KINH GIẢI THÂM MẬT
Samdhinirmocana Sūtra
解深密經

Thích Pháp Chánh hợp dịch

 

Phẩm 5: Vô tự tính

Lúc ấy, Bồ tát Thắng Nghĩa Sinh bạch Phật: “Bạch đức Thế tôn, có một lúc, con ở một nơi tịch tĩnh, đã từng suy ngẫm như thế này: ‘Bằng vô số phương cách, đức Thế tôn đã giảng dạy về tự tính, đặc tính của khởi và diệt, sự vĩnh viễn đoạn trừ, và sự thấu hiểu toàn diện của các uẩn. Tương tự, đức Thế tôn đã giảng dạy về xứ, duyên khởi, và thực (thức ăn) cũng giống như vậy.

“ ‘Bằng vô số phương cách, đức Thế tôn đã giảng dạy về tự tính, sự thấu hiểu toàn diện, sự vĩnh viễn đoạn trừ, sự tu tập và chứng đắc của các đế.

“ ‘Bằng vô số phương cách, đức Thế tôn đã giảng dạy về tự tính, tính chất đa dạng, tính chất khác biệt, sự vĩnh viễn đoạn trừ, sự thấu hiểu toàn diện của các giới.

“ ‘Bằng vô số phương cách, đức Thế tôn đã giảng dạy về đặc tính của [tứ] niệm trụ, về phương pháp và đối tượng, và sự tu tập chưa sinh khởi khiến cho sinh khởi, đã sinh khởi khiến cho an trụ vững chắc không quên, tu tập khiến cho tăng trưởng rộng lớn.

“ ‘Tương tự, đức Thế tôn cũng đã giảng dạy về tứ chánh cần, tứ thần túc, ngũ căn, ngũ lực, thất giác chi.

“ ‘Bằng vô số phương cách, đức Thế tôn đã giảng dạy về đặc tính của bát chánh đạo, phương pháp và đối tượng, về sự tu tập chưa sinh khởi khiến cho sinh khởi, đã sinh khởi khiến cho an trụ vững chắc, tu tập khiến cho tăng trưởng rộng lớn.

“ ‘Đức Thế tôn cũng giảng dạy tất cả các pháp đều vô tự tính, không sinh, không diệt, xưa nay vốn tịch tĩnh, tự tính vốn là Niết bàn.’

“Con thắc mắc không biết đức Thế tôn có ẩn ý gì khi nói rằng tất cả các pháp đều vô tự tính, không sinh, không diệt, xưa nay vốn tịch tĩnh, tự tính vốn là Niết bàn. Hôm nay con đặt câu hỏi này, ngưỡng mong đức Thế tôn từ bi thương xót giải thích ẩn ý của câu nói vừa nêu trên.”

Đức Phật trả lời: “Hay lắm. Ông đã có thể hỏi ta về một vấn đề thâm sâu như vậy. Ông đặt ra câu hỏi này là vì muốn lợi ích an lạc vô lượng chúng sinh. Hơn nữa, bởi vì ông có lòng từ bi đối với thế gian và hàng trời, người, a tu la, v.v…, và muốn cho họ đạt được nghĩa lợi an lạc, cho nên mới nêu lên câu hỏi này. Ông hãy lắng nghe, ta sẽ giảng rõ ý nghĩa bí mật của câu ‘tất cả các pháp đều vô tự tính, không sinh, không diệt, xưa nay vốn tịch tĩnh, tự tính vốn là Niết bàn.’

“Nên biết, khi ta nói tất cả các pháp đều vô tự tính là muốn ám chỉ ba vô tự tính: tướng vô tự tính, sinh vô tự tính, và thắng nghĩa vô tự tính.

“Tướng vô tự tính của các pháp là gì? Đó là biến kế chấp tính của các pháp. Tại sao? Bởi vì biến kế chấp tính do giả danh thiết lập, chứ không phải do tự tính thiết lập. Cho nên được gọi là tướng vô tự tính.

“Sinh vô tự tính của các pháp là gì? Đó là y tha khởi tính của các pháp. Tại sao? Bởi vì nó duyên vào các nhân duyên khác mà hiện hữu, chứ không phải tự nó hiện hữu. Cho nên được gọi là sinh vô tự tính.

“Thắng nghĩa vô tự tính của các pháp là gì? Các pháp được gọi là vô tự tính bởi vì sinh vô tự tính, nghĩa là các pháp do nhân duyên sinh khởi cũng được gọi là thắng nghĩa vô tự tính. Tại sao? Ta đã hiển thị các pháp, nếu là đối tượng thanh tịnh1 [của sự tu tập], đều là thắng nghĩa vô tự tính. Y tha khởi tính [tuy] không phải là đối tượng thanh tịnh, ta cũng gọi là thắng nghĩa vô tự tính.

“Lại có viên thành thực tính của các pháp cũng được gọi là thắng nghĩa vô tự tính. Tại sao? Bởi vì vô ngã tính của các pháp được gọi là thắng nghĩa, cũng được gọi là vô tự tính. Đây là thắng nghĩa của tất cả các pháp, được hiển thị bởi vô tự tính, và vì những lý do này, nó được gọi là thắng nghĩa vô tự tính.

“Nên biết, tướng vô tự tính giống như hoa đốm hư không. Sinh vô tự tính giống như ảo ảnh, và một phần của thắng nghĩa vô tự tính cũng giống như vậy. Ví như hư không, chỉ khi nào hình sắc ẩn mất, [mới] được hiển hiện khắp nơi. Một phần thắng nghĩa vô tự tính cũng giống như vậy, chỉ được hiển lộ bởi vô ngã tính của các pháp, và bởi vì nó hiển hiện khắp nơi.

“Vì muốn ám chỉ ba loại vô tự tính này nên ta nói tất cả các pháp là vô tự tính. Ông nên biết vì ta muốn ám chỉ tướng vô tự tính nên ta nói tất cả các pháp đều không sinh, hoặc không diệt, xưa nay vốn tịch tĩnh, tự tính vốn là Niết bàn.

“Tại sao? Nếu pháp vô tự tính ắt không sinh; nếu không sinh ắt không diệt. Nếu không sinh không diệt, ắt là tịch tĩnh. Nếu xưa nay vốn tịch tĩnh, ắt tự tính vốn là Niết bàn, và trong đó không còn pháp nào khác có thể khiến cho nó Bát niết bàn. Cho nên ta ám chỉ đến tướng vô tự tính, khi ta nói tất cả pháp không sinh không diệt, xưa nay vốn tịch tĩnh, tự tính vốn là Niết bàn.

“Ta cũng ám chỉ đến thắng nghĩa vô tự tính được hiển lộ bởi tính vô ngã của các pháp, khi ta nói các pháp không sinh, không diệt, xưa nay vốn tịch tĩnh, tự tính vốn là Niết bàn. Tại sao? Bởi vì thắng nghĩa vô tự tính, được hiển lộ bởi tính vô ngã của các pháp, vĩnh viễn là tự tính chân thật của các pháp, thường trụ, vô vi, và không tương ứng với tất cả các pháp tạp nhiễm.

“Bởi vì tự tính của các pháp là thường trụ cho nên nó vô vi. Bởi vì vô vi, cho nên không sinh, không diệt. Và bởi vì nó không tương ứng với tất cả các pháp tạp nhiễm, cho nên xưa nay vốn tịch tĩnh, xưa nay tự tính vốn là Niết bàn. Bởi vì muốn ám chỉ đến thắng nghĩa đế vô tự tính, được hiển lộ bởi tính vô ngã của các pháp, cho nên ta nói tất cả pháp không sinh, không diệt, xưa nay vốn tịch tĩnh, tự tính vốn là Niết bàn.

“Hơn nữa, ta không thiết lập ba vô tự tính này bởi những quán sát dị biệt của những người chấp trước biến kế chấp tính là tự tính, mà cũng không bởi những quán sát dị biệt của những người chấp trước y tha khởi tính, hoặc viên thành thật tính là tự tính. Ta thiết lập ba vô tự tính này là bởi vì có những người áp đặt biến kế chấp tính lên trên y tha khởi tính và viên thành thật tính.

“Có những người, căn cứ vào biến kế chấp tính, tùy theo khái niệm của họ, ngụy tạo những sự giải thích về y tha khởi tính và viên thành thật tính, cho rằng chúng là như thế như thế. Bởi do những sự giải thích đó huân tập vào tâm thức, bởi do ý thức của họ bị uốn theo những sự giải thích đó, bởi do họ bị những sự giải thích đó làm mê hoặc, họ bám víu vào những khái niệm hóa về y tha khởi tính và viên thành thật tính là như vậy như vậy.

“Bởi vì họ bám chặt vào những khái niệm hóa về y tha khởi tính và viên thành thật tính, sự kiện này sẽ sản sinh y tha khởi tính trong đời vị lai, và cũng do sự kiện này, họ sẽ bị nhiễm ô bởi phiền não, bị nhiễm ô bởi những nghiệp xấu, bị nhiễm ô bởi sự thác sinh vào cõi xấu, bị luân chuyển lâu dài trong sinh tử, không bao giờ ngừng nghỉ, nhận chịu những sự khỗ não trong các cõi địa ngục, cõi bàng sinh, cõi ngạ quỷ, cõi trời, cõi a tu la, và cõi người.

“Hơn nữa, nếu có người chưa từng gieo trồng thiện căn, chưa từng thanh tẩy nghiệp chướng, chưa từng nỗ lực miên mật, chưa từng tu tập giải thoát, chưa từng tích tập hai loại tư lương phước đức trí tuệ, ta sẽ y cứ vào tướng vô tự tính mà giảng pháp cho họ.

“Sau khi nghe pháp này rồi, tùy theo khả năng, họ có thể hiểu rằng tất cả các hành nghiệp do duyên sinh đều là không thường hằng, không an ổn, biến động, hư hoại. Do đây, họ đối với các hành nghiệp do duyên sinh phát khởi tâm sợ hãi, mong muốn xa lìa, và do đây, họ sẽ dứt ác và có thể xa lánh những việc ác, siêng năng tu tập pháp lành, thanh tẩy nghiệp chướng, nỗ lực miên mật, tu tập pháp giải thoát, và tích tập hai loại tư lương phước đức và trí tuệ.

“Mặc dù họ đã vun trồng thiện căn, tích tập hai loại tư lương phước đức và trí tuệ, thế nhưng đối với sinh vô tự tính, vẫn chưa thể thật sự thấu hiểu hai loại: tướng vô tự tính và thắng nghĩa vô tự tính. Cho nên họ cũng chưa thể thật sự xa lìa các hành nghiệp, chưa thể thật sự ly dục, chưa thể thật sự giải thoát. Họ chưa hoàn toàn thoát khỏi các phiền não tạp nhiễm, và cũng chưa hoàn toàn thoát khỏi các sự thác sinh tạp nhiễm.

“Ta cũng giảng giải thêm pháp yếu cho họ, tức là tướng vô tự tính và thắng nghĩa vô tự tính, giúp cho họ có thể thật sự xa lìa các hành nghiệp, để họ có thể thật sự thoát khỏi dục nhiễm và đạt được giải thoát, và như vậy, họ có thể vượt thoát tất cả tạp nhiễm của phiền não, của hành nghiệp, và của [sự thác] sinh.

“Sau khi nghe được giáo pháp này, y cứ vào sinh vô tự tính, họ có thể thật sự tin hiểu, khảo sát, tư duy, và thật sự thông đạt tướng vô tự tính và thắng nghĩa vô tự tính. Y cứ vào y tha khởi tự tính, họ có thể không chấp vào biến kế sở chấp tính.

“Bởi vì trí tuệ không còn bị ngôn ngữ huân tập, không còn bị uốn nắn theo ngôn ngữ, không còn bị mê hoặc bởi ngôn ngữ, cho nên họ có thể diệt trừ y tha khởi tính. Được gia trì bởi sức mạnh của trí tuệ hiện có, họ có thể vĩnh viễn diệt trừ nhân duyên tái sinh đời sau.

“Do nhân duyên này, họ có thể thật sự nhàm chán tất cả các hành nghiệp, có thể thật sự ly dục, có thể thật sự giải thoát, và hoàn toàn giải thoát khỏi nhiễm ô của phiền não, hành nghiệp và sự thác sinh.

“Những hành giả căn tính Thanh văn cũng do con đường tu tập này mà chứng đắc Niết bàn an ổn vô thượng. Những hành giả căn tính Độc giác, những hành giả căn tính Như lai thừa, cũng do con đường tu tập này mà chứng đắc Niết bàn an ổn vô thượng. Tất cả Thanh văn, Độc giác, Bồ tát đều cùng đi trên con đường vi diệu thanh tịnh này, đều cùng hướng về một cứu cánh thanh tịnh này, không có con đường thứ hai nào khác. Căn cứ trên ý nghĩa này, ta nói chỉ có một thừa duy nhất.

“[Thế nhưng] không phải là không có những loại người căn tính khác biệt, hoặc là căn tính ám độn, hoặc là căn tính trung bình, hoặc là căn tính thông lợi. Nếu người chỉ có căn tính Thanh văn, một mực cầu chứng Niết bàn, tuy họ được chư Phật gắng sức dùng đủ mọi phương tiện để giáo hóa, thế nhưng, chung quy họ cũng không thể ngồi nơi Bồ đề đạo tràng, chứng đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Tại sao? Vì họ xưa nay chỉ có căn tính thấp kém, tâm từ bi yếu ớt, một mực sợ hãi sự khổ của sinh tử.

“Do vì tâm từ bi yếu ớt, họ đã một mực xả bỏ sự nghiệp lợi ích chúng sinh. Do vì một mực sợ hãi sự khổ sinh tử, họ đã không chịu phát khởi các công hạnh. Ta không bao giờ nói rằng những người một mực xả bỏ sự nghiệp lợi ích chúng sinh, một mực không chịu phát khởi các công hạnh [lợi sinh], sẽ ngồi nơi Bồ đề đạo tràng, chứng đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Cho nên những hành giả đó được gọi là Thanh văn một mực cầu chứng Niết bàn.

“Còn những người căn tính Thanh văn hồi tâm hướng về Vô thượng Bồ đề, thì ta ở khía cạnh khác, cũng gọi họ là Bồ tát. Tại sao? Họ đã giải thoát khỏi phiền não chướng, nếu được đức Như lai khải phát, họ cũng có thể giải thoát khỏi sở tri chướng. Bởi vì lúc ban sơ họ chỉ vì tự lợi mà tu tập đoạn trừ phiền não chướng, cho nên đức Như lai gọi họ là căn tính Thanh văn.

“Nhiều hạng người khác nhau đã có những sự hiểu biết khác nhau đối với giới luật và giáo pháp mà ta, với ý định cực kỳ thanh tịnh, đã khéo chế định và đã khéo giải thích. Ta chỉ y cứ vào ba loại vô tự tính đó, trong các kinh bất liễu nghĩa, dùng phương tiện ẩn mật, giảng giải pháp yếu, nói rằng tất cả các pháp đều vô tự tính, không sinh, không diệt, xưa nay vốn tịch tĩnh, tự tính vốn là Niết bàn.

“Y cứ vào những kinh điển này, nếu có những người đã trồng thiện căn bậc thượng, đã thanh tẩy nghiệp chướng, đã nỗ lực miên mật, đã tu tập giải thoát, đã tích tập hai loại tư lương phước đức trí tuệ bậc thượng, sau khi nghe pháp này rồi, đối với những lời giảng dạy ẩn mật của đức Như lai, có thể thực sự hiểu rõ, đối với giáo pháp của đức Như lai, sinh khởi lòng tin tha thiết, đối với những giáo nghĩa đó, dùng trí tuệ thuần chánh thấu hiểu đúng như thật. Dựa vào sự thấu hiểu này, nếu khéo tu tập, sẽ có thể mau chóng chứng đạt đến giai vị cứu cánh cùng cực. Và cũng do lòng tin sâu xa, biết rõ đức Như lai, bậc Vô thượng Chánh đẳng giác, đã chứng đắc trí tuệ thông đạt tất cả các pháp.

“Có những người, tuy đã gieo trồng thiện căn bậc thượng, đã thanh tẩy nghiệp chướng, đã nỗ lực miên mật, đã tu tập giải thoát, nhưng chưa tích tập hai loại tư lương phước đức trí tuệ bậc thượng, nhưng lại là những người tâm tính chất trực, mặc dù chưa đủ trí năng để biện biệt sự thủ xả, nhưng họ vẫn không cố chấp vào những kiến giải của mình.

“Nếu họ nghe được giáo pháp này, tuy chưa đủ trình độ để thấu hiểu như thật những lời giảng dạy sâu xa, ẩn mật, nhưng họ vẫn có thể sinh khởi sự ưa thích, và phát khởi lòng tin thanh tịnh rằng kinh điển này là lời dạy của đức Phật tiết lộ những sự kiện sâu xa tương ứng với tính Không vi diệu, khó thấy, khó hiểu, không thể tư nghị, không phải trong cảnh giới của tư nghị, chỉ có thể hiểu được bởi những người có trí tuệ sâu sắc, vi tế, sáng suốt.

“Đối với những lời dạy trong kinh điển này, họ khiêm tốn cho rằng: ‘Sự giác ngộ của đức Phật vô cùng uyên thâm, tự tính của các pháp cũng vô cùng sâu xa, chỉ có đức Phật mới có thể khéo thấu triệt, không phải là chỗ mà chúng ta có thể hiểu thấu. Các đức Phật giảng dạy chánh pháp cho những người có sở thích khác nhau. Các đức Phật có vô biên trí tuệ và kiến giải, còn trí tuệ và kiến giải của chúng ta chỉ như vết chân trâu.’

“Họ đối với kinh điển này, tuy cũng cung kính, vì kẻ khác giảng nói, biên chép, giữ gìn, đọc tụng, truyền bá, thiết tha cúng dường, thọ trì, ghi nhớ. Nhưng vì chưa thể tu tập theo lời dạy trong kinh, cho nên không thể thấu hiểu những ẩn ý của những lời dạy trong kinh. Tuy vậy, họ vẫn có thể tăng trưởng hai loại tư lương phước đức và trí tuệ. Những người chưa thành tựu sự tương tục, cũng sẽ được thành tựu.2

“Có những người chưa gieo trồng thiện căn bậc thượng, mà tâm tính cũng không chất trực, tuy có đủ trí năng để biện biệt sự thủ xả, nhưng lại cố chấp vào những kiến giải của mình. Nếu họ nghe được những giáo pháp này, không thể thấu hiểu ẩn ý trong những lời giảng dạy của ta. Do đây, tuy cũng sinh khởi lòng tin, nhưng chỉ hiểu ý nghĩa của kinh trên mặt ngôn tự, cho rằng tất cả pháp nhất định đều vô tự tính, nhất định đều không sinh không diệt, nhất định xưa nay vốn tịch tĩnh, nhất định xưa nay tự tính vốn là Niết bàn. Do nhân duyên này, đối với tất cả pháp, họ đều cho là vô tướng hoặc vô tự tính.

“Bởi vì chấp vào vô tướng hoặc vô tự tính, cho nên họ bài bác tất cả ‘tính’, cho rằng tất cả đều là vô tướng; phỉ báng biến kế sở chấp tính, y tha khởi tính, và viên thành thật tính của các pháp.

“Tại sao? Biến kế sở chấp tính chỉ có thể được thiết lập nếu y tha khởi tính và viên thành thật tính hiện hữu. Nếu họ bài bác sự hiện hữu của y tha khởi tính và viên thành thật tính, họ cũng sẽ bài bác sự hiện hữu của biến kế chấp tính. Cho nên ta nói rằng họ bài bác cả ba tính.

“Tuy họ tin rằng giáo pháp của ta là đúng, nhưng lại hiểu sai ý nghĩa của nó. Bởi vì họ cho giáo pháp là đúng, nhưng lại hiểu sai, cho nên một mặt kiên quyết hộ trì giáo pháp, mặt khác lại chấp chặt vào ý nghĩa sai lạc. Mặc dù, do sự hộ trì giáo pháp, phước đức của họ có thể được tăng trưởng, nhưng do vì hiểu sai lạc giáo nghĩa, họ sẽ bị thoái thất trí tuệ. Và bởi vì bị thoái thất trí tuệ, họ sẽ bị mất mát vô lượng thiện pháp rộng lớn.

“Những người khác nghe những lời giảng giải [của họ] cho rằng giáo pháp là đúng, giáo nghĩa là như vậy [nhưng thật sự không phải như vậy], nếu a dua theo kiến giải của họ, những người nghe pháp đó sẽ cũng nghĩ rằng giáo pháp là đúng, nhưng lại bám chặt vào ý nghĩa sai lạc, và như vậy, họ cũng sẽ bị mất mát thiện pháp.

“Có những người tuy không nghe theo lời giảng giải của họ, nhưng khi nghe đến tất cả pháp đều vô tự tính, không sinh, không diệt, xưa nay vốn tịch tĩnh, xưa nay tự tính vốn là Niết bàn, liền sinh tâm sợ hãi, cho rằng đây không phải lời Phật dạy mà là do ma nói, sau đó phỉ báng thóa mạ giáo pháp này, và nhân đây bị suy tổn rất lớn, gây tạo nghiệp chướng sâu dầy. Vì lý do này, ta nói rằng nếu đối với tất cả tướng mà cho là vô tướng và giảng giải giáo pháp một cách lệch lạc, thì đây là một phương tiện sinh khởi nghiệp chướng sâu nặng, bởi vì những người [giảng giải giáo pháp lệch lạc] như vậy sẽ khiến cho vô lượng chúng sinh đọa lạc và tạo tác nhiều nghiệp chướng sâu dầy.

“Nếu có những người chưa vun trồng thiện căn, chưa thanh tẩy nghiệp chướng, chưa tu tập giải thoát, chưa tích tập tư lương phước đức trí tuệ, mà tâm tính cũng không chất trực, mặc dù có trí năng biện biệt thủ xả, nhưng thường chấp chặt vào sự hiểu biết của mình, sau khi nghe được những giáo pháp này, không thể như thật hiểu rõ ẩn ý trong những lời dạy của ta, cho nên không tin tưởng, cho rằng giáo pháp là sai lầm, giáo nghĩa là lệch lạc, và chấp chặt vào những kiến giải [lầm lẫn của họ] như vậy.

“Họ cho rằng đây không phải là lời dạy của đức Phật mà do ma nói, và với thành kiến như vậy, đối với kinh điển này, họ phỉ báng, thóa mạ cho là ngụy tạo, rồi dùng vô số phương cách để hủy diệt, chà đạp, hơn nữa, lại xem những người tin hiểu kinh điển này như kẻ thù. Trước đó họ đã bị nghiệp chướng làm chướng ngại, bây giờ do nhân duyên này, lại càng bị những nghiệp chướng đó làm chướng ngại hơn nữa. Những nghiệp chướng đó, tuy lúc ban đầu rất dễ gây tạo, nhưng cuối cùng, dù trải qua trăm ngàn vạn ức kiếp cũng khó mà thoát khỏi [vòng cương tõa của chúng].

“Do đây biết rằng có nhiều hạng người khác nhau đã có những sự hiểu biết khác nhau đối với giới luật và giáo pháp mà ta, với ý định cực kỳ thanh tịnh, đã khéo chế định và đã khéo giải thích.”

Lúc ấy, đức Thế tôn muốn lặp lại ý nghĩa trên, bèn nói bài kệ sau:

Tất cả pháp đều vô tự tính,
Không sinh, không diệt, vốn tịch tĩnh,
Tự tính các pháp vốn Niết bàn,
Người trí nào nói “không ẩn ý?”
Tướng, sinh, thắng nghĩa vô tự tính,
Như vậy, ta đều đã giảng rõ,
Nếu không hiểu ẩn ý của Phật,
Mất đường Chánh, hết biết lối đi.
Người thanh tịnh đi đường thanh tịnh,
Chỉ có đường này, không có hai,
Nên ta trong đây, lập Nhất thừa,
Không phải không căn tính khác biệt.
Trong chúng sinh, có vô số người,
Chỉ tu giải thoát cho chính mình,
Người phát tâm Bi, chứng Niết bàn,
Không bỏ chúng sinh, rất hiếm có.
Niết bàn vi diệu khó nghĩ bàn,
Trong đó, giải thoát đều bình đẳng,
Xa lìa phiền não, và nhị nguyên,
Thành tựu tất cả sự thường lạc.

Lúc ấy, Bồ tát Thắng Nghĩa Sinh bạch Phật: “Bạch đức Thế tôn, ngôn ngữ ẩn mật của chư Như lai rất kỳ bí, hiếm có, vi diệu, cực kỳ vi diệu, sâu xa, cực kỳ sâu xa, khó thấu hiểu, cực kỳ khó thấu hiểu. Hiện nay con lãnh hội ý nghĩa mà Ngài muốn nói, nghĩa là đối với các hành tướng nương vào biến kế sở chấp tướng [phát sinh do sự phân biệt], giả danh an lập tự tính tướng, hoặc sai biệt tướng của các uẩn, hoặc giả danh an lập sự sinh khởi, hoặc sự diệt tận của các uẩn, hoặc giả danh an lập tự tính tướng, hoặc sai biệt tướng của sự vĩnh viễn đoạn tận của các uẩn, hoặc sự hiểu biết phổ quát về các uẩn, thì gọi là biến kế sở chấp tướng. Đức Thế tôn y vào đây mà thiết định đặc tính ‘tướng vô tự tính’ của các pháp.

“Ngay chính bản thân của các hành tướng nương tựa vào biến kế sở chấp tướng [phát sinh do sự phân biệt], thì được gọi là y tha khởi tướng. Đức Thế tôn y vào đây thiết định đặc tính ‘sinh vô tự tính’ của các pháp, và đặc tính của một phần ‘thắng nghĩa vô tự tính.’

“Như vậy, hôm nay con hiểu rõ ý nghĩa mà đức Thế tôn đã giảng nói, nghĩa là đối với các hành tướng nương tựa vào biến kế sở chấp tướng [do phân biệt phát sinh], do vì biến kế sở chấp tướng không chân thật, [cái] đặc tính tự tính vô tự tính, cảnh sở duyên của pháp vô ngã chân như thanh tịnh, gọi là viên thành thật tướng. Đức Thế tôn y vào đây thiết định đặc tính của một phần thắng nghĩa vô tự tính.

“Giống như trường hợp sắc uẩn, đối với các uẩn khác đều cũng nên nói rộng như vậy. Tương tự, đối với mười hai xứ, mỗi một xứ cũng nên nói rộng như vậy. Đối với mười hai chi duyên khởi, mỗi một chi cũng nên nói rộng như vậy. Đối với bốn loại thực, mỗi một thực cũng nên nói rộng như vậy. Đối với sáu giới, mười tám giới, mỗi một giới cũng nên nói rộng như vậy.

“Như vậy, hôm nay con hiểu rõ ý nghĩa mà đức Thế tôn đã giảng nói, đối với các hành tướng nương tựa vào biến kế sở chấp tướng [do phân biệt phát sinh], giả danh an lập tự tính tướng, hoặc sai biệt tướng của khổ đế, hoặc sự hiểu biết phổ quát về khổ đế, đây gọi là biến kế sở chấp tướng. Đức Thế tôn y vào đây thiết định đặc tính ‘tướng vô tự tính’ của các pháp.

“Ngay chính bản thân của các hành tướng nương tựa vào biến kế sở chấp tướng [phát sinh do sự phân biệt], thì được gọi là y tha khởi tướng. Đức Thế tôn y vào đây thiết định đặc tính ‘sinh vô tự tính’ của các pháp, và đặc tính của một phần ‘thắng nghĩa vô tự tính.’

“Như vậy, hôm nay con hiểu rõ ý nghĩa mà đức Thế tôn đã giảng nói, nghĩa là đối với các hành tướng nương tựa vào biến kế sở chấp tướng [do phân biệt phát sinh], do vì biến kế sở chấp tướng không chân thật, cái đặc tính tự tính vô tự tính, cảnh sở duyên của pháp vô ngã chân như thanh tịnh, gọi là viên thành thật tướng. Đức Thế tôn y vào đây thiết định đặc tính của một phần thắng nghĩa vô tự tính.

“Giống như trường hợp khổ đế, các đế khác cũng nên nói rộng như vậy. Tương tự, đối với [tứ] niệm trụ, [tứ] chánh cần, [tứ] thần túc, [ngũ] căn, [ngũ] lực, [thất] giác chi, [bát] chánh đạo, mỗi một pháp cũng nên nói rộng như vậy.

“Như vậy, hôm nay con hiểu rõ ý nghĩa mà đức Thế tôn đã giảng nói, đối với các hành tướng nương tựa vào biến kế sở chấp tướng [do phân biệt phát sinh], giả danh an lập tự tính tướng, hoặc sai biệt tướng của chánh định, hoặc năng trị sở trị của chánh định, hoặc trong sự tu tập, chưa sinh khởi khiến cho sinh khởi, đã sinh khởi khiến cho an trụ vững chắc không quên, gia công tu tập khiến cho tăng trưởng rộng lớn, thì gọi là biến kế sở chấp tướng. Đức Thế tôn y vào đây mà thiết định đặc tính ‘tướng vô tự tính’ của các pháp.

“Ngay chính bản thân của các hành tướng nương tựa vào biến kế sở chấp tướng [phát sinh do sự phân biệt], thì được gọi là y tha khởi tướng. Đức Thế tôn y vào đây thiết định đặc tính ‘sinh vô tự tính’ của các pháp, và đặc tính của một phần ‘thắng nghĩa vô tự tính’.

“Như vậy, hôm nay con hiểu rõ ý nghĩa mà đức Thế tôn đã giảng nói, nghĩa là đối với các hành tướng nương tựa vào biến kế sở chấp tướng [do phân biệt phát sinh], do vì biến kế sở chấp tướng không chân thật, cái đặc tính tự tính vô tự tính, cảnh sở duyên của pháp vô ngã chân như thanh tịnh, gọi là viên thành thật tướng. Đức Thế tôn y vào đây thiết định đặc tính của một phần thắng nghĩa vô tự tính.

“Ví như, tất cả phương thuốc, hoặc thuốc tán, hoặc thuốc tiên, đều ở trong phương thuốc của trời Tỳ nữu (Vishnu), như vậy, tất cả kinh điển bất liễu nghĩa đều được bao hàm trong những lời dạy liễu nghĩa phổ quát về ‘tất cả pháp đều vô tự tính, xưa nay vốn tịch tĩnh, xưa nay tự tính vốn là Niết bàn.’

“Lại nữa, nền của bức tranh trải rộng khắp nơi, công việc vẻ tranh đều cùng một vị, hoặc màu xanh, hoặc màu vàng, hoặc màu đỏ, hoặc màu trắng, lại có thể phô bày được thành quả của bức tranh. Như vậy, y vào lời dạy phổ quát về ‘tất cả pháp đều vô tự tính’, nói rộng cho đến, ‘tự tính của Niết bàn cũng là vô tự tính’, hiển hiện các kinh điển bất liễu nghĩa đều cùng một vị, lại có thể phô bày sự bất liễu nghĩa của chúng.

“Lại nữa, như trong tất cả các món bánh trái thượng hạng, nếu cho thêm thục tô, mùi vị lại càng tuyệt hảo. Như vậy, nếu đưa những lời dạy liễu nghĩa phổ quát về ‘tất cả các pháp đều vô tự tính’, nói rộng cho đến ‘tự tính của Niết bàn cũng là vô tự tính’, vào trong các kinh điển bất liễu nghĩa, thì sẽ gia tăng niềm hoan hỷ thù thắng.

“Lại nữa, ví như hư không bao trùm khắp nơi, đều cùng một vị, không hề chướng ngại tất cả sự nghiệp tạo tác, như vậy, y vào lời dạy liễu nghĩa phổ quát ‘tất cả pháp đều vô tự tính’, nói rộng cho đến ‘tự tính của Niết bàn cũng là vô tự tính’, các kinh điển bất liễu nghĩa cũng đều cùng một vị, không chướng ngại tất cả các sự nghiệp tu tập của tất cả
Thanh văn Độc giác và của tất cả mọi người.”

Lúc ấy, đức Phật khen ngợi Bồ tát Thắng Nghĩa Sinh: “Lành thay, lành thay. Ông nay có thể khéo giải thích những ý nghĩa sâu xa ẩn mật mà đức Như lai đã giảng dạy. Hơn nữa, lại có thể nêu lên thí dụ cho những ý nghĩa này, như thuốc của trời Tỳ nữu (Vishnu), nền của bức tranh, thục tô, hư không, v.v… Quả đúng như lời ông nói, không còn sự kiện nào khác. Ông nên thọ trì như vậy, như vậy.”

Bồ tát Thắng Nghĩa Sinh lại hỏi: “Bạch đức Thế tôn, trong thời kỳ thứ nhất, ở vườn Ba la nại, Ngài chuyên vì các hành giả Thanh văn thừa, dùng bốn thánh đế để chuyển Chánh pháp luân. Như thế, tuy cũng rất kỳ đặc, cũng rất hiếm có, nhưng pháp luân được giảng nói lúc đó, vẫn còn có pháp cao hơn nó, vẫn còn có pháp bao trùm được nó, nó vẫn chưa được liễu nghĩa. Đó là đất đứng cho những sự tranh luận.

“Kế đến, trong thời kỳ thứ hai, đức Phật chuyên vì những người tu hạnh Đại thừa, y cứ vào ‘tất cả pháp đều vô tự tính, không sinh, không diệt, xưa nay vốn tịch tĩnh, xưa nay tự tính vốn là Niết bàn’, dùng đặc tính ẩn mật để chuyển Chánh pháp luân. Tuy kỳ đặc hơn, hiếm có hơn thời kỳ đầu, thế nhưng giáo pháp được giảng dạy lúc đó, vẫn còn chưa được liễu nghĩa, vẫn còn có pháp cao hơn nó, vẫn còn có pháp bao trùm được nó. Đó vẫn là đất đứng cho những sự tranh cãi.

“Hiện nay, trong thời kỳ thứ ba, đức Phật vì tất cả hành giả thuộc đủ mọi thừa, y cứ vào ‘tất cả pháp đều vô tự tính, không sinh, không diệt, xưa nay vốn tịch tĩnh, xưa nay tự tính vốn là Niết bàn’, dùng đặc tính sáng tỏ để chuyển Chánh pháp luân. Đây mới chính là điều kỳ đặc nhất, hiếm có nhất. Những giáo pháp mà đức Thế tôn giảng giải ngày hôm nay, là vô thượng, là pháp liễu nghĩa, không còn pháp nào bao trùm được nó. Đây không còn là đất đứng cho những sự tranh cãi.

“Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào đối với giáo pháp sâu xa liễu nghĩa ‘tất cả các pháp đều vô tự tính, không sinh, không diệt, xưa nay vốn tịch tĩnh, xưa nay tự tính vốn là Niết bàn’, nghe xong tin hiểu, biên chép, hộ trì, cúng dường, truyền bá, thọ trì, đọc tụng, tu tập, suy ngẫm nghĩa lý đúng pháp, cho đến y theo lời dạy phát tâm tu hành thì sẽ được bao nhiêu phước đức?”

Đức Phật trả lời: “Người thiện nam, hoặc thiện nữ đó, phước đức phát sinh vô lượng vô số, khó có thể dùng thí dụ để biết được. Ta nay vì ông nói sơ lược một ít phần. Giống như đất trên móng tay so với đất trên đại địa, trăm phần không bằng một, ngàn phần không bằng một, trăm ngàn phần không bằng một, toán số thí dụ, ô ba ni sát đàm phần cũng không bằng một; hoặc như nước trong một vết chân trâu so với nước của bốn biển lớn, trăm phần không bằng một, nói rộng ra, nhẫn đến ô ba ni sát đàm phần cũng không bằng một. Như vậy, đối với các kinh bất liễu nghĩa, nghe xong tin hiểu, giảng rộng, cho đến theo lời dạy phát tâm tu hành, thì những công đức thu thập được, so với công đức của sự nghe hiểu, nhẫn đến theo lời dạy phát tâm tu hành giáo pháp liễu nghĩa được giảng nói này, trăm phần không bằng một, nói rộng ra, nhẫn đến ô ba ni sát đàm phần cũng không bằng một.”

Lúc ấy, Bồ tát Thắng Nghĩa Sinh lại hỏi: “Bạch đức Thế tôn, trong pháp môn Giải Thâm Mật, phần này gọi là gì, con phải phụng trì thế nào?”

Đức Phật trả lời: “Đây gọi là giáo pháp Thắng nghĩa liểu nghĩa. Đối với giáo pháp Thắng nghĩa liễu nghĩa này, ông nên phụng trì.”

Lúc đức Phật giảng nói giáo pháp Thắng nghĩa liễu nghĩa này, trong pháp hội có sáu trăm ngàn chúng sinh phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, ba trăm ngàn Thanh văn viễn trần ly cấu, được pháp nhãn thanh tịnh. Một trăm năm chục ngàn Thanh văn vĩnh viễn đoạn trừ tâm hữu lậu, được giải thoát. Bảy mươi lăm ngàn Bồ tát chứng đắc Vô sinh pháp nhẫn.

Pages: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10