo-hữu cứ đọc đi, tụng đi, thi-hành theo đi, rồi sẽ có ngày hiểu rõ được ý-nghĩa sâu-xa mà đạo-hữu muốn hỏi. Người hỏi đang chờ đợi một vài câu khuyên thực-tế, đôi lời giảng-giải gọn-gàng về ý-nghĩa chỗ còn đang thắc-mắc, làm sao mà tiếp-tục đọc-tụng thêm được, nếu chỗ hồ-nghi còn chưa được giải-toả. Tưởng chẳng có chi là đáng hổ-thẹn khi chính mình nhận thấy mình còn chưa đủ lời-lẽ để phân-tách điều đang được hỏi, sao lại chẳng thành-thật nhìn nhận sự thiếu-sót của mình và mời người hỏi tìm đến một bực cao-minh khác?

5.- Và trong mọi trường-hợp, chớ chẳng cứ là chỉ trong các dịp thảo-luận mà thôi, luôn luôn nên giữ thái-độ cởi-mở, đón nhận mọi lý-lẽ, — tin hay chẳng chịu tin, đó là quyền tự-do tư-tưởng riêng bên trong của mình — hãy lắng nghe để cho người đối-thoại có đủ cơ-hội trình-bày lập-trường. Thái-độ đáng trách nhứt là cố-chấp, ôm giữkhư khư các ý-kiến, các cảm-nghĩ cá-nhơn, và cả các thành-kiến!

Thiện Nhựt xin thành-tâm sám-hối đã quá dài-dòng khi nêu ra nhiều ý-kiến thô-thiển của mình. Xin đóng dấu ngoặc lại và quay về kể tiếp câu chuyện giữa vua Di-Lan và tì-kheo Na-Tiên.

*

105.- Dọc đường, Triêm-Di-Lợi được Na-Tiên khai-ngộ .

Lúc bấy giờ trời sắp tối, nhà Vua muốn quay về cung. Hôm sau, Vua sai quan hầu-cận Triêm-Di-Lợi đi thỉnh Na-Tiên đến đền vua để cúng-dường trai-tăng và thưa hỏi về Phật-pháp. Na-Tiên cùng với tám mươi vị tì-kheo lên đường đến hoàng-cung.

Dọc đường, Triêm-Di-Lợi nhớ lại cuộc nói chuyện hôm qua giữa Vua và Na-Tiên, mới thưa cùng Na-Tiên:

– Bạch Ngài, hôm qua, Ngài có bảo, chẳng có gì là Na-Tiên cả, tôi còn chưa hiểu, mong Ngài chỉ-dạy thêm cho.

– Theo ông, thì cái gì là Na-Tiên?

– Có lẽ hơi thở ra vào chính là Na-Tiên.

– Hơi thở có ra mà chẳng vào, thì con người thế nào?

– Hơi thở ra mà chẳng vào lại, mạng sống con người chấm dứt.

– Thế thì, các người thổi kèn, thổi ống bể lò rèn, thổi tù-và, khi thổi hơi ra, hơi đó có trở vào chăng?

– Bạch, không?

– Các người thổi đó có vì thế mà chết đi chăng?

– Bạch, không; họ chẳng vì thế mà chết. Xin Ngài chỉ-dạy rõ thêm.

– Hơi thở ra vào là một phần-việc ở trong cơ-thể; cũng như trong tâm có ý thì lưỡi nói ra lời; đó là phần-việc của tâm và của lưỡi. Mỗi bộ-phận trong thân-tâm đều có phần-việc cả, khi nhìn kỹ lại thì là Không, là rỗng-rang, chẳng có gì là Na-Tiên cả.

Triêm-Di-Lợi nghe xong, tâm liền khai-ngộ.

(Tiểu-mục số 017, bản Phỏng-dịch, vừa được nhắc lại trên đây, nhằm nêu lên lý-do tại sao chẳng có gì là Na-Tiên cả, và để giải-thích thêm lý vô-ngã: trong thân-tâm do năm uẩn tập-hợp lại nầy, chẳng hề có cái gì gọi là ”Ta”,”Ngã” cả. Bình-dân còn mê-tín tin-tưởng rằng mỗi người có một linh-hồn bất-diệt, cứ đầu-thai lại làm người trải qua nhiều kiếp sống chết. ”Ta” chẳng có, mà cả ”linh-hồn” cũng chẳng có; chẳng qua vì mê-tín, vì tà-kiến, mà vướng-mắc phải ý-tưởng sai-lầm nầy là coi trong thân-tâm như có cái ”Ta”, có cái ”linh-hồn”. Tà-kiến đó gọi là thân-kiến, hoặc ngã-kiến.)

Sau khi, chư Tăng an-toạ, Đức Vua tự tay sới cơm và sớt thực-phẩm dâng-hiến lên cho Tì-kheo Na-Tiên. Tiếp theo bữa thọ-trai, nhà Vua sai mang áo ca-sa và giầy ra cúng-dường Tăng-đoàn. Kế đó, nhà Vua truyền lịnh cho các quí-nhơn trong hậu-cung phải ra ngoài thượng-điện, ngồi sau màn, để theo dõi cuộc pháp-đàm giữa Ngài và Ti-kheo Na-Tiên. (Đây là hảo-ý rất đáng khen của nhà Vua muốn cho các phi-tần trong hậu-cung cũng có dịp học-hỏi thêm về Chánh-Pháp).

*

106.- Sắp-xếp lại các loại câu hỏi về Giáo-Pháp .

Đến đây, Thiện-Nhựt vừa kể xong Phần I của quyển Tì-kheo Na-Tiên. Tiếp theo xin tóm-tắt Phần II của quyển sách là phần quan-trọng nói đến các câu hỏi và lời giải-đáp giữa Di-Lan và Na-Tiên.

Rất khó sắp-xếp lại các vấn-đề đạo-pháp mà Vua Di-Lan đã lần-lượt nêu lên để hỏi Tì-kheo Na-Tiên. Nhiều câu hỏi được nhắc đi nhắc lại nhiều lần ở nhiều đoạn khác nhau. Thí-dụ như vấn-đề đi tu làm sa-môn, vấn-đề tái-sanh, vấn-đề Trí-huệ, v.v…

Tổng-cộng tất cả có hơn 80 câu hỏi, có thể tạm chia làm mười vấn-đề sau đây:

I.- Tại sao đi tu làm sa-môn?
II.- Sự tái-sanh, nghiệp-lực, và thuyết Luân-hồi;
III.- Phân-biệt các điều thiện và ác;
IV.- 37 Phẩm Trợ Đạo;
V.- Trí-huệ;
VI.- Các loại cảm-thọ;
VII.- Đắc Đạo và cõi Niết-bàn;
VIII.- Phật;
IX.- Con ”Người” và lý-thuyết vô-ngã;
X.- Các câu hỏi linh-tinh về kiến-thức tổng-quát.

Nơi Bản Mục-Lục có ghi rõ các tiểu-mục và các trang có liên-quan đến mười vấn-đề vừa nêu trên đây.

Trong Phần Tìm hiểu Nghĩa Ý, Thiện Nhựt xin mạn phép chẳng theo đúng thứ-tự từng trang một, trong Bản Phỏng-dịch, mà lại lần-lượt xét theo các vấn-đề nêu trên đây; xin người đọc chịu phiền tra-cứu lại chánh-văn trong bản Phỏng-dịch, nếu thấy cần.

—–*—–

I.- Vấn-đề: Đi tu làm Sa-môn 

107.- Tại sao đi tu làm sa-môn?

Vấn-đề tu-hành, đối với người còn tại nhà và đối với các bực đã xuất-gia, là vấn-đề quan-trọng bực nhứt; vì lẽ đó vua Di-Lan đã nêu lên câu hỏi nầy, trước với vị sa-môn Dã-Hoà-La, và sau đó lại đặt vấn-đề ấy với Tì-kheo Na-Tiên, hơn một lần.

Nơi tiểu-mục số 010, phần Phỏng-dịch, nhà Vua hỏi sa-môn Dã-Hoà-La, vì sao cạo đầu đi tu làm sa-môn. Vị sư nầy đáp:

– Chúng tôi học hạnh trung-chánh của đạo Phật, đời nầy được phước, đời sau cũng được phước; vì lẽ đó, tôi xuống tóc, cạo râu, mặc áo cà-sa làm sa-môn.

Lý-do đi tu làm sa-môn, ở đây, được Sư Dã-Hoà-La nêu lên là để được phước đời nầy và đời sau. Đó là tu phước. Phước đó là phước gì? ”Được phước” là cuộc sống trong hiện-tại và trong tương-lai được nhiều may-mắn, sung-sướng, thí-dụ như được giàu-có, thoát khỏi mọi tai-nạn, thân-tâm được an-lạc và gia-quyến chẳng bị khổ-sở, v.v. Sự hưởng-thọ hạnh-phước đó được xem như ”phần thưởng” để bù-đắp cho công khó-nhọc đã tu-hành; ”phần-thưởng” ấy được gọi là ”phước”, đều dành cho cả hai hạng người tu tại-gia và bực xuất-gia, khi đã noi theo đúng ”hạnh trung-chánh”. Hạnh-phước đó do đâu mà có? Đó là vì trong đời nầy tu-hành, tránh các điều ác, làm nhiều điều lành, tạo nên thiện-nghiệp, nên theo Luật Nhân-quả được hưởng phước lành, ngay trong hiện-đời được kẻ khác mến-yêu, kính-nễ, và trong kiếp vị-lai, được sanh lại vào nơi cao-sang, quyền-quí.

Nhưng mục-đích tu-hành của bực xuất-gia chơn-chánh, ngoài việc được phước như người tu tại-gia, còn cao-sâu hơn nữa. Cao-sâu ở điểm nào? Bực xuất-gia đã lià cuộc sống ràng-buộc trong gia-đình, đi tu cốt là để được giải-thoát? Sao gọi là giải-thoát, ai hay cái gì ràng-buộc mình mà phải tìm sự giải-thoát? Đã mang thân-tâm năm uẩn nầy thì phải chịu khổ, cái khổ chẳng chừa một ai, từ lúc sanh ra, lớn lên, già, bịnh, chết; thương nhau chẳng gặp nhau; ghét nhau phải gần nhau, cầu mà chẳng được; các nỗi Khổ đã được kể đầy-đủ trongKhổ-đế nơi bản Kinh Chuyển Pháp-Luân. Chính vì muốn đời nầy tránh các nỗi Khổ đó và đời sau chẳng phải mang lại các nỗi Khổ đó nữa, mà các bực xuất-gia mới tu-tập theo hạnh sa-môn. (Xin xem lại các tiểu-mục số 018; số 085, bản Phỏng-dịch).

Vả lại, phước mà người tu tại-gia được hưởng đời nầy và cả đời sau nữa, là phước hữu-lậu, (hữu = có; lậu = rỉ chảy) hưởng riết rồi có ngày sẽ cạn, và khi hết phước sẽ phải bị khổ-sở trở lại, nhứt là còn chưa được giải-thoát vì phải tái-sanh lại trong cảnh Luân-hồi. Còn phước mà bực tu-hành mong được hưởng là phước được giải-thoát hoàn-toàn, vượt khỏi vòng sanh-tử của Luân-hồi. Phước đó gọi là phước vô-lậu, (vô = chẳng có), hưởng hoài chẳng bao giờ dứt, vì một khi đã được hoàn-toàn giải-thoát rồi thì chứng được vô-sanh, (vô = chẳng có, sanh = ở đây là tái-sanh, sanh trở lại); chẳng còn phải lận-đận trong việc chết đi, sống lại, chết đi … nữa, để chịu Khổ.

Với sự phân-biệt giữa hai loại phước, hữu-lậu và vô-lậu, cùng mục-đích thấp và cao giữa hai hạng tu-hành tại-gia và xuất-gia, giờ đây ta thấy rõ vì sao Sư Dã-Hoà-La đã ”thua” vua Di-Lan. Sư thất-bại trong cuộc đối-đáp, chỉ vì Sư chưa phân-biệt được phước hữu-lậu của kẻ tu tại nhà, với phước vô-lậu của bực xuất-gia; và nhứt là mục-đích cao-cả của việc xuất-gia: giải-thoát khỏi cảnh Luân-hồi, tránh mọi sự Khổ, chớ chẳng phải chỉ mong được sung-sướng trong đời nầy và đời sau mà thôi đâu.

Và đây cũng là dịp để ta phân-biệt thêm việc tu phước và việc tu huệ. Tu huệ khác với tu phước ở chỗ là nhằm phát-triển Trí-Huệ, khi theo đúng Tam Vô-lậu-học (= ba môn học vô-lậu, giúp ta đến nơi giác-ngộ và giải-thoát: Giới, Định, Huệ). Nhờ giữ Giới thanh-tịnh, thân-tâm thường an-lạc, nên tâm dễ đắc Định. Nhờ tâm an-định mà Trí-Huệ được phát-triển. Nhờ Trí-Huệ sáng-suốt mới cắt đứt được các loại phiền-não, chấm-dứt sự luyến-ái, mà chứng được vô-sanh, vĩnh-viễn thoát khỏi vòng lẩn-quẩn khổ-sở của Luân-hồi.

Đức Phật được tôn-xưng là bực Lưỡng-Túc-Tôn, tức là vị đã thực-hiện đầy-đủ cả hai Phước và Huệ (lưỡng= hai; túc= đầy-đủ; tôn = tôn-trọng).

*

108.- Có mấy hạng sa-môn?

Nơi tiểu-mục số 018, Tì-kheo Na-Tiên có nêu lên bốn hạng người đi tu theo hạnh sa-môn: (1) người vì nợ-nần; (2) người vì sợ quan-quyền; (3) người vì nghèo-khó; và (4) người muốn dứt bỏ mọi khổ-nhọc đời nầy, đời sau. Và Tì-kheo Na-Tiên cho biết, mình đi tu làm sa-môn là vì cầu Đạo.

Ba hạng người trước đi tu, chỉ vì muốn trốn tránh, hoặc nợ-nần, hoặc bị rắc-rối ở cửa quan, hoặc vì quá nghèo-khó. Trốn việc đời mới đi tu, mục-đích nầy chẳng mấy chính-đáng. Cũng như các người vì thất-vọng, tình-duyên dở-dang, sự-nghiệp tiêu-tan, mới vào chùa để tìm nguồn an-ủi; việc xuất-gia như thế khó mà bền lâu được; hễ nỗi đau-khổ được nguôi-ngoai rồi là khó mà chẳng nhớ và quay lại với việc đời ở thế-gian. Sự xuất-gia cần được đặt trên căn-bản: thấy rõ và hiểu thấu các nỗi Khổ ở thế-gian, quyết lòng cắt đứt mọi ràng-buộc ở gia-đình và xã-hội, để tìm cho bằng được con đường giải-thoát. Có vì cầu Đạo, thì đạo-tâm mới vững-bền, tinh-tấn tu đến ngày giác-ngộ.

(Về ý-nghĩa của hai chữ sa-môn và tì-kheo, xin người đọc chịu phiền xem lại Phần Tìm hiểu Nghĩa Chữ.)

—–*—–

II.- Vấn-đề: Tái-sanh Luân-hồi

109.- Vấn-đề tái-sanh được nêu lên nhiều lần trong quyển Tì-kheo Na-Tiên .

Đề-mục quan-trọng thứ nhì, thường được nhắc đi nhắc lại trong quyển ”Tì-kheo Na-Tiên” nầy là vấn-đề tái-sanh. Xuyên qua bản Phỏng-dịch, ta thấy Vua Di-Lan đã nêu vấn-đề nầy tất cả mười bốn lần, mỗi lần với một khía-cạnh khác, và rải-rác khắp quyển sách:

Các tiểu-mục số 019; số 037; số 038; số 043; số 044; số 045; số 047; số 049; số 050; số 070; số 071, 072; số 073; và số 087.

Theo các tiểu-mục vừa được liệt-kê trên đây, quyển ”Tì-kheo Na-Tiên” đã xét vấn-đề tái-sanh dưới các khía-cạnh sau đây:

1.- Tại sao phải sanh trở lại? Ai phải sanh trở lại, còn ai thì chẳng phải sanh trở lại nữa? Người hết tái-sanh lại có tự-biết đìều đó chăng? Vua hỏi Na-Tiên có biết mình còn phải tái-sanh nữa không?

2.- Khi tái-sanh, dùng thân cũ hay có thân mới? Chỗ đã làm thiện-ác nay đi về đâu? Thân mới có mang theo nghiệp cũ chăng? Thế nào là Danh-Sắc triển-chuyển theo thời-gian, tòng theo các nguyên-nhân dây chuyền?

3.- Cái ”gốc sanh-tử ” của con người là gì?

4.- Chết cùng lúc, có đến nơi tái-sanh cùng một lúc không?

5.- Thế-gian có sự-vật nào tự-nhiên mà sanh ra chăng?

*

110.- Thắc-mắc lớn: Chết rồi, đi về đâu?

Trước khi tìm hiểu Nghĩa Ý của các tiểu-mục nói trên, xin được phép xét qua hai điểm thắc-mắc lớn thường thấy: (1) Chết rồi, sẽ đi về đâu? (2) Có ”hiện-tượng” tái-sanh thật-sự hay không?

Với mạng sống hiện nay trung-bình vào khoảng sáu, bảy mươi năm, con người thường thắc-mắc tự-hỏi: Khi chết rồi, sẽ đi về đâu? Khoa-học, trong hiện-trạng, còn chưa có câu trả lời dứt-khoát. Tùy theo giáo-lý và tín-điều riêng-biệt, đối với hiện-tượng ”sau cái chết”, các tôn-giáo đã có lắm cách giải-thích khác nhau.

Phật-giáo khẳng-định với thuyết Luân-hồi rằng, chúng-sanh sau đời sống hiện-tại, tùy theo sự dẫn-dắt của nghiệp-lực, do các hành-vi thiện-ác đã qua gây nên, mà tái-sanh lại vào một trong sáu nẻo: ba đường dữ: (1)địa-ngục, (2) ngạ-quỉ và (3)súc-sanh) và ba đường lành: (4) cõi Người, (5) cõi Thần, và (6) cõi Trời). Chỉ trừ những bực tu-hành đắc-đạo, nghiệp-lực đã dứt hẳn và chứng được vô-sanh (vô= chẳng; sanh= sanh lại, ở đây là tái-sanh) an-nghỉ trong cảnh vắng-lặng của Niết-bàn vĩnh-cửu, mới chẳng còn tái-sanh nữa.

(Với sự trình-bày quá sơ-lược về lý-thuyết Luân-hồi như trên đây, chắc-chắn chẳng thể nào giải-tỏa được nỗi thắc-mắc to-lớn về câu hỏi ”Chết rồi, đi về đâu?” Tuy nhiên căn-bản của vấn-đề có liên-quan đến các cảnh-giới ngoài vòng thế-tục, như cảnh địa-ngục, cảnh Trời, cho nên chẳng thể dùng lời-lẽ và bằng-cớ cụ-thể ở cõi đời nầy mà minh-chứng được. Thái-độ khôn-khéo đối với mọi lý-thuyết là nên cởi-mở, chẳng bác-bỏ hẳn, mà cũng chẳng chấp-nhận ngay, cứ nên … để bỏ ngỏ, ”chờ và xem”! ).

*

111.- Có ”hiện-tượng” tái-sanh hay không?

Câu hỏi về tái-sanh vừa nêu trên đây rất khó mà có hẳn một lời đáp rõ-ràng, thẳng-thắn với đầy-đủ các chứng-minh của khoa-học hiện-đại được. Tại sao? Vì ”hiện-tượng” tái-sanh diễn ra chẳng phải chỉ ở tại thế-gian nầy, mà còn ở các cảnh-giới khác, ở bên kia thế-giới nữa. (Gọi là ”hiện-tượng”, một biến-cố thật-sự có xảy ra trong một khung-cảnh không-gian và thời-gian nào đó). Cũng vì lẽ đó, trong quyển ”Tì-kheo Na-Tiên”, ta đâu thấy ”vấn-đề việc tái-sanh có thật hay không?” được đặt ra; trái lại, tác-giả xem đó là một sự-việc dĩ-nhiên, và mặc-nhiên chấp-nhận rằng hiện-tượng tái-sanh là có thật, rồi bàn ngay đến các khía-cạnh khác của tái-sanh như, ai phải tái-sanh, khi tái-sanh cái gì còn, cái gì mất, v.v… Phải chăng đó là một thái-độ dựa theo một sự tin-tưởng tiên-thiên, chẳng cần chứng-minh, cứ xem vấn-đề tái-sanh là một hiện-tượng thiên-nhiên, một sự-việc tự-nhiên, hễ chết đi rồi tất phải có sanh trở lại trong vòng Luân-hồi. Đó cũng tựa như đối với loài thảo-mộc, hễ già cỗi, có trái, có hột, thì hột giống sẽ nẩy mầm sanh cây khác để tiếp-tục chủng-loại mãi mãi.

Hiện-tượng tái-sanh có thật hay chẳng có thật? Quả tình, với khả-năng trí-óc của con người trong hiện-tại đây chẳng thể nào trả lời chính-xác và dứt-khoát được. Tại sao? Thử phân-tách việc tái-sanh ra làm ba giai-đoạn: (1) có một cá-thể chết đi tại thế-gian nầy; (2) cá-thể đó, trong thời-gian chẳng còn có mặt ở thế-gian, được biến-đổi tại một cảnh-giới nào đó, để có được một thân-tâm mới khác; (3) sự sanh ra đời của một cá-thể sau khi được biến-đổi, hoặc ở thế-gian, hoặc ở một cảnh-giới khác. Trong ba giai-đoạn đó, trí-óc con người ở thế-gian, chỉ nhận-thấy rõ ràng được có hai: một, khi chết và một, khi sanh. Còn việc quả-quyết rằng chính cá-thể đã chết nay sanh lại dưới thân-thể mới nầy, thì vượt khỏi sự hiểu-biết của tâm-trí bình-thường. Thế cho nên, chẳng thể nào có được một câu trả lời dứt-khoát bằng lời-lẽ của thế-tục.

Giáo-lý Phật-học căn-cứ trên lời dạy của Đức Phật Thích-ca mâu-ni tuyên-bố khi Ngài đắc đạo tại Bồ-đề đạo-tràng rằng, với thiên-nhãn-thông, Ngài nhìn thấy chúng-sanh chết nơi nầy tái-sanh lại nơi kia, trong vòng Luân-hồi khổ-sở và lẩn-quẩn. Lời tuyên-bố rất rõ-ràng nầy căn-cứ trên kinh-nghiệm bản-thân của Đức Phật ngay sau khi Ngài vừa được giác-ngộ và giải-thoát hoàn-toàn. Lời tuyên-bố ấy giải-tỏa được nỗi thắc-mắc ”Chết rồi, đi về đâu?” cho những ai tin-tưởng vào Giáo-lý nhà Phật; và dĩ nhiên đối với một bực đại-sư như tác-giả quyển ”Na-Tiên Tì-kheo Kinh” nầy, thì việc tái-sanh được xem như một sự-thật có thật chẳng cần phải bàn-cãi nữa; và vì lẽđó mà quyển sách nầy đã chẳng đặt lại vấn-đề tái-sanh có thật hay là chẳng có thật.

Đối với những ai cứu-xét vấn-đề ấy theo nhãn-quan lạnh-lùng và khách-quan của khoa-học, chỉ có việc tin hay là chẳng tin vào lời tuyên-bố của Đức Phật mà thôi; nhưng xin được phép nhắc lại lần nữa, đối với các người chưa tin hay chẳng tin, chớ vội bác-bỏ, nên có một thái-độ dè-dặt, bỏ-ngỏ, ”chờ và xem”.

*

112.- Cái gì mất, cái gì còn, khi chết đi?

Con người ở thế-gian khi nhìn vào người chết, biết rõ thân-xác ấy sẽ tan-rả, còn phần tâm-linh, vốn vô-hình, chẳng biết chắc được rồi sẽ ra thế nào, còn hay mất.

Đối với người mê-tín, phần ”linh-hồn” vốn bất-diệt sẽ thoát ra khỏi thân-xác và đi đầu-thai, hoặc sanh trở lại ở thế-gian, hoặc được lên Thiên-đàng, hay bị đọa xuống địa-ngục. Sự tin-tưởng vào một ”linh-hốn bất-diệt ” chưa thấy được chứng-minh đầy-đủ với bằng-cớ cụ-thể, cho nên Phật-học xem đấy là một tà-kiến được gọi là thường-kiến, nghĩa là một ý-kiến sai-lầm cho rằng nơi thân-tâm con người đã có sẵn một phần tinh-túy, cốt-lõi, chẳng hề biến-diệt; đã là ”người” rồi, thì bao giờ cũng là ”người” mãi, cho dầu sống tại đây, hay hiện-diện nơi các cảnh-giới khác.

Trái ngược hẳn với thường-kiến, có đoạn-kiến, cũng là một tà-kiến cho rằng, một khi chết đi, thì cùng với sự tan-rã của thân-thể, phần tâm-linh cũng tan-rã và tiêu-diệt theo, chẳng còn gì tồn-tại cả: chết là hết! Đây là sự tin-tưởng của phần đông dân-chúng thiển-cận thấy thây chết vô-tri nằm bất-động, liền cho đó chẳng còn gì nữa cả.

Thường-kiến và đoạn-kiến đều phủ-nhận việc tái-sanh, bác-bỏ việc tu-hành trong hiện-đời và sẽ đưa đến hậu-quả tai-hại: sống-chết mãi trong thân-phận khổ nhiều, sướng ít của chúng-sanh.

*

113.- Tại sao phải tái-sanh lại? Ai phải tái-sanh lại, còn ai chẳng phải tái-sanh nữa?

Sau khi trình-bày hai điểm thắc-mắc lớn về cái chết và tái-sanh, (chẳng thấy sách ”Tì-kheo Na-Tiên” nầy có bàn đến), giờ đây xin được tiếp-tục tóm-lược và tìm hiểu ý-nghĩa các tư-tưởng nêu trong cuộc đàm-luận giáo-pháp giữa nhà vua và vị tu-sĩ.

Nơi tiểu-mục số 019, Phần Phỏng-dịch, Vua Di-Lan có hỏi Na-Tiên:

– Ai còn phải tái-sanh lại, và ai chẳng còn sanh lại?

Na-tiên đáp:

– Người quyến-luyến niềm ân-ái nhiều, lắm sự ham-muốn thì sanh lại ở đời sau; người đã dứt sạch sự ân-ái, bỏ hết mọi ham-muốn, thì đời sau chẳng phải sanh trở lại.

Câu trả lời của Tì-kheo Na-Tiên rất rõ-ràng và dứt-khoát: ai còn (1)quyến-luyến sự ân-ái, (2)lắm sự ham-muốn, thì phải tái-sanh trở lại ở đời sau. Quyến-luyến sự ân-ái là gì? Ân-ái trỏ vào mối tình giữa vợ-chồng, hoặc sự tríu-mến giữa nam-nữ. Sự ham-muốn, ở đây, chỉ vào tất cả những tham-vọng và đòi-hỏi còn chưa được thoả-mãn; một cách tổng-quát, còn sự ham-muốn là còn muốn được sống lâu thêm nữa, để có thể được hưởng-thọ những điều mình hằng mơ-ước.

Vua Di-Lan lại hỏi thêm:

– Còn người một lòng niệm Chánh-Pháp, niệm thiện, có trí-huệ và siêng làm điều thiện, cũng chẳng sanh lại đời sau, phải không?

Na-Tiên đáp:

– Người lấy nhứt-tâm niệm Chánh-Pháp, niệm thiện, niệm trí-huệ, và các điều lành khác, nhờ đó đời sau chẳng phải sanh trở lại.

Nhứt-tâm niệm Chánh-Pháp, niệm thiện, niệm trí-huệ và các điều lành, là cách thứ hai để khỏi phải tái-sanh lại chịu khổ trong cõi Luân-hồi. Nhứt-tâm niệm Chánh-Pháp nghĩa là gì? Đó là: một lòng cố chuyên-chú nhớ nghĩ đến Chánh-Pháp và tuân-hành theo. Chánh-Pháp dạy ta ba môn học vô-lậu: Giới, Định, Huệ; và tuân-hành theo Chánh-Pháp thì phải giữ giới (trong đó có sự dứt hẳn việc dâm-dục) cho tâm thanh-tịnh, để sớm đắc định-lực và phát-triển trí-hưệ. Đây là việc tu huệ như ta đã biết ở tiểu-mục số 107, vừa nói ở trên. Nhờ trí-huệ mà cắt đứt mọi sự tham-luyến, do đó mới chấm-dứt được sự tái-sanh; theo như lời Na-Tiên giải-thích tiếp theo: ”Vương từng thấy việc gặt lúa chăng? Tay trái cầm bó lúa. Tay phải cắt đứt các cọng lúa. Trí-huệ con người cắt đứt được sự tham-ái, cũng như ta gặt lúa, cắt lúa vậy…”

*

114.- Người hết tái-sanh lại có tự-biết điều đó chăng?

Từ tiểu-mục số 019, ta phải nhảy đến tiểu-mục số 038,Phần Phỏng-dịch, để có thể trả lời câu hỏi vừa nêu trong tiểu-mục số 114 trên đây. Vua hỏi Na-Tiên:

– Có người chẳng sanh lại ở đời sau không, và có tự-biết được việc chẳng sanh lại ấy chăng?

– Dĩ nhiên, có người như thế, tự biết mình chẳng còn tái-sanh.

Và Na-Tiên đưa ra một thí-dụ về người nông-phu có lúa dự-trữ năm trước, năm nay chẳng trồng lúa nữa, thì tự biết mình chắc-chắn chẳng có lúa mới. Thí-dụ giản-dị nầy hàm chứa một ý-tưởng sâu-xa. Y-tưởng gì? Hễ có gieo mạ, trồng lúa, thì mới có thóc mới. Gieo mạ đây hàm chứa ý-tưởng hễ gieo nhân, thì có quả là thóc mới. Người dứt hẳn sự tham-ái, việc dâm-dục, bỏ mọi ham muốn, thì chẳng gieo nhân nữa, nên đâu còn phải chịu hậu-quả phải tái-sanh vào đời sau; nào có khác chi kẻ nông-phu kia chẳng gieo mạ thì làm gì có lúa mới để phải gặt vào năm tới.

Rồi Na-Tiên kết-luận:

– Người đã đắc-đạo cũng lại như thế, tự biết rằng đã dứt bỏ ân-ái, sướng-khổ, chẳng còn tham-tâm, do đó biết rõ đời sau chẳng sanh lại.

*

115.- Vua hỏi Na-Tiên có biết mình còn phải tái-sanh nữa không?

Tại tiểu-mục số 044, nhà Vua hỏi thẳng Na-Tiên:

– Na-Tiên nay có sanh trở lại đời sau không?

Đây là một câu hỏi thẳng-thắn, chờ đợi một câu trả lời minh-bạch rằng ”có” hay ”không có”. Nhưng câu trả lời của Na-Tiên dường như chẳng đáp-ứng đúng hẳn vào hậu-ý của nhà Vua. Tại sao? Na-Tiên đáp:

– Lời Đại-Vương hỏi tôi đây, trước tôi đã đáp rồi: Nếu như tôi còn có sự lưu-luyến về ân-ái, thì đời sau sẽ sanh trở lại; còn nếu dứt được sự ân-ái, thì tôi chẳng sanh lại nữa.

Đáp như thế, mới nghe qua, tưởng như đó là lời nói ”phân hai” chẳng quả-quyết rằng mình đã dứt được sự ân-ái để khỏi tái-sanh, mà cũng chẳng nói chắc rằng mình vẫn còn sự ân-ái. Nhưng nếu ta nghĩ sâu-xa thêm một chút nữa, sẽ thấy chỗ thành-thật và khéo-léo của Tì-kheo Na-Tiên trong lời đáp. Thành-thật ở chỗ nào? Việc chấm-dứt sự ân-ái của mình, chính mình mình biết lấy, có nói thẳng ra, lấy chi làm bằng-cớ, rồi ai ”làm chứng” cho mình? Vì lẽ đó, Na-Tiên mới dùng chữ ”nếu” trong câu trả lời. Khéo-léo ở chỗ nào? Nếu nói toạc ra rằng đã từ lâu mình dứt hẳn sự ân-ái và nay mình đã chứng-đắc được vô-sanh rồi, (chẳng còn tái-sanh nữa), thì đó là lời — tuy thành-thật — nhưng vẫn mang ít nhiều sự khoe-khoang mình đã đắc-đạo.

Ngày nay, ta thấy lắm hành-giả thiếu chơn-chánh rêu-rao đã chứng đắc đạo nầy quả kia, tưởng nên xem kỹ lại lời đáp của Na-Tiên.

*

116.- Khi tái-sanh, dùng thân cũ hay có thân mới?

Xin trở lại tiểu-mục số 037, Phần Phỏng-dịch, để cứu-xét vấn-đề vừa nêu.

Vua hỏi Na-Tiên:

– Người chết rồi đi theo hướng các ngỏ thiện và ác, có phải lấy thân-tâm cũ sanh ra lại, hay là dùng thân-tâm mới?

– Cũng chẳng phải lấy thân-tâm cũ sanh ra lại, mà cũng chẳng phải lià bỏ thân-tâm cũ.

Câu trả lời nầy của Na-Tiên rất thâm-sâu, tưởng nên suy-gẫm thêm cho cẩn-thận, vì có liên-quan đến hai vấn-đề: tái-sanh, và khi chết đi, cái gì còn, cái gì mất.

Trước hết, ta nên xét qua chữ ”thân-tâm”. Trong Phật-học, chữ thân-tâm trỏ vào sự kết-hợp của năm uẩn (còn gọi là năm ấm, tức là năm nhóm): sắc-uẩn, thọ-uẩn, tưởng-uẩn, hành-uẩn, và thức-uẩn, tạo nên một cá-thể (tức là một chúng-sanh). Sắc-uẩn là phần vật-chất, thân, tức là thân-thể, do bốn đại có: (1) chất cứng (gọi là điạ, đất), (2) chất lỏng (thủy, nước), (3) chất khí (phong, gió) và (4) hơi nóng (hoả, lửa) mà lập thành. Còn tâm là phần tinh-thần do sự tập-hợp của bốn uẩn: thọ-uẩn (các tình-cảm), tưởng-uẩn (các tri-giác), hành-uẩn (các ý-nghĩ biến-chuyển bên trong) và thức-uẩn (các sự hiểu-biết). Như mọi người đều biết chắc, khi chết đi, phần thân tan rã, các yếu-tố trở về với bốn đại. Còn phần tâm, vì lúc sống phải dựa theo phần vật-chất của thân mà sanh-hoạt, nên khi thân mất, thì tâm cũng tan-rã theo. Vấn-đề quan-trọng là các yếu-tố của tâm, có yếu-tố nào còn, yếu-tố nào mất, và đi về đâu? Giáo-lý nhà Phật, cả hai tông Nam và Bắc đều cho rằng các yếu-tố của tâm khi chết đi thì liền hòa tan vào hư-không. Riêng giáo-lý Bắc-tông nói rõ hơn, trong thức-uẩn có một phần của A-lại-da-thức, còn gọi là tạng-thức, chịu ảnh-hưởng của nghiệp-lực dẫn-dắt đến một trong sáu nẻo thiện-ác của Luân-hồi. Nghiệp-lực là gì? Đó là ảnh-hưởng của các hành-động cố-ý đã qua của cá-thể lúc còn sống, vẫn còn tồn-tại tiềm-tàng, nay phát-động lại và đưa đến việc tái-sanh; vì lẽ đó nên Bắc-Tông còn gọi thức A-lại-da là nghiệp-thức, nơi tàng-trữ ảnh-hưởng các hành-nghiệp (hành-vi cố-ý cũ). Sự tồn-tại của thức A-lại-da sở dĩ có được là vì thức nầy chứa các chủng-tử (= hột giống); (chủng-tử chỉ là một tiếng suông thôi, được dùng tượng-trưng, để chỉ ảnh-hưởng của hành-động cố-ý cũ).

Kế đến là chữ Nghiệp, tiếng Sanskrit là Karma, tiếng Pali là Kamma, bao gồm ảnh-hưởng của (1)thân-nghiệp, hành-động cố-ý của thân, (2)khẩu-nghiệp, lời nói cố-ý, (3)ý-nghiệp, tư-tưởng cứ đeo đuổi mãi trong lòng. Một hành-vi cố-ý dầu đã qua rồi, nhưng ảnh-hưởng của nó có thể phát-động trong hiện-tại, cũng như trong tương-lai; vì lẽ đó nghiệp-lực mới phát-sanh dẫn-dắt đi theo các ”ngỏ thiện và ác”, như lời của Vua Di-Lan nói, khi hỏi Tì-kheo Na-Tiên.

Trở lại câu trả lời của Na-Tiên, ”chẳng phải thân-tâm cũ sanh lại, mà cũng chẳng phải lià bỏ thân-tâm cũ”, ta thấy Tì-kheo Na-Tiên muốn nhấn mạnh đến mối liên-quan mật-thiết giữa thân-tâm cũ và thân-tâm mới: (1) thân-tâm mới đây chẳng phải hoàn-toàn là do thân-tâm cũ sanh trở lại, nhưng phải chịu ảnh-hưởng nặng-nề của thân-tâm cũ; (2) giữa thân-tâm cũ và thân-tâm mới vừa có sự liên-tục, vừa có sự biến-đổi.

Về điểm (1), ai ai cũng biết chắc, chẳng thể nào bảo rằng một thân-tâm cũ khi gần chết và một thân-tâm mới khi sanh ra, cả hai đều chỉ là một thân-tâm cho được.

Về điểm (2), sự liên-tục giữa hai thân-tâm, với sự biến-đổi giữa thân-tâm cũ để trở thành thân-tâm mới, Tì-kheo Na-Tiên đưa ra năm thí-dụ để chứng-minh. Thí-dụ thứ nhứt là, trong khi sống, thân-tâm lúc còn bé khác hơn thân-tâm lúc trưởng-thành, tuy khác nhưng vẫn là một, với các sự biến-đổi theo năm tháng lớn lên. Thí-dụ thứ hai là, có sự liên-tục giữa hai thân-tâm cũ và mới, chẳng hề có một cá-thể nào khác xen vào giữa hai thân-tâm ấy; cũng ví như người học sách thì kẻ ngồi bên cạnh chẳng thể nhận lấy công đọc sách của người ấy được. Thí-dụ thứ ba: cũng ví như người đã phạm tội, đâu có thể bắt kẻ vô-tội chịu hình-phạt thay cho mình được. Thí-dụ thứ tư: lại ví như ngọn đèn có đủ dầu cháy đến sáng, từ đầu hôm, đến nửa đêm cho đến gần sáng, vẫn là một ngọn đèn, mặc dầu ánh-sáng lu-mờ hay tỏ- rạng mỗi lúc có khác nhau. Thí-dụ thứ năm: sự biến-đổi của sữa, từ sữa tươi, qua kem, qua bơ rồi thành phó-mát; làm sao lấy phó-mát để biến trở ngược lại thành sữa tươi cho được.

Năm thí-dụ kể trên được Tì-kheo Na-Tiên dùng để chứng-minh sự biến-đổi trong tinh-thần con người: ”Tinh-thần con người cứ triển-chuyển tiếp nối nhau… một cái đi thì một cái đến. Con người tòng theo tinh-thần từ lúc sanh ra cho tới già, đến khi chết, tinh-thần lại một lần nữa hướng về nẻo sanh, rồi triển-chuyển liên-tục mãi…”

Lời giải-đáp của Tì-kheo Na-Tiên được vua Di-Lan khen ngợi là Lành thay! Lành thay!, nhưng trí thiển-cận của Thiện-Nhựt thấy còn chưa được thoả-mãn hoàn-toàn. Tại sao? Na-Tiên dùng chữ tinh-thần để chỉ sự liên-tục giữa thân-tâm cũ và thân-tâm mới, danh-từ nầy quá tổng-quát, còn chưa được rõ-ràng bằng lời giải-đáp trong Giáo-lý Bắc-Tông: trong phần tâm-linh, có yếu-tố thức; trong yếu-tố thức, có phần A-lại-da thức dung chứa các chủng-tử (= ảnh-hưởng của các hành-động cố-ý cũ) vẫn còn tiềm-tàng chờ đủ cơ-duyên để tái phát-động, khiến cho xảy ra việc tái-sanh dưới một thân-tâm mới còn chịu ảnh-hưởng nặng-nề của thân-tâm cũ. Nếu bảo rằng, chắc gì thức A-lại-da còn tồn-tại khi chết đi, thì Thiện-Nhựt chẳng đủ khả-năng để chứng-minh được sự tồn-tại đó; nhưng trí nông-cạn của mình vẫn thấy rằng một hành-vi cố-ý đã xảy ra, ảnh-hưởng của nó chẳng thể nào tiêu-diệt hết được. Dầu có gọi ảnh-hưởng đó là gì, nghiệp-lực hoặc Karma, hay Kamma, gì gì đi nữa, ảnh-hưởng ấy vẫn còn đó, trừ khi cơ-duyên chưa đầy-đủ nên chưa kịp phát-sanh, hay chẳng phát-sanh được mà thôi. Nếu hành-giả chuyên-tâm làm việc thiện, thì các việc ác đâu có cơ-hội nẩy sanh cho mình, và các điều thiện mình làm cũng có thể thay-đổi được ảnh-hưởng của các hành-vi sai-lầm cũ.

Tuy cuối tiểu-mục số 037, Vua Di-Lan có lời khen: Lành thay! Lành thay! như thế, nhưng Thiện-Nhựt phỏng-đoán nhà Vua chưa hẳn hoàn-toàn thỏa-mãn, vì tiếp theo nơi tiểu-mục số 043, nhà Vua đặt lại vấn-đề một lần nữa, với Tì-kheo Na-Tiên:

– Con người chết rồi, khi sanh lại ở đời sau, là ai vậy?

– Danh và Thân sanh lại ở đời sau.

– Danh cũ và Thân cũ của người ấy sanh lại chăng?

– Chẳng phải như vậy. Chẳng phải Danh cũ, cũng chẳng phải Thân cũ đã giữ lấy thân-tâm nầy ở đời nay làm điều thiện ác cho đến đời sau, mà sanh ra lại đâu.

– Như khiến dùng thân-tâm nầy làm điều thiện, điều ác ở đời nầy, rồi đời sau chẳng sanh lại, thì cứ hết sức làm điều thiện, điều ác cũng được thoát hết, chẳng phải chịu khổ lại nữa hay sao?

– Nơi đời nầy làm đìều thiện, thì đời sau chẳng sanh lại nữa, liền được giải-thoát. Còn người chẳng ngừng làm điều thiện, điều ác thì phải sanh lại về sau, cho nên chẳng được giải-thoát.

Đọc tới đây, ta thấy lời giải-đáp của Na-Tiên còn vấp phải hai chỗ chẳng được rõ-ràng: (1) chẳng nói rõ Danh là gì? và Thân là gì? (2) bảo: chẳng phải Danh, Thân cũ đã giữ lấy thân-tâm nầy, mà sanh lại đời sau. Về điểm (1), mãi đến trang 35 Bản Phỏng-dịch, nơi tiểu-mục số 045, ta mới thấy định-nghĩa của hai danh-từ Danh và Thân. Vềđiểm (2), câu trả lời còn chưa trọn-vẹn của Na-Tiên: ”chẳng phải thân-tâm cũ sanh trở lại”, đã khiến Vua Di-Lan vội rút ra một hệ-luận (sai-lầm): nếu thân-tâm cũ chẳng sanh lại, thì cứ việc hết-sức làm các điều ác, rồi cũng được thoát hết.

Nhưng mục-đích của tiểu-mục số 043 đang cứu-xét đây chẳng phải là nhắc lại cái gì còn, cái gì mất của thân-tâm cũ, khi thân-tâm mới sanh ra? mà để chứng-minh rằng: thân-tâm cũ là căn-bản cho việc tái-sanh lại. Như thế nghĩa là sao? Na-Tiên đã dùng một loạt sáu thí-dụ cụ-thể để chứng-minh một cách gián-tiếp: căn-bản của việc tái-sanh, chính là vì thân-tâm đời nầy làm các điều thiện-ác cho nên phải tái-sanh lại.

Sáu thí-dụ nào? Đó là: (1) trộm trái cây; (2) trộm thóc; (3) đốt lửa cháy nhà; (4) đốt đuốc cháy thành; (5) tiền sính-lễ cưới vợ; (6) sữa chua. Đọc kỹ lại sáu thí-dụ đó — mà Na-Tiên đã khéo chọn trong các việc tranh-tụng mà nhà Vua thường gặp phải khi phân-xử — ta thấy ở mỗi thí-dụ có sự tranh-chấp giữa một người đã gieo nhân, và một người dành lấy việc gặt quả: (1) một anh trồng cây, còn một anh hái trộm quả; (2) một người gieo mạ trồng luá, bị kẻ kia gặt hết thóc, (3) chú nọ đốt lửa sưởi ấm, lại để lửa bốc lan ra đã cháy nhà mình còn thiêu luôn ngôi lầu bên cạnh; (4) tên kia đốt đuốc sáng để ăn cơm ở nhà mình, để lửa bùng lên thiêu hủy luôn cả một thành-phố; (5) cậu nầy mang sính-lễ xin cưới một cô bé, bị chàng nọ cưới tranh khi nàng con gái ấy đến tuổi trưởng-thành; (6) một kẻ mua sữa tươi gởi lại chủ nuôi bò, sau đến lấy, trách sao chủ bò lại đổi ra sữa chua. Để tự bào-chữa, sáu người làm sái-quấy đã đưa ra một lập-luận rất là… buồn cười: (1) tôi hái trái, chớ nào trộm cây của anh; (2) tôi gặt thóc, chớ nào đá động gì đến luá-mạ anh đã gieo; (3) lửa tôi đốt trong nhà tôi, tôi đâu đốt lầu anh kia; (4) lửa cháy thành-thị bùng to lên nào phải là lửa nhỏ của tôi đã đốt trong nhà; (5) tôi nay đi cưới cô thiếu-nữ nầy, nào liên-hệ gì với đứa bé trước kia anh đã cầu-hôn; (6) sữa lúc tôi gởi thì tươi chớ đâu có chua như bây giờ. Thật là buồn cười cho họ, vì khi lập-luận, họ đã chẳng chịu nhìn thấy rõ-ràng nguyên-nhân trước kia đã làm căn-bản cho việc sanh ra hậu-quả ngày nay. Và sau mỗi thí-dụ buồn cười đó, Na-Tiên đều đưa ra một kết-luận rất nghiêm-trang, hàm-súc một chơn-lý sâu-xa mà lý-trí người thường ít khi chịu lưu-tâm để nhìn thấy:

– Đời người cũng lại như thế. Người đời nay dùng thân-tâm nầy làm điều thiện, điều ác, cho đến khi sanh lại vào đời sau, thì thân-tâm làm thiện-ác ở đời nầy là căn-bản vậy.

Và điều thiếu-sót của hạng người thiển-cận trên đây là chẳng thấy nổi vai-trò của thời-gian trong việc đi từ nguyên-nhân đến hậu-quả: có nguyên-nhân gây ra hậu-quả ngay trong hiện-tiền, mà cũng có nhiều nguyên-nhân chỉ gây ra hậu-quả sau một thời-gian dài, có thể từ một hay nhiều đời trước nữa.

Trở lại danh-từ Danh-Thân được nói ngay ở đầu tiểu-mục số 043, ta tìm thấy định-nghĩa của danh-từ nầy nơi tiểu-mục số 045, Phần Phỏng-dịch. Theo Na-Tiên, tấm thân hiện nay đang thấy đây là Thân, còn chỗ nhớ nghĩ trong lòng là Danh. Thiện-Nhựt thấy cần phải nói lại cho đúng theo Giáo-lý cả hai Tông Nam và Bắc. Tiếng Pali Nàma-Rùpa thường được dịch ra tiếng Hán-Việt là Danh-Sắc: Danh chỉ phần tâm-linh, gồm có bốn uẩn: thọ, tưởng, hành và thức; còn Sắc chỉ phần vật-chất, tức là sắc-uẩn. Danh-Sắc hợp lại lập thành ra Thân-tâm của một cá-thể, tức là một chúng-sanh; danh-từ Danh-Sắc chánh-thức được công-nhận trong giáo-lý cả hai tông Nam và Bắc để dịch chữ Nàma-Rùpa. Còn riêng chữ Thân thường được dùng để dịch chữ Pali Kàya, với ý-nghĩa là thân-thể, hay một tập-hợp, hoặc một nhóm. Thiện-Nhựt chẳng may-mắn để có được bản chánh-văn của quyển ”Tì-kheo Na-Tiên” bằng tiếng Phạn, nên chẳng dám phê-bình sự thiếu-sót của dịch-giả Hán-văn trong Hán-Tạng; nhưng Thiện-Nhựt tha-thiết mong độc-giả mỗi khi đọc Phần Phỏng-dịch của Thiện-Nhựt, hễ gặp hai chữ Danh-Thân thì xin đọc và hiểu cho đó là Danh-Sắc.

*

117.- Chỗ đã làm thiện, ác nay đi về đâu và thân mới có mang theo nghiệp cũ không?

Lẽ ra đang bàn về Danh-Sắc (trong bản dịch Hán-văn, dịch-giả dùng chữ Danh-Thân), thì nên nói ngay đến sự triển-chuyển của Danh-Sắc, từ lúc sơ-sanh cho đến lúc chết đi và tái-sanh lại; nhưng vấn-đề nầy có liên-hệ đến lý Mười hai Nhân-Duyên, khá phức-tạp và hết sức tế-nhị, cho nên Thiện-Nhựt xin hãy xét nốt cho xong các điều thiện-ác đã làm nay đi về đâu và ảnh-hưởng về sau của các điều ấy.

Tiểu-mục số 071, Phần Phỏng-dịch, có chỗ hơi lủng-củng, vì Vua Di-Lan đang hỏi về Trí, mà Na-Tiên lại quay sang trả lời về các hành-vi thiện-ác đã làm. Vua hỏi:

– Xét cho kỹ, có trí hay chẳng có trí?

– Trí chẳng có. Thí-dụ như có người trộm trái dưa, người ấy có tội chăng?

– Có tội chớ!

– Lúc trồng dưa chẳng có trái; cớ gì nay lấy trộm trái dưa mà lại có tội?

– Giá như chẳng trồng dưa, cớ gì lại có trái được; cho nên kẻ trộm chẳng thể nào bào-chữa được.

– Con người cũng lại như vậy, vì đời nầy làm điều thiện-ác, nên sanh ra ở đời sau liền thọ thân mới.

Rõ-ràng ta thấy Na-Tiên chẳng nói gì thêm tại sao chẳng có trí, mà trở lại các điều thiện-ác đã làm và bàn thêm về ảnh-hưởng của chúng đến đời sau. Kế đó, Na-Tiên lại đưa ra tiếp thêm hai thí-dụ — rất hay — để chứng-minh điều đó:

– Các điều thiện-ác của một người đi theo người ấy như bóng theo thân-hình; người tuy chết, chỉ có thân mất, chớ các hành-động đã làm thì chẳng mất. Ví như ban đêm đốt đèn viết thơ, đèn tắt nhưng chữ vẫn còn đó; khi đèn sáng trở lại thì chữ hiện lên. Đời nầy, con người làm chỗ thiện-ác còn đó, thành ra đến đời sau thì phải thọ lấy như thế.

Đến tiểu-mục số 072, tiếp theo, Vua Di-Lan có hỏi Na-Tiên:

– Chỗ đã làm thiện-ác có thể phân-biệt chỉ rõ chỗ ấy hiện ở đâu chăng?

– Chẳng thể phân-biệt để chỉ rõ chỗ đã làm điều thiện-ác ở vào chỗ nào.

Để chứng-minh, Na-Tiên đưa ra thí-dụ cây chưa trổ trái, thì chẳng thể nào bảo trước nhánh nào sẽ có trái, nhánh nào không. Và Na-Tiên lại kết-luận, người chưa đắc-đạo chẳng thể biết trước thiện-ác ở vào đâu. Thiện-Nhựt xin tán-thán việc khéo chọn thí-dụ nầy của Na-Tiên, và xin đồng-ý rằng chẳng thể chỉ rõ vị-trí nào trong không-gian và thời-gian đang lưu-trữ chỗ thiện-ác đã làm đó; nhưng Thiện-nhựt xin nhắc lại hai điều: (1) người tu-hành tuy chưa đắc đạo cũng biết chắc, làm một hành-vi ác là tạo nhân, thế nào cũng mang lại quả xấu về sau; (2) giáo-lý Bắc-Tông có nói: thức A-lại-da tàng-trữ các chủng-tử của việc thiện-ác, đó phải chăng là nơi mà ta có thể suy-đoán các hành-vi thiện-ác còn ghi lại ảnh-hưởng của nguyên-nhân để chờ khi đầy-đủ cơ-duyên thì tái-phát lại dưới hình-thức hậu-quả. Nếu đi sâu hơn nữa, đòi hỏi một sự mô-tả thật tỉ-mỉ về thức A-lại-da, thì xin nói thêm rằng, thức nầy thuộc về tiềm-thức (tiềm = tiềm-tàng, đang chìm sâu bên trong) mà khoa Tâm-lý-học hiện-đại vẫn còn chưa khám-phá được hết các chi-tiết.

Và trước khi kết-thúc việc tìm hiểu các hành-vi thiện-ác đã cố-ý làm trong thời-gian qua, sẽ có ảnh-hưởng đến việc tái-sanh về sau, Thiện-Nhựt xin tóm-tắt lại:

1.- Mọi hành-vi cố-ý của (1) thân, (2) miệng và (3) của tâm-ý đều tạo nên nghiệp, có ảnh-hưởng trong việc tái-sanh, chiếu theo luật Nhân-Quả;

2.- Nghiệp, trước do mình tạo ra, sau nghiệp lại làm chủ mình, dẫn dắt mình đi theo các nẻo Luân-hồi. Kể cũng công-bằng chớ! Có tự-do trong hành-động (lúc sống), thì phải gánh lấy nghiệp cũ (khi tái-sanh), vì đó là trách-nhiệm. Tự-do phải đi đôi với Trách-nhiệm!

*

118.- Thế nào là Danh-Sắc triển-chuyển qua Thời-gian, tòng theo các nguyên-nhân dây chuyền?

Bây giờ xin quay lại vấn-đề Danh-Sắc. Nơi tiểu-mục số 045, Phần Phỏng-dịch, Na-Tiên đã định-nghĩa Danh-Sắc rất rõ-ràng:

– Tấm thân hiện nay đang thấy đây là Thân/Sắc, còn chỗ nhớ nghĩ trong lòng là Danh (…). Thân/Sắc và Danh của con người, trước sau liên-quan nhau, ví như mầm con gà-con trong chất lỏng và vỏ cứng bên ngoài, lớn lên cho đến khi thành con gà con…

Về Thời-gian, nơi tiểu-mục số 046, Phần Phỏng-dịch, Na-Tiên nói:

– Lấy việc quá-khứ đã qua làm lâu dài; cũng lấy việc vị-lai sắp tới làm lâu dài; chỉ có hiện-tại bây giờ là chẳng dài lâu.

Như thế, theo Na-Tiên, Thời-gian được chia ra làm quá-khứ, hiện-tại và vị-lai; trong ba thời ấy, chỉ có hiện-tại, đứng làm chuẩn ở giữa, thì chẳng dài lâu, tức là chẳng có thời-gian-tính, hay nói đúng ra, hiện-tại là ngay trong một khoảnh-khắc đang nói đây mà thôi.

Tiểu-mục số 047, Phần Phỏng-dịch, là một trong các tiểu-mục vừa dài và khó nhứt của quyển ”Tì-kheo Na-Tiên”. Y chánh tiểu-mục nầy là chỉ vào thân-tâm biến-chuyển, qua thời-gian, từ lúc sơ-sanh đến khi chết đi và tái-sanh lại, chẳng dứt. Sự biến-chuyển nầy được diễn ra tùy thuộc vào các nguyên-nhân dây chuyền.

Trong việc tóm-lược và tìm hiểu sự biến-chuyển đó, Thiện-Nhựt xin lần-lượt: (1) nhắc lại vắn-tắt diễn-tiến của sự biến-chuyển (tiểu-mục số 047-a); (2) nêu lên các nguyên-nhân dây chuyền dọc theo sự biến-chuyển đó (tiểu-mục số 047-b) và hai thí-dụ chứng-minh (tiểu-mục số 047-c); (3) rút gọn lại sự trình-bày của Na-Tiên về việc phối-hợp giữa sáu căn, sáu trần và sáu thức trong sự biến-chuyển liên-tục (tiểu-mục 047-d).

Và sau cùng, Thiện-Nhựt xin đối-chiếu lời giải-thích của Tì-kheo Na-Tiên với các điểm căn-bản trong giáo-pháp có liên-quan đến Lý Mười-hai Nhân-Duyên, tại tiểu-mục riêng số 119, tiếp theo sau.

Tóm-tắt:

1.- Do sự ngu-si lấy ba thời: quá-khứ, hiện-tại và vị-lai làm căn-bản, nên tinh-thần nẩy sanh ra. Tinh-thần sanh ra thân (sắc); sắc sanh danh, danh sanh sáu thức. Do sự phối-hiệp ở trong danh, liền biết sướng-khổ; sướng sanh ra ân-ái, ân-ái kéo theo ham-muốn, khiến có sự truyền-đạt. Rồi tòng theo sự truyền-đạt mà có sanh, có già, có bịnh, có chết, có ưu-sầu, đau-đớn trong nội-tâm. Hiệp các nỗi khổ vừa kể thì thành ra con người, có sống-chết chẳng bao giờ dứt.

2.- Các danh-từ in nghiêng trong tiểu-đoạn ”1” trên đây nêu rõ thứ-tự các nguyên-nhân dây chuyền. Để chứng-minh sự sống-chết tiếp-nối nhau chẳng bao giờ dứt, Tì-kheo Na-Tiên đưa ra hai thí-dụ:

(a) trứng gà nở ra gà, gà lại đẻ trứng, rồi lại nở ra gà …
(b) vẽ một vòng tròn khép kín, tượng-trưng sự tiếp-nối chẳng dứt.

Rồi, Na-Tiên trích-dẫn Kinh Phật: ”Đời người sống chết cũng như bánh xe chuyển lăn, sanh-tử, tử-sanh, chẳng bao giờ dứt tuyệt.”

3.- Sự biến-chuyển chẳng bao giờ dứt-tuyệt đó được Tì-kheo Na-Tiên trình-bày lại dưới hình-thức của sự phối-hợp giữa các căn, trần và thức. Do mắt (căn) thấy sắc (trần), nhãn-thức (thức) liền khởi lên sanh ra giác-tri (= hiểu-biết), ba sự-việc đó (mắt, hinh-sắc và nhãn-thức) phối-hiệp lại mà sanh ra sướng-khổ; do sự sướng sanh ra ân-ái, kéo theo sự ham-muốn, khiến cho có sự truyền-đạt; và do đấy mà có sự sanh sanh ra, tạo nên nguyên-nhân cho việc làm các điều thiện-ác. Những gì vừa được nói về mắt, sắc và nhãn-thức, được nhắc lại với các căn, các trần và các thức còn lại.

*

119.- Đối-chiếu lập-luận của Na-Tiên với Lý Mười-hai Nhân-Duyên trong giáo-lý.

(Trước khi đối-chiếu, Thiện-Nhựt xin người đọc xem kỹ lại các tiểu-mục số 043, 045, 046, nhứt là số 047, vì phần tóm-tắt trên đây quá sơ-lược, đã lướt bỏ qua nhiều chi-tiết.)

1.- Trình-bày sơ-lược Lý Mười-hai Nhân-Duyên:

Lý Mười-hai Nhân-Duyên, còn gọi là Lý Duyên-Sanh, hoặc Lý Duyên-Khởi, là một lý-thuyết căn-bản của Phật-giáo. Nó vạch rõ do đâu mà chúng-sanh sanh ra ở đời, lớn lên, già bịnh rồi chết, để phải tái-sanh lại, rồi cứ luân-chuyển mãi trong sáu nẻo Luân-hồi.

a.- Mười-hai Nhân-Duyên là những gì? Theo thứ-tự, (1) Vô-minh, tức là sự ngu-si; (2) Hành, tức là sự-vật bị biến-đổi theo điều-kiện; (3)Thức, tức là nghiệp-thức, ảnh-hưởng của các hành-vi cố-ý cũ; (4) Danh-Sắc, tức là thân-tâm; (5) Lục nhập tức là sáu giác-quan; (6) Xúc, tức là sự tiếp-xúc giữa các giác-quan với các trần (cảnh-vật bên ngoài); (7) Thọ, tức là các cảm-giác; (8) Ái, tức là sự khao-khát, mến-thích quá; (9) Thủ, tức là đeo giữ chặt; (10) Hữu, tức là sự hiện-hữu, cuộc sống; (11) Sanh, tức là sanh ra đời; (12) Lão-tử, tức là già, chết.

b.- Sự luân-chuyển của Mười hai Nhân-Duyên: Sự luân-chuyển theo dây chuyền của Mười-hai Nhân-Duyên quay theo hai chiều:

(i) – Chiều Lưu-chuyển đưa đến sự tái-sanh lẩn-quẩn trong vòng Luân-hồi, chia ra ba thời-kỳ:

– thời quá-khứ: (1)Vô-minh duyên Hành; (2)Hành duyên Thức; (3)Thức duyên Danh-Sắc. (Chữ duyên có nghĩa là cơ-duyên, hay là các điều-kiện làm thay-đổi; nói: ”Vô-minh duyên Hành”, tức là muốn nói: vì có Vô-minh sanh ra, cho nên Hành mới sanh ra theo);

– thời hiện-tại: (4)Danh-Sắc duyên Lục-nhập; (5)Lục-nhập duyên Xúc; (6)Xúc duyên Thọ; (7)Thọ duyên Ái; (8)Ái duyên Thủ; (9)Thủ duyên Hữu;

– thời vị-lai: (10) Hữu duyên Sanh; (11) Sanh duyên Lão-tử; (12) Lão-tử duyên Vô-minh, khép kín vòng tròn của Luân-hồi lại, để cứ tiếp-tục quay mãi như thế.

(ii) – Chiều hoàn-diệt: nhằm phá vở vòng Luân-hồi, chẳng còn phải tái-sanh nữa: (1) hễ Vô-minh diệt, thì Hành diệt, (2) hễ Hành diệt, thì Thức diệt; (3) hễ Thức diệt, thì Danh-Sắc diệt; (4) hễ Danh-Sắc diệt, thì Lục-nhập diệt; (5) hễ Lục-nhập diệt, thì Xúc diệt; (6) hễ Xúc diệt, thì Thọ diệt; (7) hễ Thọ diệt, thì Ái diệt; (8) hễ Ái diệt, thì Thủ diệt; (9) hễ Thủ diệt, thì Hữu diệt; (10) hễ Hữu diệt, thì Sanh diệt; (11) hễ Sanh diệt thì Lão-tử diệt; (12) hễ Lão-tử diệt, thì Vô-minh diệt.

Vòng Luân-hồi tựa như sợi dây xích có mười hai khoen, mỗi khoen là một Nhân-duyên; hễ bẻ gãy được một khoen, vòng Luân-hồi liền bị phá vở và chẳng lưu-chuyển được nữa (tức là người tu-hành đã chứng đắc được sự vô-sanh.)

2.- Tìm hiểu sơ-lược về Lý Mười-hai Nhân-Duyên

Thân-phận của mọi chúng-sanh là phải chịu Khổ thì nhiều mà hưởng sướng thì ít, cứ sống đi chết lại mãi mãi trong vòng lẩn-quẩn. Con đường thoát khỏi vĩnh-viễn cảnh Khổ là phải vượt ra ngoài vòng Luân-hồi. Vòng Luân-hồi khép kín lại do sự luân-chuyển dây chuyền của Mười-hai Nhân-duyên, ví như mười hai khoen của sợi dây xích cứ trói buộc mãi mọi chúng-sanh. Lý Mười-hai Nhân-duyên có dạy những chỗ có thể phá-vở, như (1) diệt vô-minh; như (2) trừ tham-Ái; như (3) chẳng chấp-Thủ; như (4) hộ-trì các căn nơi Lục-nhập; như (5) phòng-vệ các căn nơi Xúc và Thọ … Nhưng trong việc tu-hành, thường được nghe dạy hai điều quan-trọng: thứ nhứt là diệt-trừ sự luyến-ái, như trong Kinh Chuyển Pháp-Luân Đức Phật có dạy tại Khổ-tập-đế; và thứ hai là việc phát-triển Trí-huệ để diệt Vô-minh, qua ba môn học trong Chánh-Pháp: Giới, Định, Huệ. Vì tại đây đang cứu-xét ý-nghĩa lời giải-đáp của Tì-kheo Na-Tiên liên-quan đến Danh-Sắc, nên xin được phép tạm ngưng việc tìm hiểu về Lý Mười-hai Nhân-Duyên.

3.- Đối-chiếu lời giải-đáp của Na-Tiên về Danh-Sắc và giáo-lý về Mười hai Nhân-Duyên:

(a).- Vì tôn-trọng bản dịch Hán-văn trong Đại-Tạng, Thiện-Nhựt đã ghi là Danh-Thân, tức là thân-tâm của một cá-thể khi còn sống và khi tái-sanh lại. Danh-từ chánh-thức Danh-Sắc được dùng cả trong hai Tông Nam, Bắc, để chỉ thân-thể là phần vật-chất và tâm là phần tinh-thần; phần tinh-thần nầy được gọi là Danh (Pali: Nàma), còn phần vật-chất được gọi là Sắc (Pali: Rùpa). Xin nói lại cho đúng.

(b).- Chữ ngu-si, đọc thấy nơi tiểu-mục 047-a, trong giáo-lý Bắc-tông thường gọi là Vô-minh (vô= chẳng có; minh= sáng). Vì thế, nguyên-nhân đầu-tiên trong chiều lưu-chuyển của Lý Mười-hai Nhân-Duyên, chính là sự ngu-si, nói theo tiếng Hán-Việt là vô-minh. Ta tự hỏi: Tại sao lại ngu-si? Ngu, vì lúc gần chết quá sợ-hãi, muốn sống lâu thêm nữa; chính sự ham-muốn đó là một ý-nghiệp dẫn-dắt cá-thể ấy theo các nẻo tái-sanh. Mà hễ còn tái-sanh là còn chịu Khổ dài-dài, thế cho nên, đó chẳng phải thiếu trí-khôn hay sao? Nhưng mặt khác, Na-Tiên bảo: ”Hễ ngu-si sanh, thì tinh-thần sanh”, thì Thiện-Nhựt chẳng hoàn-toàn đồng-ý với chữ tinh-thần. Tại sao? Thường thường hễ tinh-thần sanh ra, làm sao mà ngu-si cho được, vì tinh-thần có khả-năng hiểu-biết, suy-luận, v.v. Lý Mười-hai Nhân-Duyên nói chính-xác hơn: Vô-minh duyên Hành, có nghĩa là hễ đã có vô-minh làm nhân-duyên (làm điều-kiện), thì sẽ có Hành khởi-sanh ra.

Hành là gì? Nguyên chữ Hành, tiếng Hán-Việt, dùng để dịch chữ Pali Sankhàra, với ba nghĩa chánh: (1) điều-kiện gây ra sự biến-đổi; (2) sự-vật bị điều-kiện-hoá, tức là các sự-vật bị các điều-kiện chung quanh làm biến-đổi; (3) chính sự biến-đổi đó, do các điều-kiện gây ra. Như thế, chữ Hành trỏ vào các pháp hữu-vi, tức là các sự- vật phải chịu thay-đổi vì hoàn-cảnh chung quanh hay vì các điều-kiện khác.

(Xin lưu-ý người đọc: chữ pháp, nơi danh-tứ các pháp hữu-vi, có nghĩa là các sự sự vật vật nói chung, chữ pháp tiếng Pali là dhamma, tiếng Sanskrit là dharma, viết chữ dh bằng chữ thường; xin đừng lầm với nghĩa chữ Dhamma/Dharma, có nghĩa là Giáo-pháp, Chánh-pháp, thì chữ Dh ở đầu lại được viết hoa.)

Trở lại với chữ Tinh-thần mà Na-Tiên đã dùng, khi nói ”hễ ngu-si sanh, thì tinh-thần sanh”, đáng lý Na-Tiên nên nói: “hễ có vô-minh, thì có Hành sanh ra” mới chính-xác hơn, mặc dầu tinh-thần cũng là một sự-vật bị điều-kiện-hoá, cũng là một pháp hữu-vi, tức cũng như là một Hành vậy.

(c).- Kế đó, Na-Tiên nói: ”Tinh thần sanh Thân, Thân sanh Danh, Danh sanh Sắc, Sắc sanh ra sáu Thức…” Đối-chiếu với Lý Mười-hai Nhân-duyên trong Giáo-lý, ta có: ”Hành duyên Thức, Thức duyên Danh-Sắc, Danh-Sắc duyên Lục-nhập”, thì thấy rõ chỗ sai-lầm của Na-Tiên trong lời đáp. Sai chỗ nào? Làm sao mà tinh-thần sanh ra tấm thân vật-chất cho được? Làm sao mà tấm thân trở ngược lại sanh ra Danh tức là phần tinh-thần được? Làm sao mà sắc (= vật-chất) vốn vô-tri lại có thể sanh ra sự hiểu-biết, tức là thức cho được. Cả câu nói trên đây của Na-Tiên, tưởng nên sửa lại theo thứ-tự trong Lý Mười-hai Nhân-duyên, từ Hành cho đến Lục-nhập, thì mới đúng được.

Lại nữa, xin được phép thưa rõ thêm về ba Nhân-Duyên đầu: Vô-minh, Hành, Thức, lưu-chuyển trong thời quá-khứ. Trong đời trước, khi lâm-chung, cá-thể vì sợ-hãi cái chết sắp đến, nên khao-khát đòi sống lâu thêm nữa, đó là Vô-minh. Sự vô-minh ấy làm khởi sanh lên Hành, một pháp hữu-vi về tâm-linh, rồi Hành duyên với Thức, (Thức đây là nghiệp-thức, một yếu-tố (hay chủng-tử) của thức A-lại-da, dẫn cá-thể đến các nẻo tái-sanh vào thời hiện-tại.) Việc tái-sanh, ở đây, có nghĩa là nghiệp-thức hoà-nhập với tinh cha, huyết mẹ, thành ra bào-thai, vì chưa tượng hình đủ các bộ-phận nên mới được tạm gọi Danh-Sắc (Nàma-Rùpa, tinh-thần và vật-chất). Với thời-gian, thai-nhi phát-triển đầy-đủ các cơ-quan, các giác-quan (các căn); và khi lọt lòng mẹ, các căn tiếp-xúc với hoàn-cảnh chung quanh, nên gọi là Lục-nhập, làm khởi lên sáu thức; chữ thức nầy mới thật-sự chỉ vào các sự hiểu-biết ở mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý (từ nhãn-thức cho đến ý-thức.)

(d).- Đến tiểu-đoạn 047-d, Phần Phỏng-dịch, nhan-đề: Sáu căn, sáu trần, và sáu thức phối-hiệp, sự trình-bày của Na-Tiên về nguyên-nhân sâu-xa của việc tái-sanh, do các việc làm thiện-ác phát-xuất từ các căn, hết sức rõ-ràng và thật là tỉ-mỉ, làm sáng-tỏ thêm rất nhiều cho Lý Mười-hai Nhân-duyên.

Rõ-ràng như thế nào? Trong khi Lý Mười-hai Nhân-duyên có dạy: ”Lục-nhập duyên Xúc, Xúc duyên Thọ, Thọ duyên Ái, Ái duyên Thủ, Thủ duyên Hữu”, mà chẳng chỉ rõ cho thấy sự biến-chuyển từ Nhân-duyên trước đến Nhân-duyên sau, thì Na-Tiên đã vạch rõ ra được sự phối-hiệp xảy ra nơi Lục-nhập giữa ba yếu-tố: căn, trần và thức, tạo nên sự giác-tri khiến cá-thể có sự hiểu-biết về sướng-khổ (tức là Thọ), rồi tòng theo Thọ mà sanh ra ân-ái, ham-muốn (tức là Ái và Thủ); và chính sự ham-muốn nầy là nguyên-nhân sanh ra hữu-trí (tức là Hữu, hiện-hữu, cuộc sống) để có sự sanh sanh ra, làm nguyên-nhân cho cá-thể thi-hành điều thiện-ác sau nầy. Đó là nguyên-nhân sâu-xa của việc tái-sanh: do các điều thiện-ác phát-xuất từ các căn, mà Na-Tiên nói ở tiểu-đoạn 047-d, , Phần Phỏng-dịch.

Tỉ-mỉ như thế nào? Na-Tiên chẳng những chỉ rõ sự phối-hiệp nơi Lục-nhập, giữa một căn, một trần và một thức, mà trình-bày thật là tận-tường luôn cả sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý), sáu trần (hình-sắc, âm-thanh, mùi, vị, xúc-chạm và ý-niệm) và sáu thức (nhãn-thức, nhĩ-thức, tị-thức, thiệt-thức, thân-thức và ý-thức).

Sau khi kể lại tỉ-mỉ và trình-bày rõ-ràng như thế, Na-Tiên đi đến một kết-luận, rất sắc-bén, ”Như thế, con người triển-chuyển, sanh-tử, tử sanh, chẳng bao giờ dứt tuyệt.”

*

120.- Cái ”gốc sanh-tử” của chúng-sanh là gì?

Lời kết-luận trên đây đã khiến Vua Di-Lan đưa ra thêm một câu hỏi rất sâu-sắc, liên-quan chẳng những riêng đến việc tái-sanh mà còn đến tận gốc-rễ của việc sống-chết của chúng-sanh.

Vua hỏi (nơi tiểu-mục số 049, Phần Phỏng-dịch):

– Ta (chỉ) muốn hỏi Na-Tiên, cái gốc sanh-tử của con người là gì?

Na-Tiên đã đáp rất dài (tiểu-mục số 049-a, b và c), nêu lên vừa cái ”gốc sanh-tử” của con người, vừa giải-thích nguyên-nhân của sự tái-sanh và của sự chứng-đắc được vô-sanh.

Về cái gốc sanh-tử, Na-Tiên nói:

– Cây-cối sanh ra, lấy chồi non làm gốc; ngũ cốc lấy hột lúa làm gốc; thiên-hạ, vạn-vật đều lấy gốc của loài mình mà sanh ra. Con người thì tòng theo sáu tình-cảm, ân-ái, làm gốc.

Giải-thích thêm về sự khởi-phát của cái gốc sanh-tử đó nơi con người, Na-Tiên nhấn mạnh đến vai-trò của sáu căn: do sáu căn mà có nguyên-nhân gây ra tái-sanh, mà cũng do sáu căn mà chấm-dứt được tái-sanh. Giải-thích như thế nào?

(a) từ sáu căn đến nguyên-nhân phải tái-sanh: Sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và tâm-ý) tiếp-xúc với sáu trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp), và sáu thức (từ nhãn-thức đến ý-thức), phối-hiệp nhau sanh ra sướng-khổ (tình-cảm), rồi sướng sanh ra ham-muốn, ân-ái, làm nguyên-nhân cho sự sanh sanh ra; tòng theo sanh mà có già, có bịnh, có chết, rồi lại có sự tái-sanh tiếp theo chẳng dứt… Lời giải-thích nầy, Na-Tiên đã có nói ở đoạn trước, theo đúng với Lý Mười-hai Nhân-duyên, từ Lục-nhập (căn, trần, thức) duyên Xúc (phối-hiệp lại), Xúc duyên Thọ (tình-cảm), Thọ duyên Ái (ái-ân), Ái duyên Thủ và Thủ duyên Hữu (sự sống). Như thế, do có sự phối-hiệp của sáu căn với sáu trần và sáu thức mà sanh ra sướng và ân-ái (Thọ và Ái) làm nguyên-nhân của sự tái-sanh.

(b) từ sáu căn đến chứng-đắc vô-sanh: Na-Tiên bảo, ”Nếu chẳng có mắt, thì chẳng thấy hình-sắc, chẳng hay chẳng biết; tòng theo sự chẳng hay chẳng biết nên chẳng có sự phối-hiệp; chẳng có sự phối-hiệp thì chẳng có sướng-khổ; chẳng có sướng-khổ liền chẳng sanh ra ân-ái; chẳng ân-ái thì chẳng sanh ham-muốn, chẳng có ham-muốn thì chẳng có …sự sanh sanh ra, chẳng gìà, chẳng chết, chẳng sầu, chẳng khóc… Chẳng có các điều khổ đó, liền đắc được đạo Nê-Hoàn (= Niết-Bàn)”.

Đây là lập-luận theo chiều hoàn-diệt của Lý Mười-hai Nhân-duyên, nhằm phá vở vòng Luân-hồi, để chứng đắc vô-sanh của cõi Niết-bàn. Phá-vở vòng Luân-hồi tại đâu? Các chữ ”Nếu chẳng có mắt” ám-chỉ Nhân-duyên Lục-nhập, vì mắt là một căn trong Lục-nhập. Các chữ ”chẳng có sự phối-hiệp” trỏ vào Nhân-duyên Xúc; các chữ ”chẳng có sướng-khổ liền chẳng sanh ân-ái” chỉ vào hai Nhân-duyên Thọ và Ái; còn các chữ ”chẳng ân-ái thì chẳng sanh ham-muốn” muốn nói đến Nhân-duyên Thủ… Như thế, việc phá-vở, theo Na-Tiên, phải bắt đầu tại Nhân-duyên Lục-nhập, rồi từ đó theo ảnh-hưởng dây-chuyền đến các Nhân-duyên khác tiếp theo.

Nhưng, xét kỹ lại, ta thấy lập-luận đó chẳng được ”chỉnh” mấy, vì nếu bảo ”chẳng có mắt, tai, mũi… ” thì con người hóa thành vật vô-tri ”chẳng hay, chẳng biết” gì cả mất rồi, còn có Trí đâu để phá các phiền-não, hầu được giải-thoát mà chứng-đắc cõi Niết-bàn vô-sanh?

Thế cho nên, Thiện-Nhựt xin được nói rõ thêm, để đoạn văn nầy của Na-Tiên, được phù-hợp với lời dạy trong Giáo-lý. Sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và tâm-ý, chẳng thể nào đem ra diệt đi cho được; mà cũng chẳng thể nào ngăn cản được sự ”phối-hiệp” giữa các căn-trần-thức, sẽ sanh ra sướng-khổ. Điều có thể làm được — và điều nầy được Đức Phật dạy rõ trong Chánh-Pháp — là phải biết phòng-vệ các căn, mỗi khi chúng tiếp-xúc với các trần, tức là mắt chỉ nên nhìn vào chỗ đáng nhìn, tai chẳng nghe những chỗ chẳng đáng nghe, mũi … v.v., như thế, do sự phối-hiệp đứng-đắn giữa căn-trần-thức, các thức chẳng đưa tới chỗ ham-muốn chạy theo các thú-vui vật-chất, để rồi sa-ngã vào các điều ác, mà hậu-quả là vẫn còn bị vòng Luân-hồi ràng-buộc mãi bằng việc tái-sanh. Vậy thì, thay vì nói diệt các căn, phải nói phòng-vệ các căn, hoặc hộ-trì các căn, thì mới đúng.

Thiện-Nhựt xin chịu lỗi với người đọc, vì vừa qua, đã quá dông-dài và rườm-rà khi Tìm hiểu sự triển-chuyển của Danh-Sắc qua thời-gian trong việc tái-sanh, nơi tiểu-mục số 047. Bây giờ, xin tóm-tắt tiểu-mục số 087, nói đến một vấn-đề nhỏ, thuộc loại tò-mò, chẳng mấy quan-trọng.

*

121.- Hai người chết cùng lúc, có tái-sanh cùng một lúc, ở hai nơi xa gần khác nhau không?

Vua Di-Lan hỏi:

– Nếu như có hai người cùng chết vào một lúc, một người tái-sanh lên cõi Trời Đại-Phạm, còn một người sanh lại tại Kế-tân, cách đây bảy trăm hai mươi dặm, ai là người đến trước?

Na-Tiên đáp:

– Cả hai đến nơi cùng một lúc.

Lời giải-đáp nầy khiến cho vua Di-Lan ngạc-nhiên, vì từ nơi nầy đến cõi Trời Đại-Phạm thì xa, còn đến Kế-tân thì gần, sao lại hai kẻ xuất-phát từ một chỗ đến hai nơi xa gần khác nhau mà tới cùng một lúc được. Nhưng câu trả lời của Na-Tiên được giải-thích thêm bằng hai thí-dụ: (1) hễ nghĩ đến hai thành-phố xa gần khác nhau, thì hai sựnghĩ đến mỗi nơi ấy đều lâu bằng nhau; (2) một con chim đậu trên cao, một con đậu dưới thấp, nhưng bóng của chúng cùng rọi lên đất cùng một lúc. Như thế, theo Na-Tiên, thời-gian suy-nghĩ trong đầu, và thời-gian ánh-sáng rọi từ thân chim xuống đất, đều xảy ra một cách tức-khắc, chẳng kéo dài, chẳng có thời-gian-tính. Phải chăng Na-Tiên muốn ám-chỉ: việc tái-sanh xảy ra tức-khắc, ngay vào lúc vừa chết? Điều nầy, khoa-học trong hiện-trạng còn chưa có câu trả lời dứt-khoát. Mặt khác, trong Kinh sách Phật-học, lại thường nói: ở trên cõi trời Dục-giới, một ngày dài bằng một năm dưới trần-thế.

Như Thiện-Nhựt có thưa trước, vấn-đề nầy thuộc vào loại tò-mò, chẳng đem lại ích-lợi gì rõ-rệt cho việc tu-hành, vì nếu được xảy ra ngay tức-khắc, hay lâu hơn, thì cũng chẳng làm thay đổi chi được kết-quả của việc tái-sanh cả.

Còn một việc khác, quan-trọng hơn việc đến nơi tái-sanh, cần cứu-xét trước khi tạm kết-thúc vấn-đề sống-chết. Đó là:

*

122.- Chẳng hề có việc tự-nhiên mà sanh ra .

Nơi tiểu-mục số 050, Phần Phỏng-dịch, Vua hỏi:

– Thế-gian có vật nào tự-nhiên mà sanh ra chăng?

Câu trả lời của Na-Tiên rất rõ-ràng:

– Chẳng hề có vật nào tự-nhiên mà tự-sanh ra lấy cả; phải có nguyên-nhân mới sanh ra.

Rồi Na-Tiên đưa ra nhiều thí-dụ cụ-thể, dễ thấy, để chứng-minh: (1) tòa điện cao phải do gỗ, đất và công thợ xây nên; (2) đồ gốm do đất sét, được thợ nặn nung trong lò rồi mới thành vật-dụng được; (3) cây đờn phải có người khảy mới ra tiếng; (4) có hai khúc gỗ, cũng còn phải có người cọ lâu mới ra lửa; (5) có kiếng, có ánh mặt trời rồi cũng phải có người cầm kiếng rọi nắng, thì bùi-nhùi mới bắt lửa…

Nhưng câu trả lời và các thí-dụ đó hàm-chứa một sự-thật mà con người, vì mê-tín, hoặc thiếu thông-minh, còn chưa chịu nhìn-nhận: chẳng có sự-vật gì ngẫu-nhiên sanh ra cả; phải có nguyên-nhân, thì mới có hậu-quả được.

Hãy cho phép Thiện-Nhựt kể một thí-dụ… vui-vui:

Thằng bé-con hỏi cha nó:

– Ai sanh ra con?

– Cha-mẹ sanh ra con.

– Ai sanh ra cha-mẹ?

– Ông bà sanh ra cha-mẹ.

– Ai sanh ra ông bà?

– Ông-cố, bà cố sanh ra ông bà.

– Ai sanh ra ông bà cố?

– Ông sơ, bà sơ, sanh ra ông bà cố.

– Ai sanh ra ông bà sơ?

– Ông bà thủy-tổ sanh ra.

– Ai sanh ra ông bà thủy-tổ?

– Ông Bành-tổ sanh ra.

– Ai sanh ra ông Bành-tổ?

– Thượng-đế sanh ra ông Bành-tổ.

– Ai sanh ra Thượng-đế?

-!!!

Chẳng thể biết được nguồn-gốc cuối-cùng ở vào đâu cả. Thế cho nên, chỉ biết: hễ cái nầy có, thì cái kia có; hễ cái nầy diệt, thì cái kia diệt. Đó là Luật Nhân-Quả ghi trong Phật-học: hễ có Nhân thì tất có Quả; chẳng hề có Quả mà lại chẳng có Nhân bao giờ.

Đối với các tôn-giáo cuồng-tín, bảo rằng vạn-vật nầy do một đấng Thượng-Đế toàn-năng nắm quyền thưởng-phạt, sáng-tạo nên, tưởng cần phải suy-gẫm lại.

*

123.- Vấn-đề tái-sanh Luân-hồi: tin hay chẳng tin?

Vấn-đề tái-sanh trong vòng Luân-hồi đã được sách ”Tì-kheo Na-Tiên” nầy bàn rất dài-dòng, mà Phần Tìm hiểu về Nghĩa Ý do Thiện-Nhựt viết lại càng thêm rườm-rà; nhưng Thiện-Nhựt vẫn còn thấy cần nên nói thêm một tiểu-đoạn nữa, để riêng tặng các bạn trẻ mà niềm tin chỉ đặt trọn-vẹn vào Khoa-học thực-nghiệm.

Như có thưa trước (nơi tiểu-mục số 111, Phần Tìm hiểu Nghĩa Ý ), việc tái-sanh, nếu thật-sự có, phải xảy ra vào ba giai-đoạn: (1) khi chết ở thế-gian nầy, (2) có sự biến-đổi ở một cảnh-giới khác, (3) khi sanh trở lại ở đời nầy; trong ba giai-đoạn ấy, con người chỉ biết chắc có hai: giai-đoạn (1) và giai-đoạn (3), còn thời-gian ở cảnh-giới khác có sự thay đổi thế nào thì chẳng thể nào biết chắc được. Giai-đoạn (2) nầy vượt khỏi tầm nghe-thấy và hiểu-biết của con người ở thế-gian, và khoa-học thực-nghiệm trong hiện-trạng vẫn còn chưa thấy có khám-phá rõ-rệt nào. Chỉ có hai trường-hợp nầy mà thôi: (a) hoặc có tái-sanh; (b) hoặc chẳng có tái-sanh, chẳng thể còn có một trường-hợp thứ ba nào khác nữa. Và cũng chỉ có thể có hai thái-độ: (a) hoặc tin; (b) hoặc chẳng tin. Vậy thì, tại sao ta lại chẳng cân-phân lợi-hại của hai trường-hợp, bên nào ít, bên nào nhiều, để chọn một thái-độ cho đứng-đắn và hợp lý: tin hay chẳng tin?

Người tin, tạm gọi là ông A, có thái-độ của kẻ tu-hành, tuân theo Chánh-Pháp, giữ gìn giới-luật, siêng làm điều thiện. Còn người kia chẳng tin, tạm gọi là ông B, có thái-độ của người chẳng biết gì đến Chánh-Pháp, tự cho mình có đủ tự-do hành-động điều thiện, điều ác, và mục-đích ở đời là theo đuổi các thú-vui vật-chất để hưởng-thụ.

Những gì xảy ra cho A và B, khi chẳng có tái-sanh thật-sự?

Bất-lợi:

– A sẽ bị bất-lợi:
= uổng mất công tu-hành,
= bỏ qua dịp để hưởng-thụ các thú-vui vật-chất của đời;

– B chẳng bị bất-lợi nào cả.

Lợi:

– A đang có lợi:
= được đời kính-nễ vì đức-hạnh;
= tránh được các tội-ác có thể gây hại cho mình và gia-đình

– B đang có lợi ”lớn”:
= hưởng các thú-vui vật-chất cho thỏa-thích một đời.

Những gì xảy ra cho A và B, khi thật-sự có việc tái-sanh?

Lợi:

– A sẽ được lợi:
= được hưởng phước-báu vì hành-động thiện của mình;
= có cơ-duyên được giải-thoát vĩnh-viễn khỏi cảnh Khổ;

– B đang có lợi:
= chẳng uổng-phí một đời vì hiện hưởng thú-vui vật-chất;

Bất-lợi:

– A chẳng bị bất-lợi nào cả.

– B đang và sẽ bị bất-lợi:
= hậu-quả hiện nay của hành-vi xấu-ác để giành danh-lợi;
= quả-báo, kéo dài nhiều đời, của các hành-động xấu;
= chẳng bao giờ có cơ-hội để được giải-thoát vĩnh-viễn.

Cân-phân lợi-hại để quyết-định thái-độ tin hay chẳng tin, ta thấy rõ: cán cân nghiêng hẳn về phiá A: tin có tái-sanh.

Dầu có tái-sanh hay chẳng có, A cũng vẫn có lợi: lợi vì giới-đức thanh-tịnh của mình trong hiện-đời, chẳng những tránh gây ra tội-ác mà còn đem lại sự kính-nể của người khác.

Còn về phần B, mối lợi khi chẳng có tái-sanh, là hưởng-thụ các thú vui vật-chất, nhưng chỉ trong một đời mà thôi, chưa kể vì tranh giành danh-lợi có thể gây ra tội-ác và chịu hình-phạt trong hiện-đời. Nhưng khi có tái-sanh thật-sự thì mối bất-lợi vô-cùng to-tát của B, là phải chịu quả-báo trải qua nhiều đời nơi các ác-đạo; đó là chưa nói đến sự khiếm-khuyết mọi cơ-hội để được giải-thoát khỏi thân-phận khổ nhiều sướng ít của chúng-sanh cứ phải trầm-luân triền-miên trong cõi Luân-hồi.

Đối với các bạn trẻ chẳng chịu tin vào việc tái-sanh, Thiện-Nhựt xin mời xét qua hai điểm nầy: (1) lỗ-lã gì khi tin có tái-sanh, chẳng qua chỉ thiếu dịp hưởng-thụ bừa-bãi các thú-vui vật-chất; (2) còn mất-mát nào lớn hơn nữa, khi thật-sự có tái-sanh, là bỏ qua đi cơ-duyên được giải-thoát vĩnh-viễn mọi Khổ-sở, để hiện-hữu mãi mãi trong sự tự-do, tự-tại hoàn-toàn?

Về vấn-đề nầy, Thiện-Nhựt xin thưa nốt một điều tâm-sự, trước khi chấm dứt: Thiện-Nhựt tự xem mình là một Phật-tử, gọi Đức Phật là đấng Từ-phụ, có lẽ nào mình chẳng chịu tin lời của đấng Cha lành, khi Ngài bảo, chính Ngài đã nhìn thấy chúng-sanh chết nơi đây, sanh lại nơi kia.

Làm con mà chẳng chịu tin Cha, thì còn tin ai đây?

III.- Vấn-đề: Phân-biệt các điều thiện, ác .

124.- Năm điều thiện và năm điều ác là những gì?

Đề-mục quan-trọng thứ ba là vấn-đề phân-biệt các điều thiện ác, tiếp theo các đề-tài: (I) tại sao đi tu làm sa-môn và (II) tái-sanh Luân-hồi, vừa xét qua. Nhắc lại: cuối tiểu-mục số 019, Phần Phỏng-dịch, khi Vua Di-Lan hỏi, ”người một lòng niệm Chánh-Pháp, … siêng làm các điều thiện, phải chăng sẽ khỏi tái-sanh?”, Na-Tiên đáp, ”Phải ”, rồi trong hai tiểu-mục số 020 và 021, có kể ra năm điều thiện và năm điều ác như sau:

a.- Năm điều thiện là: (1) thành-tín, (2) hiếu-thuận, (3) tinh-tấn, (4) nhứt-tâm và (5) trí-huệ;
b.- Năm điều ác là: (1) tham-dâm, (2) giận-hờn, (3) mê ngủ, (4) vui-đùa, (5) nghi-ngờ.

Năm điều thiện vừa kể, khi ta xét qua nội-dung và tìm hiểu về Ba mươi bảy Phẩm Trợ-Đạo, thì thấy cũng tương-tợ với Ngũ căn, tức là năm nguồn-gốc làm phát-sanh ra các điều thiện. Còn năm điều ác thì dường như Na-Tiên nhắc đến Ngũ cái, tức là năm sự ngăn-che, năm cái nắp úp lên che đậy (Pali: Nivarana). Cái gì bị che-đậy? Đó là Trí-Huệ bị ngũ-cái che-mờ. Ngũ cái gồm có: (1) Tham-lam, (2) Giận-hờn, (3) Thụy-miên, Hôn-trầm (=mê ngủ), (4) Trạo, Hối (vọng-động và hối-tiếc), và (5) Nghi; năm cái nắp đó úp lên khiến Trí-huệ bị mờ.

Về ảnh-hưởng của năm điều thiện có thể phá tan được năm điều ác, nơi cuối tiểu-mục số 021, trang 18, Na-Tiên đưa ra một thí-dụ cụ-thể về viên ngọc thanh-thủy-châu của nhà Vua, có thể lọc sạch được nước bùn làm cho nước trở nên tinh-khiết để uống.

Thế nào là thiện, ác?, ta chẳng tìm thấy một định-nghĩa tổng-quát của hai chữ đối-nghịch nầy trong sách ”Tì-kheo Na-Tiên”. Thông-thường, điều thiện, còn gọi là điều lành, là điều có lợi cho kẻ khác và cũng lợi cho đường tu của mình. Những gì gây tổn-hại cho người, dầu có lợi về vật-chất cho mình, đều được xem là điều ác, còn được gọi là điều bất-thiện, chắc-chắn có hại cho đường tu của mình.

Trở lại với tiểu-mục số 020, Phần Phỏng-dịch, trả lời câu hỏi: Các điều thiện là những gì?, Na-Tiên có kể tới cả sáu điều: (1) thành-tín, (2) hiếu-thuận, (3) tinh-tấn, (4) niệm thiện, (5) nhứt-tâm, (6) trí-huệ. Nhưng điều (4) về ”niệm thiện” có lẽ hơi dư-thừa, vậy nên xin tạm giữ lại năm điều thôi. Tiếp theo, Na-Tiên định-nghĩa và cho thí-dụ về mỗi điều thiện vừa kể, như sau:

1.- Thành-tín: là tin có Phật, có Kinh-Pháp, có Tăng-Ni, có A-la-hán; tin có đời nầy, đời sau; tin làm lành gặp lành, làm ác gặp ác. Như thế, đó là niềm tin, chẳng còn vướng chút nghi-ngờ nào, vào ngôi Tam-Bảo, vào sự tái-sanh Luân-hồi, và vào Luật Nhân-Quả.

2.- Hiếu-thuận (tiểu-mục số 023): là tuân theo Ba mươi bảy Phẩm Kinh (Trợ Đạo), vì 37 phẩm Kinh nầy đều đặt căn-bản nơi sự hiếu-thuận. Khoan bàn về 37 Phẩm TrợĐạo, ta thấy ngay có sự ”chẳng chỉnh” trong lời Na-Tiên, hay đúng hơn, trong cách phiên-dịch lời nói của Na-Tiên ra chữ Hán. ”Chẳng chỉnh” ở điểm nào? Chữ Hiếu-thuận vốn là một danh-từ trong Nho-giáo, chỉ các bổn-phận của con đối với cha-mẹ. Mặc dầu các bổn-phận nầy đều đặt căn-bản trên các điều thiện, nhưng chẳng vì thế, nếu dùng ở đây, danh-từ Hiếu-thuận sẽ gây hiểu-lầm là các điều thiện chỉ qui gọn vào các bổn -phận làm con trong gia-đình. Vả lại, khi xét đến nội-dung, ta thấy 37 Phẩm Trợ-Đạo bàn về các vấn-đề khác, đâu phải chỉ có hiếu và thuận.

So với bản dịch của N.K.G. Mendis, trong quyển The Questions of King Milinda, ấn bản BPS, Tích-Lan, năm 1993, điều thiện thứ hai nầy được ghi là Morality, tương-đương với danh-từ Hán-Việt là Đạo-đức, (tức là Giới-đức, Giới-luật, Đức-hạnh) thì có phần hợp-lý hơn.

3.- Tinh-tấn: Nơi tiểu-mục số 022, Na-Tiên chẳng định-nghĩa thế nào là tinh-tấn mà liền đưa ra hai thí-dụ: (1) các vị tu-hành thấy người đi trước chứng-đắc các đạo-quả thì noi gương để nỗ-lực tu-hành theo; (2) nước sông tràn ngập hai bên bờ, dân-chúng chẳng dám lội qua; nhưng khi thấy một người khác từ xa đến, biết cách vượt qua, nên dân ở đó bắt chước lội qua theo. Sự bắt chước để noi gương các người đi trước đã thành-công, còn cần có một sự cố-gắng gia-công hơn lên; nỗ-lực đó mới chính là nghĩa của sự tinh-tấn.

Mãi đến tiểu-mục số 032, Na-Tiên mới đưa ra một định-nghĩa rất rõ-ràng và đầy-đủ về tinh-tấn: giữ điều lành, giúp cho điều lành thêm lớn, đó là tinh-tấn. Na-Tiên lấy thí-dụ đưa thêm quân tiếp-viện giúp binh-đội đang yếu-thế ở mặt trận, để thắng được; thí-dụ nầy rất phù-hợp với Vua Di-Lan, vì Vua cũng là vị tướng tài-giỏi.

4.- Nhứt-tâm (tiểu-mục số 034): cũng chẳng thấy Na-Tiên đưa ra định-nghĩa của chữ nhứt-tâm, mà chỉ nói đến tầm quan-trọng của sự-việc nầy làm nơi nương-tựa cho việc phát-sanh các điều thiện, thí-dụ như (1) tòa lâu-đài cần có nền-móng để dựng lên; như (2) ba quân dàn ra để bảo-vệ đức Vua khi ra trận. Và Na-Tiên kết-luận: Trong các đìều thiện, nhứt-tâm làm căn-bản; các người học Đạo trước nhứt nên qui về nhứt-tâm…

Nhơn dịp nầy, xin thêm vào đây định-nghĩa của sự nhứt-tâm: sự tập-trung tâm-ý, gom vào một điểm duy-nhứt. Nói cách khác, có sự nhứt-tâm, khi tâm an-định, chú-ý thật cao-độ vào một việc duy-nhứt, chẳng lảng-xao vì các việc khác; chẳng nghe, chẳng thấy gì ở bên ngoài. Thí-dụ: đang đọc Kinh, chú-ý vào lời Kinh, hiểu nghĩa Kinh, nghĩ đến việc áp-dụng lời Kinh vào sự tu-hành. Còn nếu ”miệng đang đọc-tụng mà cái bụng lại đi chợ” thì chẳng hề có sự nhứt-tâm.

5.- Trí-huệ (tiểu-mục số 035): Na-Tiên nhắc lại lời mình đã nói khi trước về Trí-huệ ở tiểu-mục số 019, trí-huệ cắt-đứt được sự tham-ái, cũng như ta gặt lúa, cắt các cọng lúa vậy. Đây là khả-năng của Trí-huệ đoạn-trừ được tất cả các phiền não. Tận-trừ các phiền-não tức là dẹp hết các điều bất-thiện, khiến cho các điều thiện có cơ-hội để nẩy sanh và phát-triển, đó là công-năng lớn của Trí-huệ trong công-cuộc tu-hành.

Sau khi kể năm điều thiện, từ Thành-tín cho đến Trí-huệ ở tiểu-mục số 020, trang 18, thì nơi tiểu-mục số 040, Na-Tiên lại kể năm điều thiện một lần nữa, gồm có: (1)tin-tưởng, (2) giới-luật, (3) tinh-tấn, (4) trí-huệ, (5) nhứt-tâm niệm Đạo.

So-sánh hai tiểu-mục kể trên, ta thấy trong hai lần, lời nói của Na-Tiên có sự lập-lại, nhưng chẳng giống hẳn nhau. Nay, nếu sắp-xếp lại có thứ-tự, để cho dễ hiểu, ta có thể kể năm điều thiện đó là: (1) niềm tin; (2) giới-luật; (3) tinh-tấn; (4) nhứt-tâm; (5)Trí-huệ, mà vẫn tôn-trọng được ý-tưởng của tác-giả quyển ”Tì-kheo Na-Tiên”, trong hai lần phát-biểu ở hai tiểu-mục trước và sau.

Và có lẽ nhờ đó mà lời văn được ”chỉnh” hơn, khi chữ Giới-luật thay thế cho chữ Hiếu-thuận, như đã được ghi trong Hán-tạng.

Năm điều thiện vừa nói, được Tì-kheo Na-Tiên ví như năm vị thuốc dùng để chữa bịnh. Bịnh gì? Na-Tiên nói: Căn bịnh cũng như các điều ác. Ta thấy rõ, với thí-dụ nầy nơi tiểu-mục số 040, công-năng và hiệu-quả của năm điều thiện là diệt trừ các điều ác, để chấm dứt vĩnh-viễn các nỗi Khổ trong thân-phận của chúng-sanh. Nhắc lại, nơi tiểu-mục số 021, Na-Tiên ví năm điều thiện với viên thanh-thủy-châu lọc nước và năm điều ác như nước bùn.

*

125.- Kinh Thập-Thiện kể mười điều thiện cụ-thể hơn.

Năm điều thiện ghi trong sách ”Tì-kheo Na-Tiên”, tuy đầy-đủ nhưng còn quá trừu-tượng, chưa cho thấy rõ hành-động cụ-thể nào gây ra điều thiện, thái-độ nào tạo nên việc ác. Có một bản Kinh trong Hán-Tạng, Kinh Thập Thiện-nghiệp-đạo, kể rõ mười hành-vi cụ-thể trong đời sống hằng ngày tạo nên thiện-nghiệp, giúp người tu-hành được tái-sanh lên cõi Trời. (Kinh Thập-Thiện là bản Kinh số 600 trong Đại-Tạng, do Ngài Học-Hỉ [ Siksananda, phiên-âm: Thực-Soa Nan-Đà] dịch từ chữ Phạn ra Hán-văn). Mười điều thiện đó là: (1) chẳng sát-sanh; (2) chẳng trộm-cắp; (3) chẳng tà-hạnh; (4) chẳng nói dối; (5) chẳng nói lưỡi hai chiều; (6) chẳng nói lời thô-ác; (7) chẳng nói lời vô-nghiã; (8) chẳng tham-lam; (9) chẳng giận-dữ; và (10) chẳng có tà-kiến.

Thiện Nhựt xin ghi thêm vào đây mười điều thiện nầy để bổ-túc cho lời chỉ-dạy của Tì-kheo Na-Tiên về các điều thiện và ác.

*

126.- Phải làm điều thiện từ trước.

Giờ đây, xin ”nhảy” đến tiểu-mục số 062, để nghe Tì-kheo Na-Tiên trả lời câu hỏi sau đây của vua Di-Lan:

– Người muốn làm điều thiện, nên làm trước ngay, hay là để sau nầy mới làm?

– Phải làm ngay từ trước, để đến sau mới làm thì chẳng ích-lợi chi.

Rồi Na-Tiên đưa ra ba thí-dụ chứng minh sự cần-thiết phải làm ngay trước các điều thiện, chẳng chần-chờ: (1) đang khát mới sai người đào giếng, làm sao có nước ngay để uống liền? (2) đang đói mới đi cầy ruộng, làm sao có cơm để ăn liền? (3) bị kẻ thù xâm-lăng, rồi mới lo tuyển binh, luyện tướng, sao kịp chiến-đấu nữa? Và Na-Tiên kết-luận: Người ngu bỏ điều thiện, làm điều ác, rồi sau nầy ngồi đó khóc than, có ích vào đâu. Kẻ nào dứt bỏ điều trung-chánh, theo điều bất-chánh, đến lúc sắp chết, sẽ hối-hận về sau.

*

127.- Trót gây điều ác, nay phải làm gì?

Lại ”nhảy” thêm ba bước nữa đến tiểu-mục số 084, tiểu-mục số 089, và tiểu-mục số 090, để xét đến vấn-đề: trót gây tội-ác, giờ phải làm gì?

Vua Di-Lan thắc-mắc, nơi tiểu-mục số 084:

– Sa-môn các khanh thường nói, con người tại thế-gian làm việc ác trong trăm năm, đến khi gần chết mà biết niệm Phật, thì được tái-sanh lên cõi Trời. Ta chẳng thể tin lời nầy. Lại nữa, sa-môn các khanh còn nói, giết một mạng sanh-vật, đến lúc chết sẽ sa-đọa vào địa-ngục. Ta cũng chẳng tin được lời nầy.

Để thuyết-phục Vua, Na-Tiên đưa ra một thí-dụ rất ý-nhị: cầm hòn đá nhỏ để trên mặt nước, đá chìm; còn lấy chiếc thuyền chở đầy khẳm các hòn đá lớn, thuyền lại nổi. Tại sao? Vì thuyền có sức chở nặng được. Thuyền ví như Chánh-Pháp; niệm Phật theo đúng Chánh-Pháp, thì có thể cứu-vãn được người có tội khỏi bị sa địa-ngục.

Vua Di-Lan lại hỏi, nơi tiểu-mục số 089:

– Người làm điều thiện được phước lớn, rồi làm điều ác thì bị tai-ương lớn chăng?

Câu trả lời của Na-Tiên, mới nghe qua, dễ làm ta ngạc-nhiên:

– Người làm điều thiện được phước lớn; rồi làm điều ác thì bị tai-ương nhỏ.

Ta có thể thắc-mắc, tự hỏi: hễ làm điều thiện rồi, thì rồi dầu có làm điều ác gì đi nữa cũng chỉ bị tai-ương nhỏ mà thôi chăng? Chẳng phải như vậy đâu! Lời giải-đáp của Na-Tiên có hai phần: (1) làm điều lành nhỏ có thể được phước lớn, như trong Kinh có nói đến trường-hợp của kẻ cụt tay chơn, dâng cúng một bó hoa lên Đức Phật, được phước lớn trong 91 kiếp chẳng bị đọa địa-ngục; (2) người siêng làm lành, nếu trót làm điều ác, sở dĩ bị tai-ương nhỏ, là do biết ăn-năn hối-cải, tội tiêu dần đi. Thiện-Nhựt thiển nghĩ, về điểm (1), người cụt tay dâng bó hoa cúng-dường Đức Phật, sở dĩ được hưởng phước-báu lớn, là vì Đức Phật chính là một phước-điền to-lớn và quí-báu nhứt trong các loại ruộng phước, hễ ai gieo nhân bố-thí nơi Ngài, thì sẽ được quả-báo vô-cùng sâu-rộng. Về điểm (2), sở dĩ tai-ương nhỏ đến với người biết hằng ngày ăn-năn, hối-cải việc bất-thiện trót làm, là vì tâm của người ấy càng ngày càng trở nên thanh-tịnh, khiến cho nghiệp-báo xấu-ác nặng-nề chẳng có đủ cơ-duyên để trổ quả.

Nơi tiểu-mục số 090, Vua lại hỏi:

– Người trí làm điều ác, kẻ ngu cũng làm điều ác, thì ai chịu tội nặng hơn.

– Kẻ ngu làm ác bị tai-ương lớn, còn người trí làm ác chịu tai-ương nhỏ.

Câu trả lời nầy làm Vua ngạc-nhiên chẳng ít, vì thông-thường trách-nhiệm nặng sẽ đè lên người có trí biết điều quấy mà còn cố làm; và người ngu chẳng biết tội, lẽ ra phải chịu hình-phạt nhẹ hơn. Nhưng lời giải-thích tiếp theo của Na-Tiên rất chi là hữu-lý. Na-Tiên lấy thí-dụ, có thanh sắt nung đỏ, kẻ bị phỏng tay nhiều chính là người chẳng biết đó là thanh sắt bị đốt; còn người trí biết trước, dại gì nắm lâu để tay bị phỏng nặng. Nhưng cái lý sâu-xa của sự-kiện: ”cùng làm ác, người trí bị tai-ương nhẹhơn người ngu” là ở điểm biết hối lỗi. Người trí biết lỗi mình, nên ngày ngày sám-hối, khiến tâm sớm thanh-tịnh lại. Còn người ngu, vì chẳng biết hậu-quả nặng-nề của tội-ác, lại chẳng biết sám-hối, thì còn lắm tai-ương sẽ đến nữa với mình, đó là chưa kể hiện đang bị khồ-sở vì hành-vi ác đã trót làm.

—–*—–

IV.- Vấn-đề: Ba mươi bảy Phẩm Trợ Đạo.

128.- Ba mươi bảy Phẩm Trợ Đạo gồm có những gì?

Nhắc lại: nơi tiểu-mục số 020, trả lời câu Vua hỏi, ”các điều thiện là những gì?”, Na-Tiên có nói đến năm điều thiện, trong đó có điều thiện thứ hai là sự Hiếu-thuận. Đến tiểu-mục số 023, Na-Tiên định nghĩa chữ Hiếu-thuận là ”tất cả các điều thiện. Ba mươi bảy Phẩm Kinh đều đặt căn-bản nơi sự hiếu-thuận”. Lời giải-thích ”hơi lòng-vòng” nầy của Na-Tiên, khiến người đọc thêm bỡ-ngỡ, vì hai lẽ sau đây: (1) như đã xét qua nơi Phần Tìm hiểu về Nghĩa Ý (tiểu-mục số 124-2), chữ Hiếu-thuận chẳng thích-hợp bằng chữ Giới-luật, để chỉ điều thiện thứ hai; (2) Na-Tiên nói đến 37 Phẩm Kinh mà chẳng chỉ rõ là các Phẩm Kinh nào.

Nếu được phép ”nói lại” chỗ Na-Tiên đã kể ra năm điều thiện, Thiện-Nhựt sẽ xin ”nói lại” như vầy: (1) thành-tín, (2) giới-đức, (3) tinh-tấn, (4) nhứt-tâm, (5) trí-huệ; và điều (2): Giới-đức làm căn-bản cho 37 Phẩm Trợ-Đạo. Như thế có lẽ rõ-ràng hơn, khi chỉ ra đích-xác 37 Phẩm Kinh là các Phẩm Kinh nào.

Danh-từ chánh-thức của Bắc-Tông là Ba mươi bảy Phẩm Trợ-Đạo, còn gọi là 37 Bồ-đề-phần; tiếng Pali là Bojjhanga.

Do đâu mà có con số 37? Ba mươi bảy Phẩm Trợ Đạo gồm có:

1.- Tứ niệm-xứ: bốn lãnh-vực giữ chánh-niệm 4 pháp;
2.- Tứ Chánh-cần: bốn nỗ-lực làm điều lành thêm lớn 4 pháp;
3.- Tứ Như-ý-túc: bốn tâm-nguyện được đầy-đủ 4 pháp;
4.- Ngũ căn: năm nguồn-gốc phát-sanh các điều thiện 5 pháp;
5.- Ngũ lực: năm sức mạnh làm phát-sanh điều thiện 5 pháp;
6.- Thất giác-chi: bảy yếu-tố của sự giác-ngộ 7 pháp;
7.- Bát Chánh-đạo: con đường chơn-chánh tám ngành 8 pháp;

Cộng lại: 37 pháp.

So-sánh với ”37 Phẩm Kinh” nói ở tiểu-mục số 023 vừa nêu trên, ta thấy rõ bảy nhóm của Ba mươi bảy Phẩm Trợ-Đạo liên-quan rất chặt-chẽ với bảy nhóm của Ba mươi bảy Phẩm Kinh, được nói trong sách ”Tì-kheo Na-Tiên”, tuy tên gọi mỗi nhóm có khác, nhưng nội-dung mỗi nhóm, ở hai bên, vẫn từa-tựa nhau.

Giờ đây, xin đi sâu vào chi-tiết của mỗi nhóm, trong Ba mươi bảy Phẩm Kinh mà đúng lý ra ta phải gọi là Ba mươi bảy Phẩm Trợ Đạo.

*

129.- Tứ niệm-xứ: bốn lãnh-vực để giữ chánh-niệm.

Nơi tiểu-mục số 024, Phần Phỏng-dịch, Vua Di-Lan hỏi Na-Tiên:

– Bốn sự dừng-ý là những gì?

Na-Tiên gọi Tứ niệm-xứ là Bốn sự dừng-ý, và giải-thích:

– Đức Phật dạy: ”Một là quán thân, thì thân dừng lại; hai là quán sự đau-đớn thì sự đau-đớn ngừng lại; ba là quán tâm-ý, thì ý dừng lại; bốn là quán pháp, thì pháp dừng lại. Đó là bốn phép quán dừng-ý.”

Lời giải-thích nầy của Na-Tiên đã dựa trên bản Kinh Niệm-xứ, một bản Kinh rất quan-trọng dạy cách giữ gìn chánh-niệm, khi tu-tập thiền-quán (Kinh Satipatthana, Trung-Bộ Kinh, bản kinh số 10; Pali: Satipatthana, Majjhima Nikaya, 10). Bốn lãnh-vực quán-niệm mà ta cần giữ chánh-niệm là: (1) quán thân; (2) quán thọ; (3) quán tâm và (4) quán pháp. Như thế, nơi lãnh-vực thứ hai: quán thọ, Na-Tiên đã dùng chữ ”sự đau-đớn” để chỉ một loại cảm-thọ, được nói trong Kinh Niệm-xứ.

Lại nữa, Na-Tiên bảo, (hễ) ”quán thân thì thân dừng lại…”, chữ ”dừng” nầy có nghĩa là các tư-tưởng, các ý-nghĩ trong tâm, lúc đang quán thân, đều dừng, đều trụ lại, chẳng còn chạy bông-lông, bị xao-lãng về các vấn-đề khác. Đấy là công-năng của việc quán, khiến cho chánh-niệm khởi lên và an-trú ngay trong lãnh-vực đang quán-chiếu; nói cách khác, khi quán thân thì giữ được chánh-niệm an-trụ lại trên ý-niệm thân-thể và vắng bóng các ý-tưởng khác. Đó là phương-pháp đào-luyện sự tập-trung tư-tưởng trong các phép quán-niệm, khiến cho tâm trở nên thanh-tịnh để sớm đi vào thiền-định.

*

130.- Bốn sự đoạn-ý chẳng phải là Tứ Chánh-cần .

Nhóm thứ hai Bốn sự đoạn-ý trong Ba mươi bảy Phẩm Kinh được Na-Tiên nói đến nơi tiểu-mục số 025, chắc chắn chẳng phải là nhóm thứ hai: Tứ Chánh-cần, tức là bốn nỗ-lực làm cho các điều thiện tăng-trưởng thêm lên, được nói trong Ba mươi bảy Phẩm Trợ-Đạo.

Thế nào là đoạn-ý? Na-Tiên giải-thích:

-… khi đã phân-biệt được bốn sự dừng-ý rồi, thì chẳng nhớ nghĩ đến nữa, đó là bốn sự đoạn-ý…

Theo sự giải-thích như vậy, thì đoạn-ý có nghĩa là chẳng nhớ nghĩ đến nữa. Phải chăng Na-Tiên muốn nói, hễ khi tâm-ý đã dừng lại được rồi, thì đừng nhớ nghĩ gì đến các việc khác nữa. Nếu đúng như thế, thì bốn sự đoạn-ý được Na-Tiên nói đến, thật ra, vẫn còn nằm trong lãnh-vực Tứ niệm-xứ của Ba mươi bảy Phẩm Trợ-Đạo; vì khi ta tu-tập quán-niệm mà giữ được chánh-niệm an-trú, thì mọi tư-tưởng khác đều vắng bóng, chỉ còn lưu lại có đề-tài thiền-quán duy-nhứt nơi tâm-ý đang tập-trung.

Và ta có thể kết-luận: nhóm thứ nhứt dừng-ý và nhóm thứ hai đoạn-ý, do Na-Tiên nói đến trong Ba mươi bảy Phẩm Kinh, cũng chỉ là một nhóm mà thôi, vì dừng ý rồi đoạn ý chỉ là một hành-vi duy-nhứt của tâm: bỏ các ý khác để chỉ chọn một ý mà quán-niệm.

Thế nào là Tứ Chánh-cần trong Ba mươi bảy Phẩm Trợ-Đạo? Đó là bốn nỗ-lực để khiến các điều ác bị tiêu-diệt và đồng thời làm gia-tăng thêm lên các điều thiện. Tứ Chánh-cần là tên khác của Tinh-tấn.

Bốn nỗ-lực nào?

1.- Điều ác đã sanh, phải cố dứt-trừ;
2.- Điều ác chưa sanh, phải cố ngăn-ngừa đừng cho sanh;
3.- Điều thiện chưa sanh, phải cố làm nẩy-sanh ra;
4.- Điều thiện đã sanh, phải cố làm tăng-trưởng thêm.

Có được như thế thì mới mong có ngày dứt hết các ác-nghiệp và chẳng còn bị nghiệp dẫn-dắt đi tái-sanh trong cõi Luân-hồi lận-đận.

Nhân đây, xin nhắc đến tiểu-mục số 036, Vua Di-Lan hỏi Na-Tiên:

– Phải chăng các loại Kinh trước sau có dạy nhiều điều khác nhau, nhưng cũng đều chung một hướng là nhằm diệt tất cả các điều ác?

Câu trả lời của Na-Tiên được kèm một thí-dụ cụ-thể:

– Dĩ nhiên, Kinh Phật dạy nhiều loại thiện, nhưng cũng chỉ hướng về nhằm diệt mọi điều ác. Ví như Vương phát bốn đạo binh ra đi chiến-đấu, ý lúc khởi-hành là đểcông-kích địch-quân, diệt tất cả mọi điều ác vậy.

Thí-dụ về đánh giặc nầy được nhà Vua tán-thưởng nhiệt-liệt:

– Lành thay! Na-Tiên nói Kinh thật vô cùng thích-thú!

*

131.- Phải chăng Bốn niệm thần-túc là Tứ Như-ý-túc?

Nơi tiểu-mục số 026, Vua Di-Lan hỏi:

– Bốn niệm thần-túc là những gì?

Câu trả lời của Na-Tiên lại liên-quan đến bốn sự thần-thông, mà các bực đắc đạo-quả A-la-hán đã chứng được:

– Thứ nhứt là mắt có thể nhìn thấy thấu-triệt. Hai là tai có thể nghe rõ được thấu-triệt. Ba là cò khả-năng biết rõ tâm-trạng của kẻ khác. Bốn là thân-thể có khả-năng bay cao.

Bốn khả-năng siêu-phàm đó thường được gọi trong Kinh-sách là bốn thần-thông: (1) thiên-nhãn-thông, (2) thiên-nhĩ thông, (3) tha-tâm-thông, và (4) thần-túc-thông (bay cao). Muốn đắc được bốn thần-thông nầy, theo lời Na-Tiên có nói trước đó ở tiểu-mục số 025, là khi đạt được bốn sự đoạn-ý thì liền đạt được bốn niệm thần-túc.

Thế còn Tứ Như-ý-túc trong Ba mươi bảy Phẩm Trợ-Đạo là những gì? Đó là bốn điều tâm-nguyện khi tu-hành mong đạt được sự thành-công đầy-đủ trọn-vẹn:

1.- Dục như-ý-túc: mong muốn được thành-tựu hoàn-toàn chí-nguyện tu-hành của mình;

2.- Tinh-tấn như-ý-túc: nỗ-lực thật dõng-mãnh để đạt trọn-vẹn chí-nguyện tu-hành của mình, dầu phải hy-sanh thân-mạng;

3.- Nhứt-tâm như-ý-túc: một lòng chuyên-chú đến chí-nguyện tu-hành, chẳng hề để cho tâm tán-loạn, bị cảnh bên ngoài quyến-rủ.

4.- Quán như-ý-túc: dùng trí-huệ quán-sát chí-nguyện tu-hành của mình, thấu rõ sự nguy-hiểm của đường ác và sự lợi-lạc của đường lành.

Như thế, có sự khác-biệt rõ rệt giữa Bốn niệm thần-túc trong sách Tì-kheo Na-Tiên với Tứ Như-ý-túc trong Ba mươi bảy Phẩm Trợ-Đạo.

*

132.- Năm căn và năm lực là những gì?

Nơi hai tiểu-mục số 027 và 028, Vua Di-Lan hỏi:

– Thế nào là năm căn và năm lực?

Na-Tiên đã dùng năm giác-quan (mắt, tai, mữi, lưỡi, và thân) làm năm căn, và năm sự kềm-chế các giác-quan làm năm lực, để trả lời. Na-Tiên nói:

– Thứ nhứt, mắt thấy sắc đẹp, sắc xấu, ý chẳng dính-mắc.Thứ hai, tai nghe tiếng tốt, lời mắng, ý chẳng dính mắc, v.v… đó là năm căn. Một là kềm-chế mắt; hai là kềm-chếtai, … để cho ý khỏi bị sa-đoạ, đó là năm lực.

Nhưng trong Ba mươi bảy Phẩm Trợ-Đạo, ngũ căn, ngũ lực, lại được kể ra như sau:

1.- Tín-căn, niềm tin nơi Chánh-Pháp, và Tín-lực, sức mạnh của niềm tin đó, có được nhờ sự tu-tập;

2.- Tấn-căn, nỗ-lực diệt-trừ điều ác để gia-tăng điều thiện, và Tấn-lực, sức mạnh của sự cố-gắng bền-bỉ đó;

3.- Niệm-căn, tâm nhớ nghĩ luôn luôn đến lục niệm: (1) niệm Phật, (2) niệm Pháp, (3) niệm Tăng, (4) niệm Giới, (5) niệm Thí, (6) niệm Thiên. Còn Niệm-lực là sức mạnh của niệm-căn được tu-tập thêm vững-bền.

4.- Định-căn, tâm luôn an-trú trong chánh-niệm. Định-lực là sức mạnh đưa tâm an-tịnh vào các cõi thiền-định.

5.- Huệ-căn, trí sáng phát-giác các phiền-não, vọng-tưởng. Huệ-lực là sức mạnh của trí-huệ quét sạch vọng-tưởng, cắt đứt phiền-não.

So-sánh năm căn, năm lực ở hai nơi, sách ”Tì-kheo Na-Tiên” nầy với Ba mươi bảy Phẩm Trợ-Đạo, ta thấy có sự khác-biệt; nhưng nếu xét theo ”nghĩa gốc” của chữ căn = nguồn-gốc làm phát-sanh, thì cả hai nơi đều hợp-lý cả: (1) năm giác-quan, được gọi là năm căn, vì từ các nơi đó phát-sanh ra sự hay-biết về cảnh bên ngoài; (2) từ tín-căn đến huệ-căn được gọi là năm căn, vì từ các nơi đó phát-sanh ra các điều lành. Hóa ra, chẳng có sự chống-đối giữa hai loại năm căn.

Mặt khác, lời đáp của Na-Tiên nói, năm lực là năm sự kềm-chế các giác-quan, chẳng để cho ý bị dính-mắc và sa-đoạ, khiến ta nhớ lại sự phòng-vệ các căn, sự hộ-trì các căn đã được chúng ta bàn qua về Lý Mười hai Nhân-Duyên, tại hai Nhân-duyên: Xúc và Thọ. Khi các căn (mắt, tai, mũi…) được phòng-vệ, hộ-trì, thì sự tiếp-xúc (Xúc) với cảnh-vật bên ngoài chẳng lôi-kéo cảm-thọ (Thọ) chạy theo con đường ác; điều nầy cho ta thấy rõ sự kềm-chế đó là năm lực ở các giác-quan, tạo nên sức mạnh diệt điều ác và tăng thêm điều lành, cũng giống nhau với tấn-căn trong Ba mươi bảy Phẩm Trợ-Đạo. (Xin xem lại tiểu-mục số 120, Phần Tìm hiểu Nghĩa Ý.)

Hơn nữa, xem lại tiểu-mục số 040, ta thấy có một sự trùng-hợp giữa năm điều thiện của Na-Tiên kể ra, rất giống nhau với năm căn và năm lực trong Ba mươi bảy Phẩm Trợ-Đạo.

*

133.- Bảy Giác-ý hay là Bảy Giác-chi?

Nơi tiểu-mục số 029, Na-Tiên kể bảy yếu-tố của sự giác-ngộ, gọi đó là Bảy Giác-ý, và trong Ba mươi bảy Phẩm Trợ-Đạo thì được gọi là Thất Giác-chi:

Bảy Giác-ý  Thất Giác-chi
1.- Ý giác-ý
2.- Phân-biệt giác-ý
3.- Tinh-tấn giác-ý
4.- Khả giác-ý
5.- Ý giác-ý
6.- Định-giác-ý
7.- Hộ giác-ý  1.- Trạch-pháp
2.- Tinh-tấn
3.- Hỉ
4.- Khinh-an
5.- Niệm
6.- Định
7.- Xả.

Nhận-xét đầu-tiên về bản đối-chiếu nầy là thứ-tự trước sau của mỗi yếu-tố chẳng giống nhau ở hai cột; nhưng điều nầy chẳng quan-trọng, miễn sao có đủ bảy thành-phần là được. Nhận-xét thứ hai là tên gọi của vài yếu-tố khác nhau, chẳng biết có sự sai-biệt về nội-dung hay không. Ta sẽ xét qua ý-nghĩa của mỗi yếu-tố, dựa theo tên gọi trong Ba mươi bảy Phẩm Trợ-Đạo.

1.- Yếu-tố thứ nhứt là Trạch-pháp, sự lựa chọn một pháp-môn thích-hợp với căn-cơ của mình để tu-tập theo. Yếu-tố trạch-pháp nầy lại bao gồm được cả hai yếu-tố: (1) ý giác-ý và (2) phân-biệt giác-ý trong lời giải-đáp của Na-Tiên: (1) chữ ”ý giác-ý”, nhứt là chữ ”ý” còn chưa diễn-tả đầy đủ nghiã-lý bằng chữ ”pháp” trong chữ pháp-môn; (2) chữ phân-biệt trong Phân-biệt giác-ý, đâu có đủ ý-nghĩa bằng chữ Trạch: vừa lựa và vừa chọn lấy một pháp-môn để tu-tập.

2.- Yếu-tố thứ hai là Tinh-tấn lại được Na-Tiên xếp vào yếu-tố thứ ba. Thứ-tự nầy chẳng quan-trọng, khi cả hai cột đều có nói đến sự tinh-tấn, nỗ-lực tu-tập rất cần-thiết, sau khi đã chọn được pháp-môn thích-hợp với mình, để tu-tập hầu sớm đắc giác-ngộ.

3.- Yếu-tố thứ ba là Hỉ, sự vui mừng vì thấy pháp-môn mình chọn đưa đến các kết-quả khả-quan. Hỉ giác-chi được Na-Tiên gọi là Khả giác-ý, xếp vào yếu-tố thứ tư. Theo nghĩa trong chữ Hán, Hỉ là mừng; Khả là ”có thể, vừa ý, đáng thích”, thì kể ra cũng gần nghĩa với nhau.

4.- Yếu-tố thứ tư là Khinh-an, sự nhẹ-nhàng, sảng-khoái của thân-tâm, trước sự tu-tập hướng về giác-ngộ có kết-quả khả-quan. Khinh-an tương-đương với yếu-tố thứnăm ỷ giác-ý. Chữ ỷ, nghĩa gốc trong chữ Hán-Việt là dựa vào; ở đây, có nghĩa là tâm dựa vào nơi sảng-khoái về thể-xác để được vui-vẻ mà sớm đắc được định-lực. Nếu chẳng quá chú-trọng đến từ-ngữ, ta thấy nếu dùng tiếng khinh-an để thay-thế cho tiếng ỷ, thì vừa nhẹ-nhàng lại vừa thanh-lịch hơn.

5.- Yếu-tố thứ năm là Niệm, tức là chánh-niệm luôn luôn nhớ nghĩ đến pháp-môn đang tu-tập. Yếu-tố quan-trọng nầy giúp hành-giả luôn chú-tâm đến việc tu-tập trong mọi thời, lại chẳng thấy nói đến trong Bảy Giác-ý, khiến cho lời Na-Tiên giải-thích còn thiếu-sót.

6.- Yếu-tố thứ sáu là Định được nói đến ở cả hai bản Bảy Giác-ý và Thất Giác-chi. Đó là định-lực đưa tâm-trí hành-giả vào các cõi thiền-định, để phát-triển được Huệ sớm đưa đến bờ giác-ngộ.

  1. Yếu-tố sau cùng là Xả giác-chi, tức là tâm bình-đẳng, biết buông-xả, chẳng dính-mắc, gặp việc thuận chẳng mến-thích, gặp chuyện nghịch chẳng oán-than. Na-Tiên dùng chữ ”Hộ” vào trong Hộ giác-ý, yếu-tố sau cùng của Bảy giác-ý, theo thiển-kiến, chẳng diễn-tảđược hết ý-nghĩa của yếu-tố Xả. Tại sao? Vì ý-niệm Xảchính là đỉnh cao của sự giác-ngộ: người đã giác-ngộ rồi, tâm an-nhiên, tự-tại, giải-thoát khỏi mọi ràng-buộc, điều ác chẳng vướng-mắc mà ngay cả điều thiện cũng chẳng ôm-ấp, thì còn có điều chi trong cái tâm-trạng rỗng-rang, vắng-vẻ đó để mà còn bảo-vệ hộ-trì nữa?

*

134.- Bát Chánh-Đạo là những gì?

Nơi tiểu-mục số 030, Vua Di-Lan hỏi Na-Tiên:

– Thế nào là tám loại đạo-hạnh?

Ta hãy sắp xếp câu trả lời của Na-Tiên, song song với các yếu-tố của con đường tám ngành Bát Chánh-Đạo, được kể rõ-ràng và đầy-đủ trong Kinh Chuyển Pháp-Luân, là bản Kinh đầu-tiên của Đức Phật, sau khi Ngài thành Đạo, giảng tại vườn Lộc-Uyển cho năm anh em ông Kiều-Trần-Như nghe.

Tám loại đạo-hạnh  Bát Chánh-Đạo
1.- Trực-kiến
2.- Trực-niệm
3.- Trực-ngữ
4.- Trực-mạng
5.- Trực-nghiệp
6.- Trực phương-tiện
7.- Trực-ý
8.- Trực-định  1.- Chánh tri-kiến
2.- Chánh tư-duy
3.- Chánh-ngữ
4.- Chánh-mạng
5.- Chánh-nghiệp
6.- Chánh tinh-tấn
7.- Chánh-niệm
8.- Chánh-định.

Nhận-xét đầu-tiên là chữ Chánh, nơi cột hai, được chữ Trực, nơi cột một, thay-thế. Y-nghĩa của hai chữ ấy gần tương-đương nhau: ”ngay-thẳng, chơn-chánh, đứng-đắn”, cho nên chẳng có chi đáng nói. Về nội-dung của mỗi ngành, ta nên xét từng môn: từ chánh tri-kiến cho đến chánh-định.

1.- Chánh-tri-kiến, sự thấy-nghe, hay-biết, thật chơn-chánh đứng-đắn, có thể xem tương-đương với Trực-kiến nơi cột một.

2.- Chánh tư-duy, sự suy-nghĩ, phán-xét đứng-đắn, thì khó lòng được xem cùng nghĩa với chữ trực-niệm. Thông-thường, động-từ niệm có nghĩa là luôn nhớ-nghĩ trong lòng; như thế, trực-niệm, chỉ có nghĩa là ”nhớ nghĩ thẳng-thắn” chẳng diễn-tả hết được các khả-năng đứng-đắn và bao-quát của Trí-huệ là suy-nghĩ và phán-đoán.

Hai môn: Chánh tri-kiến và Chánh tư-duy được xếp vào môn thứ ba, Huệ-học, trong ba môn học vô-lậu Giới, Định, Huệ.

3.- Chánh-ngữ, Chánh-mạng, Chánh-nghiệp có thể được xem như tương-đương với Trực-ngữ, Trực-mạng, Trực-nghiệp nơi cột một, nếu nghĩa của chữ Trực, ngoài ý ngay-thẳng ra, được mang thêm ý-nghĩa của sự đứng-đắn, chơn-chánh. Chánh-ngữ là lời nói chơn-chánh, chẳng thô-ác, chẳng đâm-thọc, các ý-nghĩa nầy có thể được bao gồm trong Trực-ngữ. Chánh-mạng là cách sanh-sống bằng các nghề-nghiệp chơn-chánh, thật-thà, chẳng gian-xảo, chẳng độc-ác, rất phù-hợp với chữ trực-mạng. Chánh-nghiệp là những hành-động của thân, miệng, và tâm-ý đều đứng-đắn, chơn-chánh, chẳng gây ra ác-nghiệp và vì thế chữ Trực-nghiệp có thể xem tương-đương với chữ Chánh-nghiệp.

Ba môn: Chánh ngữ, Chánh-mạng, Chánh-nghiệp được xếp vào môn học thứ nhứt, Giới-học, trong ba môn học vô-lậu.

4.- Nơi mục số (6), Chánh tinh-tấn khác khá xa với Trực phương-tiện; vì Tinh-tấn có nghĩa là nỗ-lực giữ-gìn và làm tăng-trưởng điều thiện; còn Phương-tiện là những phương-pháp tiện dụng, dùng để thi-hành hầu đạt được mục-tiêu. Tuy nhiên, có điểm tương-đồng giữa hai ý-niệm: Tinh-tấn và Phương-tiện, là các nỗ-lực đã cố-gắng đểđạt được mục-tiêu, mặc dầu mục-tiêu có thể khác nhau. Và mục-tiêu của Tinh-tấn được nói rõ: tăng điều thiện; còn mục-tiêu của Trực phương-tiện vẫn để bỏ ngõ. Dầu sao đi nữa, trong lắm sách giáo-lý Phật-học, nhiều vị đại-sư đã chẳng ngại dùng từ-ngữ Chánh phương-tiện để thay thế cho danh-từ Chánh Tinh-tấn khi giảng về Bát Chánh-Đạo.

Môn Chánh tinh-tấn có thể được đem xếp vào cả hai môn Giới và Định, vì sự nỗ-lực có thể thi-hành trong việc giữ-gìn Giới-luật, hoặc để áp-dụng vào việc tu-tập Thiền-định.

5.- Chánh-niệm nơi mục số (7) được xếp ngang hàng với Trực-ý. Đúng lý ra, nên đem chữ Trực-niệm ở mục số (2), cột một, xuống ngang với Chánh-niệm thì hay biết mấy; vì chữ Trực-ý chẳng thể nào thay-thế cho chữ Chánh-niệm được: Trực-ý chỉ là một ý ngay-thẳng; trong khi Chánh-niệm lại là ý chủ-chốt, qui-tụ hết các ý-tưởng khác về một trọng-điểm đang được quán-chiếu. Bước đầu đi vào định-lực là phải có chánh-niệm và giữ chánh-niệm luôn sáng-tỏ, cái điều mà một ý ngay-thẳng, trực-ý, dù mạnh đến đâu cũng chưa thể làm được.

6.-Chánh-định và Trực-định chẳng chống-đối nhau, vì cả hai đều nói lên định-lực chơn-chánh, trái hẳn với tà-định của bàng-môn ngoại-đạo.

Hai môn Chánh-niệm và Chánh-Định thuộc về môn Định-học trong ba môn học vô-lậu: Giới, Định, Huệ.

*

135.- Lấy tám loại đạo-hạnh (Bát Chánh-Đạo) làm căn-bản tu-hành.

Nơi gần cuối tiểu-mục số 031, Na-Tiên có nói:

– Chư đệ-tử Phật cầu Đạo… nhân biết sự khổ-nhọc ở thế-gian, nên mới dứt bỏ mọi ham-muốn mà một lòng niệm tám loại đạo-hạnh.

Như thế, trong Ba mươi bảy Phẩm Trợ-Đạo, Na-Tiên đã chọn lấy Bát Chánh-Đạo, ( mà Na-Tiên gọi là tám loại đạo-hạnh) làm căn-bản tu-hành. Lấy Bát Chánh-Đạo làm căn-bản tu-hành cũng tựa như trong hai thí-dụ Na-Tiên đưa ra ngay trước đó: (1) kiến-trúc-sư trước khi xây một thành-trì, cần phải lượng-định nền móng; (2) người diễn trò trước khi diễn phải dọn dẹp mặt đất cho bằng phẳng.

Thường nghe nói, Chánh-Pháp có tám vạn bốn ngàn pháp-môn,, nay Na-Tiên mách cho vua Di-Lan sự chọn lựa pháp-tu giản-dị và đầy-đủ như thế, quả là điều rất đáng tán-thưởng, vì thế nhà Vua đã khen-ngợi:

– Lành thay! Lành thay!

—–*—–

V.- Vấn-đề: Trí – Huệ .

Trước khi bước sang Vấn-đề V: Trí-huệ, Thiện Nhựt thấy cần nhắc lại sự liên-tục trong ý-tưởng khi tóm-tắt lại nội-dung của quyển ”Tì-kheo Na-Tiên”, vì các câu hỏi của vua Di-Lan nêu lên đều tùy hứng, gặp đâu hỏi đó, chẳng theo một thứ-tự nào.

– Thắc-mắc đầu-tiên của vua Di-Lan là tại sao đi tu làm sa-môn? Điều nầy ta đã xét qua tại Vấn-đề I: đi tu làm sa-môn.

– Trước lời đáp của Na-Tiên, đi tu để khỏi chịu khổ mãi vì tái-sanh Luân-hồi, Vua Di-Lan muốn biết: thế nào là tái-sanh? Điều nầy ta đã xét qua tại Vấn-đề II: tái-sanh trong cõi Luân-hồi.

– Trước câu hỏi của vua Di-Lan, người niệm Chánh-Pháp và siêng làm điều thiện có khỏi phải sanh lại không?, Na-Tiên đã giải-thích sự phân-biệt giữa các điều thiện-ác. Điều nầy ta đã xét qua tại Vấn-đề III: phân-biệt các điều thiện và điều ác.

– Trong khi nói về các điều thiện, Na-Tiên có bàn đến Ba mươi bảy Phẩm Kinh làm căn-bản cho các điều thiện. Điều nầy ta vừa mới xét qua xong, tại Vấn-đề IV: Ba mươi bảy Phẩm Trợ-Đạo.

– Và sau đây là Vấn-đề V: Trí-huệ. Do niệm Chánh-Pháp và siêng làm các điều lành, mà hành-giả biết sống luôn luôn theo đúng các đạo-hạnh của Bát Chánh-Đạo, nhờđó mà phát-triển được Trí-Huệ. Rồi lại nhờ có Trí-Huệ mà cắt đứt mọi phiền-não, diệt-trừ hết các điều ác, nên được giác-ngộ và giải-thoát khỏi cảnh Luân-hồi.

Năm vấn-đề trên đây được sợi dây đường-lối tu-hành luồn xuyên qua và kết-chặt lại một mối, giúp cho việc Tìm hiểu Nghĩa Ý của quyển ”Tì-kheo Na-Tiên” có lớp-lang thứ-tự, vượt qua được dễ-dàng các câu hỏi quá nhiều và tùy hứng của Vua Di-Lan.

*

136.- Vấn-đề Trí-Huệ được đặt ra ở đây như thế nào?

Cuộc vấn-đáp giữa Vua Di-Lan và Tì-kheo Na-Tiên về vấn-đề Trí-huệ, rải-rác qua nhiều câu hỏi, tại các tiểu-mục:

– số 019: Thú-vật có trí chăng?
– số 035: Trí-huệ là như thế nào?
– số 039: Khả-năng hiểu-biết của Trí-huệ như thế nào?
– số 090: Người trí, kẻ ngu cùng làm ác, ai nặng tội hơn?
– số 094,: Trí-huệ tư-duy đến các sự-việc cao-thâm.
– số 095: Thế nào là Tinh-thần, Trí-huệ, và Tự-nhiên.

Như thế, chỉ trong sáu tiểu-mục rời-rạc, Trí-huệ được xét đến ở

Như thế, chỉ hai khiá-cạnh: (1) về mặt lý-thuyết: (a) Thế nào là Trí-huệ; (b) khả-năng hiểu-biết của Trí-huệ ra sao; (c) Trí-huệ với Tinh-thần và Tự-nhiên; (2) về mặt sự-kiện cụ-thể: (a) thú-vật có trí không; (b) người trí với kẻ ngu cùng làm ác, ai chịu tội nặng hơn?

*

137.- Thế nào là Trí-Huệ?

Nơi tiểu-mục số 035, Vua Di-Lan hỏi Na-Tiên:

– Trí-huệ là như thế nào?

– Tôi đã có nói trước rồi (tiểu-mục số 019), trí-huệ có khả-năng cắt đứt các nghi-ngờ, làm sáng tỏ các việc thiện…

Rồi Na-Tiên đưa ra thêm hai thí-dụ: (1) như cầm đèn vào nhà tối, ánh-sáng (tượng-trưng cho trí-huệ) đẩy lùi bóng tối (tượng-trưng cho sự ngu-mê); (2) như cầm dao bén (tượng-trưng cho trí-huệ) chặt cây (tượng-trưng cho các điều ác). Trước đây nơi cuối tiểu-mục số 019, Na-Tiên có ví Trí-huệ như cái lưỡi-hái cắt các bó luá (tượng-trưng cho các điều ác). Qua ba thí-dụ trên, Na-Tiên muốn chỉ rõ hiệu-năng của Trí-huệ là phá bỏ, dứt trừ sự Vô-minh (ngu-mê), sự nghi-ngờ và tiêu-diệt được các điều ác.

Đến tiểu-mục số 039, Vua Di-Lan hỏi về khả-năng hiểu-biết của Trí-huệ, như sau:

– Người có trí-huệ sáng-suốt có biết hết muôn sự-vật chăng, hay có chỗ còn chưa hiểu-biết kịp?

Câu trả lời của Na-Tiên phân-biệt ra hai trường-hợp:

– (1) với người thường, họ biết được điều chưa học và chưa kịp hiểu; đồng thời cũng biết được điều đã học và đã hiểu;

– (2) với bực trí-giả, họ thấy rõ con người và vạn-vật đều phải qua đi, qui về KHÔNG, chẳng được tự-tại. Vì lòng ham muốn vui-sướng con người đã gieo trồng nguồn-gốc của Khổ; người trí biết như thế, và tòng theo đó mà tiến đến Khổ-Huệ, biết rõ-ràng sự vô-thường, sự thành-bại, cho nên Trí-huệ khác với người thường.

Ta thấy rõ: sự khác-biệt về Trí-huệ giữa hai hạng người, chính là sự thấu-đáo về nỗi Khổ, đưa đến Khổ-Huệ, cái Trí-Huệ sáng-suốt biết rõ nguồn-gốc của Khổ và cách diệt-trừ dứt-khoát Khổ. Nếu sự suy-đoán của Thiện-Nhựt chẳng lầm-lẫn thì đó chính là Trí-huệ Bát-Nhã Ba-la-mật (Sanskrit: Prajnà Paramitra; Pali: Pannà Paramitta), cái Trí-huệ toàn-hảo đưa đến bờ giác-ngộ.

Tiếp theo đó, Vua lại hỏi:

– Người có trí-huệ rồi, thì ngu-si ở vào đâu?

– Người có trí-huệ thì ngu-si tự tiêu-diệt hết. Ví như người cầm đèn vào trong nhà tối, phòng sáng lên, tức màn tối đen bị tiêu-diệt.

Thí-dụ trí-huệ như ánh-sáng, ngu-si như bóng tối nầy được Na-Tiên đưa ra hơn một lần. Nó rất đúng-đắn, dễ thấy và dễ hiểu. Nhưng lời vấn-đáp liền sau đó, giữa Vua Di-Lan và Tì-kheo Na-Tiên, lại có chỗ chẳng được hoàn-toàn hợp-lý. Chẳng hợp-lý ở điểm nào? Xin hãy đọc kỹ lại lời vấn-đáp giữa hai người:

– Trí-huệ cũng lại như vậy, người có trí thì ngu-si tất tiêu-diệt.

– Thế còn trí-huệ của trí-giả nay lại ở đâu?

– Người dùng trí để làm công-việc, làm xong thì trí-huệ liền tiêu-diệt, nhưng sự-việc mà trí-huệ đã làm thì còn đó. Ví như ban đêm viết thơ bên đèn, viết xong tắt đèn, nhưng bức thơ còn đó. Bực trí-giả cũng lại như thế, làm xong việc đã làm, trí-huệ liền tiêu-diệt, nhưng việc làm thành-tựu vẫn tiếp-tục còn tại đó.

Thí-dụ ”viết thơ ban đêm bên đèn” nầy rất đáng tán-thưởng. Tuy nhiên, theo thiển-kiến của Thiện-Nhựt, chỗ chẳng hoàn-toàn hợp-lý là khi Na-Tiên bảo, làm xong việc đã làm, thì trí-huệ liền tiêu-diệt. Làm sao mà trí-huệ tiêu-diệt đi được, khi mà khả-năng suy-tư, phán-đoán của nó vẫn còn đó, nơi tâm-trí của trí-giả? Có chăng là khi làm xong việc đã làm, thì trí-huệ đã hoàn-tất nhiệm-vụ của nó nên nó đâu cần tự lộ-bày ra nữa. Vả lại, người có trí có bao giờ lại đem khoe trí-huệ của mình ra đâu, vì nếu làm như thế, thì lại hóa ra kiêu-hợm, thiếu khiêm-tốn, và có một thái-độ ”chẳng khôn-ngoan” chút nào cả. Nếu Na-Tiên nói, ”làm xong việc đã làm, trí-huệ chẳng lộ-bày ra nữa”, có lẽ chính-xác hơn là khi Na-Tiên nói, ”làm xong việc đã làm, thì trí-huệ liền tiêu-diệt.”

Tiểu-mục số 094, Vua Di-Lan có hỏi:

– Bực đã đắc Đạo có khả-năng suy-nghĩ đến tất cả các sự-việc cao-xa thâm-diệu chăng?

Na-Tiên đáp, Dĩ nhiên là có, và nói thêm, các Kinh Phật thật hết sức thâm-ảo về mọi sự-việc… đều phải do Trí-huệ đoán-định ra.

Tiếp theo là tiểu-mục số 095: Tinh-thần, Trí-huệ và Tự-nhiên, quá vắn-tắt, chẳng thấy Na-Tiên chỉ cho thấy rõ mối tương-quan giữa ba điều đó. Na-Tiên chỉ cắt-nghĩa rất sơ-lược:

– Tinh-thần chủ về sự hiểu-biết; trí-huệ thông-hiểu được Đạo; còn Tự-nhiên là hư-không chẳng có người.

Thật ra, giữa ba ý-niệm: tinh-thần, trí-huệ và tự-nhiên, có một mối tương-quan mà người trí-giả cần nên xét qua, vì ích-lợi của sự tu-tập. Theo lời của Na-Tiên, tinh-thần đây chủ về sự hiểu-biết, tức là Thức trong Duy-Thức-học. Nhờ có sự hiểu-biết đứng-đắn, chơn-chánh mà trí-huệ phát-triển hướng về Đạo. Còn về danh-từ Tự-nhiên, Na-Tiên giải-thích là hư-không chẳng có người, thì Thiện-Nhựt xin thú-nhận chẳng hiểu rõ được tư-tưởng của vị Tì-kheo lỗi-lạc nầy. Phải chăng Na-Tiên muốn nói đến Thiên-nhiên, hoặc ám-chỉ vào chữ Pháp-giới dùng trong Kinh-sách, tức là muôn sự-sự vật-vật trong vũ-trụ. Nếu đó là Pháp-giới, thì theo Trí-huệ của bực trí-giả đã giác-ngộ, vũ-trụ nầy chính là cái hư-không rỗng-rang, chẳng có Ngã, chẳng có người. Tại sao? Vì muôn sự-vật đều mang hình-tướng hỗn-hợp, chẳng có bất cứ sự-vật nào tự-nhiên tự mình mà sanh ra lấy một mình được; nếu phân-tách hình-tướng hỗn-hợp đó ra các thành-tố, thì có gì tồn-tại nữa đâu, chẳng qua chỉ còn lại một cái thể Không rỗng-rang, vắng-vẻ, bao-trùm lên tất cả muôn loài? Một khi tinh-thần đã hiểu-biết bản-thể trống-rỗng và vô-ngã của vũ-trụ, của tự-nhiên, là như thế, thì trí-huệ sẽ hướng về Đạo tìm con đường giải-thoát ra khỏi mọi ràng-buộc, trong đó sự chấp-thủ vào cái Ta, cái Ngã là nặng-nề nhứt.

Mấy dòng trên đây là một cố-gắng liều-lĩnh của Thiện Nhựt để ráng tìm hiểu tiểu-mục về Tinh-thần, Trí-huệ và Tự-nhiên đã quá giản-lược lại vô-cùng bí-hiểm, kính mong người đọc nên dè-dặt và rộng-lượng tha cho tội ”bạo gan.”

*

138.- Trí-huệ với Bản-năng, và với Nghiệp-lực .

Nơi cuối tiểu-mục số 019, Vua Di-Lan hỏi:

– Trâu, ngựa, thú-vật nuôi trong nhà có trí hay chẳng có trí?
– Trâu, ngựa, thú-vật nhà đều có trí cả, nhưng tâm chẳng đồng.

Xin đồng-ý với Na-Tiên về điểm thú-vật cũng có trí-huệ, nhưng trí-huệ ấy chẳng phát-triển được như trường-hợp của loài người. Thú-vật có tâm hay không, thì ta chẳng thể có câu trả lời nầy chung cho mọi loài; đối với các loài thú-vật nuôi trong nhà, nhứt là những con vật như khỉ, chó, voi, két, rất khó mà quả-quyết chúng chẳng có tâm. Điều chắc-chắn là nơi các hạng chúng-sanh thấp-kém nầy, cuộc sống tùy theo bản-năng nhiều hơn là nương vào trí-năng.

Tiểu-mục số 090: Người trí, kẻ ngu cùng làm ác, ai nặng tội hơn? đã được xét qua rồi, nhưng nay tại đây xin có thêm một cái nhìn khác về phương-diện hành-nghiệp (hành-động cố-ý, đã tạo nên nghiệp).

Cả hai người làm lỗi đều có gây ra ý-nghiệp, nhưng người trí biết thành-tâm sám-hối, nên ngày qua ngày, ý-nghiệp sẽ nhẹ đi, bớt được ảnh-hưởng của nghiệp-lực; còn kẻ ngu kia vì cố-tâm hành-động nên ý-nghiệp vẫn còn nguyên đó, chỉ chờ đủ cơ-duyên đưa đến nghiệp-quả nặng-nề. Chung qui, nhờ trí-huệ biết sám-hối, tâm mới trở nên thanh-tịnh hơn, và do đó mà có cơ chịu tai-ương nhẹ bớt đi được.

Lẽ ra, bàn về Trí-huệ được nói trong quyển ”Tì-kheo Na-Tiên” đến đây cũng tạm đủ; nhưng có một đoạn văn trong sách, rất dài-dòng, nói về Trí nhớ, tuy không liên-quan đến Trí-huệ nhiều, nhưng nội-dung lại thuộc về Trí-năng, tưởng nên nhân đây đem ra xét luôn: đó là hai tiểu-mục số 081 và số 082.

*

139.- Trí nhớ và các cách nhớ lại của con người.

Một trong những khả-năng quan-trọng của Tâm-trí con người là nhớ lại các việc đã xảy ra trong quá-khứ. Khả-năng nầy trong khoa Tâm-lý hiện-đại gọi là Ký-ức (ký= ghi chép; ức= nhớ nghĩ). Cùng với tuổi già, trí-óc lu mờ đi khiến cho ký-ức trở nên yếu-ớt và có người già-cả lại bị bịnh mất trí nhớ, trở nên lú-lẫn.

Vua Di-Lan hỏi Tì-kheo Na-Tiên nơi tiểu-mục số 081:

– Con người có khả-năng nào để nhớ lại được các sự-việc đã xảy ra thật lâu-xa chăng?

Câu trả lời của Na-Tiên lại trỏ vào một trường-hợp đặc-biệt:

– Người ta lúc ưu-sầu hay nhớ đến các sự-việc xảy từ lâu-xa.

Nếu sự ưu-sầu khiến ta nhớ lại, thì sự mừng-rỡ, háo-hức cũng có thể gợi lại trong đầu hình-ảnh cũ. Nhưng xét cho cùng kỳ lý, dĩ-vãng đã qua rồi, chẳng có cách chi mà diễn-tả lại đúng trăm phần trăm cho được, vì lẽ hình-ảnh cũ được nhắc lại thật-sự chỉ là sự tái-tạo, với nhiều thêm bớt, tô bóng hoặc bôi đen, và thái-độ cùng tình-cảm của người nói lẫn người nghe lại chính là tình-cảm và thái-độ đương-thời, chớ chẳng thể nào phù-hợp hoàn-toàn với khung-cảnh ngày trước. Đó là điều mà Vua Di-Lan và Tì-kheo Na-Tiên đã nhận-định tiếp theo:

– Ngay bây giờ, Ta có nhớ lại, nhưng chẳng giống đúng hẳn.

– Có thể là chẳng giống đúng, bởi vì Đại-Vương đã tưởng-tượng thêm ra.

Kế đó, sang qua tiểu-mục tiếp theo, số 082, Tì-kheo Na-Tiên đã vì vua Di-Lan mà kể ra 16 cách để nhớ lại việc cũ. Rất khó sắp-xếp cho có thứ-tự cả 16 cách nhớ nầy: nào là vì việc cũ là một đại-sự nên được nhớ dai, nào là vì khổ-sở, vì nghĩ đến điều lành mà hồi-tưởng lại cảnh cũ, nào là vì được nhắc lại, vì có tính-toán, có ghi chép, có chỉ-dạy cho kẻ khác, có mắc nợ-nần, v.v… mà chẳng quên việc xưa. Xét cho kỹ 16 ”cách nhớ” đó, hầu hết chẳng phải thật-sự là những ”cách” đã làm cho ta nhớ lại được, mà chỉ là những ”dịp”, những ”lúc”, nào mình được nhắc-nhở để nhớ ra lại. Trong khoa Tâm-lý-học ứng-dụng vào việc giáo-dục, có vài cách để dạy học-sinh nhớ dai. Xin tạm kể ra ba bốn điều, để phụ vào 16 ”cách” của Na-Tiên:

1.- Cách để nhớ dai đầu-tiên là phải chịu khó ôn lại. Điều đã học, dầu được ghi chép cẩn-thận, nếu lâu lâu chẳng giở ra xem lại, thì có thể quên đi mất. Vì thế, phương-châm của giáo-dục là sự lập-lại thật nhiều lần, sự thường ôn lại cho nhuần.

2.- Muốn nhớ kỹ một từ-ngữ lạ, thì phải vận-dụng các giác-quan cùng một lúc: tai nghe tiếng Thầy dạy, miệng lẩm-bẩm nhắc lại tiếng đó, tay viết lên giấy chữ đó, và mắt nhìn vào cho kỹ. Như thế, sau nầy rủi có quên, thì cả mấy giác-quan đó sẽ giúp cho việc cố nhớ lại.

3.- Khi muốn nhớ dai nhiều điều cùng một lúc, nên sắp-xếp các điều ấy thành một hay hai ”câu thiệu”, rồi học thuộc lòng, sau nầy sẽ nhớ lại được đủ hết. Thí-dụ, 21 tỉnh miền Nam Việt-Nam ngày xưa được ghi trong hai câu thiệu nầy:

Gia, Châu, Hà, Rạch, Trà, Sa, Bến, Long, Tân, Sóc;
Thủ, Tây, Biên, Mỹ, Bà, Chợ, Vĩnh, Gò, Cần, Bạc, Cấp.

Sau khi học thuộc lòng nhiều lần, hễ phải kể lại 21 tỉnh ấy, chỉ cần nhớ lại hai câu thiệu và thêm vào:

Gia-định, Châu-đốc, Hà-tiên, Rạch-giá, Trà-vinh, Sa-đéc,
Bến-tre, Long-xuyên, Tân-an, Sóc-trăng;
Thủ-dầu-một, Tây-ninh, Biên-hoà, Mỹ-tho, Bà-rịa, Chợ-lớn,
Vĩnh-long, Gò-công, Cần-thơ, Bạc-liêu và Cấp (Vũng-Tàu).

Đó là cách nhớ nhiều việc trong một lần.

4.- ”Trí nhớ ở đầu ngón tay”: học chữ Nho, một chữ có nhiều nét ngoằn-ngoèo, khi học chữ mới, đưa ngón tay trỏ vẽ chữ ấy lên trên không-khí nhiều lần, sau nầy muốn nhớ lại, lấy ngón tay cứ vẽ lại, sẽ dễ nhớ. Ap-dụng lối nhớ nầy tại các tủ đựng áo ở nhà trường dành cho mỗi học-sanh, mỗi trò có một ống khoá-số, mà bí-số (số bí-mật) dành riêng chỉ người xử-dụng biết mà thôi: dùng ngón tay mở tới mở lui nhiều lần, hằng ngày thì quen tay. Bỏ lâu chẳng dùng, như trong thời-gian nghỉ hè, đi học trở lại, quên mất bí-số, thì cứ lấy ngón tay xoay tới xoay lui một lát, may ra sẽ nhớ lại bí-số của mình…

Còn nhiều ”thuật” khác nữa, tùy theo sự tưởng-tượng phong-phú của từ cá-nhơn, nhưng với 16 cách nhớ của Na-Tiên đã quá nhiều rồi, Thiện-Nhựt chỉ dám kể thêm 4 cách nữa cho chẵn … hai chục!

Trước khi chấm dứt Phần Tìm hiểu về vấn-đề Trí-Huệ, lại một lần nữa, Thiện-Nhựt xin nhắc lại:

1.- Giáo-lý nhà Phật tuy rất bao-quát nhưng có thể thu-gọn lại về mặt thực-hành vào ba môn: Giới-Định-Huệ. Nhờ giữ giới thanh-tịnh mà hành-nghiệp được trong-sáng, khiến thân-tâm an-tịnh, tâm sớm vào định-lực. Nhờ có định-lực mạnh-mẽ mà Trí-huệ phát-triển, diệt-trừ các phiền-não, chướng-ngại, sớm đến nơi giác-ngộ và giải-thoát.

2.- Việc giác-ngộ và giải-thoát phải tự-mình thực-hiện lấy, chẳng thể nào trông-chờ vào sự cứu-rỗi của bất cứ ai. Và trong nỗ-lực nầy, hành-giả phải nhờ vào Trí-huệ sẵn-có nơi mình, được tăng-trưởng thêm dọc theo con đường tu-tập. Vì lẽ đó, vấn-đề Trí-huệ là vấn-đề hàng đầu mà người học Phật phải lưu-tâm đến.

3.- Phật-học có rất nhiều pháp-môn, từ niệm Phật vãng-sanh, giữ giới đầu-đà, tu-tập các cấp thiền-định, trì-chú theo mật-tông, v.v… có pháp-môn Bát-nhã (Trí-huệ) chủ-trương dùng các khả-năng của Trí-huệ tu-tập hầu sớm đắc Đạo. Nhưng việc đi sâu vào các chi-tiết của pháp-môn nầy lại nằm ngoài lãnh-vực Tìm hiểu quyển ”Tì-kheo Na-Tiên”, vì thế, Thiện-Nhựt chỉ nói lướt qua; người đọc muốn biết thêm, xin chịu phiền tìm đọc bản Kinh căn-bản của pháp-môn đó là bản Tâm-Kinh Bát-nhã Ba-la-mật, chỉ có võn-vẹn 260 chữ mà thôi.

—–*—–

VI.- Vấn-đề: Các loại cảm-thọ .

140.- Ba loại cảm-thọ: lạc-thọ, khổ-thọ và xả-thọ .

Mở đầu quyển Trung của ”Kinh Na-Tiên Tì-kheo”, tác-giả bàn về các loại cảm-thọ nơi tiểu-mục số 042, rất dài. Nhận-xét sơ-khởi là cuộc vấn-đáp giữa nhà Vua Di-Lan và vị Tì-kheo Na-Tiên đã đi quá sâu vào các chi-tiết nhỏ, hơi vụn-vặt, khiến cho người đọc khó lòng nhận ra được đại-cương và tầm quan-trọng của các cảm-thọ đối với việc tu-tập để đi đến sự giác-ngộ và giải-thoát.

Để tìm hiểu tiểu-mục rắc-rối nầy, trước hết xin tóm-tắt cuộc vấn-đáp và lời giải-thích của Na-Tiên về các cảm-thọ; sau đó sẽ đưa ra các nhận-xét về tiểu-mục đó:

A.- Tóm-tắt tiểu-mục số 042, về các cảm-thọ:

1.- Vua Di-Lan đặt vấn-đề: Con người cảm thấy vui, thì thiện hay bất thiện? Con người cảm thấy khổ, thì thiện hay bất-thiện?

2.- Na-Tiên chẳng trả lời ngay câu hỏi nầy, mà đưa ra một thí-dụ: tay trái nắm thanh sắt nung nóng đỏ, tay phải nắm hòn băng lạnh-buốt, cả hai tay đều bị phỏng cả. Rồi Na-Tiên hỏi: ”Cả hai tay bị nóng hay bị lạnh?” Khi nghe vua Di-Lan đáp: ”Một tay nóng, một tay lạnh, cùng bị phỏng cả”, thì Na-Tiên lại bảo: ”Cả hai tay đều nóng!”

3.- Chẳng hiểu được lời đáp của Na-Tiên, Vua xin giải-thích thêm. Na-Tiên chẳng giải-thích thêm ”tại sao khi bị phỏng, cả hai tay đều nóng” mà lại bảo rằng, trong Kinh Phật có nói đến việc đó và kể ra ba mươi sáu sự-việc gây nên các loại cảm-thọ vui, buồn, và chẳng vui chẳng buồn:

(a) sáu việc khiến cho lòng mừng: mắt thấy có chỗ hợp với sự mong-cầu, nên lòng mừng; và khi, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, miệng nếm vị, thân rờ vật, tâm nghĩ đến ý, nếu tất cả cảm-nhận đều hợp với sự mong-cầu, thì mừng trong lòng;

(b) sáu việc bên ngoài khiến trong lòng mừng: mắt thấy sắc đẹp, tai nghe tiếng tốt, mũi ngửi mùi thơm, miệng nếm vị ngon, thân chạm vật trơn-láng, tâm-ý nghĩ điều yêu-thích, nếu biết tất cả các cảm-nhận đó đều vô-thường, thì lòng sanh ra mừng;

(c) sáu việc bên trong khiến lòng buồn: khi bên trong lòng chẳng mong-muốn mà mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và tâm-ý phải cảm-nhận từ bên ngoài các điều bất-như-ý, thì sanh buồn lòng;

(d) sáu việc bên ngoài khiến lòng người chẳng mừng: thấy sắc xấu, nghe tiếng ác, ngửi mùi thúi, nếm vị đắng, thân chạm vật thô-cứng, tâm nhớ điều oán-ghét, thì sanh lòng chẳng vui;

(e) sáu việc khiến lòng chẳng mừng cũng chẳng rầu: sáu giác-quan cảm nhận các sự-việc chẳng đáng buồn cũng chẳng đáng vui thì trong lòng cũng chẳng mừng cũng chẳng rầu;

(f) sáu việc bên ngoài khiến cho lòng sầu: mắt thấy cái chết, nghĩ ra được lẽ vô-thường, tự-hỏi sao mình có được ý-niệm nầy rồi mà sao còn chưa đắc-đạo, vì thế lòng buồn. Nghe tiếng tốt hay xấu, ngửi mùi thơm hay thúi, nếm vị ngọt hay đắng, chạm vật thô hay láng, nhớ việc thương hay ghét, vẫn giữ thái-độ thản-nhiên, lại nghĩ mình đã có ý-niệm đó rồi, cớ sao lại chưa đắc-đạo, nên lòng buồn.

4.- Khi Na-Tiên kể xong ba mươi sáu việc đó, vua Di-Lan lại khen: ”Lành thay! Lành thay!”, rồi chuyển sang hỏi đến vấn-đề khác. Chẳng biết nhà Vua có hiểu tại sao Na-Tiên kể 36 sự-việc đó với dụng-ý gì hay không?

B.- Nhận xét:

1.- Nếu chỗ tóm-tắt trên đây theo sát được ý-tưởng trong bản nguyên-tác của ”Kinh Na-Tiên Tì-kheo”, thì quả thị, tiểu-mục số 042 trên đây đã ghi lại một cuộc đàm-luận giữa hai người: ”ông nói gà, bà nói vịt!” Sao dám nói hỗn-hào như thế? Vì:

– Na-Tiên chẳng đáp thẳng vào vấn-đề do vua Di-Lan nêu ra từ đầu: ”cảm-thọ vui và buồn là thiện hay bất-thiện?”

– Thí-dụ ”bị phỏng tay” của Na-Tiên chẳng thấy có mối liên-quan nào lớn với cảm-thọ. Bị phỏng tay là một cảm-giác. Còn khi bị phỏng tay thì lòng buồn, khổ, đó mới là một cảm-thọ. Cảm-giác khác cảm-thọ: cảm-giác là mức-độ cảm-xúc của cơ-thể trước một sự-kiện kích-thích từ bên ngoài. Cảm-thọ là một tình-cảm do một cảm-giác gây ra trong lòng. Một đằng, cảm-giác xảy trên thân; một đằng, cảm-thọ diễn ra trong tâm. Như thế, một tay bị nóng mà phỏng, một tay bị buốt mà phỏng, thì đó chỉ là hai cảm-giác thôi, có ăn nhằm chi đến cảm-thọ. Nếu có nói thêm rằng khi bị phỏng, bị rát ở da, thì đau, nên buồn lòng, bấy giờ sự buồn lòng đó mới là một cảm-thọ thực-sự. Do đó, ta có thể kết-luận rằng, thí-dụ bị phỏng tay chẳng liên-quan chi nhiều đến cảm-thọ, ngoài cái cảm-giác bị đau rát ở ngoài da.

2.- Đến việc kể ra ba mươi sáu cảm-thọ, ta cũng chẳng thấy Tì-kheo Na-Tiên nói có cảm-thọ nào thiện, cảm-tho nào bất-thiện để trả lới câu hỏi của vua Di-Lan đã đặt ra lúc khởi đầu. Thật ra, căn-cứ theo bản dịch của N.K.G. Mendis ở quyển The Questions of King Milinda, Luận-tạng có kể 36 thể-thức của các cảm-thọ, như sau:

– sáu loại lạc-thọ có liên-quan đến đời thế-tục;
– sáu loại lạc-thọ có liên-quan với sự xuất-thế;
– sáu loại khổ-thọ có liên-quan đến đời thế-tục;
– sáu loại khổ-thọ có liên-quan với sự xuất-thế;
– sáu loại xả-thọ có liên-quan đến đời thế-tục;
– sáu loại xả-thọ có liên-quan với sự xuất-thế;

Ba mươi sáu loại cảm-thọ nầy trải qua ba thời: quá-khứ, hiện-tại và vị-lại, nhơn lên thành một trăm lẻ tám loại cảm-thọ. Trong 108 loại nầy, loại nào là thiện, loại nào là bất-thiện; ta cũng chẳng thấy Mendis nêu ra để trả lời câu hỏi của vua Di-Lan.

Nhưng với một chút lý-luận, ta có thể trông thấy rõ được loại nào thiện, loại nào bất-thiện. Những cảm-thọ khổ và lạc nào có liên-quan đến đời thế-tục, vướng phải sự chấp-thủ thì đó là bất-thiện. Còn những cảm-thọ khổ và lạc có liên-quan đến sự từ-bỏ của việc xuất-thế, và tất cả xả-thọ thì đó là thiện. Tại sao vậy? Như đã biết qua khi xét về Lý Mười hai Nhân-Duyên, vì có Lục-nhập (= sáu giác-quan) nên có Xúc, vì có Xúc, nên có Thọ, vì có Thọ nên có Ai, vì có Ai nên có Thủ, tức là sự chấp-thủ; và vì có chấp-thủ nên mới bị lôi-cuốn mãi trôi lăn trong vòng Luân-hồi, đó chẳng phải là bất-thiện hay sao?

3.- Nếu được cho phép, Thiện Nhựt xin liều-lĩnh ráng viết lại cái tiểu-mục số 042 cho ngắn gọn mà ý-nghĩa cũng tạm khá đầy-đủ, như vầy:

Vua Di-Lan hỏi Na-Tiên:

– Con người khi cảm thấy vui hay buồn, thì thiện hay bất-thiện?

Na-Tiên đáp:

– Có ba loại cảm-thọ: lạc-thọ, khổ-thọ và xả-thọ. Lạc-thọ và khổ-thọ nào có liên-quan đến đời thế-tục, vướng phải sự chấp-thủ thì trở nên bất-thiện. Các xả-thọ cùng các cảm-thọ lạc và khổ

nào có liên-quan đến sự từ-khước, rời bỏ các ràng-buộc của đời thế-tục, và chẳng chấp-thủ, thì trở nên thiện.

Vua hỏi tiếp:

– Thế nào là lạc-thọ, là khổ-thọ, là xả-thọ?

– Lạc-thọ là cảm-thọ vui; khổ-thọ là cảm-thọ buồn, và xả-thọ là cảm-thọ chẳng vui mà cũng chẳng buồn.

Vua lại hỏi:

– Cảm-thọ với cảm-giác khác nhau ra làm sao?

– Khi các giác-quan tiếp-xúc với cảnh bên ngoài, có phản- ứng trên thân-thể, đó là cảm-giác. Cảm-giác có thể là đau, là sướng, hoặc chẳng sướng chẳng đau. Khi cảm-giác được truyền vào tâm, có sự cảm-nhận ở tâm, đó là cảm-thọ. Cảm-thọ vui (lạc-thọ) khi tâm thoải-mái và thân cảm thấy sướng; cảm-thọ buồn (khổ-thọ) khi thân khó chịu và tâm bứt-rứt. Cảm-giác chẳng đau, chẳng sướng thường đưa đến trong tâm một cảm- nhận trung-hoà, nên thường gọi là xả-thọ. Nhưng chữ xả trong Phật-học lại có nghĩa rộng hơn: gặp việc như ý, chẳng vui thích quá; gặp việc chẳng vừa ý, chẳng oán-ghét quá, đó là tâm xả, tâm quân-bình, thản-nhiên, chẳng quá xúc-động. Trong sự tu- hành, giữ được tâm an-nhiên, xả-bỏ muôn sự-việc mà biết chẳng cố-chấp điều gì cả thì tâm sớm được giải-thoát…

—–*—–

VII.- Vấn-đề: Đắc Đạo và cõi Niết-bàn.

141.- Vấn-đề đắc Đạo trong quyển ”Tì-kheo Na-Tiên”

Mục-tiêu của người tu-hành là sớm đắc Đạo; vấn-đề nầy được cứu-xét trong cuốn ”Tì-kheo Na-Tiên” rải rác trong ba quyển: Thượng, Trung, và Hạ. Các câu hỏi tùy hứng của vua Di-Lan về vấn-đề đắc Đạo và cõi Niết-bàn, dàn trải qua các tiểu-mục sau đây:

số 041: Vì sao bực đắc Đạo còn sống phải chịu khổ?
số 046: Chẳng có thời-gian đối với bực đã đắc Đạo;
số 065: Niết-bàn là vượt qua chẳng trở lại.
số 066: Đắc Đạo Niết-bàn
số 067: Dầu chưa đắc, cũng biết Niết-bàn là sướng;
số 074: Có Niết-bàn chăng?
số 080: Bực đắc Đạo khác với kẻ chưa đắc Đạo;
số 086: Bực La-hán có thể bay lên trời Đại-Phạm;
số 088: Dùng bảy việc để học biết Đạo;
số 091: Sức thần-túc;
số 092: Ngưng hơi thở;
số 094, trang 75: Tư-duy đến các việc cao-thâm.

Để việc Tìm hiểu Nghĩa Ý cho có lớp-lang, sự sắp-xếp lại các tiểu-mục vừa kể rất cần-thiết, theo thứ-tự sau đây:

a.- từ lúc mới học Đạo,
b.- đến lúc đắc Đạo, được những khả-năng nào;
c.-cõi Niết-bàn ra sao?
d.- bao giờ nhập vào cõi Niết-Bàn;

*

142.- Làm cách nào để học biết Đạo?

Giờ đây, xin bắt đầu với tiểu-mục số 088:

Vua hỏi Na-Tiên:

– Con người dùng bao nhiêu việc để học biết Đạo?

– Dùng bảy việc để học biết Đạo.

Rồi Na-Tiên kể ra: (1) phân-biệt điều lành, việc ác; (2) tinh-tấn; (3) vui Đạo; (4) chế-phục tâm-ý theo điều lành; (6) nhứt-tâm; (7) gặp mọi cảnh-ngộ chẳng yêu-ghét. Bảy điều nầy, Na-Tiên nói thêm, bất-tất phải dùng hết, điều quan-trọng nhứt là hễ biết phân-biệt thiện-ác, thì cũng đủ. Nghe nói thế, Vua hỏi thêm:

– Nếu chỉ dùng một việc mà biết được Đạo, tại sao lại nói chi đến cả bảy việc?

Na-Tiên trả lời bằng một thí-dụ rất hay: như cầm con dao còn đựng trong hộp thì đâu có thể cắt đứt vật chi được; lòng con người tuy sáng-suốt hiểu rõ, nhưng cũng nên hội đủ sáu việc kia lại thì mới thành Trí. Nghe xong, vua khen: Lành thay!

Nhưng Thiện-Nhựt lại ”thày-lay” nhắc thêm rằng: muốn biết Đạo và học Đạo, hành-giả chỉ cần tuân-thủ ba điều: Giới-Định-Huệ thôi, và ba điều nầy sẽ đưa đến Trí-Huệ sáng-suốt để thấy rõ-ràng con đường Đạo giải-thoát.

*

143.- Bực đắc Đạo khác kẻ chưa đắc Đạo ở điểm nào?

Trở ngược lại với tiểu-mục số 080, ta thấy:

Vua hỏi Na-Tiên:

– Bực đã đắc đạo và người chưa đắc đạo khác nhau ra sao?

– Kẻ chưa đắc đạo còn tâm ham-muốn; còn bực đã đắc đạo thì hết tham-tâm, … chẳng vì khoái-lạc, chỉ cần ăn để nuôi mạng sống…

Như thế, đặc-điểm của người đắc Đạo, theo Na-Tiên, là dứt được Tâm tham. Tham-dục đứng đầu trong tam độc, nghĩa là ba món độc-hại mà người đắc Đạo đã diệt trừ xong: tham, sân và si.

Nhưng người đắc Đạo chẳng những chỉ dứt bỏ ba độc mà thôi, các bực ấy còn được hoàn-toàn giải-thoát nữa. Cái chi được giải-thoát và giải-thoát khỏi những gì? Sự giải-thoát có hai phương-diện: (1) tâm giải-thoát, (2)trí-huệ giải-thoát. Tâm được giải-thoát khỏi các phiền-não chướng, tức là các trở ngại do phiền-não gây ra; kể chung là: tham, sân, si, mạn, nghi và ác-kiến. (Mạn là kiêu-căng, phách-lối; ác-kiến là các tà-kiến: thường-kiến, đoạn-kiến, ngã-kiến, thân-kiến). Trí-huệ được giải-thoát khỏi các sở-tri-chướng, tức là các trở ngại do các kiến-thức sai-lầm gây nên vì quá ôm-chặt.

Người đắc Đạo lại còn đạt được các quả-vị nữa. Nam-Tông có bốn quả-vị: (1) Tu-đà-huờn, (2) Tư-đà-hàm, (3) A-na-hàm, và (4) A-la-hán. Bắc-Tông có các cấp Bồ-tát: (1) Thập tín, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi-hướng, Thập điạ, (2) Đẳng-giác, (3) Diệu-giác. Quả-vị cao nhứt là quả-vị Vô-thượng Chánh-đẳng Chánh-giác, tức là quả-vị Phật.

Và đây là đặc-điểm quan-trọng nhứt của bực đã đắc Đạo là mình tự biết mình được giải-thoát, được sống tự-tại, nhưng chẳng bao giờ phô-trương rằng mình đã đắc được Đạo nầy hay Quả kia.

*

144.- Bực đắc Đạo có những khả-năng nào?

Đối với thường-nhơn, bực đắc Đạo chắc phải có nhiều khả-năng hơn người chưa tu-hành, và muốn biết vị ấy có các ”tài phép” gì mà họ còn chưa có được. Vì lẽ đó, nơi tiểu-mục số 086, Vua Di-Lan mới hỏi Na-Tiên:

– Sa-môn các khanh bảo, bực đắc A-la-hán có thể bay lên cõi Trời Đại-Phạm trong thời-gian một người co-duỗi cánh tay thôi, Ta chẳng thể tin lời ấy được, tại sao vượt qua bao nhiêu ngàn muôn ức dặm như thế mà đến được nhanh-chóng vậy?

Na-Tiên chẳng trả lời thẳng, mà mời Vua thử nghĩ đến thành-phố A-lệ-tán, cách đây hơn tám vạn dặm. Vua liền nghĩ trong đầu đến thành-phố ấy. Khi Vua nghĩ xong, Na-Tiên bảo:

– Đại-Vương đã đi qua tám vạn dặm rồi trở về đây, sao mà nhanh thế?

Khen lối giải-thích nầy của Na-Tiên, Vua nói: ”Lành thay!” Như thế, cái khả-năng bay đi xa và nhanh của bực đắc Đạo, theo Na-Tiên, chỉ là sự nhanh-chóng của tư-tưởng có thể vượt qua không-gian chỉ một khoảnh-khắc của cái co-duỗi cánh tay. Phải chăng ”thần-thông” biết bay trong không-gian chỉ thực-hiện được bằng tư-tưởng mà thôi? Nghi-vấn nầy được Na-Tiên ”phá bỏ” nơi tiểu-mục số 091, khi vua hỏi:

– Con người có khả-năng dùng thân-thể nầy bay lên từng trời thứ bảy cõi Đại-Phạm-thiên và đến xứ Bắc-câu-lư-châu rồi trở về chăng?

– Có thể được. (…) Bực đắc Đạo muốn nhảy đến từng Trời thứ bảy cõi Đại-Phạm-thiên và đến xứ Bắc-câu-lư-châu cũng được như-ý vậy.

Theo Na-Tiên, bực đắc Đạo còn có thể luyện-tập thân-thể, ngay cả việc ngưng hơi thở cũng được như ý muốn nữa. Nơi tiểu-mục số 092, Na-Tiên nói:

– … Còn với bực học Đạo có khả-năng chế-phục thân miệng, trì giữ Kinh-giới, do sự nhứt-tâm mà đắc được Tứ-Thiền, do đó liền ngưng được hơi thở ra vào.

Về các khả-năng siêu-phàm của các bực đắc Đạo, Thiện-Nhựt xin dựa vào lời giảng trong Kinh-sách, có vài nhận-xét như sau:

1.- Khi thành Đạo tại Bồ-đề đạo-tràng, Đức Phật có đủ tam minh: (1) túc-mạng-minh, nhớ lại được hết các kiếp trước; (2) thiên-nhãn-minh, thấy rõ các chúng-sanh chết nơi đây, sanh lại nơi kia; (3) lậu-tận-minh, biết rõ đã dứt hết các phiền-não.

2.- Có sáu thần-thông, gọi là lục thông: (1) thiên-nhãn-thông, (2) thiên-nhĩ-thông, (3) túc-mạng-thông, (4) tha-tâm-thông, (5) thần-túc-thông, và (6) lậu-tận-thông.

3.- Với các tiến-bộ khoa-học hiện-đại về không-gian, vấn-đề Thần-túc-thông (thân bay trong không-gian) có thể được nhìn dưới một khiá-cạnh khác: thần-thông nầy phải chăng cũng chỉ là một phương-tiện di-chuyển đặc-biệt do các tu-hành đã luyện-tập được, nhưng rất tiếc là các bực đắc Đạo chơn-chánh chẳng bao giờ chịu khó thi-triển cho ta thấy để phá-tan mọi sự ngờ-vực.

4.- Việc ngưng hơi thở hẳn trong một thời-gian thật dài tuy chẳng thể thực-hiện được, nhưng nơi thiền-giả đã đắc các mức Thiền-định cao-cấp, hơi thở trở nên thật tế-nhị, cơ-hồ chẳng còn nghe thấy đến.

*

145.- Bực đắc Đạo suy-tư đến các điều cao-thâm.

Ngoài các khả-năng siêu-phàm ra, các bực đắc Đạo còn hiểu thấu rành-rẽ các lời nói bí-ẩn cao-xa thâm-diệu trong Kinh-Luận nữa. Đó là điều mà Vua Di-Lan muốn Tì-kheo Na-Tiên khẳng-định:

– Bực đã đắc Đạo có khả-năng suy-nghĩ đến tất cả các sự-việc cao-xa thâm-diệu chăng?

– Dĩ nhiên, các bực ấy có đủ khả-năng tư-duy mọi việc thâm-ảo. Kinh Phật thật hết sức là thâm-ảo về mọi sự-việc, chẳng thể nào đo-lường nổi, tất cả mọi sự-việc ấy đều phải do trí-huệ đoán-định ra.

Điều mà Na-Tiên gọi ”chẳng thể đo-lường nổi”, phải chăng nằm trong loại các vấn-đề mà Đức Phật đã xem như bất khả tư-nghì, tức là các vấn-đề xuất-thế-gian mà con người thế-tục chẳng thể dùng lời-lẽ ở thế-gian hiểu cho tường-tận được. Các điều đó, bực đắc Đạo có đủ khả-năng để thông-đạt được. Và đối với chúng ta còn đang học Đạo, tưởng cũng đừng quá thắc-mắc về các vấn-đề siêu-hình, cứ bình-tâm tu-tập mãi, sẽ có ngày bừng sáng lên mà giác-ngộ được.

*

146.- Niết-bàn là gì?

Trước khi trả lời câu hỏi trên, có liên-quan đến các tiểu-mục số 046; số 065; số 066; số 074, bàn đến Niết-bàn, ta hãy tìm hiểu nghĩa gốc của chữ nầy.

Tiếng Phạn (Sanscrit: Nirvana; Pali: Nibbàna) được phiên-âm ra tiếng Hán-Việt bằng hai cách: (1) Nê-hoàn, hoặc (2) Niết-bàn; nhưng từ-ngữ Niết-bàn được thông-dụng hơn. Chữ Niết-bàn có nghĩa gốc như sau: Nir là ra khỏi; Vana là khu rừng u-tối; như vậy, theo nghĩa đen thì ”đắc Niết-bàn” là ra khỏi khu rừng âm-u; và theo nghĩa rộng là lià bỏ được nơi đen-tối, phiền-muộn. Nghĩa chuyên-môn trong Phật-học, Niết-bàn là cảnh-giới an-tịch vắng-vẻ, chẳng còn khổ-sở, trỏ vào tâm-trạng của hành-giả đã diệt-trừ xong tất cả các phiền-não và các chướng-ngại, sống trong cảnh an-nhiên, tự-tại. Đừng lầm khi cho rằng Niết-bàn là một nơi chốn xa-xôi nào đó, hết khổ, chỉ có sướng thôi, mà người tu-hành mong đi đến đấy.

Phật-học phân-biệt hai loại Niết-bàn: (1) Hữu-dư Niết-bàn, cảnh-giới của bực đắc quả-vị A-la-hán, chẳng còn tái-sanh nữa, dứt trừ hết phiền-não nơi tâm, còn tấm thân nầy sống an-nhiên và tự-tại; (2) Vô-dư Niết-bàn, cảnh-giới an-tịch của hành-giả đắc A-la-hán, sau khi trút bỏ tấm thân thể-xác đã dứt hết nghiệp-báo. Chữ ”dư,” trong Hữu-dư, là dư-y, là các nghiệp-báo còn sót lại; vô-dư là vô-dư-y là đã dứt sạch hết các nghiệp-báo.

Giờ đây xin quay lại với tiểu-mục số 074, Phần Phỏng-dịch: Có Niết-bàn chăng? Vua Di-Lan hỏi Na-Tiên:

– Nghĩ cho kỹ, có Niết-bàn chăng?

– Xét cho kỹ thì có Niết-bàn.

– Na-Tiên có thể chỉ cho Ta thấy Đức Phật ở tại xứ-sở nào nơi Niết-bàn chăng?

– Chẳng thể chỉ cho thấy được… Ví như có người đốt lửa to lên, rồi dập tắt… thì ta đâu thể chỉ rõ ánh lửa sáng hiện ở chỗ nào được.

Lời đối-đáp nầy cho thấy rõ: Niết-bàn chẳng phải là nơi chốn, để có thể chỉ bằng tay cho mắt thấy được. (Điều nhận-xét nầy đã có ở một đoạn trước.)

Trở lại tiểu-mục số 046 về Thời-gian, Na-Tiên có nói:

– Đối với bực đã đắc Nê-hoàn (Niết-bàn) thì chẳng có thời-gian dài lâu; đối với kẻ chưa đắc đạo còn phải sống đi chết lại thì có thời-gian lâu dài…

Đây là đặc-tánh thường-hằng của Niết-bàn, một ý-niệm siêu-thế có tánh-cách phi-thời-gian-tính: Niết-bàn ở đó, còn đó, mãi-mãi như vậy là như vậy.

Đặc-tánh phi thời-gian-tính của Niết-bàn rất gần với ý-nghĩa của ”Đạo Niết-bàn là vượt qua, chẳng trở lại” được nói tại tiểu-mục số 065, Phần Phỏng-dịch:

Vua hỏi Na-Tiên:

– Đạo Niết-bàn là vượt qua đi mà chẳng còn có chỗ nào trở lại nữa chăng?

– Đạo Niết-bàn chẳng còn chỗ nào là có trở lại nữa. Người ngu-mê cứ mãi lo cho tấm thân trong ngoài, thích được ngồi êm; cho nên chẳng thể đắc độ-thoát khỏi sanh, già, bịnh, chết. Người hiền-trí học Đạo, trong ngoài thân chẳng vướng-mắc: chẳng ân-ái, chẳng ham-muốn nên chẳng có bào-thai; chẳng có bào-thai thì chẳng sanh, già, bịnh, chết; hễ chẳng sanh, già, bịnh, chết thì chẳng sầu lo, nội-tâm chẳng đau-đớn, tức liền đắc đạo Niết-bàn.

Nhà Vua lại tò-mò hỏi, nơi tiểu-mục số 066:

– Các người học Đạo tất đắc được Niết-bàn hết cả chăng?

– Chẳng đắc được Niết-bàn hết tất cả. Các bực học đạo chơn-chánh, hướng về điều thiện, niệm điều thiện, phụng-hành điều thiện, chỗ chẳng đáng niệm, chẳng đáng phụng-hành thì lìền lià xa, dứt bỏ; người như thế thì đắc Niết-bàn.

Và nơi tiểu-mục tiếp theo, số 067, Vua cũng tò-mò hỏi thêm Na-Tiên về người chưa đắc Niết-bàn:

– Người chưa đắc được Niết-bàn, có thể biết Niết-bàn là điều sướng-khoái chăng?

– Dĩ nhiên, người tuy chưa đắc được Niết-bàn cũng biết Niết-bàn là sướng-khoái.

Vì lý-do nào, chưa chứng thấy mà lại biết chắc? Tại vì, theo lời Na-Tiên, thấy người đi trước đắc Niết-bàn được sung-sướng, kẻ đi sau biết chắc Niết-bàn là an-vui. Và Na-Tiên đưa ra một thí-dụ tương-tự rất xác-đáng: cũng như thấy kẻ bị cắt chơn tay đang la-khóc, thì ta biết ngay rằng, hễ bị chặt tay chơn là có đau-khổ, mặc dầu thân-thể của mình vẫn còn lành-lặn. Vậy, tuy tự mình chưa chứng thấy, chưa có được kinh- nghiệm bản-thân, nhưng thấy kẻ khác đang vui hưởng an-lạc trong cảnh-giới Niết-bàn, thì mình cũng biết chắc Niết-bàn là sướng-khoái.

*

147.- Sống đến bao giờ mới ”nhập Niết-bàn”?

Ngoài ý-kiến sai-lầm cho rằng Niết-bàn là một nơi chốn ra, thường-nhơn lại còn lầm-tưởng ”đắc Niết-bàn” hoặc ”nhập Niết-bàn” là chết đi; họ còn chưa hiểu được Niết-bàn ở tại đây và ngay bây giờ. Như đã biết, Phật-học phân-biệt Hữu-dư Niết-bàn với Vô-dư Niết-bàn ở chỗ là người còn sanh-hoạt tại thế-gian, vẫn đắc được Niết-bàn, một khi được giải-thoát khỏi mọi phiền-não ràng-buộc, sống cuộc đời an-nhiên tự-tại. Có lẽ, vì thường thấy khi một vị cao-tăng nào qua đời, người ta bảo vị ấy đã viên-tịch, đã nhập-diệt, đã đi vào cõi Niết-bàn rồi, nên phần đông dân chúng đã đồng-hóa chữ Niết-bàn với cái chết của một bực tu-hành. Đâu phải vậy! Niết-bàn là một cảnh-giới, đúng ra là một tâm-trạng của con người đã hoàn-toàn giải-thoát khỏi các phiền-não, ràng-buộc. Người đắc Đạo vẫn sống, và sống trong cảnh-giới Niết-bàn ngay tại đây và hiện bây giờ!

Tiểu-mục số 041, chấm dứt Quyển Thượng, đã nêu lên thắc-mắc của vua Di-Lan về: tại sao bực đắc-đạo còn sống lại phải chịu khổ?, và được Tì-kheo Na-Tiên phá-giải bằng một lời nói vô-cùng thâm-thúy của Đại-đức Xá-lợi-phất (Pali: Sariputta). Ta nên đọc kỹ tiểu-mục ấy, tóm-tắt lại, rồi sau đó sẽ có vài nhận-xét.

Vua Di-Lan hỏi Na-Tiên:

– Như người đắc đạo, chẳng phải sanh lại ở đời sau, có còn phải chịu cảnh khổ nữa không?

– Hoặc còn phải chịu khổ nữa, hoặc chẳng còn phải khổ nữa.

– Thế nào là còn phải chịu khổ, là chẳng phải chịu khổ nữa?

– Thân còn chịu khổ; tâm-ý hết chịu khổ. Sở dĩ thân còn phải chịu khổ là vì trong hiện-tại thân đó còn là nguồn-gốc của sự khổ.

Tâm-ý sở dĩ hết khổ là vì đã dứt bỏ tất cả các điều ác, chẳng còn ham-muốn chi, cho nên chẳng phải chịu khổ nữa.

– Nếu như người đắc đạo chẳng thể lià thân khổ nầy, thì đó là chưa đắc được đạo Nê-hoàn (= Niết-bàn) chăng? Người đắc đạo chẳng còn ân-ái, mà thân còn khổ, dẫu tâm-ý đã an-ổn, thì sự đắc đạo để làm gì? Nếu như người đắc đạo đã thành-công, thì vì cớ gì mà còn lưu lại ở đây?

– Thí dụ như trên cây, trái còn chưa chín thì chẳng vội hái, nên đợi cho chín muồi. Đại-Vương có biết lời nói của Đại-đức Xá-lợi-phất chăng. Ngài Xá-lợi-phất lúc còn sống có nói: ”Tôi chẳng cầu chết, tôi cũng chẳng cầu sống, tôi chỉ chờ đúng thời ra đi thì ra đi.”

Vua khen ngợi: ”Lành thay! Lành thay!”

Tóm-tắt:

Vua Di-Lan có hai thắc-mắc: (1) người đang sống đắc đạo có còn phải chịu khổ nữa không?; (2) đã đắc đạo rồi mà thân vẫn còn khổ, sao chẳng lìa thân đi; nếu giữ thân sống thêm, hóa ra đắc-đạo chẳng vô-ích lắm hay sao?

Về thắc-mắc thứ nhứt, Na-Tiên giải-đáp: người đã đắc đạo còn sống thì thân còn khổ mà tâm dứt hết các phiền-não rồi nên hết khổ.

Để giải-tỏa mối thắc-mắc thứ hai về việc ”tìm cái chết cho hết khổ”, Na-Tiên đưa ra một thí-dụ rất hay: ”trái cây chưa chín, chưa vội hái, nên đợi lúc trái đã chín muồi.”

Và Na-Tiên nhắc lại lời nói vô cùng quí-báu của Ngài Xá-lợi-phất: ”Tôi chẳng cầu chết, tôi cũng chẳng cầu sống, tôi chỉ chờ đúng thời ra đi thì ra đi.”

Nhận-xét:

1.- Người đắc đạo đang sống thì thân vẫn còn cảm-xúc nên phải chịu cảnh khổ của già và bịnh; nhưng về phần tinh-thần, tâm-ý đã thoát khỏi các phiền-não, chướng-ngại, nên được an-nhiên, tự-tại. Đây là dịp khiến ta nên suy-gẫm đến hai chữ đau-khổ trong tiếng Việt. Đau khác, Khổ khác. Đau là thân đau; còn Khổ là tâm khổ; như khi có cái răng đau, miệng thì nhức-nhối, sao ta lại còn chồng thêm nỗi khổ lên cho tâm, để khiến lòng phải buồn-bực, bứt-rứt? Đau răng vẫn còn chưa đủ hay sao, mà lại sanh thêm bực-tức, cau-có để gây Khổ cho lòng mình và cho cả các người ở chung quanh?

2.- Thử phân-tách và tìm hiểu thêm về câu nói quí-báu của Ngài Xá-lợi-phất:

a.- Tôi chẳng cầu chết: Tại sao? Vì tấm thân hiện nay còn đây chỉ là tấm thân dư-y; sở dĩ còn sống là để trả nốt các dư-nghiệp còn sót lại. Hơn nữa, cầu chết là thái-độ trốn tránh nợ đời; khi nghiệp-lực vẫn còn mà cầu lấy cái chết, thì theo vòng Luân-hồi phải tái-sanh lại, để rồi lại phải chịu Khổ dài-dài. Lại nữa, mạng-sống con người là điều vô-cùng quí-giá, nhờ nó mà ta mới có đủ cơ-duyên biết đến, và tu-tập theo, con đường giải-thoát vĩnh-viễn.

b.- Tôi cũng chẳng cầu sống: Tại sao? Khi sanh ra, nào phải tự tôi cầu cho tôi được sanh ra đâu, vòng Luân-hồi cứ xoay chuyển mãi theo nghiệp-lực cũ mà tái-sanh. Trong cuộc sống hiện-tại còn lại đây, mọi sự ham-muốn đều chấm dứt nơi tâm tôi, còn có điều chi nữa khiến tôi cố đòi ham sống để hưởng? Tâm tôi an-nhiên xem cả hai sự sống và sự chết đều ngang nhau; sống gởi, thác về, nào có chi mà ngại, mà cầu chớ?

c.- Tôi chỉ chờ đúng thời ra đi thì ra đi: Lúc nào mới đúng thời ra đi? Đó là lúc đã dứt sạch nghiệp, do một cái chết tự-nhiên và thanh-thản mang đến. Tôi ra đi, chẳng chút luyến-tiếc, cũng chẳng chút háo-hức, an-nhiên mà ra đi vào cõi vắng-lặng.

d.- Đây là lời nói của một bực đắc đạo, hoàn-toàn giác-ngộ về lẽ sống chết trong vòng Luân-hồi và con đường giải-thoát về nơi an-lạc vĩnh-cửu. Tưởng nên đóng khung lại câu nói ngàn vàng nầy, để ghi lấy làm điều tâm-niệm:

* Tôi chẳng cầu chết, tôi cũng chẳng cầu sống,

* Tôi chỉ chờ đúng thời ra đi, thì ra đi.

—–*—–

VIII.- Vấn-đề: Phật

Chữ Phật là tiếng phiên-âm từ chữ Phạn Buddha, có nghĩa là giác-ngộ. Đức Phật Thích-ca mâu-ni là một bực đại-giác, có thật trong lịch-sử. Trong quyển ”Tì-kheo Na-Tiên” nầy, vấn-đề: Phật được nói đến rải-rác qua các tiểu-mục:

số 068: Chưa từng thấy Phật đâu có nghĩa là chẳng có Phật;
số 069: Chẳng ai thắng nổi Đức Phật;
số 076: Thân-tướng trang-nghiêm của Đức Phật;
số 077: Đức Phật đâu phải là đệ-tử của Đại-Phạm Thiên;
số 078: Đức Phật tự biết lấy Kinh-kệ và Giới-luật;
số 083: Đức Phật biết hết cả, sao chẳng dạy một lần?

Sắp-xếp lại các tiểu-mục kể trên theo thứ-tự về nội-dung, ta có:

1.- Thân-tướng trang-nghiêm của Đức Phật;

2.- Khả-năng siêu-việt của Đức Phật:

a.- Tự biết lấy Kinh-Kệ và Giới-luật;Ngài chẳng phải là đệ-tử của vị Đại-Phạm Thiên-Vương.
b.- Đức Phật biết hết cả, sao chẳng dạy đệ-tử hết một lần?
c.- Chẳng ai thắng nổi Đức Phật.

*

148.- 32 tướng trang-nghiêm trên thân Phật.

Nơi tiểu-mục số 076, Phần Phỏng-dịch, Vua Di-Lan có hỏi Tì-kheo Na-Tiên về thân-tướng trang-nghiêm của Đức Phật:

– Đức Phật thật có 32 tướng trang-nghiêm, 80 vẻ đẹp tùy-hình, thân màu vàng ròng tỏa ánh hào-quang chăng?

Na-Tiên đáp, Đức Phật có đủ các tướng ấy. Vua lại hỏi tiếp:

– Cha mẹ Đức Phật cũng có đủ các tướng đẹp đó chăng?

Khi nghe Na-Tiên đáp, chẳng có, nhà Vua liền kết-luận:

– Đời người sống chết hình-tướng đều giống theo chủng-loại của mình. Cha mẹ Đức Phật đã chẳng có các tướng tốt ấy, thì xét kỹ, Đức Phật nhứt-định chẳng có các tướng trang-nghiêm ấy.

Để bác-bỏ lập-luận của nhà Vua, Na-Tiên lấy thí-dụ hoa sen nở trong bùn mà chẳng giống với bùn đen nước đục, lại có hương thơm ngào-ngạt, và kết-luận:

– Tuy cha mẹ của Đức Phật chẳng có các tướng trang-nghiêm đó, nhưng xét kỹ ra Đức Phật lại có đủ các tướng đẹp. Đức Phật sanh ra ở thế-gian, lớn lên ở thế-gian, mà chẳng giống theo sự-đời ở thế-gian.

Vua chấp-nhận lời giải-thích và khen: ”Lành thay!”

Về vẻ đẹp tôn-nghiêm trên thân-hình của Đức Phật, các Kinh-sách và Từ-điển Phật-học có kể rõ đủ cả; ta chỉ cần nhớ các đặc-điểm quan-trọng, ngày nay thường thấy trên các tượng Phật, như: nhục-kế, núm thịt trên đỉnh đầu, hai tai dài thòng xuống đến gần vai, tấm thân vàng chói…

Tiểu-mục số 068, kết-thúc quyển Trung của sách ”Tì-kheo Na-Tiên” nầy, ghi lại cuộc vấn-đáp lý-thú giữ Vua Di-Lan và Tì-kheo Na-Tiên, về vấn-đề: ”Đức Phật có thật hay chẳng có thật?”

Vua hỏi Na-Tiên:

– Na-Tiên có từng thấy Đức Phật chưa?

– Chưa từng thấy Đức Phật.

Rồi Vua lại hỏi liên-tiếp, Sư-phụ của Na-Tiên, các vị Tổ-sư khác có thấy Đức Phật chăng? Trước lời đáp của Na-Tiên, các vị đó chưa từng thấy Đức Phật, Vua đi đến kết-luận là: hễ chưa ai thấy Phật, tức là chẳng hề có Đức Phật. Lời kết-luận hơi vội-vàng nầy của Vua bị Na-Tiên bác-bỏ một cách gián-tiếp với thí-dụ về năm trăm con sông đổ chung về một chỗ. Vua chẳng thấy chỗ ấy, các vị tiền-vương cũng chẳng thấy, nhưng chỗ ấy vẫn có thật.

Lập-luận nầy của Tì-kheo Na-Tiên dạy ta một điều quan-trọng: sự-việc mình còn chưa thấy, chẳng nên quả-quyết vội-vã rằng việc ấy chẳng hề có thật. Biết đâu sự-việc ấy hiện có tại một cảnh-giới khác hoặc đã xảy ra vào một thời-đại xa-xưa nào mà người thế-tục hiện nay chẳng chứng-kiến được, để thấy bằng mắt, nghe bằng tai. Trường-hợp hiển-nhiên là các luồng sóng âm-thanh truyền lan khắp không-gian mà con mắt thịt, lỗ tai trần, đâu cảm-nhận được. Tưởng nên có một thái-độ dè-dặt, chẳng quá tin, mà chẳng bác-bỏ hẳn.

*

149.- Khả-năng siêu-việt của Đức Phật.

Những người sùng-tín thường tin-tưởng rằng vị Giáo-chủ của tôn-giáo mình đang theo là một đấng toàn-năng, toàn trí, siêu-việt. Đó chẳng phải là điều mà người Phật-tửchơn-chánh tha-thiết ôm-ấp trong lòng.

Nơi tiểu-mục số 078, Vua Di-Lan hỏi Na-Tiên:

– Đức Phật có học biết và phụng-hành tất cả Kinh-kệ và Giới-luật chăng?

– Đức Phật có học biết và phụng-hành tất cả Kinh-kệ và Giới-luật.

– Đức Phật theo bực Thầy nào mà học biết như thế?

– Đức Phật chẳng có Thầy. Khi đắc đạo, Đức Phật tự mình hiểu biết hết tất cả Kinh-kệ và Giới-luật…

Như thế, có lẽ theo Na-Tiên, trước khi thành Đạo, phải chăng tu-sĩ Cồ-đàm đã chẳng theo học Đạo với một vị thầy nào chăng? Theo tài-liệu lịch-sử, khi vừa xuất-gia, tu-sĩ Cồ-đàm (Pali: Gotama) có theo học Thiền với hai thiền-sư ngoại-đạo tên là: (1) Alara Kalama; (2)Uddaka Ramaputta. Vì nhận thấy hai bực Thiền-định cao-cấp nầy: (1) Vô-sở-hữu-định, (2)Phi-tưởng phi phi-tưởng-định, chẳng đưa đến sự giải-thoát hoàn-toàn, nên tu-sĩ Cồ-đàm bỏ đi, và tự tìm ra lấy con đường Đạo để tu-tập đến ngày đắc quả-vị Phật. Trí-huệ của Ngài khi đắc đạo là Trí vô-sư, chẳng phải nhờ có Thầy mới thông-hiểu được.

Nơi tiểu-mục số 077, Vua Di-Lan có nói đến một phạm-hạnh của Đứ c Phật (là chẳng giao-hội với phụ-nữ) cũng giống với phạm-hạnh của vị Trời ở từng thứ bảy cõi Dục-giới là vị Đại-Phạm Thiên-Vương, và kết-luận: Đức Phật là đệ-tử của vua Trời Đại-Phạm. Na-Tiên bác-bỏ lý-luận sai-lầm nầy bằng cách hỏi lại Vua:

– Đệ-tử của vị Trời Đại-Phạm có niệm hay chẳng có niệm?

– Đệ-tử của Đại-Phạm Thiên-Vương vẫn còn có niệm.

– Như thế, vị Trời Đại-Phạm và các đệ-tử cũng đều là đệ-tử của Đức Phật cả.

Tại sao? Vì nơi Đức Phật chánh-niệm lúc nào cũng sáng-tỏ, và mọi vọng-niệm đã được dứt sạch từ lâu.

Nơi tiểu-mục số 083, Vua Di-Lan hỏi Na-Tiên:

– Đức Phật biết hết tất cả những sự-việc đã qua từ lúc khởi thủy cho đến cả các việc trong tương-lai nữa chăng?

– Dĩ nhiên, Đức Phật biết hết tất cả mọi sự-việc.

Cái trí thông-hiểu hết tất cả muôn sự-sự vật-vật, trong Kinh-sách gọi là Nhứt-thiết-trí. Riêng về các việc quá-khứ, bực đại-giác có được túc-mạng-minh, tức là sự thông-hiểu về các đời kiếp đã qua.

Vua lại hỏi tiếp:

… Đức Phật biết hết tất cả mọi sự-việc, tại sao Ngài lại chẳng dạy ngay hết cho các đệ-tử, mà cứ dạy từ-từ thôi?

Câu hỏi nầy khá ”ngớ-ngẩn”, vì dạy hết một lần, làm sao mà đệ-tử thâu-nhận và thực-hành theo cho kịp. Na-Tiên lại kể thêm một thí-dụ rất dí-dỏm: vị y-sĩ tùy bịnh mà cho thuốc, chớ đâu lại đem hết tất cả thuốc-men trong thiên-hạ ra cho bịnh-nhơn uống một lần!

Và sau cùng, trở lại tiểu-mục số 069, khởi đầu quyển Hạ của sách Tì-kheo Na-Tiên nầy, ta thấy Vua Di-Lan thắc-mắc, khi nghe nói: Chẳng ai có thể thắng nổi Đức Phật. Vua hỏi:

– Làm sao lại biết chắc chẳng có ai thắng nổi Đức Phật?

Na-Tiên đem lòng tin đặt vào đức Thế-tôn mà giải-đáp thắc-mắc nầy: Các người đã đắc đạo và đạo-pháp cùng nói, chẳng hề có ai thắng nổi Đức Phật, cho nên tôi (Na-Tiên) tin điều ấy. Dường như lời giải-đáp đó chẳng làm Vua thoả-mãn, nên Ngài hỏi tiếp:

– Lấy cái chi mà biết rằng chẳng hề có ai thắng nổi Đức Phật?

Na-Tiên liền cầm lên một quyển sách cổ, hỏi lại Vua:

– Vị thầy trước-tác quyển sách nầy là ai vậy?

Khi nghe Vua đáp, ”tác-giả tên là Chất”, thì Na-Tiên hỏi làm sao mà Vua biết được. Vua liền đưa ra cái lý-lẽ ”biết được” sau đây:

– Nhờ đọc sách xưa truyền lại nên biết được tên ông ta là Chất.

Na-Tiên liền ”chụp” ngay lấy lý-lẽ đó làm lý-lẽ của mình, và nói:

– Cũng vì lẽ đó mà sa-môn chúng tôi khi thấy được Kinh Phật và Giới-luật, thì cũng như thấy được Đức Phật, chẳng khác. Chánh-đạo và Kinh, Giới do Đức Phật thuyết-giảng vô cùng thâm-diệu và sảng-khoái, được truyền dạy về sau; vì lẽ đó mà tôi biết rằng chẳng hề có ai thắng nổi Đức Phật cả.

Nếu các đọc-giả trẻ tuổi chẳng dễ-dàng chấp-nhận lý-lẽ của Na-Tiên đưa ra, thì Thiện Nhựt xin nêu thêm hai điểm:

1.- Đương thời với Đức Phật, có sáu vị sư-trưởng cầm đầu sáu giáo-phái — Kinh sách thường gọi là lục sư ngoại đạo — thường tranh-luận với Đức Phật, chẳng có vị nào thắng nổi Đức Phật cả.

2.- Trong các thuyết vũ-trụ-quan, nhiều tôn-giáo chủ trương, Thượng-Đế sáng-tạo ra muôn loài, cho đến nay vẫn chưa thấy có một tôn-giáo nào chứng-minh được sự-thực cả. Đạo Phật chủ-trương chẳng có vị Hoá-chủ nào cả, chỉ có Luật Nhân-Duyên chi-phối vũ-trụ. Và cho đến nay, khoa-học hiện-đại còn chưa thấy có ai, với đầy-đủ lý-lẽ vững-chắc, bác-bỏ được thuyết vũ-trụ-quan đó của Phật-giáo.

Trước khi chấm dứt việc Tìm hiểu về vấn-đề Phật trong quyển sách nầy, Thiện-Nhựt xin phép trích vài câu nơi quyển sách nhan-đề Thủ-bản về Phật-Học (A Manual of Buddhism by the Venerable NARADA Maha Thera). Ngài Narada viết về cuộc đời Đức Phật:

Ngài sanh ra như một con người. Ngài đã sống một cuộc đời của bực vĩ-nhơn.Và Ngài đã nhập-diệt như một vị Phật.

IX.- Vấn-đề: Con người và thuyết Vô-ngã

Thắc-mắc to lớn nhứt trong đời người là: Con người là ai? Phật-giáo trả lời rất cương-quyết: Chẳng có gì là con người cả. Một trong ba đặc-tướng của vũ-trụ là vô-ngã.

Trong phần Tìm hiểu về vấn-đề nầy đã được cuốn sách ”Tì-kheo Na-Tiên” nêu ra và giải-quyết như thế nào, xin xét qua các tiểu-mục:

số 051: ”Cái gì” là Người?
số 052: Mắt và tâm cùng thấy;
số 053: Giác-quan và tâm phối-hiệp nhau;
số 054: Vui-sướng nghĩa là gì?
số 055: Giác-tri là gì?
số 056: Sở-niệm là gì?
số 057: Thế nào là nội-động?
số 058: Các tâm-niệm phối-hiệp nhau rồi chẳng tách ra riêng từ món được;
số 060: Năm giác-quan;
số 061: Tại sao có sự bất-bình-đẳng giữa loài người?
số 063: ”Lộc riêng” phải chăng là Nghiệp-lực?
số 075: Sa-môn giữ-gìn thân, chớ chẳng mến thân;
số 096: Phân-tách kỹ thân-tâm ra, đó là vô-ngã chăng?

Xem các tiểu-mục nêu trên theo thứ-tự trước sau, ta thấy có được sự may-mắn là trọn vấn-đề được xét thẳng một mạch, liên-tục, từ trang 43 cho đến trang 51; một sự may-mắn mà ta rất ít gặp nơi quyển ”Tì-kheo Na-Tiên” nầy, vì các câu hỏi tùy-hứng của vua Di-Lan, gặp đâu hỏi đó, nên toàn-bộ cuộc vấn-đáp giữa hai người có vẻ hơi thiếu mạch-lạc phần nào.

Thế thì, trong 13 tiểu-mục vừa nêu trên, ý-nghĩa chánh-yếu của cuộc đàm-luận giữa vua Di-Lan và Tì-kheo Na-Tiên là gì? Khi giải-đáp các thắc-mắc của nhà Vua, vị Tì-kheo đặt trọng-tâm vào việc chứng minh rằng, nơi thân-tâm con người chẳng hề có một chút gì, vật-chất hay tinh-thần, mà thường-hằng và tự-lập, chẳng thay-đổi trong thời-gian con người đó còn sanh-hoạt.

Muốn chứng-minh điều ấy, Na-Tiên đã phân-tách thân-tâm con người ra các bộ-phận, và chỉ cho thấy rõ: (1) chẳng có yếu-tố nào làm chủ cả; (2) các hoạt-động của con người đều do sự phối-hiệp giữa các yếu-tố vật-chất và tâm-linh, chẳng thấy có ai hoặc cái gì đứng ra làm chủ-chốt để ta có thể gọi ai đó hoặc cái gì đó là một con người đang có các hành-động ấy.

Kết-luận tất-nhiên của lập-luận chứng-minh nầy phải là sự Vô-ngã, chẳng có ”cái Ta” của con người, mặc dầu thuyết vô-ngã nầy chẳng được Tì-kheo Na-Tiên minh-thị nói rõ thêm ra trong sách.

*

150.- Thế-gian chẳng có ”người”.

Bắt đầu bằng câu hỏi của Vua Di-Lan, nơi tiểu-mục số 051:

– Người ở thế-gian là có ”người” hay là chẳng có ”người”?

Câu trả lời của Na-Tiên rất là quả-quyết, phủ-nhận hoàn-toàn:

– Xét nghĩ cho kỹ, thế-gian chẳng thể nào có ”người”, thì gọi ”ai” hay ”cái gì” là ”người” cho thích-hợp được.

Câu trả lời phủ-định của vị Tì-kheo chẳng giải-tỏa được thắc-mắc của nhà Vua, nên Vua hỏi tiếp:

– Mạng sống trong thân là ”người” chăng?

Có lẽ, nhà Vua nhìn thấy các sanh-vật chung quanh đây, sở dĩ khác với các vật vô-tri như sỏi, đá, là ở chỗ có ”cái gì đó” bên trong các sanh-vật ấy đã làm cho chúng hoạt-động được, chớ chẳng như các thi-thể nằm chết bất-động. ”Cái gì đó” đã thúc-đẩy hành-động của sanh-vật, nên nhà Vua mới gọi là mạng sống, và nơi loài người, mạng sống ấy nằm trong thân người. Vì thế, nhà Vua mới nghĩ ra và hỏi Na-Tiên: ”Mạng-sống trong thân đó là người chớ gì?

Na-Tiên bác-bỏ ý phỏng-đoán đó của Vua Di-Lan về mạng sống trong thân là con ”người”, bằng một tràng lý-luận rất dài-dòng, mà ta có thể tóm-tắt lại như vầy: Nếu mạng sống nằm ngay tại mắt, hay tại giác-quan khác, cớ sao một giác-quan như mắt, hoặc tai, hoặc mũi,.. chẳng thể vừa nghe, ngửi, nếm, sờ… Rồi Na-Tiên đi đến kết-luận:

– Người theo mắt thấy hình-sắc, tâm-thần chuyển-động, tâm-thần chuyển-động tức sanh sướng-khổ, cùng với ý-niệm hiệp lại; tai, mũi, miệng, ý cũng cùng hiệp nhau lại làm cho tâm-ý có ý-niệm là tâm-thần chuyển-động. Tâm-thần chuyển-động tức sanh sướng-khổ, tòng theo sướng-khổ mà sanh ra ý, ra niệm, cứ triển-chuyển cùng nhau mà thành, ắt chẳng hề có một vị chủ thường-hằng nào cả.

Xin hãy tìm hiểu ý-nghĩa của lời kết-luận trên của Na-Tiên, và sẽ đưa ra nhận-xét có liên-quan đến lý-thuyết vô-ngã tiếp theo đó.

Khi Na-Tiên bảo ”Tâm-thần chuyển-động”, tức là nói đến cái ”mạng sống”, mà Vua Di-Lan muốn nói đến, đang thúc-đẩy các hành-động trên thân-thể. Sự chuyển-động của tâm-thần đó đã được Na-Tiên vạch rõ là do sự ”phối-hiệp giữa các gíác-quan: mắt, tai, mũi, miệng, ý, cùng hiệp nhau lại làm cho tâm-ý có ý-niệm là tâm-thần chuyển-động”. Vậy thì, khiến cho tâm-thần phải chuyển-động chính là sự phối-hiệp giữa tất cả giác-quan, chớ đâu phải là mạng sống tại một giác-quan.

Khi Na-Tiên bảo, ”Tâm-thần chuyển-động tức sanh sướng-khổ; tòng theo sướng-khổ mà sanh ra ý, ra niệm, cứ triển-chuyển cùng nhau mà thành, ắt chẳng hề có một vị chủ thường-hằng nào cả.”, ta nên chia câu nầy ra bốn đoạn ngắn, để tìm hiểu:

a.- ”Tâm-thần chuyển-động tức sanh sướng-khổ”: đây là lúc các cảm-giác tại các giác-quan được chuyển vào ý-thức nơi tâm, để trở thành tri-giác, tức là sự ”sướng-khổ” đó;

b.- ”tòng theo sướng-khổ mà sanh ra ý, ra niệm”: đây là lúc có sự phối-hiệp tại tâm, ảnh-hưởng của mỗi tri-giác, hoặc sướng, hoặc khổ, chịu thêm ảnh-hưởng của các tri-giác khác, hoà-hiệp nhau lại mà tạo thành một tâm-trạng chung, gọi đó là ý, là niệm.

c.- ”cứ triển-chuyển cùng nhau mà thành”: đây là lúc tâm-trạng chung được phát-triển và biến-đổi theo ảnh-hưởng của mỗi tri-giác mà thúc-đẩy thành ra hành-động; ” cùng nhau mà thành” tức là cái tâm-trạng chung của các tri-giác phối-hiệp lại cùng nhau mà thành ra hành-động”.

d.- ”ắt chẳng hề có một vị chủ thường-hằng nào cả”: đây chính là kết-luận tất-nhiên phải đi đến: chẳng hề có một ”ai” hoặc một ”cái gì” chẳng bị biến-đổi, còn hoài ở đó (=thường-hằng) đứng ra làm ”chủ” điều-khiển mọi việc, từ cảm-giác ở các giác-quan, qua sự phối-hợp thành tâm-trạng chung, cho đến khi sanh ra hành-động. Nơi mỗi giai-đoạn tâm-sanh-lý nầy, chỉ thấy các yếu-tố từ bên ngoài (cảm-giác) và các yếu-tố bên trong (tri-giác, tâm-trạng) hoạt-động phối-hợp nhau mà thôi.

Đã chẳng có ”ai” làm vị chủ thường-hằng nơi thân-tâm nầy, thì gọi thân-tâm nầy là vô-chủ, là vô-ngã, chẳng đúng hay sao?

Sau đây là phần nhận-xét về tiểu-mục số 051, về: ”Cái gì” là ”Người”?:

1) Để bác-bỏ câu nói của vua Di-Lan: Mạng sống trong thân là con ”người”, Na-Tiên đã dùng sáu giả-thiết: nếu mạng sống ở mắt, ở tai, ở mũi, ở miệng, ở thân và ở thức, để chứng-minh rằng ở mỗi một trong sáu căn đó, mạng-sống chẳng hoàn-toàn làm chủ được, hoặc chỉ thấy ở mắt, hoặc chỉ nghe ở tai, mà chẳng thể dùng mắt để nghe, để ngửi, nếm,.. và như thế, đáng lý ra Na-Tiên phải nên đi đến kết-luận là ”mạng-sống nếu nằm ở một trong các căn thì đâu thể nào là một ”con người” cho đầy-đủ trọn-vẹn được”, nhưng rất tiếc là Na-Tiên lại chỉ trách nhà Vua rằng: ”Lời nói của Đại-Vương trước sau chẳng tương-ứng nhau” mà thôi, khiến cho người nghe, bị chìm ngập trong sáu giả-thiết quá dài-dòng, chẳng thấy ra được cái kết-luận tất-nhiên vừa kể đó.

2) Na-Tiên lại đưa ra ba thí-dụ: (1) Ngồi trong tòa điện nầy, nếu phá rộng các cửa, vách ra, mắt có thể nhìn thấy xa được; nhưng nếu mở bét mắt lớn ra, vểnh tai rộng thêm ra, nghểnh mũi to ra, lè lưỡi dài ra, banh da cho rộng ra, khai ý cho bao-quát ra, thì cũng chẳng thể nào thấy, nghe, ngửi, nếm, sờ, nghĩ, được thêm ra chút nào. Khi kể xong thí-dụ nầy, đáng lý Na-Tiên đi đến kết-luận, nếu ”mạng sống” ở các căn, thì sao con ”người” có ”mạng sống” đó vẫn còn bị giới-hạn khi các căn được mở rộng?; đằng nầy Na-Tiên chỉ biết trách nhà Vua ”lời nói của Đại-Vương trước sau chẳng tương-ứng nhau” mà thôi.- (2) Nhìn thấy người giữ kho vua đứng trước mặt, rồi khi anh ta quay đi, nhà Vua cũng biết rõ lúc anh còn trước mặt, lúc anh đi khỏi. Kể xong thí-dụ nầy, Na-Tiên chẳng thấy có kết-luận nào về thí-dụ đó (và lần nầy chẳng thấy trách Vua hai lời nói chẳng được tương-ứng). Đúng ra, thí-dụ nầy cho ta thấy, khi mắt nhìn đối-tượng bên ngoài, cảm-giác được truyền vào tâm, phối-hiệp với thức mà trở thành tri-giác, bấy giờ sẽ tạo nên một tâm-trạng bên trong. Đây là một thí-dụ chỉ cho thấy rõ sự phối-hiệp nơi tâm, giữa ba yếu-tố có tánh-cách tâm-sanh-lý: trần (= người giữ kho), căn (= mắt vua nhìn) và thức (= tâm vua nhận-thức), tạo thành một tâm-trạng; và chính tâm-trạng đó đưa đến hành-động của ý ( là biết) tiếp theo.- (3)Thí-dụ thứ ba lại khá ”buồn cười”: có thùng rượu ngon, đè cổ một người rồi nhận đầu y vào thùng, và hỏi kẻ bị đè cổ đã ”thưởng-thức” rượu ra sao! Kẻ ấy làm sao mà biết vịrượu ngon hay dở được, đã bị sặc muốn chết mà còn hỏi? Nhưng thí-dụ nầy chỉ cho ta thấy sự triển-chuyển của tâm-trạng do sự phối-hiệp, của ba yếu-tố tâm-sanh-lý, ở bên trong: bị đè cổ, lại sặc rượu là yếu-tố sanh-lý, làm khởi lên cảm-giác khó thở, khiến cho việc lưỡi nếm được vị của rượu, bị che-mờ khuất mất nơi thức, nên chẳng thể”thưởng-thức” nổi rượu ngon hay dở (yếu-tố tâm-lý). Nhưng Na-Tiên lại chẳng nêu ra cho ta thấy rõ sự phối-hợp của các yếu-tố và sự triển-chuyển bên trong tâm-thần, mà chỉ tiếp-tục trách nhà Vua trước sau nói chẳng tương-ứng.

3) Thiện Nhựt thấy có hai thí-dụ giản-dị, dễ hiểu, có thể giúp ta hé thấy được phần nào chơn-lý vô-ngã nơi thân-tâm năm uẩn nầy. Đó là hai câu chuyện, một thuộc vềđịa-hạt nhơn-sanh, một thuộc về thời-tiết:

a.- Vua muốn chọn người làm quan giữ kho-tàng, truyền lịnh cho các ứng-viên mặc quần-áo nhẹ, mỏng, đi ngang qua một hành-lang hẹp, có ánh-sáng lờ-mờ, hai bên vách để rất nhiều vật kim-châu bảo- ngọc. Khi ra khỏi đường hầm, ai bước đi nhẹ-nhàng thoăn-thoắt là người ngay-thẳng. Còn ứng-viên nào bước nặng-nề vì sợ các vật quí-giá lấy trộm dấu trong mình rơi xuống, là những kẻ có tham-tâm. Những gì đã xảy ra trong khoảng hành-lang lờ-mờ ánh-sáng? Mắt nhìn thấy bảo-vật (căn và trần phối-hiệp) bụng khởi lòng tham (thức làm khởi lên tâm-sở tham) tay đớp lấy, dấu kín vào người (gây thành hành-vi bất-thiện). Thời-gian họ đi ngang qua hành-lang, chính là lúc mà sự phối-hợp của các yếu-tố tâm-sanh-lý đang triển-chuyển để biến thành hành-vi bất-thiện. Chỉ có các yếu-tố tâm-sanh-lý đang hoạt-động, chớ chẳng thấy ”con người” nào nằm bên trong thân-tâm các ứng-viên đã thúc-dục họ vì tham-tâm mà hành-động bất-chánh.

(Thú-tội: Thiện Nhựt đã lén ăn cắp mẩu chuyện trên đây trong nền văn-chương Pháp-quốc, tại một tác-phẩm của văn-hào Voltaire)

b.- Trời vần-vũ sắp mưa. Gió to, sét chớp nhoáng, sấm nổ ầm-ầm. Rồi mưa ào ào đổ xuống. Người bình-dân ít học thì bảo: óng Trời giận đánh bà Trời, bà Trời khóc! nên mưa to. Kẻ mê-tín, ghiền truyện Tàu bảo: Bắc-hải Long-vương (vua Rồng) đang huy-động Vân-đồng (thần mây), Điển-mẫu (bà sấm-sét) và Thủy-thần (thần nước) hóa ra một trận mưa to! Một hiện-tượng thời-tiết, có gió, có sấm-sét, có mây mưa, ngày nay khoa-học giải-thích: khí trời nóng, hơi nóng bốc lên gặp khí lạnh thành gió chuyển,hơi nước gặp nắng bốc lên không, gặp khí lạnh rơi xuống thành mưa. Nào có đâu ông Trời với bà Trời đánh nhau, nào có thấy bóng-dáng của chú Vân-đồng, bà Điển-mẫu, Thủy-thần với Ngài Long-vương?

c.- Hai thí-dụ cho thấy: (a) ở địa-hạt tâm-sanh-lý, chỉ có sự phối-hợp giữa các yếu-tố bên ngoài và bên trong, sanh ra tâm-trạng, rồi triển-chuyển đưa đến hành-động, chớ nào có một ”con người” ẩn-núp trong thân-tâm năm-uẩn nầy để chủ-xướng ra hành-động. – (b) ở địa-hạt thời-tiết, chỉ có sự chênh-lệch giữa áp-suất không-khí mới gây nên gió, mưa, bão-tố, chớ nào có vai-trò nào của thần-thánh.

4) Một điểm quan-trọng trong giáo-lý nhà Phật là Lý Duyên-sanh theo đó, bất cứ một sự-việc nào xảy ra cũng phải có nguyên-nhân: ”cái nầy có, nên cái kia có; cái nầy diệt, nên cái kia diệt”. Vì chẳng thấu-triệt được mối liên-hệ chặt-chẽ giữa nguyên-nhân và hậu-quả cho rõ ràng, nên ta thường có những lối giải-thích các hiện-tượng một cách sai-lạc, rời xa sự-thật. Một trong những ý-kiến sai-lạc nầy là ngã-kiến, cho rằng trong thân-tâm nầy có ẩn-tàng một ”con người”, một cái ”Ta”, một cái ”Ngã”, đứng làm chủ mọi hành-động, rồi lại chính cái ”Ngã” ấy lại được đi đầu-thai để tiếp-tục cuộc sống mãi mãi mà hưởng-thọ. Sự sai-lầm của ngã-kiến là chẳng xét trong thân-tâm nầy, mọi hành-động, từ vật-chất đến tinh-thần, cũng đều có nguyên-nhân cả, hoặc do yếu-tố vật-chất, hoặc do yếu-tố tâm-linh, chớ thật chẳng hề do một người nào ở trong thân-tâm nầy chủ-xướng. Nói lên sự vắng-bóng của ”con người” trong thân-tâm nầy, chính là lý-thuyết vô-ngã. Bao giờ người học Phật bỏ đi được sự chấp-thủ vào cái ngã, cũng như người trí-thức đã bỏ được lối giải-thích sai-lầm của kẻ ngu như ”khi trời mưa, cho là ông Trời đánh bà Trời”, thì bấy giờ mới thấy được, rõ-ràng và thênh-thang, con đường giác-ngộ và giải-thoát do đạo Phật chủ-trương.

*

151.- Từ nhãn-thức đến ý-thức .

Sau tiểu-mục dài và khó vừa qua, ta lại đến một tiểu-mục kế, số 052, chẳng kém rắc-rối, mặc dầu vấn-đề, nếu xét kỹ ra, chẳng quá phức-tạp. Tiểu-mục kế nầy bàn về Mắt và Tâm cùng thấy.

Nhắc lại: sau khi được Na-Tiên giải-tỏa thắc-mắc ”chẳng có cái gì gọi là con người trong thân-tâm nầy cả”, Vua Di-Lan lại hỏi:

– Khi con người mắt thấy, thì mắt và tâm có cùng nhau phát-sanh hay không?

– Dĩ nhiên, cả hai đồng thời cùng phát-sanh.

– Mắt thấy trước hay là tâm thấy trước?

– Mắt thấy trước, tâm thấy sau.

(Thiện-Nhựt xin mở một dấu ngoặc: Vua và Na-Tiên đang nói đến nhãn-thức và ý-thức. Phật-học, theo Nam-tông, phân-biệt sáu sự hiểu-biết gọi là sáu thức: (1) nhãn-thức (thấy ở mắt), (2) nhĩ-thức (nghe ở tai), (3) tĩ-thức (ngửi ở mũi), (4) thiệt-thức (nếm ở lưỡi), (5) thân-thức (xúc-chạm trên thân) và (6) ý-thức (sự hiểu-biết nơi tâm-ý). Năm thức trước, Bắc-tông gọi là tiền ngũ thức (tiền= trước; ngũ= năm; thức= biết), xảy ra tại năm giác-quan ở bên ngoài; còn ý-thức, là thức thứ sáu, ở bên trong tâm, thường có tánh-cách phối-hiệp.)

Câu hỏi kế-tiếp của Di-Lan có vẻ hơi ”ngớ-ngẩn”:

– Cả hai có nói với nhau như vầy chăng? Mắt nói với Tâm, chỗ tôi thấy trước, anh nên theo sau mà thấy. Tâm nói với Mắt, chỗ anh đã thấy, tôi nên theo đó mà thấy sau.

– Cả hai chẳng nói với nhau gì hết.

Nếu ta cho câu hỏi của vua Di-Lan là ”ngớ-ngẩn”, thì câu trả lời vắn-tắt của Tì-kheo Na-Tiên như trên cũng quá đủ rồi. Nhưng thắc-mắc của nhà Vua chẳng phải ”ngớ-ngẩn” đâu, khi Ngài hỏi tiếp:

– Khanh há chẳng có nói, ”đồng thời cùng nhau phát-sanh” hay sao? Vì cớ gì mà cả hai lại chẳng nói với nhau như vậy?

Chỗ thắc-mắc của nhà Vua chẳng ”ngớ-ngẩn” chút nào, vì nhà Vua nghĩ rằng, nếu chẳng có ”nói với nhau” trước, thì tại sao Tâm lại biết nhìn thấy đúng vào chỗ mà Mắt đã thấy? Nhưng phải chăng lời-lẽ của nhà Vua còn quá đơn-sơ, khi Ngài bảo, Mắt nói với Tâm, và Tâm nói với Mắt; làm sao mà hai cơ-quan vật-lý (mắt) và tâm-lý (tâm) lại có khả-năng biết nói cho được? Lẽ ra, nhà Vua nên hỏi như vầy: ”Khanh nói cả hai, Mắt và Tâm, đồng-thời cùng nhau phát-sanh, thì có phải chăng là đã có một sự liên-lạc, một sự cảm-ứng, giữa hai nơi Mắt và Tâm? Nếu vấn-đề được đặt ra như thế, thì có lẽ bốn thí-dụ dài-dòng, rắc-rối về (1) nước chảy theo xuống dưới; (2) hai người cùng đi theo hướng cửa; (3) đi theo vết xe trước; (4) tính-đếm theo số, của Na-Tiên chẳng còn cần-thiết nữa vì quá rườm-rà.

Sao lại hỗn-hào dám bảo bốn thí-dụ của Na-Tiên là chẳng còn cần-thiết và rườm-rà? Trước, hãy xét qua bốn thí-dụ Na-Tiên đưa ra nhằm chứng-minh rằng, Mắt và Tâm chẳng nói với nhau gì hết.

1.- Trên núi cao có mưa lớn. Sau trận mưa đầu, nước theo triền núi chảy xuống. Đến trận mưa sau, nước cũng chảy xuống, theo con đường mà nước trước đã chảy. Nước trước, nước sau có nói gì với nhau đâu, mà cùng chảy xuống theo phiá dưới. Rồi Na-tiên kết-luận: ”Mắt và Tâm cũng lại như thế, chẳng nói gì với nhau. Đó gọi là đi theo xuống dưới.”

2.- Thành-trì chỉ có một cửa ra vào. Một người ra trước, đi theo hướng cửa mà ra khỏi thành. Kẻ khác, đi sau, cũng đúng theo lối hướng cửa mà ra. Cả hai chẳng có dặn bảo gì với nhau, mà cùng theo hướng cửa. Rồi Na-Tiên kết-luận: ”Mắt và Tâm cũng lại như thế, chẳng có nói với nhau gì cả. Đó gọi là đi theo hướng cửa. Tai, mũi, miệng, thân và ý, cũng lại như thế.”

3.- Trên một con đường, xe đi trước, bánh lăn để lại vết trên mặt đường. Xe đi sau lăn bánh theo vết xe trước. Hai xe đâu có nói gì với nhau. Rồi Na-Tiên cũng kết-luận: ”Cũng vậy, Mắt chẳng nói với Tâm, … tai, mũi, miệng, thân và tâm, cũng chẳng nói gì với nhau.

4.- Thí-dụ thứ tư: ”đi theo số” rất khó hiểu. Na-Tiên bảo: ”Theo số là tính đếm. Sách vở, học vấn là số. Tai, mắt, mũi, miệng, thân, tâm từ từ biết rõ, rồi cùng hiệp lại sáu sự-việc đó cho đến khi thành chỗ hay-biết, mà chỗ hay-biết nầy chẳng phải chỉ tòng theo sự hay-biết của mỗi một nơi nào cả.” Nghe xong, vua khen: ”Lành thay!” Chẳng biết Vua đã hiểu thí-dụ nầy như thế nào mà lại khen, chớ riêng Thiện Nhựt còn ngu-dốt lại thấy khó hiểu quá. Nơi bản dịch Anh-văn của N.K.G. Mendis, thí dụ thứ tư nầy được dịch như sau:

”As, sire, a beginner is clumsy in the crafts of reckoning on the fingers, calculation, reckoning and writing, but after a time by practice in careful working he becomes deft, even so, sire, it is through practice that where eye-consciousness arises there too mind-consciousness arises. There is no conversation between them. They arise because of practice.”

”Tâu Bệ-hạ, như kẻ mới học nghề còn vụng-về trong các kỹ-xảo về ước-tính trên đầu ngón tay, sự tính-toán, ước-lượng, và viết-lách, nhưng sau một thời-gian bằng sự thực-tập làm việc cẩn-thận, người ấy trở nên khéo-léo; mặc dầu vậy, tâu Bệ-hạ, chính nhờ sự thực-tập mà nơi nào nhãn-thức phát-khởi thì ý-thức cũng phát-khởi theo. Chẳng hề có cuộc nói chuyện nào giữa chúng cả. Cả hai phát-khởi do sự thực-tập.”

Bây giờ, giả-dụ như ta quên phứt đi năm hàng chữ Việt ở đầu trang 196 nầy, và lấy ý và lời của bản Anh-văn, thì ta có thể hiểu được thí-dụ thứ tư nầy, một cách dễ-dàng: Mắt và Tâm chẳng nói gì với nhau cả; chính do sự thực-tập mà nhãn-thức và ý-thức cùng nhau phát-khởi lên đồng-thời.

Nhưng mà chẳng lẽ tác-giả quyển ”Na-Tiên Tì-kheo Kinh” lại chẳng thấy chỗ ”dài-dòng và rườm-rà” của bốn thí-dụ đó mà lại viết ra tiểu-mục số 052, dài như thế. Tác-giả có thâm-ý muốn chứng tỏ một điều gì đây mà ta chưa kịp nhìn thấy để hiểu chăng? Tiểu-mục 052 tiếp theo Tiểu-mục số 051 nói về ”Cái gì là ”người”?”, trong đó tác-giả chứng-minh nơi thân-tâm nầy chẳng có ”ai” hoặc ”cái gì” đã làm, đã nói, như ”con người” cả, mà chỉ có các yếu-tố tâm-sanh-lý phối-hiệp nhau mà đưa đến các hành-vi của thân, miệng, và ý thôi. Chính tại nơi Tiểu-mục số 052 nầy, lại một lần nữa, tác-giả muốn chứng-minh: khi mắt thấy, chẳng có ”ai” hoặc ”cái gì” đã nói, từ mắt đến tâm, cả; chỉ có nhãn-thức khởi lên gây thành một cảm-ứng đến tâm, khiến cho ý-thức cùng phát-khởi theo. Mấy yếu-tố vật-lý, sanh-lý, và tâm-lý (mắt thấy vật đối-tượng, nhãn-thức, ý-thức, tâm) đó phối-hợp nhau ở tâm, khiến cho ý-thức khởi lên, rồi mới có sự hay-biết là đang thấy vật. Chỉ có thế, chớ chẳng có ”người” nào nói lên điều gì cả. Nếu vấn-đề chỉ là như thế, thì tại sao ta chẳng chọn một vài thí-dụ khác, để chỉ rõ mối liên-lạc giữa mắt (nhãn-thức) với tâm (ý-thức), và sở dĩ mắt đã thấy và rồi tâm cũng hay-biết rằng đang thấy theo, đó là do sự phối-hiệp ở bên trong tâm giữa nhãn-thức với ý-thức mà thành ra tri-giác: thấy?

Trí thô-thiển của Thiện Nhựt nghĩ ra được một thí-dụ, chẳng biết có thích-hợp cho vấn-đề nêu trên hay không:

– Một nút bấm-điện có dây điện nối liền với một động-cơ. Gần nút bấm-điện có một bóng đèn nhỏ, phát cháy lên khi có luồng điện chạy qua dây. Bật nút bấm-điện, đèn cháy và động-cơ quay. Khi thấy đèn cháy, có ”ai” đã đứng đó quát lên bảo với động-cơ phải chạy chăng? Nguyên-nhân làm động-cơ quay chính là luồng điện đã chạy qua dây rồi đến động-cơ làm cho máy nầy phát-động lên. Nếu chẳng có dây điện, nếu chẳng có luồng điện, làm gì máy chạy được. Cùng thế ấy, mắt nhìn vật, cảm-giác nầy được truyền vào trong, do hệ-thống thần-kinh từ mắt đến não, khiến cho tâm bên trong nhận-biết là mắt đang thấy vật: mắt như bóng đèn ở nút bấm-điện; sợi dây truyền điện cũng như hệ-thống thần-kinh, động-cơ cũng tựa như não và tâm bên trong. Như thế, ta thấy rõ, nhãn-thức được truyền vào trong tâm, nơi đây ý-thức liền phối-hiệp với cảm-giác mà thành ra một tri-giác: hay-biết rằng đang thấy vật được mắt nhìn đến.

Độc-giả khó tánh sẽ bảo, quyển ”Tì-kheo Na-Tiên” được soạn cách đây gần hai ngàn năm, làm gì nhơn-loại đã biết đến điện-khí mà đưa ra một thí-dụ như thế. Thế thì, Thiện Nhựt xin nói lại, để phù-hợp với sức hiểu-biết của người ít học ngày xa-xưa: Ngoài cổng chùa có sợi dây chuyền vào cửa chùa bên trong, đầu dây nầy buộc vào một cái chuông. Hễ có ai giựt-giựt đầu dây ngoài cổng, thì chuông bên trong chùa kêu bon-bon, sẽ có người ra mở cửa. Kẻ muốn vào chùa, người ra mở cổng, hai người đâu có nói gì với nhau, sao lại cùng biết là có khách muốn vào chùa? Chẳng qua, có cái chuông. Nhưng mà, giá mà dây chuông bị cắt đứt, giá mà chẳng giựt-giựt đầu dây, chú tiểu trong chùa có biết mà ra mở cổng chăng?

Thiện-Nhựt thấy hai thí-dụ ”’vô-duyên” của mình cũng đã quá dài, và quá rườm-rà lắm rồi, nên chỉ biết chắp tay lại sám-hối và nguyện- cầu cho người đọc nhìn thấy ra được lẽ vô-ngã nằm ẩn-sâu trong bốn thí-dụ của Na-Tiên: chẳng có ”ai”trong thân-tâm nầy cả!

*

152.- Giác-quan và tâm phối-hiệp sanh ra sướng-khổ .

Vua lại hỏi Na-Tiên:

– Mắt người khi nhìn thấy, có cùng với sự sướng-khổ sanh ra một lượt chăng?

– Mắt thấy và sự sướng-khổ đồng sanh ra, đều theo nhau hiệp lại mà sanh ra.

– Thế nào là hiệp?

Câu hỏi của nhà Vua và lời giải-đáp của Na-Tiên đều qui về sự phối-hiệp của nhãn-thức với ý-thức nơi tâm, sanh ra cảm-thọ: sướng hay khổ. Tiểu-mục số 053, trang 48 nầy tiếp-tục khai-triển ý-chánh của vấn-đề: ”Con người và thuyết Vô-ngã”; tiếp-tục và khai-triển ở điểm: các cảm-thọ sướng hay khổ là do sự phối-hiệp của nhãn-thức (hoặc các thức khác) nơi ý-thức ở tâm, chớ chẳng có một ”người” nào trong thân-tâm nầy đã gây ra và gánh chịu lấy cảm-thọ đó cả.

Lời đáp của Na-Tiên tiếp theo đã giải-thích, bằng hai thí-dụ, thế nào là hiệp. Điều đáng tiếc là Na-Tiên chẳng nhân cơ-hội nầy để khai-triển thêm thuyết vô-ngã, thêm một lần nữa, để người học Phật thấy cho tường-tận, cảm-thọ chỉ là cảm-thọ (tức là một yếu-tố tâm-lý của thân-tâm), chớ cảm-thọ chẳng phải là ”người” đang có cảm-thọ đó.

Na-Tiên đưa ra hai thí-dụ về sự phối-hiệp (giống với Xúc trong Lý 12 Nhân-Duyên): (1) hai bàn tay nắm nhau lại, một ví cho mắt, một thế cho hình-sắc, hiệp nhau lại thành phối; (2) hai hòn đá hiệp nhau; một hòn làm tâm, một hòn làm ý-chí, cả hai hiệp nhau thành phối.

Kế đó, Vua lại hỏi Na-Tiên, nơi tiểu-mục số 054:

– Sướng có mấy loại?

Na-Tiên chẳng trả lời có mấy loại vui-sướng, chỉ giải-thích thế nào và khi nào, thì sướng. Theo Na-Tiên, vui-sướng là tự-mình giác-tri, tức là tự mình biết mình… sướng.

Rồi Na-Tiên kể ra hai thí-dụ về khi nào sướng: (1) kẻ hiền-lành, tận-tâm phục-vụ Vua, được Vua ban thưởng tiền-bạc. Kẻ ấy đem tiền ra tiêu-phí, tự-nghĩ ta phụng-sựVua, được Vua thưởng tiền, nên ta vui sướng; (2) người làm điều thiện, nói lời thiện, tâm-niệm thiện được sanh lên cõi Trời, hưởng mọi lạc-thú, tự nghĩ mình nay sung-sướng là nhờ khi còn ở trần-gian lúc nào cũng tuân theo điều thiện.

Đến Tiểu-mục số 055, Vua hỏi tiếp:

– Giác là như thế nào?

Câu trả lời của Na-Tiên rất ngắn: Tòng theo sự hiểu-biết là giác. Và Na-Tiên đưa ra thí-dụ người giữ kho vua biết trong kho có bao nhiêu vàng bạc, châu ngọc… đó gọi là giác-tri. Vua Di-Lan khen: ”Lành thay!”.

Nhưng Thiện Nhựt thấy chưa thoả-mãn về thí-dụ và lời giải-thích về giác, giác-tri, của Na-Tiên. Chưa thỏa mãn ở điểm nào?

1.- Chữ Hán-Việt Giác có nghĩa là hiểu-biết, được chánh-thức dùng trong Phật-học để dịch chữ Phạn Bodhi, giác, giác-giả; tức là người đã giác-ngộ và giải-thoát như Đức Phật. Theo ý nầy, (1) Tự-giác là tự mình đã hiểu thấu lẽ sống chết và được giải-thoát khỏi cảnh Khổ của Luân-hồi: đây là người biết tu-hành theo đạo Phật. (2) Giác-tha là đem sự giác-ngộ của mình ra chỉ dạy cho kẻ khác, để họ được giác-ngộ theo: đây là hạng Bồ-tát. (3) Giác-hành viên-mãn là việc tự-giác cùng với công-cuộc giác-tha đã thi-hành xong trọn-vẹn: đây là bực đại-giác, tức là Đức Phật.

2.- Chữ Hán-Việt giác-tri được Vua Di-Lan và Na-Tiên dùng để chỉ sự hiểu-biết, thì trong hai chữ ”giác” và ”tri”, cả hai đều có nghĩa là hiểu-biết cả; nếu nói cả hai, thì thừa-thãi đi một chữ. Nhưng nếu sắp thứ-tự trước sau lại, để giác-tri thành ra tri-giác thì ý-nghĩa của chữ nầy được dùng trong Phật-học lại khác hẳn. Vì tri-giác là một yếu-tố tâm-lý trỏ vào việc một cảm-giác từ một giác-quan bên ngoài đưa vào bên trong tâm, phối-hiệp với ý-thức, trở thành một tri-giác. Trong năm uẩn của thân-tâm, thọ-uẩn gồm có các cảm-giác; còn tưởng-uẫn chính là sự tập-họp của các tri-giác. Thí-dụ: khi có cảm-giác nóng ở tay, tâm thấy khó chịu mới sanh ra khổ, đó là tri-giác.

3.- Còn thí-dụ của Na-tiên về người giữ kho vua, người ấy biết trong kho có bao nhiêu vàng bạc, châu báu, v.v. sự hiểu-biết đó, nói cho đúng nghĩa đen của danh-từ nầy thì chẳng phải là tri-giác, hoặc giác-tri được; sự hiểu-biết đó chẳng qua chỉ là một kiến-thức, nằm sẵn trong ý-thức, hoặc trong tiềm-thức của anh ta mà thôi.

Kế-tiếp là tiểu-mục số 056, Vua hỏi Na-Tiên:

– Con người có sở-niệm của mình. Có bao nhiêu sở-niệm?

Na-Tiên chẳng trả lời có bao nhiêu sở-niệm? mà chỉ giải-thích nhân khi nào mà có sở-niệm. Na-Tiên bảo, con người có sở-niệm, nhân vì có sở-tác. Rồi đưa ra hai thí-dụ: (1) một người pha thuốc độc rồi uống, hoặc cho kẻ khác uống, thì mình bị khổ, kẻ kia cũng khổ; (2) kẻ làm ác, lại dạy người khác cũng làm ác, khiến cho cả hai phải sa địa-ngục.

Mục-tiêu-mục của tiểu-mục nầy là chỉ cho thấy rõ ảnh-hưởng của ý-định khởi lên trong tâm đưa đến hành-động bên ngoài. Hễ có ý-định ác thì hành-động sẽ ác theo.Ngược lại nếu có ý-định lành, thì sẽ làm hành-động thiện.

Thiện Nhựt thiển nghĩ: chữ sở-niệm đây, mặc dầu chẳng được Na-Tiên định-nghiã, nhưng nó mang lấy ý-nghĩa của chữ ý-định. (Theo nghĩa gốc, sở-niệm = sở là chỗ; niệm là nghĩ nhớ trong lòng; còn sở-tác = sở là nơi, tác là làm, là có hành-động). Nếu ta xét chữ sở-niệm của Na-Tiên dùng theo khiá-cạnh: ý-định trong lòng, thì tiểu-mục số 056 nầy sẽ dễ hiểu hơn, vì ý-định đưa đến hành-vi thiện hoặc ác.

Đến tiểu-mục số 057: Thế nào là nội-động? phải thú-thật là lời văn trong Bản Phỏng-dịch mù-mờ và hơi khó hiểu. Nhưng cứ xin chép lại đoạn nầy và thử đề-nghị một lối tìm hiểu khác:

Vua hỏi Na-Tiên:

– Thế nào là nội-động?

– Ý-chí bên trong nổi lên là nội-động.

– Động và Hành thời ra sao?

– Thí-dụ như chậu đồng, nồi đồng có người đến đốt nấu lên; các khí-cụ đó phát ra tiếng và có dư-âm, đó là hành. Con người cũng như vậy, ý-chí khởi lên, nhân đó mà có hành-động.

Vua khen: Lành thay!

1)- Trước hết, xin tìm hiểu nghĩa chữ của các danh-từ quan-trọng:

a.- Nội-động có nghĩa là chuyển-động ở bên trong. Cái gì chuyển động? Câu trả lời của Na-Tiên nói rõ: đó là ý-chí bên trong nổi lên.

b.- Ý-chí là gì? Đó là ý-muốn quyết-tâm hành-động, một yếu-tố tâm-lý ở trong tâm.

c.- Động là gì? Đó phải là ”ý-chí bên trong nổi lên” vừa nói.

d.- Hành là gì? Hành nghĩa thường là làm; ở đây có lẽ nói đến các hành-động được làm ra bên ngoài.

e.- Dư-âm là gì? Nghĩa đen là âm-thanh vẫn còn kéo dài, tuy nhỏ hơn tiếng nghe lúc ban đầu. Tại đây, chữ dư-âm trỏ vào Hành.

2)- Kế đó, Ý-chánh của tiểu-mục nầy là gì? – Đó là: ”Ý-chí khởi lên trong tâm đưa đến hành-động bên ngoài.” Ý-chánh nầy có liên-hệ với tiểu-mục trước (số 056) nói về sở-niệm và sở-tác, tức là có chỗ nghĩ ác thì làm ác, có chỗ nghĩ thiện thì làm lành. Vậy mục-tiêu của tiểu-mục nầy là bổ-túc cho tiểu-mục trước: chỉ rõ thêm, sở-niệm (chỗ nghĩ thiện-ác), chịu ảnh-hưởng của ý-chí khởi lên (nội-động) mà có hành-động ra bên ngoài (sở-tác).

3)- Giờ đây, nếu tóm-tắt hai tiểu-mục liên-tiếp lại, ta thấy tác-giả muốn nói: ”Khi trong tâm khởi lên ý-chí, một yếu-tố tâm-lý như các sở-niệm khác ở trong tâm (lúc đó gọi là nội-động) thì đưa đến các hành-động (sở-tác) thiện hay ác ở bên ngoài.” Như vậy, chung qui vấn-đề chỉ giản-dị là: ”Vì ý-chí mạnh hơn các sở-niệm khác, khi đang động-tâm, nên đưa đến sở-tác, tức là hành-động thiện-ác bên ngoài.”

4)- Còn lại cái thí-dụ nồi đồng đun sôi có ý-nghĩa gì? – Cái nồi đồng đun nước sôi sùng-sục ví với cái tâm-trạng đang động ở bên trong (nội-động); khi bớt lửa, tiếng nước reo còn văng-vẳng (dư-âm), được ví với các hành-động thiện-ác ở bên ngoài.

5)- Sau khi tìm hiểu nghĩa ý của tiểu-mục số 057 xong như trên, Thiện Nhựt nhân khi thấy nói đến nội-động, xin có vài nhận-xét, liên-quan đến Tâm, nhìn hai dưới khiá-cạnh: (a) giáo-lý Phật-học và (b) Tâm-lý-học hiện-đại.

a.- Giáo-lý Phật-học chia thân-tâm con người ra làm hai phần: (1) thân, gồm các phần về vật-chất, gọi là sắc, kể chung hết các bộ-phận trên thân là sắc-uẩn; (2)tâm, gồm các yếu-tố tinh-thần, vô-hình, phân ra bốn nhóm: thọ-uẩn (các cảm-giác), tưởng-uẩn (các tri-giác), hành-uẩn (các tâm-sở), và thức-uẩn (các sự hiểu-biết bên trong). Như thế, tâm chẳng phải là một bộ-phận, hay cơ-quan nào riêng-biệt mà do bốn uẩn kia kết-hợp lẫn-lộn lại. Vì lẽ đó, vào bất kỳ một lúc nào, tình-trạng hỗn-hợp của tâm cũng khó giữ cho yên-tịnh được, bởi các yếu-tố tâm-lý cứ thay phiên nhau khởi lên, kéo dài rồi qua đi, khiến cho tâm-trạng (= tình-trạng của tâm ) cứ liên-miên thay đổi mà chính cá-nhơn đó cũng chẳng ngờ và hay-biết rõ đến được. Sự thay-đổi của tâm-trạng đó, được gọi là nội-động, sự biến-động xảy ra bên trong. Thế cho nên, khi Tì-kheo Na-Tiên gọi ý-chí khởi lên là nội-động, có lẽ chẳng chính-xác cho lắm; vì ý-chí chỉ là một yếu-tố tâm-lý cũng như các yếu-tố khác, (trong Phật-học gọi các yếu-tố tâm-lý là các tâm-sở); các tâm-sở nầy cũng có thể khởi lên trong tâm như ý-chí vậy. Trong các yếu-tố tâm-lý, có thứ mạnh, có thứ yếu, có thứ dai-dẳng, có thứ phớt qua; nhưng ý-chi vừa mạnh-mẽ lại vừa bền-bỉ, cho nên mới đưa tới được hành-động ra bên ngoài.

Nhân nói tới nội-động, sự biến-động trong tâm, ta tự-hỏi, có một tình-trạng tâm nào được hoàn-toàn yên-ổn, vắng-lặng chẳng bị biến-động không, tâm-trạng an-tịnh đó gọi là gì, và có cách nào để tu-tập cho được an-tâm? – Tâm chẳng bị nội-động, an-ổn, vắng-lặng, được gọi là tâm an, khi nào tất cả các ý-niệm dừng lại, và hành-giả sắp bước vào định, nên còn gọi là định-tâm. Khi tu-tập theo ba môn học vô-lậu là Giới-Định-Huệ hết sức chuyên-cần, thì hành-giả chẳng những đắc được định-tâm mà trí-huệ cũng được phát-triển thêm. Bước đầu trong việc tu-tập theo Giới-Định-Huệ là làm sao cho chánh-niệm lúc nào cũng luôn sáng-tỏ trong tâm. Chánh-niệm là một niệm chánh, niệm đó có nhiệm-vụ chiếu soi lên các tâm-sở khác, qui-tụ được tâm-tư vào trong khung-cảnh: ở đây và bây giờ, khiến cho các vọng-niệm phải chìm lặng xuống. Tu-tập là giữ sao cho thân-tâm lúc nào cũng tỉnh-táo, biết rõ-ràng rằng mình ngay bây giờ đang làm gì, đang nghĩ gì ở đây. Chỉ có thế mà thôi! Nhưng nên biết rằng, giữđược chánh-niệm hăm bốn giờ trong ngày, thì chỉ có bực đại-giác như chư Phật, chư Bồ-tát mới làm được. Sao lại khó như vậy? Vì lòng người luôn luôn chuyển-động, ngay cả trong giấc ngủ cũng còn nằm mơ.

b.- Tâm-lý-học hiện-đại chia tình-trạng củaTâm ra làm ba vùng hay là ba bình-diện: (1) vùng ý-thức, sáng-tỏ mà ta có thể hay-biết rõ được các ý-tưởng, kiến-thức, hoặc tình-cảm nào hiện có mặt nơi tâm; (2) vùng tiềm-thức, lờ-mờ, mà các tư-tưởng, tình-cảm, hiểu-biết, tuy chẳng còn nhớ thấy được rõ-ràng, nhưng chúng có thể trồi trởlên, hơi mơ-hồ, tại vùng ý-thức lại; (3) vùng vô-thức, mờ-mịt, tuy các tình-cảm, tư-tưởng, kiến-thức, nay chẳng còn nhớ nghĩ rõ đến được nữa, nhưng chúng có thể gặp lúc bất-thần nào đó có đủ cơ-duyên thì trở lại vùng tiềm-thức hay vùng ý-thức.

6)- Và trước khi tạm kết-thúc việc tìm hiểu tiểu-mục số 057 nầy, Thiện-Nhựt xin nhắc lại một mẩu chuyện lý-thú trong Pháp-Bảo-Đàn có liên-quan đến vấn-đề nội-động. Nơi Phẩm I, Hành-Do, Kinh Pháp-Bảo-Đàn, có thuật việc Lục-Tổ Huệ-Năng, bấy giờ còn là cư-sĩ, đến chùa Pháp-Tánh. Trước sân chùa, gió thổi ngọn phướn phất-phơ, có hai vị Tăng đang tranh-cãi nhau. Người nói, ”gió động”, kẻ cãi lại, ”phướn động”, tranh-luận nhau mãi chẳng thôi. Huệ-Năng bước ra nói: ”Chẳng phải gió động, chẳng phải phướn động, tâm hai ông đang động đấy!” Mọi người kinh-ngạc nhìn vị cư-sĩ quê-mùa nói một câu chí-lý. Pháp-sư Ấn-Tông, trụ-trì chùa Pháp-Tánh, nghe mọi người bàn-tán, mới ra mời Ngài Huệ-Năng lên ngồi trên chiếu và trọng-đãi. Sau đó, nhà sư nhận ra vị cư-sĩ nầy chính là Lục-Tổ, nên bái nhận Ngài làm ”Thầy”, rồi mới làm lễ thí-phát cho.

Tại sao: ”chẳng phải gió động, chẳng phải phướn động”? (Phướn, chữ Hán-Việt là phan, hoặc tràng phan, tức là lá cờ dài, hẹp, treo lên cao, đòng-đưa theo ngọn gió). ”Chẳng phải gió động”, vì làm sao mà biết có gió động, nếu chẳng thấy có lá phướn phất-phơ cuốn bay theo cơn gió? ”Chẳng phải phướn động”, vì còn chưa thấy rõ cái gì đã làm cho phướn phải lung-lay? Hóa ra sự chuyển-động ở bên ngoài, mà hai nhà Sư đang tranh-cãi, đúng ra, là do ở nguyên-nhân hỗ-tương giữa gió và phướn; chấp riêng vào gió cũng sai, mà chấp riêng vào phướn cũng lầm. Còn chỗ đúng-đắn nhứt, mà ít người trông thấy ra được, lại chính là sự chuyển-động ở bên trong tâm (sự nội-động) của hai vị Tăng: tâm họ đang ôm chặt ý-kiến riêng của mình để chống-đối lại ý-kiến của kẻ kia. Xét thấu tận đến tâm của những kẻ khác, có lẽ chỉ các bực đã giác-ngộ như Ngài Lục-Tổ, mới nhìn được và thấy ra sự nội-động ở trong cả hai tâm-trạng của hai vị tu-hành còn cố-chấp đó.

*

153.- Các tâm-sở đã phối-hiệp rồi chẳng tách ra được .

Nhắc lại: Vấn-đề IX: ”Con người và thuyết Vô-ngã” đang được cứu-xét từ tiểu-mục số 051, đến tiểu-mục số 058, sắp được ta tìm hiểu, đều có mục-đích chứng-minh rằng trong thân và trong tâm nầy chẳng hề có một ”con người” nào cả, mà chỉ có các yếu-tố tâm-sanh-lý đã phối-hiệp nhau đưa đến sự cảm-nhận, sự suy-nghĩ và hành-động, tựa hồ như có một ”con người” đang cảm-nhận, đang suy-nghĩ và đang hành-động vậy.

Nơi tiểu-mục số 058, Vua hỏi Na-Tiên:

– Hiệp, trí, niệm, ý, động, những thứ đó hiệp nhau lại, rồi sau muốn phân-biệt mỗi thứ ra được chăng?

– Nếu đã khiến hiệp nhau lại rồi thì chẳng phân-biệt ra mỗi thứ được nữa.

Rồi để chứng-minh, Na-Tiên lấy một thí-dụ … khá ”ngon-lành”! Vua sai đầu-bếp nấu canh, canh phải có nước, thịt, hành, tỏi, gừng, muối, bột. Canh nấu xong dưng lên, Vua bảo lấy vị gừng riêng ra, để nếm, có được không? Lấy riêng làm sao được? Canh đã nấu rồi, đâu có thể tách mỗi vị riêng-biệt ra được.

Na-Tiên liền kết-luận:

– Các sự-việc ấy lại cũng như thế, một khi đã hiệp chung thành một rồi thì chẳng thể lấy riêng ra được, đây là sướng-khổ, đây là trí, đây là động, đây là ý-niệm.

Câu hỏi của nhà Vua, lời đáp và thí-dụ của Na-Tiên cần được đào sâu thêm:

1)- Các tâm-sở: hiệp, trí, niệm, ý, động, do nhà Vua đưa ra, đem so với các thuật-ngữ dùng trong Phật-học ngày nay, thì lời nói của Vua chẳng được chính-xác cho lắm:

a.- Hiệp: khi một giác-quan đối trước với vật đối-tượng bên ngoài, có sự tiếp-xúc; sự tiếp-xúc giữa giác-quan và đối-tượng, trong Phật-học ngày nay ta gọi đó là Xúc. Vậy thay vì nói Hiệp như trong bản dịch Hán-Văn, ta thấy nếu Na-Tiên dùng chữ Xúc, thì sẽ phù-hợp với Lý Mười Hai Nhân-Duyên hơn, vì khi có Lục-nhập (tức là sáu căn, hay là sáu giác-quan), thì sẽ có Xúc, tức là sự tiếp-xúc của Lục-nhập với đối-tượng.

b.- Trí: Vua và Na-Tiên dùng các chữ chí, giác, giác-tri, và trí như cùng một nghĩa với nhau, để nói đến các tri-giác trong Phật-học. Thế nào là tri-giác? – Khi các cảm-giác tại các giác-quan được truyền vào tâm, liền có sự phối-hợp giữa ý-thức với các thức ở giác-quan, để tạo thành tri-giác, nghĩa là, tâm đang nhận-biết hiện có cảm-giác ở ngoài vào. Rồi từ sự nhận-biết đó mà sự sướng-khổ khởi-sanh lên.

  1. Niệm và Y: Hai chữ nầy thật ra chẳng khác gì nhau, thông-thường ta thấy khi nói một niệm tức là muốn nói đến một ý, hoặc một tư-tưởng. Trong Phật-học, ý, hay niệm, hay tư-tưởng, đều là những tâm-sở, hiện-diện trong một thời-gian nơi tâm, và cóảnh-hưởng đến tâm-trạng của cá-thể. Nếu ta hiểu hai chữ Y và Niệm như trong Phật-học ngày nay, thì hai chữ Niệm, Y trong câu hỏi của nhà Vua nêu ở tiểu-mục số 058, tất phải có một chữ thừa-thải, vì trùng với chữ kia.

d.- Động: chẳng biết nhà Vua muốn hỏi chữ Động là theo ý chữ nội-động mà Na-Tiên đã cắt nghĩa như là ý-chí, hay là theo nghĩa chữ động trong hành-động? Nếu năm chữ ”hiệp, trí, niệm, ý, động” nói đến các tâm-sở, thì chữ động, chữ thứ năm trong năm chữ, phải có nghĩa là ý-chí, tức là ý-muốn quyết-tâm sẽ làm, nhưng còn chưa làm; còn nếu chữ động, chữ thứ năm ấy, lại chỉ về một động-tác bên ngoài, thì đó là một hành-động, đã biểu-hiện ra ngoài rồi, chớ chẳng còn ở trạng-thái một tâm-sở bên trong nữa.

e.- Tóm-tắt lại việc tìm hiểu về năm chữ ”Hiệp, trí, niệm, ý, động” trong câu hỏi của vua Di-Lan, ta thấy ý nhà Vua muốn hỏi như vầy: từ các cảm-giác bên ngoài đưa vào tâm cho đến lúc thành ra các tri-giác, thì các tâm-sở đã được phối-hiệp nhau rồi, có thể nào phân-tách riêng ra lại từng món được nữa không?

2)- Tại sao các tâm-sở phối-hiệp thành một tâm-trạng chung thì chẳng thể tách riêng ra được? Na-Tiên đã dùng lý-luận tương-tự để trả lời câu hỏi vừa nêu đó: món canh thịt ”ngon” kia có nhiều gia-vị đã nấu chín xong rồi, các món gia-vị đã hoà-tan hết trong nước canh thì làm sao tách riêng ra được. Cách lập-luận tương-tự nầy dùng chỗ giống nhau giữa canh và tâm-trạng, để chứng-minh sự bất-khả-phân của nhiều tâm-sở đã được phối-hiệp; nhưng lập-luận tương-tự ấy đã chẳng vạch rõ được, để cho ta thấy, tại sao chẳng thể nào phân-tách nổi. Lý-do ”chẳng thể tách ra được” là vì, từ bước đầu ở các cảm-giác, qua các giai-đoạn kế: tri-giác, sướng-khổ, rồi đến ý-chí, để chuyển thành hành-động, thì các tâm-sở vừa được kể đó đã bị biến-thái, chịu ảnh-hưởng lẫn nhau rồi phối-hiệp lại với nhau mà thành một tâm-trạng chung; và tâm-trạng chung nầy, tuy do các yếu-tố tâm-sở trước mà có, nhưng các yếu-tố đó đã cùng biến-thái theo tâm-trạng, đâu còn giữ y nguyên nữa, mà hòng tách ra để tìm lại. Vậy, để bổ-túc cho lập-luận tương-tự của Na-Tiên, ta nên nói thêm:

”Các sự-việc lại cũng như thế, một khi đã hiệp chung nhau lại làm một rồi, thì chẳng lấy riêng ra được” … Vì các tâm-sở đã phối-hiệp nhau thành tâm-trạng chung, nay đã biến-thái theo tâm-trạng, nên chẳng còn giữ nguyên-trạng nữa. Do vậy, chẳng thể tách rời chúng riêng ra được.

3)- Trước khi kết-thúc việc tìm hiểu tiểu-mục số 058, xin được phép nói sơ qua về các Tâm-sở. Tâm-sở là gì? Tâm là lòng; sở là chỗ; tâm-sở là những gì hiện đang có mặt ở trong lòng. Theo Duy-Thức-học của Phật-giáo Bắc-Tông, tâm-lý con người chia ra làm 6 tâm-vương và 51 tâm-sở. Tâm-vương là các hoạt-động chánh của sáu thức: nhãn-thức, nhĩ-thức, tị-thức, thiệt-thức, thân-thức và ý-thức. Còn tâm-sở là các hoạt-động phụ-thuộc khởi lên tiếp theo các tâm-vương; thí-dụ, nhãn-thức nhận biết thấy có bông hồng, liền khởi ý-muốn ngắt bông hồng đó; khởi lên ý-muốn đó là tâm-sở tác-ý.

Một cách tổng-quát, 51 tâm-sở chia thành (1) tâm-sở thiện, như tâm-sở tín (tin-tưởng), tâm-sở tinh-tấn (cố gắng), tâm-sở tàm (biết thẹn với lòng mình), và (2) tâm-sở bất-thiện, như tâm-sở tham, tâm-sở sân…

*

154.- Vai-trò của các giác-quan .

Nhắc lại: qua các tiểu-mục từ số 051 đến số 059 và 060 sắp tìm hiểu ở đây, Vua Di-Lan và Na-tiên bàn về các giác-quan và tâm, làm khởi lên tri-giác, sướng-khổ và đưa đến hành-động. Chính các cảm-giác tại giác-quan ở ngoài, các tri-giác, sướng-khổ ở trong tâm, đã chủ-động khiến cho cá-thể có sự nhận-biết đưa đến hành-động ở bên ngoài; tuyệt-nhiên chẳng có một ”ai”, hoặc một ”cái gì” đã đứng ra nhận-biết hay hành-động cả: đó là thuyết vô-ngã, cho rằng bên trong thân-tâm nầy, chẳng có cái ”Ta”, cái ”Ngã” chủ-động nào cả. Tiếp theo đây là hai đoạn văn trong quyển ”Tì-kheo Na-Tiên” xét về vai-trò và ảnh-hưởng của các giác-quan đến thân-tâm nầy.

Nơi tiểu-mục số 059, nhan-đề Vị của muối, có một đoạn nói về vai-trò của mắt. Vua Di-Lan hỏi Na-Tiên:

– Người dùng mắt nhìn muối có thể riêng biết vị của muối chăng?

– Đại-Vương có thể biết được mhư thế không?… Mắt chẳng thể nào biết được vị của muối …

Đây là một điều thường-thức hết sức sơ-đẳng mà ai ai cũng biết: vai-trò riêng-biệt của mỗi giác quan. Mắt chỉ để nhìn, tai chỉ để nghe, mũi chỉ để ngửi, lưỡi chỉ để nếm, thân để xúc-chạm …

Nhưng câu hỏi của nhà Vua đâu phải chỉ hỏi về điều sơ-đẳng đó, mà là: mắt nhìn thấy muối, có biết muối mặn không? Tức là, có phải là do nhờ mắt nhìn thấy được muối, rồi liền biết được ngay vị mặn của muối không? Chắc-chắn là mắt chẳng biết được vị; nhưng khi mắt nhìn thấy muối, thì tại sao ta lại có thể biết ngay là muối mặn? Câu trả lời là: mắt chỉ thấy muối, còn tâm thì biết vị của muối là mặn. Như thế, từ mắt vừa thấy, đến tâm biết vị của muối, đã có những gì xảy ra, hay là đã có ”ai” hoặc ”cái gì”xen vào làm cho biết được vị? Người hiểu biết đôi chút về Tâm-lý-học sẽ trả lời dễ-dàng: Mắt chỉ có nhiệm-vụ là nhìn thấy; còn nơi Tâm có ý-thức phối-hợp cảm-giác ở mắt cùng với ký-ức (= nhớ lại, vì trước kia đã có lần nếm muối rồi, nên nay biết nó mặn) mà tạo nên tri-giác: biết muối mặn. Quá-trình tâm-lý nầy, Phật-học diễn-tả lại dưới hình-thức sau đây: Mắt (nhãn-căn) nhìn đối-tượng muối bên ngoài, khởi lên cảm-giác thấy muối, cảm-giác nầy truyền vào tâm, gặp ý-thức (đang nhận-biết rằng mắt đang thấy muối), phối-hợp với hồi-niệm (= kinh-nghiệm cũ có lần nếm muối mặn), và tri-giác biết vị của muối là mặn liền khởi lên trong tâm, khiến cho kẻ thấy muối liền biết ngay là muối mặn.

Kế đó, nơi tiểu-mục số 060, Vua lại hỏi Na-Tiên về các tri-giác:

– Nơi thân con người, dùng ngũ tri thành mọi sự-việc, hay là làm một sự-việc mà thành?

Câu hỏi nầy quá mù-mờ, chẳng cho thấy rõ-ràng ý người hỏi đã muốn hỏi gì. Ngũ tri ở đây có nghĩa là năm tri-giác, do các cảm-giác từ các giác-quan bên ngoài đưa vào, phối hợp với ý-thức bên trong tâm mà thành. Nói cách khác, tại các căn (= giác-quan), nhãn-thức, nhĩ-thức, tị-thức, thiệt-thức, thân-thức truyền cảm-giác vào tâm, cùng với ý-thức kết-hợp lại thành ra nămtri-giác. Nay nếu ta hiểu nghĩa chữ ngũ tri là năm tri-giác, do từ các cảm-giác ở năm căn bên ngoài (mắt, tai, mũi, lưỡi và thân) đưa vào, kết-hợp với ý-thức bên trong tâm mà thành, thì câu hỏi của nhà Vua có nghĩa là: con người dùng năm tri-giác mà thành mọi sự-việc, hay là chỉ cần một tri-giác mà thôi?

Lời Na-Tiên đáp lại cũng chẳng kém mù-mờ, khó hiểu:

– Làm thành mọi sư-việc, chớ chẳng phải do một sự-việc mà thành.

Nếu ta hiểu chữ ”sự-việc” ở đây là các tâm-trạng còn ở bên trong, hoặc các hành-động đã lộ ra bên ngoài, thì lời đáp của Na-Tiên có nghĩa là, mọi ”sự-việc” đều do cảnăm tri-giác phối-hợp lại mà thành, chớ chẳng phải chỉ do một tri-gác. Điều nầy cũng dễ hiểu, vì mọi tâm-trạng đều do các tâm-sở kết thành, trong số các tâm-sở đó hoặc có một tri-giác hoặc nhiều tri-giác. Hay là mọi hành-động cũng đều do nhiều tri-gác bên trong thúc-đẩy ra bên ngoài, chớ chẳng phải chỉ riêng có một tri-giác. Hiểu theo lối nầy thì mới phù-hợp với ý-nghĩa trong tiểu-mục trước nói về trong nước canh đã nấu chín, chẳng thể tách riêng ra từng vị được, vì đã có sự phối-hợp giữa các vị-nếm rồi. Tiểu-mục số 060 nầy chỉ nhắc lại cái ý-tưởng phối-hợp đó, chung cho cả năm loại tri-giác, tạo nên hai thứ ”sự-việc” là (1) tâm-trạng, và (2) hành-động. Thế thôi! Và ta lại thấy thí-dụ trồng ngũ cốc trên một thửa đất, do Na-Tiên đưa ra thêm, cũng chẳng còn cần-thiết nữa.

*

155.- Sự bất-bình-đẳng nơi loài người .

Tiếp theo nơi tiểu-mục số 061, Vua Di-Lan hỏi Na-Tiên, vì sao có sự bất-bình-đẳng trong loài ngưuời; có người đẹp kẻ xấu, người sang kẻ hèn, người khoẻ-mạnh, kẻ tàn-tật, người được tôn-kính kẻ bị khinh-khi… Tì-kheo Na-Tiên đưa ra thí-dụ cây cối có trái chua quả ngọt, có đắng, có cay, và loài người cũng lại như vậy. Lý-do của sự bất-bình-đẳng, có sẵn từ lúc mới ra đời và lại kéo dài cả cuộc sống, đó là vì, theo lời Đức Phật dạy:

– Tùy người làm điều thiện-ác mà tự mình phải đắc được điều thiện-ác ấy; có người hào-quí, có người bần-cùng, tất cả đều do mạng sống đời trước đã làm điều thiện-ác, mỗi người đều tùy theo đức-hạnh của mình mà được như thế.

Ta thấy lời Đức Phật dạy về sự bất-bình-đẳng, mà Na-Tiên nhắc lại đây, thường được nghe giảng trong Giáo-lý về lý-thuyết Nghiệp-quả: bởi đời trước làm điều bất-thiện nên nghiệp-quả đã dẫn dắt tái-sanh vào chỗ khốn-khó, phải gánh-chịu lấy ác-nghiệp, tức là ảnh-hưởng còn sót lại của các hành-vi cố-ý xấu-ác ở đời trước. Chính thuyết nghiệp-quả nầy đã giải-thích được, một cách hữu-lý, sự chênh-lệch giữa thân-phận của mọi người. So với các thuyết khác, định-mạng, hoặc ngẫu-nhiên, thuyết nghiệp-quả có phần cao-thâm hơn:

– vì thuyết nghiệp-quả tôn-trọng và đề-cao tự-do cá-nhân: hạnh-phước con người đâu có lệ-thuộc vào một đấng Thượng-đế nào đã áp-đặt sẵn, mà chính mình tự-tạo nghiệp ra lấy cho mình để gánh-chịu: lúc đầu mình làm chủ tạo ra nó, về sau nó trở lại làm chủ mình.

– vì tin ở thuyết nghiệp-quả, hành-động của con người trở nên đứng-đắn hơn, có tinh-thần trách-nhiệm hơn, biết giữ-gìn đức-hạnh cho thanh-cao hơn.

– vì thuyết nghiệp-quả đã giải-thích một cách rất ư công-bằng sự bất-bình-đẳng trong thân-phận của mọi người: đời nầy cứ tha-hồ làm ác, rồi đời sau sẽ phải chịu khổ, thì trách ai?

*

156.- ”Lộc riêng” hay là chính đó là Nghiệp-lực?

Tiểu-mục số 063, khá dài, tuy bàn về chuyện lửa ở dưới địa-ngục, nhưng nếu suy-nghĩ kỹ lại, thì thấy ý-chánh của tiểu-mục có liên-quan đến một khiá-cạnh của nghiệp-lực. Vua Di-Lan đang thắc-mắc về địa-ngục, nên mới hỏi Na-Tiên như vầy:

– Chư sa-môn các khanh có nói, lửa ở thế-gian chẳng giống với lửa ở địa-ngục. Lại nói, cầm một hòn đá nhỏ đốt trong lửa ở thế-gian mãi cho đến chiều tối, cũng chẳng tiêu-tan, mà cầm một hòn đá lớn đốt trong lửa địa-ngục thì tiêu-tan ngay được. Do đó, Ta chẳng thể tin được. Các khanh cũng lại nói, người làm ác, khi mất, phải chịu sa vào địa-ngục hằng ngàn vạn năm còn chưa chết tiêu được; do đó, Ta lại càng chẳng thể tin lời nói đó được.

Sự thắc-mắc của nhà Vua gồm có hai điểm: (1) lửa ở thế-gian chẳng giống với lửa địa-ngục; (2) thời-gian mạng sống ở thế-gian và địa-ngục khác nhau. Thắc-mắc chính-đáng đó có thể được giải-tỏa ngay được phần nào, bằng một câu trả lời giản-dị: thế-gian và địa-ngục là hai cảnh-giới hoàn-toàn khác nhau, vì thế, lửa và thời-gian ở hai nơi phải khác nhau. Tuy nhiên câu trả lời đó lại gây thêm một thắc-mắc khác:

Hai cảnh-giới thế-gian và địa-ngục đó khác nhau như thế nào, và làm cách sao mà biết được?

Đến cái thắc-mắc mới nầy, thì xin chịu thôi (!), chẳng thể nào làm cho người thế-gian biết rõ được cảnh-giới ở địa-ngục, trừ phi có một người còn sống đi vào được địa-ngục rồi trở về thuật lại những gì đã nghe thấy nơi cảnh-giới ấy: một việc chẳng có thường-nhơn nào ở thế-gian nầy làm được cả.

Vì chẳng thể nào trỏ cho người ở thế-gian thấy được việc xảy ra ở điạ-ngục, Na-Tiên phải dùng lý-luận tương-tự để chứng-minh rằng:

(1) ngay tại thế-gian nầy, có những sự-vật vẫn còn tồn-tại được, trong khi các sự-vật khác, cùng một hoàn-cảnh, lại bị tiêu-tan;

(2) ở địa-ngục cũng thế, tội-nhơn chịu cực-hình chết đi sống lại trong thời-gian rất dài mà chẳng tiêu-tan.

Căn-bản của lập-luận tương-tự nầy là các bào-thai trong bụng mẹ cứ tiếp-tục nẩy nở trong bụng mẹ, mà các thực-phẩm do mẹ ăn vào trong bụng lại được tiêu-hóa hết. Chỗ tương-tự mà Na-Tiên muốn nhấn mạnh đến là, cùng trong bụng mẹ, thai-nhi thì còn, mà thực-phẩm lại tiêu-tan. Na-Tiên đưa ra rất nhiều thí-dụ mang thai, từ giao-long cái, giáp-ngư cái, sư-tử cái, cọp cái, chó cái, trâu cái, ngựa cái,… cho đến các vị phu-nhơn, có bà trưởng-giả ”có bầu” cứ ăn-uống như thường mà thai-nhi vẫn được trưởng-dưỡng, trong khi các thực-phẩm thì bị tiêu-hóa ra ngoài. Lý-do là các thai-nhi nhờ có ”lộc riêng” mà tồn-tại được. Và sau mỗi thí-dụ đó, Na-Tiên nhắc đi nhắc lại nhiều lần cái kết-luận về việc xảy ra ở địa-ngục:

– Người nơi địa-ngục cũng lại như vậy, sở dĩ ngàn vạn năm chẳng chết tiêu là do ở đời trước làm việc ác còn chưa được giải hết, vì thế mà chẳng chết tiêu. Người ở nơi địa-ngục, lớn lên ở địa-ngục, rồi già-nua cho đến tận thì mới chết được.

Chẳng biết vua Di-Lan đã hiểu chữ ”lộc riêng” như thế nào và lập-luận tương-tự của Na-Tiên cho rằng ”lộc riêng” đó giống với ”việc ác còn chưa được giải hết” có ”thấm vào” trí hiểu-biết của nhà Vua chút nào không, mà nhà Vua lại khen lập-luận ấy: Lành thay!

Thiện Nhựt lại nghĩ khác, vì Giáo-lý và khoa-học dường như chẳng chấp-thuận sự giải-thích bằng lập-luận tương-tự như thế đó.

Sản-khoa trong y-học dạy rằng, khi mang thai, nếu mẹ dùng đến thực-phẩm hay dược-phẩm nào có tánh-chất kỵ-thai, có thể bị … hư thai.

Về mặt Giáo-lý, Phật-học có dạy, nơi lý-thuyết Mười Hai Nhân-Duyên, khi có mặt Vô-minh thì Hành (= hành-nghiệp) nổi lên; khi Hành khởi-sanh thì Thức (= nghiệp-thức) phát-động và đi vào bào-thai nơi bụng mẹ mà trở thành Danh-sắc (= thai-nhi) có được mạng sống. Chính mạng-sống cùng nghiệp-thức đã khiến thai-nhi lớn lên để sau nầy sanh ra khỏi bụng mẹ. Vậy, có lẽ chữ ”lộc riêng”, mà Vua Di-Lan và Tì-kheo Na-Tiên đã dùng, trỏ ngay vào sự phối-hợp giữa hành-nghiệp và mạng sống đó chăng? Nhưng theo nghĩa đen của chữ Hán-Việt, ”lộc” là phước riêng của một cá-nhơn, như nói ”người được hưởng lộc”, như gọi người chết là ”thất lộc”. Thiện Nhựt lấy làm lạ tại sao tác-giả, hay dịch-giả Hán-văn, chẳng dùng đến chữ ”Nghiệp” thay thế cho chữ ”lộc” trong quyển ”Tì-kheo Na-Tiên” nầy, mà lại lấy chữ ”lộc” vừa tốt vừa quí ở thế-gian đây, để ví với ”tội cũ” đã vừa xấu lại vừa dữ còn chưa được giải-tiêu ở địa-ngục kia.

Nếu còn có người thắc-mắc, làm sao biết chắc có địa-ngục, và địa-ngục ra làm sao, thì tưởng nên căn-cứ vào Giáo-lý mà nói: những người đắc-đạo như Ngài Mục-kiền-liên chẳng hạn, có thể dùng phép thần-thông mà vào ra điạ ngục để thăm mẹ, như trong Kinh Vu-lan có nhắc đến. Và khi mình tu chưa đắc-đạo, tưởng cũng chẳng nên nôn-nóng muốn biết sự-việc ở các cảnh-giới khác, sao lại chẳng chịu nhớ rằng, việc cần-cấp hiện giờ là phải chuyên-cần tinh-tấn tu-tập ngay?

*

157.- Nên có thái-độ nào đối với thân-tâm nầy?

Như đã xét qua các tiểu-mục vừa kể trong Vấn-đề IX nầy: Con người và thuyết Vô-ngã, thân-tâm nầy đã là vô-ngã, chẳng có chủ, thì đối với nó, ta nên có thái-độ như thếnào. Đó là ý-chánh của tiểu-mục số 075, phần Phỏng-dịch. Tiểu-mục nầy cách xa các tiểu-mục vừa cứu-xét, nhưng ý-chánh lại liên-quan đến vấn-đề mà ta đang tìm hiểu.

Vua hỏi Na-Tiên:

– Sa-môn có mến-thương thân-thể của mình chăng?

– Sa-môn chẳng tự thương-mến thân mình.

– Sa-môn đã chẳng mến-thương thân mình, cớ sao khi nghỉ-ngơi lại muốn nằm nơi êm-ả, khi ăn uống lại muốn vật ngon của đẹp, tự săn-sóc mình như thế?

Câu hỏi nầy của Vua, tuy xác-đáng, nhưng có hơi ”mỉa-mai” một chút, cho nên lời đáp của Na-Tiên cũng khá ”dí-dỏm” để đối lại. Na-Tiên hỏi ngược lại nhà Vua: Khi nhà Vua ra trận bị thương thì làm sao? Vua đáp, thì băng-bó vết thương lại. Na-Tiên hỏi tiếp:

– Đại-Vương vì mến-thương vết thương mà dùng thuốc, dùng cao và bông gòn băng-bó vết thương chăng?

– Ta chỉ mong-muốn vết thương mau lành, chớ đâu có mến-thương nó.

– Sa-môn cũng lại như vậy, chẳng mến-thương thân mình; tuy ăn uống, tâm chẳng vui-khoái… mà chỉ muốn cho thân-thể khoẻ-mạnh để có thể phụng-hành giới-luật, kinh-kệ của Phật…

Rồi nhân đó, Na-Tiên trích-dẫn một đoạn Kinh: ”Thân người có chín lỗ hổng, tựa như chín vết đâm của mâu-thương; từ nơi chín lỗ đó chảy ra chất dơ hôi-thúi…”

Ta đã biết, thân-tâm nầy là vô-thường, sẽ có ngày tan-rả, nhưng nó rất quí-báu vì nhờ nó mà ta mới có thể học đạo giải-thoát. Do đó, thái-độ đứng-đắn đối với thân-tâm vô-ngã nầy là phải giữ-gìn nó cho được khoẻ-mạnh để mà học Đạo, chớ chẳng phải cung-phụng nó để cho nó chạy theo các thú-vui vật-chất.

*

158.- Thân-tâm nầy, khi phân-tách kỹ ra, là vô-ngã.

Nơi tiểu-mục số 096, câu hỏi cuối cùng của Vua Di-Lan có liên-quan đến thân-phận của con người. Đây là câu hỏi kết-thúc cuộc đàm-luận đầy lý-thú về Phật-Pháp giữa nhà Vua và vị Tì-kheo. Vua hỏi Na-Tiên:

– Được làm người, cái chi làm cho ta đắc được làm người? Mắt thì thấy sắc, tai thì nghe tiếng, mũi thì ngửi mùi, miệng thì nếm vị, thân thì biết chỗ thô, chỗ nhuyễn, trí thì biết phân-biệt điều lành, điều ác, thế thì cái chi làm cho ta đắc được làm người?

Ta nên tìm hiểu ý-nghĩa của câu hỏi quan-trọng nầy. ”Đắc được làm người” tức là được làm ”người”, và nơi con người ấy, các căn: ”mắt, tai, mũi, miệng, thân và trí” khi khởi-động, có phải đó là ”con người” chăng? Hay là còn có đặc-điểm quan-trọng, chủ-chốt nào khác ở trong thân-tâm đó làm cho ta được thành ”con người”?

Na-Tiên chẳng trả lời ngay, mà hỏi ngược lại Vua:

– Thí dụ như có người khiến cho mắt nhướng lên ra khỏi đồng-tử thì có thấy được rộng xa hơn chăng, khiến cho vểnh tai to lên thì có nghe được tiếng ở thật xa chăng, khiến cho mũi hỉnh lớn lên thì có ngửi được mùi nhiều thêm chăng, khiến cho miệng mở hoác ra thì có nếm được nhiều vị chăng, khiến cho da thịt căng phồng rộng ra thì có biết thêm thô nhuyễn chăng, khiến cho trí vượt nổi lên thì có suy-niệm được nhiều thêm chăng?

– Chẳng được.

Xét ý-nghĩa của câu vừa qua mà Na-Tiên hỏi ngược lại Vua, ta thấy, Na-Tiên muốn hỏi: giả-dụ các căn có nới rộng giới-hạn thêm ra, thì các cảm-giác ở mắt, tai, mũi, miệng, da và sự suy-niệm ở trí có gia-tăng thêm lên chăng? Tức là, Na-Tiên ngầm cho rằng, các căn đó, dầu cho có nới rộng thêm ra, cũng chẳng phải là các ”cái” đã làm cho ta ”đắc được làm người”. Dụng-ý đó của Na-Tiên đã được Vua đồng-ý, khi Ngài đáp: ”Chẳng được.”

Đọc tới nữa, ta lấy làm lạ, tại sao Na-Tiên (và tác-giả quyển ”Na-Tiên Tì-kheo Kinh” nầy) đã bỏ lửng cái dụng-ý trên đây mà lại quay sang nói đến khả-năng siêu-việt của Đức Phật: ”…nơi chỗ làm, Ngài đã làm được việc thật khó; nơi chỗ biết, ngài đã biết rất thâm-diệu…” khiến cho mạch-lạc đoạn văn nầy trở nên lỏng-lẻo và… lủng-củng! Đây ta thử đọc tiếp theo ngay đó, thì sẽ thấy rõ chỗ thiếu mạch-lạc:

Na-Tiên liền nói:

– Đức Phật tại chỗ làm, Ngài đã làm được việc thật khó; nơi chỗ biết, Ngài đã biết rất thâm-diệu.

– Chỗ đã làm việc thật khó, chỗ đã biết rất thâm-diệu, ý-nghĩa như thế nào?

– Đức Phật nói: Ngài có thể biết được các bộ-phận ở trong người, giải-thích được những gì mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, miệng nếm, thân sờ-chạm, cắt nghĩa các điều thành-bại, các việc nghi-ngờ, giảng rõ các tư-tưởng, ý-niệm, các vấn-đề tâm-linh.

Kế đó, Na-Tiên lại đưa một thí dụ về ngụm nước biển, như sau:

– Như có người ngậm một ngụm nước biển mặn, có thể nào phân-biệt ra được phần nước nào là nước từ suối chảy đến, phần nước nào từ sông chảy đến chăng?

– Nước hòa chung lại thành một, làm sao biết riêng được.

– Chỗ Phật đã làm một việc thật khó, là phân-biệt biết rõ hương-vị của mọi thứ nước, như nước biển mà nay Đại-Vương còn chưa phân-biệt được, như thần-trí con người vẫn chưa thấy được trong thân có sáu sự-việc chẳng thể thấy…

Sau thí dụ ngụm nước biển đó, Na-Tiên mới đi một kết-luận:

– Bởi thế cho nên, Đức Phật đã giải-thích, tòng theo tâm-niệm mà đến với mắt mới thấy vật, tòng theo tâm-niệm mà đến với tai mới nghe tiếng, tòng theo tâm-niệm mà đến với mũi mới ngửi mùi, tòng theo tâm-niệm đến với miệng mới nếm vị, tòng theo tâm-niệm đến với thân mới biết sướng khổ, nóng lạnh, thô cứng, tòng theo tâm-niệm đến với ý mới biết chỗ qui-hướng. Phật tất biết hết cả, phân-biệt giải-thích rõ-ràng hết cả.

Vương khen: Lành thay!

Tiểu-mục số 096 kết-thúc với lời Vua khen: Lành thay. Như thế, khi Vua hỏi, ”cái gì làm cho ta đắc được làm người”, Na-Tiên chẳng trả lời thẳng câu hỏi đó, mà lại nói về trí hiểu-biết siêu-việt của Phật, đã làm và biết hết tất cả. Chính vì thấy chỗ ”trả lời ăn trớt” đó, nên Thiện-Nhựt mới phạm tội hỗn-hào, nói tiểu-mục nầy hơi ”lủng-củng”.

Đọc kỹ lại tiểu-mục nầy nhiều lần, Thiện Nhựt thấy rất rõ-ràng: ý-chánh là nói về thuyết vô-ngã, nơi thân-tâm nầy chẳng có cái chi đứng làm chủ-chốt cả, chẳng có cái ”Ngã” nào ở trong đó đứng ra làm cho Ta ”đắc được làm con người cả.” Thiện Nhựt lấy làm lạ sao, khi có dụng-ý muốn nói, dầu cho các giác-quan có được mở rộng thêm giới-hạn (như mở bét mí mắt ra, vểnh vành tai lên…) cũng chẳng làm cho kẻ đó thấy-nghe-biết nhiều hơn lên thì, đương-nhiên phải đi đến kết-luận là: các giác-quan chẳng thể làm cho ta đắc được con người.

Nhưng rất tiếc, Na-Tiên lại quay sang nói về nhứt-thiết-trí (= trí hiểu biết tất cả) của Đức Phật. Hoặc giả, Na-Tiên muốn dựa lên trên nhứt-thiết-trí của Đức Phật để chỉ cho ta thấy rõ rằng ”tòng theo tâm-niệm mà đến với mắt, với tai, … thì mới thấy được vật, nghe được tiếng”, để chứng minh rằng chính cái”tâm-niệm” ấy, hoặc cái tiến-trình từ tâm-niệm đến các giác-quan mới khiến ”con người” thấy, nghe, và biết… được. Nhưng tuyệt-nhiên, ta chẳng thấy trong tràng lý-luận của Na-Tiên có một chỗ nào minh-thị khẳng-định, hoặc phủ-định rằng, cái tâm-niệm đó chính là ”cái” mà Vua Di-Lan đã muốn hỏi, tức là ”cái chi làm cho ta đắc được làm con người?”

Đến đây, ta thấy rõ, muốn trả lời thẳng câu hỏi của vua Di-Lan, thì Na-Tiên chỉ có một giải-pháp duy-nhứt, đúng theo Giáo-lý nhà Phật, là nói: Chẳng có ”cái chi” trong thân-tâm nầy đã khiến cho ta đắc được làm ”con người”hết. Và đó là lý-thuyết vô-ngã được Đức Phật dạy trong Kinh Vô-ngã-tướng (Tương-Ưng Bộ-Kinh, Q.3, Ph. Tham-luyến, VII, trang 125-129) là bài Kinh thứ nhì của Đức Phật thuyết-giảng tại vườn Lộc-Uyển, sau bài Kinh Chuyển Pháp-Luân, có sự tham-dự nghe của năm anh em ông Kiều-Trần-Như. (Ông Kiều-Trần-Như chứng quả Thánh ngay sau khi nghe bản Kinh thứ nhứt; còn bốn vị kia, nhờ nghe thêm Kinh Vô-ngã-tướng mới chứng được đạo-quả.)

Nhưng, để trả lời câu Vua hỏi, nếu chỉ có mỗi một việc là cứ đáp, chẳng có ”cái chi” trong thân-tâm nầy đã khiến cho ta đắc được làm ”con người” là đủ rồi, thì tại sao Na-Tiên lại dài-dòng trong thí-dụ về ngụm nước biển và nhứt-thiết-trí của Thế-tôn?

Theo ngu-ý, Thiện Nhựt thấy chẳng phải Na-Tiên đã làm mất thời-giờ của nhà Vua chút nào đâu. Khi nêu lên thí-dụ đó, Na-Tiên muốn chỉ cho nhà Vua thấy rằng, chỉ có sự phân-tách hết sức tỉ-mỉ bằng nhứt-thiết-trí của Thế-tôn mới đưa đến sự ”phân-biệt giải thích rõ-ràng hết tất cả”. Nếu chẳng chịu khó phân-tích thân-tâm tỉ-mỉ như thế, thì làm sao có được một lời giải-thích rõ-ràng và chính-xác? Và khi phân-tách tỉ-mỉ thân-tâm nầy, ta chỉ thấy có nhiều yếu-tố, hoặc vật-lý như sự-vật đối-tượng bên ngoài, hoặc sanh-lý như các giác-quan, hoặc tâm-lý như các tâm-sở, tâm-niệm, cùng phối-hợp nhau, tác-động lên lẫn nhau, mà thành các sự thấy, nghe, hiểu, biết, hành-động của con người, chớ chẳng hề có một yếu-tố nào đứng làm ”con người”’ vào nằm trong thân-tâm ấy để riêng tự mình mà đóng vai-trò hoàn-toàn chủ-động được cả. Đó chẳng phải lý-do chứng-tỏ rằng con người là vô-ngã hay sao?

Xin nhắc lại: ngay khi vừa tiếp-kiến Na-Tiên và phái-đoàn Tì-kheo đến hoàng-cung, Vua Di-Lan có hỏi: ”Ai là Na-Tiên? … Đầu, … mắt, tai, mũi, miệng là Na-Tiên chăng?” (tiểu-mục số 013, trang 11). Và Na-Tiên đáp: ”Chẳng phải”. Đến câu hỏi cuối-cùng nầy, (tiểu-mục số 096, trang 76), Vua cũng hỏi lại: ”… mắt, tai, mũi… cái chi làm ta đắc được con người?” Phải chăng, cả hai câu hỏi, câu hỏi đầu-tiên và câu hỏi cuối cùng của nhà Vua đều qui về chung một vấn-đề duy-nhứt, mà nhà Vua thắc-mắc hơn hết: ”Con người là ai?” Và hai lời giải-đáp của Tì-kheo Na-Tiên, vào hai lúc trước và sau, cũng đều được nhà Vua tán-thưởng cả. Cho nên, một bực tinh-ý như Tì-kheo Na-Tiên tất nhận thấy rằng, có lẽ giờ đây chính là lúc nên kết-thúc cuộc đàm-luận và xin kiếu-từ ra về.

Cuộc đàm-luận lý-thú giữa bực Vương-giả với vị Tì-kheo lỗi-lạc có thể kết-thúc tại đây, nhưng công-việc Tìm hiểu Nghĩa Ý vẫn chưa thể gọi là xong-xuôi, vì đã bỏ sót vài câu hỏi của vua Di-Lan, còn chưa được xét đến. Các câu hỏi nầy chỉ có tầm quan-trọng thứ-yếu về các kiến-thức tổng-quát tại các tiểu-mục: số 059; số 064; số 079; và số 093. Vậy xin xét nốt tại Vấn-đề X: Các câu hỏi linh-tinh về kiến-thức tổng-quát.

 

X.- Vấn-đề: Các câu hỏi linh-tinh về kiến-thức tổng-quát 

159.- Muối, nước biển và biển .

Tại tiểu-mục số 059, nhân thí-dụ của Na-Tiên về món canh có thịt, có muối, có gừng…, Vua Di-Lan nêu lên câu hỏi về vị của muối, như sau:

– Người dùng mắt nhìn vị của muối có thể riêng biết được chăng?

– Đại-Vương có biết được như thế không? Có thể nào dùng mắt nhìn mà biết được vị của muối hay sao?

– Mắt chẳng thể biết được vị của muối.

Ai cũng biết mỗi giác-quan có cơ-năng riêng: mắt thấy vật, tai nghe tiếng, lưỡi nếm vị, thì làm sao mà mắt có thể nếm được vị. Nhưng con người còn có kinh-nghiệm bản-thân về các vật đối-tượng bên ngoài, một khi có đã có kinh-nghiệm lưỡi nếm vị của muối mặn rồi, thì sau đó, mắt nhìn thấy muối, liền nhớ đến kinh-nghiệm cũ, nên biết ngay chất muối đó, vị của nó thì mặn.

Đến câu hỏi: ”Chiếc xe trâu chở muối có riêng biết vị của muối chăng?”, thì quả thiệt là ”ngớ-ngẩn” quá, vì lẽ chiếc xe là vật vô-tri, có biết được cảm-giác nào đâu, mà hòng riêng biết vị của muối?

Lại đến một câu hỏi nữa: ”Vị của muối có thể cân-lường được chăng? cũng chẳng kém phần ”ngớ-ngẩn”. Vị thì chẳng thể nào đặt lên bàn-cân mà cân cho được, nhưng vị mặn, ít hay nhiều, mằn-mặn, mặn-chát, thì có thể được phân-biệt riêng ra, nhưng chỉ bằng lưỡi mà thôi. Còn cân-lường được, chẳng phải là vị của muối, mà là sức-nặng của muối kia. Mấy điều hiểu-biết thường-thức nầy, có lạ gì với một bực Vương-giả ”văn-võ toàn tài, lảu-thông thao lược” như Vua Di-Lan.

Tới tiểu-mục số 093, nhà Vua hỏi vị Tì-kheo về biển và nước biển. Câu trả lời của Tì-kheo Na-Tiên về nước biển có chỗ chẳng được chính-xác cho lắm. Na-Tiên nói:

– Sở dĩ người ta gọi là biển, vì trong nước biển có nửa phần nước, nửa phần muối.

Chỗ thiếu chính-xác đó là nước biển thường chỉ chứa nhiều lắm là một phần trăm chất muối, chớ chẳng phải đến năm mươi phần trăm. Trên thế-giới chỉ có biển-hồ Mer Morte, ở vùng Trung-Đông, có mật-độ muối trong nước lên đến hai mươi sáu phần trăm mà thôi.

*

160.- Tứ-đại là gì?

Nhân đang bàn chuyện lửa ở thế-gian, lửa ở địa-ngục, nhà Vua hỏi Na-Tiên (tiểu-mục số 064):

– Sa-môn các khanh có nói, đất trong thiên-hạ đều ở tại trên nước, nước ở tại trên gió, gió ở tại trên không, Ta chẳng thể tin là đúng như thế.

Thay vì trả lời thẳng câu Vua hỏi, Na-Tiên cầm bầu nước giơ lên và hỏi ngược lại Vua:

– Nước trong bầu nầy có phải do gió trì giữ chăng?

– Dĩ nhiên, do gió trì giữ.

– Gió trì giữ nước, cũng lại như vậy.

Vua khen: ”Lành thay!”

Chẳng biết Vua hiểu lời giải-thích của Na-Tiên như thế nào, nhưng Thiện Nhựt thấy cần lợi-dụng cơ-hội nầy để tìm hiểu thêm về Tứ Đại. Thế-giới vật-chất có bốn chất nguyên-tố, có mặt ở khắp nơi, gọi là Tứ Đại (tứ = bốn; đại = lớn). Vì có mặt ở khắp mọi nơi nên được gọi là Đại, là lớn: địa-đại (đất, chất cứng), thủy-đại (nước, chất lỏng), hoả-đại (lửa, hơi nóng) và phong-đại (gió, chất khí). Bốn chất: cứng, lỏng, nóng và hơi nầy nương vào nhau mà tồn-tại. Chỗ nương vào nhau đó chính là chỗ mà Vua Di-Lan và Tì-kheo Na-Tiên gọi là ”trì-giữ”.

Nương-tựa vào nhau là như thế nào? Trong đất, đã có nước, có nóng, có hơi; cũng như trong nước, cũng có các chất kia vậy. Và trong bốn đại, luôn luôn có sự tương-trì, khi thì hoà-thuận nhau; có sự tương-khắc nhau, khi thì chống-đối nhau, khiến cho có sự biến-chuyển luôn luôn nơi vật-chất, mà thành ra cái lẽ vô-thường của vạn-vật, luôn luôn biến đổi.

*

161.- Khóc .

Nhân khi nghe nói về Đức Phật tự mình thông-hiểu tất cả Kinh-kệ và Giới-luật, Vua Di-Lan mới hỏi Na-Tiên:

– Có kẻ khi cha mẹ chết thì than-khóc, lệ tràn; lại có người vì nghe Kinh Phật mà ứa lệ, hai lần chảy nước mắt có khác nhau không?

Lời đáp của Na-Tiên có vẻ hơi ”nghiêm-khắc” đối với những người con bởi thương cha mẹ chết mà khóc, vì Na-Tiên bảo:

– Kẻ vì cha mẹ chết mà khóc là do thương-cảm, tâm-niệm ưu-sầu, đau-khổ; các sự ưu-sầu đó tức là ưu-sầu của sự ngu-si. Còn người ứa lệ vì nghe được Kinh Phật là do tâm-niệm từ-ái, nghĩ đến thế-gian khổ-nhọc, nên mới khóc, như thế được phước rất to lớn.

Xin đồng-ý với Na-Tiên là do tâm-niệm từ-ái nghĩ đến cảnh-khổ ở thế-gian mà khóc khi nghe được Kinh Phật, nhưng kẻ khóc vì cha-mẹ chết nào có khóc vì sự ngu-si đâu? Thật ra, cả hai cảnh khóc đều do tâm cảm-động mà ứa lệ. Cảm-động vì người mình thương nay chẳng còn nữa, nên mình mới khóc. Cảm-động vì từ trước đến giờ mình chẳng hiểu rõ thân-phận khốn-khổ của con người nơi thế-gian nầy, nay nghe Kinh Phật giải rõ chỗ ngu-si của mình ra, chỉ cho mình và các đồng-loại của mình thấy con đường thoát khổ, nên mình mới ứa lệ. Và cả hai cái khóc chơn-thành đều mang lại phước lành cả.

*

162.- Tâm-trạng của Vua Di-Lan và Tì-kheo Na-Tiên sau cuộc đàm-luận về đạo-pháp .

Đến đây chỉ còn tóm-tắt vài trang ở đoạn chót nơi Phần III của cuốn ”Na-Tiên Tì-Kheo Kinh”, thì có thể kết-thúc việc Tìm hiểu Nghĩa Ý.

Sau câu hỏi chót về ”cái chi làm cho ta đắc được làm người?”, của nhà Vua, Tì-kheo Na-Tiên cảm thấy đã đến lúc nên kết-thúc cuộc đàm-luận kỳ-thú về Giáo-lý nhà Phật giữa hai người, nên thưa rằng:

– Đã quá nửa đêm rồi, tôi xin ra về…

Trước khi tiễn-biệt, vua nói lời khen tặng (mà cũng tự-khen nữa):

– Được vị Thầy dạy như Na-Tiên, và có đệ-tử như Ta, chắc là mau đắc Đạo lắm.

Kế đó, Vua sai mang mười vạn bộ y thật đẹp để cúng-dường, và mời Na-Tiên cùng các Tì-kheo hằng ngày cứ đến vương-cung để dùng cơm; ngoài ra, nếu có cần dùng điều chi Vua sẽ cung-phụng. Trước lời từ-chối khiêm-nhường của Na-Tiên, Vua Di-Lan thành-khẩn bảo, ”Na-Tiên nên nhận để tự giúp mình mà cũng để giúp cho Vua”. Na-Tiên thắc-mắc hỏi sao lại tự-giúp mình mà lại cũng giúp cho Vua nữa. Nhà Vua giải-thích rất khéo-léo:

– Sợ e người ngoài bàn-tán bảo rằng Ta keo-kiệt, Na-Tiên đã vì Vua giải hết các chỗ hồ-nghi mà Vua chẳng ban thưởng gì cả. Hoặc sợ e có kẻ khác bảo, Na-Tiên đã chẳng giải nổi được các chỗ Vua còn hồ-nghi, nên chẳng được Vua ban-thưởng gì cả. Na-Tiên mà nhận, đó là giúp Ta được phước, mà cũng giúp cho Na-Tiên giữ được tròn danh-tiếng…

Na-Tiên mới nhận tặng-phẩm và ra về, dưới ánh đuốc của các quan hầu-cận theo lịnh Vua đưa phái-đoàn Tì-kheo về chùa.

Đêm ấy, Vua nằm thao-thức, nghĩ rằng, ”đã hỏi Na-Tiên biết bao lời, Na-Tiên đều giải-đáp tất cả. Ta tự nhớ lại các chỗ đã hỏi, chẳng có câu nào Na-Tiên chẳng giải rõ ý Ta… ” Với ý-nghĩ ấy, nhà Vua tâm rất hoan-hỉ, nằm an nghỉ cho đến sáng.

Còn phần Na-Tiên, khi về đến chùa, cũng nghĩ, ”Đại-Vương đã hỏi tôi biết bao nhiêu sự-việc, tôi cũng đã vì Đại-Vương giảng-giải bấy nhiêu sự-việc. Tôi lại nghĩ, các chỗ Đại-Vương hỏi tôi, tôi đều phân-tách rõ hết…” Với ý-nghĩ ấy, vị Tì-kheo lỗi-lạc tâm rất hoan-hỉ suốt đêm cho đến sáng…

Vài lời xin thưa nốt…

Kính thưa Quí-Vị Đạo-hữu,

Được quí vị đọc đến trang chót nầy, Thiện Nhựt xin chơn-thành cảm-tạ quí Vị đã chẳng ngại tốn-phí thời-giờ và đã chịu khó xem qua lời văn vụng-về, ý-kiến thô-thiển của Thiện Nhựt trong khi Tìm hiểu một bản ”Kinh-Luận” rất nổi tiếng nầy.

Quyển ”Tì-kheo Na-Tiên” xuất-hiện trong nền văn-chương Phật-học đã gần hai ngàn năm, dưới nhiều hình-thức từ chữ Phạn, chữ Hán, chữ Miến, chữ Tích-lan, chữ Anh, chữ Pháp, v.v…, với nội-dung khác nhau, tùy nơi xuất-bản. Thiện-Nhựt học giáo-lý nhà Phật qua Kinh-sách xuất-xứ từ Hán-Tạng, cho nên Thiện-Nhựt mới phỏng-dịch bản Kinh-Luận nầy trong Đại-Tạng. Thiện Nhựt chẳng dám dùng các chữ phiên-dịch, hay chuyển-ngữ, vì biết mình sức học còn non kém, phỏng theo cũng đã khó rồi, huống hồ là dám nghĩ mình dịch đúng. Xin chấp tay cúi đầu chờ đợi lời chỉ-giáo của các bực cao-minh.

Trong khi tìm hiểu nghĩa chữ và nghĩa ý của bản kinh-luận nầy, Thiện Nhựt đã hơn một lần có lời vô-lễ, như ngớ-ngẩn, lủng-củng, xin quí Vị Đạo-hữu niệm tình tha cho cái tội ”bốc đồng” của kẻ vừa mới bước chơn vào đường học Phật. Nhân đây, Thiện Nhựt cũng ngõ lời cam chịu tội với tác-giả và dịch-giả trong Hán-Tạng, vì Thiện Nhựt đã tự-tiện thêm vào các tiêu-đề, số tiểu-mục và các chữ nhỏ in nghiêng trong dấu ngoặc. Đó chẳng qua là vì muốn việc tra-cứu lại cho được dễ-dàng, và giải-thích thêm chỗ khó đã phỏng-dịch ra chẳng nổi. Tuyệt-nhiên Thiện Nhựt chẳng dám xen vào bản Phỏng dịch để có ý-kiến riêng của mình. Theo ý-hướng nầy, chỉ chép lại chỗ Tìm hiểu của mình riêng ra tại một phần ở sau, sau bản Phỏng-dịch.

Việc nghiên-cứu tên tác-giả, tên dịch-giả, bản nào đúng theo gốc chánh-văn, Thiện Nhựt chẳng dám nghĩ đến, xin chờ đợi sự khảo-sát với đầy-đủ bằng cớ của các học-giả khảo-cổ; và nguyện-cầu ý và lời trong Kinh-luận sẽ mang nhiều lợi-lạc cho đường tu của người đọc.

Trân-trọng, 
Montreal, 2005- 03-28
Thiện Nhựt

Pages: 1 2 3 4 5