KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA VĂN CÚ

Thiên Thai Trí Giả Đại Sư giảng
Sa Môn Thích Như Điển, Phương Trượng Chùa Viên Giác Hannover – Đức Quốc, dịch từ chữ Hán sang tiếng Việt.

 

Quyển thứ 3

(Phần trên)

 

Từ ”Nhĩ thời Di Lặc dục tự quyết nghi đến hết những câu kệ” tức là phần phát khởi câu hỏi ở lời tựa. Câu văn nầy chia làm hai. Đó là kệ tụng trường hàng và kinh trường hàng. Trong đó thuật lại sự tự nghi và nghi ngờ của người khác rồi phát khởi lời hỏi han. Hỏi về nơi cõi nầy và cõi kia như câu văn, với ý gì lại còn có kệ tụng nữa?

Long Thọ Tỳ Bà Sa nói rằng: Một là theo quốc độ Thiên Trúc có nói về tục lệ rải hoa. Theo đây, sau đó tạo nên tên của lời tựa. Hai là tùy theo sự vui muốn không giống nhau. Có niềm vui về rải hoa và cũng có niềm vui về câu văn. Ba là sự giải thích chẳng giống nhau; hoặc đối với việc rải hoa mà giải thích; hoặc đối với câu văn mà giải thích. Bốn là tùy theo nơi lợi căn của người nghe chỉ một lần liền được ngộ. Kẻ độn căn thì phải nói lại một lần nữa mới ngộ. Sự biểu hiện nầy nơi Phật, khuyên nói lại. Lại nữa vì Đại Chúng trước sau vân tập, cho nên nói kệ. Kệ nầy có 62 hàng. Văn thì chia làm hai. Đầu tiên 54 hàng, tụng những nghi vấn phía trên. Sau đó 8 hàng, thỉnh cầu sự trả lời. Nói chung là câu hỏi có hai. Ở phía trước 4 hàng hỏi về quốc độ nầy. Sau 50 hàng hỏi về quốc độ kia. Câu văn dài dùng để hỏi chung về 6 sự đoan nghiêm ở quốc độ nầy. Trong những câu kệ dài có gió thơm, đất sạch; chẳng có thuyết pháp nhập định.

Quán văn nghĩa là nói đầy đủ thẳng thắng, tìm nghĩa chẳng như thế. Thuyết pháp là huệ tánh. Nhập định là Thiên Tâm. Do Thiên Tâm huệ tánh nầy có thể tác động cho đất để phóng ra ánh sáng. Nhìn phía cuối, liền rõ biết về cái gốc vậy; thẳng hay chẳng thẳng vậy. Ở kia chẳng thấy được là ở ý nầy. Nghĩa là Ngài Di Lặc chẳng hỏi về hai việc; liền chẳng lấy đó làm chỗ tốt đẹp. Bây giờ khó ngược lại. Nếu Ngài Di Lặc chẳng hỏi, thì Ngài Văn Thù lấy gì để đáp.

Lại nữa khi hỏi thì chỉ cho nơi nào để hỏi? – Bây giờ chỉ cho những câu văn dài để hỏi tổng quát. Nếu lại hiểu riêng việc nầy để hỏi thì ”Kỳ Tôn Sư”, hai chữ ấy là đây. Lành hay thuyết pháp, nhập định, lại hay chỉ bày cho người; nên gọi là Đạo Sư. Tức là hỏi về việc thuyết pháp và nhập định vậy. Cho nên không đi thẳng. Ở kia nói về gió là do riêng rừng trầm; nên tạo ra hương thơm. Đất kia lại đẹp sạch; nên chứa hai việc lâu bền. Ở đây nghĩa là chẳng đầy đủ; gió ấy gốc vốn chẳng có hương thơm mà lại thơm. Vì kỳ lạ; cho nên thành ra đoan nghiêm đẹp đẽ. Phàm là hoa trời thật đẹp, há lại có sắc mà chẳng có hương thơm sao? Ở đây biểu hiện sự vận hành của nhơn duyên cho đến quả vậy. Như hoa ấy có gặp gió; hoa liền rơi trên đất; đất kia liền đẹp đẽ. Nhơn ấy nếu ở chỗ quả, quả ấy liền nghiêm tịnh.

Kim Quang Minh nói rằng: Tụ tập công đức trang nghiêm Phật thân; cho nên lấy hai việc hiển thành bốn loại hoa. Đầy đủ và chẳng đầy đủ. Dưới lông mi, có ánh sáng.

Tiếp theo có 50 hàng. Kệ tụng hỏi về quốc độ kia với sáu sự đẹp lạ. Xưa nói rằng: Trong kệ tụng ấy chẳng hỏi về 3 Thừa 4 Chúng. Chẳng hỏi về Phật Niết Bàn. Bây giờ dạy cho bỏ 3 rồi hỏi 3. Sau đó lại nói Thọ Lượng và hỏi về sự diệt độ. Với nghĩa nầy không yên; nên chẳng hỏi vậy. Sao lại chẳng giải rõ Tiểu Văn? Qua kinh sẽ rõ. Bây giờ trong lời kệ tụng rõ, đều hỏi về 6 sự đoan nghiêm của quốc độ kia. Câu văn ấy chia làm 6. Đầu tiên 3 hàng hỏi về 6 cõi chúng sanh. Thứ hai là 4 hàng hỏi về việc thấy Phật kia và thuyết pháp. Ba là 3 hàng hỏi về quốc độ kia cùng tứ chúng. Kế đến một hàng rưỡi là kết lại phía trước và mở ra cho phía sau. Thứ năm là 31 hàng rưỡi hỏi về sự tu hành của Bồ Tát ở quốc độ kia. Thứ sáu là 7 hàng hỏi về sự cúng dường xá lợi. Tức là hỏi về việc Phật Niết Bàn vậy.

Đầu tiên 3 hàng hỏi về 6 cõi. Qua bài tụng nầy rõ biết câu văn trên phóng ánh sáng chiếu đến phía đông; tức ý nói là chiếu khắp cõi nước kia. Bài tụng nầy, tụng ở phía trên là tất cả các câu hỏi. Sáu cõi chúng sanh, có thể chỉ cho cõi người. Sống, chết chính ở cõi ấy; lành, dữ, nghiệp duyên là nguyên nhơn của cõi đó. Tốt, xấu là quả của cõi ấy. Từ đó lại thấy được chư Phật.

Bốn hàng ở phần hai hỏi về sự thấy Phật ở quốc độ kia; gặp nghe Phật thuyết pháp. Ở đây tướng thuyết pháp rõ ràng to lớn. Nghĩa là nói về đốn giáo cho những bậc có căn tánh lớn. Thánh Chủ Sư Tử tức là hiện nên tượng Lô Giá Na ở cõi đất nầy. Diễn nói kinh điển vi diệu thứ nhất tức là ở quốc độ nầy trước chiếu đến núi cao để diễn thuyết chỉ bày kinh Hoa Nghiêm vậy. Dạy các Bồ Tát nghĩa là ở 7 nơi của quốc độ nầy không cùng với người và các bậc Thanh Văn. Chiếu rõ Phật Pháp, mở bày cho chúng sanh rõ biết nghĩa là ở quốc độ nầy bắt đầu thấy thân Phật, nhập vào trí huệ của Như Lai.

Từ ”nhược nhơn tao khổ” trở đi 33 hàng ấy hỏi về quốc độ kia và 4 chúng. Tức là nói đốn về sau. Tiếp theo làm rõ cho Tam Tạng giáo điển. Nếu người gặp khổ nghĩa là khai mở cho Thanh Văn Thừa. Bài tụng nầy làm rõ đủ cho Tứ Đế. Ở câu văn nầy đã làm rõ rồi v.v…

Nếu người gặp khổ mà tạo việc ác; khổ ấy chẳng dứt. Cuối cùng chúng sanh là như vậy. Nếu người gặp khổ mà tạo nghiệp lành, khổ ấy lại cũng chẳng hết. Che phía dưới, đậy ở trên như Nan Đà vì cơn dục mà giữ giới vậy. Nếu người gặp khổ, mà ở nơi ngoại đạo để cầu pháp giải thoát thì chỉ tăng thêm sự thấy biết lâu dài mà kẻ ấy chẳng hết được sự khổ. Nếu người gặp khổ mà xa lìa tập đế, lại lìa sự nương vào quả, cảm được Phật thuyết pháp về Niết Bàn, thì người nầy có thể tận diệt hết các khổ vậy. Ở quốc độ kia lại cũng khai mở thừa nầy. Nếu người có phước – dưới đó một hàng, thì đây là khai mở Trung Thừa vậy. Nếu cúng dường Phật ít, gặp khổ cho đến não. Nếu cúng dường Phật nhiều, tuy gặp khổ mà có phước. Cho nên nói rằng: Thanh Văn ba đời trồng phước; Bích Chi Phật 100 kiếp cũng trồng phước. Hình thức kia là Thanh Văn; cho nên nói là có phước.

Cho đến kẻ cầu Thắng Pháp đi nữa thì Thanh Văn lìa khổ mà tu hành. Bích Chi Phật cầu đạo mà tu hành. Sâu cầu vào cái lý thắng diệu mà khởi lên cái duyên; tức là quốc độ kia khai mở Trung Thừa vậy.

”Nếu có Phật Tử” trở đi, là khai mở Lục Độ Đại Thừa. Chơn từ bi hay mời gọi giống Phật; cho nên nói là Phật Tử. Tu nơi lục độ; cho nên nói là đủ hạnh; chí cầu cho nên nói là Vô Thượng huệ. Trong lục độ không có 6 sự che đậy; như trong thuốc chẳng có bệnh; cho nên nói là con đường thanh tịnh. Chẳng phải là chỗ cứu cánh thanh tịnh vậy. Lại nữa Thanh Văn lấy Khổ Để làm quán môn. Còn Duyên Giác thì lấy Tập Đế làm quán môn. Còn lục độ Bồ Tát thì lấy Đạo Đế làm quán môn; cho nên nói là con đường thanh tịnh.

Tiếp đến từ ”Văn Thù ngã trụ trở đi”. Phần thứ 4 có một hàng rưỡi, kết trước và khai sau, thấy nghe rõ ràng tức là kết trước; như vậy chúng ta gọi là khai sau.

”Ngã kiến bỉ độ” trở đi. Phần thứ 5 có 31 hàng rưỡi. Hỏi về các loại tu hành của những Bồ Tát ở quốc độ kia. Chung quy có 3. Hàng thứ nhất hỏi chung. Kế đến 15 hàng lần lượt có câu hỏi. Kế đến 15 hàng rưỡi hỏi nhiều loại khác nhau. Đầu tiên hỏi tổng quát có thể rõ được; hoặc có hàng lượt bớt. Phần thứ hai có 15 hàng, lần lượt hỏi; trong ấy có 6. Đầu tiên 6 hàng hỏi về Bố Thí (Đàn); 22 hàng kế tiếp hỏi về Trì Giới (Thi); 21 hàng sau hỏi về nhẫn nhục (Nhẫn); 41 hàng kế hỏi về Tinh Tấn (Tấn); 52 hàng tiếp, hỏi về Thiền Định (Thiền); 63 hàng sau hỏi về Trí Tuệ (Huệ). Nói chung khi hỏi về Bố Thí có 3 ý; 4 hàng đầu hỏi về việc xả bỏ tài sản; một hàng hỏi về xả bỏ thân; một hàng hỏi về sự xả bỏ mạng sống. Cùng với của cải quý báu, kẻ ăn người ở, cũng có thể ở nơi việc bố thí nầy. Trâu, ngựa quý giá đều bố thí, vợ con cũng là vật ở ngoài thân. Những gì thuộc về thân là bên trong như xả bỏ đầu, mắt; tức là xả bỏ mạng sống; mà chẳng nói đó là pháp thí, làm cho trở thành trí tuệ vậy. Lại nói đến thân mệnh và tài sản cùng với sự sống chết sẽ được bất hoại, thường trụ. Tức là pháp thí; cho nên chẳng nói riêng ra vậy.

Từ ”Văn Thù Sư Lợi kiến vương” trở đi có 22 hàng hỏi về giới. Đây luận nói về các vị Tỳ Kheo giữ giới. Người tại gia bố thí thì dễ; nhưng giữ giới lại khó. Người xuất gia thì bố thí khó; nhưng giữ giới lại dễ. Cho nên đối với các vị Tỳ Kheo làm cho rõ những giới nầy. Ở trong đây có trích dẫn kinh Ngũ Vương v.v…

”Hoặc kiến Bồ Tát” trở đi 31 hàng hỏi về việc nhẫn. Nhẫn ấy có 3 loại. Ở nơi thâm sơn cùng cốc nhẫn nại với người và thú ác, chẳng sanh sân hận. Đó là sanh nhẫn. Tự giữ lấy ý chí tức là khổ hạnh nhẫn. Vì cầu Phật đạo; tức là nghĩa nhẫn thứ nhất. Lại nữa khi làm Tỳ Kheo tức là khổ hạnh nhẫn. Ở riêng một chỗ tức là sanh nhẫn. Vui tụng kinh điển tức là đệ nhất nghĩa nhẫn.

Lại nữa từ ”Kiến dũng Bồ Tát” trở đi; phần thứ 4 có một hàng hỏi về sự Tinh Tấn. Phàm ở chỗ núi sâu dễ sinh ra sợ hãi; chẳng phải là chỗ ở của những người yếu đuối. Chỉ có những người dũng mãnh tinh tấn mới có thể ở yên được. Bên cạnh nếu chẳng có vật gì thì riêng tu thật tướng; niệm niệm chẳng dừng nghỉ. Mau cầu đến Phật đạo.

Lại từ ”Kiến Ly” trở đi; phần thứ 5 có hai hàng, hỏi về sự Thiền Định. Hàng phía trước hỏi về sự tu hành căn bản của Thiền Định. Hàng sau hỏi về sự tu hành xuất thế, thượng thượng Thiền. Trải qua sự hành trì sẽ được căn bản của sự tu học. Kẻ lìa dục – Nếu lìa dục thì được ngũ thông. Đây chính là Định của Thông Giáo vậy. Lại nữa căn bản của sự ly dục gốc là ở chỗ xả bỏ, lại tu bất tịnh và ly dục. Biệt Giáo cùng lìa nhị thừa dục. Trung Đạo lại lìa thuận theo đạo pháp, ái dục v.v… Kẻ mà sâu tu Thiền Định, phát sơ thiền nhất phẩm; định nầy chưa sâu. Cho đến 9 phẩm liên tục chuyên tâm tu học mới sâu. Lại nữa Bối Xả, Cửu Định, Bát Thắng, Thập nhứt thiết nhập v.v… chuyên tu lấy đó làm chỗ sâu sắc. Định nầy chuyển biến tự tại, hay phát ra những thần thông. Nếu là phàm phu thì được ngũ thông. Nhị Thừa đầy đủ lục thông; Biệt Giáo Bồ Tát giúp cho Phật phân biệt rõ chỗ vô lậu. Lại cũng thường hay xưng là ngũ thông. Viên Giáo trước sau đều đầy đủ lục thông.

Từ ”An thiền vạn kệ” trở đi; phần thứ hai một hàng, làm rõ thượng thượng Thiền. Đây chính là Thiền của Biệt Giáo. Tịnh ấy tan ra chẳng có tướng hại, chẳng khởi diệt định; hiện những uy nghi, như đàn của A Tu La chẳng khảy nên âm. Vô duyên, vô niệm, có cảm tức hình; cho nên có thể an nơi thiền định để tán thán Phật vậy.

Từ ”Phục kiến trí thâm” trở đi; phần thứ 6 có 3 hàng hỏi về Bát Nhã có 2. Hàng đầu là tự hành, trí huệ thâm sâu; huệ cùng, lý chánh. Ý chí kiên cố, sự thệ nguyện rộng lớn vậy. Đây chính là hai loại trang nghiêm hay hỏi, hay trì.

”Lại nữa từ Kiến Phật Tử định huệ” trở đi lần lượt có hai hàng là hóa tha vậy. Chưa đến được huệ, đa phần không có sắc định nhiều. Tứ Thiền cùng với Bội Xả, huệ nhiều, cửu định, định nhiều và Mười là tất cả ở trong ấy. Lại nữa Nhị Thừa Định thì nhiều Bồ Tát và huệ nhiều là Phật; tức là giống nhau. Lại nữa không quán thì định nhiều, mà già quán thì huệ nhiều. Trung quán cũng lại nhiều vậy. Nhiều loại thí dụ tức là đủ loại phương tiện. Trong những lời dạy ấy trích dẫn rất nhiều loại thí dụ, để giúp hiển bày nghĩa thứ nhất. Phá ma binh có nghĩa là Không quán phá Tứ Ma; Giả quán lần lượt phá Bát Ma. Trung Quán Viên Giáo phá Bát Ma, Thập Ma và tất cả các thứ ma. Đánh trống có nghĩa là trụ ở chỗ sơ phát tâm, đến thành Đẳng Chánh Giác. Làm Phật ở hàng trăm thế giới Phật. Đánh đều tiếng trống Pháp và trổi lên tiếng Phạm âm.

Từ ”hựu kiến Bồ Tát tịch nhiên yên mặc” trở đi; phần 3 có 15 hàng rưỡi. Chẳng phải lần lượt trải qua; tùy theo sự thấy mà hỏi.

Hỏi: Nơi lục độ tự có được vạn hạnh, sao lại hỏi quá nhiều, sinh ra phức tạp vậy?

Đáp: Theo những câu hỏi lần lượt bên trên, tự giảm dần đi. Chẳng phải lần lượt và chẳng nhất định ở một loại. Cho nên mới nói là đủ loại tướng mạo. Sao lại còn chia ra hai để nói cho phiền hà vậy?

Ở đây lần lượt tạp loạn hai bên của lục độ. Làm phỏng theo nơi quốc độ kia để khai bày Tam Tạng, sau mới nói Phương Đẳng và 12 bộ kinh, biện giải lục độ tướng mạo. Đều giống như thời gian nầy chẳng khác. Chung quy trong câu văn hỏi đủ loại có 7 ý. Đầu tiên 2 hàng hỏi về Thiền, lại 2 câu nữa, một hàng trước hỏi về nhập và xả Thiền. Tức là tự hành Thiền.

”Thứ đến hựu kiến Bồ Tát phóng quang” trở đi; phần thứ 2 hàng thứ nhất hỏi về nhập vào bi thiền; đầu tiên là để hóa tha. Bồ Tát nhập định phóng quang đủ loại lợi ích, đều có nơi Hoa Nghiêm Tứ Ích v.v…

”Lại nữa từ hựu kiến Phật Tử Vị thường” trở đi; phần thứ 2 hàng thứ nhất hỏi về Tinh Tấn, tức là hỏi rõ về pháp môn niệm Phật.

”Kế đến từ hựu kiến cụ giới” trở đi; phần thứ 3 một hàng hỏi về giới. Uy nghi không khuyết; tức là đầu tiên giới không được thiếu. Trong như bảo châu; tức là giới cứu cánh thứ 10. Ở giữa đó có giải thích về nghĩa đen của 10 giới như vậy.

”Kế đến hựu kiến Phật Tử trụ nhẫn” trở đi; phần thứ 4 một hàng rưỡi hỏi về nhẫn; tức là sanh pháp hai nhẫn.

”Lần lượt từ hựu kiến Bồ Tát ly hí” trở đi; phần thứ 5 có hai hàng lại hỏi về Thiền. Lìa sự vui đùa. Đây chính là chối từ hối cái; lìa bỏ quyến thuộc của si mê; tức là trừ đi sân cái; gần bậc trí tức là trừ nghi cái. Một lòng trừ loạn, tức là chước từ sân cái; một lòng ở chỗ núi rừng; túc là trừ đi sự che đậy của ngủ nghỉ.

”Kế đến từ hoặc kiến Bồ Tát đến dục thực” trở đi; phần thứ 6 có 5 hàng hỏi về Bố Thí chia làm hai. Bốn câu trước làm rõ 4 việc bố thí. Như vậy tiếp theo 21 hàng kết thành.

Từ ”kế hoặc hữu Bồ Tát thuyết” trở đi; phần thứ 7 có 3 hàng, hỏi về Bát Nhã. Hàng đầu chẳng nói, mà nói Bát Nhã. 21 hàng chẳng thể quán mà quán Bát Nhã. 31 hàng lời nói đạo, đoạn tâm hành xứ diệt; tức là nói mà chẳng thể nói. Quán bất khả quán, mà thật ra là Bát Nhã; hoặc có thể dùng 3 sự phán đoán nầy về Bát Nhã để thành sự thấy bên trên của quốc độ kia, để nói Phương Đẳng trong Lục Độ. Hoặc có thể phân biệt riêng với quốc độ kia mà nói Phương Đẳng; sau đó mới làm rõ Đại Phẩm, dạy rõ về Bát Nhã tịch diệt, chẳng có hai thanh tịnh, chẳng dính mắc. Đây giống như kia vậy. Hoặc có thể nói pháp tịch diệt là nằm trong ý của Phương Đẳng, quán xem các pháp tánh giống như hư không, tức là ý của Bát Nhã vậy.

Đúng ra các pháp quán trải qua pháp tướng không hai. Nghĩa nầy là thật, cùng với Đại Phẩm gặp nhau. Nếu ý nói tạo cho quốc độ kia thấy Pháp Hoa, thì dùng diệu huệ nầy cầu vô thượng đạo là một hàng nầy vậy. Hay thấy người tu diệu huệ; nhưng chẳng thấy được chỗ ngồi của Pháp Hoa Diệu Huệ. Nếu thấy được chỗ ngồi, tức là rõ biết đây cũng như kia. Sao lại cần nghi. Hay thấy người, chẳng hay thấy chỗ ngồi. Cho nên mọi người nghi vấn chăng? Hoặc có thể 3 loại Bát Nhã cùng với Bát Nhã trong thời gian nầy giống nhau. Chưa rõ được điều nầy thì sau làm sao nói được. Cho nên nghi vấn. Ý của hai điều nầy là từ con người vậy.

Bên trên câu văn trường hàng tạo ra cùng với 6 ý; còn kệ tụng tức là làm cho cái nghĩa rộng ra để lãnh hội v.v…

Từ câu ”Văn Thù Sư Lợi hựu hữu Bồ Tát” trở đi; phần thứ 6 có 7 hàng, làm rõ chỗ Phật diệt độ rồi dùng Xá Lợi để dựng nên tháp. Kệ tụng như bên trên, quốc độ Phật kia ra khỏi ngũ trược; từ một tướng vô pháp từ từ khai mở đốn giáo; cho nên nói có 2 pháp, ba con đường, đủ các việc làm, tướng mạo chẳng giống nhau. Như chỗ bên trên đã thấy rồi. Bây giờ thấy Phật ở quốc độ kia vào Đại Bát Niết Bàn; nên Phật Tử luyến tiếc cái đức; rồi ở dưới cây tạo nên tháp. Tức là biểu hiện cho tất cả mọi việc đều quy về một. Một ấy phóng ra vô lượng. Tướng phía trước nầy biểu thị việc quy về một. Đúng là nhập Niết Bàn. Sao lại còn sợ về tuổi thọ. Tạo lập nên Tháp là Phật sự sao? Khổ thay! Khổ thay! Câu văn có 6. Hàng đầu tổng nói về Phật nhập diệt nên xây dựng tháp.

”Kế đến từ hựu kiến Phật Tử tạo” trở đi; phần thứ 2 hàng đầu làm rõ tướng số tháp. Kế đến là chư thiên, long thần. Phần thứ 5 hàng thứ nhứt làm rõ sự cúng dường. Kế đến là Văn Thù. Phần thứ 6 có 2 hàng kết luận lại về tháp nầy v.v… Đất phun lên, phun lên rồi trũng đi. Đây chính là Đại quán đảnh và gọi là chỗ trũng vậy. Lầu đài như thế từ dưới đất mọc lên cao đến tận mây, dài rộng đẹp đẽ, tâm quay về bực Thánh. Vậy vua ấy chính là cây Ba Lợi Chất Đa. Chính thức cúng dường Xá Lợi, bên cạnh nghiêm sức Phật quốc độ v.v…

Từ ”Phật phóng” trở đi; phần thứ 2 có 8 hàng, thỉnh cầu sự đáp lại, chia làm hai. Ba hàng đầu tiên tạo ra sự nghi ngờ và thuật lại lời thỉnh cầu. Sau đó 5 hàng giải thích về phục nan. Phần đầu 3 hàng chia làm 3. Hàng đầu thí dụ về việc thấy đất. Lông trắng là chính; cho nên đưa ra trước cùng các việc khác; cho nên nói là đủ loại.

Từ ”chư Phật” trở đi; phần thứ hai hàng thứ nhất đưa ra việc thấy quốc độ kia. Chư Phật vì cái gốc ấy; tức là tổng nhiếp, ngoài 5 ấy.

Từ ”ngã đẳng” trở đi; phần thứ 3, hàng đầu là yêu cầu đáp lại. Phần thứ hai chung quy giải thích phục nan, chia làm 2 phần. Bốn hàng đầu tiên chính thức giải thích về phục nan. Kế đến một hàng là câu kết thỉnh cầu. Nói là phục nan nghĩa là nội tâm của Ngài Văn Thù lờ mờ, khó thể đáp được. Ý nầy có 3. Một là đoan nghiêm, hy hữu; chẳng thể khinh thường để phán đoán; hai là trí chúng như biển; ánh sáng cao quý; ba là kiên cố vững vàng, khiến cho chúng sanh khát ngưỡng. Cho nên gọi là phục nan, tán thán, rộng rãi.

Ngài Di Lặc giải thích ý khó nầy cũng lại chia làm ba. Một là đoan nghiêm to lớn tức là nghi ngờ lớn. Nếu chẳng giải thích thì lo lắng ánh sáng nầy hoài nghi, bên cạnh việc nghe nói chơn chánh. Hai là chúng hải cùng với nhiều căn cơ ở tại lòng nhơn của con người. Ba là Đại chúng chiêm ngưỡng lòng nhơn từ; cho nên rõ biết sự thành tâm trang trọng. Cho nên ảnh ấy gọi là khó giải thích.

Thỉnh thì đáp; cho nên đầu tiên nói là phục nan. Do nguyên nhơn chính thức lời thỉnh cầu phát sanh. Sự thỉnh cầu cần nói là Ngài Văn Thù nguyện giải quyết vì các nghi của chúng. Văn Thù khởi lên điều phục nan nầy đầu tiên. Người nói là chúng nghi; nhưng chúng chưa từng nghi; nếu nghi thì nên hỏi. Chúng liền chẳng nghi thì ta quyết đoán nơi nào? Ngài Di Lặc liền vì câu kệ thứ nhứt mà giải thích rằng:

Bốn Chúng hân hoan chiêm ngưỡng lòng nhân từ và ta và chính ta muốn tự hỏi ta; chiêm ngưỡng lòng nhân, tức là muốn được lòng nhân vậy. Văn Thù nhân đây khởi lên cái khó thứ hai. Mọi người đều nghi, chẳng dễ dàng có thể đáp lại được; chờ cho Phật ra khỏi định, sau đó mới hỏi điều nghi ngờ. Di Lặc liền dùng kệ thứ hai để giải thích. Nếu có nghi ngờ lại sinh ra lo lắng; nên chẳng được vui và chờ câu trả lời. Lại biết lúc nào Đức Như Lai ra khỏi định; cho nên nói rằng lúc Phật Tử được giải đáp điều nghi liền hoan hỷ. Nhơn đó Văn Thù khởi lên điều nghi khó thứ hai. Ta và ngươi cùng ở một học địa muốn biết được ý của Phật về tuổi thọ. Chỉ riêng một mình, ta đáp lại thì chẳng đúng lý; nên Di Lặc liền giải thích bằng bài kệ thứ 3. Ta lại nghĩ do dự khó phân. Vì đó nói diệu pháp, vì đó mà thọ ký. Cho nên nói Phật ngồi nơi đạo tràng, chứng được diệu pháp và vì đó muốn nói điều nầy cũng như việc thọ ký. Từ đó Văn Thù lại khởi lên cái nghi ngờ khó khăn thứ 4. Nếu như ngươi nói tức là đã thích nghi rồi, sao ta lại phải giải đáp? Di Lặc liền giải thích bài kệ thứ 4. Khi được yên rồi ta còn có tâm do dự để nói về việc lớn nầy. Cho nên bảo rằng: đây chẳng phải là duyên nhỏ để chỉ cho việc Phật ở quốc độ nầy. Khi Văn Thù hỏi những điều khó xong thì ánh sáng vụt tắt. Sau đó có một bài kệ để kết thúc, đáp lại lời thỉnh cầu nầy. Bốn điều thưa thỉnh nầy các vị Thầy lần lượt thọ nhận rõ ràng. Rồi các Ngài thọ nhận ở Giang Bắc; liền từ đó các bậc Tiên Hiền dùng ngoài câu văn để tư duy cho đến ngày nay.

Từ thị ”thời Văn Thù Sư Lợi ngữ Di Lặc” trở đi cho hết bài kệ; gọi đây là lời tựa vấn đáp. Có cả Trường Hàng kệ tụng và câu văn Trường Hàng chia ra làm bốn. Một là ”từ ngữ Di Lặc trở đi” gọi là đáp: suy nghĩ kỹ. Hai là từ ”Thiện Nam Tử ngã ư quá khứ trở đi” gọi là đáp: lược bớt việc thấy gặp. Ba là từ ”Chư Thiện Nam Tử như quá khứ” gọi đây là đáp: phân minh phán đoán. Phàm từ dưới đến trên, dừng lại chỗ nghi mấy lần. Tuy xưa như vậy, còn bây giờ thì khó thể quyết đoán được. Vì thế từ đầu chỉ phảng phất. Dần đến chỉ thấy sơ lược. Khi thấy sơ sài chưa đủ; liền dẫn đến chỗ thấy rộng. Dùng nhiều chứng một cho đến việc phân chia quyết đoán, suy nghĩ rõ ràng chỗ đáp lại.

Đáp lại lời hỏi về quốc độ nầy bên trên là đáp lược về sự thấy gặp. Đáp lại lời hỏi về quốc độ kia tức là đáp về sự gặp gỡ thấy nghe rộng rãi. Cả hai sự đáp lại về câu hỏi của quốc độ nầy và quốc độ kia; phán quyết về lời đáp cả hai đó và phán quyết về câu hỏi quốc độ nầy và quốc độ kia. Suy nghĩ chín chắn ấy để đáp lại, chia ra làm hai. Đầu tiên là nêu lên điểm chính, sau đó suy nghĩ chín chắn. Suy nghĩ ấy chính là sự tư duy. Nghĩ ấy chính là nghĩ kỹ vậy. Duy ấy là như xưa và suy ấy là xưa như bây giờ. Rồi Văn Thù cổ Phật, há chẳng rõ sao? Tích ấy chỉ cho sự tư duy. Ánh sáng rõ ràng ấy dùng 2 câu ở đầu và cuối để thuyết pháp. Ở đây tượng trưng cho nhân quả lược bớt đi nhiều. Ở giữa đó có 3 câu là để chỉ cho thí dụ. Muốn nói Pháp lớn; lược khai ba, mà hiển thành một. Lược khai với gần và hiển xa, diễn pháp nghĩa lớn. Đây là quảng khai ba và hiển một. Quảng khai gần và hiển xa cũng lại như vậy.

Đại pháp vũ dụ cho việc được thọ ký làm Phật. Ngày xưa chấp vào nhơn quả nhứt định, chẳng thể làm được Phật; cho nên nghĩa ấy chết cứng. Bây giờ tất cả đều được làm Phật; nên được mưa gội nhuần là nghĩa ấy. Thổi pháp loa chính là báo hiệu việc cải đổi Tam Thừa. Trang nghiêm pháp cổ và binh lính dụ cho việc trừ phá vô minh. Nay làm rõ việc thuyết pháp nầy chẳng cần. Vì sao Tích Môn và Bổn Môn cả hai do gốc gác nào mà có sự khác biệt? – Tích ấy chính là do nơi gốc khởi lên niềm nghi vấn của Ngài Di Lặc. Ngài Văn Thù vì đó mà giải thích. Bổn ấy chính là cái gốc chưa khởi lên. Di Lặc nghi chỗ nào thì Ngài Văn Thù giải thích chỗ ấy. Nếu ở trong nầy, đây là sự giải thích khai gần, hiển xa làm sự nghi ngờ, thì sau đó từ dưới đất các Chúng (Bồ Tát) lại nổi lên. Di Lặc vì sao lại nghi nữa. Liền nghi cho nên dùng sóng nghi ngờ để giải thích cho sóng nghi ấy. Sau đó liền giải thích hư cấu những gì ở trước lại khoa trương. Điều vĩ đại nầy có chỗ phương hại; cho nên chẳng dùng được. Để làm cho rõ việc nầy; nên Di Lặc hỏi về sự đoan nghiêm của Tích thuộc hai quốc độ nầy ở đây và kia. Văn Thù dùng sự suy nghĩ kỹ mà đáp. Đáp ấy là thuộc về Tích; chẳng liên hệ với việc thọ lượng của Bổn vậy.

Muốn thuyết pháp lớn, nghĩa là đáp lại lời pháp đoan nghiêm; mưa pháp lớn tức là đáp lại việc mưa hoa đoan nghiêm đẹp lạ. Thổi pháp loa lớn là đáp lại tâm của đại chúng hoan hỷ, đoan nghiêm. Đánh trống pháp lớn là đáp lại việc đất đai chuyển động đoan nghiêm. Diễn bày đại pháp nghĩa là đáp lại sự phóng hào quang đoan nghiêm.

Muốn nói pháp lớn nghĩa là: suy nghĩ về việc chư Phật xưa kia đã nói vô lượng nghĩa. Sau đó lại khai quyền hiển thật, thâu tất cả về một mối. Chín chắn ở đây có nghĩa là Phật nay thuyết pháp rồi, lại còn khai quyền hiển thật, làm cho tất cả quy về một. Một ấy chính là pháp lớn vậy.

Mưa pháp vũ lớn nghĩa là nhớ, nghĩ việc xưa trời mưa hoa lên chư Phật và sau đó phổ cập vào cái nhơn viên mãn ở (Thập) Trụ, (Thập) Hạnh, (Thập) Hồi Hướng và (Thập) Địa. Sự chín chắn ấy là đối với việc mưa hoa trước Phật, sau đó tất cả là cái nhơn để thành Phật và vào trụ, hạnh, hướng và địa. Cho nên gọi là mưa pháp lớn vậy.

Thổi pháp loa lớn nghĩa là suy nghĩ ngày xưa bốn chúng thấy việc đẹp lạ, hoan hỷ việc chưa từng gặp, lại trừ được những người có căn cơ chướng ngại manh động; tức là cải đổi người ấy, dạy cho họ về lý hạnh. Sự chín chắn nghĩa là làm cho chúng hoan hỷ và cũng làm cho những kẻ bị chướng ngại, cải đổi người ấy về hạnh lý. Chỗ cải đổi ấy sâu xa; cho nên nói là thổi pháp loa lớn.

Đánh trống pháp lớn nghĩa là nhớ nghĩ về ngày xưa đất rung động rồi, sau đó liền có 6 lần phá tặc vô minh. Sự chín chắn ấy là sau khi làm cho đất Phật rung động rồi, lại phá 6 hoặc của vô minh. Nghe lời dạy bảo cực diệu; cho nên nói là đánh pháp cổ lớn.

Diễn pháp nghĩa lớn là nhớ nghĩ ngày xưa chư Phật phóng ánh sáng trắng nơi hào quang và sau đó nói kinh Pháp Hoa. Ở đây và kia đều giống nhau. Sự chín chắn ấy là sau khi Đức Phật phóng hào quang rồi, lại rộng làm cho sáng tỏ 5 con đường của Phật giống nhau, liền vào con đường của Phật. Cho nên nói là diễn pháp nghĩa lớn. Như vậy cả 5 đoạn trên đều là suy tích xưa để suy nghĩ phán đoán và nhớ nghĩ các loại bây giờ so với xưa, làm cho câu văn thêm nghĩa; tuy có một ít nhập định, một tướng đoan nghiêm, mà mưa hoa làm cho đất động và phóng quang. Tất cả đều là do sự nhập định vậy. Ý ấy gồm luôn cả đầy đủ, chẳng còn phải mất công nghi ngờ gì nữa. Bỏ bớt một điều ở đây; cho nên gọi là lược đáp vậy.

Bây giờ là phân biệt giải thích. Câu đầu tiên là Tổng và 4 câu sau là Biệt. Tổng đây chính là Đại Pháp. Biệt đây chính là mưa (hoa), thổi (pháp loa), đánh (pháp cổ), diễn (diệu pháp) để khai, thị, ngộ, nhập vậy. Giống như Trời chẳng có lớn nhỏ; chẳng có đỏ trắng, mà mưa hoa lại có đỏ trắng.

Như nghĩa thứ nhất thì chẳng khai, thị, ngộ, nhập. Lúc thấy được lý nầy, tức thì chứng được khai, thị, ngộ, nhập. Giống như hạt giống được nhờ mưa mà nảy mầm; bây giờ nghe mưa pháp lớn, thấm nhuần được tánh của pháp; cho nên phá được chỗ tối tăm; khai mở nơi Thập Trụ, Phật tri kiến vậy. Dụ như việc thổi pháp loa thì rõ biết dấu hiệu thay đổi, làm cho cùng với trước, đều được vào Thập Trụ. Bây giờ từ Thập Trụ nghe pháp, liền đổi và nhập vào Thập Hạnh; gặp Phật tri kiến vậy.

Dụ như đánh trống pháp, thì rõ biết sự huấn luyện lính tráng. Bây giờ cùng với trước ở nơi Thập Hạnh và từ Thập Hạnh nầy nghe lời huấn dụ của Pháp, nhập vào Hồi Hướng để ngộ Phật tri kiến vậy, nhằm diễn nói lời hy hữu, sâu xa rộng rãi. Cho đến việc diễn nghĩa nầy, làm cho với trước, cùng vào Thập Hồi Hướng. Bây giờ từ Thập Hồi Hướng vào nơi Thập Địa và nhập Phật tri kiến. Cuối cùng gốc rễ hết và góc cạnh đều sâu xa rộng đủ.

Nhớ nghĩ về 6 loại đoan nghiêm của việc xưa rồi, sau đó liền khai, thị, ngộ, nhập. Sự chín chắn ấy là sau khi làm cho đoan nghiêm rồi, lại cũng như thế. Giải thích rộng về sự nhớ nghĩ chín chắn là lời đáp vậy.

Từ ”ngã ư quá khứ” trở đi; phần thứ 2 dẫn lược việc đáp lại sự gặp gỡ, thấy nghe. Đầu tiên dùng chính ta để rõ biết; bây giờ lại lấy việc lược bớt về việc gặp gỡ ở chỗ ít rõ biết phía trước để hỏi về quốc độ kia và đáp về quốc độ nầy. Năm việc đoan nghiêm ở quốc độ nầy không thông qua được quốc độ kia. Duy chỉ có phóng hào quang là một sự đẹp lạ, biến chiếu đến phía đông. Lược đáp về sự gặp gỡ và đáp về sự chuyên biệt cũng như phóng quang. Cho nên rõ biết điều đáp lại nầy cho câu hỏi về quốc độ kia. Bây giờ thấy như xưa, xưa ấy (vườn ông Kỳ Đà) là như bây giờ. Muốn làm cho chúng sanh đều được nghe biết rõ ràng; tức là nghe và suy nghĩ, cả hai ấy là huệ cùng với lòng tin pháp cả hai đều thực hành. Thâu tất cả về một mối. Cải đổi giáo lý Tam Thừa và 6 loại phá vô minh v.v… Những con đường của Phật đều khai, thị, ngộ, nhập, Phật tri kiến. Cho nên nói rằng: Tất cả thế gian, thật là pháp khó tin.

Từ ”như quá khứ” trở đi dẫn về 3 việc đáp lại của việc gặp gỡ, thấy nghe rộng rãi, liền chỉ bày và bỏ bớt. Ở đây đáp lại lời hỏi rộng rãi về đất nầy và đất kia. Ngài Di Lặc nhơn đó thấy ánh sáng phía bên đông và lấy đó để hỏi. Ngài Văn Thù dẫn việc thấy ở tích xưa để đáp lại. Việc qua lại là hiển thị con đường của chư Phật giống nhau. Câu văn chia làm ba. Ban đầu dẫn dụ một vị Phật giống nhau; kế đến dẫn dụ hai vạn Phật giống nhau. Sau cùng dẫn dụ cho một vị Phật giống nhau. Tựu chung như một vị Phật ở trước lại chia ra làm ba. Một là làm rõ thời tiết; hai là tên đề và ba là lúc thuyết pháp như câu văn.

Có Đức Phật hiệu là Nhựt Nguyệt, tên lại giống nhau. Thông thường hiệu của Phật ấy cùng với Phật nầy giống nhau. Đối với Biệt Giáo thì gọi tên gì là giống nhau. Ở đây giải thích rằng: Tên thì khác; nhưng nghĩa lại giống. Vì sao mặt trời là huệ; mặt trăng là định. Định huệ là chính mình thực hành cái đức. Ngọn đèn sáng là nhiếp hóa cho cái đức của kia. Năng Nhơn ở đấy có nghĩa là định huệ ấy có thể làm cho mình và cho kia. Lại nữa Nhựt Nguyệt Đăng chính là 3 trí. Bây giờ Phật lại cũng có trí. Tùy theo duyên mà xưng, còn nghĩa tức chẳng có gì đặc thù. Cho nên nói tên giống là vậy.

Từ ”diễn thuyết pháp” trở đi. Lần thứ 3 thuyết pháp giống với Phật trước đốn, sau tiệm. Cùng với Phật nầy ban đầu đốn, sau đó tiệm giống nhau vậy. Diễn nói chánh pháp ở lúc đầu, giữa và sau đều lành tức là đốn giáo. Phàm nói 7 việc lành; nhưng qua Thông Giáo thì lớn, nhỏ. Tìm hiểu theo câu văn thì Đại Thừa 7 việc lành. Đầu, giữa và sau lành có nghĩa là cái tựa của Đốn giáo, phần lưu thông chánh. Nên gọi là thời tiết tốt; ý nghĩa nầy sâu xa, tức là cái lý liễu nghĩa của Đốn giáo. Nhị Thừa chẳng đo lường được chỉ sâu xa; cho nên nói là thâm viễn. Đây chính là ý nghĩa lành. Ngôn ngữ nầy xảo diệu, tức là Đốn giáo, chỗ 8 âm thanh sinh ra. Cùng với cái lý trực vui nói Bồ Tát tâm; tức là câu văn của Đốn giáo. Gọi đây là lời nói lành. Thuần nhứt chẳng tạp; chẳng cùng chung với Nhị Thừa. Tức là Đốn giáo độc nhứt lành hay đầy đủ. Đều làm rõ cho cảnh giới bên trong và cảnh giới bên ngoài, đầy đủ các câu văn. Tức là Đốn giáo viên mãn lành. Xanh, trắng hai bên không dơ; tức là Đốn giáo nhu nhuyến lành. Thấy gọi đó là tướng hành thiện phạm hạnh. Phạm đây nghĩa là lành Đốn giáo vô duyên từ. Lại nữa ban đầu, ở giữa và sau cùng lành tốt ấy theo các vị giải thích chẳng giống nhau. Bây giờ chỉ y cứ vào một chỗ. Nếu là Tiểu Thừa thì lấy giới, định, huệ làm 3 điều thiện. Nếu là Đại Thừa thì lấy 3 tâm lúc ban đầu, giữa và sau làm 3 điều lành.

Kim Quang Minh nói: Tâm trước Như Lai bất khả tư nghì; tâm giữa Như Lai đủ loại trang nghiêm; tâm sau Như Lai chẳng thể phá hoại. Đây là ý của 3 việc lành vậy. Văn Thù ví dụ 7 việc lành đốn giáo của 7 vị Phật xưa và cùng với bây giờ Phật nói 7 việc lành đốn giáo giống nhau. Lại cùng với quốc độ kia, đầu tiên nói đốn giống nhau. Cho nên dùng điều nầy để đáp lại.

Trở lại bên trên Đức Di Lặc căn cứ theo ánh sáng rộng để hỏi quốc độ của Phật kia. Thánh chủ Sư tử diễn nói kinh pháp vi diệu đệ nhứt. Văn Thù liền dẫn chuyện xưa để đưa ra đáp lại điều nầy. Tức là Đức Phật đầu tiên nói pháp đốn giáo giống nhau. Vì cầu Thanh Văn và con người; nên nói pháp Tứ Đế. Tức là cổ Phật lần lượt sau đó đốn giáo; khai mở giáo pháp tiệm giống nhau.

Như trên có hỏi: Nếu người gặp khổ, mà vì đó nói Niết Bàn; nay dẫn cổ Phật, lại khai mở cho việc tiệm nầy; dùng để đáp lại lời hỏi kia vậy. Vì cầu Bích Chi Phật; nên nói pháp 12 nhân duyên. Đáp lại bên trên. Nếu người có phước, chí tâm hỏi cầu thắng pháp thì vì chư Bồ Tát mà nói sáu Ba La Mật. Lời đáp như trên – Phật Tử tu và hỏi đủ loại hạnh. Tất cả đều dẫn cổ Phật, khai mở tiệm giáo giống nhau. Rộng dẫn chỗ gặp gỡ và thấy được Phật, đáp lại lời hỏi của quốc độ kia, làm cho được 3 giải thoát, thành tất cả mọi loại trí. Ở đây làm rõ cổ Phật khai mở đốn tiệm theo sau; tức là nói hiển thật, trước sau rốt ráo. Lời đáp nầy về câu hỏi của việc hiện bảo tháp mà Ngài Di Lặc thấy ở quốc độ kia, sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn. Nếu dẫn chứng từ cổ Phật thuyết pháp cho đến sáu Ba La Mật là làm rõ cho Đức Phật bây giờ đã cùng với xưa không khác. Từ đây làm cho chứng được 3 sự giải thoát. Đó chính là làm rõ vị Phật bây giờ cùng với xưa giống nhau.

Tiếp đến 20.000 vị Phật tên, hiệu thuyết pháp đều giống nhau. Đầu tiên trích dẫn một vị Phật rồi thêm vào đốn, tiệm thuyết pháp giống nhau. Ở giữa đưa ra 20.000 vị Phật và đưa ra việc thuyết về đốn giống nhau. Nói về đầu, giữa và sau đều lành. Sau đó dẫn dụ một vị Phật, đơn cử việc khai mở cho tiệm giáo giống nhau. Cho nên đều hỗ tương với nhau; dùng để chỉ phía trước có thể rõ được: nhưng mà trích dẫn 20.000 vị Phật phía trước, chính là vì danh tự thuyết pháp, đều giống nhau. Căn cứ vào nghĩa ấy làm phương tiện vậy.

Gọi Tần Ba Đọa là phiên âm của bịnh chép miệng. Lại gọi là lợi căn; lại còn gọi là nói đầy đủ. Cho đến phần cuối cùng nầy; ở phần thứ 3 có trích dẫn một vị Phật giống nhau. Văn ấy chia làm ba. Một là làm rõ việc gặp, thấy Phật cùng với bây giờ giống nhau. Hai là làm rõ việc gặp và thấy Phật cùng với ngay bây giờ giống nhau. Ba là làm rõ việc gặp, thấy Phật và làm cho sẽ giống nhau.

Chữ gặp ấy có nghĩa là từ xưa đã từng. Chữ dĩ nầy có nghĩa là cảm tạ quá khứ. Gặp cùng với đây, liền cảm tạ đầy đủ. Nay giữa kẻ xa xôi làm sự gặp gỡ. Tiểu cận có nghĩa là đã qua. Thân giữ 6 điều đoan nghiêm cùng với bây giờ. Thân Phật xuất định, ra khỏi điều kia vậy. Từ một đến Phật sau cùng có 8 người con; tức là gặp rồi đều giống nhau. Phật xưa có 8 người con và nay thì có một người con. Số lượng tuy chẳng đồng; nhưng mà sự ra đời cùng một quốc độ. Đất đai ấy có thấy, suy nghĩ. Tất cả đều chỉ cho việc có con. Việc có con ấy giống nhau. Một và tám ấy là duyên riêng biệt phó chúc, có chỗ biểu tượng. Sanh ra một con là tổng cộng biểu hiện một con đường thanh tịnh. Sanh ra 8 con là biểu hiện của Bát Chánh Đạo. Số lượng thì khác; nhưng nghĩa lại giống nhau. Bây giờ chấp vào chỗ có con thì nghĩa ấy giống nhau. Lại nữa xưa Phật Tử xuất gia, phát nguyện ý tưởng Đại Thừa. Bây giờ Phật Tử trụ ở quả Tiểu Thừa. Ở đây gọi là giống ở điểm nào? Ngày xưa khi hóa đạo rồi, liền hiển ra hình ảnh bổn sự. Cho nên nói là phát nguyện ý Đại Thừa. Còn bây giờ chưa phát tích, dụ cho lời nói của La Hán và sau đó câu văn mới phát ra Bổn Môn, tức là Bồ Đề nghĩa nầy lại giống nhau.

Từ ”thị thời Nhật Nguyệt Đăng Phật thuyết Đại Thừa Kinh” trở đi; lần thứ 2 làm sáng tỏ chỗ gặp cùng với nay giống nhau. Phật ngày xưa tự nơi đất hiện ra 6 điềm lành, tất nhiên cùng bây giờ giống nhau. Lần lượt tiếp theo như câu văn. Phật xưa ở quốc địa kia với 6

điềm lành, tổng nói như bây giờ chỗ thấy biết. Tức là rõ biết Phật xưa ở quốc độ kia có 6 điềm lành, lại cũng giống như bây giờ. Ngày xưa làm rõ, phân biệt lời tựa, liền có hiện tướng hoài nghi, cả hai lời tựa giống nhau, mà chẳng có tập chúng, lại phát khởi lời vấn đáp để hỏi lời tựa thứ ba. Nghĩa là sự suy nghĩ ấy tất có, rồi liền nói pháp, rõ biết tất cả tập chúng; tức là hoài nghi về Đạo và biết rằng nên hỏi. Nếu có hỏi tất nhiên có đáp lại. Ví dụ thứ 2, tất nhiên kiêm luôn lời tựa thứ 3 giống nhau vậy. Lại nữa nếu thuật lại lời đáp xưa, tức là chẳng cầu Văn Thù phí lời. Liền chẳng nói lời đáp lại, lại cũng chẳng phát ra lời hỏi. Nghĩa nầy có thể rõ.

Từ ”thời hữu Bồ Tát danh việt Diệu Quang” trở đi. Lần thứ 3 làm rõ chỗ gặp gỡ cùng với nay giống nhau. Câu văn nầy chia làm 6. Một là ”Từ hữu Bồ Tát là nhơn và người đồng nhau. Hai là từ ”Nhĩ thời Nhựt Nguyệt Đăng Minh Phật tòng Tam Muội khởi” là nói về tên của Pháp giống nhau. Ba là từ ”60 Tiểu Kiếp” đây chính là thời gian giống nhau. Bốn là từ ”Thuyết thị kinh dĩ ư Phạm Ma, Sa Môn” là xướng lên chỗ nhập diệt giống nhau. Năm là từ ”Thời hữu Bồ Tát danh viết Đức Tạng” đây là sự thọ ký giống nhau. Sáu là từ ”Tiện ư trung dạ” là làm rõ chỗ sau khi mất đi, kinh điển của Thông giáo giống nhau.

Bây giờ đầu tiên nói về nguyên nhơn và con người giống nhau cái gì? – Ngày xưa Phật từ định mà khởi ra nguyên nhân, Diệu Quang Bồ Tát nói kinh. Nay thì nguyên nhơn Phật từ định khởi là để nói kinh cho Thân Tử (Xá Lợi Phất) Thanh Văn. Ở đây nói giống nhau điều gì? – Các vị Thầy nói rằng: Nguyên nhơn ấy là cái nhơn đã qua, phụ giúp việc truyền lại kinh Nhứt Thừa. Chẳng phải đối diện để nói với người vậy. Vị Phật kia đối diện để bảo thì hà tất phải là Diệu Quang. Như bây giờ đối mặt để dạy cho Thân Tử. Thân Tử chưa hề có thể có tuyên bố về Thông giáo. Cái nhơn và quả nói về Thông thì chưa nói về Diệu Quang. Như cái nhơn bây giờ thì ủy thác cho Văn Thù. Bây giờ Phật chẳng ca ngợi. Qua đến Phật sao lại phải ca tụng vậy. Văn thù dẫn đến trước Phật để tán thán Diệu Quang chính là làm rõ cái nguyên nhơn đã qua rồi.

Lại nữa xưa dùng Dược Vương để làm cái nhơn của con người, lại có thể như thế. Theo dẫn chứng đã qua, chứng tỏ cho bây giờ là loại chẳng nhỏ. Hoặc nói rằng: Các nguyên nhơn ấy là do Văn Thù giải thích sự nghi ngờ, được khởi đi từ định để nói kinh nầy đối lại chẳng thể được. Bây giờ làm rõ chẳng thể được vậy. Kinh văn tự nói rằng: Nguyên do là Diệu Quang nói, mà tác nhơn và qua đó giải thích phần lưu thông. Lại lấy Dược Vương để làm thí dụ. Ở đây lại công khai trái lại lời Phật. Vậy thì kinh nào liên hệ để giải thích? – Ngày xưa nguyên nhơn là Ngài Diệu Quang và ngày nay nguyên nhơn là Thân Tử. Điều chính đáng là chỗ nguyên nhơn và con người giống nhau. Ngày xưa Đức Phật là Thầy của 8 vị Vương Tử và cả đối với Diệu Quang. Khi Như Lai từ định ra liền đối trước Diệu Quang bảo: Lại phú thác cho Diệu Quang làm Phật Tử và Lan Vân (Hầu) làm Thân Tử (đệ tử của Ngài). Phật từ định ra, lại đối trước Thân Tử bảo rằng: Theo Tích Môn, lại phú thác cho Thân Tử. Xưa nay che khuất, nên lại chẳng rõ hơn điều nầy; gần thì nắm lấy Thân Tử; còn xa thì nhận Dược Vương.

Người nghi ngờ nói rằng: Diệu Quang là Bồ Tát, Thân Tử là Thanh Văn thì làm sao giống nhau được? – Việc ngày xưa đã hiện rõ là Bồ Tát. Còn việc bây giờ chưa phát khởi ở đạo; nên nói là Thanh Văn. Điều nầy cùng với sự phát hiện của Tích (Môn). Thân Tử là đại Bồ Tát thì chẳng giống nhau ở nghĩa nào? – Ngày xưa Diệu Quang Thùy Tích thì hà tất phải làm Thanh Văn? Đặc biệt ở đây Văn Thù đã khéo nói phương tiện ẩn dụ chăng?

Từ ”thị thời nhựt nguyệt” trở đi; lần thứ 2 thuyết pháp nói là giống nhau câu văn. Bên trên Di Lặc thấy quốc độ kia là sơ đốn. Đốn rồi, sau đó lại thấy tiệm. Tiệm rồi sau đó lại thấy đủ các việc làm, sau khi làm lại chẳng thấy rốt ráo, sau đó thấy Phật Niết Bàn. Bây giờ Văn Thù đáp rằng: Khi gặp thấy Phật đầu tiên là đốn, sau đốn là tiệm và sau đó nói đủ các hạnh; tức là thấy Pháp Hoa. Sau sáu loại đoan nghiêm ở đây và kia, mới nói Pháp Hoa. Sau Pháp Hoa tức là nhập Niết Bàn. Đây chính là việc trả lời cho quốc độ kia và đáp lại rõ ràng về việc nầy.

Từ ”60 Tiểu” trở đi; thời thứ 3 giống nhau như câu văn ở dưới nói 60 Tiểu kiếp, giống như nửa ngày. Tức là giống nhau vậy.

Từ ”Nhựt Nguyệt Đăng Minh” trở đi; lần thứ 4 xướng lên sự nhập diệt giống nhau. Ngày xưa đã nói Pháp Hoa; tức là xướng lên sự nhập diệt, lại giống như Phật Ca Diếp v.v… Bây giờ Phật nói phẩm Bảo Tháp là làm rõ việc Như Lai chẳng còn bao lâu nữa sẽ vào Niết Bàn. Hóa độ đã xong, liền xướng lên việc nhập diệt vậy.

Từ ”thời hữu Bồ Tát” trở đi; là lần thứ 5 thọ ký giống nhau. Ngày xưa thọ ký nơi Ngài Đức Tạng Bồ Tát. Bây giờ trải qua việc thọ ký làm Thanh Văn, há lại giống nhau sao? – Việc xưa đã hoàn thành, cho nên nói rằng thọ nhận việc Bồ Tát ký thác. Đó mới đúng là gặp 3 và trở về một. Thanh Văn được thọ ký vậy. Nếu nói rằng: Ngày xưa thọ nhận việc Thanh Văn ký thác thì Phật từ định khởi, liền luận cứ vào nơi nào? Văn Thù khéo nói; cho nên chẳng phát khởi ra Tích (Môn) vậy. Nếu nghi việc thọ nhận Bồ Tát ký thác thì các kinh đều như thế. Người chấp vào các lời dạy thì chưa rõ biết vậy v.v…

Từ ”Phật thọ ký” trở đi. Lần thứ 6 qua các kinh, giống với câu văn và chia ra làm 5. Một là thời gian; tức là sau khi Phật nhập diệt. Hai là ra khỏi người nầy; tức là Diệu Quang vậy. Ba là xa gần; tức là 80 Tiểu Kiếp. Bốn là chỗ người hóa độ; tức là 800 Vương Tử. Năm là xưa nay gặp nhau; tức là cầu danh Diệu Đức v.v…

Nói chung việc hóa độ cho người có hai. Đầu tiên là 8 người con thực hành trong lâu xa, đã được thành Phật. Còn 800 vị kia, mỗi vị sẽ ở ngôi Bổ Xứ. Cho nên lấy dẫn dụ của 8 người con nầy với 800 vị kia. Gần hơn là giải thích điều nghi và bí mật khai mở thọ lượng. Giải thích điều nghi ấy hoặc là lấy sự Bổ Xứ của Ngài Di Lặc làm lớn. Ngài Văn Thù chẳng được Bổ Xứ làm nhỏ. Nhỏ thì chẳng thể đáp và lớn chẳng thể hỏi. Cho nên đưa ra 800, mới có việc hỏi. Diệu Quang xưa gần gũi thân cận với Đức Phật. Muốn làm rõ chỗ Thầy mình; nên giải thích điều nghi, chẳng phải là ngoa.

Mật khai thọ lượng nghĩa là trong 8 người con ấy, vị nhỏ nhất hiệu là Phật Nhiên Đăng. Nhiên Đăng có nghĩa là Định Quang. Còn Diệu Quang ấy là Tổ Sư 9 đời của Phật Thích Ca. Cháu bây giờ thành Phật; còn Sư Tổ làm Đệ Tử. Thầy trò không định trước. Cùng nhau bí mật hiển thị sự sanh diệt là ý của chẳng diệt vậy.

Hỏi: Di Lặc xưa thấy chư Phật, gặp gỡ nghe Pháp Hoa, sao lại còn nghi ngờ?

Đáp: Do căn cơ của chúng hội còn nghi, nên mới phát ra lời ấy.

Phần thứ tư từ ”Kim kiến thử đoan” trở đi gọi là đáp lại rõ ràng sự quyết đoán. Bây giờ và xưa kia, sáu việc đoan nghiêm ấy giống nhau. Sự suy nghĩ kỹ càng, quyết định chẳng ngoa. Lược nói về sự gặp gỡ và sự gặp gỡ rộng lớn, đều là sự quyết định vậy. Sẽ nói về Đại Thừa quyết định, trước khi thuyết pháp về sự đoan nghiêm. Gọi là Diệu Pháp Liên Hoa. Quyết định ấy trước khi mưa hoa đẹp. Dạy pháp cho Bồ Tát, quyết định trước chúng hội vui vẻ đoan nghiêm. Phật sở hộ niệm là quyết định trước, đất rung chuyển đẹp đẽ. Cùng với tất cả sự nhập định, tất nhiên ở trong đây. Có người làm giống rồi, sẽ giống; chẳng làm giống như bây giờ.

Tìm theo câu văn thì nói rằng: Nay thấy việc đoan nghiêm cùng với chuyện xưa chẳng khác. Lời nói chơn chánh ấy đối với bây giờ, vì sao lại hoán đổi để làm 6 sự đoan nghiêm? Củng cố lời văn nầy cho bây giờ. Cho nên tạo ra sự giải thích 3 điều giống nhau. Tụng ấy có 45 hàng kệ. Chẳng tụng bên trên và đáp lại sự suy nghĩ, lược bớt chỗ gặp gỡ, thấy nghe. Đối với việc gặp gỡ, thấy nghe rộng rãi thì trước sau đều tụng, ở giữa lại không. Đầu tiên có 2 hàng, tụng về lúc gặp gỡ, thấy nghe rộng rãi, gọi đây là sự thuyết pháp giống nhau.

Từ ”Phật vị xuất gia” trở đi. Phần thứ 2 có 39 hàng kệ, tụng về vị Phật sau cùng có 3 điểm giống nhau. Kế tiếp có 4 hàng, tụng ấy đáp lại sự quyết định. Tựu chung hàng thứ 23 ấy giống với giữa và có 3. Đầu tiên có một hàng là kệ, tụng về sự gặp gỡ, cùng với đây giống nhau. Kế đến phần thứ hai có 15 hàng rưỡi, tụng sự gặp gỡ cùng với bây giờ giống nhau. Phần thứ 3 có 22 hàng rưỡi, tụng sự gặp gỡ cùng với việc tương lai giống nhau.

Từ ”thời Phật thuyết đại” trở lại. Phần thứ 2 tựu chung giống với bây giờ, trong ấy có hai. Đầu tiên 14 hàng tụng về 5 sự đoan nghiêm của đây và kia. Phần thứ hai từ ”nhĩ thời tứ bộ chúng trở đi” một hàng rưỡi, tụng về sự hoài nghi của 4 chúng. Đầu tiên lại chia ra làm hai. Đầu ấy lại có 4 hàng kệ, tụng về 6 việc đoan nghiêm. Ở đây và kia giống nhau, mà câu văn dài thì sanh thiên và trống thì tự kêu. Điều nầy biểu hiện việc ”vô vấn tự thuyết” vậy.

Hiện ra các điều hy hữu nghĩa là tổng tụng các điều đoan nghiêm và từ ”thử quang chiếu trở đi”. Phần thứ 2 tiếp theo 10 hàng, tụng ở quốc độ kia có 6 sự đoan nghiêm giống nhau. Trong câu văn Trường hàng (dài) thường nói như bây giờ chỗ thấy là quốc độ của chư Phật. Câu văn nầy tức là lược bớt bài tụng rộng nầy vậy. Câu văn nầy chia ra làm 5. Ba hàng đầu tụng thấy 6 nơi chúng sanh giống nhau. Kế tiếp là từ ”kiến chư Như Lai trở đi”. Phần thứ hai, một hàng có 2 câu. Tụng ấy thấy Phật giống nhau. Kế đến từ ”Thế tôn tại trở đi”. Phần thứ 3 có 2 câu, khi tụng nghe Phật nói về đốn giáo với 7 pháp lành giống nhau. Kế đó từ ”nhứt nhứt chư Phật trở đi”. Phần thứ 4 có 3 hàng. Tụng thấy Thanh Văn và Tam Thừa, tức là xưa Phật khai mở giáo pháp tiệm giáo giống nhau. Kế tiếp từ ”hựu kiến chư Phật Bồ Tát trở đi”. Phần thứ 5 có 2 hàng. Tụng thấy Bồ Tát đủ loại nhơn duyên; tức là lời tụng, mở khai Phương Đẳng, Bát Nhã giống nhau. Phần đầu 3 hàng như câu văn. Phần 2, một hàng rưỡi giải thích. Tự nhiên thành Phật đạo nghĩa là Phương Tiện đạo, tức là gia tâm việc tu tập. Phát chơn đạo nghĩa là nhiệm vận tự nhiên cùng với lý ấy hợp nhau. Đối với tứ giáo đều có thể rõ biết v.v…

Hỏi: Phát chơn tự nhiên có phải là thuận theo lời thuyết pháp của chư Phật?

Đáp: Như thuyền thuận chiều gặp gió, gia thêm sức mạnh và trợ duyên cho cán chèo, tất có chỗ đến. Gió ấy dụ cho việc thấy Phật, nghe pháp. Cán chèo dụ cho sự tu hành – Ví dụ ấy như từ sơ quả đến 7 lần sanh. Nếu được gặp Phật thì gia thêm sự tu trì; hoặc một lần sanh; hai lần sanh khiến được đến vô học v.v… Tự nhiên thành Phật Đạo là báo thân. Lưu ly ấy là pháp thân vốn thanh tịnh. Tượng vàng ấy là vật hiện hành.

Từ ”Thế Tôn tại đại chúng phu diễn thâm pháp nghĩa” trở đi. Phần thứ 3 gồm nửa hàng; đây chính là giáo pháp đối với con người. Pháp ấy sâu xa, nên rõ biết tất nhiên vận dụng cơ lớn để khai mở đốn giáo vậy. Bài tụng nầy như trên thuần nhứt, chẳng tạp, là câu văn của 7 việc lành.

Từ ”nhứt nhứt chư Phật độ Thanh Văn chúng trở đi”. Phần thứ 4 gồm 3 hàng nầy; tức là nói về con người đối với giáo pháp. Người đây tức là Nhị Thừa. Tất nhiên rõ biết, khai mở để nói Tam Tạng. Tức là bài tụng trên về Thanh Văn, loài người mà nói Tứ Đế. Tuy chẳng tụng về Duyên Giác; nhưng trong đó có nhiếp lấy; thực hành bố thí, nhẫn nhục v.v… cùng với bốn độ. Một hàng nầy ở trên tụng về 6 độ của Đại Thừa.

Lại nữa từ ”kiến Bồ Tát thâm nhập chư Thiền Định” trở đi. Phần thứ 5 có 2 hàng, tụng ở trên thấy Bồ Tát ở quốc độ kia cùng với đủ loại nhơn duyên, tín, giải, tướng mạo vậy. Lược bớt chẳng đáp việc khởi bảo tháp ở trên. Bên trên chẳng thấy quốc độ kia có tướng Pháp Hoa; thứ đến thấy có pháp hiện ra. Bây giờ tháp ấy hiện ra tướng Pháp Hoa; cho nên khởi tháp nhập diệt và việc ấy đáp lại sau đó.

Kế đến từ ”nhĩ thời tứ bộ chúng” trở đi. Phần thứ 2, một hàng rưỡi; theo cách tụng như câu văn, ngày xưa Phật đã tứ chúng có nghi ngờ nhớ đến.

Từ câu ”Thiên nhơn sở phụng tôn” trở đi gồm có 22 hàng rưỡi, tụng ấy là chỗ gặp và bây giờ giống nhau. Câu văn nầy lại chia làm 6. Hai hàng đầu, 2 câu tụng, nguyên nhơn và con người giống nhau.

Kế đến ”thuyết thị pháp” trở đi; phần thứ 2 câu thứ nhứt tụng với việc thuyết pháp bên trên giống nhau.

Kế tiếp ”mãn 60 Tiểu kiếp” trở đi; phần thứ 3 một hàng một câu tụng về thời gian giống nhau. Rõ biết đầy đủ các kiếp dài lâu; thật bất tư nghì. Ngài Diệu Quang cũng đều thọ trì Phật Pháp ngày xưa. Cũng giống như Thân Tử thọ nhận sự phó chúc vậy.

Kế đến ”Phật thuyết thị Pháp Hoa” trở đi; phần thứ 4 gồm 5 hàng tụng bên trên và xướng về việc nhập diệt giống nhau. Tức là đáp lại cái ý của việc nhập diệt tại quốc độ kia ở bên trên. Tựu chung câu văn nầy có đề xướng lên sự nhập diệt, có sự chúc lũy. Chúc lũy nầy giống như là di giáo. Có buồn khóc như Niết Bàn, có ưng dụ lại giống như Di Giáo vậy. Những người đắc độ, tất nhiên đều được đắc độ. Những kẻ chưa được độ là nhơn duyên sẽ được độ. Giống như bây giờ Phật sẽ phó chúc cho Ngài Di Lặc vậy v.v…

Từ ”Thị Đức Tạng” trở đi; phần thứ 5 có một hàng rưỡi, tụng về sự thọ ký bên trên. Kế đến ”Phật thử dạ trở đi”; phần thứ 6 có 12 hàng, tụng qua kinh bên trên. Thông Kinh ấy lại có 5. Đầu tiên có 2 hàng, tụng lúc Đức Phật nhập diệt thì 4 chúng được lợi ích; như củi hết lửa tắt. Tiểu Thừa Phật lấy quả báo của thân làm củi và trí huệ làm lửa. Huệ ấy nương vào báo thân và báo thân ấy diệt thì trí mất. Đại Thừa Phật lấy căn cơ làm củi và nhánh đậu làm lửa. Chúng sanh căn cơ, thì hình tướng lại hoại diệt. Phải tinh tấn gấp bội; nên lấy sự diệt độ để độ.

Kế tiếp ”từ thị Diệu Quang” trở đi; phần thứ 2 có 2 câu. Tụng nầy có thể giúp cho người hoằng pháp qua kinh.

Kế đến từ ”80 Tiểu kiếp” trở đi; phần thứ 3 có 2 câu, tụng về việc làm trải qua thời gian.

Kế tiếp từ ”thị chư Bát Vương” trở đi; phần thứ 4 có 8 hàng, phần tụng bên trên là chỗ nhiêu ích cho đệ tử. Ở đây chia ra làm hai. Ba hàng đầu tụng rồi, thành đệ tử.

Kế tiếp từ ”Diệu Quang trở đi”; 25 hàng tụng, sẽ thành đệ tử.

Kế tiếp từ ”Phật diệt” trở đi; phần thứ 5 có một hàng, tụng về phần cuối của việc gặp gỡ xưa nay. Sau 4 câu kệ, xưa gọi là kết thành, làm cho mọi vật đều ngưỡng mộ. Bây giờ sự giải thích chẳng phải như vậy.

Câu văn Trường hàng bên trên có phân minh phán đoán về lời đáp lại của câu văn tụng nầy. Câu văn lại chia làm 3. Đầu tiên từ ”ngã kiền đăng trở đi”; đầu tiên có một hàng, tụng về việc sẽ nói kinh Đại Thừa.

Kế đến từ ”Kim tướng như bổn” trở đi; phần thứ 2 có 2 hàng, tụng về cách dạy dỗ các pháp cho Bồ Tát.

Kế đến từ ”chư cầu Tam Thừa nhơn trở đi”; phần 3 có một hàng, tụng về Phật hộ niệm. Ở câu văn nầy có thể giải thích được.

Lại nữa phía trước Ngài Di Lặc giải thích về 4 loại phục nan. Bây giờ nhất định Ngài Văn Thù có đáp lại. Ở trong nầy Văn Thù đoạn trừ 4 phục nghi; khiến cho Di Lặc chưa rõ lại hỏi. Cái nghi đầu tiên là Ngài Văn Thù rộng dẫn việc gặp Phật trước, nói kinh Pháp Hoa; cho nên Di Lặc có nghi và muốn hỏi. Chư Phật tùy theo duyên còn con người thì mỗi mỗi khác nhau. Phật xưa chỉ gọi Pháp Hoa và Phật bây giờ hà tất phải như vậy. Văn Thù tức là lấy câu kệ thứ nhứt để nói việc đoạn (nghi). Ta thấy Phật Đăng Minh vốn có ánh sáng đoan nghiêm như đây; cho nên rõ biết Phật bây giờ muốn nói kinh Pháp Hoa? Việc đoạn nghi nầy gọi là hỏi vậy. Di Lặc do nhơn nầy mà lại nghi. Tự có tên giống và nghĩa giống vậy. Tự có tên giống và nghĩa khác. Tên nầy là chỗ để làm rõ tên gì?

Văn Thù tức là lấy câu kệ thứ 2 để đoạn trừ nghi. Tướng bây giờ đoan nghiêm như xưa kia. Đây là chư Phật phương tiện. Phật bây giờ phóng ra ánh sáng, trợ giúp cho cái nghĩa phát ra thật tướng. Đây là đoạn cái nghi về cách hỏi. Di Lặc nhơn điều nầy lại nghi. Thật tướng vô tướng ai là người có thể gặp được? Văn Thù tức là dùng câu kệ thứ 3 để đoạn nghi. Con người bây giờ sẽ rõ biết, chắp tay một lòng chờ đợi. Phật sẽ mưa pháp, mưa ấy rải khắp cho người cầu đạo. Đoạn trừ nghi nầy là căn bản của câu hỏi. Di Lặc nhơn đó lại nghi nữa.

Phật mưa pháp, mưa ấy dừng nơi Bồ Tát và nhuần thắm Đại Thừa. Văn Thù tức là dùng câu kệ thứ 4 để đoạn nghi. Những người cầu Tam Thừa, nếu có nghi hối, Phật sẽ vì đó mà trừ nghi, làm cho không còn sót gì nữa. Đây tức là dùng câu hỏi để đoạn nghi nầy. Di Lặc lại càng nghi hơn. Văn Thù lại đoạn trừ phiền não; tức là việc cùng lý tận; tức là ở nơi hoài nghi; có thể ở nơi hỏi đáp hay đầu, đủ 2 việc trang nghiêm. Làm cho rõ ràng để hiểu, thuật lại nơi những vị Thầy sáng suốt, giải thích 4 loại phục nan, làm cho Văn Thù tất nhiên phải đáp lại. Rõ ràng cái đẹp của Di Lặc là chẳng thấy Văn Thù giải thích 4 phục nan ấy và làm cho Di Lặc chẳng hỏi, mà hướng về Diệu Đức. Nghĩa nầy phát xuất từ Thiên Thai, chẳng phải truyền lại từ kia. Lời nói ỷ ngữ, người hiền đời sau chớ có ngăn cấm người lâu dài. Từ các vị Thầy ấy về sau, cả 100 năm hơn, kẻ giảng Pháp Hoa là con đường lợi ích. Phàm có thấy được ý ấy chăng? Chẳng phải lâu gì.

 

Giải thích về phẩm Phương Tiện

Việc giải thích ở đây có lược bớt nghĩa rộng. Lược ấy lại có 2. Trước tiên, sự lược bớt ấy lần lượt giản đơn; sau đó là pháp và tiếp theo là dụng. Pháp ấy có tròn đầy; dụng ấy có sai đúng. Ba quyền là ánh đèn, là phương hướng. Một sự thật là quy tắc, là tròn đầy. Nếu kẻ trí thường hay tiếp cận với ánh sáng; tức là hay dùng biện pháp gần gũi với chúng sanh. Nếu kẻ trí gặp nơi quy tắc; tức là lành dùng phép Viên (giáo) để gặp gỡ chúng sanh. Giống như khắp cả cử chỉ dùng mắt để ở các nơi. Đây chính là pháp ở khắp nơi, dùng mắt để rõ biết. Dùng pháp nầy để giải thích là phương pháp vậy. Nếu nói tổng quát về cử chỉ thì dùng mắt để thấy nơi Viên (giáo). Há phải giải thích điều vi diệu, lại phải giải thích nữa sao? Dùng sự thấy khắp các pháp để giải thích phương tiện. Sự che đậy tùy theo chúng sanh, muốn chẳng nhớ lại vị Phật chính, như trong kinh để lìa những sự dính mắc, ra khỏi 3 cảnh giới hữu. Cho nên Đức Như Lai mới khuyến khích, xưng dương tán thán phương tiện là vậy. Nghĩa nầy có thể giải thích ở kinh kia và chẳng phải ý của phẩm nầy. Lại nữa cũng là cửa của phương tiện. Môn đây hay thông; thông ấy là đối với chỗ thông phương tiện, quyền lược. Tất cả đều được hướng dẫn. Vì sự chơn thật mà tạo ra cửa nầy. Sự chơn thật được hiển thị ra công đức là do phương tiện. Từ chỗ hay hiển bày, mà được gọi tên. Cho nên dùng môn để giải thích phương tiện. Như kinh khai mở cửa phương tiện để chỉ bày tướng chân thật. Nghĩa nầy có thể giải thích ở kinh kia, chẳng phải là ý của phẩm nầy. Lại nữa Phương đây là huyền bí và Tiện đây chính là diệu dụng vậy. Lành đạt ở Phương, tức là chân huyền bí. Điểm bên trong nương vào phía sau, chẳng có châu báu giá trị; cùng với trên đảnh của vua, tuy có một hạt châu, chẳng hai và chẳng sai khác. Chỉ cho vị khách làm người là Trưởng giả; còn con ấy lại chẳng hai và không sai biệt. Như lời nói ấy được chẻ ra thì là huyền bí, là vi diệu. Như kinh, tuy ta biết là tướng, mà mười phương chư Phật cũng vậy. Dừng lại chẳng cần nói; pháp ta thật khó nghĩ. Cho nên nói là huyền bí và giải thích là Phương. Lấy sự vi diệu ấy nói là Tiện.

Đây chính là cái ý của Phẩm nầy. Cho nên gọi là Phẩm Phương Tiện.

Liệu giản nghĩa là đầu tiên lần lượt giải thích; đây chính là bề ngoài của Phương Tiện. Vật thay đổi ấy là quyền, tùy theo ý của lời nói kia. Kế đến sự giải thích lại là thể ngoại của Phương Tiện. Tự hành và hóa tha, chính là quyền. Lại nữa cũng tùy theo ý nói về tự và tha. Sau đó giải thích điều nầy đồng thể với Phương Tiện. Tức là tự hành quyền, tùy theo ý của lời nói. Đầu tiên giải thích Phương Tiện chẳng hay vào, chẳng có chỗ vào. Kế đến giải thích Phương Tiện là chỗ có thể vào, chẳng có chỗ vào. Sau đó giải thích Phương Tiện là chỗ vào, chẳng phải hay vào được. Cho nên rõ biết là tên giống; nhưng nghĩa nầy thì khác nhau rất lớn. Đa phần người đời ít thấy được ý nầy; nên hiểu xa về sự giải thích của Phẩm Phương Tiện nầy v.v…

Hỏi: Phương Tiện cùng với quyền là thế nào?

Đáp: Bốn câu phân biệt, tự có phương tiện và phá quyền. Quyền phá phương tiện; phương tiện tu quyền. Quyền tu phương tiện; phương tiện tức quyền; quyền tức là phương tiện. Phương tiện phá quyền nghĩa là 4 loại ấy đều là bí diệu của phương tiện. Phương tiện nầy phá tùy theo ý của quyền kia. Quyền phá phương tiện là quyền, là đồng thể của quyền. Phá ấy là đối với thể bên ngoài của phương tiện vậy. Tướng tu lại cũng có thể giải thích như thế. Tướng ấy tức là người, lại cũng có thể giải thích như thế v.v…

Ba câu có thể giải thích ở kinh kia. Câu thứ 4 là ý của Phẩm nầy vậy. Cho nên Chánh Pháp Hoa gọi là Phẩm Thiện Quyền. Quyền đây tức là Phương Tiện, không hai và không khác biệt. Cúi đầu, chắp tay, tất cả đều thành Phật. Phương Tiện thiện quyền đều là chơn thật. Giải thích rộng như trước đã trích lời xưa để giải về 5 thời quyền và thật. Trước 12 năm chiếu rõ sự vô thường và việc ấy là quyền. Chiếu rõ cái lý của vô thường là thật để chỉ cho A Tỳ Đàm. Bây giờ giải thích luận nầy là phá vô thường, nghĩa là pháp đối trị. Tất cả đều thuộc về 3 Tất Đàn.

Vì sao lại có thật vậy? Bây giờ lại chẳng có chỗ dùng đến?

Sau 12 năm ấy là Bát Nhã chiếu soi cái giả và lấy đó làm quyền. Chiếu giả ấy; tức là lấy không làm thật. Thích luận lại phá bỏ nghĩa nầy; trừ ra cái quán về nhớ nghĩ. Tất cả ngôn ngữ đều tiêu sạch.

Chiếu giả hữu tức là không. Điều nầy dụ cho sự quán tưởng; chỗ dùng bây giờ chẳng có.

Kế đến gọi việc yên tịnh là tư ích. Bên trong tranh với không kia, có 2 cảnh lấy làm thật trí. Bên ngoài biến động hay dùng đến và lấy đó làm quyền trí. Bây giờ nghĩa là bên trong tranh chấp; bên ngoài dùng đến, chia làm hai. Chẳng vào được cửa bất nhị. Bây giờ chẳng có chỗ dùng được.

Kế đến Pháp Hoa chiếu vào ba và ba ấy làm quyền. Chiếu vào bốn và một ấy là thật. Bây giờ nghĩa là 3 quyền 1 hướng, chẳng gặp nhau chỗ thật. Mặt thật ấy chẳng liên quan với 3 quyền. Bây giờ chẳng thể dùng được.

Kế đến, trước Niết Bàn Kim Cang thì vô thường là quyền. Sau Kim Cang thì thường ấy là thật. Bây giờ nghĩa là trước đạo thì chơn như cũng lại là thường. Sau đạo như lượng trí lại là quyền. Năm thời quyền, thật nầy nay chẳng thể dùng được. Cho đến đầy cả 4 Tông chỗ làm sáng tỏ cho quyền, thật, hai trí. Lại bây giờ cũng chẳng dùng được.

Lại có người giải thích rằng: Phương Tiện cũng là quyền, mà thật thì chưa thật. Lại nữa phương tiện là quyền, xảo thật là trí tuệ. Lại nữa phương tiện là quyền giả; giả 3 xe ra khỏi cửa. Lại nữa phương tiện là quyền nghi. Nghi nói về 3 Thừa. Cho nên lại quyền là dụ cho danh. Dụ như trước cái câu là trọng lượng, đo chỗ nhẹ nặng và sau đó cân bằng. Hợp nơi trí Phật, chiếu tỏ gọi là lượng. Như thế cùng với sự giải thích, mỗi mỗi thu về một. Quyền là quyền giả chỗ nơi chốn; quyền nghi về pháp môn; quyền xảo đo lường thuộc về trí năng. Mỗi thứ chẳng bao hàm ý nghĩa; chẳng dung thông chỗ diệu dụng. Chẳng có thể dùng sự giải thích nầy cho Phẩm nầy được.

Lại cũng có người lấy bốn loại của hai huệ. Một trước là quyền; một sau là thật. Kế đến, không ấy có hai trí. Quán về không chẳng chứng lìa Nhị Thừa, lại có sự vô nhiễm, ra khỏi chỗ phàm phu.

Lại nữa không ấy có bên trong thanh tịnh làm thật. Bên ngoài dùng làm quyền. Thứ đến, trước sau Kim Cang thường, vô thường làm quyền, thật. Hai huệ đầu làm cho sanh niềm tin. Hai huệ sau làm cho sanh sự hiểu rõ. Hai huệ tiếp làm cho hóa tha. Hai huệ sau là quả. Hai huệ nầy, phàm có 2 chuyển. Cái đầu lấy hữu vi của không thế tục làm chơn. Kế đến là không hữu vi tục; lấy chẳng không, chẳng có làm chơn. Tiếp theo là không hữu có hai. Chẳng phải không, chẳng phải hữu lấy đấy làm bất nhị. Hai là bất nhị ấy, tất cả đều là tục; chẳng phải hai, chẳng phải chẳng hai làm chơn. Giáo trí lại cũng như vậy. Vì sao thế? – Vì con người Tất Đàn (trí) vậy. Vì có người trước nghe chẳng ngộ; nhưng sau nghe lại ngộ. Cho nên nhị đế chẳng đồng.

Lại nữa Như Lai thường nương vào nhị đế để thuyết pháp. Cho nên nhị đế có 3 cửa. Ngoài ra Phật dạy tuy nhiều nhưng chẳng ra khỏi 3 môn. Dần dần hướng dẫn cho chúng sanh vậy. Phàm phu so đo thân hình là thật; bị che đậy chẳng thật. Pháp tánh không lại là chơn. Phàm phu xả bỏ hữu, thủ, không. Nói là không, có đều là tục. Phi không, phi hữu lại là chơn. Hoặc giả xả nhị biên, vào Trung Đạo. Lần thứ 3 xa rời nhị biên; chẳng dính vào Trung Đạo. Thế là chơn. Đây là Ngũ Thừa nhơn. Đầu tiên dẫn kẻ phàm phu sanh lòng tin ra khỏi chỗ có. Kế đến dẫn Nhị Thừa làm cho nhập vào Trung (Đạo). Kế đến dẫn Bồ Tát làm cho giữa, biên đầu xả bỏ.

Lại vì kẻ học trung ấy thành 3 giả của thế gian. Ba giả; không là chơn nầy hay được ý ban đầu. Kế đến chẳng phải 3 giả, không, hữu ấy đều là tục. Phi không, phi hữu lấy làm chơn v.v…

Bây giờ làm cho rõ ràng lời giải thích kia. Cho đến bên cạnh 5 thời, hiển thị ý nầy. Qua khỏi tiệm, lần lượt vào chỗ chẳng có. Có thể giải thích kinh kia chẳng phải là ý của Phẩm nầy.

Kinh rằng: Hoặc làm cho chúng sanh tất cả đều thấy được, sao lại có trước sau khai ngộ, chẳng giống nhau. Lại nói rằng: Chánh trực xả phương tiện, sao lại dùng tiệm, thứ nào để gặp nơi viên diệu? Đầu tiên lại dẫn đến sanh tín, giải, hóa, quả. Có sự liên hệ nào nay kinh nầy ngộ nhập vào ý kia? Như Thiên (Thế) Thân liệt kê 17 tên gọi. Tên thứ 13 gọi là đại xảo phương tiện.

Lại nữa ở nơi Đại Thừa Phương Tiện Kinh làm rõ về phương tiện có 10 loại. Loại thứ 9 gọi là Thiện Xảo đổi từ Nhị Thừa làm cho nhập vào Đại Thừa phương tiện Ba La Mật. Nên biết rằng Phẩm nầy còn gọi là Như Lai phương tiện, nhiếp lấy tất cả pháp như không, bao hàm các sắc. Nếu là biển thì thêm nước, há có thể dùng chư Sư một nhánh, một phái giải thích pháp giới đều được hết sao?

Bây giờ làm cho rõ chỗ quyền, thật. Trước tiên tạo ra 4 câu. Nghĩa là tất cả pháp đều là quyền; tất cả pháp đều là thật. Tất cả pháp vừa quyền vừa thật. Tất cả pháp phi quyền phi thật. Tất cả pháp là quyền như câu văn nói; nghĩa là các pháp như thế, tánh, tướng, thể, lực, bổn, mạt v.v… Tuy có dùng đến lời nói; nhưng tất cả đều là quyền. Tất cả pháp đều là thật như câu văn giải thích. Như Lai xảo nói các pháp để làm cho tâm của chúng sanh sanh vui. Khi tâm của chúng sanh nhập vào thật thì lấy đó làm vui. Lại nữa chư pháp từ bổn lai, thường tự nó có tướng tịch diệt. Lại nói rằng: Như Lai sở thuyết, tất cả đều đến tất cả trí địa. Lại nói: Tất cả đều thật chẳng hư ngụy. Hơn nữa 4 câu của Đại Kinh ấy đều chẳng thể nói được. Tất cả pháp vừa quyền vừa thật. Như câu văn nói cho nên các pháp, tướng như thật. Cả hai điều nầy đều làm rõ tất cả vừa quyền, vừa thật. Ví dụ như quán bất tịnh vừa quyền, vừa thật, vừa hư v.v…

 

Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Văn Cú

Hết quyển ba (Phần trên)

 

Quyển thứ 3

(Phần dưới)

Tất cả pháp phi quyền phi thật theo như kinh nói thì phi ấy như khác phi. Lại nói: Lại chẳng phải chẳng hành các pháp trên, giữa, dưới và các pháp hữu vi, vô vi, thật, chẳng thật. Chẳng hư, chẳng thật, như thật tướng vậy. Nếu tất cả các pháp là quyền, sao lại chẳng có chỗ phá? Lại làm cho 100, 1000 Thầy; mỗi mỗi Thầy lại nói trăm, ngàn cách khác nhau. Chẳng phải đó chẳng là quyền. Như Lai có nói phía trên lại là quyền; huống là con người, bậc Thầy há được nói không phải quyền? Như phía trước đã thấy, tất cả đều là quyền vậy.

Nếu tất cả pháp đều là thật, sao lại chẳng phá chỗ nào cả? Duy chỉ có một sự thật; trừ hai, tức là chẳng thật. Chỉ có một con đường cứu cánh, há lại có nhiều con đường cứu cánh hay sao? Như trước chỗ thấy của các vị Thầy; tất cả đều phá để nhập vào thật. Há lại còn giữ điều che khuất nầy sao?

Nếu tất cả pháp vừa quyền vừa thật, có chỗ nào lại chẳng phá? – Tất cả tất nhiên có quyền có thật. Cái nào được ở một, chẳng giải khác đi được. Mỗi mỗi pháp trung, đều có quyền, thật. Chẳng được một hướng quyền một hướng thật.

Nếu tất cả pháp phi quyền phi thật, thì có chỗ nào lại chẳng phá? sao lại phân chia và kiến lập ra chỗ khác nhau? Ngay ví dụ phía trước; tên gọi đều như thế. Cái thấy của những bậc đi trước thật là rộng rãi cao minh là điều nầy. Hà huống là luận về chỉ thú sao?

Bây giờ tựu trung có quyền, có thật, câu văn liền khai ra 10 pháp. Tựu chung trong 10 pháp ấy lấy 8 phần để giải thích. Một ví dụ về 10 tên gọi. Hai sanh khởi. Ba là giải thích. Bốn là dẫn chứng. Năm là kết 10 ấy làm 3 loại quyền thật. Sáu là phân biệt 3 loại quyền, thật, chiếu, 3 loại nhị đế. Bảy là các kinh phê phán về quyền thật. Tám là Bổn Tích phê phán và quyền, thật.

Một dùng tên thí dụ nghĩa là sự và lý. Lý giáo, giáo hạnh, trói mở, nhơn quả, thể dụng, tiệm đốn, khai hợp, thông biệt Tất Đàn. Tức là 10 loại tên gọi vậy.

Hai là sanh khởi; tức là từ vô trụ, vốn lập nên tất cả pháp. Vô trụ ấy là cái lý vậy. Tất cả pháp là sự. Lý sự cho nên có giáo. Do giáo cho nên có hạnh. Do hành cho nên có cởi mở. Do cởi mở cho nên thành nhơn quả. Do quả ấy cho nên thể hiển hay dụng. Cho nên có tiệm đốn hóa hiện. Do khai mở tiệm đốn cho nên có khai hợp. Khai hợp cho nên có sự lợi ích của Thông Biệt. Thông Biệt cả hai sự lợi ích ấy; cho nên có 4 Tất Đàn. Đây là 10 chương theo thứ tự như vậy v.v…

Ba là giải thích. Lý ấy là chơn như. Chơn như gốc ấy thanh tịnh. Có Phật hay không Phật, thường chẳng dễ thay đổi. Gọi cái lý ấy là sự thật thì tâm, ý, thức đồng khởi lên tịnh và bất tịnh nghiệp, cải đổi động và bất định. Gọi sự là quyền. Nếu chẳng phải lý thì lấy đâu ra lập sự. Phi sự thì chẳng thể hiển lý. Sự có hiển lý là công; cho nên hay siêng năng xưng tán phương tiện. Lý giáo ấy là tổng tất cả sự lý phía trước; tất cả đều gọi là lý. Ví dụ như chơn, tục đều gọi là Đế. Đây là thể của chư Phật để thành các bực Thánh. Thánh ấy là chánh thật vậy. Muốn dùng pháp nầy làm cho chúng sanh, nhơn lý ấy mà thiết giáo; giáo ấy tức là quyền vậy. Phi giáo chẳng lấy đâu mà hiển lý. Hiển lý là do giáo. Cho nên Như Lai tán thán phương tiện v.v…

Giáo hành nghĩa là nương vào giáo để cầu lý; tức sanh chánh hạnh. Hạnh ấy có vào, ra, sâu, mỏng đặc thù. Cho nên việc làm ấy gọi là quyền. Giáo không có tiến thú, thâm triển khác biệt; nên giáo ấy gọi là thật. Phi giáo thì chẳng thể lập hạnh; phi hạnh thì chẳng thể gặp giáo. Gặp giáo là do hạnh: cho nên Như Lai tán thán phương tiện v.v…

Trói mở nghĩa là vì hành vi của lý, tức có sự trói buộc. Sự buộc ấy là hư vọng; cho nên gọi là quyền. Vì việc làm ấy thuận với lý; cho nên sanh ra giải. Giải ở nơi lý; cho nên gọi là thật. Phi trói buộc; chẳng do đó mà cầu thoát khỏi. Được thoát khỏi là do sự trói buộc. Như thây chết trôi ở biển. Tử thi ấy nhờ lực đẩy vào bờ, xưng tán phương tiện.

Nhơn quả là nhơn có tiến thú; công dụng cho nên gọi là quyền. Quả ấy có cuối cùng vĩnh viễn chứng được; cho nên gọi là thật. Không có quả thì nhơn ấy không có chỗ nương vào. Không nhơn quả sẽ chẳng thể tự hiển thị và dùng 2 quán ấy làm phương tiện đạo. Đoạn hoặc thành nhơn, được nhập vào Trung Đạo giải thoát là quả. Nếu không phải nhị quán, há gặp được trung Đạo? Quả ấy do nhơn khắc phục vậy. Cho nên xưng tán phương tiện.

Thể dụng như trước đã nói là cái nhơn của phương tiện.Chánh quán nhập trụ là quả. Trụ xuất là thể dụng. Thể ấy tức là thật tướng, chẳng có phân biệt. Dụng ấy tức là lập tất cả pháp, sai biệt chẳng giống nhau. Như đất đai sanh tất cả mọi loài mầm. Không có đất thì chẳng thể sanh được. Không sanh thì chẳng lấy đâu mà hiển. Tìm được căn nguyên thì rõ dụng, thức, thể. Dụng ấy là công của hiển thể xưng tán phương tiện.

Tiệm đốn ấy là tu nhơn chứng quả, từ thể khởi dụng, đều có tiệm đốn. Bây giờ làm rõ chỗ khởi dụng. Dụng tiệm làm quyền, dụng đốn làm thật. Nếu chẳng phải tiệm dẫn dắt thì không có lý do để nhập đốn. Từ tiệm được thật; cho nên gọi là phương tiện.

Khai hợp nghĩa là từ đốn khai tiệm; tự tiệm chẳng hợp, lại chẳng hợp với đốn; cho nên nói là quyền. Tiệm ấy làm cho cứu cánh, trở lại hợp nơi đốn; cho nên nói là thật. Do khai cho nên có hợp. Khai ấy có hợp lực; từ khai nhận lấy tên gọi. Cho nên nói là tán thán phương tiện.

Thông, biệt, ích nghĩa là thông ấy là nửa chữ vô thường của sự ích lợi. Rồi thường ấy ích lợi, đạo tăng trưởng dài lâu. Hỉ ấy sanh đến hư, chìm nổi, rồi hóa thành để tiếp dẫn. Sanh ra tưởng tượng an ổn. Sau đó liền hóa lại và dẫn đến bảo sở. Nếu không có nửa sự ích lợi thì chẳng gặp được thường. Một nửa ấy là cái công để hiển được đầy đủ; cho nên gọi là tán thán phương tiện.

Tứ Tất Đàn nghĩa là 3 việc nầy của thế gian; cho nên lấy đó làm quyền. Nghĩa thứ nhất là xuất thế; cho nên lấy đó làm thật. Không có đời thì chẳng thể ra khỏi đời được. Do Tam Tất Đàn mà được nghĩa đệ nhất vậy. Cho nên Như Lai xưng tán phương tiện.

Thường dùng 4 câu để giải thích 10 loại quyền, thật. Ba loại ấy là ý của kinh khác. Một loại là ý của Phẩm nầy vậy.

Bốn loại dẫn chứng ấy là 10 nghĩa thông, đại giáo và tiểu giáo nầy, cho nên tất cả pháp; há là dẫn kinh nầy. Chẳng phải như 3 cõi mà thấy nơi 3 cõi. Ba cõi ấy là sự. Chẳng như 3 cõi mà thấy, ấy là lý. Các pháp tịch diệt, chẳng thể nói đó là lý. Phương tiện lực là 5 Tỳ Kheo nói giáo nầy. Nếu nghe kinh nầy là lành làm con đường Bồ Tát và chứng được giáo hạnh. Lại nữa các người chỗ làm là con đường Bồ Tát. Phật Tử hành đạo rồi, đời sau được làm Phật; lại có đủ nhân duyên mà cầu Phật đạo. Thường lìa hư vọng; nên gọi là giải thoát. Chưa được tất cả giải thoát, làm hết chỗ đạo pháp của chư Phật, thì đạo tràng ấy được kết thành quả v.v…

Tất cả dùng Phật nhãn để quán, thấy chúng sanh trong 6 đường, đầu tiên thấy thân ta, nghe ta thuyết pháp. Tức là tất cả đều tin nhận vào trí huệ của Như Lai. Trừ kẻ, trước lo tu học nơi Tiểu Thừa v.v…

Cùng tử ấy đầu tiên phải vào làm khách hốt phân và sau đó được giao phó cho tài sản. Đầu tiên ấy chính là hóa thành và sau đó dẫn vào bảo sở, đủ loại dục đủ loại tánh, tướng, ức, niệm v.v…

Điều thông dẫn một bộ làm chứng nầy, bây giờ biệt dẫn một phẩm. Tuy chẳng lần lượt theo 10 bài văn đầy đủ; nhưng trí tuệ của chư Phật thì thậm thâm vô lượng. Trí tuệ môn nầy thì khó giải, khó nhập. Tất cả sự lý cảnh trí v.v… đều gọi là thật. Chuẩn bị rõ ràng đầy đủ trong lời dạy của A Hàm; tất cả đều là trí huệ môn. Đây là chứng minh cho lý giáo, luận về quyền và thật; khó giải, khó nhập. Tất cả Thanh Văn, Bích Chi Phật chẳng thể rõ biết. Tức là trói, mở luận về quyền và thật. Vì sao vậy? Chỗ Phật gần gũi cho đến gọi tên là Phổ Văn; tức là giáo hạnh, hoặc về quyền và thật. Thành tựu sâu xa cho đến ý thú khó giải thích được. Tức là thể, dụng luận về quyền, thật.

Ta từ thành Phật đến nay. Thành Phật tức là quả; quả ấy tất nhiên có nhơn. Tức là nhơn quả luận về quyền thật. Đủ loại nhơn duyên thí dụ; cho đến làm cho lìa những sự dính mắc. Tức là tiệm đốn luận về quyền thật. Cho nên Như Lai phương tiện thấy biết tất cả đều đầy đủ rồi. Tức là khai hợp luận về quyền thật. Chư Phật vì đại sự nhơn duyên cho nên xuất hiện ra nơi đời. Vì làm cho chúng sanh khai mở ngộ nhập Phật tri kiến. Đây là sự lợi ích luận về quyền thật. Thâu nhận những lời căn bản của Phật, tất nhiên sẽ thành tựu. Tức là ba Tất Đàn thành tựu vậy. “Chỉ chỉ bất tu thuyết”; tức là đệ nhất nghĩa của Tất Đàn. Đây chính là 4 Tất Đàn luận về quyền và thật. Vì sao vậy? Vì Phật tất cả đều thành tựu hy hữu, cho đến thật tướng của các pháp; tức là cái lý. Cho nên các pháp, tướng là như vậy. Đây tức là sự. Điều nầy chính lá lý sự luận về quyền và thật. Chỉ một đoạn văn Trường Hàng như thế làm rõ 5 việc của Phật quyền và thật. Phật Phật đều như vậy. Rồi sau đó Pháp Hoa luận giải về trí huệ sâu xa của chư Phật và vì chứng chỗ sâu xa ấy. Chỗ sâu xa nầy lại có 5. Đó là nghĩa sâu xa, thật thể sâu xa, nội chứng sâu xa, nương tựa sâu xa, vô thượng sâu xa. Vô thượng sâu xa tức là chứng Đại Bồ Đề vậy. Gọi là trí huệ môn, vì nói nghĩa A Hàm sâu xa. Ở đây cùng với lý giáo, quyền thật ý giống nhau.

Luận giải về gặp Phật, thân cận trăm ngàn Đức Phật. Vì sự tu hành sâu xa, siêng năng tinh tấn nên gọi là Phổ Văn. Vì tăng trưởng công đức sâu xa. Đây là giáo hạnh, quyền thật, ý giống nhau.

Luận giải thành tựu sâu xa chưa hề có pháp. Vì sự vi diệu sâu xa, ý thú khó giải. Vì vô thường sâu xa, vào chỗ sâu xa, đây cùng thể dụng, quyền thật, ý ấy giống nhau.

Luận giải về “ta từ thành Phật đến nay”. Vì đây là nói về pháp công đức thành tựu của Như Lai. Điều nầy cùng với nhơn quả, quyền thật, ý ấy giống nhau để luận giải về vô số phương tiện. Tức là giáo hóa thành tựu, thuyết pháp thành tựu. Điều nầy cùng với tiệm, đốn quyền thuật, ý ấy giống nhau.

Luận giải về Phương Tiện tri kiến của Như Lai; cho đến thâm nhập vào nơi cùng cực nhất. Đây chính là tự thân thành tựu, bất khả tư nghì vậy; hơn hẳn tất cả các vị Bồ Tát. Đây chính là làm sáng tỏ điều lợi ích ấy.

Luận giải có thể có đủ loại phân biệt, làm cho tâm của Đại Chúng được vui. Đây chính là lời nói thành tựu. Điều nầy cũng là sự lợi ích vậy. Cùng với sự lợi ích về quyền thật, ý ấy giống nhau.

Luận giải giữ lấy sự dừng lại của lời nói quan trọng, chẳng nói đủ. Vì có thể hóa độ cho chúng sanh thành tựu. Việc nầy cùng với Tứ Tất Đàn phân biệt có thể hóa độ, mà cũng chẳng có thể hóa độ, ý nầy giống nhau.

Luận giải chỉ có Phật với Phật mới hiểu hết được. Vì thành tựu vô lượng phước đức, cho nên chư Phật có thể rõ biết. Nghĩa là cái thể của pháp thân Như Lai chẳng thể biến đổi; cho nên gọi là giác. Hay tự chứng thành tựu; hay tùy thuận chúng sanh; nói tất cả các pháp tướng v.v…

Việc nầy cùng với lý sự, quyền thật, ý ấy giống nhau. Sự luận giải kia về kinh Phật, bây giờ sớ giải về hai vị Thánh, có thể nói cùng với Tu Đa La (Kinh) và Ưu Bà Đề Xá (luận nghị) đều hợp nhau.

Năm thời ấy kết lại làm quyền, thật. Mười loại nầy thông với 4 giáo. Hợp chung lại thành 40 quyền, thật. Nếu trong Tam Tạng tự chứng có 10 pháp thì tên của mỗi loại là quyền, thật. Sau khi nói 10 pháp rồi; lợi ích chúng sanh, gọi là hóa tha quyền, thật. Tất cả 10 sự hóa, tha ấy hợp với quyền. Mười việc tự thực hành ấy, tất cả đều hợp với thật. Gọi đây là tự tha quyền thật. Ngoài 3 giáo và 10 pháp, cả 3 loại quyền, thật đều như thế. Lại nữa sẽ dạy mỗi mỗi lấy sự lý, giáo hạnh, trói mở, nhơn quả 4 loại vì đó tự hành quyền thật. Mỗi mỗi dùng lý giáo khai hợp 2 loại làm hóa tha quyền thật. Mỗi mỗi lấy thể dụng, tiệm đốn, thông biệt, tất đàn 4 loại làm tự tha quyền thật. Tên nầy tuy giống nhau mà nghĩa mỗi mỗi lại khác nhau.

Biệt kết nghĩa là 3 giáo hoặc thông hoặc kết hoặc biệt, sẽ chia tất cả thành hóa tha quyền thật. Tùy theo ý và lời của kia vậy. Viên Giáo hoặc thông hoặc biệt sẽ chia tất cả tự hành quyền thật. Tùy theo chính lời nói và ý nghĩa. Ba hóa tha ấy đều gọi là quyền. Tự hành tất cả gọi là thật.

Kế đến kết thành 4 câu tùy theo ý kia nói. Tức là tất cả pháp quyền; tùy theo tự ý của lời nói; tức là tất cả pháp bảo. Song thủ, tức là tất cả pháp vừa quyền vừa thật. Song phi, tức là tất cả pháp phi quyền phi thật.

Kế đến kết thành 3 loại giải thích phẩm nầy. Nếu tự hành, tự ý là câu văn gọi đạo tràng được pháp. Đại kinh nói rằng: Tu đạo được nhiếp Đại Thừa, gọi là như lý, nhưng lượng trí. Tất cả đều là Viên Giáo tự hành quyền thật, tùy theo tự ý nghĩ và lời nói. Phật tuy hay đối với điều nầy có thể chẳng nói pháp; nhưng phương tiện thì hay nói, mà chúng sanh thì chẳng sâu xa. Nếu tự mình nói pháp nầy để thu nhập chúng sanh, tức chẳng thể được vậy; cho nên nói rằng chẳng thể nói, chẳng thể nói vậy. Để việc nầy trở lại, dùng tự hành quyền thật cùng với biệt giáo quyền thật, cùng với sự thu nhiếp chúng sanh. Kẻ lợi căn liền được; người đốn được từng phần. Kẻ căn cơ ít và lợi đốn đều chẳng được. Theo ý của Hoa Nghiêm thì đây là sự che đậy.

Lại nói về việc nầy, riêng dùng 3 tạng quyền thật, thu nhiếp chúng sanh, kẻ đại cơ lợi độn mật được; nhưng hiển thì chẳng được. Tiểu cơ hội độn nghĩa là hay bảo thủ nơi chứng ấy lại cũng chẳng được. Ý nầy theo Tam Tạng là sự che khuất. Để việc nầy lại hợp dụng 4 loại quyền thật cùng với chấp lấy chúng sanh, đại cơ lợi độn được ngay từng phần. Tiểu cơ lợi độn bảo thủ đều chẳng chứng được. Đây là ý nói che đậy Phương Đẳng vậy. Lại riêng việc xả bỏ Tam Tạng quyền thật, dùng 3 loại quyền thật, cùng với giữ lấy chúng sanh, đại cơ lợi độn đều được; tiểu cơ lợi độn bảo thủ việc chứng đạo đều chẳng được. Đây là ý của Bát Nhã bị che đậy. Lại để việc xả bỏ 3 loại quyền thật, riêng dùng Viên giáo tự hành quyền thật, thu giữ chúng sanh, đại tiểu cơ, lợi đốn đều được; đây là ý của Pháp Hoa bị che đậy vậy. Chỗ trí huệ của Như Lai không đạt được. Ngay cả khi chiếu sáng mà còn sự nghi ngờ thì vẫn không gặp. Cho nên phẩm giải thích nói rằng: Phương đây chính là những phương pháp vậy. Tiện đây chính là dùng tiện xảo. Phương pháp dụng xảo đây là thu nhiếp được chúng sanh. Cho nên khuyên xưng tán thán là Phương Tiện.

Lại nữa Như Lai tự chứng quyền thật, đều chẳng thể nói. Vì thương chúng sanh mà nói tự chứng ở quyền làm cửa ngõ. Đối với vật chẳng nghi ngờ. Chúng sanh chẳng thể vào được. Cho nên tự chứng lại chẳng thể nói được. Nói biệt quyền, thật làm cửa ngõ. Kẻ lợi căn thì được vào; còn kẻ độn căn thì chẳng thể. Đối với vật chẳng nghi về biệt quyền thật, lại chẳng thể nói. Nơi Tam Tạng quyền thật làm cửa ngõ. Kẻ lợi căn thì mật vào; kẻ độn căn lại chẳng thể vào. Vật ấy chẳng nghi ngờ, lại chẳng thể nói. Nói 3 loại hóa tha, quyền thật làm cửa ngõ. Kẻ lợi căn được vào, kẻ độn căn chẳng thể vào. Đối với vật chẳng nghi ngờ, lại chẳng thể nói. Nói 2 loại hóa tha quyền thật làm cửa ngõ. Đối với kẻ lợi căn thì được vào; kẻ độn căn lại chẳng thể vào, lại chẳng thể nói được. Đối với vật chẳng nghi ngờ, xả bỏ 3 loại hóa tha quyền thật, hay nói quyền của tự hành. Đối với kẻ lợi căn và kẻ độn căn đều có thể vào được. Từ đầu chí cuối lấy phương tiện làm cửa ngõ. Cho nên nói Như Lai xưng tán Phương Tiện.

Phẩm Giải Thích nầy nói rằng: Phương tiện là đi vào cửa thật; tức là ý nầy vậy. Trước đó một lần đã làm rõ Đức Như Lai hay lành biết Phương Tiện và hay dùng đến Phương Tiện. Điều thứ nhứt nầy làm rõ chỗ hành giả hay tùy thuận theo Phương Tiện v.v…

Lại nữa Như Lai tự tu chứng đạo và chỗ được ấy đối với tất cả phương tiện, tức là sự chân thật vậy, mà điều chân thật nầy khó có thể nói. Tuy có thể nói với chúng sanh; nhưng chẳng thể; nên gọi là thật. Dùng lực phương tiện để mang đến chăng; tức là nói một, tức là kẻ lợi căn thì có thể, mà kẻ độn căn thì chẳng nên. Lại nữa nói về một chẳng phải. Kẻ lợi thì một; tức là kẻ độn chẳng thể vậy. Lại nữa mang đến 3 không; tức là nói về một. Kẻ lợi căn ấy có thể; nhưng kẻ độn căn thì chẳng thể. Lại nữa mang lại 2 không; tức là nói về một. Kẻ lợi căn có thể; tức là kẻ độn căn chẳng thể. Lại bỏ 3 không ấy; tức là kẻ độn căn nói tất cả. Kẻ lợi độn đều có thể. Đối với phương tiện đều có thể thấy chơn thật. Hai ý bên trên đều dùng đến phương tiện và từ phương tiện. Ý thứ nhứt tức là Phương Tiện, tức là chơn thật. Chơn thật ấy tức là tròn đầy nhơn quả. Tròn đầy nguyên nhơn tức là tự hành phương tiện. Như tự hành nầy là phương tiện bây giờ bắt đầu vào sự chứng nhập.

Giải Thích Phẩm ở trên ghi lại rằng: Phương tiện tức là chơn thật. Từ tự hành phương tiện mà được tên. Cho nên nói là Phương Tiện Phẩm. Sáu phân biệt chiếu rõ chân lý ấy là như trước đã trải qua thông (giáo), biệt (giáo) sẽ phân chia phần kết ra làm quyền thật.

Bây giờ trở lại cái nghĩa của trí tuệ chiếu sáng nầy tức sẽ dễ thấy được. Nếu thông (giáo) dùng 10 loại để làm rõ tự hành 2 trí tức là chiếu sáng ấy tùy theo trí của Nhị Đế vậy. Thông (giáo) dùng 10 pháp theo tùy duyên; tức là sự chiếu sáng ấy tùy theo tình cảnh của Nhị Đế vậy. Nếu 4 ấy chia làm 2; tức là sự chiếu sáng ấy tùy theo tình trí nhị đế. Nếu phân chia sự chiếu sáng về đế ấy thì sự lý, giáo hành, buộc cởi, nhơn quả, tất cả đều là tự chứng; tức là sự chiếu sáng ấy tùy theo trí của Nhị Đế. Lý giáo, khai hợp cả hai điều nầy thuộc về hóa tha. Tức là sự chiếu sáng ấy tùy theo tình của Nhị Đế. Thể dụng, tiệm đốn, thông biệt, tất đàn, tứ thông, tự tha thức là sự chiếu sáng ấy tùy theo tình trí Nhị Đế. Tam đế chiếu sáng chơn lý để giúp cho điều nầy có thể hiểu được.

Lại nữa Tam Tạng có 30 loại và 2 trí. Đây là hóa tha 2 trí. Tất cả đều chiếu theo tình của Nhị Đế. Cả thông, biệt (giáo) 60 loại, thì tự tha có 2 trí; tức là chiếu sáng tùy theo tình, trí Nhị Đế. Thông giáo hoặc thời cùng với Tam Tạng phía trước cộng với tùy thích Nhị Đế. Nếu là Viên Giáo thì 30 loại quyền thật; đây là tự hành Nhị Trí. Sự chiếu sáng ấy tùy theo trí của Nhị Đế.

Lại nữa Tam Giáo hoặc thông, hoặc biệt; tất cả đều tùy theo duyên. Tất nhiên là hóa tha Nhị Trí. Sự chiếu sáng ấy tùy theo tình của Nhị Đế. Viên Giáo hoặc thông hoặc biệt. Tất cả đều là tự hành Nhị Trí. Tức là sự chiếu sáng ấy tùy theo trí của Nhị Đế. Đây là thật là quyền của Tam Giáo; đồng thời là thật là quyền của Viên Giáo; tức là tự tha Nhị Trí; chiếu sáng tùy theo tình, trí Nhị Đế vậy.

Ngoài 7 việc của các Kinh ra Hoa Nghiêm lập luận về giáo hay đầy đủ chữ nghĩa. Luận về thời, giống như sữa; luận về pháp là tự hành hóa tha. Nếu đối với người là Bồ Tát. Nhị Thừa sanh thành thân câm ngọng; Bồ Tát lại chưa thể phát ra quyền của tự hành và tùy theo thật của trí. Nếu nương vào kinh văn thì chưa hề hướng con người để nói những việc như thế nầy.

Qua Tam Tạng – Nếu luận về giáo, tuy là mới nửa chữ. Còn luận về pháp thì một loại hóa tha. Nếu luận về thời tức là sữa đặc. Nếu nương vào câu văn nầy tức ở bên ngoài cửa, dính mắc nơi áo quần dơ bẩn; chắp vào đồ dơ uế phẩn dãi. Đấy là kẻ Nhị Thừa.

Còn đối với Phương Đẳng giáo thì luận giáo ấy đối với nửa luận đầy đủ. Nếu luận về thời thì cùng với sữa đặc làm rõ nơi tô (sữa đã đóng thành ván bên trên mặt). Nếu luận về pháp lại có 3 loại hóa tha, một loại tự hành. Nếu nương vào câu văn nầy thì tâm, tín, thể, tướng, vào, ra không khó khăn gì.

Còn đối với Bát Nhã, nếu luận giáo mang theo nửa việc luận là đủ. Nếu nương vào thời, lại sanh ra Thục (sữa đã tốt). Nếu nương vào pháp tức là có 2 loại hóa tha và một loại tự hành. Nếu nương vào câu văn nầy thì ra khỏi bên trong sự chấp giữ cùng với tất cả làm cho sáng tỏ. Còn Pháp Hoa luận về giáo, phá bỏ nửa luận là đủ. Nếu luận về thời, độn thì thành Đề Hồ (sữa ngon nhất). Nếu luận về pháp chỉ có tự hành. Nếu nương vào câu văn nầy để khai quyền hiển thật thì sự thật nầy là con ta do chỗ ta sanh và chính ta là cha vậy. Tiếp đó lấy gia nghiệp để thọ ký và cho làm Phật.

Như phía trước giáo chẳng nói; bây giờ tất cả đều phát ra, chính thức xả bỏ phương tiện, mà nói đạo vô thượng. Cho nên đây là quyền của tự hành. Rồi nói Phẩm Phương Tiện. Ngoài mình ra; hoặc tự tha Nhị Trí; hoặc là hóa tha Nhị Trí.

Lại nữa Hoa Nghiêm đối với 2 Bồ Tát nói một tự và một tha. Chẳng nghi ngờ Nhị Thừa không nghe, không rõ. Tam Tạng đối với Nhị Thừa nói một hóa tha. Chẳng nghi Bồ Tát cho nên chẳng có tự hành.

Phương Đẳng đều đối với Đại, Tiểu. Đối Nhị Thừa, nói 2 hóa tha. Đối Bồ Tát thì nói một tự một tha. Bát Nhã lại đối với 3. Nói một tự và hai tha. Đối với Nhị Thừa nói một tha. Đối với Bồ Tát nói một tự một tha. Pháp Hoa thì đều đối với những người căn cơ đã thuần thục; mà làm cho rõ một tự, chẳng luận về tha kia.

Câu văn nói rằng: Bồ Tát nghe pháp nầy những sự hoài nghi đều tiêu trừ. 1.200 vị La Hán, tất cả đều sẽ làm Phật. Tất cả chúng sanh đều nhập vào tự hành của Phương Tiện. Cho nên nói Phẩm Phương Tiện nầy v.v…

Thứ 8 là Bổn Tích – Như Lai vốn từ xa xưa đã chứng được tất cả quyền và thật; gọi đây là tự, hành. Ở giữa có Thùy Tích lại tạo thêm việc mang lại lời nói nầy. Ngày nay Thùy Tích tịch diệt nơi Đạo Tràng..Mang biệt, hóa tha nói về tự, hành. Kế đến nói về một hóa tha. Tiếp theo nói 3. Sau lại nói 2. Tiếp đó lại bỏ 3 v.v… Tất cả đều gọi là hóa tha, quyền và thật. Căn bản của quyền gọi là thật. Tích ấy là thật, gọi là quyền. Tức là tự, tha, quyền và thật vậy. Kết lại điều nầy tức có 4 câu. Đó là:

Tất cả thật, tất cả quyền

Tất cả vừa quyền vừa thật

Tất cả phi quyền phi thật v.v…

Thân Tử gốc là chứng được tất cả quyền thật, tức là tự hành. Tích ấy tại Lộc Uyển, riêng thọ hoá tha. Ở Phương Đẳng thì thọ 1 và bị 3 gãy. Tại Bát Nhã thì mang 2 chuyển 1. Cho đến Pháp Hoa bỏ 3 ngộ 1. Tất cả đều là hóa tha, quyền thật.

Cái gốc của quyền là thật và Tích thật ấy là quyền. Tức là tự, tha, quyền, thật lại đầy đủ 4 câu v.v…

Nếu từ Phật Tích nói thì lại là hóa, tha, quyền, thật. Lại còn gọi là phẩm Phương Tiện. Nếu từ sự dẫn nhập nguyên nhân đầy đủ, thì tự, hành cũng là phẩm Phương Tiện. Nếu từ Thân Tử Tích quyền thì lại cũng là phẩm Phương Tiện. Nêu từ Thân Tử Tích nhập vào thật, thì cũng lại là phẩm Phương Tiện. Đây là cái nghĩa; cho nên gọi là phẩm Phương Tện vậy.

Tử phẩm nầy trở đi đến phẩm Phân Biệt Công Đức hàng hệ thứ 19; hoặc từ sau kệ hiện tại cho đến hết câu văn “Tứ Tín Đệ Tử” gọi đây là chánh thuyết phần. Muốn tạo ra hai chánh thuyết thì từ đây đến phẩm “Thọ học vô học nhơn ký” là Tích Môn chánh thuyết. Bây giờ tùy theo chỗ gần gũi mà tựu chung Tích Môn chánh thuyết lại chia làm 2. Một là từ đây trở đi, là lược khai 3 hiển 1. Hai là từ “Cáo Xá Lợi Phất nhĩ dĩ bàn cần trở đi” là quảng khai 3 và hiển 1.

Lược ấy lại chia làm 2. Đầu tiên là từ “nhĩ thời Thế Tôn trở đi”; đây là lược khai 3 hiển 1. Hai là từ “nhĩ thời Đại Chúng trở đi” là động chấp sanh nghi; lược khai 3 hiển 1. Có kệ tụng Trường Hàng và Trường Hàng lại chia làm 2. Một là ỷ ngôn, tán thán nhị trí. Hai là tuyệt ngôn, ca tụng nhị trí. Nếu chẳng mượn lời tức chẳng rõ biết được. Tuy là xưng dương, lời nói chẳng cùng, mà chư Phật nhị trí thì như trước đã nói v.v… Ỷ ngữ chia làm hai; một là làm rõ quyền và thật của chư Phật; hai là làm rõ quyền, thật của Đức Phật Thích Ca. Con đường của chư Phật giống nhau; cho nên đều tán thán.Bên trên chiếu đến đất kia, Ngài Di Lặc hỏi. Văn Thù dẫn lời của Đại Chúng Thanh Văn xưa kia. Điều đúng đắn biểu hiện nơi nầy cho nên bánh xe của định khởi lên. Tức là chứng minh cho tất cả chư Phật giống nhau vậy.

Chung quy ca ngợi chư Phật thì văn nầy chia làm 3. Một cặp tán thán; hai cặp giải thích và ba cặp kết luận. Tựu chung cặp tán thán, trước thì trải qua thực hành, sau đó tán thán.

Lúc bấy giờ là đúng lúc ấy vậy, Phật thường ở trong định. Cho nên nói là dậy. Ở đây dùng để chỉ cho những vị Phật xưa kia lúc nói kinh nầy. Dĩ nhiên trước đó nhập vào Vô Lượng Nghĩa; tức là nhập vào Pháp Hoa. Bây giờ Đức Phật lại cũng như vậy. Điều nầy chỉ cho thế giới Tất Đàn (Trí hay thành tựu) thương cảm từ định mà dậy. Che đậy pháp và duyên 2 loại chơn lý. Nói đây tất nhiên chẳng ngoa, tăng trưởng điều tin.. Ở đây chỉ cho con người Tất Đàn thương xót và từ định trở dậy. Phật tịch diệt mà hay thường chiếu sáng, đầy đủ nhập định mới thuyết pháp, hà huống là tán tâm, vọng động mà nói pháp. Điều nầy gọi là đối trị Tất Đàn. Sự ai mẫn ấy từ định mà ra. Nhân việc nhập định là cái lý để an tâm thật tướng. Xuất định làm cho kia an tâm thật tượng. Đây là nghĩa thứ nhất của Tất Đàn.

Sự ai mẫn ấy từ định mà dậy, rồi an tịnh việc nầy vào 4 pháp; cho nên nói rằng an tường mà khởi dậy. Rồi bảo Ngài Xá Lợi Phất. Trong trí của Tiểu Thừa, huệ là số một. Ở đây muốn nhơn nầy mà phá trí nhỏ và hiển thị trí lớn. Còn phế bỏ việc gặp, khai mở chỗ che khuất, phàm có 10 loại. Như nghĩa đen nói. Đây là câu văn của những nhà soạn kinh đề xướng lên.

Pháp Hoa cho rằng: Phật vào sâu xa Tam Muội, chánh niệm bất động, như thật trí quán, từ Tam Muội mà dậy, hiện Như Lai được lực tự tại. Khi Như Lai nhập định chẳng gì có thể làm kinh động được. Luận cùng với nghĩa nầy giống nhau. Nghĩa Tất Đàn (trí) thứ nhất là ra khỏi thế gian. Cho nên chẳng thể kinh động. Bốn Tất Đàn không chướng ngại; cho nên được tự tại v.v…

Già phu tọa nghĩa là từ xưa đến nay chư Phật và các hàng đệ tử thường thực hành pháp nầy. Lại nữa ngồi xếp bằng khởi lên sự nhớ nghĩ xấu và sanh ra tâm cung kính kia. Huống là nhập vào cảnh giới, mà chẳng làm cho người, trời ưa mến sao? Lại nữa chẳng phải ở đời thọ dụng pháp, cũng chẳng cùng với ngoại đạo vậy. Hay phá trừ ma quân phiền não. Lại hay sanh 3 loại Bồ Đề. Theo tôi nghĩ (Ngài Thiên Thai) đây chính là ý của 4 Tất Đàn vậy.

Hỏi: Ngoài ra kinh nói: Tâm cột chặt như trước nghĩa là gì?

Đáp: Bội sắc nghĩ về sanh tử, phiền não cảnh giới theo sau đó. Quán tịch diệt, Niết Bàn làm chỗ duyên vào. Ở trước cho nên tạo ra 4 lời giải v.v…

Hỏi: Vì sao lại ở mặt?

Đáp: Người phàm ở nơi nét mặt hay khởi dục, hay sanh ra niềm vui. Sau đó mới đến thân. Lại nữa 9 nơi chảy ra đồ dơ. Ở nơi mặt có 7 lỗ (hai mắt, 2 lỗ tai, 2 lỗ mũi và miệng) là nơi có thể trị dục bất tịnh. Cho nên nói là bị cột trói ở mặt là vậy. Lại nữa 6 thức cũng hay hiện lên nơi mặt, vì tâm có nhiều duyên khởi lên. Tất cả các vị hiền Thánh đều lấy không biểu hiện và cùng với tướng không giống nhau. Còn sự trói buộc thường ở tại mặt. Lại nữa nếu quán nơi mặt có thể phân biệt với 6 thức. Vì phân biệt cho nên duyên vào nơi mặt. Lại nữa thân có 6 phần, mà đầu và mặt là hơn cả. Biểu hiện các pháp trong đó về tướng thật số một. Pháp thứ nhất cho nên trói buộc ở nơi mặt.

Cuối cùng của một cặp là tán thán về hai trí. Trước tiên tán thán về thật và sau đó tán thán về quyền. Thật đây chính là trí tuệ của chư Phật vậy. Chẳng phải 3 loại hóa tha; cho nên nói là chư Phật. Hiển sự thật của tự hành; cho nên nói là trí tuệ. Thể của trí tuệ nầy tức là một tâm 3 trí.

Sâu xa vô lượng tức là danh từ để tán thán. Làm rõ chỗ thật trí của Phật và chỗ tận cùng thấu triệt của lý; cho nên nói là sâu xa. Ngang dọc khắp pháp giới cho nên gọi là vô lượng. Vô lượng sâu xa nghĩa là thật cao và thật rộng. Ví dụ như rễ sâu tức là cành lá chắc chắn và bền vững. Thật trí ấy tất nhiên là ví dụ cho quyền trí vậy v.v…

Trí tuệ môn nầy tức là sự ca ngợi về quán trí. Sự che đậy là việc tự hành đạo, trước phương tiện. Có lực tiến thú; cho nên gọi là cửa. Từ cửa nầy nhập vào cửa giữa. Từ con đường giữa gọi là con đường thật, mà ở trước gọi là quyền.

Nan giải nan nhập ở đây là ca ngợi về quyền. Chẳng mưu mô mà rõ, không cách nào dùng được. Bảy loại phương tiện chẳng nên so lường. 10 trụ ấy bắt đầu rõ biết Thập Địa mà vào. Cùng với đầu và sau, ở giữa khó thấy khó ngộ, có thể rõ được, mà biệt (giáo) cùng với chỗ Thanh Văn, Duyên Giác chẳng thể rõ biết được. Chấp nặng như vậy; cho nên biệt (giáo) phá bỏ.

Pháp thân cái ý chính là lấy tự hành, quyền thật; chẳng có cơ hội để trốn khỏi; cho nên nói rằng không rõ biết. Hoa Nghiêm đốn (giáo) nên chiếu vào chỗ câm, ngọng, mù, điếc cho nên nói là chẳng rõ. Còn Phương Đẳng thì móng tay giữ gìn nơi am cỏ; cho nên nói là chẳng rõ. Bát Nhã thì chuyển dạy không tâm, ý nói khó lấy được một bữa ăn; cho nên nói rằng chẳng rõ. Bây giờ cơ lớn đã phát, phóng hào quang và mặt đất giao động. Chư Phật xưa nay, ở đây và kia đều giống nhau. Do hoài nghi mê hoặc; cho nên nói là chẳng rõ. Lợi Căn Bồ Tát mỗi mỗi đều rõ biết. Độn Căn cùng với Nhị Thừa lại chẳng rõ điều gì cả.

Môn ở đây là ánh sáng soi tỏ và dùng Nhị Thừa làm Phương Tiện. Vì làm cho rõ cửa trí tuệ; cho nên ở đây đầy đủ và đạt được. Nếu là như vậy thì được vào cửa. Vì sao Đức Như Lai phá việc nầy và nói là chẳng rõ biết?

Chẳng rõ biết ở đây tức là chẳng phải pháp môn vậy. Cùng với điều nầy quá cạn, hay vĩnh viễn chẳng rõ biết v.v…

Bây giờ giải về tự có phương tiện trí huệ làm cửa ngõ được nhập vào trí huệ Phật.

Như Anh Lạc nói: Nhị quán là phương tiện đạo, được vào Trung Đạo đệ nhất nghĩa đế, lại là 3 giáo, mỗi mỗi có 4 cửa. Vì phương tiện; nên được vào Trung Đạo. Sự giải thích về ánh sáng nầy đối với Nhị Quán thì cây của Kỳ (Đà) là một quán và đối với 12 cửa của Kỳ (Đà) là một cửa v.v…

Lại nữa phương tiện trí huệ làm cửa được nhập vào phương tiện trí; tức là tam giáo; mỗi mỗi 4 cửa và các giáo đều được chứng vào. Tự có Phật trí làm cửa, được nhập vào trí tuệ của Phật.

Như trên đã nói về nguyên nhân tròn đầy, gọi là Phương Tiện phẩm; tức là tự hành, quán trí làm cửa ngõ. Tức là chỗ kinh nầy ca ngợi về cửa trí tuệ. Viên giáo 4 cửa; tức đây là một. Tự có thật làm cửa, nhập vào phương tiện trí; cả 2 chiếu vào Nhị Đế; tức là nghĩa nầy vậy. Như ở đây giải thích phong phú, khai quát. Ánh sáng ấy lại còn một loại nào khác chăng?

Nếu nương vào luận và lấy A Hàm làm cửa ngõ thì điều nầy khai phá các giáo và các tiêu chuẩn về quán có thể rõ biết v.v…

Từ “sở dĩ giả hà” trở đi. Quang Trạch nói về chương xưng tán Đức Thích Ca; bây giờ giới thiệu ý của câu văn nầy; cả 2 giải thích về 2 trí của chư Phật. Đức Phật gặp gỡ, gần gũi cho đến tận hành đạo pháp; đây là việc giải thích về thật trí của chư Phật. Lý do là bên ngoài gặp Phật nhiều; còn kia thì đến chỗ chính yếu, thật trí sâu xa. Lý do là bên trong hành thuần hậu hết tất cả các việc làm của đạo pháp. Thật trí vô lượng. Vô lượng tức là giải thích chiều rộng. Sâu xa tức là giải thích chiều cao. Dũng mãnh, tinh tấn gọi là Phổ Văn. Đây giải thích về quyền trí của chư Phật. Trí huệ môn nầy khó giải, khó vào. Lý do là dũng mãnh, tinh tấn hay nhập vào cửa khó nhập. Tức là vào cửa rồi, chọn lựa, bị vật không giới hạn làm cản trở cái đức kia. Cho nên gọi là Phổ Văn. Lại có thể phân câu dũng mãnh tinh tấn hay nhập vào pháp môn; tức là giải thích về quyền trí sâu xa. Gọi là Phổ Văn, tức là giải thích về quyền trí rộng rãi. Quán về câu văn quyền thì nói chẳng sâu, rộng. Ví dụ như thật trí là nghĩa nầy, liền thành tựu v.v…

Từ “thành tựu thậm thâm” trở đi. Hai cặp kết luận về nhị trí của chư Phật. Gọi lý ấy là cứu cánh; cho nên nói là thành tựu. Cho đến sâu thẩm bờ kia; do vậy nói là sâu xa. Câu kết nầy là thành thật trí vậy. Xưng cơ thích hội; cho nên nói là tùy nghi. Chẳng phải 7 phương tiện mà biết; cho nên nói là khó giải. Câu kết nầy thành quyền trí vậy. Tùy theo tình, tức ở nơi lý; cho nên nói là khó giải. Rõ nghĩa cho nên hiểu ý và lời nói dễ rõ biết.

Nhiếp Đại Thừa nói rằng: Kinh liễu nghĩa nương vào nửa ý nghĩa của câu văn. Kinh bất liễu nghĩa nương vào nửa ý nghĩa của câu văn, tức là nghĩa rõ ràng nầy vậy. Có lúc giải thích thành tựu sâu xa, chưa hề có pháp. Kết lại tự hành, quyền thật; tùy nghi mà nói, ý thú khó giải. Kết nầy hóa tha, quyền thật v.v…

Từ “Ngô tùng thành Phật dĩ lai” trở đi; tức là tán thán quyền thật của Đức Thích Ca. Xưa giải rằng: Thích Ca quyền thật, mỗi mỗi ca ngợi. Nghĩa là: Từ ta thành Phật trở đi, là tán thán về quyền. Sao lại như vậy? Đây là giải thích về quyền của Như Lai, tri kiến rộng lớn vậy. Đây là sự xưng tán về thật.

Từ “Vô lượng vô ngại” trở đi; đây là sự giải thích về thật.

Từ “Như Lai năng chủng chủng phân biệt trở đi”; là lời kết của câu văn tán thán về thật.

Tài liệu xưa như trước sau đã nói. Có 3 ý. Một là hợp lại tán thán chư Phật hai trí. Làm rõ 2 trí thể ấy giống nhau. Khai mở sự tán thán Đức Thích Ca Nhị Trí. Làm rõ nhị trí công dụng có khác. Hai là làm rõ chỗ căn bản của Thùy Tích. Cho nên chư Phật đầu tiên tán thán về thật. Làm rõ chỗ có thể hiển bày căn bản; cho nên Đức Thích Ca trước tiên tán thán về quyền. Ba là chư Phật hiển thị tại hành trước, rồi mới được thật. Đức Thích Ca làm rõ chỗ hóa tha.

Đầu tiên lấy quyền ấy dẫn đến chỗ tốt đẹp, mà hỗ tương và chưa xuất hiện. Rồi sẽ làm rõ thể của Viên; chẳng thể tồn tại bên lề. Sự tồn tại ấy liền mất yếu chỉ vậy. Bây giờ nghĩa là chẳng giống. Hay nương vào câu văn, rồi lần lượt đối với nghĩa, dễ giải thích; chẳng cần biện luận khúc chiết.

Ngươi lại bảo chư Phật giống nhau. Vì sao lại giải khác đi? – Giống như người lành tán thán sự hiếu thuận mà lại đi đánh cha mẹ v.v… Tựu chung giải thích câu văn nầy lại chia làm ba. Cặp đầu tiên là tán thán; cặp kế tiếp là giải thích và cặp cuối là sau cùng. Ta từ thành Phật trở đi là tán thán thật trí. Nếu thật trí chẳng tròn đầy thì Phật đạo chẳng thành tựu. Liền nói là thành Phật; một thành và tất cả thành. Tức là ca ngợi trí Phật vậy. Đủ loại nhân duyên nghĩa là ca ngợi về quyền của trí. Hơn 40 năm dùng 3 loại hóa tha, quyền thật để gặp gỡ chúng sanh; cho nên nói rằng: đủ loại nhơn duyên vậy.

Thí dụ là đối với Tiểu Thừa lấy nước nhỏ của cây chuối làm thí dụ. Còn Đại Thừa lấy cảnh huyễn của thành Càn Thác Bà để ví dụ. Nương vào các bậc luận sư, Tiểu Thừa lấy sữa làm thí dụ. Còn Đại Thừa dùng Đề Hồ (sữa tốt) để làm ví dụ.

Quảng diễn ở đây có thể nói là đối với một pháp, có rất nhiều ý nghĩa, vô số phương tiện; tức là 7 loại phương tiện vậy. Dẫn dắt chúng sanh làm cho lìa những sự dính mắc. Nói rộng ra thập thiện, lìa dính mắc 3 cõi. Nói lành Thập Thiện, lìa sự dính mắc của dục giới. Nói Tam Tạng, lìa sự dính mắc của kiến, tư (hoặc). Nói pháp Bồ Tát, lìa dính mắc Niết Bàn. Nói pháp Phật, lìa thuận đạo pháp, dính mắc yêu thương.

Từ “Sở dĩ giả hà”. Đây là một cặp giải thích về hai trí vậy. Nửa câu Như Lai tức là giải thích về thật trí.

Từ “Chơn như thật tướng đến” mà được thành Phật đạo; cho nên gọi là Như Lai. Tức là giải thích thành thật trí. Phương tiện tức là giải thích về quyền trí. Do ở nơi phương tiện thiện xảo; cho nên hay đủ các loại nhân duyên. Tri kiến Ba La Mật tức là một cặp giới thiệu về quyền thật, tri kiến vậy. Tất cả các loại trí đều gọi là thật trí. Phật nhãn gọi là Phật kiến. Tất nhiên đều đến sự lý bên cạnh. Tất ấy gọi là Ba La Mật. Tất cả đều đầy đủ; quyền thật tất nhiên là cứu cánh vậy. Nếu chẳng tạo một cặp để giải thích cái ý, thì dùng lời nói nào để thực hiện. Tất cả đều là một cặp để giải thích và cái ý lại hiển bày vậy.

Từ “Như Lai tri kiến quảng đại thâm viễn”; tức là một cặp câu kết giải thoát thêm về hai trí. Như Lai tri kiến như trước đã nói. Quảng đại là làm rõ chỗ rộng rãi sâu xa, làm rõ cái ý ấy. Như đây là thật trí; chẳng phải rộng, chẳng phải sâu. Dùng lời nói để tán thán, luận về sự sâu xa nầy, chiếu sáng chẳng có giới hạn; như chỗ tối nhiều và chỗ che khuất nhiều.

Từ “Vô lượng vô ngại” trở đi; tức là chỗ kết về quyền và trí. Tự hành là quyền như phía trước phương tiện của các pháp môn. Cho nên rõ biết câu kết nầy là quyền trí rõ ràng vậy. Thật trí thì chẳng có can dự vào.

Quang Trạch dùng sự giải thích về thật trí nầy. Chẳng phải vậy thì Quang Trạch chẳng thể biết rõ về thật trí. Đời nhà Lương, tất cả đều chẳng rõ vô ngại huệ và vô can nầy v.v…

Vô lượng tức là Phật địa tứ đẳng. Vô ngại tức là Phật địa tứ biện. Có thể đối với một từ một nghĩa, làm cho ra khỏi vô lượng niềm vui; nên nói chẳng cùng. Đây là đối với Biệt, Thông (giáo) Bồ Tát, như ở bên trên của đất nầy. Lực ấy chính là 10 lực. Ưng ấy chính là 4 vô sở úy. Thiền tận là thật tướng của thiền. Định ấy tức là Thủ Lăng Nghiêm định. Tam Muội tức là vua Tam Muội. Thâm nhập vô tế nghĩa là kết thành chỗ sâu xa, thành tựu tất cả chưa từng có pháp, kết thành sự sâu rộng.

Từ “Xá Lợi Phất Như Lai năng chủng chủng phân biệt trở đi”; xưa sẽ kết thành trước quyền và thật. Bây giờ dùng sự khởi lên, sau đó lại muốn dứt hết lời nói. Liền đưa ra quyền thật làm lý do tuyệt đối để ca tụng tán thán. Câu văn nầy có hai. Đầu tiên là đưa ra lý do tuyệt đối để tán thán. Kế đến là chỉ cho cảnh giới không có lời nói. Trầm trọng là sự biểu thị cho sự khuyến tấn siêng năng. Như Lai có thể lành phân biệt. Xảo nói các pháp tức là dựa vào quyền ngôn từ nhu nhuyến, có thể làm cho tâm chúng sanh vui vẻ. Dựa vào thật làm sao được rõ?

Như trên đã thấy về quốc độ kia nói về đốn rằng: Cái nghe nầy thanh tịnh xuất phát từ nơi âm thanh nhu nhuyến. Thân Tử lại giải thích rằng: Nghe âm thanh của Phật nhu nhuyến, sâu xa vi diệu: giống như 2 câu văn phía trước. Rõ biết như vậy để đưa đến thật trí. Phía trước thì tán thán về thật, phía sau về quyền. Bây giờ với ý gì mà trước quyền và sau thật? Muốn làm rõ nghĩa phía trước về ỷ ngôn; cho nên từ thật mà đổi thành quyền để làm cho lời nói không còn nữa và giả lấy quyền để quy về thật. Từ việc tối quan trọng nầy, dùng để chỉ cảnh thật. Sự quan yếu ấy là chưa qua khỏi cái thật vậy.

Vô lượng vô biên chưa hề có pháp nào chỉ về chỗ rốt ráo của quyền. Lại nữa đưa ra chỗ cốt yếu đó là sáng tạo ở chỗ đoan nghiêm. Vô lượng vô biên là chỉ cho quyền. Pháp vị tằng hữu là để chỉ cho thật. Nói 2 pháp nầy, Phật đều thành tựu. Thực hành được đạo rồi cho nên điều nầy có thể nói. Nếu chỉ làm rõ riêng một việc thì chẳng nên nói vậy. Lại cặp đôi ấy chỉ cho quyền và thật. Ý nầy đã làm cho rõ rồi.

Từ chỗ “kẻ dừng” trở đi là phần thứ 2; tức là tán thán không bằng lời. Thầy Ấn dạy rằng: Muốn cho nguyên nhơn đừng sanh thì tâm ấy có ý thỉnh cầu giải đáp về nghi nầy.

Quý Thầy bên Quán (Tông) dạy rằng: Pháp thật khó rõ; cho nên trước phải dừng tiếng động, là chuyện thường tình. Bây giờ muốn làm rõ pháp sâu xa, ngôn ngữ yên lặng để dứt trừ nơi cửa đạo. Thể ấy chẳng thể nói; cho nên dừng lại để ca ngợi là vậy. Giả sử như lòng từ bi thì nghe nói; nhưng không thể giải thích được. Làm thương tổn căn lành; cho nên dừng lại.

Từ câu “Sở dĩ giả hà” trở đi là giải thích cái ý về việc dừng lại và tán thán ý nầy. Ý nầy lại chia ra làm 2. Một là đối với Đức Phật, là bậc tối thượng, thành tựu mọi pháp, được pháp tối thượng; cho nên chẳng thể so sánh. Kế đến là làm rõ chỗ cảnh giới sâu xa chẳng thể nghĩ bàn; cho nên chẳng thể nói.

Từ chỗ “tựu Phật thành tựu” trở đi làm rõ bậc Thượng Nhơn nói quyền thật, ngang dọc đầy đủ chẳng thể nói hết được.

Từ chỗ “Duy Phật dữ Phật” trở đi làm rõ bậc Thượng Nhơn quyền thật sâu xa chẳng thể nói được. Thành tựu đối với chẳng thành tựu; cho đến nan giải đối với bất nan giải; tức là làm sáng tỏ chiều rộng của việc thành tựu nầy. Tu đạo được; cho nên chẳng thể nói. Chỉ có Phật với Phật mới có thể đi đến chỗ cùng tận sâu xa. Ở phần đầu và giữa chưa giải rõ hết chỗ căn nguyên nầy. Như ngày 14 ánh sáng của trăng chưa tròn đầy. Chỉ Phật cùng Phật mới có chỗ cứu cánh sâu xa. Khi ánh trăng rằm vào ngày 15 thì thể ấy không thể không chiếu sáng tròn đầy, mà chẳng nơi nào lại chẳng sáng đến. Giống như ý nghĩa tu đạo chứng được sâu xa vậy. Do thế không thể nói hết được.

Từ “chư pháp thật tướng” trở đi tức là cảnh giới sâu xa chẳng thể nghĩ bàn; cho nên không thể nói được. Quang Trạch nói: Câu thứ nhứt là tiêu biểu của 2 trí. Các pháp là tiêu biểu của quyền trí. Trong 3 pháp ấy chẳng là một; cho nên nói là các pháp. Trong 3 pháp ấy, giáo nầy là tối hiển. Giáo ấy tất nhiên là căn cơ đối với người nầy.

Cho nên rõ 3 ấy là quyền vậy. Thật tướng là cứu cánh của thật trí. Lý thứ nhứt là chẳng hư, cho nên nói là thật tướng. Trong 41 biên ấy cử ra một lý. Lý ấy là cái gốc; cho nên thật vậy. Trong ấy có 9 câu trở lại giải thích 2 chương trên. 5 câu đầu giải thích chương nói về quyền.

Như thị tướng nghĩa là Tam Thừa nói về giáo lý có thể riêng biệt được. Như thị tánh nghĩa là Tam Thừa giáo tánh chẳng thể phân biệt, tách rời ra dễ dàng được.

Như thị thể tức là Tam Thừa giáo 8 âm, chương cú mỗi mỗi đều có thể. Bồ Tát dạy lấy lục độ làm thể v.v… Như thị lực là lấy Tam Thừa dạy cho cách dùng lực để huấn đạo. Như thị tác tức là Tam Thừa dạy cho người bị trước kia có chỗ tạo tác. Nói rộng về cảnh của thật trí và lược bớt chỗ từ chương. Thật cảnh ấy có 41. Lấy 4 ấy làm chỗ rộng và một nầy là cái lý. Như thị nhơn là cảnh ấy sanh ra chơn giải làm nguyên nhơn. Vạn điều lành đều mong nhờ ở quả nầy vậy. Như thị duyên tức là cảnh ấy phát ra thật trí làm duyên. Dùng chỗ nhơn duyên, chốn vọng ấy làm quả. Quả ấy khởi lên làm nhơn và bảo. Hai câu sau là một cặp kết luận. Câu đầu kết về quyền. Cái gốc ấy tức là đưa ra cái tướng; còn mạt ấy tức là đưa ra chỗ làm. Câu kết kế tiếp là thật. Cứu cánh tức là kết lại nhơn duyên. Đẳng ấy tức là kết với hậu báo vậy. Thầy Bắc Địa giải rằng: Tam Thừa pháp, tất cả đều có tướng, tánh, quả, báo, bổn, mạt. Thầy Diêu thì nói rằng: Những tướng tánh giải thích như thế ở đây là trí huệ chiếu dụng. Mầm mống của Tam Thừa khác với tướng ấy. Tất nhiên là trở thành 3 và 3 ấy là tánh. Phát tâm là cái thể tùy theo tâm. Chổ sâu xa làm lực. Lực ấy có chỗ tạo làm tác. Tác ấy chiêu nạp quả làm nhơn. Nhơn ấy là lời nói để phân biệt việc nầy. Tại vì duyên và duyên ấy là cái lực bên ngoài; tùy theo thời khắc mà làm quả. Thuần thục của nhơn ấy là báo. Tướng làm gốc và báo làm mạt. Cuối cùng giống nhau với một và đi đến chỗ cứu cánh vậy.

Như vậy là việc nầy chẳng sai.Thầy Sắc cho rằng Phật ở trên làm. Còn tướng ấy là 10 lực, mỗi mỗi có tướng mạo. Tánh ấy là từ gốc rễ, mỗi mỗi có chỗ huân tập. Chỗ huân tập ấy chẳng sửa lại. Có nghĩa là tánh. Tánh lực nầy là cứu cánh vậy. Thể ấy là căn tánh chẳng đồng nhau; chỗ ham muốn lại khác. Nói rằng tâm nầy dùng sự cột chặt dính vào; cho nên lấy thể làm tên. Ở đây lấy lực của dục làm cảnh vậy. Định cũng là tên riêng. Thần thông biến động; chẳng định thì chẳng di chuyển được. giữ tâm cho thanh tịnh, loạn ấy chẳng thể định và chẳng yên lặng. Cho nên lực ấy là cảnh của Thiền Định. Tác ấy là nghiệp. Tức là nghiệp lực vậy. Nhơn ở đây chính là nguyên nhơn của Đạo và có thể đến Niết Bàn. Tức là đến chỗ đạo lực cứu cánh. Duyên nghĩa là duyên vào cái lực của túc mệnh. Quả đây có nghĩa là củng cố cái nhơn bây giờ là chỗ chiêu tập của quả cho vị lai là lực Thiên Nhãn cứu cánh. Báo ấy là báo bây giờ lấy sự ngưỡng vọng cái nhơn đã qua; tức là lực của lậu tận. Cho nên nói báo tức là lậu tận. Bổn ở đây là tướng và mạt là báo vậy. Tổng quát mà nhìn thì cả xứ và không phải xứ đều là cảnh của lực vậy.

Bên trên những sự giải thích chẳng phải chẳng là một. Nhưng do lý không thông; cho nên câu văn chẳng đủ. Văn chẳng đủ nghĩa là các kinh nói: chư Pháp, mà pháp nào lại chẳng thu nhiếp và dừng lại ở Tam Thừa? Lý ấy chẳng thông; cho nên kinh gọi là thật tướng. Chỗ nào lại chẳng tồn tại, nay hay ở tại nhơn, quả và thể. Nếu thật ở riêng lẽ nơi Phật; thì Phật ấy lại chẳng quyền. Quyền riêng ấy ở nơi Tam Thừa. Tam Thừa tức là chẳng bao giờ có thật. Nếu Tam Thừa chia ra làm 5; tức là quyền pháp chẳng đủ, lại hoàn toàn là chẳng thật. Nếu 4 câu ở nơi Phật, thì Phật hoàn toàn chẳng quyền. Thật cũng lại chẳng đầy đủ; nghĩa là chẳng dính dáng với phàm phu. Tức là câu văn của pháp. Điều nầy lại chẳng dùng được gì. Thật tướng chẳng biến; thật tướng ngoại biệt; lại có các pháp. Những điều như thế ngoài ra; cho nên nói là chẳng dùng được.

Giải thích về luận quyển 34 có làm rõ mỗi mỗi pháp đều có 9 loại. Mỗi một loại như vậy đều có thể và thứ đến là mỗi thứ đều có pháp, có mắt tai tuy giống nhau do tứ đại tạo thành; nhưng mắt thì thấy; còn tai chẳng thể dùng để thấy được. Như lửa thì dùng nhiệt làm pháp mà chẳng thể thấm vào được. Ba là mỗi mỗi đều có lực. Như lửa lấy ánh sáng làm lực; nước lấy tánh ướt làm lực. Bốn là mỗi mỗi đều có nhơn. Năm là mỗi mỗi đều có duyên. Sáu là mỗi mỗi đều có quả. Bảy là mỗi mỗi đều có tánh.Tám là mỗi mỗi đều có giới hạn. Chín là mỗi mỗi đều có khai thông phương tiện. Đạt Ma Uất Đa sẽ có 9 loại để gặp Pháp Hoa trong 10 loại như ấy. Mỗi mỗi đều có pháp. Tức là trong Pháp Hoa như thị túc. Mỗi mỗi đều có sự giới hạn. Tức là trong Pháp Hoa có tướng như thị. Mỗi mỗi đều có quả, tức là trong Pháp Hoa đều có như thị quả, như thị báo. Mỗi mỗi đều có khai thông phương tiện; tức là trong Pháp Hoa có như thị bổn, mạt, cứu cánh v.v… Ngoài ra tên gọi đều giống nhau có thể giải thích được. Bây giờ làm rõ chỗ cảnh giới nầy làm hai.

Đầu tiên câu văn lược bớt mục tiêu về chương quyền và thật. Thứ đến 10 câu giải rộng về tướng của quyền và thật. Bây giờ tạo ra 4 lần giải thích. Một là 10 pháp giới; hai là Phật pháp giới; ba là sự ly hợp và bốn là uớc vị.

Kinh rằng: Các pháp dùng 10 pháp giới để giải thích. Kinh nói chỗ Phật thành tựu là pháp đệ nhứt khó có được. Cho nên dùng pháp giới của Phật để giải thích. Kinh rằng: Dừng dừng chẳng nói đủ – Pháp ta khó nghĩ lường. Cho nên dùng ly hợp để giải thích. Kinh rằng: Chỉ có Phật với Phật mới có thể rõ biết hết được. Cho nên dùng địa vị để giải thích. Về 10 pháp giới là thí dụ để làm sáng tỏ chỗ bất khả tư nghì.

Như Thích Luận quyển thứ 14 nói: Chẳng dùng sắc bại hoại; được ở chỗ bình đẳng của Đạo. Quán sắc chẳng khác, mà có thể sánh được với Đại Thừa. Như sáng cùng với tối có thể cùng nhau, mà ngươi thì chẳng thấy; nghĩa là cho rằng sáng tối khác nhau. Muốn rõ biết nghĩa nầy, như ánh sáng của mặt trăng vậy.

Lại nữa khi mặt trời mọc thì bóng tối chẳng hướng về 10 phương, mà bóng tối ấy thường còn,chẳng có nơi để quay về. Ánh sáng lại cũng như vậy, cùng với bóng tối hợp lại với nhau. Sanh tử cùng với Đạo hợp nhau. Đạo ấy chính là sanh tử. Phật đã độ hết cho những người nào đáng được độ. Tất cả đều bất khả tư nghì. Chư kinh chư luận đa phần dùng thí dụ nầy. Nếu tất cả việc đều bất khả tư nghì; như kinh A Hàm làm sáng tỏ 4 bất tư nghì nầy. Nghĩa là thế giới của chúng sanh, rồng và Phật. Chúng sanh đến từ nơi nào và sẽ hướng tới nơi đâu để đi? Vì chỗ thấp mà sanh; vì chỗ thấp mà tử. Thế giới ấy có biên và vô biên. Có thể đoạn trừ được, mà cũng chẳng thể đoạn trừ được. Vì trời, rồng, người, quỷ ai đã tạo ra?

A Hàm nói rằng: Có một vị sĩ phu tại thành Vương Xá, bên bờ hồ Câu Hy La suy nghĩ về thế gian có biên giới hay không biến giới, thấy 4 người lính chui vào lỗ chơn lông, tự sợ hãi và sinh ra điên cuồng. Thế gian chẳng điên cuồng. Sau đó hỏi Phật. Phật bảo chẳng phải điên là A Tu La. Vì chư thiên mà tùy tiện ra vào nơi chứa ấy. Suy nghĩ điều nầy đối với thế gian chẳng phải là con đường của Niết Bàn; chẳng có nghĩa nhiêu ích; chẳng có pháp lợi lạc; chẳng lợi lạc về phạm hạnh v.v…

Rồng mưa là từ miệng rồng. Tai, mắt, mũi, lưỡi đều hiện ra. Sự thật ấy chẳng từ điều kia mà hiện ra. Hay từ niệm nhớ nghĩ mà xuất hiện. Niệm lành, niệm dữ tất cả đều có thể thành mưa. Do việc làm căn bản thuở trước, mà nay được cái lực như vậy. Bụng núi Tu Di có trời tên là Đại Lực lại cũng có thể làm mưa.

Lại nữa trải qua 5 đường hợp với một, thật bất khả tư nghì. Địa ngục có hết và tiếp tục. Súc sanh có loài bay. Quỷ cũng có thể biến ít thành nhiều. Người có thể làm cho lửa thiêu đốt rơm rạ. Trời có thể tự nhiên đến hgồi quả báo. Tất cả đều là quả báo. Pháp sự ấy thật là bất khả tư nghì v.v… Điều nầy noí về 4 việc nhơn duyên; giải thích chẳng thể được; huống là cảnh giới sâu xa; há chẳng phải là chẳng bất khả tư nghì sao?

Kệ có 21 hàng, chia làm hai. 17 bảy hàng rưỡi đầu tiên tụng Trường Hàng (câu văn dài), sau đó 3 hàng rưỡi lược khai 3 hiển 1, động chấp sanh ra nghi ngờ. Câu văn trước lại có 2. Đầu tiên 4 hàng, tụng về ỷ ngôn ca tụng. Sau đó 13 hàng rưỡi, tụng về tuyệt ngôn ca tụng. Phàm là kệ tụng Trường Hàng hỗ tương với nhau có rộng, có lược bớt, làm cho nghĩa dễ hiển bày vậy. Hai loại Trường Hàng ở nơi Phật là quyền, thật; mỗi mỗi ca ngợi. Biểu hiện cho sự hóa duyên khác nhau. Cho nên trong việc tụng về 2 loại ấy, Phật hợp lại ca ngợi, tán thán. Điều nầy để chỉ cho 2 trí và lý giống nhau. Đầu tiên trong lời văn ỷ ngôn lại có 2. Hai hàng đầu hợp với tụng 2 Phật và 2 trí. Hai hàng sau hợp với tụng 2 Phật, tán thán sự giải thích và tán thán những kết luận. Đầu tiên lại có 2. Bây giờ câu đầu là Thế Hùng, tụng trí tuệ bên trên của chư Phật. Chẳng thể lường được là tụng về thậm thân vô lượng bên trên. Tụng nầy là thật trí của chư Phật vậy. Ba câu tụng kế tiếp là quyền trí bên trên của chư Phật. Điều nầy lại có 3 việc khác. Một là bên trên suy cử về người, lại cùng với tiêu chuẩn của pháp. Cho nên nói là trí huệ của chư Phật. Bây giờ tụng về người tụng, sẽ là người dùng pháp đẹp đẽ ấy; cho nên nói là Thế Hùng. Hai là bên trên khai bày việc tán thán và bây giờ hợp lại để ca ngợi. Dùng pháp riêng cho nên nói là liền khai mở. Lấy người làm tổng quát cho nên nói là tu hợp. Ba là như trên đã nói. Tất cả Nhị Thừa đều chẳng rõ. Bây giờ nói tất cả các loại chúng sanh chẳng rõ.

Từ “Phật lực” trở đi sau đó 1 hàng tụng ca ngợi Đức Thích Ca nhị trí. Phật đó là tụng: Ta từ thành Phật. Chánh tụng thật trí. Lực vô úy và tụng là những công đức. Tụng nầy là quyền trí. Dừng ấy là chỉ cho hóa tha của quyền. Đây là thật trí ngoài sự trợ giúp vậy. Chánh tụng như trên, đủ loại nhơn duyên v.v…

Theo sách thì từ dưới, phía sau 2 hàng hợp với tụng, hai Phật giải thích, tán thán về cái ý của việc tán thán câu kết. Theo sách thì từ vô số Phật đầy đủ các việc làm ở các đường. Lời tụng bên trên về chư Phật và giải thích, tán thán. Phật gặp, gần gũi trăm ngàn chư Phật, cùng làm đạo pháp là câu văn như thế. Là pháp vi diệu sâu xa. Bài tụng ở trên là lời kết, tán thán về thật, thành tựu sâu xa, chưa từng có pháp nào như vậy. Khó thấy khó được rõ biết bài tụng bên trên về đoạn kết là ý thú ca tụng về quyền, khó giải thích vậy. Đối với vô lượng ức kiếp thực hành những đạo pháp rồi. Bài tụng bên trên giải thích về tri kiến Ba La Mật của Đức Thích Ca; tất cả đều đã được đầy đủ.

Bên trên 2 câu là đưa ra cái nhơn đầy đủ. Bên dưới một câu là đưa ra cái quả đầy đủ. Ta đã rõ biết và thấy một câu. Lời tụng bên trên là lời kết; giải thích về 2 trí của Đức Thích Ca, Như Lai tri kiến, quảng đại là câu văn như vậy. Hoặc có lúc dùng 4 câu kệ, hợp tụng bên trên của 2 vị Phật về quyền và thật. Câu văn ấy chia ra làm 6. Đầu tiên nói về Thế Hùng một câu. Tổng tụng về 2 vị Phật và 2 trí. Thứ hai là chư Thiên và người đời 3 câu tụng về con người. Ba là Phật lực, dưới đó 1 hàng tụng về Đức Thích Ca và giải thích về quyền, thật. Bốn là gốc từ dưới, một hàng. Tụng về chư Phật và giải thích về quyền, thật. Năm là vô lượng trở đi, nửa hàng. Đây là cái nguyên nhân của việc làm bên trên. Sáu là từ Đạo Tràng được thành tựu trở đi, hai câu. Tụng về việc đắc quả.

“Từ như thị đại quả báo khứ” lần thứ 2 có 13 hàng rưỡi, tụng về việc không còn dùng đến lời nói như bên trên. Câu văn ấy lại chia ra làm 5. Nửa hàng đầu là quả báo to lớn như vậy. Tức là tụng về cảnh giới bất tư nghì. Thường hay đưa ra việc ở đầu, cuối và trung gian. Việc lược bớt nầy có thể rõ được. Nghĩa của chữ và lời tụng, đều rốt ráo. Lớn ở đây đưa ra đủ loại nghĩa đen để mà nói.

“Ta và mười phương chư Phật” trở đi hai hàng rưỡi, theo đó tụng chỗ tối cần thiết về việc Phật tất nhiên thành tựu.

“Từ bất khả thị” trở đi ba hàng rưỡi, tụng chỗ không nói như bên trên. Thật tướng không có chỗ; cho nên chẳng thể chỉ cho thấy. Chẳng bằng ngôn ngữ của Đạo; cho nên nói lời tương ứng với tịch diệt.

“Từ tư dư chúng sanh loại” trở đi 4 hàng tụng ấy đưa ra chỗ không rõ biết của con người. Cho nên phía trên câu văn dài làm rõ chỗ không có người trí nào. Do vậy mà dừng lại chẳng nói. Trong 10 hàng rưỡi tụng ấy, tụng về người chẳng rõ biết. Câu văn nầy lại chia ra làm 8. Nửa bài kệ đầu nói chung về chỗ chẳng nhập; tức là 7 phương tiện.

“Từ trừ chư” trở đi 22 câu chỉ rõ chỗ có thể nhập; tức là Viên giáo, thập tín. Cho nên nói tín lực kiên cố là vậy. Câu văn dài làm rõ chỗ cứu cánh của Phật tri kiến. Trong tụng ấy làm rõ biết chỗ tin ban đầu. Rồi cùng đưa ra như thế.

“Từ chư Phật” trở đi phần thứ 3 có một hàng rưỡi làm rõ chỗ Nhị Thừa chẳng rõ biết.

“Từ giả sử mãn” trở đi phần thứ 4 có một hàng đưa ra chỗ Thân Tử (Xá Lợi Phất) chẳng rõ biết.

“Từ chánh sử mãn” trở đi phần thứ 5 một hàng rưỡi đưa ra việc các Đại Đệ Tử.

“Từ Bích Chi Phật” trở đi phần thứ 6 gồm 2 hàng đưa ra việc Bích Chi Phật.

“Từ tân phát ý” trở đi; phần thứ 7 hai hàng rưỡi, đưa ra việc phát tâm của Bồ Tát chẳng nhập. Phát tâm ngữ thông; hoặc có thể lục độ Bồ Tát ở vào 3 A Tăng Kỳ chưa đoạn được hoặc; nên gọi là phát tâm. Hoặc có thể chỉ cho người ở trên trời, tự nhiếp lấy lục độ mà phát tâm, là lời nói riêng biệt, nghi về Thông, Biệt (giáo) mà phát tâm.

“Từ bất thối Bồ Tát” trở đi phần thứ 8 có một hàng nói về chỗ bất thối Bồ Tát lại chẳng rõ biết. Thông giáo bất thoái, đoạn trừ cảnh giới hoặc bên trong. Cho nên chẳng rõ cái lý riêng biệt. Biệt giáo địa tiền lại có chứng vị bất thoái hạnh và bất thoái v.v… Lại cũng chẳng rõ biết.

Kế đến “từ cáo Xá Lợi Phất vô lậu” trở đi phần thứ 5 một hàng rưỡi bài tụng về pháp khó giải và Phật thì hay rõ cảnh thật tướng. Vô lậu bất tư nghì nghĩa là tụng phần kết chính yếu và đưa ra quyền, thật; chỗ cảnh giới dừng lại. Thậm thâm vi diệu pháp một câu, tụng bên trên phần một là hy hữu nan giải pháp. “Ngã kim dĩ cựu đắc 3 câu” tụng về việc chỉ Phật nói với Phật mới có thể rõ biết, làm rõ con đường giống nhau của chư Phật; tất cả đều đi đến chỗ cứu cánh. Cho nên nói rằng: Riêng chỉ ta biết tướng nầy và 10 phương chư Phật lại cũng như vậy. Việc giải thích bất tư nghì là giống như ý châu, không có một chỗ sứt mẻ, có thể mưa xuống những loại quý giá. Đây là thật tướng chẳng sanh thì hay sanh ra Bát Nhã vậy. Vô lậu bất tư nghì một hàng rưỡi là cái gốc, sanh ra 4 loại giải thích như trên đã nói.

“Từ vô lậu có nữa 2 câu” là 10 pháp giới giải thích về việc làm chính. Thập pháp giới và Thập Như (thị) thu gom Phàm Thánh, lý tánh và vô lậu mất đi.Tam Đế mất vô lậu; quyền thật trí, mất vô lậu. Với bất khả tư nghì làm chỗ khai mở, hợp lại và giải thích chỗ tạo tác căn bản. Tức là quyền mà thật; tức là thật mà quyền. Cho nên nói là bất khả tư nghì vậy. Về việc Pháp vi diệu sâu xa, vì Phật pháp giới mà giải thích chỗ tạo tác căn bản. Điều nầy có thể rõ. Chỉ có ta biết là tướng. Vì ngôi vị mà giải thích, tạo tác ra chỗ căn bản. Điều nầy lại cũng có thể rõ v.v…

“Từ Xá Lợi Phất đương tri chư Phật ngữ vô dị” trở đi. Lược khai 3 và hiển 1; động chấp sanh nghi. Tựu chung khai hiển ấy làm hai. Đầu tiên làm sáng tỏ việc chư Phật hiển thật. Thứ đến làm rõ việc Đức Thích Ca khai 3. Hỗ tương làm rõ một bên vậy. Chư Phật nói không khác nghĩa là luận về chư Phật hóa đạo giống nhau. Kế đến 2 câu khuyên nên siêng tin. Hai câu sau chính thức hiển thật. Sau đó pháp của Thế Tôn lâu dài; nên cần nói chân thật; tức là hiển chân vậy. Động ấy từ xưa là việc chấp vào; nên sanh ra nghi, sẽ chẳng phải ma làm Phật. Chính là do nghe lời nói nầy vậy. Phật liền như lời nói thật mà khuyến khích siêng tin. Việc gì lại nghi ngờ? – Vì phòng hờ cái nhơn nghi khởi lên sự hủy báng; cho nên siêng tin là vậy.

“Từ cáo chư Thanh Văn chúng” trở đi làm rõ Đức Thích Ca khai ra 3. Câu văn ấy lại chia ra làm 3. Đầu tiên một hàng chính thức làm sáng tỏ khai mở ra 3,sẽ làm sáng tỏ chẳng phải Nhị Thừa. Cho nên nói là được Niết Bàn vậy. Lại giải rằng: Ta làm cho thoát khổ cột chặt, chứng được Niết Bàn. Tức là tiến đến lục độ Bồ Tát thừa. Sao lại biết được việc nầy? Tu lục độ hạnh tức là miễn trừ việc trói buộc vào 4 cõi; chưa có thể vào chỗ diệt độ. Còn 3 A Tăng Kỳ và 100 kiếp nữa mới được Niết Bàn. Nên nói là còn xa vậy. Lại nữa lục độ hạnh, trước độ cho kẻ khác; cho nên nói là “ta làm cho thoát khổ bị trói buộc”. Sau đó giữ lấy vô lậu; cho nên nói là được Niết Bàn. Nghĩa nầy nên nói rõ là lục độ thừa vậy. Lại nữa lấy số lượng để giới thiệu câu văn ở dưới. Nói rằng: Phật dùng Phương Tiện lực để chỉ cho Tam Thừa giáo. Nếu chẳng chỉ điều nầy thì 3 ấy là gì? – Chẳng nên để ý nhiều về Nhị Thừa làm Tam Thừa vậy. Kế tiếp nửa câu sau là chánh thức nói về Tam Thừa. Tất cả đều là hư ngụy. Kế đến 2 câu đề xuất và thành lập 3 ý. Ý đây là quyền, dẫn là những sự khổ; chẳng phải là chơn thật. Đây chính là cửa phương tiện vậy.

“Từ nhĩ thời đại chúng” trở đi vì sợ, nghi đến thỉnh cầu. Do nghe 3 ngụy một chơn; chấp vào động và nghi lại sanh. Câu văn chia làm 2. Một là nghi chín muồi và 2 là chánh thức mời và quyết định. Thục nghi lại có 2. Một là những nhà giải thích kinh thuần thục; hai là chính thức sinh nghi. Đầu tiên thục ấy có 1.200 nghi. Thứ đến thục ấy 4 chúng. Bên trên là Tam Thừa; tất cả đều là phương tiện. Thục nghi ấy thường tại nơi Nhị Thừa. Dùng sự chấp sâu nầy và nghi sâu vào biên kiến rồi đưa đến nơi khác nhiều sự nghi. Tức là nói rằng: Cầu Phật và chư vị Bồ Tát số nhiều có đến tám vạn. Lại đều có nghi. Cho nên rõ biết Tam Thừa, kiểm lại sự nghi biên kiến ấy, đưa ra Nhị Thừa vậy.

“Từ các tác thị niệm” trở đi là chánh nghi. Lại chia ra làm 2. Một là nghi Phật nhị trí. Hai là nghi điều nầy là chỗ được. Từ điều gì mà là xưng tán phương tiện? – Tức là tổng nghi quyền, thật nhị trí. Từ điều tạo tác mà nói Phật chỗ được pháp sâu xa. Đây chính là nghi thật trí. Có chỗ dùng lời nói ý thú khó rõ. Đây là nghi quyền trí. Dùng sự nghe lời nói của chư Phật không khác chỗ chính yếu và sẽ nói chơn thật. Từ đây sanh ra nghi. Kẻ nào xưa Phật nói Tam Thừa trí huệ giống nhau và việc chứng chẳng khác? Ngoài ra tập ấy có cuối cùng và chẳng cuối cùng. Bây giờ lấy việc xưng tán Như Lai nhị trí, chẳng phải thuộc về ta và đây chính là điều nghi Phật nhị trí vậy.

“Từ Phật thuyết nhứt giải thoát nghĩa ngã đẳng diệc đắc thử pháp” trở đi. Điều nầy là tự nghi chỗ sở đắc. Tam Thừa Thánh Đạo là chơn thật ra khỏi cái ta cần yếu và tu lý nầy, lại đến được Niết Bàn, mà bây giờ lại nói tất cả đều là phương tiện. Chưa rõ được cái gì là chơn thật. Cho nên nói chẳng rõ là nghĩa chỗ nầy. Đây là từ trên chia ra 3 làm ngụy, mà sanh ra nghi vậy.

“Từ nhĩ thời Xá Lợi” trở đi. Lần thứ 2 chính thức thỉnh. Văn nầy có 3 lần thỉnh và 2 lần dừng lại. Tựu chung trước đó 3 dừng lại. Thầy Diêu và Thầy Long nói rằng: Cái dừng đầu tiên là lý sâu xa khó giải. Cái thỉnh đầu tiên là tự tha cầu quyết nghi. Kế tiếp là dừng lại chỗ sợ nghi mà chẳng tin. Kế tiếp lời thỉnh cầu là vì sự lâu dài ngay thẳng tất nhiên rõ biết. Sau đó dừng lại là việc tất nhiên của việc hủy báng và đọa vào nơi ác đạo. Sau đó thưa thỉnh là lợi căn đắc đạo, được lợi ích. Bây giờ Thầy ấy nói: Phật dự tri 3 tuần được lợi ích trước mà sau thì chẳng đầy đủ. Cho nên 3 điều ấy là 3 lần thỉnh. Tựu chung cái thỉnh đầu ấy chia làm 2. Một là Trường Hàng; hai là kệ tụng. Trường hàng lại chia làm 2. Một lần nghi, 2 lần thỉnh. Trần tình việc nghi về 2 trí. Trần thỉnh rồi thỉnh chúng thỉnh. Trong tụng ấy có 11 hàng kệ. Văn ấy lại có 6. Hai câu đầu tụng về nghi thật trí.

“Từ tự thuyết đắc” trở đi. Lần hai là 3 hàng tụng về nghi quyền trí.

“Từ vô lậu chư” trở đi. Lần thứ ba có 3 hàng làm rõ Tam Thừa Tứ Chúng có sự nghi ngờ. Câu trên làm rõ cho A La Hán. Hai câu sau làm rõ cho Duyên Giác. Ở giữa là xưng tán và cầu Niết Bàn; tức là làm rõ lục độ Bồ Tát. Vì sao lại biết? Như trên đã nói: Được Niết Bàn là xưng tán ở giữa nầy và các vị Bồ Tát tự cầu lấy Niết Bàn. Lại nữa cùng với kia; cho nên khác với Nhị Thừa; trí ấy là Bồ Tát vậy.

“Từ ư chư” trở đi lần thứ tư có một hàng rưỡi làm rõ Thân Tử nghi và “từ chỗ Phật khẩu sở sanh trở đi”, lần thứ 5 có 1 hàng, làm rõ chỗ Phật Tử nghi.

Từ “chư Long Thiên” trở đi lần thứ 6 có 2 hàng tổng cộng làm rõ chỗ nghi và thỉnh cầu giống nhau vậy.

Phàm là kệ tụng Trường Hàng có cái ý gì muốn nêu lên? Như đây chẳng phải tụng, tức là Trường xuất. Đối với nghĩa chẳng phải gấp gáp. Chẳng thể não phiền nơi câu văn phân chia ra; cho nên lược bớt.

Từ “nhĩ thời Phật cáo” trở đi là hai chỗ dừng; liền lấy chỗ nghi ấy thưa thỉnh, tất nhiên như câu văn v.v…

 

Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Văn Cú Hết quyển 3 (Phía dưới)

Pages: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10