KINH TỲ KHEO NA TIÊN
Càn Long Đại Tạng Kinh Quyển 108, trang 706-753
Thiện Nhựt phỏng dịch và tìm hiểu

 

A. Bản Phỏng-dịch

(Dựa theo Bản văn đời Đông-Tấn, thiếu tên dịch-giả Hán-văn, nơi bộ Càn-Long Đại-Tạng Kinh, Quyển số 108, các trang 706- 753)

Quyển Thượng

Xin Lưu-ý: (Các tiểu-mục có đánh số, in chữ đậm, và các chữ nghiêng trong ngoặc đều do Thiện Nhựt thêm vào, chánh-văn trong Đại-Tạng chẳng có.)

001.- Đức Phật vào rừng tòng.

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại nước Xá-Vệ, nơi vườn Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, các vị tì-kheo tăng, ni, cận-sự-nam, cận-sự-nữ, chư Thiên, Vua, đại-thần, trưởng-giả, nhơn-dân và chín mươi sáu hàng đạo-giả, hơn vạn người, cùng đến trước Phật để nghe giảng Kinh. Đức Phật nhận thấy rằng đông đảo dân chúng hôm nay tâm-thần thật chẳng an, nên Ngài có ý-định muốn rời xa, nên đi đến một nơi nhàn-tịnh, để ngồi niệm Đạo. Đức Phật liền rời dân chúng, đi vào núi, tới một khu rừng tòng, trên cây có các vị thọ-thần. Nơi gốc cây, Đức Phật ngồi niệm Đạo thanh-tịnh.

002.- Tượng-vương vào rừng tòng gặp Đức Phật.

Cách khu rừng tòng chẳng xa, có một bầy voi hơn năm trăm con, trong đó Tượng-vương là voi chúa, hiền-lành, biết rõ điều lành việc ác, tựa như loài người vậy. Bầy voi bao quanh Tượng-vương, đực có, cái có, ngà dài có, ngà vừa có, ngà ngắn có. Tượng Vương khát, muốn đi uống nước; nhưng đàn voi nhỏ đã chạy đi trước, nhảy xuống uống nước; uống xong lại ở dưới nước nô-đùa khiến cho nước trở nên đục ngầu. Tượng-vương chẳng có nước trong để giải khát. Tượng-vương lại đói, muốn đi ăn cỏ; đàn voi nhỏ lại chạy trước ăn hết cỏ non, lại dẫm đạp lên, khiến Tượng-vương chẳng có cỏ tốt để đỡ dạ. Tượng-vương thầm nghĩ, bầy voi con đã khuấy đục nước, dày xéo cỏ tươi, khiến ta chẳng có nước trong uống, chẳng có cỏ sạch ăn; vậy ta hãy xa rời chúng đi đến một nơi nào an-tịnh, sung-sướng hơn. Tượng-vương liền rời đàn voi, đi vào núi, đến khu rừng tòng. Thấy Đức Phật đang ngồi dưới gốc tòng, Tượng-vương lòng rất vui mừng, liền đến vập đầu trước chơn Phật, làm lễ, rồi đứng sang bên cạnh. Đức Phật tự nghĩ, ta lià dân chúng đến nơi nầy; Tượng-vương cũng lià đàn voi đến gốc cây nầy, cả hai việc đều đồng một ý-nghiã. Đức Phật liền vì Tượng-vương nói Kinh: ”Phật là bực tôn-kính nhứt trong hàng người; Tượng-vương cũng là bực tôn-kính nhứt trong hàng voi. Đức Phật nói, tâm ta với tâm của Tượng-vương hợp nhau, ta và Tượng-vương cùng vui bên gốc cây nầy.” Tượng-vương nghe Kinh xong, tâm-tư liền mở sáng, hiểu rõ ý Phật, liền đi nhiễu quanh chỗ Đức Phật ngồi, lấy vòi hút nước tưới đất, dùng mũi quét đất, dùng chơn đạp đất cho bằng phẳng. Tượng-vương sớm chiều hầu-hạ như thế. Mãi lâu về sau, Đức Phật nhập Niết-Bàn, Tượng-vương chẳng biết Phật đi về đâu, nên rảo quanh khắp chốn, mãi cầu tìm gặp Phật chẳng được, khóc lóc áo-não, bỏ cả ăn uống.

003.- Tượng-vương đến chùa nghe Kinh

Vào thời đó, trong nước có ngôi chùa Phật tên là Ca-La-Hoàn ở trên núi, là nơi tu-hành của năm trăm vị sa-môn, đều đắc đạo-quả A-la-hán cả; thường cứ vào sáu ngày trai trong tháng, tụng Kinh cho dến sáng. Tượng-vương cũng ở trên núi, bên cạnh chùa, biết vào ngày trai có tụng Kinh, nên vào chùa nghe Kinh. Các vị sa-môn biết Tượng-vương thích nghe Kinh, nên khi Tượng-vương đến thì tụng. Tượng-Vương nghe Kinh, hiểu được thông suốt, chẳng hề buồn ngủ, chẳng hề nằm, chẳng hề giao-động. Cứ như thế mà Tượng-vương luôn nghe Kinh và thừa sự chư Phật.

004.- Tiền-kiếp của tì-kheo Na-Tiên và vua Di-Lan

Mãi lâu về sau, Tượng-vương thọ-mạng hết, chết đi và được tái sanh làm người, con trai một nhà theo đạo Bà-la-môn, chẳng còn được nghe Kinh Phật, chẳng gặp được sa-môn, nên mới rời nhà lên non, học đạo. Trên núi, được gần gũi với một vị đạo-nhơn theo đạo Bà-la-môn, cả hai cùng làm bạn trí-thức với nhau. Một người tự nghĩ, ta nhìn thấy nơi thế-gian đầy ưu-sầu, già bịnh khổ, chết đi lại phải sa vào địa-ngục, ngạ-quỉ, súc-sanh; cho nên ta nguyện cạo râu tóc, mặc áo cà-sa, làm sa-môn, cầu đạo vô-vi cứu đời. Còn người kia thì lại tự nghĩ, ta muốn cầu làm vua một nước, tự-tại, khiến thiên-hạ cùng thuộc về ta, nghe lịnh ta. Hai người cùng nguyện-cầu như thế. Về sau, cả hai người đều hết thọ-mạng, được tái sanh làm người. Một người, kiếp trước có lời nguyện làm quốc-vương, sanh ra làm Thái-tử ở một nước bên ven biển; cha mẹ đặt tên là Di-Lan. Còn một người, kiếp trước có lời nguyện cầu đạo vô-vi cứu đời, thì sanh ra tại nước Thiên-Trúc (Ấn-độ), ở huyện Kế-Tân, được cha mẹ đặt tên là Đà-Liệp.

Vì có lời nguyền tiền-kiếp, nên khi sanh ra Đà-Liệp có áo cà-sa quấn khắp thân-thể; cùng lúc đó, một con Tượng-vương cũng ra đời trong nhà đó; nên cha mẹ lấy tên Na của Tượng-vương mà đặt tên cho con, và gọi là Na-Tiên.

005.- Na-Tiên xuất-gia cầu Đạo với Lâu-Hán.

Na-Tiên lớn lên, đến năm mười lăm, mười sáu tuổi, theo người cậu là Lâu-Hán. Lâu-Hán làm sa-môn có tài tuyệt-diệu, thế-gian chẳng ai bằng, mắt nhìn thật xa, tai nghe thật thính, biết rõ việc đời trước và đời sau của mình, di chuyển thì bay cao, vượt qua các hang động chẳng bị ngăn-ngại, tự-tại biến-hóa chẳng điều chi chẳng làm được, trên trời dưới đất muôn loài động-vật bò sát hay bay cao, hễ động-tâm là hay biết đến cả. Na-Tiên đến nơi cậu ở, kể rõ tâm-nguyện mình cầu Phật-đạo, muốn xuống tóc cạo râu, mặc áo cà-sa làm sa-môn, xin cậu cho làm đệ-tử. Lâu-Hán biết đời trước Na-Tiên siêng làm việc thiện, có lời thề nguyền thâm-trọng, nên thương mà cho làm sa-di. Na-Tiên được thọ Thập-Giới, hằng ngày tụng Kinh giữ giới, tu đắc cõi Tứ-Thiền, nên biết rành tất cả Kinh-kệ, nhưng còn chưa được thọ giới Đại-sa-môn.

006.- Na-Tiên đến chùa Hoà-Thiền-Tự.

Vào thời đó, trong nước có ngôi chùa trên núi tên là Hoà-Thiền-Tự, có năm trăm vị sa-môn đều chứng đạo-quả A-la-hán, trong số đó có vị A-la-hán bực nhứt tên là Át-Bi-Viết (Pali: Assagutta) biết rõ các việc trên trời, dưới đất, quá-khứ, vị-lai và hiện-tại. Na-Tiên vừa hai mươi tuổi, nhân thọ giới Đại-sa-môn mới đến chùa Hoà-Thiền-Tự, là nơi trụ-trì của Ngài Át-Bi-Viết. Bấy giờ, vào ngày Rằm có lễ thuyết giới Đại-sa-môn, các vị Thượng-toạ, Đại-sa-môn đều đi vào giảng-đường. Na-Tiên cũng nhập vào trong số đó. Chư sa-môn vừa ngồi xuống xong, Ngài Át-Bi-Viết nhìn chư sa-môn thấy tất cả tâm đều chứng đạo A-la-hán, chỉ riêng một mình Na-Tiên còn chưa chứng-đắc quả-vị ấy. Ngài Át-Bi-Viết liền nói Kinh: ”Thí-dụ như vào gĩa gạo, hột hột đều trong trắng, nếu lộn hột gạo đen, thì đó là lựa ra còn chưa kỹ. Nay chúng ta ngồi đây tất cả đều thanh bạch, chỉ trừ Na-Tiên là hột gạo đen, vì chưa đắc đạo A-la-hán.” Nghe Ngài Át-Bi-Viết thuyết kinh như thế, Na-Tiên lòng sầu-bi, liền đứng dậy, cúi xuống làm lễ năm trăm vị sa-môn, rồi bước ra ngoài. Na-Tiên tự nghĩ, ta chẳng xứng ngồi tại tòa nầy vì chưa đắc độ-thoát; tất cả các vị sa-môn đều đã được độ-thoát, đó cũng như giữa bầy sư-tử có chồn cáo lộn vào. Kể từ nay, ta còn chưa đắc đạo thì chẳng trở vào đây nữa.

Ngài Át-Bi-Viết biết được ý-nghĩ của Na-Tiên, liền gọi Na-Tiên lại trước mặt, lấy tay xoa đầu Na-Tiên và nói: ”Đừng sầu-bi, chẳng bao lâu nữa con sẽ đắc quả A-la-hán.” (…)

007.- Na-Tiên bị Sư Ca-Duy-Viết trục-xuất, liền đi vào rừng ẩn-tu và đắc quả-vị A-la-hán.

Na-Tiên còn có một vị sư-phụ khác nữa, tên là Ca-Duy-Viết, tuổi trên tám mươi. Trong huyện có một vị ưu-bà-tắc rất hiền-lành, mỗi ngày thường cúng-dường thực-phẩm cho các đệ-tử của Ngài Ca-Duy-Viết. Na-Tiên đến nơi thầy ở, vì thầy mà cầm lấy bình bát và đi khất-thực mang cơm về cho thầy.

Sư-phụ ra lịnh cho Na-Tiên phải ngậm một ngụm nước mặn trong miệng khi đi đến nhà vị ưu-bà-tắc để nhận cơm. Vị ưu-ba-tắc nhìn thấy Na-Tiên tuổi còn trẻ mà đi đứng đoan-trang, nổi bật lên giữa các vị tì-kheo, nên biết đó là người có trí-huệ thông-minh, thông-đạt Kinh-kệ, có biện-tài thuyết-pháp. Khi thấy Na-Tiên bước vào nhà, vị ưu-bà-tắc liền đứng dậy làm lễ, xoa tay và thưa rằng: ”Hằng ngày tôi thường dưng cúng thực-phẩm cho chư sa-môn; các Ngài đến thường vì tôi thuyết giảng Kinh-kệ; nguyện xin Ngài thương tôi mà nói Kinh để giải sự ngu-si của tôi.” Na-Tiên liền tự nghĩ: ”Ta nay vâng lịnh của Sư-phụ phải ngậm nước mặn trong miệng, chẳng được nói năng. Nếu nay ta nhỗ nước ra thì phạm giới của Thầy, biết làm sao đây?” Na-Tiên lại nghĩ: ”Vị ưu-bà-tắc nầy chắc cũng tài cao có chí, nếu ta vì ông ấy nói Kinh, tưởng ông ta sẽ đắc đạo cũng nên…” Na-Tiên liền nhỗ nước ra, đến ngồi xuống và thuyết Kinh: ”Người hay bố-thí, làm lành, phụng-hành Kinh-kệ và giới-luật, thì đời nầy được an-ổn, đời sau sẽ sanh lên cõi Trời, hoặc vào hàng Người cao-quí, trí-huệ sáng-suốt, chẳng phải sa vào địa-ngục, ngạ-quỉ, súc-sanh. Còn người chẳng phụng-hành Kinh và Giới thì đời nầy khổ-sở, đời sau bị đọa vào ba đường ác, chẳng biết bao giờ ra khỏi.” Vị ưu-bà-tắc nghe Kinh, lòng rất vui mừng. Na-Tiên thấy biết tâm vị ấy hoan-hỉ, liền tiếp-tục nói Kinh thâm-diệu: ”Vạn vật ở thế-gian đều chẳng thường-còn, trong quá-khứ đều khổ-sở. Con người ở thế-gian cũng lại như vậy; họ đều nói, thân nầy của ta hứa-hẹn nhiều điều chẳng được tự-tại. Cõi Nê-hoàn (= cõi Niết-bàn) thì vui-sướng vô cùng, ở đấy chẳng sanh, chẳng già, chẳng bịnh, chẳng chết, chẳng sầu, mọi sự khổ-sở đều tiêu-diệt…” Na-Tiên nói Kinh xong, vị ưu-bà-tắc liền chứng được đạo-quả Tu-đà-huờn; Na-Tiên cũng tự chứng-đắc quả-vị ấy. Vị ưu-bà-tắc lòng rất hoan-hỉ, liền đem thực-phẩm ngon tốt ra dưng cúng. Na-Tiên bảo vị ấy, trước nên sớt đầy bát của Sư-phụ để mang về. Na-Tiên ăn xong, súc miệng, thu xếp cầm bát đầy cơm mang về cho Sư-phụ.

Sư-phụ thấy cơm ngon trong bát, liền nói: ”Nếu hôm nay mang về bát đầy cơm hết sức ngon-tốt như vầy, đó là đã vi-phạm lời ước của chúng tăng, vậy phải trục-xuất ngươi ra khỏi đây.” Na-Tiên buồn tủi, chẳng vui. Sư nói với hội-chúng, và các tì-kheo đang cùng ngồi đó: ”Na-Tiên vi-phạm điều ước của chúng ta, cần phải trục-xuất, chẳng được ở trong hội-chúng nữa.” Ngài Át-Bi-Viết nói thí-dụ rằng: ”Như một người dùng một mũi tên mà bắn trúng được hai mục-tiêu, thì như thế chẳng nên trục-xuất vậy. Na-Tiên thuyết Kinh mà tự chứng-đắc đạo, lại đồng thời khiến cho vị ưu-bà-tắc cũng chứng quả, thì chẳng nên trục xuất.” Sư Ca-Duy-Viết nói: ”Ngay cả dùng một mũi tên mà bắn trúng đến trăm mục-tiêu đi nữa cũng vi-phạm điều ước của chúng tăng, chẳng thể cho lưu ở lại được. Các người khác tất chẳng đủ khả năng như Na-Tiên mà đắc đạo. Nên chận đứng việc nầy về sau; nếu chẳng trục xuất Na-Tiên, các người khác sau nầy sẽ bắt chước theo.” Toàn thể chúng tì-kheo ngồi im, mặc-nhiên tùy theo lời Sư dạy trục-xuất Na-Tiên. Na-Tiên liền cúi đầu sát chơn Sư-phụ, làm lễ chúng tăng.

Lễ xong, Na-Tiên liền đi ngay vào rừng sâu núi thẩm, ngồi dưới gốc cây, ngày đêm tinh-tấn niệm Đạo chẳng ngừng. Chẳng bao lâu, Na-Tiên đắc đạo A-la-hán, có thể bay cao, nhìn thấy thật xa, tai nghe thật rõ, tỏ tường ý-nghĩ tư-tưởng trong lòng kẻ khác, thông-đạt việc đời trước, đời sau. Đắc đạo A-la-hán xong, Na-Tiên liền trở lại chùa Hoà-Thiền-Tự, khấu đầu cầu sám-hối với chư tì-kheo tăng; các Ngài nghe nhận lễ. Lễ xong, Na-Tiên liền ra đi.

008.- Na-Tiên đi hành-đạo trong dân-gian.

Na-Tiên chuyển hướng đi vào các quận huyện, qua các nẻo đường phố, ngỏ hẻm, vì người mà thuyết Kinh, giảng Giới, dạy người làm lành, trong số có người đắc các đạo-quả Tu-đà-huờn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, ngay cả trong hàng sa-môn chứng được đạo-quả A-la-hán nữa.

Trời Tứ-Thiên-Vương, Trời Đao-Lợi, Trời Đế-Thích, Đại-Phạm Thiên-Vương đều đến trước mặt Na-Tiên, cúi đầu sát chơn làm lễ, ngồi bên cạnh nghe thuyết pháp, lời văn vang đến bốn cõi Trời.

Tất cả Trời, Người, dân, quỉ, thần, rồng… chẳng ai trông thấy Na-Tiên mà chẳng tỏ lòng hoan-hỉ, được hưởng nhiều phước-đức.

Na-Tiên mới di-chuyển sang Thiên-Trúc nơi nước Xá-Kiệt, dừng trụ lại ở chùa Tiết-Để-Ca-Tự.

009.- Vua Di-Lan cai-trị nước Xá-Kiệt.

Bấy giờ ở Xá-Kiệt-quốc có vị Thái-tử tên là Di-Lan, trong tiền-kiếp vốn là bạn trí-thức cũ với Na-Tiên, sau sanh tại hải-biên. Thái-tử Di-Lan lúc còn trẻ hiếu-học, siêng đọc Kinh-kệ ngoại-đạo, biết rành các Kinh cao-thâm và khó hiểu, cùng với các tu-sĩ ngoại-đạo tranh-luận, chẳng ai thắng nổi. Khi phụ-vương băng-hà, thái-tử lên nối ngôi, tức-vị là Quốc-Vương Di-Lan.

Một hôm, Vua hỏi các đại-thần hầu bên cạnh: ”Trong nước có đạo-gia hay nhơn-dân nào đủ sức cùng Ta bàn-luận về các Kinh khó chăng?” Các quan hầu-cận tâu: ”Bẩm có, có người học đạo Phật được dân gọi là vị Sa-môn. Vị ấy trí-huệ thông-đạt rộng-sâu, có thể cùng Đại-vương bàn-luận về các Kinh cao khó.”

Thuở ấy tại miền Bắc Đại-Tần, có nước Xá-Kiệt yên-ổn, nhơn dân hiền-lành. Đường xá trong thành rộng-rãi, mỗi cửa thành đều có chạm trổ, (…) phố xá trưng bày la-liệt, đường quan-đạo có ngựa voi, xe cộ dập dìu, nam thanh nữ tú ra vào. Đạo nhơn, thầy thợ, dân lành đều rất cao-minh; nhơn dân áo quần loè-lẹt năm màu, phụ nữ trang-sức màu trắng, tay đeo vòng châu ngọc. Đất-đai cao ráo có nhiều trân-bảo. Bốn phương khách mua bán đều dùng tiền vàng (…) Nhà nhà nuôi súc-vật, chợ chợ bày bán canh ngon, đói tức dùng cơm sốt, khát uống rượu bồ-đào, vui-sướng chẳng thể tả.

Quốc-vương nước nầy hiệu là Di-Lan, dùng Chánh-Pháp trị nước. Vua Di-Lan tài cao, trí sáng, thấu-hiểu Kinh-đạo, rành việc quá-khứ, vị-lai và hiện-tại, các mưu-lược chiến-đấu chẳng chi chẳng lảu-thông.

010.- Vua Di-Lan hỏi bí tu-sĩ Dã-Hoà-La.

Lúc bấy giờ, Vương ra thành đi du-ngoạn, các binh-chủng dàn ra hộ-tống bên ngoài. Tâm Vương cao-ngạo tự nghĩ, Ta làm Vua, có đủ khả năng đối-đáp chín mươi sáu loại kinh, nói giải ra chỗ người hỏi đến tận vô cùng, thích-hợp với lòng người vui hiểu lời ta nói. Vương liền nói với các quan hầu-cận:

– Vẫn còn sớm quá để trở vào thành, chẳng có việc gì làm. Các khanh có biết vị đạo-nhơn hay sa-môn nào có thể cùng Ta bàn-luận về các Kinh khó chăng?

Viên quan hầu-cận tên là Triêm-Di-Lợi-Vọng-Quần tâu rằng:

– Bẩm có, có sa-môn tên là Dã-Hoà-La biết thật rõ-ràng về Kinh-đạo, có thể cùng Đại-Vương thảo-luận về các kinh khó.

Vương bảo Triêm-Di-Lợi đi thỉnh vị sa-môn ấy. Triêm tâu:

– Thật lành thay! Nhà vua muốn tương-kiến thì nên đi đến đó. Kẻ hạ-thần khỏi đi mời.

Triêm-Di-Lợi tâu lại lần nữa như thế. Vương liền ngồi xe, có năm trăm kỵ-sĩ cùng đi theo đến chùa.

Vương hội-kiến với Dã-Hoà-La, trước hỏi thăm sức khoẻ, kế đến an-tọa; năm trăm kỵ-binh cũng ngồi xuống. Vương liền hỏi Dã-Hoà-La:

– Vì lý-do nào mà Khanh đã rời bỏ vợ con, xuống tóc, cạo râu, mặc áo cà-sa, làm sa-môn vậy? Khanh cầu Đạo nào thế?

Dã-Hoà-La tâu:

– Chúng tôi học hạnh trung-chánh của đạo Phật, đời nầy được phước, đời sau cũng được phước, vì lẽ đó, tôi xuống tóc, cạo râu, mặc áo cà-sa làm sa-môn.

Vương lại hỏi:

– Kẻ áo trắng còn ở nhà, có vợ con, mà theo đúng hạnh trung-chánh, đời nay có được phước chăng? Đời sau, cũng được phước ấy chăng?

Dã-Hoà-La đáp:

– Người áo trắng còn tại nhà, có vợ con mà theo đúng hạnh trung-chánh, đời nầy được phước, và đời sau cũng được phước ấy nữa.

Vương liền nói:

– Nếu kẻ áo trắng có vợ con tại nhà, theo đúng hạnh trung-chánh, đời nầy được phước mà đời sau cũng lại được phước đó nữa, thì cớ sao Khanh lại bỏ vợ con, xuống tóc, cạo râu, làm sa-môn chớ?

Dã-Hoà-La ngồi im-lặng, chẳng đáp được lời Vua. Các vị quan hầu-cận thấy thế liền nói:

– Vị sa-môn cao-minh nầy bị bối rối nặng, chẳng trả lời nổi.

Họ liền quơ tay lên, nói to:

– Đại-Vương đắc thắng! Đại-Vương đắc thắng!

Dã-Hoà-La im lặng chịu thua.

011.- Vua Di-Lan thỉnh Na-Tiên.

Vương quay nhìn lại các vị ưu-bà-tắc, thấy các vị nầy gương mặt chẳng có chút hổ-thẹn nào. Vương tự nghĩ, các ưu-bà-tắc mặt chẳng hổ-thẹn, chắc còn có một vị sa-môn nào rành-rẽ Kinh-kệ hơn, có thể cùng Ta bàn-luận đấy. Vương liền hỏi Triêm-Di-Lợi:

– Còn vị sa-môn cao-minh nào khác có thể cùng Ta bàn-luận về các Kinh khó chăng?

Thời bấy giờ, có vị Thầy của các sa-môn, tên là Na-Tiên, thường cùng các sa-môn ra vào, vì các sa-môn mà thuyết-giảng Kinh-kệ. Na-Tiên hiểu rõ điều tinh-yếu của tất cả các Kinh, có thể giảng-giải Mười hai thể-loại Kinh, phân-biệt rõ-ràng từng chương, từng đoạn, từng câu, thông-đạt rõ đạo Nê-Hoàn (=Niết-bàn), chẳng ai hỏi cho đến cùng nổi, chẳng ai đắc thắng nổi, có thể phá mọi sự nghi-ngờ, có thể làm sáng tỏ lời suy-tư của người khác, trí như sông biển, từng khắc-phục chín mươi sáu loại ngoại-đạo, vì bốn chúng đệ-tử của Phật mà giảng dạy Kinh-kệ, được các bực trí-giả ngưỡng-mộ, thường mang Kinh-kệ ra dạy dỗ người. Na-Tiên nay đến nước Xá-Kiệt, có đông-đảo đệ-tử theo hầu, phục nể Na-Tiên cao-minh như Sư-tử dõng-mãnh.

Triêm-Di-Lợi tâu vua:

– Có vị sa-môn tên là Na-Tiên, trí-huệ thâm-diệu, biết rõ điều tinh-yếu của các Kinh, giải rõ mọi nghi-ngờ, chẳng điều chi chẳng thông, có thể cùng Đại-Vương bàn-luận về Kinh khó.

Vua hỏi lại Triêm-Di-Lợi:

– Khanh nghĩ kỹ, vị ấy có thể cùng Ta bàn-luận Kinh khó chăng?

Triêm-Di-Lợi liền đáp:

– Dĩ-nhiên, Na-Tiên có thể cùng Đại-Vương nói Kinh khó, Na-Tiên từng bàn-luận Kinh-kệ với Đại-Phạm Thiên-Vương trên tầng Trời thứ bảy, sao lại chẳng đủ sức bàn-luận với người?

Vương liền ra lịnh Triêm-Di-Lợi đi thỉnh Na-Tiên đến.

012.- Vua Di-Lan vừa gặp Na-Tiên.

Triêm-Di-Lợi liền đi đến chỗ Na-Tiên ở và thưa rằng:

– Bạch Ngài, Đại-Vương muốn cùng Ngài tương-kiến.

Na-Tiên liền cùng chư đệ-tử đi đến nơi Vua ngự. Vương tuy chưa từng gặp mặt Na-Tiên lần nào, nhưng đưa mắt nhìn ra xa thấy Na-Tiên mặc áo nổi bật trong hàng các người đang đi, liền thầm biết đó là Na-Tiên. Vương tự nghĩ, Ta thường thấy rất nhiều người đi vào tòa đại-điện nầy, Ta cũng chưa hề lo-lắng như hôm nay gặp Na-Tiên. Hôm nay, nhứt-định Na-Tiên thắng Ta, Ta chắc chẳng vui, vì tâm Ta đang bất-an, bàng-hoàng.

Triêm-Di-Lợi tâu Vua:

– Na-Tiên đã đến, còn đứng bên ngoài.

Vua hỏi Triêm:

– Na-Tiên đứng tại chỗ nào đâu?

Triêm-Di-Lợi liền chỉ cho Vương thấy. Vương rất vui mừng vì chính đúng là người mà Ngài đã thầm nhận ra trước đó. Vương nhìn thấy Na-Tiên mặc áo đi giữa các người đang vào chẳng khác chi cả.

Na-Tiên liền đến, trước hỏi thăm tin-tức sức khoẻ; Vương rất hoan-hỉ, ngồi trước mặt Na-Tiên cùng trò chuyện.

Vương nói:

– Kinh Phật nói, người an-ổn là điều lợi lớn, người biết đủ là điều giàu nhứt, người được sự tín-cẩn là điều sâu-dầy nhứt. Đạo Niết-bàn là đìều khoái-lạc nhứt.

013.- Ai là Na-Tiên? Xe là gì? Người là gì?

Hướng về Na-Tiên, Vương hỏi:

– Khanh tên chi?

Na-Tiên đáp:

– Cha mẹ tôi đặt tên cho là Na-Tiên, có lúc gọi là Thủ-Na-Tiên, có khi kêu là Duy-Ca-Tiên; vì thế người đời biết đến tôi dưới danh-tự đó.

Vương hỏi Na-Tiên:

– Ai là Na-Tiên?

Vương lại hỏi tiếp:

– Đầu là Na-Tiên chăng?

– Đầu chẳng phải là Na-Tiên.

– Mắt, tai, mũi, miệng là Na-Tiên chăng?

– Mắt, tai, mũi, miệng chẳng phải là Na-Tiên.

– Cổ, ót, vai, cánh tay, chơn, bàn tay là Na-Tiên chăng?

– Chẳng phải là Na-Tiên.

– (…), bàn chơn là Na-Tiên chăng?

– Chẳng phải là Na-Tiên.

– Nhan-sắc là Na-Tiên chăng?

– Chẳng phải là Na-Tiên.

– Khổ, vui là Na-Tiên chăng?

– Chẳng phải là Na-Tiên.

– Thiện, ác là Na-Tiên chăng?

– Chẳng phải là Na-Tiên.

– Thân-thể là Na-Tiên chăng?

– Chẳng phải là Na-Tiên.

– Gan, phổi, tim, lá-lách, gân, ruột, dạ-dày là Na-Tiên chăng?

– Chẳng phải là Na-Tiên.

– Hiệp năm việc: nhan-sắc, khổ vui, thiện ác, thân, tâm lại có phải là Na-Tiên chăng?

– Chẳng phải là Na-Tiên.

– Thanh-âm, tiếng vang, hơi thở, có phải là Na-Tiên chăng?

– Chẳng phải là Na-Tiên.

– Vậy chớ chỗ nào là Na-Tiên hử?

Na-Tiên hỏi Vương:

– Xe kia, chỗ nào là xe? Trục xe có phải là xe chăng?

– Trục xe chẳng phải là xe.

– Vành bánh xe có phải là xe chăng?

– Vành bánh xe chẳng phải là xe.

– Căm bánh xe có phải là xe chăng?

– Căm bánh xe chẳng phải là xe.

– Ngàm vành xe có phải là xe chăng?

– Ngàm vành xe chẳng phải là xe.

– Càng xe có phải là xe chăng?

– Càng xe chẳng phải là xe.

– Ách xe có phải là xe chăng?

– Ách xe chẳng phải là xe.

– Đòn xe có phải là xe chăng?

– Đòn xe chẳng phải là xe.

– Gọng xe có phải là xe chăng?

– Gọng xe chẳng phải là xe.

– Mui xe có phải là xe chăng?

– Mui xe chẳng phải là xe.

– Hiệp tất cả các bộ-phận bằng cây đó lại thành một, có phải là xe chăng?

– Hiệp các bộ-phân đó lại cũng chẳng phải là xe.

– Nếu chẳng hiệp các bộ-phận đó lại, có phải là xe chăng?

– Chẳng hiệp chúng lại thì chẳng thành xe.

– Thanh-âm là xe chăng?

– Thanh-âm chẳng phải là xe.

– Vậy thì cái gì là xe?

Vương im lặng, chẳng trả lời được. Na-Tiên liền nói:

– Kinh Phật có nói đến, hiệp-tụ các bộ-phận bằng cây đó lại, là nguyên-nhân để có được chiếc xe. Con người cũng lại như vậy, hễ hiệp-tụ đầu, mặt, tai, mũi, miệng, cổ, ót, vai, cánh tay, xương, thịt, bàn tay, chơn, gan, phổi, mật, lá-lách, thận, ruột, dạ-dày, nhan-sắc, thanh-âm, hơi thở, khổ vui, thiện ác, chung lại thì thành con người.”

Vương nói: ”Lành thay! Lành thay!”

014.- Thái-độ đứng-đắn khi thảo-luận.

Vương lại hỏi Na-Tiên: ”Sư có thể cùng Ta bàn-luận về các Kinh khó chăng?”

Na-Tiên đáp: ”Nếu Vua dùng trí-huệ để hỏi tôi, thì có thể cùng nhau bàn-luận. Nếu Vua dùng ý lời vương-giả kiêu-quí, thì chẳng thể cùng Vua bàn-luận được.”

Vương hỏi tiếp:

– Trí-huệ, có bao nhiêu loại?

– Bực trí-giả, khi đàm-luận, hết sức vặn hỏi cùng nhau, giải rõ cùng nhau, lời nói cao, lời nói thấp, lời nói chánh-trực, lời nói bất-chánh; có thắng có thua tự mình biết lấy phải trái, đó là trí-huệ tối-thượng, chẳng cần chút giận-hờn; bực trí-giả là như thế đó.

– Lời nói vương-giả, có bao nhiêu loại?

– Lời nói vương-giả tự phóng theo cảm-nghĩ của mình; hễ có chỗ trái lệ chẳng như ý Vua, tức thời Vua bắt tội nặng, phạt giết đi; như thế đó là lời nói bực vương-giả.

Vương liền nói rằng:

– Nguyện dụng lời nói của bực trí-giả, chẳng dùng lời nói của Vương-giả; chẳng giữ ý-nghĩ Vương-giả trong lời mình nói, chỉ nên nói theo như lời đệ-tử của chư sa-môn, như lời các vị ưu-bà-tắc, nên theo lời của chư sa-môn mà khiến cho lòng mình chẳng mang sợ-hãi, chánh-tâm cùng được khai-ngộ.

Na-Tiên liền thốt lên rằng: ”Thật lành thay!”

015.- Câu hỏi rất khó: chẳng nghe hỏi, mà đã có đáp rồi chăng?

Vương nói: ”Ta có điều muốn hỏi.”

Na-Tiên đáp: ”Đại-Vương cứ hỏi!”

Vương nói: ”Ta đã hỏi rồi.”

Na-Tiên liền nói: ”Tôi cũng đáp xong.”

Vương vặn hỏi: ”Đáp những gì đâu?”

Na-Tiên hỏi lại: ”Vương đã hỏi tôi những gì đâu?”

Vương nói: ”Ta chẳng có chỗ hỏi, Na-Tiên cũng chẳng có chỗ đáp.”

Vương tự nghĩ, vị sa-môn nầy trí-huệ thật cao-minh, Ta vừa mới muốn hỏi cho thật nhiều, nhưng (…) ngày cũng gần tối rồi, hay là nên để sáng mai lại thỉnh người đến cung-điện mới tiện cùng nhau tham-vấn thêm. Vương liền bảo Triêm-Di-Lợi-Vọng-Quần nói với Na-Tiên: ”Ngày gần tối rồi, Vương cần phải hồi-cung. Ngày mai, Vương muốn thỉnh Ngài đến hoàng-cung.” Na-Tiên đáp: ”Lành lắm thay!”

Vương lên ngựa trở về hoàng-cung. Ngồi trên lưng ngựa, Vương vẫn tiếp-tục nghĩ đến ”Na-Tiên! Na-Tiên!”, nghĩ mãi cho đến sáng hôm sau.

016.- Thỉnh Na-Tiên, mời thêm bao-nhiêu sa-môn

Sáng hôm sau, Triêm-Di-Lợi và các quan hầu-cận tâu Vua: ”Đại-Vương thẩm-định nên mời Na-Tiên đến chăng?” Vương đáp: ”Nên mời đến chớ!” Triêm liền thưa: ”Khi mời Na-Tiên, nên mời bao nhiêu vị sa-môn cùng đến?” Vương bảo: ”Hãy cứ để tùy ỳ Na-Tiên muốn cho bao nhiêu vị sa-môn cùng đến cũng được.” Vị chủ kho vua, tên là Khan, bước ra tâu rằng: ”Nên bảo Na-Tiên cùng đến với mười vị sa-môn nữa, cũng được.” Vương lại phán: ”Nên nghe theo lời Na-Tiên, muốn đến cùng với bao nhiêu vị sa-môn cũng được.” Khan lại cố tâu nữa: ”Nên bảo Na-Tiên cùng đến với mười vị sa-môn, cũng được.” Vương nghe Khan ấn-định nhơn-số như thế, liền nổi giận quở: ”Nhà-ngươi quá keo-kiệt; tên nhà-ngươi là Khan, tức nghĩa là keo-kiệt, đồ-vật của vua mà người còn bỏn-sẻn như thế, huống gì là của riêng ngươi thì ngươi còn rít-róng đến bực nào? Ngươi chẳng biết nghịch ý Ta là đáng bị phạt tội nặng sao?” Vương lại ôn-tồn bảo: ”Thôi ta thương mà tha tội cho, hãy cút đi. Ta làm Vua mà chẳng đủ sức để cung-cấp thực-phẩm cho chúng sa-môn hay sao?” Khan bẻn lẻn hổ thẹn, chẳng dám nói nữa.

Triêm-Di-Lợi liền đi đến ngay trú-sở của Na-Tiên, trước làm lễ rồi bạch rằng: ”Đại-Vương thỉnh Ngài đến hoàng-cung.” Na-Tiên nói: ”Nhà-vua định tôi đến với bao nhiêu vị sa-môn đồng-hành?” Triêm thưa: ”Vua bảo, tự-ý Ngài muốn đến với bao nhiêu vị sa-môn cũng được.”

Na-Tiên liền bảo tám mươi vị sa-môn ở Dã-Hoà-La-Tự cùng mình ra đi với Triêm-Di-Lợi.

017.- Dọc đường, Na-Tiên khai-ngộ cho Triêm.

Trên đường đi, khi sắp vào cửa thành, Triêm-Di-Lợi nhớ lại ngày hôm qua, Na-Tiên có nói với Vua, ”chẳng có chi là Na-Tiên”, liền thưa-thỉnh vị sa-môn về ý-nghĩa câu đó. Na-Tiên hỏi Triêm: ”Theo ý của Khanh, thì cái gì là Na-Tiên?”

Triêm-Di-Lợi đáp:

-Theo tôi, thì mạng sống trong hơi thở ra vào chính là Na-Tiên.

Na-Tiên hỏi lại Triêm:

– Hơi thở của người khi ra mà chẳng hoàn vào lại, thì người ấy còn sống chăng?

– Khi hơi thở ra mà chẳng trở vào lại, tức là chết mất.

– Như người thổi kèn lá lau, như người thổi ống bể lò rèn, có hơi ra mà có hơi trở vào chăng?

– Chẳng có hơi trở vào.

– Như người dùng tù-và thổi quét dưới đất, hơi thổi ra mà có vào lại chăng?

– Chẳng có hơi trở vào.

– Cùng với hơi thổi có ra mà chẳng có trở vào, sao con người chẳng chết theo?

Triêm-Di-Lợi bạch với Sư:

– Tôi chẳng thể hiểu nổi khoảng giữa hơi thở ra và vào, nguyện Sư vì chúng tôi mà giải rõ ra.

Na-Tiên giải-thích:

– Hơi thở ra vào là một phần-việc ở trong thân-thể; như trong tâm có ý-niệm, thì lưỡi nói ra lời, đó là phần-việc của lưỡi; như trong lòng có điều nghi, tâm liền nghĩ đến, đó là phần-việc của tâm; mỗi mỗi có cơ-phận và phần-việc cả, nhìn lại thì là không, (là rỗng-rang). Vậy thì, chẳng có gì là Na-Tiên cả.

Triêm-Di-Lợi-Vọng-Quần, lòng được rộng mở, hiểu ra rõ-ràng, liền xin thọ giới ưu-bà-tắc.

018.- Bàn về điều tinh-yếu: tại sao làm sa-môn?

Na-Tiên đi vào hoàng-cung, đến nơi Vua đang ngồi trên điện cao. Vương liền đứng lên làm lễ Na-Tiên và mời ngồi. Tám mươi vị sa-môn tùy tùng cũng an-toạ. Vương liền dâng-hiến thực-phẩm thật tốt, thật ngon. Chính tay Vua sớt thức ăn cho Na-Tiên trước nhứt. Khi chư vị sa-môn dùng cơm xong và rửa tay rồi, Vương liền cho đem ban-tặng mỗi vị sa-môn một bộ áo cà-sa và một đôi giầy da, và dâng-hiến cho chư Tăng ở Dã-Hoà-La-Tự của Na-Tiên mỗi vị ba bộ áo và một đôi giầy da. Vương liền nói với Na-Tiên, xin lưu lại mười vị sa-môn, các vị còn lại có thể ra về. Na-Tiên liền giữ lại mười người, còn các người khác cho trở về chùa.

Vương ra lịnh cho các quí-nhơn và kỹ-nữ ở hậu-cung phải ra thượng-điện, ngồi sau màn mà nghe Vương và Na-Tiên bàn-luận về Kinh khó. Khi các quí-nhơn và kỹ-nữđã ngồi sau màn nơi thượng- điện xong, Vương liền đến gần bên cạnh Na-Tiên, ngồi xuống trước mặt, và nói:

– Nên thuyết-giảng điều chi đây?

– Vương muốn nghe điều tinh-yếu, thì nên nói điều tinh-yếu.

– Đạo của chư Khanh có điều tinh-yếu nào tối quan-trọng? Chư Khanh vì lý-do nào mà làm sa-môn?

– Chúng tôi vì muốn dứt bỏ sự khổ-nhọc ở thế-gian trong đời nầy và cả ở đời sau, nên mới làm sa-môn. Chúng tôi lấy điều đó làm điều thiện tối-yếu.

– Có phải tất cả chư sa-môn đều vì muốn dứt bỏ sự khổ-nhọc ở thế-gian trong đời nầy, đời sau mà làm sa-môn chăng?

– Chẳng phải tất cả đều vì muốn dứt bỏ sự khổ-nhọc ở thế-gian trong đời nầy và đời sau mới làm sa-môn. Sa-môn có bốn hạng.

– Thế nào là bốn hạng sa-môn?

– (1) Có hạng vì nợ-nần mà làm sa-môn; (2) Có hạng vì sợ huyện-quan mà làm sa-môn;(3) Có hạng vì nghèo-khó mà làm sa-môn; (4) Có hạng thật-tình muốn dứt bỏ sự khổ-nhọc đời nầy, đời sau nên mới làm sa-môn. Còn tôi, vốn vì cầu Đạo, mới làm sa-môn.

– Nay phải chăng vì cầu Đạo mà Khanh làm sa-môn?

– Tôi lúc tuổi còn trẻ cầu làm sa-môn, được gặp các vị thông Kinh hiểu Đạo và các đệ-tử chư sa-môn đều là bực cao-minh, nên theo học Kinh-kệ và Giới-luật đã nhập-tâm, vì thế nay muốn dứt bỏ sự khổ-nhọc đời nầy và đời sau, nên mới làm sa-môn.

Vương nói: ”Lành thay!”

019.- Tại sao phải sanh trở lại? Trí-huệ giúp được gì?

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Có người chết rồi chẳng phải sanh lại nữa hay chăng?

– Có người phải sanh lại, mà cũng có người chẳng phải sanh trở lại.

– Ai còn phải sanh lại và ai chẳng còn sanh lại?

– Ngưòi quyến-luyến niềm ân-ái nhiều, lắm sự ham-muốn thì sanh lại ở đời sau; người đã dứt sạch sự ân-ái, bỏ hết mọi ham-muốn thì đời sau chẳng phải sanh trở lại.

– Còn người một lòng niệm Chánh-Pháp, có trí-huệ và siêng làm điều thiện, cũng chẳng sanh lại đời sau, phải không?

– Nguời lấy nhứt-tâm niệm Chánh-Pháp, niệm thiện, niệm trí- huệ và các điều lành khác, nhờ đó đời sau chẳng phải sanh trở lại.

– Người một lòng niệm Chánh-Pháp, niệm thiện và trí-huệ, hai đìều đó cùng một ý-nghĩa như nhau chăng?

– Hai điều đó ý-nghĩa khác nhau, chẳng đồng.

– Trâu, ngựa, thú-vật nuôi trong nhà, có trí hay chẳng có trí?

– Trâu ngựa, thú-vật nhà đều có trí cả, nhưng tâm chẳng đồng.

Vương từng thấy việc gặt luá chăng? Tay trái cầm bó lúa, tay phải cắt đứt các cọng luá. Trí-huệ con người cắt dứt được sự tham-ái, cũng như ta gặt lúa, cắt lúa vậy.

Vương khen: ”Lành thay!”

020.- Thiện là gì? Thành-tín là gì?

Vương hỏi Na-Tiên:

– Các điều thiện là những gì?

– Thành-tín, hiếu-thuận, tinh-tấn, niệm thiện, nhứt-tâm, trí-huệ, đó là các đìều thiện.

– Thành-tín là những gì?

– Thành-tín tức là chẳng còn chỗ nào để nghi-ngờ: tin có Phật, tin có Kinh, Pháp của Phật, tin có Tì-kheo Tăng, tin có A-la-hán; tin có đời nầy, tin có đời sau; tin có sự hiếu-thuận với cha-mẹ; tin làm lành gặp lành, làm ác gặp ác. Tin được như thế thì về sau, tâm liền thanh-tịnh dứt xa được năm điều ác.

021.- Năm điều ác là những gì?

– Thế nào là năm điều ác?

– Năm điều ác là: (1) tham dâm, (2) giận hờn, (3) mê ngủ, (4) vui đùa, (5) nghi-ngờ. Người chẳng lià xa năm điều ác đó thì tâm-ý chẳng an-định; rời bỏ được chúng thì tâm liền thanh-tịnh.

Thí dụ như Vua Già-Ca-Việt cùng người ngựa qua sông, khiến cho nước trở nên đục ngầu. Vượt qua sông rồi, Vua khát, muốn có nước uống. Nhà Vua có viên ngọc thanh-thủy-châu, đem ngâm vào nước, nước liền lóng trong, Vua được nước tinh-khiết để uống. Lòng người ác ví như nước đục. Các vị đệ-tử Phật đắc đạo độ-thoát sanh-tử thì tâm thanh-tịnh như viên ngọc thanh-thủy-châu. Người bỏ được các điều ác, lòng thành-tín và thanh-tịnh tựa như vầng trăng sáng.

Vương ngợi khen:”Lành thay! Lành thay!”

022.- Tinh-tấn là làm sao?

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Người thành-tín tinh-tấn thì như thế nào?

– Các vị đệ-tử Phật tự thấy trong hàng đồng-tu có người dứt bỏ được ác-tâm, có người đắc quả Tu-đà-huờn, có người đắc quả Tư-đà-hàm, có người đắc quả A-na-hàm, có người đắc quả A-la-hán, nguyên-nhân là biết bắt chước nhau mà hành-động, nên cũng đều đắc độ-thoát cả.

Cũng tựa như trên núi cao có trận mưa rào, nước chảy tràn xuống sông ngập lai-láng. Các người dân gần đấy chẳng biết được nước sâu cạn thế nào, nên chẳng dám lội qua sông. Chợt có người từ xa lại, nhìn làn nước biết rộng hẹp, cạn sâu ra sao, tự lượng sức mình, nên vượt qua được. Dân gần đó thấy thế mới bắt chước theo mà lội qua. Đệ-tử Phật cũng thế, thấy người đi trước tâm thanh-tịnh chứng đắc bốn quả-vị, nên đều noi theo thiện-tâm đó mà tinh-tấn tiến lên. Kinh Phật có nói, người có lòng thành-tín có thể tự đắc độ-thoát, người kềm chế được năm sự tham-dục, thì tự biết thân nầy là khổ lại còn giúp cho người đời nên theo trí-huệ mà thành-toàn nền đạo-đức.

Vương khen ngợi: ”Lành thay! Lành thay!”

023.- Hiếu-thuận ở đây là tuân theo 37 Phẩm trợ Đạo.

Vương lại hỏi:

– Thế nào là hiếu-thuận?

– Hiếu-thuận tức là tất cả các điều thiện. Ba mươi bảy phẩm kinh (= Ba mươi bảy Phẩm Trợ Đạo) đều đặt căn-bản nơi sự hiếu-thuận.

– Ba mươi bảy phẩm kinh đó là những gì?

– Đó là: (1) bốn sự dừng-ý; (2) bốn sự đoạn-ý; (3) bốn thần-túc, (4) năm căn;(5) năm lực; (6) bảy giác-ý; (7) tám loại đạo-hạnh.

024.- Thế nào là bốn sự dừng-ý (= tứ niệm-xứ)?

– Bốn sự dừng-ý là những gì?

– Đức Phật dạy: ”Một là quán thân, thì thân dừng lại; hai là quán sự đau-đớn thì sự đau-đớn ngừng lại; ba là quán tâm-ý, thì ý dừng lại; bốn là quán pháp (tức là các sự-vật) thì pháp dừng lại. Đó là bốn phép quán dừng-ý lại.”

025.- Thế nào là bốn sự đoạn-ý?

– Bốn sự đoạn ý là những gì?

– Đức Phật dạy: ”Khi đã phân-biệt được bốn sự dừng-ý rồi thì chẳng nhớ nghĩ đến nữa, đó là bốn sự đoạn-ý. Khi đã đắc được bốn sự đoạn-ý rồi, thì liền đắc được bốn niệm thần-túc.

026.- Thế nào là bốn niệm thần-túc?

– Bốn niệm thần-túc là những gì?

– Thứ nhứt là mắt có thể nhìn thấy thấu-triệt. Hai là tai có thể nghe rõ được thấu-triệt. Ba là có khả-năng biết rõ tâm-trạng của kẻ khác. Bốn là thân-thể có khả-năng bay cao. Đó là bốn niệm thần-túc.

027.- Năm căn là những gì?

– Năm căn là những gì?

– Thứ nhứt là mắt thấy sắc đẹp, sắc xấu, ý chẳng dính mắc. Thứ hai là tai nghe tiếng tốt, lời mắng, ý chẳng dính mắc. Ba là mũi ngửi mùi thơm hay thúi, ý chẳng dính mắc. Bốn là miệng được vị ngon, hay đắng cay, ý chẳng dính mắc. Năm là thân đụng chạm vào chỗ trơn láng, ý chẳng tham-muốn, đụng vào vật thô cứng, ý chẳng oán-ghét. Đó là năm căn.

028.- Năm lực gồm có những gì?

– Thế nào là năm lực?

– Một là kềm chế mắt, hai là kềm-chế tai, ba là kềm-chế mũi, bốn là kềm-chế miệng, năm là kềm-chế thân, để cho ý khỏi bị sa-đoạ; đó là năm lực.

029.- Thế nào là bảy giác-ý?

– Bảy giác-ý là những gì?

– Một là ý giác-ý; hai là phân-biệt giác-ý; ba là tinh-tấn giác-ý; bốn là khả giác-ý, năm là ỷ giác-ý; sáu là định giác-ý; bảy là hộ giác-ý: đó là bảy giác-ý.

030.- Tám loại đạo-hạnh (Bát chánh-đạo) là những gì?

– Thế nào là tám loại đạo-hạnh?

– Một là trực-kiến; hai là trực-niệm; ba là trực-ngữ; bốn là trực-mạng; năm là trực-nghiệp; sáu là trực phương-tiện; bảy là trực-ý; tám là trực-định: đó là tám loại đạo-hạnh.

031.- Lấy Bát-Chánh-Đạo làm căn-bản tu-hành.

Ba mươi bảy phẩm-kinh đó đều do hiếu-thuận làm căn-bản. Người thường nặng nợ mà tiến tới xa được có chỗ thành-tựu đều do đất mà nên; ở thế-gian, lúa-má, cây-cối, rau cỏ ngẩng lên trời đều do đất sanh.

Na-Tiên nói:

– Thí dụ như vị kiến-trúc-sư xây cất thành-thị lớn, phải lượng-định nền móng trước, sau mới khởi công; thí dụ như người diễn trò muốn trình-diễn, trước phải dọn đất cho bằng-phẳng rồi mới diễn trò. Chư đệ-tử Phật cầu Đạo trước phải tuân-hành Giới, Kinh, niệm điều thiện, nhân vì biết sự khổ-nhọc ở thế-gian nên mới dứt bỏ mọi sự ham-muốn, mà một lòng niệm tám loại đạo-hạnh.

– Làm cách nào để dứt bỏ mọi ham-muốn?

– Một lòng niệm Đạo, tức mọi ham-muốn tự tiêu-diệt.

Vương khen: ”Lành thay! Lành thay!”

032.- Tinh-tấn là gì?

Vương lại hỏi:

– Tinh-tấn là như thế nào?

– Giữ điều lành, giúp cho điều lành thêm lớn, đó là tinh-tấn. Thí-dụ như trong nước quốc-vương có nơi bị công-kích, Vương dàn binh ra chống-cự, binh yếu chẳng cựđược, Vương liền cho thêm binh tiếp-viện, nên đắc thắng. Người có các điều ác cũng như binh yếu, nếu người biết giữ lòng lành tiêu-diệt ác-tâm, cũng như Vương cho viện-binh thêm để chiến-thắng. Lòng giữ năm điều thiện, tiêu diệt năm điều bất-thiện của ác-tâm, cũng như chiến-đấu đắc thắng vậy. Tinh-tấn trợ giúp cho điều lành cũng lại như thế. Tinh-tấn trợ-giúp ngưới tiến đến con đường lành, hầu đắc độ-thoát, chẳng hoàn trở lại.

Vương ngợi khen: ”Lành thay! Lành thay!”

033.- Niệm điều thiện là phải làm sao?

Vương lại hỏi:

– Tâm đương niệm các điều thiện là như thế nào?

– Thí dụ như người có nhiều bông hoa khác nhau, dùng giây kết chung lại thành tràng, gió thổi chẳng rời-rụng ra.

Lại ví như vị quan chủ kho vua biết rõ kho vua đang còn có bao nhiêu vàng bạc, châu ngọc, lưu-ly, trân-bảo.

Người học Đạo muốn đắc Đạo thì tâm-ý niệm ba mươi bảy phẩm-kinh cũng như đó chính là niệm đạo cứu đời vậy. Người có đạo-tâm, nhân vì hiểu rành việc thiện-ác, nên biết điều gì nên làm, điều gì chẳng nên làm, phân-biệt trắng đen, tự mình suy-tư từ nay trở về sau, bỏ điều ác, theo điều lành.

Lại thí dụ như Đại-Vương có người giữ cửa biết ai là người được Vua kính-nể, ai là người chẳng được Vua kính-nể, ai là người đem lợi lại cho Vua, ai là người gây bất-lợi cho Vua. Vị quan ấy biết ai được Vua kính, ai đem lợi lại cho Vua, thì liền cho vào; còn những người nào chẳng được Vua kính, hoặc gây bất-lợi cho vua, thì chẳng cho vào. Người giữ-gìn tâm-ý cũng lại như thế, các điều thiện thì cho vào, các điều ác thì ngăn lại. Giữ-gìn ý, kềm chế tâm là như thế đó.

Na-Tiên lại nói Kinh: ”Người đang tự giữ-gìn thân-tâm kiên-cố khỏi sáu điều ái-dục (=ham-muốn), kiên-trì tâm-ý, là tự mình đang lo cứu-độ cho đời.”

Vương khen ngợi: ”Lành thay! Lành thay!”

034.- Thế nào gọi là nhứt-tâm?

Vương lại hỏi:

– Nhứt-tâm có nghĩa ra sao?

– Trong mọi điều thiện, nhứt-tâm là vào bực cao nhứt. Người hay giữ được nhứt-tâm thì mọi điều thiện đều đi theo đó. Ví như lâu-đài, bệ ngọc cần có chỗ nương-tựa để dựng lên, các người làm lành cũng đều dựa vào sự nhứt-tâm. Thí-dụ như các tướng-quân đem bốn đạo binh ra chiến-đấu, binh cỡi voi, binh cỡi ngựa, binh ngồi xe, và bộ-binh, dàn ra đi chung quanh Vua trước và sau. Các Kinh Giới của Phật và các điều lành cũng đều qui về nhứt tâm, giống như các binh-chủng đi theo bên Vua.

Na-Tiên liền nói Kinh: ”Trong các điều thiện nhứt-tâm làm căn-bản; các người học Đạo trước nhứt nên qui về nhứt-tâm; thân người, sống chết, quá-khứ, cũng như nước chảy bên dưới, trước sau nương theo nhau, chẳng có thời trụ lại.”

Vương khen: ”Lành thay!”

035.- Trí-huệ là như thế nào?

Vương lại hỏi:

– Trí-huệ là như thế nào?

– Tôi đã có nói trước rồi, trí-huệ có khả-năng cắt đứt các nghi-ngờ, làm sáng tỏ các việc thiện (…) Ví như cầm đèn đi vào nhà tối, ánh lửa vừa vào nhà thì phá tan màn u-tối mà sáng rực lên. Người có trí-huệ sáng-tỏ cũng như ánh lửa. Lại ví như người cầm dao bén chặt cây, người có trí-huệ hay diệt dứt các điều ác, cũng như con dao bén. Nơi thế-gian, con người lấy trí-huệ làm điều quan-trọng bực nhứt; người có trí-huệ mới đủ khả-năng vượt thoát được nổi khổ sanh-tử.

Vương khen: ”Lành thay!”

036.- Các loại Kinh đều dạy điều thiện để nhắm vào việc tận-diệt các điều ác .

Vương lại hỏi:

– Phải chăng các loại Kinh trước sau có dạy nhiều điều khác nhau, nhưng cũng đều chung một hướng là nhằm diệt tất cả điều ác?

– Dĩ nhiên, Kinh Phật dạy nhiều loại thiện nhưng cũng chỉ hướng về nhằm diệt mọi điều ác. Ví như Vương phát bốn đạo binh ra đi chiến-đấu, ý lúc khởi hành là để công-kích địch-quân, diệt tất cả mọi điều ác vậy.

Vương ngợi khen: ”Lành thay! Lành thay! Na-Tiên nói Kinh thật vô-cùng thích-thú!”

037.- Người tái-sanh lại thì dùng thân cũ, hay là có thân mới?

Vương lại hỏi:

– Người chết rồi đi theo hướng các ngỏ thiện và ác, có phải lấy thân-tâm cũ sanh ra lại, hay là dùng thân-tâm mới?

– Cũng chẳng phải lấy thân-tâm cũ sanh ra lại, mà cũng chẳng phải lià bỏ thân-tâm cũ.

Na-Tiên nhân đó liền hỏi Vua:

– Thân của Vương, thân lúc nhỏ còn bú, đến thân lúc lớn lên, có tiếp-tục thân cũ chăng?

– Thân lúc còn nhỏ thì khác.

– Con người lúc còn trong bụng mẹ (…) thân khi mới tượng hình đến lúc thịt xương cứng-cáp, thân từ lúc sơ-sanh đến khi tuổi lớn, đều khác nhau cả. Ví như có người học sách, kẻ ngồi bên cạnh có thay thế mà nhận lấy công học sách đó không?

– Chẳng thể nhận thay được.

– Ví như người phạm tội, có thể lấy người vô-tội chịu tội thay thế cho mình hay không?

– Chẳng thể được.

Na-Tiên dùng tinh-thần tội-pháp hỏi Vương, ý Vương chẳng hiểu. Vương liền hỏi Na-Tiên:

– Ví như có người hỏi Na-Tiên như vậy, Na-Tiên đáp lại như thế nào?

– Thân tôi lúc bé cho đến khi lớn vẫn tiếp-tục thân cũ; thân cũ của hai thời-kỳ cả lúc bé và khi lớn lên, cũng đều hàm-chứa một thân được mạng sống nuôi-dưỡng. Ví như người thắp đèn, đèn có thể cháy tỏ cho đến sáng hay không?

– Đèn đủ dầu thì cháy đến sáng.

– Ánh đèn lúc đầu hôm, đến nửa đêm, chí đến sáng, có phải là ánh đèn lúc vừa mới thắp sáng lên không?

– Chẳng phải là ánh đèn cũ.

– Ngọn đèn lúc đầu hôm đến nửa đêm có thắp đèn mới khác không, đến gần sáng có đốt ngọn đèn khác không?

– Nửa đêm chẳng thắp đèn khác, chỉ ánh đèn cũ tiếp-tục cháy đến sáng.

– Tinh-thần con người cứ triển- chuyển (= phát-triển và biến-chuyển) tiếp nối nhau như thế mãi, cũng giống như vậy; một cái đi thì một cái tới. Con người tòng theo tinh-thần từ lúc sanh ra cho tới già, đến khi chết tinh-thần lại một lần nữa hướng về nẻo sanh, rồi triển-chuyển liên-tục mãi. Đó chẳng phải là tinh-thần cũ, mà cũng chẳng phải là lià xa tinh-thần cũ. Ví như sữa, lấy sữa làm thành kem, kem làm thành bơ, rồi bơ làm thành phó-mát; nếu có người nói, cứ lấy phó-mát, bơ, kem để làm ra sữa lại, lời nói đó có dùng được chăng?

– Lời nói của kẻ đó chẳng thể dùng được.

– (…) Từ sữa có kem, từ kem có bơ, từ bơ có phó-mát. Tinh-thần con người cũng lại như thế; tòng theo tinh-thần mà sanh ra; tòng theo sanh mà lớn lên đến trưởng-thành, tòng theo trưởng-thành mà già, rồi chết; sau khi chết, tinh-thần lại muốn sanh trở lại. Một thân chết muốn có lại một thân, giống như hai tim đèn nối nhau cùng cháy tiếp-tục.”

Vương khen ngợi: ”Lành thay! Lành thay!”

038.- Người hết tái-sanh có biết mình chẳng sanh lại ở đời sau hay không?

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Có người chẳng sanh lại ở đời sau không, và có tự biết được việc chẳng sanh lại ấy chăng?

– Dĩ nhiên, có người như thế, tự biết mình chẳng còn tái sanh.

– Làm sao biết được?

– Người ấy tự biết mình chẳng còn quyến-luyến ân-ái, chẳng còn ham-muốn, chẳng có điều ác; nhờ đó biết mình chẳng còn phải sanh lại nữa.

Thí dụ như người nông-phu trồng lúa, được nhiều thóc, trữ lại để về sau, sang năm anh chẳng trồng nữa, chỉ lấy lúa dự trữ ra ăn. Người nông-phu ấy có mong được lúa gạo mới chăng?

– Người nông-phu ấy chẳng mong được lúa mới.

– Tại sao biết người ấy lại chẳng được lúa mới?

– Người nông-phu ấy chẳng cầy cấy, chẳng trồng lúa, thì có chờ mong được chi nữa.

– Người đã đắc đạo cũng lại như thế, tự biết rằng đã dứt bỏ ân-ái, sướng-khổ, chẳng còn tham-tâm, do đó biết rõ đời sau chẳng sanh lại.

039.- Khả-năng của Trí-huệ ra sao?

Vương lại hỏi:

– Bực đã đắc đạo chẳng sanh lại ở đời sau, đời nầy có được trí-huệ khác hơn với người thường chăng?

– Dĩ nhiên, có trí-huệ khác hơn người.

– Có được sáng-suốt chăng?

– Dĩ nhiên, có được sáng-suốt.

– Trí-huệ với sáng-suốt giống nhau hay khác nhau?

– Trí-huệ và sáng-suốt giống bằng nhau.

– Người có trí-huệ và sáng-suốt có biết hết muôn sự-vật chăng, hay có chỗ còn chưa hiểu-biết kịp?

– Trí con người có chỗ hiểu-biết kịp, có chỗ chẳng kịp.

– Những gì là kịp hiểu, những gì là còn chưa hiểu kịp?

– Người thường biết rõ điều chưa học, điều chưa kịp hiểu; và cũng biết điều đã học và điều đã hiểu kịp. Còn bực trí-giả thấy rõ con người cùng vạn vật đều phải qua đi, qui về Không, chẳng được sự tự-tại; vì lòng ham muốn vui-sướng mà đã gieo trồng nguồn-gốc của Khổ; đã biết như thế và tòng theo đó mà tiến đến Khổ-Huệ ( =Trí hiểu rõ sự Khổ), biết rõ-ràng sự vô-thường, sự thành-bại; cho nên trí-huệ khác với người thường.

– Người có trí-huệ rồi thì ngu-si ở vào đâu?

– Người có trí-huệ thì ngu-si tự tiêu-diệt hết. Ví như người cầm đèn vào trong nhà tối, phòng sáng lên, tức màn tối đen bị tiêu-diệt. Trí-huệ cũng lại như vậy, người có trí thì ngu-si tất tiêu-diệt.

– Thế còn trí-huệ của trí-giả nay lại ở đâu?

– Người dùng trí để làm công-việc, làm xong, trí-huệ liền tiêu-diệt, nhưng sự-việc mà trí-huệ đã làm thì còn đó. Ví như ban đêm viết thơ bên đèn, viết xong tắt đèn, nhưng bức thơ còn đó.

Bực trí-giả cũng lại như thế, làm xong việc đã làm, trí-huệ liền tiêu-diệt, nhưng việc làm thành-tựu vẫn tiếp-tục còn tại đó.

– Bảo rằng, trí-huệ làm xong việc đã thành, liền tự tiêu-diệt, nghĩa đó như thế nào?

– Ví như người kia phòng-bị lửa cháy chứa sẵn năm thùng nước, khi có nạn cháy nhà, liền đem năm bình nước đổ nước ra chữa lửa; lửa tắt rồi, người cứu-hỏa kia còn muốn đem năm bình kia về nhà nữa thôi?

– Người cứu-hỏa dập tắt lửa rồi chẳng còn muốn giữ năm bình (nước) làm chi nữa.

– Tâm người đắc-đạo giữ năm điều thiện để diệt xong các điều xấu-ác, cũng tựa như năm bình nước cứu-hỏa dập tắt lửa.

040.- Năm điều thiện là những gì?

Vua liền hỏi Na-Tiên:

– Năm điều thiện là những gì?

– Thứ nhứt là tin-tưởng có điều thiện, điều ác. Thứ hai là chẳng hủy-phạm giới-luật và Kinh-kệ. Thứ ba là tinh-tấn. Thứ tư là có trí-huệ niệm điều thiện. Thứ năm là một lòng niệm Đạo. Đó là năm điều thiện. Người thường hay phụng-hành năm điều thiện đó đắc trí-huệ, liền biết thân người và vạn-vật đều vô-thường, biết khổ chẳng được tự-tại, biết tánh Không rỗng-rang chẳng có gì. Ví như ông thầy thuốc dùng năm vị thuốc đem đến nhà người bịnh, cho bịnh-nhơn uống thuốc, bịnh được bớt, rồi khỏi, thì ông thầy có còn dùng năm vị thuốc cũ mà cho người ấy uống nữa không?

– Hết bịnh rồi còn cho uống thuốc cũ làm gì nữa?

– Năm vị thuốc cũng như trí giữ năm điều thiện; ông thầy thuốc cũng như người cầu Đạo; căn bịnh cũng như các điều ác; ngu-si như là bịnh-nhơn; người đắc-đạo cứu đời như bịnh đã lành. Trí đã thành-tựu nơi người, đưa người đến chỗ cứu đời. Người đắc-đạo rồi, trí cũng tự diệt. Lại ví như viên kiện-tướng mang năm mũi tên tiến lên hướng về địch-quân bắn xong đắc thắng; vị ấy có mong năm mũi tên quay lại để mang về không?

– Đâu có mong tên quay về lại làm chi.

– Năm mũi tên cũng như năm điều thiện của trí-huệ đó. Người tòng theo trí đó mà đắc đạo, giống như vị kiện-tướng đắc-thắng quân địch. Các điều ác như các nẻo ác-đạo (trong cảnh Luân-hồi). Người giữ năm điều thiện để diệt-trừ các điều ác; khi các điều ác diệt, trí lành phát-sanh, người tòng theo trí lành đó mà đắc đạo cứu đời, trở nên thường-tại, bất-diệt.

Vương khen ngợi: ”Lành thay!”

041.- Vì sao bực đắc-đạo còn sống lại phải chịu khổ?

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Như người đắc đạo, chẳng phải sanh lại ở đời sau, có còn phải chịu cảnh khổ nữa không?

– Hoặc còn phải chịu khổ, hoặc chẳng còn phải khổ nữa.

– Thế nào là còn phải chịu khổ, là chẳng phải chịu khổ nữa?

– Thân còn chịu khổ, tâm-ý hết chịu khổ. Sở dĩ thân còn phải chịu khổ là vì trong hiện-tại thân đó còn là nguồn-gốc của sự khổ; tâm-ý sở dĩ hết khổ là vì đã dứt bỏ tất cảcác điều ác, chẳng còn ham-muốn chi, cho nên chẳng phải chịu khổ nữa.

– Nếu như người đắc đạo chẳng thể lià thân khổ nầy, thì đó là chưa đắc được đạo Nê-Hoàn (=Niết-bàn) chăng? Người đắc đạo chẳng còn ân-ái, mà thân còn khổ, dẫu tâm-ý đã an-ổn, thì sự đắc đạo để làm gì? Nếu như người đắc đạo đã thành-công, thì vì cớ gì mà còn lưu lại ở đây?

– Thí dụ như trên cây, trái còn chưa chín thì chẳng vội hái, nên đợi cho chín muồi. Đại- Vương có biết lời nói của Đại-đức Xá-lê-viết (Pali: Sariputta = Xá-lợi-phất) chăng? Xá-lê-viết lúc còn sống có nói: ”Tôi chẳng cầu chết, tôi cũng chẳng cầu sống, tôi chỉ chờ đúng thời ra đi thì ra đi.”

Vương khen ngợi: ”Lành thay! Lành thay!”

Kinh Tì-kheo Na-Tiên
Hết Quyển Thượng

 

KINH TỲ KHEO NA TIÊN 
Càn Long Đại Tạng Kinh Quyển 108, trang 706-753
Thiện Nhựt phỏng dịch và tìm hiểu

A. Bản Phỏng-dịch

Quyển Trung

042.- Ba loại cảm-thọ: vui, khổ, chẳng vui chẳng khổ.

Vương hỏi Na-tiên:

– Con người cảm thấy vui, thì thiện hay là bất-thiện? Con người cảm thấy khổ, thì thiện hay bất-thiện? Đức Phật há chẳng có nói, có vui hoặc có khổ. Nếu như khiến cho có mà làm ra chẳng có, thì khổ hay không?

Na-Tiên hỏi lại Vương:

– Như thanh sắt nung đỏ, có người tay cầm lấy thì bị phỏng chăng; lại cầm một hòn băng trong tay, băng đó có làm phỏng tay người chăng?

– Dĩ nhiên, cả hai tay đều bị phỏng.

– Như thế, trong hai tay đều nóng cả chăng?

– Chẳng nóng cả hai.

– Hoặc cả hai đều lạnh hết chăng?

– Chẳng lạnh cả hai.

Na-Tiên bảo: ”Cả hai tay đều nóng cả. Tôi muốn hỏi kỹ Đại-Vương, hai lần trước, sau, cả hai đều nóng, thì nên nói cả hai đều nóng; cả hai đều lạnh thì nên nói cả hai đều lạnh, cớ sao Vương lại bảo chung, một nóng, một lạnh mà cùng làm cho tay người bị phỏng?

Vương nói: ”Trí-óc Ta còn thiển-cận quá, chẳng đủ sức để hiểu kịp việc khó nầy. Nguyện Na-Tiên vì Ta mà giải-thích cho.

Na-Tiên nói:

– Kinh Phật có nói đến việc đó: thường có sáu việc khiến con người mừng bên trong; có sáu việc khiến con người rầu bên trong; lại cũng có sáu việc khiến con người chẳng mừng cũng chẳng rầu; và bên ngoài lại cũng có sáu việc khiến con người buồn rầu.

a.- Sáu việc khiến vui trong lòng .

– Thế nào là sáu việc khiến con người vui bên trong?

– Một là mắt có chỗ thấy, rồi lại có chỗ mong-cầu, cho nên khiến cho con người vui trong lòng. Hai là tai nghe tiếng tốt lại có chỗ mong cầu, cho nên khiến con người vui trong lòng. Ba là mũi ngửi mùi thơm lại có chỗ mong-cầu, cho nên khiến con người vui trong lòng. Bốn là lưỡi được món ngon lại có chỗ mong-cầu, cho nên khiến con người vui trong lòng. Năm là thân đụng chạm đến chỗ trơn láng lại có chỗ mong-cầu, cho nên khiến con người vui trong lòng. Sáu là tâm được cảm-thọ vui lại có chỗ mong-cầu, cho nên khiến con người vui trong lòng. Như thế, đó là sáu việc khiến cho con người vui trong lòng.

b.- Sáu việc bên ngoài khiến vui.

– Thế nào là sáu việc bên ngoài khiến con người được vui?

– Một là mắt thấy sắc đẹp, nhớ lại điều đó chẳng thể thường được, nên phải dứt bỏ đi, tự suy-nghĩ hiểu-biết đó là vô-thường, cho nên khiến con người vui về bên ngoài. Hai là tai nghe tiếng tốt, nhớ lại điều đó chẳng thể thường được, nên phải dứt bỏ đi, cho nên khiến con người vui về bên ngoài. Ba là mũi ngửi mùi thơm, nhớ lại điều đó chẳng thể thường được, nên phải dứt bỏ đi, cho nên khiến con người vui về bên ngoài. Bốn là miệng được món ngon, nhớ lại điều đó chẳng thể thường được, nên phải dứt bỏ đi, cho nên khiến con người vui về bên ngoài. Năm là thân đụng chạm chỗ trơn láng, nhớ lại điều đó chẳng thể thường được, nên phải dứt bỏ đi, cho nên khiến con người vui về bên ngoài. Sáu là tâm nhớ nghĩ đến điều thương-muốn, suy-nghĩ đến điều đó là vô-thường, nên dứt bỏ cả, sau khi nhớ nghĩ như vậy liền khởi lên vui. Đó là sáu sự-việc khiến cho con người vui về bên ngoài.

c.- Sáu việc bên trong khiến buồn.

– Thế nào là sáu sự-việc bên trong khiến cho lòng người rầu?

– Một là mắt phải nhìn vào chỗ chẳng muốn thấy, khiến cho bên trong buồn. Hai là tai phải nghe điều chẳng muốn được nghe, khiến buồn lòng. Ba là mũi chẳng ưa chỗ thúi mà phải ngửi mùi hôi, khiến cho bụng buồn-bã. Bốn là miệng chẳng muốn nếm món đó mà phải nếm khiến cho bụng chẳng vui. Năm là thân chẳng muốn đụng đến vật đó mà phải chạm lấy khiến lòng rầu-rĩ. Sáu là tâm chẳng được điều vui mà phải nghĩ đến khiến cho dạ sầu. Đó là sáu sự-việc khiến cho bên trong lòng người buồn-rầu.

d.- Sáu việc bên ngoài khiến chẳng vui.

– Thế nào là sáu sự-việc khiến cho người chẳng mừng?

– Một là mắt thấy sắc xấu-ác khiến lòng chẳng vui. Hai là tai nghe tiếng ác-độc khiến lòng chẳng vui. Ba là mũi ngửi mùi hôi-thúi khiến lòng chẳng vui. Bốn là lưỡi nếm vị cay đắng khiến lòng chẳng vui. Năm là thân mặc đồ thô cứng khiến lòng chẳng vui. Sáu là tâm có điều oán ghét khiến lòng chẳng vui. Đó là sáu sự-việc bên ngoài khiến lòng người chẳng vui mừng.

e.- Sáu việc khiến chẳng vui chẳng buồn.

– Thế nào là sáu việc khiến lòng người chẳng buồn, mà cũng chẳng vui?

– Một là mắt nhìn thấy điều chẳng buồn lại chẳng vui. Hai là tai nghe tiếng chẳng buồn cũng chẳng vui. Ba là mũi ngửi mùi chẳng buồn cũng chẳng vui. Bốn là miệng nếm vị chẳng buồn cũng chẳng vui. Năm là thân có chỗ đụng-chạm chẳng buồn cũng chẳng vui. Sáu là tâm nghĩ đến việc chẳng buồn mà chẳng vui. Đó là sáu sự-việc bên trong khiến cho lòng người chẳng buồn mà cũng chẳng vui.

f.- Sáu việc bên ngoài khiến cho buồn lòng.

– Thế nào là sáu việc bên ngoài khiến cho người buồn?

– Một là khi mắt thấy cái chết, lòng tự nghĩ là thân người cùng vạn-vật đều vô-thường, kẻ ấy tự nghĩ, mình đã có được ý-niệm đó mà sao còn chưa đắc đạo, đó là nguyên-nhân bên ngoài gây ra sầu. Hai là khi tai nghe tiếng tốt, lòng chẳng mừng; kẻ ấy tự nghĩ, mình đã có được ý-niệm đó cớ sao còn chưa đắc-đạo, đó là nguyên-nhân bên ngoài gây ra sầu. Ba là mũi chẳng vui buồn với mùi thơm mùi thúi; kẻ ấy tự nghĩ, mình đã có ý-niệm đó cớ sao còn chưa đắc-đạo, đó là nguyên-nhân bên ngoài gây ra sầu. Bốn là miệng chẳng nếm đắng ngọt; kẻ ấy tự nghĩ, mình đã có ý-niệm đó cớ sao còn chưa đắc-đạo, đó là nguyên-nhân bên ngoài gây ra sầu. Năm là thân chẳng ham-thích chỗ trơn-láng cũng chẳng bất-mãn với chỗ thô-cứng; kẻ ấy tự nghĩ, mình đã có được ý-niệm ấy cớ sao còn chưa đắc-đạo, đó là nguyên-nhân bên ngoài gây ra sầu. Sáu là tâm chẳng vui với sự ham-muốn; kẻ ấy tự nghĩ, mình đã có ý-niệm đó cớ sao còn chưa đắc-đạo, đó là nguyên-nhân bên ngoài gây ra sầu. Đấy là sáu sự-việc bên ngoài khiến lòng người trở nên sầu.

Vương khen ngợi: ”Lành thay! Lành thay!”

043.- Khi chết rồi, ai sanh trở lại?

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Con người chết rồi, khi sanh lại ở đời sau là ai vậy?

– Danh (= tâm-thần) và Thân (= thân-thể ) sanh lại ở đời sau.

– Danh cũ và Thân cũ của người ấy sanh lại chăng?

– Chẳng phải như vậy. Chẳng phải Danh cũ, cũng chẳng phải Thân cũ đã giữ lấy thân-tâm nầy ở đời nay làm điều thiện ác cho đến đời sau, mà sanh ra lại đâu.

– Như khiến dùng thân-tâm nầy làm điều thiện, điều ác ở đời nầy rồi đời sau chẳng sanh lại, thì cứ hết sức làm điều thiện, điều ác cũng được thoát hết, chẳng phải chịu khổ lại nữa hay sao?

– Nơi đời nầy làm điều thiện, thì đời sau chẳng sanh lại nữa, liền được giải-thoát. Còn người chẳng ngừng làm điều thiện, điều ác thì phải sanh lại về sau, cho nên chẳng được giải-thoát. Thí-dụ như có người ăn trộm trái dưa; người chủ bị mất trộm bắt kẻ ấy đem lại trình với Vương: ”Anh nầy lấy trộm trái của tôi.” Anh ăn trộm cãi lại: ”Tôi đâu có lấy trộm trái của anh. Chỗ anh trồng là trồng cây nhỏ, vốn đâu phải là anh đã trồng trái dưa; tôi hái trái dưa thì làm gì là ăn trộm; tôi chẳng hề trộm dưa của anh ta, thì có tội gì?” Hai người tranh-cãi như thế, thì ai phải, ai quấy?

– Người trồng cây, phải; vì vốn đã tạo ra cây trồng; người trộm trái thì quấy, chẳng cãi được, phải chịu tội.

– Vì sao anh ăn trộm có tội?

– Sở dĩ tên trộm có tội là vì căn-bản là người trồng cây, có cây thì mới sanh ra trái chớ.

– Đời người cũng lại như thế. Người đời nay dùng thân-tâm nầy làm điều thiện, điều ác, cho đến khi sanh lại vào đời sau, thì thân-tâm làm thiện-ác ở đời nầy là căn-bản vậy. Lại ví như có người trộm lúa thóc của người khác; người chủ bắt, liền nói: ”Anh ăn trộm thóc luá của tôi.” Kẻ trộm thóc nói: ”Tôi chẳng trộm thóc của anh. Anh tự trồng lúa; tôi tự gặt thóc, tôi làm gì mà phạm tội trộm.” Hai người liền dẫn nhau đến trình Vương. Như thế, ai phải ai quấy?

– Người trồng lúa, phải; còn kẻ trộm thóc thì quấy.

– Sao lại biết kẻ trộm thóc là quấy?

– Người trồng lúa thì phải, vì trồng lúa là căn-bản, nếu chẳng trồng lúa, thì làm sao mà có ra thóc được.

– Đời người cũng lại như thế. Người đời nay dùng thân-tâm nầy làm điều thiện-ác cho đến khi sanh lại vào đời sau, thì do thân nầy làm căn-bản vậy. Lại thí-dụ nữa, như vào mùa đông lạnh-lẽo, người kia đốt lửa lên sưởi cho ấm, rồi lần lần bỏ đó mà đi. Lửa bắt cháy vách, tường rồi lan sang lầu nhà người khác. Chủ nhà nầy lôi người đốt lửa kia lại trình Vương: ”Anh nầy đốt lửa để cháy sang lầu nhà tôi.” Kẻ đốt lửa cãi: ”Tôi đốt lửa nhỏ-nhỏ để sưởi ấm; tôi đâu có thiêu đốt nhà lầu.” Đại-Vương xử ai phải, ai quấy?

– Kẻ đốt lửa, quấy; vốn do căn-bản đốt lửa mới sanh cháy nhà.

– Đời người cũng lại như thế, người đời nay dùng thân-tâm nầy làm điều thiện-ác cho đến đời sau sanh lại thì thân-tâm nầy chính là căn-bản vậy. Lại còn thí-dụ khác nữa, như ban đêm một người đốt đuốc sáng lên, gần vách, để ăn cơm; đuốc từ từ cháy lan lên vách rồi gặp tre trúc cây gỗ liền thiêu cả ngôi nhà; lửa bừng lên cháy to thiêu hủy cả thành-phố. Dân chúng trong thành cùng la-hét người đốt đuốc: ”Cớ gì mà mày lại đốt cháy cả thành-phố như vầy?” Người kia nói: ”Tôi chỉ đốt ngọn đuốc nhỏ để có ánh-sáng mà ăn cơm; thành cháy là tại lửa lớn kia, chớ nào phải lửa của tôi.” Như thế họ tranh-cãi nhau, đưa nhau đến trước đền vua. Đại-Vương xử ai phải, ai quấy?

– Kẻ đốt đuốc có tội.

– Vì sao biết kẻ ấy có tội?

– Căn-bản lửa sanh cháy to là do tên nầy ăn cơm xong chẳng dập tắt đuốc, khiến lửa bùng lên cháy rụi cả thành.

– Đời người cũng lại như thế, người đời nay dùng thân-tâm nầy làm các điều thiện-ác cho đến đời sau sanh lại, thì thân-tâm nầy chính là căn-bản của sự tái-sanh; con người còn chưa hiểu lẽ đó, làm điều thiện-ác, cho nên chẳng được độ-thoát. Lại thêm một thí-dụ khác nữa, như có người dùng tiền cầu cưới một đứa con gái nhỏ sau nầy về làm vợ. Về sau, cô gái lớn lên, lại có người khác dùng tiền xin cưới, liền được vợ. Người cầu hôn khi trước lại nhà trách: ”Anh tới sau sao lại cưới tranh vợ tôi?” Người kia bảo: ”Anh tự lúc nhỏ cầu hôn với đứa bé gái; tôi cưới vợ vào lúc nàng lớn lên, nào tôi có giành vợ với anh đâu.” Cả hai tranh-cãi, dẫn nhau đến đền vua, Đại-Vương xử ai phải, ai quấy?

– Người cầu hôn trước, phải.

– Sao Đại-Vương biết?

– Người con gái ấy vốn là từ nhỏ lớn lên lần lần, cho nên biết đó là vợ của người đã cầu-hôn trước.

– Đời người cũng ví như thế đó. Người đời nay dùng thân-tâm nầy làm các điều thiện-ác cho đến đời sau sanh lại, thì thân-tâm đời nầy chính làm căn-bản cho việc tái-sanh đó. Lại còn một thí-dụ khác nữa, như có người mang bình đi mua sữa của kẻ nuôi bò. Mua sữa rồi, gởi lại cho chủ và nói: ”Chẳng bao lâu nữa, tôi sẽ trở lại lấy.” Người gởi sữa ít lâu sau trở lại lấy bình sữa, sữa chuyển thành sữa chua. Anh ta trách: ”Tôi gởi sữa trong bình cho anh, sao anh lại đổi thành sữa chua vậy?” Người chủ bò cãi lại: ”Đấy là sữa cũ của anh gởi, nay tự nó chuyển thành sữa chua.” Hai người tranh-cãi với nhau, dẫn nhau đến đền vua. Đại-Vương thấy ai phải?

– Người chủ bỏ, phải.

– Sao Đại-Vương biết?

– Kẻ kia mua sữa gởi lại lâu, sữa tự chuyển thành sữa chua, người chủ bò nào có lỗi gì.

– Đời người cũng ví như thế đó. Người đời nay dùng thân-tâm nầy làm các điều thiện-ác cho đến đời sau sanh lại, thì thân-tâm làm thiện-ác đời nầy chính là căn-bản cho việc tái-sanh ấy vậy.

044.- Vua hỏi, Na-Tiên có sanh trở lại nữa không?

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Na-Tiên nay có sanh trở lại đời sau không?

– Lời Đại-Vương hỏi tôi đây, trước tôi đã đáp rồi. Nếu như tôi còn có sự lưu-luyến về ân-ái, thì đời sau sẽ sanh trở lại; còn nếu dứt được sự ân-ái, thì tôi chẳng sanh lại nữa. Ví như có người tận lực phục-vụ Đại-Vương, Đại-Vương biết rõ điều tốt đó, liền ban thưởng cho nhiều tiền-của. Kẻ ấy được thưởng, dùng tiền-bạc sắm quần áo, chi-phí ăn uống, vui đùa thoả-thích, rồi lại phao lời, nói: ”Ta có công với nhà vua, mà vua chưa từng ban thưởng cho ta gì cả.” Tôi xin hỏi Đại-Vương, kẻ được ban thưởng rồi, còn nói ngược lại chưa hề được thưởng, lời nói của kẻ ấy có thể dùng được chăng?

– Lời nói của kẻ ấy chẳng dùng được.

– Thế cho nên, tôi xin nói với Đại-Vương, nếu tôi còn ân-ái thì đời sau phải sanh lại; còn như tôi đã dứt ân-ái rồi, thì đời sau chẳng phục-sanh nữa.

Vương khen ngợi: ”Lành thay! Lành thay!”

045.- Danh-Thân nghĩa là gì?

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Khanh trước có nói, Danh và Thân của con người; vậy Danh là những gì, và Thân là những gì?

– Tấm thân hiện nay đang thấy đây là Thân, còn chỗ nhớ nghĩ trong lòng là Danh.

– Tại sao nơi con người, Danh thì sanh lại ở đời sau, mà Thân nầy lại chẳng sanh theo?

– Thân và Danh của con người, trước sau liên quan nhau, ví như mầm gà-con trong chất lỏng và vỏ cứng bên ngoài, lớn lên cho đến khi thành con gà con. Nơi con người, Danh và Thân liên-quan nhau cũng như thế đó, chẳng thể phân-ly ra được.

Vua khen: ”Lành thay!”

046.- Thời-gian.

Vua lại hỏi Na-Tiên:

– Thời-gian dài lâu là những gì?

– Lấy việc quá-khứ đã qua làm lâu-dài; cũng lấy việc vị-lai sắp tới làm lâu-dài; chỉ có hiện-tại bây giờ là chẳng dài lâu.

– Lành thay! Nghĩ cho kỹ thì có sự lâu-dài chăng?

– Hoặc có lâu-dài, hoặc chẳng có lâu-dài.

– Thế nào là có lâu-dài? Thế nào là chẳng có lâu-dài?

– Đối với bực đã đắc Nê-Hoàn (=Niết-bàn) thì chẳng có thời-gian dài lâu; đối với kẻ chưa đắc đạo còn phải sống đi chết lại thì có thời-gian lâu-dài. Người, đời nầy, siêng làm việc bố-thí, ăn ở có hiếu với mẹ cha, thì vào các đời sau có thể chứng-đắc được phước ấy.

Vương khen ngợi: ”Lành thay! Lành thay!”

047.- Thời-gian cùng với Danh-Thân triển-chuyển.

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Việc quá-khứ, việc vị-lai, việc hiện-tại, ba điều đó, điều nào là căn-bản?

– Việc quá-khứ, việc vị-lai, việc hiện-tại, kẻ ngu-si đều lấy đó là căn-bản.

a.- Thân sanh Danh, Danh sanh sáu thức.

Hễ ngu-si sanh thì tinh-thần sanh. Tinh-thần sanh thân, thân sanh danh, danh sanh sắc (= vật-chất), sắc sanh sáu thức (= sáu cái biết): (1) nhãn-thức, (2) nhĩ-thức, (3) tỵ-thức, (4) thiệt-thức, (5) thân-thức, (6) ý-thức, sáu thức đều hướng ra ngoài. Mắt hướng về hình-sắc, tai hướng về âm-thanh, mũi hướng về mùi hương, miệng lưỡi hướng về vị nếm, thân hướng về trơn-láng, tâm-ý hướng về sự ham-muốn; đó là sáu sự hướng ra ngoài.

b.- Nguyên-nhân dây chuyền

Danh (= phần tinh-thần) làm phối (phối-hợp = gom chung lại), phối hiệp với phối liền biết khổ, biết sướng; tòng theo sướng khổ sanh ra ân-ái, tòng theo ân-ái sanh ra ham-muốn, tòng theo ham-muốn sanh ra hữu-trí (= có sự truyền-đạt) liền sanh ra nguyên-nhân của già, tòng theo già là nguyên-nhân của bịnh; tòng theo bịnh là nguyên-nhân của chết, tòng theo chết là nguyên-nhân của khóc-lóc, tòng theo khóc-lóc là nguyên-nhân của ưu-sầu, tòng theo ưu-sầu là đau-đớn trong nội-tâm. Hễ hiệp lại tất các sự khổ-nhọc đó lại thì thành con người, lấy đó mà con người sống chết chẳng bao giờ cùng-tận, cho nên chẳng thể nào biết rõ cái thân-gốc đầu-tiên cho được.

c.- Các thí-dụ: lúa trồng hằng năm; con gà đẻ trứng sanh con; vòng tròn khép kín .

Thí-dụ như người ta trồng lúa, lúa mọc rễ, tòng theo rễ sanh ra cành, lá, hột, cho đến sau sanh ra thóc, mãi đến năm sau được thóc thật nhiều.

Na-Tiên liền hỏi Vương:

– Như người ta trồng lúa, năm nào cũng trồng lúa, thì có lúc nào dứt tuyệt chẳng sanh ra lúa nữa chăng?

– Năm, năm, có trồng lúa thì làm sao có lúc dứt tuyệt được.

– Đời người cũng lại như thế, cứ chuyển-đổi mãi, chẳng hề có lúc dứt tuyệt được.

Thí-dụ như gà đẻ trứng, trứng nở ra gà, tòng theo trứng sanh trứng, tòng theo gà sanh gà. Đời người cũng lại như thế, chẳng bao giờ dứt tuyệt.

Na-Tiên ngừng giọng, lấy tay vẽ một vòng tròn dưới đất, rồi hỏi Vương:

– Đại-Vương nay thấy vòng tròn nầy có góc nào không?

– Vòng đó tròn-vo, chẳng có góc ở chỗ nào cả.

– Kinh Phật nói: ”Đời người sống chết cũng như bánh xe chuyển lăn, sanh tử, tử sanh, chẳng bao giờ dứt tuyệt.”

d.- Sáu căn, sáu trần và sáu thức phối-hiệp …

Con người tòng theo mắt, hình-sắc của vạn-vật, và có thức; đó là giác-tri (=hiểu-biết); ba sự-việc đó (mắt, hình-sắc, thức) hiệp lại, rồi tòng theo hiệp mà sanh ra sướng khổ, tòng theo sướng khổ sanh ra ân-ái, tòng theo ân-ái sanh ra ham-muốn, tòng theo ham-muốn sanh ra hữu-trí (= có sự truyền-đạt), tòng theo hữu-trí sự sanh sanh ra, tòng theo sanh là nguyên-nhân của việc làm thiện-ác.

Tòng theo thiện-ác, liền khởi sanh ra tai nghe âm-thanh, có thức tức là giác-tri, cả ba sự-việc đó (tai, âm-thanh, thức) hiệp lại mà sanh ra sướng khổ, tòng theo sướng khổ sanh ra ân-ái, tòng theo ân-ái sanh ra ham-muốn, tòng theo ham-muốn sanh ra hữu-trí, tòng theo hữu-trí mà sự sanh sanh ra, tòng theo sanh mà làm các điều thiện-ác.

Tòng theo thiện-ác, liền khởi sanh ra mũi ngửi mùi, có thức, tức là giác-tri; ba sự-việc đó (mũi, mùi và thức) hiệp lại, tòng theo hiệp sanh ra sướng khổ, tòng theo sướng khổ sanh ra ân-ái, tòng theo ân-ái sanh ra ham-muốn, tòng theo ham-muốn sanh ra hữu-trí, tòng theo hữu-trí mà sự sanh sanh ra, tòng theo sanh mà làm điều thiện-ác.

Tòng theo thiện-ác, liền khởi sanh ra miệng nếm vị, có thức tức là giác-tri; ba sự-việc đó (miệng, vị và thức) hiệp lại, tòng theo hiệp mà sanh ra sướng khổ, tòng theo sướng khổ mà sanh ra ân-ái, tòng theo ân-ái mà sanh ra ham-muốn, tòng theo ham-muốn sanh ra hữu-trí, tòng theo hữu-trí mà sự sanh sanh ra, tòng theo sanh mà làm điều thiện-ác.

Tòng theo thiện-ác liền khởi sanh ra thân được chỗ trơn-láng, có thức tức là giác-tri; ba sự-việc đó (thân, trơn-láng và thức) hiệp lại, tòng theo hiệp sanh ra sướng khổ, tòng theo sướng khổ mà sanh ra ân-ái, tòng theo ân-ái mà sanh ra ham-muốn, tòng theo ham-muốn mà sanh ra hữu-trí, tòng theo hữu-trí mà sự sanh sanh ra, tòng theo sanh mà làm đìều thiện-ác.

Tòng theo thiện-ác mà khởi sanh ra tâm-ý, ý-niệm và có thức tức là giác-tri; cả ba sự-việc đó (tâm, ý-niệm và thức) hiệp lại, tòng theo hiệp mà sanh ra sướng khổ, tòng theo sướng khổ mà sanh ra ân-ái, tòng theo ân-ái mà sanh ra ham-muốn, tòng theo ham-muốn mà sanh ra hữu-trí, tòng theo hữu-trí mà khiến sự sanh sanh ra, tòng theo sanh mà làm điều thiện-ác. Như thế, con người triển-chuyển, sanh tử tử sanh, chẳng bao giờ dứt tuyệt.

Vương ngợi khen: ”Lành thay!”.

048.- ”Người có gốc” nghĩa là gì?

Vương lại hỏi Na-tiên:

– Khanh có nói, con người sống chết chẳng thể đắc được gốc. ”Chẳng thể đắc được gốc” ý-nghĩa ra làm sao?

– ”Người có gốc” phải chẳng sanh trở lại, ”người có gốc” phải trở lại quá-khứ dùng đó làm ”gốc”.

– ”Người chẳng có gốc” phải nên chẳng sanh trở lại, nhìn thấy ”người có gốc” phải trở lại quá-khứ, như thế thi ”gốc” là chưa dứt tuyệt chăng?

– Dĩ nhiên, cả hai đều phải là quá-khứ.

049.- Cái ”gốc sanh-tử” là gì?

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Đời người sống chết có kẻ theo bên cạnh giúp thêm ích lợi chăng?

– Tôi xin hỏi lại Đại-Vương, con người ở thế-gian cùng với các loài nhện khi di-chuyển thì bò đi theo bên cạnh có tăng thêm ích lợi gì chăng?

– Ta chẳng hỏi Na-Tiên về con người ở thế-gian cùng các loài nhện bò đi khi di-chuyển; Ta chỉ muốn hỏi Na-Tiên cái gốc sanh tử của con người là gì?

a.- ”Gốc sanh-tử” của con người.

– Cây-cối sanh ra, lấy chồi non làm gốc; ngũ cốc lấy hột lúa làm gốc; thiên-hạ, vạn vật đều lấy gốc của loài mình mà sanh ra. Con người thì tòng theo sáu tình-cảm, ân-ái, làm gốc. Con người có mắt, có hình-sắc, và có thức; có tai, có âm-thanh, và có thức; có mũi, có mùi, và có thức; có lưỡi, có vị, và có thức; có thân, có trơn-láng, và có thức; có niệm, có pháp (=sự-vật), và có thức. Tòng theo các điều đó mà sanh ra sướng khổ; tòng theo sướng khổ mà sanh ra ân-ái; tòng theo ân-ái mà sanh ra ham-muốn; tòng theo ham-muốn mà sự sanh sanh ra; hiệp các điều khổ đó lại cho đến thành ra con người.

b.- Từ sáu căn đến nguyên-nhân phải tái-sanh.

Mắt, tai, mũi, miệng, thân, tinh-thần, thức, niệm khiến có sự truyền-đạt hiệp lại làm phối, tòng theo phối sanh sướng khổ, tòng theo sướng khổ sanh ân-ái, tòng theo ân-ái sanh ham-muốn, tòng theo ham-muốn sanh ra nguyên nhân truyền-đạt. Tòng theo truyền-đạt mà sự sanh sanh ra, tòng theo sanh mà có nguyên-nhân già, bịnh, tòng theo bịnh mà có nguyên nhân chết, ưu-sầu, khóc-lóc, tòng theo khóc lóc mà sanh ra đau-đớn trong nội-tâm. Đời con người là như thế!

c.- Từ sáu căn đến chứng-đắc vô-sanh.

Nếu chẳng có mắt thì chẳng thấy hình-sắc, chẳng hay, chẳng biết; tòng theo sự chẳng hay chẳng biết mà chẳng có sự phối-hiệp; chẳng có sự phối-hiệp thì chẳng có sướng khổ; chẳng có sướng khổ liền chẳng sanh ân-ái; chẳng ân-ái thì chẳng sanh ham-muốn; chẳng ham-muốn thì chẳng có hữu-trí (= sự truyền-đạt), chẳng sanh, chẳng già; chẳng sanh chẳng già thì chẳng bịnh, chẳng chết; chẳng bịnh chẳng chết thì chẳng sầu, chẳng khóc; chẳng sầu, chẳng khóc thì nội-tâm chẳng đau-đớn. Chẳng có các điều khổ đó, thì liền đắc được đạo Nê-Hoàn (=Niết-Bàn). Chẳng tai thì chẳng có chỗ nghe; chẳng mũi thì chẳng có chỗ ngửi; chẳng miệng thì chẳng có chỗ nếm; chẳng thân thì chẳng có chỗ trơn-láng; chẳng có thức thì chẳng có sở-niệm; chẳng có sở-niệm thì chẳng có phối-hiệp; chẳng có phối-hiệp thì chẳng sướng chẳng khổ; chẳng sướng chẳng khổ thì chẳng có ân-ái; chẳng có ân-ái thì chẳng ham-muốn; chẳng ham-muốn thì chẳng có bào-thai, chẳng có sự sanh; chẳng sanh thì chẳng già; chẳng già thì chẳng bịnh; chẳng bịnh thì chẳng chết; chẳng chết thì chẳng sầu, chẳng sầu thì chẳng khóc; chẳng khóc thì nội-tâm chẳng đau-đớn; dứt bỏ hết tất cả các nổi khổ đó, liền đắc được đạo Nê-Hoàn.

Vương khen ngợi: ”Lành thay!”

050.- Thế-gian chẳng hề có việc tự-nhiên mà sanh ra

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Thế-gian có vật nào tự-nhiên mà sanh ra chăng?

– Chẳng hề có vật nào tự-nhiên mà tự sanh ra lấy cả; phải có nguyên-nhân mới sanh ra.

a.- Thí-dụ về tòa điện cao.

Na-Tiên hỏi Vương:

– Nay Đại-Vương ngồi trên tòa điện cao nầy, điện ấy do nhơn-công tạo ra, hay là tự-nhiên sanh ra?

– Nhơn-công đã tạo ra điện nầy; gỗ xuất từ cây-cối; tường, vách, bùn đất, xuất từ đất-đai.

– Đời người cũng lại như thế; tất cả các giới hoà-hiệp lại cho đến thành ra con người. Do đó, chẳng hề có vật nào tự-nhiên mà sanh ra cả, đều phải có nguyên-nhân.

b.- Thí-dụ về người thợ đồ gốm .

Thí-dụ như người thợ làm đồ gốm, lấy đất sét hòa với nước, nhồi nhuyễn rồi đem hầm trong lò mà thành các vật-dụng, đất sét kia chẳng thể tự thành vật-dụng được, mà phải có nhơn-công, củi, lửa, mới thành ra khí-cụ được. Thế-gian chẳng hề có việc tự-nhiên mà sanh ra cả.

c.- Thí-dụ về cây đờn .

Lại nữa, thí-dụ như cây đờn-sắt mà thiếu dây, thiếu phím, thiếu người khảy, thì có phát ra âm-thanh chăng?

– Chẳng thể tự cây đờn mà có âm-thanh được.

– Nếu như cây đờn-sắt đủ dây, có phím, được người cầm khảy, thì có phát ra tiếng đờn chăng?

– Có, có được tiếng đờn.

– Như thế thì thiên hạ chẳng hề có vật tự-nhiên sanh ra, tất cả đều phải có nguyên-nhân của nó.

d.- Các thí-dụ khác: lấy lửa, kiếng soi.

Lại có thí-dụ nữa, như muốn cọ cây lấy lửa mà chẳng có hai khúc gỗ, chẳng có người cọ, thì có được lửa chăng?

– Chẳng thể có được lửa.

– Giá như có hai khúc gỗ, có người cọ gỗ, thì lửa có sanh ra chăng?

– Dĩ nhiên sẽ có lửa sanh ra.

– Vậy thì thiên-hạ chẳng hề có vật nào tự-nhiên mà sanh ra, tất phải có nguyên-nhân của nó.

Lại nữa, thí-dụ như dùng kiếng rọi lớn để tụ ánh nắng lại lấy lửa, mà chẳng có người cầm kiếng, chẳng có vầng mặt trời, thì có được lửa chăng?

– Chẳng có lửa được.

– Lại ví như có người cầm kiếng, có ánh mặt trời, thì có lửa không?

– Được lửa.

– Như thế thiên-hạ chẳng hề có vật gì tự-nhiên mà sanh ra, phải có nguyên-nhân.

Lại thêm thí-dụ nữa, nếu chẳng có kiếng soi, chẳng có ánh sáng mà người kia muốn chiếu xem mặt mình, có thấy mặt được chăng?

– Chẳng thể tự thấy được.

– Nếu như người có kiếng soi, có ánh sáng, có người tự xem mặt mình, thấý được không?

– Dĩ nhiên, có thể tự thấy được.

– Như thế, thiên-hạ chẳng hề có vật nào tự-nhiên mà sanh ra được, tất phải có nguyên-nhân của nó.

Vương khen: ”Lành thay!”

051.- ”Cái gì” là ”Người”?

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Người ở thế-gian là có ”người” hay là chẳng có người?

– Xét nghĩ cho kỹ, thế-gian chẳng thể nào có ”người”, thì gọi ”ai” (hay ”cái gì”) là ”người” cho thích-hợp được.

– Mạng sống trong thân là ”người” chăng?

Na-Tiên liền hỏi lại Vương rằng:

– Mạng sống trong thân người có thể dùng mắt thấy hình-sắc chăng, có thể dùng tai nghe âm-thanh chăng, có thể dùng mũi ngửi mùi chăng, có thể miệng nếm vị chăng, có thể dùng thân biết sự trơn-láng chăng, có thể dùng tâm-ý có sự hay-biết chăng?

– Có thể.

– Nay Đại-Vương và tôi cùng ngồi trên điện nầy, bốn mặt có cửa sổ, tùy ý mình muốn nhìn ra cửa sổ nào mà thấy được chăng?

– Thấy được.

– Giả-thiết như mạng sống, trong thân người, tùy ý muốn, theo ”cửa hở” (= khổng) nào đó để thấy, có thể dùng mắt để thấy được hình-sắc chăng, có thể dùng tai để thấy được hình-sắc chăng, có thể dùng mũi để thấy được hình-sắc chăng, có thể dùng miệng để thấy được hình-sắc chăng, có thể dùng thân để thấy được hình-sắc chăng?

– Chẳng thể được.

– Giả-thiết như mạng sống ở tại tai, có thể lấy tai để nghe được chăng, có thể lấy tai để thấy được chăng, có thể lấy tai để ngửi mùi được chăng, có thể lấy tai để nếm được vị chăng, có thể lấy tai để biết được chỗ trơn-láng chăng, có thể lấy tai để có được chỗ suy-nghĩ chăng?

Lại giả-thiết như mạng sống ở tại mũi, có thể lấy mũi để ngửi mùi thúi được chăng, có thể lấy mũi để nghe được âm-thanh chăng, có thể lấy mũi để nếm vị được chăng, có thể lấy mũi để biết được sự trơn-láng chăng, có thể lấy mũi để biết được chỗ suy-nghĩ chăng?

Lại giả-thiết như mạng sống tại miệng, có thể lấy miệng để thấy được chăng, có thể lấy miệng để nghe được âm-thanh chăng, có thể lấy miệng để ngửi mùi thối được chăng, có thể lấy miệng để biết được sự trơn-láng chăng, có thể lấy miệng để biết được chỗ suy-nghĩ chăng?

Lại giả-thiết như mạng sống ở tại thân, có thể lấy thân để biết được sự trơn-láng chăng, có thể lấy thân để thấy được chăng, có thể lấy thân để nghe được âm-thanh chăng, có thể lấy thân để ngửi mùi thối được chăng, có thể lấy thân để nếm được vị chăng, có thể lấy thân để biết được chỗ suy-nghĩ chăng?

Lại giả-thiết như mạng sống ở tại thức, có thể lấy thức biết được chỗ suy-nghĩ chăng, có thể lấy thức để nghe được âm-thanh chăng, có thể lấy thức để ngửi mùi thối được chăng, có thể lấy thức để nếm được vị chăng, có thể lấy thức để biết được sự trơn-láng chăng?

– Chẳng thể biết được.

– Đại-Vương, lời nói của Ngài trước sau chẳng tương-ứng nhau. Như Đại-Vương và tôi đang ngồi trên điện đây, nếu phá bỏ các cửa sổ bốn bên, thì thấy có được xa rộng chăng?

– Dĩ nhiên, thấy được xa rộng.

– Giả-thiết như mạng sống ở tại thân, khai lớn mắt ra, thì thấy được xa rộng chăng, khai lớn tai ra thì nghe được xa chăng, khai lớn mũi ra thì ngửi được xa chăng, khai rộng miệng ra thì nếm vị được nhiều chăng, khai rộng da ra thì biết trơn-láng nhiều chăng, khai rộng phán-đoán ra thì ý được nhiều chăng?

– Chẳng được.

– Như thế thì lời nói của Đại-Vương trưóc sau chẳng tương-ứng nhau.

Na-Tiên liền hỏi Vương rằng:

– Người giữ kho vua đến trước mặt Đại-Vương, Đại-Vương có hay-biết ông ta đang đứng trước mặt chăng?

– Biết, ở trước mặt.

– Ông ta đi vào nhà trong, Đại-Vương có hay-biết ông ấy vào nhà trong chăng?

– Biết, đi vào nhà trong.

– Giả-thiết như mạng-sống ở tại thân, người nếm vị ở trong miệng có hay-biết ngọt, chua, mặn, cay, đắng chăng?

– Biết chớ.

– Lời nói của Đại-Vương trước sau lại chẳng tương-ứng nhau. Ví như có người mua rượu ngon đổ đầy một thùng lớn, rồi bất thần đè cổ nhận đầu một người khác vào thùng rượu để thưởng-thức, kẻ ấy có biết được vị rượu hay không?

– Kẻ ấy chẳng biết được.

– Tại sao lại chẳng biết được vị rượu?

– Rượu chưa kịp vào trong miệng để đến trên lưỡi, cho nên chẳng biết được vị rượu.

– Lời nói của Đại-Vương trước lại cũng chẳng tương-ứng nhau.

Vương nói:

– Trí Ta ngu-si chưa hiểu kịp chỗ khó-khăn nầy; xin nguyện Na-Tiên giải-thích cho.

Na-Tiên nói:

– Người theo mắt thấy hình-sắc, tâm-thần chuyển-động, tâm-thần chuyển-động tức sanh sướng khổ, cùng với ý-niệm hiệp lại; tai, mũi, miệng, ý cũng cùng hiệp nhau lại làm cho tâm-ý có ý-niệm là tâm-thần chuyển-động. Tâm-thần chuyển-động tức sanh sướng khổ; tòng theo sướng khổ mà sanh ra ý, ra niệm, cứ triển-chuyển (= phát-triển và biến-chuyển) cùng nhau mà thành, ắt chẳng hề có một vị chủ thường-hằng nào cả.

Vương khen ngợi: ”Lành thay!”

052.- Mắt và tâm cùng thấy.

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Khi con người mắt thấy thì mắt và tâm có cùng nhau phát-sanh hay không?

– Dĩ nhiên, cả hai đồng thời cùng phát-sanh.

– Mắt thấy trước hay là tâm thấy trước?

– Mắt thấy trước, tâm thấy sau.

– Cả hai có nói với nhau như vầy chăng? Mắt nói với tâm, chỗ tôi thấy trước, anh nên theo sau mà thấy. Tâm nói với mắt, chỗ anh đã thấy, tôi nên theo đó mà thấy sau.

– Cả hai chẳng nói với nhau gì hết.

– Khanh há chẳng có nói, ”đồng thời cùng phát-sanh” hay sao, vì cớ gì mà cả hai lại chẳng nói với nhau như vậy?

– Có bốn sự-việc khiến cho chúng chẳng cần nói với nhau như trên. Bốn sự-việc đó là những gì? Một là, đi theo xuống dưới. Hai là, đi theo hướng cửa. Ba là, đi theo vết xe. Bốn là theo số. Bốn sự-việc đó khiến cho chẳng có sự cùng nói với nhau.

– Thế nào là đi theo xuống dưới?

– Trên núi cao có mưa lớn, thì nước chảy xuống như thế nào?

– Chảy theo xuống phiá dưới.

– Sau đó, lại có mưa nữa. Nước nầy chảy như thế nào?

– Thì chảy theo chỗ nước đám mưa trước đã chảy.

– Nước chảy trước có nói với nước sau, anh phải chảy theo đường tôi đã qua trước, chăng? Nước sau có nói với nước trước, tôi đang chảy theo đường anh qua trước, chăng?

– Nước chảy thì cứ tự chảy, nước chảy trước chẳng có nói gì với nước chảy sau.

– Mắt lại cũng như nước vậy, mắt chẳng có nói với tâm, anh phải tùy theo chỗ tôi thấy mà khởi-sanh sau; tâm cũng chẳng có nói với mắt, tôi đương tùy theo sau chỗ anh thấy mà khởi-động lên. Mắt và tâm chẳng nói gì với nhau cả. Đó gọi là đi theo xuống dưới. Tai, mắt, mũi, miệng, thân, ý, cũng lại như thế.

– Thế nào đi theo hướng cửa?

– Ví như đô-thành lớn chỉ có một cửa ra vào; bên trong có một người muốn đi ra, thì phải theo hướng nào?

– Phải theo hướng ra cửa.

– Sau đó lại có một người khác cũng muốn ra khỏi thành, thì phải đi theo hướng nào?

– Cố-nhiên người sau nầy phải noi theo con đường người đi trước mà ra.

– Thế thì, người ra trước có bảo kẻ ra sau, anh phải đi theo đường tôi đi mà ra sau. Còn người đi sau có nói với kẻ đi trước, tôi đang theo con đường anh đã đi mà ra khỏi thành. Hai người có nói với nhau như vậy không?

– Người đi trước với kẻ ra sau chẳng cùng nói với nhau.

– Mắt cũng lại như thế. Mắt chẳng nói với tâm, anh phải theo sau tôi mà khởi-phát; tâm cũng chẳng nói với mắt, tôi nay đang theo sau anh mà khởi-phát. Mắt và tâm chẳng cùng nói với nhau. Đó gọi là đi theo hướng cửa. Tai, mũi, miệng, thân và ý, cũng lại như thế.

– Thế nào là đi theo vết xe?

– Xe trước đi qua, để lại vết bánh xe trên đường; xe sau phải theo đường nào mà đi?

– Xe sau phải theo vết bánh xe trước mà đi.

– Bánh của xe trước nói với bánh của xe sau, anh phải nên theo chỗ tôi đã đi qua mà đi; bánh xe sau nói với bánh của xe trước, tôi đang đi theo vết xe của anh để lại. Cả hai có nói với nhau như thế chăng?

– Chẳng có nói cùng nhau.

– Đối với con người, cũng lại như thế. Mắt chẳng nói với tâm, tôi thấy chỗ nầy, anh phải tùy theo sau chỗ tôi thấy đó mà khởi-sanh. Tâm cũng chẳng nói, tôi đang tùy theo chỗ anh thấy mà khởi-sanh. Tai, mũi, miệng, thân và tâm, cũng chẳng nói gì với nhau.

– Thế nào theo số?

– Theo số là tính đếm. Sách-vở, học-vấn là số. Tai, mắt, mũi, miệng, thân, tâm, từ từ biết rõ, rồi cùng hiệp lại sáu sự-việc đó cho đến khi thành chỗ hay-biết, mà chỗ hay biết nầy chẳng phải chỉ tòng theo sự hay-biết riêng của mỗi một nơi nào cả.

Vương khen ngợi: ”Lành thay!”

053.- Giác-quan và tâm phối-hiệp nhau .

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Mắt người khi nhìn thấy, có cùng với sự sướng khổ sanh ra một lượt chăng?

– Mắt thấy và sự sướng khổ đồng sanh ra, đều theo nhau hiệp lại mà sanh ra.

– Thế nào là hiệp lại?

– Khi hai sự-việc tiếp-xúc nhau, đó là hiệp. Thí dụ như hai con dê chọi nhau, đó là hiệp; một con ví như mắt, một con ví như hình-sắc, hiệp lại gọi là phối. Thí-dụ như một bàn tay ví làm mắt, một bàn tay như hình-sắc, hai bàn tay hiệp lại làm phối. Thí-dụ như hai hòn đá, một hòn ví làm mắt, một hòn làm hinh-sắc, hai hòn hiệp lại là phối. Tai, mắt, mũi, thân, tâm, đều đồng hiệp nhau làm thành phối. Thí-dụ như hai hòn đá, một hòn làm tâm, một hòn như chí (=ý-chí, tâm-ý), cả hai hòn hiệp lại thành ra phối; tâm và chí hiệp nhau như thế, nên gọi là phối.

Vương khen ngợi: ”Lành thay!”

054.- Vui-sướng nghĩa là gì?

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Vui-sướng có mấy loại?

– Tự mình giác-tri (= hay-biết), đó là vui-sướng.

Thí-dụ như có người phục-vụ Vua; kẻ ấy hiền lành, Vua liền ban thưởng cho tiền-của. Người ấy được thưởng, đem tiền ra chi-dụng vào các thú-vui ham-muốn của mình cho khoái-lạc; người ấy liền tự nghĩ, ta phụng-sự Vua, được Vua ban thưởng, nay ta vui sướng. Vui-sướng là như vậy.

Thí-dụ như có người tâm niệm thiện, miệng nói lời thiện, thân làm việc thiện; hành thiện như thế khi chết đi được sanh lên cõi Trời. Trên cõi Trời, tâm-ý được sung-sướng khoái-lạc nhiều lắm, nên người ấy tự nghĩ rằng, ta lúc còn ở thế-gian, tâm niệm thiện, miệng nói lời thiện, thân làm việc thiện, cho nên nay ta sanh lên tới tận cõi nầy được vui-sướng hết sức. Đó gọi là giác, tức là sự hiểu-biết vậy.

Vua khen ngợi: ”Lành thay!”

055.- Giác-tri là gì?

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Giác là như thế nào?

– Tòng theo sự hiểu-biết, đó là giác. Thí-dụ như người giữ kho vua, đi vào kho, nhìn trong kho, liền thấy có bao nhiêu trăm ngàn tiền vàng bạc, châu ngọc, vải lụa tơ, đủ loại hương sắc, đều biết các loại ấy ở chỗ nào, đó là giác-tri.

Vương khen: ”Lành thay!”

056.- Sở-niệm là gì?

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Con người có sở-niệm của mình. Có bao nhiêu loại sở-niệm?

– Con người có sở-niệm nhân vì có sở-tác. Thí-dụ như có người hòa thuốc độc rồi uống, lại cho kẻ khác uống nữa; thân mình đã khổ, lại còn làm khổ đến kẻ khác. Lại thí-dụ như người làm ác, chết đi phải sa vào địa-ngục, các người khác được kẻ ấy dạy, làm theo điều ác đó, cũng đều phải sa vào địa-ngục ấy cả. Kẻ ác có sở-niệm, có sở-tác, là như vậy đó.

Vương khen: ”Lành thay!”

057.- Thế nào nội-động?

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Thế nào là nội-động?

– Y-chí bên trong nổi lên, đó là động.

– Động với Hành, thời ra làm sao?

– Thí-dụ như chậu đồng, nồi đồng, có người đến đốt nấu lên; các khí-cụ đó phát ra tiếng và có dư-âm; đó là hành. Con người cũng như vậy, ý-chí khởi lên, nhân đó mà có hành-động.

Vương khen: ”Lành thay!”

058.- Các tâm-niệm phối-hiệp nhau rồi chẳng tách ra riêng từ món được.

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Hiệp, trí, niệm, ý, động, những thứ đó hiệp nhau lại, rồi sau muốn phân-biệt mỗi thứ ra được chăng?

– Nếu đã khiến hiệp nhau lại rồi thì chẳng phân-biệt ra mỗi thứ được nữa. Thí-dụ như Đại-Vương khiến người đầu-bếp nấu thứ canh ngon, canh phải có nước, có thịt, có hành tỏi, có gừng, có muối bọt, có bột. Đại-Vương liền ra lịnh cho người đầu-bếp, trong bát canh nấu xong đó, lấy ra trước hết là vị của nước, kế đó vị của thịt, rồi đến vị của hành tỏi, vị của gừng, vị của muối, vị của bột, đem lên dâng, thì người ấy có thể nhứt-nhứt lấy các vị ấy ra đem dâng lên Vua được chăng?

– Canh đã nấu chung lại rồi, đâu có thể tách mỗi vị riêng biệt ra được.

– Các sự-việc lại cũng như thế, một khi đã hiệp chung thành một rồi thì chẳng lấy riêng ra được, đây là sướng khổ, đây là trí, đây là động, đây là ý-niệm.

Vương khen ngợi: ”Lành thay! Lành thay!”

059.- Vị của muối .

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Người dùng mắt nhìn vị của muối có thể riêng biết được chăng?

– Đại-Vương có biết được như thế không? Có thể nào dùng mắt nhìn mà biết được vị của muối hay sao?

– Mắt chẳng thể biết được vị của muối.

– Con người dùng lưỡi để biết được vị của muối, chớ chẳng thể dùng mắt mà biết vị của muối được.

– Phải chăng con người dùng lưỡi để biết vị?

– Mọi người đều dùng lưỡi để riêng biết về vị.

– Các loại muối đều phải dùng lưỡi để riêng biết vị chăng?

– Dĩ nhiên, vị của các loại muối phải dùng lưỡi để riêng biết.

– Chiếc xe trâu chở muối có riêng biết vị của muối chăng?

– Xe trâu chẳng thể có sự hiểu-biết, đâu có thể biết được vị của muối.

– Vị của muối có thể đem ra cân được chăng?

– Đại-Vương cũng dư biết điều đó, (…) vị của muối chẳng thể cân-lường được; chỉ có sức nặng của muối mới có thể cân-đo được.

Vương khen ngợi: ”Lành thay!”

060.- Năm giác-quan .

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Nơi thân con người dùng ngũ tri (= năm tri-giác) làm thành mọi sự-việc, hay là làm một sự-việc mà thành năm giác-quan?

– Làm thành mọi sự-việc, chớ chẳng phải do một sự-việc mà thành. Thí-dụ như nơi một thửa đất trồng ngũ-cốc thì lúc sanh ra, các loại lúa mỗi mỗi tự sanh ra tùy theo loại; nơi thân con người, năm sự-việc đều dùng tất cả các sư-việc mà sanh ra.

Vương khen-ngợi: ”Lành thay! Lành thay!”

061.- Tại sao có sự bất-bình-đẳng giữa loài người?

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Con người ở thế-gian, đầu, râu, tóc, da, mặt, mắt, tai, mũi, miệng, thân-thể, tứ-chi, chơn tay, đều có đầy-đủ cả, tại sao lại có người sống lâu, có người chết yểu, có người lắm bịnh, có người ít bịnh, có người nghèo-khổ, có người giàu-có, có người quyền-qúí, có người hạ-tiện, có người là bực đại-nhơn, có người là kẻ tiểu-nhơn, có người đoan-trang đẹp-đẽ, có người thô-kệch xấu-xí, có người được kẻ khác tin-cậy, có người bị kẻ khác nghi-ngờ, có người hiếu-thuận, có người ngu-si, tại sao lại chẳng đồng?

– Ví như cây-cối có trái: có chua, có đắng, có cay, có ngọt (…). Các cây-cối đó, sao lại chẳng giống nhau?

– Sở dĩ chẳng giống nhau, do bởi trồng các loại cây khác nhau.

– Con người cũng lại như thế. Vì tâm-niệm mỗi người một khác khiến cho con người ở thế-gian chẳng đồng nhau vậy; có người mạng sống dài, có người mạng sống ngắn, có người nhiều bịnh, có người ít bịnh, có người giàu-có, có người bần-cùng, có người quyền-quí, có người hạ-tiện, có người đại-nhơn, có người tiểu-nhơn, có người đoan-chánh, có người thô-xấu, có người lời nói dùng được, có người lời nói chẳng dùng được, có người thông-minh, có người ngu-muội. Cho nên Đức Phật có nói: ”Tùy người làm điều thiện ác mà tự mình phải đắc được điều thiện ác ấy, có người hào-quí, có người bần-cùng, tất cả đều do mạng sống đời trước đã làm điều thiện ác, mỗi người đều tùy theo đức-hạnh của mình mà được như thế.”

Vương khen ngợi: ”Lành thay! Lành thay!”

062.- Phải làm điều lành từ trước .

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Người muốn làm điều thiện, nên làm trước ngay, hay là để sau nầy mới làm?

– Phải làm ngay khi trước, để đến sau mới làm thì chẳng ích lợi chi. Trước có làm điều thiện thì nay mới có ích cho mình. Như Đại-Vương đang khát mới sai người đào đất khai giếng thì có giải ngay cơn khát của Đại-Vương chăng?

– Chẳng giải cơn khát được; phải đào giếng sẵn từ trước.

– Con người cũng lại như vậy. Nay phải làm điều thiện trước đi, để đến sau nầy mới làm thì vô-ích lắm. Thí-dụ như Đại-Vương đang đói, mới sai người cầy ruộng, bón phân, trồng ngũ-cốc để lấy lúa gạo ăn, hay là phải nên dự-trữ sẵn trước?

– Chẳng nên thế; cần phải có dự-trữ trước.

– Con người cũng lại như vậy; phải làm điều thiện trước, chờ đến lúc cần-cấp mới làm việc thiện, chẳng vô-ích lắm sao?

Ví-dụ như có địch-quân đến xâm-phạm đất nước, Đại-Vương cần chiến-đấu chống lại ngay, bấy giờ mới sai người lo tập ngựa, luyện voi, tuyển binh, thì có tác-chiến kịp thời chăng?

– Chẳng kịp, cần có sẵn binh-lính trừ-bị mới kịp lâm-thời chiến-đấu ngay; chờ đến lúc lâm trận mới lo tập ngựa, luyện voi, tuyển binh, thì vô-ích lắm.

– Kinh Phật nói: ”Con người trước phải lo niệm điều thiện, thân làm việc thiện; để đến sau mới làm lành, chẳng vô-ích lắm sao?” Đại-Vương chẳng bỏ Chánh-đạo, chẳng bắt chước theo tà-đạo. Người ngu bỏ điều thiện, làm điều ác, rồi sau nầy ngồi đó khóc-than, có ích vào đâu. Kẻ nào dứt bỏ điều trung-chánh, theo điều bất-chánh, đến lúc sắp chết sẽ hối-hận về sau.

Vương khen ngợi: ”Lành thay! Lành thay!”

063.- ”Lộc riêng” phải chăng là ”Nghiệp-lực”?

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Chư sa-môn các khanh có nói, lửa ở thế-gian chẳng giống như lửa ở địa-ngục. Lại nói, cầm một hòn đá nhỏ đốt trong lửa ở thế-gian mãi cho đến chiều tối, cũng chẳng tiêu tan; mà cầm một hòn đá lớn đốt trong lửa địa-ngục thì lại tiêu-tan được ngay. Do đó, Ta chẳng thể tin được. Các khanh cũng lại có nói, người làm ác, khi mất, phải sa vào địa-ngục hằng ngàn vạn năm còn chưa chết tiêu; do đó, Ta lại càng chẳng thể tin lời nói đó được.

– Đại-Vương có nghe nói ở ngoài biển lớn có loài thủy-tộc như mãng-xà cái (= rắn lớn), giao-long cái (= thuồng-luồng), giáp-ngư cái (= ba-ba), giải cái (= cua), khi mang thai trong bụng thường dùng sa-thạch (= đá cát) mà ăn chăng?

– Có nghe nói, chúng dùng sa-thạch mà làm thực-phẩm.

– Sa-thạch vào bụng rồi có tiêu chăng?

– Dĩ nhiên, phải tiêu-tan.

– Thế còn bào-thai trong bụng có bị tiêu theo chăng?

– Chẳng tiêu.

– Sao lại chẳng tiêu?

– Do nhờ ”lộc” riêng giúp vào mà các bào-thai ấy chẳng bị tiêu-tan.

– Người nơi địa-ngục cũng lại như thế, trong bao nhiêu ngàn vạn năm chẳng chết tiêu đi, vì người ấy đã làm nhiều tội-ác còn chưa diệt tận, cho nên chẳng thể chết đi được. Lại ví như sư-tử cái, cọp cái, chó cái, mèo cái, đều ăn xương thịt vào bụng, các chất ấy có tiêu-hóa chăng?

– Đều tiêu-hóa hết.

– Còn các bào-thai trong bụng có tiêu đi không?

– Chẳng tiêu.

– Sao lại chẳng tiêu?

– Do ”lộc” riêng giúp vào, cho nên chẳng bị tiêu.

– Lại nữa, trâu cái, ngựa cái, lừa cái, chương cái, nai cái, mang thai trong bụng, dùng cỏ lá mà ăn, phải không?

– Dĩ nhiên, chúng đều ăn cỏ lá để sống.

– Cỏ lá được ăn vào bụng có tiêu-hóa hết cả chăng?

– Đều được tiêu-hóa hết cả.

– Thế, còn các bào-thai trong bụng có bị tiêu đi không?

– Chẳng bị tiêu.

– Tại sao?

– Nhờ ở ”lộc” riêng mà chẳng bị tiêu mất đi.

– Người nơi địa-ngục cũng lại như thế; vì các tội-ác chưa được diệt-tận, cho nên chẳng chết đi.

– Các vị phu-nhơn, các bà trưởng-giả và các bà giàu-có dùng mỹ-vị ăn uống vào bụng có tiêu-hóa hết chăng?

– Đều tiêu-hóa hết.

– Các bào-thai ở trong bụng họ có tiêu mất đi chăng?

– Không, chẳng tiêu.

– Tại sao vậy?

– Nhờ nơi ”lộc” riêng mà các bào-thai chẳng tiêu đi.

– Người nơi địa-ngục cũng lại như vậy, sở dĩ ngàn vạn năm chẳng chết tiêu là do ở đời trước làm việc ác còn chưa được giải hết, vì thế mà chẳng chết tiêu. Người ở nơi địa-ngục, lớn lên ở địa-ngục, rồi già-nua cho đến tận (hết tội) thì mới chết được.

Vương khen: ”Lành thay!”

064.- Bốn đại (bốn nguyên-tố) nương vào nhau .

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Chư sa-môn các khanh có nói, đất trong thiên-hạ đều ở tại trên nước, nước ở tại trên gió, gió ở tại trên không, Ta chẳng tin là đúng như thế.

Na-Tiên liền cầm bầu nước, dùng ba ngón tay nhấc lên, rồi hỏi Vua:

– Nước trong bầu nầy có phải do gió trì giữ chăng?

– Dĩ nhiên, do gió trì giữ.

– Gió trì giữ nước cũng lại như vậy.

Vương khen: ”Lành thay!”

065.- Niết-bàn là vượt qua chẳng trở lại.

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Đạo Niết-bàn là vượt qua đi mà chẳng còn có chỗ nào trở lại nữa chăng?

– Đạo Niết-bàn chẳng còn chỗ nào là có trở lại nữa. Người ngu-mê cứ mãi lo cho tấm thân trong ngoài, thích được ngồi êm, cho nên chẳng thể đắc độ-thoát khỏi già, bịnh, chết. Người hiền-trí học Đạo trong ngoài thân đều chẳng vướng-mắc. Con người chẳng có ân-ái; hễ chẳng có ân-ái thì chẳng ham-muốn, chẳng có bào-thai; hễ chẳng có bào-thai thì chẳng sanh, chẳng già; hễ chẳng sanh, chẳng già thì chẳng bịnh, chẳng chết; hễ chẳng bịnh thì chẳng lo-sầu, chẳng khóc-lóc; hễ chẳng sầu-lo, chẳng khóc-lóc thì nội-tâm chẳng đau-đớn; khi nội-tâm chẳng đau-đớn tức liền đắc đạo Niết-bàn.

Vương ngợi khen: ”Lành thay!”

066.- Dắc đạo Niết-bàn .

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Các bực học đạo tất đắc được Niết-bàn hết cả chăng?

– Chẳng đắc được Niết-bàn hết tất cả. Các bực học đạo chơn-chánh hướng về điều thiện, biết rõ điều chơn-chánh, chỗ cần phải phụng-hành thì phụng-hành theo; chỗ chẳng nên phụng-hành thì xa lià; chỗ đáng niệm thiện thì liền niệm; chỗ chẳng đáng niệm thì liền dứt bỏ; người như thế thì đắc Niết-bàn.

Vương khen: ”Lành thay!”

067.- Dầu chưa đắc Niết-bàn, cũng có thể biết Niết-bàn là vui-sướng .

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Người chẳng đắc được Niết-bàn, có biết Niết-bàn là điều sướng-khoái chăng?

– Dĩ nhiên, người tuy chưa đắc được Niết-bàn cũng biết Niết-bàn là sướng-khoái.

– Người chưa đắc Niết-bàn, làm sao mà biết được Niết-bàn là sướng-khoái?

Na-Tiên hỏi lại Vương:

– Người chưa từng bị cắt chơn tay, có biết cắt như thế là đau-đớn chăng?

– Tuy chưa từng bị cắt, nhưng con người biết cắt tay chơn là đau-đớn.

– Sao lại biết đó là đau-đớn?

– Vào lúc có người bị cắt thì có sự than-khóc, vì thế kẻ khác mới biết cắt tay chơn là đau-đớn.

– Con người lại cũng như vậy; trước khi đắc Niết-bàn, có nghe nói Niết-bàn là sướng-khoái, cho nên mới tin biết như thế.

Vương khen: ”Lành thay!”

068.- Chẳng từng thấy Phật, đâu có nghĩa là chẳng hề có Đức Phật .

Vương lại hỏi Na-tiên:

– Na-Tiên có từng thấy Đức Phật chưa?

– Chưa từng thấy Đức Phật.

– Các vị sư-phụ của Na-Tiên đã từng thấy Đức Phật chăng?

– Các vị sư-phụ cũng chưa từng thấy Đức Phật.

– Như thế, các vị sư-phụ của Na-Tiên và cả Na-Tiên chưa từng thấy Đức Phật, thì nhứt-định chẳng có Phật vậy.

– Đại-Vương đã từng thấy năm trăm con sông chảy đổ chung vào một chỗ chăng?

– Ta chưa từng thấy.

– Đức Vua-cha và các vị tiền-vương trước kia đã từng thấy có chỗ ấy chăng?

– Các vị ấy đều chẳng thấy.

– Khi Đức Vua-cha và các vị tiền-vương chẳng trông thấy chỗ hiệp-tụ của năm trăm con sông, thì thiên-hạ nhứt-định là chẳng hề có chỗ hiệp-tụ đó chăng?

– Tuy Phụ-vương và các vị tiền-vương chẳng thấy chỗ hiệp-tụ của năm trăm con sông, nhưng thật-sự vẫn có chỗ hiệp-tụ ấy.

– Vậy, tuy các vị sư-phụ của tôi chẳng thấy Đức Phật, nhưng kỳ thật vẫn có Đức Phật.

Vương khen ngợi: ”Lành thay!”

Kinh Tì-kheo Na-Tiên – Hết Quyển Trung

 

KINH TỲ KHEO NA TIÊN 
Càn Long Đại Tạng Kinh Quyển 108, trang 706-753
Thiện Nhựt phỏng dịch và tìm hiểu

A. Bản Phỏng-dịch

Quyển Hạ

069.- Chẳng ai thắng nổi Đức Phật.

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Phải chăng chẳng hề có người nào thắng nổi Đức Phật?

– Dĩ nhiên, chẳng hề có ai thắng nổi Đức Phật cả.

– Làm sao lại biết chẳng có ai thắng nổi Đức Phật?

– Như người chưa hề ra đến biển đại-hải có biết được đại-hải là biển lớn minh-mông chăng? Có năm con sông-cái, được năm trăm ngọn sông nhỏ đổ về, cùng chảy ra đại-hải; đó là: thứ nhứt, sông Hằng; thứ hai, sông Tín-tha; thứ ba, sông Tư-tha; thứ tư, sông Tể-xoa; thứ năm, sông Thi-phi-di nhĩ. (Năm con sông-cái ở Ấn-độ là: Gange, Yamunà, Áciravati, Sarabhù, Mahi.) Năm con sông lớn đó ngày đêm chảy ra đại-hải, mà nước biển vẫn chẳng hề tăng, chẳng hề giảm. Đại-Vương có nghe nói đến chăng?

– Có biết thật như vậy.

– Người đã đắc-đạo và đạo-pháp cùng nói, chẳng hề có ai thắng nổi Đức Phật, cho nên tôi tin điều ấy.

Vương khen: ”Lành thay!”

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Lấy cái chi mà biết rằng chẳng hề có ai thắng nổi Đức Phật?

Na-Tiên hỏi Vương:

– Vị thầy trước-tác quyển sách nầy là ai vậy?

– Vị ấy tên Chất.

– Đại-Vương từng quen biết vị ấy chăng?

– Chất chết đã lâu, nên chẳng từng trông thấy được.

– Đại-Vương chưa từng thấy ông Chất, cớ sao lại biết ông ấy đã tạo nên quyển sách?

– Nhờ đọc các sách xưa có truyền dạy lại mà Ta biết được tên ông là Chất.

– Cũng vì lẽ đó mà sa-môn chúng tôi khi thấy được Kinh Phật và Giới-luật, thì cũng như thấy được Đức Phật, chẳng khác. Chánh-đạo và Kinh, Giới do Đức Phật thuyết-giảng ra vô-cùng thâm-diệu và sảng-khoái, được truyền dạy lại về sau; vì lẽ đó mà tôi biết rằng, chẳng hề có ai thắng nổi Đức Phật cả.

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Tự mình thấy Kinh Phật truyền dạy, có thể thực-hành theo về lâu về dài chăng?

– Lời Phật dạy trong Kinh-kệ và điều răn-cấm trong Giới-Luật thật là vô cùng sướng-khoái, cho nên phải phụng-hành cho đến lúc tuổi già.

Vương khen: ”Lành thay!”

070.- Khi tái-sanh, con người thọ thân mới.

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Con người chết đi, phải chăng thân nầy chẳng sanh trở lại ở đời sau?

– Con người chết đi về sau được thọ thân mới, thân cũ chẳng cùng theo ở đời sau. Ví như nơi cây đèn, tim đèn cũ được tim đèn mới nối theo mà tiếp-tục cháy sáng. Thân người cũng lại như thế, thân cũ chẳng đi theo, mà được thọ thân mới.

Na-Tiền liền hỏi Vương:

– Đại-Vương lúc nhỏ có theo thầy học sách, đọc Kinh chăng?

– Dĩ nhiên là có; Ta vẫn còn nhớ điều đó.

– Đại-Vương được thầy truyền dạy hết cả Kinh sách, và vị thầy đã truyền dạy rồi, có còn nhớ biết lại các Kinh sách cũ đó chăng?

– Nhớ chớ, vị thầy vẫn tiếp-tục nhớ biết các bản Kinh sách cũ.

– Thân người cũng như thế đó, bỏ đi thân cũ liền thọ thân mới.

Vương khen: ”Lành thay!”

071.- Thân mới mang theo nghiệp của thân cũ.

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Xét cho kỹ, có trí hay chẳng có trí?

– Trí chẳng có. Thí-dụ như có người trộm trái dưa, người ấy có tội chăng?

– Có tội chớ!

– Lúc trồng, dưa chẳng có trái; cớ gì nay lấy trộm trái dưa mà lại có tội?

– Giá như chẳng trồng dưa, cớ gì lại có trái được; cho nên kẻ trộm chẳng thể nào bào-chữa được.

– Con người cũng lại như vậy, vì đời nay làm điều thiện-ác, nên sanh ra ở đời sau liền thọ thân mới.

– Con người vì thân cũ nầy làm hành-động thiện-ác, lại được thân mới, thì thiện-ác đi về đâu?

– Các điều thiện-ác của một người đi theo người ấy như bóng theo thân-hình; người tuy chết, chỉ có thân mất, chớ các hành-động đã làm thì chẳng mất. Ví như ban đêm đốt đèn viết thơ, đèn tắt nhưng chữ vẫn còn đó; khi đèn sáng trở lại thì chữ hiện lên. Đời nầy, con người làm chỗ thiện-ác còn đó, thành đến đời sau thì phải thọ lấy như thế.

Vương khen: ”Lành thay!”

072.- Chỗ đã làm thiện-ác trước, nay ở vào đâu?

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Chỗ đã làm thiện-ác nay có thể phân-biệt chỉ rõ chỗ ấy hiện ở đâu chăng?

– Chẳng thể phân-biệt để chỉ rõ chỗ đã làm điều thiện-ác ở vào chỗ nào.

Na-Tiên liền hỏi Vương:

– Cây-cối còn chưa trỗ trái, có thể nào phân-biệt chỉ rõ nói nhánh nầy có hay chẳng có trái; biết trước như vậy được chăng?

– Chẳng thể biết trước được.

– Người chưa đắc-đạo chẳng thể biết trước thiện-ác ở vào đâu.

Vương khen: ”Lành thay!”

073.- Người phải tái-sanh, tự biết điều đó.

Vương lại hỏi:

– Người phải sanh lại ở đời sau, tự mình có biết được điều đó chăng?

– Người phải sanh lại ở đời sau thì tự biết.

– Dùng cách nào để biết?

– Ví như người làm ruộng trồng lúa, thấy nắng mưa thời-tiết điều-hoà, có thể dự biết trước sẽ được mùa chăng?

– Dĩ nhiên, người ấy biết trước sẽ được nhiều thóc lúa.

– Con người cũng thế, kẻ phải sanh lại ở đời sau cũng dự biết trước điều đó.

Vương khen: ”Lành thay!”

074.- Có Niết-bàn chăng?

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Nghĩ cho kỹ, có Nê-Hoàn (= Niết-bàn) chăng?

– Xét cho kỹ thì có Niết-bàn.

– Na-Tiên có thể chỉ cho Ta thấy Đức Phật (nơi Niết-bàn) ở tại xứ-sở nào chăng?

– Chẳng thể chỉ cho thấy Đức Phật ở tại xứ-sở nào được, Đức Phật đã nhập Bát-Niết-bàn (Pali: Parinibbàna) rồi, thì chẳng thể nào chỉ cho thấy ở xứ-sở được. Ví như có người đốt lửa to lên, rồi dập tắt, có thể nào chỉ rõ ánh lửa sáng hiện ở vào chỗ nào chăng?

– Chẳng thể biết được.

– Đức Phật đã nhập Bát-Niết-bàn, chẳng thể biết được xứ-sở.

Vương khen: ”Lành thay!”

075.- Sa-môn giữ-gìn thân, chớ chẳng mến-thương thân.

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Sa-môn có mến-thương thân-thể của mình chăng?

– Sa-môn chẳng tự thương mến thân mình.

– Sa-môn đã chẳng mến-thương thân mình, cớ sao khi nghỉ-ngơi lại muốn nằm nơi êm-ả, khi ăn-uống lại muốn vật ngon của đẹp, tự săn-sóc mình như thế?

Na-Tiên hỏi lại Vương:

– Đại-Vương có từng ra ngoài trận chiến-đấu chăng?

– Dĩ nhiên, Ta đã từng ra trận chiến-đấu.

– Tại trận chiến-đấu, Đại-Vương có từng bị đao, kiếm chém, hay tên bắn trúng chăng?

– Ta nhiều lần bị trúng đao kiếm.

– Khi bị đao, kiếm, tên, móc-câu gây ra thương-tích, Đại-Vương làm gì?

– Ta dùng thuốc, dùng cao, dùng bông gòn băng-bó lại.

– Đại-Vương vì mến-thương vết thương mà dùng thuốc, dùng cao và bông băng-bó vết thương chăng?

– Ta đâu có mến-thương vết thương.

– Chẳng mến-thương, sao lại dùng cao, dùng bông băng lại?

– Ta chỉ mong muốn vết thương mau lành, chớ đâu có mến-thương nó.

– Sa-môn cũng lại như vậy, chẳng mến-thương thân mình; tuy ăn-uống, tâm chẳng vui-khoái, chẳng muốn làm đẹp, chẳng muốn làm tốt, chẳng muốn da thịt sắc hồng-hào, mà chỉ muốn cho thân-thể khoẻ mạnh để có thể phụng-hành giới-luật, Kinh-kệ của Phật. Kinh Phật có giảng: ”Thân người có chín lỗ hổng, tựa như chín vết đâm của mâu-thương, từ nơi chín lỗ đó chảy ra chất dơ hôi-thúi.”

Vương khen: ”Lành thay!”

076.- Thân-tướng trang-nghiêm của Đức Phật.

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Đức Phật thật có ba mươi hai tướng trang-nghiêm, tám mươi vẻ đẹp tùy-hình, thân màu vàng ròng tỏa ánh hào-quang chăng?

– Đức Phật thật có ba mươi hai tướng trang-nghiêm, tám mươi vẻ đẹp tùy-hình, thân màu vàng ròng tỏa ánh hào-quang.

– Cha mẹ của Đức Phật cũng có đủ các tướng đẹp đó chăng?

– Cha mẹ của Đức Phật chẳng có các tướng đẹp đó.

– Đời người sống chết hình-tướng đều giống theo chủng loại của mình. Cha mẹ của Đức Phật đã chẳng có ba mươi hai tướng trang-nghiêm, tám mươi vẻ đẹp tùy-hình, thân màu vàng ròng tỏa ánh hào-quang, xét kỹ Đức Phật nhứt-định chẳng có đủ các tướng ấy.

Na-Tiên liền hỏi Vương:

– Đại-Vương từng thấy hoa sen chớ?

– Ta từng thấy.

– Hoa sen sanh nơi bùn, lớn lên trong nước bùn, mà màu sắc đẹp-đẽ, huơng thơm ngào-ngạt, cũng lại giống hình-tướng với chủng-loại mình ư?

– Chẳng giống với bùn đen, nước đục.

– Tuy cha mẹ của Đức Phật chẳng có các tướng tốt, nhưng xét kỹ ra, Đức Phật lại có đủ các tướng đẹp. Đức Phật sanh ra ở thế-gian, lớn lên ở thế-gian, mà chẳng giống theo sự-đời ở thế-gian.

Vương khen: ”Lành thay!”

077.- Đức Phật đâu phải là đệ-tử cuả Đại-Phạm-thiên.

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Đức Phật, xét kỹ ra, phạm-hạnh cũng giống như phạm-hạnh của đấng Đại-Phạm Thiên-vương ở cõi Trời thứ bảy, tức là chẳng giao-hội với phụ-nữ chăng?

– Dĩ nhiên, lià xa phụ-nữ, nên rất tịnh-khiết, chẳng chỗ nào uế-trược cả.

– Nếu Đức Phật làm giống với phạm-hạnh của đệ-tử đấng Đại-Phạm Thiên-Vương ở cõi Trời thứ bảy, thì Đức Phật là đệ-tử của Đại-Phạm Thiên-Vương chớ gì?

Na-Tiên liền hỏi Vương:

– Đệ-tử của đấng Đại-Phạm Thiên-vương có niệm hay chẳng có niệm?

– Đệ-tử của đấng Đại-Phạm Thiên-Vương vẫn còn có niệm.

– Như thế thì đệ-tử của đấng Đại-Phạm Thiên-vương và các bực Trời khác cũng đều là đệ-tử của Đức Phật cả.

Na-Tiên lại hỏi Vương:

– Chim hót, tiếng hót giống loài nào?

– Chim hót tiếng giống như tiếng chim nhạn.

– Như thế, chim là đệ-tử của nhạn chăng? Mỗi loài đều khác loại nhau. Đức Phật lại cũng như thế, đâu phải là đệ-tử của đấng Đại-Phạm Thiên-Vương.

Vương khen: ”Lành thay!”

078.- Đức Phật tự biết lấy Kinh-kệ và Giới-luật.

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Đức Phật có học biết và phụng-hành tất cả Kinh-kệ và Giới-luật chăng?

– Đức Phật học biết và phụng-hành hết cả Kinh-kệ và Giới-luật.

– Đức Phật theo bực thầy nào mà học biết như thế?

– Đức Phật chẳng có thầy. Khi đắc-đạo, Đức Phật tự mình hiểu biết hết tất cả các Kinh-kệ và Giới-luật. Đức Phật chẳng phải như các vị đệ-tử có học rồi mới biết. Những điều khuyến-dạy của Đức Phật cho các đệ-tử là để được phụng-hành cho đến tuổi già.

Vương khen: ”Lành thay!”

079.- Khóc cha mẹ chết và khóc khi nghe Kinh Phật.

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Có kẻ khi cha mẹ chết thì than-khóc, lệ tràn; lại có người vì nghe Kinh Phật mà ứa lệ, hai lần chảy nước mắt có khác nhau chăng?

– Kẻ vì cha mẹ chết mà khóc là do thương-cảm, tâm-niệm ưu-sầu, đau-khổ; các sự ưu-sầu đó tức là ưu-sầu của sự ngu-si. Còn người ứa lệ vì nghe được Kinh Phật là do tâm-niệm từ-ái, nghĩ đến thế-gian khổ-nhọc, nên mới khóc, như thế được phước rất to-lớn.

Vương khen: ”Lành thay!”

080.- Bực đắc đạo và kẻ chưa đắc đạo, khác nhau.

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Bực đã đắc-đạo và người chưa đắc-đạo khác nhau ra sao?

– Kẻ chưa đắc-đạo còn tâm ham-muốn; còn bực đã đắc-đạo thì hết tham-tâm, chỉ cần ăn để nuôi mạng sống.

– Ta thấy con người ở thế-gian đều muốn khoái thân, ham được món ngon, chẳng hề biết đủ.

– Người chưa đắc-đạo ăn thời muốn món ngon vật tốt; còn người đã đắc độ-thoát rồi thì tuy ăn nhưng chẳng vì khoái-lạc hay ngon ngọt, mà chỉ hướng về sự nuôi sống thân-mạng thôi.

Vương khen: ”Lành thay!”

081.- Trí-nhớ của con người.

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Con người có khả-năng nào để nhớ lại được các sự-vìệc đã xảy ra thật lâu-xa chăng?

– Người ta lúc ưu-sầu hay nhớ đến các sự-việc xảy từ lâu-xa.

– Dùng cách chi mà nhớ lại được, dùng trí-nhớ hay là dùng sự suy-nghĩ.

– Đại-Vương từng có chỗ đã học biết rồi, về sau nhớ lại chăng?

– Dĩ nhiên là ta có chỗ đã học biết rồi, về sau lại mau quên đi.

– Ngay bây giờ, Đại-Vương có quên, hay chẳng quên điều đó?

– Ngay bây giờ, Ta có nhớ lại, nhưng chẳng (giống) đúng.

– Có thể là chẳng đúng, bởi vì Đại-Vương đã tưởng-tượng (thêm) ra.

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Người có điều đã làm nay nhớ lại như vừa mới làm, và điều hiện đang làm, cũng nhớ lại. Cả hai đều dùng trí-nhớ để nhớ lại chăng?

– Các điều đã làm qua rồi và các điều hiện đang làm, cũng đều dùng trí-nhớ mà nhớ lại được cả.

– Như thế, con người chỉ nhớ lại các việc đã qua, mà chẳng dùng trí-nhớ để nhớ các việc mới chăng?

– Giả thiết như việc mới có chỗ làm chẳng thể nhớ-nghĩ được, thì cũng lại như thế.

– Người mới học trong sách vở và các kỹ-thuật khéo-léo khác có bị vụt quên đi mất chăng?

– Người (dạy) học điều mới thì viết vẽ ra để (dễ) nhớ, khiến cho kẻ đệ-tử có sự hiểu-biết, do đó mà có trí nhớ lại.

Vương khen: ”Lành thay!”

082.- Mười sáu cách để nhớ lại việc cũ.

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Con người dùng mấy cách mà nhớ lại được việc cũ?

– Người ta dùng mười sáu cách để nhớ lại:

Thứ nhứt, việc đã làm xa-xưa khiến nhớ lại;
Thứ hai, việc mới học khiến nhớ lại;
Thứ ba, nếu có đại-sự (= việc lớn, quan-trọng) thì nhớ lại;
Thứ tư, nghĩ đến việc lành thì nhớ lại;
Thứ năm, từng chịu sự khổ-sở thì nhớ lại;
Thứ sáu, tự mình suy-nghĩ thì nhớ lại;
Thứ bảy, từng làm nhiều việc khác nhau thì nhớ lại;
Thứ tám, vì có người nhắc đến thì nhớ lại;
Thứ chín, do hình-tượng mà nhớ lại;
Thứ mười, từng có chỗ đã quên khiến nhớ lại;
Thứ mười-một, do nguyên-nhân của sự biết nên nhớ lại;
Thứ mười-hai, do tính-toán mà nhớ lại;
Thứ mười-ba, do mắc nợ-nần mà nhớ lại;
Thứ mười-bốn, do nhứt-tâm (= chú-ý) mà nhớ lại;
Thứ mười-lăm, do đọc sách mà nhớ lại;
Thứ mười-sáu, nhờ có ghi-chép mà nhớ lại.

Đó là mười sáu việc khiến ta nhớ lại được.

Vương lại hỏi Na-tiên:

– Thứ nhứt, thế nào là nhớ lại việc xa-xưa?

– Các đệ-tử của Đức Phật như Ngài A-nan (Pali: Ananda), ưu-bà-di Cưu-thù-thiền-bãi (Pali: Khujjuttarà) và các vị đạo-nhơn khác, đều nhớ lại được các đời kiếp trước, và các sự-việc đương-thời.

– Thứ hai, thế nào là việc mới học khiến nhớ lại?

– Thí dụ như các người đã học tính-toán sau quên đi, nay thấy kẻ khác tính-toán thì liền nhớ lại.

– Thứ ba, thế nào là do các đại-sự mà nhớ lại?

– Thí-dụ như Thái-tử lúc lên ngôi làm Vua, nghĩ rằng ngôi Vua là tôn-quí, đó là một đại-sự, cho nên nhớ lại.

– Thứ tư, thế nào là nghĩ đến điều lành thì nhớ lại?

– Thí dụ như vì được kẻ khác đối-xử (tử-tế), mời-mọc bằng lời-lẽ cực-kỳ thiện-lành, người ấy liền nghĩ đến lời nói thiện-lành ngày hôm ấy, đó là vì nghĩ đến điều lành mà nhớ lại.

– Thứ năm, thế nào vì chịu khổ-sở mà nhớ lại?

– Thí dụ như từng bị người đánh đập, giam nhốt trong khám, ngục, đó là vì chịu khổ-sở mà nhớ lại.

– Thứ sáu, thế nào là tự mình suy-nghĩ mà nhớ lại?

– Thí dụ như thấy có chỗ giống nhau với nhà cửa, họ-hàng, hoặc gia-súc (của mình); đó là vì tự suy-nghĩ mà nhớ lại.

– Thứ bảy, thế nào là từng làm nhiều việc khác nhau mà nhớ lại?

– Thí dụ như gọi tên của vạn vật, màu-sắc, thơm thúi, ngọt đắng, nghĩ đến các lời nói để chỉ đến tất cả các sự-vật ấy, đó là vì làm nhiều việc khác nhau mà nhớ lại.

– Thứ tám, thế nào là nhờ được nhắc mà nhớ lại?

– Như kẻ có tánh hay quên, nghe người khác nhắc lại, nên nhớ.

– Thứ chín, thế nào là do hình-tượng mà nhớ lại?

– Con người, trâu, ngựa, mỗi mỗi đều có hình-tượng của chủng-loại riêng, đó là do hình-tượng chủng-loại mà nhớ lại được.

– Thứ mười, thế nào là từng có chỗ đã quên khiến nhớ lại?

– Thí dụ như một người rốt cuộc có chỗ quên, đã nhiều lần chuyên nghĩ đến chỗ ấy, đó là vì từng có chỗ quên mà nhớ lại được.

-Thứ mười-một, thế nào là vì nguyên-nhân của sự biết mà nhớ?

– (Thí dụ như) học sách thì cầu biết mặt chữ trong sách, đó là vì nguyên-nhân của sự biết mà nhớ lại.

– Thứ mười-hai, thế nào là vì tính-toán mà nhớ lại?

– Như người cùng học tính-toán chung mà thành-công thì thế nào cũng biết rõ đường-lối, cách-thức, đó là vì tính-toán mà nhớ lại.

– Thứ mười-ba, thế nào vì mắc nợ-nần mà nhớ lại?

– Thí dụ như thấy bị thúc-dục phải hoàn lại chỗ đã vay mượn, đó là do nợ-nần mà nhớ lại.

– Thứ mười-bốn, thế nào là vì nhứt-tâm (= chú-ý) mà nhớ lại?

– Sa-môn một lòng chú-ý tự nghĩ đến việc đời từ ngàn muôn kiếp trước đến nay, đó là vì nhứt-tâm mà nhớ lại.

– Thứ mười-lăm, thế nào là vì đọc sách mà nhớ lại?

– Bực đế-vương có các quyển sách cổ ghi chép các thời-đại trị-vì, đó là vì đọc sách mà nhớ lại.

– Thứ mười-sáu, thế nào vì đã từng ghi chép mà nhớ lại?

– Nếu người nào có ghi chép, về sau đọc lại thấy nên nhớ, đó là vì ghi chép mà nhớ lại.

Vương khen: ”Lành thay!”

083.- Đức Phật biết tất cả, sao chẳng dạy hết một lần?

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Đức Phật biết hết tất cả những sự-việc đã qua từ lúc khởi-thủy cho đến cả các việc trong tương-lai nữa chăng?

– Dĩ nhiên, Đức Phật biết hết tất cả mọi sự-việc.

– Giả-thiết như Đức Phật biết tất cả mọi sự-việc, tại sao Ngài lại chẳng dạy ngay hết cho các đệ-tử, mà cứ dạy từ từ thôi?

Na-Tiên hỏi lại Vương:

– Trong nước ta có vị thầy thuốc chăng?

– Có.

– Vị thầy thuốc đó có biết được hết tất cả thuốc-men trong thiên-hạ không?

– Vị ấy biết được tất cả thuốc-men.

– Khi trị bịnh, vị thầy thuốc cho thuốc luôn cả một lần, hay là từ từ mà cho thuốc?

– Với người chưa bị bịnh chẳng thể nào cho thuốc trước, phải chờ đúng bịnh rồi mới cho thuốc chớ.

– Đức Phật tuy biết tất cả mọi việc từ quá-khứ, hiện-tại cho đến vị-lai, cũng chẳng thể trong một thời mà chỉ-dạy tất cả cho thiên-hạ, nên phải từ từ dạy họ thọ Kinh-giới, khiến họ mới biết phụng-hành theo vậy.

Vương khen: ”Lành thay!”

084.- Lỡ làm ác, biết niệm Phật, chết khỏi sa địa-ngục

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Sa-môn các khanh thường nói, con người tại thế-gian làm việc ác trong trăm năm, đến khi gần chết mà biết niệm Phật, thì được tái sanh lên trên cõi Trời. Ta chẳng thể tin lời nầy. Lại nữa, Sa-môn các khanh còn nói, giết một mạng sanh-vật, đến lúc chết sẽ sa-đọa vào địa-ngục; Ta cũng chẳng tin được lời ấy.

Na-Tiên liền hỏi Vương:

– Như có người cầm hòn đá để lên mặt nước, hòn đá nổi hay chìm xuống?

– Chìm.

– Như đem trăm hòn đá lớn đặt trên chiếc thuyền, thuyền ấy có chìm không?

– Chẳng chìm.

– Trăm hòn đá lớn trong thuyền chẳng làm thuyền chìm. Người tuy vốn dữ-ác, một thời niệm Phật, nhờ đó mà chẳng bị đọa địa-ngục lại được sanh lên trên cõi Trời. Một hòn đá nhỏ chìm sâu, cũng như con người làm ác mà chẳng biết Kinh Phật, chết đi phải đọa vào địa-ngục vậy.

Vương khen: ”Lành thay!”

085.- Sa-môn học đạo vì muốn thoát mọi khổ về sau.

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Các khanh vì lý-do gì mà dụng công học Đạo làm Sa-môn?

– Tôi vì các nỗi khổ trong quá-khứ, nỗi khổ trong hiện-tại, nỗi khổ trong tưong-lai, muốn dẹp bỏ các nỗi khổ đó và chẳng muốn phải gánh chịu lại chúng nữa, nên mới cố tâm học Đạo làm Sa-môn.

– Các nỗi khổ cũng đều ở vào đời sau, cớ sao nay lại dự-phòng trước học Đạo làm Sa-môn?

Na-Tiên lại hỏi Vương:

– Đại-Vương có bị các nước địch thù-oán sắp đem binh đến công-kích chăng?

– Dĩ nhiên là có, có địch-quốc thù-oán thường muốn đem binh đến công-kích.

– Khi Chúa địch đến nơi, Đại-Vương mới lo tác chiến, đào hào để phòng-thủ hay là nên dự-bị chiến-đấu từ trước?

– Phải dự trước quân lính trừ-bị sẵn để chờ.

– Vì sao lại có sẵn quân-lính trừ-bị chờ trước?

– Để phòng-ngừa địch quân đến bất thình-lình.

– Địch còn chưa đến, sao lại dự-bị làm chi?

Na-Tiên lại hỏi Vương:

– Đói mới bắt đầu trồng luá, khát mới lo đào giếng, còn kịp hay chăng?

– Phải nên làm sẵn trước.

– Còn chưa đói khát, cớ sao lại phải dự tính xử-trí trước?

Vương khen: ”Lành thay!”

086.- Bực La-hán bay lên Trời nhanh như duỗi cánh tay

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Từ đây lên đến từng Trời thứ bảy của Đại-Phạm-thiên, cách xa bao nhiêu?

– Thật hết sức là xa. Nếu có một hòn đá lớn bằng cung-điện nầy rơi từ cõi Đại-Phạm-thiên xuống, phải mất đến sáu tháng mới tới mặt đất nầy.

– Sa-môn các khanh bảo, bực đắc A-la-hán-đạo có thể bay lên cõi Trời Đại-Phạm trong thời-gian một người co-duỗi cánh tay thôi, Ta chẳng thể tin lời ấy được, tại sao vượt qua bao nhiêu ngàn muôn ức dặm như thế mà đến được nhanh chóng vậy?

Na-Tiên lại hỏi Vương:

– Đại-Vương sanh tại nước nào?

– Ta sanh tại nước Đại-Tần (Panjab), trong thành A-lệ-tán (Alexandrie).

– Từ đây đến A-lệ-tán, cách xa mấy dặm?

– Phải đi hai ngàn do-tuần (yojana = 16 dặm) và tám vạn dặm (dặm = 576m).

– Đại-Vương từng có lúc nào nghĩ đến nước mình và công-việc trong nước ấy không?

– Dĩ nhiên là có, Ta thường nghĩ đến bản-quốc và công-việc

trong nước.

– Giờ đây, xin Đại-Vương hãy nghĩ đến bản-quốc xem có công-việc chi đang làm ở đấy.

– Ta đã nghĩ đến xong.

– Đại-Vương đã đi qua tám vạn dặm rồi trở về đây, sao mà nhanh thế!

Vương khen: ”Lành thay!”

087.- Chết cùng lúc thì đến nơi tái-sanh cùng một lúc.

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Nếu như có hai người cùng chết vào một lúc, một người tái-sanh lên cõi Trời Đại-Phạm, còn một người sanh lại tại Kế-Tân, cách đây bảy trăm hai mươi dặm, ai là người đến trước?

– Cả hai đến nơi cùng một lúc.

– Cùng đi xa, gần, khác nhau rất nhiều, cớ sao lại đến cùng một lúc được?

– Đại-Vương thử nghĩ đến thành A-lệ-tán.

– Ta đã nghĩ xong.

– Giờ, xin Đại-Vương lại nghĩ đến nước Kế-tân.

– Ta đã nghĩ xong.

– Khi nghĩ đến hai nơi đó, nơi nào đã được nghĩ đến nhanh hơn?

– Cả hai đều bằng nhau.

– Hai người cùng chết một lúc, kẻ tái-sanh ở cõi Đại-Phạm-thiên, và người sanh lại tại Kế-tân, cũng đều đến nơi cùng một lúc.

Na-Tiên lại hỏi Vương:

– Như có một đôi chim bay đến, một con đậu trên cây đại-thọ, còn một con đáp xuống một cây nhỏ, bóng con chim nào rọi xuống đất trước?

– Bóng hai con chim đều rọi trên đất cùng một lúc.

– Hai người chết cùng lúc, một người tái-sanh lên cõi Trời Đại-Phạm, một kẻ sanh lại tại Kế-tân, cả hai cũng đều đến cùng một lúc.

Vương khen: ”Lành thay!”

088.- Dùng bảy việc để học biết Đạo.

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Con người dùng bao nhiêu việc để học biết Đạo?

– Dùng bảy việc để học biết Đạo.

– Bảy việc đó là những gì?

– Thứ nhứt, phân biệt điều lành việc ác. Thứ hai, tinh-tấn. Thứ ba, vui Đạo. Thứ tư, chế-phục tâm-ý theo điều lành. Thứ năm, niệm Đạo. Thứ sáu, nhứt-tâm. Thứ bảy, gặp mọi cảnh-ngộ chẳng yêu ghét.

– Con ngưòi phải dùng cả bảy việc đó để học biết Đạo chăng?

– Bất tất phải dùng cả bảy việc để học biết Đạo. Kẻ trí-giả lấy trí phân-biệt điều thiện với điều ác, chỉ riêng dùng một việc nầy để biết Đạo.

– Nếu chỉ dùng một việc mà biết được Đạo, thì tại sao lại nói chi đến cả bảy việc?

Na-Tiên hỏi lại Vương:

– Như người cầm con dao còn đựng trong hộp, có thể nào cắt chặt đứt vật chi chăng?

– Chẳng thể cắt đứt được.

– Lòng người tuy sáng-suốt hiểu rõ, nhưng cũng nên hội đủ sáu việc kia lại thì mới thành trí vậy.

Vương khen: ”Lành thay!”

089.- Lỡ làm điều ác, biết hối-cãi, tội giảm đi dần.

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Người làm điều thiện được phước lớn, rồi làm điều ác cũng bị tai-ương lớn chăng?

– Người làm điều thiện được phước lớn, rồi làm điều ác thì bị tai-ưöng nhỏ. Người ấy làm điều ác, ngày ngày tự hối lỗi, do đó việc lỗi-lầm cũng nhỏ dần đi. Người ấy làm điều thiện, ngày ngày nhớ nghĩ trong lòng vui-vẻ, cho nên được phước lớn. Tích xưa, khi Đức Phật đi chu-du, có người kia cụt cả tay chơn đem dâng một đóa hoa sen cúng dường Phật. Đức Phật bảo chư tì-kheo, người cụt cả tay chơn nầy, trong chín mươi mốt kiếp, chẳng hề bị sa vào địa-ngục hoặc đọa vào hàng súc-sanh, rồi được sanh lên cõi Trời, sau đó trở lại cõi người. Vì lẽ đó, tôi biết kẻ tuy làm điều thiện nhỏ mà đắc được phước lớn. Làm ác, người ấy biết ngày ngày tự hối-cải, khiến tội nhỏ dần và tiêu-diệt đi; do đó tôi biết người ấy có làm điều gì lầm-lỗi cũng gặp phải tai-ương nhỏ.

Vương khen: ”Lành thay!”

090.- Người trí, kẻ ngu cùng làm ác ai nặng tội hơn?

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Người trí-giả làm điều ác, kẻ ngu cũng làm điều ác, cả hai người ấy phải trách-nhiệm tai-ương, thì ai chịu nặng hơn?

– Kẻ ngu làm ác bị tai-ương lớn, còn người trí làm ác chịu tai-ương nhỏ.

Vương liền nói:

– Lời Khanh nói thế chẳng đúng! Tại nước ta, đại-thần có lỗi làm ác thì mắc tội nặng, còn kẻ ngu-dân phạm lỗi ác bị trừng phạt nhẹ hơn; do đó người trí làm ác mắc tai-ương lớn, còn kẻ ngu-khờ làm ác lại bị tai-ương nhỏ.

Na-Tiên liền hỏi Vương:

– Thí dụ như có thanh sắt đốt nóng trên mặt đất, một người biết đó là thanh-sắt bị đốt, còn người kia thì chẳng biết, nếu cả hai người đều cầm thanh sắt ấy lên, ai là người bị phỏng cháy tay nhiều hơn?

– Kẻ chẳng biết đó là thanh sắt thì bị phỏng tay nhiều hơn.

– Kẻ ngu làm ác chẳng biết tự hối-cải điều lỗi, nên mắc phải tai-ương lớn. Còn bực trí-giả lỡ làm điều ác biết đó là chẳng phải, nên ngày ngày hối lỗi, do đó mà mắc tai-ương nhỏ.

Vương khen: ”Lành thay!”

091.- Sức thần-túc.

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Con người có khả-năng dùng thân-thể nầy bay lên đến từng Trời thứ bảy cõi Đại-Phạm-thiên và đến xứ Uất-thiền-việt (Uttara kuru, Bắc-câu-lư-châu) rồi trở về lại đây chăng?

– Có thể được.

– Làm sao mà dùng thân-thể nầy bay lên trên cõi Trời Đại-Phạm-thiên và đến xứ Uất-thiền-việt rồi trở về đây được?

Na-tiên hỏi Vương:

– Đại-Vương lúc còn nhỏ có khi nào nhảy chơi khỏi mặt đất được một trượng chăng?

– Ngày ta còn nhỏ khi có ý muốn nhảy cao, liền nhảy cao được hơn một trượng.

– Bực đắc-đạo ý muốn nhảy đến từng Trời thứ bảy cõi Đại-Phạm-thiên, rồi đến xứ Uất-thiền-việt, cũng được như ý vậy.

Vương khen: ”Lành thay!”

092.- Có thể ngưng hơi thở ra vào chăng?

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Sa-môn các Khanh thường nói, có bộ xương dài đến bốn ngàn dặm, làm sao mà có được bộ xương dài như thế?

– Đại-Vương có nghe nói ở ngoài biển lớn có con cá khổng-lồ tên là Chất, thân nó dài đến hai vạn tám ngàn dặm chăng?

– Có, ta có nghe nói đến.

– Như thế, thân nó dài hai vạn tám ngàn dặm thì xương sườn nó phải dài hơn bốn ngàn dặm chớ!

Vương lấy làm quái-dị, rồi lại hỏi Na-Tiên:

– Sa-môn các Khanh thường thuyết giảng rằng họ có thể chấm dứt được việc hơi thở ra vào. Biết làm sao mà chấm dứt được hơi thở ra vào?

Na-Tiên liền hỏi Vương:

– Đại-Vương từng nghe nói đến ý-chí chăng?

– Có nghe nói đến.

– Đại-Vương hãy khởi ý-chí lên trong thân-tâm đi.

– Ta đã khởi ý-chí lên rồi.

– Đại-Vương hãy xem người ngu-khờ chẳng thể chế-phục thân miệng mình, chẳng thể trì-giữ Kinh-giới, như thế bọn họ chẳng thể nào thấy vui-sướng với thân mình. Còn với bực học Đạo có khả-năng chế-phục thân miệng, trì-giữ Kinh-giới, do sự nhứt-tâm mà đắc được Tứ-Thiền, do đó liền ngưng được hơi thở ra vào.

Vương khen: “Lành thay!”

093.- Biển và nước biển.

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Vì sao gọi biển là biển? Phải chăng vì những việc khác nên mới gọi là biển?

– Sở dĩ người ta gọi là biển, vì trong nước biển có nửa phần nước, nửa phần muối.

– Tại sao nước biển lại mặn?

– Sở dĩ nước biển mặn là vì nước ngọt chảy đến từ xa và các loài cá, ba-ba, côn trùng đủ loại hợp với nước trong mà thành ra mặn.

Vương khen: ”Lành thay!”

094.- Tư-duy đến các sự-việc cao-thâm.

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Bực đã đắc Đạo có khả-năng suy-nghĩ đến tất cả các sự-việc cao-xa thâm-diệu chăng?

– Dĩ nhiên, các bực đã đắc Đạo đều có đủ khả-năng tư-duy mọi việc thâm-ảo cả. Kinh Phật thật hết sức là thâm-ảo về mọi sự-việc, chẳng thể nào đo-lường nổi, tất cả mọi sự-việc ấy đều phải do trí-huệ đoán-định ra.

Vương khen: ”Lành thay!”

095.-Tinh-thần, Trí-huệ và Tự-nhiên.

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Tinh-thần con người, trí-huệ và tự-nhiên, cả ba điều ấy đồng như nhau hay là khác với nhau?

– Tinh-thần chủ về sự hiểu-biết, trí-huệ thông-hiểu được Đạo, còn tự-nhiên là hư-không chẳng có người.

096.- Phân-tách kỹ thân-tâm ra, đó là vô-ngã chăng?

Vương lại hỏi Na-Tiên:

– Được làm người, cái chi làm cho ta đắc được làm người? Mắt thì thấy sắc, tai thì nghe tiếng, mũi thì ngửi mùi, miệng thì nếm vị, thân thì biết chỗ thô, chỗ nhuyễn, trí thì biết phân-biệt điều lành, điều ác, thế thì cái chi làm cho ta đắc được làm người?

Na-Tiên liền hỏi lại Vương:

– Thí dụ như có người khiến cho mắt nhướng lên ra khỏi đồng-tử thì có thấy được rộng xa hơn chăng, khiến cho vểnh tai to lên thì có nghe được tiếng ở thật xa chăng, khiến cho mũi hỉnh lớn lên thì có ngửi được mùi nhiều thêm chăng, khiến cho miệng mở hoác ra thì có nếm được nhiều vị chăng, khiến cho da thịt căng phồng rộng ra thì có biết thêm thô nhuyễn chăng, khiến cho trí vượt nổi lên thì có suy-niệm được nhiều thêm chăng?

– Chẳng được.

Na-Tiên liền nói:

– Đức Phật, tại chỗ làm, Ngài đã làm đượcviệc thật khó; nơi chỗ biết, Ngài đã biết rất thâm-diệu.

– Chỗ đã làm việc thật khó, chỗ đã biết rất thâm-diệu, ý-nghĩa như thế nào?

– Đức Phật nói, Ngài có thể biết được các bộ-phận ở trong bụng người, giải-thích được những gì mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, miệng nếm, thân sờ chạm, cắt nghĩa các điều thành-bại, các việc nghi-ngờ, giảng rõ các tư-tưởng, ý-niệm, các vấn-đề tâm-linh.

Na-Tiên lại nói:

– Như có người ngậm một ngụm nước biển mặn, có thể nào phân-biệt ra được phần nước nào là nước từ suối chảy đến, (…) phần nào từ sông chảy đến chăng?

– Nước hòa chung lại thành một, làm sao biết riêng được.

– Chỗ Phật đã làm một việc thật khó, là phân-biệt biết rõ hương-vị của mọi thứ nước, như nước biển mà nay Đại-Vương còn chưa thể phân-biệt được, như thần-trí con người vẫn chưa thấy được trong thân có sáu sự-việc chẳng thể thấy. Bởi thế cho nên, Đức Phật đã giải-thích, tòng theo tâm-niệm mà đến với mắt mới thấy vật, tòng theo tâm-niệm mà đến với tai mới nghe tiếng, tòng theo tâm-niệm mà đến với mũi mới ngửi mùi, tòng theo tâm-niệm đến với miệng mới nếm vị, tòng theo tâm-niệm đến với thân mới biết sướng khổ, nóng lạnh, thô cứng, tòng theo tâm-niệm đến với ý mới biết chỗ qui-hướng. Phật tất biết hết cả, phân-biệt giải-thích rõ-ràng hết cả.

Vương khen: ”Lành thay!”

097.- Luận-bàn Giáo-Pháp, Vương và Na-Tiên đều vui .

Na-Tiên nói:

– Đã quá nửa đêm rồi, tôi xin ra về.

Tức thì, Vương liền ra lịnh cho các quan hầu-cận mang bốn súc vải dầy có tẩm dầu mè dùng làm đuốc, để đưa Na-Tiên về, dặn phải phục-vụ Na-Tiên như đang phục-vụ cho Ta. Các vị hầu-cận đồng tâu: ”Xin tuân lịnh dạy.”

Vương nói:

– Được vị thầy dạy như Na-Tiên, và có đệ-tử như Ta, chắc là mau đắc Đạo lắm.

Tất cả các câu hỏi Vương nêu lên Na-tiên đều nhứt-nhứt đáp đầy-đủ hết. Vương hết sức hoan-hỉ. Vương liền cho xuất kho mười vạn bộ y thật đẹp để cúng-dường Na-Tiên. Vương nói:

– Kể từ nay, xin nguyện Na-Tiên hằng ngày cùng tám trăm vị Sa-môn đến cung-điện nầy để dùng cơm, và nếu có cần dùng chi, Ta sẽ xin cung-phụng ngay.

Na-Tiên thưa:

– Tôi làm đạo-nhơn nên chẳng có điều chi ham-muốn.

– Na-Tiên nên nhận để tự giúp cho mình và cũng nên giúp cho Ta luôn.

– Thế nào là giúp tự-thân và giúp luôn cho Đại-Vương?

– Sợ e người ngoài bàn-tán bảo rằng Ta keo-kiệt, Na-Tiên đã vì Vua giải hết các chỗ hồ-nghi mà Vua lại chẳng ban-thưởng gì cả; hoặc sợ e có kẻ khác bảo, Na-Tiên đã chẳng giải nổi được các chỗ Vua còn hồ-nghi, nên chẳng được Vua ban-thưởng gì cả. Na-tiên mà nhận, đó là giúp Ta được phước, mà cũng giúp cho Na-Tiên giữ được tròn danh-tiếng… Cũng như con sư-tử bị giam nhốt trong cái chuồng bằng vàng đang muốn thoát ra, tuy là Quốc-vương tại trong cung, nay Ta tỉnh ngộ, lòng chẳng được vui, muốn bỏ nước mà đi hành Đạo.

Vương dứt lời, Na-Tiên liền đứng lên đi về chùa.

Na-Tiên đi rồi, Vương thầm nghĩ, Ta hỏi Na-Tiên bao nhiêu việc, Na-Tiên vì Ta giải rõ bấy nhiêu việc. Các chỗ Ta hỏi, Na-Tiên chẳng hề chẳng giải rõ ý của Ta.

Na-Tiên trở về chùa cũng tự nghĩ, Vương hỏi ta biết bao nhiêu sự, Ta đều đáp hết bấy nhiêu sự. Chỗ Vương đã hỏi, Ta đều giải-thích rõ. Na-Tiên lòng hoan-hỉ nghĩ như thế cho đến khi trời sáng rõ.

Sáng hôm sau, Na-Tiên khoác áo cà-sa, cầm bình bát đi thẳng vào cung. Trên điện ngọc, Đức Vua liền đứng dậy thi lễ và mời Na-Tiên ngồi. Vương bạch với Na-Tiên:

– Khi Na-Tiên ra về rồi, Ta tự nghĩ, đã hỏi Na-Tiên biết bao lời, Na-Tiên đều giải-đáp tất cả. Ta tự nhớ lại các chỗ đã hỏi Na-Tiên, chẳng có câu nào Na-Tiên chẳng giải rõ ý của Ta. Ta nhớ đến các lời đó, nên lòng rất là hoan-hỉ mà nằm an nghỉ cho đến sáng.

Na-Tiên thưa:

– Tôi quay về chùa cũng tự nghĩ, Đại-Vương đã hỏi tôi biết bao nhiêu sự-việc, tôi cũng đã vì Đại-Vương giảng-giải bấy nhiêu sự-việc. Tôi lại nghĩ, các chỗ Đại-Vương hỏi tôi, tôi đều phân-tách rõ hết. Vì thế mà lòng tôi hoan-hỉ suốt đêm cho đến sáng.

Nói xong, Na-Tiên muốn ra đi. Vương liền đứng dậy làm lễ tiễn Na-Tiên.

(Kinh Tỳ-kheo Na-Tiên, Quyển Hạ)

HẾT

Pages: 1 2 3 4 5