KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA VĂN CÚ

Thiên Thai Trí Giả Đại Sư giảng
Sa Môn Thích Như Điển, Phương Trượng Chùa Viên Giác Hannover – Đức Quốc, dịch từ chữ Hán sang tiếng Việt.

 

Quyển thứ hai

(Phần trên)

 

Kiều Phạm Ba Đề ở đây dịch là Ngưu Kha. Trong Vô Lượng Thọ gọi là Ngưu Vương. Tăng Nhứt (A Hàm) gọi là Ngưu Tích. Ngày xưa cách đây 500 đời đã là Ngưu Vương. Trâu sau khi ăn thường hay nhai lại. Với dư báo ấy chưa bỏ hết được; nên thường nhai. Cho nên người đời gọi là Ngưu Kha. Ngày xưa có 500 con chim se sẻ. Có một con thường hay đem hoa quả để dâng lên chim sẻ chúa. Phật trong một mùa hạ có nhận lời cung thỉnh của vua A Kỳ Đạt và đã cùng với 500 Tỳ Kheo phải dùng thức ăn của ngựa. Thế mà chỉ có Kiều Phạm ở trên trời, nơi vườn của Thi Lợi Sa, thọ nhận sự cúng dường của Thiên Vương.

Tăng Nhứt (A Hàm) nói rằng: Vui ở tại cõi trên, chẳng vui nơi cõi người thì Ngưu Tích Tỳ Kheo là số một. Vui tại thiên thượng nghĩa là theo những dục lạc ở đó; là thế giới Tất Đàn vậy. Nhờ cúng dường cho se sẻ chúa mà phước báu ấy được làm người. Có người chê cười và ở dưới thế cũng có nhiều người cười như vậy… Đây là nghĩa thứ nhứt…

Lại nói: Người ta thường xem hình hài bên ngoài; chứ ít rõ biết cái đức bên trong. Nếu cười một vị La Hán, liền có tội. Muốn tránh cái cười ấy cho nên Ngài thường ở

trên cõi trời. Chư thiên rõ biết cái đức nên chẳng cười về hình tướng ấy. Cho nên hay ở trên trời là vậy. Sau khi Đức Phật diệt độ, Ngài Ca Diếp triệu tập 1.000 vị La Hán và sai bậc hạ tọa đi tìm Kiều Phạm thì Kiều Phạm mới hỏi về Phật và Hòa Thượng của mình.

Đáp rằng: Tất cả đều đã tịch diệt. Liền nói rằng: Phật đi, ta cũng đi; Phật ở ta cũng ở. Phật diệt, ta cũng diệt. Tứ Đạo lưu lại nơi Ngài Ca Diếp, rồi nói kệ chú… Voi lớn đi, voi nhỏ đi theo. Thế Tôn và Hòa Thượng đều diệt độ, thì ta nay trở lại đó để làm gì? Đây là ý nghĩa thứ nhứt.

Ước Giáo nói khi Ngài trụ ở trong vườn của chư Thiên thì thị hiện ra điều lành. Có trâu nhai lại thì đây là thị hiện việc xấu.

Tam Tạng ý cũng như vậy. Dùng sự nhai lại của trâu; nên thân được đạo. Đây để chỉ cho việc ác; nhưng không phải ác. Ở tại cõi trời mà nhai lại thì thể hiện việc lành cũng chẳng phải là lành.

Thông Giáo ý nói: Thị hiện ở các cõi, trong ngoài tốt xấu.

Biệt Giáo ý nói: Chỉ bày ra cái thật tướng của lành dữ.

Viên Giáo ý nói: Bổn Tích ấy là bổn trụ ở Tứ Vô Sở Úy. An trụ nơi Thánh chủ, như Ngưu Vương, là đệ nhứt nghĩa Thiên Tích. Thị hiện Ngưu Kha, vui ở cõi trên trời vậy.

Quán Tâm bảo: Quán với tâm tánh Trung Đạo là cái lý. An ổn yên lặng, tật nầy như gió. Tức là quán Ngưu Vương vậy.

Ly Bà Đa cũng còn gọi là Ly Việt. Ở đây dịch là Tinh Túc; hoặc Thất Túc hay Giả Hòa Hợp. Văn Thù vấn kinh gọi là Thường Tác Thinh. Cha mẹ cầu con ở ngôi sao giờ khuya. Liền được cảm ứng và nhơn đó lấy ngôi sao đặt tên. Tuy là được xuất gia; nhưng vẫn giữ chức cũ. Là Giả Hòa Hợp. Có người dẫn theo luận để giải thích. Ở giữa cái đình thấy 2 con quỷ đang tranh nhau một xác chết. Bảo rằng phải phân chia cho đều, đừng cho hại về ai. Rồi theo sự thật mà đáp. Con quỷ lớn giành chân tay. Quỷ nhỏ lấy những phần khác của tử thi. Ăn xong lau miệng rồi chạy. Do nguyên nhơn phiền não nầy, chẳng đoán được là thân của ai; cho nên nói là Giả Hòa Hợp. Thường hay tạo ra âm thanh để cho người nghi việc nầy biết. Nếu ta thấy được cái thân chính nầy thì bỏ chạy. Nếu là thân kia thì ta theo đó mà đi, đứng. Nghi hoặc, do dự gặp người liền hỏi: Ngươi có thấy thân ta chăng? Cho nên thường hay tạo ra âm thanh. Chúng Tăng nói: Người nầy dễ độ và nói rằng: Thân của nhà ngươi là di thể của người khác, chẳng phải có vậy. Tức thời nhận ra được đạo…

Tăng Nhứt (A Hàm) nói: Khi tọa thiền nhập định, tâm chẳng đảo lộn thì Ly Việt Tỳ Kheo là đệ nhứt.

Ước Giáo nói: Bẻ phá ngũ ấm, chẳng phải là sở hữu của ta.

Tam Tạng ý thì nói: Thể đạt ngũ ấm, gốc ấy chẳng phải có ta, cũng chẳng có cái kia; thấy thực tướng của ấm. Tức là Viên Ý.

Bổn Tích gọi Bổn là trụ ở ngôi sao Tam Muội. Tích ấy dùng để chỉ cho tên nầy.

Quán Tâm ấy là quán tâm nhớ nghĩ đến Phật, thấy 10 phương Phật rất nhiều, như ban đêm thấy sao trên trời vậy…

Tất Lăng Già Bà Sa ở đây dịch là Dư Tập, vốn 500 đời là Bà La Môn, dư khí còn nhiều. Khi qua sông Hằng quát mắng, nước chảy thành hai và Thần sông Hằng đem chuyện nầy thưa lên Phật. Phật ra lệnh phải sám hối. Liền chắp hai tay lại và bảo: Nhải sanh kia đừng giận nữa. Đại chúng cười cho việc sám hối kia. Đức Phật bảo: Cái tập quán gốc ấy thật chẳng phải là tâm cao ngạo.

Tăng Nhứt (A Hàm) nói: Ở dưới gốc cây chịu ngồi cực khổ, chẳng bỏ chạy khi bị gió mưa thì Bà Sa Tỳ Kheo là đệ nhứt. Ước Giáo nói: Diệt đi sự kiêu mạn thì không cao ngạo. Tam Tạng ý cũng vậy. Tức mạn nghĩa là vô mạn. Thông Ý cũng nói thế. Phân biệt 10 pháp giới cao thấp. Biệt Ý cũng vậy. Bát Tự Tại thì ta đầy đủ Phật Pháp. Viên Ý cũng vậy. Bổn Tích là Bổn trụ thường, lạc, ngã, tịnh, bát tự tại ngã. Tiếng nói vi diệu. Tích ấy dùng để chỉ cho tâm kiêu mạn, ác khẩu. Quán Tâm bảo rằng: Quán thố, nói lời mềm dịu. Tất cả đều quy về một nghĩa…

Bạt Câu La ở đây dịch là Thiện Dung; hoặc là Vĩ

Hình; hoặc là Đại Phì Thạnh; hoặc là Tất Nang; hoặc Lăng Đặng; hay gọi là Mại Tánh. Tướng mạo thường hay đoan chánh cho nên nói là Thiện Dung. Năm 160 tuổi không có ngày nào bịnh. Có 5 lần bị sát hại mà không chết. Sau đó bà mẹ ghẻ bỏ vào nung trong nước và cho cá ăn và dùng dao để chặt phá ra; nhưng không bị chết. Do ngày xưa trì giới không sát sanh; nên mới được vậy. 91 kiếp đời sống không có một ngày nào bị bịnh. Ngày xưa do cúng cho một vị Tăng một trái Ha Lê Lặc; cho nên thân thường chẳng bịnh. Hay giữ một giới, mà 4 giới kia trang nghiêm. Kiên trì chẳng phạm; nên không bị lửa, nước làm hư. Cũng có nhiều người trì ngũ giới mà hay hủy phạm… Thân hay hoan hỷ, tịch tịnh, thường ở nơi an ổn, chẳng vui ở chỗ đông người. Mắt thường thích màu đen, vàng v.v… Tai chẳng vui nghe âm thanh của thế gian. Mũi chẳng ngửi mùi thơm, hôi của thế gian. Lưỡi chẳng hề vì người mà nói một câu hai lời. Ý thường tại thiền định, chẳng tán loạn. Cho đến ở nơi tháp Xá Lợi lại cũng hay vui với việc nhàn tịnh. Khi vua A Dục đi đảnh lễ các tháp của các vị A La Hán, khi đến tháp nầy thì nói kệ rằng:

Tuy tự biết vô minh, đối với đời ít lợi ích; nhưng xin cúng 20 con sò.

Tăng Nhứt (A Hàm) nói: Một đồng tiền để mua con sò ấy từ tháp bay ra, đến dính vào chân vua. Chư thần đều kinh ngạc. Tuy là nhàn tịnh thiểu dục mà ngay cả tháp nầy của Ngài cũng còn có cái lực như thế.

Tăng Nhứt nói: Thọ mệnh thật lâu; nhưng chẳng có một ngày bệnh. Thường vui với cảnh vắng vẻ; chẳng ở chung trong chúng thì Bạt Câu La là đệ nhứt.

Ước Giáo nói: Khi tịch diệt nhập vào Chơn Tam Tạng tịch tịnh. Tức là tuyên nói Chơn Thông tịch tịnh, lìa nhị biên, nhập vào trung biệt tịch tịnh. Tức là biên ấy thuộc vào Trung Viên tịch tịnh. Bổn ấy là bổn trụ nơi đại tịch tịnh diệt định. Sống lâu mà thường không có bịnh là vui không chết yểu. Đây là tịch tịnh, là tịnh vậy. Ở nơi 4 đức làm gốc. Tích ấy thị hiện 6 căn tịch tịnh.

Quán Tâm nói: Tâm tánh là Trung Đạo; tức là không, tức là giả, tức là trung, thường, lạc, ngã, tịnh quán vậy.

Ma Ha Câu Hy La dịch là Đại Tất (Đầu gối lớn), là cậu của Ngài Xá Lợi Phất. Do nguyên nhân là luận nghị thắng chị mình. Chị mình khi có thai thì luận không thắng; cho nên biết rằng khi hoài thai mà biện tài như vậy, khi xuất thai lại là dường nào? … tức thời bỏ nhà đi xuống phía Nam xứ Ấn Độ đọc tụng 18 bộ kinh, lúc ấy người ta đàm tiếu. Đời trước khó rõ thì một đời cũng chẳng xong., rồi tự nhiên than rằng:

Ở nhà thì chị đã hơn mình, khi ra đường thì người ta chê. Cho nên thệ nguyện đọc không ngừng nghỉ và móng tay không cắt. Khi ấy người đời gọi là Trường Trảo Phạm Chí. Sau khi học xong trở lại nhà, hỏi đứa cháu ở đâu thì người nhà bảo rằng đã làm đệ tử Phật. Tức liền nổi giận nói đứa cháu trai của mình, mới 8 tuổi mà đã chấn động 5 nước tại Ấn Độ. Vị Sa Môn kia có được đạo thuật gì ưu tú mà đã thâu nhận con của chị ta. Rồi qua nơi Phật, suy nghĩ một thời gian lâu; nhưng chẳng được một pháp nào nhập tâm. Bèn hỏi Phật rằng:

Tất cả pháp chẳng nhẫn. Nhẫn ấy tức nghĩa là an. Lời nầy tất cả pháp, ta hay phá tất cả, làm cho chẳng được an. Nói tất cả pháp chẳng nhẫn sao?

Phật hỏi: Ngươi nói là nhẫn phải không? Đây là rơi vào hai chỗ sai. Nếu ta thấy nhẫn trước điều nầy thì nói tất cả chẳng nhẫn. Nếu ta thấy chẳng nhẫn thì không lấy đó hơn Phật.

Liền đó cúi đầu được pháp thanh tịnh. Thân Tử (Xá Lợi Phất) nghe Phật luận với người cậu, liền được quả vị A La Hán.

Tăng Nhứt (A Hàm) nói: Được Tứ Biện Tài thật là khó nên nói rằng: Câu Hy La là số một. Vị vua phía Nam xứ Ấn Độ là Tỳ Lưu Tuần Xoa thường hay đến cận kề.

Ước Giáo nói: Bên ngoài thông hiểu Tứ Vệ Đà. Bên trong thông Tam Tạng. Tam Tạng Tứ Biện vậy. Ta không được chỗ biện tài như vậy.

Thông Giáo biện thì cho rằng tên gọi nầy và nghĩa ấy biến 10 pháp giới. Biệt Giáo biện thì nương vào thật tướng để biến tất cả biện. Viên Giáo biện thì: bổn tích ấy chính là bổn trụ, miệng bí mật, miệng tròn bất tư nghì, hóa thành đại định đại huệ. Tích ấy nhằm để chỉ cho cái đầu gối lớn. Quán Tâm nói: Quán tâm tức không, tức định, tức giả, tức huệ, lấy sự trang nghiêm ấy làm tâm nầy…

Nan Đà lại cũng còn gọi là Phóng Ngưu Nan Đà. Ở đây dịch là Thiện Hoan Hỷ. Lại dịch là Hân Lạc. Trong 100.000 người họ Thích thuộc dòng dõi vua Tịnh Phạn thì Ngài là người xuất gia. Có vị Sư nói: Trong luật gọi là Bạt Nan Đà. Ước Giáo nói: Sự hoan hỷ, lý chẳng hoan hỷ. Tam Tạng ý cũng vậy. Tức là sự hoan hỷ thì lý hoan hỷ. Thông Giáo ý cũng vậy. Hoan hỷ địa, tức là Biệt Giáo vậy. Hoan hỷ trụ, tức là Viên Giáo ý vậy. Bổn Tích nghĩa là Bổn ấy là bổn trụ thật tế, chẳng phải hỷ mà cũng chẳng phải chẳng hỷ. Tích ấy gọi là hoan hỷ. Quám Tâm thì cho rằng: Quán tâm cùng với lý tướng tương tợ tương ưng. Nên gọi là hoan hỷ quán vậy.

Tôn Đà La Nan Đà. Tôn Đà La ở đây dịch là Hảo Ái. Lại cũng có nghĩa là Đoan Chánh. Như trước về Nan Đà, thuộc họ như Na Luật đã nói. Sanh vào ngày mồng 9 tháng 4. Thấp hơn Phật 4 ngón tay, dung nghi chậm chạp, sánh với đời thật là thù dị. Nếu vào trong chúng thì ít có người biết. Nghĩa là nói khi Phật đến.

Di Sa Tắc Luật nói: Ở Ma Kiệt Đà có một ngoại đạo lõa thể rất là thông minh. Mọi người gọi là trí giả, kiến giả. Cùng với Thân Tử (Xá Lợi Phất) luận nghị và lưỡi ấy kết lại việc lành do tâm sanh. Muốn nơi Phật pháp được xuất gia. Thấy Nan Đà sắc mạo đặc thù; nên mới than rằng: Tỳ Kheo nhỏ thấp mà trí huệ còn khó sánh, huống hồ đường đường là một bậc trượng phu! Liền độ cho Nan Đà xuất gia. Người vợ tức là Tôn Đà Lợi thật là đoan chánh; ăn rồi chẳng cho rời. Phật cùng A Nan trên đường đi khất thực, đến trước cửa, Nan Đà đang cùng với vợ ăn trên lầu cao, liền khởi thân nghinh Phật. Bà vợ nói: Xong! Xin anh trở lại cùng ăn nhé! Sau đó Nan Đà bạch Phật rằng: Loại Chuyển Luân Vương nào tự tiện đến để làm gì? rồi mang bình bát của Phật, bỏ cơm vào. Sau đó Phật trở lại vườn Ni Câu Loại, bảo A Nan là bảo Nan Đà mang bình bát đựng cơm đến. A Nan theo lời dạy của Phật, làm cho ông ta mang cơm đến cúng Phật. Phật ra lệnh cạo tóc và cầm tóc nói: Chớ mang dao đến trên đầu của vua Diêm Phù Đề. Phật không dừng cạo trên mái tóc. Đến ngày mai nhân Phật cùng với 500 Tỳ Kheo được thỉnh và ông yêu cầu được ở lại giữ chùa, có ý đào thoát. Phật ra lệnh đóng cửa và quét nhà. Ông mở cửa Nam Bắc bị đóng và quét sạch chỗ dơ kia. Không chờ Phật trở về, ông liền chạy về nhà. Giữa đường gặp Phật, ông trốn nơi bụi cây. Cây ấy lên cao, chỗ trống Phật thấy và bảo về lại Tịnh Xá. Phật hỏi vì cớ gì mà ông trốn đi. Ông ta liền đáp: Ngày hôm qua cùng vợ chia ly, sợ vợ chờ cơm và nhớ vợ; nên chạy về nhà. Liền đó Phật cho ông lên Thiên Đường và xuống tận địa ngục… cho nên dùng chữ vợ để làm tiêu đề.

Ước Giáo bảo rằng: (tức là luận cứ của những nhà Thiên Thai giáo học) Tục đế có pháp hỷ; chơn đế thì vô hỷ. Tam Tạng Giáo cho rằng: Tục hỷ là chưa hỷ. Thông Giáo cũng vậy. Theo Thông Giáo thì pháp hỷ. Có tục pháp hỷ trong pháp hỷ. Biệt Giáo cũng thế. Tức là thông hỷ đầy đủ tất cả pháp hỷ. Viên Giáo cũng thế. Bổn Tích quán tâm cũng như phía trước…

Phú Lâu Na dịch là Mãn Nguyện. Di Đa La dịch là Từ, Ni Tử. Người cha cầu con với Phạm Thiên ở Mãn Giang. Ngay lúc nước sông đầy, lại mộng thấy bảy bình báu vào đầy những của quý và người mẹ mang thai. Khi mẹ mang thai Ngài, người cha ý nguyện được mãn. Từ đó được toại nguyện. Cho nên gọi là Mãn Nguyện. Mẹ tên là Di Đa La Ni. Ở đây dịch là Từ Hành lại cũng nói là Trí Thức. Tứ Vệ Đà có phẩm nầy, bà mẹ tụng đọc và lấy đó làm tên. Ni đây để chỉ cho người nữ. Thông thường gọi người đàn bà là Ni. Hay gọi đàn ông là Na. Tức là lòng từ ấy sanh ra. Cho nên nói là Từ Tử.

Tăng Nhứt (A Hàm) nói: Tên cha ta là Mãn. Tên mẹ ta là Từ. Những bậc phạm hạnh gọi ta là Mãn Từ Tử. Từ đây cha mẹ ta có đủ duyên để gọi tên như vậy. Cho nên ta được gọi là Mãn Từ Tử. Người nầy lành rõ kinh thơ nội ngoại, không có chỗ nào mà chẳng biết. Vì biết khắp cả; cho nên gọi là Mãn.

Tăng Nhứt nói: Lành hay rộng nói, phân biệt nghĩa lý, thì Mãn Nguyện Tử là người số một. Phía dưới còn viết: Đối với những người thuyết pháp, là bậc thứ nhứt. Đệ nhứt đây là ý nói để chỉ cho Ngài Mãn Từ Tử vậy. Muốn trở lại quê mình để tạo được lợi ích.

Phật bảo: Nơi nước kia tệ ác lắm, ông biết chăng?

Đáp: Con sẽ nhẫn chịu.

Nếu họ hủy báng, nhục mạ con thì con tự thấy có hạnh phúc, chưa bị mắng. Nếu bị mắng chửi con cũng thấy vui. Vì chưa bị họ đánh. Khi bị đánh cũng còn hạnh phúc. Vì chưa bị lấy dao chém. Nếu bị đâm chém thì con vẫn còn hạnh phúc, vì lìa được 5 ấm độc khí. Đây là những việc thực hành chữ nhẫn đầy đủ; cho nên gọi là Mãn. Bảy xe (bình) ấy thí dụ như trong kinh nói. Vì thế mà Ngài Đại Trí Xá Lợi Phất xưng tán. Trong tất cả những người tu phạm hạnh, đều đem y tốt dâng lên cúng dường Ngài. Nếu ai thấy được Ngài, đều được lợi ích lớn. Khiến cho hoan hỷ đầy đủ, cho nên tên Ngài là Mãn.

Ước Giáo (Thiên Thai) nói: Bẻ gãy những pháp khác và chỗ biện tài Tam Tạng Nguyện Mãn, thể ấy đạt đến chỗ không. Đối với pháp không được chứng Thông Giáo Nguyện Mãn. (Giáo pháp thứ 2 trong Tứ Giáo của Tông

Thiên Thai). Pháp nhãn đầy đủ; nên Biệt Giáo Nguyện Mãn (Phán Giáo của Tông Hoa Nghiêm). Trụ ở tạng bí mật; nên Viên Giáo Nguyện Mãn (Thực giáo cùng cực của Đại Thừa). Bổn Tích ấy là Bổn nguyện lâu dài đầy đủ. Tích ấy ý nói là đệ nhứt, để chỉ cho trí thức của chúng sanh.

Quán Tâm đây như người trong chỉ quán, thực hành cái lý cùng với thiện tri thức quán vậy.

Tu Bồ Đề ở đây dịch là Không Sanh. Khi ông sanh ra thì trong nhà kho và các đồ đạc, tất cả đều trở thành không. Hỏi người đoán tướng thì được bảo rằng tốt. Nhơn từ không mà sanh; cho nên tên là Không Sanh. Do từ y báo mà dĩa, chén đều không. Lấy tên là Chánh Báo. Y chánh đều tốt.; cho nên nói là Không Sanh. Thường tu về hạnh không; cho nên nói là Thiện Nghiệp. Lại hay cúng dường; cho nên được hiện báo. Nên gọi là Thiện Kiết. Thường hay vui chơi nơi rừng vắng, hang đá và những chỗ yên tĩnh. Chỗ tu hành lấy không làm chính; cho nên thường nhập vào Không Định và trụ ở Vô Chánh Tam Muội. Hay vui nói pháp không. Nếu có chỗ biện luận, cũng đều phân biệt về không. Hay giúp đỡ cho chúng sanh, chẳng lấy làm phiền lòng. Khi đi cũng giống như đứng và khi đứng cũng giống như đi. Khi Phật từ cõi trời Đao Lợi vừa về lại mặt đất thì ông đến đảnh lễ trước. Khi ngồi các nơi hang đá, ông cũng nhớ quán đến pháp không. Không có hình tướng để thấy Phật; cho đến thức cũng không thấy Phật, mắt cũng chẳng thấy Phật; cho đến ý cũng chẳng thấy Phật, mặc nhiên ngộ đạo. Phật bảo Bà Liên Hoa Tỳ Kheo Ni rằng: Chẳng phải bà là người đến lễ trước. Bà chỉ lễ sắc thân. Còn Tu Bồ Đề đã thấy trước pháp thân ta.

Ước Giáo nói: Tự chính mình diệt sắc, nên không trí sanh; thể sắc không trí sanh. Từ hữu trí sanh không trí. Từ không trí sanh tục trí. Từ tục trí sanh trung trí. Không Sanh tức là Hữu Trí. Đây là Viên, không trí sanh, mà Viên nầy không trí sanh. Bổn ấy là bổn trụ thật tướng pháp thân. Tích đây dùng để chỉ cho hiện ra không mà sanh. Quán tâm thì cho rằng chẳng phải ở trong, ngoài, ở giữa. Chẳng tự có. Đây chính là quán tâm pháp thân vậy.

A Nan ở đây dịch là Hoan Hỷ; hoặc Vô Nhiễm. Tịnh Phạn Vương (Bác) muốn Thái Tử làm Kim Luân Bá để lo cho Tông Miếu. Nhưng hốt nhiên bỏ nước, làm cho nhà vua lo rầu chẳng nguôi. Ma quỷ đến phá con của Ngài phải chết. Nhà vua khóc than rằng: A Di nói tức tướng ấy không hay, lại chẳng có kinh nghiệm. Lại có vị Trời đến bảo rằng: Con của Ngài đã thành Phật. Nhà vua nghi chẳng tin. Sứ trời báo tin rằng: Đêm trước đất trời chuyển động mạnh, Thái Tử thành Phật. Nhà vua quá vui mừng. Bạch Phạn Vương (Cha của Ngài A Nan) tâu rằng: Con (của em) sanh ra cả nước vui mừng. Nhơn đây đặt tên là Hoan Hỷ. Đây là do cha mẹ đặt cho. A Nan đoan chánh ai thấy cũng vui.

Phật bảo đắp y phải che vai lại. Có một người nữ thấy tướng Ngài đẹp; nên rủ đến giếng. Nhìn Ngài A Nan mắt chẳng rời, thình lình dùng dây cột lại.

Trung A Hàm nói rằng: Tứ chúng nếu nghe A Nan nói, dù ít dù nhiều, chẳng ai là không vui. Muốn hỏi điều gì thì trước tiên tiếng nói ấy rõ ràng, đại chúng nghe rất hoan hỷ. Tứ chúng nếu thấy khi đi, đứng, nằm, ngồi đều yên tĩnh và các phần như đến, dừng, động, chuyển v.v… tất cả đều hoan hỷ. A Nan sanh ngày mồng 8 tháng 4 là ngày Phật thành đạo (Tam hợp gồm: Đản sanh, thành đạo và nhập Niết Bàn chung một ngày). Làm Thị Giả cho Đức Phật trong 25 năm. Lúc ấy Đức Phật 55 tuổi; và Ngài A Nan 25 tuổi. Đức Phật yêu cầu Ngài làm thị giả trong 500 vị như đã nói ở trước. Chúng khuyên A Nan và A Nan thuận theo. 500 vị (Tỳ Kheo) hoan hỷ. Ngài Mục Liên lo ngại cho A Nan ba lời nguyện. Phật bảo:

Phàm là người tri thức thì chẳng tìm cầu để thọ nhận việc ăn mặc. Muốn vì chuyện lợi ích khác, thì vào ra (phòng) lúc nào cũng được. Phật ấn chứng và hứa khả, rồi Phật bảo rằng:

A Nan trong quá khứ đã từng là Thị Giả rồi. Trong quá khứ nhờ làm Thị Giả, nghe nói mà rõ nghĩa. Bây giờ Phật chưa nói ra thì A Nan đã rõ ý của Như Lai. Việc nầy chẳng cần làm mà tất cả có thể đều rõ biết. Cho nên nói là phú pháp cho A Nan. Như Lai hoan hỷ. Tứ Thiên Vương cúng những bình bát cho Phật. Phật để dồn hết tất cả thành một bình bát. Bốn duyên hợp lại mà thành bát lớn nầy. A Nan hoan hỷ mang bình bát chẳng biết mệt nhọc.

Trung A Hàm quyển 7 nói rằng: A Nan làm thị giả Đức Phật 25 năm. Đã nghe được 80.000 Kiền Độ, đều tụng thuộc chẳng bỏ sót bài nào. Chẳng hề hỏi lại một câu. Nhớ nghĩ niệm lực hoan hỷ. A Nan theo Phật vào cõi chư Thiên, loài người và cung rồng. Thấy Trời, Người, rồng nữ tâm không nhiễm trước. Tuy chưa dứt hết sự suy nghĩ; nhưng không thể nhiễm. Tất cả Trời, Người, Long Thần không ai mà chẳng hoan hỷ. Sau khi Phật diệt độ, tại giường Sư Tử, Ca Diếp trước Đại Chúng than rằng:

Mặt như mặt trăng tròn
Mắt như hoa sen xanh
Phật pháp như nước biển
Chảy vào tâm A Nan

Tự thệ nguyện và ngồi như thế để nhập Niết Bàn. Đứng thì sợ xa xe, sinh lo. Tiến tới thì sợ vua A Xà Thế sinh ra lo lắng đối với sông Hằng. Nên đã nhập vào gió Tam Muội rồi phân thân ra 4 phía. Một lên trời; một cho loài rồng; một cho thành Tỳ Xá Ly và một cho vua A Xà Thế.

Khi vua A Dục lễ tháp của Ngài A Nan, cúng vào đó hàng ngàn vạn lượng vàng và dùng kệ tán thán rằng:

Hay gìn giữ pháp thân
Đàn pháp giữ pháp trụ
Nhớ rộng như trí Phật
Nên thiết lễ cúng dường

Nhớ nghe và gìn giữ; miệng nói ra lời vi diệu. Cho nên Đức Thế Tôn thường hay tán thán. Trời, Người rất yêu quý.

Tăng Nhứt (A Hàm) nói rằng: Rõ biết sáng suốt tất cả vật, đến đi vô ngại chỗ nhớ nghĩ, không quên. Đa văn học rộng, sâu xa gìn giữ thì A Nan là đệ nhứt.

Ước Giáo nói: Hoan hỷ A Nan. Tam Tạng cũng vậy. Hiền giả A Nan. Thông Giáo cũng nói vậy. Diễn Tạng A Nan. Biệt Giáo cũng nói thế. Hải A Nan, Viên Giáo nói vậy. Bổn Tích thì gọi bổn là trụ ở chỗ phi hoan hỷ, phi bất hoan hỷ. Pháp thân như hư không. Trí huệ như mây mưa. Hay giữ gìn, hay thọ trì. Tích ấy là hoan hỷ vậy.

Quán Tâm cũng tương tợ như vậy, tức không, tức giả, tức trung tương ưng. Cho nên quán tâm hoan hỷ. Cho đến chơn quán giống nhau…

La Hầu La ở đây dịch là Phúc Chướng. Ngày xưa là chuột ở trong hang. Lại chẳng thấy Bà La Môn trong 6 ngày. Do duyên nầy cho nên gọi là Phúc Chướng. Khi Thái Tử cầu xuất gia, vua cha chẳng cho mà còn khuyên nên đừng. Vua nói: Nếu ngươi có con, thì cho ngươi xuất gia. Bồ Tát chỉ vào bụng của Vương Phi và sau 6 năm thì bà sanh ra đứa con trai. Ở tại thai 6 năm; cho nên gọi là Phúc Chướng.

Chơn Đế Tam Tạng nói: La Hầu tên chính là Tu La, hay lấy tay che ánh sáng mặt trời, mặt trăng. Ở đây dịch là Chướng Nguyệt.

Phật bảo: Phật Pháp của ta như mặt trăng. Đứa bé nầy gây chướng, ta chẳng thể xuất gia, đời đời làm chướng ta. Còn ta đời đời có thể xả bỏ; cho nên nói là Phúc Chướng. Sau khi Phật xuất gia thì Gia Du có thai, các vị Trời đều giận, vì nhơn duyên gì mà có việc nầy? nên muốn trị việc ý dục nầy và loại bỏ việc tiếng xấu kia khi bị chửa hoang. Người mẹ nhọc nhằn mang Tỳ La, việc sai quấy nhỏ ấy để chứng minh. Nhơn đó đốt lửa trong hầm và phát ra thệ nguyện lớn. Nếu ta không phải là mẹ con thì đều chết. Nếu là chơn thật thì chư Thiên làm chứng cho. Nhơn đó bồng con bỏ vào lửa thì lửa kia biến thành hồ hoa sen, rồi đảnh lễ. Vua và quốc dân lại chẳng nghi ngờ việc này. Sau khi Đức Phật trở lại quê hương thì Gia Du ra lệnh cho La Hầu hầu Phật, hoan hỷ tròn đầy.

La Hầu hỏi một cách ấu trỉ trước Đại Chúng rồi đến trước Phật. Gia Du lấy đó làm giận và chê bai. Chê là do có con; cho nên nói là Phúc Chướng. Vua cha hoan hỷ tuy mất mà người cha nầy lại được con nầy. Người cháu ấy là Kim Luân, ta lại giận ư. Nhớ lại khi lớn lên theo lời vị Thần thì Phật sẽ bảo xuất gia. Nhưng vua cha thì chẳng chịu. Gia Du bỏ lên lầu cao định nhảy xuống. Mục Liên bay lên hư không giữ lại. Phật độ cho xuất gia và giao cho làm đệ tử của Ngài Xá Lợi Phất. Khi xuất gia rồi thì ngôi vua không còn nữa; cho nên nói là Phúc Chướng. La Hầu khi còn làm Sa Di thường hay nói dối. Ví dụ Vua chúa, Đại thần, Bà La Môn, Cư sĩ đến để gặp Phật thì La Hầu đáp là chẳng có, làm cho rất nhiều người không được thấy Phật. Cho nên đây gọi là Chướng. Ngoài ra do vọng ngữ nầy mà Đức Phật muốn dạy cho La Hầu La lấy nước để rửa chân. Ba lần rửa chân 3 lần giơ chân lên và sau đó Đức Phật hất chậu, nước đổ ra mặt đất và bảo La Hầu hốt nước lại.

La Hầu thưa: Nước chảy ra ngoài không thể hốt được.

Phật bảo: Ngươi cũng như cái chậu rửa chân kia. Đức Phật với Pháp giống như nước ấy, mà không thể giữ lại được. Bây giờ ngươi phải nói lời chơn thật, chớ có nói vọng ngữ.

Sau đó siêng năng tu học nhưng chẳng thu hoạch được nhiều, cho nên mới hỏi Phật. Phật bảo: Ngươi đã vì người khác nói về ngũ ấm chưa?

Đáp rằng: Chưa.

Nên vì đó mà nói và sau đó lại hỏi.

Ngươi đã nói 12 nhập chưa? Đã nói 18 giới chưa?

Sau khi nghe Phật giảng pháp liền đắc đạo. Nếu muốn rõ chỗ đạo, phải hay vì người khác mà nói pháp. Nhơn đó nói pháp rộng ra và sau đó mới nhận ra được lẽ đạo. Đây là Phúc Chướng (sự che đậy chướng ngại). Khi đã được rõ đạo rồi, thấy ái dục đều không ham muốn. Ba cõi sanh đã hết; cho nên nói là Phúc Chướng. Ba cõi sanh đã hết; nguyện chẳng thể xong; cho nên gọi là Phúc Chướng. Phật ra lệnh cho 4 vị La Hán lớn là không được diệt độ, chờ cho pháp của ta tận diệt hết đã. Do đây mà còn ở lại và cho đến bây giờ vẫn chưa được vào Vô Dư Niết Bàn; cho nên nói là Phúc Chướng…

Ước Giáo cho rằng: Bẻ gãy pháp Đạo Đế Chướng thì ở Tứ Trụ. Tam Tạng ý cũng vậy. Thể pháp đạo đế chướng tứ trụ. Thông Giáo cũng như vậy. Lần đến tam trí chướng ngũ trụ. Biệt Giáo cũng vậy. Nhứt tâm tam trí chướng ngũ trụ. Viên Giáo cũng vậy. Bổn Tích là bổn trụ trung đạo chướng. Lìa nhị biên, 8 loại chướng chướng Niết Bàn biên. Một loại chướng chướng sanh tử biên. Một loại chẳng phải chướng sanh tử, chẳng phải chướng Niết Bàn, chứng Vô Dư. Quán Tâm thì có thể giải thích như trước…

Sáu điều nầy gồm lại thành các sở tri thức; hoặc nói chỉ rõ có thức. Hoặc nói nghe danh và rõ biết thấy hình; nên gọi là thức. Thấy hình là rõ biết việc thấy tâm; nên gọi là thức. Bổn ấy chính là cái gốc của chúng sanh tạo ra đầy đủ cái chữ tri thức. Tích ấy là nửa chữ của tri thức… Quán hành tri thức như chỉ quán nói là đa tri thức chúng cảnh. Lần đến là tiểu tri thức. Lại có học và vô học

2.000 người câu hội. Ở đây cử ra những người sáng suốt, mà còn chẳng tán thán hết cái đức ấy, huống hồ là những người ít tri thức. Thánh và phàm khó gặp nhau. Lại cũng không phân biệt được tri thức nhiều hay ít. Đặc biệt chỉ hy vọng có những người cao cả từ xa đến dẫn theo nhiều người hiểu biết.

Theo trong Tạng gọi những người ẩn cái đức, thì lùi lại việc hộ trì để gìn giữ Thiểu Thức. Còn tùy thuận chúng sanh cho nên có sai, thì chẳng phải lấy đó làm đa thiểu, mất tích nơi gốc nầy. Học vô học, trong Tam Tạng có đến 18 loại người. 9 loại người Vô Học. Thông Giáo ở ngũ địa, tất cả đều gọi là học. 6 địa gọi là Vô Học. Lại nữa Thông Giáo 9 địa gọi là học. Phật địa thì gọi là Vô Học. Trong Viên Giáo học là đầy đủ công dụng hay không công dụng; hoặc là hoàn toàn đầy đủ hay chẳng hoàn toàn đầy đủ. Để làm sáng tỏ chỗ học và vô học A Hàm nói rằng:

Ngoại đạo hỏi Phật rằng: La Hán còn học chăng?

Phật bảo: La Hán không còn tạo ra các pháp ác nữa, trụ ở nơi pháp lành. Nên học và vô học, gọi đây là học. Nhưng cũng có người gọi đây là vô học. Người học ấy đoạn bỏ chỗ nhỏ, lại cũng chẳng cần bỏ. Đây gọi là Vô Học. Bốn câu nầy tựu chung là 5 phương tiện của phi học và phi vô học. Rồi 5 câu ấy, theo Ước Giáo 4 câu lại cũng như vậy. Trong 20 câu ấy theo Bổn Tích là bổn pháp thân của Đại Sĩ. Ở ngôi học và vô học đầy đủ với chữ nầy. Còn chúng sanh chỉ lấy nửa chữ của người học và vô học để trang nghiêm nơi cây Sa La vậy. Quán ấy là chánh quán Trung Đạo. Chẳng duyên vào hai bên hay ở giữa; tức là Vô Học. Hay quán như thế, ở đây gọi là học. Nếu tựu chung quán môn minh số là quán tâm sắc đủ 10 pháp giới và 10 như thị. Thì giới ấy hỗ tương luận cứ. Tức là đầy đủ 2.000. Cùng với Tích; cho nên là cái đích của bổn pháp. Tích ấy chính là Bổn Tích nầy. Kế tiếp ví dụ về Ni Chúng.

Ngày xưa lấy ví dụ nầy như trước chia 2 Chúng; nay thì không còn. Nếu như ví dụ trước thì có đa thức và thiểu thức gồm 2 loại. Lại nữa câu văn không có nghĩa cũng không thể được. Do vậy mà đưa ra 2 chúng làm chính. Phải hoàn chỉnh thế nào về cách gọi: lớn, nhỏ, nhiều, ít đây?

Đầu tiên nói về Ba Xà Ba Đề.

Ở đây dịch là Đại Ái Đạo. Lại còn tên là Kiều Đàm Di. Dịch là Chúng Chủ, là vị Ni của Ấn Độ, tên nầy người nữ hay dùng. Cái gốc của bà là ở nơi pháp môn của Trí Độ. Tích ấy là làm mẹ của 1.000 vị Phật. Là vị Thầy sinh ra và dạy dỗ. Theo Quán Thích thì Trung Quán quảng bác cho nên gọi là Đại. Vô Duyên Từ nên gọi là Ái. Trung Lý hư thông nên gọi là Đạo. Đại đây nghĩa là tự làm việc yêu thương tức là để dạy dỗ cho người khác. Giống như dùng ái ấy; cho nên mới thọ sanh. Lòng từ ấy là lịch thiệp, có đạo; tức là thông qua việc tự mình làm và dạy dỗ cho kẻ khác làm theo. 6.000 lần như vậy. Quán Môn nói: Quán 6 căn thanh tịnh, đầy đủ 1.000 công đức, riêng mắt có 800; tai có 1.200. Từ nhiều cho đến ít, đầy đủ là 6.000 pháp môn chính. Lại là quán hạnh ý vậy.

Mẹ của La Hầu La, bà Gia Du Đà La, lấy con làm chỗ dựa cho mẹ. Ở đây dịch là Hoa Sắc. Lại còn gọi là Văn; hoặc gọi là Vô Phiên. Là người ôn hòa hiền thục, đức hạnh đối với Thái Tử. Khi còn tại gia là vợ của Bồ Tát. Trời người đều biết. Khi xuất gia ở trong Ni Chúng là vị đứng đầu ở bậc Vô Học. Há đây chẳng gọi là Văn Chúng hay sao? Trong Thập Nhị Du Kinh kể đến 3 bà vợ (của Thái Tử). Bà thứ nhứt là Cồ Di, bà thứ hai là Gia Du và bà thứ ba là Lộc Dã. Chưa có gì để kiểm chứng lại được. Tất cả đều nói La Hầu La là con của Cồ Di. Niết Bàn và Pháp Hoa tất cả đều nói là con của Gia Du. Hai nghĩa ấy cái nào đúng? hoặc có thể căn cứ vào kinh kia để gọi là Đại Mẫu. Ở đây nói về chỗ sanh ra. Thích Luận nói Cồ Tỳ Đà là bảo nữ không mang thai, lại là Cồ Di. Ở đây dịch là Minh Nữ. Cho nên biết rõ (La Hầu) là con của Gia Du.

Bổn Tích nói: Vợ tức là Tề (đầy đủ) ! há lại có chỗ đất đai rộng rãi tốt đẹp để làm vợ Thái Tử. Cho nên phải biết bổn trụ ấy là tịch định vi diệu pháp hỷ. Tích ấy là vợ của Đức Phật. Bi Hoa nói rằng:

Bảo Tạng Phật thệ nguyện làm vợ; quán không vô lậu pháp hỷ tức là Lộc Dã lấy làm vợ. Quán giả đạo chủng trí pháp hỷ; nên lấy Gia Du làm vợ. Quán Trung pháp hỷ; nên lấy Cồ Di làm vợ. Như bên trên đã phân tích rõ về bổn tích quán tâm. Bây giờ lần lượt tổng luận. Làm hiển bày quyền thật, khúc chiết, dối hư và làm rõ quán hạnh rõ ràng.

Phàm trong Thủ Lăng Nghiêm có đủ loại thị hiện, chỉ rõ căn tánh và chỗ nào chẳng phải. Nay luận gần thì: sanh vào chốn vương cung, giáng thần làm bá Thánh, pháp thân là Bồ Tát. Tất cả đều để giúp cho Phật hành hóa, tỏa sáng hình ảnh cho cả nhà. 32 tướng đoan nghiêm đẹp đẽ. Những bậc Đại Sĩ đều xuất sanh chốn ấy; hoặc từ không trung cho đến mưa báu, xuyên qua việc biện tài thông thái trong giấc mộng. Hoặc khi Hoàng Thái Tử bỏ nước xa vua, ra khỏi thành học đạo. Các bậc Đại Sĩ ấy tất nhiên tìm thầy học nghề. Tài nghệ lưỡng toàn, không ai hơn Ngài. Khi chuyển pháp luân lần đầu, như suối cam lồ chảy. Khi nghe những bậc Đại Sư hóa duyên chưa thuần thục, chẳng cùng, chẳng giữ, phân chia chỗ lễ bái tôn sùng đạo chơn thật của ta. Rồi hay giáo hóa để hoàn thành như sữa. Nếu chỗ hóa duyên đã thành thục cũng giống như dây tơ tằm dễ nhuộm. Hoa nở sớm nơi ao. Kẻ phàm thành Thánh, chuyển sữa thành lạc. Đối với Thầy Tổ Tông Môn, là đệ tử thượng thủ của Đức Phật. Cả trí tuệ thần thông, biện tài tam muội, mỗi mỗi đều đứng đầu. Cùng chuyển bánh xe pháp để độ cho những người đã thuần thục rồi, càng thuần thục hơn nữa. Ngồi ở nơi Phương Đẳng, nghe những công đức bất khả tư nghì của Bồ Tát. Há xấu hổ với cái nhỏ và nhớ đến việc lớn! Nếu xấu hổ với việc nhỏ thì phải tự trách. Mất đi nơi vô lượng tri kiến của Như Lai mà mong chỗ lớn, tức là chưa rõ biết. Nên nói rằng: Làm sao được vô thượng trí huệ của Phật. Giống như chuyển lạc thành Sanh Tô.

Tiếp đến nghe Bát Nhã Ma Ha Diễn Môn. Đầu tiên trải qua sắc tâm và cuối cùng đến nơi chủng trí. Gồm cả lớn nhỏ vào trong ra ngoài. Hoặc cùng hoặc khác hoặc góc hoặc tròn đầy; phụng mệnh lãnh đạo rõ biết mà không có hy vọng nắm giữ.

Tuy là chưa đốn xả, dần đến thông thái. Như chuyển Sanh Tô thành Thục Tô. Lần đến nghe Pháp Hoa, đủ thiên tánh. Quyết định thọ ký cho con, phú cho pháp Đại Thừa và phế bỏ 3 (Thừa) về một. Như ngoài 4 vị ấy chỉ đồng là Đề Hồ. Chẳng làm cho một người riêng được diệt độ, mà tất cả cùng được diệt độ giống như Như Lai. Pháp Vương, Pháp Thần vì đại sự ra đời, dùng phương tiện thiện xảo. Đầu tiên dùng nửa chữ Pháp, phá bỏ 25 cõi trói buộc. Thành đạo và Niết Bàn nơi Song Lâm là làm lợi ích cho chúng sanh. Sau đó dùng đến nửa mãn pháp. Phá nhị thừa độc thiện, thành Bồ Tát một cách quảng đại. Thành bốn (giai đoạn) tốt đẹp ở chốn Song Lâm, làm lợi ích Thánh Nhơn. Sau đó hay thường dùng đủ một chữ. Phá nhị biên sau trước. Sự thành ấy chẳng khô, chẳng tươi tốt mà nhằm làm lợi ích cho Tạng bí mật cứu cánh của Phật. Đây là sự tốt đẹp thành tựu của chủ tướng. Lời nguyện to lớn đã tròn đầy; cho nên Thân Tử (Xá Lợi Phất) Mục Liên ở nơi Pháp Hoa mà hóa. Thánh chủ chuộc mạng lại chẳng dài lâu. Kinh rằng:

Như lời thệ nguyện chính của ta, nay đã đầy đủ rồi. Như Lai còn chẳng bao lâu nữa là vào Niết Bàn. Tự nói lời ấy rồi bắt đầu từ nơi đây, có 20.000 ngọn đèn của Phật Ca Diếp cùng với tất cả cứu cánh của Pháp Hoa làm cho tất cả Thầy trò đều trải qua đây mà phát tích. Bên trong thì bí mật hành Bồ Tát đạo. Bên ngoài thì hiện ra hành động của Thanh Văn. Ta từ thành Phật đến nay trong vô lượng ức kiếp, tìm điều nầy ở các bậc A La Hán từ pháp thân địa theo ảnh tùy duyên, chứa nhóm vạn lần như nước. Vì kẻ học và vô học mà tạo ra nam hay nữ để chỉ cho người tu hay kẻ tục. Thủ Lăng Nghiêm lực theo đó mà chẳng hiện. Phương tiện quyền xảo, lành hay làm như vậy…

Nói tổng quát rõ ràng về quán thì như trên từ Thầy truyền cho trò là làm chuyện biến hóa pháp thân. Nếu không quán về phương tiện thì với hành nhơn ấy thật vô ích. Như người tham lam của cải giàu có chất đống; cũng giống như người mù cố chấp vậy thôi. Nếu mà tâm số nhiều thì trở ngại cho Ước Thiện số. Như trong đệ tử cử ra 10 vị. Số 10 ấy tốt; nghĩa là: Tín, Tấn, Niệm, Định, Huệ, Hỷ, Ỷ, Xả, Giác, Giới. Đây là 10 điều bổ sung cho tâm vương để có thể các ác thành thiện. Biến phàm thành thánh cùng với tất cả các pháp môn. Thường lấy 10 tâm nầy làm gốc. Cũng giống như 10 đệ tử đã giúp Phật hành hóa để thuần thục chúng sanh, xây dựng Phật pháp. A Na Luật thuộc về Thiên Nhãn đệ nhứt. Mắt ấy là đứng đầu của 5 căn.

Như trong các phương hướng thì phía Đông là trên hết. Vì lòng tin ấy khởi đầu nên đã đến với Phật Pháp.

Tấn ấy là sự siêng năng mà Ngài Ca Diếp thuộc đầu đà đệ nhất. Phấn chấn chuyên cần cực nhọc là đối với vấn đề tinh tấn vậy.

Còn niệm ở đây tượng trưng cho Ưu Ba Ly thuộc trì luật đệ nhất. Niệm lực ấy thật là kiên cường, luôn luôn nhớ giữ chẳng hề quên.

Định đây đối với Ngài Mục Liên là thần thông đệ nhất. Huệ ấy là đối với Thân Tử (Xá Lợi Phất) thuộc trí tuệ đệ nhất. Tất cả đều có thể giải nghi.

Hỷ ấy thuộc Ngài A Nan, là đa văn đệ nhất. Đa văn để phân biệt sự vui vẻ. Lạc ấy cũng chính là hỷ vậy.

Ỷ ấy là Ngài Ca Chiên Diên, luận thể cùng cực cho tới chỗ nhỏ nhiệm cùng tận, dùng lý luận để trừ tà hiển chánh. Như việc lìa ác để được thiện; bỏ khổ vào vui.

Xả ở đây có Ngài Thiện Kiết (Tu Bồ Đề) thuộc giải không đệ nhất. Hay trụ ở không cũng giống như sự xả bỏ vậy.

Giác ấy là đối với Ngài Phú Lâu Na, thuộc về thuyết pháp đệ nhất. Giác là nói lời căn bản. Lập nên căn bản rồi biện thuyết vô cùng.

Giới đây là đối với Ngài La Vân (La Hầu La), là người giữ giới đứng đầu.

Tất cả đều đã rõ. Mười vị ấy phù trì cho tâm vương để trở thành quán hạnh. Ở trong một niệm sâu vào pháp lành, đầy đủ Tam Bảo. Vua ở đây tức là Phật Bảo cùng với Tăng Bảo. Sở duyên vào thật tế, không có vua, không có số lượng là Pháp Bảo. Khi nhập vào chỗ thật tế ấy thì sẽ dùng được công lực đầy đủ của Vua.

Lại nữa cùng với đại địa 10 số ấy cùng với tâm vương đều khởi lên. Nhập thiện, nhập ác rồi biến thông hết tất cả. Nghĩa là: Tưởng, dục, xúc, huệ, niệm, tư, giải thoát, ức, định, thọ.

Tưởng đây là đối với Ngài Phú Lâu Na, tưởng được giả danh. Người nầy lành được giả danh, biện tài vô ngại

Dục đây là đối với Ngài Ca Diếp. Ngài Ca Diếp không có cái dục nhiễm của thế gian, mà dục ấy đối với vô vi.

Xúc đây là đối với Ngài Ca Chiên Diên. Xúc nhập 2 loại ấy liền hòa vào nhau. Chiên Diên hay luận nghị, có thể đến chỗ qua lại tận cùng nầy.

Huệ ấy tức là Thân Tử (Xá Lợi Phất) có thể giải rõ tất cả.

Niệm nầy đối với Ưu Ba Ly. Luôn luôn nhớ việc giữ gìn giới luật là trên hết.

Tư đây là Ngài La Vân (La Hầu La). Nhớ về những hành ấm. Người nầy thực hành việc trì giới.

Giải thoát ở đây là đối với Thiện Kiết (Tu Bồ Đề). Thoát ấy có nghĩa là không tích chứa. Người nầy giải không; nên được thoát.

Ức đây là đối với Ngài A Na Luật. Nhớ những việc làm phát ra rồi giữ cảnh, tu thiên nhãn và dễ ở nơi Tam Ma Địa.

Định đây là đối với Ngài Mục Liên, tất cả đều thông suốt.

Thọ đây là đối với Ngài A Nan, đa văn lãnh đạo chẳng khoa trương.

Mười vị ấy mỗi vị đều đầy đủ những cái đức và hướng dẫn người đến chỗ chuyên môn, rồi giải rõ con đường của Phật, tùy theo ý muốn của chúng sanh.

Dục Huệ đây chính là Thầy Thân Tử (Xá Lợi Phất). Cho đến Dục Đa Văn là Ngài A Nan đã cùng giúp cho đấng Pháp Vương mỗi tay và mỗi công việc. Làm cho quán tâm cũng lại như vậy. Trong mỗi mỗi tâm ấy tất cả đều đủ Vương Số để thành sự quán sát. Cho nên Vương Số ấy giúp cho nhau để giữ lấy việc khai ngộ. Hoặc đối với Tưởng Số nhập đạo; hoặc đối với Dục Số nhập đạo. Tùy theo người tuyên dương mà tâm vương và tâm số ấy hợp lại với nhau. Biến hóa các trần lao của tâm mà tạo nên những Phật sự. Nếu thực hiện quán nầy chưa ngộ được, tức là quán việc nầy như sữa. Nếu phát vô lậu, thì quán việc nầy như Lạc. Nếu phá được trần sa hoặc thì như sanh Thục Tô. Nếu phá được Vô Minh thì quán ấy giống như Đề Hồ. Đến được Đề Hồ rồi thì Vương Số đều cứu cánh. Tâm tâm pháp số không hành. Cho nên gọi hành nầy là Bát Nhã Ba La Mật. Phổ Hiền quán nói rằng:

Quán tâm vô tâm pháp, chẳng trụ ở pháp. Tâm ta tự nó không có tội phước, không có chủ. Nghĩa là không tâm, không số; gọi đây là quán đúng. Tâm nầy nhiều trần lao nếu chẳng dứt thì quán ấy tức chưa xong. Cho nên kinh nói rằng: Chúng sanh không độ thì ta không thành chánh giác. Tức là ý nầy vậy …

Phần kế nói về Chúng Bồ Tát – Theo Thích Luận nói: Bồ Tát là nhiếp phục tứ chúng của xuất gia và tại gia. Vì sao lại có riêng biệt?

Đáp rằng: Có Bồ Tát đọa trong tứ chúng; nhưng có tứ chúng không bị đọa. Bồ Tát ở đây có nghĩa là không phát tâm thành Phật. Cho nên bây giờ sẽ riêng nói chỗ cùng phát tâm cầu làm Phật. Đây gọi là Chúng Bồ Tát. Văn nầy có tất cả sáu. Một là khí loại; hai là đại số: ba là giai vị; bốn là thán đức; năm là liệt danh và sáu là kết cú.

Thứ nhứt khí loại nghĩa là Bồ Tát Ma Ha Tát. Nếu nói cho đầy đủ phải nói là Bồ Đề Tát Đỏa Ma Ha Tát Đỏa. Nhiều Thầy thấy phiền nên chỉ nói gọn hai chữ là Đề Đỏa; Bồ Đề. Đây ý nói là Đạo. Tát Đỏa ở đây gọi là Tâm. Ma Ha ở đây gọi là Đại. Những người như thế nầy tất cả đều cầu cho con đường rộng lớn. Lại làm cho thành thục chúng sanh vậy. Đạo tâm, đại đạo tâm là khí loại. Bồ Tát có nhiều loại; nghĩa là gồm đủ Thông, Biệt, Viên. Như Thích Luận dẫn giải rằng: Ca Chiên Diên làm rõ 6 độ cho đến chỗ nhỏ nhiệm nhất. Cái dục nầy là điều hòa máu huyết của chúng sanh thành sữa. Trong Đại Phẩm có nói rõ về việc có Bồ Tát phát tâm cùng với Tát Bà giống nhau. Dục nầy chính là điều hòa sữa thành Lạc. Trong Đại Phẩm chỉ rõ có Bồ Tát phát tâm du hí thần thông, tịnh Phật quốc độ. Tịnh ấy gọi là được bất tư nghì giải thoát. Tất cả đều có thể biến thân, lên chỗ ngồi rồi trở lại thọ chỗ khiển trách. Dục nầy tức là điều khiển Lạc ấy thành Thục Tô. Trong Đại Phẩm nói rõ có Bồ Tát phát tâm tức là ngồi dưới gốc cây, thành chánh giác, chuyển pháp luân và độ cho chúng sanh. Đây là điều khiển tô ấy thành Đề Hồ. Cho nên phía dưới nói rằng:

Bồ Tát nghe pháp nầy thì những nghi ngờ như mắc lưới đều trừ sạch. Lại nói rằng:

Nếu Bồ Tát chẳng nghe Pháp Hoa thì chẳng phải là hạnh lành trên con đường Bồ Tát. Nếu nghe kinh nầy tức là thực hành việc lành trên con đường Bồ Tát ấy.

Trong Niết Bàn nói: Bồ Tát chẳng nghe đến Niết Bàn thường có hy vọng. Nếu nghe đến Niết Bàn thì hy vọng ấy đều tắt. Cho nên lược nói có 4 loại.

Bổn Tích nói là Bổn Địa khó lường; hoặc ở bậc Đẳng Giác; hoặc là bậc Pháp Vương. Như Thiện Tài nhập pháp giới thấy sắc tướng của Văn Thù, vô biên pháp môn sâu xa khác. Bổn ở đây là gần gũi chư Phật. Tích đây là giúp cho Đức Thích Ca, chính là những vị Bồ Tát. Đều hiện sắc thân Tam Muội lực ảnh rộng chứa khắp; dùng miệng để chuyển pháp luân, bất khả tư nghì hóa độ, tùy theo đó mà tuyên thuyết. Có thể rõ được ý. Chẳng thể dùng lời để biện giải. Cho nên Tích là dẫn theo 4 mùi vị, quy về một chỗ thật, giống như dùi bằng sắt đã được thuần chất. Thành Đề Hồ rồi sẽ hóa thành một. Sau đó thì Bổn Địa cứu cánh được thành tựu. Há điều nầy làm cho ngày nay mới bắt đầu vào Đại Thừa; lại chẳng phải tịch diệt đạo tràng, ở nơi núi cao chiếu xuống trước.

Hoặc đốn hoặc tiệm tất cả đều ở chỗ Tích ấy.

Quán được giải thích là: Trung Đạo quán tâm song chiếu, hai đế ấy gọi là Đại. Thông đến quả Bồ Đề nên gọi là Đạo. Phá ngũ trụ trần lao, gọi là thành chúng sanh…

Tám vạn người ở đây là số lượng. Những kinh khác thì chúng hội nhiều. Còn ở đây tại sao lại ít? Hoặc lời nói nầy dùng để chỉ cho một số lớn; hoặc giả để dụ cho Vương Luận ấy là việc bí mật, chẳng thể thay đổi biến hóa như chủ ý …

Ước quán tâm là quán một tâm lành đầy đủ 10 pháp giới. 10 pháp giới ấy qua lại hỗ tương cho nhau thành 100 pháp giới và 1.000 tánh tướng. Thập thiện tức là vạn pháp. Ước Giáo nói Bát Chánh Đạo là 80.000 pháp môn… Tất cả đều A Nậu Tam Bồ Đề, chẳng thối chuyển. Đây là làm sáng tỏ ngôi vị vậy.

Chữ A Nậu ở đây dịch là Vô Thượng Đạo; nói an ổn như cảnh giới, nói yên ổn ở ngôi vị như chỗ ngồi; chẳng thối lui. Ước vị ấy theo Hành Niệm luận là chẳng thối lui. Có 4 loại phân biệt. Chẳng sanh vào 3 đường ác. Ngôi vị ấy chẳng lùi. Chẳng sanh vào biên địa, các căn đầy đủ, chẳng làm thân đàn bà; tức là việc làm chẳng thối chuyển. Thường biết đời trước; tức là niệm chẳng thối. Đầy đủ như vậy gọi là A Bệ Bạt trí địa. Tam Tạng nghĩa cũng như thế. Nếu như 6 tâm nầy ở trước nhẹ nhỏm như sợi lông thì tín căn của Bồ Tát chưa lập. Ngôi vị nầy phải lùi. 7 tâm trở lên từ Sơ địa đến Lục địa, chẳng thoái tức là phàm phu nhị thừa. Gọi ngôi vị nầy là chẳng thối. Tuy chánh sử đã hết, nhưng chưa thể rộng tu vạn hạnh. Việc làm nầy giống như thối lui. Cho đến Thất địa gọi việc làm nầy là bất thoái. Nếu khởi lên cái niệm của Nhị Thừa thì sẽ có niệm thối lui. Đến Bát địa, Đạo quán song lưu ấy nhập vào pháp, chảy nhanh như nước. Đây gọi là niệm chẳng lùi. Đây được gọi là A Bệ Bạt Trí. Đây cùng với nghĩa của Tam Thừa Thập Địa vậy.

Địa Sư nói rằng: Thập Trụ là chứng chỗ bất thối. Thập Hạnh và ngôi vị bất thối. Thập Hồi Hướng là hạnh bất thối. Thập Địa là niệm bất thối. Đây là ý nghĩa theo Biệt Giáo. Chẳng giống như kinh nầy, nay không dùng đến.

Anh Lạc nói: Sơ địa tam quán hiện tiền, tâm tâm vắng lặng, tự nhiên lưu nhập vào. Điều nầy theo Biệt Giáo là bất thối. Bây giờ lại cũng chẳng dùng đến.

Còn Hoa Nghiêm thì chỉ rõ từ Sơ Trụ được một thân Như Lai và vô lượng thân đều đầy đủ 3 bất thối. Đây là Viên Giáo bất thối. Đây là một sự thật, bây giờ dùng để chia ra ngôi vị.

Bổn Tích gọi bổn là địa tịch tịnh; chẳng trên Thập địa huống là Sơ trụ. Chẳng phải trên Sơ trụ là bất thối, hà huống là Biệt, Thông. Ngôi vị ở Biệt, Thông giải thích nhiều phía bên ngoài kinh. Ngôi vị của Viên Giáo là chính ở trong kinh nầy. Các vị luận sư của các kinh chẳng rõ về Tích; nên an tâm để biết cái gốc gác nầy. Do vậy tán dương và sự sai biệt ở trong nầy. Tới lui lại tăng giảm cả hai bên. Nghĩa là tán dương cái đức gì đây?

Quán Tâm ấy là 3 quán; tức là 3 bất thối. Lại nữa một tâm 3 quán; tức là một tâm 3 chẳng thối…

Xưa nói rằng: Tất cả đều được Đà La Ni. Nên bắt đầu tán thán về cái đức. Bây giờ giữ được bất thối chuyển; tức là đầy đủ 2 ý. Trở thành ngôi vị sáng sủa ở trên cùng. Người sau đứng lên tán thán cái đức. Ngày xưa nói tán thán cái đức ấy tạo ra 12 câu, phân ra làm 4 ý. Ba câu đầu tán thán cái đức trong hiện tại. Ba câu tiếp tán thán việc làm đã qua. Bốn câu tiếp theo tán thán nội thể và hai câu sau cùng tán thán ngoại danh. Bốn ý ấy chẳng giống nhau, mà cái Đức thì ở lúc ban đầu. Cho nên gọi là tán thán Đức. Thán hiện tại có hai. Câu đầu là tán thán việc tự làm. Hai câu sau là tán thán việc hóa tha. Tán thán việc làm lại có ba. Câu đầu là tán thán việc làm chánh. Cái gốc ấy từ chư Phật mà được Bát Nhã. Câu kế là tán thán cái hạnh gốc. Hạnh đây chính là phước đức vậy. Do có phước đức; cho nên có thể ở riêng nơi huệ. Câu kế là vì Phật mà tán thán. Thể ấy lại có ba. Đầu tiên là dùng lòng từ bi để tán thán pháp thân. Hai câu ở giữa là tâm tán thán về báo thân của huệ. Câu sau cùng là tán thán pháp thân. Tán thân đây lại có hai. Câu đầu tiên sự tán thán ấy gọi là Phổ Văn. Câu thứ hai sự tán thán ấy là hay độ chúng sanh. Đây là phần chia câu văn như có lông mày trên mắt. Chỗ luận còn che khuất thì thể ấy không phương hướng.

Việc tán thán theo Thông Giáo thì có 3 thân. Lại chẳng nhập Phật huệ; gọi đây là Phổ Văn, đủ loại ý nghĩa không thành tựu. Nếu tán thán theo Biệt Giáo thì Biệt Giáo từ Sơ địa cho qua khỏi Nhị Thừa. Vì sao Thất địa lại khởi lên sự nghĩ đến Thanh Văn, Bích Chi Phật. Nếu sự tán thán theo Viên Giáo thì chẳng nên nói dưới 7 địa, chẳng thể có cái Đức của bất thối. Đến lui ấy không có cảnh; nên phải rõ biết tán thán ai. Ở đây không dùng đến. Bây giờ lấy ra 13 câu văn ngang dọc nầy để rõ thêm. Một là Thụ Ước Thập Địa nghĩa tiện. Hai là Hoành Ước Sơ Trụ nghĩa tiện. Bất thối chuyển trở thành như trước. Tức là làm rõ cho ngôi vị nầy. Khởi lên sau tức là tán thán cái đức ấy. Đầu tiên đối với Sơ Địa.

Sơ Địa gọi là hoan hỷ. Ở đây chẳng bị đọa vào nhị biên, nhập vào Trung Đạo, được tam bất thối. Cho nên rõ biết việc tán thán Sơ Hoan Hỷ Địa. Tất cả đều là những Đà La Ni để tán thán Nhị Địa.

Nhị Địa ấy gọi là Ly Cấu (lìa sự dơ bẩn); lại cũng còn gọi là Ly Đạt. Lần lượt lìa những điều ác và đạt đến những việc lành. Tức là nghĩa của Đà La Ni. Cho nên rõ biết việc tán thán Ly Cấu Địa vậy. Vui nói biện tài, tán thán Tam Địa.

Tam Địa được gọi là Minh Địa. Bên trong trí sáng suốt; bên ngoài nói lời thông suốt. Muốn biết rõ trí, ở ngay tại lời nói. Nói đủ loại vui thích, cao cả. Cho nên rõ biết tán thán đệ tam Minh Địa. Chuyển thành bất thối chuyển pháp luân để tán thán ca ngợi Tứ Địa.

Tứ Địa được gọi là Diệm (ánh lửa). Diệm ấy có thể phá tan bóng tối. Lại hay đốt cháy. Chuyển pháp luân để tự đốt cháy những sự tự kỷ và nghi hoặc, phá sự mê muội như trừ đi một sự tối tăm. Cho nên rõ biết tán thán Đệ Tứ Diệm Địa vậy. Cúng dường trăm ngàn chư Phật và tán thán Ngũ Địa.

Ngũ Địa gọi là Nan Thắng Địa. Đây là Địa được sâu vào Thiền Định, dùng lực thần thông, khó thắng khó bằng. Đến với trong khoảng một niệm có thể biến khắp 10 phương. Cúng dường chư Phật; cho nên rõ biết tán thán Đệ Ngũ Địa. Đối với chỗ các Đức Phật đều trồng những cái Đức căn bản; nên ca ngợi Lục Địa.

Lục Địa gọi là Hiện Tiền. Do được thiền định; nên hay cúng dường chư Phật. Phước tư chủng trí, chủng trí hiện tiền. Trí ấy là cái đức căn bản, như trồng cây vào đất vậy. Cho nên rõ biết tán thán Đệ Lục Địa. Thường vì chư Phật mà ca ngợi và tán thán Đệ Thất Viễn Hành Địa.

Địa nầy gồm hai trí phương tiện, ra khỏi tất cả. Rộng tu lợi ích, xưng tán tâm Phật; cho nên rõ biết tán thán Đệ Thất Địa. Lấy lòng từ tu thân, tán thán Đệ Bát Bất Động Địa.

Chánh trí chẳng động, chẳng ra khỏi 3 cõi. Thường lấy lòng từ để giữ thân và hay nhập vào 5 đường. Giữ miệng để thuyết pháp. Giữ tâm để tạo ra phương tiện, nói đầy đủ Pháp Hoa. Giữ 3 nghiệp. Cho nên rõ biết tán thán Đệ Bát Địa vậy. Lành nhập vào Phật huệ để tán thán Đệ Cửu Địa.

Cửu Địa gọi là Thiện Huệ. Nghĩa là thâm nhập vào thật tế, diệu triệt bổn nguyên. Tên nầy gọi là Tối Hợp. Cho nên rõ biết tán thán đệ cửu địa. Thông đạt trí huệ to lớn, tán thán Đệ Thập Địa.

Thập Địa gọi là Pháp Vân. Pháp thân như hư không. Thiền định như mây lớn. Trí huệ như mưa lớn. Lành nhập vào Phật Pháp; nên gọi là Huệ. Khéo dùng Phật Pháp; nên gọi là Trí. Hỗ tương cho nhau để đến bờ bên kia, tán thán Thập Địa cái Đức ở bên trong, đến 3 Đế bên kia. Nhơn ấy bên trong nói về quả. Lại đến lược chỗ chẳng lâu dài; nên gọi là Phổ Văn. Tán thán cái Đức bên ngoài của Thập Địa. Do cái Đức bên trong sâu dày rộng rãi; lại làm cho có âm thanh. Cho nên gọi là Phổ Văn. Trong ngoài đều ca tụng. Nếu nằm ở Đẳng Giác Vị thì 2 câu nầy giống như vậy. Có thể độ cho trăm ngàn chúng sanh; ngoài địa ấy độ người; hoặc một cảnh giới cho đến cảnh giới thứ 9. Chẳng gọi là hay độ. Thập Địa hơn hẳn cái kia; nên gọi là năng độ. Chư Địa đều đầy đủ các công đức, mà làm cho xuất hiện sự giải thích nầy. Vì nhơn tình tốt ấy khác vậy. Nương vào nơi Thập Địa; nên gọi là Tiệm. Lại nữa nghĩa chiều dọc ấy lại dễ giải thích. Tạo ra điều nầy; điều thứ nhứt là cốt làm cho tiêu câu văn đi. Thứ đến theo chiều ngang là để tán thán, ca tụng. Trực ước nói về Sơ Trụ. Ngoài những ngôi vị ấy, thí dụ có thể giải thích được. Sơ phát tâm trụ ở một, rồi phát tất cả những loại phát khác. Ra khỏi nhị biên; dùng Phàm Siêu Thánh nhập vào Trung Đạo. Tâm nầy yên lặng; niệm niệm lưu nhập. Tát Bà ấy như nước biển. Nói là được bất thối chuyển.

Sơ Trụ ấy ngăn che, lìa thủ tướng, vô trí vô minh và chướng. Trì đạt Bát Nhã giải thoát pháp thân và Đức ấy. Cho nên nói là được Đà La Ni. Thập Tín ấy giống như đã giải thích bên trên là hay dùng đến diệu âm, biến khắp 3.000 thế giới. Hà huống là Sơ Trụ. Giải trực tiếp công đức của khẩu mật. Cho nên nói là Lạc thuyết biện tài. Sơ Trụ hay phân thân ở trăm ngàn thế giới để làm Phật. Luận về nơi chốn tốt đẹp ấy thì vô lượng vô biên. Hay làm Phật để thuyết pháp giáo hóa. Cho nên nói là hay chuyển bất thối pháp luân. Sơ Trụ được thần lực bất tư nghì như vậy; hay biến khắp các nơi và giúp chư Phật ở những pháp giới khác. Cho nên nói là cúng dường trăm ngàn chư Phật. Sơ Trụ được cái gốc của thật tướng, hay trồng cái Đức vào nơi chúng sanh. Sơ Trụ mở tri kiến Phật. Thấy được pháp nầy rồi, cùng với chư Phật giống nhau. Cho nên vì Phật mà xưng tán. Sơ Trụ vô duyên từ, đều hiện sắc thân, biến khắp pháp giới. Cho nên nói là lấy lòng từ để tu thân. Sơ Trụ nhập vào tạng bí mật; cho nên nói là lành nhập vào trí huệ Phật. Sơ Trụ, một tâm ba trí, không có những chướng ngại. Cho nên nói là thông đạt đại trí. Sơ Trụ sự lý phân ra cứu cánh. Cho nên nói rằng đến bỉ ngạn. Sơ Trụ đầy đủ cái Đức chơn thật cùng với tên gọi tương ưng. Cho nên nói là Phổ Văn (đều nghe) chư Phật ở các thế giới khác. Sơ Trụ hay vì 10 pháp giới mà nương tựa vào, an lập cứu hộ, cho nên nói là hay độ trăm ngàn chúng sanh. Sơ Trụ lại có vô lượng vô biên bất khả tư nghì, đủ loại công đức; nên lược nói 13 câu như vậy.

Nhị Trụ cho đến Đẳng Giác cũng lại như vậy. Cho nên Đại Phẩm nói rằng:

Đầu tiên là chữ A đến 41 chữ là công đức. Sau cùng là Trà, lại cũng đầy đủ các chữ công đức. Ở giữa cũng lại như vậy. Chữ ấy cùng với lời nói và công đức đều như thế cả. Hỏi rằng trong nầy tán thán về đoạn hoặc về đức.

Tam Tạng chẳng đoạn hoặc, có thể chẳng được tán thán. Thanh Văn thường được thán. Còn Tích vì sao chẳng tán thán cái đức của Thông, Biệt?

Đáp rằng: Thông tán thán với Tích; nhưng lại có nghĩa nầy. Bây giờ kinh nầy làm rõ con người chơn chánh, nên chẳng tán thán phương tiện ấy.

Hỏi: Vì sao các câu văn về công đức đều tán thán về Sơ Trụ?

Đáp rằng: Dư vị lại cũng như thế. Không riêng gì Sơ Trụ. Ngày xưa nói rằng: Bát Địa có những công đức; chẳng lấy đó làm nghi. Làm cho Viên tán thán Sơ Trụ, đức nào lại chẳng nhiếp phục được. Sơ Trụ hơn sao? Hà huống là ngôi vị ở sau. Pháp Hoa luận rằng: Thượng chi và Hạ chi môn, tổng tướng và biệt tướng; nên biết Sơ ấy được bất thối chuyển; một câu ấy là Tổng. Ở đây chẳng thoái có 10 loại thị hiện.

Nghe pháp chẳng thoái chuyển, tức là Đà La Ni. Vui nói chẳng thoái chuyển, tức là vui với biện tài. Thuyết bất thối chuyển, tức là chuyển bất thối pháp luân. Nương vào thiện tri thức chẳng thối chuyển, tức là cúng dường trăm ngàn chư Phật, trồng cái gốc công đức vào trong chúng. Đoạn nghi bất thối chuyển, tức là vì chư Phật mà xưng tán. Nhập sự bất thối chuyển, tức là dùng lòng từ để tu thân. Nhập nhứt thiết trí như thật cảnh bất thối chuyển, tức là lành nhập vào Phật trí huệ. Nương vào ngã không, pháp không bất thối chuyển, tức là thông đạt đại trí. Nhập như thật cảnh bất thối chuyển, tức là đến được bờ kia. Ưng tác sở tác bất thối chuyển, tức là độ 100.000 chúng sanh. Cho nên Sơ ấy Tổng nói về câu văn tức là chi bên trên. Sau đây có câu riêng, tức để nói về chi bên dưới.

Đã ghi lại về việc tán thán chiều ngang về cái Đức của Sơ Trụ, tức là cùng với ý nầy giống nhau vậy. Luận về 2 việc nầy thì giữ lấy sự môn. Chỉ bày cho các Bồ Tát trụ ở nơi nào thì thanh tịnh địa. Nhơn nào là cùng với phương tiện và cảnh giới gì, ưng tác sở tác như thế nào. Tất cả đều từ nghĩa nầy. Tạo sự tán thán bề dọc về cái Đức của các Bồ Tát lại cũng chẳng phương hại.

Quán tâm giải thích sự tán thán về cái Đức ấy là bất thối chuyển như trước đã nói.

Đà La Ni nghĩa là quán không ấy tức là toàn Đà La Ni. Quán giả ấy là 100.000 toàn Đà La Ni. Quán trung ấy tức là pháp âm phương tiện Đà La Ni. Lại nữa, quán không và quán tâm thường có tên gọi. Đây gọi là Văn Trì Đà La Ni. Quán giả, quán tâm ấy vô lượng tâm, tâm và tâm số pháp tất cả đều là những pháp môn. Tức là hành trì Đà La Ni. Quán trung, quán tâm, tâm ấy tức là thật tướng. Tức là Nghĩa Trì Đà La Ni. Quán giả, quán tâm ấy đầy đủ 10 giới pháp. Tức là pháp vô ngại biện. Quán trung, quán tâm về 10 pháp giới ấy tất cả đều nhập vào thật tướng; tức là nghĩa vô ngại biện. Quán không, quán tâm thập pháp giới cũng có tên và cách gọi. Tức là Từ vô ngại biện. Quán 1 tâm tức là 3 tâm; 3 tâm ấy tức là 1 tâm. Một cảnh giới là tất cả cảnh giới. Toàn chuyển vô ngại tức là vui nói vô ngại biện. Quán không đây là chuyển vị bất thối pháp luân. Quán giả đây là chuyển hành bất thối pháp luân. Quán trung đây nghĩa là chuyển niệm bất thối pháp luân, cúng dường chư Phật. Hay tùy thuận chư Phật bằng lời, làm thuận theo lời Phật dạy, tu 3 phép quán tâm. Tức là cúng dường chư Phật. Vì phá 5 trụ mà được giải thoát; tức là cúng dường Pháp. Tam Đế lý hòa tức là cúng dường Tăng. Lại nữa các việc làm, tâm riêng quán để rõ tâm; tức là cúng dường chư Phật. Quán để rõ bất tâm khai phát những cảnh giới; tức là cúng dướng Pháp. Cảnh trí tâm hòa tức là cúng dường Tăng. Thật tướng của tâm tức là quán rõ biết tâm là gốc. Quán trí tâm là những việc làm ấy, tâm là chủ. Được cái gốc rồi, liền trồng sẽ được thiết lập nên. Cho nên nói là trồng cái gốc của Đức vào chúng là vậy.

Tâm quán để rõ biết cảnh giới tối. Cảnh giới ấy ghi nơi quán trí. Trí ấy có chiếu đến thì thường cùng với cảnh giới hợp lại. Tức là vì Phật mà xưng tán. Không quán ấy là pháp duyên từ huân tập lại. Giả quán ấy là chúng sanh duyên từ huân tập lại và Trung quán ấy là vô duyên từ huân tập thành. Không quán ấy nhập vào Thông, Phật Huệ; giả quán nhập vào Biệt Phật Huệ; Trung quán nhập vào Viên Phật Huệ. Không quán đến tất cả trí bờ kia. Giả quán đến đạo chủng trí bờ kia. Trung quán đến tất cả chủng trí bờ kia. Không quán nghe nơi Chơn Đế; Giả quán nghe nơi Tục Đế và Trung quán đều nghe ở Trung Đạo đệ nhứt nghĩa đế. Lại cũng nghe cả Tam Đế. Không quán, độ Tứ Trụ trăm ngàn chúng sanh. Giả quán độ trần sa trăm ngàn chúng sanh. Trung quán độ vô minh trăm ngàn chúng sanh. Một tâm 3 quán có vô lượng đức. Tán thán không cùng tận. Dừng nói về việc nầy.

Ngũ liệt danh là Đại sĩ danh lớn; hoặc là từ pháp môn; hoặc từ những việc làm của Đức; hoặc từ Bổn Nguyện. Tuy là một tên gọi; nhưng có rất nhiều nghĩa. Nay nương vào kinh và vào quán. Ví dụ như 18 tên gọi của Bồ Tát về Ngài Văn Thù. Văn Thù Sư Lợi ở đây gọi là Diệu Đức. Trong Đại Kinh gọi là Liễu Liễu Kiến Phật Tánh; giống như Diệu Đức vậy. Trong Vô Hành Kinh thì gọi là Mãn Thù Thi Lợi. Phổ Siêu gọi là Nhu Thủ. Tư Ích: Tuy nói các pháp mà chẳng khởi pháp tướng; chẳng khởi phi pháp tướng. Cho nên gọi là Diệu Đức. Bi Hoa nói:

Ta nguyện thực hành Bồ Tát đạo để hóa độ chúng sanh. Tất cả đều ở 10 phương thành chánh giác trước, làm cho ta thấy tất cả đều được thiên nhãn thì ta sẽ làm cho quốc độ đó là những Bồ Tát nhứt sanh. Rồi cùng với ta khuyến phát đạo tâm. Ta hành Bồ Tát hạnh không có giới hạn. Phật Bảo Tạng nói:

Ngươi tạo công đức sâu xa, sâu xa nguyện ấy giữ lấy Diệu Sĩ. Cho nên bây giờ hiệu là Diệu và tên là Văn Thù Sư Lợi. Tại phương Bắc, thế giới hoan hỷ làm Phật, hiệu là Hoan Hỷ Tạng Ma Ni Bảo Tích Phật. Bây giờ cũng giống như trong hiện tại, khi nghe tên, liền diệt 4 tội nặng. Vì Bồ Tát tượng ảnh ấy động đến Đức Thích Ca chăng?

Quán tâm tánh, lý giải 3 Đức bí mật. Chẳng ngang chẳng dọc; nên gọi là Diệu Đức.

Quán Thế Âm ở Thiên Trúc gọi là Bà Số Kiết Đệ Thuế. Tư Ích nói: Nếu chúng sanh nào gặp được thì liền được định ở nơi Bồ Tát; nên gọi là được miễn trừ những sự khổ. Lại có tên là Quan Âm. Bi Hoa nói:

Nếu có chúng sanh nào thọ các sự khổ, xưng danh hiệu ta và nhớ nghĩ đến ta. Vì ta có tai và mắt của cõi Trời nên thấy nghe được. Không làm cho hết khổ thì ta chẳng giữ ngôi chánh giác.

Bảo Tạng Phật nói: “Ngươi xem xét tất cả chúng sanh, sanh ra tâm đại bi. Nên tên của ngươi là Quán Thế Âm”. Câu văn ở dưới sẽ giải thích tiếp…

 

Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Văn Cú

Hết quyển 2 (phần tr

 

Quyển thứ hai

(Phần dưới)

 

Quán Tâm giải thích rằng: Tam Trí gọi là Quán;

Tam Đế gọi là Thế. Tam Quán là tiếng gốc; cho nên nói là Âm.

Đắc Đại Thế theo Tư Ích cho rằng: Khi ta đặt chân đến các nơi thì chấn động tam thiên đại thiên thế giới cho đến những cung điện của vua quan. Cho nên gọi là Đại Thế Chí.

Bi Hoa nói: Nguyện cho thế giới của ta cũng giống như của Quan Thế Âm, chẳng có gì sai khác.

Phật Bảo Tạng nói: Do ngữ lấy đại thiên thế giới; cho nên bây giờ tên của ngươi là Đại Thế Chí.

Quán Tâm giải thích rằng: Tam Chỉ là Chân, đặt Tam Đế vào đất thì đất ấy rung động đến 10 pháp giới. Tất cả thấy ưa thích ở chỗ, đều phải rúng động… chẳng dừng nghỉ.

Tư Ích nói: Cứ trong hằng hà sa kiếp như vậy có một ngày một đêm. Cứ 30 ngày đêm là một tháng; cứ 12 tháng là một năm. Trải qua trăm ngàn ức ức kiếp như thế được gặp một vị Phật. Như thế gặp được hằng hà sa số Phật. Hành những phạm hạnh và tu tập các công đức, sau đó được thọ ký. Tâm ấy chẳng dừng nghỉ; cho nên nói là Bất Hưu Tức.

Quán Tâm nói: Quán không, chẳng trụ vào không. Ra khỏi giả chẳng trụ vào giả, mà khi vào Trung cũng chẳng trụ lại. Song Chiếu Nhị Đế gọi đây là Bất Hưu Tức, Bảo Chưởng.

Phổ Siêu nói: Bên trên được phủ lên bởi cái Đức; cho đến Phật cũng chẳng thể đánh bại được, khiến cho đi vào lối Đại Thừa. Nếu ở trong mộng, cũng không quên Nhị Thừa. Thường hay dùng tâm chân thật và thông hiểu các tâm huệ khác. Vì người mà tuyên thuyết, giảng nói. Đối với đồ quý giá thì tâm chẳng muốn tham chứa. Cho nên gọi là Bảo Chưởng.

Quán Tâm nói: Bất tư nghì Tam Đế gọi là Bảo. Nhứt tâm tam quán gọi là Chưởng. Dùng quán chưởng nầy để cầm giữ Đế Bảo nầy, tự lợi lợi tha; cho nên gọi là Bảo Chưởng

Dược Vương theo Bi Hoa nói rằng: Nguyện trong Hiền Kiếp 1.000 vị Phật và với 4 vị Phật đầu thành đạo thì ta đều cúng dường. Chư Phật nhập diệt thì ta đều xây tháp. Kiếp tận khổ não ta nguyện cứu giúp. Khi đao binh bệnh tật ta làm Y Vương, sau đó làm Phật.

Phật Bảo Tạng nói: Nay gọi ngươi là Hỏa Tịnh Dược Vương. Sau nầy làm Phật; tức là Lầu Chí Như Lai. Theo Quán Tâm giải thích như vậy …

Dưới đây lần lượt giải thích về 7 vị Bồ Tát.

Bạt Đà Bà La từ nầy nghĩa là Thiện Thủ. Lại cũng còn gọi là Hiền Thủ.

Tư Ích nói: Nếu có chúng sanh nghe được tên, tất được định Tam Bồ Đề; cho nên gọi tên là Thiện Thủ.

Quán giải thích rằng: Trung Đạo chánh quán. Đối với các việc lành là Thượng Thủ. Cho nên gọi là Thiện Thủ.

Di Lặc gọi là Từ Thị. Tư Ích nói: Nếu chúng sanh gặp được, liền được tâm từ Tam Muội; cho nên gọi là Từ Thị.

Hiền Ngu nói: Quốc Vương thấy người nài chăn voi, tức sanh từ tâm. Từ đó được gọi là Từ Thị.

Bi Hoa nói: Phát nguyện trong kiếp đao binh khói lửa cứu hộ chúng sanh, làm cho quán giải Trung Đạo chánh quán; tức là Vô Duyên Đại Từ. Từ là căn lực lành làm cho các tâm số đều vào đồng thể với pháp đại từ và lìa những việc chẳng lành. Cho nên gọi là Từ Thị. Lại nói Từ đây chính là họ. Cũng còn gọi là A Dật Đa. Ở đây dịch là Vô Thắng …

Từ đây trở đi giải thích về Bảo Tích.

Đạo Sư theo Tư Ích là đối với những chúng sanh bị lạc vào đường tà, sanh ra tâm đại bi, làm cho vào chánh đạo, chẳng cầu báo ân; cho nên gọi là Đạo Sư.

Quán giải thích rằng: Tam Quán diệu trí chỉ bày tất cả hành, chẳng lạc vào nhị biên. Tất cả đều nhập vào chánh quán; cho nên gọi là Đạo Sư. (Phần sau còn giải thích tiếp …).

Lục như thị bên dưới là câu văn kết.

Phần thứ ba nói về Tạp Chúng. Xưa nói rằng Phàm

Phu Chúng. Ở trong nầy có cả Thánh. Xưa gọi là Tục Chúng. Trong nầy có cả Đạo. Xưa bảo rằng Thiên Nhơn Chúng. Trong nầy có cả rồng, quỷ; tất cả không phân rõ.

Cho nên gọi là Tạp Chúng. Ý ở đây gọi chung vậy. Cho nên trong 5 đường 2 cõi 8 nơi gọi là Tạp. Phương Đẳng Kinh lại có thêm Địa Ngục. Trung Ấm kinh lại có cả Hóa Vô Sắc. Những loại nầy tùy theo căn cơ mà hiện ra. Chẳng phải riêng cho một loại nào. Lại chẳng phải định trước theo thứ lớp. Người xưa nói rằng đây là Chủ Đất, làm cho những người khách ở trước. Vô Lượng Nghĩa kinh thì cùng với kinh nầy giống nhau.

Quốc Vương, Quốc Thần, Quốc Sĩ, Quốc Nữ chẳng luận, chủ khách tương nhượng nhau, khi ra khỏi nhà, đến tại nơi nầy; hoặc còn ý khác, chưa rõ biết. Bây giờ xem câu văn nầy có 8 phần. Đầu tiên nói về Đế Thích rồi lần lượt đến Tứ Thiên Vương.

Bên trước có rồng, bên sau có chim hình quỷ thần nặng nề. Vì nghĩa nầy; cho nên gọi là Tạp Chúng. Chẳng thể nói lần lượt, mà lại gọi là Tạp Chúng. Trong nầy có loại đã được đạo và chưa được đạo. Do tạp quả báo cùng với hình thù ăn mặc phức tạp; cho nên gọi là Tạp. Trong nầy có Nhị Thừa Đạo. Cả Vô Lậu Trí và Vô Minh phiền não hỗn tạp cho nên nói là Tạp. Trong nầy có cả Bồ Tát đạo và các loại khác; cho nên nói là Tạp. Trong nầy có cả Phật đạo nữa. Một pháp đầy đủ tất cả; cho nên nói là Tạp. Tạp là nghĩa như vậy. Há có thể dùng phàm phu thế tục để phán đoán sao? Chẳng thể dùng 5 đường Người Trời để phán đoán. Cho nên nói là Tạp. Đây là do Ước Giáo giải thích…

Thích Đề Hoàn Nhơn Nhơn Đà La; hoặc nói là Chiên Đà La. Ở đây dịch là Năng Tác. Làm chủ cõi Đao Lợi. Đao Lợi ở đây dịch là 33 (cõi thứ 33). Có 4 mặt, mỗi mỗi có 8 thành, tất cả thành nầy khi thấy đều vui; hợp chung thành 33. Cùng ở trên đỉnh núi Tu Di. Tu Di ở đây dịch là An Minh, do 4 báo hợp thành. Núi cao rộng 336 vạn lý. Ở đây là cõi Trời làm chủ thuộc về Dục Giới; cho nên nói là Tiền Lệ.

Tạp A Hàm quyển thứ 40 nói rằng: Có một vị Tỳ Kheo hỏi Phật vì sao tên là Thích Đề Hoàn Nhơn?

Đáp rằng: Cái gốc khi còn làm người hay làm việc bố thí nhanh gọn, lại hay làm chủ; cho nên gọi là Thích Đề Hoàn Nhơn. Vì sao gọi là Phú Lan Đà Lan Đà La? Vì người nầy vô số lần làm việc bố thí. Vì sao gọi là Ma Già Bà? Vì đây là cái tên lúc còn làm người vậy. Vì sao tên là Ta Bà La? Vì người nầy khi còn làm người hay bố thí y áo. Vì sao gọi là Kiều Thi Ca? Vì đây là họ khi còn làm người vậy. Sao gọi là Xá Chỉ Bát Đệ? Xá Chỉ là vợ; còn Bát Đệ là chồng. Vì sao gọi là Thiên Nhãn? Khi còn làm người rất thông minh. Trong một lúc ngồi suy nghĩ đến cả ngàn nghĩa lý. Quán sát đủ điều cho nên gọi là Thiên Nhãn. Sao gọi là Nhơn Đề Lợi? Vì là chủ của cõi trời thứ 32.

Lầu Các Đệ Tam nói: Thiên Đế gọi là Câu Dực. Giáo Môn nói trong A Hàm, Đế Thích là A Na Hàm. Bát Nhã làm rõ 10 phương khó hỏi Bát Nhã. Tất cả đều là tên Thích Đề Hoàn Nhơn. Trong Biệt, Viên giải thích rõ Thích Đề Hoàn Nhơn được Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội. Bên trong chứng đạo chẳng giống nhau. Trải qua Hiền Kiếp 2024 kiếp làm Phật; hiệu là Vô Trước Thế Tôn …

Bổn Tích nói Thập Trụ Hành Hướng tức là cõi thứ 30. Thập địa là một: Đẳng Giác là hai. Diệu Giác làm chủ. Đồng Thê (cái thang) là Đệ Nhứt Thiên; cùng mặc chiếc áo thật tướng cam lồ; tức là cái gốc vậy. Ở trên đỉnh núi Tu Di cũng là tích ấy.

Quán Tâm giải thích rằng: Tự thực hành Thập Thiện và khuyên những người khác tùy hỷ theo. 30 điều lành nầy đều là Không; đều là Giả và đều là Trung. Tức là 33 Quán Môn vậy. Gọi là Nguyệt Đẳng Tam Thiên Tử. Đây là vị Thần bên trong, chức vụ như là Khanh Tướng; hoặc gọi là Tam Quang Thiên Tử. Gọi Nguyệt là Bảo Kiết Tường Nguyệt Thiên Tử. Đại Thế Chí thường làm và Phổ Hương là Minh Tinh Thiên Tử. Hư Không Tạng hay làm. Bảo Quang là Bảo Ý Nhựt Thiên Tử. Quan Thế Âm hay làm. Đây là do Bổn Tích giải thích như vậy.

Quán Tâm giải thích rằng: Dùng 3 quán tức là 3 trí; 3 trí tức là 3 ánh sáng. Từ Tam Đế sanh Tam Trí. Đế ấy chính là Thiên Trí, nghĩa là con …

Tứ Đại Thiên Vương là những vị Thần bên ngoài của Đế Thích giống như võ tướng. Họ ở tại 4 núi báu, cao bằng nửa núi Tu Di, rộng 24 vạn lý; nằm ở phía Đông của Đề Đầu Tần Thác. Đây gọi là Trì Quốc. Lại cũng còn gọi là An Dân. Ở trên núi vàng nầy là 2 con quỷ Kiền Thác Bà và Phú Đơn Na. Phía Nam có Tỳ Lưu Lặc Xa. Đây dịch là Tăng Trưởng lại cũng còn gọi là Miễn Ly. Ở trên đỉnh của núi Lưu Ly nầy có 2 con quỷ. Đó là Tiết Lệ Đa Cưu Bàn Trà. Phía Tây có Tỳ Lưu Bác Xoa. Đây gọi là Phi Hảo Báo; lại cũng còn gọi là Ác Nhãn. Lại gọi là Tạp Ngữ. Ở trên núi bạch ngân nầy có 2 con quỷ. Đó là

Độc Long Tỳ Xá Xà. Phía Bắc là Tỳ Sa Môn. Đây dịch là Chủng Chủng Văn; lại gọi là Đa Văn. Ở trên đỉnh núi Thủy Tinh nầy là 2 con quỷ. Gồm La Sát và Dạ Xoa. Mỗi mỗi núi đều được lãnh đạo bởi hai con quỷ, không cho làm não hại người; cho nên gọi là Hộ Thế.

Bổn Tích nói bổn đây là thường, lạc, ngã, tịnh của Tứ Thiên Vương hộ trì Phật Pháp. Chẳng làm cho người ngoài có thể lấy cành lá hay chặt cây phá hoại. Thường hay gìn giữ các Vua. Ở phía Đông có Thường Vô Thường song thọ. Giữ gìn vua Lạc Vương. Ở phía Nam có Lạc Vô Lạc song thọ. Hộ trì vua ở phía Tây Ngã Vương có Tây Phương Ngã Vô Ngã song thọ. Hộ trì ở phía Bắc cho vua Tịnh Vương có Tịnh Bất Tịnh song thọ. Cành lá ấy dụ cho thường. Hoa ấy dụ cho Ngã; quả ấy dụ cho Lạc và cuống lá ấy dụ cho Tịnh. Giữ gìn ở phía Bắc là hoa quả, thường hay làm lợi ích cho tất cả chúng sanh.

Tích ở đây là 4 vị vua dùng để giúp đỡ cho đời.

Quán Tâm giải thích rằng: Quán Tứ Đế Trí tức là Tứ Vương. Đế thứ nhứt là trừ đi ái kiến nhị hôn; tức là giữ gìn Bác Ái kiến. Thứ đến là trên Đao Lợi có Diệm Ma. Ở đây dịch là Thiện Thời.

Đại Luận nói: Diệu Thiện đến Đao Lợi, cách 336 vạn lý. Thiện Thời ở bên trên có Đẩu Suất Đà. Đây dịch là Diệu Túc. Đến Diệm Ma như Địa Viễn, mà chẳng thể thí dụ được, nên ở đây nói lược. Vì sao? – Từ cõi trời phía dưới đến cõi trời phía trên toàn là đắm say niềm vui. Khi đến đó chẳng phải đắm trước, chẳng phải đần độn thì chẳng đến.

Tự Tại tức là đệ ngũ. Đại Tự Tại là đệ lục. Tự hóa ra ngũ dục và kia hóa ra ngũ dục… Có người nói rằng: Ở trên đảnh của Sắc Giới là Đại Tự Tại. Ở đây chẳng thể qua khỏi chỗ kia vậy.

Bổn Tích nói: Căn bản của 2 trời nầy trú ở Tự Tại, Tự Tại Vương đẳng định. Tích ấy là 2 vị Trời.

Quán Tâm nói: Nhập vào không là Tự Tại quán; nhập vào Trung là Đại Tự Tại quán …

Kế đến là Trời Sắc Giới. Sa Bà ở đây dịch là Nhẫn. Những chúng sanh ở cõi nầy sống trong 10 điều ác, chẳng chịu ra khỏi. Từ con người được gọi là độ và xưng là Nhẫn. Kinh Bi Hoa nói rằng: Vì sao nói là Ta Bà?

Những chúng sanh ở đây nhẫn chịu tam độc và những sự phiền não. Cho nên gọi là Nhẫn Độ. Cũng còn gọi là tạp cửu đạo cộng cư (ở lẫn lộn với 9 đường).

Phạm ở đây dịch là ly dục. Từ dưới đất được lên sắc giới; cho nên nói là ly dục-Lại xưng là Cao Tịnh.

Thi Khí ở đây dịch là Đảnh Kế. Lại nữa ở từ nước ngoài la lên có lửa và vì cây Đề Thi Khí. Chỗ nầy là nơi vua tu luyện Hỏa Quang Định, phá những nghi hoặc nơi dục giới. Từ cái đức lập nên tên. Cho nên là điểm cao của Phạm Vương, lại cử Thi Thí, giống như là 2 người. Nương vào Thích Luận chánh thì dùng Thi Thí làm vua. Kinh bây giờ đưa cao ngôi vị và hiển danh, lo sợ cho những việc của một người. Trụ ở trung gian thiền; bên trong có giác quan; bên ngoài có nói năng; được làm vua cai trị. Nếu chỉ riêng tu thiền thì là dân của Phạm. Thêm Tứ Vô Lượng tâm thì được làm vua. Sơ Thiền có Phạm Chúng, Phạm Phụ và Đại Phạm. Bây giờ cử vua cai trị tất cả.

Quang Minh là Nhị Thiền. Ở đây có Thiểu Quang Vô Lượng Quang Quang Âm. Tam Thiền có Thiểu Tịnh Vô

Lượng Tịnh Biên Tịnh. Tứ Thiền có Mật Thân lại Vô Trụ Ngại, vô lượng mật lại Thọ Phước Mật Quả; lại Hoàng Quả Vô Tưởng Mật, lại Vô Tưởng. Lại có 5 Na Hàm. Chẳng phiền, chẳng nhiệt, lành thấy, lành hiện sắc cứu cánh. Lại Đại Tự Tại tức là Ma Hê Thủ La. Trong kinh văn nói lược, chẳng giải thích đủ. Cùng với các vị chư thiên vậy.

Thí dụ có Giáo Môn, Bổn Tích, Quán Tâm, Tự Tư. Ở đây lần lượt nói 8 con rồng.

Nan Đà tên là Hoan Hỷ. Bạt tên là Thiện. Huynh đệ thường hay giữ gìn xứ Ma Kiệt Đề. Khi trời mưa thì dân trong nước chẳng đói năm nào. Bình Sa Vương mỗi năm gặp một lần. Bách tánh nghe đều hoan hỷ. Từ đây được gọi tên. Liền đó Mục Liên hạ xuống. Sống ở trong biển.

Theo Bổn Tích giải thích thì cái gốc là ở Hoan Hỷ địa. Tích ấy ở trong biển.

Quán Tâm giải rằng: Tam quán tức là Trung Đạo sanh pháp hỷ. Bà Già La ở tại biển nhận tên nầy. Hoa Nghiêm cũng gọi thế. Cách nói xưa là nhơn vì quốc gia mà có tên. Chỗ ở chính là trí độ đại hải. Tích xứ là Thương Minh, Hòa Tu Kiết. Ở đây nói có nhiều đầu. Lại cũng gọi là Bảo. Ở trong nước. Chỗ ở chính là Phổ Hiện Sắc Thân Tam Muội. Tích ấy hiện ra nhiều đầu vậy.

Quán đây là nhập vào giả quán; phân biệt vô lượng pháp môn …

Đức Xoa Ca ở đây nghĩa là Thị Độc. Lại cũng có nghĩa là nhiều lưỡi; hoặc cũng gọi là hai lưỡi. Chỗ ở chính là lạc thuyết vô ngại biện pháp môn. Tích ấy chỉ cho nhiều lưỡi.

A Na Bà Đạt Đa. Từ cái hồ mà có tên. Đây gọi là Vô Nhiệt; Vô Nhiệt hồ. Trường A Hàm quyển thứ 18 nói rằng: Trên đảnh núi tuyết có một cái hồ; tên là A Nậu Đạt Trì. Ở giữa có 5 trụ chống. Từ cái hồ mà có tên.

Long Vương thường ở trong đó. Những Long Vương nầy ở trong cõi Diêm Phù Đề thường hay có 3 sự xung khắc nhau. Một là gió nóng, cát nóng làm dính vào thân; thiêu đốt da thịt và xương tủy; nên rất khổ não. Hai là gió ác thổi đến làm cho cung điện bị mất những đồ che đậy quý giá, thân rồng tự hiện lấy làm khó chịu. Ba là khi các vua rồng vui đùa thì Kim Súy Điểu (chim Đại Bàng) hay vào cung, bắt các con rồng con để ăn thịt; cho nên lo lắng phiền muộn. Ao nầy có 3 sự xung khắc như vậy. Nếu chim chóc có tâm muốn bay qua lại tức liền bị chết. Cho nên nói là Vô Nhiệt Não Trì. Chỗ ở chính ấy là mát mẻ, thường, lạc, ngã, tịnh.

Tích xứ ấy nguyên là cái hồ. Quán ấy là tam quán diệu huệ, yên lặng nơi ngũ trụ phiền hà, miễn đi hai việc chết của cát nóng …

Ma Na Tư ở đây dịch là Đại Thân; hoặc Đại Ý Đại Lực. Tu La chê nước biển, vui thấy thành. Rồng nầy thân tốt, lấy nước biển để uống. Cái gốc chỗ ở là vô biên thân pháp môn. Tích ấy là Đại Thể. Quán ấy là Trung Đạo chánh quán; tánh nầy rộng rãi…

Ẩn Bát La ở đây dịch là Hắc Sắc Liên Hoa Trì (ao hoa sen đen). Rồng ở nơi hồ nầy; nên lấy đó đặt tên. Theo Pháp Hoa Tam Muội thì nói rằng: Đây là hồ chính để rồng ở. Quán ấy là 3 quán tức là thuộc về tu nhơn. Nhơn đây chính là hoa sen. Trong Chánh Pháp Niệm Kinh nói rằng: Rồng ấy bảo hộ cho chư Thiên. Khi đánh nhau với Tu La và binh lính thì rồng xuất hiện; cho nên biết rằng rồng ấy bảo quản chư Thiên.

Tiếp đến là Tứ Phược Na La. Ở đây dịch là Chơn Đà La. Cũng còn dịch là Nghi Thần; giống như loài người; nhưng lại có một cái sừng; cho nên gọi là phi nhơn. Thiên Đế Pháp Lạc Thần ở nơi 10 núi báu, thân có tướng dị thường, liền tấu lên nhạc vui. Khi Đức Phật thuyết pháp cũng có chư Thiên ca hát gảy đàn và xưng tán pháp môn. Xưa nói rằng: Hay tấn pháp Tứ Đế và nhiều khi còn tấu lên 12 nhân duyên nữa. Đàn lớn thì tấu Lục Độ. Đàn đặc biệt thì tấu cả 3 loại như trước. Bây giờ sẽ nói lên việc tấu lên 4 pháp môn.

Chỗ ở chính thật là bất khả tư nghì; chẳng khởi lên sự diệt định, ngồi yên chắp tay thiền định. Dùng trăm ngàn bài kệ tán thán Pháp Vương. Tích ấy là đàn ca, ngâm vịnh 10 lực. Còn quán ấy là quán âm thanh, tức không, tức giả, tức trung. Tùy thuận với 3 đế. Tức là ca ngợi tán thán Đức Phật vậy.

Bốn Càn Thát Bà ở đây dịch là Xú Hương (mùi thối); lấy mùi hương thơm để ăn. Lại còn gọi là Hương Âm. Thân ấy tỏa ra mùi. Đây là thần Tục Lạc của Thiên Đế. Niềm vui ấy là tàn lọng che rộng ra. Niềm vui ấy qua âm thanh của trống, đờn, sáo. Điều đẹp đẽ là Tràng Phan ấy là những loại đẹp. Tiếng hay ấy là đàn sáo cao vút.

A Tu La ở đây dịch là Vô Tửu (không có rượu). Đi hái hoa trong 4 cõi thiên hạ, chất thành như biển lớn. Những con cá, rồng do nghiệp lực ngửi mùi nầy không biến hóa được. Muốn đoạn trừ sân si tật đố; cho nên nói là Vô Tửu Thần. Lại cũng có nghĩa là Bất Đoan. Theo Di Thiên An nói rằng: Bản chất hay trực tính. Vị thần nầy được gọi là chẳng dua ngoa và danh tướng. Có 2 loại. Một là thống lĩnh loài quỷ thì ở ngoài biển khơi; còn thống lĩnh loại súc sanh thì ở dưới đáy biển.

Bà Trỉ ở đây gọi là Bị Phược; hoặc nói là Ngũ Xứ Bị Phược; hoặc cũng gọi là Ngũ Ác. Bị dây cột lại chẳng thoát khỏi được; cho nên nói là bị trói. Lại cũng nói là Hữu Phược. Vì bị Đế Thích cột lại. Cái gốc ấy là hay sanh ra nơi ngũ phược và ma ngoại đạo. Còn Tích ấy là hình tượng nầy. Chánh Pháp Hoa nói là TốI Thắng Quán; dùng Tam Quán Trí để cột ngũ trụ hoặc khi vào trong thực tế.

Khư La Cưu Đà gọi là Quảng Kiên Giáp. Lại còn gọi là Ác Âm, phun lên từ nước biển. Theo Chánh Bổn nói là Bảo Tuyến. Gốc ấy ở tại quyền thật nhị trí, dùng lòng từ để mang vác chúng sanh. Tích ấy là hai vai rộng lớn. Quán đây là tam quán hay đánh trống; che khuất ngũ trụ và sanh tử nơi biển lớn.

Tỳ Ma Chất Đa dịch là Tịnh Tâm. Lại cũng còn gọi là Chủng Chủng Nghi. Xuất ra tiếng từ âm thanh của nước biển; nên gọi là Tỳ Ma Chất Đa. Tức là cha của Xá Chỉ Quán Phật Tam Muội nói rằng: Quan Âm Thiên sanh ra đất nầy. Đất ấy khiến cho kẻ có lòng ham muốn vào nơi biển để tắm rửa bất tịnh; rồi rớt xuống bùn, biến thành trứng. Đến năm 8.000 tuổi thì sanh một con gái, có 1.000 cái đầu và 24 tay. Người con gái nầy vui với nước và nước ấy vào thân thành thủy tinh. Đến 8.000 tuổi lại sanh một người con trai, có 24 đầu và 1.000 cái tay. Do nghe tiếng dội của sóng biển; cho nên có tên là Tỳ Ma Chất Đa.

Tác Càn Thát Bà nữ sanh ra Xá Chỉ. Theo nghiệp lực Đế Thích ra lệnh cho người cha nầy ở tại Thất Bảo Điện; cho lấy vợ. Sau đó gièm pha người cha nầy liền giao cho binh lính rồi chạy ra biển dùng tay để múc nước biển, lấy đó thấy vui. Đế Thích dùng thần lực của chú Bát Nhã nên chẳng thể làm hại. Chánh Bổn gọi là Yến Cư. Bổn ấy chính là sắc tâm vốn sạch. Tích ấy lấy làm tên. Quán thì cho rằng: Chánh quán Trung Đạo ấy chính là tâm trong sạch nầy.

La Hầu Ha ở đây dịch là Chướng Trì. Che khuất mặt trời, mặt trăng. Đây là một loại súc sanh, thân dài 84.000 do tuần. Miệng rộng 1.000 do tuần. Dùng những vật quý trang sức; hay đi xem Thiên Nữ trong vườn của chư Thiên. Nếu loài người trong 4 cõi thiên hạ mà hiếu dưỡng với cha mẹ, hay cúng dường các bậc Sa Môn thì chư Thiên có uy lực. Trên không trung mưa đao kiếm. Nếu chẳng được như vậy thì chư Thiên vào cung, chẳng xuất hiện. Lại nữa khi mặt trời chiếu ra ánh sáng thì mắt nầy chẳng thể thấy được. Liền lấy tay để che. Cho nên người đời hay nói rằng mặt trời bị khuyết hay nhiều loại tà thuyết khác. Che mặt trăng cũng giống như thế. Hoặc tạo ra âm thanh lớn. Người đời sẽ nói là thú trời là to nguy hiểm, loạn động nên vua sửa đổi, thật là đủ loại tà thuyết. Lo cho mặt trời mặt trăng lớn gấp đôi, làm cho thân nầy lớn lên với mặt trời mặt trăng. Khi mặt trời, mặt trăng mất ánh sáng thì đến thưa với Phật. Phật bảo La Hầu rằng: Chớ có che mặt trời mặt trăng. Tay chân của La Hầu chiến đấu, động loạn; nên thân chảy mồ hôi, liền thả mặt trời mặt trăng ra. Cái sức mạnh của mặt trời mặt trăng cũng là cái lực của chúng sanh và Phật lực nữa. Do những nhơn duyên như vậy nên chẳng thể làm hại được.

Ngày xưa có một vị Bà La Môn thông minh, hay bố thí rộng rãi, cả 4.000 xe lương thực như thế. Ngay cả các loài khoáng giả cũng thí cho. Có một cái tháp của Phật bị người ác đốt cháy; tức thời lấy 4.000 xe nước để diệt ngọn lửa ấy, cứu tháp. Rồi hoan hỷ phát nguyện rằng:

Nguyện được làm thân to lớn nhất ở Dục Giới. Do không phải vì chánh tín mà thích đấu chọi và ưa chiến thắng, vui với việc thí nầy; cho nên sanh vào thành có ánh sáng và làm La Hầu La; chủ của Tu La vậy. Chánh Bổn gọi là hấp khí. Bổn quán …

Sau đây nói về Tứ Ca Lầu La. Ở đây nói là Kim Súy (cánh vàng). Cánh ấy màu vàng và ở trên cây lớn trong 4 cõi thiên hạ. Hai cánh ấy có thể bay đến 336 vạn lý. Có người nói Trang Tử gọi là Bằng (chim Đại Bàng). Chim nầy lớn nhất và cũng còn gọi là Phượng Hoàng. Giải thích là loài Phượng ấy chẳng giẵm vào cỏ, mà chỉ ăn những cây trúc mềm như sữa. Kim Súy thì ăn rồng và những loại khác.

Đại Uy Đức đây có uy hơn những loại khác. Lại nói uy nầy sẽ nhiếp phục ở các loài rồng. Chánh Bổn gọi là Cụ Túc. Thân lớn ấy là loại đàn anh trong tất cả. Còn biển lớn ở đây để chỉ cho rồng thường hay đầy dẫy, là ở ý trên.

Như Ý là loại châu quý báu ở trên trán. Chánh Bổn gọi là chẳng thể động. Ca Lầu Điểu có thần lực và hay biến hóa thành Thiên Tử. Con mái biến thành Thiên Nữ. Sau khi hóa hiện rồi, ở lại nơi bảo cung, đầy đủ trăm thức ăn; nhưng vẫn muốn ăn rồng. Khi có thai thì ăn thai, chẳng thể ăn cả ba; nhưng trứng thì ăn hai. Loài côn trùng thì ăn ba. Hóa sanh thì có thể ăn đến bốn. Trong kinh Quán Phật Tam Muội nói rằng: Chánh Âm Ca Lầu một ngày ở núi phía Đông ăn một con rồng chúa và 500 con rồng con. Ba phương khác cũng như vậy. Quanh đi quẩn lại thọ đến 8.000 năm. Khi lâm chung không còn mạnh nữa; nên muốn ăn rồng con. Rồng mẹ phà khói chẳng thể ăn được liền sân hận và từ núi Kim Cang (chim Ca Lầu) bay ra biển. Bay xuyên qua đất; nhưng chẳng thể qua khỏi gió; gió dang ra; nên từ đó bay lên trên núi Kim Cang; như thế đến 7 lần, rồi bay lại trên đỉnh núi và chết tại đó. Thịt ấy đốt lên, làm cháy cả núi quý. Nan Đà làm cho mưa, mưa kia dứt, thịt kia lại bị gió bay đi 7 lần như thế và sau đó rớt lại trên đỉnh núi, trở thành Như Ý châu. Rồng nhặt lấy và làm chủ. Vua, người cũng ưa thích châu báu nầy.

Kế đến nói về người. Đó là bà mẹ Vi Đề Hy. Dịch là Tư Duy; còn Tần Ba Sa La ở đây dịch là Mô Thật, là cha của A Xà Thế. A Xà Thế nghĩa là Vị Sanh Oán (chưa sanh ra đã có oán thù nhau). Hoặc cũng còn gọi là Bà Lưu Chi. Đây dịch là Vô Chỉ (không có ngón tay). Người bên trong gìn giữ gọi là Thiện Kiến. Thiện Kiến là tên gốc vậy. Vô Chỉ ở đây là gọi theo cái Tích. Trong Đại Kinh chép rằng: A Xà gọi là chẳng sanh; Thế ấy gọi là Oán. Nghĩa là Phật tánh chẳng sanh, mà do phiền não sanh ra. Vì do phiền não sanh ra; cho nên chẳng thấy được Phật tánh. Phiền não không sanh, thì có thể thấy được Phật tánh. Lại nữa A Xà Thế gọi là chẳng sanh và Thế ấy chính là pháp của thế gian, lấy 8 pháp của thế gian làm chỗ chẳng nhiễm ô nên gọi là A Xà Thế. Đây là nghĩa chính vậy. Theo Phổ Siêu kinh nói rằng: A Xà Thế sám hối với Văn Thù; nên được nhu thuận nhẫn. Khi chết đi, rơi vào nơi địa ngục Tân Thác La. Sau khi vào rồi liền ra khỏi và sanh vào cõi Phật, được Vô Sanh Nhẫn. Khi Đức Phật Di Lặc ra đời thì sẽ trở lại thế giới nầy; gọi là Bồ Tát Bất Động. Sau đó làm Phật, hiệu là Tịnh Giới Như Lai. Theo Tích nầy là chánh, há có thể sánh được chăng. Khi nói Pháp Hoa thì dựa vào chúng thanh tịnh. Cho đến lúc nói Niết Bàn thì trở lại tội nghịch. Khác với Ca Diếp khi thọ ký nơi Pháp Hoa ở nơi Niết Bàn chẳng kham phó chúc (nhận lời); chẳng thể mê nơi Tích, mà chìm nơi cái gốc căn bản nầy vậy.

Theo Quán Tâm giải thích rằng: Do sự tham ái của người mẹ và sự vô minh của người cha gây nên tai hại. Cho nên ở đây gọi là nghịch. Nghịch ấy lại cũng là thuận. Việc làm ấy đối với phi đạo nghĩa sẽ tiến đến Phật đạo.

Hỏi rằng: Khi Phật thuyết pháp cho loài người thì những người như thế nhiều ít?

Đáp rằng: Ở đây không nói hết; nhưng người như thế thật không phải là ít. Theo cách nói thì có cả các Tiểu Vương và Chuyển Luân Thánh Vương. Trong đây có nhiều nghĩa, có cả Tứ Luân Vương, Quốc Vương, Quốc Thích, Quốc Dân gồm nam nữ có nhiều loại.

Hỏi: Tất cả Trời, Người, Quỷ, Thần đều nghe thấy Phật thuyết pháp. Còn ở địa ngục và vô sắc giới sao chẳng thấy thí dụ?

Đáp rằng: Ý nghĩa nầy sẽ giải thích. Phàm các đường lên, xuống là do giới có tính cách đặc thù để thấy Phật hay không thấy Phật. Do Thừa mà có khoan, nhặt. Tuy nhiên việc trì giới có thô có tế. Do vậy quả báo có tốt xấu. Đặc biệt về Thừa thì có nhỏ, lớn. Thấy Phật có quyền có thật. Lược nói về giới và Thừa thì mỗi mỗi đều có 3 loại. Nương vào Niết Bàn một câu lại khai mở đến 4 câu. Giải thích ý nghĩa nầy liền rõ. Một là giới, thừa đều cần thiết. Hai là giới ấy khoan mà thừa ấy nhặt. Ba là giới ấy nhặt mà thừa ấy khoan. Bốn là giới và thừa đều khoan. Nếu theo Thông Giáo thì luận rằng giới, thừa tất cả đều là những pháp lành. Tất cả quán huệ đều được gọi là giới. Lại nữa tất cả đều là thừa của người, trời Ngũ Thừa. Tức là ở ý nghĩa nầy. Đạo cùng sánh với giới tất nhiên là ý nầy của Thông Giáo vậy. Nay nói chung, chia ra Biệt. Ba quy y, 5 giới, 10 điều lành, 8 quan trai, xuất gia luật nghi cho đến định cùng với hay phòng ngừa thân, miệng. Cái quả của việc che đậy đường ác sẽ được cái báo làm người, trời. Gọi đây là Giới. Nếu nghe kinh mà sanh lòng tin thì quán xem trí ấy tìm đến Tứ Đế, Thập Nhị Nhơn Duyên, Lục Độ, sanh diệt chẳng sanh diệt v.v… Trí ấy có thể phá phiền não, làm cho ra khỏi 3 cõi. Đây gọi là Thừa. Cho nên trong Đại Phẩm nói rằng:

Có tướng lành chẳng động, chẳng rõ. Lành không tướng ấy hay động, hay rõ. Tức là nghĩa nầy vậy. Nếu giới, thừa đều nhặt thì là giữ giới hạ phẩm. Giới nhặt ấy quả báo tại người. Giữa Tiểu Thừa và Thừa ấy nhặt. Lấy được thân làm người và ở nơi ba Tạng giáo được thấy Phật nghe Pháp. Nếu người giữ giới là Trung Thừa, thì Thừa ấy nhặt, dùng quả báo là thân người. Đối với Thông Giáo Đại Thừa cho đến dùng Phương tiện của các thời kinh Đại Thừa thì thấy Phật nghe Pháp. Giữ giới Thượng Thừa, Thừa ấy nhặt; dùng quả báo ở thân thì đối với Hoa Nghiêm, Pháp Hoa và các Giáo khác thì các giáo thuộc Trung Viên, được thấy Phật nghe Pháp. Ngoài ra thì người nghe giống nhau.

Nếu giữ Trung Phẩm giới nhặt, thì báo ấy tại cõi trời Dục Giới. Trì giới Tiểu Thừa thì Thừa ấy nhặt. Dùng thân của cõi Trời Dục Giới, đối với Tam Tạng thì thấy Phật nghe Pháp; ngoài ra như trên đã nói.

Nếu giữ Thượng Phẩm giới nhặt, thêm tu thiền định thì báo ấy ở tại cõi trời sắc giới và vô sắc giới. Nếu giữ Tiểu Thừa, thừa ấy nhặt thì dùng thân ở cõi trời sắc và vô sắc. Đối với Tam Tạng thấy được Phật nghe Pháp. Ngoài ra như trên đã nói.

Đã giải thích câu số một rồi. Còn nếu giới khoan, thừa nhặt thì 3 phẩm giới ấy tất cả đều có quả báo là khoan và rơi vào Tam Đồ. Giữ Tiểu Thừa và Thừa nhặt, dùng thân của Tam Đồ và theo như Tam Tạng thì thấy Phật nghe Pháp. Ngoài ra như trên đã nói.

Câu thứ 2 đã giải thích rồi. Nếu giới nhặt, thừa khoan, ba giới nhặt thì thọ thân làm Trời Người ở cõi Dục Giới và Sắc cũng như Vô Sắc Giới. Tam Thừa khoan (chậm) vậy. Phật tuy ra đời nói pháp ba thừa. Nhưng người dính vào ái lạc, quả báo trầm luân, trôi nổi nơi ngũ dục chẳng thấy Phật và chẳng nghe pháp. Ở nước Xá Vệ có 3 triệu người; nhưng nhiều người cũng không được nghe, thấy. Dính mắc niềm vui của 3 cõi, chư Thiên cũng vậy.

Đã giải thích câu thứ 3 rồi. Nếu cả giới và Thừa đều khoan (chậm) thì thọ quả báo ở Tam Đồ chẳng thấy Phật chẳng nghe Pháp.

Đã giải thích câu số 4 rồi vậy. Câu văn ở đây chẳng ví dụ địa ngục và dùng giới khoan (chậm) ấy có quả báo xấu, nặng và xa lìa với Thượng Thừa. Lại nữa khoan ấy chẳng thể ở nơi Pháp Hoa để thấy Phật và nghe Pháp. Ngoài ra kinh cũng có ví dụ ngoài Thừa và nhặt. Lại nữa chẳng đề cập đến vô sắc thiên là thượng giới nhặt; cho nên thọ thân chư thiên và say vào định vị. Còn ở Thượng Thừa khoan, thì chẳng thể ở nơi Pháp Hoa để thấy Phật và nghe Pháp. Ngoài ra kinh có nói theo thứ tự; có Thừa, cấp. Nếu được ở ý nầy thì mỗi mỗi trời rồng; tám bộ chúng đều rõ biết bổn duyên về khoan (chậm) và cấp (nhặt, nhanh). Nghĩa đến hay không đến đều có thể giải rõ. Giải thích rõ như gương sáng thì gọi là sớ. Lại nữa biết quyền ấy dẫn đến thật. Bổn Tích nghĩa ấy chuyển thành rõ ràng hơn. Từ đó mới có thể quán được hạnh nầy. Ba đời nhân quả hẳn nhiên có thể rõ biết. Mỗi mỗi đều lạy dưới chân Phật. Cuối cùng mọi người đều vân tập lại.

Từ câu: Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn đến xong Phẩm Tựa, câu văn có 5 cách. Cách thứ nhất là Đại Chúng tập trung lại. Cách thứ 2 là hiện ra đoan chánh. Cách thứ 3 là nghi ngờ, nhớ nghĩ. Cách thứ 4 là hỏi và cách thứ 5 là đáp lại câu hỏi ấy.

Ánh sáng sanh khởi thuận rồi nghịch. Do đại chúng vân tập; cho nên hiện ra đoan nghiêm. Cho đến do có hỏi; cho nên mới có đáp. Đáp ấy từ nơi hỏi. Cho đến đoan ấy là do đại chúng vân tập. Ở đây dịch là Phúc Duyên khởi, che đậy tương liên. Lời tựa ấy có ý chính và cuối sau thì làm rõ dần. Trực ấy là nhơn duyên; một ấy là tự nó không rõ; huống nữa là 2, 3, 4 duyên vào nơi liễu vô, thú hướng. Nay làm rõ 5 điều ở Lời Tựa về chánh, trung, bốn, một.

Bài Tựa có tập chúng thì người là một; hiện đoan nghiêm nơi lời tựa thì lý là một; nghi niệm ở lời tựa hành là một. Vấn đáp ở lời tựa thì giáo là một. Đây giải thích về nhơn duyên vậy.

Ước Giáo cho rằng lời tựa nầy là chánh. Chẳng phải Tam Tạng, chẳng phải Thông, chẳng phải Biệt. Nhưng lời tựa nầy là Viên.

Ước và Bổn Tích dùng lời tựa trong thọ lượng bổn địa phần 4, 1. Nghĩa nầy tự có thể rõ; chẳng nói lại nữa.

Quán Tâm có thể giải thích v.v… Tựu chung chúng tập lại có 2. Đầu tiên là uy nghi của Đại Chúng vân tập; thứ đến là Đại Chúng vân tập rồi cúng dường. Pháp Hoa luận về mục nầy và nói rằng: Vì uy nghi như pháp mà ở của tứ chúng. Xưa nói gồm xuất gia và tại gia; mỗi mỗi có 2, hợp lại thành 4 chúng. Tên nầy là ý sau cùng, chẳng phải nói thêm. Nay gọi là một chúng; lại mở ra thành 4. Nghĩa là phát khởi chúng, đương cơ chúng, ảnh hưởng chúng và kết duyên chúng. Phát khởi ấy là quyền mưu rõ biết chỗ, rõ biết lúc và rõ biết căn cơ, đánh khánh phát động, thành lập đầy đủ lợi ích. Giống như con voi mẹ ở dưới bóng cây làm cho voi con được che chở. Cho nên nói là phát khởi, làm cho tập hợp lại và phát khởi tướng đoan nghiêm; cho đến phát khởi việc hỏi đáp. Tất cả đều gọi là: Phát khởi chúng. Còn đương cơ là túc trực đức bổn duyên hợp vào lúc thành thục, như ung nhọt muốn vỡ ra chẳng thể ngồi để nghe, liền được đạo. Đây gọi là đương cơ chúng.

Ảnh Hưởng là đến trước pháp thân chư Phật, Bồ Tát, ẩn mình thật kín, khuông phò giáo pháp, giống như những ngôi sao vây quanh mặt trăng. Tuy chẳng làm gì; nhưng có rất nhiều lợi ích. Đây gọi là ảnh hưởng chúng.

Kết duyên nghĩa là không có sức mạnh nào có thể kích động, dẫn dường. Đức ấy chẳng thể lấy vật để hàng phục và trấn lại. Bởi vì trong quá khứ cái gốc cạn cợt, lại bị che đậy bởi những lậu hoặc sự ô tạp; nên 3 huệ chẳng sanh. Hiện đời tuy có gặp Phật nghe pháp; nhưng chẳng được sự lợi ích của Bốn Tất Đàn. Chỉ tạo ra nhân duyên đắc độ trong tương lai. Đây gọi là kết duyên chúng.

Tỳ Kheo chúng lại cũng như thế. Ngoài 3 chúng kia lại cũng như vậy. Cộng chung tất cả thành 16 chúng.

Giống như ở vào thuở Đức Phật Đại Thông Trí Thắng. Vương Tử che đậy việc giảng dạy, liền lúc ấy là lúc Phát Khởi Chúng. Khi nghe pháp được đạo, tức lúc ấy là Đương Cơ Chúng. Khi nghe pháp chưa đắc độ, mà đời đời có căn duyên, làm cho nay có thể ở vào Thanh Văn Địa; lúc ấy gọi là Kết Duyên Chúng. Đức Phật ấy lúc còn ở đời có 46 chúng. Nay Phật đạo giống nhau, há có khác chăng?

Ở đây nói về Viên Giáo có 16 chúng. Ước Tam Giáo lại có ví dụ để rõ biết như thế. Theo Bổn Tích có thể rõ rằng: Theo Quán Tâm thì nghiên tầm cảnh giới mà quán. Tại danh tự quán ở hành vị trung; tức trở thành Kết Duyên Chúng. Vào Tương Tợ Vị tức thành Đương Cơ Chúng. Vào Phân Chơn Vị tức thành Phát Khởi Ảnh Hưởng Chúng v.v…

Vi nhiễu nghĩa là khi Đức Phật mới ra đời; người đời chưa rõ pháp, người ở cõi Tịnh Cư mới xuống hóa ra làm người; khi đến trước đi nhiễu, qua bên mặt và đảnh lễ. Lễ rồi liền ngồi xuống để nghe pháp. Do chư thiên cung kính mà loài người cũng làm vậy. Do nhơn duyên nầy mà giải thích như thế. Vi nhiễu cũng có nghĩa là đi có tính oai nghi. Điều nầy biểu thị cho 4 cửa căn bản đầy đủ khi thấy cái lý ấy tròn đầy. Dùng sự đầy đủ ấy để đối lại cái sơ sài; cho nên dùng ví dụ cho bốn nghĩa; tức là giải thích theo Giáo Môn vậy. Lại nữa, chung quanh thân Phật tướng hảo trang nghiêm. Nếu đi chung quanh chiêm ngưỡng thì tăng thêm sự nhớ nghĩ về Phật. Đây tức là giải thích theo lối quán tâm vậy. Nếu quán sắc thân của Phật thì liền thấy được pháp thân. Đây chính là lối giải thích của Bổn Tích. Kẻ cúng dường trải qua 3 nghiệp, đều là sự cúng dường. Cách nói khác là biểu hiện sự lễ bái ấy gọi là cung kính. Cho đến nhớ nghĩ chăm chú; gọi là tôn trọng. Khi nói lời hay đẹp gọi là tán thán. Sự bố thí là ý báo; gọi là cúng dường. Ở đây xin lược bớt. Đầy đủ hơn về việc nầy thì có nhiều kinh khác giải rộng hơn. Dùng bếp trời, hương trời, bình bát ở cõi trời để cúng dường. Rồi Đại Trang Nghiêm Bồ Tát cùng với tám vạn đại sĩ chắp hai tay lại, tức là sự cung kính. Một lòng chiêm ngưỡng được gọi là sự tôn trọng. Nói bảy lời kệ gọi là tán thán. Nay nói về chúng tập, để chỉ cho câu văn kia. Kinh kia nói chúng tập thuyết pháp, cảnh ấy nghiễm nhiên chẳng tan ra; tức là chỗ ngồi ấy, dùng để nói Pháp Hoa. Cho nên rõ biết ba nghiệp cúng dường, tức chẳng có gì sai khác. Dùng điều kia để giải thích rộng ra, còn ở đây lược bớt; nên đối với nghĩa riêng không có giải đáp.

Từ khi còn làm Bồ Tát nói kinh Đại Thừa cho đến khi Xá Lợi Phật và hiện Bảo Tháp. Đây là sự thị hiện tướng ban đầu. Ở đây Ngài hiện rõ 7 tướng. Nơi quốc độ nầy mở bày ra 6; còn nơi kia tổng thể có một. Ánh sáng ấy ở nơi đây và kia mỗi mỗi có 6 loại đoan nghiêm. Sáu loại ở đây động, tức là dùng để thuyết pháp độ người. Còn tịnh tức là nhập vào định để quán lý. Động tịnh là một cặp. Ở trên trời rải xuống 4 loài hoa và ở dưới đất có 6 loại chấn động. Trên dưới cũng là một cặp. Bên trong tâm đại chúng hoan hỷ; bên ngoài Như Lai phóng ra ánh sáng. Trong ngoài là một cặp, làm cho ý nghĩa tìm cầu hết sạch bởi ánh sáng ấy. Nếu chấp vào danh nghĩa thì dễ bị cái ý hiện ra, sẽ tự làm chỗ che khuất. Nay rõ chỗ trí định, nhơn quả cảm ứng làm ba cặp. Tri tức là chỉ cho việc nói nhiều. Định tức là đế duyên nghĩa xứ. Nhơn ấy là 4 loại hoa trời. Quả ấy chính là 6 nơi đất động. Cảm ấy tức là phát ra căn cơ Đại Thừa. Ứng ấy chính là chiếu rõ đầy đủ. Sáu loại nầy gọi là tướng đoan nghiêm. Theo câu văn giải thích thì nay hiện tướng như Bổn Đoan. Tướng đẹp ấy chỉ cho tướng của tai. Người đời phân biệt, dùng sự bí mật làm tướng đẹp lạ. Tướng ấy do báo gì? Theo lý sâu thì khó nói hết, khiến cho con người chẳng thể tôn trọng. Đầu tiên là do cái nhơn của dị tướng mà biến ra thường tình. Vì chỗ thường tình ấy mà sanh ra chỗ khiếm khuyết, thiếu sót. Cho nên gọi đây là dị tướng. Còn dùng chữ báo để giải thích cho tướng đẹp. Lược nói về sáu tướng đẹp để chỉ cho cái báo của 10 loại vi diệu.

Trong cảm ứng diệu đã nói rồi; nay liền nói về Đạo. Thuyết pháp đoan nghiêm tức là biểu thị cho báo thuyết pháp diệu, trí diệu.

Nhập định đoan là biểu thị cho báo hành diệu.

Rải hoa đoan nghiêm là biểu thị cho báo vị diệu.

Địa động đoan nghiêm là biểu thị cho báo cảnh giới diệu và thừa diệu.

Chúng hỷ đoan nghiêm là biểu hiện cho báo của quyến thuộc diệu và lợi ích diệu.

Pháp quan đoan nghiêm là biểu thị cho báo của cảm ứng diệu và thần thông diệu.

Cho nên sáu loại nầy đầy đủ gọi là hiện tướng ban đầu.

Nói kinh Đại Thừa – theo kinh Thiện Giới có 7 loại lớn.

Một là pháp lớn. Tức là 12 bộ Tỳ Phật Lược.

Hai là tâm lớn; nghĩa là cầu nơi quả vị Bồ Đề.

Ba là giải lớn; nghĩa là giải rõ Bồ Tát tạng.

Bốn là Tịnh lớn; nghĩa là thấy đạo tâm liền tịnh v.v…

Năm là trang nghiêm lớn; nghĩa là phước đức trí huệ vậy.

Sáu là thời lớn; nghĩa là 3 A Tăng kỳ kiếp vậy.

Bảy là Cụ Túc lớn; nghĩa là dùng tướng tốt tự trang nghiêm được quả giác ngộ vậy.

Sáu phần trước là Nhơn lớn và điều thứ bảy là Quả lớn. Nhơn lớn và Quả lớn hợp lại thành kinh điển của Đại Thừa. Nay nương theo 10 diệu nghĩa ở trong kinh để giải thích. Có vị Thầy bảo: Vô tướng và lý không là căn bản của Đại Thừa. Đối với 3 đời Như Lai không thiếu nên nói là không có 3 ấy thì chẳng thể làm tin. Cho nên nói vô tướng ấy lấy làm tựa của Pháp Hoa vậy. Các vị Thầy của Quán Tông đồng ý. Nếu mà trên danh nghĩa của Bát Nhã thì tất cả đều là lời tựa; cần gì là nhiều nghĩa. Giải thích rằng: Ở đây do chia ra 5 thời; cho nên sau nầy các thuyết khác mới khởi lên.

Lại hỏi rằng: Nếu là vô lượng nghĩa thì cùng với các kinh khác đều thông thoáng tương sanh, chẳng cần liên hệ và có bài tựa riêng. Vị Thầy cho rằng: Cái lý về không, nó vô hình; cho nên nói là vô lượng. Lời tựa, ý giống như trước, khó có thể như thế nầy (Ngài Ấn Quang) nói rằng: Lành vô tướng ấy có nghĩa là thành Phật; cho nên nói là vô lượng. Lại cũng nói rằng: Kinh kia chẳng nói: Có tam vô khác với tam hữu. Đại phẩm chẳng phải chỉ chỗ Pháp Hoa. Chỉ ở đây có nghĩa là chẳng đến được Tấu Địa. Ở đây kinh nầy là do vào thời Tông Nguyên Gia năm thứ 3 có vị Tỳ Kheo tên là Huệ Biểu ở chùa Triều Đình tại quận Nam Hải gặp Ngài Đàm Ma Da Xá và nhận được bản kinh nầy; sau đó trở lại chùa. Đến năm Vĩnh Minh thứ 3 mới bắt đầu truyền ra cho đời. Sau khi kinh đã được truyền rồi, há có thể trở lại Thiên Trúc. Cho nên Quang Trạch nói rằng: Vô lượng nghĩa ấy là trăm ngàn điều lành đều quy về và có thể thành Phật được. Pháp Hoa chánh lý thì không hai, không ba, phá ba trở về một, lấy làm khác. Cho nên lấy đây làm lời tựa. Nếu nói rằng trăm ngàn điều lành đồng về một thì hai, ba ấy sao lại chẳng trở về một? Hai, ba ấy nếu quy về lời tựa thì đúng chứ chẳng sai. Nếu nói phá hai, phá ba, tại sao lại không phá hàng vạn lần? Phá hai, phá ba tức là chẳng hai, chẳng ba. Nếu phá vạn lần thì chẳng có lời tựa nầy. Dùng kinh để ví dụ, ý ấy khác mà chẳng thành khác. Ý khác chẳng thể làm rõ lời tựa được. Nghĩa ấy lại chẳng thành. Lưu Trùng chú thích rằng: Vô tướng làm gốc, vô tướng của một pháp hàm chứa cái nghĩa chẳng thể lường được. Tức là hữu tướng, sao nói là vô tướng? Tìm đến các vị Thầy thì mỗi vị đều nói khác nhau. Nếu nói hữu tướng nghĩa là tướng lành thành Phật, thì nghĩa nầy theo ý trong Tam Tạng chăng? Nếu nói vô tướng là nghĩa lành được thành Phật, thì đây là ý của Thông Giáo chăng? Nếu nói là các pháp chức trong ấy chẳng thể lường được, thì đây là ý của Biệt Giáo chăng? So ra với các kinh kia, chỗ rõ ràng thì chẳng phải là ý của lời tựa Pháp Hoa chăng? Nếu luận về Pháp Hoa về 17 loại thí dụ, thì tất cả đều là tên khác của Pháp Hoa. Vô Lượng Nghĩa ở đây tức là một tên khác của Pháp Hoa vậy. Lúc bấy giờ do ý của Phật; nên liền nói điều nầy và nhập vào định. Cho nên có được lời tựa nầy. Nơi Đại Phẩm, Kim Quang Minh Niết Bàn, tất cả đầu tiên là xướng tên làm tựa chẳng có nghi ngờ hay hại gì. Nay kinh nầy Ngài Văn Thù dẫn lời của Phật xưa. Cho nên lại có tên là: Vô Lượng Nghĩa. Lại cũng còn gọi là Kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa. Ở đây cũng dùng lời tựa để gọi tên; cùng với ý của các luận sư giống nhau. Nay dùng kinh kia để giải thích. Vô Lượng Nghĩa ấy là từ một pháp mà sanh. Cho nên một pháp nầy vô tướng. Vô tướng, chẳng có tướng ấy gọi là thật tướng. Từ thật tướng nầy sanh ra vô lượng pháp. Cho nên nói là nhị pháp, tam đạo, tứ quả.

Bây giờ giải thích kinh văn nầy. Vô tướng ở đây nghĩa là không có tướng của sự sống chết. Bất tướng ấy là chẳng có tướng của Niết Bàn. Niết Bàn lại chẳng không; cho nên gọi là chẳng tướng không tướng. Chỉ cho Trung Đạo, lấy đó làm thật tướng. Nhị pháp tức là đốn, tiệm. Đốn ở đây nghĩa là Hoa Nghiêm đốn tất cả các pháp. Còn tiệm ở đây nghĩa là Tam Tạng, Phương Đẳng, Bát Nhã tất cả các pháp. Tam đạo có nghĩa là Tam Thừa. Tứ quả ấy là La Hán, Bích Chi Phật, Bồ Tát và Phật. Những điều nầy đối với các pháp gọi là vô lượng. Thật tướng làm nghĩa xứ là từ một nghĩa xứ nầy tạo ra vô lượng pháp; được vô lượng rồi, nhập vào một nghĩa xứ để tạo ra lời tựa nầy. Cũng giống như các vị bói toán, trừ những cách tính quay về một. Cách tính ấy do từ thấp; cho nên ngoài sự thấp ấy không có lời tựa. Từ một phái rồi thâu các phái khác về một. Khai mở ra rồi hợp chung lại làm Lời Tựa lại cũng như vậy. Như đây làm tiêu chuẩn để giải thích chẳng khác với những kinh luận kia. Ở đây kinh nầy hợp lại cũng giống như vậy.

Lại nữa Vô Lượng Nghĩa tán kệ làm rõ pháp thân hằng trăm loại chẳng giống nhau, cốt để làm gốc cho sáu chỗ chiếu sáng ấy. Phổ Hiền quán làm rõ chỗ: thường, lạc, ngã tịnh, bốn Ba La Mật trụ xứ. Trước sau hai câu văn ấy làm rõ cho Thường. Há ở giữa có Thọ Lượng mà là Vô Thường chăng? Ở kia khó nói lời tựa, rồi nói Thường, là điều chơn chánh gì nơi đạo? Bây giờ ngược lại cái khó kia, ở Niết Bàn lấy Thuần Đà làm Lời Tựa. Khi khai mở Thường Tông rồi thì chỗ chánh đạo là gì? Ở kia lại lấy ví dụ Tịnh gọi là Lời Tựa Kim Cang, vô vi vô số mà nói chánh, chẳng làm rõ Thường. Pháp Hoa lại cũng như vậy. Bây giờ trở lại phản nan. Thuần Đà làm Lời Tựa là Thường ở Niết Bàn; nhưng chánh ứng là vô thường. Nay nói lời tựa ấy là Thường. Còn chánh thường nghi ra sao đây? Giáo Bồ Tát pháp nghĩa là vô lượng nghĩa xứ dùng để dạy cho các Bồ Tát vậy. Nghĩa xứ tức là Đế Lý. Những câu văn phía dưới đều làm cho tất cả chúng, lại cũng cùng được đạo nầy.

Lại nói: Nếu ta gặp chúng sanh, dạy hết các Phật đạo, tức là ở ý nầy vậy. Phật sở hộ niệm nghĩa là vô lượng nghĩa xứ ấy Phật tự sở chứng được. Cho nên Như Lai hay hộ niệm. Câu văn tiếp theo nói: Phật tự ở nơi Đại Thừa. Tuy muốn khai thị; nhưng chúng sanh căn tánh trì lụt, trầm tư lâu dài là cần thiết, chẳng cần vội nói. Cho nên gọi là hộ niệm.

Phật nói kinh rồi, liền nhập vào Vô Lượng Nghĩa Xứ Tam Muội nghĩa là tướng của định huệ thành tựu. Chẳng phải thiền, chẳng có trí, trước tiên đều phải nhập định. Chẳng có trí, chẳng có thiền; cho nên trước phải nói pháp. Tức là từ trí mà định; tức định mà có trí tuệ. Trước sau ra vào chẳng có ngăn cách phá hoại.

Kẻ nghi cho rằng: Nếu nói Vô Lượng Nghĩa có thể nhập vào Tư Định thì khi nói kinh nầy rồi tại sao phải nhập định?

Giải rằng: Đầu tiên nhập vào định nầy, sau đó mới nói kinh, là điều có thể giải thích được. Nói kinh nầy rồi, lại nhập. Đây chính là vì Pháp Hoa mà tạo ra lời tựa chăng? Vì sao? – Nếu trước chẳng khai thì sau chẳng có chỗ hợp lại. Đầu tiên nhập vào chỗ mở định và vì hợp các định lại, mới tạo ra lời tựa. Gọi đây là đoan tướng, tức là ở nghĩa nầy. Nếu tạo theo thứ lớp thì trước phải nhập vào Vô Lượng Nghĩa Tam Muội rồi, sau đó mới nhập vào Pháp Hoa Tam Muội. Nếu làm cho rõ câu văn rồi, làm hiển lộ ra, tức mọi người đều rõ. Cần gì đến Di Lặc khuyên bảo Ngài Văn Thù. Cho nên phải rõ việc tạo lời tựa là nghĩa nầy chuyển thành sáng tỏ hơn.

Thân tâm chẳng động cùng với chỗ duyên vào tương ưng với nhau. Thân là gốc chỗ sâu xa như hư không. Tâm ấy là lý tánh cứu cánh thường tịch. Thân thể của Đại Thông Trí Thắng và tay chân tịch nhiên an tịnh chẳng có động. Tâm nầy thường lo sợ, mà chưa hề có tán loạn. Thân nếu là kim cương thì chẳng có sự chuyển động. Tâm nếu là hư không thì chẳng có sự phân biệt. Vô Lượng Nghĩa Xứ Tam Muội Pháp giữ nơi thân nầy; cho nên bất động vậy.

Gọi là vô lượng là định nầy tịch tịnh hay chiếu sáng, có thể rõ biết thế gian. Từ đây một pháp xuất ra vô lượng pháp. Nếu tạo nghĩa của lời tựa thì thân và pháp thể động vận, bây giờ lại làm cho chẳng cử động vận chuyển. Tâm và pháp thể phân biệt, bây giờ làm cho chẳng phân biệt. Nghĩa của lời tựa đã sáng tỏ rồi chăng?

Hỏi: Tướng đoan nghiêm ấy ở đây luận có khác. Sự thuyết pháp và nhập định của Phật là ý nghĩa thường hằng. Sao lại được đoan nghiêm?

Đáp: Thuyết pháp tuy xong rồi, mà chúng lại chẳng hiểu ra, có ý chờ đợi; cho nên biết rằng trước khi thuyết pháp hội chúng tập hợp đến chờ và sau đó nghe. Việc nầy đặc biệt kỳ lạ và khi hay nói khác nhau cái gì mà ý nói là chẳng đoan nghiêm? – Tuy nhập vào khai định, mà ý thì tại hợp định, cùng với thường nhập định có sự khác biệt. Ý nào không phải là tướng đoan nghiêm vậy?

Lại nữa theo Ngài Văn Thù thì Phật xưa có sáu tướng đoan nghiêm là việc nầy vậy. Nếu xưa chẳng có tướng đoan nghiêm thì bây giờ chứng so với xưa lại giống nhau. Đó chẳng phải là chuyện bình thường sao?

Trời mưa 4 loài hoa theo xưa nói là màu trắng lớn nhỏ và màu đỏ lớn nhỏ. Theo chánh Pháp Hoa nói: Đó là Ý hoa và Đại Ý hoa; Bồ Hưởng Hoa và Đại Bồ Hưởng Hoa. Theo Thích Luận quyển 99 nói rằng: Thiên Hoa Diệu ấy là tên của hoa Mạn Đà La. Lại nữa ở quyển 19 nói rằng: 800 vị Tỳ Kheo thành Phật và nơi nước ấy thường có mưa hoa Mạn Đà La năm màu. Xưa nói rằng: Mưa ấy có màu trắng lớn nhỏ, biểu thị cho hai chúng tại gia. Màu đỏ lớn nhỏ tượng trưng cho hai chúng xuất gia. Sự biểu thị cho việc nầy từ xưa đến nay; nhơn ấy là quả của vị lai. Nay với nghĩa nầy giải hẹp không thể được.

Nay nói ngay về bốn chúng. Theo trong Tam Tạng có 16 chúng đã chưa cùng, lại còn 48 chúng nữa. Cho nên gọi đây là hẹp. Phàm là tướng của hoa, riêng báo cho biết cái nhơn nầy. Tứ chúng ngày xưa đã đến rồi, là cái nhơn, sao lại còn có sự báo hiệu của hoa. Nếu sự báo hiệu là quả nầy, thì trời mưa là thật, sao lại phải mưa hoa; cho nên nói là chẳng thể. Nay nói mưa hoa là làm rõ cái việc xưa và nhơn ấy chẳng phải là nhơn Phật.

Trong Tam Tạng nói: Nhơn nầy là nhơn của Nhị Thừa.

Theo Thông Giáo thì nhơn đây là cộng nhơn. Theo Biệt Giáo thì đây là cái nhơn của Bồ Tát; tất cả chẳng là cái nhơn của Phật. Bây giờ mưa hoa từ cõi trời là hậu báo rộng được cái nhân Phật. Nhơn Phật tức là nguyên nhơn của bốn bánh xe.

Hoa trắng nhỏ tượng trưng cho bánh xe bằng đồng, huân tập chủng tánh, khai mở tri kiến Phật.

Hoa trắng lớn tượng trưng cho bánh xe bằng bạc, huân tập chủng tánh 10 hạnh, để chỉ cho tri kiến của Phật.

Hoa nhỏ màu đỏ, tượng trưng cho bánh xe bằng vàng, huân tập đạo chủng tánh 10 hồi hướng, ngộ Phật tri kiến.

Hoa lớn màu đỏ, tượng trưng cho bánh xe bằng lưu ly, là thánh chủng tánh của 10 địa, nhập vào Phật tri kiến.

Bốn bánh xe ở đây tất cả đều giống nhau, là nguyên nhân. Những nhơn nầy do trong ấy sanh ra. Cho nên từ cõi trời mà có mưa. Do nguyên nhơn nầy; cho nên lấy hoa làm biểu tượng. Với nhơn nầy có nghĩa là tạo ra cái quả của nơi chốn; cho nên rải hoa lên trên Phật. Đây là nhơn và quả, ai là người có thể cảm nhận được. Nơi vườn của Thái Tử Kỳ Đà các chúng câu hội lại; cho nên nói là cùng với Đại Chúng. Từ phía dưới tiếp theo Ngài Văn Thù giải thích những điềm nghi. Thổi pháp loa lớn tuyên dương 4 câu, lại nói thẳng về khai, thị, ngộ, nhập. Lại cùng với xe lớn dạo đi bốn phương; mỗi mỗi đều theo ý nghĩa từng nơi một. Cho nên rõ biết hoa ấy tượng trưng cho nhơn vị vậy.

Hỏi: Bốn bánh xe ấy có nghĩa là biệt vị, thì cái nào được gọi là viên vị?

Đáp: Tên là Thông; nghĩa là Viên. Bên trên không có chỗ mất, hà huống là danh biệt, nghĩa Viên, mà chẳng được dùng đến sao?

Hỏi: Biệt nghĩa Hiền Thánh, Viên lại cũng có sao?

Đáp: Đây là nghĩa đen. Nếu nói 4 loại hoa đều rải xuống từ trời là biểu hiện của 4 chúng thì sẽ thành một cái nhơn. Như theo đây mà giải thích thì, theo xuất Tam Tạng nghĩa, chưa ra khỏi cái nghĩa của Thông Giáo. Nếu nói 4 chúng đều đồng với Bồ Tát thì sự giải thích nầy xuất phát từ ý nghĩa của Thông Giáo, chưa ra khỏi nghĩa của Biệt Giáo, lại chẳng phải là cái nhơn của Phật. Tất cả chẳng phải là ý của Pháp Hoa vậy. Ý của Pháp Hoa như trước đã nói rồi là cùng với thế giới của Phật, đất đai có 6 loại chấn động.

Sách xưa nói rằng: Sự chấn động ấy là Tam Thừa; con người quyết định 6 loại chấp trước về nhơn quả. Đây chính là phá Tam Tạng gia, 3 Thừa và 6 Chấp. Chưa phá được Thông Giáo 3 Thừa 6 Chấp. Thông Giáo cho rằng pháp ấy có 3 loại đồng nhau là con người, nhơn và quả. Nếu cho rằng con người và nhơn quả có sai khác, thì ở đây giống và khác nhau đều bị phá cả. Theo những người xưa thì cái ý phá ấy, chẳng phá được điều nầy.

Biệt Giáo không có tên Tam Thừa; cho nên không có 6 việc chấp. Chỗ xưa chẳng thể phá. Bây giờ làm rõ cái nhơn của những nhà Biệt Giáo là 3 pháp ngang dọc. Cái quả của 3 pháp ấy cũng ngang dọc. Ở đây liền bị phá. Bây giờ giải thích về đất có 6 loại chuyển động. Sự biểu hiện của những nhà giải thích về Viên Giáo là 6 loại ấy phá trừ vô minh. Vô minh ấy che lấp, chưa từng xâm hủy; cho nên sẽ phá hoại. Do vậy mà đất động. Đây là biểu tượng. Vô minh nếu chuyển, tức sẽ biến thành sự sáng suốt. Cho nên cùng với thế giới của Phật, sáu loại đều chấn động. Sáu loại ấy biểu trưng cho trụ, hạnh, hướng, địa v.v… (Thập trụ, thập hạnh, thập hồi hướng, thập địa). Sánh cùng với sáu loại diệu kia.

Theo Kinh Ưu Bà Tắc Thanh Tịnh Hạnh nói rằng: Lúc Bồ Tát sanh thì đất chấn động, để chỉ cho sự sanh nầy đã hết, không còn phiền não nữa. Tất cả chúng sanh, đều được đạo. Phiền não sẽ diệt; cho nên động. Chính là nghĩa nầy vậy.

Bổn Tích giải thích rằng: Như Văn Thù trích dẫn theo Phật xưa để giải đáp chỗ nghi. Chỗ thâm mật là được cái ý nầy; tức là cái gốc của thức. Chẳng có nghĩa là vị Phật xưa kia hiện ra tướng đoan nghiêm, mà cái gốc của Thế Tôn chúng ta lại cũng đoan nghiêm như vậy. Chẳng phải bây giờ khác với kia v.v…

Quán hạnh nghĩa là lục căn động. Tướng của đất cứng cáp như lục căn băng, chấp chưa từng vào con đường của Đại Thừa, động khó động được đất. Biểu tượng của tịnh chưa tịnh được căn. Phía Đông trồi, phía Tây sụt xuống. Phía Đông chính yếu thuộc về gan, gan là chủ của con mắt. Phía Tây chính yếu là phổi, phổi là chủ của lỗ mũi. Điều nầy biểu hiện cho công đức của nhãn căn và phiền não của tỉ căn sanh ra hỗ tương còn mất với nhau. Tỉ căn công đức cùng với phiền não của mắt hỗ tương sanh ra sự hỗ tương và tiêu diệt. Các phương khác trồi lên sụp xuống biểu hiện cho sự sanh diệt lại cũng như vậy.

Sáu động ấy là: Khi tiếng động ấy khởi lên, địa chấn nổi lên và biết được tiếng ấy. Mỗi một trong ấy lại có ba. Nghĩa là cái động bên ngoài, động cùng với bên ngoài và động ngang với động ấy làm động. Bốn châu thiên hạ động ấy là động bên ngoài. Đại Thiên động ấy là động cùng với bên ngoài, cùng với 5 loại khác cũng như thế. Cộng lại thành 18 loại động. Đây tức là sự biểu thị làm cho thanh tịnh 18 giới vậy v.v…

Thứ đến làm cho đại chúng rõ tâm hoan hỷ đoan nghiêm. Mọi người thấy mưa hoa và đất chấn động, rõ biết nước Cam Lồ rưới xuống nên bên trong hân hoan vui mừng. Điều nầy biểu thị cho căn cơ lớn sẽ phát hiện và cảm đến việc lành.

Hỏi: Kẻ vui buồn thường tình, sao có thể được chỗ đoan nghiêm ấy?

Đáp: Hoa trời làm cho mắt vui và đất động nên tâm chuyển đổi.

Đại Kinh nói rằng: Lúc động có thể làm cho tâm chúng sanh động. Hoa ở trên đất là sắc đẹp bề ngoài. Tâm vui là cái đẹp bên trong. Niềm vui ấy thật kỳ lạ, xưa nay chưa từng có. Nhưng mà chẳng phải vì sự vui nầy mà động. Nhưng có thể một lần nhìn Phật làm sao chẳng được sự đoan nghiêm. Nếu nói là vì vui mừng nên tâm động thì trời người nằm ở nghĩa nầy. Nếu vui mà động chơn đế tâm vô lậu thì đây thuộc về nghĩa của Tạng Thông vậy. Nếu niềm vui động ấy thuộc về tâm giả thì thuộc về biệt nghĩa vậy. Nếu niềm vui động ấy là tâm thật tướng thì thuộc về viên nghĩa vậy.

Tiếp đến là làm rõ việc Phật phóng quang đẹp lạ. Tức là biểu thị ứng cơ thiết giáo, phá trừ nghi hoặc.

Tướng lông trắng đầy đủ các loại công đức. Theo kinh Quán Phật Hải Tam Muội nói rằng: Lúc Phật mới sanh lông trắng ấy dài 6 phân. Khi đi thì một trượng bốn xích. Khi thành Phật thì lông trắng ấy dài một trượng năm xích. Lông nầy bên trong trống rỗng như ống lưu ly trong suốt. Trong ngoài thấy rõ. Từ lúc mới phát tâm cho đến thời gian giữa đó và thị hiện nhiều tướng mạo cho đến khi nhập Niết Bàn. Tất cả những công đức đều hiện ra nơi lông trắng nầy. Lông nầy nằm giữa hai chơn mày. Điều nầy thường là để chỉ cho Trung Đạo. Tướng nầy mềm mại biểu hiện cho niềm vui. Tới lui tự tại biểu thị cho cái ta. Màu trắng tượng trưng cho sự thanh tịnh. Phóng hào quang phá đi màu tăm tối biểu tượng cho nơi Trung Đạo sanh ra trí tuệ. Ánh sáng ấy chiếu lên đất nầy và đất kia biểu thị cho sự tự giác và giác tha. Lại nữa Nhị Thừa tuy đạt được Nhị Đế; nhưng chẳng rõ được Trung Đạo. Như có hai hàng mi mà chẳng thấy lông trắng. Biệt Giáo tuy rõ biết Tam Đế; nhưng chẳng thể rõ biết tất cả pháp của lông trắng nầy. Cho nên phải biết từ đầu đến cuối những việc trong pháp giới, tất nhiên đều hiện tướng lông trắng bên trong. Tức là biểu hiện cho ý của Viên Giáo. Lại nữa các kinh điển nói về sự phóng quang chẳng giống nhau. Theo Đại Phẩm thì từ tướng hàng ngàn hình bánh xe dưới bàn chân cho đến trên nhục kế, mỗi mỗi đều phóng quang sáu vạn ức thứ ánh sáng, khó thể nói cho cùng được.

Kinh lớn nói về phương tiện phóng quang. Kinh nầy nói về tướng lông trắng phóng quang có nhiều duyên khác nhau chẳng giống. Lại nữa khi thâu lại ánh sáng cũng chẳng giống nhau. Kinh Dục Vương nói rằng: Nếu hiện ra từ vai để chỉ cho việc quá khứ; hiện ra từ phía trước, tượng trưng cho việc vị lai. Khi chẳng thấy thì biết rằng việc hiện tại. Riêng nơi hông là việc của hiện tại. Từ chân tức là địa ngục. Từ đầu gối là súc sanh. Dưới bụng thuộc về ngạ quỷ. Từ ngực cho loài người. Hiện ra nơi cánh tay trái để chỉ cho Thiết Luân Vương. Hiện ra nơi tay phải chỉ cho Kim Luân Vương và chư thiên. Nhập vào rốn là Thanh Văn, nhập vào mông là Viên Giác. Tướng bạch hào ấy nhập và nhục kế là Phật và Bồ Tát, rồi từ đó phóng ra ánh sáng trắng. Còn những câu văn giải thích về việc thâu lại ánh sáng thì lược bớt.

Lại giải rằng: Sự phóng hào quang chiếu soi hiện tại rồi thu giữ ánh sáng ấy cho việc của tương lai. Kinh nầy luận nói về đất ở đây và đất ở kia cùng với chư Phật giống nhau. Cho nên nói đúng về việc phóng quang. Nếu giải rằng cùng chư Phật giống nhau, tức là khai, thị, ngộ, nhập. Cùng với việc vận hành rộng rãi của việc phóng quang rồi thâu lại ánh sáng ấy là chỗ nương tựa. Cho nên ở đây lược bớt, chẳng nói hết.

Nếu là Phật phóng quang một trượng sáu, tức là theo nghĩa của Tam Tạng vậy. Nếu Phật cùng với các vị Phật khác phóng quang một trượng sáu, tức thuộc nghĩa của Thông Giáo vậy… Nếu chỉ riêng một vị Phật khác phóng quang; tức thuộc nghĩa của Biệt Giáo. Nếu Phật dùng một trượng sáu để phóng quang, tức là dùng thân của Tỳ Lô Giá Na pháp thân, thuộc ý nghĩa của Viên Giáo.

Xưa nói rằng: Đây là 16 loại đoan nghiêm cho đến cõi Trời Nị Ngật. Bây giờ theo dấu câu văn thì ánh sáng ấy chiếu ra từ phía Đông đến 8.000 cõi đất. Tức là cõi kia có 6 loại tướng đoan nghiêm. Che khuất là do con người vậy.

Xưa nói rằng: Thật ra ánh sáng ấy chiếu đến 10 phương. Chiếu từ phía Đông nghĩa là biểu hiện cho nhân quả của một thừa. Đây chính là cái nhơn bên trên. Hằng vạn ấy là số lượng đầy đủ để chỉ cho quả vị viên mãn. Số 8.000 ấy không trọn vẹn là biểu tượng của nhơn quả chưa đầy đủ. Nếu chiếu từ phương Đông, nghĩa ấy đầy đủ rồi, liền chiếu 9 phương khác, lại để biểu hiện cho việc gì đầu tiên làm sáng tỏ ở phương Đông, là biểu hiện của Thập Trụ, là địa vị đầu tiên của Tích Môn thuyết pháp sanh thiên Bồ Tát, hẳn nhiên thấy được lý nhập nơi Thập Trụ và khai mở Phật tri kiến cùng với lúc đầu, tức là rõ biết về sau. Cho nên nói là chẳng đầy đủ khắp nơi. Do vậy rõ biết các phương khác cũng lại như vậy. Các quả vị cũng lại như vậy. Nếu dùng Bổn Môn để thuyết pháp thì 4 phương Phật vân tập, tức là biểu hiện cho Bổn Môn thuyết pháp, pháp thân Bồ Tát tăng đạo, chưa sanh vào Tứ Vị thì sẽ tăng trưởng vậy.

Theo Quán Kinh giải thích rằng: 18.000 ấy là ước chừng của 18 cảnh giới. Luận về 100 pháp giới thì có 1.000 tánh tướng; tức là 18.000. Những cảnh giới nầy Phật huệ chưa được khai mở, bây giờ sẽ được khai. Cho nên lấy con số ấy để làm biểu hiện vậy.

Theo Kinh Văn cho rằng: Từ cõi địa ngục A Tỳ cho đến cõi Trời Hữu Đảnh, tức là 6 pháp giới, lại thấy chư Phật, Bồ Tát, Tỳ Kheo v.v… Ở đầy nơi 10 cõi. Cho nên câu văn nầy nói rằng: Chẳng đầy khắp, tức là ở ý nầy. Nếu phân câu văn riêng lẽ ra đất nầy thuộc đất có 6 tướng. Nếu thuộc về đất kia, tức là tướng tổng quát, chiếu đến đất kia.

Tiếp đến làm rõ sự chiếu sáng ở đất kia về 6 việc đoan nghiêm. Một là thấy 6 cõi; hai là thấy chư Phật, tức là bên trên Thánh, bên dưới phàm là một cặp; ba là nghe Phật thuyết pháp; bốn là thấy tứ chúng đắc đạo, tức là người và pháp một cặp; năm là thấy thực hành Bồ Tát hạnh; sáu là thấy Phật nhập Niết Bàn, tức là có thể hóa Phật. Có Phật tức là có thuyết pháp. Khi thuyết pháp tức là có đệ tử. Đệ tử tức là bắt đầu có việc làm. Khi có bắt đầu tức là có cuối cùng. Nếu đất nầy có 6 việc đoan nghiêm thì tất cả chúng sanh đều sẽ được tự giác. Đất kia với 6 đoan nghiêm kia, chúng sanh tất cả sẽ được giác tha. Lại nữa ở đây và kia với 6 trang nghiêm ấy là biểu thị cho Phật ở đây và kia cùng một con đường với nhau. Từ chỗ thấy hết nơi đất kia 6 cõi chúng sanh cho đến hành Bồ Tát đạo là thị hiện đất kia rồi cùng với đất nầy giống nhau. Từ đó lại thấy chư Phật, phía dưới đến 7 tháp báu. Thị hiện ở đất nầy tức cùng với đất kia giống nhau. Ở đây lược bớt.

Lại nói rộng ra. Từ đó lại thấy chúng sanh nơi 6 cõi. Vị Phật kia thị hiện ở đời ngũ trược; cho nên xuất hiện ra nơi đời. Vị Phật nầy lại cũng như vậy. Ở hai cõi xuất thế giống nhau. Lại nghe chư Phật nói các loại kinh. Vị Phật kia thị hiện, đầu tiên từ vô tướng một pháp; không đốn mà đốn cùng với cõi nầy nói Hoa Nghiêm, ý ấy giống nhau. Từ việc thấy các Tỳ Kheo đến việc thị hiện Phật kia chẳng giảm mà giảm cùng với Phật ở quốc độ nầy lần lượt diễn nói Tam Tạng, ý ấy giống nhau vậy.

Từ chỗ lại thấy chư Bồ Tát trở đi và sau vị Phật Tam Tạng kia, nói Phương Đẳng, Bát Nhã và những kinh khác. Cùng với Phật Tam Tạng sau ở quốc độ nầy, ý giống nhau. Từ câu lại thấy chư Phật trở đi, cho đến bảo tháp hiện lên. Sự thị hiện của vị Phật kia, sau phần Bát Nhã là khai quyền hiển thật, thâu giữ vô lượng pháp, rồi trở lại nhập vào một pháp, gọi là nhập Niết Bàn, liền hóa hiện ra bảo tháp. Ánh sáng chiếu đến nước kia trước sau rốt ráo rõ ràng trước mắt. Nên biết đất kia từ một sanh ra vô lượng; không đốn mà đốn; không tiệm mà tiệm. Việc nầy hoàn tất. Hiển nhiên thâu vô lượng pháp rồi trở lại nhập vào một pháp, khai quyền hiển thật, liền trở về chơn, cùng với quốc độ kia giống nhau vậy.

Lại nữa đủ loại nhơn duyên, xưa kia do nhơn lành mà nay giáo hóa làm duyên. Nói cách khác. Đó chính là sau Tam Tạng, cùng làm sáng tỏ hay chẳng cùng với Bát Nhã là nhơn và các trợ đạo giới, định, huệ làm duyên. Cùng với 3 người tức là có nhiều loại nhơn duyên. Lại cùng với hay không cùng với con người, đủ loại nhơn duyên; đủ loại tướng mạo. Cùng với hay không cùng với mỗi mỗi Tứ Môn. Mỗi mỗi môn lại có vô lượng tướng mạo. 500 Tỳ Kheo mỗi mỗi nói về nguyên nhơn của thân; tức là nghĩa nầy vậy. Chẳng cùng với Tứ Môn lại cũng như vậy. Cho nên rõ biết nguyên nhân tướng mạo đủ loại sai biệt khác nhau. Tất cả nơi đây đều giống với kia. Ở kia làm rõ tướng nầy; nhơn duyên tướng mạo trở lại nhập vào một nhơn, một duyên, một tướng, một mạo. Nên biết rằng ở đất nầy lại cũng giống như đất kia.

Lúc bấy giờ Đức Di Lặc lại nghĩ rằng: Việc nầy nên hỏi ai về điều nghi ngờ nhớ nghĩ ở lời tựa nầy? Câu văn nầy có hai. Một là Di Lặc nghi ngờ; hai là Đại chúng nghi ngờ. Ngài Di Lặc có 3 sự nhớ nghĩ. Một là chánh niệm lục đoan; hai là nhớ nghĩ để hỏi ai; ba là nhớ đến Ngài Văn Thù. Khi mà khởi lên sự nhớ nghĩ đến Ngài Văn Thù thì niệm thứ hai mất đi. Chỉ còn lại một điều nghi.

Thần biến có nghĩa là thần lực bên trong biến ra bên ngoài. Tên của Thần là tâm của Trời; tức là trí huệ bên trong của thiên nhiên đất trời. Biến ấy gọi là biến động; tức là lục đoan ngoại ảnh. Thủ Lăng Nghiêm nói: Phật trụ ở pháp bất nhị; hay tạo ra thần thông, qua khỏi tất cả sự che đậy của pháp vương và pháp lực; chẳng thể đo lường sự biến đổi bên ngoài được. Lại chẳng rõ biết được trí tuệ bên trong. Cho nên cùng với sự liên tưởng kia để đến nơi nầy. Nếu là người thường thì sẽ chẳng rõ biết người có xảo thuật. Kẻ tán loạn không thể rõ biết người định tỉnh. Người phàm không thể rõ biết được các bậc Thánh. Bậc Thánh nhỏ không thể rõ biết được các bậc Thân Tử, Thân Tử chẳng biết rõ được Bồ Tát. Bồ Tát chẳng rõ biết hết các vị Bổ Xứ. Bổ Xứ chẳng thể rõ hết được chỗ Tôn Cực. Cuối cùng nơi Cực Xứ nầy lại cũng chẳng thể rõ biết hết vậy. Lại nữa khi Ngài Di Lặc gặp Phật, liền trồng nhiều căn lành, chẳng lẽ không rõ biết ít nhiều sao, cho nên liền ẩn chỗ sáng, chỉ chỗ tối; nói lời quyền biến, chẳng rõ biết vậy.

Đại Chúng có 2 sự nhớ nghĩ. Một là chánh niệm lục đoan và hai là nhớ đến để hỏi ai. Nếu theo câu kệ dưới để nhớ lại điều nầy thì lại có 3 loại nhớ nghĩ. Kệ rằng: Bốn Chúng vui mừng chiêm ngưỡng duyên lành và ta. Nếu không có niệm thứ ba thì làm sao có sự chiêm ngưỡng về nhân duyên ấy. Ở trong nầy lại chẳng có gì. Muốn được bổ xứ, trước phải ở đây vậy.

Lời xưa giải rằng: Trước có 3 ý. Một là Bổ Xứ: hai có 3 niệm; ba là hay tạo ra nghi vấn. Chính vì nghĩa nầy cho nên Đại Chúng thiếu đi một niệm.

Hỏi: Văn Thù, Di Lặc về cái đức thì giống như ngôi hai. Vì sao lại mỗi một câu hỏi là một lời đáp.

Đáp: Phàm là căn cơ thì lập nơi không. Còn ngôi vị tuy chi tiết, nhưng chủ khách khác nhau. Những bậc Thánh không nhờ cơ duyên thưa hỏi thì chẳng đáp được. Lại nữa pháp môn có quyền thật. Quyền bổ xứ đầy đủ. Vấn thật ấy đủ để đáp. Lại nữa Tích lại có xa, gần; gần hỏi, đáp xa. Lại có tên tiện nghi, dễ dãi. Di Lặc gọi là Từ. Từ đây tức là làm cho chúng sanh nên biết hỏi. Văn Thù tên là Diệu Đức. Đức ấy là nên đáp lại đầy đủ. Đây chính là ý của bốn loại Tiêu Văn vậy.

 

Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Văn Cú (Hết quyển hai, phần dưới)

Pages: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10