Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.
PrintFriendly and PDF

ÐỊA TẠNG BỒ TÁT BỔN NGUYỆN KINH GIẢNG KÝ

Mục Lục

Tập 11 (Số 14-12-11)

          Lần trước giảng đến đoạn Định Tự Tại Vương Bồ Tát thưa hỏi Thế Tôn, Địa Tạng Bồ Tát nhiều kiếp đến nay đã phát nguyện gì mà được Thế Tôn ân cần tán thán, thỉnh Phật vì đại chúng khai thị.  Thế Tôn nói với Định Tự Tại Vương Bồ Tát, trên thực tế thì Bồ Tát hỏi thay chúng ta, đức Phật bảo Định Tự Tại Vương Bồ Tát phải ‘lắng nghe’ tức là dạy chúng ta phải dụng tâm nghe pháp, lắng lòng lãnh hội.  Phật nói nhiều kiếp xa xưa về trước có một vị Phật hiệu là ‘Nhất Thiết Trí Thành Tựu Như Lai’, thọ mạng của đức Phật là sáu vạn kiếp, từ đây có thể biết chúng sanh trong thời đại đó nhất định phải tu thiện đoạn ác nên mới cảm được quả báo thù thắng như vậy.  Lúc Phật chưa xuất gia, ngài là vua một nước nhỏ, cùng với vua một nước láng giềng là bạn thân, cả hai vị vua này đều dùng thập thiện để cai trị quốc gia, dạy dân chúng cả nước đoạn thập ác, tu thập thiện.  Đương nhiên hai nước này đều quốc thái dân an, nhân dân đều rất hạnh phúc.  Nhưng trừ hai nước này ra, những nơi khác không được như vậy, chúng sanh tạo ác nghiệp rất nhiều.  Lúc hai vị vua nhìn thấy cục diện của cả thế giới, họ bèn bàn tính làm thế nào để giúp đỡ nhân dân của các quốc gia ấy.  Chúng ta giảng đến chỗ này, xin xem tiếp:

          Kỳ lân quốc nội, sở hữu nhân dân đa tạo chúng ác, nhị vương nghị kế, quảng thiết phương tiện.

          Nhân dân trong nước lân cận đó đa số tạo nhiều việc ác, hai vua bèn bàn tính, lập nhiều phương tiện.

          Làm thế nào để cứu vãn thế vận, hai vị quốc vương này hợp lại thương lượng

       Nhất vương phát nguyện

          Một vị vua phát nguyện

          Một vua phát nguyện

          Tảo thành Phật đạo, đương độ thị bối, linh sử vô dư

          Sớm thành Phật đạo để độ hết những kẻ ấy, không bỏ sót một ai.

          Một vua phát nguyện, duy chỉ có thành Phật mới có khả năng rộng độ chúng sanh.  Nếu chẳng thành Phật, tuy có nguyện này, nguyện này trái ngược với tâm, chúng ta thường nói: ‘Tâm có dư nhưng sức chẳng đủ’, vẫn chẳng có cách gì.  Nên phát tâm cầu đạo muốn thành Phật.

          Nhất vương phát nguyện nhược bất tiên độ tội khổ linh thị an lạc đắc chí Bồ Đề, ngã chung vị nguyện thành Phật.

          Một vua thì nguyện: ‘Nếu tôi chẳng độ những kẻ tội khổ trước, làm cho họ được an vui, cho đến đắc quả Bồ Đề thì tôi nguyện chưa thành Phật’.

          Hai vị vua này phát nguyện chẳng giống nhau.  Vị vua này phát nguyện chưa độ mình, độ chúng sanh trước.  Đây là Bồ Tát phát tâm, chẳng vì mình, vì kẻ khác.  Chúng ta nhất định phải hiểu rõ ý nghĩa chân thật của đoạn kinh này, chúng ta có thể phát nguyện chẳng độ mình, mà độ chúng sanh trước hay không?  Nếu thật sự phát nguyện này, hết thảy đều vì chúng sanh, hết thảy vì Phật pháp, đích thật chẳng có Ta, ‘Ta và cái của Ta’ (ngã và ngã sở) đều đoạn dứt hết, như vậy thì được, vậy thì không có vấn đề.  Nếu vẫn còn nhân ngã, thị phi, được mất, vậy thì không được.  Nói cách khác, bạn sẽ chẳng thoát ra khỏi lục đạo.  Phàm là con người mà nếu chưa thể thoát ly lục đạo thì nhất định phải giác ngộ. Từ vô thỉ kiếp đến nay, chúng ta tích lũy bao nhiêu tội nghiệp, đây là sự thật! Tội nghiệp chẳng phải chỉ tạo trong đời này mà thôi, tội nghiệp còn tích lũy từ nhiều đời nhiều kiếp đến nay, lẽ đâu chẳng đọa ác đạo cho được! Bạn nhất định sẽ đọa lạc.  Lúc đọa lạc trong tam ác đạo, bạn lấy gì để độ chúng sanh?  Thế nên chư vị phải biết, nhất định phải chứng được quả A La Hán trở lên mới có thể nói “Tôi độ chúng sanh trước, chúng sanh chẳng thành Phật thì tôi không thành Phật”.  Mức tối thiểu là quả A La Hán, thoát ly lục đạo luân hồi.  Vào trong lục đạo chỉ là thị hiện, giúp đỡ chúng sanh.  Cho đến khi mình thành Phật vẫn còn một thời gian dài, mình cứ thong thả độ chúng sanh trước, như vậy thì được.  Tự mình phải có bản lãnh mới được, nếu chẳng có bản lãnh mà phát nguyện này thì cũng như không nguyện.  Thế nên ở chỗ này chúng ta phải đặc biệt lưu ý, muôn vàn xin đừng hiểu lầm.

          Phương pháp thù thắng nhất đối với chúng ta, [do vì] nghiệp chướng tập khí của chúng ta quá nặng, ngay cả một phẩm phiền não chúng ta cũng chẳng có năng lực đoạn được, [cho nên] phương pháp hay nhất là phát tâm cầu sanh Tịnh Độ.  Nói thật ra nếu chúng ta muốn tự mình tu hành chứng được quả A La Hán không đơn giản đâu, làm chẳng nổi, nhưng vãng sanh Tây phương Cực Lạc thế giới thì người người đều có thể làm được.  Đến tây phương Cực Lạc thế giới có phải là liền thành Phật không?  Không phải, một phẩm phiền não còn chưa đoạn, người vãng sanh đến Phàm Thánh Đồng Cư Độ phiền não chưa đoạn, nhưng được bổn nguyện oai thần của A Di Đà Phật gia trì, cộng thêm thiện lực của mình, tự mình phải có nguyện tâm, có một chút thiện lực, cùng chư Phật, Bồ Tát cảm ứng đạo giao, đến lúc ấy thì được.  Tôi chẳng cần thành Phật gấp, [do] tôi nóng lòng muốn độ chúng sanh trước nên học theo Địa Tạng Bồ Tát.  Đó là vốn liếng của bạn, bạn được bổn nguyện oai thần của A Di Đà Phật gia trì thì có thể đến mười phương thế giới, nên dùng thân gì độ hóa thì thị hiện thân ấy.  Địa Tạng Bồ Tát cũng vậy.  Tôi đã kể chuyện vợ ông Châu Bang Đạo gặp Địa Tạng Bồ Tát mang hình tướng tỳ kheo xuất gia, nên dùng thân gì để độ bèn thị hiện thân đó.  Cần dùng thân Phật để độ, Địa Tạng Bồ Tát cũng có thể thị hiện tám tướng thành đạo, cũng có thể thị hiện dùng thân Phật.  Cho nên điểm này chúng ta phải tìm hiểu rõ ràng, muôn vàn xin đừng hiểu lầm.

Ở Đài Loan chúng tôi đã từng thấy một số pháp sư phát tâm, phát tâm rất lớn, nguyện chẳng thành Phật, nguyện đời đời kiếp kiếp ở thế gian này làm pháp sư độ chúng sanh.  Tướng trạng của họ lúc mất chẳng được tốt, nói thật ra chẳng sánh bằng một người cư sĩ tại gia niệm Phật, người niệm Phật.  Đã nhiều năm nay những tướng lành của cư sĩ tại gia niệm Phật vãng sanh, có người chẳng mang bịnh, biết trước thời giờ ra đi, đứng mà vãng sanh, ngồi mà vãng sanh, quá nhiều.  Trong số pháp sư xuất gia một người cũng chẳng được.  Việc này bạn không thể hiểu lầm, họ đích thật có năng lực, lúc còn làm vua, đây chỉ là thị hiện.  Họ vốn là thân phận gì thì chúng ta không biết.  Phật kể lại chuyện của hai vị vua này.

Phật cáo Định Tự Tại Vương, nhất vương phát nguyện tảo thành Phật giả, tức Nhất Thiết Trí Thành Tựu Như Lai thị.  Nhất vương phát nguyện vĩnh độ tội khổ chúng sanh vị nguyện thành Phật giả, tức Địa Tạng Bồ Tát thị.

Phật bảo Định Tự Tại Vương Bồ Tát rằng: ‘Vị vua phát nguyện sớm thành Phật ấy chính là đức Nhất Thiết Trí Thành Tựu Như Lai, vị vua phát nguyện vĩnh viễn cứu độ chúng sanh tội khổ, nguyện chưa thành Phật chính là Địa Tạng Bồ Tát’.

Địa Tạng Bồ Tát từ lũy kiếp đến nay luôn luôn phát nguyện, nguyện tâm ấy vĩnh viễn chẳng thoái thất, rất đáng cho chúng ta noi gương.  Thế nên chúng ta thật sự muốn phát tâm thì phải học theo Địa Tạng Bồ Tát.  Những Bồ Tát khác chẳng thể sánh bằng công đức thù thắng của Địa Tạng Bồ Tát.  Trong kinh này Phật nói trừ Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Âm Bồ Tát, những Bồ Tát khác đều chẳng thể sánh bằng.  Cho dù xét trên tâm nguyện thì Địa Tạng Bồ Tát hơn hẳn những đại Bồ Tát như Quán Âm, Văn Thù, Phổ Hiền, nhưng trong Đại Thừa Phật pháp, như chúng ta được tiếp xúc đã lâu rồi thì biết hết thảy nguyện tâm của Bồ Tát chính là trí huệ đức năng trong tự tánh của chính mình.  Nguyện tâm của mình giúp đỡ những chúng sanh khổ nạn này đặc biệt mạnh mẽ, nói rõ pháp môn Địa Tạng thù thắng nhất trong hết thảy Bồ Tát pháp, đạo lý là ở chỗ này.

Đặc biệt là hiện nay chúng ta thấy thế giới trước mắt, chúng sanh khổ nạn vô biên, vẫn không ngừng tạo tội nặng như cũ, chẳng biết quay về, mê mất tự tánh, khởi tâm động niệm không gì chẳng là tội, đều vì mình, vì lợi ích cá nhân, chẳng màng đến sự an toàn của xã hội.  Cho dù học Phật, nhưng chẳng đoạn nổi tập khí tự tư tự lợi, chẳng chống nổi sự dụ hoặc của cảnh giới bên ngoài; bên ngoài vừa dụ hoặc thì bên trong phiền não lập tức khởi lên, Phật pháp gì cũng quên ráo trọi.  Người học Phật còn như vậy huống hồ là người chẳng học Phật.  Thế nên thật ra ngày nay chúng ta nói nhất định phải noi gương Địa Tạng Bồ Tát, nên tuyên dương pháp môn Địa Tạng Bồ Tát.  Nhất định phải bắt đầu từ bản thân mình, đoạn hết thảy điều ác, tu hết thảy điều thiện, niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ.  Nếu tâm nguyện của chúng ta khẩn thiết, trước lúc sanh Tịnh Độ cũng được A Di Đà Phật, và hết thảy chư Phật Như Lai gia trì, làm cho chúng ta tiêu tai chướng, diệt tội, tăng trưởng trí huệ, tăng trưởng khả năng, có thể giảng kinh này được hoàn hảo, làm cho đại chúng thích nghe, sanh tâm hoan hỷ, hoan hỷ y giáo phụng hành.  Trí huệ năng lực này chẳng phải của mình, mà do Phật lực gia trì, phàm phu nghiệp chướng sâu dày như chúng ta làm sao có khả năng này!  Cho dù được chư Phật Như Lai gia trì, long thiên thiện thần ủng hộ, tự mình càng phải hân hạnh hơn, hết lòng nỗ lực hơn, đừng phụ lòng chư Phật, Bồ Tát hộ niệm, phải làm cho hoàn hảo, đúng như pháp và viên mãn hơn nữa.  Chúng ta học theo những phương hướng này thì sẽ không sai.  Sau đây Thế Tôn lại kể thêm một chuyện lúc Địa Tạng Bồ Tát còn tu nhân, xin xem kinh:

Phục ư quá khứ vô lượng a tăng kỳ kiếp.

Lại trong đời quá khứ vô lượng a-tăng-kỳ kiếp về trước.

Thời gian này càng nói càng xa.

Hữu Phật xuất thế danh Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai, kỳ Phật thọ mạng tứ thập kiếp.

Có một đức Phật ra đời hiệu là Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai, đức Phật đó thọ bốn mươi kiếp.

Chúng ta xét từ thọ mạng liền biết người thời ấy thực sự là chẳng thể nghĩ bàn.  Phía trước chúng ta thấy thọ mạng sáu vạn kiếp, chỗ này thì bốn mươi kiếp, đều tính bằng ‘kiếp’.  Quay lại thử nghĩ về nhân gian chúng ta hiện nay, tuổi người trường thọ chẳng vượt hơn một trăm tuổi, số người chưa đến năm mươi tuổi bèn mất rât nhiều, quá nhiều.  Nếu mỗi ngày chư vị xem những cáo phó đăng trên báo chí, người chưa đến năm mươi tuổi đã mất chẳng phải chỉ là phân nửa thôi đâu.  Người xưa nói: ‘Nhân sanh thất thập cổ lai hy’, [người sống đến bảy mươi tuổi] đã là rất ít rồi.  Hết thảy phước báo dùng thọ mạng để hiển thị, bạn thấy thọ mạng của chúng sanh dài, thọ mạng của Phật cũng giống như thọ mạng của chúng sanh, ngài thị hiện nhất định phải thọ bằng người thời đó, chẳng đặc biệt hơn, bèn biết thời đại ấy, trí huệ đức hạnh của chúng sanh thời ấy cảm được phước báo [bao lớn].  Trong kinh điển Đại Thừa chúng ta có thể lãnh hội điều này rất sâu sắc, y báo chánh báo trang nghiêm từ tâm tánh biến hiện nên, tâm địa lương thiện hiện ra cảnh giới tốt, cảnh giới thiện, thù thắng.  Tâm tánh chúng sanh chẳng thiện, tạo tác ác nghiệp thì hoàn cảnh y báo của chúng ta sẽ suy thoái, làm cho chúng ta cảm thấy thế gian này chẳng đáng lưu luyến, chẳng có nơi nào có thể làm cho người ta sanh tâm hoan hỷ.  Truy tìm nguyên nhân căn bản tức là ‘duy tâm sở hiện, duy thức sở biến’, tự làm tự chịu, làm sao có thể trách người khác được!  Xin xem kinh văn:

Tượng pháp chi trung, hữu nhất La Hán phước độ chúng sanh

Trong thời Tượng Pháp có một vị La Hán phước đức cứu độ chúng sanh.

Trong thời Tượng pháp của đức Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai, nghĩa là đức Phật đã nhập Niết Bàn, chẳng còn trụ trên thế gian nữa.  Pháp vận của hết thảy chư Phật đều có ba thời kỳ: ‘Chánh Pháp, Tượng Pháp, Mạt Pháp’, thọ mạng của Phật dài, đương nhiên pháp vận của ngài cũng dài.  Thời Tượng Pháp là thời đại tháp tự kiên cố.[1]

Nhân thứ giáo hóa, ngộ nhất nữ nhân, tự viết Quang Mục, thiết thực cúng dường.

Nhân đi tuần tự giáo hóa, gặp một người nữ tên là Quang Mục, bày vật thực cúng dường.

Trong thời Tượng Pháp, trong chùa chỉ khắc tạo hình tượng của Phật, hình tượng của Phật có thể giáo hóa hết thảy chúng sanh, cho nên công đức của việc tạo tượng rất lớn.  Tuy có những cơ sở vật chất này nhưng nếu chẳng có thiện tri thức giảng kinh thuyết pháp, một số người nhìn thấy chùa, tháp, hình tượng Phật, Bồ Tát tuy đã trồng thiện căn nhưng thiện căn chẳng thể thành thục ngay trong đời này.  Mắt của bạn nhìn thấy tượng Phật, tai nghe được danh hiệu của Phật, Bồ Tát, một phen lọt vào tai thì vĩnh viễn sẽ là hạt giống đạo.  Trong đời này họ chẳng biết tu hành, tâm nguyện và lòng tin chẳng phát nổi nhưng hạt giống này đã được trồng xuống, hạt giống Kim Cang vĩnh viễn sẽ chẳng hư hoại.  Nếu muốn hạt giống này thành thục sớm hơn thì phải có thiện tri thức giảng kinh thuyết pháp.  Họ thấy tượng, biết ý nghĩa của tượng, nghe danh hiệu biết được ý nghĩa của danh hiệu, khởi lên lòng tin chân thật, thanh tịnh, phát lên nguyện hạnh giống Phật thì đời này họ sẽ thành tựu, công đức sẽ chẳng thể nghĩ bàn.  Nếu chẳng gặp thiện tri thức, chỉ nghe danh hiệu, nhìn thấy tượng, chẳng hiểu nghĩa kinh, chẳng thể phát tâm tu hành, lợi ích họ đạt được sẽ rất có hạn.  Tuy có hạn, nói thực ra cũng chẳng thể nghĩ bàn.  Cô Quang Mục bày phẩm vật cúng trước tượng Phật trong chùa.

La Hán vấn chi, dục nguyện hà đẳng.

Vị La Hán bèn hỏi: ‘Cô muốn cầu điều chi?’

Trong thời Tượng Pháp có một vị La Hán, La Hán là một người xuất gia.  Đây là một thiện tri thức trụ trong chùa độ hóa chúng sanh.  Cô Quang Mục là một tín đồ trong chùa, hôm nay cô đến cúng Phật.  La Hán hỏi cô: ‘Hôm nay cô đến thiết trai cúng dường, muốn cầu việc gì?’.

Quang Mục đáp ngôn, ngã dĩ mẫu vong chi nhật tư phước cứu bạt, vị tri ngã mẫu sanh xứ hà thú.

Quang Mục thưa rằng: ‘Ngày má con mất, con có làm việc phước thiện hầu cứu vớt bà, nhưng chưa rõ má con thác sanh về đâu’.

Quả thật cô đến là có mục đích, đúng như ngạn ngữ có câu: ‘Vô sự chẳng đến điện Tam Bảo’, cô đến chùa lạy Phật chắc chắn là trong tâm có mong cầu.  Việc cô mong cầu cũng rất tốt, má cô đã qua đời nên cô thiết trai để siêu độ.  Pháp sư hỏi, trong tâm cô rất muốn biết má cô đang ở đâu?  Hiện nay thác sanh vào chốn nào?  ‘Hà thú’ tức là cõi nào trong lục đạo.  Do đó người làm con sau khi cha mẹ mất đi thường lo nghĩ về việc này, niệm niệm chẳng quên, đây là hiếu thảo.  Thường có tâm nguyện làm thế nào để giúp đỡ người thân đã mất.

La Hán mẫn chi vi nhập định quán kiến Quang Mục nữ mẫu đọa tại ác thú, thọ cực đại khổ.

Vị La Hán cảm thương bèn nhập định quan sát thì thấy mẹ cô Quang Mục bị đọa vào đường ác, vô cùng khổ sở.

Mẹ cô đọa vào địa ngục.  Chư vị ở đây nghĩ coi, La Hán vẫn phải nhập định mới có thể thấy, nếu không nhập định thì chẳng thể thấy, đây là người có công phu định lực còn thấp.  Người có công phu định lực cao chẳng cần nhập định, bạn vừa nói thì họ liền biết, liền thấy.  Sau khi xuất định nói với cô cảnh giới ngài thấy trong định.  Chư vị phải biết tại sao lúc chưa nhập định thì chẳng thấy?  Chúng ta phải hiểu đạo lý này.  Lúc chưa nhập định thì tâm tán loạn, tâm của La Hán thanh tịnh hơn tâm chúng ta rất nhiều, chúng ta làm sao có thể sánh bằng!  Công phu định lực của ngài là Định bậc thứ chín, Tứ Thiền Bát Ðịnh thăng lên mức kế là Định bậc thứ chín, công phu định lực sâu như vậy mà không nhập định cũng không được, vẫn phải nhập định mới có thể nhìn thấy cảnh giới.  Do đó mới biết tâm phàm phu chúng ta là tâm tạp loạn, tạp là xen tạp, loạn là chẳng định, tâm như vậy sẽ tạo thành rất nhiều chướng ngại.

Chướng ngại này là gì?  Ngày nay khoa học gia gọi là ‘thời không’ (thời gian không gian nhiều chiều), không gian ba chiều, không gian bốn chiều, năm chiều cho đến vô số chiều.  Thời không vốn chỉ có một, một này nhà Phật gọi là Nhất Chân pháp giới, tại sao Nhất Chân pháp giới biến thành vô lượng pháp giới?  Trong nhà Phật chúng ta gọi là Pháp Giới, tức là cái mà khoa học gia gọi là thời không nhiều chiều (nhiều duy thứ khác nhau), không gian ba chiều là một giới hạn, không gian bốn chiều là một giới hạn, năm chiều, sáu chiều, mỗi cái có một giới hạn khác nhau, gây chướng ngại.  Ngày nay chúng ta chỉ có thể nhìn thấy, tiếp xúc đến không gian ba chiều, còn bốn chiều, năm chiều chúng ta không thể tiếp xúc tới.  Vô lượng vô biên pháp giới chúng ta chỉ có thể tiếp xúc đến pháp giới Người.  Chúng ta thấy một phần trong pháp giới súc sanh, còn một phần thì vẫn chẳng thấy, chúng ta chỉ thấy một bộ phận nhỏ, tại sao?  Bộ phận súc sanh này cũng cư trú trong không gian ba chiều, chúng ta có thể nhìn thấy.  Nếu nó trụ ở không gian bốn chiều, năm chiều thì chúng ta sẽ chẳng thấy, là đạo lý như vậy.  Còn nhập định, định là tâm thanh tịnh, tạm thời đè nén tâm tán loạn, sau khi đè nén thì không gian của họ sẽ được mở rộng, sẽ đột phá, định lực càng sâu thì không gian đột phá càng lớn.  Định mức cạn có thể đột phá ba chiều, nhìn thấy bốn chiều, chúng ta nói người này có thần thông, có công năng khác thường.  Công phu định lực cao hơn nữa thì có thể đột phá thêm một chiều, có thể nhìn thấy không gian năm chiều, là đạo lý như vậy.

Hiện nay người tây phương có một cuốn sách bán rất chạy, nói về những lời tiên đoán, gọi là ‘Thánh Kinh Mật Mã’, có lẽ quý vị có người đã xem.  Người viết cuốn sách này rất khách quan, ông ta nói lời tiên đoán này, lời tiên đoán chính xác như vậy, vả lại sách này là do người ba ngàn năm trước viết.  Ông ta (tức tác giả cuốn khảo luận về Thánh Kinh Mật Mã) khẳng định rằng [tác giả Thánh Kinh Mật Mã] chẳng phải là Thượng Đế.  Ông ta nói: “Nếu [tác giả] là Thượng Đế thì đáng lý phải có thể giải quyết vấn đề này, nhưng Thượng Đế không thể giải quyết vấn đề này, chỉ có thể nhắc nhở chúng ta rằng tai nạn này sẽ xảy ra. Do đó, có thể biết tác giả chẳng phải là Thượng Đế”. Vì thế, ông ta suy  đoán rằng cuốn sách ấy chắc chắn do một người rất có trí huệ, có tâm từ bi viết ra.  Cách nói này rất chính xác, đầu óc của ông ta rất sáng suốt, chẳng mê tín.  Có người hỏi tôi, tại sao có thể nói chuyện ba ngàn năm sau rõ ràng, minh bạch như vậy được?

Cổ đức từng nói với chúng ta lời tiên đoán có hai căn cứ, Trung Quốc cũng có không ít lời tiên đoán này.  Trước kia lúc lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam còn tại thế, chúng tôi cũng đã từng hỏi thầy, thầy cũng nói giống như vậy.  Thầy nói loại thứ nhất là Số Học, phần lớn là căn cứ vào Lý Số để suy đoán.  Trung Quốc có rất nhiều lời tiên đoán là do Số Học suy đoán, căn nguyên của nó là ‘Kinh Dịch’.  Kinh Dịch là Số Học cao sâu, Số Học là mẹ của Khoa học.  Ở Trung Quốc rất thịnh hành những thứ coi bói, xem tướng, đều căn cứ trên kinh Dịch, căn cứ trên Lý Số.  Nhưng Lý Số là gián tiếp, chẳng phải là trực tiếp; nếu có một chút gì suy đoán chẳng đúng thì kết quả sẽ khác nhau.  Nói cách khác, mức độ chính xác của nó có thể đạt đến năm chục, sáu chục, bảy chục phần trăm, chẳng hoàn toàn đúng. Tùy thuộc vào trình độ của người suy đoán mà sai khác như vậy.  Nhưng nếu quán sát từ trong Định thì hoàn toàn khác hẳn, công phu định lực là cảnh giới Hiện Lượng, là họ đích thân nhìn thấy.  Suy đoán thuộc về Tỷ Lượng [2], công phu định lực không thuộc về Tỷ Lượng

Cho nên người viết Thánh Kinh Mật Mã này dùng công phu định lực, trong thiền định nhìn thấy.  Trong thiền định có thể nhìn thấy chuyện ba ngàn năm trước, sau, không có gì kỳ lạ cả, chẳng có gì lạ lùng.  Một ngày trên trời Đao Lợi bằng một trăm năm ở cõi người chúng ta, một tháng trên trời Đao Lợi bằng ba ngàn năm ở nhân gian chúng ta.  Nếu cứ lên trên nữa thì càng dễ hơn.  Một ngày ở cõi trời Dạ Ma bằng hai trăm năm ở cõi người, ba ngàn năm chỉ là mười lăm ngày.  Lên cõi trời Đâu Suất, một ngày ở trời Đâu Suất bằng nhân gian bốn trăm năm.  Do đó có thể biết, nếu muốn đến cõi trời thứ sáu ở Dục Giới thì ba ngàn năm chẳng bằng một ngày của họ, chuyện một ngày thì làm sao họ không biết rõ ràng được?  Dĩ nhiên là sẽ rõ ràng.  Cho nên người viết sách này theo sự quan sát trong nhà Phật của chúng ta thì ông ta có công phu định lực.

Công phu định lực có thể đột phá giới hạn của thời không, khoa học gia hiện nay hiểu được đạo lý này, họ thừa nhận, khẳng định.  Nhưng hiện nay họ còn chưa tìm ra phương pháp làm thế nào có thể đi vào ‘đường hầm thời gian’ của họ, làm thế nào có thể đi vào tương lai, hoặc đi về quá khứ.  Họ hiểu trên lý luận có thể làm được nhưng hiện nay vẫn chưa tìm được kỹ thuật.  Họ chẳng biết trong Phật pháp cổ xưa, thiền định chính là kỹ thuật này.  Khi bạn nhập vào thiền định rất sâu thì có thể đi trở về quá khứ, và cũng có thể đi vào tương lai.  Thánh Kinh Mật Mã là như vậy, cho nên mức chính xác của nó là một trăm phần trăm.  Cục thế này có thể thay đổi hay không?  Có thể.  Cách nói này của ông ta rất trung thực, khẳng định tai nạn có thể hóa giải, dùng phương pháp gì để hóa giải?  Dùng tâm con người.  Nhân tâm có thể hướng thiện thì tai nạn này sẽ hóa giải.  Có thể thấy ông ta cũng nhận định tâm hạnh thiện ác chính là mấu chốt để thay đổi hết thảy kiết hung, họa phước trên thế gian, cách nói này rất chính xác.  Hiện nay cuốn sách này lưu hành rất rộng trên thế giới, có rất nhiều bản dịch dùng nhiều ngôn ngữ khác nhau.  Chúng tôi cũng thấy bản dịch chữ Trung Hoa tại Đài Loan, rất đáng để chúng ta cảnh giác.  Chúng ta muốn cứu mình, cứu xã hội, cứu hết thảy chúng sanh, nhất định phải biết đoạn ác tu thiện.  Vả lại, giáo học đoạn ác tu thiện chẳng gì hơn Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện.

Cho nên Thế Tôn ở hội giảng kinh tại cung trời Đao Lợi này trao trọng trách giáo hóa chúng sanh trong đoạn thời gian dài đăng đẳng sau thời Mạt Pháp cho đến lúc Phật Di Lặc ra đời cho Địa Tạng Bồ Tát là chính xác vậy, chúng ta có thể hoàn toàn khẳng định.  Địa Tạng Bồ Tát chủ trì việc giáo hóa, Quán Âm, Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền, Di Lặc sẽ hộ trợ Địa Tạng Bồ Tát.  Giống như trong việc dạy học, Địa Tạng Bồ Tát là hiệu trưởng, lúc Phật chẳng tại thế thì ngài đại diện cho Phật, hết thảy các Bồ Tát đến hỗ trợ Địa Tạng Bồ Tát, giúp đỡ Địa Tạng Bồ Tát giáo hóa chúng sanh khổ nạn.

La Hán nhập định, trong định đột phá giới hạn của không gian và thời gian, ngài đã thấy địa ngục, thấy mẹ của cô Quang Mục đang thọ khổ trong địa ngục, chịu khổ cùng cực, sau khi xuất định [bèn]:

La Hán vấn Quang Mục ngôn

La Hán hỏi cô Quang Mục

Nhữ mẫu tại sanh, tác hà hành nghiệp, kim tại ác thú, thọ cực đại khổ

Mẹ cô lúc còn sanh tiền làm hạnh nghiệp gì mà hiện nay đang ở trong đường ác, thọ khổ cùng cực?

Hỏi cô Quang Mục: “Lúc mẹ cô còn sống làm nghề gì?  Hiện nay bà đang đọa địa ngục, rất khổ.”

Quang Mục đáp ngôn.

Cô Quang Mục trả lời

Cô Quang Mục thành thật trả lời, nói rõ ra.

Ngã mẫu sở tập

Tánh thân mẫu con

‘Tập’ là tập tánh, điều ưa thích

Duy hảo thực đạm ngư miết chi thuộc

Chỉ thích ăn những loài cá, ba ba

Ngày nay gọi là hải sản, bà ta rất thích ăn đồ biển.

Sở thực ngư miết, đa thực kỳ tử

Ăn những loài cá, ba ba này, phần nhiều là ăn trứng và con của các loài ấy.

Đặc biệt thích ăn những thứ này.

Hoặc sao hoặc chử, tứ tình thực đạm, kế kỳ mạng số thiên vạn phục bội.  Tôn giả từ mẫn như hà ai cứu

Hoặc chiên hoặc nấu, tha hồ mà ăn, nếu tính đếm số sanh mạng đó thì đến hơn ngàn vạn.  Xin tôn giả từ bi thương xót! Con phải làm thế nào để cứu mẫu thân?

Ngày nay trong sự ăn uống chúng ta nói ăn thịt chẳng có tội, nói vậy có lý không?  Nhất định phải giác ngộ!  Thế nên đọc kinh này xong, hiểu rõ chân tướng sự thật thì làm sao dám ăn thịt chúng sanh.  Đặc biệt là thích ăn trứng cá, thích ăn cá con, một chén thông thường như vậy có bao nhiêu sanh mạng, bạn nói sát nghiệp này nặng bao nhiêu, oán thù những chúng sanh bị giết hại này sâu dày bao nhiêu, chúng nó tình nguyện để cho bạn ăn sao?  Nếu nói là [chúng nó] cam tâm tình nguyện lấy thịt này cúng dường cho bạn, thì nó là Bồ Tát, nó giác ngộ rồi, chẳng còn là chúng sanh nữa.  Nếu là chúng sanh thì lúc bạn đi bắt nó, bạn thử quan sát kỹ xem, nó vùng vẫy, chẳng cam tâm để bạn bắt.  Lúc bạn muốn làm thịt heo, bạn kêu con heo lại nói muốn làm thịt nó để ăn coi con heo có ngoan ngoãn cho bạn làm thịt không?  Vừa nhìn thấy con dao là nó sợ hết hồn, mau mau chạy trốn rồi, nó biết bạn muốn làm thịt nó.  Nó bị bạn bắt, bị bạn giết là vì nó chẳng có sức phản kháng, bạn biết lòng căm hận này sâu lắm hay không, kết oán thành thù.  Người ta chẳng phải chỉ có đời này mà thôi, còn đời sau nữa, súc sanh cũng có đời sau, khi cơ duyên thành thục thì có lý nào không báo thù cho được!  Chiến tranh trên thế gian từ đâu mà có?  Phật dạy đều là từ sát sanh ăn thịt mà ra.

Đức Phật đã từng nói: “Muốn thế gian này vĩnh viễn không còn kiếp đao binh, chẳng có chiến tranh thì trừ phi chúng sanh không ăn thịt”.  Nếu chúng sanh không ăn thịt thì chiến tranh và tai nạn trên thế gian này sẽ chẳng còn nữa.  Nói cách khác, chúng sanh trên thế gian còn ăn thịt thì kiếp đao binh tuyệt chẳng thể tránh khỏi.  Tại sao hiện nay mỗi lần chiến tranh xảy ra đều tàn khốc hơn trước?  Oán nghiệp tích lũy quá sâu dày.  Chỉ dùng trí nhớ của chúng ta để nói, những hiện tượng người chết thảm khốc trong thế chiến thứ nhất và thứ nhì, thế chiến thứ nhất còn nhẹ, lần thứ nhì nặng hơn rất nhiều, chiến tranh nguyên tử thứ ba sẽ thê thảm hơn nữa.  Lời Phật dạy rất có lý.  Ngày nay chúng ta tạo tội nghiệp cũng giống như mẹ cô Quang Mục vậy, ‘tứ tình thực đạm’, mặc sức phóng túng, mạnh ăn hiếp yếu, chịu sao nổi!  Cho nên ‘kế kỳ mạng số, thiên vạn phục bội’, cả đời bà giết [loài vật] ăn thịt, nào phải chỉ một ngàn, một vạn sinh mạng thôi đâu, còn gấp nhiều lần như vậy, đây là tội nghiệp bà đã tạo.

Hai câu sau là mong cầu pháp sư làm sao cứu giúp bà.  ‘Tôn giả từ mẫn’, ‘tôn giả’ tức là ngày nay chúng ta thường gọi là ‘tôn kính’.  Pháp sư tôn kính, La Hán tôn kính, xin ngài giúp đỡ, xin ngài tìm cách cứu mẹ cô.

La Hán mẫn chi, vi tác phương tiện.

La Hán thương xót bèn lập phương tiện.

La Hán thấy cô là người con có hiếu, rất thương xót, dạy cô.

Khuyến Quang Mục ngôn, nhữ khả chí thành niệm Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai, kiêm tố họa hình tượng, tồn vong hoạch báo.

Khuyên Quang Mục rằng: “Cô phải chí thành niệm đức Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai và vẽ đắp hình tượng, thì kẻ còn cùng người mất đều được phước báo”.

Câu này quan trọng ở ba chữ ‘chí thành niệm’, dùng tâm chân thành để niệm Phật.  Trong kinh này chúng ta thấy cách tiêu trừ tội nghiệp cực nặng, độ tội báo khổ nhất đều dạy pháp môn niệm Phật, chúng ta phải hiểu đạo lý này.  Tại sao trong kinh chẳng dạy cô niệm A Di Đà Phật?  Lời Phật thuyết pháp đều là ‘chân ngữ, thật ngữ, lời đúng như thật’.  Ở đây chúng ta có thể thấy đây là vô lượng kiếp về trước, đức Phật xuất hiện ở thế gian đó là ‘Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai’ là bổn sư của họ.  La Hán khuyên cô niệm đức bổn sư, tạo hình tượng của Phật thì phước này sẽ lớn lắm.  ‘Tồn vong hoạch báo’, ‘tồn’ là [kẻ còn sống, chỉ] cô Quang Mục, cô còn sống cô tu phước, cô sẽ được phước báo; ‘vong’ là [kẻ đã mất, chỉ] mẹ cô, mẹ cô cũng được phước báo.  Dạy cô làm việc này.  Đương nhiên La Hán giảng kinh thuyết pháp cho cô, nói rõ những đạo lý và chân tướng sự thật này, văn tự trong kinh điển được giản lược, chúng ta nhất định phải hiểu rõ.

Quang Mục văn dĩ, tức xả sở ái, tầm họa Phật tượng, nhi cúng dường chi, phục cung kính tâm bi khấp chiêm lễ.

Quang Mục nghe xong liền từ bỏ những vật yêu thích, rồi tô vẽ hình tượng Phật để thờ cúng, và lại đem lòng cung kính khóc thương chiêm lễ.

Cô Quang Mục y giáo phụng hành.  ‘Xả sở ái’, sở ái là tài vật [mình ưa thích], phải dùng tài sản của chính cô để tạo tượng.  Hiện nay tạo tượng dễ dàng hơn thời xưa rất nhiều, thời xưa tạo tượng chư vị phải biết hoàn toàn là đồ thủ công nghệ, làm rất chậm, điêu khắc phải dùng thời gian rất dài mới có thể làm thành một tượng hoàn hảo.  Ngay cả việc vẽ tượng cũng chẳng dễ, vẽ một tượng Phật cũng cần rất nhiều ngày, đây là việc chúng ta đều biết.  Hiện nay khoa học kỹ thuật phát đạt, tạo tượng Phật, điêu khắc tượng Phật có thể làm mô hình trước, ngày nay gọi là sản xuất hàng loạt, có thể cung cấp cho nhiều người thỉnh về cúng dường, phước này càng lớn hơn nữa.  Vẽ tượng hiện nay có thể dùng ấn loát, có thể vẽ một bức hình Phật, Bồ Tát thật trang nghiêm, sau đó in cả vạn tấm, mấy trăm ngàn, mấy triệu tấm, thậm chí mấy chục triệu tấm, cho đại chúng cúng dường, thế nên người hiện đại tu phước dễ dàng hơn người xưa nhiều.  Người hiện nay tạo nghiệp cũng dễ hơn thời xưa, nhưng tu phước cũng dễ hơn, đây là lời kinh Địa Tạng nói.  Chúng sanh ở Diêm Phù Đề tuy tạo tội nghiệp rất dễ nhưng họ cũng dễ quay về.  Thật sự có người khuyên họ, nói rõ cho họ nghe, họ quay về rất nhanh.

Trong hết thảy chúng Bồ Tát, chẳng có ai thù thắng hơn Địa Tạng Bồ Tát,  Địa Tạng Bồ Tát ứng hóa ở thế gian chúng ta tại Cửu Hoa Sơn, Quán Thế Âm Bồ Tát ứng hóa tại Phổ Đà Sơn, đối với người Trung Quốc chúng ta có duyên phần đặc biệt.  Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện kinh Khoa Chú của Thanh Liên pháp sư thời vua Khang Hy vô cùng hoàn hảo, tuy văn tự sâu một chút, đối với người hiện nay mà nói, thật ra cũng rất tiện lợi cho chúng ta học quốc văn.  Chúng ta xem chú giải kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện này như sách học quốc văn, vậy thì không tốt sao?  Nếu sau này chúng ta có duyên phần kiếm được thời gian, giảng tường tận cuốn chú giải này một lần giống như giảng quốc văn vậy, làm cho chúng ta đối với văn tự, văn học Trung Quốc có thể nâng cao trình độ thêm.  Đối với nội dung của kinh này có thể đi sâu thêm, nhận thức thấu triệt hơn, đối với đời sống, việc làm, đối sự, đãi người, tiếp vật chắc chắn sẽ có lợi ích lớn hơn nữa, như lời nói trong kinh là công đức lợi ích chẳng thể nghĩ bàn.

Hiện nay trong thời đại này, phần đông xã hội đại chúng đều xem giáo học Phật pháp thành tôn giáo, làm cho đồng tu học Phật chúng ta mất đi phương hướng, đây là việc vô cùng bất hạnh.  Có cơ duyên tiếp xúc đến chánh pháp thì phải có trách nhiệm đem mặt mũi vốn sẵn có của Phật pháp giải thích cho xã hội đại chúng, làm cho mọi người hiểu rõ Phật pháp chẳng phải tôn giáo, chẳng phải triết học.  Mà là gì?  Là giáo dục đời sống, giáo học phá mê khai ngộ, lìa khổ được vui.  Chúng ta nhận thức thuần chánh thì mới được lợi ích chân thật.  Đoạn này kể cô Quang Mục tiếp nhận lời dạy của La Hán xong, y giáo phụng hành.  ‘Xả sở ái’ là đoạn tham, tham là phiền não căn bản, hết thảy phiền não đều sanh từ ‘tham’, cho nên đây là đoạn hết thảy ác.  Tô vẽ hình tượng của Phật, Bồ Tát, chiêm lễ và cúng dường là tu hết thảy thiện.  Chiêm lễ, cúng dường, xưng danh nhất định phải y giáo tu hành.  ‘Tu hành’ là sửa đổi hết thảy hành vi sai lầm của chúng ta trong đời sống, công việc, xử sự, đãi người, tiếp vật, như vậy gọi là tu hành.  Cô làm theo cách này, quả nhiên có cảm ứng.

Hốt ư dạ hậu mộng kiến Phật thân, kim sắc hoảng diệu như Tu Di sơn phóng đại quang minh.

Bỗng đến giữa khuya thì mộng thấy thân Phật sắc vàng sáng chói như núi Tu Di phóng ánh sáng lớn.

Trong mộng cô có được cảm ứng.  Nhìn từ kinh văn thì cô vẽ tượng Phật, cúng dường tượng Phật vẽ.  Vị Phật vẽ trong tranh này là Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai, cung kính cúng dường, thì cô cảm được Phật xuất hiện trong mộng, tâm hiếu khẩn thiết cảm động Phật đến gia trì.

Nhi cáo Quang Mục nhữ mẫu bất cửu đương sanh nhữ gia, tài giác cơ hàn, tức đương ngôn thuyết.

Mà bảo Quang Mục rằng: “Chẳng bao lâu nữa thân mẫu cô sẽ sanh vào nhà của cô, khi vừa biết đói lạnh thì liền biết nói”.

Và nói với cô: “Chẳng bao lâu nữa mẹ cô sẽ thoát ly ác đạo và sanh đến nhân gian”.  Vì công đức của cô xuất tiền tạo tượng, cung kính cúng dường nên mẹ cô được thoát khỏi địa ngục, tội nặng đã tiêu mất, vẫn còn tội dư lại nên chẳng bao lâu sau sẽ sanh vào nhà của cô.  Đứa bé này rất đặc biệt, vừa ra đời liền biết nói, thế gian chúng ta cũng có, vừa sanh ra liền biết nói, nhớ được chuyện đời trước, việc này trong nhà Phật gọi là ‘đoạt thai’.  Chuyện này nói ra cũng khá dài dòng, lúc người mẹ có thai, thai ấy là một người khác, người này có duyên rất ít với người mẹ, đến để làm gì?  Để đòi nợ, là quỷ đòi nợ, thiếu chẳng nhiều nên chỉ làm cho người mẹ khó chịu trong vòng mười tháng, cho bà cực khổ, đứa bé này vừa ra đời liền chết đi.  Mẹ của cô Quang Mục bèn mượn thân của đứa bé ấy nên gọi là ‘đoạt thai’.  Thần hồn của đứa bé lìa khỏi thì thần hồn của mẹ cô bèn nhập vào, đoạt thai là như vậy.  Bà chẳng trải qua nổi khổ của mười tháng hoài thai nên bà nhớ chuyện của mình rõ ràng, là đạo lý như vậy.  Người ta phần đông trụ trong thai mười tháng, gọi là ‘khổ trong thai ngục’, mười tháng trong thai cũng giống như trong địa ngục vậy, chịu khổ cùng cực nên quên hết những chuyện đời trước, chúng ta có thể hiểu được những chuyện như vầy.  Chúng tôi đã từng thấy một số trẻ em lúc hai, ba tuổi vô cùng thông minh, lanh lợi, đến bốn, năm tuổi bị bịnh nặng, sốt nóng rồi trở thành khờ khạo, đần độn, chuyện gì cũng chẳng nhớ nổi.  Chư vị nghĩ thử xem một trận bịnh nặng có thể làm trí nhớ của nó mất hết, huống chi là mười tháng trong thai ngục.  Đây là việc chúng ta có thể lý giải, quên mất hết chuyện đời trước.  Chỉ khi đến bằng cách đoạt thai thì người đó nhớ rất rõ ràng vì chẳng thọ khổ này.  Nhà cô quả thật đã xảy ra chuyện như vậy.

Kỳ hậu gia nội, tỳ sanh nhất tử, vị mãn tam nhật nhi nãi ngôn thuyết, khể thủ bi khấp cáo ư Quang Mục.

Sau đó người tỳ nữ trong nhà sanh một bé trai, chưa đầy ba ngày đã biết nói.  Đứa bé đó cúi đầu, buồn khóc mà nói với Quang Mục

Người giúp việc trong nhà sanh một đứa bé, đứa bé này chính là mẹ cô Quang Mục đến đầu thai, hoàn toàn phù hợp với việc đức Phật nói với cô trong giấc mộng.  Ngày thứ ba sau khi chào đời, đứa bé này nhìn thấy Quang Mục bèn ‘khể thủ’, khể thủ tức là gật đầu.  Đứa bé mới ba ngày, chúng ta biết nó cử động chẳng linh hoạt, nhưng đứa bé này biết cúi đầu, lễ kính, biểu lộ rất đau thương.  Nói với cô Quang Mục:

Sanh tử nghiệp duyên, quả báo tự thọ, ngô thị nhữ mẫu, cửu xử ám minh tự biệt nhữ lai lụy đọa đại địa ngục.

Nghiệp duyên sanh tử, quả báo tự thọ.  Tôi là mẹ của cô, lâu nay ở chốn tối tăm.  Từ khi vĩnh biệt cô, tôi phải đọa vào đại địa ngục.

Đây là nói bà tuy vừa chết chẳng lâu nhưng trong địa ngục chịu tội khổ, những sự khổ này như chúng ta thường nói ‘sống một ngày cũng như cả năm’.  Điều  này cũng cho thấy thời gian chẳng chân thật, chẳng phải thật pháp, thời gian là khái niệm trừu tượng của chúng ta.  Giống tiểu thuyết bút ký thời cổ Trung Quốc, bút ký tiểu thuyết đời Đường có ghi chuyện ‘Hoàng Lương Mộng’, thời gian trong mộng rất ngắn ngủi, hoàng lương là hạt kê, nấu cháo hạt kê, hạt kê rất dễ nấu, nấu nhanh hơn những gạo khác, cháo còn chưa nấu chín, ông ta ở kế bên ngủ gục và nằm mộng, khi mộng tỉnh dậy thì cháo còn chưa chín, bạn nói thời gian này ngắn không, chỉ là vài phút.  Nhưng trong mộng ông ta đã trải qua mấy chục năm, nói lên sự chênh lệch thời gian rất lớn.  Ở cõi người chẳng bao lâu, ngày tháng chẳng lâu, còn bà trong địa ngục thì hình như đã trải qua mấy kiếp rồi, cảm thọ của bà rất chân thật, thật là một thời gian dài đăng đẳng.

‘Cửu xử ám minh’, đây là như vừa nói, cảm thọ về thời gian và không gian chẳng tương đồng, trong địa ngục cảm thấy thời gian thật là dài.  Giống như người cõi trời nhìn chúng ta vậy, nếu từ trời Đâu Suất nhìn chúng ta, nhân gian chúng ta một trăm năm, sống một trăm năm thật lâu thì ở trời Đâu Suất chỉ là vài giờ.  Nếu dùng hai mươi bốn giờ để tính, một phần tư của một ngày là sáu giờ, một trăm năm ở cõi người bằng sáu giờ đồng hồ ở trời Đâu Suất.  Người cõi trời Đâu Suất cảm thấy rất nhanh, chỉ trong chốc lát nhưng ở cõi người đã là một trăm năm rồi.  Thế nên mấy mươi ngày ở nhân gian thì trong địa ngục đã trải qua mấy đại kiếp rồi.  Bà đọa đại địa ngục, chẳng phải địa ngục thường, tạo tội quá sâu nặng.

Lúc còn trẻ tôi chưa học Phật cũng ưa ăn thịt.  Nghiệp tôi tạo nặng hơn rất nhiều người, vào thời kháng chiến [chống Nhật] tôi thường đi săn bắn, sau khi đọc kinh Địa Tạng tôi rất sợ hãi, thật sự lo sợ nên bắt đầu ăn chay trường, chẳng dám ăn thịt nữa, tự biết tội mình đã tạo rất nặng.  Lúc nhỏ vô tri, cha tôi ưa thích săn bắn nên chúng tôi thường theo ông lên núi săn bắn, mỗi ngày đều đem những con vật bắn được về nhà.  Tôi đã săn bắn ba năm, mười sáu tuổi bắt đầu săn bắn, mười bảy, mười tám, mười chín tuổi.  Cho nên tôi bắn súng hầu như là trúng một trăm phần trăm, chẳng cần phải nhắm, tôi có bản lãnh này.  Mỗi ngày tối thiểu là bắn hai mươi viên đạn, lúc chẳng đi săn thì cũng luyện tập bắn súng.  Cha tôi là một người lính, lúc đó nhằm thời chiến tranh với Nhật, ông ta quản lý về khí giới, quản lý những súng ống này, thế nên ở nhà tôi có rất nhiều súng.  Cơ hội tạo nghiệp, mỗi ngày đều luyện tập, con nít có đứa nào không thích chơi với súng ống?  Chúng tôi chơi súng thiệt.  Bắn súng rất chính xác là do mỗi ngày luyện tập nên, bạn không luyện đâu có được, phải luyện chứ.  Chuyện gì cũng là một môn thâm nhập, tập luyện trong một thời gian dài, cho nên tài bắn súng của tôi rất giỏi.  Nhưng nghiệp tạo cũng rất nặng, lúc đó còn chưa hiểu biết.

Sau này học Phật, đọc kinh Địa Tạng, đọc đến lông tóc dựng đứng.  Nhìn thấy cảnh tượng lúc cha tôi chết giống y như kinh đã nói.  Lúc cha tôi chết, ông phát bịnh điên cuồng, nhìn thấy núi bèn chạy lên núi, nhìn thấy sông bèn nhảy xuống sông, hoàn toàn giống y như lời nói trong kinh, đây là cảnh tôi đích thân nhìn thấy.  Chúng tôi lên núi để săn bắn thú rừng, chúng tôi dùng thuốc nổ màu vàng [3] để giết cá trong sông, mỗi lần nổ như vậy là cả ngàn, cả vạn con cá đều bị nổ chết trôi lên mặt nước, bạn nói tội nghiệp này nặng bao nhiêu?  Săn bắn, săn thú thì còn ít, chứ dùng thuốc nổ để giết cá thì quá nhiều.  Chúng tôi thường làm những chuyện này, biết được tội nghiệp này nặng vô cùng.  Quả báo của sự sát sanh là đoản mạng, cha tôi mới bốn mươi lăm tuổi thì qua đời.

Sau này tôi học Phật, người ta coi bói cho tôi, nói mạng tôi sống chẳng qua bốn mươi lăm tuổi, tôi rất tin.  Thế nên tôi học Phật rất tinh tấn vì mạng sống đã được định tới bốn mươi lăm tuổi thôi.  Đến năm bốn mươi lăm tuổi tôi bị bịnh nặng, bịnh hơn một tháng, tôi chẳng đi coi bác sĩ, chẳng uống thuốc vì trong tâm nghĩ rằng mạng sắp hết rồi, bác sĩ có thể chữa bịnh chứ chẳng thể chữa mạng.  Bởi vậy nên trong suốt cả tháng niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, niệm được một tháng thì bịnh tự nhiên hết.  Sau này có một năm nọ, tại pháp hội Nhân Vương ở Đài Loan, tôi gặp ‘Phật Sống [4] Cam Châu’, ông là một người bạn cũ của tôi.  Gặp tôi xong, ông rất hoan hỷ và nói: ‘Mấy năm nay thầy giảng kinh thuyết pháp công đức rất lớn, thầy vốn chẳng có phước báo mà còn đoản mạng, bây giờ không những thầy có phước báo mà còn sống lâu nữa, đều là nhờ hoằng pháp lợi sanh nên phước báo hiện tiền’.

Tôi chẳng cầu sống lâu, vì hiểu rõ, giác ngộ rồi, chẳng vì mình nữa, hết thảy đều vì Phật pháp, vì chúng sanh nên có được cảm ứng.  Đối với bản thân tôi, tôi bất cứ lúc nào cũng muốn ra đi, tôi chẳng lưu luyến gì với thế gian này.  Thân thể lưu lại thế gian này là phước của chúng sanh, chúng sanh cần, Phật pháp cần nên lưu lại thêm vài ngày; khi nào chúng sanh không cần nữa, Phật pháp cũng không cần nữa thì tôi sẽ ra đi lập tức, chẳng lưu luyến gì.  Đây là tâm trạng và thái độ hiện nay của tôi, tôi rất hoan hỷ sớm một ngày đến Cực Lạc thế giới thân cận A Di Đà Phật.  Đây là kể chuyện tạo nghiệp thọ báo, nếu tôi chẳng học Phật thì chắc chắn cũng thọ báo trong địa ngục, chẳng có lời gì để nói, nghiệp duyên của mình ở nơi đó, ‘sanh tử nghiệp duyên, quả báo tự thọ’, việc này làm sao chạy trốn nổi!  Mẹ của cô Quang Mục chỉ vì ham ăn, chúng tôi không những ham ăn, còn tạo nghiệp, sát sanh, sát hại quá nhiều.  Phía sau là lời [mẹ cô] cảm ơn:

Mông nhữ phước lực phương đắc thọ sanh, vi hạ tiện nhân, hựu phục đoản mạng, thọ niên thập tam, cánh lạc ác đạo.  Nhữ hữu hà kế linh ngô thoát miễn.

Nhờ phước lực của cô nên mới được thọ sanh làm kẻ hạ tiện, lại thêm thọ mạng ngắn ngủi, đến năm mười ba tuổi lại phải đọa vào ác đạo.  Cô có phương kế gì khiến tôi được thoát miễn chăng?

Đây là lời nói với con bà, nhờ cô tạo tượng, cúng dường, tu phước nên có thể thoát khỏi địa ngục, mới được thân người.  Được thân người, làm người hạ tiện, là con của người nô tỳ trong nhà.  Và sẽ đoản mạng, chỉ sống đến mười ba tuổi, sau đó lại phải đọa ác đạo.  Nói cho cô biết việc này: cô có biện pháp gì để cứu tôi không?

Quang Mục văn thuyết, tri mẫu vô nghi, ngạnh yết bi đề, nhi bạch tỳ tử, ký thị ngã mẫu hiệp tri bổn tội tác hà hành nghiệp đọa ư ác đạo.

Quang Mục nghe nói biết là mẹ mình chẳng sai, nên nghẹn ngào thương khóc mà nói với con kẻ tỳ nữ rằng: “Đã là mẹ tôi, tất biết bổn tội, do làm hạnh nghiệp gì mà phải đọa vào ác đạo như thế?”.

Cô Quang Mục nghe đến chuyện này, trong giấc mộng Phật đã nói trước với cô, chuyện này hoàn toàn trở thành sự thật.  Biết thật sự là mẹ cô đến đầu thai ở nhân gian.  Nghe bà nói những chuyện này, thọ mạng chỉ có mười ba tuổi, cảm thấy bà rất đáng thương.  Nên hỏi bà: “Bà là má trở lại đây, má nên biết mình đã tạo tội gì nên mới đọa vào ác đạo.”

Tỳ tử đáp ngôn dĩ sát hại hủy mạ, nhị nghiệp thọ báo, nhược phi mông phước cứu bạt ngô nạn, dĩ thị nghiệp cố, vị hiệp giải thoát.

Con kẻ tỳ nữ đáp do hai nghiệp là sát hại và hủy mạ mà phải thọ báo.  Nếu không nhờ phước đức của cô cứu cho, cứ theo những nghiệp đó thì tôi vẫn chưa được giải thoát.

[Con người tỳ nữ] nói rõ với cô, lúc còn sống sát sanh hại mạng, thích ăn thịt, đặc biệt ưa ăn đồ biển, đã nói phía trước.  Sát sanh, hại mạng quá nhiều rồi, những oan nghiệp này còn chưa đền trả.  Đọa địa ngục là tánh tội, trong năm giới do Phật chế định: sát sanh, trộm cắp, dâm dục, vọng ngữ là ‘tánh tội’, chẳng thọ giới mà tạo cũng có tội, chẳng thể nói là không có tội, đây là ‘bốn tội nặng’.   Bất kể là có Phật pháp hay không, bất kể là có học Phật hay không, hễ bạn phạm thì là tội nghiệp cực nặng.  Khi tạo tội này, xem bạn dùng tâm gì để coi nghiệp của bạn tạo sâu rộng bao nhiêu, luận tội chẳng giống nhau.  Nghiệp bà tạo là cốt ý, bừa bãi phóng túng, thì tội này sẽ rất nặng, sát sanh hại mạng.  ‘Hủy mạ’ phần lớn là nói: đối với người thiện, việc thiện, Phật pháp chẳng tin tưởng, người khác khuyên họ thì không những chẳng thể tiếp nhận mà còn hủy báng, mắng chửi.   Nếu chúng ta nói chuyện trong kinh Địa Tạng cho họ nghe, họ lắc đầu không tin và nói đây là chuyện gạt người.  Đây chính là báng Phật, báng pháp, tội này càng nặng hơn nữa.  Tạo hai tội nghiệp này sẽ thọ khổ báo địa ngục.

‘Nhược phi mông phước, cứu bạt ngô nạn’, nếu chẳng nhờ người con tu phước cho bà thì bà sẽ chẳng có cách chi giải thoát nổi, bà sẽ tiếp tục chịu khổ báo của địa ngục.  Tội báo ở địa ngục thọ xong còn phải đọa ngạ quỷ, súc sanh để hoàn trả.  Nợ mạng này vô cùng dễ sợ, những chúng sanh do bạn sát hại đều muốn đền trả, thiếu tiền phải trả tiền, thiếu nợ mạng thì phải đền mạng.  Thời quá khứ, An Sĩ Cao đại sư đã phải trả nợ mạng hai lần ở Trung Quốc, trong truyện ký có ghi chép, hai món nợ này là do đời trước ngài giết lầm, chẳng phải cốt ý giết, ngộ sát cũng phải đền nợ.  Hai lần này đều bị người ta ngộ sát, nhân duyên quả báo tơ hào chẳng sai, chúng ta phải giác ngộ.  Nếu chẳng thể vãng sanh đến tây phương Cực Lạc thế giới, chẳng thoát nổi lục đạo luân hồi, nói cách khác chúng ta phải biết, hết thảy những oán nghiệp mà mình đã kết với chúng sanh đều phải hoàn trả, như vậy thì làm sao chịu nổi.  Đến đời kiếp nào mới trả cho hết, chúng ta không thể không giác ngộ.  Bất luận là bạn có học Phật hay không, đây là sự thật, ai cũng không thể tránh khỏi, ai cũng chẳng thể thoát khỏi.  Chúng ta hiểu những chân tướng sự thật này, chỉ có một phương pháp duy nhất có thể cứu mình, có thể độ chúng sanh, có thể hóa giải hết thảy oan nghiệp từ vô lượng kiếp đến nay, đó chính là cầu sanh Tịnh Độ.  Sau khi sanh về Tịnh Độ, chúng ta có khả năng mỗi ngày trên thì cúng dường chư Phật, dưới thì độ hóa chúng sanh, đem hết thảy công đức tích lũy được hồi hướng cho tất cả oan gia trái chủ từ vô lượng kiếp đến nay, giúp cho họ phá mê khai ngộ, lìa khổ được vui thì mới giải trừ, hóa giải được hết những oan nghiệp ấy.  Ngoài phương pháp này ra tuyệt chẳng tìm ra phương pháp thứ hai nào khác.  Cho nên chư Phật Như Lai khuyên dạy chúng ta nên phát Bồ Đề tâm, nhất hướng chuyên niệm A Di Đà Phật, cầu sanh Tịnh Độ, chính là đạo lý này.  Xem tiếp kinh văn:

Quang Mục vấn ngôn địa ngục tội báo kỳ sự vân hà.

Quang Mục hỏi: ‘Những tội báo trong địa ngục ra sao?’

Quang Mục cũng muốn hỏi thăm, trong địa ngục thật sự là như thế nào.

Tỳ tử đáp ngôn tội khổ chi sự bất nhẫn xưng thuyết, bá thiên tuế trung tốt bạch nan cánh.

Con kẻ tỳ nữ đáp: “Những việc tội khổ nói ra càng bất nhẫn, suốt cả trăm ngàn năm cũng khó mà kể hết được”.

Đương nhiên mẹ cô cũng nói sơ lược cho cô nghe, có thể nói hết không?  Nói không hết, quá khổ, khổ đến mức chẳng nhẫn tâm nói ra, một trăm năm, một ngàn năm cũng chẳng nói hết.  Đây là việc mẹ cô đọa địa ngục đích thân cảm thọ.

Quang Mục văn dĩ đề lệ hào khấp nhi bạch không giới.

Quang Mục nghe xong rơi lệ gào khóc, bạch cùng hư không rằng:

Ngước mặt lên hư không phát nguyện.

Nguyện ngã chi mẫu vĩnh thoát địa ngục, tất thập tam tuế cánh vô trọng tội, cập lịch ác đạo.

Nguyện cho thân mẫu con vĩnh viễn thoát khỏi địa ngục, khi mãn mười ba tuổi sẽ không còn trọng tội, cũng chẳng phải trải qua các ác đạo nữa.

Đây là cô Quang Mục vì mẫu thân phát đại thệ nguyện.  Trước hết cầu nguyện cho mẹ cô vĩnh viễn lìa khỏi ác đạo, mẹ cô vốn phải đọa vào ác đạo sau khi sống đến mười ba tuổi, vẫn phải chịu khổ tiếp tục.  Cô hướng lên không trung cầu nguyện.

Thập phương chư Phật từ ai mẫn ngã, thính ngã vị mẫu sở phát quảng đại thệ nguyện, nhược đắc ngã mẫu vĩnh ly tam đồ cập tư hạ tiện, nãi chí nữ nhân chi thân, vĩnh kiếp bất thọ giả.  Nguyện ngã tự kim nhật hậu đối Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai tượng tiền, khước hậu bá thiên vạn ức kiếp trung ứng hữu thế giới sở hữu địa ngục cập tam ác đạo chư tội khổ chúng sanh thệ nguyện cứu bạt, lịnh ly địa ngục ác thú, súc sanh, ngạ quỷ đẳng, như thị tội báo đẳng nhân, tận thành Phật cánh, ngã nhiên hậu phương thành Chánh Giác.

Cúi xin thập phương chư Phật từ bi thương xót lắng nghe con nay vì mẹ mà phát lời thệ nguyện rộng lớn rằng: “Như thân mẫu con được vĩnh viễn lìa khỏi chốn tam đồ và hàng hạ tiện, cho đến cùng kiếp không phải thọ thân người nữ nữa, con xin đối trước tượng của đức Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai mà phát nguyện kể từ nay cho đến trăm ngàn muôn ức kiếp về sau, hễ nơi nào có thế giới còn các chúng sanh chịu tội khổ nơi địa ngục cùng tam ác đạo, con nguyện cứu vớt và làm cho tất cả đều xa lìa các nẻo ác địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, …Những kẻ mắc tội báo ấy thành Phật cả rồi thì sau đó con mới thành Chánh Giác.”

Cô Quang Mục là tiền thân của Địa Tạng Bồ Tát, mẹ cô đích thật vĩnh viễn thoát ly ác đạo, tại sao?  Nếu mẫu thân chẳng đọa địa ngục chịu khổ như vậy thì làm sao cô phát tâm nổi?  Công đức của mẹ cô là từ chỗ này mà ra.  Vì bà đọa địa ngục chịu khổ nhiều như vậy, thúc đẩy người con hiếu phát tâm rộng lớn, cô có thể phát hoằng nguyện này, nhân duyên hy hữu này có được là do mẹ cô đọa ác đạo mà ra.  Nếu chẳng có việc này thì cô chắc chắn sẽ chẳng phát tâm, cô cũng chẳng sắp bày lễ vật cúng dường, cũng chẳng bỏ của cải để đắp tạo tượng Phật, mẹ cô đã cho cô tăng thượng duyên nghịch này.  Cho nên người sống, kẻ mất cả hai cõi đều được lợi ích, lợi ích to lớn, chẳng thể nghĩ bàn.  Nói cho chư vị biết nguyện này vừa phát thì mẹ cô vĩnh viễn thoát ly tam ác đạo.  Chúng ta phải hiểu đạo lý này và phải ghi nhớ tâm nguyện của cô, nếu chúng ta có thể dùng nguyện của Địa Tạng Bồ Tát đã phát làm bổn nguyện của mình, mình cũng phát nguyện giống vậy thì mình sẽ là hóa thân của Địa Tạng Bồ Tát, công đức này chẳng thể nghĩ bàn.  Không những cha mẹ quyến thuộc quá khứ vĩnh viễn được thoát ác đạo, nhà Phật thường nói: ‘Một người con thành Phật, chín đời tổ tiên sanh thiên’, chín đời tổ tiên về trước đều có thể thoát khỏi ác đạo, sanh lên trời hưởng phước cõi trời, lời này là thật chẳng giả, chúng ta từ đoạn kinh này thấu hiểu được một cách sâu sắc.  Cô phát nguyện trước tượng Phật, trăm ngàn vạn ức kiếp từ nay trở về sau, sức mạnh của nguyện lực này chẳng phải nhất thời, chẳng ở trong thời gian ngắn, cũng chẳng ở một nơi, mà là ‘ứng hữu thế giới, sở hữu địa ngục, cập tam ác đạo’, nguyện hạnh này lớn biết mấy?  Không gian lớn biết mấy?  Thời gian vô tận, không gian tận hư không, trọn cả pháp giới, nơi nào có địa ngục và ba đường ác, hết thảy những chúng sanh chịu khổ nơi ấy, cô phát đại thệ nguyện đều cứu vớt họ.  Giúp cho những người này vĩnh viễn ‘xa lìa địa ngục ác thú, súc sanh, ngạ quỷ’, nguyện những người thọ tội này, những người chịu khổ nạn giống mẹ cô, họ đều thành Phật xong rồi cô mới thành Phật, đây chính là ‘địa ngục chẳng không, thề chẳng thành Phật’.  Địa Ngục trở thành trống không rồi, thì ngạ quỷ, súc sanh đương nhiên cũng sẽ trống không, đây là đạo lý nhất định.

Phát thệ nguyện dĩ, cụ văn Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai nhi cáo chi viết, Quang Mục nhữ đại từ mẫn thiện năng vi mẫu phát như thị đại nguyện.

Phát thệ nguyện xong liền nghe rõ tiếng của đức Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai nói: “Quang Mục, cô do lòng đại từ mẫn khéo vì mẹ mà phát đại nguyện như vậy”.

Đây là lòng Hiếu cảm đến chư Phật.  Vừa phát nguyện xong bèn nghe tiếng, chẳng nhìn thấy tướng của Phật, chỉ nghe tiếng của Phật, cảm ứng vô cùng rõ ràng, hiển cảm hiển ứng [5].  Cô phát nguyện trước tượng Phật, đây là ‘cảm’, cảm rõ ràng, lập tức được ‘ứng’ rõ ràng của Phật.  Cô nghe tiếng của Phật bảo rằng: ‘Quang Mục, lòng đại từ mẫn của cô.’   Đây chính là đại từ đại bi phổ độ chúng sanh của Như Lai.  ‘Thiện năng vi mẫu’, nguyện tâm, đại từ mẫn tâm này của cô là do nhân duyên mẹ cô đọa ác đạo nên cô mới phát được.

Ngô quán nhữ mẫu thập tam tuế tất, xả thử báo dĩ, sanh vi Phạm Chí, thọ niên bá tuế.

Ta quán sát thấy mẹ cô lúc mãn mười ba tuổi, khi xả báo thân này rồi thọ sanh làm người Phạm Chí sống lâu trăm tuổi.

Phật nói với cô: nghiệp báo của mẹ cô đã chuyển rồi, nguyện vừa phát liền chuyển.  Mẹ cô mười ba tuổi chết đi, vẫn được thân người lại rất thù thắng, sanh làm người Phạm Chí, là người tu hành trong đạo Bà La Môn, sống lâu đến một trăm tuổi.

Quá thị báo hậu, đương sanh Vô Ưu quốc độ

Sau khi hết báo thân ấy sẽ được sanh về cõi nước Vô Ưu.

‘Vô Ưu quốc độ’ tức là tây phương Cực Lạc thế giới.  Trong khi bà tu đạo có được nhân duyên thù thắng nghe đến Phật pháp, bà phát tâm niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, sanh đến tây phương Cực Lạc thế giới.

Thọ mạng bất khả kế kiếp.

Thọ mạng chẳng thể tính đếm nổi

Vô lượng thọ giống như đức Phật A Di Đà.

Hậu thành Phật quả

Sau đó sẽ thành Phật.

Ở tây phương Cực Lạc thế giới chắc chắn một đời thành Phật, cho nên pháp môn này gọi là pháp môn thành tựu ngay trong đời này.  Sau khi thành Phật:

Quảng độ nhân thiên, số như Hằng hà sa.

Độ rộng khắp nhân thiên số nhiều như cát sông Hằng.

Đây là lời đức Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai nói với Quang Mục: những thiện báo của mẹ cô sau này.  Đây là câu chuyện của cô Quang Mục, Địa Tạng Bồ Tát phát nguyện khi còn tu nhân.  Sau khi Phật nói xong, nói với Định Tự Tại Vương.  Xin xem tiếp:

Phật cáo Định Tự Tại Vương, nhĩ thời La Hán phước độ Quang Mục giả tức Vô Tận Ý Bồ Tát thị.

Phật bảo Định Tự Tại Vương: “Vị La Hán phước lành độ Quang Mục thuở đó chính là Vô Tận Ý Bồ Tát”.

Vị La Hán lúc đó, người dạy Quang Mục độ mẫu thân, chính là Vô Tận Ý Bồ Tát hiện nay, đây là vị Đẳng Giác Bồ Tát.  Thuở đó là La Hán, La Hán chẳng nhất định là Tứ Quả, chư vị nên biết Sơ Quả, Nhị Quả, Tam Quả đều gọi là La Hán, hiện nay là Đẳng Giác Bồ Tát.

Quang Mục mẫu giả tức Giải Thoát Bồ Tát thị.

Mẹ của cô Quang Mục tức là Giải Thoát Bồ Tát.

Hiện nay cũng là Đẳng Giác Bồ Tát.

Quang Mục nữ giả tức Địa Tạng Bồ Tát thị.

Cô Quang Mục chính là Địa Tạng Bồ Tát.

Nói rõ bổn tích nhân duyên của cô ra, đây là việc chúng ta nên học tập, xin xem tiếp kinh văn:

Quá khứ cửu viễn kiếp trung như thị từ mẫn phát Hằng hà sa nguyện quảng độ chúng sanh

Trong nhiều kiếp lâu xa ở quá khứ, Bồ Tát đã có lòng từ mẫn như vậy lập thệ nguyện nhiều như cát sông Hằng rộng độ chúng sanh.

Ở đây đức Phật khuyên và khích lệ chúng ta thêm lần nữa, phải hiểu chân tướng của sự tích này.  Nhiều kiếp lâu xa trong quá khứ, Địa Tạng Bồ Tát nhiều đời nhiều kiếp gặp những duyên khổ này, kích phát bi nguyện của ngài, nhiều đời nhiều kiếp đều phát nguyện.  ‘Phát Hằng hà sa số nguyện’, số nguyện phát ra nhiều như vậy cho nên nguyện tâm của ngài mạnh mẽ, nguyện lực rộng lớn như vậy, đối tượng đều là chúng sanh khổ nạn trong tận hư không, trọn khắp pháp giới.  Xin xem tiếp đoạn kinh sau đây:

Vị lai thế trung

Trong đời vị lai

‘Vị lai thế’ là chỉ đời hiện nay của chúng ta.  Theo cách người Tây Phương nói, hiện tại chúng ta cách thời đức Phật còn tại thế hơn hai ngàn năm trăm năm, nhưng nếu theo cách tính như trong lịch sử Trung Quốc ghi chép thì là hơn ba ngàn năm.  Cho nên ‘vị lai thế trung’ tức là chỉ chúng ta hiện nay.

Nhược hữu nam tử nữ nhân.

Nếu có kẻ nam, người nữ.

‘Nam tử nữ nhân’ chẳng có thêm chữ ‘thiện’, nói cách khác tức là kẻ nam, người nữ tạo nghiệp.  Phía sau nói:

Bất hành thiện giả, hành ác giả, nãi chí bất tín nhân quả giả, tà dâm vọng ngữ giả, lưỡng thiệt ác khẩu giả, hủy báng Đại Thừa giả, như thị chư nghiệp chúng sanh, tất đọa ác thú.

Không làm lành mà làm ác, cho đến kẻ chẳng tin nhân quả, kẻ tà dâm nói dối, kẻ nói lưỡi hai chiều, nói lời hung ác, kẻ hủy báng Đại Thừa, những chúng sanh có các nghiệp như thế ắt phải đọa vào đường ác.

Đây là nói về đời hiện nay, tạo những nghiệp này trong xã hội ngày nay quá phổ biến, bất cứ lúc nào ở đâu chúng ta cũng đều thấy được.  Nếu họ tạo tiếp tục, chẳng biết quay về, ‘nhất định sẽ đọa ác đạo’.  ‘Ác thú’ tức là tam ác đạo.  Vả lại, người ta [sống] trên đời này vô cùng ngắn ngủi, trong thời gian ngắn rất dễ tạo ác nghiệp, tạo ác nghiệp cực nặng, chớp mắt liền thấy họ phải thọ khổ báo.

Nhược ngộ thiện tri thức, khuyến lịnh nhất đàn chỉ gian quy y Địa Tạng Bồ Tát, thị chư chúng sanh tức đắc giải thoát tam ác đạo báo.

Nếu gặp được thiện tri thức khuyên bảo khiến trong chừng khảy móng tay liền quy y Địa Tạng Bồ Tát, những chúng sanh đó lập tức được thoát khỏi quả báo của tam ác đạo.

Có bao nhiêu người gặp được thiện tri thức chân chánh?  Có thể nghe theo lời răn dạy của thiện tri thức?  Thiện tri thức chân chánh hiểu rõ đạo lý nhân duyên quả báo và chân tướng sự thật của nhân duyên quả báo, lời khuyến cáo của họ chân thành, từ bi, thân thiết, chúng ta nghe xong sẽ cảm động.  ‘Nhất đàn chỉ gian’ nói về thời gian ngắn, rất ngắn.  Bạn có thể ‘quy y Địa Tạng Bồ Tát’, ‘quy’ là quay về, lúc trước tạo hết thảy tội nghiệp hôm nay quay lại chẳng tạo nữa; ‘y’ là nương dựa, nương theo lời dạy của Địa Tạng Bồ Tát để tu hành.  Lời dạy của Địa Tạng Bồ Tát ở đâu?  Tức là bộ kinh này.  Kinh này chẳng dài, chẳng khó thọ trì, mỗi ngày chúng ta có thể đọc tụng, giải nghĩa, y giáo phụng hành, như vậy thì gọi là ‘quy y Địa Tạng Bồ Tát’.  Chư vị nhất định phải hiểu rõ đạo lý này, trong kinh đức Phật thường dạy chúng ta ‘thọ trì, đọc tụng, vì người diễn nói’, như vậy gọi là ‘quy y’.  Chứ không phải mỗi ngày đọc kinh này một lần thì xong, như vậy không được.  Niệm một lần là tăng trưởng hạt giống thiện trong A Lại Da thức của bạn, nếu hành vi của bạn chẳng sửa đổi, chẳng thể sửa sai đổi mới, chẳng thể quay về thì vẫn phải thọ ác báo.  Nhưng ác báo này sẽ nhẹ một chút, thời gian thoát ly ác đạo sẽ nhanh hơn một chút, nhất định sẽ như vậy.  Nhưng nếu muốn không đọa ác đạo thì đó là chuyện không thể xảy ra, nếu vậy thì lý luận nhân duyên quả báo sẽ bị lật đổ.  Vì thường đọc tụng, [tuy] bạn chẳng làm, [mà] hạt giống ‘kinh Địa Tạng’ trong A Lại Da thức có nhiều, dễ khởi lên, dễ giác ngộ, có lợi ích như vậy.  Khi nào trong ác đạo giác ngộ, quay về thì bạn lập tức lìa khỏi ác đạo.  Nếu trong A Lại Da thức chẳng khắc sâu ấn tượng, khi gặp những khổ báo này họ chẳng giác ngộ, chẳng quay lại thì phải tiếp tục thọ nỗi khổ này mãi mãi.

Nếu bạn đọc tụng và còn có thể giải nghĩa, như vậy phải cần có thiện tri thức.  Duyên của thiện tri thức có cạn sâu chẳng đồng.  Cạn thì khuyên bạn quy y trong chừng một khảy móng tay; sâu thì giảng rõ ràng sự thật cho bạn, sau đó khuyên bạn tu hành như thế nào, duyên của thiện tri thức này sẽ rất sâu.  Khi bạn hiểu rõ ràng, minh bạch rồi, thật sự quay về, quay về cứu chính mình chứ chẳng phải cứu người khác.  Nếu chẳng quay về, chẳng cứu mình thì nhất định sẽ đọa ác đạo.  Giống mẹ cô Quang Mục đã nói, cảnh khổ trong địa ngục nói chẳng hết, chẳng nhẫn tâm nói ra.  Quả nhiên quay về, y giáo phụng hành, tuân thủ lời dạy của Phật, mỗi ngày thọ trì, đọc tụng, vì người diễn nói, thì người này ‘lập tức được thoát khỏi quả báo của tam ác đạo’, nhất định sẽ chẳng tạo nghiệp tam ác đạo, và cũng chẳng thọ quả báo tam ác đạo.  Đây là nguyên nhân gì?  Duyên đã chuyển rồi.

Chư vị nên biết Phật pháp giảng về Lý, những hạt giống của nghiệp bạn đã tạo trong quá khứ vĩnh viễn tồn tại, chẳng thể nói hôm nay bạn tu thiện thì việc thiện này có thể đền bù tội lỗi, chẳng thể đền bù được.  Thiện có thiện quả, ác có ác báo, vĩnh viễn chẳng thể đền bù.  Nhưng tội nghiệp sâu nặng, tội báo này nhất định phải có, ngày nay tôi tạm thời không muốn thọ ác báo này, tôi muốn làm cho quả báo thiện hiện ra trước, như vậy thì được, việc này có thể làm.  Đạo lý ở chỗ nào?  Ở tại ‘duyên’.  Từ hôm nay trở đi tôi đoạn dứt hết thảy việc ác, tôi đoạn dứt ác duyên, tuy hạt giống ác nghiệp vẫn còn, nhưng không có duyên thì nó sẽ chẳng hiện ra.  Tuy [hạt giống] thiện của tôi ít, tôi gia tăng duyên thiện mạnh thêm, để cho thiện ra hoa trước, kết quả trước.  Việc này có thể làm được, việc này hợp lý, thật sự hợp tình, hợp pháp, hợp lý.  Thế nên chúng ta từ hôm nay trở đi nhất định phải đoạn dứt tất cả điều ác, tu hết thảy điều thiện.  ‘Đoạn hết thảy ác’ tức là chấm dứt duyên ác, trước kia tuy đã tạo nhân ác cực nặng, chẳng có duyên ác thì nhân ác chẳng thể kết quả.  Thiện tuy rất yếu ớt, làm việc thiện ít, một chút thiện nhỏ cũng được, từ nay trở đi làm cho nó lớn mạnh lên, làm cho thiện duyên tăng trưởng, thiện quả sẽ hiện ra trước, như vậy mới tốt.  Sau đây đức Phật dạy chúng ta, dạy chúng ta làm thế nào chuyển biến quả báo, đoạn khai thị này rất quan trọng.

Nhược năng chí tâm quy kính

Nếu có thể chí tâm quy kính.

Đây là câu thứ nhất, đây là căn bản.  ‘Quy’ là quy y, chư vị ghi nhớ nhất định phải ‘y giáo phụng hành’ thì mới gọi là ‘quy y’.  Nếu chẳng thể làm đến y giáo phụng hành thì chẳng gọi là quy y, bạn chẳng quay về, quy là quay về.  Chân chánh quay về nhất định phải có ‘kính’, thành kính.  Ấn Quang đại sư dạy: ‘Một phần thành kính được một phần lợi ích, mười phần thành kính được mười phần lợi ích’.  Có người thỉnh giáo Ấn Tổ: ‘Tu học Phật pháp, nhập Phập môn có bí quyết gì?’  Đại sư trả lời: ‘Có, thành kính là bí quyết vào cửa Phật’.  Cho nên mới nói một phần thành kính được một phần lợi ích, mười phần thành kính được mười phần lợi ích, thành kính có thể cảm động chư Phật gia trì.  Chúng ta thấy cô Bà La Môn, cô Quang Mục, coi những câu chuyện này, họ làm sao được gia trì rõ ràng như vậy?  Thành kính.  Đây là nói tổng quát, phía sau là nói vào chi tiết.  Thành kính biểu hiện ở đâu?

Cập chiêm lễ tán thán.

Và chiêm lễ, tán thán.

‘Tán thán’ tức là vì người thuyết pháp, vì người diễn nói.  Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giảng bộ kinh này tức là tán thán Địa Tạng Bồ Tát, đức Phật Thích Ca giảng kinh Vô Lượng Thọ tức là tán thán A Di Đà Phật, đây là việc giảng kinh thuyết pháp.  Phía sau là những việc lắt nhắt, hương hoa y phục, các thứ trân bảo, ẩm thực, đây là phẩm vật cúng dường, đều là biểu diễn cho người ta coi.

Hôm nay đã hết giờ, chúng ta giảng đến đây, ý nghĩa của đoạn này chưa giảng hết, lần sau chúng ta tiếp tục.

Tập 12 (Số 14-12-12)

Xin mở kinh.  Hôm qua nói đến đoạn Thế Tôn bảo Định Tự Tại Vương Bồ Tát, đã nói hết đoạn công án của cô Quang Mục.  Tiếp theo đó Phật nói với chúng ta về lợi ích của sự nghe danh cúng dường, thuật lại trong kiếp quá khứ xa xưa Địa Tạng Bồ Tát từ mẫn như vậy, lũy kiếp phát nguyện giúp đỡ hết thảy chúng sanh khổ nạn.

Vị lai thế trung, nhược hữu nam tử nữ nhân.

Trong đời vị lai.  Nếu có kẻ nam, người nữ.

Kẻ nam, người nữ, phía trước chẳng thêm chữ ‘thiện’, đây là chỉ phần đông một số người thường.

Bất hành thiện giả, hành ác giả
Không làm lành mà làm ác

Những kẻ nam, người nữ này chẳng làm lành mà làm ác.

Nãi chí bất tín nhân quả giả, tà dâm vọng ngữ giả, lưỡng thiệt ác khẩu giả, hủy báng Đại Thừa giả, như thị chư nghiệp chúng sanh, tất đọa ác thú.

Cho đến kẻ chẳng tin nhân quả, kẻ tà dâm nói dối, kẻ nói lưỡi hai chiều, nói lời hung ác, kẻ hủy báng Đại Thừa, những chúng sanh có các nghiệp như thế ắt phải đọa vào đường ác.

Đây là lời dạy rất khẳng định, trong các ác nghiệp, bốn thứ này là tội nghiệp nặng nhất.  Chẳng tin nhân quả nên họ mặc sức làm xằng, làm bậy, họ chẳng tin có báo ứng.  Trong thế gian này họ hống hách, chẳng chịu dung thứ kẻ khác, họ chẳng biết quả báo sau này chẳng thể tưởng tượng nổi.  ‘Tà dâm, nói dối’, ‘nói lưỡi hai chiều, nói lời thô ác’.  ‘Tà dâm’, trong kinh đức Phật giảng về việc này rất nhiều, trong pháp thế gian cũng có nói ‘Dâm là đầu mối của vạn chuyện ác’, hầu như tất cả tội nghiệp đều phát sanh từ đây.   Chúng ta coi xã hội ngày nay tại sao có động loạn to lớn như vậy?  Phật nói về bốn nguyên nhân này, chúng ta vừa nhìn liền hiểu ngay.  Ngày nay người đời có được mấy người tin ‘nhân duyên quả báo’?  Bao nhiêu người biết tà dâm, nói dối, nói lưỡi hai chiều, nói lời thô ác là căn nguyên của hết thảy tai họa trong xã hội, ai biết được?  Đặc biệt là Phật pháp Đại Thừa, đối với Phật pháp Đại Thừa, đừng nói chi Đại Thừa, [chỉ nói đến] Tiểu Thừa thôi, những Phật pháp thông thường [có người] cũng chẳng hiểu biết rõ ràng, bèn nói đó là mê tín, nói vậy tức là hủy báng [Phật pháp].  Gán vào hai chữ ‘mê tín’ liền làm cho rất nhiều chúng sanh đoạn tuyệt cơ duyên nghe pháp, huống chi là những chuyện quá đáng hơn nữa!  Người tạo những tội nghiệp này rất nhiều, quả báo còn chưa hiện thì hoa báo đã hiện ra, hoa báo tức là xã hội động loạn ngày nay, tai nạn dồn dập, thiên tai nhân họa, khổ chẳng nói nổi.  Tạo tội nặng cùng cực này, ở đây đức Phật nói ‘nhất định đọa ác thú’, ‘ác thú’ là địa ngục, địa ngục A Tỳ, khổ chẳng gián đoạn, khổ cùng cực.  Phía sau nói rõ:

Nhược ngộ thiện tri thức
Nếu gặp được thiện tri thức

Chữ ‘Thiện tri’ chỉ rõ ‘tri’ chẳng phải là cảm tình, ‘tri’ là lý tánh, thật sự có trí huệ, thật sự thông đạt hết thảy đạo lý, vạn sự vạn pháp trong vũ trụ, nhận thức hiện tượng và tác dụng rõ ràng, như vậy thì gọi là ‘thiện tri thức’.  Gặp thiện tri thức giảng giải cho bạn, sau khi nghe xong bạn hiểu rõ, giác ngộ.

Khuyến lịnh nhất đàn chỉ gian

Khuyên bảo khiến trong chừng khảy móng tay

          Một ‘khảy móng tay’ hình dung thời gian rất ngắn.

Quy y Địa Tạng Bồ Tát

Quy y Địa Tạng Bồ Tát

Hai chữ  ‘Quy y’ quan trọng vô cùng, chẳng phải là quy y trên hình thức, quy y trên hình thức chẳng có lợi ích gì, chỉ có hình thức nhưng chẳng thành tâm thì đâu có ích gì!  Tại sao có hình thức mà chẳng có thành ý, chẳng phát tâm nổi?  Vì chẳng thấu triệt, hiểu rõ Sự Lý.  Đương nhiên đây là vấn đề của thiện tri thức, ‘tri thức’ vẫn chưa đủ, phải là ‘thiện’ tri thức, phải giảng rõ ràng, giải thích cặn kẽ về sự tướng, công đức lợi ích chân thật của sự Quy Y.  ‘Quy’ là quay về, ‘y’ là nương dựa, nương dựa ai?  Nương dựa ‘Địa Tạng Bồ Tát’.  ‘Địa’ là ai?  Là ‘Tánh’, ‘Tâm Tánh’.  ‘Địa’ là gì?  Vô tận trí huệ, công đức, đức tướng trong tự tánh, đó là ‘Địa Tạng’.  Nếu bạn nhìn thấy hình tượng của Địa Tạng Bồ Tát, bạn cứ cho là bạn quy y hình tượng ấy, đó là như trong nhà Phật thường nói: ‘Bồ Tát bằng đất qua sông còn khó bảo toàn thân mình’.  Đó là hình tượng, giúp cho bạn khi nhìn thấy hình tượng này có thể khải phát, biết được đó là Kho Báu Tâm Địa, chúng ta phải nương dựa vào cái này, nương dựa tánh đức, như vậy thì bạn mới quy y chân chánh.  Kho Báu Tâm Địa trong tâm tánh đầy đủ viên mãn công đức, chúng ta chẳng biết, nó ở đâu?  Ở trong bộ Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện kinh này, Thế Tôn khai hiển kho báu tự tánh cho chúng ta, chúng ta mới có được nơi nương dựa chân chánh.  Quy y Địa Tạng Bồ Tát tức là tu học y theo lý luận, phương pháp, cảnh giới ghi trong Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện kinh, như vậy mới gọi là ‘quy y’.  Lúc trước quan niệm, ngôn ngữ, hành vi của chúng ta trái nghịch với những lời dạy trong kinh này thì chúng ta hãy mau quay đầu lại, noi theo lời dạy của kinh điển mà sửa đổi trở lại chính là ‘Y’, từ chỗ sai lầm quay trở lại tức là ‘Quy’, y theo kinh điển sửa đổi từng việc sai lầm trở lại thì gọi là ‘Y’.  Quy y tức là tu hành chân chánh.  Có thể làm được như vậy, đức Phật nói:

Thị chư chúng sanh tức đắc giải thoát tam ác đạo báo.

Những chúng sanh đó lập tức được thoát khỏi quả báo của tam ác đạo.

Tại sao vậy?  Những chúng sanh này đã tạo vô lượng vô biên tội nghiệp trong quá khứ, tại sao hiện nay họ được lìa khỏi khổ báo của tam ác đạo?  Cách nói này có mâu thuẫn nhân quả hay không?  Tạo ác tại sao không thọ ác báo?  Nhất định chẳng mâu thuẫn nhân quả.  Tại sao họ chẳng thọ ác báo?  Vì hôm nay họ đã đoạn dứt ác duyên.  Chư vị phải biết, nhân muốn kết thành quả thì trong ấy phải có duyên; nếu chẳng có duyên, tuy có nhân thì quả báo cũng chẳng thể hiện ra.  Thí dụ hạt dưa là hạt giống, tương lai có thể kết thành dưa, nhưng nó cần phải có duyên, nó cần đất đai, phân bón, ánh sáng, và nước, có điều kiện đầy đủ thì hạt giống mới nảy mầm, trưởng thành, tương lai ra hoa kết trái.  Nếu đoạn dứt duyên của hạt giống này, bỏ hạt giống vô tách trà, để cả năm thì nó cũng chẳng kết trái nổi.  Đây tức là nói những tội nghiệp A Tỳ địa ngục mà bạn đã tạo trong quá khứ nhất định phải đi đến A Tỳ địa ngục để thọ báo.

Hôm nay Phật, Bồ Tát dạy bạn đoạn dứt những ác duyên này, tuy bạn có nghiệp nhân này nhưng hiện nay có thể không thọ quả báo, nói như vậy rất hợp đạo lý, là đoạn dứt duyên.  Từ nay trở về sau tin sâu nhân quả, chẳng dâm dục, chẳng nói dối, chẳng nói lưỡi đôi chiều, chẳng nói lời hung ác, tán thán Đại Thừa thì duyên lập tức sẽ lật ngược lại.  Tội trong đời quá khứ còn không?  Vẫn còn, hạt giống vẫn còn trong A Lại Da thức, cũng như bỏ hạt giống đó vào tách trà, hạt giống sẽ chẳng tiêu mất.  Chư vị nên biết những hạt giống thiện ác này vĩnh viễn chẳng tiêu diệt, khi nào gặp duyên thì nó sẽ khơi dậy, nếu không gặp duyên thì vĩnh viễn sẽ nằm trong A Lại Da thức, A Lại Da thức là một cái kho, cất chứa ở trong đó.  Bạn có hạt giống địa ngục A Tỳ, tương lai bạn có thể đến địa ngục A Tỳ độ chúng sanh, nếu A Lại Da thức của bạn chẳng có hạt giống địa ngục A Tỳ thì địa ngục bạn chẳng có phần, bạn sẽ chẳng nhìn thấy địa ngục.  Thế nên tất cả những nghiệp nhân đã tạo trong quá khứ khi thành Phật thì đều khởi tác dụng, phổ độ hết thảy thiện ác chúng sanh trong chín pháp giới.  Vì lúc đó bạn sẽ hiểu rõ, chẳng mê hoặc nữa.  Đọa địa ngục là đọa như thế nào?  Là độ chúng sanh.  Nói thật ra trong địa ngục sẽ chẳng thọ khổ, chỉ là thị hiện.  Thế nên nếu bạn chẳng có duyên ngạ quỷ thì làm sao độ ngạ quỷ được?  Bạn chẳng có duyên súc sanh thì không thể độ súc sanh.  Chúng ta thấy chư Phật, Bồ Tát hiện thân trong ba đường ác, là vì họ đã tạo nghiệp của ba đường ác lúc họ còn tu nhân trước kia, đến lúc đó có thể lấy nghiệp của ba đường ác đem ra dùng.  Họ ‘dùng’ chứ chẳng thọ báo, để độ chúng sanh.  Thế nên chúng ta đối với hết thảy tội nghiệp đã tạo trước kia cũng không cần phải hối hận, biết được sau khi thành Phật sẽ dùng nó.  Nếu không thành Phật thì khỏi nói nữa, nếu hiện nay bạn còn tạo thêm ác duyên thì chắc chắn sẽ vào tam ác đạo thọ khổ báo.  Cho nên sau khi giác ngộ thì có tác dụng của giác ngộ, tức là vào tam ác đạo để giúp đỡ chúng sanh khổ nạn, đây là việc chúng ta nhất định phải hiểu.  Xem tiếp đoạn sau đây:

Nhược năng chí tâm quy kính

Nếu có thể chí tâm quy kính.

‘Quy’ là quy y, ‘kính’ là tôn kính.  Trong đoạn văn này chữ quan trọng là ‘chí tâm’, chí tâm là tâm chân thành, chẳng có một tơ hào hư vọng.  Tâm chân thành y giáo phụng hành, những gì Phật dạy chúng ta, chúng ta phải ghi nhớ kỹ càng, phải làm theo mỗi ngày, ‘thọ trì đọc tụng, vì người diễn nói’, đây tức là chí tâm quy y, đây tức là phải y giáo phụng hành.  ‘Thọ’ là gì?  Đạo lý Phật dạy trong kinh điển chúng ta đều tiếp nhận, chẳng hoài nghi; phương pháp tu hành do đức Phật dạy chúng ta, chúng ta đều tiếp nhận, hoàn toàn làm theo.  Cảnh giới nói trong kinh chúng ta khế nhập.  Khế nhập tức là ‘chứng được’, như vậy mới gọi là ‘chí tâm quy kính’.

Sau đây nêu lên vài sự tướng, nói thật ra trong đời sống hằng ngày những phương diện tu học rất rộng, rất sâu.  Dưới đây nêu ra vài việc.  Thứ nhất:

Cập chiêm lễ tán thán.

Và chiêm lễ, tán thán.

Đây hoàn toàn là vì người diễn nói.  Cúng dường hình tượng của Phật, Bồ Tát, mỗi ngày phải cúng dường, lễ bái đúng như pháp.  Xưng danh tức là tán thán, đọc kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện là tán thán Địa Tạng Bồ Tát, xưng niệm danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát cũng là tán thán Địa Tạng Bồ Tát.  Giống như hiện nay Niệm Phật Đường ở lầu bốn của Cư Sĩ Lâm, trước khi giảng kinh các bạn đều đi niệm Phật, niệm Phật tức là ‘chiêm lễ, tán thán’.  Làm cho ai coi?  Cho hết thảy chúng sanh coi.  Trong hết thảy chúng sanh, con người chỉ là số ít, người ta đến lầu bốn Cư Sĩ Lâm nhìn thấy các bạn nên sanh tâm hoan hỷ, trồng thiện căn trong A Lại Da thức, trồng hạt giống của Phật, một phen lọt vào tai vĩnh viễn thành hạt giống đạo, do vậy các bạn đã độ họ.  Càng thù thắng hơn là thiên long quỷ thần, bạn nên biết bao nhiêu thần hộ pháp ở đạo tràng này, chư thiên quỷ thần đều ở đó.  Các bạn niệm Phật, giảng kinh, mắt thịt chúng ta không nhìn thấy, bốn phía đều có vô số thần hộ pháp, không những chỉ là bốn phía, còn phía trên phía dưới, trên không, dưới đất đều có thần hộ pháp.  Nếu tâm bạn thật thanh tịnh thì bạn có thể cảm nhận được, bạn sẽ cảm nhận được họ đang ở đó, vả lại số lượng chẳng thể nghĩ bàn.  Tại sao những thần hộ pháp này đến?  Trong lúc tu nhân họ đã phát nguyện chỉ cần là đạo tràng chánh pháp thì họ nhất định sẽ đến ủng hộ, nếu họ không ủng hộ thì sẽ phản nghịch với lời thề của họ, vậy thì làm sao chẳng có lỗi với chư Phật Như Lai?  Họ đã phát nguyện trước mặt Phật.  Chúng ta ngày nay hoàn toàn hoằng dương chánh pháp, trong chánh pháp tuyệt đối chẳng có một tơ hào ý niệm tự tư tự lợi trong ấy, nếu có xen vào một ý niệm này thì thần hộ pháp có thể không đến, thì Phật, Bồ Tát không thể trách họ được.  Phật, Bồ Tát hỏi: ‘Tại sao quý vị không hộ pháp?’, họ có thể nói: ‘Người nào đó có tâm riêng tư’.  Họ có thể không đến, Phật, Bồ Tát chẳng thể trách họ.  Nếu những người tu học trong đạo tràng này đều chẳng có tâm riêng tư, người giảng kinh chẳng có tâm riêng tư, mà thần hộ pháp không đến thì họ có lỗi.  Chúng ta phải hiểu những Sự, Lý này, chúng ta phải chân thành, chí tâm, quy kính chiêm lễ, phải lễ bái, phải tán thán.

Hương hoa y phục

Hương hoa y phục

Đây là những vật dụng cúng dường, nhất định phải đốt hương.  ‘Hương’ tượng trưng rất nhiều ý nghĩa, phía trước có nói hương tiêu biểu ‘Tín, Giới, Định, Ngũ Phần Pháp Thân Hương’, tiêu biểu cho những ý nghĩa này.  ‘Hoa’ tiêu biểu cho ‘nhân hạnh’, thế nên nhất định phải cúng ‘hoa’.  Cúng ‘hoa’ là để nhắc nhở đại chúng trong đạo tràng phải tu ‘nhân’, nhân thù thắng thì tương lai quả báo chắc chắn sẽ thù thắng, cho nên phải cúng hoa tươi tốt.  Thời xưa chẳng có hoa giả, đều cúng hoa tươi, phải thay mỗi ngày.  Chư vị nên biết ‘hoa’ là tiêu biểu pháp.  Thời xưa nếu không có hoa tươi thì làm sao?  Người xưa cũng có phương pháp, họ dùng ‘bảo hoa’, họ lấy vàng bạc, lưu ly làm thành hoa, những hoa này thì chẳng cần thay đổi.  Thời xưa dùng những vật cúng dường này, dùng hoa quả làm bằng vàng bạc thất bảo, dùng những thứ này để cúng Phật, dùng bảo vật để tiêu biểu cho ý tôn kính của mình.  Nếu chúng ta không có khả năng, hiện nay công việc làm ăn lại bận rộn, mỗi ngày phải mua hoa cũng rất phiền phức.  Phật rất thông hiểu nhân tình, chẳng muốn bạn phải bị phiền toái, nếu có những hoa giả thật tốt cũng có thể dùng để cúng dường, tuyệt đối chẳng phải là chẳng kính trọng Phật.  Kính hay không kính là ở trong tâm của bạn, nếu tâm bạn ‘chí tâm quy kính’ thì cúng cái gì cũng có thể biểu đạt được ý kính của bạn; nếu tâm bạn chẳng kính thì dù bạn cúng hoa bằng bảy báu cũng chẳng ăn nhằm gì, cũng là chẳng kính.  Đây là một thứ hình tượng, tượng trưng cho tâm ý của mình, và cũng chứa đựng ý nghĩa ‘tự hành hóa tha’.  Nói chung thì phải cúng hương, cúng hoa.

 ‘Y phục’, cúng y.  ‘Y’ là gì?  Chẳng phải là áo chúng ta may mặc hiện nay, chẳng phải là loại áo này.  Bạn phải nghĩ Phật pháp từ Ấn Độ truyền đến ba ngàn năm trước, ba ngàn năm trước họ mặc ‘y’ gì?  Cái gì gọi là ‘y’?  ‘Y’ tức là cả khúc vải.  Ở Tân Gia Ba rất thuận tiện, chúng ta thường thấy người Ấn Độ đi ngoài đường, người Ấn Độ mặc y phục là dùng nguyên miếng vải quấn trên người, chữ ‘y’ ở đây là chỉ miếng vải này; chẳng phải là cái áo có cổ áo, có tay áo như áo của chúng ta, ‘y’ như vậy chẳng đẹp.  ‘Y’ là cả miếng vải, ngày nay chúng ta đắp ca-sa chính là ‘y’ này.  Người thế gian có phước báo, áo của họ mặc là cả miếng vải như vậy.

Tăng Đoàn của Phật năm xưa có chế độ khất thực, mỗi ngày ăn một bữa, đi ra ngoài đường trì bình, rất dễ xin được một bữa ăn, còn một manh áo thì vô cùng khó khăn, chẳng dễ xin được.  Ngày xưa đều là dùng tay dệt vải, rất tốn công, có được một cái áo chẳng dễ.  Nói thật ra xin được một bát cơm cũng chẳng dễ, có khi phải đi xin nhiều nhà mới được một bát, chỗ này cho bạn một chút, chỗ kia cho bạn một chút, phải đi xin sáu, bảy nhà mới được một bát.  Thời xưa vật dụng, tài nguyên chẳng phong phú như ngày nay, đời sống rất gian khổ, cho nên cái áo người xuất gia mặc này phải tìm ở đâu?  Áo cũ của người ta mặc xong, bỏ đi không dùng nữa, gọi là ‘phấn tảo y’, liệng bỏ, rách chẳng dùng nữa được.  Người xuất gia lượm những áo này, kiếm những chỗ vải còn chưa rách, cắt ra những mảnh vải này xong rồi may lại thành chiếc ‘y’.  Vì lượm những miếng vải như vậy, chất liệu, màu sắc đều chẳng giống nhau, may thành áo rất khó coi cho nên phải nhuộm màu, ý nghĩa của ‘y’ nhuộm màu là như vậy.  Ngày nay cúng ‘y’ của chúng ta là cúng cà-sa, cúng cái ‘y’ này.  ‘Y’ này tiêu biểu cho cái gì?  Tiêu biểu cho nhẫn nhục.  Y là dùng để che thân thể, che dấu thẹn thùng, tiêu biểu nhẫn nhục.  Đây là nói về ‘y phục’.

Chủng chủng trân bảo.

Các thứ trân bảo.

Đây là nói về sự cúng dường Phật, Bồ Tát, dùng trân bảo để cúng dường.  Hình tướng, chủng loại của trân bảo rất nhiều, hết thảy đều để biểu lộ lòng thành kính của mình.  Trân bảo cũng tiêu biểu pháp, đây là vật người thế gian ưa thích, coi trọng, ai có trân bảo thì đời sống của người ấy được bảo đảm.  Trân bảo tiêu biểu ‘pháp bảo’, Tam Bảo là Phật, Pháp, Tăng, cúng dường trân bảo là tiêu biểu cho ý nghĩa này.  Làm cho người ta nhìn thấy trân bảo liền liên tưởng đến Tam Bảo.  Trân bảo thế gian chỉ có thể giải quyết sự khổ, bần cùng của chúng ta, chẳng thể giúp chúng ta thoát ra cái khổ trong lục đạo, tam giới, chẳng có cách chi.  Phật, Pháp, Tăng có thể giúp chúng ta thoát ly lục đạo, thoát ly biển khổ luân hồi, đó mới là trân bảo thiệt, trân bảo trong thế gian tuyệt chẳng thể sánh bằng.  Ý nghĩa của sự cúng dường trân bảo là ở chỗ này.

Hoặc phục ẩm thực

Hoặc cúng đồ ăn, thức uống.

Ẩm thực là vật liệu để nuôi sống người trong thế gian, nếu chẳng có ẩm thực thì chẳng sống được.  Người xuất gia cũng chẳng ngoại lệ, cũng phải mỗi ngày ăn một bữa, phải đi trì bát.  Ý nghĩa quan trọng trong việc cúng dường đồ ăn thức uống là để chúng ta từ việc này, nghĩ đến người tu đạo thì phải biết ‘tứ sự cúng dường’ để cho họ an tâm tu đạo.  Người tu đạo chẳng có dục vọng gì cả, họ có thể sống đời sống rất đơn giản, họ có đạo tâm, thật sự làm tấm gương tốt nhất cho người đời.  Giúp người thế gian đoạn dứt tham, sân, si, mạn; bốn thứ phiền não này làm cho người thế gian tạo nên vô lượng vô biên tội nghiệp, chúng ta làm sao khuyên họ?  Phải hiện thân thuyết pháp, bạn phải làm ra hình dáng tốt.  Nếu bạn chỉ nói, chỉ khuyên họ, tự mình chẳng chịu làm, người ta nhìn thấy [sẽ nói] “Đó là giả, bạn xem bản thân họ chẳng chịu làm, họ dạy mình xả bỏ của cải, còn của cải của họ càng ngày càng nhiều”, như vậy thì người ta làm sao tin tưởng được?  Không những không tin tưởng, họ sẽ báng pháp, sẽ tạo tội nghiệp.  Thế nên nhất định phải hiểu rõ, nhất định phải làm hết lòng.  Người tu đạo tiếp nhận cúng dường gồm có bốn thứ: ‘đồ ăn thức uống, quần áo, vật dụng để nằm nghỉ, thuốc men’, gọi là ‘tứ sự cúng dường’.  Đây là một người sinh sống trong thế gian này, đời sống giảm đến mức thấp nhất, bốn thứ này không thể thiếu.  Có đủ bốn thứ cúng dường này thì có thể yên tâm, yên tâm làm việc đạo.  Yên tâm một ngày thì làm việc đạo một ngày, đừng nghĩ về ngày mai, ngày mai còn chưa đến.  Nếu nghĩ về ngày mai, nghĩ tới năm sau thì là vọng tưởng.  Nếu tâm chúng ta thật sự ở tại ‘đạo’, nếu ngày mai có thiếu thốn chúng ta tin tưởng sâu xa chư Phật, Bồ Tát sẽ đến cúng dường.  Người ta không đến cúng dường thì chư Phật, Bồ Tát sẽ đến cúng dường.  Bạn tin không?  Có sự thật xảy ra như vậy.

Tôi tin rất nhiều đồng tu đã coi cuốn ‘Hư Vân lão hòa thượng niên phổ’, trong ấy ghi lại chuyện thật, chẳng giả.  Lão hòa thượng phát tâm đi triều bái Ngũ Đài Sơn, đi ba bước lạy một lạy, đoạn đường rất dài, lạy ba năm mới xong.  Thời gian ba năm dài như vậy, trải qua ba mùa xuân, hạ, thu, đông, đâu có lý nào không sanh bịnh nổi!  Sanh bịnh dọc đường, giữa núi rừng hoang vắng, chẳng có dấu chân người, ngài đi theo những con đường hoang vắng này.  Rất ít người đi trên những đường này, ngài mắc bịnh rồi làm sao?  Ai đến cứu ngài?  Ai giúp ngài?   Văn Thù Bồ Tát giúp ngài.  Lúc ngài đến núi Ngũ Đài, Văn Thù Bồ Tát giúp ngài rất nhiều lần, chăm sóc cho ngài.  Lần lâu nhất là khoảng một tuần bảy ngày, vì thân thể ngài lúc đó rất suy nhược, [Văn Thù Bồ Tát] nấu canh gừng, nấu cháo cho ngài, tìm thuốc cho ngài.  Văn Thù Bồ Tát hóa thân làm người ăn xin, cả mấy lần gặp khó khăn, tai nạn đều gặp người này, rất là kỳ lạ.  Lão hòa thượng vô cùng cảm kích nên mới hỏi người ấy.  Văn Thù Bồ Tát bèn nói với lão hòa thượng ông ta tên là ‘Văn Cát’, họ Văn, tên là Cát, chữ Cát trong chữ Cát Tường.  Ông ấy nói: “Nhà tôi ở dưới núi Ngũ Đài, lúc ông đến núi Ngũ Đài hỏi, họ đều biết tôi”.  Đây là Phật, Bồ Tát đến cúng dường.  Lúc lão hòa thượng đến núi Ngũ Đài, lễ lạy Văn Thù Bồ Tát xong rồi hỏi thăm về Văn Cát, kết quả là người ta nói cho ngài biết đó chính là Văn Thù Bồ Tát hóa thân, ngài mới bỗng nhiên hiểu rõ.  Nếu bạn thật sự có đạo tâm, chí tâm quy kính, đâu có lý nào Phật, Bồ Tát không chăm sóc cho được.  Nếu bạn chẳng có đạo tâm thì đương nhiên Phật, Bồ Tát sẽ chẳng lo cho bạn, thần hộ pháp cũng chẳng lo cho bạn.  Thật sự có đạo tâm thì Phật, Bồ Tát, thần hộ pháp thường thường đi theo ở hai bên, chẳng xa lìa.  Đến lúc bạn thật sự gặp nạn, chẳng có người giúp đỡ thì quý ngài sẽ đến, họ sẽ hóa thân đến.  Tại sao chẳng có người đến giúp lão hòa thượng?  Người chẳng có phước lớn như vậy.  Cúng dường người tu hành, chăm sóc cho người tu hành phước đức vô lượng vô biên, phải có phước đức to lớn mới gặp được cơ hội này, mới trồng được phước điền này, nếu chẳng có phước báo thì gặp được cũng bỏ lỡ.  Nếu chúng ta chẳng thâm nhập kinh tạng thì làm sao hiểu được những đạo lý này!  Đây là chỉ nêu lên vài sự tích, mỗi sự tích này đều có nghĩa thú tiêu biểu pháp rất sâu rộng, từ đó chúng ta mới hiểu được phải làm như thế nào.

Như thị phụng sự giả, vị lai bá thiên vạn ức kiếp trung, thường tại chư thiên, thọ thắng diệu lạc.

Cúng phụng như vậy thì trong trăm ngàn muôn ức kiếp về sau thường được ở cõi Trời, hưởng thọ sự vui thù thắng vi diệu.

Chúng ta có thể trong đời sống sanh hoạt thường ngày, tu học như vậy, biểu diễn cho người ta coi.  ‘Như thị’ cúng dường Phật, cúng dường Bồ Tát, rồi quay lại cúng dường hết thảy chúng sanh, có thể làm cho hết thảy chúng sanh sanh tâm hoan hỷ, làm cho hết thảy chúng sanh quay về, giác ngộ, họ đạt được phước báo lớn như vậy.  Việc này không những là phước báo, nói cho chư vị biết đây đã trở thành ‘công đức’, từ phước đức biến thành công đức.  Niệm niệm của họ đều vì lợi ích chúng sanh, chẳng phải lợi ích cho mình, niệm niệm đều vì chúng sanh do đó trở thành công đức.  Quả báo của họ ‘thường ở cõi trời’, trời Dục Giới, Sắc Giới.  ‘Thọ thắng diệu lạc’ là hưởng phước cõi trời.

Nhược thiên phước tận, hạ sanh nhân gian, do bá thiên kiếp thường vi đế vương.

Nếu phước trời hết, sanh xuống nhân gian thì vẫn còn trăm ngàn kiếp thường làm đế vương.

Hưởng phước báo nhân gian, phước trời đã hết nhưng họ vẫn còn phước dư lại, sanh đến cõi người làm vua chúa, đây là nói người có phước lớn nhất ở nhân gian.  Câu sau này quan trọng:

Năng ức túc mạng nhân quả bổn mạt.

Lại nhớ được túc mạng cùng cội ngành nhân quả.

Câu này vô cùng quan trọng!  Nếu chẳng có câu này thì một khi hưởng phước sẽ lại mê muội.  Một khi mê muội thì hưởng phước báo chẳng khi nào không tạo nghiệp, lúc tạo tội nghiệp thì quả báo lại chẳng thể suy tưởng nổi.  Họ có thể biết được túc mạng, biết quả báo là từ chỗ này mà có, biết lúc trước tu thiện nhân gì cho nên họ hưởng phước vẫn tiếp tục tu phước, phước báo của họ sẽ hưởng chẳng hết.  Truy tìm căn nguyên của họ chính là công đức chí tâm quy kính Địa Tạng Bồ Tát.  Nói Địa Tạng Bồ Tát nhất định phải hiểu đức năng vốn sẵn có trong tâm địa, như vậy mới là chân chánh quy y Địa Tạng Bồ Tát.  Hết thảy chư Phật Như Lai đều chí tâm quy kính Địa Tạng Bồ Tát nên mới tu hành thành công, chứng Vô Thượng Bồ Đề.  Nếu chẳng y theo pháp môn Địa Tạng thì nhất định sẽ chẳng thành Phật nổi.  Không những không thành Phật được, nói thật ra thành A La Hán cũng chẳng nổi, đây là sự thật, chẳng phải giả.  Hết thảy pháp thế gian, xuất thế gian đều xây dựng noi theo tâm địa pháp môn.  Có thể thuận theo tánh đức, thành tựu hết thảy thiện quả, nếu trái nghịch tánh đức thì sẽ biến thành lục đạo tam đồ, biến thành cảnh giới ác.  Thế nên cảnh giới thiện ác gì cũng do tự tánh biến hiện thành, chỉ dựa trên một niệm này của chúng ta là thuận tánh đức hay nghịch tánh đức, quả báo cảnh giới hiện ra chẳng tương đồng.  Họ còn có thể nhớ được ‘túc mạng nhân quả bổn mạt’, đây là oai thần của Bồ Tát gia trì, đây là cảm ứng đạo giao.  Chúng sanh có cảm, Phật liền có ứng, nhất định phải dùng tâm chân thành, thanh tịnh mới có thể cảm.  Tại sao phần đông người ta chẳng có cảm ứng cùng Phật, Bồ Tát?  Vì tâm chẳng thành, tâm chẳng thanh tịnh, thì làm sao có cảm ứng cho được!  Nếu tâm có sự suy tưởng tà vạy, giống như tạo thập ác nghiệp nói ở phía trước, những gì bạn cảm được đều là các ác quỷ ác thần, đều tạo ác hết.  Tạo ác tương cảm cùng người tạo ác, tu thiện tương cảm cùng người tu thiện, đây là đạo lý nhất định.  Trong kinh Dịch, Khổng Phu Tử có nói: ‘Những vật cùng loại tụ hợp với nhau, người chia ra thành đoàn’ [6].  Người thiện đều ưa thích ở gần người thiện, người ác nhất định đi cùng đường với người ác.  Nếu tâm chúng ta thiện thì sẽ ở gần với Phật, Bồ Tát, thiện thần; nếu tâm ác thì sẽ ở gần ác quỷ, ác thần, đây là nguyên lý cảm ứng đạo giao.  Xem tiếp kinh văn:

 

Định Tự Tại Vương

Định Tự Tại Vương

Đây là lời Thế Tôn gọi tên vị Bồ Tát [đương cơ].

Như thị Địa Tạng Bồ Tát hữu như thử bất khả tư nghị đại oai thần lực, quảng lợi chúng sanh, nhữ đẳng chư Bồ Tát đương ký thị kinh, quảng tuyên lưu bố.

Bồ Tát Địa Tạng có đại oai thần lực chẳng thể nghĩ bàn, làm lợi ích rộng lớn cho chúng sanh như thế.  Những bậc Bồ Tát quý vị phải ghi nhớ kinh này và tuyên truyền lưu bố rộng ra.

Đức Phật ở nơi đó dùng cơ hội giáo dục.  Hôm nay, những Bồ Tát tham dự hội này quá nhiều, đức Phật Thích Ca muốn sau khi ngài viên tịch, giao phó sứ mạng giáo hóa chúng sanh cho Địa Tạng Bồ Tát, đồng thời cũng yêu cầu những đại Bồ Tát này cùng chung trợ giúp.  Mời Địa Tạng Bồ Tát dẫn đầu, hết thảy chư Bồ Tát phải giúp đỡ ngài, nên làm cho ngài hiểu rõ sự việc này.  Công việc này là việc làm lợi ích rộng lớn cho chúng sanh, hết thảy chư Phật, Bồ Tát đều có nguyện vọng này, nên bất cứ người nào dẫn đầu đều được cả.  Ngài dẫn đầu, chúng ta ở kế bên trợ giúp, dốc toàn tâm toàn lực để ủng hộ, công đức hoàn toàn là bình đẳng.  Chỉ là duyên của mỗi cá nhân chẳng giống nhau, trừ duyên ra thì hết thảy đều bình đẳng.

Khi hiểu thấu lý này rồi thì bạn mới vui vẻ tu tập ‘Tùy hỷ công đức’.  Vả lại nói cho chư vị biết, công đức tùy hỷ đều viên mãn.  [Thí dụ] Công đức của một người làm việc suốt mấy mươi năm, chúng ta đến chỗ đó nhìn thấy liền tùy hỷ, sanh tâm hoan hỷ thì công đức mấy mươi năm của người đó mình hoàn toàn đạt được.  Tại sao vậy?  Trong chân tâm không có giới hạn, nó bình đẳng, một được thì hết thảy đều được.  Tại sao phần đông người ta không đạt được?  Vì trong tâm họ có giới hạn, [họ nghĩ] ông ấy làm chẳng phải tôi làm, tôi chẳng có làm.  Thế nên cái ‘được’ này của họ rất có hạn.  Tự mình vạch rõ ranh giới, thì đâu còn cách gì nữa?  Tự giới hạn mình, thế thì hư hết.  Phía trước có nói đến tâm chí thành, một niệm chí thành, trong tâm ấy không có giới hạn, trong tâm ấy thanh tịnh, bình đẳng.  Dùng tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng mà tùy hỷ thì công đức bạn đạt được sẽ viên mãn.  Chúng ta ngày nay nếu thật sự dùng tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng để tùy hỷ thì công đức của Địa Tạng Bồ Tát tu được từ vô lượng kiếp chúng ta đều đạt được rất viên mãn, vậy thì làm sao chúng ta không cảm kích cho được!  Ngài đã tu hành nhiều đời nhiều kiếp, tu hành vô lượng kiếp, chúng ta hoàn toàn chẳng phí công phu liền đạt được.

Nếu hỏi tại sao bạn có thể đạt được hoàn toàn?  Vì tâm chúng ta cùng tâm của Địa Tạng Bồ Tát là một tâm, một tánh, chẳng phải hai.  Mười phương ba đời chư Phật cùng chung một pháp thân, pháp thân tức là tự tánh, tự tánh vốn sẵn đủ.  Không những công đức của Địa Tạng Bồ Tát tu được, mười phương ba đời hết thảy chư Phật, Bồ Tát tu được cũng chính là mình tu được.  Vấn đề là bạn dám đảm đương hay không?  Bạn dám tiếp nhận hay chăng?  Chân chánh thông suốt, hiểu rõ đạo lý này, hết thảy chư Phật là tự tánh chư Phật, hết thảy Bồ Tát là tự tánh Bồ Tát, hết thảy cõi nước Phật là tự tánh tịnh độ.  Không phải trong kinh đã nói rõ ràng với bạn rồi hay sao?  ‘Duy tâm tịnh độ, tự tánh Di Đà’, Di Đà là tự tánh, có một vị Phật Như Lai nào chẳng phải tự tánh biến hiện nên?  Có vị Bồ Tát nào chẳng phải tự tánh hiện nên?  Tự tánh hiện, tự tánh tu, tự tánh thành tựu, hết thảy đều quy về tự tánh, nếu bạn nhìn thấy tự tánh thì hết thảy đều đạt được, nguyên lý là như vậy.  Khi chúng ta thật sự rõ ràng, thật sự minh bạch rồi thì lòng tin của chúng ta mới có thể xây dựng, chân tâm thuần thiện, tâm ấy chẳng có mảy may ác niệm, sẽ hiện tiền.  Phần đông người ta tu học, trong kinh nói chí tánh vô định.  Đó là gì?  Chẳng hiểu rõ chân tướng sự thật, lòng tự tin của họ chẳng có cách chi xây dựng được.  Thế nên đức Phật trong kinh này nói phải gặp thiện tri thức, thiện tri thức giảng giải, nói rõ sự việc này ra thì lòng tự tin của bạn mới có thể xây dựng, ‘lòng tin là cội nguồn của đạo, là mẹ của các công đức’, đây là một việc khó nhất.

Thế nên đức Phật phó chúc những đại Bồ Tát này phải làm thiện tri thức cho chúng sanh, ‘nhữ đẳng chư Bồ Tát’, Định Tự Tại Vương Bồ Tát trong hội này là Đẳng Giác Bồ Tát.  ‘Đương ký thị kinh, quảng tuyên lưu bố’, quý vị phải ghi nhớ bộ kinh này, phải tuyên nói rộng rãi cho hết thảy chúng sanh, lưu thông rộng rãi.  ‘Bố’ là ban bố, ban cơ duyên này cho hết thảy chúng sanh.  Thế Tôn ở Đao Lợi thiên cung phó chúc, chúng ta tin tưởng sâu xa, vô lượng vô biên Bồ Tát tham dự trong hội này nhất định sẽ y giáo phụng hành.  Họ chẳng  phải là người thường, đều là đại Bồ Tát, đều là Ma Ha Tát trong các vị Pháp Thân đại sĩ, đâu phải là người phàm!  Đâu có lý nào không hoằng dương, tuyên giảng kinh Địa Tạng!  Công đức của kinh Địa Tạng có thể làm cho hết thảy những chúng sanh tạo tội cực nặng đều quay về, chẳng đọa ba đường ác, hưởng phước báo nhân thiên lâu dài, đây là công đức lợi ích của kinh này, nghiêng về phương diện này.  Kinh Vãng Sanh [7] là để độ cho chúng sanh có căn tánh chín muồi, kinh Địa Tạng là để độ chúng sanh căn tánh chưa chín muồi.  Những chúng sanh này chưa muốn thoát ly Tam giới, còn chưa muốn làm Phật, Bồ Tát, niệm niệm chỉ nghĩ đến phước báo nhân thiên, số người như vậy chiếm đại đa số.  Nếu bạn chẳng tin thì hãy ra đường đi thăm dò, bạn hãy hỏi nguyện vọng của người ta là gì?  Người nào cũng nghĩ đến phước báo nhân thiên.  Thế nên trong kinh Địa Tạng đặc biệt nói rất nhiều về phước báo nhân thiên, chúng ta biết dụng ý của kinh ở chỗ nào.  Lại xem tiếp đoạn sau, Bồ Tát quả thật đảm nhận sứ mạng.

Định Tự Tại Vương bạch Phật ngôn: Thế Tôn, nguyện bất hữu lự

Ngài Định Tự Tại Vương bạch Phật rằng: ‘Bạch Thế Tôn, xin ngài chớ lo nghĩ’.

Xin lão nhân gia yên tâm, chẳng cần lo nghĩ.

Ngã đẳng thiên vạn ức Bồ Tát Ma Ha Tát

Ngàn vạn ức Bồ Tát Ma Ha Tát chúng con

Số lượng Bồ Tát chúng trong hội dùng ‘thiên vạn ức’ để hình dung.  ‘Bồ Tát’ là Bồ Tát quả vị Tam Hiền, ‘Ma Ha Tát’ là Bồ Tát quả vị Thập Thánh, Tam Hiền Thập Thánh.

Tất năng thừa Phật oai thần, quảng diễn thị kinh ư Diêm Phù Đề, lợi ích chúng sanh.

Đều có thể nương oai thần của Phật mà tuyên diễn rộng rãi kinh này nơi cõi Diêm Phù Đề để lợi ích cho chúng sanh.

Nơi đây chúng ta phải đặc biệt chú ý đến ‘Diêm Phù Đề’, mười phương vô lượng vô biên thế giới, đặc biệt thiên về Diêm Phù Đề.  Định Tự Tại Vương Bồ Tát thay mặt vô lượng Bồ Tát đại chúng trong hội, trước mặt Thế Tôn tiếp nhận lời phó thác của đức Phật Thích Ca.  ‘Tất năng thừa Phật oai thần’, câu này rất quan trọng, chúng ta không thể xem thường, đây là biểu hiện cho sự khiêm hạ.  Bồ Tát giáo hóa chúng sanh chắc chắn sẽ được Phật lực gia trì, chẳng phải tự mình có năng lực làm, mà được Phật lực gia trì.  Nói thật ra đây đều là Đẳng Giác Bồ Tát, các ngài đương nhiên có thể giảng kinh, có thể thuyết pháp, có thể độ chúng sanh khổ nạn, cách làm như vầy đều là làm cho chúng ta xem, dạy chúng ta nhún nhường, lễ kính, khiêm nhường và cung kính là tánh đức chân thật.  ‘Quảng diễn thị kinh ư Diêm Phù Đề, lợi ích chúng sanh’, nói thật ra phạm vi lợi ích hoằng dương kinh này là tận hư không trọn khắp pháp giới, tại sao lại hạn cuộc trong Diêm Phù Đề?  Diêm Phù Đề là chỉ địa cầu của chúng ta ngày nay, tại sao phạm vi nhỏ như vậy!  Nên biết lần này đức Phật Thích Ca Mâu Ni thị hiện tại Diêm Phù Đề, nói Diêm Phù Đề tức là nói tận hư không trọn khắp pháp giới, quan hoài yêu mến giúp đỡ chúng sanh ở Diêm Phù Đề cùng hết thảy chúng sanh ở mười phương thế giới chẳng có sai khác, đều bình đẳng giống nhau, là ý nghĩa này chứ chẳng phải là thiên vị chỉ yêu mến Diêm Phù Đề không thôi, nghĩ vậy là sai.  Nói đến đây cũng như Thiện Đạo đại sư đã nói: ‘Gặp duyên chẳng giống nhau’.  Hôm nay vận may của chúng sanh ở Diêm Phù Đề thật là rất tốt, rất may mắn gặp được duyên này.  Tuyệt đối chẳng phải Phật, Bồ Tát thiên vị, ở địa phương này duyên chín muồi, duyên chín muồi thì được độ trước.

Pháp duyên của chúng ta cũng vậy, mấy chục năm nay có thể nói từ khi tôi vừa xuất gia liền đặc biệt ưa thích Hoa Nghiêm, bộ kinh sách tôi thỉnh đầu tiên chính là ‘Hoa Nghiêm Kinh Sớ Sao’, là một vị lão cư sĩ cúng dường cho tôi.  Lúc đó thật sự chẳng đơn giản, bộ sách này giá rất cao, từ Trí Khai pháp sư ở Hương Cảng, Hương Cảng Phật Kinh Lưu Thông Xứ thỉnh về một bộ, hiện nay đã in lại rồi quý vị đều có hết.  Nguyên bản hồi đó là bốn mươi cuốn đóng theo cách xỏ chỉ, tôi giữ bản này đã hơn ba mươi mấy năm rồi.  Tôi đã giao nguyên bản của bộ này cho Phật Đà Giáo Dục Cơ Kim Hội cho họ làm bản gốc.  In lần này rất rõ, rất tốt, nhưng không đẹp lắm; tôi chẳng ở Đài Loan, họ in bìa giấy thường, nếu tôi ở Đài Loan thì nhất định sẽ kêu họ in bìa giấy cứng.  Nhưng như vậy cũng khá lắm rồi, có bản in tốt đẹp như vậy.  [Tôi] ưa thích Hoa Nghiêm, thích đọc Hoa Nghiêm, thích tương lai có cơ duyên giảng Hoa Nghiêm, nhưng duyên này chưa chín muồi.  Ở Đài Loan đã giảng một thời gian nhưng bị gián đoạn hoài, vì thường nhận lời mời từ nước ngoài, ra ngoại quốc giảng kinh thì phải gián đoạn, nên kinh này đã giảng rồi ngưng, ngưng rồi giảng ở Đài Loan hết mười bảy năm, mới giảng được phân nửa.  Chẳng ngờ ở nơi đây nhân duyên chín muồi, thật là chẳng ngờ.  Nơi đây duyên chín muồi rồi chúng ta ở đây phải làm hết lòng, cho nên Phật pháp cũng là nhân duyên sanh.  Tâm chúng ta thanh tịnh, bình đẳng, ở bất kỳ nơi nào trên thế giới duyên chín muồi thì chúng ta đều làm như vậy, tuyệt chẳng nói là thiên vị một nơi nào cả.  Lòng nhiệt thành của chúng ta bình đẳng, từ bi, bác ái, yêu mến nơi này, đối với những nơi khác duyên chưa chín muồi thì chúng ta cũng yêu mến, nhiệt thành giống nhau, tuyệt đối chẳng nói chỗ này hơn một chút, chỗ kia ít một chút, chắc chắn là không như vậy.

Chư vị đồng tu tương lai tu học cũng vậy, nhất định phải xây dựng trên cơ sở của thanh tịnh, bình đẳng, giác để quảng diễn đại kinh.  Nói thật ra ngày nay chân chánh có thể cứu thế gian này [chỉ có] kinh Vô Lượng Thọ và kinh Địa Tạng.  Duyên của Hoa Nghiêm vô cùng hy hữu, vô cùng khó được, chúng ta có thể học tập.  Tương lai sau này Phật pháp hưng vượng, quốc gia hưng vượng thì Phật pháp chắc chắn sẽ hưng vượng.  Khi Phật pháp hưng vượng chúng ta tin tưởng sẽ có rất nhiều cơ duyên, tới lúc đó phải có người giảng.  Ở đây chúng tôi giảng Hoa Nghiêm một lần cho chư vị tham khảo, làm một cơ sở để sau này từ cơ sở này chư vị có thể phát huy rộng ra, lợi ích hết thảy chúng sanh.  Thế Tôn phó chúc những đại Bồ Tát này, chúng ta phải mạnh dạn đảm nhận, chúng ta cũng phải nhập vào pháp hội của họ, trở thành một phần tử của đại hội, như vậy sẽ có vô lượng công đức.  Muôn vàn xin đừng cho mình là một người ngoài, chẳng liên can gì với đại hội, vậy thì chúng ta sai rồi.  Một phần công đức lợi ích thù thắng trong ấy bạn cũng chẳng đạt được, phải khẳng định mình là một phần tử trong đại hội.  Đức Phật Thích Ca Mâu Ni phó chúc những đại Bồ Tát này, cũng là phó chúc chính mình, mình cũng là một trong chư đại Bồ Tát.  Như trong kinh Hoa Nghiêm đã nói, Đại Tâm chúng sanh tuy chưa đoạn phiền não nhưng chính là bậc đương cơ của [pháp hội] Hoa Nghiêm.  Hội kinh Địa Tạng cũng vậy, nếu chúng ta là Đại Tâm Phàm Phu thì chúng ta cũng có thể thân cận Bồ Tát Ma Ha Tát, cũng có thể gia nhập đoàn thể của họ.

Định Tự Tại Vương Bồ Tát bạch Thế Tôn dĩ, hiệp chưởng cung kính tác lễ nhi thoái.

Định Tự Tại Vương Bồ Tát bạch Thế Tôn xong, bèn cung kính chắp tay làm lễ mà lui ra.

Định Tự Tại Vương Bồ Tát thỉnh giáo đức Phật Thích Ca Mâu Ni đến chỗ này đã viên mãn và cáo lui, trở về chỗ ngồi của mình.  Xem tiếp kinh văn:

Nhĩ thời tứ phương Thiên Vương câu tùng tòa khởi hiệp chưởng cung kính.

Lúc bấy giờ bốn vị Thiên Vương ở bốn phương đều từ chỗ ngồi đứng dậy cung kính chắp tay.

            Định Tự Tại Vương thỉnh giáo xong trở về chỗ ngồi, tứ đại Thiên Vương tiếp theo.  ‘Tứ đại Thiên Vương’ là một đoàn thể nhỏ, từ chỗ ngồi đứng dậy ‘hiệp chưởng cung kính’ hướng về Phật hỏi pháp, trước hết phải cúi chào Phật.  Người Trung Quốc chúng ta thường gọi Tứ Đại Thiên Vương là Tứ Đại Kim Cang. Giống như đạo tràng ở Cửu Hoa Sơn, vừa bước vào cửa thì là Điện Thiên Vương, đây là ngôi kiến trúc đầu tiên, trong ấy cúng dường Tứ đại Thiên Vương.  Chính giữa điện Thiên Vương cúng dường một tượng Di Lặc Bồ Tát.  Tượng Di Lặc Bồ Tát hiện nay theo thói quen đều tạo theo hình tượng của Bố Đại Hòa Thượng.  Bố Đại Hòa Thượng là người triều Tống, người thời Nam Tống vừa bắt đầu.  Trong lịch sử đời Nam Tống có một anh hùng dân tộc là Nhạc Phi, người Trung Quốc hầu như nhắc đến Nhạc Phi thì ai cũng biết.  Bố Đại Hòa Thượng và Nhạc Phi là người cùng thời, xuất hiện ở Phụng Hóa, Triết Giang.  Vị này rất đặc biệt, chẳng ai biết tên của ngài là gì, từ đâu đến, chẳng ai biết cả.  Ngài du hóa ở địa phương Phụng Hóa này.  Ngài mập mạp, mỗi ngày đều vác một túi vải đi khắp nơi hóa duyên, bất kể người ta cho ngài cái gì, ngài đều bỏ vào túi vải, xong rồi ngài vác lên lưng đi, thế nên mọi người đều gọi ngài là Bố Đại Hòa Thượng, từ đó Bố Đại Hòa Thượng bèn nổi danh.  Lúc ngài viên tịch tự mình nói ra thân phận, ngài là Di Lặc Bồ Tát tái lai, nói xong ngài bèn thị tịch, chẳng bịnh mà mất, chẳng phải nói xong thân phận rồi còn chưa thị tịch.  Hiện nay có rất nhiều người nói họ là Bồ Tát, Phật gì đó tái lai, nói rồi nhưng không thị tịch, Bố Đại hòa thượng nói xong bèn thị tịch.  Cho nên chúng ta mới biết ngài là Di Lặc Bồ Tát hóa thân, từ đó Trung Quốc tạo tượng Di Lặc Bồ Tát đều tạo theo hình tượng của Bố Đại hòa thượng.

Bố Đại hòa thượng thường nở nụ cười tươi, ngài dạy chúng ta thường sanh tâm hoan hỷ, dạy chúng ta được đại hoan hỷ.  Hình tướng của ngài chính là ‘vì người diễn nói’, biểu diễn cho người ta coi, biểu hiện rõ ràng nhất chính là ‘thường sanh tâm hoan hỷ’, cho nên có người xưng ngài là Phật Hoan Hỷ.  Ngài biểu hiện tướng: ‘Sanh tâm bình đẳng, hiện tướng hoan hỷ’ [8].  Thấy tâm bình đẳng ở đâu?  Bất cứ đồ gì người ta cúng dường cho ngài, chẳng kể là sang hèn hết thảy đều bình đẳng, đều bỏ vào túi vải.  Túi vải chứa đồ này hiển thị bình đẳng, chẳng có phân biệt.  ‘Hiện tướng hoan hỷ’ là hình tướng của ngài, khi gặp người thiện thì hoan hỷ, khi gặp người ác cũng hoan hỷ, gặp chuyện tốt thì hoan hỷ, gặp chuyện xấu cũng hoan hỷ, thị hiện thanh tịnh, bình đẳng cho chúng ta xem.  Trong truyện ký có ghi, một lần nọ có một người gặp ngài trên đường hỏi ngài làm thế nào tu hành?  Ngài đem túi vải đeo trên lưng buông xuống, hai tay xoè ra, chỉ biểu lộ như vậy mà chẳng nói lời nào.  Người ta nhìn thấy bèn hiểu.  Đó là gì?  ‘Buông xuống’.  Hiểu được buông xuống, buông xuống xong thì làm sao?  Ngài xách túi lên vai bèn đi khỏi, chẳng nói lời nào.  Buông xuống rồi thì ‘nhấc lên’ và đi.  Cho nên ‘buông xuống được, nhấc lên được’.  Buông xuống là gì?  Buông xuống hết thảy vọng tưởng, phân biệt, chấp trước.  Nhấc lên là gì?  Trên cầu Phật pháp, dưới giáo hóa chúng sanh.  Di Lặc Bồ Tát dạy chúng ta việc này.

Hai bên trong Thiên Vương Điện cúng dường Tứ Đại Thiên Vương, Tứ Đại Thiên Vương trong kinh điển đều có danh hiệu.  Đông Phương Trì Quốc Thiên Vương, ‘Trì’ là bảo trì, trì quốc là bảo vệ quốc gia.  Ngày nay chúng ta gọi là yêu nước, yêu nhà, yêu nước, yêu quê hương, Đông Phương Thiên Vương tượng trưng cho ý nghĩa này.  Hộ quốc phải bắt đầu từ hộ bản thân mình, chúng ta ngày nay nói tự ái tự trọng là hộ mình.  Có thể tự hộ thì bạn mới hộ trì nhà, có thể hộ trì nhà thì bạn mới có thể hộ trì xã hội, có thể hộ trì xã hội thì bạn mới có thể hộ trì quốc gia, có thể hộ trì quốc gia thì bạn mới có thể hộ trì thế giới hòa bình, ngài tượng trưng cho ý nghĩa này.  Thị hiện tinh thần làm tròn trách nhiệm, phụ trách hết bổn phận, là dạy chúng ta việc này.  Nếu bạn không làm tròn trách nhiệm, chẳng thể làm tròn chức phận của bạn,  những chuyện thuộc trách nhiệm của bạn, nếu không làm thì bạn làm sao hộ quốc được!  Nếu ai nấy đều làm tròn trách nhiệm mình, công việc của tôi là gì, tôi phải làm công việc này cho hoàn hảo, phải làm tròn trách nhiệm, phải nỗ lực làm hết lòng tức là hộ quốc.  Trên tay ngài cầm đạo cụ [9], chúng ta ngày nay gọi là đạo cụ, ngài cầm đàn tỳ bà, đàn cũng tiêu biểu pháp.  Chẳng phải Thiên Vương này ưa thích ca hát, nghĩ vậy là sai.  Tỳ bà tiêu biểu Trung Đạo, người Trung Quốc gọi là Trung Dung.  Tỳ Bà thuộc loại đàn dây, dây chùng quá thì không kêu, căng quá thì dễ đứt, nhất định phải chỉnh cho thích hợp thì âm thanh mới hay.  Nghĩa là bất luận đối người, đối sự, đối vật đều phải đi theo trung đạo, phải làm đến mức vừa phải, chẳng quá đáng, cũng chẳng thiếu kém, đó gọi là trung đạo.  Cũng như việc khảy đàn vậy, dây đàn chẳng thể quá căng mà cũng không thể quá chùng, phải vừa vặn, tiêu biểu cho ý này.  Nhà Nho gọi là đạo Trung Dung, nhà Phật gọi là ‘Trung Đạo đệ nhất nghĩa đế’.

Nam Vương Thiên Vương gọi là Tăng Trưởng Thiên Vương, tên Tăng Trưởng có ý nghĩa gì?  Tiến Bộ.  Trí huệ của chúng ta phải tăng lên, đức hạnh phải tăng trưởng, đời sống mỗi ngày phải nâng cao tiêu chuẩn, hết thảy đều phải cầu tiến bộ.  Bạn phải biết Phật pháp cầu tinh tấn, họ thì cầu tiến bộ, chẳng thoái lui.  Có người từng nói với tôi Phật pháp chúng ta phải theo kịp thời đại, lời này nói sai rồi.  Đáng lý là thời đại phải theo kịp Phật pháp, Phật pháp dẫn đầu thời đại, như vậy mới chính xác.  Nhưng ngày nay thì sao?  Ngày nay Phật pháp lọt phía sau thời đại, còn ra thể thống gì nữa.  Nó vốn là dẫn đầu bây giờ trở thành nối theo đuôi, lộn ngược hết!  Phật pháp phải lãnh đạo thời đại, hướng dẫn nhân sanh, nhân sanh muốn được hạnh phúc, gia đình được mỹ mãn, sự nghiệp được thuận lợi, thành công, xã hội cát tường hòa hài, quốc gia phú cường, thế giới hòa bình, Phật pháp ở vị trí lãnh đạo.  Có thể y theo nguyên lý nguyên tắc của Phật pháp thì chắc chắn có thể đạt đến mục tiêu này.  Chúng ta đừng quên những năm đầu đời Thanh, thời Khang Hy, Ung Chánh, Càn Long, Trung Quốc là nước mạnh nhất trên thế giới.  Những vị vua nà dùng cái gì để hướng dẫn đại chúng?  Dùng ‘kinh Vô Lượng Thọ’.  Những vị vua nhà Thanh này thật rất tài giỏi!  Họ dùng kinh Vô Lượng Thọ để đoàn kết quân dân toàn quốc.  Nếu phương pháp này của họ được tiếp nối mãi thì nhà Thanh đã chẳng mất nước.  Nguyên nhân mất nước đương nhiên rất nhiều nhưng phế bỏ kinh điển này, chúng tôi tin tưởng đây là một nhân tố rất lớn.  Ai phế bỏ?  Từ Hi thái hậu.  Có lẽ Từ Hi thái hậu nghe kinh Vô Lượng Thọ, trong đó nói toàn là tật xấu của bà, nghe xong bà chẳng vui thích nên phế trừ, chẳng đọc nữa.  Việc này có ảnh hưởng, không thể nói không có ảnh hưởng.  Thời đại hưng thạnh nhất của triều Thanh dùng Phật pháp để trị nước, trên dưới tương hòa, hòa mục, đây là điều chúng ta phải hiểu.

Phật pháp vĩnh viễn đều cầu tiến bộ, nhà Nho cũng vậy.  Giáo học nhà Nho nói: ‘Mỗi ngày phải mới, hằng ngày phải đổi mới hơn, càng ngày càng mới hơn’ [10], mỗi ngày đều cầu tiến bộ.  Trong Phật pháp, Lục Ba La Mật có Tinh Tấn Ba La Mật, đâu có chuyện lọt phía sau người ta, đâu có đạo lý này!  Nam Phương Thiên Vương tượng trưng cho tiến thủ, hăng hái, dũng mãnh, tượng trưng ý nghĩa này.  Trên tay ngài cầm kiếm, kiếm tượng trưng trí huệ, người Trung Quốc tục gọi ‘đao nhanh chém gai loạn’, lấy ý nghĩa này.  Chẳng phải là ngài thích múa kiếm, kiếm tượng trưng trí huệ.  Chỉ có trí huệ cao độ mới có thể thúc đẩy tiến bộ, chỉ có trí huệ cao độ mới thúc đẩy hạnh phúc chân chánh mỹ mãn.  Đây là Nam Phương Thiên Vương.

Tây phương Thiên Vương tên là Quảng Mục, danh xưng tiếng Phạn của ngài còn được dịch là Tạp Ngữ (nhiều ngôn ngữ khác nhau).  Tây phương Thiên Vương rất thạo nói chuyện, có thể nói nhiều ngôn ngữ, ngày nay chúng ta gọi là thiên tài về ngôn ngữ.  Bắc Phương Thiên Vương gọi là Đa Văn, hai thiên vương này tiêu biểu cho cái gì?  Tiêu biểu phương pháp.  Hai vị đầu tiêu biểu mục tiêu, mục tiêu của chúng ta phải hộ trì quốc gia, phải có trí huệ cao độ, mỗi ngày đều cầu tiến bộ.  Tây phương Thiên Vương, trên phương pháp làm sao có thể đạt được hai mục tiêu trên?  Phải xem nhiều, học nhiều, ngày nay chúng ta gọi là tham quan khảo sát, Tây Phương Thiên Vương dẫn đầu, ngài dạy chúng ta xem nhiều, Bắc Phương Thiên Vương dạy chúng ta nghe nhiều, nhìn người ta, nghe người ta.  Trong đó hấp thụ kinh nghiệm giáo huấn, bỏ cái xấu của người, học cái hay của người, để xây dựng quốc gia mình, được vậy thì không phải chúng ta trở thành hạng nhất rồi sao?  Kỹ thuật hiện nay, tôi nghe nói VCD ở Trung Quốc rất phổ biến, ở ngoại quốc thì lúc vừa phát minh chẳng phổ biến, ở Trung Quốc thì phổ biến.  Đạo lý là gì?  Tức là ý nghĩa của những Thiên Vương, chúng ta phải rượt theo cho bằng.  Ngày nay chúng ta học những kỹ thuật khoa học này, nhất định phải học những gì tiến bộ nhất, không học những đồ cũ.  Ngày nay chúng ta muốn làm một chiếc máy bay, nhất định phải làm tốt nhất, xem sản phẩm của người ta, khuyết điểm của người ta xong mình sửa đổi thì những gì mình làm ra sẽ tốt hơn.  Nhất định sẽ không đi làm những máy bay vừa mới phát minh một trăm năm trước, nếu bắt đầu từ đó thì không phải là ngu si sao?  Đó là người ngu.  Thế nên phải bắt đầu từ chỗ người ta đã thành tựu, sau đó cải tiến thêm, sửa khuyết điểm của người ta thì mình sẽ tiến bộ hơn, tốt hơn người ta.  Đó là dạy bạn xem nhiều, Quảng Mục tức là xem nhiều.

Trên tay Thiên Vương cầm rồng hoặc rắn.  Rồng và rắn tiêu biểu cho ý nghĩa gì?  Tiêu biểu biến hóa.  Ngày nay khoa học tiến bộ từng ngày, từng tháng; rồng và rắn đều giỏi biến hóa, ý nghĩa là dạy bạn xã hội này rất phức tạp, biến hóa khôn cùng, bạn phải quan sát kỹ càng.  Trong sự biến hóa bạn có thể nắm vững đến chỗ bất biến thì bạn sẽ thành công.  Một tay [kia của Tây Phương Thiên Vương] cầm hạt châu, châu chẳng biến.  Rồng biến đổi, châu chẳng biến đổi.  Trong vô lượng sự biến đổi, nắm vững những nguyên lý, nguyên tắc chẳng biến đổi, Tây Phương Thiên Vương dạy chúng ta việc này.  Có thiên tài về ngôn ngữ, biết nhiều ngôn ngữ thì có thể cùng với mỗi quốc gia, mỗi chủng tộc trao đổi văn hóa, kỹ thuật, như vậy mới làm đến mức viên mãn.

Quảng Mục Thiên Vương dạy chúng ta đi tham vấn, đi khắp nơi xem xét, học tập.  Bắc Phương Thiên Vương đa văn, là theo chiều dọc.  Chúng ta thường nói ‘Đọc vạn quyển sách, đi vạn dặm đường’, đi vạn dặm là theo chiều ngang, đọc vạn quyển sách là theo chiều dọc.  Chúng ta phải thâu nhận bài học lịch sử, tiếp nhận kinh nghiệm trí huệ của cổ nhân, dựa trên cơ sở này rồi phát triển rộng ra.  Tứ đại thiên vương dạy chúng ta, chúng ta không thể coi các ngài là thần thánh, vậy là sai rồi.  Phải tiếp nhận sự giáo huấn, giáo hối của tứ đại thiên vương.  Trên tay ngài cầm lọng (dù), lọng tiêu biểu ý gì?  Phòng ngừa ô nhiễm.  Thời xưa, ô nhiễm còn chưa nghiêm trọng, cái lọng thời đó được xếp lại.  Ngày nay tạo tượng tứ đại thiên vương, lọng của Đa Văn Thiên Vương nhất định phải giương ra, hiện nay ô nhiễm quá trầm trọng nên phải giương ra để ngăn ngừa ô nhiễm.  Trong xã hội phức tạp này, ngài biết ô nhiễm chắc chắn không thể nào tránh khỏi.  Ô nhiễm về tư tưởng, kiến giải, tinh thần, tâm lý, sinh lý, quá trầm trọng, mấy ngàn năm trước kinh Phật đã đề xướng việc ngày nay chúng ta gọi là Hoàn Bảo (bảo vệ hoàn cảnh môi trường), tức là ngăn ngừa ô nhiễm.  Chư vị nghĩ xem sự giáo học trong Phật pháp cao minh hay không, mấy ngàn năm trước Phật pháp đã vận dụng nghệ thuật để biểu đạt giáo nghĩa, vô cùng đáng tiếc là gần đây [người ta] xem nó là tôn giáo, xem những nghĩa thú tiêu biểu pháp này thành ra thần thánh.  Chỉ biết thắp nhang, lễ lạy, cầu nguyện, khóc lóc, chẳng có tác dụng gì hết.  Bạn cầu Phật, Bồ Tát bảo hựu thì Phật, Bồ Tát thực bảo hựu bạn sao?  Đâu có đạo lý này!  Phật, Bồ Tát bảo hựu bằng cách dạy dỗ bạn, khi bạn hiểu rõ, tiếp nhận rồi thì đó mới là thật sự được các ngài bảo hựu.  Sự bảo hựu của các ngài là bằng cách dạy học, chẳng phải gì khác, chúng ta không thể hiểu sai.

Đây là Tứ Đại Thiên Vương, ở đây giới thiệu đơn giản cho quý vị.  Chúng ta phải nhận thức họ, chúng ta phải hiểu họ, chúng ta nghe đến danh hiệu, nhìn thấy hình tượng của họ mới có được lợi ích thật sự.  Thế nên Thiên Vương Điện phải giải thích như vậy, để cho chúng ta hiểu những đạo lý này, biết được trong đời sống hằng ngày tự mình phải làm thế nào, làm cho cá nhân mình có hạnh phúc, gia đình được mỹ mãn, sự nghiệp có thể thành công, xã hội an định, phồn vinh, quốc gia phú cường, thiên hạ thái bình.  Tứ Đại Thiên Vương dạy chúng ta những đại đạo lý và phương pháp hoàn hảo này, nhất định chẳng mê tín.  Xin xem tiếp kinh văn:

Bạch Phật ngôn.

          Bạch Phật rằng.

Ngài cúi chào trước, cúi chào xong nêu lên câu hỏi.

Thế Tôn, Địa Tạng Bồ Tát ư cửu viễn kiếp lai phát như thị đại nguyện, vân hà chí kim do độ vị tuyệt, cánh phát quảng đại thệ ngôn, duy nguyện Thế Tôn vị ngã đẳng thuyết.

Bạch Thế Tôn! Địa Tạng Bồ Tát từ kiếp lâu xa đến nay đã phát đại nguyện như thế, vì sao đến nay vẫn độ chưa hết, lại còn phát đại thệ nguyện nữa.  Cúi xin Thế Tôn dạy cho chúng con rõ.

Họ đề ra câu hỏi, câu hỏi này cũng là câu hỏi chung của mọi người chúng ta.  Địa Tạng Bồ Tát đích thật chẳng thể nghĩ bàn, ‘cửu viễn kiếp’ chẳng có cách chi tính đếm, ai cũng không thể tính nổi, chư Phật Như Lai cùng nhau tính cũng tính không ra.  Tại sao?  Vì nó là đức năng vốn sẵn có trong tự tánh, tự tánh vốn có, vô thỉ vô chung, đâu có chỗ bắt đầu hay chấm dứt?  Vô thỉ vô chung mới là ý nghĩa chân thật của ‘cửu viễn kiếp lai’.  Lập lại thệ nguyện không gián đoạn, đây là dạy chúng ta.  Tại sao?  Trong kinh Phật nói rất hay: ‘Tánh Thức của chúng sanh trong Diêm Phù Đề chẳng định’, rất dễ quên.  Hôm nay phát nguyện, buổi sáng phát nguyện xong, buổi tối liền quên mất, nhanh quá chừng.  Thậm chí phát nguyện trước mặt Phật, Bồ Tát, sau khi khom mình ba cái, vừa bước ra khỏi chánh điện thì quên mất tiêu rồi, đây tức là tánh thức vô định.  Tham, sân, si, mạn thì chẳng quên, tại sao chẳng quên?  Mỗi ngày đều khởi, lúc nào cũng khởi, cho nên không thể quên, gốc rễ quá vững chắc.  Địa Tạng Bồ Tát thị hiện cho chúng ta xem làm thế nào biến đổi tham, sân, si thành Tam Đức.  Muốn vậy thì phải gia tăng huân tập, không ngừng phát nguyện tức là hun đúc, mỗi ngày đều phát nguyện, mỗi sáng, mỗi tối đều phát nguyện, dưỡng thành một tập quán, khởi tâm động niệm là nguyện lực, chẳng tạo tội nghiệp nữa.  Đối trị bịnh khổ của chúng sanh ở Diêm Phù Đề, đây là một toa thuốc có công hiệu vô cùng, chúng ta phải hiểu ý nghĩa này.  Chúng ta phải học Địa Tạng Bồ Tát, mỗi ngày phải phát nguyện.

Mỗi ngày chúng ta phát nguyện nào?  Mỗi ngày phát nguyện: ‘Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ’, không phải vừa ra khỏi chánh điện liền quên mất rồi sao?  Tại sao lại như vậy?  Có miệng, không có tâm, phiền não un đúc quá lâu rồi.  Đúng là vô lượng kiếp đến nay chúng ta chịu sự un đúc của phiền não, ngày nay chỉ nghe được Phật pháp trong chốc lát, cho dù đời quá khứ có túc căn, nhưng chẳng đủ duyên, vẫn là duyên ác nhiều hơn.  Lục căn tiếp xúc cảnh giới lục trần bên ngoài toàn là ác duyên, ác duyên dẫn tới tham, sân, si, mạn; chẳng có thiện duyên dẫn dắt tứ hoằng thệ nguyện của bạn ra.  Thế nên trong đời sống tùy thuận phiền não, quên ráo trọi ‘phiền não vô tận thệ nguyện đoạn’.  Học kinh giáo thì làm biếng, giải đãi, chẳng thể tinh tấn, cũng quên sạch sành sanh ‘pháp môn vô lượng thệ nguyện học’.  Không học biện pháp này của Địa Tạng Bồ Tát thì làm sao có thể thành tựu được!  Chúng ta hiểu được đạo lý này xong mới biết tầm quan trọng của sự phát nguyện không ngừng, ý nghĩa của sự phát nguyện không gián đoạn.  Vì Tứ Thiên Vương có nghi, có câu hỏi, thì Phật nhất định có lời khai thị.  Xin xem tiếp:

Phật cáo Tứ Thiên Vương, thiện tai, thiện tai.

Phật bảo Tứ vị Thiên Vương rằng: ‘Lành thay, lành thay’

Đây là hai câu tán thán, từng câu từng chữ của lời Phật thuyết pháp đều hàm nghĩa sâu xa.  Chữ ‘thiện tai’ thứ nhất là tán thán họ hỏi rất hay, câu hỏi lợi lạc hữu tình.  ‘Thiện tai’ thứ nhì, họ là thần hộ pháp hộ thế, bất luận người đời học Phật, không học Phật, bất luận họ là người thiện, người ác, làm việc thiện hoặc tạo ác thì các ngài đều hộ trì.  Người tạo ác là vì ngu muội, vô tri, nếu chẳng được sự hộ trì của những thần hộ pháp này thì họ đọa lạc càng khổ nữa, ác báo của họ chịu chẳng phải là trạng huống trước mắt này.  Nói cách khác thần hộ pháp đã giúp họ giảm bớt hình phạt rồi.  Người thế gian chẳng biết, cũng chẳng biết cảm ơn, còn nói ngược lại là họ mê tín.  Nhưng thần hộ pháp không vì vậy mà trách móc, tại sao?  Bạn ngu si, bạn chẳng hiểu rõ chân tướng sự thật.  Nếu bạn hiểu rõ chân tướng sự thật thì chắc chắn bạn sẽ chẳng nói như thế, các ngài biết vậy.  Nếu thần hộ pháp nói những người ngu si này hủy báng các ngài, sỉ nhục các ngài, hại ngài, phá hoại hình tượng các ngài, các ngài cũng chẳng trách.  Nếu các ngài trách thì các ngài là phàm phu, có kiến thức giống những phàm phu thông thường.  Các ngài có trí huệ, đều là Bồ Tát thị hiện, thị hiện thân phận Thiên Vương.  Trong kinh này nói rất nhiều, có rất nhiều Phật, Bồ Tát thị hiện thân quỷ thần, trong quỷ đạo, trong cõi địa ngục độ chúng sanh.  Chúng sanh càng khổ não, chư Phật, Bồ Tát đối với họ càng từ bi, càng tìm cách giúp họ.  Có tâm nhẫn nại chờ họ quay về, đợi họ giác ngộ; lúc chưa quay về, chưa giác ngộ thì tạo nhiều tăng thượng duyên để dẫn dắt họ, khải phát họ.  Bất luận là trực tiếp hoặc gián tiếp, là rõ ràng hay âm thầm, đều thấy được lòng từ bi chân chánh, đây là tâm đại từ bi của họ.  Do đó hai lời tán thán này có ý nghĩa rất sâu.

Ngô kim vị nhữ

Ta nay sẽ vì sự lợi ích rộng lớn của quý vị

Phật nói: Hôm nay Ta nói cho quý vị.

Cập vị lai hiện tại thiên nhân chúng đẳng quảng lợi ích cố

Cùng các chúng trời người hiện tại và vị lai,

Hôm nay quý vị khải thỉnh, đến hỏi, nói cho quý vị biết và cũng vì thiên nhân đại chúng hiện nay và tương lai.  Vị lai, hiện tại, thiên, nhân đại chúng đều hàm chứa tận hư không, trọn khắp pháp giới, tất cả hết thảy cõi nước chư Phật, lục đạo chúng sanh đều gói gọn trong ấy, chẳng phải chỉ có Sa Bà thế giới mà thôi.  ‘Quảng lợi ích cố’ nghĩa là lợi ích rộng lớn, đây chẳng phải là lợi ích nhỏ nhoi, mà là lợi ích to lớn.

Thuyết Địa Tạng Bồ Tát ư Sa Bà thế giới, Diêm Phù Đề nội sanh tử đạo trung, từ ai cứu bạt, độ thoát nhất thiết tội khổ chúng sanh phương tiện chi sự.

Mà nói việc Địa Tạng Bồ Tát ở thế giới Sa Bà, trong đường sanh tử nơi cõi Diêm Phù Đề, từ mẫn cứu vớt, phương tiện độ thoát tất cả chúng sanh tội khổ.

Bạn hỏi, tôi nói cho bạn nghe, nói thì làm sao nói cho hết được?  Nói hoài chẳng hết.  Chuyện Địa Tạng Bồ Tát độ chúng sanh nói hoài chẳng hết, Phật chỉ đơn giản thuật lại vài chuyện mà thôi, hy vọng chúng ta từ những chuyện này, suy nghĩ cặn kẽ.  Từ đó có thể hiểu được nguyện lực độ chúng sanh của Bồ Tát, phương tiện khéo léo độ chúng sanh của Bồ Tát, thật sự chẳng thể nghĩ bàn.  Bạn nghĩ càng nhiều, càng rõ ràng, thấu suốt thì bạn càng tăng thêm lòng cung kính đối với Bồ tát, tâm nguyện noi gương theo Bồ Tát càng thêm chân thiết.  Nếu bạn không hiểu thì lòng cung kính của bạn làm sao khơi dậy nổi?  Chẳng thể nào.  Chỉ khi nào bạn nhận biết ngài, hiểu rõ ngài, lòng cung kính của bạn sẽ khơi dậy từ tận đáy lòng.

            Phàm phu làm không nổi, nói thật ra phàm phu đối với người ta ngay cả bề ngoài cũng nhìn chẳng rõ thì làm sao có thể lý giải?  Phàm phu chỉ có mắt thịt, rất kém.  Bồ Tát có thiên nhãn nên cao siêu hơn chúng ta rất nhiều.  Thiên nhãn có thể nhìn thấy sự khởi tâm động niệm; chúng ta chẳng nhìn thấy sự khởi tâm động niệm của phàm phu.  Giống những vị đại quyền thị hiện này thì càng thù thắng nữa.  Họ có đầy đủ ngũ nhãn, thập nhãn, họ có huệ nhãn, có trí nhãn, nhìn thấy rõ ràng, minh bạch, thế nên tâm chân thành cung kính tự nhiên sanh khởi.  Chúng ta học Phật khế nhập vào cảnh giới này, người thế gian coi chẳng ra gì, chẳng có gì kỳ lạ, chẳng thể so đo.  Ai tôn trọng bạn?  Chư Phật Như Lai, Bồ Tát, những thiện thần này, họ cung kính bạn, họ hiểu rõ.

Bạn có một thiện tâm chân chánh cũng chẳng cần rao truyền khắp nơi, tâm bạn chân, thiện, hoàn hảo như thế nào đi nữa, bạn nói cách mấy thì người ta nghe xong cũng nghĩ là giả.  Ai tin bạn được?  Ai biết được bạn có tâm niệm gì?  Phật, Bồ Tát, thiên long quỷ thần biết.  Người thế gian không biết, sỉ nhục bạn, hủy báng bạn thì cũng thường thôi, chẳng có gì lạ.  Họ là phàm phu, trong kinh gọi họ là ‘người đáng thương xót’, làm sao bạn có thể so đo với họ được!  Bạn so đo với họ thì bạn chẳng có một chút từ bi nào cả.  Thế nên chúng ta hiểu được đạo lý này, biết được chân tướng sự thật, tự mình phải hết lòng tu học cho đàng hoàng.  Người thế gian khen ngợi bạn thì cũng tốt, hủy báng bạn thì cũng được, hết thảy đều là giả, chẳng có gì chân thật, họ chẳng nhìn thấy đức năng chân thật trong nội tâm của bạn thì lời khen tặng đó chẳng đáng tin.  Khi họ hủy báng bạn cũng chẳng thấy được tạo tác trong nội tâm của bạn, sự hủy báng đó cũng là giả dối.

Sự tán thán của chư Phật Như Lai là thật, một tí gì cũng chẳng giả.  Như Thế Tôn trong kinh này tán thán Địa Tạng Bồ Tát, đó là thật, chẳng giả.  Ngài làm ‘lợi ích rộng lớn’.  Địa Tạng Bồ Tát tại thế giới Sa Bà, trong cõi Diêm Phù Đề đặc biệt chỉ khu vực này của chúng ta.  Ngài trong cõi này, ‘trong đường sanh tử’, sanh tử đạo tức là lục đạo luân hồi.  Trong lục đạo luân hồi ở thế giới Sa Bà, ngài dùng tâm gì, ngài làm việc gì.  ‘Từ ai cứu bạt’, từ là đại từ bi, đây là tâm của ngài.  Từ tâm thanh tịnh, bình đẳng khởi lên đại từ bi, đại từ bi này gọi là từ bi thanh tịnh, từ bi bình đẳng.  ‘Cứu bạt’ là sự nghiệp của ngài, ngài làm gì ở đây?  Ngài làm sự nghiệp cứu tế, ngày nay chúng ta gọi là sự nghiệp từ thiện phước lợi, ngài làm việc này.  ‘Bạt’ nghĩa là giải trừ hết thảy tai nạn của chúng sanh, đau khổ của chúng sanh.  Tâm từ bi là động lực, Bồ Tát làm việc này chẳng cần báo đáp, người thế gian làm việc nếu không vì danh thì cũng vì lợi.  Ngài chẳng cần báo đền, chẳng vì lợi, chẳng có người nào tán thán ngài, chẳng có ai khen thưởng ngài, chẳng vì danh.  Phật tán thán ngài ở cung trời Đao Lợi, ngoài Phật ra có ai tán thán ngài?  Vì sao không có người tán thán?  Chẳng có ai biết được tâm của ngài, hạnh của ngài.  Chư Phật Như Lai biết được, chư Phật Như Lai tôn kính, tán thán; tán thán sự phát tâm, sự nghiệp của ngài.

Câu tiếp theo: ‘độ thoát nhất thiết tội khổ chúng sanh phương tiện chi sự’, ở đây nêu lên vài việc để nói.  Ngài làm việc cứu bạt chúng sanh gì?  Chúng ta phải hiểu ý nghĩa của hai chữ ‘Độ thoát’ này.  Nhà Phật thường nói ‘độ chúng sanh’, người hiện đại đối với chữ ‘độ’ rất lờ mờ, ‘độ’ nghĩa là gì?  Nói theo kiểu bây giờ thì ‘độ’ nghĩa là giúp đỡ hết thảy chúng sanh, chăm sóc chúng sanh, yêu mến bảo bọc chúng sanh, dốc toàn tâm toàn lực giúp đỡ họ, giải trừ khó khăn của họ.  Hết thảy những chúng sanh chịu khổ chịu tội này, đây gọi là thọ báo, quả báo từ nơi nào đến?  Phải giải trừ cái ‘nhân’ ấy, chư vị phải biết trên ‘quả’ thì chẳng làm gì được, phải hạ thủ từ ‘nhân’.  Tội khổ đều do ác nhân tạo thành, muốn thoát ly đau khổ thì nhất định phải tu thiện nhân; tâm hạnh thiện rồi thì tự nhiên sẽ thoát ly ác đạo.  Bồ Tát độ chúng sanh cũng chỉ là giáo học, chúng sanh nghe xong có thể giác ngộ, chịu tiếp nhận, chịu quay về, thì họ sẽ thoát ra khỏi lục đạo.  Nếu họ nghe xong còn hoài nghi, không chấp nhận, họ nói lời này chưa đáng tin, chưa chắc là sự thật, nếu vậy thì họ vẫn phải chịu khổ tiếp tục.  Một ngày nào đó họ tiếp nhận, hiểu rõ thì họ mới thật sự thoát khổ.  Thế nên Địa Tạng Bồ Tát cũng giống như Phật, đều làm công tác giáo dục xã hội thiện nguyện.

Hôm nay đã hết giờ, chúng ta giảng đến đây thôi.

Trong quá trình chuyển ngữ chắc không tránh khỏi thiếu sót, xin các bậc thức giả hoan hỷ phủ chính cho. 

Xin thành thật cám ơn.                                                       

Một nhóm Diệu Âm cư sĩ, 4 tháng 9-2006

[1] Trong thời Tượng Pháp, mọi người đều thích xây cất chùa tháp, con người chỉ muốn cầu phước chứ không cầu trí huệ giải thoát. Ở cõi Sa Bà chúng ta, năm trăm năm đầu tiên sau khi Phật diệt độ là thời kỳ ‘giải thoát kiên cố’, lúc đó người tu hành chứng quả rất nhiều.  Năm trăm năm thứ nhì là thời kỳ ‘thiền định kiên cố’. Năm trăm năm thứ ba là thời kỳ ‘đa văn kiên cố’.  Ða văn nghĩa là chỉ chú trọng vào việc nghiên cứu, thảo luận kinh giáo, giảng kinh thuyết pháp mà chẳng chú trọng vào việc tu hành. Năm trăm năm thứ tư là thời kỳ ‘tháp tự kiên cố’.  Lúc đó chẳng còn tinh thần để thảo luận về Phật học, mọi người đều bận rộn công việc xây dựng chùa miếu. Năm trăm năm thứ năm là thời kỳ ‘đấu tranh kiên cố’. 

[2] Tỷ Lượng (anumāna-pramāna): Là một thuật ngữ trong Nhân Minh Học, có nghĩa là sự hiểu biết do so sánh suy lường. Tỷ Lượng là dùng sự hiểu biết của chính mình để so sánh, cân nhắc cái mình chưa biết hòng sanh chánh trí quyết định. Tỷ Lượng được chia thành hai loại:

  1. Tự Tỷ Lượng: Hạn cuộc trong lãnh vực tư duy, dùng sự hiểu biết của chính mình để nhận biết, cân nhắc, phán đoán sự vật. Nếu căn cứ vào hình tướng thì gọi là Tướng Tỷ Lượng, nếu căn cứ vào ngôn ngữ thì gọi là Ngôn Tỷ Lượng. Chẳng hạn như “thấy khói” liền nghĩ “chắc là do lửa đốt” đó là Tướng Tỷ Lượng; nghe người ta nói “đất nứt nẻ hết” liền suy nghĩ “nguyên nhân là vì trời hạn hán”, đấy là Ngôn Tỷ Lượng.
  2. Tha Tỷ Lượng: Sự hiểu biết, phán đoán do người khác dùng lời lẽ giúp cho mình thấu hiểu.

[3] Đây là chất TNT (Trinitrotoluene, TNT, trinitromethylbenzene)

[4] Phật sống (Hoạt Phật): Tiếng Tây Tạng là hpbrulsku, người Mông Cổ gọi là Khutuktu hay khutukutu (thường phiên âm là Hô Đồ Khắc Đồ, nghĩa là tự tại chuyển sanh). Chữ hpbrulsku (thường được viết theo cách phát âm là tulku) có nghĩa là hóa thân, chuyển sanh, là một cơ cấu truyền thừa riêng của Phật Giáo Tây tạng, nhằm giữ vững ngôi vị lãnh đạo và thích ứng với tình trạng độc thân của người đứng đầu một dòng tu. Theo đó, một vị lạt-ma cao cấp chết đi, sẽ tái sanh trở lại trong nhân gian hầu tiếp tục tu hành, thống lãnh dòng tu và thực hiện bi nguyện cứu độ chúng sanh. Trước khi chết, người ấy thường để lại di ngôn hay sấm ngữ bí hiểm để các môn đệ đi tìm xem người ấy thác sanh vào chỗ nào, rước về nuôi dạy, đào tạo trở thành người lãnh đạo tông phái. Những vị Tăng chưởng quản một phái tu, một dòng tu, thậm chí một tu viện Tây Tạng thường tự xưng là hóa thân của Phật, Bồ Tát hay Tổ Sư nào đó, chẳng hạn Đại Lai Lạt Ma là hóa thân của Quán Thế Âm Bồ Tát, Ban Thiền Lạt Ma là hóa thân của A Di Đà Phật, trưởng dòng tu Sakyapa là hóa thân của Văn Thù Bồ Tát. Có lẽ vì thế người Tàu gọi họ bằng danh xưng Hoạt Phật.

[5] “Hiển cảm hiển ứng” là ngay trong đời này dốc lòng thành, cạn lòng kính lễ niệm cúng dường thì sẽ được gia bị, gặp điều hung trở thành điều lành, gặp nạn thành may, và nghiệp tiêu, chướng tận, phước tăng, huệ rạng v.v…

[6] Vật dĩ loại tựu, nhân dĩ quần phân

[7] Kinh Vãng Sanh tức là năm kinh Tịnh Độ: kinh A Di Đà, kinh Vô Lượng Thọ, kinh Quán Vô Lượng Thọ, phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện trong kinh Hoa Nghiêm, phẩm Đại Thế Chí Bồ Tát Viên Thông Chương trong kinh Lăng Nghiêm

[8] ‘Sanh bình đẳng tâm, hiện hỷ duyệt tướng’

[9] Đạo cụ chỉ vật dụng cần thiết cho việc tu hành Phật đạo, thông thường là “tam y thập vật” (ba áo ca sa, mười vật), hoặc mười tám vật, một trăm lẻ một vật v…tức là những vật dụng tùy thân của Tăng Ni. Theo Thích Danh Nghĩa Tập, quyển 10, 18 vật gồm kiền chùy (hiểu theo nghĩa hẹp là chuông mõ), thẻ gỗ, tích trượng, gậy chống, bình quân trì (bình để đựng/múc nước rửa ráy), đãy lọc nước, xâu chuỗi, bình bát, bát nhỏ…Sau này, tất cả những vật dụng được dùng trong nghi lễ đều liệt kê vào đạo cụ, như linh, Kim Cang xử, kim cang bàn (khay đựng linh, xử), kính (melong), luân v.v… Sau này không rõ vì sao các dụng cụ để biểu diễn trên sân khấu đều nhất loạt gọi là “đạo cụ”.

[10] Cẩu nhật tân, nhật nhật tân, hựu nhật tân

Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.