Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

ÐỊA TẠNG BỒ TÁT BỔN NGUYỆN KINH GIẢNG KÝ

Tập 15 (Số 14-12-15)

          Xin mở kinh bản, quyển trung, Phẩm thứ năm: Danh hiệu của địa ngục, xin xem kinh văn:

PHẨM THỨ 5: DANH HIỆU CỦA ĐỊA NGỤC

          Nhĩ thời Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát bạch Địa Tạng Bồ Tát ngôn: Nhân giả nguyện vi thiên long tứ chúng cập vị lai hiện tại nhất thiết chúng sanh thuyết Sa Bà thế giới cập Diêm Phù Đề tội khổ chúng sanh sở thọ báo xứ địa ngục danh hiệu cập ác báo đẳng sự.  Sử vị lai thế mạt pháp chúng sanh tri thị quả báo.

          Lúc đó Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát nói với Địa Tạng Bồ Tát rằng: “Thưa Nhân giả, xin ngài hãy vì trời, rồng, tứ chúng và tất cả chúng sanh ở hiện tại cùng vị lai mà nói rõ danh hiệu của các địa ngục, nơi thọ báo của các chúng sanh tội khổ ở thế giới Sa Bà và cõi Diêm Phù Đề, cùng những sự ác báo để cho chúng sanh trong thời Mạt pháp ở đời sau biết rõ những quả báo đó.”

            Đến đây là một đoạn.  Đoạn này là do Phổ Hiền thỉnh nói, phía trước đã giới thiệu qua ‘nghiệp duyên, nghiệp hoặc’, sau hai phẩm này, đối với những khổ báo của hết thảy chúng sanh tạo ác nghiệp trên thế gian cảm được thì chúng ta cũng đã hiểu một phần rồi.  Trong đoạn kinh này, Phổ Hiền Bồ Tát đại từ đại bi thay chúng ta thỉnh pháp, thỉnh cầu Địa Tạng Bồ Tát nói đại khái, sơ lược những tội báo này cho chúng ta biết.  Không chỉ chúng ta hy vọng hiểu rõ, mà lục đạo chúng sanh trong thế giới Sa Bà bao gồm chư thiên, bát bộ quỷ thần [đều hy vọng hiểu rõ].  Vì những chúng sanh này trước mắt là hưởng thọ phước báo, phước báo của thiên nhân, nhưng phước cõi trời hưởng hết rồi thì phải làm sao đây.  Mỗi chúng sanh hoặc là [chỉ] nói về mỗi con người, không phải chỉ có sanh mạng trong một giai đoạn này mà thôi, chúng ta nhất định phải hiểu rõ điều này.  Chúng ta có đời quá khứ, quá khứ vô thỉ, chúng ta còn có đời vị lai, vị lai vô chung, những năm tháng vô thỉ vô chung này chẳng có cách chi tính đếm nổi.  Ngày nay chúng ta nói về con số thiên văn, con số thiên văn so với vô thỉ vô chung cũng còn khác xa vời vợi, tội nghiệp tích lũy từ vô lượng kiếp đến nay cũng là vô lượng vô biên.  Quả báo ở giai đoạn này là hạnh nghiệp của chúng ta đã tạo từ vô lượng kiếp, nghiệp nhân nào gặp được duyên thì sẽ hiện ra, [nói chung] là sự việc như vậy.

          Người không học Phật chẳng hiểu rõ, chẳng thấu hiểu những chân tướng sự thật này; Phật đã nói với chúng ta thật rõ ràng, lời Phật nói có đáng tin không?  Lời Phật nói là thiệt hay không?  Chỗ thù thắng, cao minh nhất trong giáo học của Phật là Ngài dạy chúng ta chứng thật, ngài nói với chúng ta chuyện như vậy, kêu chúng ta tự mình đi chứng minh, như vậy thì không giả rồi.  Phật chẳng có nói: ‘Những gì ta nói là thật thì nhất định phải là thật’, Phật chẳng nói như vậy.  Phật nói xong, bạn có thể tự mình chứng thật.  Dùng phương pháp gì để chứng thật?  Phật dạy phương pháp cho bạn, bạn tự cầu chứng.  Lục đạo, thập pháp giới đều là thật, Nhất Chân pháp giới cũng là thật, bạn có thể chứng thật.  Khỏi phải  nói đến những tội nghiệp đã tạo trong đời này, những tội nghiệp đã tạo trong nhiều đời nhiều kiếp về trước [cũng quá nhiều rồi], cho nên đến lúc phước cõi trời hưởng hết, tội nghiệp tích lũy từ những đời quá khứ vẫn còn thì đâu có lý nào chẳng đọa lạc được?  Trong các cảm ứng trong mười pháp giới thì cảm ứng ác nhiều hơn, cũng tức là ác duyên nhiều, thiện duyên ít.  Nếu bạn không tin lời này thì cũng chẳng khó chứng thật; bạn hãy suy tư, trắc lượng kỹ càng.  Trong đời sống hiện tiền của chúng ta, từ sáng đến tối những người, sự, vật mà chúng ta gặp gỡ đều là duyên, trong đó thiện duyên nhiều hay ác duyên nhiều?  Ngoại duyên bên ngoài khơi lên ý niệm trong tâm của chúng ta, lục căn chúng ta tiếp xúc cảnh giới lục trần bên ngoài, chúng ta khởi tâm động niệm là ác niệm nhiều hay là thiện niệm nhiều?  Bạn bình tĩnh suy tư thì sẽ hiểu rõ.  Nếu từ sáng đến tối, ác niệm của chúng ta nhiều hơn thiện niệm, thì đời sau bạn sẽ sanh đến đâu?  Đó không phải là sẽ đi vào tam ác đạo hay sao, đâu cần phải hỏi người khác!  Chẳng cần phải hỏi ai khác, chẳng cần hỏi Phật, Bồ Tát, tự mình biết rõ ràng, minh bạch.

          Trong một ngày, từ sáng đến tối nếu chúng ta có thể giữ được thiện niệm nhiều hơn ác niệm thì chúng ta mới nắm chắc không đọa tam ác đạo.  Sự nắm chắc này cũng không hoàn toàn hết mười phần, tại sao?  Lúc lâm chung bạn có thể nắm chắc hay không?  Lúc bình thường có thể nắm chắc, nhưng lúc lâm chung nắm không chắc thì vẫn phải đọa lạc.  Do đó mới biết chuyện này thật là khó, lúc bình thường phải tập luyện, tại sao?  Lúc bình thường rèn luyện thì đến lúc lâm chung mức độ có thể nắm chắc nhiều hơn; nếu lúc bình thường không chịu rèn luyện thì đến lúc lâm chung mức độ nắm chắc sẽ rất ít, chúng ta phải hiểu đạo lý này.  Cổ đức có thí dụ, đó là ‘luyện binh ngàn ngày chỉ để dùng trong một chốc mà thôi’, lúc bình thường phải rèn luyện, đến phút cuối cùng có thể đánh thắng hay không thì chưa chắc.  Nhưng nhất định phải rèn luyện thì khi đánh trận mới có cơ hội thắng trận.  Nếu lúc bình thường không rèn luyện thì lúc ra trận chắc chắn sẽ bị đánh bại.  Lúc bình thường rèn luyện, trong các buổi giảng chúng ta đã nói rất nhiều.  Đặc biệt là thời gian gần đây, hoàn cảnh sinh sống của chúng ta trên trái đất này, địa cầu là đại hoàn cảnh sinh sống của chúng ta xảy ra nhiều tai biến khác thường, thiên tai nhân họa rất nhiều, số lượng mỗi năm càng tăng, mỗi lần xảy ra càng nghiêm trọng hơn trước; chúng ta nghe báo cáo ở nhiều địa phương đích thật làm cho thân tâm con người đều chẳng yên, sanh hoạt trong lo sợ.  Ngày nay mọi người đều hỏi chúng ta đi đâu để tránh nạn?  Chẳng có một nơi nào trên thế giới này an toàn hết, bạn đi đâu được?  Đi đâu cũng vậy.  Một ngày trước lúc lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam vãng sanh, hay là hai ngày trước, ngài nói với học trò: “Tai nạn đã đến, Phật, Bồ Tát, thần tiên cũng cứu chẳng nổi, chỉ có một con đường sống sót duy nhất là chắc thật niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ”.  Lời dặn dò lúc lâm chung của ngài khuyên nhắc học sinh chúng ta, chẳng có đường nào thoát được, chẳng có chỗ nào có thể trốn được.

          Tai nạn hình thành như thế nào?  Do cộng nghiệp của chúng sanh cảm đến, chẳng giác ngộ; đức Phật đã nói rõ ràng, minh bạch, chẳng có người tin, chẳng có người chịu tiếp nhận, cho rằng lời Phật nói là mê tín.  Người hiện đại đều tin khoa học, tin vào y cứ trong khoa học, nếu lỡ khoa học nói sai một câu thì làm sao đây?  Sự thiệt hại sẽ chẳng nhỏ.  Chúng ta biết được trí huệ của đức Phật có được từ trong thiền định, điều này chẳng phải giả.

          Phật nói với chúng ta mỗi người đều có trí huệ, năng lực này, ‘nhưng vì vọng tưởng chấp trước nên chẳng thể chứng được’, cho nên mục đích của lời Phật dạy là muốn chúng ta chứng được.  Phật nhìn thấy, bạn cũng có khả năng nhìn thấy, đức Phật hiểu rõ, bạn cũng có khả năng hiểu rõ, ngày nay tại sao bạn không hiểu rõ?  Tại sao nhìn chẳng thấy?  Phật nói vì bạn có vọng tưởng, có phân biệt, có chấp trước.  Chỉ cần xả bỏ vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, xả hết sạch sành sanh thì bạn sẽ nhìn thấy thấu suốt diện mục chân thật của hư không pháp giới, vậy thì còn phải nghe người khác nói nữa ư?  Đến lúc đó những gì bạn nhìn thấy, bạn tiếp xúc đến chẳng khác những gì chư Phật Như Lai đã nói.  Thế nên Phật là ‘người nói lời chân thật, lời thật sự, lời đúng như vậy’[1].  ‘Như ngữ giả’ nghĩa là sự thật ra sao thì nói như vậy, tuyệt chẳng thêm cành, thêm lá, và cũng chẳng nói giảm bớt một chút, lời nói hoàn toàn phù hợp với chân tướng, sự thật, như vậy gọi là ‘như ngữ’. Chẳng có nói dối, chẳng có lừa dối, câu nào cũng đều chân thật, thành thật.

          Thế nên chư thiên cũng muốn nghe, phước báo của thiên nhân tuy lớn nhưng nên nghĩ đến lúc phước báo hưởng hết thì phải làm sao?  Họ phải hiểu rõ đạo lý này, họ có thể tu phước tiếp tục mãi mãi, làm cho phước báo của họ kéo dài, chẳng đến nỗi phước hưởng hết rồi phải đọa lạc.  Nhưng chúng ta biết, đây là lời đức Phật nói trong kinh, người hưởng hết phước trời đọa lạc rất nhiều, người có thể tu phước tiếp tục chẳng đọa lạc thì rất ít; nói thật ra cũng giống như cõi người chúng ta.  Người thật sự tin Phật pháp, thiện căn sâu dầy, có trí huệ, tuy hưởng phước báo nhân thiên, vẫn tu phước, tích phước không ngừng nên phước của họ có thể hưởng nhiều đời, hưởng phước nhiều đời nhiều kiếp.

          Trong kinh đức Phật dạy chúng ta phước báo của việc bố thí cúng dường.  Thí dụ trong kinh Phật nói có người cúng dường Bích Chi Phật một chén cơm, phước của họ được là quả báo chín mươi ức kiếp chẳng chịu bần cùng.  Cúng dường một chén cơm là một chuyện rất nhỏ thì làm sao có thể được phước báo to lớn như vậy?  Phước lớn hay nhỏ là do nơi tâm lượng cúng dường.  Nếu lúc cúng dường này có tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng, tâm chân thành thì phước báo sẽ rất lớn, chẳng có giới hạn.  Nhưng chư vị phải ghi nhớ chín mươi ức kiếp so với vô lượng kiếp là một con số rất nhỏ, chín mươi ức kiếp trở về sau thì như thế nào?  Có nghĩ đến hay không?  Đây là nói rõ bố thí tài vật chẳng bằng bố thí pháp.  Phước báo của bố thí tài vật chẳng thể sánh kịp với bố thí pháp, trong kinh Hoa Nghiêm phẩm Phổ Hiền Bồ Tát Hạnh Nguyện nói rất rõ, phước của sự bố thí pháp thật là vô lượng vô biên.  Thế nên kinh Phật không thể không đọc, đạo lý mà Phật đã giảng không thể không thâm nhập, nó có thể giúp cho chúng ta thật nhiều, thật nhiều.  Thế nên thiên nhân cũng muốn hiểu chân tướng sự thật này, huống chi là chúng ta.

          Phổ Hiền Bồ Tát nói rất hay ‘cập vị lai hiện tại nhất thiết chúng sanh’.  ‘Hiện tại’ là đương lúc tham gia pháp hội, những người nghe Phật, nghe Địa Tạng Bồ Tát thuyết pháp.  ‘Vị lai’ tức là bao gồm chúng ta trong đó.  Phổ Hiền Bồ Tát vì chúng ta khải thỉnh, chúng ta ở đây nghe Địa Tạng Bồ Tát báo cáo, vì chúng ta mà nói.  ‘Diêm Phù Đề’ tức là thế giới này của chúng ta, ‘Sa Bà thế giới’ là đại thiên thế giới, Diêm Phù Đề là địa cầu của chúng ta, đây là nơi chúng ta quan tâm nhiều nhất.  ‘Tội khổ chúng sanh’, hãy xem nhân số năm mươi mấy ức người ở trên thế gian chúng ta có phải đang sinh sống trong tội khổ không?  Những gì chúng ta tạo tác đều là tội, những gì chúng ta thọ nhận đều là khổ.  Bất kể là giàu sang phú quý trên thế gian này, có ai sinh sống chẳng khổ?  Mỗi người có cái khổ riêng.  Trong nhà Phật những gì hiện nay đang thọ nhận từ những tạo tác tội nghiệp được gọi là hoa báo, sau khi hoa báo thì có quả báo, quả báo ở đời sau.  Sau khi bạn chết đi cảm nhận quả báo, quả báo nghiêm trọng hơn hoa báo rất nhiều.  Ở đây nói về quả báo.

          ‘Sở thọ báo xứ, địa ngục danh hiệu’, đây là việc chúng ta rất muốn biết.  Phổ Hiền Bồ Tát khải thỉnh là dựa trên trí huệ chân thật, đại từ đại bi, nếu chẳng có trí huệ, chẳng có tâm đại từ đại bi, thì chẳng thể nêu lên câu hỏi này.  Khải thỉnh, nói ra mục đích là hy vọng hết thảy chúng sanh nghe xong có thể hiểu được trạng huống chân thực trong địa ngục hoàn toàn là do tự tâm biến hiện nên, cùng y báo, chánh báo trang nghiêm ở Nhất Chân pháp giới của chư Phật Như Lai đều là sự việc sanh từ một niệm.  Ở đây chúng ta phải thật sự chú ý: ‘một niệm’, một niệm tức là ‘sát na tế’ nói trong kinh Hoa Nghiêm, các bạn đồng học hỏi về ‘sanh tướng vô minh’.  Sanh tướng vô minh tức là nhất niệm, tức là sát na tế.  Hiện tướng phát sanh từ một niệm, sau khi phát sanh thì họ niệm niệm tiếp nối, thời gian tiếp nối dài hay ngắn hoàn toàn dựa trên nghiệp lực.  Thế nên hiểu được đạo lý này xong, chúng ta mới biết được sức mạnh của sự sám hối chẳng thể nghĩ bàn, cho dù là tạo tội cực nặng, một niệm sám hối là sửa đổi tâm niệm trở lại.  Chư vị phải biết hết thảy ‘niệm đầu’ đều là vọng niệm, sửa vọng niệm thành chánh niệm.  Chánh niệm là gì?  Những gì tương ứng với tánh đức thì gọi là chánh niệm, chẳng tương ứng với tánh đức là vọng niệm, tà niệm.  Niệm thị phi, nhân ngã, niệm tham sân si mạn đều là tà niệm.  Niệm chư Phật, Bồ Tát là chánh niệm, giống như đức Phật trong kinh thường nói: ‘Một niệm tương ứng một niệm Phật, niệm niệm tương ứng niệm niệm Phật’, cao minh tột cùng. Nếu thường niệm bố thí, thường niệm trì giới, nhẫn nhục thì đã thành Bồ Tát cả rồi.  Làm Phật, làm Bồ Tát, làm chúng sanh đều ở tại một niệm, một niệm tham mà không chán thì đã đi vào cõi ngạ quỷ rồi.

          Chư vị phải biết, tham thế pháp đọa cõi ngạ quỷ, tham Phật pháp cũng đọa cõi ngạ quỷ, tại sao vậy?  Tâm tham đọa ngạ quỷ, chẳng nói đối tượng tham là gì.  Nhưng đến cõi ngạ quỷ cũng có phước báo lớn nhỏ khác nhau, tham thế pháp thì biến thành ngạ quỷ chẳng phước đức, tham Phật pháp thì đọa vào ngạ quỷ hưởng phước.  Trong kinh nói đến đa tài quỷ, thiểu tài quỷ [2], tham Phật pháp thì thành đa tài quỷ, tham tiếng tăm lợi dưỡng trong thế gian thì thành thiểu tài quỷ.  Phật dạy chúng ta đoạn tâm tham thì duyên đến cõi ngạ quỷ đã đứt, tuy trong A Lại Da thức chúng ta có nghiệp nhân ngạ quỷ, nhưng duyên chẳng còn, có nhân nhưng không có duyên thì chẳng kết thành quả, tạm thời bạn sẽ chẳng đọa cõi ngạ quỷ.

          Đố kỵ, sân khuể đọa địa ngục, chẳng luận thế pháp, Phật pháp đều rất khổ, cho nên trong địa ngục chỉ có thọ khổ chứ chẳng hưởng phước, trong cõi ngạ quỷ còn hưởng phước chứ địa ngục thì không hưởng được.  Thế nên chúng ta trong đời sống hằng ngày, đối người, đối sự, đối vật đừng nên khởi tâm sân khuể, chẳng nên khởi tâm đố kỵ, nhất định phải biết khởi những tâm này, đối với mình chắc chắn không có ích lợi gì hết.  Cảnh giới bên ngoài thường làm cho mình sanh phiền não, làm cho mình chẳng như ý, đều phải nghĩ đây là nghiệp chướng trong mạng mình, mình phải chịu đựng, tự làm tự chịu, đời trước tạo nhân chẳng tốt, hiện nay gặp quả báo chẳng tốt, tâm bình tịnh trở lại, chẳng oán trời, chẳng trách người, thế thì chúng ta đoạn dứt duyên địa ngục này.  Tuy có nghiệp nhân địa ngục nhưng sẽ chẳng chịu quả báo địa ngục.  Đây là nói về tam đồ (ba đường ác).

          Nghiệp nhân của cõi súc sanh là ngu si, ngu si là gì?  Không có khả năng phân biệt chân – vọng, tà – chánh, thị – phi, cứ thường đảo lộn những chân tướng sự thật này, vậy là chẳng có trí huệ, vậy là ngu si.  Trong thế gian hiện nay đến đâu cũng có thể thấy hiện tượng ngu si.  Quan trọng nhất là coi mình có ngu si hay không?  Người khác ngu là chuyện của người ta, chẳng có liên quan gì tới mình.  Nếu mình ngu thì chuyện rắc rối này lớn lắm, ngu si sẽ đọa súc sanh.  Làm sao tránh ngu si?  Phải đọc kinh nhiều, nghe giảng nhiều.  Duyên của mỗi người chẳng giống nhau.  Trong kinh Phật dạy chúng ta, vừa mở kinh A Nan Vấn Sự Phật Kiết Hung, câu đầu tiên Phật liền dạy chúng ta ‘theo minh sư học đạo’.  Dạy chúng ta phải thân cận thiện tri thức thì chúng ta mới có trí huệ.  Ở đây, trong kinh Địa Tạng, ý này được lập lại mấy chục lần để nhắc nhở mọi người.

          Ai là thiện tri thức?  Phật là thiện tri thức, chúng ta phải học theo Phật.  [Hiện nay] Phật chẳng còn tại thế, phải noi theo ai?  Phải noi theo kinh điển, đây là lời Phật dạy ‘Y pháp chẳng y người’.  Thế nhưng bạn phải hiểu được nguyên tắc, những kinh Phật nói trong suốt cả đời rất nhiều, bạn chỉ có thể học theo một loại chứ không thể học nhiều được.  Ý tứ này cũng giống như thầy thuốc chữa trị cho bịnh nhân vậy, thầy thuốc chẩn đoán cho bạn, ra vài thứ thuốc cho bạn uống, uống xong thì bịnh sẽ khỏi.  Tuyệt chẳng có nói lấy hết thảy các thứ thuốc cất trong tiệm thuốc đem về uống hết, bất luận bạn bị bịnh gì cũng uống những thuốc này, vậy thì chắc chắn phải chết không nghi gì cả, đâu có đạo lý như vậy!  Tam tạng mười hai bộ kinh trong Đại Tạng Kinh là do đức Phật giảng trong suốt cả đời, cũng giống như tất cả thuốc trong tiệm thuốc, nếu bạn uống hết thảy những thuốc này thì sẽ chết liền, bạn còn được cứu hay sao?  Thế nên chư vị phải biết thuốc có thể hại người, Phật pháp cũng có thể hại người, hại pháp thân huệ mạng, hại chết người.  Hồi trước lúc tôi còn học theo thầy Lý, cùng bạn học thảo luận đến vấn đề này tôi đã nói như vậy, các bạn đồng học nghe xong chẳng phục nên đi hỏi thầy, thầy nói: đúng vậy, không sai.

          Pháp phải khế cơ, chúng ta chỉ có thể học theo một môn.  Trong kinh Phật giảng, giảng kinh thuyết pháp đều có ‘người đương cơ’, người khải thỉnh, người ấy vừa nghe xong liền khai ngộ.  Chúng ta phải hiểu đạo lý này, Phật giảng hết thảy kinh chẳng phải giảng cho riêng mình mà là giảng cho rất nhiều người căn tánh chẳng giống nhau vào thời đó.  Căn tánh của mình là gì?  Trong hết thảy kinh này phải chọn loại nào?  Cũng giống như thầy thuốc đã trị bịnh cho rất nhiều người, toa thuốc rất nhiều chất đống ở đó.  Hiện nay thầy thuốc chẳng còn nữa, chúng ta sanh bịnh, phải làm sao?  Phải tìm trong những toa thuốc này, quan sát loại nào thích hợp với mình.  Nếu uống lầm thì không những chẳng có ích gì cho mình mà còn có hại nữa, làm sao có thể tùy tiện uống thuốc được?

          Ngày nay là thời Mạt Pháp, ai là thiện tri thức?  Ai có thể thay thế chúng ta tuyển chọn pháp môn, làm con mắt chọn lựa pháp cho chúng sanh thời Mạt Pháp?  Chẳng tìm ra hạng người này.  Khi chúng ta tiếp xúc với thiện tri thức, thật sự là chúng ta đánh rất nhiều dấu hỏi.  Thế nên thân cận một vị thầy, qua vài ngày bèn đổi ý, [cứ nghĩ còn] có người cao minh hơn họ, họ chẳng đúng lắm.  Cả đời đều do dự, nghi hoặc, thì làm sao thành tựu được?  Thế Tôn đại từ đại bi sớm biết được tình trạng của chúng sanh trong thời Mạt Pháp, gặp những khó khăn như vậy nên trong kinh Đại Tập ngài đã khai thị rõ ràng cho chúng ta, chỉ dẫn cho chúng ta một phương hướng, một nguyên tắc, ngài nói: “Thời Chánh Pháp thì Giới Luật thành tựu, thời Tượng Pháp thì Thiền Định thành tựu, thời Mạt Pháp thì Tịnh Độ thành tựu”, đây là một đại phương châm, đại phương hướng cho chúng ta.

          Ngày nay chúng ta sanh vào thời Mạt Pháp, chúng ta tuân theo lời dạy của Phật, chuyên tu pháp môn Tịnh Độ, vậy là chẳng sai.  Kinh luận của Tịnh Tông ít hơn so với bất kỳ tông phái nào, số lượng kinh điển chúng ta y cứ rất ít.  Ít thì dễ thọ trì.  Nhưng chúng ta biết bộ kinh thứ nhất trong Tịnh Tông là kinh Vô Lượng Thọ, năm xưa lúc đức Phật còn tại thế đã giảng kinh này nhiều lần, đây là một pháp môn rất đặc biệt.  Trong đời đức Phật Thích Ca chẳng giảng kinh nào nhiều lần ngoài kinh Vô Lượng Thọ.  Căn cứ vào tư liệu còn được lưu lại có thể chứng minh tối thiểu ngài đã giảng hết ba lần, có thể nhiều hơn, giảng nhiều lần nghĩa là pháp môn này đặc biệt quan trọng lắm.  Cho nên kết tập kinh tạng cũng nhiều lần kết tập, truyền đến Trung Quốc có đến mười hai lần phiên dịch, rất đáng tiếc là những bản dịch này trong mười hai bản đã mất hết bảy bản, hiện nay chúng ta chỉ có thể coi năm bản giữ trong Đại Tạng Kinh.  Nội dung của năm bản này đại đồng tiểu dị, những chỗ khác nhau này cũng rất quan trọng, giúp cho chúng ta đoạn trừ nghi hoặc, sanh lòng tin.

          Bởi vậy chúng ta phải hiểu rõ mục đích của đức Phật giảng những kinh điển này.  Chúng ta không thể không biết nghĩa thú của ba cuốn kinh trong Tịnh Tông.  Kinh Vô Lượng Thọ là đức Phật Thích Ca giới thiệu Tây phương Tịnh Độ cho chúng ta, là sách thuyết minh.  Giải thích duyên khởi của tây phương [Cực Lạc] thế giới hình thành như thế nào?  Lịch sử của tây phương thế giới, lý luận, cơ sở và chân tướng sự thật của đức Phật A Di Đà xây dựng tây phương thế giới, mục đích của A Di Đà Phật xây dựng cõi Tịnh độ này, và thành tựu của ngài, giới thiệu và giải thích một cách đầy đủ.  Làm cho người nghe sanh khởi lòng ngưỡng mộ, ưa thích, phát nguyện cầu sanh, [được vậy] thì mục đích của ngài đã đạt được.

          Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật là thuyết minh bổ túc cho kinh Vô Lượng Thọ, trong đó có ba điểm quan trọng nhất cần bổ túc. 

Thứ nhất là bổ túc trên lý luận, Quán kinh nói ‘Thị tâm thị Phật, thị tâm tác Phật’ (Tâm này là Phật, tâm này làm Phật), đây là bổ túc trên lý luận. 

Sự bổ túc thứ nhì là thuyết minh thêm chi tiết về phẩm vị [vãng sanh], kinh Vô Lượng Thọ chỉ nói đơn giản về ‘Ba Bậc vãng sanh’, Quán kinh nói rõ hơn về chín phẩm vãng sanh.

Thứ ba là bổ túc về phần phương pháp, kinh Vô Lượng Thọ giảng về phương pháp chỉ nói ‘phát Bồ Đề tâm, nhất hướng chuyên niệm’, ngoài ra dạy chúng ta tu phước, nói một cách đơn giản.  Quán Kinh giảng về mười sáu pháp quán, đây là phương pháp, ‘Quán tưởng niệm Phật, Quán tượng niệm Phật, Trì danh niệm Phật’, nói một cách tường tận.  Trì danh là pháp quán thứ mười sáu, để ở sau cùng, sau cùng là quan trọng nhất, đây là một thói quen của Phật khi nói kinh, màn hấp dẫn để đến sau cùng, đến màn chót.  Khế hợp nhất với cơ nghi của hết thảy chúng sanh.  Trì danh Niệm Phật là pháp quán thứ mười sáu, phổ độ hết thảy chúng sanh, chân chánh làm được Thích hợp khắp ba hạng căn tánh, thâu nhiếp cả lợi căn và độn căn’ [3], trên độ đến Đẳng Giác Bồ Tát, dưới độ đến chúng sanh trong địa ngục, công đức của danh hiệu chẳng thể nghĩ bàn, thế nên đây là thuyết minh bổ sung.  Tiểu bản ‘Phật Thuyết A Di Đà Kinh’ hoàn toàn là khuyên chúng ta phát nguyện vãng sanh.  Kinh này chẳng dài, trong đó Thế Tôn đã khuyên hết bốn lần, đúng là đau lòng rát miệng.  Cho nên chúng ta phải nhận thức tánh chất của ba cuốn kinh này, ba kinh đều có chung một đường lối hành động.

Hiện nay có một số đồng tu hoài nghi bản hội tập, đây là một sự sai lầm.  Phật pháp được xây dựng trên lòng tin thanh tịnh, có nghi hoặc tức là chướng ngại to lớn.  Kinh này là để giới thiệu, mục đích là giúp cho bạn khởi lòng tin, phát nguyện, [được vậy thì] mục đích đã đạt đến.  Nếu chẳng có bản hội tập thì cần phải đọc năm bản dịch gốc, đúng vậy, nhưng muốn đọc hết năm bản dịch gốc thì chẳng dễ!  Nếu bạn cảm thấy đọc năm bản dịch gốc quá phiền, quá phức tạp, cổ đại đức đã giúp chúng ta làm việc hội tập.

Người đầu tiên hội tập là cư sĩ Vương Long Thư, bản này được ghi trong Đại Tạng Kinh, có thể nhập vào Đại Tạng Kinh tức là được tổ sư, đại đức thời xưa công nhận chẳng có sai lầm mới có thể nhập được.  Chẳng giống hiện nay, rất tùy tiện bèn đem kinh nhập vào ‘Tạng’, hồi xưa thì không được.  Hồi xưa phải có nhà vua phê chuẩn mới được để kinh vào Đại Tạng, nhà vua căn cứ vào đâu để phê chuẩn?  Căn cứ vào sự tiến cử của cao tăng đại đức đương thời, họ đều công nhận, như vậy mới được nhập vào Tạng, chẳng phải là một chuyện dễ dàng.  Đây là nói hội tập chẳng có sai lầm, hội tập là một chuyện nên làm, bản hội tập viên mãn hay không thì là một chuyện khác, tức là nói rõ có thể hội tập.  Cũng giống như chúng ta giới thiệu Tây phương Tịnh Độ, chúng ta không có bản hội tập, chúng ta có thể mở ra hết năm bản dịch gốc, trong bản này rút ra một đoạn, từ bản kia rút ra một đoạn để nói với mọi người cũng được, không phải là không được.  Tôi chỉ cần nói cho nhất quán, nói rất mạch lạc, làm cho người nghe rất rõ ràng, minh bạch, sanh khởi lòng tin, sanh khởi lòng ưa thích, vậy thì thành công rồi.

Nói đến phương pháp tu hành của Tịnh Độ, đó là ‘phát Bồ Đề tâm, nhất hướng chuyên niệm’.  Chúng ta hiểu được đạo lý này, sau đó đối với bản hội tập này mới có thể sanh khởi lòng tin, tuyệt chẳng có hoài nghi.  Hoài nghi thì chúng ta đánh mất lợi ích này.  Nếu bạn thật sự có hoài nghi thì cũng không sao, bạn đừng đọc bản hội tập, thậm chí cũng đừng đọc kinh Vô Lượng Thọ, bạn chỉ y theo kinh A Di Đà mà tu học, nhất định cũng vãng sanh.  Chúng ta có cần phủ định bản hội tập, bài xích bản hội tập hay không?  Chúng ta chẳng có cái gan này.  Giả như người hội tập, giả sử lão cư sĩ Hạ Liên Cư là Quán Thế Âm Bồ Tát tái lai, A Di Đà Phật tái lai, chúng ta có phải đã tạo nên tội lỗi to lớn hay không!  Thế nên có thái độ học hỏi, thái độ đọc sách thì có thể tồn nghi chứ đừng phủ định, không thể quyết đoán, chúng ta chỉ đánh một dấu hỏi rồi để qua một bên, tạm thời không cần phải cầu chứng, có thể như vậy.  Chúng ta xả bỏ pháp môn này [nghĩa là xả bỏ bản hội tập này], chúng ta vẫn còn kinh A Di Đà, kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật, chẳng thể báng pháp.  Ngài thật sự có thân phận gì, thị hiện ở thế gian này, chúng ta chẳng biết.  Tu học y chiếu bản hội tập này, rất nhiều người khởi lên lòng tin từ bản hội tập này, đích thật bản này tiện lợi hơn các bản dịch gốc, dễ đọc, dễ hiểu, từ chỗ này sanh khởi lòng tin.  Từ đây có thể biết nếu người hủy báng, phủ định [bản hội tập] này không phải ngu si thì cũng có dụng tâm gì khác.

Thế nên phải biết Sư Thừa rất quan trọng, tôi học theo vị thầy nào, thầy này phải hoàn toàn chịu trách nhiệm cho tôi.  Tôi tu học có sai lầm, tương lai không thành tựu thì thầy đọa địa ngục A Tỳ, thế nên quan hệ Sư Thừa rất lớn.  Thầy tôi chỉ thị cho tôi pháp môn này, người khác nói pháp môn này không đúng, tôi học theo ai?  Đây là mấu chốt.  Bạn có phải đã phủ định thầy của bạn không, đổi thầy, theo học thầy khác, vậy cũng được.  Hiện nay Sư Thừa chẳng còn nữa, sự khó khăn bèn đến, thời trước chuyện như vầy rất ít xảy ra.  Chúng ta cả đời theo chắc một vị thầy, tôi có đủ lòng tin đối với thầy, thầy chịu trách nhiệm cho tôi, tôi chỉ nghe theo thầy ấy, thì lòng tin này sẽ chẳng lay chuyển.  Trước khi học sinh chưa khai ngộ thì nhất định không thể nghe người khác nói, tại sao vậy?  Sợ lòng tin bị lay chuyển, sau khi khai ngộ thì chẳng sao cả.  Sau khi khai ngộ thì bạn có khả năng phân biệt chân vọng, tà chánh, thị phi; đến lúc ấy thì thầy sẽ để cho bạn đi ra ngoài tham học.  [Cũng như] Thiện Tài đồng tử năm mươi ba lần tham vấn, cái gì bạn cũng có thể nghe, cái gì cũng có thể tiếp xúc.  Bạn có định lực, trí huệ; nếu không có khả năng phân biệt thì thầy sẽ kiểm soát rất nghiêm cẩn, chẳng để bạn tiếp xúc, một khi đã tiếp xúc thì sẽ hại bạn.  Do đó thế nào là một học sinh tốt?  Người có thể tiếp nhận lời dạy của thầy giáo là học sinh tốt.  Đối với thầy giáo bề ngoài thì nghe lời còn bên trong thì cãi lại [4], vậy thì thầy giáo làm sao dạy cho được?  Thế nên chẳng cho bạn nghe nhiều, xem nhiều, đó là bảo vệ tâm thanh tịnh của bạn, thành tựu giới, định, huệ của bạn, chẳng có [mục đích] gì khác, hiện nay người làm học trò chẳng thấu hiểu được sự khổ tâm như vậy.  Hiện nay người trẻ tuổi tiếp nhận sự un đúc tà tri tà kiến, tôi thường nói hai câu đầu của Tứ Hoằng Thệ Nguyện chẳng cần nữa, bắt đầu học từ đâu?  Học rộng nghe nhiều, ‘Pháp môn vô lượng thệ nguyện học’, hai cầu đầu chẳng cần nữa, họ làm sao thành tựu cho được?  Những gì học được đều là tà tri tà kiến, tâm địa, tinh thần, tư tưởng, kiến giải đều bị ô nhiễm, Phật, Bồ Tát có đến cũng chẳng có cách gì rửa sạch cho bạn.

Nếu chúng ta thấu hiểu kinh điển Đại Thừa một cách sâu sắc [thì sẽ thấy] chư Phật, Bồ Tát đối với hết thảy, đặc biệt là những chúng sanh khổ nạn, sự quan tâm, thương mến này thật sự đã đạt đến cùng cực, có bao nhiêu chúng sanh thấu hiểu được, có thể hiểu nổi?  Tuy chúng sanh không thể thấu hiểu, có khi còn vu oan, hủy báng Phật, Bồ Tát; tâm từ bi của Phật, Bồ Tát chẳng có giảm chút nào, thật là phi thường!  Vẫn thương yêu như thường, vẫn dùng những phương tiện khéo léo để giúp đỡ chúng sanh, dìu dắt chúng sanh.  Vì như kinh này đã nói chúng sanh ‘ương ngạnh, khó dạy, tà tri tà kiến, chẳng biết quay về, sửa sai’, chư Phật, Bồ Tát ứng hóa trong ấy uyển chuyển, thuận theo để dẫn dắt; trong mắt phàm phu chúng ta: dùng tận tâm tư, ân đức này chẳng có gì so sánh nổi.  Bất luận là trên đạo lý, trên phương pháp, trên cảnh giới đều là cực kỳ thiện xảo phương tiện, chúng ta mở kinh ra đọc những đoạn kinh này phải thể hội được.

Trong bộ kinh này hiển thị Địa Tạng Bồ Tát, Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Âm đều là thiện tri thức chân thật.  Đặc biệt là pháp hội này dạy cho kẻ sơ học, nói cho chúng ta biết những chuyện tội khổ, tình huống của quả báo, mục đích là dạy cho chúng ta tin tưởng nhân quả, tin thiện nhân được thiện quả, ác nhân ắt có ác báo.  Chúng ta trải qua lời nhắc nhở này, sau đó bình tĩnh quan sát xã hội hiện thực của chúng ta, có thể nhìn thấy quả báo vốn là ở trước mắt.  Bạn nhìn xem bạn bè thân thích của bạn, những người mình quen thuộc, quá rõ ràng, vả lại vô cùng nhanh chóng, mỗi năm đều ở nơi đó biến hóa, chuyển biến.  Nếu bạn quan sát sự chuyển biến này kỹ càng, đó vốn là nhân quả.  Người trồng thiện nhân có tâm thiện, hạnh thiện thì mỗi năm cũng còn tốt, hoàn cảnh sanh hoạt ngày càng tốt đẹp.  Người tâm ác, hạnh ác thì mỗi năm không bằng năm trước.  Coi hiện nay so với lúc trước, tốc độ nhanh hơn rất nhiều, hồi trước quả báo xảy ra còn không nhanh như vậy, hiện nay thì thay đổi mỗi năm.  Thậm chí nếu bạn có khả năng, có trí huệ quan sát, mỗi tháng đều thay đổi, quả báo thật quá nhanh.  Chỉ có hiểu rõ đạo lý nhân quả này mới có thể bước vào cửa Phật, bạn mới tin tưởng lời Phật nói, mới có thể tiếp nhận, y giáo phụng hành.  Mục đích chung cực là ở chỗ này, giúp đỡ hết thảy chúng sanh phá mê khai ngộ, lìa khổ được vui.  Phật, Bồ Tát chẳng tiếp nhận bất kỳ sự báo đền nào cả, tuyệt đối chẳng có danh văn, lợi dưỡng, chúng ta cung kính các ngài chỉ là biểu hiện một chút lòng cảm kích của chúng ta, Phật, Bồ Tát chẳng yêu cầu chúng ta cung kính các ngài, chẳng có ý niệm này.  Xin xem tiếp đoạn kinh sau đây:

 

Địa Tạng đáp ngôn, Nhân giả, ngã kim thừa Phật oai thần, cập đại sĩ chi lực, lược thuyết địa ngục danh hiệu cập tội báo, ác báo chi sự.

Ngài Địa Tạng đáp rằng: “Thưa Nhân Giả, nay tôi nương oai thần của đức Phật cùng oai lực của đại sĩ mà lược nói danh hiệu của các địa ngục, cùng những sự tội báo và ác báo.”

Ở đây chúng ta phải học tập, người hiện nay hơn phân nửa đều cuồng vọng  tự đại, sau khi học được của người khác cũng không chịu thừa nhận, còn mắng người ta: đây là của tôi, chẳng phải của họ.  Vậy thì sẽ có tội.  Bạn hãy xem Địa Tạng Bồ Tát là nhân vật như thế nào!  Chúng ta xem pháp hội này, phía trước mọi người đều thấy, mười phương chư Phật đều đến tham dự pháp hội này.  Chư Phật là người như thế nào?  Đều là học trò của Địa Tạng Bồ Tát trong những đời quá khứ, học trò ai cũng thành Phật cả rồi, thầy còn làm Bồ Tát, thật là phi thường.  Ngài chưa chịu thành Phật, muốn thành Phật thì quá đơn giản, đáng lý là đã thành Phật lâu rồi.  Ngài ứng theo lời nguyện ‘Địa ngục chẳng không tôi thề chẳng thành Phật’.  Thế nên chúng ta phải hỏi Địa Tạng Bồ Tát có cơ hội làm Phật không?  Chẳng có.  Địa ngục vẫn còn người thì ngài phát tâm chưa thành Phật, ngài phải làm Bồ Tát để giúp đỡ những chúng sanh trong địa ngục.  Bạn xem đây là thân phận gì?  Ngài nói chuyện rất khiêm nhường, rất khách sáo.

‘Nhân giả’ là tôn xưng đối với Bồ Tát, nghĩa là ‘người nhân từ’.  Ngài chẳng nói ngài có khả năng để trả lời, ‘Ngã kim thừa Phật oai thần’, nhờ Phật gia trì.  Không những nhờ Phật gia trì mà còn mong nhờ sự gia trì của Phổ Hiền Bồ Tát.  ‘Cập đại sĩ chi lực’, chữ ‘đại sĩ’ này chỉ Phổ Hiền Bồ Tát, trí huệ và đạo lực của Phổ Hiền Bồ Tát cũng chẳng thể nghĩ bàn.  Chư Phật gia trì, Phổ Hiền Bồ Tát cũng gia trì, ‘lược thuyết địa ngục danh hiệu’ sau đó báo cáo cho đại chúng về việc này.  Chúng ta phải khiêm nhường, người hiện nay thật rất thích xa vời, viễn vông, tất cả đều muốn sáng tạo, làm mới.  Nói chư vị thánh nhân thế gian và xuất thế gian đều chẳng có sáng kiến, chẳng có sáng tạo.  Khổng Lão Phu Tử nói cả đời ngài giảng học ‘thuật mà không sáng tác’ (thuật nhi bất tác), ngài chẳng có sáng tác, những gì ngài nói đều là lời dạy của cổ thánh tiên hiền, ngài chẳng có sáng tác gì mới mẻ.  Đức Phật Thích Ca nói với chúng ta, cả đời ngài, hết thảy pháp ngài giảng trong bốn mươi chín năm đều chẳng phải lời của riêng ngài, tự mình ngài chẳng sáng tác ra mà nói, đều là thuật lại lời của cổ Phật.  Thế nên ngài nói rằng ngài chưa từng nói một câu pháp, hết thảy đều là lời của cổ Phật đã nói, chẳng có câu nào là ý riêng của ngài cả.  Khổng Lão Phu Tử chỉ thuật lại chứ không sáng tác, đức Phật Thích Ca cũng thuật mà không tác.  Chúng ta là lớp người đời sau, người đời sau có sáng tác! Thật là phi thường.  Thế nên những điển tịch của đức Phật Thích Ca chẳng có bản quyền, đều là của người khác, chẳng phải của mình, ngài làm sao có bản quyền cho được?  Người đời nay thật là phi thường, tự mình có sáng tác, có bản quyền.  Chúng ta phải học tập, học cho chắc thật; thái độ học tập của Thế Tôn và Khổng Lão Phu Tử rất đúng đắn, như vậy mới tương ứng với tâm tánh, tương ứng với tánh đức, cho nên quý ngài xử sự, đãi người, tiếp vật đều vô cùng khiêm nhường.  Khổng Tử biểu hiện ‘tự ty và tôn trọng người khác’, chúng ta đọc trong sách thấy Khổng Tử đối với kẻ bần cùng hạ tiện cũng rất tôn kính, chẳng dám khinh mạn.  Đâu có bao giờ nói tự mình cảm thấy cao quý tự đại, coi thường kẻ khác, chúng ta chẳng thấy trong cả đời hành nghị của Khổng Tử.  Đức Phật thì chẳng cần phải nói nữa.

Cống cao ngã mạn là đại phiền não, chỉ cần có tâm niệm này thì Phật pháp một phần cũng chẳng thâm nhập được; đó là chướng ngại, tự mình chướng ngại cho mình.  ‘Tham, sân, si, mạn, nghi’, sau đó là ‘ác kiến’, tức là ‘thân kiến, biên kiến, kiến thủ kiến, giới thủ kiến, tà kiến’ [5], hợp lại gọi là ác kiến, sáu phiền não căn bản tức là những thứ này.  Sáu thứ phiền não căn bản là chướng ngại lớn nhất, tại sao chúng ta học Phật không thể khế nhập?  Chúng ta đọc kinh tại sao không thể khai ngộ? Chẳng biết tự mình có sáu thứ chướng ngại này, chẳng biết.  Trong sáu thứ chướng ngại này mà bạn có một thứ thì bạn chẳng thể thấy đạo, đừng nói là chứng đạo, thấy cũng thấy không được.  Diệt trừ hết sáu chướng ngại này thì bạn mới thấy đạo vị.  Thế nên chúng ta muốn đạt được lợi ích chân thật của Phật pháp, không đoạn trừ sáu chướng ngại này thì làm sao được?  Thật sự đoạn trừ, trong niệm Phật đường, vị đường chủ thường thường nhắc đại chúng ‘buông xuống hết thảy thân tâm thế giới’, [buông xuống được tức là] sáu thứ này cũng xả bỏ hết, sáu thứ này chính là thân tâm thế giới, không buông xuống thì không được!  Nhất định phải buông xuống, xin xem tiếp kinh văn:

 

Nhân giả, Diêm Phù Đề đông phương hữu sơn hiệu viết Thiết Vi, kỳ sơn hắc thúy, vô nhật nguyệt quang.

Thưa Nhân giả, phương đông của cõi Diêm Phù Đề có núi tên là Thiết Vi, núi đó tối đen, không có ánh sáng của mặt trời, mặt trăng.

Những việc này nói trong kinh Địa Tạng, không thể lấy nhãn quan khoa học hiện đại để khảo chứng, tại sao vậy?  Khoa học ngày nay của chúng ta, nói thật ra còn tương đối ấu trĩ.  Chân tướng của vũ trụ trước mắt chúng ta, có mấy ai biết được?  Đừng cho rằng chính mắt mình đã thấy mới là thiệt, không đáng tin đâu.  Những gì chính mắt bạn nhìn thấy, công năng của mắt bạn rốt ráo là được bao lớn.  Bạn chẳng biết.  [Nói] chính mắt tôi nhìn thấy, hai mươi mấy người trong giảng đường của chúng ta, chính mắt tôi nhìn thấy, trong giảng đường này còn có Bồ Tát, có Thanh Văn, có Duyên Giác, có thiên long quỷ thần, bạn có thấy những vị này không?  Chẳng thấy, vậy thì làm sao bạn có thể nói chính mắt bạn nhìn thấy?  Bạn làm sao khẳng định như vậy?  Tại sao bạn chẳng nhìn thấy?  Vì công năng của mắt bạn rất có hạn.  Chúng ta biết mắt thấy được là nhờ có ánh sáng, lúc tối bạn chẳng nhìn thấy, bạn phải nhờ ánh sáng mới thấy được.  Sóng của ánh sáng chẳng giống nhau, những gì chúng ta nhìn thấy được đều thuộc về một số ánh sáng có sóng rất ngắn, làn sóng thấy được của chúng ta đều nằm trong một đoạn ngắn này, [những vật có sóng ánh sáng nằm] trong đoạn này chúng ta thấy rất rõ ràng, những vật có sóng ánh sáng dài hơn thì chúng ta chẳng thấy, ngắn hơn cũng chẳng thấy.  Sóng ánh sáng dài hơn [đoạn này] chẳng biết là có bao nhiêu, ngắn hơn cũng chẳng biết là bao nhiêu.  Nếu một ngày nào đó chướng ngại đến công năng của mắt bạn biến mất, hết thảy làn sóng ánh sáng bạn đều chẳng bị chướng ngại, thế giới mà bạn nhìn thấy sẽ lập tức thay đổi, chẳng giống như trước nữa.  Vậy thì làm sao bạn có thể tin những gì bạn thấy được đều là thật hết cả?  Mắt nhìn thấy sắc, tai nghe tiếng đều có trạng huống như vậy, đây là nói về chân tướng cho bạn nghe.

Hiện nay nói về những việc này thì bạn khá có thể hiểu được, chúng ta dùng máy móc khoa học kỹ thuật có thể trắc lường được những sóng ánh sáng mà mắt chúng ta chẳng nhìn thấy.  Mọi người đều quen thuộc, ánh sáng ‘tử ngoại’ (ultra violet light) chúng ta không nhìn thấy, quang tuyến X (X-ray) chúng ta cũng nhìn không thấy, dựa vào máy móc chúng ta biết nó tồn tại.  Khoa học gia biết, rất nhiều sóng ánh sáng chẳng giống nhau, mắt thịt của chúng ta chẳng nhìn thấy.  Thế nên sóng ánh sáng tồn tại đồng thời, nếu bạn đều nhìn thấy hết cả thì đạo tràng này sẽ rất khác thường.  Đạo tràng này bao lớn?  Gian phòng này bao lớn?  Tận hư không trọn khắp pháp giới, chẳng thể nghĩ bàn.  Tại sao lại lớn đến tận hư không, trọn khắp pháp giới?  Nếu nhãn quang của bạn đã khai, hết thảy chướng ngại đều không còn nữa, hết thảy sóng ánh sáng bạn đều nhìn thấy cả, những làn sóng ánh sáng này lan rộng khắp hư không pháp giới.  Những cây cột này, tường này đều trong suốt, chẳng có chướng ngại.  Bạn ngồi ở đây nhìn lên trên, nhìn thấy hư không pháp giới vô lượng ở trên; nhìn xuống phía dưới, bên trái, bên phải, mười phương thế giới vô lượng vô biên đều ở trước mặt, bạn sẽ chẳng bị giới hạn bởi một phạm vi nhỏ như vầy, đây là lời nói chân thật.  Nếu bạn dùng phương pháp khoa học hiện nay để khảo chứng thì khảo không ra, chứng cũng không ra, cũng phải nói năng lực khoa học kỹ thuật còn chưa phát triển đến mức này; khoa học kỹ thuật nói thật ra vẫn tương đối ấu trĩ nếu so sánh với Phật pháp.  Có một phần trong lời của Phật nói đã được chứng minh, chỉ là một phần rất nhỏ, phần lớn thì khoa học kỹ thuật còn chưa đạt đến, thế nên chúng ta phải tin tưởng lời Phật nói.

‘Diêm Phù Đề đông phương hữu sơn’, có núi Thiết Vi, mắt thịt chúng ta chẳng nhìn thấy, máy móc khoa học cũng chẳng tìm thấy.  Lúc tôi còn ở Đài Loan, có người đến hỏi tôi: “Hiện nay tiềm thủy đỉnh hạch nhân đã đến đáy biển, chẳng phát hiện ra Long Cung, rốt cuộc là Long Cung có thật hay không?  Long Cung ở đáy biển, tiềm thủy đỉnh lặn xuống cũng chẳng tìm thấy.  Trên mặt trăng có Nguyệt Quang Bồ Tát, phi hành gia đặt chân lên mặt trăng chẳng nhìn thấy, có hay không?”  Có!  Người chẳng nhìn thấy phàm thánh đồng cư độ.  Những chuyện này nói thật ra thì những người hiểu biết đôi chút Phật pháp đáng lẽ đều biết.  Đời Đường khi pháp sư Pháp Chiếu triều bái Ngũ Đài Sơn nhìn thấy Đại Thánh Trúc Lâm Tự, đây là việc ngài đích thân trải qua, chúng ta tin tưởng ngài chẳng vọng ngữ.  Gặp được Văn Thù, Phổ Hiền đang giảng kinh thuyết pháp, thính chúng hơn một vạn người, ngài nghe hết một buổi, còn thỉnh giáo Văn Thù Bồ Tát: “Đời Mạt phát căn tánh chúng sanh thấp kém, nên học pháp môn gì mới tốt?”  Văn Thù Bồ Tát khuyên ngài tu pháp môn niệm Phật.  Niệm Phật như thế nào, còn dạy ngài niệm vài tiếng, ‘Ngũ hội niệm Phật pháp môn’ là do Văn Thù Bồ Tát truyền cho ngài Pháp Chiếu.  Ngài rời khỏi Ngũ Đài Sơn, vừa đi vừa làm dấu để lần sau đến dễ tìm, sau khi làm dấu được vài chỗ xong quay đầu nhìn lại, [Trúc Lâm Tự] chẳng còn nữa, chỉ nhìn thấy một đồi núi hoang vu.  Chư vị hãy nghĩ xem dùng khoa học làm sao có thể tìm được?  Đạo tràng của Văn Thù Bồ Tát thanh tịnh trang nghiêm, người có duyên mới nhìn thấy.  Các bạn đọc ‘Tam Muội Thủy Sám’, Ngộ Đạt quốc sư nhìn thấy đạo tràng của tôn giả Ca Nặc Ca ở Tứ Xuyên cũng là ở một vùng núi hoang vu, máy móc khoa học làm sao tìm thấy nổi?  Ngài đến đó đích thật đã chữa lành bịnh của ngài.  Do đó không thể tin tưởng chính mình, đích thân nhìn thấy, nghe thấy cũng chẳng đáng tin, hoàn cảnh này rất phức tạp, rốt cuộc bạn có thể nhìn thấy được bao nhiêu?

Thế nên chúng ta chẳng biết chân tướng sự thật của vũ trụ nhân sinh, cứ cho rằng mình đã nhìn thấy rất rõ ràng, nghe rất rõ ràng, tin vào tri kiến của mình, đâu biết rằng đó đều là sai lầm?  Do đó trong kinh đức Phật dạy chúng ta rất rõ ràng: “Khi chưa chứng đến A La Hán thì đừng tin ý tưởng của mình”, [điều này] rất có đạo lý.  A La Hán thì như thế nào?  A La Hán đã thông rồi, chẳng còn chướng ngại nữa, A La Hán đã chứng được Lậu Tận Thông.  Thế nên lục căn của ngài tiếp xúc với sáu thứ cảnh giới bên ngoài chẳng giống chúng ta, ngài đột phá hết thảy giới hạn của sóng ánh sáng, sóng âm thanh, sóng từ trường, ngài nhìn thấy chân tướng, chúng ta nhìn thấy vọng tướng.  Tại sao A La Hán có được năng lực này?  Rất đơn giản, Kiến Tư phiền não đã đoạn dứt, tức là sáu thứ chướng ngại tôi nói lúc nãy đã đoạn dứt.  A La Hán đoạn dứt chẳng phải gì khác, tức là đoạn dứt tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến; ác kiến là Ngũ Lợi Sử, cũng tức là như danh từ chúng ta thường gọi: Kiến Tư phiền não.  Đoạn dứt phiền não này rồi nên chướng ngại của các ngài chẳng còn nữa, mới nhìn thấy được chân tướng của vũ trụ nhân sanh.  Phải nói những lời này trước tiên, nếu không thì những việc này trong kinh Địa Tạng rất khó hiểu, bạn sẽ cho những thứ này là gì?  Cho là mê tín, bạn sẽ cho rằng những chuyện này chẳng hợp khoa học, một phân một hào lợi ích của kinh này bạn cũng chẳng đạt được.  Không những chẳng đạt được, lại còn tạo ra tội báng pháp, không đạt được lợi ích nhưng họa hại lại đến, đây chẳng phải là ý của Phật.  Thế nên chúng ta giảng những kinh thuộc loại này, nhất định phải giải thích đạo lý này rõ ràng, giải thích minh bạch.

Lúc trước, đầu tháng này tôi đã giảng hết sáu buổi ở Hương Cảng, chúc mừng một năm ngày Hương Cảng được trả về [Trung Quốc], chúng tôi giảng về đại ý kinh Vô Lượng Thọ.  Trong nhóm thính chúng có một vị đồng tu, lúc trước làm trong giới phim kịch điện ảnh, ông kể cho tôi vài chuyện thật, người thật.  Vì lúc quay phim điện ảnh có khi phải quay vào ban đêm, quay cảnh ngoài trời ban đêm, ở những vùng hoang dã có các phần mộ, thật là có quỷ.  Ông có một bạn đồng nghiệp quay phim ngoại cảnh vào ban đêm, ông này đầu óc không tỉnh táo, lái xe đi ngang một khu phố náo nhiệt.  Trong tâm ông nghĩ con đường này từ trước đến giờ ông chưa từng đi qua, tại sao ở chỗ này lại có một khu phố náo nhiệt như vậy?  Do vì thấy đường phố rất náo nhiệt, rất nhiều người, nên ông xuống xe đi rảo vài vòng xem thử.  Ông thấy có bán đồ ăn, lúc đó là hai giờ khuya, ông cũng hơi đói bụng nên vào một tiệm nhỏ ăn mì.  Ăn xong cảm thấy buồn ngủ nên lái xe đi về.  Trên đường về cảm thấy thân thể chẳng khỏe, càng nghĩ càng cảm thấy khu phố này có cái gì rất mờ ám trong ấy.  Đến ngày hôm sau lái xe đi ngược lại đoạn đường đi hồi hôm thì thấy đó là một nghĩa địa, mới biết tối hôm trước đã gặp quỷ, là đi ngang qua một đường phố của quỷ.  Những gì ông ăn hồi tối ọc hết ra, ọc ra toàn là những con giun đất, bùn, cỏ, các thứ như vậy; ông sanh bịnh nặng hầu như gần chết.  Sau đó đầu óc bất bình thường, phải nghỉ việc hai, ba năm cũng không đi làm được.  Thân người ốm như cây tre.  Sau mấy năm thì ông cũng trở lại làm nghề này, chẳng bao lâu lại gặp một chuyện tương tợ như trên, sau đó chết mất, ông đó là người làm chung với người kể chuyện này.  Những người làm trong ngành đóng phim ảnh này tin những câu chuyện như vậy vì họ đích thân từng trải qua.

Thế nên những chỗ này quỷ thần và con người chúng ta cùng nhau cư trú, trạng huống [sinh hoạt] của quỷ rất giống với con người chúng ta, quỷ cũng có đô thị, chúng ta chẳng nhìn thấy, xen kẽ với chúng ta, ở hai môi trường khác nhau, hai cõi có ba độ (cường độ của làn sóng) khác nhau, xen kẻ với nhau.  Thế nên khi chúng ta nói nhìn thấy tận mắt, nghe thấy tận tai, làm sao có thể làm chủ được?  Đích thân bạn trải qua, phải đề cao cảnh giác, phải hiểu rõ.  Khổng Lão Phu Tử dạy chúng ta ‘kính quỷ thần nhưng lánh xa’ [6], quỷ thần có thật không?  Có, nhất định phải tôn trọng, phải tôn kính.  Lánh xa nghĩa là sao?  Nghĩa là đừng học theo họ, cùng một ý nghĩa như nguyện ‘Lễ kính chư Phật’ trong Phổ Hiền thập đại nguyện vương.  Khổng Tử đối với quỷ thần, tà môn ngoại đạo, tâm cung kính chẳng giảm bớt, đúng là lễ kính chư Phật, Khổng Tử đã làm được.  Chúng ta đối với họ phải cung kính, đối đãi với quỷ thần nhất định phải đúng như pháp.  Trong kinh đức Phật đã nói với chúng ta rất nhiều, chúng ta phải hiểu rõ.  Chúng ta phải coi trọng tế lễ của nhà Nho, quỷ thần có thể yên ổn, đối với sự trị loạn trên thế gian chúng ta có liên quan mật thiết.  Nếu làm cho những quỷ thần này không thể yên ổn, một khi họ làm loạn lên thì sẽ ảnh hưởng đến xã hội chúng ta, có rất nhiều tai biến vô duyên, vô cớ sẽ sanh khởi, chúng ta nói vô duyên, vô cớ [nhưng thật ra là do] quỷ thần làm loạn, không thể không hiểu đạo lý này.

Những người xuất gia trong nhà Phật trú ở trên núi muốn dựng một chòi tranh đương nhiên phải tìm vật liệu ở gần đó, phải đốn cây.  Phật nói những cây cao bằng thân người hoặc cao hơn một thân người đều có thần cây (thọ thần) trú ở đó.  Thần cây là gì?  Quỷ thần nương nhờ, trú ở trên cây, họ chẳng có chỗ để trú, họ nhờ chỗ đó để che mưa đỡ nắng.  Quỷ thần trú trên cây nên xưng họ là thần cây.  Chúng ta muốn đốn cây này, nói cách khác tức là chiếm đoạt chỗ ở của họ, họ bằng lòng hay không?  Nếu họ không bằng lòng, khởi lên ác niệm thì họ sẽ đến phá rối, báo thù, gây rắc rối cho bạn, bạn ở trong chòi tranh đó cũng không yên ổn.  Nếu phước báo của bạn lớn thì họ chẳng có biện pháp chi, không dám xâm phạm bạn, đợi đến lúc vận của bạn suy thoái thì họ sẽ đến gây rắc rối, họ rất nhẫn nại chờ đợi.  Lúc vận may của bạn còn thì họ không dám phá bạn, phước báo của bạn lớn nên họ không phá, đợi tới lúc vận của bạn xuống dốc, họ sẽ đến phá.  Thế nên Phật dạy chúng ta muốn đốn cây thì ba ngày trước đó phải tế lễ, tụng kinh, nói với họ tôi bất đắc dĩ phải kiếm chỗ trú, nói với họ dọn nhà, khuyên họ dọn nhà.  Không thể vừa tìm được cây nào vừa ý thì đốn cây ấy liền, ba ngày trước khi đốn phải cúng tế.

Ngay cả những chỗ này, những chi tiết nhỏ này cũng coi trọng.  Hiện nay mọi người đều chẳng tin những chuyện ấy, lúc trước những khu đất làm phần mộ ở sườn núi, hiện nay nhiều người cứ tùy tiện dời những phần mộ ở đó, đoạt những khu đất ấy để xây nhà lầu, may là những người cư trú ở đó còn một chút phước báo có thể duy trì được vài năm.  Đến lúc phước báo hết rồi thì những quỷ thần này sẽ lại phá rối, làm cho thân tâm những người cư trú ở đó chẳng an, làm xã hội động loạn.  Bạn làm cho họ không được yên ổn thì họ cũng biết báo thù, cũng sẽ làm cho bạn không được yên.  Thiên tai nhân họa do đó mà xảy ra, thập pháp giới là một thể, không thể không biết.  Thánh nhân thế gian và xuất thế gian đều dạy chúng ta ‘suy bụng ta ra bụng người [7], Phật pháp chẳng nói chỉ riêng người, Phật pháp nói đến ‘vật’, vật tức là thiên địa, quỷ thần đều bao gồm trong ấy.  Chúng ta muốn sinh sống hạnh phúc, mỹ mãn, bạn phải nghĩ quỷ thần cũng muốn sống mỹ mãn, súc sanh cũng hy vọng đời sống mỹ mãn, làm sao có thể ăn thịt chúng sanh được?  Việc này trong kinh nói rất rõ ràng, ăn thịt chúng sanh, sát hại chúng sanh sẽ bị những quả báo gì.  Chúng ta có chịu xẻ thịt cho người khác ăn không?  Cùng một đạo lý ấy, chúng ta không muốn người ta đến ăn thịt chúng ta, động vật cũng như vậy, nó đâu chịu cho người ta ăn thịt nó?  Chúng ta giết, ăn thịt nó, nó hoan hỷ không?  Người có cùng một tâm ấy, tâm có cùng lý ấy.  Thế nên ăn thịt chúng sanh, những oán hận này, những oán hận của hết thảy chúng sanh sẽ không tiêu mất, khi gặp cơ hội thì chúng sẽ trả thù.  Phật pháp nói: “Ăn nửa cân thịt của nó, thì phải trả tám lượng”, nhiều đời nhiều kiếp ăn nuốt lẫn nhau, dây dưa chẳng dứt.

Thân này của chúng ta có được là thân nghiệp báo, chẳng có cách chi hết, nếu không có dinh dưỡng thì sẽ chẳng duy trì được sinh mạng, vì phải duy trì sanh mạng nên bất đắc dĩ phải ăn uống.  Vì bất đắc dĩ phải ăn uống, bạn phải biết nên ít kết oán thù với chúng sanh, ít tạo nghiệp.  Động vật có sanh mạng, thực vật cũng có sanh mạng, chúng ta ăn động vật là sai lầm, ăn thực vật cũng sai lầm, nhưng so sánh hai thứ này, tình thức của động vật rõ ràng hơn của thực vật.  Nói cách khác ý niệm báo thù của động vật không biết lớn hơn thực vật bao nhiêu lần, cũng nghĩa là chúng ta xả bỏ những vật có linh tánh lớn, không giết hại nó, linh tánh của thực vật rất yếu [so với động vật], bất đắc dĩ nên phải ăn nó.  Giới kinh nói: ‘Tỳ kheo thanh tịnh không đạp lên cỏ tươi’, chân chánh hiển thị lòng từ bi.  Khi có đường lộ có thể bước đi, tại sao không bước đi trên lối đi mà lại đạp lên cỏ?  Trừ phi là không có đường lộ, nhất định phải đi qua, đó cũng là bất đắc dĩ, bất đắc dĩ thì có thể tha thứ được.  Nếu có đường lộ, bạn nhất định phải đi theo đường lộ, không được bước lên cỏ.  Thế nên phải thương tiếc sanh mạng, thực vật cũng phải thương mến, phải có một trái tim yêu thương đối với người, đối sự, đối vật, tâm yêu thương chân thành, thanh tịnh, bất đắc dĩ phải ăn [những thực vật này.]

Thế nên đức Phật dạy chúng ta ‘Năm pháp quán lúc ăn’, thường có tâm báo ân.  Con người có ân đức lẫn nhau, con người cùng hết thảy vạn vật cũng có ân đức.  Chúng ta mỗi ngày tu hành, niệm Phật tụng kinh, dứt ác tu thiện, hồi hướng công đức đến hết thảy chúng sanh là báo ân.  Cái tâm này thành khẩn biết bao, ý này hậu biết bao, như vậy mới tương ứng với tâm tánh.  Nếu chúng ta không quán tưởng như vậy, chẳng có tấm lòng thành này thì mỗi ngày đều tạo tội nghiệp.  Bạn hiểu được đạo lý này, thường quán như vậy, những thực vật cung cấp dinh dưỡng cho bạn cũng có công đức, nó thật sự cúng dường cho bạn, bạn đáp trả cho nó, có đáp trả tức là không có cướp đoạt, không kết oán thù với nó, chỉ kết ân đức với nó.  Chúng ta xem tiếp đoạn kinh phía sau:

 

Hữu đại địa ngục, hiệu Cực Vô Gián, hựu hữu địa ngục danh Đại A Tỳ.

Có địa ngục lớn tên là Cực Vô Gián, lại có địa ngục tên là Đại A Tỳ

Đây là Địa Tạng Bồ Tát trước tiên giới thiệu và báo cáo cho chúng ta.  ‘Hữu’ đích thật là có, chẳng phải là không có.  Cõi ngạ quỷ và cõi địa ngục không giống nhau, chẳng phải là một cảnh giới.  Trong cõi ác quỷ không có ánh sáng của mặt trời và mặt trăng, giống như đoạn trước có nói họ cư trú trong hôn ám, chúng ta gọi cõi ngạ quỷ là ‘âm gian’, đích thật là có người đi qua.  Rất nhiều bút ký, tiểu thuyết ở Trung Quốc có ghi chép, đó chẳng phải tùy tiện nói, những gì nói trong Duyệt Vi Thảo Đường Bút Ký, trong Liêu Trai Chí Dị, trong Kiên Di Chí, nói cho chư vị biết đều là thật, chẳng phải giả.

Tôi học Phật nhiều năm nay, lúc chưa học Phật, tôi chưa gặp quỷ nhưng tôi đã gặp hồ ly tinh, đây là thật, chẳng giả [không những tôi] nhìn thấy tận mắt mà nhiều người khác cũng nhìn thấy.  Hồ ly tinh tôi nhìn thấy là một ‘người đàn ông’, không phải đàn bà, mặc áo dài và áo khoác màu xanh.  Trong thời kỳ kháng chiến rất nhiều người nhìn thấy, nhưng chẳng có ai nhìn rõ mặt của ‘kẻ’ ấy, chẳng ai nhìn thấy, mặt rất mơ hồ.  Hồ ly muốn biến thành người phải trải qua năm trăm năm, có lẽ là kẻ ấy chưa đến năm trăm năm, còn thiếu một chút, có hình dáng của con người còn mặt thì chưa biến thành rõ ràng được.  Lúc đó tôi mười mấy tuổi, lúc mười sáu, mười bảy tuổi mỗi ngày đều săn bắn, tôi rất muốn bắn ‘kẻ’ ấy, má tôi ngăn cản, muôn vàn không thể làm như vậy, nếu lỡ làm thì sau này rất phiền phức.  Tôi bị má tôi ngăn cấm, chứ tôi rất muốn bắn kẻ ấy.  Hồ ly tinh ấy ở trên lầu nhà tôi, thời kháng chiến chúng tôi trú ở một nhà dân, ông ta ở trên lầu.  Lầu nhà này đã mấy mươi năm chưa có ai lên đến nên có một ổ hồ ly trong đó, [ai nấy] đều biết.  Có người thấy buổi sáng hồ ly lạy mặt trời trên nóc nhà.  Mọi người ở đó cũng muốn yên ổn, vô sự, hồ ly cũng chẳng nhiễu loạn người khác, người ta cũng chẳng dám phá chúng.  Lúc đó tôi còn nhỏ, nhưng rất gan dạ, cứ muốn đi lên lầu coi thử, nhưng người lớn không cho phép, không có thang lầu.  Thật vậy, chẳng phải giả, thật là biến thành hình người.  Có khi đi ra ngoài tản bộ thấy được.  Thế nên tôi rất tin những chuyện quỷ, hồ ly viết trong cuốn Liêu Trai Chí Dị, tôi tin là thật, chẳng phải giả, tuyệt đối chẳng phải là đặt chuyện.

Lúc kháng chiến thắng lợi, quê tôi xảy ra một chuyện lạ, tôi biết chuyện này rất rõ ràng, quê tôi sản xuất gạo, phần lớn gạo được xuất khẩu từ Vu Hồ, đều được chở đến Vu Hồ để bán, đó là một chợ.  Tôi có một người bà con, năm ấy ông ta trúng mùa, chở đầy một ghe gạo, là một loại ghe buồm nhỏ.  Lúc đó dùng bao gai, dùng bao gai để chứa gạo chở đi Nam Kinh bán.  Lúc vác lên ghe có người nhìn thấy một vật giống như con chồn lông vàng (hoàng thử lang), từ tấm ván cầu nhảy lên ghe.  Nhìn thấy xong rất nhiều người lên ghe kiếm, kiếm không thấy, thật là kiếm không được, chắc là người thấy [con vật nhảy lên ghe] bị mờ mắt.  Ghe này chở gạo đi Nam Kinh, lúc đến Nam Kinh thì gạo trên ghe bị mất hết, những bao gai vẫn còn hình dáng như vậy nhưng phía trong chẳng còn hạt gạo nào cả.  Thế nên mọi người mới biết chẳng phải người đó bị mờ mắt, chắc là ‘vật’ ấy tác quái.  Họ nhìn thấy con chồn đó, chắc là nó tác quái, không biết làm sao mà đã mắc tội với nó, cả ghe gạo bị nó lấy mất.  Người bà con đó của tôi họ Trần, ông ta chẳng biết làm sao, chẳng có cách gì hết, ghé ở Nam Kinh vài ngày xong bèn trở về nhà.  Về đến nhà thì thấy gạo của ông ở trong kho, chẳng có dời đi đâu hết, ông bị phá một trận như vậy.  Dùng cách gì để chở gạo trở về?  Không ai biết.  Đây chắc là làm việc gì đụng chạm đến nó nên nó trả đũa, trừng phạt, chọc phá ông ta như vậy.  Thật vậy, chẳng phải giả.  Những chuyện thiên địa quỷ thần này đích thân tôi từng trải qua, chuyện này xảy ra ở huyện Lô Giang năm chục năm trước, chúng tôi đối với việc này rất tin, chẳng hoài nghi tí nào.

Ở đây nói ‘có đại địa ngục’, địa ngục này ở phía dưới núi Thiết Vi, chúng ta không có cách chi chứng thật, chúng ta cũng nhìn chẳng thấy.  Đích thật là có, bạn tạo ra nghiệp này thì cảnh giới này sẽ hiện ra, bạn phải thọ nhận những quả báo này.  Trong chú giải, Thanh Liên pháp sư cho chúng ta biết: Danh xưng Vô Gián và A Tỳ trong kinh Phật đều nhắc đến, rốt cuộc là một hay là hai, từ xưa đến nay chẳng có biện pháp gì để xác định.  Cũng có cổ đại đức nói Vô Gián tức là A Tỳ, A Tỳ tức là Vô Gián, cũng có người nói Vô Gián và A Tỳ là hai cái địa ngục.  Nhưng nói chung, hai địa ngục này đều là chỗ thọ báo của tội cực nặng, đây là điều chắc chắn.  Trong kinh cũng nêu ra cách nói trong kinh điển, kinh A Hàm và kinh Quán Phật Tam Muội nói là một cái, Vô Gián và A Tỳ là một cái, nhưng kinh này và kinh Lăng Nghiêm lại nói là hai cái.  ‘Có địa ngục tên là Cực Vô Gián, lại có địa ngục tên là Đại A Tỳ’, đây chẳng phải là hai cái sao?  Thế nên nói là một cái, là hai cái đều là y cứ vào kinh điển, các Tổ sư đại đức xưa nay đều chẳng có biện pháp khẳng định là một hay là hai cái.  Chúng ta đọc kinh này, y theo cách nói của kinh này, kinh này nói hai cái nên chúng ta xem nó là hai cái.  Trong hai cái này chắc chắn những sự thọ báo trong ấy đều vô cùng nghiêm trọng, khổ độc vô cùng.

Ý tứ trong đoạn này chưa nói hết, nhưng thời gian hôm nay đã hết, ngày mai chúng ta nói tiếp.

 

Tập 16 (Số 14-12-16)

 

Xin mở Khoa Chú, quyển trung, trang số bốn, kinh văn hàng thứ hai:

 

Hữu đại địa ngục, hiệu Cực Vô Gián, hựu hữu địa ngục danh Đại A Tỳ.

Có đại địa ngục hiệu là Cực Vô Gián, lại có địa ngục tên là Ðại A Tỳ.

Hôm  qua đã giới thiệu đến chỗ này, ý tứ ở trong ấy rất sâu, rất rộng, nói rõ thì thật ra nói chẳng hết.  Nhưng chúng ta cần phải hiểu những chỗ quan trọng, nguyên nhân tạo thành địa ngục là gì, tại sao phải thọ những quả khổ trong ấy?  Ðiểm này vô cùng quan trọng,  Trong kinh Ðịa Tạng Thập Luân nói ‘tội Ngũ Nghịch’ là cực ác, phía sau sẽ nói tường tận về tội Ngũ Nghịch.

          ‘Giết cha, giết mẹ’, ơn đức cha mẹ quá lớn, sanh mạng của ta có được là nhờ cha mẹ.  Nếu chúng ta có thể quán sát kỹ càng, cha mẹ chăm sóc cho con thơ cẩn thận đến cùng cực, từ lúc sơ sanh đến ba tuổi, đứa con chẳng thể rời khỏi mẹ, được sự quan tâm, bảo bọc của mẹ từng giờ, từng phút nên mới có thể không tổn thương tánh mạng.  Còn người cha, hiện nay trách nhiệm của người làm cha chẳng bằng người thời xưa.  Thời cổ người làm cha chẳng những phải dạy lúc trẻ còn nhỏ, lúc còn bồng ẵm, lúc mẹ mang thai là phải dạy rồi, đó là thai giáo, như vậy mới làm tròn trách nhiệm của người cha.  Thế nên ân đức to lớn của cha mẹ, trong thế pháp chẳng có gì sánh nổi.  Chẳng biết ân đức thì chẳng biết báo ân, vậy mà còn sát hại, tội này cực nặng, đọa ‘Cực Vô Gián’, đọa ‘Ðại A Tỳ’.

          Tội nghiệp thứ hai là ‘Giết A La Hán’, A La Hán là thánh nhân tu hành chứng quả, làm thầy cho trời và người, làm phước điền chân chánh cho thế gian, nơi Ngài trụ là nơi để cho hết thảy chúng sanh trồng phước.  Nếu bạn giết A La Hán tức là hủy diệt phước điền của chúng sanh, những người ở vùng đó sẽ chẳng có phước báo, bởi vậy nên tội này rất nặng.  Giết A La Hán chẳng kết tội với một vị A La Hán, mà kết tội với những chúng sanh ở địa phương đó, cho nên tội này rất nặng.  Thế gian hiện nay chẳng có A La Hán?  Chúng ta tin chắc chắn cũng phải có La Hán ‘ứng chân’.  Hóa thân của Phật, Bồ Tát trong thế gian cũng rất nhiều, đâu thể nói không có A La Hán?  Nhưng phàm phu chúng ta nhận chẳng ra, bạn muốn tìm A La Hán để giết cũng chẳng tìm ra.  Tuy vậy có tội tương đương, tương đương nghĩa là tội ngang bằng với tội giết A La Hán, tội ngang bằng này là tội giết ai?  Thiện tri thức.  Người có đức hạnh, có học vấn, và từ bi giáo hóa chúng sanh ở địa phương đó, giết hại hạng người như vậy thì cũng tương đương với giết hại A La Hán, tội này rất nặng.  Không những không được giết hại, ngay cả tội hủy báng cũng chẳng nhẹ, đây là việc chúng ta nhất định phải biết rõ.  Thế gian có nhiều người vô tri, cố ý hoặc vô ý hủy báng những vị thiện tri thức.  Vô ý là chẳng biết, cố ý tức là có dụng tâm, cốt ý, trong đó đố kỵ chiếm phần lớn.  Hiện nay còn có một số người có sách lược làm thế nào nâng cao thân phận của mình trong xã hội, nâng cao mức nổi danh của mình, nâng cao danh vọng của mình, dùng phương pháp gì?  Họ phê phán, bài bác người có tiếng tăm, được nhiều người kính ngưỡng ở địa phương đó, do vậy nên họ được nổi danh.   Ðây là cố ý, tạo các tội nghiệp trong địa ngục Vô Gián, A Tỳ.  Ðây là tâm tà ác cùng cực, họ chẳng sợ nhân quả báo ứng, chỉ vì một chút danh lợi, ích lợi trước mắt mà dám tạo ra tội nghiệp cực nặng này, đây là nghiệp nhân của địa ngục Vô Gián.

          Tội nghiệp thứ ba là ‘làm cho thân Phật ra máu’.  Hiện nay Phật chẳng còn tại thế, nhưng cũng có tội tương đương, đó tức là dùng ác tâm phá hoại hình tượng của Phật, bất luận là tượng đúc bằng xi măng, khắc bằng gỗ, hoặc làm bằng kim loại, hoặc là tranh vẽ nên hình tượng của Phật, Bồ Tát, là dùng tâm sân hận phá hoại, tội này chính là tội Ngũ Nghịch.  Nếu là vô ý làm tổn hoại thì là ‘lỗi lầm’, chẳng phải là ‘tội’, vậy thì còn nhẹ.  Nếu là vô ý thì sám hối cũng được!  Có thể sám hối.  Nếu là ác ý thì không thể sám hối.

          Tội chót ‘phá hòa hợp tăng’, tức là phá hoại Tăng Ðoàn.  Tăng đoàn hòa hợp thật ra rất khó gặp được, ở đây cũng có tội tương đương.  Phá hoại tín ngưỡng của người khác, phá hoại tâm nguyện của người khác, phá hoại sự tu học của người khác cũng bằng với tội phá hòa hợp tăng; tội này cũng rất nặng, chúng ta không thể không biết.  Trong ấy cũng có vô ý và cố ý, phải biết chỗ khác nhau.  Cố ý là ác ý, vô ý là chẳng hiểu rõ những lý luận, chân tướng sự thật này.  Thí dụ như trong kinh thường nói đến ‘tự tán hủy tha’, tự mình tán thán pháp môn tu học của mình, cứ mặc tình hủy báng những pháp môn khác, cũng là tội nghiệp loại này.  Hiện nay ở nhiều nơi trong thế gian chúng ta nghe nói những người tạo tội nghiệp, tạo những tội nghiệp này.  Chúng ta nhất định phải hiểu: Phật, Bồ Tát thuyết pháp là ứng cơ mà thuyết, cho nên Phật pháp không có định pháp.  Kinh Bát Nhã nói rất rõ ràng: “Không những Phật chẳng có định pháp có thể nói, ngài cũng chẳng có pháp để nói”.  Thậm chí nói đến rốt ráo, nếu có người nói Phật thuyết pháp tức là báng Phật.

          Nói đến đây, chúng ta phải thâm nhập, thấu hiểu kỹ càng những lời khai thị này của Phật, từ đó bạn mới không tạo tội báng pháp nữa.  Vì đó là ứng cơ ban cho sự giáo huấn.  Căn tánh của tôi và căn tánh của bạn chẳng hoàn toàn tương đồng, nghĩa là cùng tu pháp môn Tịnh Ðộ, cùng niệm A Di Ðà Phật nhưng cũng chẳng giống nhau hoàn toàn.  Nghĩa là như thế nào?  Tôi thích truy đảnh [8] niệm Phật: A Di Ðà Phật, A Di Ðà Phật, A Di Ðà Phật, .., niệm từng câu tiếp theo nhau thật nhanh.  Người kia thích niệm chầm chậm, A .. Di .. Ðà .. Phật .., hai người này sẽ chẳng giống nhau, cả hai đều có thể vãng sanh.  Người này nói cách niệm của mình chính xác, cách kia của bạn chắc chắn là sai, vậy thì chẳng phải là cãi lộn rồi sao?  Chẳng giống nhau!  Thế nên phải hiểu rõ đạo lý này.  Cùng bịnh cảm, khi thầy thuốc ra toa đương nhiên phần lớn toa thuốc sẽ giống nhau nhưng có chút sai khác, sẽ có chỗ chẳng giống nhau.  Bạn uống thuốc của bạn lành bịnh rồi, khi nhìn thấy toa thuốc [của người kia] có một vài vị khác, bạn bèn phê bình họ, sai rồi, thể chất của họ khác với thể chất của bạn.  Cùng một toa thuốc, cùng một thầy thuốc, nhưng phân lượng cho tôi khác với lượng của bạn.  Cho tôi dùng ba tiền [9], cho bạn thì bốn tiền, như vậy mà hai người phải đánh nhau sao?  Rốt cuộc là ai đúng, ai sai?  Vì thể chất chẳng giống nhau [nên mới có sự sai khác như thế].  Phật giảng kinh thuyết pháp độ chúng sanh cũng giống như vậy, do đó nếu bạn nói cái này đúng, cái kia sai thì bạn đã báng Phật, báng Pháp, báng Tăng.  Tại sao?  Hết thảy kinh đều do Phật nói ra, vậy là bạn báng Phật; bạn tùy tiện phê bình kinh điển, lấy bộ kinh này phê bình bộ kinh kia, lấy kinh kia phê bình kinh này, vậy là báng Pháp;  người y chiếu kinh luận tu hành chứng quả là Tăng.  Bạn tùy ý phê bình, hủy báng Tam Bảo tạo nên tội nghiệp Vô Gián, tạo tội này, đây đều là ngu mê, vô tri.  Chúng ta phải hiểu rõ.

          Các vị Tổ Sư đại đức, chúng ta thấy trong chú sớ của họ có phê bình, chúng ta dám học theo không?  Chẳng dám, họ phê bình là có đối tượng, ứng theo căn cơ mà nói.  Quý vị đã nghe các công án trong Tông Môn, ngài Nam Tuyền chém mèo, bạn dám làm không?  Bạn gặp mèo liền giết nó, gặp chó liền giết nó, bạn dám làm không?  Ngài Ðan Hà có thể chẻ tượng Phật bằng gỗ ra để làm củi, bạn có thể làm như vậy không?  Tại sao ngài làm như vậy?  Vì ngài có người đương cơ, hành động này của ngài có thể làm cho người đó khai ngộ, làm Phật, thế nên ngài chẳng phạm tội.  Nếu chúng ta chẻ tượng Phật ra để làm củi thì chúng ta sẽ phạm tội nặng ‘làm cho thân Phật ra máu’, ngài [Ðan Hà] chẳng phạm tội.  Ngài là nhân vật như thế nào, chúng ta làm sao dám làm những chuyện như vậy?  Do đó nhất định phải hiểu rõ việc này.  Lúc trước học Phật có đạo thầy trò, cũng như chúng ta học Phật có bảo đảm, giống như con nít hai ba tuổi có cha mẹ chăm sóc.  Hiện nay học Phật chẳng có người chăm sóc, con nít hai ba tuổi làm chuyện gì, sống chết gì nó cũng chẳng biết, khi gặp nguy hiểm đến nỗi mất tánh mạng nó cũng chẳng biết.  Hiện nay người học Phật chúng ta cũng giống như vậy, bạn nói có đáng sợ hay không!

          Ðức Phật hiểu rõ tình trạng của chúng sanh trong thời Mạt Pháp, biết sự khổ nạn của chúng sanh đời Mạt pháp cho nên từ bi đến cùng cực, đặc biệt dạy bảo chúng sanh đời Mạt Pháp.  Kinh Ðại Tập dạy chúng ta ‘Chúng sanh thời Mạt Pháp thì Tịnh Ðộ thành tựu’, đây là một lời khai thị chính yếu, quan trọng.  Chúng ta sanh vào thời Mạt Pháp, chúng ta học Phật nên lựa chọn pháp môn nào, Phật nói ‘Tịnh thành tựu’, chúng ta chọn pháp môn Tịnh Ðộ, đây là tuân theo lời di giáo của đức Phật.  Phật còn dạy ‘Tứ Y Pháp’ cho người đời sau, để chúng ta chẳng đến nỗi đi sai đường, chẳng có bạn lành chăm sóc, chúng ta tuân giữ Tứ Y Pháp thì tuyệt sẽ chẳng đi sai đường.  Thứ nhất là ‘Y Pháp chẳng y Người’, Pháp là kinh điển, nhất định phải dùng kinh điển làm y cứ, kinh là do Phật nói ra.

          Thứ hai là dạy chúng ta ‘Y Nghĩa chẳng y Ngữ’, câu này vô cùng quan trọng!  Tại sao?  Tránh cho người đời sau tranh luận vì kinh điển.  Phật biết kinh điển sẽ được lưu thông toàn thế giới, nhất định phải nhờ phiên dịch, cùng một bộ kinh, cùng một nguyên bản chữ Phạn, người dịch chẳng giống nhau, văn tự, câu văn, ý tứ trong đó đương nhiên sẽ có sai khác.  Thí dụ ngày nay chúng ta coi dịch bản của kinh Kim Cang, trong Ðại Tạng Kinh có đến sáu bản dịch khác nhau cho kinh Kim Cang, bản hiện nay mọi người chọn là bản của ngài Cưu Ma La Thập phiên dịch.  Nếu chư vị đối chiếu sáu bản dịch này, văn tự trong ấy chẳng giống nhau, ý tứ thì phần lớn giống nhau, có chút ít sai khác.  Rốt cuộc là bản nào dịch đúng, chỗ nào dịch sai?  Ðây không phải là phiền phức hay sao.  Thế nên Phật dạy chúng ta ‘Y nghĩa không y lời nói (ngữ)’, như vậy mới được, ý tứ đúng là được rồi, lời nói thêm vài câu, ít đi vài câu chẳng sao.  Phiên dịch dùng chữ này, dùng chữ kia cũng chẳng sao, chỉ cần ý nghĩa đúng là được, tránh khỏi rất nhiều tranh luận.

          Ðặc biệt là kinh Vô Lượng Thọ, hiện nay có chín bản: năm bản dịch gốc, ba bản hội tập, và một bản tiết hiệu (chọn lọc và tóm tắt) của Bành Tế Thanh.  Nếu chúng ta hiểu được phải y theo nghĩa chứ không y theo ngữ thì sẽ chẳng xảy ra tranh luận, chẳng cần phải bám sát một bản nào.  Sự tu học của chúng ta có thể kiên trì dùng một bản, nhưng đối với những bản khác nhất định cũng phải tôn trọng, tuyệt đối chẳng phê bình; chúng ta chẳng có tư cách để phê bình, chẳng có khả năng phê bình.  Thế nên Tứ Y Pháp của Phật dạy quan trọng ghê lắm!

          Thứ ba, đức Phật dạy chúng ta ‘Y Liễu Nghĩa, chẳng y Bất Liễu Nghĩa’.  Liễu Nghĩa là gì?  Ðời này nhất định có thể thành Phật, đây là Liễu Nghĩa rốt ráo.  Mức thấp nhất cũng phải trong đời này siêu việt lục đạo luân hồi thì mới tính là liễu nghĩa.  Nếu sự tu học của bạn trong đời này chẳng thể siêu việt tam giới lục đạo, vẫn phải luân hồi trong lục đạo, môn học của bạn chẳng liễu nghĩa.  Bất luận tu được giỏi đến đâu, bạn chẳng thể thoát khỏi lục đạo luân hồi, nói cách khác bạn chắc chắn không tránh khỏi quả báo tam đồ, đây là đạo lý nhất định, thế nên sẽ không có thành tựu.  Muốn thoát ly lục đạo luân hồi, kinh luận Ðại Thừa và Tiểu Thừa đều cùng một đạo lý, đều phải đoạn Kiến Tư phiền não.  Bạn có thể đoạn nổi không?  Kiến Tư phiền não truy đến cội rễ thì phải theo một nguyên tắc: phá ngã chấp; đối với pháp thế và xuất thế gian nếu bạn còn chấp trước như vậy thì phá nổi không?  Không nổi!  Ðây là điều chư vị đều rõ ràng cả rồi.  Phá chấp trước thì bạn sẽ thoát khỏi tam giới; phá phân biệt thì bạn sẽ thoát khỏi thập pháp giới; đoạn sạch vọng tưởng thì bạn sẽ cứu cánh viên mãn thành Phật.  Trong kinh điển Ðại Thừa đức Phật đã nói quá nhiều về đại đạo lý này.  Phật nói bịnh căn của chúng ta là vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, chư vị thử nghĩ coi chúng ta có những thứ này không?  Việc này không thể không hiểu rõ, nhất định phải y theo kinh Liễu Nghĩa.

          Ngày nay nói về liễu nghĩa, không những là liễu nghĩa mà phải là liễu nghĩa rốt ráo.  Kinh Vãng Sanh hiện nay tức là năm kinh, một luận của Tịnh Tông.  Trong sáu bộ kinh luận này, cứ noi theo bộ nào cũng có thể thành công, đều có thể siêu việt tam giới, siêu việt thập pháp giới, vãng sanh tây phương Tịnh Ðộ, thiệt là chẳng thể nghĩ bàn.  Nhưng bạn y theo bất cứ bộ kinh nào đều phải đừng hoài nghi, hiện nay có người y theo kinh Vô Lượng Thọ, hoài nghi bản hội tập của lão cư sĩ Hạ Liên Cư, người này thật thà niệm Phật có thể vãng sanh không?  Có thể vãng sanh, sanh đến Biên Ðịa Nghi Thành.  Ðây là việc nói trong kinh.  Bạn phải chân niệm, chân chánh tin tưởng A Di Ðà Phật, thật sự tin tưởng Tịnh Ðộ, bạn còn hoài nghi bản hội tập của kinh này, thì bạn sẽ sanh đến Nghi Thành.  Tại sao chúng ta lại làm chuyện như vậy?  Bạn hoài nghi bản kinh này thì bạn đừng y theo là được rồi, bạn y theo một trong chín bản kinh cũng được.  Thậm chí có thể nói không y theo kinh Vô Lượng Thọ, bạn y theo kinh A Di Ðà cũng được, kinh bản nhiều như vậy, y theo bất kỳ một bản nào cũng có thể vãng sanh.  Nhưng đối với những kinh khác nhất định đừng hoài nghi để tránh khỏi phải đọa vào Biên Địa Nghi Thành, việc này có lợi ích to lớn đối với mình.  Thế nhưng trong tâm người thông minh, có trí huệ, có phước đức hiểu rõ pháp môn niệm Phật của Tịnh Tông trong những năm gần đây tại sao có thể hoằng dương rộng rãi đến khắp thế giới, làm cho rất nhiều người sanh khởi lòng tin, phát nguyện niệm Phật cầu sanh Tịnh Ðộ, đó là do nhân duyên gì tạo thành vậy?  Là do bản hội tập của lão cư sĩ Hạ Liên Cư tạo thành đấy, đây là sự thật.

          Nếu chúng ta hiểu được sự thật này, nếu bạn hủy báng bản hội tập thì tội nghiệp mà bạn đã tạo chắc chắn sẽ là A Tỳ địa ngục, có thể tránh khỏi không?  Niệm Phật có thể vãng sanh không?  Không thể.  Tại sao không thể?  Nghiệp chướng, tập khí quá nặng.  Tuy niệm A Di Ðà Phật nhưng vọng tưởng, phân biệt, chấp trước một tơ hào cũng chẳng đoạn, lại còn phạm lỗi lầm nghiêm trọng là hủy báng Tam Bảo.  Vậy thì phải đọa địa ngục trước, tội báo địa ngục chịu hết rồi thì khi ra khỏi địa ngục, gặp được duyên, trong A Lại Da thức vẫn còn hạt giống A Di Ðà Phật, lại bắt đầu niệm tiếp tục.  Chuyện này nói ra chẳng kỳ lạ gì cả, trong đời quá khứ chúng ta đã từng làm qua, chúng ta đã từng đọa địa ngục, chịu tai nạn trong vô lượng kiếp, tội báo đó chịu hết rồi, đến đời này mới được thân người, gặp được pháp môn này.  Nghĩ đến chuyện làm khờ dại lúc trước, chịu đựng những khổ nạn, trong lòng quá sợ.  Bây giờ chúng ta đã [tỉnh ngộ] quay trở về, hiểu rõ rồi, sẽ không làm những chuyện khờ dại này nữa.

          Do đó bất luận những người hủy báng tôi, sỉ nhục tôi, hãm hại tôi, thậm chí sát hại tôi, tôi cũng đều chắp tay tán thán, cảm ân mến đức, chẳng có một chút oán hận nào cả, tại sao vậy?  Vì tôi hiểu được Tây phương Cực Lạc thế giới là nơi những người tốt lành nhất tụ hội, tôi phải tập thành tiêu chuẩn tốt lành nhất thì mới đến được Tây phương Cực Lạc thế giới, được đại chúng hoan nghinh.  Chẳng có một tí ác ý nào cả.  Ðối với hết thảy người, hết thảy sự, hết thảy vật chỉ có một tâm ‘cảm ân mến đức’.

          Nếu bạn hỏi những người hãm hại mình, thậm chí sát hại mình có ân đức gì đối với mình mà phải cảm ân họ, báo đáp họ.  Có ân đức đấy.  Họ hủy báng, sỉ nhục, hãm hại cũng giống như thầy giáo ra bài thi vậy, họ ra bài cho mình thi, cửa ải này thông qua rồi, làm sao không có ân đức cho được?  Nếu không có bài thi này, mình chẳng biết công phu của mình rốt cuộc đã đến giai đoạn nào?  Chẳng thể biết được.  Nếu hủy diệt mình, mình càng cảm tạ họ.  Tại sao?  Sớm một ngày đến Cực Lạc thế giới, họ đã đưa mình đi.  Thế gian này quá khổ rồi, phước báo trí huệ của bạn quá lớn, đừng ở đây chịu khổ nữa, hãy đi mau.  Vậy thì làm sao không có ân đức cho được?  Chết sớm thì vãng sanh sớm, chết sớm thì hưởng phước sớm, ân đức đó quá lớn!  Tội, phước, thiện, ác đều ở tại một niệm.  Thế nên bạn có một niệm giác ngộ, đến đâu tu phước, có chỗ nào chẳng phải là nơi tu phước?  Lúc nào không phải là lúc tu phước?  Chuyện nào không phải là chuyện tu phước?  Vấn đề là bạn giác ngộ hay không giác ngộ?  Thế nên chư Phật, Bồ Tát, Duyên Giác đối với hết thảy chúng sanh chỉ có một tâm cảm ơn.  Những Ðăng Ðịa đại Bồ Tát đều tri ân báo ân, cùng với quan niệm và tư tưởng của phàm phu chúng ta đích thực là chẳng giống nhau.

          Ngoài tội Ngũ Nghịch như trong các kinh đã nói ra, kinh Thập Luân cũng như kinh [Địa Tạng] này đều có nói [bốn tội đọa địa ngục nữa].  Phật còn bảo Tăng Hộ [10], ngài nói có chín hạng người thường đọa A Tỳ đại địa ngục, ngoài ngũ nghịch còn thêm bốn loại.  Thêm bốn loại, thứ nhất là ‘Ăn đồ của Tăng’ (Thực Tăng Vật), ăn đồ của người xuất gia.  Chúng tôi nghe xong rất sợ, rất nhiều cư sĩ tại gia đến đạo tràng và ăn đồ của người xuất gia, như vậy thì phải làm sao?  May là Tịnh Tông Học Hội và Cư Sĩ Lâm đều là đạo tràng của người tại gia, chúng tôi là người xuất gia đến ăn đồ của người tại gia.  Ðây là nói về Thập phương Thường Trụ, cách ăn như thế nào.  Ăn với cái tâm trộm cắp, tâm tham, vậy thì sẽ có tội.  Nếu bạn đến chùa rồi người chủ trì mời bạn ăn, như vậy thì không có tội.

          Chư vị đều biết trong tự viện, tòng lâm trước kia có rất nhiều cư sĩ đến cư trú (quải đơn).  Nếu chư vị coi những tự viện tòng lâm lớn ở Trung Quốc đại lục có phân ra Nội Viện và Ngoại Viện, Nội Viện là nơi người xuất gia trú, còn Ngoại Viện là nơi cư sĩ ở.  Vì chế độ xã hội thời xưa chẳng giống thời nay, hồi xưa là thời đại nông nghiệp, thời gian nhàn rỗi trong xã hội nông nghiệp rất dài, trong thời gian chẳng làm lụng, canh tác, mọi người có thời gian rảnh rỗi, rất nhiều người vào chùa ở cả mấy tháng.  Vô chùa làm gì?  Nghe kinh, niệm Phật, tham thiền.

          Vô chùa để ‘thảo đơn’, tức là xin phép được ‘quải đơn’ (ở lại) trong chùa, chùa sẽ giao một phần công việc cho người này làm, nếu vậy thì ăn trong chùa sẽ không có vấn đề gì cả, như vậy chẳng phải là ăn miễn phí.  Phần lớn những người đọc sách (học trò) được giao công việc chép kinh, hồi xưa chẳng có ấn loát, chỉ có thể chép tay.  Những người đọc sách đến chùa ở, chùa hoan nghinh bạn, bạn giúp chùa chép kinh thì tạng kinh trong lầu Tàng kinh sẽ phong phú hơn.  Vốn chỉ có một bộ kinh, nếu bạn chép một bộ thì sẽ thêm được một bộ, chép hai bộ thì tàng kinh thêm được hai bộ.  Do đó công việc của phần đông những người đọc sách quải đơn trong chùa nhất định sẽ là chép kinh.

          Nếu không phải là chép kinh thì sẽ được phân phối một số công việc nặng nhọc hơn, thí dụ như quét dọn, giúp việc trong nhà bếp, nhà xay giã gạo.  Vì thời xưa chúng trụ trong chùa rất nhiều, đời sống cũng khó khăn, trong nhà bếp nấu nướng bằng củi chụm, củi chụm phải có người đốn củi, đốn xong đem về phải chẻ ra, đây là những công việc nặng nhọc.  Gạo đều là gạo lứt, gạo gặt về là thóc, phải xay thành gạo, [đó là] gạo lứt, lại phải giã cho trắng, đều cần nhân công.  Do đó xin quải đơn trong chùa hơn phân nửa là phải làm những công việc này.  Thế nên đi vào chùa ở thật là phước huệ song tu, như vậy thì không có vấn đề gì cả.  Nếu bạn vào chùa ăn không (miễn phí) thì tội này nặng lắm.  Chuyện ‘thực Tăng vật’ phải giảng cho rõ, nếu không giảng rõ thì mọi người sẽ sợ và chẳng dám đến chùa nữa.

          Thứ hai là ‘Phật vật’, tùy tiện dùng những phẩm vật cúng Phật, tội này rất nặng.  Thế nên hết thảy phẩm vật đều cúng Phật, cúng Tăng trước, sau đó chúng ta mới thọ dụng.  Thứ ba là ‘giết cha’, thứ tư ‘giết mẹ’, thứ năm ‘giết A La Hán’, thứ sáu ‘phá hòa hợp Tăng’, đây là những tội trong tội Ngũ Nghịch, thứ bảy là ‘phá tỳ kheo tịnh giới’, xúi giục, sai khiến tỳ kheo phạm giới sẽ đọa địa ngục A Tỳ.  Thứ tám là ‘phạm tịnh hạnh ni’, nếu xâm phạm tỳ kheo ni thanh tịnh sẽ phải đọa địa ngục A Tỳ.  Thứ chín là ‘làm Nhất Xiển Đề’.  Nhất Xiển Đề là Phạn ngữ, nghĩa là người chẳng có thiện căn.  Chúng ta thường gọi là trong tâm tràn đầy tà ác, mỗi niệm đều tương ứng với tà tri, tà kiến, mười nghiệp ác, do đó nói họ chẳng có thiện căn.

          Phật nói chín hạng người này thường thường ở trong địa ngục.  Chư vị phải biết sau khi ra khỏi địa ngục, họ còn tập khí ác, cho dù đời trước tu có phước báo nên được thân người, nhưng tập khí này vẫn còn.  Dường như họ không làm ác thì rất khó chịu vậy, rất khó sống qua ngày.  Ðây là tâm ác, ý ác, lời ác, hành động ác tạo thành một thứ tập quán, như vậy dễ sợ vô cùng.  Cho nên thời gian sanh đến cõi người, cõi trời chẳng lâu dài, họ lại tạo tội nghiệp, mất đi thân người rồi thì họ phải vào địa ngục trở lại.  Kinh này nói rất tường tận về chuyện này, làm mệt nhọc Ðịa Tạng Bồ Tát, ngài thật là vô cùng từ bi.

          ‘Kinh Chánh Pháp Niệm’ nói cái khổ ở địa ngục A Tỳ vượt trội gấp ngàn lần mười địa ngục lớn.  Trong kinh chúng ta thường nói đến tám địa ngục lạnh, tám địa ngục nóng, mười tám tầng địa ngục, [so ra thì] cái khổ ở địa ngục A Tỳ, địa ngục Vô Gián vượt hơn không phải chỉ cả ngàn lần thôi đâu.  Thọ mạng ngắn thì là một kiếp, nói cho chư vị biết, một kiếp này là đại kiếp chứ không phải tiểu kiếp.  Tạo những nghiệp nhân địa ngục rất dễ dàng, sau khi đọa địa ngục muốn thoát ra quá khó, quá khó!  Thế nên chúng ta phải hiểu, phải rõ ràng, phải ghi nhớ những nghiệp nhân quả báo này, những chuyện này muôn vàn không nên làm, tuyệt chẳng nên tham một chút lợi lộc trước mắt mà tạo ra những tội nặng như vậy.

          Ðọc ‘kinh Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện’ nâng cao cảnh giác của mình, cảnh giác cao độ.  Do đó nói thật ra phải thường đọc kinh này, chúng ta phải đọc như đọc Giới kinh.  Giới kinh: nửa tháng phải tụng giới, mỗi nửa tháng phải niệm một lần.  Căn tánh người hiện nay chẳng giống với người thời xưa, nửa tháng chẳng còn hiệu quả nữa, một ngày ấm mười ngày lạnh.  Thế nên tôi yêu cầu các đồng tu niệm Phật, mỗi ngày sau khi tụng kinh buổi tối xong, phải đọc Thái Thượng Cảm Ứng Thiên, Văn Xương Ðế Quân Âm Chất Văn một lần, gộp nó chung vào khóa tối.  Số chữ trong hai bài này không nhiều, gộp hai bài lại cỡ chừng hai ngàn chữ, không nhiều lắm.  Ðọc nó coi như đọc Giới Luật, mỗi ngày đều tự nhắc nhở mình, từng giờ từng phút phản tỉnh thì mới giữ cho thân người khỏi đọa ác đạo.  Xin xem tiếp:

 

          Phục hữu địa ngục danh viết Tứ Giác.  Phục hữu địa ngục danh viết Phi Ðao.  Phục hữu địa ngục danh viết Hỏa Tiễn.  Phục hữu địa ngục danh viết Giáp Sơn.  Phục hữu địa ngục danh viết Thông Thương.  Phục hữu địa ngục danh viết Thiết Xa.  Phục hữu địa ngục danh viết Thiết Sàng.  Phục hữu địa ngục danh viết Thiết Ngưu .  Phục hữu địa ngục danh viết Thiết Y.  Phục hữu địa ngục danh viết Thiên Nhẫn.  Phục hữu địa ngục danh viết Thiết Lư.  Phục hữu địa ngục danh viết Dương Ðồng.  Phục hữu địa ngục danh viết Bão Trụ.  Phục hữu địa ngục danh viết Lưu Hỏa.  Phục hữu địa ngục danh viết Canh Thiệt.  Phục hữu địa ngục danh viết Tỏa Thủ.  Phục hữu địa ngục danh viết Thiêu Cước.  Phục hữu địa ngục danh viết Ðạm Nhãn.  Phục hữu địa ngục danh viết Thiết Hoàn.  Phục hữu địa ngục danh viết Tranh Luận.  Phục hữu địa ngục danh viết Thiết Phu.  Phục hữu địa ngục danh viết Ða Sân. 

          Lại có địa ngục tên là Tứ Giác[11].  Lại có địa ngục tên là Phi Ðao.  Lại có địa ngục tên là Hỏa Tiễn.  Lại có địa ngục tên là Giáp Sơn.  Lại có địa ngục tên là Thông Thương.  Lại có địa ngục tên là Thiết Xa.  Lại có địa ngục tên là Thiết Sàng.  Lại có địa ngục tên là Thiết Ngưu.  Lại có địa ngục tên là Thiết Y.  Lại có địa ngục tên là Thiên Nhẫn.  Lại có địa ngục tên là Thiết Lư.  Lại có địa ngục tên là Dương Ðồng.  Lại có địa ngục tên là Bão Trụ.  Lại có địa ngục tên là Lưu Hỏa.  Lại có địa ngục tên là Canh Thiệt.  Lại có địa ngục tên là Tỏa Thủ.  Lại có địa ngục tên là Thiêu Cước.  Lại có địa ngục tên là Ðạm Nhãn.  Lại có địa ngục tên là Thiết Hoàn.  Lại có địa ngục tên là Tranh Luận.  Lại có địa ngục tên là Thiết Phu.  Lại có địa ngục tên là Ða Sân. 

          Ðịa Tạng Bồ Tát giảng danh hiệu của địa ngục, nói cho chúng ta 22 loại, đây là nói sơ lược, nếu nói kỹ thì nói chẳng hết.  Ngài nói ‘Lại có’ tức là nói rõ những địa ngục phụ thuộc của địa ngục A Tỳ, địa ngục Vô Gián, chủng loại quá nhiều, chỉ nói sơ lược mà thôi.  Thứ nhất gọi là Tứ Giác (Bốn Cạnh), kinh Chánh Pháp Niệm Xứ nói nghiệp nhân quả báo của địa ngục này.  Ngài nói có người thật sự chẳng phải là người tu hành, ở Trung Quốc thì Sa Môn là danh từ người xuất gia chuyên dùng, nhưng ở cổ Ấn Ðộ thì khác.  Thời cổ Ấn Ðộ người tại gia hay xuất gia gì đều xưng là Sa Môn, thế nên xưng là Sa Môn không nhất định là người xuất gia.  Ðịnh nghĩa của Sa Môn là ‘cần tức’, nghĩa là siêng tu Giới Ðịnh Huệ, diệt trừ tham, sân, si.  Người như vậy thì được gọi là Sa Môn, thế nên tại gia, xuất gia đều có thể dùng.  Nhưng sau khi Phật pháp truyền đến Trung Quốc, Sa Môn biến thành danh từ người xuất gia chuyên xưng, người tại gia chẳng gọi là Sa Môn.  Người ấy chẳng phải là người xuất gia, tự mình xưng là xuất gia thì tội này rất nặng, đây là mạo danh người xuất gia.  Ðiều này chúng ta thật sự phải đề cao cảnh giác, cảnh giác cao độ.  Ngày nay chúng ta đã xuất gia rồi, có thật sự phải là người xuất gia hay không?  Ngày nay chúng ta đã thọ giới rồi, có thật sự là đã thọ giới chăng?  Chẳng có.  Ðiểm này nếu chúng ta tự xưng là Tỳ Kheo thì tội sẽ nặng, tội nghiệp cực nặng.

          Trong các vị tổ sư Tịnh Tông, Ngẫu Ích đại sư triều Minh thật rất phi thường!  Ngẫu Ích đại sư là hạng người gì?  Chẳng ai biết.  Nhưng Ấn Quang đại sư thì chúng ta biết, ngài là Đại Thế Chí Bồ Tát hóa thân tái lai.  Di Đà Kinh Yếu Giải là do ngài Ngẫu Ích soạn, Ấn Quang đại sư tán thán cuốn Yếu Giải này, ngài nói: “Cuốn Di Đà Kinh Yếu Giải này dù cho cổ Phật tái lai làm thêm chú giải cho kinh Di Đà cũng chẳng thể vượt trội hơn cuốn này được”, tán thán đến cùng cực vậy.  Năm xưa lúc tôi ở đây, Diễn Bồi pháp sư hỏi tôi, ngài nói: “Lời này của Ấn Quang đại sư có phải đã nói quá lố hay không?  Làm sao có thể tán thán như vậy?”.  Tôi thật thà trả lời ngài, tôi nói: “Chẳng quá đáng đâu.  Tôi đã đọc Yếu Giải, cũng đã giảng hết mấy lần, đích thật là vô cùng hiếm có, tôi khẳng định cách nói của Ấn Quang đại sư”.  Ngẫu Ích đại sư là ai?  Nếu chẳng phải A Di Đà Phật tái lai thì nhất định phải là hạng như Quán Thế Âm Bồ Tát.  Phật, Bồ Tát tái lai, ngài đến thị hiện ở đời Mạt pháp, thị hiện xuất gia, thọ giới, ngài hiểu Giới Luật, đương thời cũng có người xưng ngài là luật sư.  Ngài kết luận cho chúng ta rằng ở Trung Quốc từ Nam Tống trở về sau chẳng còn tỳ kheo nữa.  Chúng ta muốn thọ giới, Giới Kinh giảng về giới tỳ kheo, tối thiểu phải có năm tỳ kheo chân chánh truyền giới thì bạn mới đắc giới.  Nam Tống trở về sau đã không có tỳ kheo rồi, thì chúng ta làm sao đắc giới được?  Thế nên Ngẫu Ích đại sư tự thọ giới xong, ngài ở trước Phật, Bồ Tát trả lại giới, chẳng đắc được, trước hình tượng của Phật, Bồ Tát cầu thọ giới Sa Di.  Cả đời ngài tự xưng là ‘Bồ Tát Giới Sa Di’, đây là thân phận của ngài.  Thế nên phong phạm của Ngẫu Ích đại sư thị hiện làm gương mẫu cho chúng ta, chúng ta phải biết học theo.

          Học trò của ngài, đồ đệ của ngài là pháp sư Thành Thời, sau khi Ngẫu Ích đại sư viên tịch, tất cả trước tác đều do pháp sư Thành Thời chỉnh lý, khắc bản in lưu thông, đây là đại công thần của Ngẫu Ích đại sư.  Thầy đã tự xưng là Sa Di nên học trò chẳng dám xưng là Sa Di, ngài Thành Thời tự xưng là ‘xuất gia Ưu Bà Tắc’, đây là Danh phù hợp với Thật, chẳng phạm lỗi lầm.  Ngày nay chúng ta là thân phận gì, thật sự làm trọn vẹn xuất gia Ưu Bà Tắc là tốt lắm rồi, có thể làm trọn ngũ giới thập thiện, thì chúng ta tức là đệ tử của Di Đà.  Đệ tử tại gia tu tập ngũ giới thập thiện, chúng ta cũng tu ngũ giới thập thiện, chúng ta là thân phận xuất gia tu ngũ giới thập thiện, phải hiểu rõ địa vị chân chánh của chúng ta là xuất gia Ưu Bà Tắc.  Trong kinh Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo có nói thời Mạt Pháp chẳng có tỳ kheo truyền giới, từ nơi đâu đắc [giới]? Trên luân tướng [12]  đắc được, Chiêm Sát luân tướng, Ngẫu Ích đại sư dùng Chiêm Sát luân tướng để cầu Bồ Tát giới Sa Di.  Người xưa cẩn thận, nghiêm cách như vậy là có đạo lý.

          Đến những năm đầu Dân Quốc, Hoằng Nhất đại sư là vị mọi người đều tôn kính, ngài tu Tịnh Độ, đối với giới luật cũng rất có nghiên cứu.  Ngài có diễn giảng ở Mân Nam Phật Học Viện, sưu tập trong Hoằng Nhất Đại Sư Giảng Diễn Lục, chư vị có thể xem được.  Ngài khuyên người xuất gia chúng ta không thể không thọ giới, thọ một hình thức, nhưng tự mình nhất định phải biết là chẳng đắc giới.  Tại sao phải thọ giới trên hình thức này?  Để khỏi bị người thế gian hiềm nghi bạn chẳng thọ giới, chúng ta thọ giới này (tức Cụ Túc Giới) trên hình thức.  Tự mình phải hiểu rõ rằng mình chẳng đắc giới, chẳng phải là thọ xong giới tỳ kheo thì thành tỳ kheo, thọ xong Bồ Tát giới thì thành Bồ Tát, đâu có chuyện đơn giản như vậy?  Thế nên trong Lục Tức của tông Thiên Thai chúng ta là tỳ kheo gì?  Là Danh Tự Tỳ Kheo, có danh vô thật, phải hiểu thân phận này.  Hoằng Nhất đại sư cả đời cũng tự xưng là Xuất Gia Ưu Bà Tắc, danh phù hợp với thật, như vậy mới đúng.  Tự mình chẳng đắc giới, tự mình chẳng trì giới, mà tự xưng là tỳ kheo thì là vọng ngữ, đại vọng ngữ, Tứ Giác địa ngục có thể sẽ có phần mình.

          Ngoài ra còn một nguyên nhân nữa, chúng ta gọi ‘nghiệp nhân’ là nghiệp duyên, [đó là] ‘nghe, xem ca vũ’.  Người thế gian gọi là giải trí, chỗ vui chơi, chúng ta không đi đến những chỗ đó. [Y phục của] người xuất gia Trung Quốc có một việc tốt, người xuất gia mặc y phục này mà đi coi ca múa trong rạp hát, người ta sẽ mắng bạn, tự mình bạn cũng xấu hổ chẳng dám đi.  Còn hòa thượng, người xuất gia Nhật Bản đi [đến những chỗ ấy] thì bạn nhìn không thấy, họ mặc âu phục, giày tây.  Còn cà sa họ để ở đâu?  Để trong túi áo.  Cà sa của họ có lẽ chỉ lớn cỡ ba tấc, lúc làm Phật sự thì lấy ra đeo lên cổ, lúc không cần dùng thì cuốn lại, bỏ vào túi áo.  Họ mang giày tây, bạn chẳng nhìn ra, họ đến những chỗ ấy thì người khác nhìn không ra.  Chúng ta thì không được, một khi chúng ta vừa vào chỗ đó, mọi người sẽ chẳng coi ca múa nữa, mà sẽ lại ‘coi chúng ta’, [sẽ hỏi] tại sao Thầy lại đến đây?

          Thế nên y phục này không thể sửa đổi, có tác dụng rất lớn.  Ở Đài Loan có người đã từng đề xướng sửa đổi y phục này, rất may là có một số lão hòa thượng kiên trì, nhất quyết không chịu đổi.  Thế nhưng bạn không đi xem, trong máy truyền hình (TV) có rất nhiều chương trình này, hiện nay rất nhiều đạo tràng có TV, đây đều là việc phiền phức.  Bạn nhìn thấy những biểu diễn ca vũ, nếu bạn chẳng khéo quán sát, sanh tâm ái nhiễm, thì sẽ đọa địa ngục này.  Người khéo quan sát sẽ coi như thế nào?  Mộng huyễn, bọt, bóng, như sương cũng như chớp, càng đề cao cảnh giác.  Từ trên màn ảnh có thể thấu hiểu được, có thể quán sát cả đời người, cả vũ trụ chỉ là một màn hát, đều là giả, chẳng phải thiệt.  Khéo quán sát thì ngay nơi ấy bạn có chỗ [giác] ngộ; nếu chẳng khéo quán sát, sanh khởi nhiễm tâm tham ái thì phiền phức lớn lắm.

          ‘Tứ Giác địa ngục’, trong kinh nói cho chúng ta, xung quanh là tường sắt bao bọc, sắt đều đốt đỏ rực, địa ngục là một biển lửa.  Lửa từ bốn góc phun ra, con người trong ấy bị lửa đốt, bị lửa nung nấu, địa ngục cũng giống như một nồi lớn, đã thiêu cháy đỏ rực rồi còn tiếp tục phun lửa, ngày đêm chẳng gián đoạn.  Trong chú giải của Thanh Liên đại sư, ngài nêu lời giảng của bộ Lập Thế A Tỳ Đàm Luận [về địa ngục Tứ Giác này], ngoài ra còn [nêu thêm] một nghiệp nhân [của địa ngục ấy].  Đời quá khứ lúc còn ở loài người, có khi tự mình làm, có khi kêu người khác sát sanh, phần đông người ta nói dùng dao để chặt, để bằm, bạn bằm chém tay, chân, đầu của những loài súc sanh, tạo tội nghiệp này cũng sẽ đọa vào Tứ Giác địa ngục để thọ báo.  Thí dụ giết gà, gà đã giết rồi, đã chết xong rồi chặt thân nó ra, nó có đau khổ không?  Thần thức còn chưa lìa khỏi, vẫn còn cảm giác.  Nếu gặp một loại gọi là quỷ giữ thi thể, thế nào gọi là quỷ giữ thi thể?  Chấp trước cứng chắc vào thân phận của nó, chẳng chịu lìa khỏi, thế thì phiền phức sẽ rất lớn.  Sau khi nấu chín, khi bạn ăn nó, nó cũng cảm thấy đau khổ.  Đó là một loại chúng sanh chấp trước cứng chắc vào thân của nó, làm sao nó không căm hận cho được?  Tội nghiệp của bạn tạo bao lớn?  Những chuyện này thật ra đức Phật chẳng nhẫn tâm nói, tuyệt đối chẳng phải dọa người.  Chỉ có kẻ thiện căn sâu dầy, nghe lời Phật dạy xong bèn có thể tin tưởng, mới thật sự chọn ăn chay, trong đời  này tuyệt chẳng ăn thịt chúng sanh, tuyệt chẳng sát hại chúng sanh.  Những gì đã làm lúc trước thì thật lòng sám hối.  [Đã làm] sai rồi!  Siêng tu phước huệ, hồi hướng cho các oán gia, chủ nợ, hy vọng mình thành Phật đạo, những oán gia chủ nợ này sẽ cùng mình thành Phật.  Phải phát chân tâm, chân nguyện, chân thật tu hành!  Vậy thì những oán gia chủ nợ này sẽ chẳng tạo phiền phức cho bạn, sẽ chẳng gây chướng ngại cho bạn.  Tại sao vậy?  Khi bạn thành tựu thì họ sẽ được hưởng lây, nếu họ gây chướng ngại cho bạn thì họ sẽ hại họ.  Nếu chúng ta làm giả dối, chẳng chân thật, những oán gia chủ nợ này dứt khoát sẽ chẳng tha cho bạn, trừ phi chẳng tìm được cơ hội thì thôi, một khi đã nắm chắc cơ hội thì họ sẽ đến báo thù.

          Thứ hai là ‘Phi Đao (Đao Bay) địa ngục’, tức là Đao Luân địa ngục, bốn bên đều là núi đao, trên không trung còn có đao luân (bánh xe có đao).  Đao luân này chẳng phải chỉ có một cái, mà là vô lượng vô số cũng giống như mưa vậy, từ không trung rớt xuống, người trong địa ngục này sẽ bị thân thể bằm nát, tan xương nát thịt.  Nghiệp nhân này là đời quá khứ trong cõi người sát sanh buông tuồng, đều là quả báo của sát nghiệp, bạn sát hại nhiều chúng sanh thì bạn phải thọ khổ ở địa ngục này.  Thứ ba là ‘Hỏa Tiễn địa ngục’, tiễn, thời xưa cung tên có lửa, từng mũi tên lửa này bắn vào thân tội nhân, trong kinh nói ‘một ngày một đêm có sáu trăm ức lần chết đi sống lại’.  Hình phạt trong địa ngục nếu thọ xong bèn chết thì tốt lắm!  Đó là chuyện vui lớn nhất, vì chết xong bèn lìa khỏi địa ngục.  [Thật ra thì] họ sẽ chẳng chết, chết xong trong địa ngục bị gió thổi một cái liền sống lại, sống lại để thọ báo tiếp tục.  Thế nên trong địa ngục thật là cầu sanh chẳng được, cầu chết cũng không xong, phải thọ chịu những tội báo này.  Trong kinh nói nghiệp nhân của họ là lúc còn ở thế gian ngu si, tham dục nặng nề, chẳng hiếu thuận cha mẹ, chẳng tôn kính sư trưởng, chẳng thể tùy thuận thiện giáo, sát hại hết thảy chúng sanh, cho nên bị quả báo này.

          Thứ tư là địa ngục Giáp Sơn (Núi Kẹp), người đi giữa hai hòn núi, núi khép vào nhau [ép dẹp những tội nhân này], chịu hình phạt như vậy.  Cũng có kinh gọi là ‘Chúng Hiệp địa ngục’, nhiều núi hợp vào nhau [ép tội nhân].  Kinh nói tội nhân trong địa ngục sợ ngục tốt, đầu trâu mặt ngựa cầm những ‘lang nha bổng’ [13] đuổi theo các tội nhân, tội nhân sợ hãi nên chạy vào núi trốn, núi này ép lại, không ai chạy thoát.  Trong kinh diễn tả hai hòn núi khép lại, người ở chính giữa bị ép dẹp, xương thịt bầy nhầy, máu chảy thành sông.

          Chúng ta coi quả báo này thì phải nghĩ đến nghiệp nhân, họ tạo nghiệp nhân gì?  Nghiệp nhân này vô cùng phức tạp, rất nhiều ác nghiệp cảm thành quả báo như vậy.  Con người không chỉ trong một đời mà là trong vô lượng kiếp đã tạo quá nhiều ác nghiệp, cho nên đọa vào địa ngục là quả báo chung, hết thảy những tội nghiệp của bạn ở đó nhận chịu quả báo cho đến hết.  Nói theo lý thì sau khi ra khỏi địa ngục thì sẽ thành người tốt, nghiệp chướng đã tiêu hết.  Không sai, nghiệp chướng đã hết, nhưng tập khí vẫn còn, phiền phức ở chỗ này, tập khí vẫn còn sót lại.  Nếu bên trong có phiền não tập khí, bên ngoài lại chịu không nổi sự dụ dỗ của ác duyên ngũ dục lục trần, vậy thì rắc rối lớn lắm, lại bắt đầu tạo nghiệp nữa.  Ra khỏi rồi lại tạo tội tiếp tục, bạn nói như vậy thì chịu sao nổi!  Nhân quả tuần hoàn, dây dưa chẳng dứt.

          Địa ngục Thông Thương (Thương Đâm) còn gọi là địa ngục Kiếm Diệp (Lá Kiếm), ‘thương’ là một loại ‘đao thương’ [14] thời xưa.  Nghiệp nhân vẫn là sát sanh, trong đó bao gồm hết thảy chiến tranh, đặc biệt là những nghiệp báo mặc tình giết người, sát hại hết thảy chúng sanh trong chiến tranh.  Địa ngục Thiết Xa (Xe Sắt), kinh Lăng Nghiêm nói ‘Tư báo kết vào hơi thở thì thành xe lửa[15]’, cũng còn gọi là địa ngục Hỏa Xa (Xe lửa).  Xe bằng sắt, đốt đỏ rực lên, tội nhân dùng gân của mình, rút gân của mình để làm dây kéo chiếc xe này, phía sau có các quỷ tốt đốc thúc, xua đuổi.  Kinh Hiền Ngu có nói đức Phật Thích Ca Mâu Ni vào thời quá khứ đọa vào địa ngục này, vài người kéo chiếc xe sắt, lúc nhìn thấy một người bị rút gân vô cùng đáng thương, đau khổ, đức Phật Thích Ca phát tâm từ bi, hỏi quỷ tốt có thể rút thêm một sợi gân cho người ấy không?  Quỷ tốt thấy Phật Thích Ca như vậy bèn lấy ‘lang nha bổng’ đánh chết ngài, đánh chết xong ngài bèn thoát ly địa ngục.  Trong địa ngục khi khởi một tâm niệm thiện bèn vượt thoát ra ngoài, lúc khởi tâm thiện ấy, ngục tốt nhìn thấy ghét nên đánh cho bạn chết, bạn bèn vượt thoát địa ngục.

Thế nên bạn phải hiểu đạo lý này, chúng ta là người niệm Phật A Di Đà, mỗi tâm niệm đều tương ứng với Phật, nếu có người đánh chết chúng ta, chúng ta bèn siêu sanh, tức là đến Cực Lạc thế giới, siêu việt lục đạo luân hồi, bạn làm sao có thể oán hận họ được?  Cám ơn còn không kịp, đây là thật chẳng phải giả.  Niệm niệm đều tương ứng với tây phương Tịnh Độ, niệm niệm đều tương ứng với các điều thiện, tây phương Cực Lạc thế giới là nơi ‘những người thượng thiện tụ hợp’, mỗi niệm tâm địa đều thuần thiện, chẳng có một tí ác ý gì cả, chúng ta mới nắm chắc việc vãng sanh, một tí gì cũng chẳng hoài nghi.  Tâm thiện, lời nói thiện, hành vi thiện, nhất tâm niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, đâu có đạo lý nào chẳng sanh được!  Người như vậy không sanh Tịnh Độ thì người như thế nào mới sanh Tịnh Độ được?  Thế nên chúng ta phải nắm chắc lấy sự vãng sanh tây phương Tịnh Độ, cách làm như vậy không sai.  Đối với hết thảy người, sự, vật ở thế gian đều vui vẻ, đều cảm ân, chẳng có một tơ hào oán hận, ý niệm đối địch, như vậy mới tốt.

Thứ bảy là địa ngục Thiết Sàng (Giường Sắt), cái giường này cũng bị lửa đốt, người thọ hình phạt nằm trên giường, giống như hiện nay chúng ta nói thiêu trên bảng sắt, còn nghiêm trọng hơn thiêu bảng sắt rất nhiều.  Thiêu trên bảng sắt còn thiêu chưa đỏ, còn giường này thì thiêu đến đỏ rực.  Trong kinh Phật nói hình phạt loại này hơn phân nửa đều là quả báo tà dâm, dâm dật.  Thứ tám là địa ngục Thiết Ngưu (Trâu Sắt), kinh văn phía sau có nói đến.  Thứ chín là địa ngục Thiết Y (Áo Sắt), là y phục dệt bằng sắt, cũng là thiêu đỏ rực cho tội nhân mặc, tội nhân mặc áo này toàn thân đều bị đốt khét lẹt.  Trong kinh nói với chúng ta nghiệp nhân này là trong đời quá khứ trong cõi người dùng roi vọt làm tổn thương chúng sanh hữu tình, tạo tội báo này.  Ngoài ra là xuất gia phá giới, hưởng thọ lòng tin của tín đồ cúng dường y phục, thọ quả báo này.

Cổ đức có hai câu nói rất hay: ‘Nay thấy ca sa rời thân, tương lai áo đơn [16] sắt trói thân’  là nói về quả báo của địa ngục này.  Cho nên ‘dưới chiếc cà sa mất thân người’, chúng ta đắp chiếc cà sa này tạo tội nghiệp.  Cà sa là dấu hiệu của Phật pháp, đắp lên cà sa là có sứ mạng, trách nhiệm tiếp nối huệ mạng của Phật, hoằng pháp lợi sanh.  Chúng ta lấy dấu hiệu của Phật nhưng chẳng làm công tác này, như vậy thì dưới lớp cà sa đánh mất thân người, tương lai sẽ thọ quả báo trong địa ngục Thiết Y.

Thứ mười là Thiên Nhẫn (Ngàn Mũi Nhọn), nhẫn là đao nhẫn, mũi dao nhọn bén.  Kinh Quán Phật Tam Muội có nói đây là một số chúng sanh chẳng thuận theo lời dạy của thầy, phản sư bội đạo, chẳng biết ân đức.  Trộm cắp, hãm hại thầy giáo, sỉ nhục, chọc phá thầy giáo, thậm chí hủy báng đánh giết, tạo những ác nghiệp này sẽ đọa địa ngục Thiên Nhẫn.  Ngoài nghiệp nhân này, hoặc là Sa Môn, Bà La Môn ‘làm chuyện phi pháp’, làm chẳng đúng như pháp, ‘chẳng xấu hổ’.  Dùng ác tâm phá hoại Tam Bảo, thí dụ như phá hoại đạo tràng, tượng Phật, tháp miếu, đoạt giựt pháp vật.  Sát hại chú ruột, cha mẹ, anh em, chị em,  người tạo tội nghiệp trên khi mạng chung đều đọa địa ngục này.  Thiên Nhẫn, trong mũi dao đều nảy ra lửa, Đao Nhẫn này cũng giống như Đao Luân nói phía trên, từ không trung rơi xuống như hạt mưa, người [bị rơi trúng] đều tan xương nát thịt.  Thứ mười một là địa ngục Thiết Lư (Lừa Sắt), thứ mười hai là địa ngục Dương Đồng (Nước Đồng Sôi), Dương Đồng là tội báo của khẩu nghiệp, hay là quả báo của việc ăn uống, đây thuộc về khẩu nghiệp.  Dương đồng ác khẩu, đây là đồng thiêu lỏng rồi cho tội nhân uống, sau khi đồng chảy vào miệng xong, ngũ tạng lục phủ gì cũng bị thiêu đốt hết.

Thứ mười ba là địa ngục Bão Trụ (Ôm Trụ), đây cũng là địa ngục Bào Lạc.  Cây trụ, trụ sắt đốt cháy đỏ rực xong để cho tội nhân ôm, trong kinh đức Phật nói đây là chúng sanh ngu si trong thế gian nhiễm ái tà dâm, đọa vào địa ngục này, địa ngục này vô cùng tàn khốc.  Đầu năm Dân Quốc, cư sĩ Chương Thái Viêm làm phán quan cho Đông Nhạc đại đế, ông đọc kinh [khá nhiều] và cảm thấy địa ngục Bão Trụ này quá tàn nhẫn, đã từng thỉnh cầu Đông Nhạc đại đế xin phế bỏ hình phạt này.  Đông Nhạc đại đế bèn phái hai tên tiểu quỷ dẫn ông đến chỗ đó coi, coi xong về rồi nói tiếp.  Tiểu quỷ dẫn ông đến địa ngục này nhưng ông chẳng nhìn thấy gì cả, lúc đó ông mới vỡ lẽ.  Ông mới hiểu đây là do nghiệp lực của mình biến hiện ra, nếu ông không có nghiệp lực này thì không nhìn thấy.  Mới biết tự làm tự chịu, chẳng phải do vua Diêm La lập ra hình phạt cho tội nhân thọ chịu, thế nên vua Diêm La cũng chẳng thể làm gì được.

Cảnh giới địa ngục là do tự mình biến hiện mà ra, do nghiệp lực hiện ra, chẳng liên quan gì đến những quỷ vương này.  Những kẻ đầu trâu mặt ngựa trong địa ngục, quỷ tốt từ đâu đến?  Cũng từ nghiệp lực của mình biến hiện ra.  Giống như một người nằm mộng vậy, là cảnh giới như vậy, thế nên mới hiểu rõ đạo lý này.  Cảnh giới địa ngục trong đoạn kinh phía trước đã nói rõ, chỉ có hai hạng người có thể nhìn thấy: một là người thọ tội, hai là Bồ Tát vào địa ngục để độ chúng sanh.  Bồ Tát có định lực, có công phu có thể đột phá cảnh giới này, họ có thể nhìn thấy.  Nếu chẳng phải hai hạng người này thì dù địa ngục ở ngay trước mặt cũng nhìn không thấy.  Đây là quả báo của tà dâm.  Trong kinh nói một ngày một đêm có chín trăm ức lần sanh tử, sanh tử quả thật là ở trong từng sát na.

Địa ngục Lưu Hỏa (Lửa Tuôn, lửa từ trên không cuồn cuộn táp xuống), trong Tam Pháp Độ Luận gọi là địa ngục Đại Khốc (Khóc To).  Kinh Lăng Nghiêm nói: “Trong hai tướng quả báo của Vị, thì tướng thứ hai là phun ra khí, lửa mạnh tung bay, đốt nứt tan xương tủy” [17], đoạn này trong kinh Lăng Nghiêm cũng là địa ngục Lưu Hỏa.  Trong địa ngục này nơi đâu cũng là lửa mạnh thiêu đốt, chẳng có đường thoát thân.  Quỷ tốt trong đó chẳng có một chút tâm từ bi nào cả, cứ chạy theo phía sau, chẳng có cách chi thoát khỏi, trạng huống khốn khổ rất khó hình dung nổi.

Thứ mười lăm là địa ngục Canh Thiệt (Cày Lưỡi), đây là kẻ tạo khẩu nghiệp, vọng ngữ, nói lưỡi hai chiều, ác khẩu, ỷ ngữ, những người tạo khẩu nghiệp này.  Đó là địa ngục Kéo Lưỡi, kéo ra xong còn dùng lưỡi cày để cày.  Có lẽ chúng ta sẽ nghĩ cái lưỡi nhỏ như vậy, còn lưỡi cày lớn như vậy làm sao cày được?  Địa ngục là hóa thân, địa ngục bao lớn thì thân hình sẽ lớn như vậy, thế nên khổ báo này chúng ta chẳng thể tư duy, tưởng tượng được.  Địa ngục Tỏa Thủ (Chém Đầu), trong Tam Pháp Độ Luận gọi là địa ngục Hoạt (Sống).  Trong địa ngục này, những quỷ tốt cầm dao, búa, những binh khí sắc bén chém đầu tội nhân, xẻ thân thể tội nhân.  Nghiệp nhân này là gì chúng ta cũng rất dễ tưởng tượng ra, là quả báo sát sanh.  Sát sanh ăn thịt, bạn sát hại chúng sanh như thế nào thì khi đến địa ngục này, quỷ tốt cũng sẽ đối xử với bạn như vậy.  Nghiệp nhân quả báo tơ hào chẳng sai.

Địa ngục Thiêu Cước (Đốt Chân) còn gọi là Nhiệt Hôi (Tro Nóng).  Tro, bạn nhìn thấy dường như tro, thật ra trong đó là lửa, đều đang đốt cháy.  Tội nhân từ chỗ này bước qua thì chân, đầu gối, bắp đùi đều bị thiêu đốt.  Tội nghiệp này có rất nhiều loại, loại thứ nhất là đời quá khứ trong cõi người đem chúng sanh hữu tình, chúng sanh có sanh mạng đút vào lửa thiêu, đút vào tro nóng để nấu, hoặc trong cát nóng, làm những chuyện này.  Hiện nay chúng ta thấy có một số đi du lịch, ở những chỗ gần núi lửa, suối nước nóng, nước và cát đều rất nóng, họ làm chuyện gì?  Nấu trứng gà, hai ba phút thì trứng gà chín, trong trứng cũng có sanh mạng vậy.  Hiện nay có một số trứng chẳng có cồ, nhưng hồi trước trứng toàn là có sanh mạng trong ấy, sát hại chúng sanh thì bạn sẽ thọ chịu những quả báo này.  Nghiệp nhân của quả báo này bao gồm tà dâm, phá giới, đều thọ những quả báo này.

Thứ mười tám là Đạm Nhãn (Ăn Mắt), trong kinh nói rất nhiều nghiệp nhân bất thiện biến hiện ra quả báo này.  Bạn thấy trong địa ngục có một số chim sắt, diều hâu sắt chuyên môn ăn mắt của tội nhân, chẳng có cách chi phòng ngừa.  Đoạt mất hai mắt của tội nhân, sau đó gió vừa thổi thì người đó sống lại, mắt mọc trở lại, chim đó bay lại ăn nữa.  Trong kinh Phật nói nghiệp báo này có liên quan đến nghiệp uống rượu, thích uống rượu, ăn thịt, tạo nên quả báo này.  Địa ngục Thiết Hoàn (Viên Sắt), đói thì nuốt viên sắt.  Khát thì uống đồng chảy, đói thì nuốt viên sắt, những thứ này đều liên quan đến ăn uống chẳng điều độ.

Hai mươi mốt là Thiết Phu (Rìu sắt).  Kinh Trường A Hàm nói trong địa ngục này tội nhân hoảng hốt, bối rối, không có chỗ tránh né.  Do nhân gì tạo thành?  Oan gia chủ nợ đời trước liên lụy, tuy oan gia chủ nợ chẳng hiện ra, tự nhiên biến hiện ra cảnh giới này.  Cảnh giới này có thể [hiện ra] không?  Chúng ta tưởng tượng rất có thể, lúc chúng ta tạo tội nghiệp rất nặng, oan gia chủ nợ tuy chẳng tìm đến, tối ngủ nằm mộng thấy những oan gia chủ nợ này tìm đến, sợ toát mồ hôi lạnh, kinh hoàng hoảng hốt, giấc mộng ấy chẳng phải cảnh giới do tự mình biến hiện ra sao?  Trong mộng có thể biến ra những cảnh giới ấy, chết rồi ở địa ngục cũng giống như trong mộng vậy, do đó cảnh giới này rất có thể sẽ xảy ra.  Chữ Phu (rìu) giống chữ Phủ (rìu), cùng một nghĩa, phần nhiều là thuộc về khẩu nghiệp.  Người xưa nói: ‘Rìu trong miệng, cho nên chém thân là do lời ác độc ấy’, phao tin đồn kiếm chuyện, bươi móc thị phi, hủy báng kẻ thiện, tán thán người ác, phải chịu quả báo này.  Rìu sắt, rìu lớn này nặng hơn những dao thường rất nhiều, rìu cũng có lửa, hết thảy những đồ vật bằng sắt, bằng đồng trong địa ngục đều có lửa, một biển lửa.  Họ phải đọa vào địa ngục này thọ báo.

Thứ hai mươi Tranh Luận, thứ hai mươi hai Đa Sân (Nhiều sân hận), tánh chất của hai [địa ngục] này tương tợ với nhau, có thể gộp chung để nói, cho nên phía sau chúng ta không y theo thứ tự của chúng.  Trong chú giải của Thanh Liên đại sư cũng nói ‘Tranh Luận, Đa Sân’ tuy là hai địa ngục, nhưng nghiệp nhân của chúng chỉ là một.  Tranh luận phát sanh từ tham dục, đố kỵ, vì tâm tham, tâm đố kỵ nên tạo nghiệp sân khuể, cảm đến quả báo này.  Bạn ưa thích tranh luận, đọa vào địa ngục sẽ tranh luận chẳng ngừng nghỉ, ngày tháng như vậy rất khổ!  Đa sân, sân khuể chẳng dứt, đọa vào địa ngục này.  Tam Pháp Độ Luận nói: “Lại vì tội ác, tay tự nhiên sanh vuốt sắt, bén nhọn như lưỡi dao, hình giống nửa mặt trăng.  Ai nấy sanh ý oán kết, anh ghét tôi, chèn ép tôi, tôi nay đàn áp lại anh. Do  đó sanh tâm sân giận, vồ chụp xâu xé nhau”.  Câu này nói rõ tội báo chẳng đến từ bên ngoài, đích thật là từ nghiệp lực của chính mình biến hiện ra.  Tay tội nhân tự nhiên biến thành dao nhọn bén, trong đó tự mình giết mình, chẳng phải người khác giết hại bạn, lại báo thù bạn.

Trong chú giải, Thanh Liên đại sư tổng kết cho chúng ta hay vô cùng: ‘Phải biết hết thảy chư pháp đều là hư dối [18]’.  Kinh Kim Cang nói: ‘Phàm những gì có tướng đều là hư vọng’, ‘Hết thảy pháp hữu vi như mộng, huyễn, bọt, bóng’, Vô Gián, A Tỳ cũng chẳng ngoại lệ.  Nhưng người đọa lạc vào trong ấy chẳng giác ngộ, họ xem hư vọng thành chân thật, cũng giống như chúng ta trong thế gian hiện nay vậy.  Thế nên bạn phải biết địa ngục là phàm những gì có tướng đều là hư vọng, [còn cảnh giới] hiện tiền của chúng ta thì sao?  Hiện tiền cũng là phàm những gì có tướng đều là hư huyễn.  Một không thì hết thảy đều không, một vọng thì hết thảy đều vọng, một chân thì hết thảy đều chân, chẳng có đối lập, nếu bạn có đối lập thì sai rồi.  Nói ‘vọng’ thì hết thảy đều là hư huyễn, nói ‘chân’ thì hết thảy đều là chân thật, vậy mới đúng, mới không trái nghịch nhân quả, chẳng trái nghịch với chân tướng sự thật.

Từ đó mới biết tuy là một cảnh giới hư vọng chẳng thật, giống như cuộc đời hư huyễn chẳng thật hiện tiền của chúng ta, trong đó chúng ta thật sự có cảm thọ khổ, vui, lo, mừng hay không?  Địa ngục là chỗ khổ cùng cực, bạn đến đó phải thọ khổ hay không?  Phải thọ.  Chỉ có người chân chánh hiểu rõ trạng huống chân thật của lục đạo, thập pháp giới thì không thọ mà thôi.  Họ ở trong lục đạo thập pháp giới không khởi tâm, không động niệm, chẳng phân biệt, chẳng chấp trước, đó gọi là siêu phàm nhập thánh.  Chưa tới cảnh giới này thì bạn vẫn  phải thọ, nói cách khác, bạn vẫn còn cho rằng có Ta, có Người, bạn vẫn phải thọ chịu lục đạo luân hồi.  Tới khi nào bạn chẳng còn Ta, chẳng còn Người nữa, kinh Kim Cang nói người này ‘chẳng có ngã tướng, chẳng có nhân tướng, chẳng có chúng sanh tướng’, bạn là Bồ Tát rồi.  Bạn ở địa ngục A Tỳ, địa ngục Vô gián chẳng thọ cái khổ ấy.  Có thể đến địa ngục Vô Gián để thị hiện, độ hóa chúng sanh, cũng giống như sự thị hiện của đức Phật Thích Ca trong địa ngục Hỏa Xa vậy.

Người thọ tội, lúc người chịu sự khổ đau cùng cực thì họ chẳng biết hồi tâm chuyển ý, niệm niệm đều rất khổ, họ sẽ chẳng nghĩ đến chuyện khác được.  Bồ Tát thị hiện ở nơi đó: tôi rút thêm một sợi gân cho người đó, giảm bớt sự đau khổ của người đó.  Lay tỉnh chúng sanh địa ngục [làm cho họ thấy] kẻ khác còn có thể xả mình vì người.  Khi chúng sanh trong địa ngục vừa có một ý niệm này thì họ bèn thoát ra, vừa có một tâm niệm thiện bèn siêu việt địa ngục, sự thọ khổ của họ liền giảm nhẹ, thời gian thọ khổ liền rút ngắn.  Một tâm niệm thiện, tuy chỉ là một niệm thiện rất nhỏ, đối với họ cũng được lợi ích lớn lao.  Thế nên Bồ Tát trong địa ngục thị hiện như vậy.  Trong đó chẳng có giáo huấn, họ chẳng có thời gian nghe giáo huấn, và cũng chẳng có tâm tình gì để nghe nên chỉ có thị hiện những thứ như vậy, làm cho họ nhìn thấy giác ngộ.  Chư Phật, Bồ Tát ở tất cả chỗ của chúng sanh hữu tình, địa ngục cũng là một chỗ trong ấy, cách thức phương pháp giúp đỡ chúng sanh chẳng giống nhau, chúng ta phải hiểu đạo lý này.  Thế nên Bồ Tát răn dạy chúng sanh, chúng sanh phải nên lìa khỏi hết thảy đấu tranh, phải thật sự làm đến mức chẳng tranh với người, chẳng cầu với đời.  Tại sao?  Thân tâm thế giới đều chẳng thể được thì bạn tranh cái gì?  Cầu cái gì?  Thật sự làm được ‘không tranh giành, không mong cầu’, tâm chúng ta sẽ định, tâm sẽ thanh tịnh, như vậy mới đạt được lợi ích thù thắng chân thật của Phật pháp.

Hôm nay đã hết giờ, chúng ta giảng đến đây thôi.

 

Trong quá trình chuyển ngữ chắc không tránh khỏi thiếu sót, xin các bậc thức giả hoan hỷ phủ chính cho. 

Xin thành thật cám ơn.                                                       

Một nhóm Diệu Âm cư sĩ, 4 tháng 9-2006

 

 

[1] ‘chân ngữ giả, thật ngữ giả, như ngữ giả’

[2] Trong Phật Thuyết Vu Lan Bồn Kinh Giảng Ký, pháp sư Văn Châu giảng như sau:

Có ba loại ‘đa tài quỷ’:

  1. Quỷ được đồ vứt bỏ: họ thường được những thức ăn vứt bỏ khi người ta cúng tế, vì phước ít tội nhiều, ít chịu bố thí, thường bỏn xẻn, khi nào đồ vật bỏ đi mới chịu đem cho kẻ khác nên bị quả báo như vậy.
  2. Quỷ được đồ mất: họ hưởng được đồ ăn bị bỏ mất, bỏ sót ở bên đường.  Nhân là vì trước kia họ có của cải, thường tham lam chấp trước, sợ bị mất nên mới chịu thí bỏ, thế nên bị quả báo như vậy.
  3. Quỷ có thế lực: như Dạ Xoa, La Sát, Tỳ Xá Già, những cảm thọ giàu có, vui vẻ giống như cõi người, cõi trời.  Họ trú trên cây cối, hang núi, hoặc ở tại linh miếu, trên hư không, hình tướng đứng thẳng, biến hóa khôn cùng, nhưng vẫn thuộc nẻo quỷ; Nhân của họ là tội phước đều tạo, nhân khổ vui lẫn lộn tạo thành

Lại có người nói: Ngạ quỷ có ba loại:

  1. Ngoại chướng: lúc nhìn thấy nước, giống như bị dao chắn ngang cổ không uống được.
  2. Nội chướng: miệng có đuốc lửa, cổ họng như lỗ kim, không thể ăn uống
  3. Vô chướng: Nhìn thấy nước sông cũng như lửa lớn, hoặc ăn phẩn uế, hoặc tự cắt thịt trên thân mình mà ăn.

Theo cách giảng trên, chữ ‘tài’ ở đây có nghĩa là ‘ăn uống no đủ’, ‘nhiều tài’ nghĩa là ăn uống được no đủ, ‘ít tài’ nghĩa là ăn uống không no, ăn uống bị chướng ngại.  (Quỷ ở đây hiểu theo nghĩa rộng, quỷ thần đều bị gộp vào ngạ quỷ đạo, do họ tham chuộng ăn uống không chán đủ, tức là tâm tham không bao giờ thỏa mãn nên luôn cảm thấy đói khát)

[3] ‘tam căn phổ bị, lợi độn toàn thâu’

[4] Dương phụng âm vi

[5]   a. Thân Kiến: chấp trước thân là ta, tham sống sợ chết, tự tư tự lợi.

  1. Biên Kiến là kiến giải lầm lạc. Cố chấp một cách ngoan cố vào những hiểu biết lệch lạc của chính mình, tin mù quáng vào những học thuyết như Nhất Nguyên Luận, Nhị Nguyên Luận, Hữu Thần Luận, Vô Thần Luận, Nhất Thần Luận, Ða Thần Luận v.v… Do chấp chặt vào một bên, vào một khía cạnh của sự việc, nên gọi là Biên Kiến
  2. Kiến Thủ Kiến và Giới Thủ Kiến. Hai loại này thường được gọi là Thành Kiến như hay nói: “Người đó có thành kiến rất sâu”. Thành Kiến có hai loại: Thành kiến nơi nhân và thành kiến nơi quả. Pháp thế gian hay xuất thế gian chẳng lìa nhân quả. Kiến Thủ Kiến là thành kiến nơi Quả. Giới Thủ Kiến là thành kiến nơi Nhân, chấp trì kiên cố tạo thành chướng ngại.
  3. Tà Kiến nghĩa là gì? Chẳng thuộc vào bốn loại trên, tất cả hết thảy kiến giải sai lầm đều quy nạp vào Tà Kiến. Dùng tà tâm để lãnh ngộ chân lý, điên đảo thị phi, chẳng tin nhân quả, đoạn diệt các thiện căn gọi là Tà Kiến

[6] Kính quỷ thần nhi viễn chi

[7] Suy kỷ cập nhân

[8] Niệm truy đảnh: Khi dùng cách này, nên niệm nho nhỏ tiếng, mỗi chữ mỗi câu đều kế tiếp nhau liên tỏa chặt chẽ, thành hình thế chữ sau đuổi theo chữ trước, câu nọ gối đầu câu kia nên gọi là Truy Đảnh. Áp dụng phương thức như thế, nhờ sự kín đáo bền chặt, trung gian không xen hở, nên tạp niệm không có chỗ len vào. Dùng đến pháp này, thì tình ý khẩn trương, tâm miệng dũng tiến, oai lực của chánh niệm bao trùm tất cả, khiến cho nghiệp tưởng vô minh tạm thời chìm lắng, ánh mầu Tam Muội bộc phát chiếu xa. Từ xưa người tu tịnh nghiệp trong lúc tình tưởng mênh mang rối loạn, thường dùng cách thức này. (Trích Niệm Phật Thập Yếu, Hòa Thượng Thích Thiền Tâm)

 

[9] tiền là một đơn vị đo lường bằng 5 gram ở Đại Lục hay 3.7 gram ở Đài Loan và Hương Cảng.

[10] Tăng Hộ (Sangharaksita) là đệ tử của ngài Xá Lợi Phất. Theo Nhân Duyên Tăng Hộ Kinh, Tăng Hộ từng cùng năm trăm thương nhân đi thuyền vào biển cả, trên đường về lạc mất đồng bạn, phải đi một mình, thấy ở ven biển có năm mươi ba địa ngục, vô lượng chúng sanh chịu khổ thảm khốc trong ấy. Về đến nơi, ông bạch hỏi đức Phật, Phật bèn đáp tường tận nguyên nhân thọ khổ của từng địa ngục.

[11] Tứ Giác:  Bốn Cạnh, Phi Ðao: Đao Bay, Hỏa Tiễn:  Mũi Tên Lửa, Giáp Sơn: Núi Kẹp, 

Thông Thương: Thương Đâm, Thiết Xa: Xe Sắt, Thiết Sàng:  Giường Sắt, Thiết Ngưu: Trâu Sắt, Thiết Y: Áo Sắt, Thiên Nhẫn: Ngàn Mũi Dao, Thiết Lư: Lừa Sắt, Dương Ðồng: Nước Đồng Sôi, Bão Trụ:  Ôm Cột Đồng, Lưu Hỏa: Lửa Chàm, Canh Thiệt: Cày Lưỡi,

Tỏa Thủ: Chém Đầu, Thiêu Cước: Thiêu Chân, Ðạm Nhãn:  Ăn Mắt, Thiết Hoàn:  Viên Sắt, 

Tranh Luận: Cãi Cọ, Thiết Phu: Búa Sắt,  Ða Sân: Hay Cáu Giận

[12] Giải thích về luân tướng rất phức tạp, tạm trích dịch đoạn kinh Chiêm Sát mô tả mộc luân như sau: “Này thiện nam tử! Muốn học về tướng trạng của mộc luân thì trước hết nên khắc gỗ [thành từng khối] to chừng ngón tay út, sao cho kích thước chừng một tấc, khúc giữa khắc thành bốn mặt vuông vắn, còn từ hai đầu thì vạt xéo cho nhỏ dần đi. Ngửa tay gieo sang bên cạnh để dịch chuyển. Do vì nghĩa này nên gọi là luân (tức là có do có thể di chuyển được nên gọi là luân). Lại do tướng này có thể phá hoại lưới nghi tà kiến của chúng sanh, chuyển hướng theo chánh đạo đến chỗ an ổn nên gọi là Luân. Luân tướng có ba thứ sai biệt. Những gì là ba? Một là luân tướng biểu thị những thiện nghiệp đã làm trong đời quá khứ, loại luân này gồm mười khối. Luân tướng thứ hai biểu thị những nghiệp đã tạo được tích góp trong đời quá khứ  lâu, gần, mạnh, yếu, lớn, nhỏ. Loại luân này gồm ba khối. Loại luân tướng thứ ba biểu thị sự thọ báo sai biệt trong ba đời. Loại luân này gồm sáu khối. Nếu muốn xem xét thiện nghiệp, ác nghiệp sai biệt đã tạo trong đời quá khứ thì khắc gỗ thành mười luân. Dựa theo mười luân này mà ghi tên Thập Thiện. Mỗi một điều thiện ghi trên một luân, ghi nơi một mặt. Kế đến, ghi Thập Ác tương ứng với Thập Thiện (ở mặt kia của mỗi luân)…”

[13] lang nha bổng là một loại binh khí, có hình giống như cái gậy, đầu to, đầu nhỏ, phía đầu to có những mấu nhọn hơi cong, giống hình răng sói, nên có tên này. Loại vũ khí này chủ yếu dùng để phá các loại vũ khí có hình móc như ngô câu kiếm chẳng hạn.

[14] Tùy theo hình dáng của mũi nhọn gắn trên đầu cán dài mà chia thành thương, sáo, qua, mâu, kích; giáo thường là nhọn như mũi lao. Nói chung thương và kích vừa đâm vừa chém được, sáo và mâu chủ yếu để đâm, qua chủ yếu là chém, kích là loại có tánh sát thương rất mạnh. Đao thương chỉ là loại thương có lưỡi to bản hơn loại thương thường.

[15] (Tư báo kết tức, tắc vi hỏa xa). “Tư báo” là quả báo do Tư hoặc gây ra.  “Xe lửa” là xe có lửa bốc cháy đùng đùng trên ấy, chứ không phải là tàu hỏa

[16] ‘Hiện kiến ca sa ly thể, tương lai thiết điệp  triền thân’.  Áo đơn là áo ngắn mỏng, thường mặc lót bên trong khi mặc áo dài, khác với áo lót, thường chỉ mặc trong nhà.

[17] Đoạn kinh này giảng về quả báo của sự tham đắm lục trần, nguyên văn: ‘Vị báo nhị tướng trung, nhị giả thổ khí, phi vi mãnh hỏa, tiêu lạn cốt tủy’

[18] Tu tri nhất thiết chư pháp giai thị hư cuống

Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.