Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

ÐỊA TẠNG BỒ TÁT BỔN NGUYỆN KINH GIẢNG KÝ

Tập 7 (Số 14-12-07)

          Xin mở kinh.  Lần trước giảng tới đoạn đức Phật dạy cô Bà La Môn dùng pháp môn Niệm Phật sẽ biết được mẹ mình sau khi chết thần hồn thác sanh vào cõi nào.  Chúng ta biết Phật pháp Ðại Thừa, Tiểu Thừa, pháp môn vô lượng vô biên, môn nào cũng có thể thành Vô Thượng Ðạo.  Tại sao Phật chẳng dạy cô dùng phương pháp Tham Thiền, Trì Giới, Trì Chú?  Tại sao không dạy những pháp môn này mà lại đặc biệt dạy pháp môn Niệm Phật, chúng ta nhất định phải hiểu hàm ý ở đây.  Bất cứ pháp môn nào cũng có thể đạt được Ðịnh, đều có thể khai Huệ, tổng cương lãnh của việc tu học Phật pháp tức là Ðịnh, Huệ, chư vị nhất định phải hiểu việc này.  Cho nên vô lượng pháp môn đều là phương pháp tu Ðịnh, Huệ, đều là cánh cửa để khai trí huệ, phương pháp và cửa vào chẳng giống nhau, nhưng mục tiêu đạt được hoàn toàn giống nhau.  Trong ấy đích thật có sự sai khác dựa trên căn tánh khó hay dễ, duy chỉ có pháp môn Niệm Phật là bao trùm cả ba căn, bất luận là lợi căn [hay] độn căn, hơn nữa thành tựu nhanh chóng, ổn thỏa, thích đáng, dễ dàng, thế nên Phật dùng pháp môn này để dạy cô.  Cô quả thật rất giỏi, nếu nói theo pháp môn của chúng ta, cô thuộc về người hạng căn tánh thượng đẳng; vì cô chỉ niệm một ngày một đêm liền đạt được nhất tâm bất loạn, được Ðịnh.  Trong Ðịnh, cảnh giới hiện tiền, chỉ có cô mới có thể nhìn thấy.  Nếu Phật nói cho cô biết mẹ cô đã sanh lên trời Ðao Lợi được ba ngày rồi, chưa chắc cô có thể tin tưởng, vì chẳng chắc thật.  Cô nghĩ có lẽ Phật thấy cô rất đáng thương nên an ủi mình, chưa chắc đã là thiệt.  Nhưng Phật chẳng nói dối, nhất định phải là thiệt.  Lòng tin này chẳng chắc thật.  Cô đích thân đến địa ngục để xem, thế thì chẳng nói lời nào được nữa.

          Hơn nữa mẹ cô làm sao có thể sanh lên trời?  Nhất định chẳng do Phật lực, hôm qua [tôi] đã nói với chư vị.  Nhờ tăng thượng duyên của mẹ giúp cho cô dũng mãnh tinh tấn, nội trong một ngày có thể thành tựu Niệm Phật Tam Muội, mẹ cô nhờ công đức này nên được sanh lên trời.  Nếu cô chẳng thể dũng mãnh tinh tấn, chẳng đạt được Niệm Phật Tam Muội, thì mẹ cô chẳng được phước lớn như vậy.  Phước của mẹ cô lớn hay nhỏ là dựa trên công phu tu trì của cô sâu hay cạn.  Lý luận này mới hợp tình, hợp lý, hợp pháp.  Thế nên thời xưa khi con cháu đỗ đạt vinh hiển, cha mẹ và tổ tiên của người ấy đều được triều đình phong thưởng; tại sao triều đình phải phong thưởng cha mẹ, tổ tiên?  Chúng ta thấy trong lịch sử khi triều đình phong quan, tuy cha mẹ của người ấy chẳng còn tại thế, đã qua đời, đều phong tước vị cho cha mẹ bằng với tước vị của người ấy.  Tại sao?  Người ấy là hiếu tử, thành tựu của ông ấy là nhờ cha mẹ dạy dỗ, ông ấy vì muốn báo ân cha mẹ nên mới dũng mãnh tinh tấn; cha mẹ, ông bà đối với ông ấy đều là tăng thượng duyên thiện, là đạo lý như vậy nên triều đình mới phong thưởng.  Ði khắp nơi trong các cõi nước của chư Phật, hư không pháp giới, đạo lý này đều được hết thảy chúng sanh khẳng định, chân lý vĩnh hằng chẳng thay đổi chính là ở chỗ này.  Ðọc kinh này xong chúng ta mới biết làm sao siêu độ, siêu độ sẽ được lợi ích gì, đây là thật chẳng giả.

          Kinh Ðịa Tạng là kinh căn bản của Ðại Thừa Phật pháp, thật ra phải giảng kỹ nhưng thời gian có hạn, chúng tôi chỉ giảng hai mươi buổi, bốn mươi giờ, chẳng thể nói kỹ.  Tương lai chúng tôi nhất định sẽ tìm thời gian giảng kỹ hơn, đây là pháp căn bản cho sự tu học của chúng ta, nhất định không được coi thường.  Chúng ta xem tiếp kinh văn:

          Thời Bà La Môn nữ tầm lễ Phật dĩ, tức quy kỳ xá, dĩ ức mẫu cố.

          Lúc đó Thánh Nữ Bà La Môn lễ Phật xong liền trở về nhà.  Vì nhớ mẹ.

Câu này quan trọng.  Tại sao có thể y giáo phụng hành?  Tại sao có thể ‘ngồi ngay ngắn niệm’, ngồi ngay ngắn tức là dùng tâm chân thành, nhất tâm niệm Phật.  ‘Vì nhớ mẹ’ tức là phát tâm Bồ Ðề, tương ứng với nguyên tắc của kinh Vô Lượng Thọ: ‘Phát Bồ Ðề Tâm, Nhất hướng chuyên niệm’.

Ðoan tọa niệm Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai.  Kinh nhất nhật nhất dạ.

          Ngồi ngay thẳng niệm Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai.  Trải qua một ngày một đêm.

          Cô không ngủ, không nghỉ!  Trong Tịnh Ðộ Thánh Hiền Lục chúng ta thấy pháp sư Oánh Kha đời Tống, truyện ký ghi vị tỳ kheo phá giới này đã làm rất nhiều ác nghiệp.  Ưu điểm của ông là tự mình biết đã tạo ác quá nhiều nên tương lai nhất định sẽ đọa địa ngục.  Ðã biết rồi tại sao còn tạo nghiệp?  Vì tập khí quá nặng, khi gặp ác duyên chẳng thể tự kiềm chế.  Nhưng ông biết tương lai đọa địa ngục rất dễ sợ, nghĩ đến quả báo này nên ông rất sợ.  Ông hỏi những đồng tham đạo hữu, họ cho ông một cuốn Vãng Sanh Truyện.  Coi xong ông rất cảm động, đóng cửa lại niệm Phật, không ngủ, không ăn, cũng không uống nước, niệm suốt ba ngày ba đêm, A Di Ðà Phật đến.  Kinh Di Ðà nói nếu [niệm] một ngày, nếu hai ngày, nếu ba ngày đến bảy ngày, chúng ta thấy được, đây là thật chẳng giả.  Chúng ta niệm Phật hết bảy ngày, niệm hết bảy lần bảy ngày nhưng cũng không thấy Phật, đó là vì chẳng đúng như pháp, vừa niệm vừa khởi vọng tưởng, tạp niệm, cho nên chẳng có cảm ứng.  Niệm Phật đúng cách thì một tạp niệm cũng chẳng có.  Giống pháp sư Oánh Kha vì sợ đọa địa ngục, cứu mạng khẩn cấp nên chẳng khởi một tạp niệm, đây là người có căn tánh hạng trung bình.  Thánh Nữ Bà La Môn là người thượng căn, một ngày một đêm liền thành tựu, pháp sư Oánh Kha ba ngày ba đêm thành tựu, chí thành khẩn thiết cảm động Phật đến ứng.  Ðây là một ngày một đêm đạt được Niệm Phật Tam Muội, được Sự Nhất Tâm Bất Loạn.

Hốt kiến tự thân đáo nhất hải biên, kỳ thủy dũng phất, đa chư ác thú tận phục thiết thân, phi tẩu hải thượng đông tây trì trục.  Kiến chư nam tử nữ nhân bá thiên vạn số, xuất một hải trung, bị chư ác thú tranh thủ thực đạm.

Bỗng thấy thân mình đến một bờ biển, nước biển sôi sùng sục, có nhiều thú dữ toàn thân bằng sắt bay nhảy trên biển, chạy qua chạy lại đuổi nhau, lại thấy nhiều người trai và gái, số nhiều đến trăm ngàn muôn, thoạt chìm thoạt nổi trong biển, bị các thú dữ tranh giành ăn nuốt.

          Ðây là cảnh giới trong Ðịnh, cô thấy được hiện tượng địa ngục, thấy những người này đang thọ tội, chúng ta xem đoạn kinh tiếp theo:

          Hựu kiến Dạ Xoa.

          Lại thấy Dạ Xoa

          Dạ Xoa là ác quỷ trong địa ngục.

          Kỳ hình các dị

          Hình dáng khác nhau

          Hình dáng kỳ quái

          Hoặc đa thủ đa nhãn, đa túc đa đầu, khẩu nha ngoại xuất, lợi nhận như kiếm.

          Hoặc nhiều tay nhiều mắt, nhiều chân nhiều đầu, răng mọc chìa ra ngoài, bén nhọn như gươm

          ‘Lợi nhận như kiếm’ [ý] nói răng của họ bén nhọn.

          Khu chư ác nhân sử cận ác thú.

          Lùa những tội nhân đến gần thú dữ

          Thú dữ trong địa ngục rất nhiều, đều đang ăn thịt tội nhân.  Ðương nhiên tội nhân nhìn thấy thú dữ thì chạy!  Những quỷ Dạ Xoa xua đuổi, bắt những tội nhân này lại cho thú dữ ăn thịt, không phải chỉ xua đuổi mà thôi.

          Phục tự bác quặc

          Lại tự chụp bắt.

          ‘Bác quắc’ là đánh bằng roi, lôi kéo rồi liệng.

          Ðầu túc tương tựu, kỳ hình vạn loại, bất cảm cửu thị.

          Túm quắp đầu và chân lại, hình trạng muôn thứ, chẳng dám nhìn lâu.

          ‘Chẳng dám nhìn lâu’, không nhẫn tâm nhìn thấy cảnh ấy, nhìn thấy trong lòng tê tái.  Ðây là cảnh tượng những người tạo ác nghiệp trong thế gian này, đọa địa ngục chịu khổ.  Thánh Nữ Bà La Môn đích thân nhìn thấy.  Ðoạn kinh kế tiếp:

Thời Bà La Môn nữ dĩ niệm Phật lực cố tự nhiên vô cụ.

          Lúc ấy Thánh nữ Bà La Môn nhờ sức niệm Phật nên tự nhiên không sợ hãi.

          Cô nhìn thấy hiện tượng địa ngục, nhờ sức Niệm Phật Tam Muội giúp cô nhìn cảnh tượng này mà chẳng sợ hãi.  Nhưng khởi lòng thương xót, chẳng nhẫn tâm nhìn thấy trạng thái bi thảm này.  Vào đến địa ngục, trong ấy cũng có người đến tiếp chuyện với cô.

          Hữu nhất quỷ vương, danh viết Vô Ðộc, khể thủ lai nghinh, bạch Thánh Nữ viết Thiện Tai Bồ Tát hà duyên lai thử.

          Có một quỷ vương tên là Vô Ðộc, cúi đầu nghinh đón, hỏi Thánh Nữ rằng: ‘Lành thay, Bồ Tát! Duyên gì đến đây?’

          Cảnh giới địa ngục chỉ có hai hạng người thấy được: một là tội nhân đến đó để chịu tội; hai là Bồ Tát đến đó độ hóa chúng sanh, chỉ có hai hạng người này.  Trừ hai hạng này ra, địa ngục ở ngay trước mặt bạn cũng chẳng nhìn thấy.  Lúc trước lão cư sĩ Châu Kính Trụ kể cho tôi nghe một câu chuyện, chuyện này có thật, cụ viết trong sách của cụ.  Nhân vật chính trong câu chuyện này là cha vợ của cụ, tức là ông Chương Thái Diệm.  Lúc ông Chương còn sống đã từng làm chức phán quan cho Ðông Nhạc đại đế, dùng cách nói hiện nay tức là Bí Thư trưởng, địa vị rất cao.  Ở Trung Quốc có năm ngục, năm ngục này có đại quỷ vương, quản trị năm sáu tỉnh, địa vị của ông Chương chỉ thấp hơn Diêm La Vương.  Diêm La vương cũng giống như ông vua cai trị toàn quốc, còn ông giống như một Chư Hầu, cai trị một vùng, lớn hơn một tỉnh.  Ông Chương là một người học Phật, biết hình phạt trong địa ngục rất thê thảm, vô cùng tàn khốc.  Ông có tâm nhân từ, một ngày nọ đề nghị với Ðông Nhạc đại đế xin phế trừ hình phạt Bào Lạc trong địa ngục; Bào Lạc là gì?  Ðốt cột sắt cho nóng đỏ lên rồi bắt tội nhân ôm cột, vô cùng tàn khốc, chúng ta gọi là hình phạt chẳng nhân đạo; hy vọng Ðông Nhạc đại đế có lòng nhân từ, phế bỏ hình phạt tàn khốc này.  Ðông Nhạc đại đế chẳng nói gì hết chỉ sai hai tiểu quỷ dẫn ông Chương đi đến chỗ xử phạt để xem.  Ông Chương liền đi theo hai tiểu quỷ này, đại khái là đi hết một đoạn đường rồi hai tiểu quỷ này nói với ông: ‘Tới rồi, chỗ xử phạt ở đó kìa’.  Ông nhìn về phía ấy nhưng không thấy gì cả, lúc đó ông mới vỡ lẽ, tự nhiên hiểu được.  Kinh Phật nói đây là cảnh giới do nghiệp lực biến hiện ra, chẳng phải do Diêm La vương thiết lập, Diêm La vương chẳng có cách gì phế trừ, là do nghiệp lực biến hiện ra, từ đây mới hiểu đạo lý giảng trong kinh Phật.

          Những cảnh giới trong địa ngục này, những dụng cụ tra tấn, dạ xoa, ác quỷ đều là hình tướng do ác nghiệp của mình biến hiện tạo nên, cũng như nằm mộng vậy; Tướng có nhưng Thể không, Sự có nhưng Lý không, cảnh tượng sai khác muôn vàn, đều là do ý niệm vọng tưởng biến hiện ra.  Thế nên Phật dạy rất hay: ‘Hết thảy pháp từ tâm tưởng sanh’, tam ác đạo cũng từ tâm tưởng sanh, tại sao trong tâm có ác niệm!  Chúng ta hiểu được đạo lý này rồi mới biết.  Nếu chẳng muốn nhìn thấy tam ác đạo thì nhất định phải dứt trừ những ác niệm trong tâm, không những không thể nói lời ác, thân không thể tạo ác nghiệp, ý niệm cũng không được khởi lên.  Hết thảy pháp từ tâm tưởng sanh, hết thảy cảnh giới đều là ‘pháp’, chẳng có một chuyện gì chẳng từ tâm tưởng sanh.

          Người có định lực nhìn thấy, Thánh nữ Bà La Môn vừa chứng Niệm Phật Tam Muội vì cô nhớ mẹ nên cảnh giới này liền hiện ra.  Vô Ðộc quỷ vương đến tiếp đón cô.  Khể thủ là lễ bái, tiếp đón cô rất lễ phép.  Hỏi cô: “Lành thay Bồ Tát’, Thiện Tai là xưng tán, hiếm có dịp được Bồ Tát quang lâm đến địa ngục, chẳng biết vì nguyên nhân gì mà ngài đến đây?”  Xin xem tiếp kinh văn:

          Thời Bà La Môn nữ vấn quỷ vương viết, thử thị hà xứ.  Vô Ðộc đáp viết thử thị Ðại Thiết Vi Sơn, Tây diện đệ nhất trùng hải.

          Lúc đó Thánh nữ Bà La Môn hỏi quỷ vương: ‘Ðây này là nơi nào’?  Vô Ðộc trả lời: ‘Ðây là tầng biển thứ nhất ở phía tây núi Ðại Thiết Vi’.

          Ðây là cảnh giới cô nhìn thấy.  ‘Núi Ðại Thiết Vi’ rốt cuộc là ở chỗ nào?  Trong kinh Phật nói ở chính giữa Tứ Ðại Bộ Châu là núi Tu Di, núi Tu Di rốt cuộc là ở đâu?  Bảy tầng núi, tám tầng biển, bảy tầng núi ở đâu?  Trong kinh nói biển nước mặn, chúng ta hiện nay thấy nước biển có vị mặn.  Cảnh Phật nói chẳng phải cảnh giới của phàm phu chúng ta, phàm phu chúng ta chẳng nhìn thấy.  Chuyện này có thật không?  Chắc chắn là thật.  Tại sao chúng ta chẳng nhìn thấy?  Chúng ta chẳng có khả năng đột phá các tầng lớp không gian, nếu chúng ta có công phu định lực, có thể nhìn thấy không gian bốn chiều, năm chiều, sáu chiều, thì những chân tướng sự thật này sẽ phơi bày trước mắt.  Ðịa ngục này, tầng biển thứ nhất ở phía tây của núi Thiết Vi, Thánh nữ có thể nhìn thấy trong Ðịnh, giới hạn trong Ðịnh đã bị đột phá.  Chúng ta biết ở Trung Quốc vào đời Ðường, Trí Giả đại sư đọc kinh Pháp Hoa nhập định, trong Ðịnh ngài nhìn thấy núi Linh Thứu, thấy đức Phật Thích Ca Mâu Ni giảng kinh Pháp Hoa ở núi Linh Thứu, ngài còn ở lại nghe một buổi.  Ðây là nói trong lúc nhập định, ngài đã siêu việt thời gian.  Trí Giả đại sư cách Phật Thích Ca khoảng một ngàn bảy trăm năm, đây là nói ngài có thể quay trở về quá khứ; tự mình ở núi Thiên Thai, ngồi ở đó như như chẳng động, ngài có thể nhìn thấy núi Linh Thứu ở Ấn Ðộ, đây là siêu việt không gian.  Do đó chỉ cần có công phu định lực, trong Ðịnh chẳng còn phân biệt, chấp trước nữa thì có thể đột phá thời gian và không gian.  Thời quá khứ và hiện nay có nhiều người tu Ðịnh đều có khả năng này, đây là việc chúng ta có thể tin được.  Huống chi là Thánh nữ Bà La Môn chân thành, khẩn thiết, dũng mãnh tinh tấn, đạt được Niệm Phật Tam Muội, thế nên cô nhìn thấy cảnh giới địa ngục.  Hãy xem đoạn kinh tiếp theo:

          Thánh nữ vấn viết, ngã văn Thiết Vi chi nội địa ngục tại trung, thị sự thật phủ.

          Thánh nữ hỏi: ‘Tôi nghe trong núi Thiết Vi có địa ngục, việc ấy có thật không?’

          ‘Tôi nghe’ nghĩa là lúc trước thường đọc kinh, nghe kinh, nghe trong kinh Phật nói biển lớn trong núi Thiết Vi có đại địa ngục.  Hỏi rằng: đó phải là sự thật hay chăng?  Từ đây có thể thấy tuy thường nghe kinh, thường đọc kinh, cũng tin tưởng lời Phật giảng, nhưng vẫn đánh dấu hỏi như thường.  Nếu không hoài nghi, đến chỗ này còn hỏi quỷ vương làm gì!  Chẳng cần hỏi họ.  Do đó mới biết khó xây dựng lòng tin dường nào, trong kinh điển Ðại Thừa, đại kinh đại luận như Hoa Nghiêm, Ðại Trí Ðộ Luận, đức Phật nhiều lần nói rõ lòng tin rất khó được, ‘lòng tin là mẹ của công đức, cội nguồn của đạo [1]’.  Cội nguồn của Bồ Tát tu hành chứng đạo là ở tại lòng tin, lòng tin chân chánh được xây dựng, chẳng lay động thì tu hành chứng quả đâu cần ba đại a-tăng-kỳ kiếp?  Chẳng cần lâu như vậy.  Lòng tin của phàm phu chúng ta được gọi là ‘đạo tâm như sương móc’ (lộ thủy đạo tâm), rất dễ bị lay động, một cơn gió thổi nhẹ thì lòng tin bay mất tiêu rồi, vậy thì còn thành tựu gì nữa!  Trong kinh chúng ta đọc được rất nhiều, chúng ta cũng thấy rất nhiều, từ xưa đến nay thế pháp, Phật pháp, bất hiếu cha mẹ, bội sư phản đạo, nếu có thành tựu thì đều lọt vào Ma đạo, sau này chẳng thành tựu trong Phật đạo, mà là [thành tựu trong] Ma đạo, chúng ta tin hay không?  Những thứ này đều do Phật nói trong kinh, là do Ma nhiếp trì.  Chánh pháp nhất định là từ hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng, y theo lời dạy mà tu học đúng như lý, như pháp thì mới thành tựu.  Ðây là chuyện chúng ta không thể không hiểu khi đọc kinh luận Ðại Thừa, không thể không lắng lòng thể hội.  Hãy xem tiếp câu trả lời của Vô Ðộc:

          Vô Ðộc đáp viết, thật hữu địa ngục.

          Vô Ðộc trả lời: ‘Ðịa ngục có thật’

          Trả lời một cách vô cùng khẳng định, đích thật là có địa ngục.  Nói thật ra trong sáu nẻo, những nẻo khác tạo ác ít, cơ hội tạo ác ít, còn trong thế gian này cơ hội tạo ác quá nhiều.  Thiên nhân thì hiếu thiện hiếu đức, chỉ có A Tu La tập khí chưa đoạn vẫn còn tiếp tục tạo ác.  Chúng sanh trong ác đạo, chúng ta gọi là cõi súc sanh, cõi ngạ quỷ, cõi địa ngục chỉ có thọ tội, hoàn toàn không có cơ hội tạo ác.  Cơ hội tạo ác trong cõi ngạ quỷ và cõi súc sanh đều ít, rắn độc thú dữ tâm ác độc nhưng nó cũng sát hại chúng sanh khác loại, sự sát hại rất hạn chế, trong một đời nó có thể sát hại bao nhiêu sanh mạng?  Chúng ta coi những thú dữ như sư tử, hổ, khi chúng nó ăn no rồi, những con thú nhỏ ở kế bên đi tới đi lui, hình như nó không nhìn thấy vậy.  Chúng ta xem thấy trong chương trình ‘Ðộng vật kỳ quan’ trên TV, cả đời nó sát sanh cũng ít, đâu có bằng con người!  Con người giết hại sanh mạng không nhất định là vì miếng ăn, thế nên rất dễ tạo nghiệp.  Người giết người không phải vì muốn ăn thịt người, ngày nay  những võ khí nguyên tử, một trái bom nguyên tử dội xuống có thể giết hại mấy trăm ngàn người, mấy triệu người, bạn nói tội nghiệp này nặng bao nhiêu!  Họ làm sao không đọa địa ngục cho được!  Ðịa ngục từ đâu đến?  Từ ác nghiệp biến hiện nên, tuyệt chẳng phải do Phật tạo ra, cũng chẳng phải do quỷ thần tạo ra, mà do nghiệp lực của mình biến hiện ra.  Chúng ta xem kinh văn:

          Thánh nữ vấn viết ngã kim vân hà đắc đáo ngục sở.

          Thánh nữ hỏi: ‘Tôi làm thế nào đến được địa ngục này?’

          Thánh nữ hỏi Vô Ðộc quỷ vương: ‘Tại sao tôi lại đến chỗ này?’  Chính cô cũng cảm thấy rất kinh ngạc.

          Vô Ðộc đáp viết, nhược phi oai thần tức tu nghiệp lực, phi thử nhị sự chung bất năng đáo.

          Vô Ðộc trả lời: ‘Nếu không phải oai thần thì phải là nghiệp lực.  Ngoài hai sức này ra thì trọn chẳng thể đến được’

          Vậy là đã nói rõ, giống như lúc nảy chúng ta nói về chuyện của ông Chương Thái Diệm, ông Chương chẳng tạo nghiệp địa ngục và cũng chẳng phải Bồ Tát nên địa ngục ngay trước mặt nhưng ông không nhìn thấy.  Nếu chẳng phải hai nguyên nhân này, đi vô địa ngục cũng chẳng thấy gì hết.  Nhất định phải có hai điều kiện: thứ nhất là ‘oai thần’, đó là Bồ Tát đến địa ngục để độ hóa chúng sanh, họ có thể thấy; thứ hai là ‘nghiệp lực’, tức là tội nghiệp đọa địa ngục, quả báo hiện ra.

          Thánh nữ hựu vấn, thử thủy hà duyên nhi nãi dũng phất, đa chư tội nhân cập dĩ ác thú.

          Thánh nữ lại hỏi: ‘Do duyên gì mà nước biển sôi sùng sục, lại có nhiều tội nhân và thú dữ như vậy?’

          Cô hỏi Vô Ðộc tại sao nước ấy lại sôi như vậy?  ‘Dũng phất’ là như nước sôi vậy, nước này rất nóng, chẳng lạnh, tình trạng biển này như vậy.  Nhiều tội nhân và thú dữ trong nước này, do duyên cớ gì?  Kinh Lăng Nghiêm nói về tình hình này vô cùng tường tận, nói rõ hiện tượng và đạo lý cho chúng ta, đó là ‘tạo Thập Tập Nhân [2], thọ Lục Giao Báo [3]’, ‘tập’ tức là tập khí, bạn tạo mười thứ tập khí chẳng thiện, tức là tập khí của mười ác nghiệp, thượng phẩm thập ác thì bạn sẽ cảm thọ lục giao báo trong địa ngục.

          Vô Ðộc đáp viết, thử thị Diêm Phù Ðề tạo ác chúng sanh tân tử chi giả.

          Vô Ðộc trả lời: ‘Ðó là những chúng sanh tạo ác trong Diêm Phù Ðề vừa chết’

          Ðây là tình huống mà Thánh nữ thấy, ‘Diêm Phù Ðề’ tức là địa cầu chúng ta, chẳng phải là chỗ khác, là bổn địa chúng ta.  Những người này vừa chết.

          Kinh tứ thập cửu nhật hậu, vô nhân kế tự, vi tác công đức, cứu bạt khổ nạn, sanh thời hựu vô thiện nhân, đương cứ bổn nghiệp sở cảm địa ngục, tự nhiên tiên độ thử hải.

          Quá bốn mươi chín ngày không có người kế tự làm công đức để cứu vớt khổ nạn, lúc sanh tiền lại chẳng làm việc thiện, nên cứ theo bổn nghiệp mà chiêu cảm quả địa ngục, tự nhiên phải đến biển này trước.

          Chúng ta đọc câu này: ‘tạo ác chúng sanh’, đọc đến những câu kinh này lông tóc dựng đứng, đây chẳng phải nói người khác mà là nói đến chính chúng ta.  Chúng ta khởi tâm động niệm, ngôn ngữ tạo tác, giống như kinh Ðịa Tạng có nói: ‘chẳng có gì không phải tội’.  Hiện nay mỗi ngày đều tạo, mỗi tâm niệm đều tạo, tạo không ngừng, khi hơi thở này không trở lại được nữa thì làm sao đây?  Ðúng như trong Phật pháp có nói: ‘Chúng sanh sợ quả, Bồ Tát sợ nhân’, Bồ Tát có tâm cảnh giác, chúng sanh ngu si, ngu muội, lúc quả báo chưa hiện tiền thì không màng đến, không tin tưởng, đến lúc quả báo xảy ra thì hối hận không kịp, thế nên [đức Phật] mới dạy chúng ta dứt ác, tu thiện.  Cái gì là thiện?  Phật dạy cho chúng ta pháp căn bản, ba thứ tịnh nghiệp ‘Tam Phước’ nói trong ‘Quán kinh’.  Phật dạy rõ ràng, minh bạch như vậy, ba thứ này là ‘chánh nhân Tịnh nghiệp của ba đời chư Phật’, đó chính là Thiện.  Trái ngược với Thiện tức là Ác.  Trong một đời chúng ta, những gì mình làm tương ứng với Thiện hay tương phản với Thiện, tương phản tức là Ác; nếu tương ứng với Thiện thì sẽ được phước báo trong cõi trời, người, nếu tương ứng với Ác thì sẽ chịu quả báo trong ba đường ác, trong địa ngục.

          Trong Tịnh Nghiệp Tam Phước [4], điều thứ nhất là phước nhân thiên, nếu bạn làm được thì đời sau sẽ sanh đến cõi người, cõi trời hưởng phước; nếu làm không được thì coi tội nghiệp của bạn nặng hay nhẹ mà đi thọ báo trong ba đường ác.  Ba đường ác là: ngạ quỷ, súc sanh, địa ngục, coi bạn tạo ác nhẹ hay nặng. 

Ðiều thứ hai là phước Tiểu Thừa, nếu bạn làm được tương ứng, y giáo phụng hành, quả báo nhất định sẽ ở cõi trời, hưởng phước trời.  Nếu tu hành có công phu, chứng đến Sơ Quả, Nhị Quả, Tam Quả thì sẽ sanh đến Ngũ Bất Hoàn Thiên cõi trời Tịnh Cư để hưởng phước.  Nếu trái ngược thì nhất định sẽ sanh vào địa ngục, ác quỷ thọ báo, chẳng có súc sanh.  Trong cõi người có súc sanh, quả báo của súc sanh thì nhẹ hơn, còn địa ngục và ngạ quỷ thì quả báo nặng hơn, tại sao vậy?  Phước của điều thứ hai lớn hơn phước của điều thứ nhất, cho nên nếu bạn tu được thì phước sẽ lớn, nếu trái ngược thì đọa lạc cũng khổ hơn, cùng một đạo lý.

Ðiều thứ ba là phước báo Ðại Thừa, nếu bạn y giáo phụng hành thì bạn sẽ làm Bồ Tát, siêu phàm nhập thánh; nếu trái ngược thì nhất định sẽ đọa địa ngục, chẳng đọa ngạ quỷ, súc sanh, nhất định đọa địa ngục.

Chúng ta phải hiểu rõ ràng, minh bạch, hiểu cả Lý lẫn Sự, rồi sau đó mình mới tin sâu chẳng nghi.  Trong đời sống hằng ngày phải luyện công phu ở nơi nào?  Nơi khởi tâm động niệm, niệm niệm đều tương ứng với Phật, niệm niệm đều tương ứng với Ðạo, Ðạo là gì?  Ðạo là chân như tự tánh, tương ứng với tánh đức, đời này chúng ta hy vọng vãng sanh mới có thể đạt được, làm sao có thể làm ác hoài được!  Ðời người ngắn ngủi, đau khổ, đặc biệt là thời đại ngày nay, cả thế giới động loạn, tai biến vô thường, nhất định phải giác ngộ hết thảy sự việc trên thế gian đều như mộng, như huyễn, một thứ gì cũng chẳng đạt được, đây là sự thật.

Gần đây chúng ta thấy kinh tế Ðông Nam Á suy thoái, bao nhiêu người có tiền có của, lúc bình thường đều là những người hiển hách ghê gớm, [một thời gian sau thì] nghe người ta nói họ tự sát rồi.  Tại sao lại tự sát?  Bị phá sản?  Trong kinh Phật dạy: ‘Tài là vật chung của năm nhà’ [5], chúng ta hiểu rồi, không tiêm nhiễm mảy may, một lòng hướng về đạo, được vậy thì chúng ta mới được cứu.  Trong kinh Phật nói: ‘tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ’ là ngũ dục, là năm cội gốc của địa ngục; nếu bạn tham luyến chẳng xả, thì bạn sẽ có phần tham dự vào cảnh giới địa ngục giảng trong kinh Ðịa Tạng này.  Những cảnh giới mà Thánh nữ thấy ở đó là những chúng sanh tạo ác nghiệp trên địa cầu của chúng ta, bạn hãy xem chúng sanh tạo ác nghiệp nhiều hay ít!  Ở đây chẳng nói người tin Phật mới đọa địa ngục, người không tin Phật thì sẽ chẳng đọa địa ngục, chẳng có việc này.  Nếu nói người không tin Phật sẽ không đọa địa ngục, vậy thì chúng ta đừng tin Phật nữa; người không tin Phật vẫn đọa địa ngục như thường, bất luận là bạn tin hay không tin.  Bạn tu thiện thì nhất định sẽ sanh lên trời, tạo ác thì nhất định sẽ đọa lạc, đây là đạo lý nhất định, bất kể là bạn tin hay không tin.

‘Những người mới chết, sau bốn mươi chín ngày’, chẳng có con cháu vun bồi phước cho họ.  Ðạo lý và phương pháp cúng thất cho người mất đều phát xuất từ kinh Ðịa Tạng.  Trong kinh Phật đã nói lúc người ta chết rồi nhưng chưa đi đầu thai, đây là thân Trung Ấm.  Thân Trung Ấm mỗi bảy ngày phải trải qua một lần ‘biến dịch’ sanh tử, họ rất khổ, cho nên mỗi bảy ngày nên làm một lễ siêu độ nhằm giảm bớt nỗi đau khổ của họ, tu phước cho họ.  ‘Lúc còn sanh tiền chẳng trồng thiện nhân’, chẳng làm việc thiện gì cả.  ‘Nên cứ theo bổn nghiệp mà chiêu cảm quả địa ngục, tự nhiên phải đến biển này trước’.  ‘Tự nhiên’ nghĩa là không có bất cứ ai cưỡng bức họ.  Ðịa ngục chẳng do người ta tạo dựng, cũng chẳng do Diêm La Vương thiết lập, tự nhiên khi nghiệp lực hiện tiền thì mới có hiện tượng này.  Chúng ta xem tiếp đoạn kinh tiếp theo:

 

Hải đông thập vạn do tuần hựu hữu nhất hải, kỳ khổ bội thử, bỉ hải chi đông hựu hữu nhất hải, kỳ khổ phục bội.

Phía đông mười vạn do tuần của biển này còn có một biển, những sự khổ ở đó gấp bội biển này.  Phía đông của biển đó lại có một biển, sự khổ ở đó lại gấp bội lên.

Càng vô trong thì tội nghiệp càng nặng thêm, sự khổ gia tăng gấp mấy lần những gì bạn thấy ở đây.  Hiện nay những cảnh bạn nhìn thấy là tầng biển thứ nhất, tội nghiệp còn nhẹ, tội cực nặng bạn chưa thấy.

Tam nghiệp ác nhân chi sở chiêu cảm, cộng hiệu nghiệp hải, kỳ xứ thị dã.

Do ác nhân của ba nghiệp chiêu cảm nên, gọi chung là biển nghiệp, chính là chỗ này.

Cảnh bạn nhìn thấy trong kinh Phật gọi là ‘biển nghiệp’, biển nghiệp là biển khổ.  Ba nghiệp là thân, ngữ, ý tạo tác ác nghiệp nên bị những quả báo này.  Ðịa ngục là như vậy, mười pháp giới cũng như vậy, hiện tượng này đều do tự tâm biến hiện.  Kinh Hoa Nghiêm nói về một nguyên tắc chung, cương lãnh chung là ‘duy tâm hiện, duy thức biến’, duy tâm hiện trong ấy chẳng có Thức, chẳng có Thức nghĩa là chẳng có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước.  Chư vị nên biết vọng tưởng là A Lại Da, chấp trước là Mạt Na, phân biệt là ý thức thứ sáu.  Nếu chẳng dùng tám thức, năm mươi mốt tâm sở thì đó chính là ‘duy tâm hiện’, cảnh giới duy tâm hiện, trong kinh Phật gọi đó là ‘Nhất Chân pháp giới’.  Nếu bạn rơi vào vọng tưởng, phân biệt, chấp trước thì sẽ khởi biến hóa trong Nhất Chân pháp giới, duy thức biến, tùy theo nghiệp lực của bạn.  Nghiệp lực chính là vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, biến hiện ra thập pháp giới.  Thập chẳng phải là một con số, chư vị phải hiểu, ‘thập’ tiêu biểu cho vô lượng.  Vọng tưởng, phân biệt, chấp trước của mỗi người chẳng giống nhau, pháp giới biến hiện của mỗi người chẳng giống nhau, thế nên pháp giới vô lượng vô biên.  Nếu rơi vào tham, sân, si, mạn thì những cảnh giới biến hiện ra chính là biển nghiệp nói ở đây, Thánh nữ Bà La Môn đích thân nhìn thấy biển nghiệp này.  Xin xem tiếp kinh văn:

          Thánh nữ hựu vấn quỷ vương Vô Ðộc viết, địa ngục hà tại.

          Thánh nữ lại hỏi quỷ vương Vô Ðộc: ‘Ðịa ngục ở đâu?’.

          Cô hỏi: ‘Ðịa ngục ở đâu?’

 

          Vô Ðộc đáp viết, tam hải chi nội, thị đại địa ngục.

          Vô Ðộc trả lời: ‘Trong ba biển đều là đại địa ngục’.

          Biển nghiệp mà bạn nhìn thấy hôm nay chính là địa ngục.

 

Kỳ số bá thiên, các các sai biệt.

Số nhiều trăm ngàn, mỗi ngục đều khác nhau.

Có địa ngục lớn, lại còn địa ngục nhỏ phụ thuộc.

Sở vị đại giả, cụ hữu thập bát.

Những địa ngục lớn tổng cộng có mười tám.

Ðây là như người thế gian chúng ta nói đến mười tám tầng địa ngục.  ‘Mười tám’ địa ngục là nói đến những địa ngục lớn.

Thứ hữu ngũ bá, khổ độc vô lượng.  Thứ hữu thiên bá, diệc vô lượng khổ.

Bậc kế đó có năm trăm, vô lượng sự khổ độc.  Bậc kế nữa có đến trăm ngàn, cũng có vô lượng sự khổ.

Ðại địa ngục trong kinh nói có tám ngục lạnh, tám ngục nóng.  Trong kinh Phật nói đại địa ngục đều ở phía dưới núi Thiết Vi.  Chúng ta coi kinh tiếp:

Thánh nữ hựu vấn đại quỷ vương viết, ngã mẫu tử lai vị cửu, bất tri hồn thần đương chí hà thú.

Thánh nữ lại hỏi đại quỷ vương: ‘Mẹ tôi mới chết chưa lâu, không biết thần hồn của bà đã đi đến cõi nào?’

Cô đến hỏi thăm chuyện của mình.  Cô nói với quỷ vương Vô Ðộc rằng mẹ cô vừa mất không lâu, không biết hiện nay thần hồn của bà ở nơi đâu?  Người thế gian chúng ta gọi [thần hồn] là ‘linh hồn’.

Quỷ vương vấn thánh nữ viết, Bồ Tát chi mẫu tại sanh tập hà hành nghiệp.

Quỷ vương hỏi Thánh Nữ: ‘Mẹ của Bồ Tát lúc còn sống thường làm những nghiệp gì?’

Hỏi cô: ‘Mẹ cô lúc còn sống làm nghề gì?’  Hỏi làm nghề gì thì biết nghiệp của bà tạo là gì, thiện hay chẳng thiện, đại khái có thể phán đoán sau khi chết đi thì bà sẽ sanh đến cõi nào.

Thánh nữ đáp viết, ngã mẫu tà kiến, cơ hủy Tam Bảo.

Thánh nữ trả lời: ‘Mẹ tôi tà kiến, khinh chê hủy báng Tam Bảo’

Tri kiến chẳng chánh, đây là chánh và tà.  Chánh tri chánh kiến là gì, chúng ta phải rõ ràng, minh bạch.  Nói thật ra, tri kiến của lục đạo phàm phu đều chẳng chánh, đây là điều chúng ta phải biết.  Nếu chúng ta có chánh tri chánh kiến thì làm sao lại sanh đến lục đạo!  Ngoài lục đạo là Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật; Thanh Văn là Chánh giác, Bồ Tát là Chánh Ðẳng Chánh Giác.  Quỷ vương hỏi Thánh nữ, xưng cô là Bồ Tát, rằng: ‘Mẹ của Bồ Tát, lúc còn sống làm nghề gì?’  Thánh nữ nói mẹ cô ‘tà kiến’.  Tà và chánh đều có tiêu chuẩn, trong Phật pháp thì tri kiến của A La Hán mới được kể là chánh tri chánh kiến, thế nên trong kinh Phật nhắc chúng ta lúc còn chưa chứng quả vị A La Hán thì không thể tin tri kiến của mình, nếu bạn cho rằng tri kiến của bạn là chính xác thì sẽ có vấn đề.  Tại sao nói tri kiến của A La Hán mới là chánh tri chánh kiến?  A La Hán đã đoạn dứt Kiến Tư phiền não, cũng nghĩa là coi việc gì cũng khách quan, nói như vậy thì quý vị dễ hiểu hơn.  Tại sao?  Ngài không có ‘Ngã (Tôi)’, vô ngã, đã đoạn dứt ngã chấp rồi.

Lục đạo phàm phu khởi tâm động niệm đều có ‘Tôi’, có ‘Tôi’ thì sẽ có thành kiến, có quan niệm chủ quan, tự nhiên bạn sẽ nhìn sự việc sai lầm; tôi tưởng là đúng, tôi tưởng là chính xác, có một cái nhìn của tôi, như vậy là ‘hỏng’ mất rồi.  Thế nên đoạn dứt Kiến Tư phiền não thì tri kiến mới được kể là ‘chánh’, tiêu chuẩn là ở chỗ này.  Chưa đoạn Kiến Tư phiền não thì chánh tri chánh kiến ở đâu ra!  Hiện nay chúng ta phải làm sao?  Chúng ta mới bắt đầu học Phật, một phẩm Kiến Tư phiền não cũng chưa đoạn, biện pháp duy nhất là nương nhờ vào Phật, thế nên phải nói đến tầm quan trọng của ‘Tam Quy Y’, y pháp chứ không y người.  Học pháp nhất định phải có thầy chỉ đạo, nếu không có thầy chỉ dẫn thì bạn chẳng có biện pháp nương dựa trong Phật pháp.  Kinh luận Phật nói quá nhiều, nếu bạn nương dựa vào tất cả kinh luận, thì bạn chẳng có trí huệ, trong kinh này Phật nói Không, trong kinh kia lại nói Có, rốt cuộc là Không hay là Có?  Bạn sẽ trở nên mờ mịt, lộn xộn, bạn sẽ chẳng có cách gì để nương dựa.  Lúc tôi mới học Phật, đại học Ðài Loan có một giáo sư rất nổi danh, hiện nay đã qua đời.  Ông nói với tôi: ‘Có lúc kinh Phật nói có lý, có lúc thì chẳng có lý’. 

Tôi nói: ‘Chỗ nào chẳng có lý?’. 

Ông nói: ‘Tôi đã coi kinh Kim Cang’. 

Tôi hỏi: ‘Kinh Kim Cang nói như thế nào?’. 

Ông nói: ‘Giống như hai thùng nước, đổ qua đổ lại, có khi thì nói Có, [xong rồi] có chỗ lại nói Không, rốt cuộc là Không hay là Có?’  Làm cho người hiểu đôi đàng đều được. 

Thế nên Phật nói: ‘Phật pháp nếu không có ai giảng thì dù có trí cũng chẳng hiểu được’, đừng thấy là giáo sư đại học nổi tiếng [mà tưởng là ông ta thông suốt], không đúng đâu!  Do đó mới biết chánh tri chánh kiến khó lắm!  Nếu chẳng có chánh tri chánh kiến, nếu là người tà kiến còn ‘khinh chê Tam Bảo’.  Sợ là chúng ta tuy đã xuất gia nhưng cũng phạm lỗi này, chẳng biết chẳng giác lại tạo ra những tội nghiệp này, chính mình cũng chẳng biết; cứ tưởng là mình tài giỏi lắm, chẳng có sai lầm, luôn nhìn thấy lỗi của kẻ khác.

Thiết hoặc tạm tín, toàn hựu bất kính.

Hoặc là tạm tin, nhưng liền chẳng kính.

Bốn câu này của cô, chúng ta nghĩ kỹ một chút, quan sát thế gian này rồi tự phản tỉnh, chắc mình cũng đều phạm.  Lòng tin của chúng ta là đạo tâm sương móc, khi có khi không, chẳng vượt nổi thử thách, khi gặp một chút sóng gió, đạo tâm chúng ta liền mất hết.  Chữ ‘kính’ này càng không dễ, ‘kính’ phát sanh từ lòng tin, nếu không tin thì làm sao có tâm kính trọng?  Ðối với Phật, Bồ Tát, đối với cha mẹ còn không cung kính, thì làm sao có thể kính người, kính sự, kính vật?  Làm không được, từ đó bạn mới biết việc này rất khó!  Ðọc xong bốn câu này chúng ta phải nhắc nhở chính mình, thường lấy bốn câu này để trước mặt làm bài minh. [6]

Tử tuy nhật thiển, vị tri sanh xứ.

Tuy mới chết chưa lâu, mà chưa biết thác sanh về đâu.

‘Nhật thiển’ nghĩa là chết chẳng lâu, chẳng biết hiện giờ bà sanh vào chốn nào?  Câu này nói quỷ vương đại khái đã biết bà sanh vào cõi nào.

          Vô Ðộc vấn viết, Bồ Tát chi mẫu, tánh thị hà đẳng

          Vô Ðộc hỏi: ‘Mẹ của Bồ Tát tên họ là gì?’

          Hỏi thêm một lần: Tên của má cô là gì?

          Thánh nữ đáp vấn, ngã phụ ngã mẫu câu Bà La Môn chủng.

          Thánh nữ trả lời: ‘Cha mẹ tôi đều thuộc dòng Bà La Môn’.

          Ở Ấn Ðộ họ được kể là quý tộc, từ thời xưa đến nay bốn dòng họ giai cấp rất nghiêm, tôn quý nhất là Bà La Môn.

          Phụ hiệu Thi La Thiện Kiến, mẫu hiệu Duyệt Ðế Lợi

          Cha tôi tên Thi La Thiện Kiến, mẹ tên Duyệt Ðế Lợi.

          Nói tên cha mẹ ra, tên này rất tốt, đều là tên tốt.  Tuy tên tốt nhưng việc làm chẳng tốt, Danh chẳng phù hợp với Thật.

          Vô Ðộc hiệp chưởng, khải Bồ Tát viết, nguyện Thánh giả khước phản bổn xứ, vô chí ưu ức bi luyến.

          Vô Ðộc chắp tay thưa với Bồ Tát: ‘Xin Thánh giả hãy trở về bổn xứ, đừng quá thương nhớ buồn rầu nữa’.

Vô Ðộc nghe xong, ‘khải’ nghĩa là rất cung kính, rất cung kính báo cáo với Thánh nữ.  ‘Khải’ nói theo ngôn ngữ hiện nay nghĩa là ‘báo cáo’, nói một cách cung kính: ‘Xin Ngài trở về, đừng lo nhớ nữa’.  Tại sao?

Duyệt Ðế Lợi tội nữ.

Tội nhân Duyệt Ðế Lợi.

Ðích thật bà đã đến địa ngục rồi, đã đến thọ khổ, không sai, chuyện của bà mọi người đều biết.

Sanh thiên dĩ lai, kinh kim tam nhật.

Sanh lên trời đến nay đã ba ngày rồi.

Hiện nay bà chẳng ở nơi này nữa, bà đã ở đây thọ tội, nhưng bà đã được sanh lên trời, sanh lên Trời Ðao Lợi.

Vân thừa hiếu thuận chi tử, vị mẫu thiết cúng, tu phước bố thí Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai tháp tự.

Nghe nói nhờ con bà hiếu thảo, vì mẹ thiết cúng, tu phước bố thí chùa tháp thờ đức Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai.

Nghe nói bà có con gái hiếu thuận, tu phước cho bà.  Cô tu phước, cúng Phật bố thí, đây là lòng hiếu cảm đến thiên địa, tâm hiếu chân thành, cảm động thiên địa quỷ thần.  Trong kinh giảng cho chúng ta hiếu dưỡng phụ mẫu gồm dưỡng thân cha mẹ, dưỡng tâm cha mẹ, dưỡng chí cha mẹ;  người thế gian thường trông mong con trai thành rồng, con gái thành phượng, đó là ‘chí’ của cha mẹ; nghĩa là hy vọng con cái tương lai có thành tựu chân chánh, tài ba xuất chúng.  Nhưng rất nhiều bậc cha mẹ trong thế gian có tà kiến, cứ tưởng đạt được công danh phú quý trong thế gian tức là tài giỏi hơn người, quan niệm này sai lầm.  Như thế nào mới gọi là ‘tài ba xuất chúng’?  Siêu phàm nhập thánh, thành Phật, thành Bồ Tát mới thật sự là ‘tài ba xuất chúng’, hết thảy thành tựu trong thế gian chẳng thể so sánh nổi.  Thành tựu tới đâu trong thế gian cũng chẳng thoát ra khỏi lục đạo luân hồi, chỉ có thành Phật thành Bồ Tát không những siêu việt lục đạo, mà còn siêu việt thập pháp giới, đó mới là thành tựu chân chánh.  Người làm cha mẹ nhưng chưa học Phật chẳng biết đạo lý này, chẳng hiểu rõ chân tướng sự thật, chúng ta đã tiếp xúc Phật pháp nên hiểu rõ, chúng ta phải làm cho bằng được; không thể nói cha mẹ không biết thì chúng ta không làm.  Chuyện tốt, chuyện thiện tuy cha mẹ chẳng biết, đợi đến khi chúng ta làm được rồi, cha mẹ sẽ đạt được lợi ích lớn lao.  Mẹ của Bồ Tát đâu phải là người thường!

Cúng Phật, bố thí ba hạnh này đều có.  Ở đây nói ‘thiết cúng’, chúng ta đã đọc phía trước, Thánh nữ Bà La Môn cúng dường hình tượng của Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai, vì vào thời Tượng pháp [chỉ có thể cúng dường hình tượng của Phật], cảm động Phật đến dạy cô phương pháp tu hành, sau đó cô về nhà dũng mãnh tinh tấn y giáo phụng hành, đó là tu phước, bố thí.  Tu phước, bố thí cho ai?  Cho mẹ mới mất của cô.  Thế nên sự bố thí của cô làm là bố thí pháp, đó chẳng phải là bố thí tài vật.  Trong sự cúng dường có Pháp cúng dường, Y giáo phụng hành cúng dường, phước này lớn lắm!  Thế nên Quỷ vương nói:

Phi duy Bồ Tát chi mẫu đắc thoát địa ngục.

Không phải chỉ có mẹ của Bồ Tát được thoát địa ngục.

Không phải chỉ có mẹ của Bồ Tát được thoát địa ngục, thoát ly khổ hải.

Ưng thị vô gián tội nhân, thử nhật tất đắc thọ lạc, câu đồng sanh ngật.

Những tội nhân trong ngục Vô Gián hôm đó đều được an lạc, đều được thác sanh hết.

Mẹ Bồ Tát được người con hiếu, được phước của bà nên sanh lên trời, những người cùng chịu tội ở địa ngục đều được hưởng ké, đều nhờ phước đó mà cùng sanh lên trời; không phải chỉ có mẹ Bồ Tát được sanh lên trời, những người trong địa ngục cùng chịu tội với bà lúc đó đều được sanh lên trời.  Từ đó bạn mới biết phước báo của sự bố thí thật chẳng thể nghĩ bàn!  Công đức y giáo tu hành của Thánh nữ Bà La Môn chẳng thể nghĩ bàn!  Ðây là sự thật, chẳng phải kể chuyện đời xưa, không phải lấy chuyện này để khuyến thiện.  Chư vị phải biết, đây là chuyện thật một trăm phần trăm, khi bạn tu hành thành tựu sẽ độ được biết bao nhiêu người.  Thế nên trong Phật pháp thường nói chẳng thể nghĩ bàn, cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn, từ chỗ này chúng ta cũng có thể hiểu được vài phần.

 

Quỷ vương ngôn tất, hiệp chưởng nhi thoái.

Quỷ vương nói xong, chắp tay cáo lui.

Quỷ vương báo cáo chuyện này xong rồi cáo lui.

Bà La Môn nữ tầm như mộng quy.

Thánh nữ Bà La môn dường như nằm mộng tỉnh dậy.

Cũng như nằm mộng vậy, thật ra cô chẳng phải trong mộng, mà là trong Ðịnh.  Từ trong định xuất định.

Ngộ thử sự dĩ

Biết chuyện này xong.

Cô giác ngộ rồi, biết rõ hoàn toàn chuyện này, hoàn toàn minh bạch.

Tiện ư Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai tháp tượng chi tiền, lập hoằng thệ nguyện, nguyện ngã tận vị lai kiếp, ứng hữu tội khổ chúng sanh, quảng thiết phương tiện sử linh giải thoát.

Bèn trước tháp tượng của Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai lập hoằng thệ nguyện: ‘Tôi nguyện từ nay đến tận kiếp vị lai sẽ vì chúng sanh mắc phải tội khổ mà rộng lập phương tiện làm cho họ được giải thoát.’

Ðây là lần phát nguyện đầu tiên trong khi tu nhân của Ðịa Tạng Bồ Tát.  Lần thứ nhất phát tâm học Phật là đại Trưởng giả, nhìn thấy hình tượng của Phật rồi phát tâm.  Phía trước tôi đã nhắc nhở các bạn đồng học: Hình tượng phải hoàn hảo, thường thường nghĩ đến chúng ta là đệ tử Như Lai, đặc biệt là đệ tử Di Ðà.  Di Ðà là ‘ánh sáng tôn quý nhất, vua trong các vị Phật’, làm sao chúng ta có thể làm mất mặt A Di Ðà Phật được!  Nếu tâm niệm chúng ta khởi lên một niệm chẳng thiện thì sẽ có lỗi với đức Phật A Di Ðà, khi chúng ta làm một việc chẳng thiện thì chúng ta sẽ chịu tội nghiệp rất nặng, làm sao xứng đáng là học trò của A Di Ðà Phật!  Học trò của A Di Ðà Phật là như thế này ư?  Chân chánh làm một học trò tốt của A Di Ðà Phật nhất định phải y giáo phụng hành.  Tại sao dạy bạn mỗi ngày phải đọc tụng Ðại Thừa?  Chính là để ghi nhớ lời dạy của A Di Ðà Phật, những gì Phật dạy chúng ta làm, chúng ta làm được hay chưa?  Những gì Phật dạy chúng ta chớ nên làm, chúng ta còn làm không?  Chân chánh làm học trò của A Di Ðà Phật đúng như ý nghĩa của nó thì trong đời này bạn nhất định sẽ được vãng sanh Tịnh độ.  Trong đời hiện tại, nếu người ta không tôn kính bạn cũng chẳng có gì lạ!  Người ta là phàm phu, phàm phu mắt thịt, ngay cả Phật họ cũng chẳng tôn kính thì làm sao họ tôn kính bạn!  Nhưng bạn phải biết chư Phật hộ niệm, tán thán, long thiên quỷ thần, Bồ Tát tôn trọng bạn, tại sao vậy?  Những người này có Tha tâm thông, có Thiên nhãn thông, họ có thể nhìn thấy tâm thiện của bạn, họ biết bạn khởi tâm động niệm [gì]; phàm phu chẳng biết, phàm phu ngu si.

Ðịa Tạng Bồ Tát ở đây dạy chúng ta phát nguyện, làm ra gương mẫu cho chúng ta coi, nguyện này tức là ‘Tứ Hoằng Thệ Nguyện’.  ‘Nguyện tôi tận cùng kiếp vị lai’, trên thời gian chẳng có chấm dứt, vĩnh hằng.  Chẳng phải nói chuyện này tôi phải làm trong vòng bao lâu, nói tôi phải làm trong một kiếp, mười kiếp, trăm kiếp, ngàn kiếp, không phải vậy.  Mà là tận cùng kiếp vị lai.  Ðối tượng giúp đỡ là những chúng sanh tội khổ này, cũng chẳng nói nhất định; ‘chúng sanh mắc phải tội khổ’, chẳng chọn oán hay thân, chỉ cần nhìn thấy có chúng sanh chịu khổ nạn thì liền ‘rộng lập phương tiện làm cho họ độ thoát’.  Rộng lập phương tiện gì?  Ðoạn phiền não, học pháp môn, thành Phật đạo, đây đều là rộng lập phương tiện.  Chúng ta chẳng đoạn phiền não, chẳng học pháp môn thì dùng phương pháp gì để độ chúng sanh?  Do đó mới biết Bồ Tát đoạn phiền não, đoạn tập khí, học pháp môn chẳng vì mình mà là vì hết thảy khổ nạn chúng sanh, chúng ta phải có tâm nguyện này, hết thảy những việc tu học của mình hôm nay đều vì họ, chẳng vì mình; nếu vì mình thì có thể qua loa sơ sài, có thể tùy tiện.  Nhưng nhìn thấy vô số chúng sanh đang tạo tội nghiệp cực nặng, một tí tâm giải đãi hàm hồ chúng ta đều không thể khởi được, vì sao?  Vì phải dạy dỗ những chúng sanh khổ nạn này, việc gì cũng phải hết lòng, phải dũng mãnh tinh tấn.

Nếu vậy bạn hỏi: tự tôi tu hành thành tựu, được không?  Có thể độ chúng sanh không?  Kinh này bày ra đây, cô Bà La Môn một người tu hành, một người thành tựu, không những mẹ cô được độ, những người cùng chịu khổ với mẹ cô, những chúng sanh cùng đọa địa ngục với mẹ cô đều được sanh lên trời, không phải sự thật bày ra ngay chỗ này sao?  Chúng ta còn nghi hoặc gì nữa?  Một người thành tựu có thể độ được vô lượng vô biên chúng sanh.  Chỉ sợ là cá nhân bạn không thể thành tựu, giả bộ làm như thiệt thì không được, giả dối thì giúp đỡ người khác được sao?  Nhất định phải làm thật sự từ bản thân của mình.  Dùng lời nói của thế gian chúng ta đề ra Bốn Ðiều Tốt: ‘Giữ tâm tốt, làm việc tốt, nói lời tốt, làm người tốt’, những năm gần đây chúng tôi đề xướng việc này ở khắp nơi trên thế giới, làm một gương tốt cho xã hội đại chúng, làm cho đại chúng nhìn thấy hình tướng này.  Ðoạn đầu trong kinh nói về Trưởng Giả Tử, hình tướng của Phật thị hiện làm cho xã hội đại chúng tiếp xúc đến hình tượng này có được cảm ngộ, có thể cảm động, như vậy là đã độ chúng sanh.  Họ giác ngộ, quay về, học theo bạn, học theo Phật, người như vậy sẽ được độ.  Người được độ dần dần thêm nhiều, một người giác ngộ sẽ dạy những người xung quanh, thân bằng quyến thuộc của họ, hàng xóm láng giềng, bạn xem sức ảnh hưởng này bao lớn ?  Nhất định đừng cho rằng cá nhân tôi một người tu hành có ích gì đâu, trong kinh dạy chúng ta, một người tu hành sanh ra hiệu quả chẳng thể nghĩ bàn.  Ðiểm quan trọng nhất trong phẩm kinh này là đoạn sau cùng Ðịa Tạng Bồ Tát làm ra gương tốt dạy chúng ta phát tâm.

 

Phật cáo Văn Thù Sư Lợi, thời quỷ vương Vô Ðộc giả, đương kim Tài Thủ Bồ Tát thị, Bà La Môn nữ giả, tức Ðịa Tạng Bồ Tát thị.

Phật nói với Văn Thù Sư Lợi: quỷ vương Vô Ðộc lúc trước bây giờ là Tài Thủ Bồ Tát, còn Thánh Nữ Bà La Môn đó chính là Ðịa Tạng Bồ Tát.

Ðây là chuyện vô lượng kiếp về trước, hiện nay đều đã thành tựu.  Vô Ðộc quỷ vương ngày trước bây giờ là Tài Thủ Bồ Tát, Thánh Nữ Bà La Môn ngày trước bây giờ là Ðịa Tạng Bồ Tát.  Ðây là chuyện lúc còn tu nhân vô lượng kiếp về trước.

Xin xem tiếp kinh văn:

PHẨM THỨ 2: PHÂN THÂN TẬP HỘI

Nhĩ thời bá thiên vạn ức bất khả tư, bất khả nghị, bất khả lượng, bất khả thuyết, vô lượng a tăng kỳ thế giới, sở hữu địa ngục xứ, phân thân Ðịa Tạng Bồ Tát câu lai tập tại Ðao Lợi thiên cung.

Lúc đó phân thân của Ðịa Tạng Bồ Tát từ những chỗ có địa ngục ở số trăm ngàn vạn ức chẳng thể nghĩ, chẳng thể bàn, chẳng thể tính, chẳng thể nói vô lượng a-tăng-kỳ thế giới đều đến tụ hội tại cung trời Ðao Lợi.

Chư vị có thấy ý hướng thật sự của đoạn kinh văn này ở đâu không?  ‘Nhĩ thời’ là lúc đức Phật Thích Ca Mâu Ni ở cung trời Ðao Lợi, lúc mở pháp hội này; lúc chư Phật Như Lai, Bồ Tát từ mười phương thế giới, đại chúng vân tập; Thế Tôn cùng Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát một người hỏi, một người đáp ở cuối đoạn này.  Con số nêu ở đây thật là một con số ‘thiên văn’, chẳng có biện pháp chi tính nổi.  ‘Trăm ngàn vạn ức chẳng thể nghĩ, chẳng thể bàn, chẳng thể tính, chẳng thể nói’, sau đó là ‘vô lượng a-tăng-kỳ thế giới’; thế giới vô biên, chúng sanh vô tận.  ‘Những chỗ có địa ngục, phân thân Ðịa Tạng’, Kim Ðịa Tạng ở Cửu Hoa Sơn của chúng ta cũng là một trong những phân thân của ngài, vô lượng vô biên phân thân, ‘đều đến tụ hội ở cung trời Ðao Lợi’.  Chư vị phải biết đây là để nói rõ những người tạo tội nghiệp đọa địa ngục nhiều như vậy nên Ðịa Tạng Bồ Tát mới phân thân, phân ra nhiều thân như vậy, [từ việc này] bạn mới biết có bao nhiêu địa ngục!  Thế gian này có bao nhiêu người tạo tội nghiệp địa ngục!  Ý tứ chính là ở chỗ này.  Thế nên nhìn thấy hiện tượng này thật đáng sợ vô cùng!  Tại sao chúng sanh tạo tội nghiệp?  Vì chẳng có người dạy, hết thảy chúng sanh đều có thiện căn, đều có tâm hướng thiện, tiếc là chẳng có người hướng dẫn, chẳng có người giúp đỡ.  Trong kinh này dụng ý chân chánh của Phật chính là dạy chúng ta phải học theo Ðịa Tạng Bồ Tát, phải làm phân thân của Ðịa Tạng Bồ Tát.  Chúng ta có thể phát nguyện, có thể tự làm gương mẫu, hướng dẫn, luôn luôn khuyên hết thảy chúng sanh đoạn ác tu thiện, đây là tâm của Ðịa Tạng Bồ Tát, nguyện của Ðịa Tạng Bồ Tát, hạnh của Ðịa Tạng Bồ Tát.

Tứ chúng đồng tu phải nhớ làm gương cho đại chúng ở mọi nơi, ở nhà thì làm gương cho gia đình, ở đạo tràng này thì làm gương cho tứ chúng đồng tu ở đây.  Ðừng nói người kia không làm thì tại sao tôi phải làm?  Nói vậy là bạn sai rồi.  Người đó đọa địa ngục, tại sao tôi không đọa địa ngục?  Không phải là ý nghĩa này sao?  Ông đó đọa địa ngục, tôi phải cứu ông đó, làm sao tôi cứu ông được?  Tôi làm gương mẫu cho ổng thấy, như vậy mới đúng.  Ổng tham tiền tài, tại sao tôi không tham?  Ổng tranh đoạt quyền lợi, tại sao tôi không tranh?  Ðây là làm một hình tượng địa ngục, kéo hết mọi người vô địa ngục, như vậy là sai rồi.  Chúng ta nhìn thấy người ta đọa địa ngục, chúng ta phải nêu gương tốt ‘làm thế nào thoát ly địa ngục, siêu việt biển khổ’, như vậy mới đúng.  Người khác tham tài, tranh đoạt lợi lộc, rất nhiều người làm, tất cả người trên thế giới đều làm nhưng tôi, cá nhân tôi không làm.  Người làm thì mê hoặc điên đảo, người chẳng làm thì giác ngộ, quay về, phải hiểu đạo lý này.  Ở thế giới này dùng miệng để khuyên người rất khó!  Bạn khuyên người ta làm, nhưng tại sao bạn không làm?  Làm sao người ta tin được?  Nhất định tự mình phải làm được thì mới có thể khơi gợi được lòng tin của người khác, mới có thể dẫn dắt người ta hướng thiện, nhất định phải đích thân thực hành.  Phật dạy Thánh nữ Bà La Môn như vậy, cũng tức là dạy chúng ta, nhất định phải hết lòng, quay về, dũng mãnh tinh tấn.  Xem đoạn kinh kế tiếp:

Dĩ Như Lai thần lực cố, các dĩ phương diện dữ chư đắc giải thoát tùng nghiệp đạo xuất giả, diệc các hữu thiên vạn ức na do tha số, cộng trì hương hoa lai cúng dường Phật.

Do nhờ thần lực của Như Lai, phân thân từ mỗi phương cùng những chúng đã được giải thoát khỏi chốn nghiệp đạo đông đến số ngàn muôn ức na-do-tha cùng cầm hương hoa đến cúng dường Phật.

Ðoạn văn này nói đại chúng cùng đến với Ðịa Tạng Bồ Tát, đại chúng này thật ra là những vị tiếp nhận sự giáo hóa của Ðịa Tạng Bồ Tát và đã giác ngộ rồi, trong kinh Hoa Nghiêm gọi họ là Ðại Tâm Phàm Phu.  Hôm nay phân thân của Ðịa Tạng Bồ Tát đều tụ hội đến Ðao Lợi Thiên Cung, những Ðại Tâm phàm phu này thoát thân từ địa ngục cũng theo Ðịa Tạng Bồ Tát đến cung trời Ðao Lợi để yết kiến đức Phật.  Ðại hội ở Ðao Lợi Thiên Cung hôm ấy vô cùng thù thắng, vì sao?  Hết thảy chư Phật Như Lai đều ở chỗ đó, sự cúng Phật này vô cùng viên mãn.  Ðại chúng ở Cực Lạc thế giới, vãng sanh về Cực Lạc thế giới phải phân thân đến các cõi nước chư Phật ở khắp hư không pháp giới để cúng dường, nghe pháp.  Hôm nay chư Phật Như lai đều tụ tập ở giảng đường này, họ chẳng cần phân thân đến các cõi nước, những Ðại Tâm phàm phu này đến cùng Ðịa Tạng Bồ Tát có phước báo to lớn, ở một nơi cùng lúc có thể cúng dường hết thảy chư Phật Như Lai, việc này thù thắng biết bao!  Còn thù thắng hơn Cực Lạc thế giới nữa!  Từ chỗ này chúng ta mới thể hội được sự thù thắng của Ðịa Tạng pháp môn, tu học Ðịa Tạng thù thắng, chỗ nào cũng hiển thị hạng nhất, siêu việt Cực Lạc thế giới, đây là đại căn đại bổn của hết thảy pháp môn.  Họ đều cầm hương hoa đến cúng dường Phật, ‘hương hoa’ là tiêu biểu pháp, ‘hương’ tiêu biểu cho lòng tin thanh tịnh, ‘hoa’ tiêu biểu cho y giáo phụng hành, ‘hoa’ tượng trưng cho ‘nhân’, tu nhân chứng quả, đây là tiêu biểu ‘như giáo tu hành cúng dường’, như vậy mới là chân chánh cúng dường.  Xin xem tiếp kinh văn:

Bỉ chư đồng lai đẳng bối, giai nhân Ðịa Tạng Bồ Tát giáo hóa, vĩnh bất thoái chuyển ư A Nậu Ða La Tam Miệu Tam Bồ Ðề.

Những chúng cùng đến ấy đều nhờ Ðịa Tạng Bồ Tát giáo hóa, làm cho vĩnh viễn chẳng thoái chuyển nơi A Nậu Ða La Tam Miệu Tam Bồ Ðề.

Ở đây Phật dạy chúng ta, nói với chúng ta, những đại chúng cùng đến với Ðịa Tạng Bồ Tát có thể tham dự hội kinh ở cung trời Ðao Lợi, đều tiếp nhận sự giáo hóa của Ðịa Tạng Bồ Tát được sanh Tín Căn, chúng ta gọi là Ngũ Căn, Ngũ Lực: ‘Tín, Tấn, Niệm, Ðịnh, Huệ’.  Họ có căn, cái này rất quý, có căn mới vĩnh viễn chẳng thoái chuyển nơi Vô Thượng Bồ Ðề.  Tín căn của những người này thành tựu xong, niệm niệm đều hướng về Vô Thượng Bồ Ðề, hết thảy pháp trong thế gian và xuất thế gian đều chẳng lưu luyến, chỉ tìm cầu Vô Thượng Bồ Ðề.

Thị chư chúng đẳng, cửu viễn kiếp lai, lưu lãng sanh tử, lục đạo thọ khổ, tạm vô hưu tức.

Những chúng sanh này từ nhiều kiếp lâu xa đến nay, trôi lăn trong sanh tử, chịu khổ trong sáu đường, chưa từng tạm ngưng.

Nói những phàm phu này, những Ðại Tâm phàm phu này, kể lại lúc trước trong sáu nẻo luân hồi, nói thật ra chính là nhóm người chúng ta, mệt mỏi sanh tử chưa từng nghỉ ngơi qua. 

Dĩ Ðịa Tạng Bồ Tát quảng đại từ bi, thâm thệ nguyện cố, các hộ quả chứng.

Nhờ lòng từ bi quảng đại và thệ nguyện sâu dầy của Ðịa Tạng Bồ Tát, nên tất cả đều chứng được quả vị.

Câu này nói về nhân duyên được độ.  Nương nhờ lời dạy từ bi và các thứ phương tiện của Ðịa Tạng Bồ Tát, hiển thị câu ‘từ bi làm gốc, phương tiện làm cửa’ thường nói đến trong Phật pháp, Ðịa Tạng Bồ Tát là tâm đại từ bi.  Chủng chủng phương tiện là nói sự khéo léo của ngài, vì chúng sanh làm ra nhiều thị hiện; nói cách khác: vì chúng sanh làm ra những hình tượng khác nhau.  Làm cho hết thảy chúng sanh thấy sắc, nghe âm thanh, tiếp xúc những hình tượng này có thể cảm nhận và tỉnh ngộ, biết quay về, đây chính là thiện xảo phương tiện của Bồ Tát.  Thế nên Bồ Tát vì chúng sanh làm thầy, làm mô phạm, hướng dẫn, sau khi họ tiếp xúc liền tỉnh ngộ và quay về tu hành chứng quả.  Tuy quả vị này chẳng giống những quả vị thường nói như Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, mà là ‘quả vị’ Ðại Tâm Phàm Phu, việc này vô cùng quý báu.  Bồ Ðề tâm được sanh khởi, phiền não chưa đoạn thì gọi là Ðại Tâm phàm phu.

Ký chí Ðao Lợi, tâm hoài dũng dược, chiêm ngưỡng Như Lai, mục bất tạm xả.

Khi đến cung trời Ðao Lợi, lòng họ vui mừng hớn hở chiêm ngưỡng đức Như Lai, mắt nhìn mãi không rời.

Hình dung nhóm người này, khi đến cung trời Ðao Lợi vui mừng hớn hở, hoàn toàn biểu lộ ra ngoài, hiển lộ lòng cảm ân.  Cảm kích sự giáo huấn của Ðịa Tạng Bồ Tát, cảm kích ân đức của chư Phật nhiếp thọ, hoàn toàn hiển lộ chẳng giữ lại.  Hãy xem tiếp kinh văn:

 

Nhĩ thời Thế Tôn, thư kim sắc tý, ma bá thiên vạn ức bất khả tư, bất khả nghị, bất khả lượng, bất khả thuyết vô lượng a tăng kỳ thế giới chư phân thân Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát đảnh.

Lúc bấy giờ đức Thế Tôn đưa cánh tay sắc vàng xoa đảnh các phân thân của Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát trong trăm ngàn vạn ức chẳng thể nghĩ, chẳng thể bàn, chẳng thể tính, chẳng thể nói vô lượng a-tăng-kỳ thế giới.

Ý nghĩa này, nói nhiều con số này, ý tứ vô cùng sâu dầy!  Hiển thị chúng sanh ở mười phương thế giới tạo vô lượng vô biên ác nghiệp, ý nghĩa chân chánh là ở chỗ này.  Cho nên Ðịa Tạng phải phân nhiều thân như vậy để giúp đỡ những chúng sanh khổ nạn ấy.  Ðịa Tạng Bồ Tát phân thân càng nhiều, chúng ta mới biết địa ngục càng nhiều; biết địa ngục càng nhiều thì biết số người tạo tội nghiệp địa ngục, chịu khổ báo địa ngục càng nhiều.  Ở Ðao Lợi Thiên cung, Thế Tôn an ủi Ðịa Tạng Bồ Tát, xoa đảnh xong.

Nhi tác thị ngôn.

Rồi nói rằng:

Xoa đảnh là an ủi.  Phật nói:

Ngô ư ngũ trược ác thế, giáo hóa như thị cang cường chúng sanh, lịnh tâm điều phục, xả tà quy chánh.  Thập hữu nhất nhị, thượng ác tập tại.

Ta ở trong đời ác Ngũ Trược giáo hóa những chúng sanh ương ngạnh như vậy, làm cho tâm họ điều phục, bỏ tà về chánh.  Trong mười phần còn một, hai phần vẫn theo thói ác.

Ðây là lúc Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni phó chúc Ðịa Tạng Bồ Tát ở thiên cung, trách nhiệm của Ðịa Tạng Bồ Tát nặng hơn bất cứ người nào.  Lúc Phật không còn tại thế, sứ mạng giáo hóa chúng sanh phải ủy thác cho Ðịa Tạng Bồ Tát.  Chư vị phải biết đạo lý này ở đâu?  Tại sao đức Phật Thích Ca chẳng giao chuyện độ hóa chúng sanh cho Quán Thế Âm Bồ Tát?  Tại sao không giao cho Phổ Hiền Bồ Tát, Văn Thù Bồ Tát?  Ðều là đại Bồ Tát hết, tại sao không giao cho các ngài mà phải nhờ Ðịa Tạng Bồ Tát?  Nói thật ra những Bồ Tát đó độ không nổi, chẳng có cách gì độ được, chỉ có Ðịa Tạng Bồ Tát có thể độ mà thôi.  Mọi người hiểu ý nghĩa này không?  Ðịa Tạng Bồ Tát dạy việc gì?  Hiếu thân Tôn sư.  Nếu người này không hiếu kính cha mẹ, không tôn kính sư trưởng, thì Bồ Tát, Phật nào đến cũng độ chẳng nổi.  Sự dạy học của Ðịa Tạng Bồ Tát là xây dựng nền móng, dạy lớp một Tiểu học, Quán Thế Âm Bồ Tát dạy lớp hai, Văn Thù Bồ Tát dạy lớp ba, Phổ Hiền Bồ Tát dạy lớp bốn; lớp một còn chưa dạy hoàn hảo thì những lớp phía trên không thể dạy nổi.  Thế nên chư vị phải hiểu thành Phật bắt đầu từ chỗ nào?  Hiếu thân tôn sư.  Lớp Ðịa Tạng Bồ Tát dạy chính là lớp Hiếu thân tôn sư, nếu lớp này học không được, thì khỏi cần nói những lớp khác.  Hiếu thân tôn sư được hoàn hảo rồi, Quán Thế Âm Bồ Tát mới ra sức được, mới dạy đại từ đại bi được, mở rộng hiếu thân tôn sư ra, đó là việc Quán Thế Âm Bồ Tát dạy, đạo lý là như vậy.  Thế nên lúc Phật chẳng còn tại thế, nhất định phải để Ðịa Tạng Bồ Tát thay thế Phật.  Cho dù không thể đề cao cảnh giới này, bạn chân chánh làm được hiếu thân tôn sư thì sẽ không đọa ba đường ác; tuy không ra khỏi Tam giới, nhưng cũng chẳng đọa ba đường ác, bởi vậy nên đây là căn bản của Phật pháp.

Nếu chúng ta không thể xây dựng pháp căn bản thì nói thật ra học Phật chỉ là một [trồng một] nhân lâu xa mà thôi.  Trong kinh Hoa Nghiêm có nói đến mười loại căn cơ, đây là viễn cơ, tức là đời này không đạt được lợi ích, trong Phật pháp bạn chỉ un đúc một chút hạt giống vào A Lại Da thức của bạn, phải đợi đời sau, đời sau nữa, nhiều đời nhiều kiếp sau, đến khi nào nhân duyên chín muồi mới làm tiếp tục, giúp chúng sanh trồng nhân cho kiếp lâu xa, trong đời này nhất định sẽ chẳng thâu hoạch được hiệu quả.  Nếu trong pháp môn Ðịa Tạng này vun bồi cơ sở rồi, cũng nghĩa là làm được phước thứ nhất trong Tam Phước, chư vị phải biết, cả bộ kinh Ðịa Tạng giảng về điều gì?  Chính là ‘Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng, từ tâm không sát hại, tu mười nghiệp thiện’, chính là bốn câu này.  Năm xưa tôi ở các thành thị miền đông nước Mỹ giảng Ðại ý kinh Ðịa Tạng, có nhiều người cảm thấy kỳ lạ: “Tịnh Không pháp sư chuyên tu Tịnh Ðộ, chuyên hoằng Tịnh Ðộ, tại sao lại giảng kinh Ðịa Tạng?”, có người hỏi tôi như vậy.  Tôi nói: “Quý vị không hiểu, những gì tôi giảng chính là phước thứ nhất trong ‘Tịnh Nghiệp Tam Phước’, vẫn chuyên tu chuyên hoằng, chẳng lìa khỏi Tịnh Tông.”  Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy phu nhân Vi Ðề Hy, Vi Ðề Hy phu nhân muốn cầu sanh Tây phương Tịnh Ðộ, thỉnh đức Phật Thích Ca dạy phương pháp vãng sanh cho bà.  Trước khi truyền dạy phương pháp Niệm Phật, Ngài dạy bà tu Tịnh Nghiệp Tam Phước, dạy bà đây là cơ sở, ba đời chư Phật đều nhờ cơ sở này mới thành tựu.  Giống như xây nhà vậy, dạy bạn làm sao xây nhà?  Phải dạy bạn đắp nền móng, đắp nền móng đàng hoàng rồi mới dạy bạn làm sao xây tiếp, bạn coi chuyện này quan trọng biết bao.  Kinh Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện này chính là phước thứ nhất trong Tam Phước.  Bạn nói quan trọng hay không!

Tại sao ở đạo tràng mới xây dựng tôi nhất định phải giảng kinh Ðịa Tạng mà chẳng giảng kinh khác?  Không có tâm hiếu thuận cha mẹ, tôn sư trọng đạo thì không cần nói chuyện gì hết, bạn làm sao xây dựng Phật pháp?  Phật pháp là giáo học, giáo dục, đạo thầy trò (Sư đạo), Sư đạo xây dựng trên cơ sở Hiếu đạo.  Nếu chẳng có Hiếu đạo thì chẳng có Sư đạo, vậy còn phải nói gì nữa?  Thế nên việc này rất quan trọng.  Trong hai mươi mấy năm nay tôi vẫn chẳng quên đề xướng việc xây Từ đường, Từ đường là một trung tâm  để dạy đạo Hiếu từ xưa đến nay ở Trung Quốc.  Theo chánh sách hiện nay của chính phủ, Từ đường của mỗi nhà chẳng còn nữa, đã bị phế bỏ rồi, âu cũng là một việc tốt.  Sau khi phế bỏ thì phải xây cái mới, cái mới này nên xây như thế nào?  Nên xây Từ đường cộng đồng, đừng xây cho từng nhà. Mỗi một huyện chỉ xây một Từ đường, Từ đường cho trăm họ.  Trước kia là cho từng họ, Từ đường họ Trương, Từ đường họ Lý, cái mới của chúng ta phù hợp với chánh sách của quốc gia, xây Từ đường cộng đồng, tốt lắm!  Người cả nước đoàn kết thành nhất tâm, mỗi năm mùa xuân, thu làm lễ cúng tế tổ tiên, do Huyện trưởng đứng ra cúng tế, như vậy hay lắm!  Mỗi huyện có Từ đường chung của huyện, tốt lắm, chúng ta đề xướng Hiếu đạo; đừng xây cho từng họ từng họ nữa, làm cho các họ, tông tộc từng họ trong cả nước có thể đoàn kết lại.  Phế bỏ một cái [tức từ đường cho riêng từng họ], kiến thiết một cái mới, tiến bộ hơn trước, thù thắng hơn trước. Như vậy là rất đúng.  Tôi đề xướng xây dựng Tông Từ cho trăm họ, không những mỗi huyện nên xây một cái, những nơi ở hải ngoại có kiều bào đều nên xây dựng giống vậy.

Hôm nay đã hết giờ, chúng ta giảng đến đây.

Tập 8 (Số 14-12-08)

          Xin mở kinh, phẩm thứ nhì: Phân Thân Tập Hội, bắt đầu từ đoạn thứ hai.

Lúc bấy giờ đức Thế Tôn đưa cánh tay sắc vàng xoa đảnh các phân thân của Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát trong trăm ngàn vạn ức chẳng thể nghĩ, chẳng thể bàn, chẳng thể tính, chẳng thể nói vô lượng a-tăng-kỳ thế giới.

          Lần trước giảng đến chỗ này, ý tứ trong đó rất sâu.  Từ đoạn khai thị này của Thế Tôn chúng ta biết phân thân của Ðịa Tạng Bồ Tát thật là vô lượng vô biên.  Tại sao Bồ Tát phải dùng nhiều phân thân như vậy?  Chúng ta phải nghĩ đến vấn đề này, nhất định là vì chúng sanh tạo ác nghiệp ở mười phương thế giới quá nhiều, nên Ðịa Tạng Bồ Tát cần phải phân thân đi độ hóa.  Ðây là hiển thị ý nghĩa này, người tạo ác nghiệp nhiều vô lượng vô biên.  Thế Tôn nói tiếp:

          Rồi nói rằng:

Ðây là lời Phật Thích Ca nói:

Ta ở trong đời ác Ngũ Trược giáo hóa những chúng sanh ương ngạnh như vậy, làm cho tâm họ điều phục, bỏ tà về chánh.  Trong mười phần còn một, hai phần vẫn theo thói ác.

          Ðức Phật an ủi Ðịa Tạng Bồ Tát, Ðịa Tạng Bồ Tát từ bi đến cùng cực.  Cùng một đạo lý, đức Phật Thích Ca Mâu Ni cũng từ bi đến cùng cực, Bồ Tát phân thân vô lượng vô biên, Phật có khác gì đâu?  Trong kinh Phạm Võng chúng ta thấy trăm ngàn ức hóa thân Thích Ca Mâu Ni Phật.  Ðịa Tạng và Thế Tôn như vậy, chúng ta liền liên tưởng đến hết thảy chư Phật Bồ Tát chẳng có vị nào không như vậy.  Thế nên việc này nói cho chúng ta biết Phật, Bồ Tát còn nhiều hơn số người tạo tội nghiệp, lòng đại từ đại bi này chúng ta chẳng tìm đủ ngôn từ để tán thán.  Nhưng chúng sanh đích thật ương ngạnh khó giáo hóa, tập khí quá nặng.  Phật, Bồ Tát giáo hóa chúng sanh, dạy cho họ cải tà quy chánh, ở đây nói ‘trong mười người có một, hai vẫn còn tập khí ác’, nói cách khác, bảy tám người trong mười người đã được Phật, Bồ Tát độ thoát rồi, như vậy số người được độ thoát không phải rất nhiều sao?  Chư vị nên biết số người nói ở đây là chỉ những chúng sanh căn cơ chín muồi, không nói đến những chúng sanh căn cơ chưa chín muồi.  Cũng có nghĩa là thiện căn, phước đức của họ đã thành thục rồi, Phật, Bồ Tát đến tạo duyên phụ giúp họ, là ý tứ như vậy.  Ða số những người này đều có thể tiếp nhận Phật pháp, y giáo phụng hành, nhưng vẫn còn thiểu số một, hai trong mười người, vẫn còn tập khí ác.  Trong kinh Hoa Nghiêm chúng ta thấy có mười loại chúng, liệt kê ra mười loại đến nghe kinh trong những đoàn thể nhỏ, chúng ta có thể nhận biết được.  Trên thực tế thì trong đạo tràng của chúng ta cũng có thể nhận biết.  Nếu họ chẳng có thiện căn phước đức, chúng ta giảng kinh ở đây họ đời nào chịu đến nghe!  Cũng rất chăm chú nghe, hình như cũng rất gắng sức tu hành, nhưng một lát thôi rồi tập khí tật xấu gì cũng khởi lên lại, đây là thuộc về ‘một, hai trong mười’ này.  Hạng này được độ trong đời này không?  Không thể được, chỉ trồng thiện căn mà thôi.  Cho nên Phật giao những chúng sanh này cho Ðịa Tạng Bồ Tát, Phật chưa độ hết những người căn tánh chưa chín muồi này, nhờ Ðịa Tạng Bồ Tát độ tiếp, mãi cho đến khi Phật Di Lặc ra đời.  Chúng ta xem tiếp kinh văn:

          Ngô diệc phân thân thiên bá ức, quảng thiết phương tiện.

          Ta cũng phân thân ngàn trăm ức, rộng bày phương tiện.

Ở đây đức Phật Thích Ca nói ra, phía trước là nói sơ lược, ở đây nói kỹ hơn, chia căn tánh của chúng sanh thành bốn loại, ba loại trong đó đều được độ, loại chót chính là ‘một, hai trong mười’, cụ thể nói rõ ra.

Hoặc hữu lợi căn, văn tức tín thọ.

Hoặc có kẻ lợi căn, vừa nghe liền tin nhận.

Ðây là người thượng thượng căn, vừa tiếp xúc Phật pháp liền tin tưởng, liền tiếp nhận, y giáo phụng hành, họ liền được độ, đây là [chúng sanh] được độ vào thời Chánh pháp.  Hạng thứ hai:

Hoặc hữu thiện quả, cần khuyến thành tựu.

Hoặc kẻ có thiện quả, phải ân cần khuyên bảo mới thành tựu.

Thiện căn, phước đức cũng khá sâu dầy, nhưng thua hạng người kể trên.  Nếu chúng ta xếp vào ba thời kỳ trong pháp vận của Phật, đây là [chúng sanh] được độ trong thời Tượng pháp, còn thuộc hàng lợi căn, tốt hơn chúng ta bây giờ.

Hoặc hữu ám độn, cửu hóa phương quy.

Hoặc có kẻ ám độn, giáo hóa thật lâu mới có thể quay về.

Ðây là hạng căn tánh ám độn.  ‘Ám’ là không có trí huệ, ‘độn’ là căn tánh không lanh lợi.  Ðối với chúng sanh hạng này, Phật cũng chẳng bỏ rơi.  ‘Cửu hóa’ nghĩa là phải dùng thời gian rất dài để giúp đỡ họ.  Chúng ta thường nói ‘đi sâu vào một môn, huân tu trong thời gian dài’, họ từ từ cũng sẽ giác ngộ.  Ðây là những chúng sanh thời Mạt pháp.

Hoặc hữu nghiệp trọng, bất sanh kính ngưỡng.

Hoặc có kẻ nghiệp nặng, chẳng sanh lòng kính ngưỡng.

Ðây không phải là những người bên ngoài, là chỉ bốn chúng đệ tử trong nhà Phật, thậm chỉ cũng đã xuất gia, thọ giới, làm pháp sư, làm trụ trì, đối với Phật pháp chẳng sanh kính ngưỡng.  Tuy nhìn thấy tượng Phật cũng đảnh lễ, lạy, tuyệt chẳng y giáo phụng hành, như vậy là không có lòng kính ngưỡng; nếu có lòng kính ngưỡng thì nhất định sẽ y giáo phụng hành.  Họ chẳng chịu làm, Phật dạy chúng ta không tham, [nhưng họ] cứ tham, chẳng bỏ lỡ, Phật dạy chúng ta không si, họ vẫn si mê như cũ, hạng người này chính là ‘không sanh lòng kính ngưỡng’.  Tại sao không sanh kính ngưỡng?  Nghiệp chướng nặng, tuy họ nghe lời Phật giảng, cũng biết nói, nhưng lại hoài nghi.  Coi trọng lợi ích trước mắt, họ chẳng chịu xả bỏ, chẳng chịu buông xuống, cùng người thế gian tranh danh đoạt lợi, sai lầm ở chỗ này.  Hạng chúng sanh này tức là loại ‘một, hai trong mười’ nói ở trên.  Họ tiếp xúc Phật pháp, trồng thiện căn trong ấy nhưng đời này không thể thành tựu.  Ðây là sau khi pháp của Thế Tôn đã diệt, vị Phật kế đó, Di Lặc Bồ Tát thành Phật, khi nào mới đến?  Trong ‘Kinh Di Lặc Hạ Sanh’ nói năm mươi sáu ức bảy ngàn vạn năm sau, Phật Di Lặc mới hạ sanh.  Thời gian này được tính như thế nào?  Trên thật tế chư vị tính thử xem, không khó, có thể tính ra.  Di Lặc Bồ Tát hiện nay đang ở trời Ðâu Suất, một ngày ở trời Ðâu Suất bằng bốn trăm năm ở nhân gian, thọ mạng người cõi trời Ðâu Suất rất dài, cũng tính một năm ba trăm sáu mươi lăm ngày, y theo cách tính này; Tứ Vương Thiên thọ mạng năm trăm tuổi, Ðao Lợi Thiên thọ mạng một ngàn tuổi, Dạ Ma Thiên thọ mạng hai ngàn tuổi, Ðâu Suất Thiên thọ mạng bốn ngàn tuổi.  Cách tính bốn ngàn tuổi là một ngày của họ bằng bốn trăm năm ở cõi người, cứ như vậy tính ra, đại khái tức là năm mươi sáu ức bảy ngàn vạn năm, con số này là do người đời trước tính ra.  Chính xác hay không chẳng quan hệ, bạn có thể tự tính được.

Sau thời gian dài như vậy, Phật Di Lặc mới xuất hiện ở nhân gian.  Thời gian không có Phật trước đó thiệt là dài, quá dài, trong thời gian này Thế Tôn nhờ Ðịa Tạng Bồ Tát thay thế Phật độ hóa những chúng sanh khổ nạn.  Cho nên lúc Phật không trụ thế, Ðịa Tạng Bồ Tát là người đại diện cho Phật.  Do đó trong pháp hội chúng ta thấy Văn Thù, Phổ Hiền Bồ Tát rất cung kính Ðịa Tạng Bồ Tát, vì Ðịa Tạng Bồ Tát là người đại diện cho Phật.  Trong những kinh điển khác chúng ta thấy lễ tiết, ngôn từ không giống nhau, rất là cung kính.

Như thị đẳng bối chúng sanh, các các sai biệt phân thân độ thoát.

Những hạng chúng sanh sai khác như vậy, Ta đều phân ra nhiều thân khác nhau để độ thoát cho từng hạng.

Ân đức lớn lao của chư Phật, Bồ Tát đối với chúng sanh trên thế gian này chẳng có gì bằng, ai có thể sánh bằng?  Trong mỗi niệm không hề xả bỏ chúng sanh, căn chín muồi cũng độ, căn chưa chín muồi cũng độ.  Căn chưa chín thì giúp cho họ trở thành chín; đã chín rồi thì nhất định sẽ được độ.  Thời Mạt pháp chúng sanh có căn cơ chín muồi chính là Tịnh Ðộ, người có thể chân chánh tin tưởng lời dạy trong Tịnh Ðộ, chắc thật niệm Phật cầu nguyện vãng sanh.  Người có căn cơ chín muồi trong thời Mạt pháp sanh đến tây phương Cực Lạc thế giới bất thoái thành Phật, đó là căn chín muồi.  Chúng sanh căn tánh chưa chín muồi trong thời Mạt pháp là những ai?  [Là những người] chẳng thể tiếp nhận giáo pháp Tịnh Ðộ.  Ngày nay chúng ta thấy những người học Thiền, học Mật, học những pháp môn khác, chúng ta rất rõ ràng, tại sao vậy?  Trong đời này họ nhất định chẳng có khả năng tự mình đoạn phiền não, những pháp môn thông thường chẳng ngoại lệ.  Khi Kiến Tư phiền não đoạn dứt mới có thể vượt thoát khỏi sáu nẻo luân hồi, tuy thoát khỏi sáu nẻo luân hồi nhưng vẫn còn trong mười pháp giới, mười pháp giới vẫn còn là một vòng quanh quẩn to lớn, vẫn còn giới hạn.  Còn phải đoạn Trần Sa phiền não, rồi tiến lên phá một phẩm vô minh mới siêu việt mười pháp giới, chứng được pháp thân, vãng sanh về Nhất Chân pháp giới.  Nhất Chân pháp giới nói trong kinh Hoa Nghiêm hơn phân nửa là Hoa Tạng thế giới.  Khó lắm!  Chuyện này quá khó, khó vô cùng!  Ðừng nói đoạn hết [tất cả] Kiến Tư phiền não, một phẩm Kiến Tư cũng chẳng dễ, có bao nhiêu người có thể phá Thân Kiến của mình, có thể không nghĩ về sự hưởng thọ của thân này?  Cửa ải này phá xong thì mới phá một phần của Kiến Tư, mới phá một phẩm của tám mươi tám phẩm.  Tuyệt chẳng khởi tâm động niệm muốn cho thân này hưởng thọ thì mới phá được một phẩm Thân Kiến; tám mươi tám phẩm mới phá được một phẩm thì chẳng dùng được.  Từ chỗ này chúng ta mới biết tu học những pháp môn khác thật sự cần phải có lợi căn, thiện quả như Phật nói mới được.  Lợi căn, thiện quả gì chúng ta cũng không có, chỉ có một chút thiện căn, phước đức, nhân duyên này, nghe được giáo pháp Tịnh Ðộ, hết lòng chắc thật niệm Phật, như vậy mới có được một chút thành tựu.

Ðoạn kinh văn phía sau giảng về phổ hiện sắc thân, như kinh Lăng Nghiêm nói nên dùng thân gì để độ hóa thì Phật, Bồ Tát dùng thân đó.  Phật, Bồ Tát ở thế gian, chúng ta phàm phu mắt thịt nhìn không ra, nói thật ra trong thế gian có rất nhiều, rất nhiều, trong những người buôn bán, người giúp việc cũng có Phật, Bồ Tát.  Chúng ta không có cảnh giác cao nên thường mắc lỗi, khinh mạn, khinh dễ Phật, Bồ Tát, tạo ra vô lượng vô biên tội nghiệp, tự mình không biết, Phật, Bồ Tát tuyệt đối chẳng trách mắng bạn.  Những người hiểu rõ sự thật này nhất định sẽ chẳng dám khởi tâm khinh mạn đối với hết thảy chúng sanh.  Ý nghĩa quan trọng của chư Phật, Bồ Tát thị hiện như vậy là để dạy chúng ta tu Phổ Hiền Hạnh ‘Lễ Kính Chư Phật’, đối với hết thảy người, sự, vật đều phải chân thành cung kính, đoạn dứt phiền não cống cao ngã mạn của mình.  Mọi người đều biết trong lịch sử, hai vị Hàn Sơn, Thập Ðắc ở chùa Quốc Thanh là hóa thân của Văn Thù và Phổ Hiền.  Các ngài làm gì trong chùa?  Làm công việc lặt vặt, chẻ củi, gánh nước trong nhà bếp.  Có ai kính trọng các ngài!  Phong Can là A Di Ðà Phật tái lai, ngài làm gì trong chùa?  Giã gạo, làm công việc nặng nhọc trong nhà bếp, phục vụ đại chúng, trong chùa không có một ai kính trọng ngài.  Sau này người ta biết được, mới biết Phật, Bồ Tát vốn đang chăm sóc cho chúng ta, chúng ta mỗi ngày mắc lỗi với các ngài, có hối hận cũng không kịp.  Ðạo tràng của chúng ta không lẽ chẳng có Phật, Bồ Tát hay sao?  Có thể Phật, Bồ Tát đang làm việc trong nhà bếp mà các bạn không biết, mỗi ngày đều dèm chê họ.  Thế nên phải biết hóa thân của chư Phật, Bồ Tát thật sự đều ở xung quanh chúng ta.  Ở đây nêu ra vài thí dụ để nói rõ thêm:

Hoặc hiện nam tử thân, hoặc hiện nữ nhân thân, hoặc hiện thiên long thân, hoặc hiện thần quỷ thân.

Hoặc hiện thân người nam, hoặc hiện thân người nữ, hoặc hiện thân Trời, rồng, hoặc hiện thân quỷ, thần.

Mắt thịt chúng ta nhìn chẳng thấy những vị này, họ thấy chúng ta, họ ở xung quanh chúng ta, có thể ảnh hưởng chúng ta.  Lúc trước lão cư sĩ Châu Kính Trụ kể cho tôi nghe nhân duyên dẫn cụ học Phật, ban đêm cụ nhìn thấy quỷ nên mới tin tưởng.  Cụ là người học khoa học, cũng làm quan khá lớn, cứ cho rằng những chuyện này là mê tín, chẳng bao giờ chịu tin.  Cụ tiếp xúc được rất nhiều, nhưng thấy người khác, nghe người khác kể đều coi như nghe kể chuyện cổ tích, bán tín bán nghi.  Cụ làm sao sanh khởi lòng tin chân chánh được?  Cụ kể cho tôi nghe, trong thời kháng chiến cụ đang ở Trùng Khánh, ban đêm đánh bài ‘mà chược’ đến một, hai giờ khuya mới về nhà.  Lúc đó chẳng có xe, phải đi bộ, cách rất xa mới có một cột đèn, đại khái cỡ chừng hai mươi nến, trên đường tối đen như mực.  Trên đường đi về nhà, khoảng đường khá dài, cũng chẳng có cảm giác gì khác lạ.  Cụ thấy có một người đang đi trước cụ chẳng xa, là một người đàn bà, cụ cứ đi như vậy cũng chẳng để ý.  Sau khi đi được một lúc cụ bỗng nhiên giựt mình, [đặt câu hỏi] tại sao bà này đi lang thang một mình trong đêm tối?  Nghĩ như vậy nên cụ nổi da gà, nhìn kỹ lại mới thấy bà này chỉ có phân nửa thân phía trên, chẳng thấy thân phía dưới, lúc bấy giờ cụ mới thật sự khiếp sợ.  Nhờ gặp chuyện này nên cụ mới bắt đầu học Phật.  Sau khi học Phật, cụ nói chắc là hóa thân của Quán Thế Âm Bồ Tát ‘hoặc hiện thần quỷ thân’, nếu chẳng thấy tận mắt, bất kỳ ai nói, cụ cũng sẽ bán tín bán nghi, coi như nghe chuyện cổ tích, nhờ [cụ nhìn thấy bà này nên] mới bước vào cửa Phật.  Phía dưới:

Hoặc hiện sơn lâm xuyên nguyên, hà trì tuyền tỉnh, lợi cập ư nhân, tất giai độ thoát.

Hoặc hiện núi rừng, nguồn sông, đồng bằng, sông hồ, suối giếng để làm lợi ích cho con người, làm cho tất cả đều được độ thoát.

Ðây là hiện ‘Thân vô tình’.  Hiện nay mọi nơi đều đề xướng du lịch ngắm cảnh, lúc bạn đi du lịch, đi chơi nhìn thấy những cây cối, hoa cỏ, những cảnh núi sông này, sau khi nhìn thấy bèn có cảm nhận giác ngộ, [những cảnh tượng này] đều là chư Phật, Bồ Tát biến hiện.  Tại sao người khác nhìn thấy không khai ngộ mà bạn nhìn lại khai ngộ?  Cho nên một người khai ngộ không nhất định phải là nhân duyên gì, phàm những gì giúp đỡ bạn khai ngộ, bất luận là người, sự, vật đều là Phật, Bồ Tát gia trì.  Từ đó bạn mới biết, không những Phật, Bồ Tát thị hiện làm chúng sanh hữu tình mà còn thị hiện chúng sanh vô tình ở xung quanh bạn nữa.  Chúng ta không biết ngôn ngữ, thân thể tạo tác, khởi tâm động niệm [của chúng ta], thậm chí tự mình không biết mình ngu si ám độn, nhưng Phật, Bồ Tát biết rõ ràng, minh bạch.  Người Trung Quốc thời xưa có câu: ‘Trên đầu ba thước có thần minh’, lời này chẳng giả.  Số quỷ thần nhiều, số Phật, Bồ Tát còn nhiều hơn, đều là đại từ đại bi, niệm niệm không gì chẳng là cảm hóa chúng ta, làm cho chúng ta quay về, sớm một ngày thoát khỏi lục đạo luân hồi, không tạo ác nghiệp nữa.  Thế nên phàm những gì có lợi cho chúng sanh, đặc biệt là có lợi cho chúng sanh khai ngộ, giải thoát, chúng ta biết đều là Phật, Bồ Tát gia trì, chẳng có nơi nào Phật, Bồ Tát không hiện thân.

Hoặc hiện Thiên Ðế thân, hoặc hiện Phạm Vương thân.

Hoặc hiện thân Thiên Ðế, hoặc hiện thân Phạm Vương.

Chúng ta đọc đến đây thì đừng coi thường những tín đồ tôn giáo khác.  Ðối với hết thảy tín đồ tôn giáo khác chúng ta phải cung kính, tâm và thái độ cung kính họ cùng tâm và thái độ đối với Phật, Bồ Tát chẳng khác.  Tại sao vậy?  Những hạng chúng sanh nào Phật độ không được, họ tin Thượng Ðế, thì Phật, Bồ Tát bèn hiện thân Thượng Ðế để độ họ, như vậy không phải là cùng một chuyện hay sao?  Chẳng có gì khác nhau hết.  Chẳng qua là ngài chỉ quẹo qua một ngõ khác mà thôi, phải sanh lên trời rồi sau đó mới học Phật.  Hiện nay chúng ta đang học Phật thì thù thắng hơn họ rất nhiều, họ phải đi đường vòng quanh.  Họ chẳng cung kính chúng ta là đương nhiên rồi, họ chẳng hiểu, có thành kiến, có chấp trước, bài xích.  Chúng ta đối với họ chẳng thể không cung kính, chúng ta biết Phật, Bồ Tát hóa thân trên trời và nhân gian vô lượng vô biên.  ‘Thiên Ðế’ là danh xưng của người Trung Quốc gọi Ngọc Hoàng Ðại Ðế, là vị được Ðạo Giáo sùng bái.  Thượng Ðế của một số tôn giáo Tây phương đại khái là Ðao Lợi Thiên Chủ.  ‘Phạm Vương’ là Ðại Phạm Thiên Vương, có một số tôn giáo ở Ấn Ðộ sùng bái Ðại Phạm Thiên.

Hoặc hiện Chuyển Luân Vương thân.

Hoặc hiện thân Chuyển Luân Vương.

Chuyển Luân Vương là người có phước báo lớn nhất trong cõi người.  Những báo cáo về khoa học cận đại thường đăng tin có những vật phi hành chẳng rõ từ đâu ngoài không gian xuất hiện trên trái đất.  Những báo cáo này rất nhiều, thậm chí còn nói có người ngoài không gian.  Luân Bảo của Luân Vương nói thật ra rất giống với dĩa bay, đây là công cụ giao thông và cũng là võ khí của ngài.  Cho dù những người này lái dĩa bay đến đây, có phải họ là Chuyển Luân Vương không?  Không chắc, Chuyển Luân Vương sai người đến đây khảo sát tình hình, nhất định chẳng phải Chuyển Luân Vương.  Làm sao biết được?  Chuyển Luân Vương từ bi, đối với hết thảy chúng sanh tuyệt đối chẳng gây tổn hại.  Thế nên chúng ta có thể nói nếu là công cụ giao thông của Luân Vương thì họ nhất định là sứ giả của Luân Vương.  Cũng giống như ngày nay chúng ta phái người đi thám hiểm ngoài không gian, phi hành gia Mỹ đã đi, phi hành gia Nga cũng đi rồi, tuyệt đối chẳng phải tổng thống Mỹ, tổng thống Nga, là họ phái người đi, đây là chuyện chúng ta có thể tưởng tượng được.  Hiện thân Chuyển Luân Vương.

Hoặc hiện cư sĩ thân.

Hoặc hiện thân cư sĩ.

Người tại gia học Phật.

Hoặc hiện Quốc vương thân, hoặc hiện Tể phụ thân.

Hoặc hiện thân Quốc vương, hoặc hiện thân Tể phụ

Tể phụ là quan, chúng ta gọi là quan lớn, hiện nay những chức Tổng lý, Thủ tướng, Bộ trưởng đều là [chức] Tể phụ.

Hoặc hiện quan thuộc thân.

Hoặc hiện thân các quan thuộc.

Ðây là những quan viên trong chính phủ, là thân phận người tại gia.

Hoặc hiện Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di thân.

Hoặc hiện thân Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di.

Ðây là thị hiện thân phận của người học Phật.  Vì ở đây có ghi Ưu bà tắc, Ưu bà di, phía trước ghi cư sĩ, giữa hai hạng này có chỗ khác nhau.  Cư sĩ không nhất định là người học Phật, là những người tại gia có học thức, có đạo đức, chẳng làm quan.  Ở đây có chút sai khác như vậy.

Nãi chí Thanh Văn, La Hán, Bích Chi Phật, Bồ Tát đẳng thân, nhi dĩ hóa độ, phi đản Phật thân, độc hiện kỳ tiền.

Cho đến thân Thanh Văn, La Hán, Bích Chi Phật, Bồ Tát, v.v… để hóa độ, chứ chẳng phải chỉ có thân Phật hiện ra trước chúng thôi đâu.

Ðức Phật Thích Ca thị hiện lần này là dùng thân Phật thị hiện.  Ngoại trừ dùng thân Phật ra, Ngài còn dùng những thân khác thị hiện, trăm ngàn vạn ức Ứng hóa thân đều ở trong thế gian chúng ta.  Nếu chúng ta hỏi đức Phật Thích Ca hiện nay có ở đây không?  Ðương nhiên là có, chẳng dùng thân Phật để xuất hiện.  Phàm phu chúng ta cứ cho rằng đức Phật Thích Ca đã diệt độ rồi, là thân tướng của Phật diệt độ.  Nếu Ngài thị hiện thân người nam, người nữ, thiên long, quỷ thần, cư sĩ, tể quan, tỳ kheo, tỳ kheo ni thì chúng ta làm sao nhận ra?  Lúc nào cũng có, nơi nào cũng có.  Trên lịch sử chúng ta chỉ biết Trí Giả đại sư là đức Phật Thích Ca Mâu Ni tái lai, Ngài hiện thân tỳ kheo.  Ðây là thân phận lộ ra mọi người mới biết được, thân phận khác chưa lộ ra quá nhiều, quá nhiều!  Thân phận lộ ra chỉ là một phần vạn, hai phần vạn mà thôi, đại đa số thân phận chẳng lộ ra.  Nếu thân phận thường thường lộ ra thì có ảnh hưởng phụ đối với sự hoằng truyền Phật giáo, chẳng có lợi cho việc giáo hóa chúng sanh, chỉ lâu lâu mới lộ một lần, việc này chúng ta nhất định phải biết.  Thế nên đối với hết thảy mọi người phải giữ lòng cung kính, thái độ của chúng ta phải thường giữ tâm hoan hỷ, phải hiểu đạo lý này, chư Phật, Bồ Tát không ai là chẳng vậy.  Xem tiếp đoạn kinh kế:

Nhữ quán ngô lũy kiếp cần khổ, độ thoát như thị đẳng nan hóa cang cường tội khổ chúng sanh.

Ông xem Ta trải qua bao số kiếp cần cù khổ nhọc độ thoát những chúng sanh ương ngạnh, đầy tội khổ, khó khai hoá như thế.

Ðức Phật Thích Ca thị hiện làm gương mẫu cho Bồ Tát, dạy Bồ Tát phá một phẩm vô minh, chứng một phần Pháp Thân thì sẽ có khả năng biến hóa trăm ngàn vạn ức hóa thân.  Ðáng nên học Phật, quảng độ chúng sanh.  Viên Giáo Sơ Trụ Bồ Tát, Biệt Giáo Sơ Ðịa Bồ Tát có thể tùy loại hóa thân.  Trong kinh Lăng Nghiêm chúng ta thấy Quán Thế Âm Bồ Tát, chư vị nhất định phải biết Quán Thế Âm Bồ Tát trong kinh Lăng Nghiêm là Sơ Trụ Bồ Tát, chẳng phải là Ðẳng Giác Bồ Tát.  Ngài thuật lại quá trình tu hành của mình, lý luận và phương pháp tu hành, báo cáo cho đại chúng biết.  Công phu của Ngài là ‘Xoay trở vào trong nghe tự tánh, tánh thành vô thượng đạo’.  Phá một phẩm vô minh, kiến tánh xong thì Ngài có năng lực ba mươi hai Ứng.  Thế nên trong hội Lăng Nghiêm chúng ta biết Quán Âm là Sơ Trụ Bồ Tát, Phát Tâm Trụ, Bồ Ðề tâm vừa mới phát bèn có năng lực lớn như vậy.  Quán Âm Bồ Tát trong kinh Hoa Nghiêm, sau này sẽ giảng đến Năm mươi ba lần tham vấn của Thiện Tài đồng tử, tham vấn Quán Thế Âm Bồ Tát, Quán Thế Âm Bồ Tát này đại biểu quả vị Thất Hồi Hướng, Thất Hồi Hướng Bồ Tát.  Trong kinh Pháp Hoa, phẩm Phổ Môn là Ðẳng Giác Quán Thế Âm Bồ Tát.  Bồ Tát giống như Phổ Hiền trong kinh Hoa Nghiêm vậy, có ‘Ðạo Tiền’, có ‘Ðạo Vị’, Ðạo Tiền là trước lúc chứng Ðẳng Giác, có thể nói là từ quả vị Sơ Tín đến Pháp Vân Ðịa gọi là Ðạo Tiền; Ðẳng Giác là Ðạo Vị.  Sau khi thành Phật, thả chiếc bè từ, lại dùng thân Bồ Tát độ hóa chúng sanh, cùng việc Thế Tôn nói ở đây chẳng nhất định phải hiện thân gì, Ngài có khả năng tận hư không, trọn khắp pháp giới cùng hết thảy chúng sanh cảm ứng đạo giao, chúng sanh có cảm, ngài liền có ứng.  Cảm của chúng sanh có hiển, có ẩn, hiển là gì?  Có tâm cầu Phật, Bồ Tát.  Ẩn là gì?  Tâm niệm cầu Phật, Bồ Tát tự mình cũng chẳng biết, việc này rất kỳ lạ.  Tại sao mình cầu Phật, Bồ Tát đến giúp đỡ mà tự mình chẳng biết?  Nói thật ra là vì thiện căn phước đức của mình đã chín muồi, tự mình chẳng biết.  Nhưng mức chín muồi này của bạn cảm động đến Phật, Bồ Tát, chư Phật, Bồ Tát nhất định sẽ ứng hóa đến tạo cho bạn tăng thượng duyên, để giúp đỡ bạn, thành tựu cho bạn.  Bạn chẳng tìm Ngài, Ngài đến tìm bạn, trong kinh Vô Lượng Thọ có nói: ‘Làm người bạn chẳng thỉnh của hết thảy chúng sanh’, bạn chẳng mời họ, họ tự động tới.  Phía sau là đoạn Thế Tôn nhờ Ngài:

Kỳ hữu vị điều phục giả, tùy nghiệp báo ứng, nhược đọa ác thú, thọ đại khổ thời nhữ đương ức niệm ngô tại Ðao Lợi Thiên Cung ân cần phó chúc, lịnh Sa Bà thế giới chí Di Lặc xuất thế dĩ lai chúng sanh tất sử giải thoát, vĩnh ly chư khổ, ngộ Phật thọ ký.

Còn những kẻ chưa được điều phục thì theo nghiệp mà chịu báo ứng.  Nếu họ đọa vào đường dữ và chịu nhiều sự đau khổ thì ông nên nhớ Ta ở cung trời Ðao Lợi đã ân cần phó chúc [ông] làm cho chúng sanh ở thế giới Sa Bà đến lúc đức Phật Di Lặc xuất thế đều được độ thoát, vĩnh viễn xa lìa các sự khổ, được gặp Phật và được thọ ký.

Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni tại cung trời Ðao Lợi ân cần ủy thác công việc giáo hóa chúng sanh cho Ðịa Tạng Bồ Tát, vô cùng rõ ràng, minh bạch.  [Những người] đã từng trong thời gian giáo hóa của Thế Tôn, kể cả thời Mạt pháp, cũng có nghĩa là trong pháp vận mười hai ngàn năm của đức Phật Thích Ca, những người đã được nghe danh hiệu Phật, nhìn thấy tượng Phật, lúc Phật còn tại thế đã thấy Phật, lúc Phật chẳng còn tại thế đã nhìn qua hình tượng của Phật, hoặc là tượng điêu khắc, hoặc là tranh vẽ.  Hoặc nghe đến danh hiệu của đức Phật Thích Ca Mâu Ni, nhìn qua hình tượng của Tam Bảo, bất luận Tam Bảo này là thiệt hay giả, có tu hoặc chẳng có tu, đều không quan trọng vì chỉ cần họ có dịp tiếp xúc thì đều được trồng thiện căn.  Tuy đã trồng thiện căn nhưng ác nghiệp tập khí của họ quá nặng.  Có thiện căn dầy thì sanh một chút cung kính, không chịu y giáo phụng hành; thiện căn mỏng thì không những chẳng sanh tâm cung kính, ngược lại còn hủy báng.  Thế nên chư vị phải biết, lúc mới học Phật chúng ta bị một chút hủy báng chẳng đáng kể gì hết.  Chư Phật Như Lai ứng hóa nơi thế gian này, bị hủy báng quá nhiều, quá nhiều rồi, Phật chẳng giữ trong tâm, đây là việc chúng ta nên học các ngài.  Bị những sự sỉ nhục, hủy báng này, chúng ta nhìn chúng sanh tạo tội nghiệp phải nên khởi tâm thương xót, làm sao chúng ta có thể phiền họ được?  Làm sao có thể trách họ được?  Nếu còn sanh khởi tâm muốn trả đũa thì bạn hoàn toàn sai mất rồi.  Bạn phải biết họ ngu si, họ chẳng có trí huệ, phiền não tập khí của họ quá nặng nên họ mới tạo tác ác nghiệp, thương xót họ còn không kịp thì có lý nào trách móc họ!  Ðây là chư Phật, Bồ Tát thị hiện cho chúng ta xem, dạy chúng ta làm sao học tập.  Người tạo ác nghiệp thì nhất định phải đọa địa ngục, ‘nếu đọa vào đường dữ và lúc chịu nhiều đau khổ’, đây là đọa địa ngục, tạo tội nghiệp trong Phật pháp.

Sau đó là lời Thế Tôn phó chúc, ‘nhữ đương ức niệm’, ‘nhữ’ là chỉ Ðịa Tạng Bồ Tát, lời này là nói với Ðịa Tạng Bồ Tát: Ông nên nghĩ đến.  ‘Ngô’ là đức Phật Thích Ca tự xưng, Thế Tôn ‘tại Ðao Lợi thiên cung’, hôm nay ‘ân cần phó chúc’, nhờ ông làm việc này.  ‘Lịnh Sa Bà thế giới, chí Di Lặc xuất thế dĩ lai chúng sanh’, đây chẳng phải là chúng sanh thông thường, đều đã gặp được Phật pháp, những chúng sanh tạo tội nghiệp nơi Tam Bảo, chúng ta phải hiểu rõ việc này.  Cũng như phía trước có nói: ‘một, hai trong mười người’, số lượng trong đó rất nhiều.  Mãi đến lúc Phật Di Lặc xuất thế, thời gian này dài năm mươi sáu ức bảy ngàn vạn năm, là người xưa nói như vậy.

‘Tất sử giải thoát, vĩnh ly chư khổ, ngộ Phật thọ ký’, Ðịa Tạng Bồ Tát dùng pháp môn gì?  Nói cho quý vị biết Ngài dùng pháp môn Niệm Phật.  Nghiệp chướng, tập khí của chúng sanh đời Mạt pháp rất nặng, những pháp môn khác nhất định không thể thành tựu.  Tuy nói pháp môn bình đẳng, chẳng có cao thấp, nhưng căn tánh chúng sanh chẳng đồng, tập nhiễm chẳng đồng, tu học những pháp môn khác khó khăn, pháp môn niệm Phật dễ hơn.  Phía trước chúng ta thấy cô Bà La Môn, sau đó là cô Quang Mục, cả hai đều dùng pháp môn Niệm Phật.  Chỉ có pháp môn Niệm Phật, vãng sanh đến tây phương Cực Lạc thế giới mới được thật sự giải thoát, vĩnh viễn xa lìa các sự khổ, gặp Phật A Di Ðà được Ngài thọ ký, đây đều là sự thật.

Nhĩ thời chư thế giới, phân thân Ðịa Tạng Bồ Tát cộng phục nhất hình, thế lệ ai luyến.

Bấy giờ các phân thân của Ðịa Tạng Bồ Tát ở các thế giới hợp lại thành một hình, rơi lệ ai luyến.

Ðây là Ðịa Tạng Bồ Tát tiếp nhận lời phó thác của đức Phật Thích Ca, lúc đó ngài rất cảm động.  Vô lượng phân thân có thể hợp thành một thân.

Bạch kỳ Phật ngôn, ngã tùng cửu viễn kiếp lai mông Phật tiếp dẫn, sử hoạch bất khả tư nghị thần lực, cụ đại trí huệ.

Bạch Phật rằng: ‘Từ số kiếp lâu xa đến nay, con nhờ đức Phật tiếp độ dẫn dắt, khiến cho con có thần lực chẳng thể nghĩ bàn, đầy đủ trí huệ rộng lớn.’

Ðây là những lời cảm ơn, chúng ta phải thể hội ý tứ này, ‘tri ân báo ân’.  Ðịa Tạng Bồ Tát có thành tựu như vậy, ngài nghĩ lúc ban đầu cũng là phàm phu tu học thành tựu.  Ðược sự giúp đỡ của chư Phật, Bồ Tát nên ngài mới có thành tựu như vậy.  Luôn luôn chẳng quên cội nguồn, đoạn kinh này dạy chúng ta phải tri ân.  Thân chúng ta có được từ cha mẹ, cha mẹ sanh mình, nuôi mình.  Khi mình khôn lớn thành người rồi, có bao nhiêu người có thể nghĩ đến ân đức của cha mẹ?  Cầu học, học thành tài rồi, có được bằng cấp, có bao nhiêu người nghĩ đến ân đức của thầy giáo?  Trong kinh Ðại Bát Nhã, Phật nói Nhị Ðịa Bồ Tát có tám môn cần phải học, một môn trong đó chính là ‘Tri ân báo ân’.  Chư vị phải biết, Nhị Ðịa Bồ Tát là tiêu biểu pháp, Nhị Ðịa tri ân báo ân, vậy thì Sơ Ðịa, Thập Hồi Hướng, Thập Hạnh, Thập Trụ, Thập Tín có cần tu không?  Tất cả đều phải tu.  Hoa Nghiêm nói lời chân thật cho chúng ta, một vị thứ tức là hết thảy vị, hết thảy vị tức là một vị.  Thế nên chúng ta có thể học được ‘đại pháp’ từ trong kinh Hoa Nghiêm.  Những gì mỗi vị Bồ Tát tiêu biểu, phía sau chúng ta sẽ thấy, ba mươi mấy loại Thần chúng này, họ đều là Bồ Tát.  Lúc nãy có nói, nên dùng thân quỷ thần thì họ liền hiện thân quỷ thần, đồng nam, đồng nữ, một trăm bảy mươi mấy chúng đều là Phật, Bồ Tát hóa thân, đều triển hiện vạn đức vạn năng trong tự tánh của chúng ta.  Phổ Hiền tiêu biểu cho Tổng Tướng (tướng Chung), những chúng này tiêu biểu cho Sai Biệt Tướng, trong tổng có biệt, trong biệt có tổng: Tổng là một, Biệt là nhiều, một là nhiều, nhiều là một, một và nhiều chẳng hai.

Phía trước chúng ta thấy hai mươi vị Bồ Tát tiêu biểu pháp, mười vị Bồ Tát trước cùng tên, mười vị sau khác tên, dụng ý ở đâu?  Là nói với chúng ta ‘Ðồng’ là ‘Ðồng trong những cái Dị’, Dị là ‘Dị trong những cái Ðồng’, Ðồng và Dị chẳng hai.  Hiển thị ra tâm tánh vạn đức vạn năng của chúng ta, chữ ‘vạn’ này chẳng phải là con số, trí huệ đức năng trong tâm tánh là vô lượng vô biên.  Từ đó bạn mới biết toàn bộ Kinh Hoa Nghiêm nói về cái gì?  Nói về Thể, Tướng, Tác Dụng của tự tánh mình, chẳng nói gì khác.  Toàn bộ kinh Hoa Nghiêm vốn là nói về chính mình, ngàn kinh vạn luận ngoài kinh Hoa Nghiêm nói về sai biệt; tóm lại Hoa Nghiêm là Tổng, hết thảy kinh luận là Biệt, Biệt là Biệt của Tổng, Tổng là Tổng của Biệt, là một chẳng phải hai.  Từ cơ sở này, bạn nghĩ đến tận hư không, trọn khắp pháp giới đều là tự mình, như vậy bạn mới có thể Giải được viên mãn.  Giải viên mãn rồi thì bạn phải Tu viên mãn, phải Chứng viên mãn, đây là mục tiêu chung cực của Phật giáo.  Phương Ðông Mỹ tiên sinh nói về: ‘sự hưởng thọ tối cao của con người’, một tí gì cũng chẳng giả.  Tôi có được một chút thọ dụng, nên tôi luôn luôn nhớ đến ân đức của thầy.  Phật pháp thù thắng vô cùng, vi diệu hạng nhất trong thế gian và xuất thế gian, nếu chẳng có cao nhân chỉ điểm, bạn làm sao nhận biết được?

Cả đời tôi học Phật chẳng có ý mong cầu, cảm ứng này là cảm ứng tiềm tàng.  Tôi chẳng có tâm mong cầu, chắc là thiện căn quá khứ chín muồi nên tôi gặp được những vị thầy này, chư Phật, Bồ Tát hóa hiện.  Phương pháp họ dạy cho tôi khác với phương pháp dạy người khác.  Tôi theo Phương tiên sinh học Triết Học, ông giới thiệu Phật pháp cho tôi, dạy cho tôi biết Triết học trong kinh Phật là đỉnh cao nhất trong Triết học thế giới, ngài dùng phương pháp này giới thiệu cho tôi.  Ông dạy học trong trường, chẳng dạy việc này cho những học sinh khác.  Sau khi tiếp xúc đến Phật pháp, tôi có duyên gặp Chương Gia đại sư, căn cơ của tôi là nhờ Chương Gia đại sư xây dựng.  Ðại sư viên tịch cũng là vì tôi, tôi biết rất rõ; vì nếu Ngài không viên tịch thì tâm học Phật của tôi sẽ chẳng khẩn thiết như vậy; khi Ngài ra đi rồi, tôi mất chỗ nương dựa.  Tôi cùng Cam Châu Hoạt Phật dựng lều nơi lò thiêu của ngài, tôi ở đó ba ngày ba đêm, hết sức thành thật và suy tư trong ba năm tôi theo Ngài học, Ngài đã dạy tôi những gì.  Moi móc trí nhớ, sắp xếp lại những lời dạy trong ba năm nay, tôi rất cảm kích Ngài, gốc đã được Ngài chôn sâu, rễ được vun bồi vững vàng.  Sau đó theo học thầy Lý mười năm mới có được một ít thành tựu.  Người theo học thầy Lý rất nhiều, quá nhiều, tại sao không thể thành tựu?  Vì chẳng có gốc rễ.  Trong ba năm ấy gốc rễ của tôi đã được vun bồi.  Tôi học Phật, học Phật pháp theo hai vị thầy, học Thế pháp theo một vị thầy, rất đơn thuần.  Tôi có thái độ của một người học trò, y giáo phụng hành, chẳng trái nghịch lời dạy của thầy giáo, tuân thủ lời dạy của thầy, trong Phật pháp gọi là ‘sư tư đạo hiệp’.

Chúng ta giảng kinh dạy học, nhất định phải cúng dường thầy giáo ở một bên, hiện trường này của chúng ta có thầy giáo hiện diện.  Thầy giáo dạy chúng ta, nếu chẳng có hộ pháp đắc lực thì cũng chẳng thể thành tựu.  Hàn quán trưởng hộ trì ba mươi năm, chúng ta treo ảnh của bà ở đối diện, mỗi lớp bà đều có tham dự và nhìn thấy, tinh thần của bà đích thật tồn tại trong đạo tràng này, trong lớp học chúng ta, chư Phật, Bồ Tát đều hiện diện.  Chúng ta dùng tâm niệm gì để học tập?  Cảm ân đội đức.  Chúng ta biết đời này nhất định thành tựu, chư Phật hộ niệm, long thiên ủng hộ, đâu có lý nào không thành tựu được?  Hàn Quán Trưởng có huệ nhãn, chẳng phải là người thường, lần trước pháp sư Hàn Quốc đến đây, nhìn thấy tấm ảnh này, [bảo Hàn Quán Trưởng là] Quán Âm Bồ Tát tái lai.  Bà giao phó công tác hộ pháp cho cư sĩ Lý Mộc Nguyên, ông Lý chẳng phụ lời ủy thác này.  Lần đầu tiên Lý cư sĩ đến thư viện ở Ðài Bắc, Hàn Quán Trưởng tặng cho ông một bộ Tây Phương Tam Thánh, giao Phật Bảo cho ông.  Ðến lần thứ hai tặng ông một bộ ‘Ðại Tạng Kinh’, giao Pháp Bảo cho ông.  Sau khi vãng sanh, chúng ta đều đến đây, cũng giao Tăng Bảo cho ông rồi.  Ông phải phụ trách hộ pháp nên mới có nhân duyên thù thắng này.  Chúng ta trong thời đại ngày nay có nhiều tai nhiều nạn, có thể ở đây giảng kinh Hoa Nghiêm chẳng dễ, bạn phải biết khai giảng kinh này, người ở địa phương này có phước báo bao lớn, thiện căn bao lớn.  Nếu thiện căn, phước đức, nhân duyên chẳng đầy đủ thì pháp hội này nhất định sẽ chẳng mở nổi.  Pháp hội này có thể xây dựng ở đây, là do hết thảy chư Phật Như Lai hộ niệm, long thiên thiện thần thủ hộ, trong tâm chúng ta biết rất rõ, rất minh bạch.

Ân cha mẹ, ân sư trưởng không thể quên, Phật dạy chúng ta ‘Trên đền bốn ân nặng’.  Bốn ân này là ‘Ân cha mẹ’, ‘Ân sư trưởng’; Tam Bảo thuộc phạm vi của Sư Trưởng, Tam Bảo là thầy của chúng ta; ‘Ân quốc gia’, ‘Ân chúng sanh’.  Quốc gia bảo vệ chúng ta, làm cho chúng ta an cư lạc nghiệp; chúng sanh, chúng ta không thể xa lìa xã hội, tách rời đại chúng và sanh tồn riêng rẽ.  Ẩm thực y phục của chúng ta đều phải nhờ rất nhiều người canh tác, trồng trọt tạo thành, phải thường thường suy nghĩ.  Làm sao báo ân?  Phải hết lòng học tập, thật sự đoạn phiền não, khai trí huệ, làm Phật, làm Bồ Tát, giống Ðịa Tạng Bồ Tát vậy, được vậy thì mới là ‘Trên đền bốn ân nặng, Dưới độ ba đường khổ’.  Ðịa Tạng Bồ Tát làm gương tốt nhất cho chúng ta, chúng ta phải học tập.  Ðịa Tạng học theo Phật, học rất giống, bạn coi phía dưới Ngài nói:

Ngã sở phân thân, biến mãn bá thiên vạn ức Hằng hà sa thế giới, mỗi nhất thế giới hóa bá thiên vạn ức thân, mỗi nhất thân độ bá thiên vạn ức nhân, lịnh quy kính Tam Bảo, vĩnh ly sanh tử, chí Niết Bàn lạc.

Các phân thân của con thị hiện ở khắp trăm ngàn vạn ức Hằng hà sa thế giới, trong mỗi thế giới hóa hiện trăm ngàn vạn ức thân, mỗi thân độ trăm ngàn vạn ức người, khiến họ quy kính Tam Bảo, vĩnh viễn xa lìa sanh tử, đến được Niết Bàn an lạc.

Phật độ hóa chúng sanh cũng phân thân như vậy, độ thoát như vậy, Ðịa Tạng Bồ Tát biểu diễn rất hoàn hảo, chân chánh là học trò giỏi của Phật.  Ngài cũng giống như Phật, phân thân đến thế giới nhiều như số cát sông Hằng, chẳng nề cực nhọc, độ thoát vô lượng vô biên chúng sanh.  Ba câu cuối này nói về thành tích độ thoát chúng sanh của Ngài.  Thứ nhất là nhất định phải giúp chúng sanh quy y Tam Bảo, kính ngưỡng Tam Bảo, giai đoạn thứ nhất này tiếp dẫn quảng đại chúng sanh.  Quy y Tam Bảo chưa hẳn có thể liễu thoát sanh tử, thoát ly tam giới, sự thật này mọi người đều rất rõ ràng.  Có bao nhiêu người quy y nhưng chẳng sửa đổi tập khí, tật xấu, chẳng chịu hết lòng tu học.  Giai đoạn thứ nhất, đó là nghiệp chướng nặng nề, họ còn chưa nghĩ đến liễu sanh tử, còn cho rằng sáu nẻo luân hồi cũng khá tốt, chẳng chịu xa lìa sáu nẻo luân hồi, ngu ám.  Những người lợi căn đều biết rõ sáu nẻo là khổ, tam giới đều là khổ; ‘Khổ Khổ, Hoại Khổ, Hành Khổ’, họ biết tam giới đều khổ, hạ quyết tâm phải thoát ly biển khổ, như vậy gọi là xuất tam giới, vĩnh viễn thoát ly sanh tử.  Trong sanh tử có hai loại, người biết được cũng chẳng nhiều: một là Phần Ðoạn Sanh Tử, thân này của chúng ta, còn một loại gọi là Biến Dịch Sanh Tử, rất ít người biết đến.  Ðoạn dứt sanh tử của thân chúng ta, thì siêu việt sáu nẻo luân hồi được, A La Hán và Bích Chi Phật đều làm được.  Biến Dịch Sanh Tử thì hơi phiền phức, mãi cho đến Viên Giáo Ðẳng Giác Bồ Tát vẫn chưa đoạn nổi Biến Dịch Sanh Tử, khi đoạn tận rồi thì mới chứng được Phật quả Viên Giáo.  Ðịa Tạng Bồ Tát giúp đến cùng, chẳng phải chỉ giúp bạn một giai đoạn, chẳng thoái tâm giữa đường, một mạch giúp đến cùng.

Ngày nay chúng ta đọc kinh Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện nơi đây, có duyên với Ðịa Tạng Bồ Tát, ở đây có một mật nghĩa.  Mật nghĩa là gì?  Dạy chúng ta phải phát tâm học theo Ðịa Tạng Bồ Tát, phải phát tâm làm Ðịa Tạng Bồ Tát, cô Bà La Môn, cô Quang Mục đều là gương tốt của chúng ta.  Nếu chúng ta đọc kinh này xong, rất cảm động, thực sự cũng phát nguyện này: chúng ta đến tận cùng kiếp vị lai, độ thoát hết thảy chúng sanh khổ nạn, chúng sanh chưa thành Phật, chúng ta sẽ không thành Phật, như vậy thì hiện tại bạn là Ðịa Tạng Bồ Tát.  Ðịa Tạng Bồ Tát được gọi là đại nguyện, bạn phát đại nguyện này thì bạn sẽ được chư Phật hộ niệm, hết thảy Bồ Tát cung kính vây quanh, chúng ta phải học tập ở chỗ này.  ‘Chí Niết Bàn lạc’, lìa khổ được vui.  ‘Vĩnh ly sanh tử’ là giúp đỡ chúng sanh ‘lìa khổ’, sau đó ‘được vui’.  Niết Bàn là niềm vui cứu cánh viên mãn thanh tịnh.  Xin xem đoạn kế:

Ðản ư Phật pháp trung, sở vi thiện sự, nhất mao nhất đế [7], nhất sa nhất trần, hoặc hào phát hứa, ngã tiệm độ thoát, sử hoạch đại lợi.

Những chúng sanh nào ở trong Phật pháp dù làm việc thiện chỉ bằng một sợi lông, một giọt nước, một hạt cát, một hạt bụi, hoặc một mảy lông tóc, con đều độ thoát dần, làm cho họ được lợi ích lớn.

Người xưa thường khuyên chúng ta: ‘Ðừng chê việc thiện nhỏ rồi chẳng làm’.  Việc này là việc thiện nhỏ nhoi, tôi làm để làm gì?  Ðây là quan niệm sai lầm của chúng ta.  ‘Ðừng nói việc ác nhỏ rồi cứ làm’, đây là việc ác nhỏ, chẳng sao cả, có hại gì đâu, có thể làm, [nghĩ vậy thì] sai rồi.  Chư vị nên biết việc thiện nhỏ bằng mảy tơ cũng trọn khắp hư không pháp giới, ngược lại việc ác bằng mảy tơ cũng trọn khắp hư không pháp giới.  Ðừng nói những báo ứng khác, [việc ác này] nhất định sẽ chướng ngại tánh đức của bạn, đó là phiền phức, bạn sẽ chẳng thể minh tâm kiến tánh.  Bạn xem Phật, Bồ Tát có từ bi không, bạn chỉ có một chút thiện liền có thể cảm động các ngài đến bảo hựu cho bạn, giúp đỡ bạn.  Do đó có thể biết thiện không thể không tu, ác chẳng thể chẳng đoạn.

Hội này của chúng ta là giảng cho Cửu Hoa Sơn, đạo tràng của Ðịa Tạng Bồ Tát.  Nhưng băng thâu hình của chúng ta được lưu thông toàn thế giới, số người tham dự hội giảng kinh này của chúng ta chẳng thể nghĩ bàn.  Những người mắt thịt chúng ta nhìn thấy, còn chúng Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác, và quỷ thần trong sáu nẻo thì mắt thịt nhìn không thấy.  Trong kinh này chúng ta thấy việc còn thù thắng hơn nữa, đó là mười phương hết thảy chư Phật Như Lai đều tham gia.  Hội giảng kinh này của chúng ta có thù thắng bằng hội ở cung trời Ðao Lợi không?  Nói cho chư vị biết tuyệt đối chẳng khác.  Chúng ta không có phước báo, người thường nhìn thấy giảng đường này quá nhỏ, quá xấu tệ, người cõi trời nhìn thấy đạo tràng này xây bằng bảy báu, đây là ghế Sư Tử, vô cùng trang nghiêm, tướng tùy tâm chuyển, một tí gì cũng chẳng giả.  Thế nên chỉ cần hiểu rõ những đạo lý, chân tướng sự thật này xong, giống như đã nói trong buổi giảng kinh Hoa Nghiêm ngày hôm qua, chúng ta mới biết tự ái, tự trọng thật sự.  Chỉ có người mê mất tự tánh mới chẳng tự ái, chẳng tự trọng, chà đạp chính mình.  Từ chỗ này chúng ta cũng hiểu được ‘Giải’ vô cùng quan trọng, ‘Giải’ giúp cho bạn phá mê khai ngộ, ngộ xong mới khởi tu, công phu tu hành sẽ đắc lực, thọ dụng sẽ rất rõ ràng.  Phải ghi nhớ câu kinh văn này.

 

Duy nguyện Thế Tôn bất dĩ hậu thế ác nghiệp chúng sanh vi lự, như thị tam bạch Phật ngôn.  Duy nguyện Thế Tôn, bất dĩ hậu thế ác nghiệp chúng sanh vi lự.

Cúi mong Thế Tôn đừng vì chúng sanh đời sau tạo ác nghiệp mà lo lắng.  [Ngài] bạch đức Phật ba lần, nguyện đức Thế Tôn đừng vì ác nghiệp chúng sanh đời sau mà lo lắng.

Thế Tôn xoa đảnh Ðịa Tạng Bồ Tát, xoa đảnh an ủi Ngài, giao sứ mạng độ hóa chúng sanh cho Ngài.  Ðịa Tạng Bồ Tát chẳng phụ sự ủy thác của Thế Tôn, ở chỗ này chúng ta thấy Ngài cũng an ủi Thế Tôn, xin Thế Tôn đừng lo âu, đừng vướng bận, việc Thế Tôn giao cho Ngài, Ngài nhất định sẽ làm.  Chữ ‘tam bạch’ nghĩa là nói ba lần, cẩn trọng, chân thành nhất định sẽ y giáo phụng hành.

Nhĩ thời Phật tán Ðịa Tạng Bồ Tát ngôn, thiện tai thiện tai, ngô trợ nhữ hỷ, nhữ năng thành tựu cửu viễn kiếp lai phát hoằng thệ nguyện, quảng độ tương tất tức chứng Bồ Ðề.

Lúc ấy đức Phật khen ngợi Bồ Tát Ðịa Tạng: ‘Lành thay, lành thay, Ta hộ trợ cho điều ông muốn, để ông thành tựu các hoằng thệ đã lập từ những kiếp lâu xa đến nay.  Khi quảng độ xong ông liền chứng Bồ Ðề.

Bồ Tát an ủi Thế Tôn, Thế Tôn cũng tán thán Bồ Tát.  ‘Thiện tai, thiện tai’ hai lần, dùng cách nói hiện nay của chúng ta thì là ‘Tốt quá, tốt quá’!  Ý nghĩa trong đó là Ngài hiểu được tâm ý của Phật, y giáo phụng hành, ghi nhớ và tuân thủ lời dạy của Phật, đây là thiện tai, thiện tai.  Còn có thể phân vô lượng thân, giáo hóa hết thảy chúng sanh ương ngạnh, khó giáo hóa.  Chúng sanh tuy chỉ tu việc thiện nhỏ như sợi tóc, phước nhỏ như cọng lông, Bồ Tát nhìn thấy đều sanh tâm hoan hỷ, việc thiện nhỏ xíu cũng có thể cảm động đến chư Phật, Bồ Tát.  Việc thiện nhỏ còn không xả bỏ, huống chi là việc thiện lớn.  Chư vị nên biết tự bạn tu thiện, trong Phật pháp có câu nói: ‘Một người con thành Phật, chín họ sanh lên trời’, lời này là thật, chẳng giả.  Tổ tiên của bạn tuy đã qua đời, đọa trong ác đạo cũng sẽ được siêu thoát, không khác gì việc nói trong kinh Ðịa Tạng.

Hôm trước cư sĩ Hồ gọi điện thoại nói với tôi, bà ở Ðài Trung gặp một người có khả năng siêu thường (đặc dị công năng), người này vừa gặp bà liền nói: ‘Nhờ phước bà đã tu bố thí, cha bà đã được sanh lên trời Ðao Lợi rồi’.  Bà gọi điện thoại hỏi tôi có thể nào được vậy không?  Tôi nói: có thể.  Nhất định là việc thật, chẳng phải giả.  Người con thành tâm, thành ý tu phước, những gia quyến đã qua đời đều được lợi ích.  Chúng ta muốn độ oan gia chủ nợ, nhất định phải hết lòng nỗ lực tu học, chỉ khi tự mình có thành tựu chân chánh thì mới có thể độ nổi những oan gia chủ nợ nhiều đời; nếu bạn chẳng tu trì chân chánh thì không được.  Ðó là giả, chẳng thật.  Bố thí, bố thí một cách thanh tịnh thì phước báo lớn nhất.  Bố thí còn muốn danh văn lợi dưỡng, phước báo đó rất nhỏ.  Tuy nhỏ nhưng Bồ Tát cũng hoan hỷ, việc thiện tí xíu Ngài cũng chẳng bỏ, chúng ta thấy được việc này trong kinh.  Việc thiện nhỏ còn không xả huống hồ là việc thiện to lớn khi bố thí thanh tịnh.  Những chuyện này, nhân duyên quả báo, chỉ cần chúng ta lắng lòng quan sát cặn kẽ trong xã hội này rất nhiều, nơi nào cũng có, nhưng vì chúng ta quá sơ ý nên không thấy đó thôi.  Ðặc biệt là thời đại hiện nay, thiện nhân thiện quả, ác nhân ác báo vô cùng rõ ràng, hoàn toàn phù hợp với lời dạy trong kinh Ðịa Tạng, tơ hào chẳng sai.  Chúng ta nên đọc thuộc kinh này, suy nghĩ cặn kẽ, y giáo phụng hành thì mới có thể đạt được lợi ích chân thật.  Xin xem đoạn kinh kế tiếp: 

 

PHẨM THỨ 3: QUÁN NGHIỆP DUYÊN CHÚNG SANH

Ðây là đoạn lớn thứ hai trong kinh này.  Ðoạn lớn thứ nhất là hai phẩm trước, Thế Tôn giới thiệu Ðịa Tạng Bồ Tát cho chúng ta nhận biết vị thiện tri thức, vị thầy này.  Ba phẩm sau này thuyết minh những chúng sanh được Ðịa Tạng Bồ Tát độ, cũng chính là những chúng sanh được ngài giáo hóa, ở đây đức Phật nói rất rõ với chúng ta.  Xin xem kinh văn:

 

Nhĩ thời Phật mẫu Ma Gia phu nhân cung kính hiệp chưởng vấn Ðịa Tạng Bồ Tát ngôn: ‘Thánh giả, Diêm Phù chúng sanh tạo nghiệp sai biệt, sở thọ báo ứng kỳ sự vân hà’.

Lúc đó Phật Mẫu Ma Gia phu nhân cung kính chắp tay hỏi Ðịa Tạng Bồ Tát rằng: ‘Thánh giả, chúng sanh trong cõi Diêm Phù tạo nghiệp sai khác, cảm thọ báo ứng như thế nào?’

Ðây là mẫu thân của đức Phật Thích Ca, Ma Gia phu nhân.  Ma Gia phu nhân sanh đức Phật xong, phước báo này quá lớn nên vãng sanh đến trời Ðao Lợi, hưởng phước trời.  Còn ở nhân gian chúng ta thì chuyện này không phải là một chuyện tốt, tại sao sanh Phật xong qua mấy ngày sau thì mẹ qua đời.  [Lúc nhỏ] Ðức Phật được Di Mẫu (dì) nuôi dưỡng đến lớn, mẫu thân sanh Ngài đã lên trời Ðao Lợi hưởng phước trời.  Hiểu được chân tướng sự thật mới biết phước báo của mẹ Ngài lớn.  Mắt thịt phàm phu chúng ta nhìn thấy đều nghĩ rằng đây là việc xui xẻo, cách suy nghĩ hoàn toàn khác biệt.  Một đời giáo hóa của đức Thế Tôn đến lúc phải tạm ngưng, những người có thể tiếp nhận sự giáo hóa của Ngài, phía trước nói có bảy tám phần đều đã được độ, một hai phần còn lại nghiệp chướng, tập khí quá nặng, khi Phật còn tại thế không được độ.  Sau khi Phật diệt độ làm cho những người này nâng cao cảnh giác, sau đó những người này được đệ tử của Phật độ hóa, nhân duyên được độ của mỗi người chẳng giống nhau.  Sau khi Phật giáo hóa chúng sanh đến lúc tạm ngưng, tiếp nhận lời mời của Ðao Lợi thiên chủ, mời Ngài đến cung trời Ðao Lợi thuyết pháp cho mẫu thân.  Chuyện này đức Phật Thích Ca không thể từ chối, tại sao?  Hết thảy chư Phật giáo hóa chúng sanh đến cuối cùng nhất định phải báo đáp ân đức của mẫu thân, đến cung trời Ðao Lợi giảng kinh Ðịa Tạng Bổn Nguyện, có lẽ đây là một quy củ nên Phật lên cung trời Ðao Lợi thuyết pháp cho mẫu thân.

Ma Gia phu nhân cũng trong hội này gặp Ðịa Tạng Bồ Tát, do bà khải thỉnh.  Nói thật ra, Ma Gia phu nhân cũng là Phật, Bồ Tát hóa thân, chẳng phải là người thường.  ‘Vấn Ðịa Tạng Bồ Tát ngôn, Thánh giả’, Ðịa Tạng Bồ Tát là đại thánh, Ðẳng Giác Bồ Tát.  ‘Diêm Phù chúng sanh’, Ma Gia phu nhân là người ở cõi Diêm Phù Ðề, tức là thế giới chúng ta, từ thế giới chúng ta sanh lên cung trời Ðao Lợi.  Ở trời Ðao Lợi chẳng quên quê cũ, ân tình này rất nặng, rất sâu, đặc biệt quan tâm đến những chúng sanh tạo tội nghiệp ở quê cũ.  ‘Tạo nghiệp sai biệt, sở thọ báo ứng’ những việc này ra sao?  Xin Ðịa Tạng Bồ Tát khai thị.

Ðịa Tạng Bồ Tát ngôn, thiên vạn thế giới nãi chí quốc độ, hoặc hữu địa ngục, hoặc vô địa ngục, hoặc hữu nữ nhân, hoặc vô nữ nhân, hoặc hữu Phật pháp, hoặc vô Phật pháp, nãi chí Thanh Văn, Bích Chi Phật diệc phục như thị, phi đản địa ngục tội báo nhất đẳng.

Ðịa Tạng Bồ Tát trả lời: ‘Trong ngàn vạn thế giới cho đến các quốc độ, nơi có địa ngục hoặc không có địa ngục, nơi có người nữ hoặc không có người nữ, nơi có Phật pháp hoặc không có Phật pháp, cho đến Thanh Văn và Bích Chi Phật đều như vậy, chứ chẳng riêng gì tội báo nơi địa ngục thôi đâu.

Ðịa Tạng Bồ Tát trả lời, hình như câu trả lời chẳng đáp đúng câu hỏi, tại sao?  Ma Gia phu nhân hỏi phạm vi quá nhỏ, chỉ hỏi Diêm Phù Ðề, chúng sanh ở ngoài cõi Diêm Phù Ðề rất nhiều, thế giới vô biên.  Ở đây có một ý ngầm, ngầm chỉ tâm lượng chúng ta phải lớn, phải bằng hư không pháp giới, mới có thể dứt trừ hết thảy chướng nạn, tâm lượng nhỏ nhất định tạo nên chướng ngại.  Người thế gian tạo vô lượng vô biên tội nghiệp, bạn nghĩ xem là vì nguyên nhân gì?  Ðều vì chính mình, vì cá nhân, vì gia đình, vì đoàn thể nhỏ của mình mà tạo tội nghiệp; vì một quốc gia, quốc gia này xung đột với quốc gia kia, phải đánh nhau, nếu tâm lượng chúng ta mở rộng một chút, vì toàn thế giới, thì sự tranh chấp giữa các quốc gia sẽ bị tiêu trừ, liền được hóa giải.  Nhưng chúng ta vì toàn thế giới, sau này tinh cầu của chúng ta cùng tinh cầu khác có chiến tranh, cũng sẽ phiền phức nữa, lại chẳng an toàn.  Tâm lượng được mở rộng, chúng ta bao gồm những hành tinh khác, vậy thì chiến tranh giữa các tinh cầu sẽ được tiêu trừ.  Hàm ý của kinh văn, nếu có thể làm đến tâm bao trùm hư không, lượng gồm khắp các cõi nhiều như cát giống tâm chư Phật, Bồ Tát, thì hết thảy hiểu lầm, ngăn cách đều bị tiêu trừ, hết thảy chúng sanh mới có thể hưởng được hòa bình vĩnh viễn.  Nếu hết thảy chúng sanh, chúng sanh trong mười pháp giới đều có thể hỗ trợ hợp tác, sống chung hòa mục, đây mới là biện pháp căn bản để giải quyết vấn đề.  Do đó mới biết tâm lượng nhỏ bé là căn nguyên của hết thảy họa hại, nhất định phải mở rộng tâm lượng.  Bao trùm thái không, gồm thâu các cõi là tâm lượng vốn sẵn có, vốn đã vậy.  Tâm lượng biến thành nhỏ nhoi là vì mê hoặc, vô tri, chẳng hiểu rõ chân tướng sự thật tạo nên.  Tâm lượng nhỏ vốn chẳng có, tâm lượng lớn vốn sẵn có, đạo lý là ở chỗ này.  Một người hỏi, một người đáp hiển thị lên ý nghĩa này, Ðịa Tạng Bồ Tát ám chỉ Ma Gia phu nhân tâm lượng phải mở rộng, đừng chỉ quan tâm đến Diêm Phù Ðề thôi, nên quan tâm đến hết thảy chúng sanh khổ nạn ở tận hư không, trọn pháp giới.  Chuyện này chẳng phải Ma Gia phu nhân không biết, chỉ giả bộ thôi.  Nói chung cảm tình người thế gian rất nặng, rất sâu, rất khó buông xuống.

Ma Gia phu nhân trùng bạch Bồ Tát, thả nguyện văn ư Diêm Phù tội báo sở cảm ác thú.

Ma Gia phu nhân bạch lại với Bồ Tát: ‘Tôi muốn nghe về tội báo trong cõi Diêm Phù chiêu cảm ác đạo.’

Bà vẫn muốn hỏi về chuyện ở quê hương.  Hiển thị cái gì?  Hiển thị cảm tình sâu nặng đối với nơi mình ở, đặc biệt từ bi.  Ma Gia phu nhân và Ðịa Tạng mỗi người hiển thị một bên đều tốt, đều rất sôi nổi, đặc biệt thương xót chúng ta, những chúng sanh tạo tội hiện nay.

Ðịa Tạng đáp ngôn, Thánh Mẫu, duy nguyện thính thọ, ngã thô thuyết chi.

Ðịa Tạng trả lời: ‘Thánh Mẫu, xin Ngài lắng nghe nhận lấy, tôi sẽ lược nói việc đó’.

Nếu Ma Gia phu nhân hỏi thêm lần nữa, Ðịa Tạng Bồ Tát chỉ nói tổng quát, không nói chi tiết.  Cứ hỏi mấy lần nên Ðịa Tạng Bồ Tát đương nhiên phải mãn nguyện Ma Gia phu nhân.  Nói thật ra là mãn nguyện cho chúng ta, những chúng sanh hiện nay, Ma Gia phu nhân thay mặt chúng ta thỉnh pháp.  Ðịa Tạng nói: ‘Ngã thô thuyết chi’, ‘thô thuyết’ là lời nói chẳng dễ nghe.  Lời nghe hay gọi là ‘tế ngữ’, lời nói ngon ngọt.  Thô ngôn tức là lời chẳng dễ nghe, tại sao?  Ðều nói về tội lỗi, về tội báo, những lời này gọi là ‘thô ngữ’.  Ý nghĩa của Thô và Tế là như vậy.

Phật mẫu bạch ngôn, nguyện Thánh giả thuyết.

Phật mẫu bạch rằng: ‘Xin Thánh giả nói cho’.

Ðây là lời thỉnh cầu chánh thức.  Tôi muốn nghe lời nói ‘thô ngữ’ của ông, muốn nghe chuyện này.

Nhĩ thời Ðịa Tạng Bồ Tát, bạch Thánh Mẫu ngôn, Nam Diêm Phù Ðề tội báo, danh hiệu như thị.

Lúc ấy Ðịa Tạng Bồ Tát nói với Thánh Mẫu rằng: ‘Danh hiệu của những tội báo trong cõi Nam Diêm Phù Ðề là như vầy.’

Từ những danh hiệu này, chúng ta phải hiểu ý nghĩa của nó.

Nhược hữu chúng sanh bất hiếu phụ mẫu, hoặc chí sát hại, đương đọa Vô Gián địa ngục, thiên vạn ức kiếp, cầu xuất vô kỳ.

Nếu có chúng sanh chẳng hiếu thuận cha mẹ, thậm chí giết hại cha mẹ, thì phải đọa địa ngục Vô Gián trong ngàn vạn ức kiếp, không bao giờ mong ra khỏi được.

Ðịa Tạng Bồ Tát nói tội nặng hạng nhất chính là ‘bất hiếu cha mẹ’.  Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện kinh hiển thị cho chúng ta về hiếu đạo, Ðịa Tạng Bồ Tát đời đời kiếp kiếp thị hiện, phát thệ nguyện sâu nặng đều vì muốn báo ân cha mẹ, đều vì làm trọn hiếu mới phát hoằng nguyện, thế nên bất hiếu là tội hạng nhất.  Ý nghĩa của Hiếu vô cùng sâu.  Thanh Liên pháp sư là người trước tác ‘Ðịa Tạng Kinh Khoa Chú’, ngài là người đời Thanh trước kia, triều vua Khang Hy.  Ngài trích dẫn rất nhiều kinh luận để viết chú giải này, là một chú giải hay nhất cho kinh Ðịa Tạng.  Chúng ta muốn báo ân thì phải lưu thông chú giải này, tốt nhất là làm bản in mới cho chú giải này, vì bản cũ đã in nhiều lần, chữ đã bị mờ đi nhiều.  Tuy tôi giảng Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh chẳng hoàn toàn y theo chú giải của Ngài, nhưng tôi đọc rất kỹ chú giải này, tôi đọc rất hết lòng.

Ở chỗ này Ngài nêu ra trong phần ‘Chánh pháp niệm kinh’, Phật giảng bốn thứ ân, bốn ân khó báo.  Ân thứ nhất là ‘Ân mẹ’, thứ nhì là ‘Ân cha’, thứ ba là ‘Ân Như Lai’, thứ tư là ‘Ân thuyết pháp sư’, pháp sư giảng kinh thuyết pháp, bốn ân này khó báo.  Bốn ân này đều rất lớn, cha mẹ, nhục thân chúng ta có được từ cha mẹ, Pháp thân huệ mạng của chúng ta có từ Như Lai.  Như Lai chẳng còn tại thế, chúng ta làm sao có được?  Chúng ta có được từ pháp sư thuyết pháp, trưởng dưỡng pháp thân huệ mạng.  Trong kinh, Phật nói cúng dường bốn hạng người này được vô lượng phước, hiện tiền nhất định được người tán thán, tương lai có thể được Vô Thượng Bồ Ðề.  Làm sao có thể quên ơn bội nghĩa được!  Thế nên học Phật phải học từ đâu?  Từ hiếu thuận cha mẹ, tôn kính thầy giáo.  Từ cơ sở Hiếu thân Tôn sư, mở rộng ra có thể hiếu thuận hết thảy chúng sanh, tôn kính xã hội đại chúng.  Bạn có thể thương cha mẹ, thương sư trưởng, tự nhiên sẽ có thể thương quốc gia, thương chúng sanh, đây là đạo lý nhất định.  Thế nên ‘Bất hiếu cha mẹ’ là tội nặng nhất trong những tội nghiệp, đương nhiên phải đọa ‘Vô Gián địa ngục’.  Phía sau sẽ giới thiệu về Vô Gián Ðịa ngục.  Tội nặng thứ hai chính là Bất kính Tam Bảo.  Ðiều đầu tiên là hiếu đạo, điều thứ hai là sư đạo.

Nhược hữu chúng sanh xuất Phật thân huyết, huỷ báng Tam Bảo, bất kính tôn kinh, diệc đương đọa ư Vô Gián địa ngục, thiên vạn ức kiếp, cầu xuất vô kỳ.

Nếu có chúng sanh làm thân Phật chảy máu, hủy báng Tam Bảo, chẳng kính tôn kinh, cũng sẽ phải đọa vào địa ngục Vô Gián trong ngàn vạn ức kiếp, không bao giờ mong ra khỏi được.

Chư vị nên ghi nhớ thời gian ấy rất dài, ‘thiên vạn ức kiếp’.  Tạo tội nghiệp nói thật ra vô cùng dễ dàng, thời gian tạo tội nghiệp vô cùng ngắn ngủi, nhưng tương lai thọ khổ báo sẽ dễ sợ vô cùng.  Ðịa Tạng Bồ Tát rát lòng mỏi miệng nói chân tướng sự thật ra cho chúng ta biết, mấy ai tin nổi?  Một số người đọc kinh này cứ tưởng là gì?  Tưởng đây là Phật giáo khuyên người hướng thiện, nói những lời này để dọa người, khuyên người đừng làm chuyện xấu, chẳng nghĩ có thật như vậy, chẳng cho rằng đây là chuyện thật.  Là như trong kinh này nói: ‘chúng sanh ương ngạnh khó dạy’, cứ cho là mình đúng, đâu biết rằng đây là chân tướng sự thật!  ‘Xuất Phật thân huyết’, công án này từ Ðề Bà Ðạt Ða mà ra, lúc Phật còn tại thế.  Phật đã nêu nhiều gương tốt cho chúng ta, người học Phật đời sau noi theo, chúng ta phải ghi nhớ, phải học tập.  Ðề Bà Ðạt Ða là học trò của Phật, phản bội sư đạo; tương lai chư vị tự mình làm pháp sư, cũng sẽ có học trò, khi học trò phản bội chư vị, có gì là tài giỏi đâu?  Học trò của đức Phật Thích Ca Mâu Ni cũng đã phản bội Ngài rồi mà?  Ðây là thị hiện cho chúng ta xem.  Trong số học sinh có học sinh ngoan, nghe lời, có học sinh chẳng ngoan, phản bội thầy giáo, Phật cũng làm ra gương tốt cho chúng ta xem, chúng ta phải rõ ràng, phải minh bạch.  Học sinh tốt chúng ta phải lo lắng cho họ, học sinh phản nghịch tuyệt đối chẳng trách mắng họ, tuyệt đối chẳng thể có tơ hào oán hận trong tâm.  Họ phản nghịch mình, hủy báng mình, thậm chí còn hãm hại mình, cũng đừng ghi nhớ trong lòng, coi như chẳng có chuyện gì, ai cũng có nhân duyên riêng của người ấy, vĩnh viễn giữ gìn tâm địa thanh tịnh, bình đẳng, từ bi, như vậy mới gọi là học Phật.  Phật dùng tâm niệm, thái độ gì đối xử với Ðề Bà Ðạt Ða, chúng ta phải học theo.  Nhất định không được oán hận trong lòng, đó là sai lầm, vậy thì bạn là phàm phu, vậy thì bạn chẳng bình đẳng rồi, chẳng phải là Phật, Bồ Tát;  Phật, Bồ Tát đối với hết thảy chúng sanh, oán hay thân gì cũng bình đẳng.

Ðề Bà Ðạt Ða muốn hại Phật, lúc đó dùng những phương pháp như sau.  Biết đức Phật mỗi ngày vào thành Xá Vệ khất thực, trên đường phải đi qua một vách núi, Phật đi phía dưới chân núi.  Ðề Bà Ðạt Ða liền ở phía trên vách núi chuẩn bị đá lớn, khi đức Phật đi ngang, ông đẩy đá xuống để mưu hại Phật, khởi ác tâm này, làm chuyện này.  Phước báo của Phật rất lớn, chẳng ai có thể hại nổi, Phật có thần Kim Cang hộ pháp.  Khi đá bị đẩy xuống, thần Kim Cang lấy chùy Giáng Ma đánh tan hòn đá.  Ðánh tan xong, mảnh nhỏ văng trúng chân Phật chảy máu, ‘xuất Phật thân huyết’, đây là cốt ý hại Phật.  Ông ta xúi giục vương tử A Xà Thế, dùng cách nói hiện nay là khuyên vương tử soán ngôi, hại vua cha, để lên làm vua.  Ðề Bà Ðạt Ða muốn hại chết đức Phật để ông ta làm Phật.  Họ thương lượng với nhau: ông thì làm vua mới, còn tôi thì làm Phật mới, chúng ta cùng nhau giáo hóa chúng sanh, thống lý đại chúng.  Tạo tác tội nghiệp này, Ðề Bà Ðạt Ða nhiều đời phải đọa lạc vào địa ngục.  Ðây chính là không kính Tam Bảo, lấy thí dụ này để nói dụng ý rất sâu, dạy cho chúng ta đối với những người cốt ý hoặc vô ý hại mình đều phải học theo Phật, vẫn phải từ bi thương xót, chẳng có một chút oán hận gì, được vậy thì chúng ta mới đạt được sự thọ dụng chân thật của Phật pháp.

‘Hủy báng Tam Bảo’, Tam Bảo là Phật, Pháp, Tăng.  Bịa chuyện, kiếm chuyện, hủy báng.  ‘Chẳng kính tôn kinh’, đây là kinh điển, đặc biệt nêu ra Pháp bảo này, chẳng tôn kính, chẳng coi trọng kinh điển.  Tại sao hiện nay chúng ta in kinh phải in thật đẹp?  Bất luận là trên sự ấn loát, giấy hay bao bìa đều vô cùng đẹp đẽ, đây là tôn kính Pháp bảo, làm cho hết thảy chúng sanh nhìn thấy cuốn sách này bèn sanh tâm quý tiếc, chẳng đến nỗi làm hư, làm rách.  Nếu rất bình thường, in rất xấu tệ, mọi người nhìn thấy chẳng sanh tâm tôn kính, thường tùy tiện bỏ bừa bãi, chà đạp kinh điển, đó không phải là chúng ta dạy cho mọi người tạo tác ác nghiệp hay sao, tạo ra cơ hội cho họ, đây là sai lầm.  Thế nên phải in cho đẹp, hoàn mỹ, đừng để người ta có cơ hội tạo tội nghiệp, tâm này chính là tâm từ bi.  Ðây là nói về chẳng kính Tam Bảo, chẳng biết tôn sư trọng đạo, làm vậy phải đọa địa ngục.

Ðặc biệt là thời đại bây giờ, người biết báo ân đã quá ít rồi, chúng ta phải đề xướng.  Ðề xướng nhất định phải làm ra gương mẫu cho mọi người nhìn thấy, chỉ lấy miệng nói thì không được, chẳng có sức khuyến hóa.  Tôi báo ân thầy giáo, tôi xây thư viện ở Ðại Lục, quê Phương Ðông Mỹ tiên sinh ở huyện Đồng Thành, tỉnh An Huy.  Tôi xây một ‘Thư Viện Ðông Mỹ Tiên Sinh’ ở Ðồng Thành để kỷ niệm thầy.  Tôi đã thành lập một Thư Viện Hoa Tạng ở quê tôi để kỷ niệm Hàn Quán Trưởng.  Tương lai nếu có cơ hội, tôi cũng sẽ xây một Thư Viện Hoa Tạng ở quê của Hàn Quán Trưởng.  Tôi trú ở Thư Viện Từ Quang, do thầy Lý xây dựng, hết mười năm; hiện nay đang liên lạc với người ở Tế Nam, Sơn Ðông để xây một Thư Viện Từ Quang.  Phải làm thật sự, không làm không được.  Có một vị đồng tu hỏi: ‘Vậy Chương Gia đại sư thì sao?’.  Ðúng, mọi người đều nghĩ đến, tôi sẽ xây một ‘Thư Viện Chương Gia đại sư’.  Tôi nghĩ đến phải xây ở đâu?  Ðại học Nội Mông Cổ, xây một ‘Chương Gia đại sư Đồ Thư Quán’ ở đại học Nội Mông Cổ.  Tôi nhất định sẽ làm được, phải dùng hành động cụ thể để thức tỉnh mọi người, phải ‘Tri ân báo ân’.  Nếu mỗi người đều có tâm báo ân, xã hội của chúng ta sẽ tường hòa, có lợi ích rất lớn đối với xã hội quốc gia, công đức lợi ích chân chánh.  Nếu không tri ân, vong ân phụ nghĩa, thì xã hội này sẽ thành ra như thế nào!  Dễ sợ vô cùng.  Nhất định phải làm từ chính bản thân mình, đây mới là hoằng pháp lợi sanh, như vậy mới gọi là chân chánh học Phật.

Hôm nay đã hết giờ, chúng ta giảng đến đây thôi.

Trong quá trình chuyển ngữ chắc không tránh khỏi thiếu sót, xin các bậc thức giả hoan hỷ phủ chính cho. 

Xin thành thật cám ơn.                                                       

Một nhóm Diệu Âm cư sĩ, 4 tháng 9-2006

 

 

[1]  Nguyên văn: tín vi đạo nguyên công đức mẫu

[2] Thập Tập Nhân là mười thói quen, tập quán bất thiện chiêu cảm đến quả báo đau khổ. 

  Mười tập nhân gồm có: tập-quán dâm-dục giao tiếp, tập quán tham lam so đo, tập quán ngã mạn lấn lướt, tập quán nóng giận xung đột, tập quán giả dối dụ dỗ, tập quán lừa gạt lừa dối, tập quán thù oán hiềm khích, tập quán ác kiến tranh cãi, tập quán vu vạ vu báng, tập quán thưa kiện cãi vã; lược trích từ kinh Lăng Nghiêm, quyển tám.

[3] Lục Giao Báo là sáu thứ khổ báo, kết quả của ác nghiệp do lục căn và lục thức của con người tạo nên.  Lục Giao Báo gồm có:

  1. Kiến Báo chiêu cảm ác quả.  Khi Kiến nghiệp giao báo thì lúc lâm chung, trước hết thấy lửa hồng cháy khắp mười phương, thần thức người chết bay rơi theo khói, vào ngục A Tỳ, phát minh hai tướng: một là thấy sáng, khắp thấy mọi thứ hung dữ, sanh khiếp sợ vô cùng; hai là thấy tối, mịt mù chẳng thấy gì, sanh hoảng hốt vô cùng.  Như vậy, thấy lửa đốt thính giác thì thành chảo dầu sôi, nước đồng chảy; đốt khứu giác thì thành khói đen, lửa đỏ; đốt vị giác thì thành viên sắt cháy; đốt xúc giác thì thành tro nóng, lò than; đốt ý thức thì thành hoa lửa rưới khắp, rung động cả hư không.
  2. Văn Báo chiêu cảm ác quả. Khi văn nghiệp giao báo, thì lúc lâm chung trước hết thấy sóng cuộn chìm ngập trời đất, thần thức người chết theo dòng nước trôi vào ngục A-Tỳ, phát minh hai tướng: Một là nghe rõ các tiếng ồn ào, tinh thần rối loạn; hai là điếc hẳn, lặng lẽ chẳng nghe gì, thần thức chìm lịm.  Như vậy, nghe sóng chảy vào thính giác, thì thành sự trách hỏi, chảy vào thị giác thì thành sấm sét và khí độc; chảy vào khứu giác thì thành mưa và sương mù, rưới sâu độc vào đầy khắp cơ thể; chảy vào vị giác thì thành mủ, huyết và các thứ nhơ nhớp; chảy vào xúc giác thì thành súc sinh, ma quỷ và đại tiểu tiện; chảy vào ý thức thì thành điện chớp, mưa đá, đập nát tâm phách.
  3. Khứu Báo chiêu cảm ác quả. Khi khứu nghiệp giao báo, thì lúc lâm chung, trước hết, thấy hơi độc đầy dẫy xa gần, thần thức người chết từ dưới đất trào lên, vào ngục A-Tỳ, phát minh hai tướng: Một là ngửi thông bị các hơi độc xông vào, nhiễu loạn tâm thần; hai là nghẹt thở, hơi thở chẳng thông, làm chết giấc dưới đất.  Như vậy, ngửi khí xông vào khứu giác thì thành thông, nghẽn; xông vào thị giác thì thành lửa, đuốc; xông vào thính giác thì thành chìm đắm, nước sôi; xông vào vị giác thì thành mùi thiu, thúi; xông vào xúc giác thì thành nứt, nát, thành núi thịt lớn có trăm ngàn mắt, hút ăn không cùng; xông vào ý thức thì thành tro, chướng khí và cát đá bay, đập nát thân thể.

d.Vị Báo chiêu cảm ác quả. Khi vị nghiệp giao báo, thì lúc lâm chung, trước hết thấy lưới sắt phát lửa bừng cháy, che khắp thế giới; thần thức người chết sa đọa mắc lưới, treo ngược đầu xuống, vào ngục A Tỳ, phát minh hai tướng: một là hít hơi vào, kết thành băng giá, làm nứt nẻ thân thể, hai là thở hơi ra, bay thành lửa hồng đốt cháy xương tủy.  Như vậy, nếm mùi qua vị giác thì thành nhận chịu; qua thị giác thì thành kim thạch nung đỏ; qua thính giác thì thành binh khí sắc bén; qua khứu giác thì thành lồng sắt lớn, che khắp quốc độ; qua xúc giác thì thành cung, tên, nỏ, súng; qua ý thức thì thành sắt nóng, bay từ trên không rưới xuống như mưa.

  1. Xúc Báo chiêu cảm ác quả. Khi xúc nghiệp giao báo, thì lúc lâm chung, trước hết thấy núi lớn từ bốn phía hợp lại, chẳng còn đường ra; thần thức người chết thấy Thành Sắt lớn, rắn lửa, cọp, sói, sư tử, ngục tốt (người gác ngục) đầu trâu, La Sát, đầu ngựa, tay cầm thương, xóc, lùa vào cửa thành, hướng về ngục A Tỳ, phát minh hai tướng: Một là hợp xúc, núi hợp lại ép thân, xương thịt tuôn máu; hai là lìa xúc, dao gươm đâm chém, tim gan bị cắt xẻ.  Như vậy, hợp xúc qua xúc giác thì thành con đường địa ngục, gặp Diêm La Vương xử án; qua thị giác thì thành đốt cháy, nung đỏ; qua thính giác thì thành đánh, đập, đâm bắn; qua khứu giác thì thành tóm, đựng, khảo, trói; qua vị giác thì thành cày, kìm, chém, chặt; qua ý thức thì thành rơi, bay, nấu nướng.
  2. Tưởng Báo chiêu cảm ác quả. Khi tưởng nghiệp giao báo, thì lúc lâm chung, trước hết thấy gió bão thổi nát quốc độ; thần thức người chết bị thổi lên hư không, xoay rơi theo gió, đọa ngục A-Tỳ, phát minh hai tướng: Một là chẳng giác, mê muội vô cùng, bỏ chạy không thôi; hai là chẳng mê, hay biết các khổ, bị đốt cháy không cùng, đau đớn khổ sở.  Như vậy, tà tưởng kết vào ý thức thì thành phương sở; kết vào thị giác thì thành gương soi, bằng chứng; kết vào thính giác thì thành đại hợp băng giá, sương mù, đất bùn; kết vào khứu giác thì thành xe lửa, thuyền lửa, củi lửa; kết vào vị giác thì thành tiếng la hét, than khóc; kết vào xúc giác thì thành lớn nhỏ, nghiêng ngửa, muôn lần sống đi chết lại trong một ngày.

A Nan! Thập tập nhân và lục giao báo của địa ngục kể trên, đều do chúng sanh mê vọng tạo ra. Nếu chúng sanh lục căn đồng tạo ác nghiệp thì vào ngục A Tỳ, trải qua vô số kiếp, chịu khổ vô cùng; nếu lục căn mỗi mỗi tạo riêng, với nghiệp sở tạo, gồm cả căn trần, thì người ấy vào khu 8 ngục A-Tỳ; nếu cả thân khẩu, ý, tạo nghiệp sát, đạo, dâm, thì người ấy đọa vào khu 18 địa ngục; nếu không gồm cả ba nghiệp, hoặc trong ấy chỉ tạo nghiệp sát hay nghiệp đạo (trộm cắp), thì người ấy vào khu 36 địa ngục; nếu chỉ có một căn riêng tạo một nghiệp, thì người ấy vào khu 108 địa ngục.  Trích từ kinh Lăng Nghiêm, quyển tám, dịch giả: HT Thích Duy Lực.

[4] Tịnh Nghiệp Tam Phước:

  1. Hiếu dưỡng phụ mẫu, phụng sự sư trưởng, từ tâm chẳng sát hại sanh vật, tu thập thiện nghiệp
  2. Thọ trì Tam Quy, đầy đủ các giới, chẳng phạm oai nghi.
  3. Phát Bồ Ðề tâm, đọc tụng Ðại thừa, tin sâu nhân quả, khuyến tấn hành giả.

[5]  Nguyên văn: Tài vi ngũ gia cộng hữu.  Ý nói tài vật thế gian là tài sản chung của năm nhà: Vua, giặc cướp, lửa, nước, con cháu ngỗ nghịch. Gọi là “vật chung của năm nhà” vì năm loại trên sẽ cướp mất tài sản này bất cứ lúc nào

[6] Bài minh nguyên gốc là một loại văn xuôi thường khắc trên các đồ vật bằng đồng, bằng đá với ngụ ý tán dương hay để tự răn nhắc. Ở đây chữ minh thường được dùng theo nghĩa thứ hai.

[7] trong những bản kinh Địa Tạng được lưu hành, chữ này thường được sửa thành chữ Trích 滴 (cùng một nghĩa).

Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.