Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

KINH KIM QUANG MINH

Hán dịch: Đời Bắc Lương, Tam tạng Pháp sư Đàm-vô-sấm
Việt dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh

 

QUYỂN 1

Phẩm 1: TỰA

Tôi nghe như vầy:

Một thời Đức Phật ở núi Kỳ-xà-quật tại thành Vương xá. Bấy giờ, Như Lai dạo qua các pháp tánh thậm thâm vô lượng, bản hạnh chư Phật và các công hạnh thanh tịnh của các vị Bồ-tát.

Là Kim Quang Minh
Vua trong các kinh
Nếu có người nghe
Thường hay suy nghĩ.
Nghĩa lý sâu xa
Vô thượng nhiệm mầu
Kinh điển như vậy
Thường được bốn Phật.
Ở trong bốn phương
Gia bị hộ trì:
Phương Đông A-súc
Phương Nam Bảo Tướng.
Tây Vô Lượng Thọ
Bắc Vi Diệu Thanh
Ta nay sắp nói
Các pháp Sám hối.
Là pháp vô thượng
Phát sinh công đức
Hoại các điều khổ
Dứt các nghiệp ác.
Là pháp căn bản
Nhất thiết chủng trí
Được trang nghiêm bởi
Vô lượng công đức,
Diệt các điều khổ
Ban vui không lường
Người thiếu các căn
Thọ mạng tổn giảm.
Nghèo khổ khốn cùng
Chư Thiên bỏ lìa
Thân thuộc tranh tụng
Mọi người cãi vả.
Pháp luật gia hình
Tài vật tổn hao
Buồn lo sợ sệt
Sao xấu tai dịch.
Bọn tà thuốc độc
Biến quái liên miên
Đêm thấy điềm dữ
Ngày thì lo phiền.
Nên tắm rửa sạch
Nghe kinh điển này
Chí tâm thanh tịnh
Mặc áo sạch sẽ.
Chuyên nghe hành xứ
Sâu xa của Phật
Oai đức kinh này
Có thể tiêu trừ.
Việc ác như thế
Khiến được tịch diệt
Thiên vương hộ thế
Đem các quan thuộc.
Và cùng vô lượng
Các chúng Dạ-xoa
Đều đến ủng hộ
Người trì kinh này.
Thiên thần Đại biện
Thần sông Ni-liên
Mẹ con quỷ thần
Địa thần Kiên lao.
Đại phạm Thiên vương
Tam thập tam thiên
Đại thần Long vương
Khẩn-na-la vương.
Ca-lâu-la vương
A-tu-la vương
Cùng quyến thuộc họ
Đều đến ủng hộ.
Người nghe kinh này
Ngày đêm không rời
Ta nay đang nói
Việc làm nhiệm mầu.
Thậm thâm bí mật
Của Phật Thế Tôn
Trăm ngàn muôn kiếp
Rất khó được gặp.
Nếu được nghe kinh
Hoặc vì người nói
Hoặc tâm tùy hỷ
Sắm đồ cúng dường.
Những người như thế
Từ vô lượng kiếp
Thường được chư Thiên
Tám Bộ cung kính.
Tu hành như thế
Sinh các công đức
Được vô lượng phước
Không thể nghĩ bàn.
Cũng được mười phương
Chư Phật Thế Tôn
Các Đại Bồ-tát Gia bị hộ trì.
Y phục chỉnh tề
Dùng hương thượng diệu
Từ tâm cúng dường
Thường không xa lìa.
Thân, ý thanh tịnh
Không các cấu uế
Vui vẻ thích thú
Ưa chuộng kinh này.
Nếu ai được nghe
Nên biết hay được
Thân người, cõi người
Và do chánh mạng.
Nghe pháp Sám hối
Giữ gìn nơi tâm
Là thượng thiện căn
Chư Phật khen ngợi.

 

Phẩm 2: THỌ LƯỢNG

Bấy giờ ở trong thành Vương xá có Đại Bồ-tát tên là Tín Tướng đã từng cúng dường vô lượng ức na-do-tha trăm ngàn chư Phật quá khứ, trồng các căn lành. Bồ-tát Tín Tướng suy nghĩ như vầy: “Vì nhân duyên gì mà Đức Như Lai Thích-ca thọ mạng ngắn ngủi, chỉ mới tám mươi tuổi?”

Lại còn nghĩ rằng: “Như Phật đã nói, có hai nhân duyên được sống lâu dài. Những gì là hai?

  1. Không sát sinh.
  2. Bố thí thức ăn cho chúng sinh ăn.

Mà Đức Thế Tôn ở trong vô lượng trăm ngàn ức na-do-tha atăng-kỳ kiếp, tu giới không sát sinh, đầy đủ mười điều thiện, ban cho chúng sinh những thức ăn uống không thể hạn lượng, cho đến xương tủy máu thịt của mình thí cho chúng sinh đói khát được no đủ, huống nữa là các thứ vật thực.” Đại sĩ chí tâm nghĩ về Phật như thế.

Khi Bồ-tát đang suy nghĩ nghĩa này thì trong nhà kia tự nhiên gọn gàng, rộng rãi, trang nghiêm bằng mọi thứ lưu ly xanh biếc của các cõi trời, đủ các thứ báu xen lẫn với nhau làm thành mặt đất, cũng như chỗ ở các Đức Như Lai nơi Tịnh độ. Có các mùi hương mầu nhiệm hơn hương của các cõi trời. Khói mây bao phủ khắp nhà đó, ở bốn mặt nhà điều có bốn tòa cao bằng bảy báu tự nhiên xuất hiện. Toàn dùng áo trời để làm đồ trải. Trên những tòa báu nhiệm mầu đó đều có các hoa báu, do sức thọ dụng chư Phật hợp thành. Trên hoa sen có bốn Đức Như Lai: Ở phương Đông có vị Phật tên là A-súc, ở phương Nam có vị Phật tên là Bảo Tướng, ở phương Tây có vị Phật tên là Vô Lượng Thọ, ở phương Bắc có vị Phật tên là Vi Diệu Thanh. Bốn Đức Như Lai này ngồi trên tòa Sư tử bỗng phóng hào quang sáng khắp thành Vương xá và cả tam thiên đại thiên thế giới, đến các thế giới chư Phật mười phương nhiều như cát sông Hằng, tung các hoa trời, tấu các nhạc trời. Lúc ấy chúng sinh ở trong tam thiên đại thiên thế giới, nhờ thần lực của chư Phật mà được những sự khoái lạc của cõi trời. Những kẻ thiếu căn, liền được đầy đủ. Nói tóm lại là những việc lợi ích trong thế gian lâu nay chưa từng thấy có, nay đều xuất hiện đầy đủ.

Bấy giờ, Bồ-tát Tín Tướng thấy được chư Phật và những việc hy hữu ấy, vui mừng phấn khởi cung kính chắp tay, hướng về chư Phật, tâm niệm thế này: “Thích-ca Như Lai vô lượng công đức, nhưng đối với việc thọ mạng tâm con sinh nghi, tại sao Đức Như Lai thọ mạng ngắn ngủi mới tám mươi tuổi mà lại nhập Niết-bàn?”

Lúc bấy giờ, bốn Đức Phật dùng tâm Chánh biến tri bảo Bồ-tát Tín Tướng:

–Này thiện nam! Ông nay không nên nghĩ lường về việc thọ mạng ngắn ngủi của Đức Như Lai. Vì sao? Này thiện nam! Chúng ta không thấy các cõi Trời, Người, Ma, Phạm thiên, các bậc Sa-môn cùng Bà-la-môn, Nhân phi nhân có thể nghĩ tính về thọ lượng của Đức Như Lai, biết được hạn lượng. Chỉ trừ Đức Như Lai mới có thể biết.

Khi đó bốn Đức Như Lai sắp nói về thọ mạng của Đức Phật Thích-ca Văn, cho nên ở các cõi trời Sắc giới, Dục giới, có các Rồng, Quỷ, Thần, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lầu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-lagià và có vô lượng ức na-do-tha các Đại Bồ-tát, nhờ thần lực của chư Phật đều đến tập trung tại nhà Bồ-tát Tín Tướng. Khi ấy bốn Phật ở trong đại chúng dùng kệ tóm lược ví dụ để nói về thọ lượng của Đức Thích-ca Như Lai:

Nước bốn biển lớn
Biết được số giọt
Thọ mạng Thích Tôn
Không thể đếm được.
Các núi Tu-di
Biết được cân lượng
Thọ mạng Thích tôn
Không thể lường được.
Biết số các bụi
Tất cả đại địa
Thọ mạng Thích Tôn
Không thể tính được.
Hư không còn có
Bờ mé giới hạn
Thọ mạng Thích Tôn
Không thể kể được.
Ngàn muôn vạn kiếp
Không thể tính kể
Phật thọ vô lượng
Vô biên như thế.
Do nhân duyên ấy
Nên nói hai duyên
Không hại mạng vật
Thí thực vô lượng.
Thế nên Đại Sĩ
Thọ không thể kể
Vô lượng, vô biên
Cũng không hạn lượng.
Thế nên ngươi nay
Không nên nghi hoặc
Về việc thọ mạng
Vô lượng của Phật.

Bấy giờ, Bồ-tát Tín Tướng nghe bốn Đức Phật này giảng về việc thọ mạng vô lượng của Đức Thích-ca Như Lai, lòng tin sâu xa, vui mừng phấn khởi.

Khi nói đến phẩm Như Lai thọ lượng như vậy rồi thì vô lượng, vô biên chúng sinh phát tâm Chánh đẳng Chánh giác. Khi ấy bốn Đức Như Lai bỗng nhiên không còn hiện nữa.

 

Phẩm 3: SÁM HỐI

Bồ-tát Tín Tướng ngay trong đêm ấy mộng thấy trống vàng, hình dạng to lớn, đẹp đẽ, ánh sáng của nó chiếu khắp cũng như ánh sáng mặt trời. Trong ánh sáng ấy thấy được vô lượng, vô biên chư Phật Thế Tôn trong mười phương ngồi tòa lưu ly dưới các cây báu, cùng với vô lượng trăm ngàn quyến thuộc vây quanh. Chư Phật đang vì họ mà thuyết pháp. Thấy trong đó có một người giống như vị Bàla-môn cầm dùi đánh trống, tiếng kêu vang rền, tiếng ấy diễn nói kệ tụng Sám hối.

Khi ấy, Bồ-tát Tín Tướng thức tỉnh, chí tâm nhớ nghĩ kệ tụng Sám hối đã nghe trong mộng. Đến sáng ngày thì rời thành Vương xá mà đi thẳng đến núi Kỳ-xà-quật. Lúc ấy cũng có vô lượng, vô biên trăm ngàn chúng sinh cùng với Bồ-tát đến ngay chỗ Phật. Đi đến nơi rồi, đảnh lễ chân Phật, nhiễu quanh bên phải ba vòng rồi lui lại ngồi một bên, cung kính, chắp tay chiêm ngưỡng tôn nhan, mắt không hề rời, đem việc trống vàng và kệ Sám hối đã thấy trong mộng, nói cho Phật nghe:

Đêm qua chiêm bao
Vẫn còn nhớ rõ
Mộng thấy trống vàng
Màu sắc rực rỡ,
Ánh sáng chiếu diệu
Sáng hơn mặt trời
Chiếu khắp mười phương
Hằng sa thế giới.
Nhân ánh sáng ấy
Được thấy chư Phật
Ngồi tòa lưu ly
Dưới các cây báu.
Vô lượng đại chúng
Vây quanh nghe pháp
Thấy Bà-la-môn
Đánh trống vàng ấy.
Trong tiếng trống đó
Nói kệ như vầy:
Trống vàng lớn này
Phát tiếng nhiệm mầu.
Đều hay dứt trừ
Tội khổ ba đời
Tội khổ địa ngục
Ngạ quỷ, súc sinh.
Nghèo cùng khốn ách
Nhiều thứ khổ khác…
Trống này phát xuất
Âm vang nhiệm mầu,
Trừ các phiền não
Bức bách chúng sinh
Dứt mọi sợ sệt
Khiến không lo sợ.
Cũng như chư Phật
Chẳng hề lo sợ
Chư Phật Thánh nhân
Đã được công đức.
Lìa khỏi sinh tử
Đến bờ Đại giác
Như vậy chúng sinh
Cũng được công đức.
Định và trợ đạo
Cũng như biển lớn
Trống này phát tiếng
Nhiệm mầu như vậy.
Khiến chúng sinh được
Phạm âm sâu xa
Chứng Phật Bồ-đề
Vô thượng thắng quả.
Chuyển pháp vô thượng
Thanh tịnh nhiệm mầu
Thọ vô lượng kiếp
Không thể nghĩ tính.
Diễn nói chánh pháp
Lợi ích chúng sinh
Hay diệt phiền não
Trừ các điều khổ.
Tham, sân, si thảy
Đều khiến diệt trừ
Hoặc có chúng sinh
Ở tại địa ngục.
Lửa cháy hừng hực
Thiêu đốt thân ấy
Nếu nghe trống vàng
Âm thanh nhiệm mầu.
Phát ra ngôn giáo
Liền tìm lễ Phật
Cũng khiến chúng sinh
Biết được túc mạng.
Trăm đời ngàn đời
Muôn ngàn ức kiếp
Khiến tâm chánh niệm
Chư Phật Thế Tôn.
Cũng nghe những lời
Vô thượng nhiệm mầu
Trong trống vàng ấy
Phát tiếng vi diệu.
Lại khiến chúng sinh
Được gặp chư Phật
Xa lìa tất cả
Các thứ ác nghiệp.
Khéo tu vô lượng
Thiện nghiệp thanh tịnh
Chư Thiên, người đời
Và các chúng sinh.
Tùy sự suy nghĩ
Các điều nguyện cầu
Trống vàng phát xuất
Âm thanh như vậy.
Tất cả đều hay
Thành tựu đầy đủ
Nếu có chúng sinh
Đọa đại địa ngục.
Lửa dữ hừng hực
Đốt cháy thân kia
Không ai cứu hộ
Trôi lăn các nạn.
Sẽ khiến tất cả
Diệt trừ khổ ách
Nếu có chúng sinh
Các khổ bức bách.
Báo ba đường ác
Cho đến loài người
Trống vàng như vậy
Phát xuất âm thanh.
Đều hay diệt trừ
Hết các nghiệp khổ
Kẻ không chỗ nương
Không ai cứu hộ.
Con vì tất cả
Làm chỗ quy y
Nay các Thế Tôn
Xin sẽ chứng tri.
Với con đã lâu
Sinh lòng đại Bi
Khắp cả mọi nơi
Mười phương Như Lai.
Đức Phật hiện tại
Đấng Lưỡng Túc Tôn
Con vốn đã làm
Các nghiệp chẳng lành.
Nay xin Sám hối
Trước Đấng Thập Lực
Không biết ân Phật
Và ân cha mẹ.
Không hiểu thiện pháp
Tạo các điều ác
Ỷ mình tôn quý
Và nhiều tiền bạc.
Tuổi trẻ buông lung
Làm các việc ác
Tâm niệm chẳng lành
Miệng nói lời dữ.
Tùy ý gây tạo
Không thấy điều lỗi
Phàm phu ngu muội
Ngăn che không biết.
Gần gũi bạn ác
Phiền não loạn tâm
Nhân duyên năm dục
Tâm sinh sân hận.
Không biết nhàm đủ
Cố làm việc ác
Gần kẻ phi Thánh
Nhân sinh keo kiệt.
Nhân duyên nghèo cùng
Gian nịnh làm ác
Lệ thuộc kẻ khác
Nên thường sợ sệt.
Không được tự tại
Mà phải làm ác
Tham dục ngu si
Khuấy động tâm hồn.
Khát ái thúc bách
Tạo các điều ác
Do nơi cơm áo
Và do nhan sắc.
Ràng buộc thiêu đốt
Tạo các điều ác
Thân, khẩu, ý nghiệp
Gây bao tội lỗi…
Những tội như thế
Nay đều sám hối
Hoặc không cung kính
Phật, Pháp, Thánh chúng.
Những tội như thế
Nay đều sám hối
Hoặc không cung kính
Duyên giác, Bồ-tát.
Những tội như thế
Nay đều sám hối
Vì do ngu si
Phỉ báng Chánh pháp.
Không biết cung kính
Cha mẹ tôn trưởng…
Những tội như thế
Nay đều sám hối.
Ngu hoặc ngăn che
Kiêu mạn buông lung
Nhân tham, sân, si
Tạo các điều ác.
Những tội như thế
Nay đều sám hối
Con nay cúng dường
Vô lượng, vô biên.
Tam thiên đại thiên
Thế giới chư Phật
Con sẽ cứu giúp
Vô lượng chúng sinh.
Tất cả mười phương
Nơi nào có khổ
Con sẽ cứu độ
Không thể nghĩ bàn.
Vô số chúng sinh
Được trú Thập địa
Đã được an ổn
Trú Thập địa rồi.
Đều khiến đầy đủ
Như Lai Chánh giác
Vì một chúng sinh
Ức kiếp tu hành.
Khiến vô lượng chúng
Thoát khỏi biển khổ
Con sẽ vì những
Chúng sinh như thế.
Diễn nói các pháp
Thậm thâm mầu nhiệm
Là Kim Quang Minh
Diệt trừ tội ác.
Gây tạo nhiều kiếp
Tội ác rất nặng
Nếu hay chí tâm
Một phen sám hối.
Những tội như thế
Thảy đều diệt hết
Con nay đã nói
Phương pháp sám hối.
Kim Quang Minh này
Thanh tịnh nhiệm mầu
Hay diệt trừ gấp
Tất cả nghiệp chướng.
Con sẽ an ổn
Ở nơi Thập địa
Mười món trân bảo
Dùng làm gót chân.
Thành Phật vô thượng
Công đức quang minh
Độ các chúng sinh
Thoát khỏi ba cõi.
Chư Phật có những
Pháp tạng thậm thâm
Không thể nghĩ bàn
Vô lượng công đức.
Nhất thiết chủng trí
Nguyện đều đầy đủ
Trăm ngàn thiền định
Căn, Lực, Giác đạo.
Các Đà-la-ni
Không thể nghĩ bàn
Thập lực Thế Tôn
Con sẽ thành tựu.
Chư Phật Thế Tôn
Có đại Từ bi
Chứng nhận lòng thành
Con xin sám hối.
Hoặc con trăm kiếp
Gây bao tội lỗi
Do nhân duyên ấy
Sinh nhiều buồn khổ.
Nghèo cùng thiếu thốn
Rầu rĩ hoảng hốt
Sợ sệt tội ác
Tâm thường khủng khiếp.
Bất cứ nơi đâu
Không chút an vui
Mười phương hiện tại
Đại bi Thế Tôn.
Hay trừ chúng sinh
Mọi thứ sợ sệt
Nguyện nhận cho con
Thành tâm sám hối.
Khiến con tiêu trừ
Những điều sợ sệt
Con đã có những
Nghiệp cấu phiền não.
Chỉ nguyện hiện tại
Chư Phật Thế Tôn
Dùng nước đại Bi
Rửa trừ sạch sẽ.
Tội ác quá khứ
Nay đều sám hối
Những tội hiện tại
Thành tâm tỏ bày.
Việc ác chưa làm
Nguyện không dám làm
Những nghiệp đã làm
Không dám che giấu.
Ba nghiệp của thân
Bốn nghiệp của miệng
Ba nghiệp của ý
Nay đều sám hối.
Thân miệng tạo tác
Và do ý nghĩ
Mười thứ nghiệp ác
Sám hối tất cả.
Lìa mười nghiệp ác
Tu mười nghiệp lành
An ở Thập trụ
Cho đến thành Phật.
Đã tạo ác nghiệp
Phải chịu ác báo
Nay ở trước Phật
Thành tâm sám hối.
Hoặc cõi nước này
Hay thế giới khác
Có các pháp lành
Đều đem hồi hướng.
Con nay tu hành
Ba nghiệp lương thiện
Nguyện ở đời sau
Chứng đạo Vô thượng.
Hoặc ở các cõi
Sáu thú hiểm nạn
Ngu si vô trí
Tạo các điều ác.
Nay ở trước Phật
Đều xin sám hối
Thế gian có những
Sinh tử hiểm nạn.
Các nghiệp dâm dục
Ngu si phiền não
Những nạn như thế
Con nay sám hối.
Nạn tâm khinh lờn
Nạn gần bạn ác
Hiểm nạn ba cõi
Và nạn ba độc.
Khó không gặp nạn
Khó gặp thời tốt
Khó tu công đức
Cũng khó gặp Phật…
Những nạn như thế
Nay đều sám hối
Chư Phật Thế Tôn
Chỗ con nương tựa.
Thế nên con nay
Kính lễ chư Phật
Sắc vàng rực rỡ
Như núi Tu-di.
Thế nên con nay
Lễ Đấng Tôn Sư
Hình sắc vô thượng
Như vàng cõi trời.
Đôi mắt sáng ngời
Như ngọc lưu ly
Công đức uy nghi
Danh xưng rực rỡ.
Phật chiếu đại Bi
Diệt trừ tăm tối
Thiện tịnh không cấu
Lìa những bụi mù.
Trí Phật tuyệt vời
Chiếu sáng khắp nơi
Lửa dữ phiền não
Khiến tâm nóng đốt.
Chỉ Phật hay trừ
Như trăng trong suốt
Ba hai tướng tốt
Tám mươi vẻ đẹp.
Trang nghiêm thân Phật
Ngắm mãi không nhàm
Công đức huy hoàng
Sáng tỏa muôn nơi.
Như ánh mặt trời
An trú ba cõi
Cũng như lưu ly
Không chút nhơ bẩn.
Tỏa sắc nhiệm mầu
Đủ thứ khác lạ
Sắc ấy ửng hồng
Như mặt trời mọc.
Pha lê, bạch ngọc
Xen lẫn chiếu giăng
Đủ thứ ngọc vàng
Trang nghiêm thân Phật.
Ở trong ba cõi
Biển lớn sinh tử
Nước ngập sóng dồi
Não loạn tâm con.
Vị độc cay đắng
Hết sức thô nhám
Lưới sáng Như Lai
Hay khiến khô cạn.
Diệu thân đoan nghiêm
Tướng hảo vô hạn
Sắc vàng chói sáng
Chiếu khắp tất cả.
Biển lớn trí tuệ
Đầy đủ ba cõi
Thế nên con nay
Cúi đầu đảnh lễ.
Như nước biển lớn
Khó biết số lượng
Cát bụi đại địa
Không thể tính kể.
Những núi Tu-di
Không thể đo lường
Bờ mé hư không
Cũng không thể đến.
Chư Phật cũng vậy
Công đức vô lượng
Những kẻ có tâm
Không thể biết được.
Trong vô lượng kiếp
Hết lòng suy nghĩ
Không thể biết được
Công đức của Phật.
Những núi đại địa
Còn biết số lượng
Có thể đếm biết
Từng giọt nước biển.
Công đức của Phật
Không thể nào biết
Tướng hảo đoan nghiêm
Danh xưng đặc biệt.
Công đức như thế
Khiến chúng đều được
Con vì nhân duyên
Nhờ những thiện nghiệp.
Đời sau không lâu
Sẽ thành Chánh giác
Giảng nói diệu pháp
Lợi ích chúng sinh.
Độ thoát tất cả
Chúng khổ không lường
Phá dẹp các ma
Và bà con chúng.
Chuyển diệu pháp luân
Vô thượng thanh tịnh
Thọ vô lượng kiếp
Không thể nghĩ bàn.
Chúng sinh đầy đủ
Pháp vị cam lồ
Con sẽ đầy đủ
Sáu Ba-la-mật.
Cũng như chư Phật
Quá khứ thành tựu
Dứt các phiền não
Trừ hết nghiệp khổ.
Diệt hết tham dục
Sân, si, các loại…
Con sẽ nghĩ nhớ
Những việc đời trước.
Trăm đời ngàn đời
Trăm ngàn ức kiếp
Thường sẽ chí tâm
Chánh niệm chư Phật.
Nghe nói các pháp
Vô thượng nhiệm mầu
Con nhân thiện nghiệp
Thường gặp chư Phật.
Xa lìa điều ác
Tu các nghiệp lành
Tất cả thế giới
Chỗ có chúng sinh.
Khổ não không lường
Con sẽ trừ hết
Nếu có chúng sinh
Các căn hủy hoại.
Không được đầy đủ
Đều khiến đầy đủ
Mười phương thế giới
Có những bệnh khổ.
Ốm yếu ngặt nghèo
Không người giúp đỡ
Đều khiến giải thoát
Dứt các bệnh khổ.
Lại được sức lực
Bình phục như cũ
Hoặc phạm pháp luật
Phải bị tội hình.
Sợ sệt không lường
Sầu lo khổ não
Những người như thế
Đều khiến giải thoát.
Hoặc bị đánh đập
Cột trói gông cùm
Đủ các việc khổ
Thúc bách thân hình.
Vô lượng trăm ngàn
Rầu lo khủng khiếp
Đủ điều hoảng hốt
Rối loạn tâm can.
Tất cả khổ não
Vô biên như thế
Nguyện khiến tất cả
Đều được giải thoát.
Hoặc có chúng sinh
Khổ não đói khát
Khiến được đủ thứ
Vật thực ngon ngọt.
Kẻ mù thấy được
Kẻ điếc nghe được
Kẻ câm nói được
Kẻ rách có áo.
Những kẻ nghèo cùng
Liền được kho báu
Của cải đầy đủ
Không còn lo thiếu.
Ai nấy cũng đều
An ổn khoái lạc
Cho đến không còn
Một người khổ cực.
Chúng sinh xem nhau
Vui vẻ hòa hiệp
Hình dáng oai nghiêm
Người ưa trông thấy.
Tâm thường suy nghĩ
Việc lành của người
Áo cơm no đủ
Công đức vun đầy.
Tùy ý suy nghĩ
Của các chúng sinh
Ước nguyện đều thành
Các thứ ca nhạc:
Tiêu, sáo, tranh, địch
Cầm, sắc, trống, phách
Đủ thứ âm thanh
Nhiệm mầu như thế.
Nước sông, ao, hồ
Suối, khe, rãnh, lạch
Hoa Ưu-bát-la
Xanh, vàng nở khắp.
Tùy sự mong ước
Của các chúng sinh
Liền được đầy đủ
Y phục, cơm nước.
Tiền tài, trân bảo
Vàng bạc, lưu ly
Trân châu, ngọc bích
Anh lạc xen nhau…
Nguyện các chúng sinh
Không nghe tiếng ác
Cho đến cũng không
Thấy các việc ác
Nguyện các chúng sinh.
Sắc diện tốt đẹp
Đối xử với nhau
Dung hòa mến thương
Những món cần dùng.
Có trong thế gian
Tùy nơi ý nghĩ
Đều khiến đầy đủ
Nguyện các chúng sinh.
Những việc mong cầu
Như chỗ họ cần
Vừa nghĩ liền được
Các cây hoa thơm.
Thường ở ba cõi
Rơi bột hương mịn
Và hương thoa mình
Chúng sinh thọ lãnh.
Vui vẻ khoái lạc
Nguyện các chúng sinh
Thường được cúng dường
Không thể nghĩ bàn.
Mười phương chư Phật
Vô thượng diệu pháp
Thanh tịnh không lường
Và cả đại chúng.
Bồ-tát, Thanh-văn
Nguyện cả chúng sinh
Thường được xa lìa
Ba ác, tám nạn.
Gặp chỗ không nạn
Hầu cận chư Phật
Pháp vương vô thượng
Nguyện các chúng sinh.
Thường sinh tôn quý
Của cải giàu có
An ổn vui vẻ
Hình sắc thượng diệu.
Trang nghiêm thân thể
Công đức thành tựu
Có đại công danh
Nguyện các người nữ.
Đều thành thân nam
Đầy đủ trí tuệ
Tinh tấn không khác
Thực hành tất cả.
Đạo hạnh Bồ-tát
Tâm siêng tu tập
Sáu pháp Ba-la-mật
Thường thấy mười phương.
Vô lượng chư Phật
Ngồi tòa lưu ly
Ở dưới cây báu
An trú thiền định.
Tự tại an lạc
Diễn thuyết chánh pháp
Chúng sinh ưa nghe
Con đời hiện tại.
Và đời quá khứ
Làm những nghiệp ác
Có các hiểm nạn
Không được vừa ý.
Nguyện đều diệt hết
Khiến không còn sót
Nếu các chúng sinh
Ba cõi trói buộc.
Mắc lưới sinh tử
Kiên cố khít chặt
Nguyện dùng dao trí
Cắt đứt nát tan.
Trừ các khổ não
Sớm thành Chánh giác
Hoặc cõi Diêm-phù
Hay các phương khác.
Vô lượng thế giới
Có các chúng sinh
Tu hành tất cả
Công đức thiện diệu.
Thâm tâm của con
Vui vẻ theo họ
Nay con do bởi
Tùy hỷ công đức.
Và thân, khẩu, ý
Tu các nghiệp lành
Nguyện ở đời sau
Thành vô thượng đạo.
Được quả báu tốt
Thanh tịnh không nhơ
Hoặc có kính thờ
Tán thán mười Lực.
Tín tâm thanh tịnh
Không các lưới nghi
Hay nói những việc
Sám hối như thế.
Liền được vượt khỏi
Sáu mươi kiếp tội
Các thiện nam Và thiện nữ.
Các vua Sát-lợi
Và Bà-la-môn
Nếu có cung kính
Chắp tay hướng Phật.
Xưng tán Như Lai
Và các kệ này
Nơi nơi, chốn chốn
Thường biết đời trước.
Các căn đầy đủ
Thanh tịnh đoan trang
Tất cả công đức
Đều được thành tựu.
Nơi nơi, chốn chốn
Thường được quốc vương
Phụ tướng, đại thần
Đều phải cung kính.
Chẳng phải ở một
Năm, hoặc mười phương
Trồng các công đức
Nghe pháp sám ấy.
Hoặc ở vô lượng
Trăm ngàn muôn ức
Chư Phật Như Lai
Trồng các căn lành
Về sau sẽ được
Nghe pháp sám này.

 

Phẩm 4: TÁN THÁN

Lúc ấy, Phật bảo Địa thần Kiên lao và Thiện nữ thiên:

–Quá khứ có vua tên Kim Long Tôn thường hay dùng lời tán thán như vầy mà tán thán Phật quá khứ, hiện tại và Phật vị lai:

Con nay tôn trọng
Kính lễ tán thán
Mười phương chư Phật
Khứ, lai, hiện tại.
Chư Phật thanh tịnh
Vắng lặng nhiệm mầu
Sắc hơn các sắc
Rực rỡ chói lọi.
Tiếng Phật tối thượng
Ở trong các tiếng
Như tiếng Đại Phạm
Chấn động sâu xa.
Tóc Phật đen nhánh
Sáng chói óng ánh
Đẹp đẽ mướt dịu
Không gì dụ được.
Răng Phật sáng sạch
Cũng như ngọc tuyết
Nổi bật dung nhan
Bằng phẳng phân minh.
Mắt Phật sáng đẹp
Thanh tịnh nghiêm chỉnh
Như cánh sen xanh
Nở ánh mặt nước.
Tướng lưỡi rộng dài
Sắc hồng chói lọi
Sáng chói chiếu soi
Tươi như hoa nở
Hào tướng rực rỡ.
Như ánh nguyệt châu
Thanh tịnh rạng ngời
Tựa như lưu ly
Mày nhỏ cong dài.
Như hình trăng non
Sắc đen lóng lánh
Như sắc ong chúa
Mũi cao tròn thẳng.
Như thoi vàng đúc
Vi diệu mịn màng
Đẹp đẽ cân đối
Tướng tốt Như Lai
Thứ lớp tối thượng.
Được vị chân chánh
Không ai sánh bằng
Mỗi lỗ chân lông
Mọc một lông xoáy.
Mềm mại đen nháy
Như lông Khổng tước
Ngay trong khi sinh
Thân phóng hào quang.
Chiếu khắp mười phương
Vô lượng cõi nước
Diệt hết tất cả
Các khổ ba cõi.
Khiến các chúng sinh
Đều được an lạc
Địa ngục, ngạ quỷ
Cho đến súc sinh.
Hàng trời và người
An ổn không hoạn
Đều diệt hết cả
Vô lượng cõi ác.
Thân sắc mầu nhiệm
Như vàng chói lọi
Diện mạo thanh tịnh
Như trăng tròn sáng,
Thân Phật tỏ rạng
Như ánh mặt trời
Đi đứng oai nghi
Giống như sư tử.
Đứng duỗi hai tay
Thòng xuống quá gối
Uyển chuyển như nhánh
Ta-la gió động,
Ánh sáng một tầm
Hay chiếu vô lượng
Sáng soi tất cả
Trăm ngàn nhật nguyệt.
Thân Phật thanh tịnh
Không chút bợn nhơ
Ánh sáng chiếu khắp
Tất cả cõi Phật,
Hào quang rực rỡ
Chiếu sáng chói lọi
Vô lượng nhật nguyệt
Đều bị lu mờ.
Ánh sáng chư Phật
Chiếu vô lượng cõi
Hay khiến chúng sinh
Nương sáng thấy Phật,
Vốn đã tu tập
Trăm ngàn hạnh nghiệp
Chứa nhóm công đức
Trang nghiêm thân Phật,
Cánh tay thon tròn
Giống như vòi voi
Tay chân mền mại
Kính mến không nhàm.
Khứ, lai chư Phật
Số như vi trần
Hiện tại chư Phật
Cũng lại như vậy.
Như Lai cũng thế
Con nay đều lễ
Thân khẩu thanh tịnh
Ý cũng như vậy.
Dùng hương hoa quý
Dâng hiến cúng dường
Ca vịnh tán dương
Trăm ngàn công đức,
Dẫu dùng trăm lưỡi
Ở trong ngàn kiếp
Tán công đức Phật
Không thể cùng tận.
Như Lai có những
Công đức hiện tại
Sâu xa kiên cố
Vi diệu đệ nhất,
Dẫu có ngàn lưỡi
Muốn tán một Phật
Còn không thể hết
Chút phần công đức,
Huống nữa muốn tán
Công đức chư Phật
Dẫu cho biển lớn
Khắp cả trời đất.
Đến trời Hữu đảnh
Nước đầy trong ấy
Lấy một sợi lông
Chấm biết số giọt,
Nhưng không thể biết
Công đức một Phật
Con nay do lễ
Tán thán chư Phật.
Thân, khẩu, ý nghiệp
Đều được thanh tịnh
Tất cả chỗ tu
Vô lượng nghiệp lành,
Cùng các chúng sinh
Chứng vô thượng đạo
Nhân vương tán thán
Phật như thế rồi,
Lại phát thệ nguyện
Vô lượng như vầy
Con hoặc đời sau
Vô lượng, vô biên.
A-tăng-kỳ kiếp
Sinh ở chỗ nào
Thường ở trong mộng
Thấy được trống vàng,
Được nghe âm thanh
Sám hối nhiệm mầu
Do nay khen ngợi
Diện mạo thanh tịnh,
Nguyện con đời sau
Cũng được như thế
Công đức chư Phật
Không thể nghĩ bàn.
Ở trăm ngàn kiếp
Rất khó được gặp
Nguyện ở mai sau
Trong vô lượng đời.
Đêm thì mộng thấy
Ngày nói như thật
Con sẽ tu hành
Đầy đủ sáu Độ,
Cứu giúp chúng sinh
Vượt qua biển khổ
Thân con sau này
Thành đạo vô thượng.
Khiến thế giới con
Không đâu sánh bằng
Nhân duyên tán Phật
Dâng cúng trống vàng.
Do quả báo này
Trong đời tương lai
Gặp Phật Thích-ca
Được Phật thọ ký.
Và khiến hai con
Kim long, Kim quang
Thường sinh nhà con
Đồng được thọ ký.
Nếu có chúng sinh
Không kẻ cứu giúp
Khổ sở thúc bức bách
Không nơi nương tựa,
Con ở mai sau
Vì những kẻ ấy
Làm chỗ nương tựa
Và giúp đỡ họ,
Trừ hết tất cả
Những điều khổ sở
Ban bố chúng sinh
Phước thiện an lạc
Con ở đời sau.
Tu đạo Bồ-đề
Không kể kiếp số
Cho đến cùng tận
Do Kim quang này.
Và pháp Sám hối
Khiến cho con đây
Biển ác, biển nghiệp
Biển lớn phiền não.
Đều khô cạn hết
Biển công đức con
Nguyện đều thành tựu.
Biển lớn trí tuệ
Thanh tịnh đầy đủ
Vô lượng công đức
Trợ đạo Bồ-đề.
Cũng như biển lớn
Đầy đủ trân bảo
Do sức Sám hối
Và Kim quang này,
Công đức Bồ-đề
Sáng suốt vô ngại
Trí tuệ rạng soi
Chiếu suốt thanh tịnh.
Con ở đời sau
Thân sáng chiếu khắp
Công đức oai thần
Quang Minh chói lọi,
Tối thắng đặc thù
Ở trong ba cõi
Sức các công đức
Không chút tổn giảm,
Sẽ độ chúng sinh
Vượt qua biển khổ
Đồng được an trí
Biển lớn công đức.
Đời sau nhiều kiếp
Tu đạo Bồ-đề
Như xưa chư Phật
Đã từng tu tập.
Ba đời chư Phật
Cõi nước tịnh diệu
Chư Phật chí tôn
Vô lượng công đức,
Khiến con đời sau
Được sự thù thắng
Công đức Tịnh độ
Như Phật Thế Tôn.
Tín Tướng nên biết:
Tôn giả Kim Long
Quốc vương lúc đó
Là thân ông đây,
Kim long, Kim quang
Hai con khi ấy
Tức nay con ông
Ngân-tướng, Kim tướng.

 

Phẩm 5: KHÔNG

Vô lượng các kinh
Nói nhiều nghĩa không
Thế nên ở đây
Giải thích lược qua.
Chúng sinh căn độn
Trí tuệ kém cỏi
Không thể biết rộng
Vô lượng nghĩa không.
Nên tôn kinh này
Chỉ nói tóm lược
Phương tiện nhiệm mầu
Dùng đủ nhân duyên.
Vì kẻ độn căn
Khởi lòng đại Bi
Ta nay diễn nói
Kinh điển nhiệm mầu.
Như ta đã hiểu
Biết ý chúng sinh
Thân này hư huyễn
Như mây trong không.
Xóm làng sáu nhập
Chỗ ở của giặc
Tất cả tự ở
Đều chẳng biết nhau.
Mắt thâu nhận sắc
Tai phân biệt tiếng
Mũi ngửi các mùi
Lưỡi nếm các vị,
Còn phần thân căn
Tham lãnh các xúc
Ý căn phân biệt
Tất cả các pháp.
Sáu tình các căn
Mỗi mỗi tự duyên
Cảnh giới các trần
Không duyên thứ khác.
Tâm như ảo hóa
Rong ruổi sáu tình
Mà thường vọng tưởng
Phân biệt các pháp.
Cũng như người đời
Đuổi bắt hư không
Sáu giặc phá hoại
Ngu không biết tránh.
Tâm thường nương tựa
Cảnh giới sáu căn
Mỗi mỗi tự biết
Cảnh riêng của mình.
Duyên theo sắc, thanh
Hương, vi, xúc, pháp
Tâm ở sáu tình
Như chim sa lưới,
Tâm ấy thường thường
Ở nơi các căn
Theo đuổi các trần
Không thể tạm bỏ.
Thân luống hư dối
Không thể trưởng dưỡng
Không có tranh cãi
Cũng không có chủ.
Từ các nhân duyên
Hòa hợp mà có
Không có chắc thật
Do vọng tưởng khởi,
Cơ quan nghiệp lực
Hư dối tụ họp
Đất, nước, gió, lửa
Hợp lại tạo thành.
Tùy thời tăng giảm
Tàn hại lẫn nhau
Như bốn con rắn
Đồng nhốt một hộp.
Bốn rắn to ấy
Tính chất khác nhau
Hai trên hai dưới
Các phương cũng hai.
Rắn lớn như thế
Đều diệt không sót
Hai rắn đất, nước
Tánh chúng chìm xuống,
Hai tánh tâm, thức
Tháo động không ngừng
Tùy nghiệp chịu báo
Các cõi trời, người.
Tùy chỗ tạo nghiệp
Mà đọa các loài
Thứ nước, lửa, gió
Khi tan diệt hoại.
Đại tiểu bất tịnh
Đầy chảy ra ngoài
Thân sinh các trùng
Không thể ưa mến.
Vất bỏ ngoài gò
Như cây mục nát
Thiện nữ nên biết
Các pháp như thế.
Chỗ nào có người
Và có chúng sinh
Bản tánh vắng lặng
Vì vô minh có.
Các đại cũng thế
Mỗi mỗi chẳng thật
Vốn tự không sinh
Tánh không hòa hợp.
Do nhân duyên ấy
Ta nói các đại
Từ gốc không thật
Hòa hiệp mà có.
Thể tướng vô minh
Vốn tự không có
Nhân duyên vọng tưởng
Hòa hợp mà có.
Vì không thật có
Giả danh vô minh
Thế nên ta nói
Gọi là vô minh,
Hành, thức, danh sắc
Lục nhập, xúc, thọ
Ái, thủ, hữu, sinh
Lão, tử sầu não.
Hạnh nghiệp các khổ
Không thể nghĩ bàn
Sinh tử vô ngần
Luân chuyển chẳng dứt.
Vốn không có sinh
Cũng không hòa hợp
Suy nghĩ bất thiện
Tâm hành gây tạo.
Ta đoạn tất cả
Các kiến trói buộc
Dùng dao trí tuệ
Rọc lưới phiền não.
Quán thân năm ấm
Tất cả vắng lặng
Chứng đạo vô thượng
Công đức nhiệm mầu.
Mở cửa cam lồ
Chỉ đồ cam lồ
Vào thành cam lồ
Ở nhà cam lồ.
Khiến các chúng sinh
Ăn vị cam lồ
Thổi loa đại pháp
Đánh trống đại pháp,
Đốt đuốc đại pháp
Tuôn mưa đại pháp
Ta nay phá dẹp
Tất cả oán kết,
Dựng cao cờ pháp
Mầu nhiệm thứ nhất
Độ các chúng sinh
Khỏi biển sinh tử.
Hằng dứt ba ác
Vô lượng khổ não
Lửa dữ phiền não
Đốt các chúng sinh.
Không ai cứu hộ
Không chỗ nương tựa
Ta dùng mỹ vị
Cam lồ mát mẻ.
Giúp họ đầy đủ
Khiến lìa nóng bức
Ở vô lượng kiếp
Tu hành các hạnh,
Cúng dường, cung kính
Chư Phật Thế Tôn
Kiên cố tu tập
Đạo nghiệp Bồ-đề.
Cầu được Như Lai
Pháp thân chân thật
Xả bỏ thân mạng
Lóng đốt chân, tay.
Đầu, mắt, tủy, não
Vợ, con yêu dấu
Tiền tài trân bảo
Trân châu, anh lạc,
Lưu ly, vàng, bạc
Trân bảo, tiền, tài…
Tất cả vật quý.

 

QUYỂN 2

Phẩm 6: TỨ THIÊN VƯƠNG

Bấy giờ, Thiên vương Tỳ-sa-môn, Thiên vương Đề-đầu-lại-tra, Thiên vương Tỳ-lưu-lặc-xoa, Thiên vương Tỳ-lưu-bác-xoa, đều từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch áo bài vai bên phải, quỳ gối bên phải sát đất, chắp tay bạch:

–Bạch Thế Tôn! Kinh Kim Quang Minh mầu nhiệm này là vua trong các kinh, thường được chư Phật Thế Tôn hộ niệm, công đức sâu xa mầu nhiệm trang nghiêm Bồ-tát, thường được các trời, người cung kính, khiến tất cả các vị Thiên vương sinh lòng hoan hỷ, cũng được các vị Thiện thần ủng hộ thế gian khen ngợi. Kinh này hay chiếu soi các cung điện của các cõi trời. Kinh này có khả năng ban cho các chúng sinh những điều an vui. Kinh này có khả năng làm cho các dòng sông khổ đau các cõi địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh đều khô cạn. Kinh này có khả năng trừ mọi điều sợ sệt. Kinh này có khả năng đẩy lui tất cả các oán tặc phương khác. Kinh này có khả năng trừ tai nạn đói khát, khan hiếm lúa gạo. Kinh này có khả năng trừ tất cả tật dịch. Kinh này có khả năng diệt những điềm tai biến, sao xấu xuất hiện… Kinh này có khả năng trừ những sự ưu não. Nói tóm lại, kinh này có khả năng trừ tất cả vô lượng, vô biên trăm ngàn khổ não cho các chúng sinh.

Bạch Thế Tôn! Kinh Kim Quang Minh, mầu nhiệm này khi ở chỗ đông người giảng nói rộng khắp thì Tứ Thiên vương chúng con và cả quyến thuộc nghe được pháp vị cam lồ vô thượng này càng tăng thêm thân lực, tâm hồn mạnh mẽ sáng suốt, đủ các oai đức.

Kính bạch Thế Tôn! Thiên vương chúng con hay nói chánh pháp, tu theo chánh pháp, làm vua pháp ở đời, dùng chánh pháp trị đời.

Bạch Thế Tôn! Thiên vương chúng con và hàng Trời, Rồng, Quỷ thần, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lầu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-lagià dùng pháp trị đời, ngăn chận tất cả các loài quỷ dữ hút tinh khí.

Bạch Thế Tôn! Thiên vương chúng con, hai mươi tám bộ các loại quỷ thần và cả vô lượng trăm ngàn quỷ thần, dùng Thiên nhãn thanh tịnh hơn mắt của người thường hay xem xét và ủng hộ cõi Diêm-phù-đề này.

Bạch Thế Tôn! Bởi thế cho nên chúng con có tên là vua Hộ thế. Nếu ở cõi nước nào có các cảnh giặc giã xâm lăng, đói khát, tật dịch, tất cả mọi thứ suy tổn gian nan, mà có những vị Tỳ-kheo nào hay thọ trì kinh này, thì Thiên vương chúng con sẽ khuyên lẫn nhau, làm cho vị đó do sức chúng con, mau đến xóm làng quận huyện nước ấy đọc tụng giảng nói, phổ biến rộng rãi kinh Kim Quang Minh tối thắng nhiệm mầu này, khiến cho tất cả những suy vi như vậy thảy đều được tiêu diệt hết.

Kính bạch Thế Tôn! Như các quốc vương nơi quốc gia của mình nếu có người trì kinh này đi đến nước ấy, thì vị vua đó cần phải thân hành, đến chỗ vị ấy để nghe kinh điển mầu nhiệm này. Sau khi nghe rồi, được sự vui vẻ, lại phải hộ niệm cung kính vị ấy.

Kính bạch Thế Tôn! Thiên vương chúng con lại phải hết lòng ủng hộ vị vua nước ấy và cả nhân dân trong nước. Vì họ mà trừ những điều suy hoạn, để được an ổn.

Bạch Thế Tôn! Nếu có Tỳ-kheo, hoặc Tỳ-kheo-ni, hay Ưu-bàtắc, hoặc Ưu-bà-di thọ trì kinh này, mà vị vua nào thường hay cung cấp cho người tụng kinh ấy được an ổn thì Tứ Thiên vương chúng con cũng phải làm cho vua ấy và cả nhân dân trong nước đều được an ổn, hoàn toàn không có những điều tai họa khốn ách.

Kính bạch Thế Tôn! Nếu có bốn chúng thọ trì đọc tụng kinh nhiệm mầu này, mà có vị quốc vương nào hay cúng dường, cung kính, tôn trọng, khen ngợi thì Tứ Thiên vương chúng con lại cũng phải làm cho vị vua ấy thường được bậc nhất ở trong các vị vua khác, được sự cúng dường, cung kính, tôn trọng, tán thán, cũng khiến các vị vua khác yêu chuộng kính mộ, khen ngợi điều lành của vị vua ấy.

Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn ngợi khen các vị Hộ-thế Tứ Thiên vương rằng:

–Hay thay! Hay thay! Này Tứ Thiên vương! Các ông quá khứ đã từng cúng dường, cung kính, tôn trọng, khen ngợi vô lượng vạn ức chư Phật. Ở chỗ chư Phật trồng các căn lành, giảng nói chánh pháp, tu theo chánh pháp, như pháp trị đời, làm vua trong cả cõi người và trời. Các ông nay đây luôn luôn được lợi ích.

Đối với chúng sinh, sinh đại Từ bi, ban cho chúng sinh tất cả những điều vui vẻ, an lạc, thường hay ngăn chận tất cả việc ác, ban các điều lành. Do nghĩa ấy nên nếu có vị vua nào hay cúng dường, cung kính, tôn trọng kinh Kim Quang Minh tối nhiệm mầu này, thì chính các ông phải hộ niệm như thế, diệt các khổ não, ban sự an vui cho vị vua ấy.

Này Tứ Thiên vương! Các ông cùng với tất cả quyến thuộc vô lượng, vô biên trăm ngàn quỷ thần, nếu hay hộ niệm kinh pháp như vậy, tức là hộ trì chánh pháp chư Phật quá khứ, hiện tại và đời vị lai. Thiên vương các ông và các chúng trời, trăm ngàn quỷ thần khi chiến đấu cùng với A-tu-la thì trời các ông thường được sự thắng lợi.

Các vị nếu hay hộ trì kinh này đều có thể trừ dẹp cảnh khổ như oán tặc, đói khát, tật dịch…

Nếu trong bốn chúng ai hay thọ trì, đọc tụng kinh này, các vị cũng nên hết lòng ủng hộ, vì những người ấy, diệt trừ tổn hao, lo buồn, sợ sệt, đem lại cho họ lợi ích an lạc.

Lúc bấy giờ, Tứ Thiên vương bạch:

–Kính bạch Thế Tôn! Kinh Kim Quang Minh cao tột nhiệm mầu này, ở đời vị lai phổ biến đến đâu, hoặc cõi nước nào, hoặc quận tỉnh nào, nếu các quốc vương công minh trị đời lại hay cung kính, hết lòng nghe lãnh kinh quý giá này và lại cung kính, tôn trọng cung cấp bốn chúng thọ trì, đọc tụng kinh này, thì do nhân duyên ấy mà chúng con thường thường được nghe kinh điển mầu nhiệm cao siêu như thế, nghe rồi liền được tăng thêm thân lực, tâm hồn sáng suốt, đủ các oai đức. Thế nên chúng con và vô lượng quỷ thần thường phải ẩn hình, tùy theo chỗ nào phổ biến kinh mầu nhiệm này, để lo ủng hộ, khiến không bị trở ngại. Cũng sẽ hộ niệm cho các quốc vương nghe kinh điển này và cả nhân dân của những vị ấy trừ những hoạn nạn, để cho họ được hoàn toàn an ổn. Những kẻ oán tặc ở phương khác đến cũng phải lui tan. Nếu vị vua nào khi nghe kinh này, mà có kẻ oán địch ở nước kế cận có ý chuẩn bị đủ bốn binh chủng để đến phá hoại, xâm chiếm nước mình thì bạch Thế Tôn! Do oai thần lực của kinh pháp này, nên nước oán địch kế cận ấy lại có kẻ oán địch khác gây ra tai nạn trong quốc gia họ, nổi lên những điều suy tổn, rối loạn, tai ách, tật dịch. Khi ấy kẻ địch kia đã bị những việc ác nổi lên như vậy rồi nhưng nếu còn chuẩn bị đầy đủ binh chủng nhắm đến nước ấy chinh phạt xâm lăng thì khi đó chúng con sẽ cùng quyến thuộc vô lượng, vô biên trăm ngàn quỷ thần ẩn hình hộ trợ, làm cho kẻ địch kia tự nhiên phải đâm ra lo sợ, khủng khiếp lui tan, bị đủ khốn nạn, binh chủng nước kia không thể tiến được, huống nữa có thể xâm lăng phá hoại.

Lúc bấy giờ, Phật khen Tứ Thiên vương:

–Hay thay! Hay thay! Này Tứ Thiên vương! Các ông đã ủng hộ cho ta trên đường tu tập trong trăm ngàn ức na-do-tha kiếp, cho đến thành Phật, cung kính, cúng dường cho các quốc vương thọ trì kinh này, trừ những suy hoạn để họ an vui. Lại hay ủng hộ cung điện, nhà cửa, thành lũy, xóm làng, biên cương cõi nước, cho đến khiến kẻ oán tặc tan biến, diệt trừ mọi điều suy vi khổ não, để làm cho họ được sự an ổn. Cũng làm cho các quốc vương ở trong cõi Diêm-phù-đề không có những việc hung ác, suy tổn, chiến đấu, tranh tụng.

Này Tứ Thiên vương! Các vị nên biết! Cõi Diêm-phù-đề, có tám muôn bốn ngàn thành ấp tụ lạc, tám muôn bốn ngàn quốc vương cai trị, vị quốc vương nào lo ở nước ấy, vui vẻ, an lạc, mỗi vị đều được tự tại ở quốc gia của mình. Những vật sở hữu tiền tài, trân bảo, vị nào vị ấy đều có đầy đủ, không đi xâm chiếm, cướp đoạt lẫn nhau. Như chỗ phước đức tu tập nhiều đời, tùy nghiệp thọ quả, không sinh lòng ác tham cầu nước khác, mỗi mỗi đều tự sinh lòng lợi ích, sinh lòng từ bi, sinh lòng an vui, không ý tranh cãi, không tâm phá hoại, không tâm ràng buộc, không tâm đánh chiếm… Mỗi vị đều ở quốc gia của mình, vui vẻ an lạc, trên dưới hòa thuận như nước với sữa, nghĩ thương mến nhau, thêm các căn lành. Do nhân duyên ấy cõi Diêmphù-đề an vui giàu mạnh, nhân dân thịnh trị, đất đai màu mỡ, âm dương điều hòa, thời tiết thuận lợi, mặt trời, mặt trăng và các tinh tú không sai độ thường, mưa gió hợp thời, không có những điều tai nạn khốn ách, nhân dân giàu mạnh, tự đủ của cải, tâm không tham lam, không bỏn sẻn, cũng không ganh ghét. Mọi người đều tu theo mười pháp lành. Người mãn tuổi thọ lâm chung hầu hết sinh lên cõi trời, cung điện cõi trời trang nghiêm đầy đủ, số chúng càng đông.

Nếu đời vị lai các quốc vương nào nghe kinh điển này và hay cúng dường, cung kính bốn chúng thọ trì kinh này, thì quốc vương ấy đã làm cho Tứ Thiên vương các vị và cả quyến thuộc vô lượng trăm ngàn quỷ thần đều đươc lợi ích an lạc. Vì sao? Vì Thiên vương các vị, nếu được thường thường nghe kinh điển này, tức là đã được uống nước chánh pháp, uống vị cam lồ, thân lực tăng trưởng, tâm hồn sáng suốt, đủ các oai đức. Các vị vua ấy nếu hay chí tâm nghe lãnh kinh này cũng tức là đã cúng dường ta; nếu cúng dường ta tức là cúng dường chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai. Nếu hay cúng dường chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai thì chứa nhóm công đức vô lượng, không thể nghĩ bàn. Do nhân duyên ấy nên phải ủng hộ các vị vua này cho đến hoàng hậu, các vị thái tử, cung phi thể nữ, tất cả bà con… cũng được ủng hộ. Những điều suy tổn, khổ não tiêu diệt, những điều an lạc tự nhiên đầy đủ; cung điện nhà cửa an ổn thanh tịnh, không có những việc tai biến khốn ách, các Thần hộ trạch tăng trưởng oai đức cũng được vô lương vui vẻ an lạc. Nhân dân nước ấy đều được đầy đủ hạnh phúc an vui, tất cả việc ác đều tiêu diệt hết.

Lúc bấy giờ, Tứ Thiên vương bạch:

–Kính bạch Thế Tôn! Ở đời vị lai nếu có vị vua muốn được hộ thân và hoàng hậu, vương phi, thể nữ, các vương tử, cung điện, nhà cửa đều được hộ vệ hết sức an toàn, tốt đẹp, đầy đủ công đức của vị vương giả không thể nghĩ bàn, muốn được thâu nhóm tất cả công đức, quốc gia không có giặc giã, oán thù ở phương khác đến, không có những việc lo buồn khổ sở thì, bạch Thế Tôn! Vị vua như vậy không nên buông lung, tán loạn tâm hồn, mà nên sinh lòng cung kính khiêm nhượng, cần phải trang nghiêm cung điện, nhà cửa hết sức lộng lẫy, dùng thứ nước thơm rảy xung quanh nhà, rảy các thứ hoa trên tòa Sư tử và dùng những vật quý báu trang sức, treo lên vô số tràng phan, bảo cái quý giá đẹp đẽ; tắm rửa sạch sẽ, dầu thơm thoa mình, y phục chỉnh tề, trang nghiêm anh lạc, ngồi ghế nhỏ thấp, không tâm tự cao, không quá tự do, xa việc phóng túng, tự ti, khiêm hạ, diệt lòng kiêu mạn, chánh niệm nghe kinh nhiệm mầu như vậy, với người nói pháp tưởng như Thế Tôn. Lại ở trong cung đối với vương tử, hậu, phi, thể nữ và các quyến thuộc sinh lòng thương mến nói lời hòa nhã khuyên dùng đủ thứ phẩm vật cúng dường, cúng dường Pháp sư. Bấy giờ vua ấy đã khuyến hóa rồi, liền sinh vui vẻ, an lạc không lường. Lại tự sách tấn mình làm việc lợi ích, không sinh mệt mỏi. Đối với Pháp sư càng sinh cung kính.

Lúc bấy giờ, Phật bảo Tứ Thiên vương:

–Khi đó vị vua ăn mặc sạch sẽ, dùng đủ thứ anh lạc trang nghiêm chỉnh tề, cầm lọng trắng đẹp, phục sức, dung nghi, giữ đúng phép tắc, tự thân hành ra nghênh tiếp Pháp sư. Vì sao? Vị quốc vương ấy như vậy là tùy theo mỗi bước đi tức là cúng dường, gặp được trăm ngàn ức na-do-tha chư Phật Thế Tôn, lại được vượt khỏi các nạn sinh tử số kiếp như vậy. Lại ở trong những đời sau thường được phong địa vị Chuyển luân thánh vương và tùy theo từng bước đi đó, cũng được sức tự tại chẳng thể nghĩ bàn như công đức trong đời hiện tại, thường được cung điện tối thắng, hơn là cung điện bảy báu của trời và người. Bất kỳ sinh đâu cũng được sống lâu, nói năng hoạt bát, mọi người tin dùng, không sợ sệt, được nổi danh, trời, người cung kính, ở trong cõi người, cũng như cõi trời thường được những điều vui vẻ đặt biệt, có thế lực lớn, đầy đủ oai đức, sắc thân rực rỡ đoan nghiêm bậc nhất; được gặp chư Phật và Thiện tri thức, thành tựu đầy đủ vô lượng phước đức.

Thiên vương các ông! Vị vua ấy thấy các công đức lợi ích như vậy, nên cần tự thân hành ra nghênh tiếp Pháp sư, hoặc cách một dotuần cho đến trăm ngàn do-tuần đối với Pháp sư nên tưởng như Phật; nên nghĩ thế này: “Nay đấng Thích-ca Như Lai chánh trí đã vào cung điện của ta, nhận sự cúng dường của ta và vì ta thuyết pháp. Ta nghe pháp này rồi thì liền được Bất thoái chuyển Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, là đã gặp được trăm ngàn muôn ức na-do-tha Phật; là đã cúng dường chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai, là đã hoàn toàn xa lìa sự khổ trong ba đường ác. Ta nay đã trồng vô lượng nhân Chuyển luân thánh vương, Đế thích, Phạm vương, đã trồng vô biên hạt giống thiện căn, đã khiến vô lượng trăm ngàn vạn ức chúng sinh qua khỏi sinh tử, đã chứa vô lượng, vô biên phước đức, hậu cung quyến thuộc đã được ủng hộ, trong cung không có những sự suy vi, quốc gia không có oán tặc gây rối, oán địch phương khác không thể xâm lăng.” Thiên vương các ông, vị vua như vậy nên phải cúng dường chánh pháp như vậy, thanh tịnh nghe nhận kinh nhiệm mầu này, cung kính, cúng dường, tôn trọng, tán thán bốn chúng đệ tử trì tụng kinh này, cũng sẽ hồi hướng công đức tối thắng này cho các vị và các quyến thuộc, chư Thiên, quỷ thần chứa các công đức như vậy thì đời này thường được vô lượng, vô biên, lợi ích tự tại không thể nghĩ lường. Oai đức thế lực thành tựu đầy đủ, hay dùng chánh pháp phá dẹp điều ác.

Lúc bấy giờ, Tứ Thiên vương bạch:

–Kính bạch Thế Tôn! Nếu đời vị lai có các vị vua cung kính chánh pháp, hết lòng nghe lãnh kinh nhiệm mầu này, cung kính cúng dường, tôn trọng tán dương bốn chúng thọ trì, Thiên vương chúng con sẽ ở trong đó cùng nghe pháp này. Nguyện các quốc vương vì sự tự lợi, đem phần công đức của mình đã được, ban cho chúng con. Bạch Thế Tôn! Các quốc vương này đối với chỗ ngồi của người thuyết pháp, nên vì chúng con, đốt các thứ hương cúng dường kinh này, mùi hương ấy chỉ trong một niệm đến chỗ cung điện chư Thiên chúng con. Mùi hương ấy tức thời biến thành bảo cái, mùi hương nhiệm mầu, sắc vàng rực rỡ chiếu khắp tất cả cung điện chúng con, cung điện Đế Thích, cung điện Phạm thiên, Thiên thần Đại Biện, Thiên thần Công Đức, Địa thần Kiên Lao, quỷ thần Tán Chỉ, Tướng quân Tối Đại, hai mươi tám bộ quỷ thần Đại tướng, Ma-hê-thủ-la, Kim cang Mật Tích, Đại tướng quỷ thần Ma-ni-bạtđà, quỷ mẹ và cả năm trăm quỷ con vây chung quanh, Long vương A-nậu-đạt cùng với Long vương Ta-kiệt-la… các quỷ thần ấy tự ở nơi cung điện của họ, đều được nghe mùi hương nhiệm mầu và thấy ánh sáng của lọng hương chiếu khắp. Ánh sáng của lọng hương này cũng chiếu khắp cung điện cõi trời.

Phật bảo Thiên vương:

–Ánh sáng của lọng hương ấy chẳng phải chỉ đến cung điện của Tứ Thiên vương các vị. Vì sao? Vì khi các vị ấy tay cầm lư hương cúng dường kinh này, thì hương ấy biến khắp, trong một niệm đến tất cả tam thiên đại thiên thế giới, trăm ức mặt trời, mặt trăng, trăm ức biển lớn cùng núi Tu-di, trăm ức núi Thiết vi, núi Đại thiết vi và các núi chúa, trăm ức bốn thiên hạ, trăm ức các cõi Tứ Thiên vương, trăm ức các cõi Tam thập tam thiên, cho đến trăm ức cõi trời Phi tưởng phi phi tưởng ở trong tam thiên đại thiên thế giới. Cung điện hư không của tất cả Trời, Rồng, Quỷ thần, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lầu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già, đều đầy lọng mây khói hương, ánh sáng của những lọng khói hương ấy cũng chiếu các cung điện. Như vậy, cả tam thiên đại thiên thế giới có các thứ lọng mây khói hương đều là do thần lực của kinh này. Các vị vua ấy khi cầm lư hương cúng dường kinh này, mùi hương không những chỉ khắp tam thiên đại thiên thế giới này mà trong một niệm biến khắp trăm ngàn vạn ức thế giới chư Phật trong mười phương nhiều như vô lượng, vô biên số cát sông Hằng. Ở trên chư Phật trong hư không cũng kết thành lọng hương ánh sáng chiếu khắp cũng như vậy.

Khi chư Phật Thế Tôn nghe mùi hương mầu nhiệm này, thấy lọng hương và ánh sáng sắc vàng ở khắp hằng hà sa thế giới chư Phật trong mười phương phát khởi, thần lực biến hóa như vậy rồi, tất cả đồng thanh khen ngợi Pháp sư: “Hay thay! Hay thay! Đại sĩ! Ông có thể trình bày, phổ biến kinh điển nhiệm mầu sâu xa như vậy là đã thành tựu vô lượng, vô biên công đức không thể nghĩ bàn. Nếu có ai được nghe kinh điển sâu xa này, thì công đức không ít, huống nữa là thọ trì, đọc tụng, vì chúng sinh khác phân biệt chỉ bày, giảng giải nghĩa lý. Vì sao? Này thiện nam! Kinh Kim Quang Minh nhiệm mầu này, vô lượng, vô biên ức na-do-tha các vị Bồ-tát được nghe, liền được Bất thoái chuyển đối với quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Bấy giờ, chư Phật hiện tại ở trong vô lượng, vô biên hằng sa thế giới chư Phật đồng thanh nói rằng:

–Này thiện nam! Người ở đời sau quyết định sẽ được ngồi, dưới cây Bồ-đề nơi đạo tràng, là bậc tối tôn, tối thắng trong ba cõi, vượt lên trên tất cả chúng sinh. Vì nhờ năng lực siêng năng tu tập, nên hành các pháp khổ hạnh, khéo trang nghiêm Bồ-đề đạo tràng, có thể phá hoại các tà luận ngoại đạo, đánh dẹp các ma, các thứ oán tặc, các loài dị hình ở trong tam thiên đại thiên thế giới, tỏ ngộ các pháp vắng lặng bậc nhất, hoàn toàn thanh tịnh, được đạo Bồ-đề thậm thâm vô thượng.

Này thiện nam! Người đã có thể ngồi nơi tòa Kim cang, chuyển pháp luân sâu xa mười hai hành mà chư Phật khen ngợi là Vô thượng, có khả năng đánh trống pháp vĩ đại vô thượng, thổi kèn pháp nhiệm mầu vô thượng, dựng cờ pháp tối thắng vô thượng, đốt đuốc pháp sáng chói vô thượng, tuôn mưa pháp cam lồ vô thượng, cắt đứt vô lượng phiền não, oán kết, khiến vô lượng ngàn muôn ức na-do-tha chúng sinh vượt qua biển khổ bao la đáng sợ, giải thoát khỏi sự sinh tử luân chuyển vô biên giới hạn, gặp được vô lượng trăm ngàn vạn ức na-do-tha Phật.

Bấy giờ, Tứ Thiên vương bạch:

–Kính bạch Thế Tôn! Kinh Kim Quang Minh, pháp môn mầu nhiệm có khả năng đạt được tất cả vô lượng công đức trong đời hiện tại cũng như đời vị lai. Thế nên vị vua nếu được nghe kinh điển nhiệm mầu này là đã từng trồng được các căn lành ở ngàn vạn ức vô lượng Đức Phật. Con vì nghĩ kính mến vị vua ấy, lại vì thấy được vô lượng phước đức lợi lạc chúng sinh cho nên chúng con cùng các quyến thuộc, vô lượng trăm ngàn vạn ức quỷ thần đều ở ngay nơi cung điện của mình, khi thấy những điềm lành lọng mây khói hương ứng hiện, vì muốn nghe pháp nên chúng con đến cung điện vua ấy, chỗ có thuyết pháp, ẩn hình để nghe. Đồng thời cũng có Đai phạm Thiên vương, Thích Đề-hoàn Nhân, Thiên thần Đại Biện, Thiên thần Công Đức, Địa thần Kiên Lao, quỷ thần Tán Chỉ, các Đại tướng quân tất cả hai mươi tám bộ quỷ thần, Ma-hê-thủ-la, Kim cang Mật Tích, Ma-ni-bạt-đà, Đại tướng quỷ tử mẫu và cả năm trăm quỷ con vây quanh, Long vương A-nậu-đạt, Long vương Ta-kiệt-la, vô lượng trăm ngàn ức na-do-tha quỷ thần các cõi… tất cả chúng ấy vì muốn nghe pháp, đều đến cung điện, chỗ ở của vua, nơi có thuyết pháp, ẩn hình để nghe mà không xuất hiện.

Kính bạch Thế Tôn! Thiên vương chúng con và các quyến thuộc, vô lượng quỷ thần đều đồng tâm cho vị vua này là bậc Thiện tri thức, cùng chung một hạnh, hạnh tương ưng thiện, có thể làm thí chủ thí pháp lớn Vô thượng, dùng vị cam lồ làm làm cho chúng con no đủ. Chúng con cần phải ủng hộ vị ấy trừ hết các điều tai nạn khốn ách, khiến cho vị ấy thường được an ổn. Cung điện, nhà cửa, quốc gia, làng mạc của vị vua ấy nếu có các việc ác hay tai họa đều được tiêu trừ.

Kính bạch Thế Tôn! Nếu có vua nào đối kinh điển này sinh tâm lìa bỏ và không ưa nghe, không muốn cung kính, cúng dường, tôn trọng, tán dương, hoặc trong bốn chúng có người thọ trì, đọc tụng, giảng nói, cũng không cung kính, cúng dường, tôn trọng, tán dương, thì Thiên vương chúng con và các quyến thuộc, vô lượng quỷ thần vì không được nghe lấy chánh pháp này, trái vị cam lồ, mất pháp lợi lớn, không có thế lực và oai đức, giảm tổn chúng Trời, tăng trưởng ác thú.

Kính bạch Thế Tôn! Thiên vương chúng con, vô lượng quỷ thần bỏ quốc gia đó; không những chúng con mà cả vô lượng các Thiện thần bảo vệ quốc gia đó đều bỏ đi hết. Thiên vương chúng con và các quỷ thần cũ đã bỏ đi rồi thì quốc gia đó sẽ có đủ thứ tai nạn khốn ách, tất cả nhân dân mất hết thiện tâm, chỉ biết những việc giận hờn, đấu tranh, phá hoại lẫn nhau, đủ các dịch bệnh, hiện ra nhiều điềm kỳ quái như là sao chổi, sao băng và các ngôi sao hiện điềm bất thường, hiện hai mặt trời, nhật thực, nguyệt thực, mống bạc, mống đen thường thường xuất hiện, bị nạn động đất phát nổ ầm vang, gió lốc, mưa dữ…, không ngày nào khỏi, khan hiếm lúa gạo, đói khát, lạnh rét, bị nhiều giặc giã xâm lược phá hoại, nhân dân nước ấy chịu nhiều khổ não; địa phương ấy không có chỗ nào là đáng ưa thích. Bạch Thế Tôn! Thiên vương chúng con và cả vô lượng quỷ thần, cùng các vị cựu Thiện thần lâu năm bảo vệ quốc gia, khi đã xa lìa, thì quốc gia ấy sinh ra vô lượng việc ác như thế.

Kính bạch Thế Tôn! Nếu có vị vua muốn được hộ vệ và quốc gia được nhiều an vui, muốn làm cho cả chúng sinh trong nước đều được hoàn toàn hạnh phúc, an lạc, muốn phá tất cả kẻ địch bên ngoài, muốn được tất cả nước ủng hộ, muốn dùng chánh pháp cai trị quốc gia, muốn được trừ diệt mọi sự sợ sệt cho các chúng sinh thì vị vua ấy cần phải quyết định nghe kinh điển này, cung kính cúng dường những người đọc tụng, thọ trì kinh này. Thiên vương chúng con và vô lượng quỷ thần do nhân duyên thiện căn pháp thực đó mà được uống pháp vị cam lồ vô thượng, thân lực tăng trưởng, tâm phát sáng suốt, chư Thiên càng đông. Vì sao? Vì vị vua ấy chí tâm nghe và lãnh thọ kinh này, như các Phạm thiên nói luận xuất dục, Thích Đề-hoàn Nhân nói các thiện luận và luận thần tiên của người năm thần thông.

Thế Tôn, Phạm thiên, Thích Đề-hoàn Nhân, quỷ thần và người có năm thần thông, tuy có trăm ngàn ức na-do-tha vô lượng thắng luận, nhưng kinh Kim Quang Minh này là tối thắng đối với những thứ ấy. Vì sao? Như Lai thuyết kinh Kim Quang Minh này là vì chúng sinh, làm cho tất cả các vị vua ở cõi Diêm-phù-đề này dùng chánh pháp để cai trị, vì muốn ban cho tất cả chúng sinh những điều an lạc, vì lòng thương yêu muốn bảo vệ cho tất cả chúng sinh, vì muốn cho chúng sinh không có những điều khổ não, không còn những kẻ oán tặc phương khác đến gây rối loạn, những điều tai ác không thể xảy đến, muốn cho quốc gia không bị nhiễu loạn… nên dùng chánh pháp giáo hóa nhân dân, không có những việc tranh cãi lẫn nhau. Thế nên các vị vua đều ở nơi quốc gia của mình đốt lên ngọn đuốc chánh pháp, soi sáng bằng chánh pháp, tăng thêm chúng Trời. Thiên vương chúng con, vô lượng quỷ thần trong cõi Diêm-phù, chư Thiên, Thiện thần do nhân duyên ấy được uống pháp vị cam lồ đầy đủ, được oai đức lớn, đầy đủ sức lực. Cõi Diêm-phù-đề thường được an ổn, nhân dân giàu có sung sướng. Lại ở đời sau vô lượng trăm ngàn na-do-tha kiếp không thể nghĩ bàn, thường được hạnh phúc an lạc vô cùng, lại thường gặp được vô lượng chư Phật, trồng các thiện căn, nhiên hậu chứng thành Phật quả.

Được công đức vô lượng như thế đều là do Như Lai Chánh Biến Tri Giác nói ra. Như Lai hơn cả trăm ngàn vạn ức na-do-tha các vị Đại Phạm thiên do sức đại Bi, cùng hơn trăm ngàn ức na-do-tha Thích Đề-hoàn Nhân, do sức khổ hạnh. Vì thế nên Như Lai vì các chúng sinh diễn thuyết kinh Kim Quang Minh.

Như cả chúng sinh và các vị vua cõi Diêm-phù-đề làm những công việc quốc gia thế gian hay xuất thế gian, tạo những bộ luận, đều nhân kinh này. Vì muốn làm cho chúng sinh an lạc, Thích-ca Như Lai thị hiện kinh này, phổ biến rộng rãi.

Bạch Thế Tôn! Do nhân duyên ấy, nên các vị vua cần phải quyết định nghe và lãnh thọ, cúng dường, cung kính, tôn trọng, tán dương kinh này.

Khi ấy, Đức Phật bảo Tứ Thiên vương:

–Này Tứ Thiên vương! Các vị và các quyến thuộc vô lượng ức na-do-tha các chúng quỷ thần, nếu các vị vua nào hay chí tâm nghe kinh điển này, cung kính, cúng dường, tôn trọng, tán dương, thì Thiên vương các vị phải ủng hộ, trừ những tai hoạn mà đem lại an vui cho họ. Nếu có ai hay phổ biến, giảng giải rộng rãi kinh điển mầu nhiệm này, làm những Phật sự to lớn ở đời và ở cõi trời, hay làm những việc lợi ích lớn cho vô lượng chúng sinh, thì người như thế, Thiên vương các vị cần phải ủng hộ, chớ để những nhân duyên khác nhiễu loạn, khiến tâm họ được định tĩnh an lạc, để lo tiếp tục phổ biến kinh này.

Lúc bấy giờ, Tứ Thiên vương liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch áo bày vai phải, quỳ gối chắp tay, ở trước Thế Tôn nói kệ khen rằng:

Phật Nguyệt thanh tịnh
Trang nghiêm viên mãn
Phật Nhật chói lọi
Phóng ngàn tia sáng,
Dung mạo Như Lai
Tươi vui tỏ rạng
Răng trắng sáng sạch
Như rễ hoa sen,
Công đức vô lượng
Cũng như biển lớn
Nguồn trí vô biên
Đầy đủ pháp thủy.
Trăm ngàn chánh định
Hoàn toàn đầy đủ
Chân bằng đầy đặn
Hiện ngàn dấu tròn.
Ngón chân màng lưới
Giống như ngỗng chúa
Sáng suốt chói lọi
Như núi báu lớn.
Thanh tịnh sáng suốt
Tợ như vàng ròng
Có những phước đức
Không thể nghĩ bàn.
Phật công đức lớn
Con nay kính lễ
Chân Pháp thân Phật
Cũng như hư không.
Ứng vật hiện hình
Như trăng trong nước
Không bị chướng ngại
Như ánh sáng chiếu
Thế nên con nay
Đảnh lễ Phật Nguyệt.

Khi ấy Thế Tôn dùng kệ đáp:

Kinh Kim Quang Minh
Vua trong các kinh
Thậm thâm tối thắng
Là pháp tối thượng.
Mười Lực Thế Tôn
Đã từng tuyên thuyết
Thiên vương các vị
Cần phải ủng hộ.
Do nhân duyên ấy
Kinh mầu nhiệm này
Hay ban chúng sinh
Vô lượng an lạc.
Vì sự an lạc
Lợi ích chúng sinh
Phổ biến lâu dài
Ở cõi Diêm-phù.
Thì hay diệt trừ
Vô lượng điều khổ
Các cõi ác thú
Ở trong Tam thiên.
Đại thiên thế giới
Những vị quốc vương
Trong cõi Diêm-phù
Sinh lòng từ mẫn.
Chánh pháp độ đời
Nếu hay phổ biến
Kinh nhiệm mầu này
Thì quốc gia ấy.
An ổn giàu mạnh
Có các chúng sinh
Đều được an lạc
Nếu có vị vua.
Quý mến tự thân
Và cả quốc gia
Muốn được giàu mạnh
Nên phải chí tâm,
Tắm rửa sạch sẽ
Đến chỗ pháp hội
Nghe thọ kinh này
Kinh này hay làm.
Tất cả việc lành
Phá dẹp tất cả
Oán tặc trong ngoài
Lại hay trừ diệt.
Vô lượng sợ sệt
Là vua các kinh
Hay ban vô lượng
An ổn vui sướng.
Cho cả chúng sinh
Ví như cây báu
Ở trong nhà người
Đều hay sinh ra.
Tất cả trân bảo
Kinh điển báu này
Cũng lại như vậy
Hay sinh công đức.
Cho các vị vua
Như nước trong mát
Có thể trừ khát
Kinh điển báu này.
Cũng lại như vậy
Hay trừ khao khát
Công đức của vua
Ví như ngọc báu.
Chứa cất trong rương
Đều ở trong tay
Tùy ý sử dụng
Kim Quang Minh này.
Cũng lại như vậy
Tùy ý hay ban
Pháp bảo cho vua
Kim Quang Minh này.
Kinh điển nhiệm mầu
Thường được chư Thiên
Cung kính cúng dường
Cũng được Hộ thế.
Tứ-đại Thiên vương
Oai thần thế lực
Hết sức hộ trì
Mười phương chư Phật.
Thường hộ kinh này
Có người giảng nói
Khen ngợi: “Hay thay!”
Cũng có trăm ngàn
Vô lượng quỷ thần
Từ mười phương đến
Ủng hộ người ấy
Có người được nghe
Kinh điển báu này,
Tâm sinh vui vẻ,
Hớn hở không lường.
Trong cõi Diêm-phù
Vô lượng đại chúng
Thảy đều vui vẻ,
Họp nghe kinh này.
Vì nghe kinh này
Đủ các công đức
Chúng Trời càng tăng
Tinh khí thân lực.

Khi Tứ Thiên vương nghe kệ này rồi liền bạch:

–Kính bạch Thế Tôn! Chúng con xưa nay chưa từng được nghe pháp môn vắng lặng nhiệm mầu như thế.

Chúng con được nghe pháp môn này rồi mừng vui lẫn lộn, nước mắt chảy ròng, toàn thân rung động, phấn chấn.

Lại được vô lượng niềm an lạc mầu nhiệm trọn vẹn không thể nghĩ bàn.

Những vị ấy dùng hoa Mạn-đà-la, Đại mạn-đà-la cõi trời dâng rải cúng dường Thích-ca Như Lai. Cúng dường như vậy xong, lại bạch Đức Phật rằng:

–Bạch Thế Tôn! Thiên vương chúng con mỗi người đều có năm trăm quỷ thần sẽ thường phải đi theo để mà hộ vệ người thuyết pháp này.

 

Phẩm 7: ĐẠI BIỆN THIÊN

Bấy giờ, Trời Đại Biện bạch:

–Bạch Thế Tôn! Nếu người nào hay nói kinh pháp này, con sẽ làm cho vị ấy giảng nói càng thêm lưu loát, biện tài hoạt bát, làm cho những điều vị ấy nói ra rất được trang nghiêm và đúng thứ lớp, được trí tuệ biện tài. Trong kinh điển này, nếu có chỗ nào câu nghĩa sai lầm, thiếu chữ, con có thể làm cho vị Tỳ-kheo nói kinh pháp ấy nhớ rõ, nói đúng thứ lớp, không bị quên mất.

Nếu có chúng sinh ở chỗ trăm ngàn Đức Phật trồng các thiện căn, thì người nói pháp này sẽ vì họ mà ở cõi Diêm-phù phổ biến kinh này, khiến không dứt tuyệt. Lại khiến vô lượng, vô biên chúng sinh được nghe kinh này, làm cho tất cả đều được quả báo thông minh sáng suốt không thể nghĩ bàn, phước đức không thể kể lường, thông hiểu vô lượng các pháp phương tiện, thấu suốt tất cả các thứ luận thuyết, biết rành tất cả kỹ thuật ở đời, vượt ra khỏi vòng sinh tử, không bị thoái chuyển, quyết định mau thành Chánh đẳng Chánh giác.

 

Phẩm 8: CÔNG ĐỨC THIÊN

Bấy giờ, có vị Công-đức Thiên bạch:

–Kính bạch Thế Tôn! Với vị Pháp sư nói kinh pháp này, con sẽ đáp ứng theo nhu cầu vị ấy, bất luận cơm, áo, thuốc thang, đồ nằm, mọi vật dụng khác…, con sẽ cung cấp đầy đủ không thiếu thốn, để cho tâm Pháp sư được an ổn, ngày đêm vui vẻ, chánh niệm tư duy chương cú, phân biệt nghĩa sâu xa. Nếu có chúng sinh nào đã từng ở chỗ trăm ngàn Đức Phật trồng các thiện căn thì người nói pháp này sẽ vì họ mà ở cõi Diêm-phù phổ biến rộng rãi kinh nhiệm mầu này, không để đoạn tuyệt. Các chúng sinh ấy nghe kinh này rồi, ở đời vị lai vô lượng trăm ngàn na-do-tha kiếp thường được an vui trong cõi trời, người gặp được chư Phật mau thành Chánh giác, hoàn toàn không còn bị cảnh khổ sở trong các đường ác.

Kính bạch Thế Tôn! Về đời quá khứ con đã ở chỗ Đức Bảo Hoa Công Đức Hải Lưu Ly Kim Sơn Chiếu Minh Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc,Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn gieo các thiện căn. Thế nên con nay tùy phương tưởng niệm, tùy phương nhìn thấy, tùy phương hiện đến và có khả năng làm cho vô lượng trăm ngàn chúng sinh được thọ hưởng an lạc, hoặc các vật dụng nuôi dưỡng thân thể như là cơm áo, vàng bạc, bảy báu, lưu ly, trân châu, san hô, hổ phách, ngọc bích, ngọc kha… đều được đầy đủ. Nếu có người nào thường hay đọc tụng kinh Kim Quang Minh thậm thâm mầu nhiệm vì con mà cúng dường chư Phật Thế Tôn, ba lần xưng hô tên của kinh này, đốt hương cúng dường, cúng dường Phật rồi, dùng phần hương hoa, các thứ mỹ vị riêng cúng cho con, khen ngợi các phương, nên biết! Người ấy đã chứa nhóm được những vật báu. Do nhân duyên ấy, chất đất tăng trưởng, hoa màu tốt tươi, chư Thiên, Địa thần thảy đều vui vẻ, các giống lúa gạo, cây lá, hoa quả tươi tốt, sum suê. Thần cây vui vẻ sinh ra vô lượng các thứ vật dụng. Khi ấy con nghĩ thương các chúng sinh, ban cho nhiều vật cần dùng để sống.

Bạch Thế Tôn! Tỳ-sa-môn Thiên vương ở phương Bắc này có thành tên A-ni-mạn-đà. Thành ấy có vườn Công đức hoa quang. Ở trong vườn ấy có vườn tốt nhất gọi là Kim tràng, bảy báu rất quý, đó chính là chỗ con thường an trú. Nếu có ai muốn được nhiều của cải và các vật báu, người ấy nên ở ngay chỗ ở của mình lau dọn sạch sẽ, tắm rửa thân thể, mặc đồ trắng sạch, dầu thơm thoa mình, rồi vì con mà xưng danh hiệu Đức Phật Bảo Hoa Lưu Ly Thế Tôn ba lần, lễ bái, cúng dường, đốt hương, rải hoa, cũng phải xưng hô kinh Kim Quang Minh, chí thành phát nguyện, đồng thời dùng ít hoa, hương mỹ vị riêng cúng cho con, khen ngợi các phương. Lúc ấy phải đọc các câu sau đây:

Ba-lợi Phú-lâu-na-giá-lỵ

Tam-mạn-đà-đạt-xá-ni-la-khư Ma-ha Tỳ-ha-la-già-đế.

Tam-mạn-đà-tỳ-đà-ni-na-già-đế.

Ma-ha Ca-lê-ba-đế.

Ba-bà-nễ Tát-bà-đá-hậu.

Tam-mạn-đà Tu-bát-lê Phú-lệ

A-dạ-na Đạt-mạ-đế

Ma-ha Tỳ-cổ-tất-đế

Ma-ha Di-lặc-bá Tăng-kỳ-đế.

Hê-đế-tỷ Tam-bát-kỳ Hi-đế. Tam-mạn-đà A-tha A-nâu Bà-la-ni.

Mật chú Quán đảnh này là quyết định chân thật cát tường. Chúng sinh tu theo công hạnh Bồ-tát và trung thiện căn cần phải thọ trì, đọc tụng thông suốt bảy ngày, bảy đêm, thọ trì tám giới, sớm chiều tịnh tâm, hương hoa cúng dường thập phương chư Phật. Thương vì tự thân và các chúng sinh, hoàn toàn hồi hướng quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Phát nguyện như sau: “Khiến cho những điều con nay cầu nguyện đều được cát tường.”

Nhà cửa, phòng ở lau dọn sạch sẽ, hoặc A-lan-nhã, bất luận nơi nào, chỗ mình đang ở, dùng chất nước thơm rưới khắp vách nền, đốt loại hương quý, trần thiết hương án, dùng các hoa hương rải khắp xung quanh, nhất tâm cầu nguyện. Trong khi đó con thoáng qua một niệm sẽ vào nhà kia, liền ngồi trên tòa, từ ngày đêm ấy khiến cho nhà đó, hoặc xóm làng đó, hoặc phòng tăng đó, hoặc chỗ khoảng trống liền được đầy đủ tiền bạc, mọi vật: Hoặc là vàng ngọc, hoặc là trân bảo hoặc là trâu, dê hoặc là lúa, gạo… tất cả những thứ cần dùng không thiếu và được tất cả mọi sự an lạc.

Nếu ai có thể đem phần công đức tối thắng bởi những việc lành đã làm, hồi hướng cho con, con sẽ trọn đời không rời người ấy. Ở chỗ người ấy chí tâm hộ niệm, tùy theo những việc người ấy cần cầu, đều được thành tựu.

Cần phải chí tâm lễ kính các Đức Thế Tôn này:

-Bảo Thắng Như Lai.

-Vô Cấu Xí Bảo Quang Minh Vương Tướng Như Lai.

-Kim Diệm Quang Minh Như Lai.

-Kim Bách Quang Minh Chiếu Tạng Như Lai.

-Kim Sơn Bảo Cái Như Lai.

-Kim Hoa Diệm Quang Tướng Như Lai.

-Đại Cự Như Lai.

-Bảo Tướng Như Lai.

Cũng phải kính lễ:

-Đông phương A-súc Như Lai.

-Nam phương Bảo Tướng Như Lai.

-Tây phương Vô Lượng Thọ Phật.

-Bắc phương Vi Diệu Thanh Phật.

Cũng phải kính lễ:

-Bồ-tát Tín Tướng.

-Bồ-tát Kim Quang Minh.

-Bồ-tát Kim Tạng.

-Bồ-tát Thường Bi.

-Bồ-tát Pháp Thượng.

 

Phẩm 9: ĐỊA THẦN KIÊN LAO

Lúc bấy giờ, có Địa thần Kiên lao bạch:

–Kính bạch Thế Tôn! Kinh Kim Quang Minh mầu nhiệm này, đời hiện tại hoặc đời vị lai, hoặc bất luận nơi nào, hoặc nơi thành thị, chỗ xóm làng, hoặc trong núi rừng, hoặc ở trên sông, hoặc chỗ trống vắng hoặc trong vương cung… tùy chỗ nào có phổ biến kinh này, trong địa phận ấy, trải tòa Sư tử, thỉnh vị Pháp sư ngồi trên tòa ấy, diễn giải rộng rãi kinh quý báu này, thì con sẽ đến đó thường xuyên hộ vệ, ẩn dưới pháp tòa, đầu đội hai chân của vị Pháp sư. Con nghe pháp rồi, được uống pháp vị cam lồ vô thượng, càng tăng khí lực, cả đại địa này sâu mười sáu vạn tám ngàn do-tuần, từ Kim cang tế đến trên mặt biển và chỗ đất liền, được các chất vị tăng trưởng đầy đủ, phì nhiêu phong phú hơn ngày thường nhiều. Vì vậy cho nên trong cõi Diêmphù cây cối, thảo dược, gốc rễ, nhánh lá, hoa trái sum suê, màu sắc tốt tươi, mùi vị thơm ngon đều đầy đủ cả. Chúng sinh ăn rồi càng thêm sống lâu, sắc lực an ổn, tâm trí thông minh, sáu căn lanh lợi, oai đức nhan mạo đặc biệt trang nghiêm. Thành tựu tất cả việc như vậy rồi, việc làm đều được thành công, có thế lực lớn, siêng năng, dũng mãnh. Thế Tôn, vậy nên trong cõi Diêm-phù an ổn, vui vẻ, nhân dân thạnh trị, tất cả chúng sinh đều được an lạc, vừa lòng, thích ý, tùy theo ý muốn.

Các chúng sinh này được đủ oai đức, thế lực lớn rồi, có khả năng cúng dường kinh Kim Quang Minh này và cung kính cúng dường bốn chúng thọ trì kinh này. Lúc đó con sẽ đến ngay chỗ ấy, vì làm cho các chúng sinh đều được an ổn vui sướng nên thỉnh người thuyết pháp, tuyên thuyết rộng rãi kinh điển mầu nhiệm này. Vì sao? Bạch Thế Tôn! Nếu khi nào có phổ biến kinh Kim Quang Minh này, con và quyến thuộc được phần công đức gấp bội lúc thường, càng thêm thân lực, tâm phát lanh lợi.

Kính bạch Thế Tôn! Con uống pháp vị cam lồ vô thượng rồi thì ở cõi Diêm-phù-đề này, chu vi pháp hội bảy ngàn do-tuần đều được phát đạt hơn lúc bình thường.

Bạch Thế Tôn! quả địa cầu này, chỗ chúng sinh nương đều tăng trưởng tất cả những vật cần dùng cho đời sống. Tăng trưởng đủ những vật cần dùng rồi, khiến các chúng sinh tùy ý sử dụng, thọ sự khoái lạc. Tất cả các thứ cơm áo, thuốc men, nhà cửa, cung điện, cây cối, vườn rừng, sông, suối, ao, giếng… các vật nương tựa nơi đất như thế đều đầy đủ cả.

Vì vậy, bạch Thế Tôn! Các chúng sinh ấy, vì biết ân con nên nghĩ thế này: “Ta phải quyết định nghe và lãnh hội kinh nhiệm mầu này, cung kính, cúng dường, tôn trọng, tán dương.” Nghĩ như vậy rồi, liền từ chỗ ở hoặc nơi thành lũy, hoặc ở xóm làng, hoặc nơi nhà cửa, hoặc giữa chỗ trống không, đến nơi pháp hội để nghe thọ kinh này. Khi đã nghe và lãnh thọ xong rồi, trở về chỗ ở chúc tụng nhau: “Chúng ta ngay đây nghe pháp thậm thâm vô thượng nhiệm mầu, đã được thâu nhóm các món công đức không thể nghĩ bàn, gặp được vô lượng, vô biên chư Phật, quả báo trong ba đường ác đã được giải thoát, ở đời vị lai thường sinh cõi người và các cõi trời hưởng thọ an lạc.”

Các chúng sinh này đều ở ngay nơi chỗ ở của mình, hoặc vì người khác giảng nói kinh này, hoặc nói một thí dụ, một phẩm, một duyên, hoặc là xưng tán một Đức Thế Tôn, một vị Bồ-tát hoặc một bài kệ bốn câu, cho đến một câu và xưng tên đầu đề của kinh này thì bạch Thế Tôn! Tùy chúng sinh ấy ở chỗ nào, ngay nơi đó thường được phong phú, phì nhiêu, đầy đủ hơn các nơi khác. Phàm những vật gì nhân đất sinh ra, đều được tăng trưởng, to lớn, tốt tươi, khiến các chúng sinh hưởng thọ an lạc, giàu có của cải, châu báu, tiền bạc, ưa hành bố thí, tâm thường thâm tín Tam bảo kiên cố.

Lúc ấy Phật bảo Địa thần Kiên lao:

–Nếu chúng sinh nào, cho đến chỉ nghe nghĩa một câu kinh Kim Quang Minh này, ở trong cõi người thì sau khi lâm chung tùy ý vãng sinh lên cõi trời Tam thập tam.

Địa thần, nếu có những chúng sinh nào, vì muốn cúng dường kinh nhiệm mầu này, trang nghiêm nhà cửa, cho đến treo một cái tràng phan hay một bảo cái, cho đến một cái áo thì khi người ấy mạng chung, liền được sinh lên sáu tầng trời ở cõi Dục, nơi có cung điện bảy báu tự nhiên.

Địa thần, trong những cung điện bảy báu, đều tự nhiên có bảy Thiên nữ, cùng nhau vui vẻ, ngày đêm thường thọ hưởng niềm vui vi diệu không thể nghĩ bàn.

Lúc ấy, Địa thần bạch:

–Kính bạch Thế Tôn! Do nhân duyên ấy khi vị Tỳ-kheo thuyết kinh pháp này ngồi trên pháp tòa, con thường ngày đêm luôn luôn hộ vệ, không hề xa lìa, ẩn dưới pháp tòa, đầu đội hai chân vị Pháp sư ấy.

Bạch Thế Tôn! Nếu có chúng sinh ở chỗ trăm ngàn Phật trồng các thiện căn, người nói pháp ấy, vì họ mà ở cõi Diêm-phù phổ biến rộng rãi kinh nhiệm mầu này, khiến không đoạn tuyệt. Các chúng sinh ấy được nghe kinh này, ở đời vị lai, vô lượng trăm ngàn na-dotha kiếp thường sinh cõi người và cõi trời, hưởng thọ an lạc, gặp được chư Phật, dứt trừ tất cả những điều khổ báo trong ba đường ác, mau được chứng thành Chánh đẳng Chánh giác.

 

QUYỂN 3

Phẩm 10: QUỶ THẦN TÁN CHỈ

Bấy giờ, đại tướng quỷ thần Tán chỉ cùng với hai mươi tám bộ quỷ thần liền từ chỗ ngồi đồng đứng dậy, trịch vai áo phải, quỳ gối chắp tay mà bạch Phật rằng:

–Bạch Thế Tôn! Kinh Kim Quang Minh nhiệm mầu này, hoặc đời hiện tại và đời vị lai, bất kỳ chỗ nào hoặc ở thành thị, hoặc nơi thôn xóm, hoặc chốn núi rừng, sông đầm chỗ trống vắng, hoặc trong cung vua, bất luận kinh này truyền bá đến đâu, con sẽ cùng với hai mươi tám bộ Đại quỷ thần này, theo đến chỗ đó, ẩn hình ủng hộ cho người nói pháp, tiêu diệt các điều ác khiến Pháp sư ấy được sự an ổn. Đồng thời những người nghe pháp, bất luận đàn ông, đàn bà, con trai, con gái, đối với kinh này, cho đến chỉ nghe danh một Như Lai hay nghe danh một vị Bồ-tát và nghe tên đầu đề kinh này, thọ trì đọc tụng thì con sẽ theo hầu, thường trực ủng hộ, diệt trừ hết các điều ác cho họ, khiến họ an ổn. Kể cả quốc gia, xóm làng, thành quách hoặc nơi cung vua, chỗ có nhà cửa hoặc giữa chỗ trống không đều cũng như vậy.

Bạch Thế Tôn! Vì nhân duyên gì con tên Đại tướng quỷ thần Tán Chỉ. Xin Thế Tôn nói rõ chỉ bày cho.

Kính bạch Thế Tôn! Con biết tất cả pháp và duyên pháp, hiểu rõ toàn thể các pháp, từng phần vị các pháp, như pháp an trú tất cả các pháp, như tánh đối với các pháp, chấp nhận tất cả pháp.

Kính bạch Thế Tôn! Con hiện thấy ánh sáng trí tuệ không thể nghĩ bàn, đuốc trí tuệ, hạnh trí tuệ không thể nghĩ bàn, khối trí tuệ không thể nghĩ bàn, cảnh giới trí tuệ không thể nghĩ bàn. Kính bạch Thế Tôn! Con đối các pháp, hiểu biết chân chánh, quán sát chân chánh, phân biệt chân chánh, hiểu rõ các pháp nhân duyên chân chánh, trí giác chân chánh.

Kính bạch Thế Tôn! Do ý nghĩa đó nên con tên là Đại tướng Tán Chỉ.

Kính bạch Thế Tôn! Đại tướng Tán Chỉ con sẽ làm cho người nói pháp này lời lẽ trang nghiêm, biện tài bất tuyệt, chất vị tinh khí đều từ các lỗ chân lông theo vào, làm cho vị ấy thân lực đầy đủ, tâm hồn sáng suốt, thành tựu trí tuệ không thể nghĩ bàn, giữ được chánh niệm, những việc như vậy đều được đầy đủ, thân tâm vui vẻ, không bị mỏi mệt. Nhờ vậy mà có thể vì các chúng sinh giảng nói kinh này, phổ biến rộng rãi. Nếu có chúng sinh nào đã từng ở chỗ trăm ngàn Phật gieo trồng thiện căn thì người nói pháp này vì chúng sinh ấy ở cõi Diêm-phù-đề phổ biến kinh điển nhiệm mầu này, không để đoạn tuyệt.

Vô lượng chúng sinh nghe được kinh này sẽ được trí tuệ không thể nghĩ bàn, chứa nhóm công đức không thể nghĩ bàn. Ở đời vị lai vô lượng ức kiếp thường được an lạc trong cõi Trời, người sẽ gặp chư Phật, mau được chứng thành Chánh đẳng Chánh giác. Tất cả cảnh khổ trong ba đường ác vĩnh viễn xa lìa.

Nam-mô Bảo Hoa Công Đức Hải Lưu Ly Kim Sơn Quang Chiếu Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri.

Nam-mô Vô lượng bách thiên ức na-do-tha Trang nghiêm kỳ thân Thích-ca Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri, đã đốt lên đuốc pháp nhiệm mầu như thế.

Nam-mô Đệ Nhất Oai Đức Thành Tựu Chúng Sự Đại Công Đức Thiên.

Nam-mô Bất Khả Tư Lượng Trí Tuệ Công Đức Thành Tựu Đại Biện Thiên.

 

Phẩm 11: CHÁNH LUẬN

Bấy giờ Phật bảo Địa thần Kiên Lao:

–Quá khứ có vua tên Lực Tôn Tướng, vua có Thái tử tên là Tín Tướng, chẳng bao lâu sẽ được kế vương vị, thống lãnh quốc gia.

Khi ấy, nhà vua bảo Thái tử rằng:

–Ở đời có bộ Chánh luận khéo y cai trị quốc gia. Lúc xưa hồi ta còn là Thái tử, khi sắp kế vị, bấy giờ Phụ vương vì ta đem bộ Chánh luận ấy ra giảng nói ta nghe. Ta nhờ luận đó trong hai vạn năm cai trị quốc gia thường được an ổn, chưa từng một niệm làm việc phi pháp và không bao giờ có lòng thiên vị đối với bà con của mình.

Những gì gọi là Chánh luận trị đời?

Kiên Lao Đại thần, lúc bấy giờ, vua Lực Tôn Tướng vì Thái tử Tín Tướng nói bài kệ này:

Ta nay sẽ nói
Chánh luận các vua
Vì lợi chúng sinh
Dứt mọi nghi hoặc.
Tất cả Nhân vương
Thiên vương các cõi
Cần phải hoan hỷ
Chắp tay lắng nghe.
Các vua hội họp
Tại núi Kim cang
Thiên vương Hộ thế
Thưa hỏi Phạm vương:
Đấng Đại sư Phạm
Tự tại trong đời
Hay trừ nghi hoặc.
Vì tôi đoạn trừ
Vì sao là người
Được gọi là trời
Vì sao vua người,
Lại gọi Thiên tử
Sinh trong loài người
Ở cung điện vua
Chánh pháp trị đời,
Mà gọi là trời
Thiên vương Hộ thế
Hỏi việc ấy rồi
Phạm thiên Tôn sư.
Liền nói kệ rằng
Tuy ông nay đây
Hỏi ta nghĩa ấy
Nhưng ta phải vì
Tất cả chúng sinh
Trình bày rõ ràng
Thắng luận thứ nhất
Nhân vì tập nghiệp
Sinh trong cõi người
Thống lãnh cõi nước,
Nên gọi Nhân vương
Khi ở trong thai
Chư Thiên bảo hộ
Hoặc bảo hộ trước
Sau khi nhập thai
Tuy sinh trong người
Được làm vua người,
Vì được trời hộ
Nên gọi Thiên tử
Trời Tam thập tam
Đều đem phước mình
Phân cho vị ấy
Nên gọi Thiên tử.
Thần lực gia hộ
Nên được tự tại
Xa lìa pháp ác
Ngăn không cho khởi
An trú thiện pháp
Tu hành tăng trưởng
Hay khiến chúng sinh
Nhiều phước sinh Thiên
Ít hơn làm vua,
Cũng gọi chấp lạc.
Chúa tể La-sát
Hay ngăn việc ác,
Cũng gọi cha mẹ,
Dạy bảo tu thiện
Thị hiện quả báo
Chư Thiên ủng hộ
Các nghiệp thiện ác
Hiện tại vị lai
Hiện thọ quả báo
Chư Thiên hộ trì
Nếu có việc ác,
Bỏ qua không hỏi,
Không trị tội đó
Không dạy pháp chánh
Bỏ lìa pháp lành
Tăng trưởng việc ác.
Nên khiến trong nước
Nhiều kẻ gian loạn
Trời Tam thập tam
Đều sinh sân hận
Do vị quốc vương,
Không trị kẻ ác
Gian trá đầy dẫy
Phá hoại quốc gia
Oán địch phương khác,
Tranh nhau xâm lược
Tiền tài bảo vật
Của cải nhà mình
Những bọn trộm cướp
Tranh nhau cướp giựt
Trị đời đúng pháp,
Tránh những việc trên
Nếu cứ dung túng
Nước sẽ tiêu diệt
Ví như voi dữ,
Dậm đạp ao sen.
Như nổi gió bảo
Thường đổ mưa to
Sao xấu xuất hiện
Nhật Nguyệt u ám
Ngũ cốc cây trái,
Đều không tươi tốt
Do vua bất chánh
Khiến nước đói khát
Các cõi Thiên cung,
Đều sinh lo buồn
Do vua bạo ngược
Không tu việc lành.
Các vị Thiên vương
Đều bảo nhau rằng:
Vua này làm ác
Làm bạn kẻ ác
Vì tạo điều ác
Nên chư Thiên giận
Vì chư Thiên giận
Nên nước suy bại.
Binh đao phi pháp
Gian trá, tranh cãi
Tật dịch tai bệnh
Xảy ra trong nước.
Chư Thiên lập tức
Bỏ lìa vua này
Khiến nước suy bại
Sinh ra sầu khổ.
Anh em, chị em
Vợ con quyến thuộc
Lưu vong ly biệt
Thân bị tiêu diệt,
Thường bị sao rơi
Hiện hai mặt trời
Giặc cướp phương khác,
Xâm lược nước ấy
Nhân dân thường bị
Đói khổ, dịch bệnh
Đại thần trụ cột
Bỏ đi nơi khác,
Voi ngựa, xe cộ…
Giây phút tan tành.
Tài sản, nhà cửa
Thuộc của quốc gia
Tranh nhau cướp đoạt
Đao binh chết chóc.
Các thứ ngôi sao
Trái mất thường lệ
Các thứ dịch bệnh
Lan tràn cả nước.
Bọn người ân lộc
Lãnh chức đại thần
Các bọn quan liêu
Chuyên làm phi pháp
Làm ác như thế,
Riêng được ân sủng
Những người tu thiện
Ngày càng suy giảm.
Với kẻ làm ác
Lại sinh cung kính
Thấy người tu thiện
Tâm không đoái đến.
Nên khiến thế gian
Tai biến nỗi lên
Tinh tú thất thường
Mưa hung gió dữ…
Phá hoại chánh pháp
Cam lồ tối thượng
Các loài súc sinh
Phá chất đất mầu.
Kính kẻ tệ ác
Chê bai người lành
Nên trời mưa dữ,
Đói khát, dịch bệnh
Lúa gạo quả hạt
Giảm mất chất vị
Sinh nhiều thứ bệnh
Đầy dẫy cả nước,
Cây trái ngon ngọt,
Ngày càng giảm sút
Chất vị đắng chát
Mỗi lúc thêm nhiều
Những nơi công viên
Thắng cảnh ngoạn mục
Đều bị khô tàn
Không thể vui được.
Những đồ ăn uống
Có chất thượng vị
Dần dần sút kém
Ăn không đủ bổ
Nhan sắc xấu xí
Khí lực suy kém.
Phàm ăn uống gì
Không biết nhàm đủ,
Tinh lực mạnh mẽ
Đều bị tiêu mất
Trong nước đầy dẫy
Những bọn biếng nhác
Đủ các thứ bệnh
Bức bách thân thể.
Ác tinh biến động
La-sát lộng hành
Nếu có vị vua
Làm điều phi pháp
Tăng trưởng ác đảng,
Tổn đạo trời, người
Ở trong ba cõi
Bị nhiều khổ não
Vô lượng việc ác
Khởi lên như thế.
Đều do nhà vua
Dung túng quyến thuộc
Tạo các việc ác
Bỏ qua không trị.
Nếu là người được
Chư Thiên ủng hộ,
Làm vua như vậy
Trọn không làm ác.
Có người tu thiện
Được sinh cõi trời
Kẻ làm bất thiện
Đọa ba đường ác.
Trời Tam thập tam
Đều sinh ray rứt.
Do vua dung ác
Bỏ qua không răn,
Trái nghịch chư Thiên,
Trái lời cha mẹ,
Làm con bất hiếu,
Không thể trị chánh,
Tạo việc gian ác,
Kẻ hoại quốc gia
Không nên dung túng,
Phải trị tội nghiêm.
Thế nên chư Thiên,
Hộ trì vua ấy,
Để diệt pháp ác,
Vì tu nghiệp thiện,
Chánh trị hiện thế,
Vương vị càng tăng,
Nên phải nói rõ
Nghiệp thiện, bất thiện.
Chỉ bày nhân quả
Nên được làm vua,
Chư Thiên hộ trì,
Lân bang giúp đỡ
Vì mình, vì người,
Tu chánh trị quốc.
Có kẻ hoại nước,
Cần phải chánh giáo,
Vì dân, vì nước,
Tu hành chánh pháp
Không nên làm ác,
Không nên dung túng,
Có những việc khác,
Không thể hoại nước,
Nhân ác gian nhiều,
Sau sẽ sụp đổ
Khởi nhiều gian tham
Phá hoại quốc gia,
Ví như voi lớn,
Dậm phá ao sen
Oán hận chư Thiên,
Nên Thiên phiền não
Khởi các việc ác,
Đầy dẫy quốc gia.
Thế nên phải theo
Chánh pháp trị đời
Dùng thiện trị nước,
Không theo phi pháp,
Thà bỏ thân mạng,
Chẳng vì quyến thuộc,
Người thân hay sơ,
Tâm thường bình đẳng,
Coi người thân sơ,
Dung hòa như một
Chánh hạnh danh xưng,
Lưu truyền ba cõi,
Chánh pháp trị nước
Nhiều người làm thiện
Thường dùng thiện tâm
Chiêm ngưỡng quốc vương,
Hay khiến cõi trời
Ngày càng thêm nhiều,
Thế nên chánh trị,
Gọi là Nhân vương
Tất cả chư Thiên
Ái hộ Nhân vương
Cũng như cha mẹ
Ái hộ con mình
Nên khiến nhật, nguyệt
Và các ngôi sao,
Xuất hiện đúng thời,
Không sai thường lệ,
Mưa gió thuận hòa,
Không bị tai ách,
Làm cho quốc gia
Thịnh vượng an lạc
Lợi ích nhân dân
Chúng đông Chư Thiên
Chính vì lẽ đó,
Hộ cho quốc vương
Thà bỏ thân mạng,
Không nên làm ác,
Không nên bỏ lìa
Chánh pháp cao quý
Do nhờ chánh pháp
Người đời được vui
Thường được gần gũi,
Người tu chánh pháp,
Chứa nhóm công đức
Trang nghiêm bản thân.
Đối với bà con
Thường biết đầy đủ.
Phải xa người ác,
Tu hành chánh pháp
An ổn chúng sinh
Với các pháp lành,
Dạy bảo ngăn ngừa,
Khiến xa điều ác
Do đó trong nước,
Giàu mạnh an lạc.
Quốc vương cường thịnh,
Oai đức đầy đủ.
Những người dân nào
Làm các việc ác,
Cần phải ngăn chặn
Giáo hóa đúng pháp,
Quốc vương sẽ được
Danh dự xứng đáng
Khéo léo cai trị
An ổn chúng sinh.

 

Phẩm 12: THIỆN TẬP

Lúc bấy giờ, Đức Như Lai lại vì Địa thần nói những nhân duyên xa xưa bằng bài kệ:

Xưa ta từng làm
Chuyển luân thánh vương
Bỏ bốn đại địa
Và cả biển lớn,
Lại ở thời đó
Dùng các vật báu
Trong khắp thiên hạ
Dâng cúng chư Phật
Phàm khi bố thí
Đem các vật quý,
Đều xả bỏ hết,
Không hề luyến tiếc
Ở đời quá khứ
Trong vô số kiếp,
Vì cầu chánh pháp
Thường bỏ thân mạng
Lại không thể nghĩ,
Nhiều kiếp quá khứ,
Có Đức Thế Tôn
Hiệu là Bảo Thắng
Đức Thế Tôn ấy,
Sau khi Niết-bàn,
Thì có Thánh vương
Tên là Thiện Tập
Thế lực chánh trị
Rất là rộng rãi,
Ở trong thiên hạ,
Rất được tự tại.
Vua ấy có thành
Tên Thủy âm tôn,
Ở trong thành ấy,
Lo viêc trị hóa,
Đêm ngủ nằm mộng
Nghe công đức Phật
Và thấy Tỳ-kheo,
Tên là Bảo Minh
Khéo léo tuyên dương
Chánh pháp Như Lai
Tên Kim Quang Minh
Kinh điển nhiệm mầu
Sáng như ban ngày
Đều chiếu soi khắp
Chuyển luân thánh vương
Chiêm bao thấy mộng.
Liền thức giấc dậy
Thân tâm vui vẻ,
Vội rời cung điện
Đến chỗ tinh xá
Cúng dường cung kính
Các đại Thánh chúng,
Hỏi các Đại đức
Trong đại chúng này,
Có vị Tỳ-kheo
Tên là Bảo Minh
Thành tựu tất cả
Các công đức chăng?
Lúc ấy Bảo Minh
Ở trong hang đá,
An tọa bất động
Suy nghĩ chánh niệm
Chuyên chú đọc tụng
Kinh Kim Quang Minh.
Có vị Tỳ-kheo
Liền dẫn nhà vua
Đi đến chỗ hang
Nơi Bảo Minh ơ,
Khi ấy Bảo Minh
Vẫn còn an tọa,
Dung mạo đặc biệt
Oai đức rực rỡ.
Tỳ-kheo liền chỉ
Vị trong hang ấy
Là thầy Bảo Minh
Mà vua đã hỏi,
Hay trì pháp mầu,
Sở hành của Phật,
Kinh Kim Quang Minh
Vua trong các kinh.
Khi ấy nhà vua
Lập tức lễ kính
Tỳ-kheo Bảo Minh
Và nói thế này:
Mặt như trăng tròn,
Oai đức rực rỡ.
Cúi xin vì con
Trình bày rõ ràng.
Kinh Kim Quang Minh
Vua trong các kinh.
Khi ấy Bảo Minh
Liền nhận lời thỉnh.
Hứa vì vua nói
Kinh Kim Quang Minh
Tam thiên đại thiên
Thế giới chư Thiên
Biết sẽ nói pháp,
Đều sinh hoan hỷ
Ở chỗ sạch sẽ
Thanh tịnh vi diệu,
Dùng các vật báu
Trải trên mặt đất
Nước thơm thượng hạng
Dùng đem rưới khắp,
Các thứ hoa đẹp
Rải khắp chỗ đó
Khi ấy nhà vua
Tự trải pháp tòa,
Treo các phan cái
Trang hoàng đủ thứ
Tốt đẹp nhiệm mầu,
Dùng các bột hương
Rải khắp xung quanh
Pháp tòa cao lớn
Tất cả chư Thiên,
Rồng và quỷ thần
Ma-hầu-la-già,
Khẩn-na-la thảy…
Trên trời rải xuống
Hoa Mạn-đà-la
Cùng khắp pháp tòa
Đầy cả nơi đó,
Không thể nghĩ bàn
Trăm ngàn vạn ức,
Không thể tính kể
Vô lượng chư Thiên
Đồng thời đều đến
Họp chỗ nói pháp
Khi ấy Bảo Minh
Trong hang đi ra,
Chư Thiên lập tức
Dùng hoa Ta-la
Đem dâng cúng dường
Tỳ-kheo Bảo Minh.
Lúc đó Bảo Minh
Tắm rửa thân thể,
Đắp y trang nghiêm,
Đến chỗ pháp tòa
Chắp tay kính lễ.
Nơi pháp tòa ấy
Tất cả Thiên vương,
Và các Thiên nhân
Rải các hoa báu
Hoa Mạn-đà-la,
Đại Mạn-đà-la,
Đại Mạn-thù-sa…
Vô lượng trăm ngàn
Các thứ kỹ nhạc
Ở trong hư không
Không gãy tự kêu.
Tỳ-kheo Bảo Minh
Người sẽ thuyết pháp
Liền lên pháp tòa,
Ngồi thế kiết già
Và niệm mười phương
Thiên ức Thế Tôn
Vô lượng chư Phật
Không thể nghĩ bàn
Đối với chúng sinh
Và vua Thiện Tập
Cùng lãnh thổ vua
Cho đến tận cùng
Nơi Nhật nguyệt chiếu
Khởi tâm đại Bi
Thời vị thuyết pháp
Liền vì nhà vua
Trình bày giảng nói
Kinh điển nhiệm mầu
Khi ấy đại vương
Vì được nghe pháp
Ở trước Tỳ-kheo
Đứng thẳng chắp tay
Chăm nghe chánh pháp
Tán thán: Hay thay!
Tâm vua buồn bã,
Khóc lóc lệ rơi
Bỗng lại vui mừng
Tâm ý hớn hở
Vì muốn cúng dường
Kinh điển này vậy.
Khi ấy nhà vua
Dâng ngọc như ý
Vì các chúng sinh
Phát đại thệ nguyện:
Nguyện ngày hôm nay
Cõi Diêm-phù-đề
Đều mưa vô lượng
Các thứ bảo vật:
Vàng, ngọc, bảy báu
Và ngọc anh lạc.
Do nhân duyên ấy
Khiến cho tất cả
Vô lượng chúng sinh
Đều được sung sướng.
Ngay trong lúc ấy
Liền mưa bảy báu
Các thứ trang sức,
Mão trời đai ngọc,
Đủ loại anh lạc
Cỗ bàn ngon ngọt
Thảy đều đầy đủ
Khắp cả thiên hạ
Khi ấy nhà vua
Liền đem bảy báu
Vô lượng như vậy
Đầy cả thiên hạ
Đem dùng bố thí,
Cúng dường Tam bảo
Trong thời mạt pháp.
Đức Phật Bảo Thắng
Tỳ-kheo vì vua,
Thuyết pháp khi ấy
Là Phật A-súc
Hiện bây giờ đây
Còn vua Thiên Tập
Người nghe thọ pháp
Nay chính thân ta
Thích-ca Văn đây
Ta lúc bấy giờ
Bỏ cả đại địa
Báu đầy thiên hạ
Đem ra bố thí,
Mới được nghe kinh
Kim Quang Minh này
Nghe kinh này rồi,
Xưng rằng: Lành thay!
Vì nhờ nhân duyên
Do căn lành ấy
Thân được sắc vàng
Trăm phước trang nghiêm
Thường được vô lượng
Trăm ngàn vạn ức
Các loại chúng sinh
Đều ưa xem thấy
Đã được thấy rồi
Không có nhàm chán
Quá khứ chín mươi
Chín ức thiên kiếp
Thường được làm vị
Chuyển luân thánh vương
Cũng ở vô lượng
Trong trăm ngàn kiếp
Thường được thống lãnh
Các tiểu quốc vương
Không thể nghĩ bàn
Nhiều kiếp thường làm
Thích Đề-hoàn Nhân
Và vua Tịnh phạn
Lại thường gặp được
Mười phương Thế Tôn
Vô số vô lượng
Không thể tính đếm.
Được các công đức
Vô lượng, vô biên,
Đều do nghe kinh
Và xưng: Lành thay!
Như ta đã nguyện
Thành tựu Bồ-đề
Và Chánh Pháp thân
Nay ta đã được.

 

Phẩm 13: QUỶ THẦN

Bấy giờ, Phật bảo Công Đức thiên rằng:

–Nếu thiện nam, thiện nữ nào muốn dùng những thứ phẩm vật cúng dường quý báu không thể nghĩ bàn để cúng dường Phật quá khứ, vị lai và Phật hiện tại, cũng như muốn biết hạnh nguyện sâu xa ba đời chư Phật, thì người ấy cần phải quyết định chí tâm, tùy chỗ nào có phổ biến kinh này, hoặc nơi thành thị, thôn làng, tư gia, hoặc ở chỗ trống, chánh niêm không loạn, chí tâm nghe kinh pháp mầu nhiệm này.

Khi ấy Thế Tôn trùng tuyên nghĩa này, nên nói kệ rằng:

Nếu muốn cúng dường
Tất cả chư Phật
Muốn biết hạnh nguyện
Chư Phật ba đời
Cần phải đi đến
Thành thị, xóm làng,
Chỗ có kinh này,
Chí tâm nghe thọ
Kinh nhiệm mầu này
Không thể nghĩ bàn,
Công đức rộng lớn
Vô lượng, vô biên.
Hay khiến tất cả
Chúng sinh giải thoát
Vượt vô lượng khổ
Biển lớn các cõi.
Kinh này sâu xa,
Đầu, giữa, sau thiện
Không thể nói được
Thí dụ so sánh
Giả sử hằng hà
Vi trần đại địa
Nước các biển lớn,
Tất cả các núi…
Những vật như thế
Không thể ví dụ
Nếu nhập kinh này
Tức nhập pháp tánh
Thâm hiểu pháp tánh
An trú pháp tánh
Tức ở trong kinh,
Kim Quang Minh này
Mà được thấy ta
Thích-ca Mâu-ni
A-tăng-kỳ kiếp
Không thể nghĩ bàn.
Sinh trong trời, người
Thường được vui sướng
Vì hay được nghe,
Tin hiểu kinh này.
Như vậy chứa nhóm
Vô lượng công đức,
Không thể nghĩ bàn
Đều đã đạt được
Tùy ở chỗ nào
Hoặc trăm do-tuần
Dẫu lửa cháy khắp
Cần phải vượt qua,
Hoặc đến xóm làng
Hoặc A-lan-nhã,
Đến tại pháp hội
Chí tâm nghe giảng
Vì nghe kinh này
Ác mộng, độc dược,
Các thứ sao xấu,
Tai biến tật dịch…
Tất cả các việc
Đều bị tiêu diệt.
Tại chỗ đạo tràng
Ngồi trên pháp tòa,
Thuyết kinh điển này,
Viết chép đọc tụng
Vị Pháp sư ấy
Nếu xuống pháp tòa
Khi ấy đại chúng
Cũng thấy nơi đó
Vẫn có người thuyết,
Hoặc Phật Thế Tôn
Hoặc thấy tượng Phật
Tượng chư Bồ-tát
Bồ-tát Phổ Hiền,
Văn-thù-sư-lợi,
Đại sĩ Di-lặc
Và các hình tượng…
Thấy đủ tất cả
Những việc ấy xong
Lập tức biến mất,
Trở lại như trước.
Thành tựu tất cả
Công đức như thế,
Lại được chư Phật
Đồng thanh khen ngợi
Oai đức tướng mạo
Vô lượng, vô biên.
Danh vang cùng khắp.
Hay trừ oan gia
Oán tặc phương khác,
Hay khiến lui tan.
Thân lực mạnh mẽ
Phá được cường địch.
Ác mộng tâm phiền…
Vô lượng nghiệp ác
Việc ác như vậy,
Đều được tiêu diệt.
Nếu vào quân trận
Thường hay thắng giặc,
Danh vang cùng khắp
Cõi Diêm-phù-đề
Cũng hay đánh dẹp
Tất cả oán địch,
Xa các việc ác,
Tu các việc lành.
Vào trận được thắng
Tâm thường vui vẻ.
Đại phạm Thiên vương
Trời Tam thập tam
Bốn vua Hộ thế
Kim cang Mật Tích
Chư vương quỷ thần
Đại tướng Tán Chỉ,
Quỷ Thiền-na-anh
Và Khẩn-na-la,
Rồng A-nậu-đạt,
Vua Ta-kiệt-la
Vua Ca-lầu-la
Thiên thần Đại Biện
Và trời Công Đức
Các vị Thiên thần
Thượng thủ như thế,
Thường nên cúng dường
Người thuyết pháp này
Sinh trưởng tháp pháp
Không thể nghĩ bàn.
Chúng sinh xem thấy
Cung kính hoan hỷ.
Các vị Thiên vương
Cũng đều suy nghĩ
Rồi bảo nhau rằng,
Khiến chúng sinh này
Đều được thành tựu
Vô lượng oai đức.
Nếu hay đi đến
Chỗ pháp hội ấy
Người như thế là
Thành tựu thiện căn
Nếu có người nghe
Kinh sâu xa này
Sửa soạn trang nghiêm
Đến chỗ pháp hội
Tâm sinh chánh tín
Không thể nghĩ bàn
Cúng dường cung kính
Tháp pháp vô thượng,
Đại Bi như vậy,
Lợi ích chúng sinh
Tức là kho chứa
Vô lượng pháp bảo
Nhập vào pháp tánh
Sâu xa vô thượng
Do dùng tịnh tâm
Nghe kinh điển này,
Những người như thế
Đều đã cúng dường
Vô lượng trăm ngàn
Chư Phật quá khứ
Do thiện căn ấy
Vô lượng nhân duyên
Nên mới nghe thọ
Kinh Kim Quang Minh,
Chúng sinh như vậy
Thường được vô lượng
Chư Thiên thần vương
Ái kính hộ vệ,
Đại biện công đức
Thiên vương Hộ thế
Vô lượng quỷ thần
Và các Lực sĩ…
Ngày đêm siêng năng,
Ủng hộ bốn phương,
Khiến không tai họa
Hằng lìa cảnh khổ,
Thích Đề-hoàn Nhân
Và Nhật Nguyệt Thiên
Diêm-ma-la vương
Các Thần gió, nước…
Thiên thần Vi-đà
Và Tỳ-nựu thiên,
Thiên thần Đại biện,
Và Tự tại Thiên
Thần lửa hết thảy…
Đại lực dũng mãnh
Thường hộ thế gian
Ngày đêm không rời
Đại Lực quỷ vương
Thần Na-la-diên,
Ma-hê-thủ-la
Hai mươi tám bộ
Tất cả quỷ thần,
Tán Chỉ đứng đầu
Trăm ngàn quỷ thần
Thần túc đại lực
Ủng hộ tất cả
Khiến không sợ sệt
Kim cang Mật Tích
Đại quỷ thần vương
Cùng với quyến thuộc
Năm trăm đồ đảng,
Tất cả đều là
Những Đại Bồ-tát.
Cũng đều ủng hộ
Người nghe kinh này
Ma-ni Bạt-đà
Đại quỷ thần vương
Và Kim tỳ-la,
A-la-bà-đế,
Tân-đầu-lô-già,
Đại thần Huỳnh Đầu,
Mỗi mỗi vị thần,
Đều có năm trăm
Quỷ thần quyến thuộc
Cũng thường ủng hộ
Người nghe kinh này
Chất-đa Tư-na
A-tu-la vương,
Và Càn-thát-bà
Na-la la-xà
Kỳ-na-ta-bà
Ma-ni càn-đà
Và Ni-kiền-đà,
Đại thần Chủ Mưa
Đại thần Ẩm Thực,
Ma-ha Già-trá
Kim sắc phát thần,
Bán-kỳ quỷ thần
Và Bán-chi-la,
Xa-bát-la-bà,
Có oai đức lớn,
Bà-na-lợi thần
Đàm-ma-bạt-la,
Ma-kiệt-bà-la,
Châm phát quỷ thần,
Tú-lợi-mật-đa,
Lặc-na-sí-xa,
Ma-ha Bà-na,
Và Quân-đà-giá,
Kiếm-ma-xá-đế,
Lại có đại thần
Xa-la-mật-đế,
Hê-ma-bạt-đà,
Tát-đa-kỳ-lê,
Đa-hê-ba-hê,
A-già-bạt-la,
Chi-la-ma-già,
Ương-quật-ma-la
Những vị thần ấy
Đều có vô lượng,
Thần túc đại lực,
Thường hay ủng hộ
Những người nghe thọ
Kinh mầu nhiệm này
Rồng A-nậu-đạt,
Vua Ta-già-la,
Vua Mục-chân-lân
Vua Thi-bát-la
Vua Rồng Nan-đà
Vua Bạt-nan-đà
Tất cả như vậy
Trăm ngàn vua Rồng
Dùng đại thần lực
Thường đến ủng hộ
Người nghe kinh này
Ngày đêm không rời.
Ba-lợi-la-hầu,
Vua A-tu-la,
Tỳ-ma-chất-đa,
Cho đến Mậu-chỉ,
Thiểm-ma-lợi-tử,
Ba-ha-lê-tử,
Khư-la-đằng-đà,
Cho đến Kiền-đà,
Tất cả đều là
Vua A-tu-la
Có thần lực lớn
Thường đến ủng hộ
Người nghe kinh này
Ngày đêm không rời,
Ha-lợi-đế-nam,
Các mẹ con quỷ,
Và năm trăm thần,
Thường đến ủng hộ
Người nghe kinh này
Hoặc ngủ hoặc thức,
Đại Quỷ Chiên-đà
Và Chiên-đà-lợi,
Các Cưu-la-nữ,
Cưu-la-đàn-đề,
Hút tinh khí người,
Những quỷ thần ấy,
Đều có đại lực
Thường hay ủng hộ
Người thọ trì kinh
Mười phương thế giới
Các trời Đại biện,
Vô lượng Thiên nữ
Các trời Công đức,
Đều cùng quyến thuộc,
Địa thần Kiên Lao,
Những vị Đại thần,
Vườn, rừng, trái, hạt
Các vị thần ấy,
Sinh tâm hoan hỷ
Đều đến ủng hộ,
Người nào mến ưa
Gần gũi kinh này
Thì chính người ấy
Tăng mạng, sắc, lực
Công đức oai dung,
Trang nghiêm khác thường,
Các thứ ngôi sao,
Tai quái biến dị,
Đều bị biến mất,
Không thể lưu hại
Đêm nằm mộng dữ,
Thức dậy lo buồn
Việc ác như vậy,
Thảy đều tiêu diệt,
Địa thần Đại lực,
Thế phần rất nhiều,
Vì sức kinh này,
Biến được chất vị
Khắp cả đại địa
Đến cõi Kim cang
Dày mười sáu vạn
Tám ngàn do-tuần,
Bao nhiêu khí vị
Biến khắp trong đó,
Đều khiến tuôn ra
Đượm nhuần chúng sinh,
Nhờ sức kinh này
Khiến được vị đất
Đều hiện trên mặt
Dày trăm do-tuần,
Cũng khiến chư Thiên
Được tinh khí nhiều,
Đầy đủ thân lực,
Vui vẻ an lạc,
Trong Diêm-phù-đề
Có các vị thần
Tâm sinh vui vẻ,
Thọ lạc vô lượng
Vì sức kinh này,
Chư Thiên hoan hỷ,
Trăm giống lúa trái,
Đều được tốt tươi,
Tòng lâm ruộng vườn
Bông hoa rộ nở,
Mùi thơm ngào ngạt
Đầy khắp tất cả,
Trăm thứ cỏ cây
Sinh trưởng tốt tươi,
Mềm mại ngay thẳng,
Không có tà vạy,
Trong Diêm-phù-đề
Có các Long nữ
Vô số vô lượng
Không thể nghĩ bàn,
Tâm sinh hoan hỷ
Mừng rỡ không lường.
Khắp mọi nơi chốn
Ao hoa trang nghiêm
Ở trong ao ấy,
Sinh đủ thứ hoa:
Hoa Ưu-bát-la
Hoa Ba-đầu-ma
Hoa Câu-vật-đầu,
Hoa Phân-đà-lỵ
Ở nơi cung điện
Trừ các mây mù,
Khiến trong bầu trời
Không có bụi che
Bốn phương trong suốt,
Sáng sủa sạch sẽ,
Mặt trời chói lọi,
Phóng ngàn ánh sáng,
Chờn vờn đẹp đẽ
Soi chỗ tối tăm,
Vàng Diêm-phù-đàn
Dùng làm cung điện
Ở vào trong đó
Công đức vô lượng
Cả Nhật Thiên tử
Cho đến Nguyệt thiên,
Vì nghe kinh này
Tinh khí đầy đủ
Nhật Thiên tử này
Xuất Diêm-phù-đề,
Tâm sinh vui vẻ
Phóng ra vô lượng
Ánh sáng bủa khắp
Chiếu soi các phương
Ngay lúc xuất hiện
Phóng lưới ánh sáng
Làm nở hoa sen
Ở trong các ao
Trong Diêm-phù-đề
Vô lượng trái hạt
Tùy thời thành thục
Chúng sinh no đủ
Khi ấy nhật nguyệt
Chiếu sáng rực rỡ
Ngôi sao xuất hiện
Không sai thứ lớp,
Mưa, gió thuận hòa,
Phong phú, hưng thạnh,
Giàu có của cải
Không hề thiếu thốn,
Kinh Kim Quang Minh
Nhiệm mầu như vậy.
Tùy ở nơi nào
Giảng tụng phổ biến,
Cảnh trí nước ấy
Liền được tăng trưởng
Vô lượng công đức
Như đã nói trên.

 

Phẩm 14: THỌ KÝ

Lúc bấy giờ, Đức Như Lai vì Bồ-tát Tín Tướng và hai người con, Ngân Tướng, Ngân Quang mà thọ ký thành Chánh đẳng Chánh giác. Khi ấy liền có mười ngàn Thiên tử oai đức đầy đủ, là bậc thượng thủ, đều từ cung trời Đao-lợi đi đến, đảnh lễ chân Phật, lui ngồi một bên.

Bấy giờ, Phật bảo Bồ-tát Tín Tướng:

–Ông ở đời sau, trải qua vô lượng trăm ngàn vạn ức na-do-tha kiếp không thể tính kể, ở thế giới Kim chiếu, sẽ thành Chánh đẳng Chánh giác, hiệu là Kim Bảo Cái Sơn vương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Cho đến sau khi Đức Phật ấy nhập Niết-bàn, Chánh pháp, Tượng pháp đều đã diệt hết. Trưởng tử Ngân Tướng sẽ ở cõi ấy, thành Phật kế tiếp. Thế giới bây giờ sẽ đổi tên là Tịnh Tràng, Phật hiệu là Kimphù-đàn Kim Tràng Quang Chiếu Minh Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Cho đến sau khi Đức Phật ấy nhập Niết-bàn, Chánh pháp, Tượng pháp cũng đều diệt hết.

Con thứ Ngân Quang sau đó tiếp theo kế tiếp thành Phật. Thế giới bấy giờ như cũ không khác, Phật hiệu là Kim Quang Chiếu Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Mười ngàn Thiên tử này sau khi nghe ba vị Đại sĩ được thọ ký xong, lại nghe kinh Kim Quang Minh như vậy, nghe rồi vui vẻ, sinh tâm quý trọng, không bị cấu nhiễm, như ngọc lưu ly trong suốt không ngại, cũng như hư không.

Bấy giờ, biết mười ngàn vị Thiên tử này được thiện căn thuần thục, Như Lai liền thọ ký cho những vị đó:

Này các Thiên tử! Các vị đời sau, qua a-tăng-kỳ trăm ngàn vạn ức na-do-tha kiếp sẽ thành Chánh giác. Ở thế giới này, đồng chung một nhà, một họ, một tên, hiệu là Thanh Mục Ưu-bát-la Hoa Hương Sơn Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Như vậy tuần tự xuất hiện ra đời kể đủ vạn Phật.

Lúc bấy giờ, tại đạo tràng có vị thần cây Bồ-đề tên là Đẳng Tăng Ích bạch:

–Kính bạch Thế Tôn! Mười ngàn vị Thiên tử này ở trên cung trời Đao-lợi, vì nghe pháp nên tập trung đến đây, sao Như Lai liền thọ ký cho họ? Kính bạch Thế Tôn! Con chưa từng nghe các vị Thiên tử này tu hành đủ sáu Ba-la mật, cũng chưa từng nghe họ bỏ tay, chân, đầu, mắt, tủy, não, vợ, con yêu quý, của cải, lúa gạo, vải lụa, vàng bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, trân châu, san hô, ngọc trai, ngọc bích và đồ ăn uống ngon ngọt, mền chiếu, áo quần, thuốc thang chữa bệnh, voi, ngựa, xe cộ, nhà cửa, điện đền, vườn rừng, ao suối, tôi tớ, người hầu… như vô lượng các vị Bồ-tát khác, dùng đủ thứ đồ cúng dường nuôi sống, cung kính cúng dường quá khứ vô lượng trăm ngàn vạn ức vô số chư Phật.

Kính bạch Thế Tôn! Bồ-tát như thế ở đời vị lai, cũng bỏ vô lượng những vật quý trọng đầu, mắt, tủy, não, vợ, con yêu quý, của cải, lúa gạo, vải lụa, cho đến tôi tớ… lần lượt tu hành thanh tựu sáu Ba-la mật. Thành tựu như thế rồi lại trải qua công tu khổ hạnh vô lượng kiếp số, sau mới thọ ký thành Phật.

Kính bạch Thế Tôn! Những vị Thiên tử này nhờ nhân gì, tu những căn lành thù thắng nào mà từ trên Trời kia vừa đến nghe pháp liền được thọ ký? Kính mong Thế Tôn, vì con giải nói, để cho con được dứt sự nghi ngờ.

Bấy giờ, Phật bảo thần cây Thiện nữ thiên rằng:

–Đều có nhân duyên, có căn lành thù thắng, do tùy tướng tu. Vì sao? Các Thiên tử này đã từ cung trời, bỏ các thú vui năm dục trên ấy, cố đến nghe kinh Kim Quang Minh này, được nghe kinh rồi lại còn tịnh tâm quý trọng kinh này, như thuyết tu hành và lại được nghe thọ ký ba vị Đại Bồ-tát này, cũng do nhân duyên thuở quá khứ phát tâm thệ nguyện, thế nên nay đều được ta thọ ký cho các vị ấy ở đời vi lai sẽ thành Chánh giác.

Phẩm 15: TRỪ BỆNH

Phật bảo thần cây Bồ-đề Đạo-tràng Thiện nữ thiên rằng:

–Này Thiện nữ thiên! Lắng nghe! Lắng nghe! Khéo ghi nhớ lấy! Ta sẽ vì ngươi nói những nhan duyên thệ nguyện xa xưa, trải qua vô lượng, vô số kiếp quá khứ không thể nghĩ bàn.

Lúc bấy giờ, có Đức Phật ra đời hiệu là Bảo Thắng Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Này Thiện nữ thiên! Lúc đó sau khi Phật nhập Niết-bàn, chánh pháp diệt rồi, trong thời tượng pháp có vua tên là Thiên Tự Tại Quang, tu theo chánh pháp như pháp trị đời. Nhân dân hòa thuận, hiếu dưỡng cha mẹ. Trong nước ấy có một vị trưởng giả tên là Trì Thủy, giỏi nghề thầy thuốc, cứu chữa các bệnh, phương tiện biết rõ tứ đại tăng giảm.

Này Thiện nữ thiên! khi ấy trong nhà trưởng giả Trì Thủy, sinh ra được một người con trai tên là Lưu Thủy, thân thể thù thắng, đoan chánh bậc nhất, hình sắc đẹp đẽ, đầy đủ oai đức, bản tánh thông minh, thấu hiểu các thứ sách luận, toán số, biết các kỹ nghệ, tất cả mọi thứ đều được thông đạt. Khi đó trong nước bị nạn bệnh dịch, vô số chúng sinh không ai tránh khỏi bị bệnh bức bách khổ não vô cùng.

Này Thiện nữ thiên! Lưu Thủy con của vị trưởng giả ấy thấy các chúng sinh bị bệnh khổ sở không lường như thế, vì các chúng sinh sinh lòng đại Bi liền suy nghĩ: “Vô lượng trăm ngàn chúng sinh bị các khổ não như vậy, cha ta tuy giỏi thầy thuốc, có thể chữa các bệnh nhân, biết rõ bốn đại bệnh hoạn tăng giảm nhưng nay tuổi già suy yếu khô gầy, da héo, mặt nhăn, ốm o, lập cập, đi đứng, tới lui cần phải nương ghế, chống gậy, mệt mỏi, khốn đốn, không thể đến các thành ấp xóm làng, mà nay vô lượng trăm ngàn chúng sinh gặp phải trọng bệnh, không ai cứu chữa. Ta nay phải đến thưa hỏi thân phụ những phương thuốc bí yếu trị bệnh. Thưa hỏi biết rồi, sẽ đi đến các thành ấp, xóm làng, chữa cho chúng sinh đã mắc trọng bệnh, làm cho họ được thoát khỏi cảnh khổ.

Khi đó con vị trưởng giả suy nghĩ như thế rồi, liền đến chỗ người cha làm lễ xong, đứng lui qua một bên, vòng tay thưa hỏi những việc tăng giảm của thân tứ đại, xin phụ thân dạy. Ông nói kệ rằng:

Làm sao biết được
Tứ đại các căn
Suy tổn tiêu hao
Mà bị các bệnh?
Làm sao biết được
Thời tiết ăn uống
Hoặc ăn, ăn xong
Lửa thân không diệt
Làm sao biết được
Trị phong và nhiệt
Nước dư bệnh phổi
Và các bệnh khác…
Khi nào phong động
Khi nào nhiệt động
Khi nào thủy động
Làm hại chúng sinh
Bấy giờ người cha
Liền dùng kệ tụng
Giải nói phương thuốc
Mà đáp cho con:
Ba tháng là Hạ
Ba tháng là Thu
Ba tháng là Đông
Ba tháng là Xuân
Mười hai tháng này,
Kể từ ba tháng
Theo số như vậy
Một năm bốn thời,
Nếu từng hai tháng
Thì đủ sáu thời,
Ba tháng thuộc xưa,
Nay theo hai tháng,
Tùy thời tiết ấy,
Ăn uống nghỉ ngơi,
Thì được khỏe mạnh
Y phương đã nói
Tùy thời trong năm,
Các căn tứ đại
Tăng giảm hư hoại,
Khiến thân mắc bệnh,
Có thầy thuốc giỏi,
Tùy thuận bốn thời,
Ba tháng nuôi dưỡng
Điều hòa sáu đại
Tùy bệnh ăn uống,
Và dùng thuốc thang
Người bệnh phong nhiều
Mùa Hạ phát động,
Người bị bệnh nhiệt
Mùa Thu phát động
Người nhiều chứng bệnh
Mùa Đông phát động
Người bị bệnh phổi
Mùa Xuân thêm nặng,
Người có bệnh phong
Mùa Hạ nên uống
Chất béo, muối, dấm
Và ăn đồ nóng,
Người có bênh nhiệt
Thu uống cam lạnh,
Có nhiều chứng bệnh
Đông uống dấm đường
Mùa Xuân bệnh phổi
Uống chất cay nóng,
Sau khi ăn no
Thì phát bệnh phổi,
Khi ăn tiêu rồi
Thì phát bệnh nhiệt,
Cơn đói đã qua
Thì phát bệnh phong
Bốn đại như thế
Tùy ba thời phát,
Bệnh phong ốm yếu
Dùng chất sữa béo,
Bệnh nhiệt hạ uống
Trái A-lê-lặc,
Nhiều bệnh nên uống
Ba thứ diệu dược:
Là chất ngọt, cay,
Và các chất béo,
Bệnh phổi nên uống
Các chất vị nhờn.
Nếu bệnh phong, nhiệt,
Bệnh phổi đồng phân
Trái thời mà phát
Nên phải nhờ thầy,
Tùy bệnh chuyên chữa
Cơm cháo, thuốc thang.

Này Thiện nữ thiên! Bấy giờ Lưu Thủy con ông trưởng giả hỏi về phương thuốc và sự tăng giảm của thân tứ đại. Nhân đó biết rõ được các phương thuốc. Khi biết các phương thuốc rồi ông ta đi khắp trong nước từ thành thị đến thôn quê hẻo lánh, nơi nào có những chúng sinh bệnh khổ thì ông thăm hỏi, an ủi mọi người và nói rằng tôi là thầy thuốc đây. Tôi là thầy thuốc biết các phương thuốc, nay sẽ vì người, chữa bệnh cứu giúp, trừ cho bệnh lành.

Này Thiện nữ thiên! Chúng sinh lúc ấy nghe ông Lưu Thủy thăm hỏi an ủi, hứa chữa lành bệnh nên các bệnh nhân sinh tâm vui vẻ mừng rỡ không lường.

Bấy giờ, có vô lượng chúng sinh gặp phải trọng bệnh, được nghe nói thế, sinh tâm hoan hỷ, trong người nhẹ nhàng tất cả bệnh hoạn đều được tiêu trừ, bình phục như thường, khí lực đầy đủ.

Này Thiện nữ thiên! Lại có vô lượng trăm ngàn chúng sinh bệnh khổ nặng nề, khó chữa lành được, liền dẫn đem đến chỗ nhà trưởng giả, ông đem diệu dược ra trao bảo uống, uống xong bệnh nhân liền được bình phục.

Này Thiện nữ thiên! Ông Lưu Thủy đã ở trong nước ấy, từng chữa tất cả bênh khổ chúng sinh đều được an lành.

 

QUYỂN 4

Phẩm 16: TRƯỞNG GIẢ LƯU THỦY

Phật bảo Thọ thần Thiện nữ thiên rằng:

–Lúc bấy giờ, trưởng giả Lưu Thủy ở trong nước vua Thiên Tự Tại Quang, chữa lành tất cả bệnh khổ chúng sinh, khiến cho thân thể an vui khỏe mạnh. Vì được lành bệnh, nên cùng nhau làm nhiều việc phước thiện, tu hạnh bố thí, tôn trọng, cung kính vị trưởng giả này và đều nói rằng:

–Lành thay! Trưởng giả! Ngài đã hay làm nhiều việc phước đức, lợi ích chúng sinh không thể nghĩ lường và được sống lâu. Thật xứng đáng là vua trong y giới. Giỏi trị vô lượng trọng bệnh chúng sinh. Chắc ngài là một Bồ-tát hóa thân nên thông hiểu đủ phương thuốc như vậy.

Này Thiện nữ thiên! Trưởng giả lúc ấy có vợ tên là Thủy Không Long Tạng, sinh hai người con. Người con thứ nhất tên là Thủy Không, người con thứ hai tên là Thủy Tạng. Khi ấy trưởng giả dẫn hai người con chu du khắp nơi, đi từ thành thị cho đến thôn quê. Sau cùng đi đến một cái đầm lớn, giữa khoảng đồng rộng, trưởng giả thấy các thú vật nào là cọp, beo, chồn, chó, chim, quạ… phần nhiều là những loài thú ăn thịt, vừa thấy bóng người thì những thú ấy kéo nhau bỏ chạy. Lúc ấy trưởng giả nghĩ rằng tại sao những cầm thú này kéo chạy như vậy? Ta hãy đuổi theo để xem chúng làm gì cho biết. Nghĩ như vậy rồi, trưởng giả đuổi theo, đi một lúc thì thấy có một cái ao, trong ao nước cạn. Trưởng giả thấy cá giẫy giụa trong vũng nước cạn, sinh lòng thương xót. Bấy giờ, có vị Thọ thần thị hiện nửa thân mình nói rằng:

–Lành thay! Lành thay! Đại thiện nam! Những con cá này thật đáng thương lắm. Ông nên cho nước để cứu chúng đi. Chính tên ông là trưởng giả Lưu Thủy, có hai lý do mà ông được mang tên là Lưu Thủy. Những gì là hai?

  1. Thường hay khai thông dòng nước.
  2. Cho nươc để cứu chúng sinh.

Vậy ông nay nên theo cái tên ấy để mà xác định cái hạnh chân thật.

Lúc ấy trưởng giả hỏi vị Thọ thần: “Số cá này được chừng độ bao nhiêu?” Thọ thần đáp rằng: “Số ấy mười ngàn.”

–Này Thiện nữ thiên! Lúc bấy giờ ông Lưu Thủy nghe nói số lượng như thế lại càng thương tâm.

Này Thiện nữ thiên! Lúc ấy gặp trời nắng gắt gao, mà nước trong ao lại còn quá ít nên mười ngàn cá ấy sắp bị chết, giẫy giụa trong vũng nước. Khi thấy trưởng giả trên bờ nhìn xuống thì cả bầy đều hướng về phía ông và như tỏ lòng thiết tha cầu cứu nên cứ chăm chú về phía trưởng giả nhìn mãi không thôi.

Bấy giờ, trưởng giả chạy quanh tìm nước nhưng tìm không có. Lại trông đằng xa thấy cây đại thọ liền chạy đến đó, bẻ lấy nhánh lá đem trở lại che cho bầy cá ấy đỡ bớt nóng bức, rồi lại đi tìm dòng nước trước giờ phát xuất từ đâu. Đi khắp bốn phương nhưng không tìm ra được chỗ có nước. Càng đi xa hơn, tìm đến một nơi, bỗng thấy con sông tên là Thủy sinh. Lúc ấy lại có những người ác khác, vì muốn bắt đàn cá đó nên ở vùng thượng lưu, lựa chỗ hiểm yếu phá vỡ bờ đê không cho nước xuống. Trưởng giả nghĩ, chỗ đê bị phá hiểm trở khó đắp, dự tính đắp lại mất chín mươi ngày, trăm ngàn dân công vẫn không thể thành huống một mình ta.

Bấy giờ, trưởng giả liền chạy trở về, đến chỗ Đại vương, cung kính lễ bái, lui đứng một bên, chắp tay thưa vua và trình bày sự việc như thế này: “Tôi là người dân trong nước Đại vương, đi khắp đó đây chữa các thứ bệnh giúp cho đồng bào, đến vùng nọ, bỗng thấy một cái ao có mười ngàn cá, nước quá khô cạn vì trời nắng gắt, hiện bị khốn ách, không lâu nữa đàn cá sẽ chết. Xin Đại vương vui lòng cho mượn hai ngàn thớt voi, để đi chở nước cứu số cá ấy. Cũng như tôi đã từng cứu chữa các kẻ bệnh nhân.”

Lúc ấy, Đại vương liền sắc một vị Đại thần mau mau đem voi cung cấp. Đại thần vâng theo sắc lệnh của vua, nói với trưởng giả: “Hay thay! Đại sĩ! Bây giờ Ngài có thể tự tiện đi đến chuồng voi, tùy ý chọn lấy để làm những việc lợi ích chúng sinh cho được mãn nguyện.”

Bấy giờ trưởng giả và hai con đem hai mươi thớt voi đến nhà những người ở chung quanh thành, tìm mượn đồ chứa nước, liền đi đến sông, gần chỗ bờ đê, lấy nước nhanh chóng cho voi chở về đến chỗ ao kia. Những đồ chứa nước từ trên lưng voi lần lượt hạ xuống, đổ vào trong ao đầy lại như xưa. Khi ấy trưởng giả đi quanh trên bờ, thong thả, nhẹ nhàng. Bầy cá ấy cũng sung sướng bơi theo chung quanh bờ ao. Trưởng giả lại nghĩ, những bầy cá này tại sao lại cứ bơi đi theo ta? Chắc chúng bị đói nên muốn đòi ăn, thôi để ta sẽ tìm thức ăn cho.

Này Thiện nữ thiên! Bấy giờ Lưu Thủy bảo con ông rằng: “Con đem một thớt voi lớn mạnh nhất về nhà và thưa với ông nội rằng, trong nhà có những thứ gì ăn được, kể cả phần ăn của cha, mẹ cho đến phần của vợ con, tôi tớ, dồn hết tất cả, bỏ lên lưng voi, rồi con chở nhanh ra đây.”

Khi ấy hai con nghe lời cha dạy, cỡi thớt voi lớn về nhà, y theo những lời nói trên thưa với ông nội. Rồi hai người con thâu lấy vật thực, chở gấp ra ao.

Khi Trưởng giả thấy hai con trở lại hết sức vui mừng, vội đến bên con mở lấy vật thực tung vãi xuống ao. Cho cá ăn xong, ông liền tự nghĩ: “Ta nay đã cho số cá này ăn no đủ rồi thì đời sau ta sẽ bố thí pháp thực.”

Ông lại nghĩ rằng: Trước ta từng nghe một vị Tỳ-kheo ở chỗ thanh vắng, đọc tụng kinh điển Đại thừa Phương đẳng, trong kinh nói rằng: “Nếu có chúng sinh trong lúc lâm chung được nghe danh hiệu Bảo Thắng Như Lai, liền sinh cõi trời.” Ta nay sẽ vì mười ngàn cá này, nói pháp mười hai nhân duyên sâu xa và xưng danh hiệu Đức Phật Bảo Thắng.

Bấy giờ ở cõi Nam Diêm-phù-đề có hai hạng người, một hạng thâm tín Đại thừa Phương đẳng, hạng thứ hai lại thường hủy báng, không sinh lòng tin nên trưởng giả nghĩ, ta sẽ lặn vào trong ao nước, vì số cá này nói pháp thâm diệu, suy nghĩ như thế rồi liền lặn xuống ao nói như thế này: “Nam-mô quá khứ Bảo Thắng Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.” Bảo Thắng Như Lai thuở xưa trong khi tu hạnh Bồ-tát, thệ nguyện rằng: “Nếu có chúng sinh nào ở mười phương cõi, đến lúc lâm chung nghe danh hiệu ta, sẽ khiến chúng ấy sau khi mạng chung, liền sinh cõi trời thứ ba mươi ba.” Rồi thì Trưởng giả lại vì số cá ấy giải nói pháp thậm thâm vi diệu mười hai nhân duyên: “Vô minh duyên hành, rồi hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc tiếp tục duyên đến lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc lại duyên thọ, thọ lại duyên ái, ái lại duyên thủ, thủ duyên đến hữu, hữu lại duyên sinh, sinh duyên lão tử, ưu bi khổ não.”

Này Thiện nữ thiên! Lúc ấy Lưu Thủy và hai người con thuyết pháp xong rồi liền trở về nhà. Sau đó nhà ông khách khứa tụ hội, ăn uống nhộn nhịp, mỏi mệt ngủ say. Đêm ấy trời đất bỗng nhiên rúng động, mười ngàn con cá cùng mạng chung một ngày. Những con cá ấy sau khi mạng chung sinh lên cõi trời và thành mười ngàn vị Thiên tử, những vị Thiên tử ấy cùng nghĩ rằng: “Chúng ta do những nhân duyên thiện nghiệp gì mà được sinh cõi Đao-lợi này?”

Các vị Thiên tử ấy lại bảo nhau: “Chúng ta trước kia ở cõi Diêm-phù, đọa loài súc sinh, bị làm thân cá. Nhờ có Trưởng giả Lưu Thủy cho nước và cho đồ ăn, lại còn vì chúng ta thuyết pháp mười hai nhân duyên sâu xa và xưng danh hiệu Bảo Thắng Như Lai. Do nhân duyên ấy nên khiến chúng ta được sinh lên cõi trời Đao-lợi này. Vậy nên chúng ta nay phải đến chỗ Trưởng giả cúng dường để báo ân xưa.”

Bấy giờ, mười ngàn vị Thiên tử từ cung trời Đao-lợi xuống cõi Diêm-phù, đến nhà thầy thuốc Trưởng giả Lưu Thủy. Khi ấy Trưởng giả đang ngủ trên lầu. Mười ngàn Thiên tử đem mười ngàn chuỗi ngọc trân châu và chuỗi ngọc anh lạc óng ánh đẹp đẽ của cõi trời để trên đầu Trưởng giả, rồi lấy mười ngàn để ở dưới chân, mười ngàn chuỗi để bên tay phải và mười ngàn chuỗi khác để bên tay trái. Lại rải rất nhiều hoa Mạn-đà-la, Đại Mạn-đà-la ngập đầy đến gối, tấu các nhạc Trời, âm thanh nhiệm mầu. Trong cõi Diêm-phù có kẻ nào ngủ cũng phải thức dậy. Mười ngàn Thiên tử ở trên hư không, bay đi qua lại. Trong nước của vua Thiên Tự Tại Quang chỗ nào cũng có rải hoa sen đẹp trên cõi trời. Các vị Thiên tử ấy lại đi đến chỗ ao trước kia rải hoa, xong rồi ở đó biến về cung trời Đao-lợi, tùy ý tự tại hưởng thọ khoái lạc ở trên cõi ấy.

Ở tại Diêm-phù, sáng hôm sau vua Thiên Tự Tại Quang hỏi các Đại thần: “Đêm qua duyên gì hiện ra điềm lạ, sáng rực khắp cả hư không như vậy?” Đại thần đáp rằng: “Tâu Đại vương hay! Các vị Thiên tử cung trời Đao-lợi đã đến nhà ông Trưởng giả Lưu Thủy để bốn mươi ngàn trân châu, anh lạc và rải các thứ hoa Mạn-đà-la không thể xiết kể.” Nhà vua liền bảo vị Đại thần rằng: “Khanh nên đi đến nhà của Trưởng giả, khéo léo thăm hỏi và mời ông ấy đến đây cho ta.”

Đại thần nghe lệnh, liền đi đến nhà Trưởng giả Lưu Thủy nói những điều vua đã chỉ dạy và mời Trưởng giả đến để cho vua gặp.

Khi đó Trưởng giả liền đến chỗ vua. Vua hỏi Trưởng giả: “Vì nhân duyên gì hiện điềm như vậy?” Trưởng giả đáp rằng: “Tôi biết chắc là mười ngàn con cá đã chết cả rồi.”

Nhà vua bảo rằng: “Bây giờ, có thể cho người điều tra hỏi thử sự thật thế nào?”

Trưởng giả Lưu Thủy liền sai con ông đến chỗ ao kia, xem đàn cá chết sống thế nào.

Bấy giờ, người con nghe lời cha dạy, đến chỗ ao kia. Khi đến nơi thấy trong ao có nhiều hoa Man-đà-la chất dồn thành đống. Cá ở trong ao đều chết hết cả. Xem xong liền về thưa với người cha: “Những con cá ấy đều đã chết thật cả rồi.”

Bây giờ Lưu Thủy biết rõ sự thật, liền đến chỗ vua thưa với vua rằng: “Mười ngàn cá ấy đều đã chết cả.” Vua nghe như thế sinh tâm vui vẻ.

Bây giờ, Thế Tôn bảo cùng thần cây Đạo tràng Bồ-đề:

–Này Thiện nữ thiên! Trưởng giả Lưu Thủy lúc ấy chính là thân ta đây. Trưởng giả Thủy Không nay là La-hầu-la, thứ tử Thủy Tạng nay là A-nan, mười ngàn con cá trong ao lúc ấy nay là mười ngàn vị Thiên tử này. Nên nay ta vì các vị ấy mà thọ ký sẽ thành Chánh đẳng Chánh giác. Còn vị thọ thần hiện nửa thân xưa, nay là thân ngươi.

 

Phẩm 17: XẢ THÂN

Bây giờ, thần cây Đạo tràng Bồ-đề lại bạch:

–Kính bạch Thế Tôn! Con nghe Thế Tôn về thuở quá khứ tu đạo Bồ-tát, chịu đủ trăm ngàn khổ hạnh không lường, bỏ cả thân mạng, máu thịt xương tủy. Xin nguyện Thế Tôn vì sự lợi ích an lạc chúng sinh nói những nhân duyên khổ hạnh xưa kia.

Bấy giờ, Thế Tôn liền hiện thần túc. Vì do thần túc khiến cả đại địa sáu cách chấn động. Tại đại giảng đường ở giữa chúng hội, có tháp bảy báu từ đất hiện lên. Các thứ bảy báu bủa giăng trang nghiêm. Lúc ấy, đại chúng thấy vậy nên sinh tâm hoan hỷ cho là hy hữu. Thế Tôn liền từ pháp tòa đứng đậy cung kính lễ bái, nhiễu quanh tháp ấy, xong rồi trở lại pháp tòa an tọa.

Khi ấy thần cây Đạo tràng Bồ-đề bạch Đức Phật:

–Kính bạch Thế Tôn! Như Lai là Bậc Thế Hùng xuất hiện ở đời thường được tất cả cung kính. Đối các chúng sinh, Phật là một Đấng Tối Tôn, Tối Thắng nhưng vì lẽ nào lễ bái tháp này?

Phật liền bảo:

–Này Thiên nữ Thiên! Thuở xưa khi ta tu đạo Bồ-tát, xá-lợi thân ta để nơi tháp này. Vì do thân ấy khiến ta sớm thành Chánh đẳng Chánh giác.

Bấy giờ, Phật bảo Tôn giả A-nan:

–Ông có thể mở tháp, lấy xá-lợi ra cho đại chúng xem. Xá-lợi ấy chính là vô lượng công đức đã huân tập của sáu Ba-la-mật.

A-nan nghe lời Phật bảo thế rồi, liền đến chỗ tháp, lễ bái cúng dường mở cửa tháp ấy, thấy ở trong tháp có hộp bảy báu. Mở hộp ra xem, trông thấy xá-lợi màu hồng trắng đẹp, liền bạch:

–Kính bạch Thế Tôn! Xá-lợi trong đây sắc hồng trắng đẹp.

Phật bảo A-nan:

–Ông hãy đem lại đây, đó là chân thân Đại sĩ.

Khi ấy A-nan liền bưng hộp báu đem đến chỗ Phật, dâng lên Thế Tôn.

Bấy giờ, Phật bảo tất cả đại chúng:

–Các người nay nên lễ xá-lợi này. Xá-lợi đó là do Giới, Định, Tuệ huân tu kết thành, là thứ phước điền tối thượng rất khó có thể có được.

Bấy giờ, đại chúng nghe Phật dạy thế tâm hồn vui vẻ, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, cùng chắp tay kính lễ xá-lợi Đại sĩ. Khi đó Thế Tôn vì muốn dứt trừ sự nghi ngờ của đại chúng nên nói nhân duyên xa xưa của xá-lợi này:

–Này ông A-nan! Ở đời quá khứ có vua tên là Ma-ha La-đà tu hành thiện pháp, khéo trị nước, không có thù địch. Vua ấy sinh được ba người con trai dung nhan đoan chánh, tướng mạo khác thường, oai đức bậc nhất. Thái tử thứ nhất tên là Ma-ha Ba-na-la, vị thứ tên là Ma-ha Đề-bà, vị nhỏ tên là Ma-ha Tát-đỏa. Ba vị vương tử này đi du ngoạn trong các khu rừng, lần lượt đi đến một rừng trúc lớn, xe giá dừng nghỉ. Vương tử thứ nhất nói với hai em: “Anh nay trong lòng có phần lo sợ, không biết ở trong rừng này sẽ có bị những điều gì suy tổn hay chăng?” Vương tử thứ hai lại nói rằng: “Em nay không hề tiếc thân mạng mình, nhưng vì xa lìa tình thân ái nên có sự lo buồn.”

Vương tử thứ ba lại nói rằng: “Em nay không sợ cũng không lo buồn. Vì chốn núi rừng vắng vẻ, thanh tịnh. Thần, Tiên khen ngợi là chỗ an nhàn, có thể làm cho những người tu hành được phần an lạc.”

Các vị Vương tử bàn luận vơi nhau như thế rồi lại tiếp tục lên đường. Bỗng chốc gặp một con cọp vừa mới sinh độ bảy ngày, bảy con cọp con nằm vây xung quanh, đã qua đói khát, thân thể ốm yếu, gần muốn tuyệt mạng. Vương tử thứ nhất thấy thế liền nói: “Lạ thay! Cọp này sinh bảy ngày rồi, có bảy con bao vây xung quanh, không thể đi tìm các món ăn được, nếu bị đói khát bức bách chắc là trở lại ăn thịt các con.” Vương tử thứ ba hỏi: “Cọp ấy thường ăn vật gì?” Vương tử thứ nhất đáp: “Cọp ấy thường ngày chỉ ăn máu thịt tươi nóng.” Vương tử thứ ba hỏi: “Chúng ta ai là người có thể cho cọp này ăn?” Vương tử thứ hai nói: “Cọp này đói khát thân thể ốm yếu, quá sức ngặt nghèo, sống chắc không được bao lâu nữa. Ta không thể tìm đồ ăn cho nó. Nếu có đi tìm đồ ăn đến đây thì cũng không thể cứu sống kịp được. Ai là người có thể không tiếc thân mạng hy sinh cứu sống nó đi.” Vị thứ nhất nói: “Tất cả những việc khó bỏ không gì hơn thân mạng.” Vị thứ hai nói: “Chúng ta nay tham tiếc thân mạng, nên với thân này không thể buông bỏ. Vì kém trí tuệ nên với việc này mà sinh sợ hãi. Nếu bậc Đại sĩ, vì muốn lợi ích kẻ khác cho nên sinh tâm đại Bi, vì chúng sinh mà xả bỏ thân mạng là việc dễ dàng.”

Khi ấy các vị vương tử lo buồn, đứng xem hồi lâu, rồi dắt nhau đi. Bấy giờ vương tử thứ ba nghĩ rằng: “Nay là đúng lúc ta nên xả thân. Vì sao? Vì từ xưa nay ta đã bỏ biết bao thân mạng như thế này rồi, nhưng hoàn toàn không được lợi ích gì và cũng đã từng yêu quý thân này, bảo vệ thân này, lại còn cung cấp nào là nhà, cửa, đồ ăn, đồ nằm, y phục, thuốc men, voi ngựa, xe cộ, tùy thời nuôi dưỡng không cho thiếu thốn, nhưng lại còn sinh nhiều điều oán hại, không tránh khỏi sự vô thường bại hoại. Lại nữa, thân này không có chắc thật, không có ích lợi, thật là ích kỷ, không khác kẻ giặc, cũng như nhà xí. Ta nay phải dùng thân này tạo nghiệp vô thượng, làm cầu vĩ đại qua biển sinh tử. Hơn nữa bỏ được thân này là bỏ vô lượng ung thư tật bệnh, trăm ngàn thứ sợ sệt. Thân này chỉ có đại, tiểu tiện. Thân này không chắc thật, như bọt nước. Thân này không thanh tịnh, là chỗ ở của các thứ vi trùng. Thân này khả ố, gân mạch chằng chịt dẫn các đường máu, da xương tủy não nương giữ lấy nhau. Quán sát như thế rất đáng nhàm chán. Vậy nên ta nay cần phải xả bỏ thân này để cầu đạo quả tịch diệt Niết-bàn vô thượng, vĩnh viễn xa lìa lo buồn bệnh hoạn, vô thường biến đổi, dứt sự sinh tử, không còn trần lụy. Vô lượng thiền định, trí tuệ, công đức đầy đủ, thành tựu Pháp thân vi diệu, trăm phước trang nghiêm, chư Phật khen ngợi. Chứng được Pháp thân vô thượng như vậy, ban cho các chúng sinh vô lượng pháp lạc.”

Khi ấy Vương tử dũng mãnh chịu đựng, phát đại thệ nguyện dùng tâm đại Bi huân tu nói trên, nhưng sợ hai anh sinh lòng lo sợ cản ngăn, hoặc gây trở ngại, nên bảo: “Các anh hãy cùng với tùy tùng đi lại chỗ nghỉ.” Khi ấy vương tử Ma-ha Tát-đỏa đi đến chỗ cọp, cởi bỏ quần áo để trên cành trúc và thệ nguyện rằng: “Ta nay vì sự lợi ích chúng sinh và để chứng được đạo quả vô thượng, vì lòng đại Bi bao la bất động, xả bỏ những viêc rất khó xả bỏ. Vì cầu trí giác mà chư Bồ-tát từng hay tán thán, muốn độ chúng sinh trong khắp ba cõi thoát khỏi mọi sự sinh tử sợ sệt, khổ não nóng bức.”

Khi Vương tử thề như thế rồi liền tự phóng mình vào trước chỗ cọp đói. Khi ấy, do vì sức đại Bi của Vương tử nên cọp không làm gì được. Vương tử lại nghĩ: “Cọp nay ốm yếu, thân không đủ sức, không thể làm sao ăn được thân ta.” Vương tử liền đứng dậy đi tìm dao, tìm khắp không có nên lấy miếng tre đâm cổ chảy máu, ở trên đồi cao gieo mình trước cọp.

Lúc ấy đại địa chấn động sáu cách, mặt trời tối tăm, không còn sức sáng, như bị A-tu-la vương ngăn che, lại mưa các thứ hoa, hương quý lạ và trong hư không có các Thiên nhân thấy việc ấy nên sinh tâm vui mừng, khen chưa từng có, đồng tán thán rằng: “Hay thay! Hay thay! Đại sĩ Ngài nay thật xứng là người tu hạnh đại Bi. Vì thương chúng sinh nên hay bỏ được việc rất khó bỏ. Ngài là một người mạnh mẽ nhất đời, so với các người hiện đang tu tập. Ngài đã được chư Phật tán thán, ở chỗ thường lạc, không còn nhiệt não, không bao lâu sẽ chứng quả thanh tịnh Niết-bàn an lạc.”

Bấy giờ, cọp thấy thân Vương tử máu chảy liền liếm và xé ăn thịt, chỉ còn để lại tóc, xương, răng, móng

Lúc ấy, Vương tử thứ nhất thấy cả đại địa chấn động, nói với Vương tử thứ hai thế này:

Chấn động đại địa,
Và biển rộng lớn
Mặt rời không sáng
Như có ngăn che,
Ở trên hư không
Rải các hương hoa
Chắc là em ta
Đã bỏ thân mạng

Vương tử thứ hai lại nói kệ:

Cọp kia sinh con
Đã trải bảy ngày
Bảy con vây quanh
Không có thức ăn
Khí lực suy tổn
Chẳng sống bao lâu
Em ta đại Bi,
Biết cọp đói khát,
Em không chịu nổi,
Sợ lại ăn con
Nên đã xả thân
Để cứu mạng cọp?

Khi ấy, hai vị Vương tử hết sức buồn rầu, sợ sệt, khóc lóc, thở than, dung nhan tiều tụy. Lại dắt tay nhau dẫn đến chỗ cọp, thấy áo quần em treo trên cành trúc, hài cốt, tóc móng rơi rớt ngổn ngang, máu chảy lan tràn cả một khoảnh đất. Thấy xong ngất xỉu không thể gượng được, nhào ôm đống xương hồi lâu mới tỉnh, liền đứng dậy ôm đầu, kêu Trời, khóc la than thở: “Em ta còn nhỏ, tài năng hơn người, đặc biệt lại được cha mẹ yêu mến, bỗng nhiên bỏ thân để cho cọp đói! Ta nay về cung nếu cha mẹ hỏi, sẽ đáp làm sao! Thà ta ở đây sống chết với nhau chớ không nỡ nào thấy hài cốt này mà bỏ trở về gặp lại cha mẹ, vợ con, quyến thuộc, bạn bè quen biết.”

Hai vị Vương tử buồn than áo não hồi lâu như vậy, rồi lần bỏ đi.

Bấy giờ, những người tùy tùng với vị Vương tử thứ hai, đi lạc tứ tản và tự thầm bảo: “Bây giờ ta đang ở phương nào?”

Bấy giờ Vương phi ở chốn Hoàng cung đang ngủ bỗng nhiên chiêm bao thấy hai vú mình bị cắt, răng bị rụng hết, thấy ba con chim Bồ câu con, một con bị diều bắt xé thịt.

Lúc ấy bỗng nhiên đại địa chấn động, Vương phi giật mình, vừa thức giác dậy, tâm thần hoảng hốt, lo sầu khôn xiết, nói lời kệ rằng:

Ngày nay cớ chi
Đại địa biển lớn
Tất cả chấn động?
Mọi vật không yên
Mặt trời không sáng,
Như bị ngăn che
Lòng ta buồn khổ
Mí mắt nháy hoài
Như ta hôm nay
Mộng thấy điềm tướng
Chắc có tai biến
Khổ não chẳng lành.

Vương phi vừa nói dứt lời thì có người mặc áo xanh ở ngoài đi vào. Vì nghe tin Vương tử bỏ mạng, hoảng hốt sợ sệt, liền chạy vào cung, thưa với Vương phi: “Vừa rồi, có kẻ ở ngoài nghe các thị tùng đi tìm Vương tử, không biết ở đâu?”

Vương phi nghe xong, hết sức buồn bã, hai mắt lệ tràn đọng cả bờ mi, rồi liền vội vàng đến chỗ Đại vương, thưa Đại vương rằng: “Thiếp vừa được nghe có người báo tin mất đứa con út đáng yêu của thiếp rồi Đại vương ơi!” Đại vương nghe xong liền bị ngất xỉu, lo buồn khổ não, vừa khóc vừa than: “Tại sao nay lại bị mất người con mà tâm ta thường yêu mến, quý trọng?”

Bấy giờ, Thế Tôn muốn trùng tuyên nghĩa này, nên nói kệ rằng:

Ta thuở xa xưa
Trong vô lượng kiếp
Bỏ thân quý trọng
Cầu đạo Bồ-đề
Hoặc làm quốc vương
Và làm Vương tử
Bỏ việc khó bỏ
Để cầu đạo giác.
Ta nhớ đời trước
Có đại quốc vương
Vị ấy tên là
Ma-ha La-đà.
Có vị Vương tử
Hay làm bố thí
Tên Vương tử ấy
Ma-ha Tát-đỏa.
Lại có hai anh
Người lớn tên là
Đại Ba-la-na
Anh thứ Đại Thiên
Ba người cùng đi
Đến một khu rừng
Thấy cọp vừa sinh
Đói không có ăn
Một vị Đại sĩ
Sinh tâm đại Bi
Ta nay phải bỏ
Thân quý trọng này
Không thì cọp đây
Vì đói quá ngặt
Có thể trở lại
Ăn lấy thịt con!
Liền lên đồi cao
Gieo mình trước cọp
Vì khiến cọp con
Được toàn tánh mạng
Khi ấy đại địa
Và các núi lớn
Thảy đều chấn động
Trùng thú kinh hoàng
Cọp, beo, sư tử
Sợ chạy tán loạn
Thế gian đều tối
Không có ánh sáng
Lúc ấy hai anh
Ở lại rừng trúc
Buồn rầu than khóc
Ôm lòng sầu khổ
Lần đi tìm kiếm
Đến gần chỗ cọp
Thấy mẹ con cọp
Miệng đều dính máu
Lại thấy hài cốt
Tóc lông răng móng
Máu dính loang lổ
Cùng khắp khoảng đất
Khi hai Vương tử
Thấy viêc ấy rồi
Tâm thần bấn loạn
Nhào lăn xuống đất
Thân hình bê bết
Đầy cả cát bụi
Quên mất chánh niệm
Tâm như cuồng si
Những người theo hầu
Nhìn thấy như vậy
Cũng sinh bi thảm
Kêu khóc thất thanh
Họ lấy nước lạnh
Phun rưới lẫn nhau
Sau đó tỉnh lại,
Mới đứng dậy được
Đương ngay lúc ấy
Vương tử xả thân
Chính lúc hậu cung
Vương phi, thế nữ
Năm trăm quyến thuộc
Cùng nhau vui vẻ.
Khi ấy Vương phi
Hai vú chảy sữa
Tất cả thân thể
Nhức như kim châm
Tâm sinh sầu não
Như mất con yêu
Lúc ấy Vương phi
Liền đến chỗ vua
Buồn rầu rơi lệ
Bày tỏ vua hay
Này Đại vương ơi!
Nghe đây! Nghe đây!
Nay lửa ưu sầu
Như đốt thân thiếp
Hai vú thiếp nay
Chảy sữa cùng lúc
Toàn thân thể đau đớn
Như bị kim châm
Thiếp thấy có điềm
Chẳng lành như thế
E chẳng gặp được
Đứa con yêu quý
Nay đem thân mạng
Dâng lên Đại vương
Xin mau sai người
Tìm kiếm con thiếp
Mộng ba chim câu
Mà thiếp ẫm bồng
Con nhỏ hơn hết
Thiếp rất yêu mến
Lại có chim Ưng
Bay đến cướp đi!
Thấy việc ấy rồi
Liền sinh lo buồn
Thiếp nay sầu khổ
E không toàn mạng
Xin mau sai người
Đi tìm con thiếp
Khi ấy Vương phi
Nói như thế rồi
Liền bị ngất xỉu
Ngã lăn xuống đất
Vua nghe nói thế
Lòng rất đau buồn
Vì không được thấy
Người con mến yêu
Đại thần của vua
Và các quyến thuộc
Đều đến đông đủ
Ở hai bên vua
Buồn khóc kêu than
Tiếng vang trời đất
Lúc ấy dân chúng,
Có ở trong thành
Nghe tiếng khóc than
Kinh ngạc chạy đến
Cùng hỏi nhau rằng
Nay Vương tử đó
Còn sống được không
Hay là đã chết?
Như vị Đại sĩ
Ăn nói nhu hòa
Được người kính yêu
Khó có thể gặp.
Đã có nhiều người
Vào rừng tìm kiếm
Chốc lát có tin
Nhất định đã chết
Lúc ấy mọi người
Lo sợ như thế
Rồi lại gào khóc
Chấn động thần đất
Khi ấy Đại vương
Liền đứng dậy đi
Lấy nước rưới Phi
Chốc lát tỉnh lại
Hoàn được chánh niệm
Hỏi nhỏ vua rằng
Con thiếp bây giờ
Còn sống hay chết
Bấy giờ vương phi
Vì nghĩ đến con
Càng thêm áo não
Tâm không rời bỏ
Đứa con đáng yêu
Hình sắc đoan chánh
Tại sao một sớm
Bỏ ta chết đi?
Sao thân ta đây
Chẳng chết cho xong!
Mà thấy các việc
Khổ não như vậy?
Con hiền đẹp đẽ
Giống như hoa sen
Ai hoại thân con
Khiến phải phân ly?
Phải chăng oán thù
Với ta ngày trước
Nghiệp duyên phải trả
Mà giết con ư?
Mặt mày con tôi
Như trăng tròn sáng.
Không may một sớm
Gặp phải họa này
Thà khiến thân tôi
Tan như cát bụi
Chớ làm con tôi
Phải mất thân mạng!
Tôi thấy chiêm bao
Quả là báo ứng
Vô tình tôi nay
Chịu lấy họa này
Như tôi chiêm bao
Thấy răng rụng hết
Hai vú đồng thời
Sữa tự chảy ra
Chắc chắn là tôi
Bị mất con cưng
Thấy ba chim câu
Diều bắt đi một
Trong ba đứa con
Bị mất đi một
Bấy giờ Đại vương
Liền bảo Vương phi
Để trẫm sẽ sai
Đại thần sứ giả
Đi khắp mọi nơi
Tìm kiếm các con
Thôi người chớ có
Ưu sầu lo lắng
Đại vương an ủi
Vương phi như thế
Lập tức xe giá,
Ra khỏi vương cung
Tâm sinh sầu não
Hết sức buồn khổ
Tuy giữa đám đông
Nhan mạo tiều tụy
Liền ra khỏi thành,
Tìm kiếm con yêu
Lúc ấy cũng có,
Mọi người đông đảo
Buồn than vang động.
Đi theo sau vua.
Khi ấy Đại vương
Đã ra khỏi thành
Ngắm nhìn bốn phía,
Tìm kiếm các con
Tâm thần phiền loạn
Chẳng biết ở đâu,
Sau cùng xa thấy
Người đem tin đến
Đầu tóc bụi bặm
Áo quần đầy máu,
Phân tro đầy mình,
Vừa đến khóc than.
Lúc ấy Đại vương
Ma-ha La-đà
Thấy sứ giả đó,
Càng sinh áo não
Ôm đầu kêu gào
Ngửa mặt khóc than.
Người sai đi tìm
Nay đã trở lại
Đi đến chỗ vua,
Tâu với vua rằng:
Xin vua chớ buồn
Các con vẫn còn,
Chốc lát về đến
Vua được thấy mặt.
Trong khoảng chốc lát
Có vị thần đến
Thấy vua sầu khổ
Nhan mạo tiều tụy
Y phục trên thân
Bụi bặm nhơ nhớp
Thưa Đại vương hay
Đã chết một vị
Tuy còn hai vị,
Khốn khổ tiều tụy
Vương tử thứ ba
Thấy cọp mới sinh
Bị đói bảy ngày,
E ăn thịt con
Thấy cọp như vậy,
Sinh tâm đại Bi
Phát đại thệ nguyện
Sẽ độ chúng sinh
Ở đời vị lai
Chứng thành quả Phật
Liền lên đồi cao
Gieo mình trước cọp
Cọp đói lâu ngày,
Liền xé thịt ăn.
Tất cả máu thịt
Ăn hết chẳng còn
Chỉ còn hài cốt
Rơi rớt ngổn ngang.
Khi ấy Đại vương
Nghe vị thần nói
Bỗng liền ngất xỉu,
Ngã xuống hôn mê
Lửa dữ ưu sầu
Thiêu đốt toàn thân.
Quyến thuộc cận thần
Cũng lại như thế
Dùng nước rưới vua
Hồi lâu mới tỉnh.
Đứng dậy ôm đầu
Kêu trời khóc than!
Lại có vị thần
Đến tâu vua rằng:
Ở trong rừng ấy
Thấy hai vương tử
Ưu sầu khổ sở.
Khóc lóc buồn than
Mê man mất trí,
Nhào lăn xuống đất,
Thần liền tìm nước,
Rưới khắp thân mình
Hồi lâu dần dần
Mới tỉnh trở lại.
Nhìn khắp bốn phương
Lửa sầu thiêu đốt
Dìu đỡ đứng dậy
Lại liền ngã quỵ
Ôm đầu than vãn
Kêu trời mà khóc
Vừa lại tán thán
Công đức người em
Khi ấy Đại vương,
Vì mất con yêu
Tâm thần bấn loạn,
Khí lực tổn hao,
Khóc than áo não,
Và lại suy nghĩ
Đứa con nhỏ nhất
Ta rất thương yêu
Quỷ lớn vô thường
Liền lén bắt ăn
Hai đứa con kia
Tuy nay vẫn còn
Mà bị lửa phiền
Dày vò đốt cháy
Có thể vì vậy,
Đến nỗi bỏ mạng.
Ta phải mau đến
Đi vào rừng kia
Đón các con về
Cung điện của ta
Kẻo để mẹ chúng
Quá sức ưu phiền.
Như xé tim gan
E phải bỏ mạng.
Nếu thấy hai con
Được phần an ủi
Giữ gìn thân tâm,
Mong được toàn mạng
Khi ấy Đại vương
Thắng xe voi tốt,
Cùng các tùy tùng
Đi đến rừng kia.
Vừa đi nửa đường
Trông thấy hai con
Kêu trời trách đất
Kêu tên người em,
Nhà vua liền đến
Ôm lấy hai con
Khóc lóc kêu than
Lần hồi về cung
Thúc bảo hai con
Mau hầu thăm mẹ.
Phật bảo Thọ thần
Người nay nên biết
Ma-ha Tát-đỏa
Vương tử xả thân
Cứu cọp lúc ấy
Nay là thân ta
Đại vương lúc ấy
Ma-ha La-đà
Nay là phụ vương
Còn Thâu-đầu-đàn
Vương phi lúc ấy
Nay là Ma-da
Vương tử thứ nhất
Nay là Di-lặc
Vương tử thứ hai
Nay là Điều-đạt.
Bấy giờ cọp mẹ
Là Kiều-đàm-di
Bảy con cọp con
Năm vị Tỳ-kheo
Là Xá-lợi-phất,
Và Mục-kiền-liên.

Bấy giờ, Đại vương Ma-ha La-đà và các vương phi buồn khóc thảm thiết, ai nấy đều cởi chuỗi ngọc anh lạc trên thân đưa cho mọi người, đi vào rừng trúc thâu lấy xá-lợi và xây ngay chỗ đó ngôi tháp bằng bảy báu.

Vương tử Ma-ha Tát-đỏa bấy giờ, khi sắp xả thân có thệ nguyện rằng: “Nguyện xá-lợi tôi ở đời vị lai trải qua nhiều kiếp, thường vì chúng sinh mà làm Phật sự.”

Thọ thần Nữ Thiên, ấy là nhân duyên xa xưa mà ta phải lễ tháp.

Lúc bấy giờ vì thần lực của Phật nên tháp bảy báu ấy liền biến mất.

Khi Phật nói kinh này, vô lượng, vô số chư Thiên và loài người phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

 

Phẩm 18: TÁN PHẬT

Lúc bấy giờ, có vô lượng trăm ngàn vạn ức chúng Bồ-tát, từ thế giới này đi đến cõi nước của Đức Kim Bảo Cái Sơn Như Lai. Khi đến nơi rồi, toàn thân rạp xuống đất làm lễ Đức Phật và lui đứng một bên, chắp tay hướng về phía Phật. Tất cả đồng thanh nói lời tán thán:

Thân của Như Lai
Sắc vàng vi diệu
Ánh sáng rực rỡ
Như núi vàng lớn.
Thân thể dịu dàng
Như hoa sen vàng
Vô lượng tướng tốt
Tự trang nghiêm thân.
Nét đẹp theo hình
Thân hình thanh tịnh
Sáng suốt vô ngần
Như núi vàng ròng,
Trong sạch không dơ
Như vừng trăng sáng
Tiếng nói rỗng rang
Như tiếng Phạm Thiên,
Như tiếng Sư tử
Như tiếng sấm vang
Sáu thứ thanh tịnh
Âm thanh vi diệu.
Ca-lăng-tần-già
Tiếng chim Khổng tước
Thanh tịnh vô cấu
Oai đức đầy đủ,
Trăm phước tướng hảo
Trang nghiêm thân Phật
Ánh sáng chiếu xa
Không có giới hạn.
Trí tuệ vắng lặng
Không còn ái nhiễm
Thế Tôn thành tựu
Vô lượng công đức.
Ví như biển lớn
Núi báu Tu-di
Vì các chúng sinh
Sinh tâm thương xót.
Ở đời vị lai
Ban cho an lạc
Lời Như Lai nói
Nghĩa sâu đệ nhất.
Khiến cho chúng sinh
Vắng lặng an ổn
Ban cho chúng sinh
Vô lượng vui sướng.
Giảng diễn diệu pháp
Cam lồ vô thượng
Rộng mở pháp môn
Cam lồ vô thượng,
Vào khắp tất cả
Nhà cửa an vui
Khiến cho chúng sinh
Đều được giải thoát.
Qua khỏi vô lượng
Biển khổ ba cõi
An trú chánh đạo
Không còn lo khổ.
Như Lai Thế Tôn
Công đức trí tuệ
Lực đại Từ bi
Tinh tấn, phương tiện,
Vô lượng như vậy
Không thể tính kể
Chúng con ngày nay
Không thể nói hết.
Chư Thiên, loài người
Ở vô lượng kiếp
Hết sức nghĩ lường
Không thể biết được.
Như Lai đã có
Công đức trí tuệ
Biển lớn vô lượng
Con nay khen ngợi.
Công đức Như Lai
Như một giọt nhỏ
Trăm ngàn ức phần
Không thể nói một.
Nếu như con được
Góp phần công đức
Hồi hướng chúng sinh
Chứng Vô thượng đạo.

Bấy giờ, Bồ-tát Tín Tướng ở trong pháp hội này liền rời tòa đứng dậy, trịch vai áo phải, quỳ gối sát đất, chắp tay hướng Phật mà tán thán rằng:

Thế Tôn trăm phước
Tướng hảo nhiệm mầu
Công đức cao sâu
Trang nghiêm thân thể.
Thân tịnh chiếu xa
Nhìn hoài không chán
Như mặt trời sáng
Chiếu khắp hư không.
Ánh sáng rực rỡ
Vô lượng, vô biên
Cũng như vô số
Trân bảo chất chồng,
Ánh sáng năm sắc
Xanh, hồng, đỏ, trắng
Như khối lưu ly
Pha lê vàng ròng,
Sáng rực hư không
Thấu đến các núi
Có thể chiếu xa
Vô lượng cõi Phật.
Hay diệt vô lượng
Khổ não chúng sinh
Lại hay ban cho
Niềm vui tuyệt diệu.
Các căn thanh tịnh
Nhiệm mầu bậc nhất
Chúng sinh ưa thấy
Không có nhàm chán,
Tóc xanh mướt, mềm
Như lông Khổng tước
Như các ong chúa
Đậu trên hoa sen.
Thanh tịnh đại Bi
Công đức trang nghiêm
Vô lượng chánh định
Và đức đại Từ.
Công đức như vậy
Đều đã đầy đủ
Tướng tốt đẹp đẽ
Trang nghiêm thân thể,
Tất cả công đức
Giúp thành Chánh giác
Như Lai có thể
Điều phục chúng sinh.
Khiến tâm mềm mỏng
Hưởng thọ vui sướng
Tất cả công đức
Thâm diệu trang nghiêm.
Cũng được mười phương
Chư Phật tán thán
Hào quang chiếu sáng
Khắp cả muôn nơi,
Như ánh mặt trời
Chiếu khắp hư không
Công đức thành tựu
Như núi Tu-di.
Thị hiện khắp cùng
Khắp cả thế giới
Răng trắng kín bằng
Giống như ngọc tuyết,
Đức như mặt trời
Chiếu sáng trên không
Hào tướng giữa mày
Xoáy vòng bên phải,
Ánh sáng chói ngời
Như ngọc lưu ly
Thân tướng vi diệu
Sáng như mặt trời.

Lúc ấy thần cây Đạo tràng Bồ-đề lại tán thán:

Nam-mô Thanh tịnh
Vô lượng Chánh giác
Pháp mầu sâu xa
Tùy thuận biết hết.
Xa lìa tất cả
Phi đạo, phi pháp
Tự vượt ra khỏi
Thành Phật Chánh giác.
Biết hữu, Phi hữu
Bản tánh thanh tịnh
Hy hữu! Hy hữu!
Công Đức Như Lai.
Hy hữu! Hy hữu!
Biển lớn Như Lai
Hy hữu! Hy hữu!
Như núi Tu-di.
Hy hữu! Hy hữu!
Hạnh Phật vô biên
Hy hữu! Hy hữu!
Đức Phật ra đời.
Như hoa Ưu-đàm
Một lần xuất hiện
Hy hữu! Như Lai
Vô lượng đại Bi.
Thích-ca Mâu-ni
Mặt trời giữa người
Vì muốn ích lợi
Cho các chúng sinh.
Nên thuyết tôn kinh
Nhiệm mầu như vậy
Hay thay! Như Lai
Các căn vắng lặng
Mà lại đi vào
Thành lớn thiện tịch.
Vô cấu thanh tịnh
Tam-muội sâu xa
Vào chỗ chư Phật
Đã từng tu hành.
Tất cả Thanh văn
Thân đều vắng lặng
Đấng Lưỡng Túc Tôn
Hành xứ cũng không.
Tất cả các pháp
Vô lượng như thế
Suy thấu tánh tướng
Cũng đều vắng lặng.
Tất cả chúng sinh
Tánh tướng cũng không
Vì tâm cuồng ngu
Không thể biết rõ.
Con thường niêm Phật
Ưa thấy Thế Tôn
Lại thường thệ nguyện
Không xa Đức Phật
Thường ở dưới đất,
Quỳ thẳng chắp tay
Hết lòng luyến mộ
Muốn thấy Đức Phật
Con thường tu hành,
Tối thượng Đại bi,
Buồn khóc rơi lệ,
Muốn được thấy Phật,
Con thường khát ngưỡng
Muốn được thấy Phật
Vì lẽ ấy nên
Lửa lo thiêu đốt
Cúi xin Thế Tôn
Ban cho Từ bi,
Nước Pháp trong mát
Để diệt lửa phiền,
Thế Tôn từ mẫn
Bi tâm vô biên
Xin khiến cho con
Thường được thấy Phật.
Thế Tôn thường hộ
Tất cả trời, người
Thế nên con nay
Khát ngưỡng muốn thấy
Thân của Thanh văn
Giống như hư không,
Nắng, huyễn, vang, hóa
Như trăng trong nước.
Tánh của chúng sinh
Như trong giấc mộng
Như Lai hành xứ
Tịnh như lưu ly
Vào nơi pháp xứ
Cam lồ vô thượng.
Hay ban chúng sinh
Vô lượng an lạc
Hành xứ Như Lai
Nhiệm mầu sâu xa
Tất cả chúng sinh
Không thể biết được
Thần Tiên ngũ thông
Và các Thanh văn,
Tất cả Duyên giác
Cũng không thể biết.
Con nay không nghi
Việc làm của Phật
Xin nguyện Như Lai
Vì con hiện thân
Khi ấy Thế Tôn
Từ Tam-muội khởi,
Dùng tiếng nhiệm mầu
Mà tán thán rằng:
Lành thay! Lành thay!
Thần cây Thiện nữ!
Ngươi hôm nay đây
Thích nói như vậy
Tất cả chúng sinh
Nếu nghe pháp này,
Đều nhập pháp môn
Cam lồ Vô sinh.

 

Phẩm 19: CHÚC LỤY

Bấy giờ, Đức Phật Thích-ca Mâu-ni từ chánh định khởi, hiện đại thần lực, đưa cánh tay phải, xoa đầu các vị Đại Bồ-tát và các vị Thiên vương, cùng các Long vương, hai mươi tám bộ quỷ thần Tán Chỉ, các đại tướng quân mà bảo lời rằng:

–Ta ở vô lượng trăm ngàn vạn ức hằng hà sa kiếp tu tập theo kinh điển nhiệm mầu Kim Quang Minh này. Các vị cần phải thọ trì, đọc tụng, ở cõi Diêm-phù truyền bá rộng rãi pháp mầu nhiệm này, chớ để đoạn tuyệt. Nếu có những vị thiện nam hoặc thiện nữ nào ở đời vị lai thọ trì, đọc tụng kinh điển này thì chư Thiên các vị cần phải ủng hộ. Nên biết người đó vô lượng đời sau thường được hạnh phúc trong cõi trời, người và sẽ gặp được mười phương chư Phật, mau được chứng thành Chánh đẳng Chánh giác.

Khi ấy các vị Đại Bồ-tát và chư Thiên, Long vương, Đại tướng Tán Chỉ, hai mươi tám bộ liền từ chỗ ngồi đứng dậy đi đến phía trước Đức Phật đảnh lễ sát đất, đồng thanh thưa rằng:

–Như Thế Tôn dạy, chúng con xin phụng hành đầy đủ! (Thưa ba lần như thế: “Như lời Thế Tôn dạy chúng con đều xin phụng hành đầy đủ.”)

Bấy giờ, các vị Đại tướng Tán Chỉ đồng bạch:

–Như lời Thế Tôn dạy, nếu đời vị lai có người nào thường thọ trì kinh này, hoặc tự viết chép, hoặc bảo người chép, chúng con cùng với hai mươi tám bộ các vị quỷ thần thường phải theo hầu, ẩn hình ủng hộ người thuyết pháp này, khiến họ tiêu trừ các điều tai ác, được sự an lạc, không còn lo ngại.

Khi ấy, Đức Phật Thích-ca Mâu-ni hiện đại thần lực, mười phương vô lượng thế giới thảy đều chấn động sáu cách. Lúc ấy chư Phật đều rất vui vẻ, vì sự phó chúc kinh này đồng thời khen người tu trì đúng theo pháp môn, cho nên hiện ra vô lượng thần lực.

Bấy giờ, vô lượng, vô biên vô số chúng Bồ-tát và Bồ-tát Tín Tướng, Kim Quang, Kim Tạng, Thường Bi, Pháp Thượng … Tứ Đại Thiên vương, mười ngàn Thiên tử cùng với thần cây Đạo tràng Bồđề, địa thần Kiên Lao và tất cả thế gian Thiên, Nhân, Tu la nghe lời Phật dạy đều phát đạo tâm Vô thượng Bồ-đề, vui mừng phấn khởi, đảnh lễ lui ra.

 

Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.