Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

ÐỊA TẠNG BỒ TÁT BỔN NGUYỆN KINH GIẢNG KÝ

Tập 9 (Số 14-12-09)

          Xin mở kinh.

          Phẩm thứ 3: Quán nghiệp duyên chúng sanh.

          Lần trước nói đến đoạn Bất kính Tam Bảo, chúng ta xem tiếp:

Nhược hữu chúng sanh xâm tổn thường trụ, điếm ô tăng ni, hoặc già lam nội, tứ hành dâm dục, hoặc sát hoặc hại, như thị đẳng bối đương đọa Vô Gián địa ngục, thiên vạn ức kiếp cầu xuất vô kỳ.

          Nếu có chúng sanh xâm tổn của thường trụ, làm nhơ nhuốc Tăng Ni, hoặc tứ tình hành dâm trong chốn Già Lam, hoặc giết hoặc hại, hạng người như thế phải đọa vào địa ngục Vô Gián trong ngàn vạn ức kiếp, không lúc nào mong ra khỏi được.

          Ðây là ba thứ tội nghiệp cực nặng.  Chúng ta nhất định phải ghi nhớ: thứ nhất là chẳng hiếu thuận cha mẹ, thứ hai là chẳng kính Tam Bảo, thứ ba là ‘xâm tổn thường trụ’, xâm là xâm phạm, tổn là tổn hoại, tội xâm tổn thường trụ rất nặng, là thuộc về giới trộm cắp, đây là việc chư vị phải biết.  Nhiều người coi thường việc này, cứ tưởng đây là chuyện nhỏ, chẳng ăn nhằm gì, không biết đã phạm tội nặng nề.  Trong kinh, Phật nói rất rõ ràng, chúng ta nhất định phải thấu hiểu cặn kẽ, thường trụ có bốn loại:

Thứ nhất gọi là Thường Trụ Thường Trụ, đây là những bất động sản, đất đai, ruộng đất, nhà cửa trong tự viện, am đường, đạo tràng, được gọi là Thường trụ thường trụ.  Chỉ có thể xử dụng, tuyệt đối không thể trao đổi, mua bán, đây là vật của thường trụ, tội này cực nặng.

Thứ nhì là Thập Phương Thường Trụ, chúng ta thường gọi là ‘Tứ Sự Cúng dường’: ‘thức ăn, y phục, ngọa cụ, y dược’.  Ðây là phẩm vật của tín đồ mười phương cúng dường người xuất gia, không dành riêng cho một người nào cả, hết thảy những người xuất gia trong đạo tràng này đều có phần.  Nếu bạn xâm phạm, lấy làm của mình thì là trộm cắp.

Thứ ba là Hiện Tiền Hiện Tiền, đây là những gì tín đồ bố thí cho chúng ta.  Phạm vi bố thí này tương đối nhỏ, chỉ thuộc về những người xuất gia hiện đang có mặt (hiện tiền).  Không giống như mười phương nói ở phía trước, mười phương là hết thảy người xuất gia đều có phần.  Thời xưa người xuất gia chẳng có nhà, bất cứ là đạo tràng nào cũng có thể xin cư ngụ (quải đơn), đều có thể thọ dụng, đều có thể tiếp nhận được.  Vì sự cúng dường này là cúng dường mười phương nên hết thảy người xuất gia đều có phần.

Thứ tư gọi là Thập Phương Hiện Tiền, những vật hiện tiền, thí dụ lúc người xuất gia vãng sanh rồi, những vật mà họ để lại thì gọi là Thập Phương Hiện Tiền.  Tuy là Hiện Tiền, nhưng những vật này mười phương đều có phần.  Thế nên khi kết tội là kết từ những chỗ này.

Thí dụ như việc trộm cắp trong thế gian, bạn trộm đồ của một người thì bạn thiếu nợ một người.  Chư vị đồng tu nhất định phải biết, nếu bạn hiểu rõ đạo lý này, thông đạt chân tướng sự thật, thì trong thế gian tuyệt đối chẳng thể nói một kẻ nào đó lợi dụng người khác, lời này chẳng đúng.  Cũng chẳng có việc người nào đó bị gạt, bị lợi dụng.  Tại sao vậy?  Ðời này bạn giựt của người ta thì đời sau bạn phải trả nợ cho họ, đây là đạo lý nhất định, nhân quả báo ứng.  Chúng ta giựt đồ, tương lai đời sau gặp duyên này thì tài vật của chúng ta cũng sẽ bị người ta giựt mất.  Nếu chúng ta xâm chiếm người khác thì tương lai người ta cũng xâm chiếm chúng ta.  Thế nên Phật nói giữa người với người có bốn thứ duyên: báo ân, báo oán, đòi nợ, trả nợ.  Ðời đời kiếp kiếp vĩnh viễn chẳng dứt, đều là làm những việc này.  Chúng ta đến thế gian này để làm gì?  Là để báo ân, báo oán, đòi nợ, trả nợ mà thôi.  Sau khi hiểu rõ đạo lý này xong, ân thì phải báo còn oán thì kể như huề đi, đừng tiếp tục nữa, xóa mất oan trái này, chúng ta thiếu người ta thì phải trả, người ta thiếu mình thì bỏ qua đi.  Món oan trái này kết thúc trong đời này, chấm dứt hết, được vậy thì mới có thể niệm Phật, mới có thể vãng sanh Tịnh Ðộ.  Nếu bạn cứ thường ghi nhớ những ân oán, nợ nần này trong tâm, đến lúc Phật đến tiếp dẫn muốn kéo nhưng kéo bạn không nổi, chuyện ở thế gian này bạn còn chưa dứt hết, những chuyện này không bao giờ dứt .

Thế nên bạn thiếu nợ một người thì bạn chỉ trả nợ cho một người, chuyện này dễ làm.  Nếu là chính phủ địa phương, thí dụ một thành phố, nếu bạn trộm cắp những thiết bị công cộng ở đây thì phiền phức sẽ lớn lắm.  Tại sao vậy?  Bạn phải biết sự kết tội này, thiết bị công cộng là do những người ở địa phương này đóng thuế tạo dựng nên.  Nếu bạn trộm cắp thì những người trong thành phố này đều là chủ nợ của bạn, bạn phải trả cho từng người, bạn phải trả đến bao giờ mới trả dứt?  Chư vị nhất định phải biết, nhất định không thể trộm cắp những thiết bị công cộng, tội nặng lắm.  Nếu thiết bị này là của quốc gia thì phiền phức còn lớn hơn nữa, tương lai khi kết tội thì người cả nước đều là chủ nợ của bạn.  Hiện nay nhiều người không biết tội này nặng, mặc sức tùy tiện phá hoại thiết bị công cộng, tội này rất nặng, nặng vô cùng, phải kết tội dựa trên người cả nước.  Tự viện, am đường gọi là đồ vật của Tam Bảo, tội này còn nặng hơn tội trộm cắp tài vật của quốc gia, tại sao vậy?  Nó thông mười phương, tận hư không, trọn pháp giới hết thảy những người xuất gia đều có phần, sự luận tội này phải dựa trên tận hư không, trọn pháp giới, vậy thì phiền phức còn lớn hơn nữa.  Thế nên trộm cắp đồ vật của Tam Bảo, trộm một cây kim, một sợi chỉ, một cọng cỏ, một khúc cây đều phải đọa địa ngục A Tỳ.  Có người nói việc này hình như chẳng hợp lý tí nào, một cọng cỏ, một khúc cây, một cây kim, sợi chỉ chẳng đáng gì hết, tại sao tội nặng như vậy?  Bạn nghĩ xem, chủ nhân của nó là ai?  Bạn sẽ rõ, chủ nhân của nó là tận hư không, trọn khắp pháp giới hết thảy người xuất gia, bạn phải luận tội trên số người này.

Phạm vi của chữ ‘đạo’ (trộm cắp) vô cùng rộng lớn, chẳng hạn chế ở chỗ trộm cắp.  Trong kinh Phật, chữ đạo đuợc giải thích là ‘chẳng cho mà lấy’.  Người quản lý trong thường trụ phải cân nhắc: bạn muốn những vật ấy có nên đưa cho bạn hay không; nếu nên đưa nhưng họ không cho thì họ phạm giới, họ cũng phạm giới trộm cắp, họ dành lấy làm của riêng, cố ý làm khó dễ không cho bạn.  Nếu không nên cho nhưng họ cho bạn thì cũng phạm giới, thế nên [quản lý đồ thường trụ] chẳng dễ đâu.  Quản lý đồ vật của Tam Bảo, nếu không để ý thì liền tạo nên quả báo nghiêm trọng, đạo lý này chúng ta nhất định phải hiểu.  Nếu chúng ta lãng phí đồ vật của Tam Bảo, cũng là giới điều này.  Chúng ta tiết kiệm một phần tiền cho Tam Bảo, tiết kiệm được một đồng là phước báo của bạn, phước báo này rất lớn.  Tại sao?  Bạn cho hết thảy người xuất gia ở mười phương, bạn tu phước vì họ.  Nói cách khác, nếu bạn lãng phí, tổn hại thì tội này sẽ rất nặng.  Ngày nay càng ngày càng ít người hiểu được đạo lý này.  Người xuất gia cũng chẳng nói, hiện nay những pháp sư giảng kinh có ai giảng Giới Luật đâu?  Nếu giảng Giới Luật thì người ta sẽ mắng bạn.  [Họ sẽ nói:] “Ông giảng Giới Luật, mở kinh ra thì mỗi ngày đều mắng chửi chúng tôi”, còn ai chịu nghe lời chửi mắng?  Nếu bạn giảng Giới Luật thì một thính chúng cũng không có, nhưng đó là lời chân thật.  Thế nên chúng sanh cõi Diêm Phù Ðề, Ðịa Tạng Bồ Tát nói: ‘Khởi tâm động niệm, không gì là chẳng phải tội’, lời này là thật, chẳng quá đáng tí nào.  Niệm niệm đều đang tạo nghiệp, niệm Phật vãng sanh đâu dễ vậy sao, đây là việc chúng ta nhất định phải biết, phải cảnh giác, phải biết sự nghiêm trọng của quả báo.

Ðoạn kế tiếp ‘điếm ô tăng ni’, đây là phạm tội dâm dục.  Tăng là chúng xuất gia Nam, Ni là chúng xuất gia Nữ.  Người thế gian vô tri, dâm ô tăng ni.  ‘Hoặc trong chốn già lam’.  Phía sau là gì?  Phía sau chẳng phải là người xuất gia, thậm chí vợ chồng tham gia pháp hội trong tự viện, có khi pháp hội kéo dài nhiều ngày, thí dụ pháp hội Thủy Lục, hoặc là Lương Hoàng Sám, đều kéo dài khoảng bảy ngày trở lên, pháp hội truyền giới còn dài hơn nữa.  Có rất nhiều cư sĩ trong thời gian này tham gia pháp hội, ở lại trong chùa, tuy là vợ chồng, nếu có hành vi dâm dục trong chùa thì cũng liệt vào tội này.  Nếu không phải là vợ chồng thì tội còn nặng hơn, đó là tà dâm.  Chư vị nên biết đây đều là tội đọa địa ngục Vô Gián, người hiện nay làm sao biết được bị những quả báo nặng nề như vậy?  ‘Hoặc sát hoặc hại’, phần nhiều đây đều là cưỡng dâm, sau khi dâm ô xong rồi giết họ để thủ tiêu tang chứng, tội này càng nặng hơn.  Tạo những tội này đều phải ‘đọa vào địa ngục Vô Gián trong ngàn vạn ức kiếp, không lúc nào mong ra khỏi được’.  Xem tiếp đoạn thứ tư:

 

          Nhược hữu chúng sanh, ngụy tác sa môn, tâm phi sa môn, phá dụng thường trụ, khi cuống bạch y, vi bội giới luật, chủng chủng tạo ác, như thị đẳng bối đương đọa Vô Gián địa ngục, thiên vạn ức kiếp, cầu xuất vô kỳ.

          Nếu có chúng sanh giả làm Sa Môn, tâm chẳng phải Sa Môn, phá hoại lạm dụng của thường trụ, gạt gẫm hàng bạch y, trái phạm Giới Luật, tạo vô số tội ác, những người như vậy phải đọa địa ngục Vô Gián trong ngàn vạn ức kiếp, không lúc nào mong ra khỏi được.

          Hai câu đầu là ‘cử tội’.  ‘Sa môn’ là người tu hành, chẳng phải chỉ Tăng Ni, Tăng Ni càng thù thắng hơn Sa Môn.  Cư sĩ tại gia cũng có thể xưng là Sa Môn, hai chữ này là Phạn ngữ dịch âm, ý nghĩa của nó là ‘siêng tu Giới Ðịnh Huệ, diệt hết Tham Sân Si’, thế nên xuất gia hay tại gia đều có thể xưng là Sa Môn.  Chỉ cần bạn hết lòng tu hành, tu hành đúng như lý như pháp đều có thể xưng là Sa Môn.  Ở Ấn Ðộ danh từ Sa Môn này là danh xưng phổ biến, chẳng nhất định là Phật giáo, hết thảy những tín đồ tôn giáo chỉ cần hết lòng học tập, đoạn ác tu thiện thông thường đều xưng là Sa Môn.  Sau khi Phật giáo truyền đến Trung Quốc, Sa Môn biến thành danh từ chung của những người xuất gia trong Phật giáo, nhưng chư vị nên biết nó cũng bao gồm người tại gia, xưng Sa Môn là một cách xưng hô khiêm tốn.  Nếu họ giả vờ như Sa Môn nhưng chẳng tu hành chân chánh, giả vờ tu hành nhất định nhằm mục đích lừa gạt chúng sanh.  Ðoạn kinh văn này, Thanh Liên pháp sư trong cuốn Khoa Phán gộp vào ‘phá giới gạt người’,  ‘cuống’ [trong câu “khi cuống bạch y”] là lừa gạt, dối người.

          Phía dưới đây nói về tội trạng của họ, ‘phá dụng thường trụ’.  Nếu bạn chẳng phải là người chân chánh tu đạo, mười phương cúng dường là cúng dường người tu đạo, nếu bạn tu đạo chân thật thì họ sẽ có phước.  Họ cúng dường cho bạn tu hành, bạn tu hành rất tốt, tối thiểu là đời sau bạn còn được làm người, sanh lên trời hưởng phước trời, thì họ hưởng được phước lây.  Nếu bạn đọa vào ba đường ác, bạn đã phụ lòng họ, sẽ thiếu nợ họ, như thường nói:

‘Một hạt gạo thí chủ, lớn như núi Tu-di,

Đời này chẳng liễu đạo, mang lông đội sừng đền’

Phải trả nợ.  Nếu trong đời này bạn tu hành chân thật, vãng sanh Cực Lạc thế giới làm Phật, thì phước của họ còn lớn hơn nữa, phước điền này họ đã thật sự trồng được đúng chỗ.  Do đó có thể biết, chén cơm của người xuất gia này rất khó nuốt.  Trong các buổi giảng tôi thường nhắc nhở các vị đồng tu, chén cơm này khó nuốt hơn những người đi khất thực nhiều.  Người ăn xin, người ta bố thí cho người xin ăn, nhất định chẳng nghĩ đến phải trồng phước, chẳng muốn được báo đền, cho nên chén cơm của người ăn xin dễ nuốt hơn nhiều.  Người xuất gia tiếp nhận bố thí cúng dường, khó nuốt lắm, đời này chẳng liễu đạo thì phải mang lông, đội sừng mà đền trả.  Nghề nghiệp trong thế gian rất nhiều, tại sao bạn chọn đi xuất gia?  Chọn xuất gia, nói thật ra, nếu không thể vãng sanh Cực Lạc thế giới thì bạn sẽ chọn đi đến địa ngục A Tỳ.  Tại sao phải làm chuyện cực khổ này?  Chúng ta phải cảnh giác cao độ, đây chẳng phải chuyện giỡn chơi, nghiêm túc phi thường.

          Chúng ta nhìn thấy người xuất gia hiện nay, nói thật ra là vì đọc kinh quá ít, chẳng có mấy người hiểu được đạo lý này, hiểu chân tướng sự thật này.  Vả lại phần đông người trong xã hội nghĩ như thế nào?  Nghề ‘xuất gia’ này rất dễ kiếm tiền, chẳng cần đóng thuế, chẳng cần phải làm ăn cực khổ.  Làm bất cứ ngành nghề gì trong thế gian đều phải đi học cực khổ, học kỹ thuật.  Người xuất gia nếu cần học Kinh Sám Phật Sự, tối đa ba tháng là rất rành rồi, thì có thể bắt đầu ‘kiếm tiền’.  Nếu bạn có thể giảng ‘thiện đạo’ thì kiếm tiền còn dễ hơn nữa, chẳng cần mấy năm thì bạn sẽ có thể kiếm mấy triệu bạc, mấy chục triệu bạc.  Thế nhưng phải biết sau này quả báo sẽ ở tại địa ngục A Tỳ, thọ tội ở địa ngục A Tỳ xong còn phải trải qua thời gian rất dài để trả nợ.  Tuyệt đối không thể nói thiếu nợ chẳng cần trả, không có đạo lý này, nhân quả thông ba đời, chúng ta phải biết.  Cách làm này là ‘phá dụng thường trụ’.  ‘Khi cuống bạch y’, ‘Bạch y’ [1] là tín đồ tại gia, bạn lừa gạt họ, phản nghịch giáo giới của đức Phật.  ‘Chủng chủng tạo ác’, tạo ác nghĩa là tham, sân, si, mạn; tạo tác vô lượng vô biên tội nghiệp.  Ðây là loại thứ tư đọa địa ngục A Tỳ, A Tỳ nghĩa là ‘Vô Gián’, là hạng người thứ tư.  Loại cuối cùng là trộm cắp vật của thường trụ, đây là dùng tâm trộm cắp để trộm cắp, so với ‘xâm tổn’ nói ở phía trước còn nặng hơn.

 

          Nhược hữu chúng sanh thâu thiết thường trụ tài vật cốc mễ, ẩm thực y phục, nãi chí nhất vật bất dữ thủ giả, đương đọa vô gián địa ngục, thiên vạn ức kiếp cầu xuất vô kỳ.

          Nếu có chúng sanh trộm cắp tài vật, lúa gạo, đồ ăn thức uống, y phục của thường trụ, cho đến một vật không cho mà lấy; kẻ đó phải đọa địa ngục Vô Gián trong ngàn vạn ức kiếp, không lúc nào mong ra khỏi được.

Hai câu sau cùng là quả báo phải có của họ.  Thường trụ phía trước đã nói rồi, [có] bốn thứ thường trụ.  Nếu bạn dùng tâm trộm cắp, tâm thâu đạo để đi trộm cắp, hoặc để tự mình dùng, trộm về để tự mình hưởng thọ, hoặc cho người thân, quyến thuộc dùng đều phạm tội này, tội này rất nặng.  Kinh Quán Phật Tam Muội nói trộm cắp đồ vật của Tam Bảo, tội ấy lớn hơn tội giết tám vạn bốn ngàn cha mẹ, sát hại cha mẹ phía trước có nói là tội nghiệp đọa địa ngục A Tỳ.  Trộm cắp đồ vật của Tam Bảo còn nặng hơn tội giết cha mẹ.  Nặng hơn bao nhiêu, chúng ta không cách gì tưởng tượng được nổi.  Trong kinh Phật thí dụ còn nặng hơn tội giết hại tám vạn bốn ngàn cha mẹ.  Hoa Tụ Bồ Tát trong kinh nói: ‘Ngũ nghịch bốn trọng tội tôi còn có thể cứu, trộm Tăng vật thì tôi không thể cứu’.  Hoa Tựu Bồ Tát là Ðẳng Giác Bồ Tát, ngang hàng với Quán Âm, Thế Chí, Ðịa Tạng Bồ Tát, lời các ngài nói là lời chân thật, chẳng giả.

Hiện nay địa phương này của chúng ta, đạo tràng này là đạo tràng cư sĩ, đạo tràng cư sĩ hoằng hộ chánh pháp, nhân quả của nó tương đồng với tự viện, am đường.  Những việc này chúng ta phải nhận thức rõ ràng, nếu chúng ta cần thì có thể nói rõ cho thường trụ biết, thường trụ cúng dường, vậy là chính xác.  Nhất định không được dấu thường trụ mà tự mình trộm lấy, vậy là sai lầm.  Vật thường trụ dễ phạm nhất là: giấy, như bao thơ, giấy viết thơ, chúng ta tùy tiện lấy để viết thơ riêng, chuyện này là chuyện rất nhỏ, người chẳng học Phật đâu biết?  Thông thường trong xã hội, trong cơ quan chánh phủ cũng vậy, công ty tư nhân cũng vậy, những vật dụng của chủ như những vật này, nếu cứ tùy tiện lấy xài, chẳng hiểu Phật lý.  Ở Ðài Trung tôi theo học thầy Lý mười năm, thầy Lý làm việc trong văn phòng của giám đốc Sở Quản Trị Tế Tự Khổng Miếu, cụ làm Chánh Thư Ký cho vị đứng đầu cơ quan ấy.  Thầy nói với chúng tôi, mỗi lần đi lấy giấy viết thơ, bao thơ, nhất định phải nói cho giám đốc Sở Quản Trị Tế Tự Khổng Miếu biết: ‘Tôi lấy những giấy, bao thơ này, có khi viết thơ cá nhân cũng dùng’.  Ông giám đốc này nói thầy Lý lải nhải, ‘Có ai không làm như vậy đâu?  Tại sao mỗi lần lấy ông đều phải nói mấy câu này chi vậy?’.  Thầy Lý nói: ‘Tôi nói mấy câu này, ông chịu cho thì tôi không phạm giới; nếu tôi không được ông đồng ý chấp thuận, tôi dùng giấy của công để viết thơ riêng thì tôi phạm giới trộm cắp’.  Ðây là người hiểu lý, một tờ giấy, một bao thơ thầy cũng cẩn thận như vậy, vậy thì có thể suy ra những việc khác.  Thế nên một giới nhỏ cũng phải cẩn thận, không thể coi thường, cứ cho rằng đây là chuyện rất nhỏ không có tội, chẳng nghiêm trọng, đó là chúng ta nghĩ sai, nhìn sai rồi.

Tôi đã từng kể với chư vị đồng tu, hồi trước lúc tôi học trung học có một vị hiệu trưởng tên là Châu Bang Ðạo, người Giang Tây, sau này ông cũng đến Ðài Loan.  Trước kia ở Trung Quốc đại lục, ông ta từng làm giám đốc Sở Giáo Dục tỉnh Giang Tây, sau khi kháng chiến thắng lợi, ở Ðài Loan ông làm thứ trưởng bộ Giáo Dục đặc trách công tác thi cử, chức này ở Trung Quốc tức là phó bộ trưởng thứ nhất.  Chánh phủ cấp xe cho ông dùng, khi đi công tác thì ông dùng xe chánh phủ, khi nào đi làm chuyện riêng thì đi xe bus.  Tại sao vậy?  Không dám lãng phí xăng dầu của chánh phủ, không xâm tổn tài vật của quốc gia.  Trong thời đại ngày nay vẫn còn quan viên như vậy, đây là gương tốt đáng cho chúng ta học tập.  Ðều là cư sĩ tại gia, mỗi ngày đều đọc kinh, hiểu rõ đạo lý, hiểu rõ chân tướng sự thật, họ làm gương cho chúng ta xem.  Trong nhà có điện thoại do chánh phủ cấp, nếu không phải là việc công thì không dùng điện thoại này, con nít trong nhà cũng không cho dùng điện thoại.  Niệm niệm đều vì quốc gia, giúp quốc gia tiết kiệm một phân tiền đều là việc tốt, chẳng dám lãng phí chút nào.  Ngày nay chúng ta dùng điện thoại gọi đến nước khác, không biết nói vắn tắt, cứ lải nhải nói hoài, [đó là] ‘xâm tổn thường trụ’.  Chuyện quan trọng trong vòng vài câu nói có thể giải quyết vấn đề, một khi cầm điện thoại lên cứ nói chuyện đâu không, hỏi tới hỏi lui, tiền điện thoại này là do thường trụ trả, xâm tổn thường trụ, mọi người chẳng biết chuyện này lợi hại ra sao.

Thế nên tôi khuyến khích mọi người, hiện nay chúng ta có một số chuyện cần phải biết, cách truyền đạt tin tức tốt nhất là dùng máy truyền chân (fax), dùng fax có thể tiết kiệm thời gian.  Năm phút có thể truyền đi mười mấy trang giấy, trong mười mấy trang giấy này nội dung bạn viết quá đầy đủ rồi, cách làm như vậy rất tốt.  Hơn nữa khi người nhận coi lần đầu không rõ thì có thể coi lần thứ hai.  Gọi điện thoại nói nửa tiếng đồng hồ chẳng có hiệu quả bằng năm phút dùng fax, phí tổn dùng máy fax giống như dùng điện thoại, bạn tiết kiệm được bao nhiêu!  Chẳng biết tạo tác tội nghiệp đọa địa ngục A Tỳ, tự mình không biết.  Tương lai đọa địa ngục A Tỳ rồi mới kêu oan uổng, Diêm La Vương đem những chuyện này bày trước mặt cho bạn coi, bạn nghẹn ngào chẳng thốt nên lời, chứng cớ đều có sẵn trước mặt.  Trong Giới Kinh có nói rõ, ở đây chỉ nêu lên những điểm chính và nói sơ lược mà thôi.

Hiện nay chúng ta phải thể hội đến sự khó khăn về vật lực, hết thảy những chúng sanh này, chúng sanh trên toàn thế giới, chẳng hay chẳng biết tạo tác vô lượng vô biên tội nghiệp.  Tuy là hưởng phước, rất mau thì sẽ hưởng hết phước này.  Hưởng hết phước thì tai nạn sẽ đến, tai nạn này trong Phật pháp gọi là Hoa Báo, Quả Báo sẽ ở địa ngục, hoa báo là điềm báo trước của quả báo, chúng ta làm sao không cảnh giác cho được!  Tại sao trong đời này, trong vòng mấy mươi năm ngắn ngủi, không cắn chặt răng học theo đức Phật Thích Ca Mâu Ni sống một cuộc sống đơn giản nhất, thuần phát nhất.  Ngoài việc hoằng pháp lợi sanh ra, làm lợi ích cho đại chúng, chúng ta phải nên làm.  Những nhu cầu cá nhân trong đời sống nhất định phải tiết kiệm đến mức thấp nhất.  Nếu những người xuất gia chúng ta, trên thân một đồng cũng chẳng có, hãy nên thật sự giữ đúng như pháp.  Khi ra ngoài cần dùng tiền thì thường trụ cung ứng, khi ra ngoài cũng phải tiết kiệm, khi trở về nếu còn dư thì giao trả cho thường trụ.  Nếu chúng ta có thể làm như vậy, nhất định sẽ được hết thảy chư Phật hộ niệm, long thiên thiện thần chăm sóc, bảo vệ.  Ngày nay chúng ta khởi tâm động niệm, những chuyện mình làm chẳng đúng như lý, như pháp, nói thật ra chư Phật không hộ niệm cho bạn, long thiên thiện thần khinh dể bạn.  Ai ở xung quanh bạn?  Yêu ma quỷ quái.  Yêu ma quỷ quái thừa dịp [khuấy nhiễu], thế nên bạn thường có bịnh khổ, thường bị tai ương, trừng phạt, tự mình còn không tự giác.

Người không học Phật thì thật sự chẳng biết, người học Phật hiểu rồi, đời này chúng ta đến thế gian này để làm gì?  Chỉ có hai việc: ‘Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh’.  Trên cầu Phật đạo thì nhất định phải niệm Phật cầu sanh Cực Lạc thế giới, vậy tức là thượng cầu, trong đời này nhất định có thể làm được.  Hạ hóa chúng sanh là làm gương tốt cho hết thảy chúng sanh, vậy thì bạn sẽ làm được việc ‘Hạ hóa’ này rất viên mãn.  Ngày nay người thế gian tham tiền tài, tham danh, tham lợi, chúng ta làm gương tốt, phải xả bỏ tài, danh, lợi sạch sành sanh, như vậy là ‘hạ hóa’.  Chẳng cần phải nói, cũng chẳng cần người ta biết, khi bạn chịu làm, có một, hai người biết thì họ sẽ tuyên dương, sẽ nói cho người ta biết.  [Họ sẽ nói:] “Những người xuất gia ở nơi ấy làm như vậy, những người xuất gia ấy thân tâm thanh tịnh, được đại tự tại, trí huệ sung mãn”, làm cho người thế gian ngưỡng mộ, mong mỏi, đến để học theo bạn, vậy thì mới đạt đến hiệu quả thật sự làm lợi ích cho chúng sanh.

Tai nạn thế gian từ đâu đến?  Người thế gian cho rằng những chuyện xảy ra trong thiên nhiên chẳng liên quan đến chúng ta, thế nên đều gán những tai nạn này thành tai hại thiên nhiên, chẳng do sức lực con người có thể làm nên, đều đẩy trách nhiệm hết.  Chỉ có người chân chánh học Phật biết được, y báo và chánh báo là một thể, y báo và chánh báo chẳng hai.  Ðặc biệt là kinh Hoa Nghiêm, giảng những đạo lý, chân tướng sự thật này rất thấu triệt, minh bạch.  Chúng ta khởi tâm động niệm, những gì mình làm, nhỏ như sợi lông tơ, như hạt bụi, chẳng đáng gì hết, nhưng đều ảnh hưởng đến tận hư không, trọn khắp pháp giới.  Thế nên Phật nói cho chúng ta ‘cảm từ cộng nghiệp’, chúng ta nghe xong lời này nhất định sẽ không có nghi hoặc gì cả.  Thời xưa, hàng vua chúa bao gồm cả những phần tử trí thức, phần tử trí thức ở Trung Quốc chẳng ai không đọc sách Phật cả, họ đều hiểu đạo lý này.  Khi gặp tai họa thiên nhiên, họ đều hết lòng phản tỉnh, sám hối, sửa sai đổi mới, để cứu vãn kiếp vận, họ hiểu được đạo lý này.  Hiện nay người học khoa học không thừa nhận sự thật này, cho rằng đây là vọng tưởng, ảo tưởng, chẳng phù hợp với nguyên tắc khoa học, [đấy là] mê tín vào khoa học.  Những gì khoa học nghiên cứu chỉ là một bộ phận trong cả vũ trụ nhân sanh, Phật pháp nói về toàn thể, nếu chấp trước một bộ phận nào đó thì trước sau gì cũng sẽ tổn hại đến toàn thể.  Chỉ có quan tâm đến cả toàn thể thì mới giải quyết vấn đề, đây là điều chúng ta không thể không biết.  Trong kinh điển Ðại Thừa, Phật thường dạy chúng ta hiểu rõ ý nghĩa đường hướng, chúng ta hiểu cạn cợt thì không được, phải hiểu cho sâu, nhất định phải đích thân ra sức mà làm.  Xem tiếp đoạn kế:

 

Ðịa Tạng bạch ngôn: Thánh Mẫu, nhược hữu chúng sanh tác như thị tội, đương đọa ngũ vô gián địa ngục, cầu tạm đình khổ, nhất niệm bất đắc.

Ngài Ðịa Tạng thưa rằng: ‘Thánh Mẫu, nếu có chúng sanh phạm những tội như vậy thì phải đọa Ngũ Vô Gián địa ngục, cầu tạm ngừng sự đau khổ trong chừng một niệm cũng không được.

Vô Gián tức là địa ngục A Tỳ, có lúc trong kinh nói hai loại, có lúc gộp cả hai lại nói, rốt cuộc là một hay là hai không nói tách bạch, nhưng chúng ta có thể xem như là một.  Ðịa Tạng Bồ Tát sơ lược nêu lên năm tội nặng ở đoạn trước, đều nhất định sẽ đọa địa ngục Vô Gián.  ‘Nhược hữu chúng sanh tác như thị tội’, ‘như thị’ là chỉ năm loại tội lớn.  Năm loại này đều là thập ác nghiệp nghiêm trọng, sau khi thọ báo ở địa ngục xong ra khỏi địa ngục vẫn còn dư báo, dư báo ở tại ngạ quỷ, súc sanh, chẳng biết đến lúc nào mới có thể có được thân người trở lại, thế nên được thân người tương đối chẳng dễ.  Thời gian trong ba đường ác đều rất dài, địa ngục thì chẳng cần phải nói nữa.  Còn cõi ngạ quỷ, trong kinh Phật nói, một ngày ở cõi ngạ quỷ bằng một tháng ở nhân gian, ở nhân gian khi cúng tế quỷ thần thì cúng ngày mồng một, mười lăm, cũng như mời họ ăn cơm, vừa đúng lúc!  Một ngày của họ bằng một tháng của chúng ta, ngày mồng một, ngày rằm vừa đúng lúc chúng ta mời họ ăn cơm trưa, ăn cơm tối, đó là một ngày của họ.  Thọ mạng ngắn ở cõi ngạ quỷ là một ngàn tuổi, cũng tính một năm có ba trăm sáu mươi ngày, chiếu theo cách tính này thì thọ mạng ở cõi ngạ quỷ cũng quá dài, quá dài.  Lúc trước ông Chương Thái Diệm từng làm chức phán quan cho Ðông Nhạc đại đế, mỗi ngày ông đều làm việc ở cõi quỷ, còn gặp những quỷ thời triều Hán, ông là người đọc sách, triều Hán, hai triều Tấn, Tùy, Ðường, ông đều gặp những người ở triều đại này, những tình hình như vầy chúng ta đều phải biết.

Có một số trong cõi súc sanh thọ mạng rất ngắn, nhưng súc sanh ngu si, vô cùng chấp trước thân hình của chúng nên rất khó thoát ly cõi súc sanh.  Trong kinh, đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói với chúng ta lúc ngài ở vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Ðộc một thời gian, giảng kinh thuyết pháp ở đó.  Kỳ Viên tinh xá có một số công trình đang xây dựng, đại khái là xây nhà cửa, dưới đất có một ổ kiến, Phật nhìn thấy rồi cười.  Các đệ tử nhìn thấy Phật cười nên hỏi tại sao?  Phật nói ổ kiến này, đã trải qua bảy tôn Phật rồi chúng nó vẫn còn làm kiến.  Thọ mạng của chúng chẳng phải dài như vậy, chúng nó chấp trước thân hình ấy là chính mình, chết đi đầu thai cũng vẫn làm kiến, đời đời kiếp kiếp làm kiến, chẳng biết thoát ly, súc sanh ngu si.  Bạn hiểu rõ chân tướng sự thật xong mới biết ba đường ác rất đáng sợ.  Làm sao sanh vào ba đường ác?  Là do tạo mười ác nghiệp, phá giới, tạo mười ác nghiệp đọa ba đường ác.  Xin xem tiếp:

 

Ma Gia phu nhân trùng bạch Ðịa Tạng Bồ Tát ngôn, vân hà danh vi Vô Gián Ðịa ngục.

Ma Gia phu nhân lại hỏi Ðịa Tạng Bồ Tát: ‘Tại sao tên là địa ngục Vô Gián?’

Ðây là lúc Ma Gia phu nhân nghe Ðịa Tạng Bồ Tát nói ‘địa ngục Vô Gián’ nghiêm trọng như vậy, đọa vào địa ngục Vô Gián, ngàn vạn ức kiếp cầu thoát khỏi chẳng được, dễ sợ quá.  Cái gì gọi là địa ngục Vô Gián?  Ma Gia phu nhân hỏi dùm chúng ta.

 

Ðịa Tạng bạch ngôn, Thánh Mẫu chư hữu địa ngục tại Ðại Thiết Vi sơn chi nội, kỳ đại địa ngục, hữu nhất thập bát sở.

Ngài Ðịa Tạng thưa rằng: ‘Thánh Mẫu, tất cả địa ngục đều ở trong núi Ðại Thiết Vi.  Ðịa ngục lớn có mười tám chỗ.’

Chúng ta thường nói đến mười tám tầng địa ngục, chính là ý nghĩa này.  Mười tám tầng địa ngục là mười tám ‘địa ngục lớn’.

 

Thứ hữu ngũ bá, danh hiệu các biệt, thứ hữu thiên bá, danh hiệu diệc biệt.

Thứ kế có năm trăm chỗ, danh hiệu đều khác nhau; kế nữa lại có đến ngàn trăm, danh hiệu cũng đều khác nhau.

Hết thảy chúng sanh lúc còn ở thế gian tạo tác tội nghiệp có nặng nhẹ sai khác, cho nên đọa lạc địa ngục, chịu tội ở địa ngục cũng có nặng nhẹ khác nhau.  Lúc trước thầy Lý giảng kinh có nhắc qua, trong kinh Phật giảng kỹ về địa ngục có đến bảy mươi mấy loại, Kinh Ðịa Tạng chỉ nói sơ lược mà thôi.  Chúng ta nghĩ coi, bảy mươi mấy loại đương nhiên cũng là đã nói tóm gọn rồi, [sự thật thì] chủng loại nhiều đến nỗi chẳng có cách gì tính đếm, Phật thường dùng phương pháp quy nạp.  Giống như phiền não vô lượng vô biên, Phật quy nạp thành một trăm lẻ tám loại lớn, dùng phương pháp quy nạp.  Thế nên bảy mươi mấy loại này cũng là dùng pháp quy nạp, khổ nhất chính là địa ngục Vô Gián.  Trong kinh đức Phật nói những việc thiện ác do chúng sanh tạo đều có nhân quả báo ứng, nhất định sẽ không mất đi đâu hết.  Tâm thiện, hạnh thiện nhất định cảm lấy quả thiện; niệm ác, hạnh ác nhất định cảm lấy ác báo, chỉ cần tạo tác tội nghiệp thì nhất định sẽ có địa ngục, địa ngục là chỗ khổ cùng cực.  Chúng ta xem tiếp đoạn kinh kế tiếp, Ðịa Tạng Bồ Tát nói:

 

Vô Gián ngục giả, kỳ ngục thành.

Ngục Vô Gián có ngục thành.

Phía ngoài địa ngục có tường thành, có tường bao bọc, tường bao bọc giống như thành lũy vậy.

 

Châu táp bát vạn dư lý, kỳ thành thuần thiết, cao nhất vạn lý.  Thành thượng hỏa tụ, thiểu hữu không khuyết.  Kỳ ngục thành trung chư ngục tương liên, danh hiệu các biệt, độc hữu nhất ngục danh viết Vô Gián.

Giáp vòng hơn tám vạn dặm, thành đó thuần bằng sắt, cao một vạn dặm.  Trên thành có lửa tụ, không có chỗ hở trống.  Trong ngục thành đó, các nhà ngục nối tiếp nhau, danh hiệu đều sai khác, chỉ có một ngục tên là Vô Gián.

Kinh nói những chuyện này, địa ngục bao lớn rất khó tưởng tượng nổi.  ‘Hơn tám vạn dặm’ còn lớn hơn quả địa cầu chúng ta, địa cầu chúng ta còn chẳng lớn như vậy.  Tường thành cao một vạn dặm, phi cơ hiện nay của chúng ta còn chưa bay cao như vậy.  Hiện nay chúng ta ngồi máy bay lớn nhất, chư vị thường đi du lịch, ngồi máy bay 747 có thể bay đến Ðồng Ôn Tằng [2], cỡ chừng ba vạn bộ (ft), ba vạn bộ bằng khoảng chừng hơn một vạn mét, nghĩa là độ cao khoảng mười kí lô mét mà thôi.  Một vạn dặm, chắc bằng từ địa cầu lên tới cung trăng.  Trong kinh Phật nói những lời này chúng ta phải tin, kinh Kim Cang nói với chúng ta: ‘Như Lai là người nói lời chân, lời thật, lời đúng như vậy’ [3].  ‘Như’ nghĩa là hoàn toàn đúng như sự việc đó, chẳng có chút phóng đại, sự thật ra sao thì Phật nói y như vậy, chẳng tăng chẳng giảm thì gọi là ‘Như ngữ’.  Ðịa ngục được tạo nên từ sự biến hóa, là ‘hóa hiện’, là do nghiệp lực của chúng sanh tạo tội nghiệp biến hiện ra.  Nếu không là người tạo tội nghiệp nặng nề như vậy thì dù địa ngục ở ngay trước mặt, người ấy cũng chẳng nhìn thấy.  Giống như cư sĩ Chương Thái Diệm, ông yêu cầu Ðông Nhạc đại đế phế bỏ hình phạt Bào Lạc, Bào Lạc là một hình phạt trong địa ngục, ngày nay chúng ta gọi hình phạt này chẳng nhân đạo, dựa trên lập trường nhân đạo, chết thì để họ chết, đừng cho họ đau khổ như vậy, đừng hành hạ họ như vậy.  Ðông Nhạc đại đế phái tiểu quỷ dẫn ông ta đi đến chỗ hành hình xem thử, [tới ngay nơi ấy nhưng] ông nhìn chẳng thấy gì cả, từ đó ông mới vỡ lẽ, hiểu được lời Phật nói trong kinh.  Những hình phạt này chẳng phải do Diêm La Vương bày ra, mà là do nghiệp lực của chính tội nhân biến hiện nên, chẳng phải do người khác tạo thành, vậy thì chẳng có biện pháp gì hết.  Nếu là do người khác tạo dựng, dựa trên nhân đạo thì đương nhiên có thể phế trừ, nếu là do nghiệp lực của chính mình biến hiện thì chẳng có cách gì cả.  Hiện tượng trong địa ngục là một màn lửa, biển lửa, chúng ta phải tin chuyện này.  Kinh Phật nói địa ngục có trạng huống như vậy, những tôn giáo khác cũng nói như vậy.  Tuy Cơ Ðốc Giáo chẳng nói đến lục đạo, ít nhất thì họ cũng nói đến tam đạo, họ nói về Thiên đạo, Nhân đạo, Ðịa Ngục đạo.  Tướng địa ngục mà họ nói cũng là một màn lửa.  Từ đây có thể biết, hiện tượng địa ngục nếu là người có mức thiền định sâu như phía trước chúng ta thấy cô Bà La Môn, cô niệm Phật đến nhất tâm bất loạn, Sự nhất tâm bất loạn bèn có khả năng này, có thể ‘tham quan’ địa ngục; cô có khả năng đích thân nhìn thấy những trạng huống này.  Thế nên đối với lời Phật dạy chúng ta không thể hoài nghi.  Kế tiếp:

 

Kỳ ngục châu táp vạn bát thiên lý, ngục tường cao nhất thiên lý, tất thị thiết vi.  Thượng hỏa triệt hạ, hạ hỏa triệt thượng, thiết xà, thiết cẩu thổ hỏa trì trục, ngục tường chi thượng, đông tây nhi tẩu.

Ngục này chu vi một vạn tám ngàn dặm, tường ngục cao một ngàn dặm, toàn bằng sắt, ở trên lửa cháy phụt xuốt, ở dưới lửa cháy bốc lên.  Trên tường ngục có rắn sắt, chó sắt phun lửa đuổi bắt nhau chạy qua chạy lại.

Ðây là lời diễn tả cảnh tượng trong địa ngục Vô Gián.  Ðịa ngục Vô Gián ở trong địa ngục lớn, là một phạm vi khổ nhất.  Gọi là Vô Gián, phía sau sẽ nói rõ cho chúng ta, thọ khổ vô gián, chẳng gián đoạn.  Do đó có thể biết những địa ngục khác tuy chịu khổ nhưng còn có lúc tạm ngưng.  Nói cách khác, còn cho bạn có dịp ‘nghỉ mệt’, nhưng địa ngục Vô Gián thì không được.

 

Ngục trung hữu sàng, biến mãn vạn lý, nhất nhân thọ tội, tự kiến kỳ thân, biến ngọa mãn sàng, thiên vạn nhân thọ tội, diệc các tự kiến, thân mãn sàng thượng.

Trong ngục có giường rộng khắp vạn dặm, một người thọ tội thì tự thấy thân mình nằm chật cả giường, ngàn vạn người thọ tội thì mỗi người cũng tự thấy thân mình đầy chật cả giường.

Giường là nơi xử phạt tội nhân, giống như một cái ‘đài’.  Cái đài này rất lớn, người thọ tội tự cảm thấy thân thể họ biến lớn lên, hết thảy những hình phạt đều thọ cùng lúc, chịu đựng ngàn vạn loại dụng cụ tra tấn cùng lúc.  Chẳng phải chịu hình phạt này xong rồi mới nhận đến hình phạt kế tiếp, nếu vậy thì còn có khoảng trống, đó chẳng phải là địa ngục vô gián.  Vô gián địa ngục tức là chịu hết thảy tất cả những hình cụ cùng lúc, như núi đao, cây kiếm, vạc dầu cùng chịu một lượt, chẳng phải chịu từng thứ riêng rẽ, tuyệt chẳng có xen hở.  Rất nhiều người tạo tội nghiệp này, mỗi người cảm thấy thân của chính mình nằm chật cả giường, đầy cả địa ngục này, đây là hóa thân.  Cũng như kinh Hoa Nghiêm gọi là ‘vô chướng ngại pháp giới’, người thọ tội và những người thọ tội khác chẳng có chướng ngại, chịu tội cùng lúc, cùng lúc cảm thấy thân thể mình trải đầy địa ngục.  Phía dưới tổng kết lại:

 

Chúng nghiệp sở cảm, hoạch báo như thị.

Ðó là do các nghiệp chiêu cảm mà gặt lấy quả báo như vậy.

Trong Ðịa Tạng Thập Luân Kinh nói cho chúng ta về tội ngũ nghịch.  Trong kinh, Phật giảng rất rõ ràng, tội ngũ nghịch đọa A Tỳ địa ngục, tức là địa ngục Ngũ Vô Gián.  Ngũ nghịch là đại nghịch bất đạo.

Thứ nhất là ‘Giết cha mẹ’.  Cha mẹ có ân đức to lớn đối với mình, chẳng biết tri ân báo ân, ngược lại còn giết hại cha mẹ, tạo tội đọa địa ngục Vô Gián.

Thứ hai là ‘Giết A La Hán’.  A La Hán là người tu hành đắc đạo, ngài trụ ở địa phương này là phước điền cho những người ở đó, người ở đó có phước, tiếp nhận sự giáo hóa của ngài.  A La Hán hiện nay chẳng còn, đi đâu tìm A La Hán?  Nếu nói giết hại thiện tri thức, vị thiện tri thức này có thể giáo hóa cả vùng đó, bạn giết họ, thì tội này bằng tội giết A La Hán.  Câu đầu là giết cha mẹ, đây là phụ mẫu thân, giết A La Hán là lão sư (thầy giáo), ân đức của hết thảy chúng sanh nặng nhất chẳng vượt qua ‘cha mẹ, thầy giáo’ thế nên hết thảy thiện hạnh chẳng vượt qua hiếu đạo, hiếu thân tôn sư là thiện hạnh hạng nhất.

Thứ ba là ‘Phá Hòa Hợp Tăng’.  Phá hoại Tăng đoàn, cũng có nghĩa là phá hoại nơi chốn giáo học, phá hoại đại chúng giáo học, tội này rất nặng.

Sau cùng là ác tâm ‘Làm thân Phật chảy máu’.  Sanh lòng sân hận hoặc tâm đố kỵ, phước báo của Phật rất lớn, chẳng có ai có thể sát hại Phật, Phật có rất nhiều thần Hộ pháp bảo vệ, chẳng có người nào có thể làm hại.  Làm thân Phật ra máu là chuyện Ðề Bà Ðạt Ða muốn hại Phật, từ trên vách núi đẩy hòn đá lớn muốn hại tánh mạng của Phật.  Thần Kim Cang đập tan hòn đá này trên không trung, hòn đá này bị bể tan, mảnh vụn rớt trúng chân Phật, ngài bị thương chảy máu.  Ðây là tội ‘Làm thân Phật ra máu’, tội này cũng đọa địa ngục Vô Gián.  Nói cách khác tức là phá hoại chánh pháp, làm cho cơ hội nghe pháp của xã hội đại chúng bị cắt đứt, thế nên tội này sẽ đọa vào địa ngục Vô Gián.

 

Hựu chư tội nhân, bị thọ chúng khổ.

Lại nữa các tội nhân còn phải chịu đủ sự khổ sở.

Câu này là nói chung, phía sau cũng nói sơ lược thêm.

 

Thiên bá Dạ xoa, cập dĩ ác quỷ.

Trăm ngàn Dạ xoa cùng các ác quỷ.

Ðây là những ác quỷ, Dạ xoa ác quỷ trong địa ngục biến hiện ra để chấp hành hình phạt, ‘kinh Ðịa Ngục’ gọi họ là ác thú, đầu trâu mặt ngựa, họ chẳng có hình tướng như người, có hình tướng của ác thú, dễ sợ vô cùng, đáng kinh hãi vô cùng.

 

Khẩu nha như kiếm, nhãn như điện quang, thủ phục đồng trảo, tha duệ tội nhân.

Răng như kiếm, mắt như ánh điện chớp, tay có móng đồng, lôi kéo tội nhân.

Người thọ tội nhìn thấy hình tướng của địa ngục ai cũng muốn tránh né.  Trốn tránh ở nơi nào?  Bốn bên đều là lửa, trên dưới cũng là lửa.  Bạn muốn tránh né, những ác quỷ này chụp lấy bạn đẩy vô đống lửa.

 

Phục hữu Dạ xoa chấp đại thiết kích, trúng tội nhân thân, hoặc trúng khẩu tị, hoặc trúng phúc bối, phao không phiên tiếp, hoặc trí sàng thượng.

Lại có quỷ Dạ xoa cầm cây kích sắt lớn đâm vào mình tội nhân, hoặc đâm trúng miệng mũi, hoặc đâm trúng bụng lưng, rồi hất tung lên trên không và hứng lấy, hoặc để lại trên giường.

Ðây là những việc ác quỷ hành hạ tội nhân.  Thời cổ binh khí chỉ có những loại này.  Chúng ta có thể suy tưởng được hiện nay nếu trong địa ngục nhất định sẽ có các thứ như hơi độc, gas, súng đại liên, có đạn của súng đại bác, thậm chí bom nguyên tử bùng nổ, hết thảy đều có.  Lúc trước trong tâm người ta chẳng có những hiện tượng này, chẳng biến ra những thứ này, chỉ biến ra những dụng cụ hành hình tra khảo mà họ biết.  Người hiện đại rất dễ sợ, rất đáng thương, tại sao?  Coi phim ảnh, coi truyền hình, coi những chuyện khủng khiếp này, hết thảy đều chất chứa trong A Lại Da Thức, khi đến địa ngục A Tỳ thì hiện ra toàn bộ, tất cả đều phải thọ chịu.  Thế nên ít coi những phim ảnh khủng bố, khoa học giả tưởng này thì tốt hơn, tuy có đọa địa ngục, bớt đi không ít hình phạt, lời tôi nói là thật đấy!  Nếu quý vị thích coi những phim ảnh này, trong A Lại Da Thức chất chứa những hạt giống này, tương lai đọa địa ngục sẽ tăng thêm nhiều hình phạt hơn những người thường, đạo lý nhất định mà.  Cho nên một người chân chánh biết cách tu học thì mắt không xem cảnh ác, tai không nghe âm thanh ác, hết thảy những cảnh giới ác liệt này chúng ta đừng tiếp xúc, đừng tiêm nhiễm là tốt nhất!  Nhất định sẽ có lợi ích to lớn cho chính mình.  Ðây là nói về ác quỷ Dạ xoa.  Ngoài việc này ra thì đây là chuyện tiểu thuyết khoa học giả tưởng thường nói:

 

Phục hữu thiết ưng, đạm tội nhân mục, phục hữu thiết xà, giảo tội nhân cảnh, bá chi tiết nội, tất hạ trường đinh, bạt thiệt canh lê, trừu trường tỏa trảm, dương đồng quán khẩu, nhiệt thiết triền thân, vạn tử thiên sanh, nghiệp cảm như thị.

Lại có chim ưng sắt [mổ] ăn mắt tội nhân, lại có rắn sắt quấn cổ tội nhân, các khớp xương và lóng đốt [của tội nhân] đều bị đóng đinh sắt dài, kéo lưỡi cày bừa, móc ruột bằm chém, rót nước đồng sôi vào miệng, quấn sắt nóng quanh thân, muôn lần chết đi sống lại, nghiệp cảm như thế.

Mỗi hình phạt đều tiêu biểu cho vô lượng sự thọ khổ, mỗi thứ đều có nghiệp nhân, trong kinh Phật đã nói rõ, nói chung đều chẳng lìa tham, sân, si, ba thứ phiền não căn bản này.  Người ta trong một đời nói thật ra, chịu hại bởi ngu si nặng nhất.  Ngu si là chẳng hiểu rõ sự lý, dựa vào tà tri tà kiến của mình mà hủy báng đạo đức, tự mình tâm hạnh bất chánh, còn dẫn dắt người khác tà tri tà kiến, cùng tạo ác nghiệp.  Đức Phật khuyên chúng ta bố thí, trong thời mạt pháp, ấn tượng phụ sanh ra từ sự bố thí không thể nói là không có, phía trước có nói ‘giả làm Sa môn, tâm chẳng phải Sa Môn’, người lường gạt chúng sanh thật có, chẳng phải là không có.  Ðặc biệt là thời kỳ mạt pháp, Phật nói: ‘Tà sư thuyết pháp như cát sông Hằng’, những tà sư này từ đâu tới?  Là con cháu của Ma vương.  Năm xưa lúc đức Thế Tôn còn tại thế, Ma Vương Ba Tuần muốn phá hoại Phật pháp, trí huệ, đạo đức, oai thần của Phật quá lớn, Ma Vương không có cách chi, tạm thời chẳng thể phá hoại, cũng học theo Phật, cũng đến nghe kinh nghe pháp.  Nhưng ý niệm phá hoại Phật pháp chẳng tiêu mất, Ma Vương nói với Phật: ‘Có một ngày tôi sẽ phá hoại Phật pháp’.  Phật nói: ‘Pháp của Ta là chánh pháp, chẳng thể phá hoại’.  Ma Vương đáp: ‘Ðợi đến khi pháp vận của ông suy thoái, thời kỳ mạt pháp, tôi sai ma con, ma cháu của tôi đều xuất gia, đắp lên ca sa của ông để phá Phật pháp của ông’.  Nghe xong đức Phật Thích Ca Mâu Ni chẳng nói một lời, rơi lệ, ấy là “ví như trùng trên thân sư tử rỉa thịt sư tử’.  Cho nên những người xuất gia này chẳng phải là đệ tử Phật, mà là đệ tử Ma, chuyên môn đến phá hoại Phật pháp.

Chúng sanh nhìn thấy những người này, chẳng chịu bố thí.  ‘Ông coi bố thí cho họ hưởng thọ, chúng ta bị họ gạt’, hủy báng bố thí, nói bố thí chẳng có quả báo, nói người ta bố thí gặt được ác báo.  Khuyên người ta tích lũy tiền tài, tự mình hưởng thọ, trái ngược lời dạy của Phật, nói tu thiện không được thiện quả, tạo ác cũng chẳng bị ác báo, dùng những tà tri tà kiến này mê hoặc chúng sanh, làm chúng sanh tạo vô lượng vô biên tội nghiệp.  Phía sau những người này có Ma vương gia trì, có yêu ma quỷ quái ở kế bên giúp đỡ.  Chúng ta nhìn thấy trong thời đại hiện nay có những tà sư thế lực rất lớn, đồ chúng rất đông, dưới tay họ có nhân tài, có tiền bạc.  Người tu học chánh pháp rất đáng thương, trong thế gian này chẳng có lối thoát, chẳng có người nhận thức chánh pháp, đâu phải họ không muốn hộ trì chánh pháp?  Nhưng không nhận thức rõ, coi tà như chánh, lấy chánh coi như tà, thế nên chẳng có người quan tâm hoằng dương chánh pháp.  Nhưng chúng ta rất rõ, tuy chẳng có người quan tâm, thiện báo sẽ ở tương lai, đây là đạo lý nhất định.  Nhất định không thể vì người ta mê hoặc, chúng ta cũng bắt chước mê hoặc điên đảo theo, vậy thì sai lầm quá đỗi!  Họ mê, tôi chẳng mê; họ tạo tội nghiệp, tôi không tạo tội nghiệp.

Năm xưa lúc Thế Tôn còn tại thế đã làm tấm gương tốt nhất cho chúng ta, ngày nay chúng ta than khổ thì phải so sánh với thời đức Phật Thích Ca, đời sống của ta sướng hơn Ngài quá nhiều.  Ban đêm Ngài ngồi dưới gốc cây nghỉ ngơi, ăn cơm phải đi ra ngoài khất thực, tối thiểu thì chúng ta khỏi phải đi khất thực, vẫn còn nhà cửa để trú ngụ.  Y phục của chúng ta nhiều hơn đức Phật quá nhiều, đi du lịch còn có hành lý, năm xưa lúc đức Phật đi du lịch chẳng có hành lý, ba Y đều mặc trong người, tay cầm bình bát, ngoài ra một vật gì cũng chẳng có.  Nếu chúng ta không hết lòng hoằng đạo thì làm sao chẳng có lỗi với đức Phật!  Lúc Thế Tôn còn tại thế, tuy có rất nhiều vua chúa đại thần, trưởng giả giàu có hộ trì, đức Phật Thích Ca Mâu Ni chẳng tiếp nhận, thí dụ: ‘Ông xây cho tôi một đạo tràng lớn, chùa lớn’, …, chẳng bao giờ có!  Hết thảy những đạo tràng này đều là mượn dùng.  Quyền sở hữu của Kỳ Thọ Cấp Cô Ðộc Viên là của thái tử Kỳ Ðà, và trưởng giả Cấp Cô Ðộc, chỉ là tiếp nhận sự cúng dường của họ, chúng ta thường nói Phật chỉ có quyền sử dụng, chẳng có quyền sở hữu.  Quyền sở hữu vẫn là của họ, chỉ mượn dùng tạm thời.  Ngài đã nghĩ rất châu đáo, rất viên mãn, biết chúng ta trong thời Mạt pháp, phải đương đầu với rất nhiều khổ nạn, nghĩ đến Tăng đoàn của đức Phật năm xưa thì tâm chúng ta sẽ lắng xuống.  Xin xem tiếp đoạn kinh kế tiếp:

 

Ðộng kinh ức kiếp, cầu xuất vô kỳ.

Trải qua ức kiếp không lúc nào mong ra khỏi được.

Người tạo tội nghiệp địa ngục đọa vào địa ngục, đặc biệt là địa ngục Vô Gián, thời gian phải dùng ức kiếp để tính.  ‘Cầu xuất vô kỳ’, nhưng chúng ta biết, thế giới mà Phật nói, thế giới có ‘thành, trụ, hoại, không’, [một chu kỳ] thành – trụ – hoại – không là một đại kiếp.  Chữ Kiếp trong ‘Ức kiếp’ là đại kiếp, trong mỗi đại kiếp thì thế giới trải qua [bốn giai đoạn] thành, trụ, hoại, không.  Thế giới này hoại rồi, những kẻ đọa địa ngục phải đi đâu thọ tội?  Thế giới hoại thì địa ngục cũng hoại theo,  không phải là họ có thể thoát ra sao?  Ở đây Ðịa Tạng Bồ Tát nói:

 

Thử giới hoại thời, ký sanh tha giới

Lúc thế giới này hư hoại thì sanh nhờ qua thế giới khác.

Thế giới này của chúng ta hư hoại rồi, thế giới khác còn chưa hư thì họ bèn chuyển qua địa ngục Vô Gián ở thế giới khác, vẫn phải vào địa ngục Vô Gián.

 

Tha giới thứ hoại, chuyển ký tha phương, tha phương hoại thời triển chuyển tương ký, thử giới thành hậu hoàn phục nhi lai.

Thế giới khác đó hư hoại thì chuyển sang phương khác, lúc phương khác đó hư hoại thì lại lần lượt chuyển đi nữa, đến khi nào thế giới này thành thì trở về lại.

Chuyện này phiền phức lớn lắm, do đó mới nói ‘ức kiếp cầu xuất vô kỳ’.  Chúng ta tạo nghiệp nói thật ra quá dễ, chẳng hay chẳng biết bèn tạo tội nghiệp địa ngục, đâu biết rằng tương lai chịu khổ đến mức thê thảm như vầy, kéo dài như vầy, có ai biết được?  Khi đọc kinh này muôn vàn xin đừng hiểu lầm mà cho rằng: ‘Ðây là Phật dọa chúng ta, chẳng phải thật, chỉ nhằm khuyên chúng ta đừng làm chuyện ác’.  Nếu chúng ta nghĩ như vậy thì là sai lầm quá đỗi!  Ðến lúc quả báo hiện tiền thì hối hận không còn kịp nữa.  Phật làm sao gạt người cho được?  Phương pháp Phật giáo hóa chúng sanh rất nhiều, chẳng cần phải dùng phương pháp lừa gạt chúng sanh.  Nói thật ra một người quân tử chân chánh trong thế gian còn không chịu lừa gạt chúng sanh huống chi là Phật, Bồ Tát.  Chư vị phải biết vì lừa gạt chúng sanh, gạt được một lần, rồi sau đó người ta sẽ vĩnh viễn chẳng tin tưởng bạn nữa, thế nên một người quân tử chân chánh sẽ không dùng thủ đoạn này, giữ gìn chữ Tín của mình, việc này rất quan trọng.  Người thế gian còn vậy huống chi là chư Phật, Bồ Tát.  Các Ngài có trí huệ viên mãn, thiện xảo phương tiện rốt ráo, thì làm sao có thể dùng phương pháp dở ẹt như vậy!  Nếu chúng ta hiểu rõ đạo lý này thì mới tin mỗi chữ mỗi câu trong kinh Phật đều là chân thật, nhất định không có một câu nào giả dối.  Nếu chúng ta có thể tiếp nhận, tin tưởng, làm theo là chúng ta có phước, người có phước mới có thể tu phước, người không có phước muốn tu phước cũng không được.  Ðức Phật trong kinh thường nhắc chúng ta, người tu phước đều là người có trí huệ, có phước đức.

 

Vô gián tội báo, kỳ sự như thị.

Tội báo trong ngục Vô Gián là như vậy.

Ðây là mô tả trạng huống trong địa ngục Vô Gián một cách đơn giản cho Ma Gia phu nhân.

 

Hựu ngũ sự nghiệp cảm, cố xưng Vô Gián.

Lại có năm sự nghiệp cảm nên gọi là Vô Gián.

Ðịa Tạng Bồ Tát vô cùng từ bi nói rõ thêm cho chúng ta tại sao địa ngục này có tên là Vô Gián?  Vì có năm sự việc, năm thứ nghiệp cảm ứng thành khổ báo này nên gọi là Vô Gián.  Năm sự việc này chẳng có xen hở.

 

Hà đẳng vi ngũ.  Nhất giả nhật dạ thọ tội dĩ chí kiếp số vô thời gián tuyệt cố xưng Vô Gián.

          Những gì là năm?  Một là ngày đêm thọ tội cho đến bao kiếp không lúc nào dứt nên gọi là Vô Gián.

          Ðây là nói thời gian chịu hình phạt chẳng gián đoạn, từ ngày vô địa ngục phải trải qua ức kiếp mới có thể ra khỏi, trong thời gian này bị tra tấn, xử phạt ngày đêm không gián đoạn, chẳng có xen hở, đó là ‘thời vô gián’.

 

          Nhị giả, nhất nhân diệc mãn, đa nhân diệc mãn, cố xưng Vô Gián.

Thứ hai là một người cũng đầy chật, nhiều người cũng đầy chật nên gọi là Vô Gián.

Thứ hai là ‘Hình vô gián’.  Thân thể của mình luôn có cảm giác là thân này lớn chật địa ngục, địa ngục bao lớn thì thân bạn sẽ lớn như vậy, đây chính là ‘Hình vô gián’.  Trong địa ngục có hàng ngàn người chịu tội, mỗi người đều cảm giác thân mình lớn bằng địa ngục, địa ngục này là hóa thân.  Giống như ánh đèn trong giảng đường này vậy, ánh sáng của mỗi ngọn đèn đều chiếu soi khắp giảng đường, mấy chục ngọn đèn thì mỗi ngọn đèn đều chiếu soi khắp giảng đường, chẳng bị chướng ngại, thân hình trong địa ngục cũng giống như vậy.  Thứ ba là ‘Thọ khổ vô gián’:

 

Tam giả, tội khí.

Thứ ba khí cụ hành hình tội nhân.

Ngày nay chúng ta gọi là hình cụ.

 

Xoa bổng

Cái chĩa, gậy.

Ðây là vật thường dùng để hành hình thời cổ.

 

Ưng xà lang khuyển.

Chim ưng, rắn, chó sói, chó.

Ðều bằng sắt, phía trước chúng ta đã thấy, ưng sắt, rắn sắt, chó sói sắt, chó sắt, la sát, dạ xoa, ác quỷ vô cùng hung ác; hiện ra hiện tượng này.

 

Ðối, ma, cứ, tạc

Chày, cối, cưa, đục

Chày cối, trong Ðịa Ngục Biến Tướng Ðồ chúng ta thấy cảnh đem người đi xay trong cái cối.  Người ta bị cưa ra từng đoạn.

 

Tỏa, chước, hoạch thang

Chém, chặt, vạc dầu sôi

Hoạch thang tức là vạc dầu.  Tỏa chước, tỏa là dùng đao chém.  Trong đời đã từng tạo những tội nghiệp này, A Lại Da Thức chứa đựng những hạt giống này, khi vào địa ngục thì hoàn toàn hiện ra.  Những người ăn thịt, thường ngày chẳng ăn chay, trong nhà bếp xắt thịt ra từng cục, từng cục, là những cảnh tượng này.  Ðến lúc vào địa ngục thì những cảnh tượng này hiện lên, giống y như vậy, ác quỷ chém vào thân thể của họ, chém thành từng cục, từng cục.  Thế nên đây là hóa hiện, chắc chắn không thể tránh khỏi.

 

Thiết võng, thiết thằng, thiết lư, thiết mã.

Lưới sắt, dây sắt, lừa sắt, ngựa sắt.

Ðây là đầu trâu mặt ngựa, ác quỷ vô cùng hung dữ.

 

Sanh cách lạc thủ, nhiệt thiết kiêu thân.

Da sống niềng đầu, sắt nóng rưới thân.

Trạng thái khổ sở khi bị gia hình, sắt nóng đến chảy lỏng rồi, nhiệt độ đó cao bao nhiêu, rưới lên thân mình, thân thể lập tức biết thành than khét lẹt.

 

Cơ thôn thiết hoàn.

Khi đói thì nuốt viên sắt.

Khi bạn đói thì muốn ăn, mở miệng ra thì ác quỷ nhét viên sắt vào miệng bạn, viên sắt này đốt nóng đỏ rực, chẳng phải sắt lạnh, mà là viên sắt nóng!

 

Khát ẩm thiết trấp, tùng niên cánh kiếp, số na do tha, khổ sở tương liên, cánh vô gián đoạn, cố xưng vô gián.

Khát thì uống nước sắt, quanh năm suốt kiếp, số đến na-do-tha kiếp, khổ sở triền miên, không hề gián đoạn, nên gọi là Vô Gián.

Ở đây cũng nói sơ lược vài thứ, nói kỹ thì vô tận.  Ngày nay khi chúng ta khởi tâm động niệm, hết thảy tạo tác đâu có thể nói là chẳng có quả báo?  Nói không có quả báo, lời nói này thật sự là tự dối mình, dối người.  Nhất định sẽ có quả báo.  Thế nên đời người mấy chục năm ngắn ngủi, tại sao không học làm một người tốt?  Ðại thánh đại hiền thế gian, xuất thế gian dạy chúng ta phải tiết kiệm, phải nhẫn nhịn.  Trong Luận ngữ có ghi đức hạnh của Khổng Phu Tử có năm thứ: ‘Ôn Hòa, Lương Thiện, Cung Kính, Tiết Kiệm, Nhường Nhịn’ (Ôn, lương, cung, kiệm, nhượng).  Phu tử xử sự, đãi người, tiếp vật đều ôn hòa, lương thiện, cung kính; đối với hết thảy người, sự, vật đều cung kính, tiết kiệm, nhẫn nhịn.  Lão nhân gia làm ra hình dáng cho chúng ta thấy, chúng ta phải biết học theo.  Thích Ca Mâu Ni Phật biểu hiện còn viên mãn hơn, rốt ráo và triệt để hơn nữa, vậy thì tại sao không học thánh nhân?  Tại sao không học Bồ Tát?  Học những chúng sanh tạo nghiệp này thì khổ quá đi thôi.

Thế Tôn tại Ðao Lợi thiên cung trong hội kinh này ủy thác chúng sanh đời Mạt cho Ðịa Tạng Bồ Tát giáo hóa, có đạo lý.  Tam độc tham, sân, si của chúng sanh thời Mạt pháp tăng trưởng, chẳng biết sám hối, hướng thiện, chẳng biết hiếu thân tôn sư, chẳng hiểu thiện nhân thiện quả, phải nhờ Ðịa Tạng Bồ Tát giáo huấn.  Nói cách khác, đời Mạt pháp chân chánh có thể giáo huấn hết thảy chúng sanh, bộ kinh này là khóa trình nhất định phải học, phải thường giảng giải, tuyên dương.  Phật giao phó [trách nhiệm] hoằng dương kinh này cho hết thảy Bồ Tát tham dự hội, nghe xong chúng ta phải phát tâm gánh vác.  Lời nhắn nhủ của Phật tôi cũng làm theo, cũng noi gương Ðịa Tạng Bồ Tát, y chiếu lời dạy trong kinh điển mà tu hành, đoạn hết thảy ác, tu hết thảy thiện, chẳng lo đến sanh mạng của mình, huống chi là khổ nạn của sự sanh hoạt.  Nhất định phải làm theo giáo giới của Phật cho bằng được, quả báo sau này nhất định sẽ giống như kinh nói, chúng ta phát nguyện vãng sanh nhất định sẽ được sanh Tịnh Ðộ.  Thứ tư là ‘Quả vô gián’.

 

Tứ giả bất vấn nam tử nữ nhân, Khương Hồ di địch, lão ấu quý tiện, hoặc long hoặc thần, hoặc thiên hoặc quỷ, tội hạnh nghiệp hoặc, tất đồng thọ chi, cố xưng Vô Gián.

Thứ tư là bất luận kẻ nam người nữ, Khương Hồ di địch [4], già trẻ, sang hèn, hoặc rồng hoặc thần, hoặc trời hoặc quỷ, tội hạnh nghiệp hoặc, đều đồng chịu như nhau, nên gọi là Vô Gián.

Những chúng sanh thọ tội trong địa ngục Vô Gián này rất phức tạp, có người nam, nữ, có người Trung Quốc, người ngoại quốc.  ‘Khương Hồ di địch’ ngày nay chúng ta gọi là những người khác chủng tộc.  ‘Già trẻ sang hèn’ đây là nói về cõi người.  Ngoài cõi người ra còn những cõi khác, cõi trời, A Tu La, súc sanh, ngạ quỷ, nếu chúng sanh ở những cõi này tạo những tội nghiệp nói trên đều phải đọa địa ngục A Tỳ để thọ quả báo.  ‘Long’ đại diện cho cõi súc sanh, ‘Thần’ trong kinh Lăng Nghiêm có nói đến cõi Tiên.  ‘Thiên’ bao gồm cõi trời Dục Giới, Sắc Giới, Vô Sắc Giới.  ‘Quỷ’ là cõi ngạ quỷ.  Nói cách khác, năm cõi ngoài cõi địa ngục tạo tác tội nghiệp đều là ‘tội hạnh nghiệp cảm, đều đồng chịu như nhau’, thế nên gọi là vô gián.  Chúng sanh trong địa ngục Vô Gián vô cùng phức tạp.

Trong kinh Phật chúng ta thấy Tứ Thiền Thiên, Tứ Không Thiên, ở cõi Tứ Không thiên khi thọ mạng hết thì hơn phân nửa đều đọa vào địa ngục Vô Gián.  Người ta thường nói “trèo cao té đau”.  Tại sao họ phải đọa địa ngục Vô Gián?  Họ cho rằng mình sanh đến trời Tứ Thiền, Tứ Không là đã chứng đại Niết Bàn.  Khi thọ mạng chấm dứt thì họ hối hận nên hủy báng Tam Bảo, [họ nói] ‘Chư Phật Như Lai, Bồ Tát nói đại Niết Bàn đều là giả, tôi đã chứng rồi, khi thọ mạng hết vẫn còn đọa lạc’.  Thế nên họ báng Phật, báng Pháp, báng Tăng, trong sát na cuối cùng hủy báng Tam Bảo, tội này đọa địa ngục A Tỳ.  Họ chẳng biết cảnh giới này đều là hư vọng, ngộ nhận là cảnh giới Niết Bàn, cho nên mới tạo tội nghiệp cực nặng.  Thứ năm nói về ‘mạng vô gián’.

 

Ngũ giả nhược đọa địa ngục tùng sơ nhập thời chí bá thiên kiếp, nhất nhật nhất dạ, vạn tử vạn sanh, cầu nhất niệm gián, tạm trụ bất đắc, trừ phi nghiệp tận, phương đắc thọ sanh, dĩ thử liên miên cố xưng vô gián.

Thứ năm là nếu đọa địa ngục này thì từ lúc mới vào đến trăm ngàn kiếp, mỗi ngày mỗi đêm đều vạn lần chết đi vạn lần sống lại, cầu xin tạm ngưng dù chừng một niệm cũng không được, trừ phi nghiệp tội tiêu hết mới được thọ sanh, vì cứ liên miên như vậy nên gọi là vô gián.

Nếu trong địa ngục chịu hình phạt xong rồi chết mất, vậy thì phải chúc mừng cho họ, đó là chuyện vui rất lớn.  Nếu trong địa ngục chết mất thì bất luận sanh đến cõi nào cũng là siêu sanh, khổ nạn cũng đều giảm nhẹ, là chuyện vui to lớn.  Nhưng chẳng chết được, vừa chết đi rồi bị gió thổi một cái liền sống lại, tiếp tục thọ báo, thế nên ‘một ngày một đêm, muôn lần chết đi muôn lần sống lại’.  ‘Vạn’ là hình dung, chẳng phải là con số, [thật ra thì] còn nhiều hơn con số ‘vạn’ này nữa.  Chết đi sống lại, xong rồi chết nữa, cứ làm vậy hoài không gián đoạn, tạm thời nghỉ mệt một lát cũng không được.  ‘Trừ phi nghiệp tiêu mất’, nghiệp bạn tạo thọ khổ báo trong địa ngục hết rồi thì mới chết đi, siêu sanh.  Nếu tội nghiệp chưa hết, thì chẳng có cách chi thoát ly, đạo lý này chúng ta phải hiểu.

Hủy báng Tam Bảo, chúng ta nêu thí dụ này để nói.  Nếu bạn dùng miệng hủy báng, nhất định phải đợi ảnh hưởng của sự hủy báng này trên nhân gian tiêu mất thì mới được thoát ra; nếu ảnh hưởng này vẫn còn thì chẳng có cách gì thoát khỏi địa ngục được.  Thời gian của ảnh hưởng trên ngôn luận chẳng dài, thí dụ hủy báng Tam Bảo, có người nghe bạn nói cũng hủy báng theo; nhưng sau khoảng chừng ba mươi năm, năm mươi năm dần dần thì mọi người cũng quên mất, sức ảnh hưởng mất hết.  Nếu như băng thâu âm hiện nay thì phiền phức lớn lắm, ảnh hưởng của việc này quá lớn, thời gian sẽ rất dài.  Nếu có người giữ lại những băng thâu âm, thâu hình của bạn hủy báng Tam Bảo, thế thì phiền phức sẽ rất lớn.  Nếu họ gởi vô bảo tàng viện giữ như đồ cổ, họ giữ chừng một vạn năm thì bạn sẽ ở trong địa ngục một vạn năm chẳng thể thoát khỏi, đây là một việc rắc rối.  Nếu viết lời hủy báng, in thành sách thì còn phiền phức lớn hơn nữa.  Trên thế giới này còn một cuốn sách thì bạn chẳng thoát ra nổi địa ngục A Tỳ.  Nhất định phải đợi đến khi cuốn sách này chẳng còn tồn tại trên thế gian này nữa, đều bị hư hoại mất hết thì bạn mới thoát ra khỏi địa ngục.

Cùng một đạo lý, chúng ta nói ngược lại nếu bạn tán thán Tam Bảo, tán thán việc thiện, chỉ cần sức ảnh hưởng còn tồn tại thì phước báo của bạn sẽ được hưởng hoài.  Một bên ngược một bên thuận, chúng ta phải tìm hiểu cặn kẽ, rõ ràng, minh bạch.  Thế nên tại sao không giữ tâm tốt, làm việc tốt, nói lời tốt, làm người tốt vậy?  Phước báo vô biên, ngược lại nếu tạo tội nghiệp khổ báo cũng vô biên, chỉ ở trên một niệm mà thôi.  Chư Phật, Bồ Tát khuyên dạy chúng ta giữ tâm tốt, làm việc tốt, nói lời tốt, làm người tốt, tiêu chuẩn của tốt này ở đâu?  Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện kinh chính là tiêu chuẩn tốt nhất.  Chúng ta khởi tâm động niệm, ngôn ngữ tạo tác tương ứng với lời nói trong kinh điển thì đúng, nhất định sẽ được phước; phước báo này sẽ kéo dài nhiều đời nhiều kiếp, vĩnh viễn hưởng không hết.  Muôn vàn chẳng thể làm trái ngược kinh giáo, tạo những việc ác, chỉ nhằm một chút lợi ích nhỏ nhoi trước mắt, sau này phải chịu khổ báo vô cùng, vậy thì cái được chẳng bù nổi cái mất.  Xem tiếp kinh văn:

Ðịa Tạng Bồ Tát bạch Thánh Mẫu ngôn, Vô Gián địa ngục thô thuyết như thị, nhược quảng thuyết địa ngục tội khí đẳng danh, cập chư khổ sự, nhất kiếp chi trung cầu thuyết bất tận.

Ðịa Tạng Bồ Tát nói với Thánh Mẫu rằng: ‘Nói sơ lược về địa ngục Vô Gián là như vậy.  Nếu nói rộng thêm về tên của những khí cụ hành tội cùng những sự khổ sở trong đó thì suốt một kiếp cũng không nói hết.’

Trong kinh này chỉ báo cáo sơ lược đơn giản mà thôi, nếu nói tường tận, đây là lời chân thật, nói một kiếp cũng chẳng hết.  Một kiếp nói về cái gì?  Nói về danh xưng của địa ngục, những hình phạt trong địa ngục, tên của dụng cụ hành hình, và những sự khổ của nó, nói một kiếp cũng chẳng hết.  Chẳng nói đến địa ngục khác, chỉ nói về địa ngục Vô Gián, nói một kiếp cũng chẳng hết.  Nếu nói hết về mười tám địa ngục thì hai kiếp, ba kiếp, bốn kiếp cũng sợ là chẳng nói hết, chúng ta nhất định phải hiểu sự thật này.

Ma Gia phu nhân văn dĩ, sầu ưu hiệp chưởng, đảnh lễ nhi thoái.

Ma Gia phu nhân nghe xong, buồn rầu chắp tay đảnh lễ rồi lui ra.

Ma Gia phu nhân thay mặt chúng ta khải thỉnh, nghe xong rất buồn rầu.  Buồn rầu có hai nguyên nhân, một là buồn cho chúng sanh ở Diêm Phù Ðề, Ma Gia phu nhân vô cùng quan tâm thế gian này của chúng ta.  Chúng sanh ở thế gian chúng ta vẫn tiếp tục tạo ác nghiệp không dứt, đây là chỗ Ma Gia phu nhân buồn rầu.  Tự mình muốn cứu vớt, tâm có dư nhưng sức chẳng đủ, đây cũng là việc phu nhân buồn rầu.  ‘Ðảnh lễ rồi lui ra’ là tôn trọng Ðịa Tạng Bồ Tát, lễ mạo vô cùng châu đáo, đều là biểu diễn cho chúng ta xem, dạy chúng ta.

Ðược rồi, thời gian đã hết.

 

Tập 10 (Số 14-12-10)

Xin mở kinh văn:

PHẨM THỨ 4: NGHIỆP CẢM CỦA CHÚNG SANH Ở CÕI DIÊM PHÙ

          Phẩm thứ tư.  Từ tên của phẩm này chúng ta thấy rất rõ những chuyện nói trong kinh đều thuộc về thế giới này, trong kinh Phật gọi là Nam Diêm Phù Ðề Châu, là chỉ địa cầu của chúng ta.  Phật nói tu học Phật pháp lấy kinh điển làm chính, đây là ‘Tứ Y’, dạy cho chúng ta ‘Y pháp chứ chẳng y người, y nghĩa chứ chẳng y ngữ’, đây là nguyên tắc vĩnh hằng không thay đổi.  Chúng ta thấy có một số chú giải của cổ đức, hình như chẳng phù hợp với những gì khoa học hiện đại quan sát, những chỗ này chúng ta có thể tồn nghi, không thể nói những gì khoa học hiện nay nói đều chính xác, những gì trong kinh nói đều là mê tín, nếu chúng ta dùng phương pháp này để quan sát thì sẽ sai lầm quá đỗi.  Vì rất nhiều cảnh giới mắt thịt chúng ta chẳng nhìn thấy, chúng ta tin tưởng lời Phật nói trong kinh.  Tổ sư đại đức chẳng nhập vào cảnh giới này, nên những gì họ nói không nhất định hoàn toàn tương ứng, chúng ta có thể lấy làm tham khảo, cũng chẳng cần phủ định, chỉ biết có cách nói như vậy là được rồi.  Nếu chư vị coi chú giải, thí dụ nói trong Trường A Hàm, tại sao mặt trăng có bóng?  Bóng này là bóng của cây ở cõi Diêm Phù Ðề.  Hiện nay những người tiếp nhận giáo dục khoa học hiện đại tuyệt đối sẽ phủ nhận, như những chỗ như vậy chúng ta không cần phải tranh luận.  Nếu không thể hiểu rõ triệt để thì cứ tồn nghi cũng được.  Xin xem kinh văn:

          Nhĩ thời Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát bạch Phật ngôn, Thế Tôn ngã thừa Phật Như Lai oai thần lực cố, biến bá thiên vạn ức thế giới phân thị thân hình, cứu bạt nhất thiết nghiệp báo chúng sanh, nhược phi Như Lai đại từ lực cố, tức bất năng tác như thị biến hóa.

          Lúc đó Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát bạch đức Phật: ‘Bạch Thế Tôn, con nương nhờ sức oai thần của Phật Như Lai nên chia được thân hình này đến khắp trăm ngàn vạn ức thế giới để cứu vớt hết thảy chúng sanh bị nghiệp báo, nếu không nhờ sức đại từ của Như Lai thì chẳng thể biến hóa được như thế.

          Phật, Bồ Tát độ chúng sanh, có câu là ‘Phương tiện có nhiều cửa, đường về nguồn chẳng hai’, đây là do trí huệ viên mãn, khéo léo cao độ biểu hiện ra.  Có rất nhiều sự sắp đặt mà tâm tư, quan niệm của phàm phu chúng ta chẳng thể đạt đến được.  Phàm phu nhất định không thể nhìn trước mắt, trước mắt chỉ là thủ đoạn, nhất định phải nhìn mục đích.  Nếu mục đích là thuần chánh thì thủ đoạn phi pháp cũng là thuần chánh, việc này rất cao minh; nếu mục đích là tà ác, dù thủ đoạn có thiện đến đâu cũng là tà ác.  Như lúc trước cha mẹ, thầy giáo dạy học trò vậy, có khi mắng chúng, đánh chúng, trách mắng chúng, nhưng đều có ý tốt, đều hy vọng chúng hướng đến chỗ tốt, sau này sẽ được kết quả tốt.  Nếu mỗi ngày đều cưng chìu, hết thảy đều thuận theo ý thích của học trò, tập cho chúng nhiều tánh xấu, đến khi chúng lớn lên làm điều tà vạy, thế thì cha mẹ, thầy giáo đều có lỗi.  Phương pháp của Phật, Bồ Tát giáo hóa chúng sanh còn cao minh hơn, đặc biệt hơn.  Trong kinh Hoa Nghiêm chúng ta thấy Thắng Nhiệt Bà La Môn, Cam Lộ Hỏa Vương, Phạt Tô Mật Ða Nữ, dùng phương pháp tham, sân, si, hình như đều hoàn toàn phản nghịch với đạo, nhưng sau cùng xem kết quả của họ đều là thanh lương tự tại, đều có thể xa lìa tham, sân, si, chứng được công đức viên mãn của tự tánh, thế nên đó đều thuộc về thiện xảo phương tiện.

          Trong kinh Ðịa Tạng chúng ta nhìn thấy hiện tượng này, còn thù thắng hơn sự biểu diễn của ba vị Bồ Tát trong kinh Hoa Nghiêm, đều dùng địa ngục, những quỷ vương ác độc này, quỷ vương đều là Bồ Tát hóa thân, chẳng phải quỷ vương thật sự.  Quỷ vương thiệt làm sao có thể tham dự pháp hội của đức Phật Thích Ca Mâu Ni ở cung trời Ðao Lợi được?  Cõi người còn cao hơn cõi quỷ, cao hơn nhiều, nhưng Người cũng không tham dự pháp hội của Thế Tôn thì làm sao Quỷ, Súc Sanh có thể tham dự?  Trong hàng quỷ vương có vị thị hiện thân súc sanh, họ đều là đại Bồ Tát, đều là những nhân vật giống Ðịa Tạng Bồ Tát; nói cách khác tất cả đều là Ðịa Tạng Bồ Tát.  Ngày nay chúng ta có thể lý giải được cách dạy học của Phật, chân chánh có thể phát tâm, y theo lý luận và phương pháp của kinh này để tu học, cũng phát tâm ‘Ðịa ngục chẳng không, thề chẳng thành Phật’, vậy thì chúng ta cũng gia nhập vào câu lạc bộ của Ðịa Tạng Bồ Tát, cũng là nhân vật hàng đầu như Ðịa Tạng Bồ Tát.  Ðịa ngục tiêu biểu cho cái gì?  Khổ nạn.  Tất cả những khổ nạn chúng sanh trong thế gian, họ còn chưa thoát khổ, còn chưa thể phá mê khai ngộ, lìa khổ được vui, Bồ Tát chịu ở lại thế gian vĩnh viễn giáo hóa chúng sanh, chẳng thành Phật đạo.  Thật ra ‘chẳng thành Phật đạo’ là hình thức, chẳng phải thiệt;  Ðịa Tạng Bồ Tát từ kiếp lâu xa đã sớm thành Phật rồi.  Học trò của Ngài thành Phật nhiều như vậy, thì đâu có lý nào thầy giáo không thành Phật cho được?  Chỉ là chẳng ở ngôi vị Phật mà thôi.  Phật cũng giống như hiệu trưởng, Ngài không làm hiệu trưởng, vĩnh viễn làm người giáo viên; học trò đã làm hiệu trưởng rồi, thầy giáo còn làm giáo viên trong trường, là ý nghĩa như vậy, chúng ta nhất định phải hiểu.

          Ðịa Tạng Bồ Tát tôn trọng Phật là biểu diễn cho chúng ta xem.  Tuy là thầy của Phật, Phật là học trò của Ngài, nhưng hôm nay thầy vẫn còn ở địa vị Bồ Tát, học trò là địa vị Phật, nhất định phải biểu thị tôn sư trọng đạo, điểm này chúng ta phải học theo.  Trong bất cứ trường hợp nào, chúng ta phải thường ghi nhớ, làm gương tốt cho chúng sanh; xã hội đại chúng hiện nay có bao nhiêu người biết hiếu thuận cha mẹ?  Bao nhiêu người biết tôn trọng sư trưởng?  Sư là thầy giáo, Trưởng là trưởng bối.  Chúng ta phải đề xướng, nếu chúng ta không làm thì đợi ai làm?  Ở nơi đây có một số lão pháp sư đến thăm viếng, hoặc chúng ta đi thăm viếng những lão pháp sư ở nơi khác, chúng ta phải biết, tuổi của họ cao hơn chúng ta, thời gian họ xuất gia lâu hơn chúng ta, giới lạp [5] cao hơn chúng ta, nhất định phải mời họ ngồi ở phía trên.  Tuy chúng ta là khách, là thượng khách của họ, chúng ta cũng phải nhường ghế thượng khách cho họ.  Tại sao phải làm như vậy?  Tôn sư trọng đạo.  Khi họ nhường cho chúng ta thì muôn vàn đừng ngồi chễm chệ lên ghế ấy; việc này cũng có thể làm, chẳng phải không thể làm.  Tại sao?  Bạn hôm nay là khách, là khách chính, thì có thể như vậy.  Nhưng khi chúng ta mời họ ngồi lên ghế thượng tọa, thì càng có lợi cho việc giáo hóa chúng sanh hơn nữa, phải hiểu đạo lý này.  Niệm niệm vì Phật pháp, niệm niệm vì chúng sanh, như vậy mới đúng.  Hiện nay hết thảy chúng sanh, phần đông người trên toàn thế giới càng ngày càng tăng thêm tham, sân, si, tam độc tăng trưởng sẽ đem đến tai nạn khắp thế giới.  Hóa giải tai nạn phải bắt đầu từ đâu?  Từ tâm con người, Ðịa Tạng Bồ Tát làm gương mẫu cho chúng ta.  Pháp hội tại Ðao Lợi thiên cung ngày hôm nay, Ðao Lợi thiên chủ là chủ nhân, Thích Ca Mâu Ni Phật và Ðịa Tạng Bồ Tát đều là khách quý, Phật xưng tán Bồ Tát, Bồ Tát cung kính Thế Tôn, cung kính lẫn nhau.  Tại sao?  Vì hết thảy chúng sanh, chúng ta phải hiểu ý nghĩa này, tinh thần, hình tượng chúng ta đều phải học tập.

          ‘Bồ Tát bạch Phật ngôn’, ‘bạch’ là lời người nhỏ nói với người lớn, là lời kính trọng; nói rất khiêm hư, rất cung kính.  ‘Con nương nhờ sức oai thần của chư Phật Như Lai’, Ngài chẳng nói mình có khả năng.  Ngày nay tôi có khả năng này, phân thân độ hóa chúng sanh ở vô lượng vô biên thế giới, là nhờ Phật lực gia trì.  Thật ra không nương Phật gia trì Ngài cũng làm được, đây là lời khiêm nhường, cung kính, làm gương mẫu cho hàng hậu học chúng ta, chúng ta có khả năng làm được, cũng cảm kích lực lượng của đại chúng gia trì.  Chúng ta hôm nay cử hành pháp hội tại đây, bất luận pháp hội lớn hay nhỏ, đều phải nhờ sức mạnh của đại chúng, trước khán đài, phía sau khán đài, trong và ngoài đạo tràng, xã hội đại chúng xuất lực xuất tiền, thiện ý tán dương đều là thần lực gia trì.  Bồ Tát hiểu rõ nên có tâm chân thành cảm ân, phàm phu mê hoặc chẳng biết.  Tuy Phật dạy chúng ta, luôn nhắc nhở nhưng chúng ta không giác ngộ.  Từ sáng đến tối bất luận là lúc nào chúng ta hồi hướng ‘Thượng báo tứ trọng ân, hạ tế tam đồ khổ’, niệm hai câu này đến thuộc làu rồi, có hiểu ý nghĩa trong ấy không?  Thật sự là không hiểu.  Nếu bạn hiểu thiệt thì hết thảy chúng sanh đối với mình đều có ân đức.  Người hộ trì, người tán thán, cúng dường có ân đức, nói thêm với quý vị, người hủy báng, người phá hoại cũng có ân đức, người hãm hại cũng có ân đức.

          Những việc trái nghịch này công đức ở chỗ nào?  Công đức là làm cho chúng ta phản tỉnh, cảnh giác.  Bồ Tát giáo hóa chúng sanh, một người thì từ mặt chính, một người thì từ mặt trái, mặt chính khuyến thiện, mặt trái giúp bạn cảnh giác, đoạn dứt ác.  Giúp bạn nhìn đến mặt trái này, bạn sẽ nghĩ như vậy chẳng tốt, mình phải đoạn dứt nhân ác, thị hiện đủ thứ quả báo ác để nhắc nhở bạn, làm cho bạn giác ngộ.  Nếu chẳng có những nghịch duyên này, những ‘tăng thượng duyên’ nghịch này, thì người ta sẽ mê hoặc trong thuận cảnh, chẳng biết giác ngộ.  Thế nên mỗi khi nghịch cảnh xảy ra, người ta có thể giác ngộ, lập tức quay về, đó chẳng phải là ân đức hay sao!  Trong kinh Ðịa Tạng, những việc giống như vậy rất nhiều, chúng ta phải xem xét kỹ.

‘Cứu vớt hết thảy những chúng sanh bị nghiệp báo’, những chúng sanh khổ nạn tạo nghiệp thọ báo này, đặc biệt là ở địa ngục, trong địa ngục tạo tội nghiệp nặng nhất, thọ khổ cùng cực.  Ðịa Tạng Bồ Tát dùng đại nguyện lực để giúp đỡ những chúng sanh khổ nạn này, nên dùng thân gì để được độ thì Ngài bèn hiện thân đó, nên dùng phương pháp gì để giáo hóa thì Ngài bèn dùng phương pháp đó, thiện xảo phương tiện vô cùng.  Cuối cùng nói nếu chẳng phải đại từ lực của Như Lai gia trì, ‘thì sẽ chẳng thể biến hóa được như thế’, những dụng ý, cách làm này, trong nhà Phật chúng ta gọi là Hành pháp — phương pháp tu hành, đều nhắc nhở chúng ta, đều đau lòng rát miệng thị hiện ở đây để dạy chúng ta.  Xin xem đoạn kinh tiếp theo, câu kinh kế tiếp quan trọng phi thường.

Ngã kim hựu mông Phật phó chúc, chí A Dật Ða thành Phật dĩ lai, lục đạo chúng sanh khiển lịnh độ thoát.

Con nay lại được đức Phật phó chúc [từ nay] đến khi Ngài A Dật Ða thành Phật, phải làm cho chúng sanh trong lục đạo đều được độ thoát.

Phía trước chúng ta đã đọc qua, trong đoạn thời gian rất dài sau khi Ngài nhập diệt, đức Phật giao phó việc độ thoát, giáo hóa chúng sanh khổ nạn cho Ðịa Tạng Bồ Tát và hết thảy chư đại Bồ Tát tham dự hội kinh này, nhưng Ðịa Tạng Bồ Tát nắm phần chính yếu.  Những câu này là Ðịa Tạng Bồ Tát nhận lời phó chúc của Thế Tôn, ngài y giáo phụng hành.  Nói cách khác, khi Phật không còn tại thế, ai sẽ thay thế Phật?  Ðịa Tạng Bồ Tát thay thế Phật mãi cho đến khi đức Phật kế tiếp ra đời.  Từ đây có thể biết, chúng ta thấy trong bộ kinh này, cũng như ở hết thảy cõi nước chư Phật trong hư không pháp giới, hóa thân của Ðịa Tạng Bồ Tát tận hư không, trọn khắp pháp giới, khi thế giới nào không có Phật trụ thế, người đại diện cho Phật đều là Ðịa Tạng Bồ Tát.  Không phải Ngài chỉ đại diện sau khi Thế Tôn diệt độ và trước khi Phật Di Lặc ra đời, mà ở hết thảy các cõi nước chư Phật, trong đoạn thời gian sau khi đức Phật trước diệt độ và trước khi đức Phật kế tiếp ra đời, người thay mặt đức Phật độ hóa chúng sanh đều là Ðịa Tạng Bồ Tát.

Ðịa Tạng Bồ Tát đáng cho người ta tôn kính, hoằng nguyện của Ngài Ðịa Tạng, chư Phật, Bồ Tát không thể không tán thán, không khâm phục.  Tại sao vậy?  Ngài độ những chúng sanh khó độ nhất, những chúng sanh do Phật độ phần nhiều đều có căn cơ chín muồi rồi, Phật mới xuất hiện đến độ họ.  Ðịa Tạng Bồ Tát độ những chúng sanh căn tánh chưa chín muồi, vẫn đang tạo tội nghiệp như cũ, khó độ nhất.  Do đó chúng ta phải đọc kỹ bộ kinh này, phải suy nghĩ, phải hiểu nghĩa thú, sau đó mới biết kinh này trong hết thảy kinh điển cũng thuộc về pháp luân căn bản.  Ðặc biệt là trong thế giới của chúng ta, chúng sanh ở Diêm Phù Ðề, đây là pháp tu học căn bản của chúng ta.  Hiểu rõ đạo lý này, đích thật có thể diệt hết thảy tội, có thể tu hết thảy thiện, tại sao vậy?  Muốn có thể hiểu rõ ‘chân, vọng, tà, chánh, thị, phi, thiện, ác’ chẳng dễ!  Nếu chẳng có trí huệ cao độ thì làm không nổi.  Câu sau còn hay hơn nữa:

Dụy nhiên, Thế Tôn nguyện bất hữu lự.

Con xin vâng, xin Thế Tôn chớ lo âu.

An ủi Thế Tôn, xin Ngài chớ lo lắng.  Trong thời Mạt pháp, pháp diệt lâu dài này, các tội khổ chúng sanh đều do Bồ Tát một vai gánh vác, Bồ Tát gánh vác trách nhiệm giáo hóa chúng sanh.  Xin xem kinh văn:

Nhĩ thời, Phật cáo Ðịa Tạng Bồ Tát, nhất thiết chúng sanh vị giải thoát giả, tánh thức vô định, ác tập kết nghiệp, thiện tập kết quả, vi thiện vi ác, trục cảnh nhi sanh, luân chuyển ngũ thú, tạm vô hưu tức, động kinh trần kiếp, mê hoặc chướng nạn.

Bấy giờ Phật nói với Ðịa Tạng Bồ Tát: ‘Hết thảy chúng sanh chưa được giải thoát thì tánh thức không định, quen làm điều ác thì kết thành nghiệp, quen làm điều thiện thì kết thành quả; làm thiện làm ác đều theo cảnh mà sanh, luân chuyển trong Năm Ðường, chưa từng ngưng nghỉ, trải qua trần kiếp, mê hoặc chướng nạn

Ðây là lời đức Phật nói với Ðịa Tạng Bồ Tát, theo thói quen thì chúng ta gọi là khai thị cho Ðịa Tạng Bồ Tát.  Nói thật ra, Bồ Tát ở đây là thay mặt cho chúng ta, Thế Tôn khai thị cho Bồ Tát, nhưng thực tế là khai thị cho chúng ta.  Hiện nay chúng ta đang ở trong trạng thái gì, ở đây đức Phật nói rõ.  Chúng ta tự mình nói không được, tự mình mê hoặc điên đảo, đức Phật hiểu rõ, nhắc nhở chúng ta.

‘Hết thảy những chúng sanh chưa giải thoát’, chúng ta phải hiểu hai chữ ‘giải thoát’, ‘giải’ là nói về phiền não, phiền não chẳng giải trừ, thuật ngữ ngày nay gọi là ‘giải phóng’, phiền não chưa được giải phóng.  ‘Thoát’ là nói về sanh tử, sáu nẻo luân hồi, bạn chưa thể thoát khỏi sáu nẻo luân hồi.  Tám chữ này chỉ chúng sanh trong sáu nẻo.  Nếu chỉ nói hết thảy chúng sanh, Tứ Thánh pháp giới ngoài sáu nẻo cũng là chúng sanh, cũng thuộc về chúng sanh hữu tình; nhưng khi thêm chữ ‘chưa giải thoát’ bèn chuyên chỉ chúng sanh trong sáu nẻo.  Chúng sanh trong sáu nẻo có trạng thái như thế nào?  ‘Tánh thức vô định’, ‘Tánh’ là tâm tánh, ‘Thức’ là phân biệt, chấp trước; chẳng định, biến đổi quá lớn, niệm trước vừa diệt, niệm sau liền sanh, chẳng nhất định tiếp nối, thường thường thay đổi chủ ý, như vậy gọi là ‘tánh thức vô định’.  Ðừng nói chúng ta đối với hết thảy người, hết thảy sự, chúng ta chẳng có chủ ý nhất định, đối với mình cũng chẳng khẳng định.  Chuyện nghĩ hồi sáng, đến tối bèn thay đổi, đây là sự thật.  Trong hết thảy ý niệm, Phật quy nạp thành ba loại lớn: ‘thiện, ác, vô ký’, là ba loại này.  Thiện và ác là tạo nghiệp, vô ký là vô minh, cũng chẳng phải là việc tốt, chúng ta hiểu vô ký cũng tạo nghiệp.  Vô ký tạo nghiệp gì?  Nghiệp hồ đồ, vô minh hồ đồ, chẳng có trí huệ.

‘Ác tập kết nghiệp’, đã tạo ác nghiệp thì tương lai phải thọ ác báo.  Một ác niệm phải thọ một ác báo, cái gì gọi là một ác niệm?  Một ý niệm [dài cỡ] một sát na, một sát na cũng quá dài rồi.  Kinh Nhân Vương nói với chúng ta: một khảy móng tay có chín trăm sanh diệt, cũng tức là có chín trăm ý niệm.  Khởi một ý niệm thì phải thọ một lần quả báo, trong cuộc đời mấy chục năm của chúng ta tạo ra bao nhiêu nghiệp, làm sao không thọ báo cho được?  Quả báo đi theo sự thiện ác của ý niệm, tùy theo cái nhẹ, nặng, lớn, nhỏ, lệch, viên mà quả báo sẽ khác nhau.

‘Thiện tập kết quả’, ‘quả’ là nói về thiện báo, phước báo nhân thiên, nhà Phật gọi là tiểu quả.  Câu ‘Vi thiện vi ác, trục cảnh nhi sanh’ là nói một người tại sao lại tạo thiện, tại sao tạo ác?  Gặp duyên khởi hiện hành.  Thiện, ác là hạt giống chất chứa trong A Lại Da Thức, hạt giống tập khí vĩnh viễn sẽ không tiêu mất, một khi gặp duyên nó sẽ khởi lên.  Gặp ác duyên liền moi tập khí ác đem ra, gặp thiện duyên thì hạt giống thiện sẽ khởi lên, tự mình chẳng thể làm chủ, chẳng thể khống chế, thường gọi là chẳng có định lực, chẳng có trí huệ.  Trí huệ là quán sát minh liễu, định lực là chẳng bị dụ dỗ, mê hoặc, phải đến cảnh giới này thì con người mới không tạo nghiệp.  Nếu chẳng tới cảnh giới này, những sự thị – phi, thiện – ác ở cảnh giới bên ngoài bạn chẳng thể phân biệt rõ ràng, bạn chẳng biết.  Chúng ta là phàm phu chúng ta cũng chẳng biết, Phật dạy chúng ta một nguyên tắc rất tốt, đó là dùng tâm thuần thiện để xem người, xem sự, xem vật, cách này rất tốt, tuyệt đối sẽ được lợi ích.  Khi gặp người thiện, việc tốt, thì đây là Phật, Bồ Tát thị hiện chánh diện để dạy chúng ta, khi gặp người ác, chuyện ác thì đây là Phật, Bồ Tát thị hiện nhắc nhở chúng ta; xem hết thảy người, hết thảy sự, hết thảy vật đều là Phật, Bồ Tát thị hiện thì tâm chân thành, tâm cung kính của chúng ta mới có thể sanh khởi.

Trong hội kinh Hoa Nghiêm, Thiện Tài đồng tử cũng dạy chúng ta giống vậy, năm mươi ba vị Phật, Bồ Tát thị hiện nam nữ, già trẻ, các ngành các nghề chính là xã hội hiện thực của chúng ta.  Nếu chúng ta muốn thành tựu ngay trong đời này thì chỉ có học theo cách này mà thôi.  Cách học này, nói cho chư vị biết, nhất định chẳng phải miễn cưỡng mình, chẳng phải ép mình nhất định phải có cách nhìn như vậy.  Vốn là như vậy, chẳng có tơ hào miễn cưỡng.  Trong kinh chúng ta nghe chư Phật, Bồ Tát giảng đơn giản, vắn tắt những nguyên lý, nguyên tắc này.  Kinh Hoa Nghiêm nói hết thảy pháp thế, xuất thế gian đều ‘duy tâm sở hiện, duy thức sở biến’.  Nếu chúng ta chân chánh có thể lãnh hội được ý nghĩa của tám chữ này, có thể ngộ được những gì nói trong kinh Hoa Nghiêm là thật, chẳng giả, chẳng phải dạy chúng ta giả dụ dùng cách nhìn này, mà là chân tướng sự thật.  Ðích thật ngoài mình ra, hết thảy người, hết thảy sự, hết thảy vật đều là chư Phật, Bồ Tát đại từ đại bi, đại quyền thị hiện, thành tựu cho phàm phu như mình.  Chứ [kinh Hoa Nghiêm] không nói: “Anh cứ thử làm theo cách giả dụ như vậy xem sao!” Nếu [nói vậy] thì không được rồi, không có ý nghĩa như vậy! Có [thật sự thị hiện đại từ đại bi] như vậy thì chúng ta mới tiếp nhận được giáo huấn chân thật của Như Lai.

Cho nên khi chúng ta thấy chuyện thiện, chuyện tốt, người tốt thì phải khích lệ mình, khi thấy người ác, chuyện ác thì phải tự cảnh giác; những người, sự, vật này không có gì chẳng phải là thiện tri thức, không có ai chẳng là Phật, Bồ Tát, được vậy thì chúng ta trong cảnh giới này, cả đời này mới có thể viên thành Phật đạo.  Sau khi mình học thành công rồi cũng phải thị hiện cho người khác thấy, cũng nêu gương tốt cho người khác.  Chữ ‘tốt’ ở đây chẳng phải là chữ tốt trong tốt – xấu, ‘tốt’ trong tốt – xấu là tương đối, chữ ‘tốt’ ở đây đã buông bỏ hoàn toàn cả hai bên tốt – xấu, là ‘tốt chân thật’.  Thế nên bạn có thể thị hiện trên mặt chánh, cũng có thể thị hiện trên mặt trái, đều có chung một mục đích làm cho chúng sanh giác ngộ, làm cho chúng sanh quay về, như vậy gọi là ‘nêu gương tốt’.  Thế nên phải nhớ ‘vi thiện vi ác, trục cảnh nhi sanh’ (làm thiện làm ác đều theo cảnh mà sanh), cảnh giới là duyên, chỗ khác nhau lớn nhất giữa người giác ngộ và người mê hoặc là quán sát cảnh duyên không giống nhau, vận dụng cảnh duyên để trợ tu chẳng tương đồng.  Người giác ngộ thì khéo quán sát cảnh duyên, lợi dụng cảnh duyên để tăng trưởng đạo nghiệp của mình, người mê hoặc thì mê trong cảnh duyên và tạo nghiệp.  Ở chỗ này nói ‘kẻ chưa giải thoát’ là những chúng sanh mê hoặc điên đảo, những chuyện thiện, chuyện ác của họ đều là tương đối.  ‘Thiện’ là thiện pháp trong thế gian, chỉ có thể đạt được thiện quả ở cõi trời và người, chẳng thể thoát khỏi Tam giới.  ‘Ác’ thì nhất định đọa tam ác đạo, tam ác đạo thì địa ngục là chính, ngạ quỷ và súc sanh đều là phụ thuộc.

‘Luân chuyển ngũ đạo’, ‘luân chuyển’ là luân hồi, ‘ngũ đạo’ là chẳng kể A Tu La, chỉ nói Trời, Người, Quỷ, Súc sanh, Ðịa ngục, nói năm đường này.  Tại sao không kể A Tu La?  Kinh Lăng Nghiêm nói với chúng ta trừ cõi địa ngục ra, bốn cõi kia đều có A Tu La.  Quả báo A Tu La lớn nhất là A Tu La ở cõi trời, kế đó là nhân gian A Tu La, trong cõi quỷ cũng có A Tu La, quỷ vương A Tu La ác độc, trong súc sanh cũng có A Tu La, thế nên A Tu La có thể không xếp riêng ra.  Nếu xếp riêng ra một cõi A Tu La thì là A Tu La ở cõi Trời.  Nếu chẳng xếp riêng thì A Tu La ở cõi Trời gộp chung vô Thiên Ðạo.  Thế nên nói ngũ đạo, lục đạo đều giống nhau.  ‘Luân chuyển ngũ đạo, tạm vô hưu tức’ là nói sanh tử luân hồi, trong kinh Đại thừa đức Phật thường nói ‘sanh tử mệt mỏi chẳng ngưng nghỉ’, ở cõi này chết đi bèn đến cõi khác đầu thai, sanh đến cõi ấy; sanh tử xong rồi lại tử sanh, vĩnh viễn chẳng ngưng nghỉ, thế nên ví như ‘bánh xe xoay vần’ — luân chuyển’, khổ chẳng thể tả.  ‘Ðộng kinh trần kiếp’, trải qua trần điểm kiếp.

‘Mê hoặc chướng nạn’.  ‘Mê’ là vô minh phiền não, trong lục đạo gọi là Kiến Tư phiền não, đây là mê, mê hoặc.  ‘Chướng’, thường nói về Nhị chướng, Tam chướng.  Tam chướng ‘Hoặc, Nghiệp, Khổ’, mê hoặc, tạo nghiệp, thọ báo.  Tại sao là ‘chướng’?  Chướng ngại sự minh tâm kiến tánh của bạn.  ‘Nạn’ là ‘Bát nạn’, chúng ta thường nói về ‘tam đồ, bát nạn’, ‘nạn’ là bạn gặp nạn.  Trong ‘Tám nạn’ đặc biệt phải để ý ‘thế trí biện thông’ là một trong tám nạn, một số người cứ cho rằng ‘thế trí biện thông’ là chuyện tốt.  ‘Trường Thọ thiên’ là một trong tám nạn, ‘Trường thọ thiên’ ở đâu?  Tứ Không Thiên.  Tại sao nói Tứ Không Thiên là ‘bị nạn’?  Trong Tứ Không Thiên chẳng có Phật, Bồ Tát giảng kinh thuyết pháp.  Nói ‘nạn’, tám thứ nhân duyên, mù điếc câm tám thứ nhân duyên chướng ngại cơ duyên nghe pháp của bạn, làm cho bạn chẳng dễ tiếp xúc đến Phật pháp, chẳng có cơ hội học Phật, như vậy gọi là gặp nạn, chẳng phải nạn thường, chẳng có cơ hội học Phật chính là gặp nạn.  Trường Thọ Thiên, sanh đến cõi trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng, thọ mạng tám vạn đại kiếp, trong thời gian dài tám vạn đại kiếp này chẳng được tiếp xúc đến Phật pháp, bạn nói xem: Như vậy thì đáng tiếc dường nào!

Trong kinh này, Phật, Bồ Tát tán thán người ở cõi Diêm Phù Ðề chúng ta.  Người ở Diêm Phù Ðề tuy rất dễ tạo tội nghiệp, nhưng cũng có chỗ tốt, [tức là]  cũng rất dễ [giác ngộ và biết] quay về cho nên Phật, Bồ Tát tán thán.  Ðịa Tạng Bồ Tát nói khi chúng ta làm việc thiện, việc thiện rất nhỏ, ‘như sợi lông, như một giọt’ chuyện thiện nhỏ nhoi như vậy Phật, Bồ Tát nhìn thấy cũng hoan hỷ, đều vui lòng đến giúp đỡ.  Ðây là nói chúng sanh ở địa phương này tuy tạo nghiệp nhưng dễ quay về.  Còn cõi trời, càng lên cao càng khó quay về.  Trong kinh Phật có nói đến ‘Hai mươi thứ học Phật khó’.  ‘Giàu sang học Phật khó’, người cõi trời giàu sang, mỗi ngày hưởng phước, hưởng được rất tự tại, học Phật gian khổ như vậy nên họ chẳng chịu học, họ chẳng biết khổ.  ‘Bần cùng học đạo khó’, một ngày ba bữa ăn không no, mỗi ngày đều chịu đói, trong trạng thái đói meo như vậy thì còn có lòng dạ gì nữa để học Phật!  Ví trên trời là giàu sang, tam ác đạo ví là bần cùng, cả hai đều khó khăn.  Thế nên, người nào trong nhà tương đối đủ ăn, cũng không giàu có lắm, cũng chẳng bị chết đói, hạng người này dễ giác ngộ, họ biết khổ, dễ giác ngộ.  Thế nên Nhị chướng, Tam Chướng, Bát Nạn chẳng dễ thoát ly.  Phía dưới Thế Tôn lại dùng thí dụ để nói:

Như ngư du võng, tương thị trường lưu, thoát nhập tạm xuất, hựu phục tao võng.

Như cá bơi trong lưới theo dòng nước chảy, tạm thoát ra được rồi lại mắc vào lưới.

‘Ngư’ ví chúng sanh, chúng sanh trong lục đạo.  ‘Võng’ ví như lục đạo, tam giới lục đạo.  ‘Trường lưu’ ví như tạo nghiệp, luôn tạo vĩnh viễn chẳng dứt.  ‘Thoát nhập’ ví như sanh tử luân hồi.  Ví như chúng sanh trong lục đạo ‘tánh thức vô định’, giống như cá bơi đi khắp nơi, chẳng có phương hướng, mục tiêu nhất định, thường bơi vào trong lưới.  ‘Võng’ là la võng (lưới rập), [tức là] lưới rập của Ma, ‘Ma’ là gì?  Ma là chiết ma [tức là] dày vò, thân tâm của bạn vĩnh viễn bị dày vò, phá hoại, khổ chẳng nói nổi.  Nguyên nhân căn bản là như câu nói trong Phật pháp: ‘Ái chẳng nặng chẳng sanh Sa Bà, Niệm chẳng nhất chẳng sanh Tịnh Ðộ’.  Thuyết minh nguyên nhân căn bản của lục đạo luân hồi là gì?  ‘Tình chấp’, đây chẳng phải là chuyện tốt.  ‘Tình’ là cái gì?  Nói cho chư vị biết, ‘tình’ tức là trí huệ, giác ngộ thì nó là trí huệ, khi mê thì nó là ‘tình’.  Trong kinh Phật thường nói: ‘Phiền não tức Bồ Ðề’, lúc giác ngộ thì phiền não là Bồ Ðề, lúc mê thì Bồ Ðề là phiền não.  Chư vị nhất định phải biết trí huệ vô lượng vô biên, phiền não cũng vô lượng vô biên, một mê thì hết thảy đều mê, đem trí huệ vô lượng vô biên trong tự tánh đều biến thành phiền não, tình chấp.  Một khi giác ngộ rồi thì tất cả hết thảy vô lượng vô biên phiền não khôi phục trở thành vô lượng vô biên trí huệ, đều ở trong một niệm.  Nhất định phải giác!  Nhất định phải minh bạch, hết thảy tình, ái của lục đạo chúng sanh phía trước đều có một nguyên tắc cơ bản tồn tại: tánh thức vô định; nói cách khác ‘tình’ của họ vô định, ‘ái’ của họ vô định.  Ngày nay ‘ái’, ngày mai không ‘ái’, hôm nay có ‘tình’, ngày mai vô ‘tình’, đều chẳng định.

Thế nên bạn nhất định phải biết, người thế gian bất luận nói tình, nói ý, nói ái với bạn, trong lòng bạn nhất định phải hiểu rõ ràng, minh bạch, giác ngộ, đó là gì?  Ðều là tình ý giả dối, đừng cho là thiệt.  Nếu bạn cho là thiệt thì bạn sẽ mắc lầm.  Lầm cái gì?  Cái lầm của sanh tử luân hồi, chẳng phải thiệt.  Nói cho chư vị  biết chỉ có Phật, Bồ Tát mới có ‘chân ái’, ‘chân tình’, vĩnh viễn chẳng biến.  Vì tánh thức của Phật, Bồ Tát là định, còn tánh thức của phàm phu chúng sanh là bất định.  Cho nên cái ‘tình’ của Phật, Bồ Tát thật sự là ‘chân tình’, ‘chân ái’, họ chẳng dùng danh từ tình và ái, các ngài dùng ‘từ’, dùng ‘bi’, từ bi chính là chân tình chân ái, vĩnh viễn chẳng biến đổi, việc này chúng ta phải hiểu rõ.  Chúng ta phải học theo Phật, Bồ Tát, đối với hết thảy chúng sanh thật sự có tình, thật sự thương yêu, vĩnh viễn chẳng thay đổi, trong kinh thường gọi là ‘vô duyên đại từ, đồng thể đại bi’.

Ở đây chúng ta có thể nói thêm vài câu, trong hết thảy kinh điển trong bốn mươi chín năm Phật thường nói, chẳng biết là đã nói bao nhiêu lần, mục đích đều là để nhắc nhở chúng ta.  Năm xưa lúc Phật giảng kinh thuyết pháp, mỗi ngày đều có thính chúng mới đến, Phật rất từ bi, ‘trong nhà Phật chẳng xả [bỏ] một ai’, có một người mới lại chưa nghe những khai thị quan trọng thì Phật đều lập lại thêm lần nữa.  Mê mất tự tánh, tâm tánh chẳng định, tình và ái sanh khởi từ đây đều là tạm thời ngắn ngủi, rất dễ thay đổi, nhất định chẳng phải thiệt.  Chúng ta phải học Phật, tình và ái của Phật đều là chân thật, vĩnh hằng chẳng thay đổi.  Vả lại tình và ái này đều thanh tịnh, mảy trần chẳng nhiễm.  Và bình đẳng, chẳng phải là đối với người này thì thương, đối với người kia thì ghét, là tận hư không, trọn khắp pháp giới.  Ðối với Phật, Bồ Tát kính ái, đối với địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh cũng kính ái, sự kính ái này đều bình đẳng.  Chẳng phải đối với Phật, Bồ Tát thì thêm một phần, đối với súc sanh thì kém một phần, tuyệt chẳng có hiện tượng này.  Tại sao?  ‘Ðại ái’ của các ngài lưu lộ từ tự tánh, là đức năng vốn sẵn có trong chân tâm.

Ðề kinh của kinh Vô Lượng Thọ có ghi ‘Thanh Tịnh Bình Ðẳng Giác’, lòng từ bi, thương yêu rộng lớn của ngài tuyệt đối tương ứng với thanh tịnh, bình đẳng, giác.  Nếu chẳng tương ứng với thanh tịnh, bình đẳng, giác thì đó là tình thức vô định.  Tại sao vậy?  Tâm ý thức làm chủ.  Phàm phu chúng ta dùng tâm ý thức, tâm ý thức chẳng định, chúng ta nhất định phải nhận thức rõ ràng.  Cho nên hết thảy lục đạo chúng sanh chẳng thể thoát ra khỏi sanh tử luân hồi, nguyên nhân chủ yếu là ở chỗ này.  Do đó có thể biết đời này chúng ta niệm Phật muốn cầu sanh tây phương Cực Lạc thế giới, [chúng ta] thường nói phải nhìn thấu suốt, phải buông xuống.  Ðây là việc thứ nhất phải buông xuống, phải buông xuống tình ý giả dối của thế gian, buông xuống triệt để.  Sau khi buông xuống thì nhấc lên, nhấc lên ‘vô duyên đại từ, đồng thể đại bi’ của Phật, Bồ Tát.  ‘Buống xuống được, nhấc lên nổi’.  Phát khởi lòng thương rộng lớn của Phật, Bồ Tát, bạn có thể xả mình vì người, cái gì cũng có thể hy sinh, cái gì cũng có thể buông xả để làm lợi ích cho hết thảy chúng sanh, đó chính là học theo Ðịa Tạng Bồ Tát.  Xin xem tiếp kinh văn:

Dĩ thị đẳng bối, ngô đương ưu niệm.

Vì những kẻ đó mà Ta phải lo nghĩ.

Thế Tôn đang ưu niệm chính là việc này.  Thế Tôn chẳng lo việc khác, lo nghĩ hết thảy tội khổ chúng sanh trong tận hư không, trọn khắp pháp giới, ngài chẳng vì một người nào đó.  Phía trước chúng ta thấy, Ma Gia phu nhân hình như có một chút tình chấp, đặc biệt lưu luyến Diêm Phù Ðề chúng sanh, lúc Ðịa Tạng Bồ Tát nói pháp cho bà thì tâm lượng ấy rộng lớn hơn nhiều, đều là làm khuôn mẫu cho chúng ta xem.  Ma Gia phu nhân làm đúng hay sai?  Ðúng.  Ðúng như thế nào?  Chúng ta giúp đỡ chúng sanh thì bắt đầu từ chỗ gần nhất, không thể nói chẳng lo chỗ gần, đi lo những chỗ ở xa, chẳng có lý này, chẳng hợp lý, chẳng hợp pháp.  Giúp đỡ người nhất định phải bắt đầu từ chỗ gần rồi tới chỗ xa.  Chỗ nào là gần?  Người nhà của bạn là gần nhất, muốn độ chúng sanh hãy độ người nhà trước.  Tại sao độ người nhà không được?  Vì chính mình chẳng làm được hoàn hảo, làm chẳng đúng như pháp, người nhà của bạn chẳng tin tưởng.  Nếu bạn làm đúng như pháp, người nhà sanh tâm cung kính, khâm phục bạn, chịu học theo bạn, chịu nghe lời của bạn.  Thế nên bạn phải làm đúng như pháp, tự mình phải làm ra một hình dáng tốt đẹp cho người ta thấy.  Sau đó làm ra cho thân thích bạn bè, và những người quen biết thấy, dần dần mở rộng phạm vi này.  Ma Gia phu nhân dạy chúng ta cách khéo léo độ chúng sanh, còn Phật, Bồ Tát dạy chúng ta một cách toàn diện: tất cả đều là thiện tri thức, đều vì dạy chúng ta nên mới làm ra những sự thị hiện này, họ biểu diễn cho chúng ta coi.  Nói thật ra, làm thế nào mới có thể phát triển Phật pháp, làm cho hết thảy chúng sanh hoan hỷ tiếp nhận?  Kinh Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện này là ‘kịch bản’ tốt nhất, có thể đem nó lên sân khấu, đem nó diễn thành phim truyện, thành phim điện ảnh, chẳng có ai không thích, không ưa, thiện xảo phương tiện làm lợi ích cho chúng sanh.

Nhưng muốn làm việc này, nói thật ra phải nên hướng về phía này mà phát triển, những người biên kịch, đạo diễn, diễn viên nên đến giảng đường học trước, chúng ta giảng kinh này rõ ràng từ đầu đến cuối, mọi người đều phát tâm làm Ðịa Tạng Bồ Tát, mọi người đều phát tâm tạo dựng sự nghiệp Ðịa Tạng, sau đó phim này chắc chắn sẽ diễn thành công.  Hiện nay cũng có một số phim điện ảnh, phim kịch về Phật Giáo, tôi xem thử [thì thấy] cũng không lý tưởng cho lắm.  Nguyên nhân là gì?  Ðạo diễn, diễn viên chẳng hiểu Phật pháp nên hiệu quả đương nhiên còn rất kém.  Diễn viên, đạo diễn phải thật sự hiểu giáo nghĩa, thâm giải ý thú thì kịch bản của họ, kỹ thuật diễn kịch mới có thể thể hiện rộng lớn trí huệ cao độ, mới có thể đạt đến mức thiện xảo phương tiện.  Chúng ta có tâm này, nguyện này, nhưng duyên chưa đủ.  Ngày nay chẳng có những diễn viên, đạo diễn điện ảnh, truyền hình cùng chúng ta học Phật nên hiện nay chúng ta làm chuyện này không được.  Nếu có một nhóm người như vậy, nhân duyên thành thục rồi thì chúng sanh có phước báo to lớn, chúng sanh toàn thế giới sẽ có phước báo to lớn, toàn bộ kinh Hoa Nghiêm cũng có thể đem lên sân khấu.  Tuy chúng ta chẳng giảng kinh Hoa Nghiêm được bao nhiêu, mới giảng được một chút, các bạn nghe [giảng] cũng được hưởng đạo vị, đều có thể mang lên sân khấu.  Trong đời sống hằng ngày mỗi thứ chúng ta đều có thể làm gương mẫu trong sanh hoạt.  Thế  nên học Phật, Bồ Tát tức là học biểu diễn, chúng ta chẳng diễn trên sân khấu của nghệ sĩ, hiện nay chúng ta diễn trên sân khấu của xã hội.  Phải biết làm thế nào diễn vở kịch này cho hoàn hảo, làm cho những chúng sanh chưa giải thoát xem đến vở kịch này có thể cảm ngộ, có thể cảm động, có thể giác ngộ thì có thể đạt đến mục đích hoằng pháp lợi sanh vậy.

Chúng ta xem thử Phật lo nghĩ những gì?  Ngày nay chúng ta lo nghĩ những gì?  Những gì chúng ta lo âu đều sai, đều là giả.  Chúng ta lo âu cái thân của mình, tánh mạng tài sản, đều là giả chẳng thật.  Thân là vô thường, vật ngoài thân càng chẳng thể được, nhất định phải hiểu đạo lý này, hiểu rõ chân tướng sự thật.  Hết thảy của chư Phật, Bồ Tát đều chân thật, chúng ta phải tin sâu, hết lòng học tập, y giáo phụng hành.  Xem tiếp câu phía sau:

Nhữ ký tất thị vãng nguyện, lũy kiếp trọng thệ, quảng độ tội bối, ngô phục hà lự.

Đời trước ông đã phát nguyện, nhiều kiếp lập trọng thệ, quảng độ những kẻ có tội, thì Ta còn lo gì nữa.

Thế Tôn nghe Địa Tạng Bồ Tát báo cáo cũng vô cùng hoan hỷ, nói ông đã ‘tất thị vãng nguyện’, Địa Tạng Bồ Tát phát nguyện độ chúng sanh chẳng phải ở ngày hôm nay, vô lượng kiếp trước ngài đã phát nguyện này, nhiều đời kiếp thực tiễn nguyện vọng này của ngài, vả lại đã phát nhiều lần.  Giống như chúng ta mỗi ngày đều niệm Tứ Hoằng Thệ Nguyện ‘Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ, phiền não vô lượng thệ nguyện đoạn’, mỗi ngày chúng ta đều ‘niệm’ tứ hoằng thệ nguyện, chứ chẳng ‘phát’ tứ hoằng thệ nguyện, nếu thật sự ‘phát’ được thì còn phải nói nữa ư!  Nếu quả thật đã phát nguyện này thì bạn sẽ chẳng là phàm phu nữa.  Không là phàm phu thì là gì?  Bạn sẽ là Phát Tâm Trụ Bồ Tát.  Chúng ta coi kinh Hoa Nghiêm nói Phát Tâm Trụ Bồ Tát là địa vị gì?  Địa vị Sơ Trụ trong Viên Giáo, bạn đã siêu việt lục đạo, siêu việt thập pháp giới, tứ hoằng thệ nguyện đã phát thật sự bèn siêu việt.  Không những chẳng còn trong lục đạo, bạn cũng chẳng còn trong thập pháp giới, vừa phát liền siêu việt.  Mỗi ngày đều niệm thì không được, ‘niệm’ thì không thể siêu việt, phải chân thật ‘phát’.  Chúng ta quan sát cặn kẽ, tứ hoằng thệ nguyện có phải là Địa Tạng Bổn Nguyện hay không?  Phải, chẳng sai khác gì cả.  Hôm nay tại cung trời Đao Lợi, Địa Tạng Bồ Tát cũng phát nguyện nữa, tiếp nhận lời phó chúc của Thế Tôn giúp đỡ những chúng sanh khổ nạn này.  Thế Tôn ở nơi đây nói lời này là tán thán Ngài.  ‘Lũy kiếp trùng thệ’, chữ này đọc [như âm của chữ] ‘trọng’ cũng được, đọc âm chữ ‘trùng’ cũng được, đều được hết.  ‘Trọng’ là lời nguyện của ngài rất nặng.

‘Trùng’ là Ngài đã phát nguyện nhiều lần rồi, hai cách đọc chữ này, hai ý nghĩa này đều hợp lý.  Phật thấy họ sốt sắng gánh vác thì cũng rất an ủi, chẳng phải âu lo nữa, chẳng phải bận tâm nữa.

Thật ra hoàn toàn là biểu diễn cho chúng ta coi, chư vị phải hiểu, Thích Ca Mâu Ni Phật cũng hóa thân làm Địa Tạng Bồ Tát.  Tại sao không dùng thân Phật để xuất hiện trong thế gian này, tiếp tục thuyết pháp cho chúng ta?  Không thể được, những chúng sanh này tâm thức chẳng định.  Chư vị phải hiểu, nếu thấy Phật trụ thế lâu dài, chúng sanh sẽ giải đãi, làm biếng: ‘Không sao đâu, hôm nay không nghe kinh, ngày mai Ngài cũng sẽ giảng nữa, năm nay không học, hai năm sau học cũng chẳng trễ, lúc nào Ngài cũng giảng mà!’.  Nếu nói Phật sẽ lập tức diệt độ thì họ sẽ khẩn trương, ‘phải học mau lên, không học thì sẽ chẳng còn cơ hội nữa’, họ sẽ khẩn trương lên.  Thế nên Phật thị hiện diệt độ, thị hiện trụ tại thế gian đều là thiện xảo phương tiện, chúng ta phải hiểu ý nghĩa này.  Việc cầu học không phải cũng vậy hay sao.

Lúc trước tôi học ở Đài Trung, trong một thời gian ngắn, tôi đạt được lợi ích nhiều hơn phần đông những bạn học khác.  Vì nguyên nhân gì?  Chúng tôi là người ở phương xa đến, đến Đài Loan làm khách, thời gian rất ngắn, phải học mau mau, học hết lòng, không thôi thì đến một ngày nào đó sẽ mất cơ hội.  Những người cư trú ở thị xã Đài Trung chẳng có quan niệm này, thầy Lý thường trú ở thị xã Đài Trung, năm nay không thành thì vẫn còn năm tới, năm tới không thành thì cũng còn năm tới nữa.  Có tâm ấy thì vĩnh viễn sẽ làm biếng, mãi đến lúc thầy Lý vãng sanh cũng vẫn chưa học thành tựu.  Thầy Lý cư trú ở Đài Trung suốt ba mươi tám năm, tâm lý này chẳng giống nhau.  Chúng tôi đến làm khách, tâm trạng này rất khẩn trương, phải nắm chắc lấy cơ hội này, biết rằng một khi mất cơ hội thì chẳng dễ gì kiếm lại được.  Phật, Bồ Tát xuất hiện ở thế gian này, dùng thân phận của Phật để xuất hiện cũng là ý nghĩa này, chẳng thể trụ lâu dài.  Thị hiện trụ thế lâu dài thì chúng sanh trở về sau sẽ lười biếng, lời giáo học của Phật sẽ chẳng linh nữa, thế nên không thể thị hiện trụ lâu dài.

Xin xem tiếp đoạn kinh văn kế tiếp, Thế Tôn và Địa Tạng Bồ Tát một bên hỏi, một bên trả lời, kế bên lại thêm một vị Bồ Tát vào.

Thuyết thị ngữ thời, hội trung hữu nhất Bồ Tát Ma Ha Tát

Nói đến đây, trong hội có một vị Bồ Tát Ma Ha Tát.

Những Bồ Tát này đều là Đẳng Giác Bồ Tát, đều chẳng phải là Bồ Tát thường.

Danh Định Tự Tại Vương

Hiệu là Định Tự Tại Vương.

Từ danh hiệu này của Ngài chúng ta liền biết, Ngài được đại tự tại trong thiền định.  Trong Phật pháp thường nói: ‘Na Già thường tại định, vô hữu bất định thời’ [6].

Bạch Phật ngôn: ‘Thế Tôn, Địa Tạng Bồ Tát lũy kiếp dĩ lai các phát hà nguyện, kim mông Thế Tôn ân cần tán thán duy nguyện Thế Tôn lược nhi thuyết chi.’

Bạch đức Phật: ‘Bạch Thế Tôn, Địa Tạng Bồ Tát từ nhiều kiếp đến nay đã phát nguyện gì mà nay được Thế Tôn ân cần khen ngợi như thế?  Cúi mong đức Thế Tôn lược nói cho’.

Trong đại hội, Thế Tôn tán thán Địa Tạng Bồ Tát, Định Tự Tại Vương Bồ Tát đâu phải là không biết, đã biết rõ nhưng vẫn hỏi.  Vì ngài biết hội kinh này khi kết tập kinh tạng nhất định sẽ truyền lâu xa, những người chẳng tham gia hội này thấy thái độ đức Phật tán thán Địa Tạng Bồ Tát, chắc không khỏi hoài nghi.  Bồ Tát rốt cuộc có những nguyện gì, có đức hạnh gì mà được Thế Tôn tán thán như vậy?  Nhưng những người không tham gia pháp hội phải đi đâu hỏi?  Sau này dù cho có những câu hỏi này nhưng cũng chẳng có chỗ để hỏi.  Định Tự Tại Vương Bồ Tát từ bi, ngài biết được, thay thế chúng ta đặt câu hỏi để Thế Tôn nói rõ cho chúng ta biết, đoạn trừ nghi hoặc của chúng ta.  Thế nên cách đặt câu hỏi này trong kinh Phật gọi là ‘câu hỏi đem lại lợi lạc cho hữu tình’, đáng để chúng ta học tập.  Có khi chúng ta chẳng có nghi hoặc nhưng nghĩ đến người khác có thể nghi hoặc thì cũng phải đặt câu hỏi.  Đặc biệt là ngày nay chúng ta lợi dụng phương pháp khoa học, giảng kinh, diễn giảng gì cũng thâu hình, thâu âm rồi phổ biến lưu thông, cho nên nghe kinh không nhất định phải ở hiện trường, có thể phía ngoài hiện trường người nghe càng nhiều hơn, chẳng thể thống kê.  Nếu họ có nghi hoặc thì đi đâu để hỏi?  Thế nên đặt những câu hỏi nhằm đem lại lợi ích cho hữu tình, chúng ta nên học theo.  Xin xem kinh:

Nhĩ thời Thế Tôn cáo Định Tự Tại Vương Bồ Tát: ‘Đế thính, đế thính, thiện tư niệm chi, Ngô đương vị nhữ phân biệt giải thuyết’.

Bấy giờ Thế Tôn bảo Định Tự Tại Vương Bồ Tát: ‘Lắng nghe, lắng nghe, hãy khéo suy xét, Ta sẽ vì ông mà giải bày rõ ràng’.

Bồ Tát đặt câu hỏi, Thế Tôn nhất định sẽ giải đáp, vả lại Thế Tôn biết câu trả lời này có thể đem lại lợi ích cho rất nhiều, vô lượng vô biên đại chúng chẳng có mặt lúc ấy.  Trước lúc khai thị, những câu này giới khuyến Bồ Tát, nói thật ra chính là giới khuyến đại chúng hiện tiền chúng ta, phải ‘lắng nghe, lắng nghe, hãy khéo suy xét’, tám chữ này rất quan trọng.  Chúng ta nghe có hiểu ý của Phật không then chốt ở tám chữ này.  Trong bài khai kinh kệ nói: ‘Nguyện giải Như Lai chân thật nghĩa’, nếu chẳng có tám chữ này thì bạn sẽ rất khó giải nghĩa chân thật của Như Lai.  ‘Đế’ là gì? ‘Đế’ là chân thành, dùng tâm chân thành để nghe.  Chân thành là gì?  Rời khỏi vọng tưởng, phân biệt, chấp trước thì gọi là ‘đế thính’;  nói cách khác, lúc nghe pháp trong tâm chẳng được phép có vọng tưởng, được vậy thì gọi là ‘lắng nghe’.  ‘Thiện tư niệm chi’, ‘thiện tư’ tức là ‘chỗ ngộ’, sau khi nghe xong sẽ có chỗ ngộ, nhà Phật chúng ta gọi là khai ngộ, nghe pháp khai ngộ.  Lắng nghe mới có thể khai ngộ, ngộ xong phải ‘niệm chi’, niệm là hạnh, ‘niệm tư tại tư’ (niệm ở đâu thì chú tâm ở đó).  Trong tám chữ này đều bao gồm cả tín, nguyện, hạnh, đều gói gọn trong ấy.  Đây là tâm niệm, thái độ nhất định phải có khi nghe pháp, nếu chẳng có tâm này, chẳng có thái độ này thì giống như câu: ‘nghe mà cũng như chưa nghe, nghe mà cũng như chẳng nghe’.  Nghe pháp như vậy cũng giống như chẳng nghe gì cả, vậy thì uổng lắm.

Nãi vãng quá khứ vô lượng a tăng kỳ na do tha bất khả thuyết kiếp

Vào thuở quá khứ, vô lượng a-tăng-kỳ na-do-tha số kiếp chẳng thể nghĩ bàn

Đây là nói về chuyện xưa của Địa Tạng Bồ Tát.  Giới thiệu vị Bồ Tát này cho chúng ta, cho chúng ta nhận biết, hiểu rõ Địa Tạng Bồ Tát, sau đó chúng ta mới tin tưởng ngài, mới chịu học theo ngài.  Phải nói rõ nhân duyên tu học đời quá khứ của Địa Tạng Bồ Tát, sự tích của Địa Tạng Bồ Tát trong vô lượng kiếp vĩnh viễn nói chẳng hết, chỉ có thể nêu ra vài chuyện trong những sự tích này.  Đây là do Thích Ca Mâu Ni Phật nói cho chúng ta, một chuyện lúc Địa Tạng Bồ Tát vừa phát tâm, thời gian lúc ấy quá lâu rồi, chúng ta thường nói đây là con số thiên văn.

Nhĩ thời hữu Phật.

Lúc đó có đức Phật.

Ở thời đại đó, trong những kiếp xa xôi, thời đó có một vị Phật.

Hiệu Nhất Thiết Trí Thành Tựu Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Hiệu là Nhất Thiết Trí Thành Tựu Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Mười hiệu này trong nhà Phật là thông hiệu của chư Phật, mười hiệu này hiển thị trí huệ đức năng trên quả địa Phật.  Khi thành Phật, chứng quả thì trí huệ, đức năng vô lượng vô biên, và xưng tán, tuyên thuyết chẳng hết.  Phật đem vô lượng vô biên trí huệ, đức năng trên quả địa quy nạp thành mười loại, rồi dùng mười đức hiệu này để biểu thị.  Mười đức hiệu này chúng ta nói sơ lược qua:

‘Nhất thiết trí thành tựu’ là biệt hiệu của Phật, hết thảy trí huệ thành tựu rồi.  Từ ‘Như Lai’ trở về sau cả mười hiệu này là ‘thông hiệu’, mỗi vị Phật đều có mười danh hiệu này, đây là việc chư vị đồng tu phải ghi nhớ, phải hiểu, đừng hiểu lầm.  Vì có nhiều người nói [và hỏi] các vị Phật, ‘vị Phật nào lớn nhất?  Như Lai Phật lớn nhất’.  Đây là một quan niệm sai lầm, coi tiểu thuyết nhiều quá rồi, Tôn Ngộ Không chẳng nhảy ra khỏi bàn tay của Như Lai Phật.  Mỗi vị Phật đều xưng là Như Lai, cho nên Như Lai là thông hiệu.

‘Như Lai’ phải giải thích làm sao?  Một cách nói đơn giản nhất, Phật hiện nay giống như cổ Phật tái lai nên gọi là Như Lai.  Phật Phật đạo đồng, khi thành Phật rồi thì cái gì cũng bình đẳng, hoàn toàn tương đồng.  Bồ Tát không thể giống Bồ Tát, chẳng hoàn toàn giống nhau, Phật cùng Phật là hoàn toàn giống nhau, thế nên mới nói Phật ngày nay giống như cổ Phật tái lai.  Nếu nói ý nghĩa đó sâu thêm, trong kinh Kim Cang có một cách giải thích ‘Như Lai giả, chư pháp như nghĩa’, cách giải thích này rất hay.  ‘Chư pháp như nghĩa’, chữ ‘như’ này là gì?  Như chính là chân như bản tánh.  Tất cả hết thảy chư pháp và chân như bản tánh đều tương ứng, đó gọi là ‘Như Lai’, ý nghĩa này nói vô cùng viên mãn, nếu từ mặt Lý mà nói.  Nói như cổ Phật tái lai là nói từ mặt Sự.  Còn rất nhiều ý nghĩa khác, chúng ta lược bớt.

‘Ứng Cúng’, cúng là cúng dường.  Trong hết thảy mọi người, Phật là ‘người thiện’ chân thật cứu cánh viên mãn, người có đại trí huệ cứu cánh viên mãn, đức năng to lớn, là gương tốt cho chúng ta, thầy tốt của chúng ta, đáng được chúng ta cúng dường; chúng ta cúng dường ngài sẽ có phước báo.  Thế nên mới gọi là Ứng Cứng, đáng được người, trời cúng dường.

Thông hiệu thứ ba, ‘Chánh Biến Tri’.  ‘Tri’ là chẳng có gì không biết, ‘Biến’ là phổ biến, chẳng có gì ngài chẳng biết.  Không những biến tri mà còn thật sự biến tri, những gì ngài biết chẳng có gì sai lầm.  Hết thảy kinh pháp do Phật nói đâu thể nào có sai lầm!  Nếu có sai lầm đại khái đều vì người sau này dùng ý tứ riêng của mình sửa đổi nên mới sanh ra sai lầm.  Thế nên kinh điển lưu thông đến ngày hôm nay, được phiên dịch trải qua mấy ngàn năm, thời cổ những bản viết tay khó tránh khỏi có chữ sai, bỏ sót câu văn, ngày nay chúng ta làm những việc này đều biết, là một chuyện rất khó khăn.  Dù phát hiện có chữ nào đó trong kinh có thể chẳng đúng lắm, là chữ sai, chỗ nào đó có vấn đề, cũng tuyệt đối không thể sửa đổi.  Nếu bạn phát hiện ra, có thể ghi chú ở kế bên, dùng cách ghi chú ở ven bìa, nguyên văn không thể sửa đổi.  Đây là vì đạo lý gì?  Tôi cảm thấy chỗ này không đúng nên tôi sửa một chút, bạn cảm thấy chỗ kia không đúng nên sửa một chút, vậy thì thôi rồi, thêm vài chục năm nữa cuốn kinh này hoàn toàn bị sửa đổi mất hết, chẳng thể đọc tụng được nữa.  Thế nên cho dù có sai lầm cũng không thể sửa đổi, chỉ có thể chú thích thêm.  Những đại đức từ xưa đến nay đã làm được rất hoàn hảo, họ phát hiện có chữ sai, chữ đó có thể là chữ gì hoặc chữ đó đáng lý phải là chữ gì, họ chú thích ở kế bên, chẳng sửa đổi nguyên văn, giữ bộ mặt sẵn có lúc ban đầu vĩnh viễn được lưu truyền mãi mãi, làm lợi ích cho hàng hậu học.  Đây là một cách làm có trách nhiệm đối với lịch sử, đối với chúng sanh, chúng ta phải học theo, đây là Chánh Biến Tri.

Một số tín đồ tôn giáo khen ngợi Thượng Đế là toàn năng, toàn tri, Chánh Biến Tri chính là toàn năng, toàn tri.  Nói thật ra, Thượng Đế thật chẳng phải toàn năng, toàn tri, Phật mới toàn năng toàn tri.  Phật là ai?  Phật là chân tâm bản tánh của chúng ta, chân tâm bản tánh của chúng ta mới thật sự là toàn năng, toàn tri.  Vì tận hư không, trọn khắp pháp giới đều là tâm tánh biến hiện mà ra, tâm tánh làm gì không biết được, làm gì không nổi?  Thế nên đây là một cách nói rất hợp lý.  Nếu tâm tánh của chúng ta hoàn toàn thấu lộ ra rồi, hoàn toàn hiển thị ra, đối với quá khứ, vị lai của cả vũ trụ đích thật đều là chánh biến tri, đây chẳng phải giả.

‘Minh, Hạnh Túc’, ‘Túc’ là viên mãn, ‘Minh’ tượng trưng trí huệ, ‘Hạnh’ tượng trưng cho tu học, hai thứ đều viên mãn, đây là dùng danh từ Phật pháp để nói, tánh tu viên mãn.  Minh là Bát Nhã trí huệ của tự tánh, là tánh đức; Hạnh là tu đức.  Lúc còn chưa viên mãn thì gọi là Bồ Tát, đã viên mãn thì gọi là Phật.  Cũng có thể xem như Giải Hạnh viên mãn, ‘Minh’ là Giải, ‘Hạnh’ là tu hành, Giải Hạnh viên mãn.

‘Thiện Thệ’, trong Đại Thừa kinh điển thường gọi là ‘Vô Trụ Niết Bàn’.  Vô Trụ Niết Bàn đích thật là Thiện Thệ, tại sao?  ‘Thiện’ này chẳng trụ sanh tử, chẳng trụ Niết Bàn, vậy mới gọi là Thiện.  Phàm phu trụ sanh tử, chẳng thiện, chết rồi lại đầu thai, chẳng thiện.  Nhị Thừa trụ Niết Bàn cũng chẳng thiện, đọa cái hố Vô Vi, chẳng khởi tác dụng.  Phật cùng đại Bồ Tát là thiện.  Sanh tử, Niết Bàn hai bên đều chẳng trụ, như vậy mới thật sự là Thiện Thệ.  Chẳng trụ Niết Bàn nên ngài tùy loại hóa thân, nên dùng thân gì để độ thì ngài hiện thân ấy.  Chẳng trụ sanh tử, tuy độ chúng sanh, tuy hóa hiện nhiều thân độ hết thảy chúng sanh, mảy trần chẳng nhiễm, trong tâm sạch sẽ, làm mà không làm, không làm mà làm.  Cũng nói không những chẳng chấp trước trên sự tướng, trong tâm cũng chẳng lưu dấu vết, đây tức là chẳng trụ sanh tử.  Chư vị phải biết, chẳng trụ sanh tử chính là trụ Niết Bàn, chẳng trụ Niết Bàn chính là trụ sanh tử.  Ngài cả hai bên đều chẳng trụ, hai bên viên dung, chân chánh gọi là ‘đại Niết Bàn’, đây là đại Niết Bàn trên quả địa Như Lai; Đại Niết Bàn là cả hai bên sanh tử và Niết Bàn đều chẳng trụ.

‘Thế Gian Giải’.  ‘Thế Gian’, quy mô nhỏ là lục đạo, mở rộng ra là thập pháp giới, mở rộng thêm nữa thế và xuất thế gian là tận hư không, trọn khắp pháp giới, Phật đều biết, chẳng có một việc gì ngài chẳng hiểu, thế nên ngài được xưng là Thế Gian Giải.  ‘Vô Thượng Sĩ’, ‘Sĩ’ người hiện nay gọi là phần tử trí thức, thời xưa gọi là người đọc sách, đọc sách hiểu lý.  Trong số người đọc sách, ngài cao nhất, trên nhất, chẳng có ai cao hơn, trên ngài; ngày nay nói trong số phần tử trí thức, ngài đạt đến đỉnh chót vót, chẳng có ai cao hơn ngài.

‘Điều Ngự Trượng Phu’, danh hiệu này được kiến lập từ sự thiện xảo phương tiện trong việc giáo hóa chúng sanh của ngài.  Phật có trí huệ, có năng lực, có sự khéo léo, có thể điều phục tâm chúng sanh, có thể giúp chúng sanh đoạn ác tu thiện, đây là giống như giá ngự (cầm cương điều khiển).  ‘Trượng phu’ là đại trượng phu, cùng nghĩa với ‘anh hùng’, hoàn toàn tương đồng.  Những gì người khác làm không nổi, ngài có thể làm được, như vậy xưng là đại trượng phu.  Ngài là Điều Ngự Trượng Phu, có thể điều phục chúng sanh trong chín pháp giới, giúp họ giác ngộ, giúp họ đoạn phiền não, liễu sanh tử, xuất Tam giới, thành Phật, làm Tổ; Phật có năng lực này.  Đây là được kiến lập trên đức năng.

‘Thiên Nhân Sư’, Sư là sư phạm (làm bậc thầy, làm gương mẫu).  Hết thảy chư thiên, lấy một chữ Thiên, một chữ Nhân nghĩa là bao gồm hết cả lục đạo.  Ngài là mô phạm, biểu suất (có nghĩa là nêu gương, dẫn đầu) cho hết thảy chúng sanh trong lục đạo, hết thảy chúng hữu tình trong thập pháp giới.

‘Phật’, chữ này mọi người đều hiểu rõ, đều minh bạch, là chữ dịch âm từ Phạn văn Ấn Độ.  Ý nghĩa là giác ngộ, hàm ý tự giác, giác tha.  Tự mình giác ngộ, giúp người khác giác ngộ, giác hạnh viên mãn.  Nếu chỉ cầu tự giác, chẳng giúp người khác là Tiểu Thừa, A La Hán.  Tự mình giác ngộ và giúp người khác giác ngộ là Bồ Tát.  Nếu tự giác, giác tha đều viên mãn thì được gọi là Phật, đây chính là ý nghĩa của chữ Phật.  Làm thế nào mới kể là viên mãn?  Bồ Tát ‘tự giác’ có thể viên mãn rồi, ‘giác tha’ thì vẫn còn rất nhiều chúng sanh chưa được độ, vậy thì làm sao viên mãn?  Chư vị phải biết, sự viên mãn này, Bồ Tát giác tha vẫn là giúp cho chính mình giác ngộ.  Chúng ta thường nói thầy giáo dạy học trò, giáo học giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ.  Đến lúc nào mới viên mãn?  Trong quá trình giáo học, tuy thời gian chúng ta tự tu học chẳng dài, trong vòng mười mấy năm, mấy mươi năm, nhất định có sự thể hội.  Chúng ta được một số học sinh, một số đến cật vấn, giúp đỡ cho chúng ta rất nhiều.  Có một số vấn đề trọng đại, người ta không hỏi thì tự mình chẳng bao giờ nghĩ đến; một khi họ vừa hỏi, chúng ta mới nghĩ đến.  Coi tự mình có trí huệ hay không?  Có trí huệ có thể trả lời, không có trí huệ thì phải mau đi tìm tài liệu, đi thỉnh giáo người khác, đây là giúp đỡ chính mình, do đó giáo học đích thật giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ.

Bồ Tát phải đoạn Kiến Tư phiền não, Trần Sa phiền não, phải phá Căn bản Vô minh, nếu chẳng nhờ hết thảy chúng sanh giúp đỡ, họ cũng chẳng có biện pháp chi.  Do đó trong quá trình dạy học, hết thảy chúng sanh giúp họ khai mở trí huệ, đoạn phiền não, thì họ mới chứng được Vô Thượng Bồ Đề, như vậy gọi là viên mãn.  Họ viên mãn xong thì mới có thể viên mãn độ hết thảy chúng sanh.  Chúng sanh được độ phải nhờ duyên phận, Phật chẳng độ người vô duyên.  ‘Viên mãn’ trên sự độ chúng sanh, họ có khả năng độ Đẳng Giác chúng sanh thì gọi là viên mãn, họ thành Phật rồi.  Bồ Tát chẳng thể gọi là viên mãn, tại sao?  Đẳng Giác Bồ Tát có thể độ Thập Địa trở xuống, chẳng thể độ Đẳng Giác, vậy thì độ chúng sanh chẳng viên mãn, hóa tha chẳng viên mãn.  Sau khi thành Phật, ngài có năng lực dạy hết thảy chúng sanh, như vậy mới gọi là viên mãn, ‘giác hạnh viên mãn’ là có ý nghĩa này.  Có khả năng độ Đẳng Giác chúng sanh thì chẳng có gì không thể độ, độ chúng sanh viên mãn là như vậy.

‘Thế Tôn’, đầy đủ mười đức hiệu kể trên thì được xưng là Thế Tôn.  Người trong thế gian, xuất thế gian đều tôn trọng ngài, tôn kính ngài, ngài có trí huệ và đức năng này nên được xưng là Thế Tôn.  Giống như ngày nay chúng ta xưng người ta một cách khách sáo: ‘Vị tôn kính’.  Tôn nghĩa là tôn kính, thêm chữ Thế Tôn tức là hết thảy chúng sanh đều tôn kính, ý này rất rộng, rất sâu.

Kỳ Phật thọ mạng lục vạn kiếp.

Thọ mạng của đức Phật đó là sáu vạn kiếp

          Trong thời đại đó, thọ mạng của Phật dài, thọ mạng của người ta cũng dài, thọ mạng của Phật thị hiện nhất định giống đại chúng.  Như Thích Ca Mâu Ni Phật ba ngàn năm trước xuất hiện ở thế gian này của chúng ta, lão nhân gia thị hiện bảy mươi chín tuổi viên tịch, chúng ta quen nói Phật trụ thế tám mươi năm, trên thực tế là bảy mươi chín tuổi.  Nói đến tám mươi tuổi thì người Trung Quốc gọi là “hư tuế” [7], tám mươi năm! Phật trụ thế tám mươi năm, giảng kinh thuyết pháp bốn mươi chín năm.  Đây là đức Phật Thích Ca Mâu Ni thị hiện, rất giống với thọ mạng của con người ở thế gian này.  Do đó có thể biết ‘Nhất thiết trí thành tựu Như Lai’, phước báo của chúng sanh thời đó lớn, thọ mạng dài.  Từ đây có thể thấy được phước báo của chúng sanh ở địa phương đó, thời đại đó rât lớn.

          Vị xuất gia thời, vi tiểu quốc vương, dữ nhất lân quốc vương vi hữu, đồng hành thập thiện, nhiêu ích chúng sanh.

          Khi chưa xuất gia, ngài là vua một nước nhỏ và kết bạn với vua một nước lân cận, cùng thực hành thập thiện, làm lợi ích cho chúng sanh.

          Đây là kể chuyện của Nhất Thiết Trí Thành Tựu Như Lai, lúc ngài chưa xuất gia, thời gian này quá lâu xưa rồi.  Ngài đã thành Phật, thành Phật phần lớn gọi là tu hành, từ phàm phu tu thành Phật trải qua một thời gian rất dài.  Đây là nói về chuyện nhiều kiếp trước lúc ngài còn tu nhân, ngài là vua một nước nhỏ, làm bạn với vua nước lân cận, hai vị vua nước lân cận này vô cùng hiếm có, đều là vua rất tốt.  ‘Đồng hành thập thiện, nhiêu ích chúng sanh’, họ dùng phương pháp gì để trị quốc?  Dùng ‘thập thiện nghiệp đạo’ để trị quốc, đây là việc vô cùng hiếm có.  ‘Nhiêu ích’, ích là lợi ích.  Vua luôn hy vọng nhân dân có đời sống tốt đẹp, nhân dân chân thật được lợi ích, hạnh phúc, mỹ mãn.  Nhiêu nghĩa là phong nhiêu, không những đem lại lợi ích mà còn đạt đến rất phong phú, bất luận là trên đời sống vật chất, đời sống tinh thần, đều đạt đến mức đầy đủ, vậy mới gọi là nhiêu ích.  Có thể thấy tâm của vua thiện phi thường.

          Kỳ lân quốc nội, sở hữu nhân dân, đa tạo chúng ác.

          Nhân dân trong nước lân cận đa số tạo nhiều việc ác.

         Lân quốc là những quốc gia cùng ranh giới với họ, nhân dân những nước đó tạo tác ác nghiệp.  Hai nước của họ thì tốt hơn, hai vùng đất đó tốt, vua dạy dân rất đàng hoàng.  Quốc vương đời xưa, theo tiêu chuẩn của nhà Nho có ba điều: ‘Tác chi quân’, quân là quân chủ, là người lãnh đạo quốc gia.  ‘Tác chi thân’, người lãnh đạo là cha mẹ của dân chúng, phải dùng tâm cha mẹ thương yêu con cái để đối đãi với dân chúng trong nước, thương dân như con, phải bảo hộ họ, dưỡng dục họ.  Còn phải: ‘tác chi sư’, là thầy giáo của nhân dân, gương tốt của nhân dân, khuôn mẫu của nhân dân.  Vậy mới là một người lãnh đạo tốt nhất, làm cho nhân dân toàn quốc thật sự hưởng được phước báo.  Hưởng phước của ai?  Phước của người lãnh đạo, họ dạy được tốt.  Cũng là nói về ‘sư phạm’, lúc trước chỗ vua ở gọi là Kinh Sư; ‘Kinh’ nghĩa là lớn, ‘sư’ là sư phạm, thành thị mô phạm.  Thành thị cả nước lấy Kinh Sư làm gương mẫu, mô phạm nên gọi là ‘sư’.  Danh xưng thật tốt, dụng ý thật hay, thế nên chúng ta đừng coi thường việc chuyên chế của đế vương đời xưa, nếu bạn coi thường thì là sai lầm.  Ngày nay chúng ta đến hoàng cung ở Bắc Kinh coi thử, chỗ làm việc trong hoàng cung gọi là đại điện, là nơi vua hội họp, tập hội làm việc, gọi là gì?  Thái Hòa Điện.  Phía sau Thái Hòa Điện là Trung Hòa Điện, sau đó là Bảo Hòa Điện, ba ngôi kiến trúc chính này: Thái Hòa, Trung Hòa, Bảo Hòa.  Họ dùng tâm gì?  Dùng tâm thái gì để đối với nhân dân toàn nước?  Dùng ‘Hòa’, trên dưới hòa mục, cả nước một luồng hòa khí, vậy thì quốc gia này đâu có lý nào chẳng hưng vượng được?  Nhà Phật chúng ta nói về Lục Hòa, họ nói về Tam Hòa.  Thánh nhân thế gian và xuất thế gian đều dạy ‘hòa là quý nhất’, chúng ta phải hiểu ý này, thế nên đây thật sự là thánh chủ, hiền vương.  Nếu người nối ngôi, con cháu đời sau, đều tuân thủ theo nguyên tắc này thì triều đại này sẽ vĩnh viễn truyền mãi đến đời sau, đâu thể diệt vong được?  Người đời sau không tuân thủ, làm xằng làm bậy, quốc gia này bèn diệt vong, chánh quyền bị lật đổ, chúng ta nhất định phải hiểu đạo lý này.  Hai vị vua này tốt nên quốc gia của họ cũng tốt.  Nhưng những quốc gia lân cận thì không vậy, nhân dân tạo ác, tạo tội thì đương nhiên phải chịu quả báo.

          Hôm nay đã hết giờ, chúng ta tạm ngưng ở đây.

Trong quá trình chuyển ngữ chắc không tránh khỏi thiếu sót, xin các bậc thức giả hoan hỷ phủ chính cho. 

Xin thành thật cám ơn.                                                       

Một nhóm Diệu Âm cư sĩ, 4 tháng 9-2006

[1] Bạch y (avadata-vasana): Nghĩa là áo quần màu trắng. Do cổ Ấn Độ coi màu trắng là đáng quý nhất nên người tại gia trừ khi quá nghèo khổ thường thích mặc y phục sắc trắng. Vì thế, chữ “bạch y” về sau được dùng như một từ ngữ thông dụng chỉ người tại gia, trái với “truy y” (áo thâm) là người xuất gia.

[2]  Strastosphere: tầng Bình Lưu, tầng thứ nhì trong khí quyển,  từ 7-17Km đến 50 Km, nhiệt độ tăng theo cùng với độ cao.

[3] Như Lai thị chân ngữ giả, thật ngữ giả, như ngữ giả

[4] Khương là những sắc dân phi Hán tộc sống trong vùng Tứ Xuyên, Tây Tạng. Những người không phải Hán tộc, đến từ phía Tây Trung Quốc nhất loạt được gọi là Hồ nhân (hoặc Phiên nhân) dù họ là người Ả Rập, Ba Tư, A Phú Hãn hay Ấn Độ v.v… Di là những sắc dân không thuộc Hán tộc ở phía Đông Trung Hoa (như Nhật, Đại Hàn), Địch là những sắc dân du mục ở phía Bắc Trung Quốc (như Mông Cổ, Mãn Châu, Inut…).

[5] Có hai cách hiểu chữ Giới Lạp

  1. Giới Lạp chính là Pháp Lạp, tức thời gian sau khi xuống tóc xuất gia, tính từ lúc thọ giới Sa Di.
  2. Giới Lạp khác Pháp Lạp, chỉ tính thời gian từ lúc chính thức được thọ Cụ Túc Giới.

[6] Na Già là dịch âm tiếng Phạn chữ nāga, có nghĩa là rồng, voi, vô tội, bất lai. Đây là thuật ngữ để xưng tụng Phật hoặc bậc A La Hán. Sách Huyền Ứng Âm Nghĩa chép: “Kinh Khổng Tước gọi Phật là Na Già, do Phật chẳng còn sanh tử”. Đại Trí Độ Luận quyển ba chép: “Ma Ha là lớn, Na là Vô, Già là Tội. A La Hán đã đoạn các phiền não, nên gọi là Đại Vô Tội”. Thiền Định của đức Phật cũng gọi là Na Già.

[7] Hư tuế là phương pháp tính tuổi truyền thống ở Trung Quốc: lúc trẻ con vừa sanh ra bèn tính một tuổi, sau đó mỗi tiết xuân lại thêm một tuổi.  Cho nên cách tính này luôn luôn nhiều hơn cách tính thông thường 1 hoặc 2 tuổi  (cách tính thường là giáp năm mới tăng 1 tuổi)  Trẻ con vừa sanh ra bèn tính 1 tuổi vì tính luôn thời gian em bé nằm trong thai mẹ gần tròn một năm. Khi trẻ sanh ra vào khoảng tháng Chạp âm lịch, đến tiết xuân năm sau bèn tính thành 2 tuổi, do đó hư tuế sẽ lớn hơn cách tính thông thường đến 2 tuổi.

Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.