Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.
PrintFriendly and PDF

ÐỊA TẠNG BỒ TÁT BỔN NGUYỆN KINH GIẢNG KÝ

Tập 49 (Số 14-12-49)

Xin mở Khoa Chú, quyển Hạ trang 82, hàng thứ hai đếm ngược lại:

          Dục tu vô thượng Bồ Ðề giả,

Nãi chí xuất ly tam giới khổ,

Thị nhân ký phát đại bi tâm,

Tiên đương chiêm lễ đại sĩ tượng,

Nhất thiết chư nguyện tốc thành tựu,

Vĩnh vô nghiệp chướng năng già chỉ.

Bồ Đề vô thượng muốn tu hành,

Thậm chí lìa xa khổ Tam Giới,

Người này đã phát đại bi tâm,

Trước nên chiêm lễ tượng Đại Sĩ,

Hết thảy nguyện ước chóng thành tựu,

Nghiệp chướng vĩnh viễn chẳng ngăn đặng.

          Ðoạn này [theo sách Khoa Chú] có tựa đề là ‘Tụng thành độ sanh’.  ‘Dục tu vô thượng Bồ Ðề giả’ (Người muốn tu vô thượng Bồ Ðề), đây là Bồ Tát phát tâm, vô thượng Bồ Ðề chính là Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, ‘xuất ly tam giới khổ’ (thoát ra khỏi nỗi khổ trong tam giới), người Tiểu Thừa cũng làm được, trong Phật pháp gọi là người chân chánh giác ngộ.  Nỗi khổ trong tam giới, nói thật ra là nỗi khổ chẳng ai chịu nổi, người chân chánh giác ngộ nhất định sẽ muốn vĩnh viễn thoát khỏi luân hồi.  Tam giới tức là lục đạo, tam giới là Dục Giới, Sắc Giới, Vô Sắc Giới.  Xem kinh Phật giải thích về cõi Tứ Thiền thì chúng ta có thể hiểu được, trên đỉnh của một đơn vị thế giới là cõi Sơ Thiền, trên đỉnh của một tiểu thiên thế giới là cõi Nhị Thiền, trên đỉnh của một trung thiên thế giới là cõi Tam Thiền, trên đỉnh của một đại thiên thế giới là cõi Tứ Thiền, cho nên bạn sẽ hiểu ý nghĩa của Tam Giới giống như Lục đạo.  Khu vực giáo hóa của một vị Phật gọi là một Ðại Thiên thế giới, chư vị phải biết chỉ có một cõi Tứ Thiền Thiên, có một ngàn cõi Tam Thiền Thiên, những gì nói trong kinh chúng ta phải biết đại khái.  ‘Dục tu Vô Thượng Bồ Ðề’, không những là siêu việt Lục đạo, siêu việt Thập pháp giới, mong cầu quả vị Phật cứu cánh viên mãn, đây là người có chí nguyện, nhãn quang to lớn.  Mong vượt thoát tam giới thì nhãn quang đó còn nhỏ, nhưng cũng là vô cùng hiếm có.  Người ấy đã phát tâm đại bi thì làm thế nào có thể mãn nguyện?  ‘Tiên đương chiêm lễ Ðại Sĩ tượng’, tức là trước hết phải tự thành tựu cho chính mình, ý nghĩa của chữ ‘chiêm lễ’ phía trước đã nói rất nhiều rồi, ở đây không lập lại nữa, quan trọng là phải y giáo phụng hành.

          Kinh Hoa Nghiêm nói về hộ pháp, hộ trì chánh pháp, y theo tiêu chuẩn của kinh Hoa Nghiêm mà nói thì hiện nay người hộ pháp hiếm hoi.  Pháp là gì?  Pháp là ‘Giáo, Lý, Hạnh, Quả’, bốn thứ pháp này đều phải hộ trì cho viên mãn thì mới gọi là thật sự hộ pháp, đó mới là tiêu chuẩn của Phật đã nói. Khi chúng ta nói “hộ trì đạo tràng, hộ trì vị pháp sư nào”, vậy thì không được, so sánh với tiêu chuẩn của Phật thì đó không phải là hộ pháp.  Cho nên những gì Phật nói trong kinh chúng ta nhất định phải hiểu kha khá thì sẽ biết làm thế nào mới đúng như pháp.  Phật dạy chúng ta về ‘Giáo’, Giáo có bốn thứ Giáo, Lý, Hạnh, Quả, chúng ta làm sao tu?  Tín, Giải, Hành, Chứng, chúng ta phải tin Giáo, tin lời Phật dạy, phải hiểu rõ Lý, phải tu Hạnh, phải chứng Quả, tự chúng ta phải làm được Tín, Giải, Hành, Chứng.  Hai câu cuối cùng ‘nhất thiết chư nguyện tốc thành tựu, vĩnh vô nghiệp chướng năng già chỉ’ (hết thảy các điều nguyện đều nhanh chóng thành tựu, vĩnh viễn chẳng có nghiệp chướng ngăn chận), hai câu này nói sau khi mình thành tựu, giáo hóa hết thảy chúng sanh.   Chư Phật Như Lai thị hiện trong thế giới chúng sanh, thường cũng thị hiện có nghiệp chướng.  Chư vị phải biết nghiệp chướng đó là thị hiện, đều là phương pháp giáo hóa của các ngài, là nghi thức giáo học chứ chẳng phải thật.  [Các ngài thị hiện như vậy nhằm] giúp phàm phu chúng ta cảnh giác đến việc nhân quả rất đáng sợ.  Thánh nhân thế gian, Khổng Lão Phu Tử, trong Truyện Ký chúng ta đọc thấy ‘Khổng Tử tuyệt lương ở đất Trần’ ngài cũng phải chịu đói.  Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni cũng bị quả báo phải dùng lúa cho ngựa ăn hết ba tháng, đã từng đi khất thực nhưng không có người cúng dường.  Việc này chứng tỏ cái gì?  Chứng tỏ nhân quả, dù đã thành Phật, thành thánh cũng không thể thay đổi nhân quả.

          Hồi xưa Bách Trượng đại sư đã nói rất hay ‘người đại tu hành không lầm nhân quả’, [nói không lầm] chứ chẳng nói không có nhân quả.  Không lầm nhân quả là như thế nào?  Họ hiểu rõ ràng nhân quả nên lúc chịu quả báo thì họ vui lòng thọ nhận, họ biết là họ đã tạo nhân gì trong quá khứ nên ngày nay phải thọ nhận quả báo này, họ biết thật rõ ràng, thật rành rẽ.  Khác với người thế gian khi thọ quả báo khổ họ không biết, không biết là do nguyên nhân gì, cứ cho rằng do người khác tạo ra, oán trời trách người, lúc thọ báo lại tạo thêm tội nghiệp, cứ như vậy nhân quả xoay vần, càng ngày càng tệ, càng ngày càng đi xuống; người hiểu rõ [nhân quả] thì khi thọ nhận quả báo sẽ không đọa lạc, họ có thể nâng cao [cảnh giới của họ].  Họ thật sự hiểu câu ‘một miếng ăn một thức uống đều do tiền định’.  Dù gặp người ta phá hoại, gây tổn hại cho chúng ta, tất cả đều là vì đời trước mình đã gây tổn thương cho họ, ngày nay họ tới hại chúng ta, đó là báo ứng.  Mình hiểu rõ, mình nhận chịu, vui vẻ tiếp nhận, chẳng oán trách, chẳng oán hận thì gút mắt ấy sẽ được cởi mở, khi gặp gỡ lần sau sẽ vui vẻ, chẳng còn oán hận.  Như vậy có thể giải quyết vấn đề.  Tuyệt đối không thể dùng tâm trả thù để giải quyết vấn đề, chư vị phải biết trả thù không thể nào giải quyết được.  Nếu trả thù, bạn giết người đó, diệt hết dòng họ của người đó, đời sau họ sẽ giết hết dòng họ của bạn, nhân quả sẽ xoay vần, càng ngày càng tàn khốc.  Nói cách khác càng đọa càng sâu, làm vậy không phải là cách giải quyết vấn đề!

          Thật sự giải quyết vấn đề là phải tháo gỡ gút mắt, tháo cái gút ra, hết thảy những quả báo bất thiện đều phải nhẫn chịu thì bạn mới có thể hóa giải.  Trên đường Bồ Đề bất luận là chính mình tu hành, hay hoằng pháp lợi sanh thì chướng ngại đều được dẹp hết.  Chư Phật, Bồ Tát thị hiện nhiều hình tướng khác nhau đều có mục đích giúp cho chúng ta giác ngộ, làm cho chúng ta hiểu rõ, cũng là nhằm dạy cho chúng ta nên làm như thế nào.  Nói thật ra đây chính là đời sống, Phật dạy cho ta cách sinh sống, cách xử thế, cách làm người.  ‘Chiêm lễ Ðại Sĩ tượng’ quan trọng nhất là hiếu kính, hiếu kính phải mở rộng tới đâu?  Tới hết thảy người ác, hết thảy kẻ có oán thù với mình đều phải dùng tâm hiếu kính [đối xử với họ].  Nguyện thứ nhất của Bồ Tát Phổ Hiền dạy chúng ta ‘Lễ Kính Chư Phật’, ‘kính’ tức là hiếu kính, tuyệt đối không có phân biệt, không có sai khác, như vậy mới là thật sự tu hành, thật sự chuyển nghiệp; nghiệp chuyển được rồi thì quả báo cũng sẽ chuyển.  Xin xem tiếp đoạn sau:

          Hữu nhân phát tâm niệm kinh điển,

Dục độ quần mê siêu bỉ ngạn,

Tuy lập thị nguyện bất tư nghị. 

Toàn độc toàn vong đa phế thất,

Tư nhân hữu nghiệp chướng hoặc cố,

Ư Ðại Thừa kinh bất năng ký.

Có người phát tâm tụng kinh điển,

Muốn độ quần mê vượt bỉ ngạn,

Dầu lập thệ nguyện chẳng nghĩ bàn,

Đọc rồi liền quên, luôn sót mất.

Người này nghiệp chướng khiến u mê,

Học Đại Thừa kinh chẳng nhớ được.

          Ðoạn thứ tư nói về việc cầu trí huệ, đoạn này khá dài.  Trước hết nói tại sao bạn không có trí huệ, vì bạn có nghiệp chướng từ đời trước, nghiệp chướng đó chướng ngại trí huệ của bạn.  Tuy gặp Phật pháp, gặp thiện hữu, bạn đã hiểu rõ, bạn đã phát tâm, phát tâm rất tốt, phát tâm nghiên cứu giáo lý, học kinh, mục đích là muốn cho hết thảy chúng sanh khai ngộ, giúp hết thảy chúng sanh lìa khổ, đó là tâm Bồ Ðề.  Thông thường khi phát tâm như vậy, bạn sẽ được chư Phật hộ niệm, đây là thật.  Tuy được chư Phật hộ niệm nhưng trí huệ của mình vẫn không mở mang y như cũ, đó là vì chúng ta có nghiệp chướng, chư Phật Như Lai chẳng có cách chi tiêu nghiệp chướng của chúng ta, mọi người phải hiểu đạo lý này.  Không phải là Phật, Bồ Tát không bảo hựu bạn, không chăm sóc bạn, thật sự Phật, Bồ Tát có bảo hựu, có chăm sóc, nhưng nghiệp chướng mà bạn đã tạo thì Phật, Bồ Tát cũng đành bó tay, nghiệp chướng nhất định phải do chính mình tiêu trừ.  Phật, Bồ Tát dạy phương pháp, dạy những đạo lý này cho bạn, bạn hiểu được những đạo lý dạy trong kinh điển, bạn tin tưởng lời dạy của đức Phật, bạn làm theo phương pháp đó, như vậy mới gọi là tu hành, mới có thể tiêu nghiệp chướng.  Phương pháp tiêu nghiệp chướng căn bản nhất, có hiệu quả nhất chính là ‘Hiếu’, do đó kinh Ðịa Tạng cũng là kinh căn bản, đạo lý là như vậy.  Chúng ta có thể hiếu thuận cha mẹ, hiếu thuận hết thảy chúng sanh, tôn kính cha mẹ, tôn kính hết thảy chúng sanh thì nghiệp chướng gì cũng có thể tiêu trừ.  Thật sự có tâm hiếu kính còn tạo tội nghiệp nữa sao?  Còn có ác ý đối xử với hết thảy chúng sanh hay sao?  Không thể nào, đó là thật sự đoạn hết thảy điều ác, tu hết thảy điều thiện, do đó bạn mới biết hiếu kính là căn bản.  Tại sao trong kinh này đức Phật dạy chúng ta ‘trước hết nên chiêm lễ tượng Ðại Sĩ’, đạo lý là như vậy.  Cho nên nguyện rất tốt, Phật, Bồ Tát cũng chăm sóc bạn, nhưng bạn đọc kinh vừa đọc liền quên, cho dù nghe nhiều cũng không thể khai ngộ, người đó có nghiệp chướng, mê hoặc, cho nên chẳng thể đọc tụng, ghi nhớ kinh Ðại Thừa.  Sau đó đức Phật dạy chúng ta phương pháp:

          Cúng dường Ðịa Tạng dĩ hương hoa,

Y phục, ẩm thực chư ngoạn cụ.

Cúng dường Địa Tạng với hương hoa,

Y phục, uống ăn, cùng ngoạn cụ,

          Ðoạn trước trong phần trường hàng đã nói, đã dạy cho chúng ta phương pháp tu hành.  Việc cúng dường, chư vị nghĩ coi nếu không có hiếu kính thì làm sao cúng dường?  Trong mười nguyện Phổ Hiền, mỗi nguyện sau đều phải dựa trên nguyện trước.  Giống như chúng ta xây nhà, nguyện thứ nhất là tầng trệt, nguyện thứ hai là lầu hai, tầng thứ nhất chưa xây xong thì làm sao xây tầng lầu thứ hai?  Hai tầng xây xong thì mới xây tầng thứ ba được, đó là đạo lý.  Cho nên nguyện sau đều xây dựng trên cơ sở của nguyện trước.  Từ đây mới biết pháp môn Ðịa Tạng là cơ sở, là nền tảng của sự tu hạnh Bồ Tát; Quán Âm là từ bi, từ bi là từ cơ sở, từ căn bản Ðịa Tạng mà khởi lên, nếu bạn không có hiếu kính thì từ bi khởi lên từ đâu được?  Từ bi chẳng có hiếu kính là từ bi giả, người như vậy nhất định là có ý đồ, có mục đích.  Một người không hiếu thuận cha mẹ mà đi hiếu thuận kẻ khác, đâu lẽ nào như vậy?  Như vậy là không hợp lý.  Không có lễ kính thì làm sao có tán thán?  Tán thán mà không có lễ kính, chúng ta biết được đó là giả dối, chẳng phải thiệt.  Cúng dường mà không có lễ kính thì đó là nịnh hót, tâng bốc, bợ đỡ.  Cho nên hiếu kính là căn bản, cơ sở, trong thế pháp và Phật pháp muốn có thành tựu thật sự thì phải bắt đầu thực hiện từ chỗ này.  Làm thế nào mới thật sự làm được hiếu kính?  Phải hiểu thấu lý luận trong kinh điển, được vậy thì bạn mới hiểu rõ hiếu kính là tánh đức, là cơ sở của tánh đức, bộ kinh này chính là kinh mở mang tánh đức của chúng ta.

          Do đó trong hạnh nguyện Phổ Hiền, trước hết là lễ kính, xưng tán rồi mới tới cúng dường.  Cúng dường Bồ Tát dùng ‘hương hoa, y phục, thức ăn, thức uống, đồ trân ngoạn’, những ý nghĩa tiêu biểu pháp này đã được nói ở phía trước.  Thời đại hiện nay của chúng ta đúng là nhiều tai nạn, không những chúng sanh có nghiệp chướng sâu nặng, chính mình cũng có nghiệp chướng sâu nặng.  Chúng ta nên nghĩ coi làm thế nào để giúp mình, giúp người khác, mình tu học thuận tiện như thế nào thì cũng nên tạo ra sự thuận tiện cho người khác.  Nên biết Phật pháp không có nhất định, trong kinh thường dạy chúng ta nguyên tắc “tùy loại hóa thân, tùy cơ thuyết pháp”, ‘tùy’ nghĩa là hằng thuận chúng sanh, tùy hỷ công đức, nếu bạn không ‘thuận’ không ‘tùy’ thì không những chẳng thể độ chúng sanh mà cũng chẳng thể độ chính mình.  Tại sao không thể độ chính mình?  Không thể ‘tùy’ nghĩa là chấp trước, tức là phân biệt chấp trước, không thể phá trừ tâm chấp trước thì không thể ra khỏi lục đạo, chúng ta phải hiểu đạo lý này, do đó phải biết tùy thuận.  Chướng duyên trong thế gian đích thật là rất nhiều, yêu ma quỷ quái, ma chướng hữu hình hoặc vô hình, vô hình là từ quỷ thần, hữu hình là từ hết thảy người, sự, vật.  Ma chướng hình thành như thế nào?  Ðều là những ác nghiệp mình đã tạo từ vô lượng kiếp tới nay, ác nghiệp sẽ tạo thành chướng ngại, thiện nghiệp cũng tạo thành chướng ngại, thiện nghiệp là ái duyên.  Chúng tôi thường nghe các bạn đồng tu nói: ‘Phật dạy chúng ta phải xả, phải buông xuống, nhưng tôi không buông xuống con cháu được’.  Ðó là gì?  Ái duyên.  Buông không nổi oán hận của oán gia đối đầu, buông không nổi ý niệm báo thù, không buông nổi ái duyên, tất cả đều trở thành chướng ngại.  Ðây là những nghiệp đã tạo đời trước hoặc đời này, chúng ta phải biết, phải hiểu rõ, phải giác ngộ.

          Như thế nào mới thật sự giác ngộ?  Biết ‘phàm những gì có hình tướng đều là hư vọng’, kinh Kim Cang dạy ‘Ta, người, chúng sanh, thọ giả đều là giả, đều chẳng thể được’.  Cho nên nếu bạn có trí huệ Bát Nhã, biết được vạn vật đều không [thật có], nhân quả chẳng không, biết hết thảy pháp hữu vi đều là mộng, huyễn, bọt, bóng thì tâm bạn sẽ thanh tịnh.  Ðối với hết thảy pháp đều không lấy, không bỏ thì ma đối với bạn không khởi tác dụng gì được hết, ma không thể chướng ngại bạn.  Lúc đó là lúc bạn có thể chuyển cảnh giới, không bị cảnh giới chuyển như kinh Lăng Nghiêm nói ‘nhược năng chuyển cảnh tắc đồng Như Lai’ (nếu có thể chuyển cảnh thì giống như Như Lai), như vậy mới thật sự là vĩnh viễn xa lìa ma não.  Do đó có thể biết vĩnh viễn xa lìa ma não chẳng phải đi tới đâu cũng trốn tránh, trốn tránh không nổi đâu; vĩnh viễn xa lìa ma não là nhìn thấu chân tướng sự thật, biết tất cả đều là giả, đều là không, đều là một giấc mộng.  Dẫu cho những tà ma, ngoại đạo vô hình cũng không thể nào bén mảng tới ngoại biên (bờ mé bên ngoài) của bạn được, tại sao không bén mảng được? Vì bạn không có biên [1], bạn có biên thì nó mới bén tới gần được.  Vì bạn không có biên, chúng ta phải hiểu đạo lý này.  Bạn có cái Ta thì bạn sẽ bị hại, nếu không có Ta thì ai bị hại?  Vô ngã thì sẽ không bị hại.  Vì sao hết thảy chúng sanh phải thọ nhận chướng ngại này?  Vì có cái Ngã, có cái Ta.  Oán gia đối đầu muốn báo thù, họ sẽ nói ‘mày ở đâu tao cũng tìm cho ra để báo thù.’  Nếu bạn không còn tồn tại nữa, bạn chẳng còn cái Ngã, cái Ta nữa thì họ sẽ tìm không ra bạn.

          Lúc trước khi lão hòa thượng Ðạo Nguyên truyền giới, ngài kể một câu chuyện, ngài nói thời xưa có một vị thiền sư tôi không nhớ tên.  Công phu thiền định của thiền sư rất khá, sau khi nhập định tâm cảnh đều không.  Thọ mạng của ngài đã đến, vua Diêm La phái hai tên tiểu quỷ đến bắt ngài, vì ngài nhập định tâm cảnh đều không nên tiểu quỷ tìm không ra.  Quỷ hỏi người ta thiền sư đi đâu rồi?  Thiền sư ngồi ở đó nhưng quỷ tìm không thấy.  Vì trong khi nhập định, ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng đều chẳng còn.  Có người nói vật thiền sư thích nhất chính là cái bình bát của ngài, tiểu quỷ biết được nên gõ vào bình bát, vừa gõ thì thiền sư xuất định, lúc đó liền bị quỷ bắt.  Ðó là vì thiền sư còn một chút chấp trước nên bị người ta bắt đi.  Do đó hễ có ưa thích, [bất kể ưa thích] gì đều là phiền phức, nói cách khác, bạn chẳng thoát khỏi con mắt của tiểu quỷ, bất cứ lúc nào nó cũng có thể bắt bạn đi được.  Ðó là không triệt để buông xuống, chúng ta nên biết đức Phật nói với chúng ta ngay cả Phật pháp cũng không thật, kinh Kim Cang có câu ‘Pháp còn phải xả huống hồ là phi pháp’.  Phật pháp cũng không thể chấp trước, huống chi là pháp thế gian, chúng ta phải hiểu đạo lý này.  Pháp thế gian và xuất thế gian đều không giữ trong tâm, tôi dùng nó, tôi không chấp trước nó, tôi cũng không phân biệt nó, để cho tâm này vĩnh viễn được thanh tịnh, bố thí cúng dường mới thật sự được phước, phước vô lượng vô biên, phước này xứng tánh.  Nếu còn phân biệt chấp trước thì phước đó không xứng tánh, trong kinh gọi là ‘phước báo hữu lậu’, biến thành phước báo hữu lậu trong tam giới.

          Trong sự tu học, các bạn đồng tu hãy nghĩ coi nếu không phải mỗi ngày đều hợp lại nghiên cứu, mỗi ngày đều thảo luận, huân tập, nghiệp chướng tập khí của chúng ta rất nặng, vừa quay đầu liền mê.  Cho nên đạo tràng thời xưa tốt lắm, tốt ở chỗ huân tập lâu dài.  Mỗi ngày đều giảng kinh, thời gian giảng kinh dài.  Hiện nay chúng ta giảng kinh mỗi ngày hai giờ, so với người xưa là đã giảm bớt.  Nếu y theo tiêu chuẩn của đức Phật, trong kinh Nhân Vương nói ‘hai thời giảng kinh’ đây là thời gian họ học tập, nghiên cứu, thảo luận, hạ công phu trên Giáo, Lý, Hạnh, Quả, ‘hai thời’ tương đương tám giờ đồng hồ của chúng ta.  Kinh Phật nói hai thời là nói Ấn Ðộ thời xưa, mỗi ngày sáng tối chia thành sáu thời, ngày ba thời, đêm ba thời, mỗi thời bằng bốn giờ đồng hồ chúng ta hiện nay, hai thời tức là tám giờ đồng hồ.  Cho nên thuở đức Phật còn tại thế, người tu hành theo đức Phật làm sao không chứng quả?  Mỗi ngày tám giờ đồng hồ thảo luận kinh giáo, họ còn công phu đâu nữa mà khởi vọng tưởng?  Ngày nay chúng ta chỉ bằng một phần tư của họ, chỉ học hai giờ đồng hồ.  Nói thật ra là không đủ, tối thiểu phải có bốn giờ đồng hồ, mỗi ngày dành ra bốn giờ sốt sắng nghiên cứu thảo luận, tối thiểu cũng nên có bốn giờ đồng hồ niệm Phật, đây là ít tới mức không thể ít hơn nữa.  Việc tu hành, ngày nay chúng ta hiểu rõ chỉ có pháp môn Niệm Phật là đáng tin cậy, các pháp môn khác trên mặt Lý thì đều bình đẳng, chẳng sai khác, nhưng trên mặt Sự thì rất khó khăn!  Chẳng dễ dàng.  Nói cách khác chẳng hợp với căn cơ của chúng ta, nghiệp chướng chúng ta quá nặng, chỉ có cách niệm Phật đới nghiệp vãng sanh thì chúng ta mới có thể làm được.  Chỉ cần thật sự làm thì chẳng có ai không thành tựu.

          Tối hôm trước tôi tới Hồng Các dùng cơm, nghe nói việc buôn bán của họ hiện nay rất tệ, tôi đi thăm họ, hiện nay [kinh tế] tương đối không tốt lắm.  Ở đó thấy một CD nói về một người tù bị xử tử vãng sanh, chúng tôi đem vài CD về và nói với Lý hội trưởng, ông Lý nói ông cũng biết về việc này.  Sau khi người tử tù này chết đi, ông Lý có lo hậu sự cho ông ta.  Tôi hỏi có phải là ông Lý nói chuyện trong CD đó không, ông Lý nói không phải, mà do một cư sĩ họ Tô nói, nghe nói Tô cư sĩ hiện nay cũng hồi đầu chuyên tâm niệm Phật, vì ông đã nhìn thấy tận mắt sự kiện này.  Cho nên Lý cư sĩ đã độ được không ít người trong tù được vãng sanh thật sự.  Tô cư sĩ quen biết với người này, chăm sóc cho kẻ tử tù này, dặn dò ông ta ba chuyện.  Thứ nhất là lúc bị xử tử phải niệm Phật lớn tiếng, ông kia đồng ý và nói ‘Ðược, tôi sẽ làm’.  Thứ nhì lúc ông mất đi phải có tướng lành, không được chảy máu từ bảy lỗ trên thân mình, vì đây là bị xử treo cổ, ông kia nói ‘Ðược, tôi sẽ làm’.  Thứ ba ông phải lưu lại xá lợi cho chúng tôi làm chứng.  ‘Ðược, tôi đồng ý’.  Kết quả là khi ông ta chết đều thực hiện được ba chuyện này.  Sau khi ông bị treo cổ, sắc mặt của ông rất đẹp, coi cũng giống như người thường, khác hẳn với những người bị xử tử theo kiểu này, sau khi thiêu thật sự có xá lợi.

          Cho nên có bạn đồng tu hỏi: ‘Có phải là ông đó tự biết?’  Không phải vậy, do nguyện hạnh, họ có nguyện lực thì có thể làm được.   Ngay một người tử tội cũng có thoại tướng như vậy, ông ta thật sự đã vãng sanh, niệm cuối cùng của ông trong lúc ông ra đi là niệm A Di Ðà Phật, chẳng có tí gì hư giả.  Ông biết trước ngày nào thọ hình và niệm Phật mà ra đi.  Trong kinh nói, ý niệm cuối cùng là một câu Phật hiệu thì nhất định sẽ vãng sanh.  Trước khi chết tạo tội nghiệp gì, phạm sai lầm gì, nếu trước khi chết bạn có thể hối cãi, sám hối vãng sanh, trong kinh Phật nói chuyện này đã xảy ra rồi.  Trong kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật nói vua A Xà Thế tạo tội ngũ nghịch, lâm chung sám hối, trong kinh A Xà Thế Vương Tử, đức Phật nói với chúng ta vua vãng sanh được Thượng Phẩm Trung Sanh.  Chúng ta đọc xong vô cùng kinh ngạc, vua tạo tội nặng như vậy, tội đọa A Tỳ địa ngục, chúng ta cứ nghĩ chắc vua vãng sanh Hạ phẩm mà thôi, vãng sanh về ba phẩm Hạ chúng ta cảm thấy cũng rất bình thường, chẳng biết là vua vãng sanh về Thượng phẩm Trung sanh, từ chuyện này [chúng ta mới biết] sức mạnh của sự sám hối chẳng thể nghĩ bàn.  Ðây là nhờ vua gặp được thiện tri thức thật sự dạy cho vua, thiện căn phước đức của vua đời trước hiện ra, sau khi nghe xong khởi lên tâm sám hối chân thật.  Ðây là việc chúng ta phải nên học tập, tu hành chân thật thì sẽ được cảm ứng chân thật.  Ðây là việc cúng dường, phải từ tâm hiếu kính sanh khởi, lễ vật dùng để cúng dường đều là tiêu biểu pháp.  Sau đó:

          Dĩ tịnh thủy an đại sĩ tiền,

Nhất nhật nhất dạ cầu phục chi.

Bày chén nước trong trước Đại Sĩ,

Cách một ngày sau bưng lấy uống.

          Phía trước đã nói qua, đây là cầu cảm ứng.  ‘Tịnh thủy’ là do Bồ Tát oai thần gia trì, bạn cúng một ngày một đêm, bạn sốt sắng nỗ lực tu học đúng như pháp thì mới được cảm ứng.  Phía sau còn hai đoạn:

          Phát ân trọng tâm, thận ngũ tân,

Tửu nhục tà dâm cập vọng ngữ,

Tam thất nhật nội vật sát hại

Chí tâm tư niệm đại sĩ danh.

Sanh lòng trân trọng, cữ ngũ tân,

Rượu, thịt, tà dâm, cùng vọng ngữ.

Hăm mốt ngày liền chớ sát sanh,

Chí tâm nhớ tưởng Đại Sĩ danh.

          Ðây là nói bạn chuyên tu, khắc kỳ cầu chứng (định kỳ hạn, cầu được chứng nghiệm), phải tu pháp này ba tuần hai mươi mốt ngày, trong thời gian này phải phát tâm ân cần tôn trọng, cữ ngũ tân.  Phía trước trong chú giải có nói về ngũ tân, nơi đây lược bớt, nơi đây trích dẫn kinh Lăng Nghiêm để nói tại sao phải cữ ngũ tân, câu cuối trong hàng thứ nhất trong Chú Giải ‘Lăng Nghiêm vân, thục thực phát dâm, sanh đạm tăng khuể’ (Kinh Lăng Nghiêm dạy nếu ăn [ngũ tân] chín thì sanh lòng dâm, ăn sống thì tăng thêm sân giận), đây là lời đức Phật dạy cho người sơ học, tại sao?  Những thứ này có chướng ngại cho cơ thể, là đạo lý như vậy.  Nếu chúng ta muốn giảm bớt chướng ngại, thì đối với thức ăn không thể không lựa chọn.  Nhưng phải biết năm xưa lúc Thế Tôn còn tại thế các ngài đi trì bình khất thực, khi khất thực người ta cho cái gì thì ăn cái đó, tuyệt đối không có phân biệt chấp trước.  Lúc bạn đi trì bình những người cúng dường này chưa chắc đều là người học Phật, chưa chắc đã hiểu Phật pháp, cho nên họ cúng dường món gì thì ăn món đó.  Nhưng khi thật sự tu hành thì chúng ta không thể không lưu ý.  Ngày nay người trong thế gian nói tới việc ăn uống chỉ chú trọng vệ sinh, sinh là sinh lý [2], cữ ngũ tân là bảo vệ sinh lý, không những là sinh lý mà còn là tánh tình, chỉ có người chú trọng việc bảo vệ sinh lý chứ [những người chú trọng] bảo vệ tánh tình thì không nhiều.  Người chú trọng vệ sinh thì rất nhiều, rất phổ biến, còn người biết bảo vệ tánh tình thì rất ít.  Tính chất của ngũ tân không tốt, sẽ ảnh hưởng tâm tình của chúng ta, ăn chín thì nó sẽ giúp cho hormone, sẽ dẫn tới việc xung động tình dục, phát dâm, đây là nói khi ăn chín; khi ăn sống thì dễ sanh hỏa từ gan, ưa nóng nảy, là vì lý do này.  Tại sao đức Phật dạy không được ăn năm thứ này, đạo lý là như vậy.  Trong kinh Hoa Nghiêm có nói ‘Lý Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại’, năm thứ  này có trở ngại hay không?  Năm thứ này cũng chẳng trở ngại, nhưng vì công phu của bạn chưa đủ, công phu chưa tới thì nó sẽ gây trở ngại cho bạn, nếu bạn có công phu thật sự thì nó sẽ chẳng gây trở ngại; đây là điều chúng ta phải biết, phải cữ ngũ tân.

          Sau đó nói tới ‘tửu nhục (rượu thịt) là chất tanh hôi (huân tinh), đây là giải thích việc ăn chay.  ‘Tà dâm cập vọng ngữ’, câu này là nói về mười nghiệp thiện, nhất định phải đoạn dứt mười nghiệp ác, tu mười nghiệp thiện, trong vòng ba tuần, 21 ngày trì giới niệm Phật, ở đây nói niệm danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát.  Nói cách khác ngày nay gọi là đả Địa Tạng thất, thời gian Địa Tạng thất kéo dài ba tuần, 21 ngày, chuyên trì danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát.  Chữ then chốt quan trọng ở đây là ‘chí tâm tư niệm’, chẳng phải niệm bằng miệng, tâm phải chân thành tới cùng cực.  Niệm danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát, danh hiệu tương ứng với đức hạnh thì bạn niệm sẽ được tương ứng.  Niệm danh hiệu liền nghĩ tới đức hạnh, chẳng phải là niệm suông câu danh hiệu này, phải nghĩ tới hành nghị của Địa Tạng Bồ Tát, lòng từ bi của ngài, lời dạy của ngài.  Nghe danh hiệu Bồ Tát, bạn phải nhắc nhở chính mình, nhìn thấy hình tượng cũng phải nghĩ tới, chúng ta phải y giáo phụng hành, như vậy mới tương ứng.  Cổ đức dạy ‘một niệm tương ứng một niệm Phật, niệm niệm tương ứng niệm niệm Phật’, bạn phải niệm tới tương ứng.  Nếu khi niệm danh hiệu của Bồ Tát mà cứ khởi vọng tưởng như cũ, vẫn tạo tội nghiệp như cũ thì niệm để làm chi?  Ngày xưa Hàn Sơn Thập Đắc chê cười những vị tăng ở chùa Quốc Thanh rằng ‘hét bể cổ họng cũng uổng công’, vì sao vậy?  Vì không tương ứng.  Phải niệm tới tương ứng!  Từ danh hiệu nhất định phải nghĩ tới Giáo Lý Hạnh Quả, đó là chánh niệm, cho nên khi niệm danh hiệu này, trong đó có đầy đủ Tín Giải Hành Chứng, bạn nghĩ coi công đức này bao lớn.  Nếu niệm câu danh hiệu này chẳng liên quan gì tới Tín Giải Hành Chứng thì ‘hét bể cổ họng cũng uổng công’.  Bất luận tu học pháp môn nào chúng ta cũng phải hiểu rõ nguyên lý này.  Đoạn kế tiếp nói về quả báo:

          Tức ư mộng trung kiến vô biên

Trong mộng ắt thấy thân vô biên,

‘Vô biên’ tức là vô biên thân của Địa Tạng Bồ Tát, đây là hóa thân, vô biên là nói số nhiều, vô lượng vô biên.  Chúng sanh có cảm thì Phật, Bồ Tát sẽ ứng, trong mộng bạn sẽ thấy hóa thân của Địa Tạng Bồ Tát, ngài sẽ xoa đảnh và thọ ký cho bạn.

Giác lai cánh đắc lợi căn nhĩ.

Thức giấc nhĩ căn liền lanh lợi,

          Cảm ứng đạo giao, sau khi tỉnh giấc bạn sẽ thông minh, căn tánh sẽ lanh lợi, những gì bạn mong cầu đều được cảm ứng.

          Ứng thị kinh giáo lịch nhĩ căn

Đại Thừa kinh giáo nghe qua tai,

          Sau này khi bạn đọc kinh, nghe giảng kinh

Thiên vạn sanh trung vĩnh bất vong

Suốt ngàn vạn đời mãi chẳng quên.

Câu nào cũng có thể ghi nhớ thuộc lòng, y giáo phụng hành.  Cho nên phía trước chữ then chốt cho việc tu học là ‘chí tâm tư niệm’, quan trọng ở tại bốn chữ này.  Ngày nay chúng ta noi theo phương pháp này tu học tại sao không có hiệu quả?  Vì chẳng làm được bốn chữ này, ngày nay chúng ta chỉ làm trên hình thức, đả một Địa Tạng thất, cũng rất có nề nếp nhưng thật ra trong tâm suy nghĩ lung tung, chẳng có thành tâm cho nên những gì mong cầu đều không tương ứng.  Đừng nói đả ba thất không tương ứng, ba mươi thất cũng không tương ứng, trong kinh chẳng nói sai nhưng chúng ta làm sai rồi.  Nếu tương ứng thì nói thật ra người xưa trai giới tế lễ ba ngày liền có cảm ứng, lẽ nào hai mươi mốt ngày không cảm ứng sao?

Dĩ thị đại sĩ bất tư nghị

          Năng sử tư nhân hoạch thử huệ

Chính nhờ Đại Sĩ bất tư nghì,

Thầm giúp người kia được trí huệ.

Đây là oai thần chẳng thể nghĩ bàn của Địa Tạng Bồ Tát gia trì, thật ra cũng là chính mình chí tâm nên cảm được, phía trước đã nói với chư vị chân thành tới cùng cực thì tánh đức tỏ rõ nên mới có hiệu quả như vậy, trên mặt Lý có thể giải thích rất thông suốt.  Đây là phương pháp cầu trí huệ.

          Xin xem kinh văn, Khoa Chú quyển Hạ trang 85, hàng thứ ba:

          Bần cùng chúng sanh cập tật bịnh

          Gia trạch hung suy quyến thuộc ly.

          Thùy mộng chi trung tất bất an.

          Cầu giả quai vi vô xứng toại.

Chúng sanh nghèo khổ lại bịnh tật,

Nhà cửa hung suy, quyến thuộc lìa,

Ngủ mê mộng mị không an giấc,

Cầu chi cũng hỏng, chẳng toại lòng.

          Đoạn này là bài kệ nói về các tai nạn.  Lời kệ này chính là những gì chúng ta thường gặp hiện nay, cho nên đọc xong phẩm kinh này chúng ta sẽ cảm xúc vô cùng sâu đậm, chữ nào câu nào cũng nói về tình trạng hiện nay của chúng ta, Phật, Bồ Tát dạy chúng ta phương pháp tu học, làm thế nào thay đổi hoàn cảnh sinh hoạt, chuyển đổi nghiệp chướng của chúng ta.  Do đó trong phẩm này chúng ta thấy lòng từ bi vô hạn của đức Thế Tôn, sau phần văn trường hàng đã nói rõ xong còn dùng kệ tụng lập lại chẳng qua là nhằm tạo cho chúng ta ấn tượng sâu đậm.  Bài kệ này nói về sự thật của tai nạn, hiện nay người nghèo khổ trong thế gian này nhiều, người giàu sang chỉ là thiểu số, chúng ta phải thường nghĩ đến những chúng sanh khổ nạn này.  Tật bịnh của họ không chỉ giới hạn trên thân thể, tâm tình của họ không yên, trí huệ chưa mở mang, đó là tâm bịnh, còn nghiêm trọng hơn thân bịnh.  Thân bịnh cần phải có thuốc men để chữa trị, để điều dưỡng, tâm bịnh cần Phật pháp; Phật pháp có thể giúp chúng ta phá mê khai ngộ.  Phật dạy ‘hết thảy pháp từ tâm tưởng sanh’, câu này là chân lý, một câu này đã nói toạc ra nguyên do cội rễ của y báo chánh báo trang nghiêm trong hư không pháp giới, một câu nói toạc chân tướng sự thật ‘hết thảy từ tâm tưởng sanh’.  Tâm thiện, ý tưởng thiện thì cảnh giới sẽ tốt lành, tâm mê hoặc, tư tưởng tà ác thì hoàn cảnh sẽ xấu ác, đây là lời Phật nói trạng huống chân thật cho chúng ta biết, đó là chân tướng của vũ trụ nhân sanh.  Thật sự hiểu rõ giác ngộ thì họ sẽ sửa đổi từ trong tâm địa, bỏ sạch hết những ác niệm từ trước, vun bồi thành một tâm thuần thiện, là tâm hoàn toàn đem lại lợi ích cho hết thảy chúng sanh, cảnh giới trước mắt của chúng ta sẽ từ từ thay đổi và trở thành tốt đẹp, vả lại tốc độ thay đổi sẽ rất nhanh chóng, sau đó những điều mong cầu đều được mãn nguyện.  Bài kệ sau đây dạy chúng ta phương pháp tu hành:

          Chí tâm chiêm lễ Địa Tạng tượng

Chí tâm chiêm lễ tượng Địa Tạng,

          Quan trọng là ở chỗ ‘chí tâm’.  ‘Chiêm lễ tượng Địa Tạng’ là tu lòng hiếu kính, thật sự noi gương học theo tâm đại hiếu đại kính của Địa Tạng Bồ Tát.

          Nhất thiết ác sự giai tiêu diệt

Tất cả việc ác thảy tiêu trừ,

          Đây là việc tâm chuyển cảnh giới, sẽ không bị cảnh giới chuyển nữa.

          Chí ư mộng trung tận đắc an

Cho đến mộng mị đều an ổn,

          Bạn ngủ được yên giấc.

          Y thực phong nhiêu thần quỷ hộ

Quỷ thần ủng hộ, dư ăn mặc.

Những nguyện vọng của bạn đều có thể toại nguyện.  Then chốt của sự tu hành là noi gương Địa Tạng Bồ Tát, học theo tâm đại hiếu đại kính của ngài, hiếu thuận hết thảy chúng sanh, tôn kính hết thảy chúng sanh.  Chúng sanh bao gồm hết thảy người, sự, vật, làm được vậy mới có thể mau chóng chuyển đổi được.  Chú giải trang 86 hàng thứ nhất ghi ‘quần áo thức ăn dồi dào phong túc’, chỗ này có một chữ in sai, ‘y phong phong túc’ chữ ‘phong’ thứ nhất phải sửa thành chữ ‘thực’ (thức ăn).   Chúng ta coi bài kệ tiếp theo:

 

Dục nhập sơn lâm cập độ hải

Độc ác cầm thú cập ác nhân

Ác thần ác quỷ tinh ác phong

Nhất thiết chư nạn chư khổ não.

 

Muốn vào núi rừng, qua sông biển,

Cầm thú độc dữ cùng người ác,

Ác thần, ác quỷ, với ác phong,

Hết thảy tai nạn, mọi khổ não

          Đây là phần trùng tụng nói tới các tai nạn thường gặp khi đi du lịch.  Khi bạn đi ngang vùng rừng núi, những nơi có rắn độc, thú dữ, đạo tặc thường ẩn núp.  ‘Và khi đi ngang biển’, đi ngang biển sóng lớn chập chùng, thời xưa ghe thuyền gì cũng không lớn.  Sau đó nói tới ‘ác thần, ác quỷ và ác phong’, ác phong là nói khi đi ngang biển dễ gặp những tai nạn này.  ‘Ác thần ác quỷ’, chuyện này cũng có thật, lần trước Lôi cư sĩ ở đây đã kể nhiều câu chuyện mà ông đích thân trải qua.  Tại sao lại gặp phải những ác quỷ này?  Tại sao người khác không gặp?  Do đó mới biết trong định luật nhân quả vẫn là ‘một miếng ăn, một miếng uống đều là tiền định’, đời trước những ác thần ác quỷ này chẳng có ác duyên gì với ông ta thì họ sẽ không tới gây phiền phức; họ tới là vì đời trước hoặc đời này bạn đã xúc phạm đến họ, bạn có chuyện xích mích với họ nên họ tìm bạn gây phiền phức.  Nếu chính mình không có tu trì, không có đức hạnh, họ sẽ không tôn trọng bạn nên dễ gặp những chuyện này, những chuyện này đều là chuyện có thật.  Ở đây đức Phật dạy chúng ta phương pháp tu hành:

          Đản đương chiêm lễ cập cúng dường

          Địa Tạng Bồ Tát đại sĩ tượng

          Như thị sơn lâm đại hải trung

          Ứng thị chư ác giai tiêu diệt

 

Chỉ cần chiêm lễ cùng cúng dường,

Địa Tạng Bồ Tát Đại Sĩ tượng,

Núi rừng biển cả dẫu có vào,

Tất cả sự ác đều tiêu sạch.

Phần văn trường hàng nói rất rõ ràng, trước khi du lịch, chúng ta đọc kinh Địa Tạng, niệm đủ một vạn danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát; tu học phải ‘chí tâm xưng niệm’, bốn chữ này vô cùng trọng yếu!  Chân tâm xưng niệm, suy nghĩ về công đức của Bồ Tát, noi gương theo hành nghị của Bồ Tát, không những quỷ thần không não hại bạn mà còn bảo vệ, hộ trì bạn nữa.  Tại sao vậy?  Vì họ tôn kính bạn.  Đây là việc mà hiện nay chúng ta thường thấy, thường ra ngoài du lịch thì nên biết.  Sau cùng là phần tổng kết:

          Quán Âm chí tâm thính ngô thuyết.

          Địa Tạng vô tận bất tư nghị

          Bá thiên vạn kiếp thuyết bất châu

          Quảng tuyên đại sĩ như thị lực.

 

Quán Âm hãy lắng nghe Ta nói, 

Địa Tạng vô tận không nghĩ bàn,

Trăm ngàn muôn kiếp chẳng kể xiết,

Rộng tuyên Đại Sĩ sức như vậy! 

          Trong Khoa Phán [3] có ghi ‘Kết tụng phổ cáo lưu bố’ (Kệ tụng kết thúc lưu truyền rộng rãi).  Thế Tôn khuyến khích Quán Thế Âm Bồ Tát lưu thông bộ kinh này, đương nhiên Quán Thế Âm Bồ Tát sẽ đi khắp nơi giới thiệu hành nghị của Địa Tạng Bồ Tát, tại sao vậy?  Nếu không có cơ sở của Địa Tạng Bồ Tát, thì lòng từ bi của Quán Thế Âm Bồ Tát sẽ không có nơi nương tựa, lòng từ bi này từ đâu mà có?  Từ hiếu đạo tỏa rạng rộng ra.  Sự tạo dựng hình tượng trong Phật pháp Đại Thừa ở Trung Quốc rất có lý, dùng bốn Đại Bồ Tát để tiêu biểu pháp, do đó Đại Thừa phải bắt đầu từ đâu?  Bắt đầu học từ Địa Tạng, Địa là tâm địa, chúng ta gọi là xây dựng tâm lý, vun bồi tâm lý là căn bản.  Ngày nay khoa học kỹ thuật trong thế gian ngày càng tân tiến, các thành phố lớn xây dựng cao ốc, những nhà lầu cao trên một trăm tầng ở các thành phố lớn đều có.  Nhưng tại sao xã hội không thể an định?  Tại sao đời sống không có hạnh phúc?  Là vì sơ sót việc xây dựng tâm lý, chẳng có tâm lý lành mạnh, con người tùy thuận phiền não tập khí của chính mình, mọi người đều tranh danh đoạt lợi.  Mạnh Tử nói ‘Nếu trên dưới đều cùng nhau tranh lợi thì quốc gia sẽ lâm vào nguy cơ!’, chúng ta hãy coi thế giới hiện nay, đúng như câu nói trên của Mạnh Tử, nhiều người không tin?  Nếu không tin thì phải đợi đến cuối thế kỷ mới tính, đây là điều chúng ta thường lo sợ.  Muốn tiêu tai miễn nạn thì phải nhờ xây dựng tâm lý, mỗi người đều biết hiếu đạo, tin chắc hiếu đạo, đều dùng tâm hiếu kính để đối xử với mọi người, dùng tâm đại từ đại bi giúp đỡ hết thảy chúng sanh thì tai nạn trong thế gian sẽ được hóa giải, sẽ biến thành mây khói ngay lập tức.

          Cho nên chúng ta biết Địa Tạng Bồ Tát, pháp môn Địa Tạng là cội rễ, tôi đã từng nói qua rất nhiều lần.  Phật pháp chẳng có gì khác ngoài một chữ ‘Hiếu’.  Văn tự Trung Quốc nói thật ra đã hiển rõ pháp môn này chẳng thể nghĩ bàn.  Trong văn tự Trung Quốc, chữ Hiếu này được tạo thành bằng cách ‘hội ý’, chúng ta hãy phân tách ý nghĩa của chữ này.  Trong chữ Hiếu bao gồm những ý nghĩa gì?  Tận hư không trọn khắp pháp giới là một thể, đây là hàm ý của chữ Hiếu.  Phần trên của chữ Hiếu (孝) là chữ ‘Lão’ (老), phần dưới là chữ ‘Tử’ (子), chữ Lão là đời trước, Tử là đời sau, đời trước còn có đời trước nữa, quá khứ vô thỉ.  Đời sau còn có đời sau nữa, vị lai vô chung, vô thỉ vô chung này hợp thành một thể gọi là Hiếu.  Trong kinh Phật thường nói hư không và pháp giới là một thể, Phật dạy chúng ta tâm lượng phải ‘bao trùm hư không, lượng lớn nhiều như cát’ đó là ý nghĩa của chữ Hiếu.  ‘Dọc cùng ba đời, ngang suốt mười phương’ cũng là ý nghĩa của Hiếu, chữ Hiếu này bao gồm ý nghĩa chẳng thể nghĩ bàn!  Sự tu học trong nhà Phật bắt đầu từ đạo hiếu, cuối cùng đến thành Phật, đạo hiếu làm tròn rồi gọi là thành Phật, Đẳng Giác Bồ Tát còn một phẩm Sanh Tướng vô minh chưa trừ nên đạo hiếu còn thiếu sót một phần.  Ai có thể làm tròn hiếu đạo tới mức viên mãn rốt ráo?  Chư Phật Như Lai mới làm tròn hiếu đạo.

          Sau khi đức Thế Tôn diệt độ, ngài giao phó trọng trách giáo hóa chúng sanh cho Địa Tạng Bồ Tát, đạo lý là ở chỗ này.  Ai là Địa Tạng Bồ Tát?  Ai hiểu được hiếu đạo, có thể tu đạo hiếu, ai có thể phát triển tuyên dương hiếu đạo thì người đó chính là Địa Tạng Bồ Tát.  Địa Tạng Bồ Tát rất nhiều!  Trong kinh chúng ta đọc thấy ‘Đại Sĩ vô biên thân’, vô lượng vô biên đều là Địa Tạng Bồ Tát.  Quán Thế Âm Bồ Tát đại từ đại bi là hiếu hạnh của Địa Tạng Bồ Tát tỏa rạng rộng lớn.  Chúng ta nói về tâm hiếu dưỡng cha mẹ, tôn kính sư trưởng, hiếu thuận hết thảy chúng sanh, tôn kính hết thảy chúng sanh, thì tâm đó sẽ biến thành Quán Thế Âm Bồ Tát.  Hiếu kính phải dựa vào lý tánh, không thể dựa vào cảm tình, tâm đó là Văn Thù Bồ Tát.  Văn Thù tiêu biểu trí huệ, cho nên chúng ta sinh hoạt, xử sự, đãi người, tiếp vật phải dùng lý trí chứ đừng dùng cảm tình, cảm tình là mê, tình là vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, tình tạo tội nghiệp.  Tình thức biến hiện ra sáu nẻo, ba đường ác, trí huệ biến hiện ra Tứ Thánh pháp giới, Nhất Chân pháp giới, đó là sự sai khác giữa Tình và Trí.  Người thế gian chúng ta thường nói phải có lý tánh, phải có lý trí, không thể dùng cảm tình làm việc, Văn Thù Bồ Tát dạy chúng ta những điều này.  Phổ Hiền Bồ Tát thực hiện ba điều: hiếu thân tôn sư, đại từ đại bi, và thể hiện trí huệ trong đời sống, đó chính là Phổ Hiền Bồ Tát.  Đây là đặc sắc của Phật pháp ở Trung Quốc, dùng bốn đại Bồ Tát coi như là bốn cột trụ của giáo học Đại Thừa Phật pháp, làm thành một cung điện đẹp đẽ huy hoàng, bốn cột trụ này thiếu một cũng không được, chúng ta phải biết bắt đầu học Phật pháp từ chỗ nào.

          Thế Tôn dặn dò Quán Thế Âm Bồ Tát lưu thông [kinh này] cũng là dạy chúng ta, đặc biệt là thời Mạt Pháp, tại sao vậy?  Những việc nói trong kinh đều là sự thật trước mắt chúng ta, chúng ta không có biện pháp giải quyết, phải nhờ những người giác ngộ trong nhóm chúng ta tuyên dương giải thích cho hết thảy đại chúng.  Không những chúng ta phải giải thích rõ ràng, chính mình phải làm cho bằng được, tiêu trừ nghiệp chướng tai nạn của mình, sau đó chúng ta mới có thể giúp đỡ người khác, những gì chúng ta nói mới có y cứ thật sự.  Khi tai nạn xảy ra, chúng ta sẽ may mắn tránh được, chúng ta làm sao tránh được?  Vì chúng ta tu học đúng theo lời dạy.  Những chuyện tà ma quỷ quái nhập vào người thường xảy ra, người học Phật chúng ta gọi là bị ma dựa, ma dựa là gì?  Tức là tà mị nhập vào người.  Hầu như nơi nào chúng tôi cũng đều gặp, chúng ta có bị hay không?  Cũng có, nhưng chẳng nghiêm trọng lắm.  Rất nhiều bạn đồng tu buổi tối ngủ thường bị quỷ đè, rất nhiều người có kinh nghiệm này.  Hồi trước tôi cũng thường bị quỷ đè, [lúc đó] trong tâm biết rõ ràng nhưng không nhúc nhích gì được, sau khi học Phật thì không còn nữa.  Lúc trước thầy Lý nói, chúng ta gọi đó là ma dựa, trong kinh Phật cũng có nói tới chuyện này.  Lúc vận khí con người suy thoái thì quỷ lấn hiếp con người, còn lúc vận khí con người rất hưng vượng thì quỷ không dám lại gần, lúc bạn gặp vận suy thì quỷ sẽ lấn hiếp bạn, quỷ sẽ tới đè bạn.  Từ những chuyện này chúng ta biết được đó là chuyện có thật, chẳng phải giả.  Hiện nay ở Trung Quốc có [những người có khả năng đặc biệt], tại ngoại quốc, chẳng hạn như ở Mỹ cũng có, người Trung Quốc gọi là gọi là công năng đặc biệt kỳ lạ, ở Mỹ chúng tôi cũng từng gặp, họ có con mắt thứ ba, họ có thể nhìn thấy những chuyện kỳ quái này, mắt thịt của người thường chúng ta không thấy, họ thấy được.  Họ có thể thấy những quỷ quái này nhập vào thân người, họ có khả năng nhìn thấy, họ cũng có thể thấy những nội tạng trong thân thể người bị bịnh.

          Trước kia tôi ở Miami đã gặp vài người Mỹ, Miami là một nơi rất kỳ quái, rất nhiều người kỳ lạ cư trú ở đó.  Lúc ấy người tiếp đãi chúng tôi là cư sĩ Tăng Hiến Vĩ, ông ta ở đó thành lập một Niệm Phật Xã và mời tôi đến giảng kinh.  Cư sĩ Tăng đã học Thiền, cũng đã theo học Mật với các vị Lạt Ma, ông rất háo kỳ ưa thích những chuyện này nên ông thường tiếp xúc nhiều người như vậy.  Chúng tôi thường nghe ông ta kể những chuyện này, tất cả đều là chuyện thật.  Sợ không?  Không cần phải sợ, sợ cũng không giúp được gì, không thể nói bạn sợ thì họ không tới, càng sợ thì họ càng làm dữ, vậy thì sợ làm chi.  Nếu bạn không sợ thì họ không dọa bạn được, họ dùng hết chiêu thức dọa dẫm [mà bạn không sợ] thì tự nhiên họ sẽ bỏ đi.  Nếu bạn sợ thật sự, họ cảm thấy rất có hiệu quả, thì họ sẽ khống chế bạn, nếu bạn không sợ họ, không đếm xỉa tới họ thì họ không có cách gì khống chế bạn.  Đặc biệt là chúng ta tu tâm thanh tịnh, cảnh giới cao nhất là vô ngã, đúng như kinh Kim Cang có dạy ‘phá được bốn tướng’, hết thảy yêu ma quỷ quái đều không có, không bén tới được.  Chúng ta hiểu được đạo lý này, biết những sự thật này, biết tự mình nên tu học như thế nào, thành tựu công đức chân thật, thành tựu chính mình, lợi ích chúng sanh.

          Quỷ thần, Ma Vương cũng vậy, lúc họ không có cách gì quấy nhiễu bạn thì họ sẽ quay lại quy y hộ pháp, chúng ta coi Ma Vương Ba Tuần làm hộ pháp cho đức Phật Thích Ca Mâu Ni.  Họ muốn phá hoại Phật pháp, thật ra là vì tỳ kheo thời Mạt pháp chẳng thể y giáo phụng hành, họ đến gây phiền phức.  Người thật sự có tu, có học thì họ cũng sẽ tôn kính hộ trì, Ma cũng hộ pháp.  Đây chính là điều nói trong kinh Phật ‘hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh’, Ma cũng có Phật tánh, Mạnh Tử có nói ‘con người ai cũng có lòng trắc ẩn’, nói như vậy rất có đạo lý.  Người có xấu ác tới đâu khi nhìn người ta chịu khổ đôi lúc cũng sẽ sanh tâm thương hại, sẽ thông cảm với người đó, người ác còn có thể sanh tâm ấy huống chi là người thiện?  Cho nên tự hành có thể cảm hóa hết thảy người ác, ác quỷ ác thần đều sẽ được cảm hóa.  Chúng ta coi đoạn kinh tiếp theo:

Địa Tạng danh tự nhân nhược văn,

Nãi chí kiến tượng chiêm lễ giả,

Hương hoa y phục ẩm thực phụng,

Cúng dường bá thiên thọ diệu lạc,

Nhược năng dĩ thử hồi pháp giới,

Tất cánh thành Phật siêu sanh tử.

 

Như người nghe đến Địa Tạng danh,

Thậm chí thấy hình cùng chiêm lễ,

Hương hoa, thực phẩm, và y phục,

Cúng dường trăm ngàn hưởng diệu lạc.

Nếu đem hồi hướng khắp pháp giới,

Rốt ráo thành Phật, thoát sanh tử.

          Chúng ta đọc đoạn kinh này mới biết công đức tạo tượng thù thắng chẳng thể nghĩ bàn, nguyên nhân ở chỗ nào?  Làm cho hết thảy chúng sanh có cơ duyên nghe danh hiệu, nhìn thấy hình tượng, bạn tạo cho họ có cơ hội này, cho nên công đức ấy rất thù thắng.  Nhưng trong đó có một việc chúng ta nhất định phải biết, lúc Phật pháp thịnh hành thì mới có công đức thù thắng, tại sao vậy?  Mọi người nhận biết, nghe tới danh hiệu Địa Tạng, nhìn thấy hình tượng Địa Tạng sẽ sanh tâm hiếu thuận cha mẹ, tâm tôn sư trọng đạo, tâm học theo hạnh nguyện của Bồ Tát khởi lên, đây là danh hiệu hình tượng khơi gợi thiện niệm của chúng sanh, công đức đó quá thù thắng.  Nếu Phật pháp suy thoái chẳng có người tuyên dương, mọi người đều coi hình tượng của Phật, Bồ Tát là ngẫu tượng, cho là mê tín, không thể nói là không có công đức, nhưng công đức này hiện nay sẽ không đạt được, hiện nay đạt được gì?  Làm cho hết thảy chúng sanh tạo nghiệp, làm cho xã hội đại chúng nghĩ rằng quý vị đề xướng mê tín, quý vị sùng bái ngẫu tượng.  Tuy tạo tội nghiệp nhưng những hình tượng này một phen lọt vào nhãn căn, danh hiệu lọt vào nhĩ căn sẽ vĩnh viễn trở thành hạt giống đạo, công đức là ở chỗ này.  Nhưng những tội nghiệp mà họ tạo, họ phải chịu quả báo hay không?  Họ phải chịu quả báo, quả báo của tội nghiệp ở ba đường ác, sau khi chịu hết quả báo, khi họ thoát ra khỏi ba đường ác rồi gặp được thiện duyên, lúc đó thiện căn chín muồi, nhờ nhân duyên đó mới được độ, chúng ta phải hiểu những đạo lý này.

          Lúc nào là lúc thích hợp nhất để tạo dựng tượng Phật?  Mọi người đều biết sau khi kinh giáo được tuyên dương phổ biến thì đúc nặn hình tượng Phật, Bồ Tát sẽ đem lại chánh tri chánh kiến cho người ta, công đức đó vô lượng vô biên.  Do đó chúng ta có nghĩa vụ phải làm cơ hội giáo dục, việc này trọng yếu phi thường!  Hiện nay ở các nơi trên thế giới, hết thảy những kiến trúc Phật giáo, bất luận là cổ đại hay hiện đại hơn phân nửa đều biến thành những nơi cho người ta tham quan du lịch, người đi du lịch thường tới đó.  Ở những chỗ đó nếu có thiện tri thức bất luận là xuất gia hay tại gia giới thiệu đơn giản ý nghĩa tiêu biểu pháp của hình tượng Phật, Bồ Tát [cho những người đi du lịch nghe], đó là cơ hội giáo dục.  Họ đến tham quan đạo tràng, trong đạo tràng có thờ những hình tượng Phật, Bồ Tát, giới thiệu từng vị cho họ biết, mỗi vị tượng trưng ý nghĩa gì, làm vậy cũng như giảng một bài học cho người đi du lịch, làm cho họ không đến nỗi hiểu lầm Phật pháp.  Nói cho họ biết đó tuyệt đối không phải là thờ cúng ngẫu tượng.  Hết thảy những thiết trí trưng bày trong nhà Phật đều chứa đựng ý nghĩa giáo học sâu sắc trong đó.  Chúng ta nói về những vật dùng để cúng như hương, hoa, tràng phan, bảo cái đều có ý nghĩa tiêu biểu pháp.  Dùng danh từ giáo dục hiện nay mà nói thì đó gọi là giáo cụ, công cụ giáo học.  Để khi sáu căn chúng ta tiếp xúc tới liền nghĩ về ý nghĩa của vật đó, nghĩ mình nên học tập như thế nào, dùng những vật này để nhắc nhở chúng ta từng giờ từng phút, vì sợ chúng ta quên mất, sợ chúng ta lại mê hoặc trong đời sống hằng ngày, dùng những phương pháp nghệ thuật này làm cho chúng ta vừa vui mừng vừa nhắc nhở chúng ta.  Đây là sự dạy học có trình độ nghệ thuật cao độ, chẳng phải là mê tín.  Mê tín là quý vị hiểu lầm, hiểu sai, tại sao quý vị lại hiểu lầm?  Tại sao hiểu sai?  Vì chẳng có ai giải thích rõ cho quý vị, do đó sự hiểu lầm của đại chúng trong xã hội là điều có thể tha thứ.  Lỗi lầm là lỗi của chúng ta, chúng ta là đệ tử Phật trong số những người xuất gia và tại gia, chúng ta chẳng làm tròn trách nhiệm, chẳng giải thích việc này rõ ràng cho xã hội đại chúng.  Vì sao nghe danh hiệu, nhìn thấy hình tượng sẽ được lợi ích, họ được lợi ích bao lớn chúng ta đều phải hiểu rõ ràng, rành rẽ.

          Hai câu cuối này rất hay, ‘Nếu có thể dùng [công đức đó] để hồi hướng pháp giới’, làm thế nào hồi hướng pháp giới?  Nói thật ra thì chỉ là mở rộng tâm lượng mà thôi.  Chúng sanh trong thế gian niệm niệm đều vì lợi ích của chính mình do đó mâu thuẫn xung đột với xã hội và với chúng sanh sẽ vĩnh viễn không thể tránh miễn.  Nếu bạn mở rộng tâm lượng thì vấn đề này sẽ được giải quyết.  Chúng ta hãy nêu một ví dụ, từ ví dụ này chư vị hãy suy nghĩ cặn kẽ, chúng ta cư trú ở nhà mình dù không ra đường cũng thường có xung đột với hàng xóm, thân thích, bạn bè.  Lúc bỏ quê nhà đi đến nơi khác sinh sống, gặp được một người cùng xứ sở, bạn gặp một người đồng hương thì sẽ cảm thấy rất thân thích, khác hẳn với lúc ở quê nhà.  Lúc còn ở quê nhà thì bạn có xích mích, còn khi xa quê, xa nhà thì cảm thấy thân thích, phạm vi này lớn thêm một chút, đây là người cùng quê với mình.  Nếu ra nước ngoài gặp một người cùng xứ sở của mình thì tâm trạng đó sẽ càng khác hơn nữa, người đó không chỉ là người cùng làng, cùng tỉnh, mà là cùng một quốc gia, [tâm trạng] ấy sẽ khác thêm một chút nữa.  Nếu tâm lượng của bạn mở rộng và coi tận hư không trọn hết pháp giới đều là một nhà, khi bạn gặp bất cứ một chúng sanh từ một cõi Phật nào bạn đều cảm thấy thân thiết, ý nghĩa của hồi hướng pháp giới là ở chỗ này.  Cho nên sự hiểu lầm nhỏ, xích mích nhỏ đều được hóa giải hết.  Chỗ vĩ đại của đức Phật là ngài coi tận hư không trọn khắp pháp giới đều là nhà mình,  người nhà hiểu lầm chứ ngài chẳng có hiểu lầm người nhà, đó là thật chứ chẳng giả.  Tận hư không, trọn khắp pháp giới đều là nhà mình thì cũng chưa thân thiết.  Tận hư không trọn khắp pháp giới là chính mình, đó mới là lời chân thật, muôn vàn chính xác, chẳng có gì hư giả.

          Y báo, chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới là thân tướng của chính mình, đó là thân gì?  Đó là pháp thân.  Lúc nào chúng ta mới chứng được thanh tịnh pháp thân?  Đến ngày nào bạn đột nhiên giác ngộ, và thấy tận hư không trọn khắp pháp giới đều là chính mình, bạn sẽ chứng được pháp thân thanh tịnh.  Lúc bạn chứng được pháp thân thanh tịnh, thân hiện nay của bạn là thân nghiệp báo, thân nghiệp báo này liền chuyển biến thành báo thân viên mãn.  Viên mãn báo thân là gì?  Trí huệ hiện tiền, viên mãn báo thân là trí huệ thân, bạn sinh sống trong trí huệ chân thật, chúng tôi thường nói bạn sẽ sinh sống trong đời sống có trí huệ cao tột, thân đó chính là báo thân.  Bạn sẽ dùng lòng thương yêu của bạn để giúp đỡ hết thảy chúng sanh, đó là hóa thân, thiên vạn ức hóa thân; bạn thấy chúng sanh có căn tánh khác nhau, chủng tộc khác nhau, nguyện vọng khác nhau, bạn sẽ dùng nhiều phương pháp khác nhau để thỏa mãn họ, chăm sóc họ, đem lợi ích cho họ, đó chính là trăm ngàn ức hóa thân.

          Phẩm này tới đây là chấm dứt, những gì nói trong phẩm này hoàn toàn là chân tướng sự thật, đều là hoàn cảnh sinh hoạt của chúng ta hiện nay.  Những lý luận phương pháp mà đức Phật dạy chúng ta, cũng chính là điều chúng ta vô cùng cần thiết, ngày nay chúng ta sinh sống trong hoàn cảnh này, mỗi ngày đều trầy da tróc vảy nghĩ không ra phương pháp giải quyết, nơi đây đức Phật đều nói hết ra cho chúng ta biết, ngài từ bi tới cùng cực.  Chín ngàn năm đời mạt pháp chỉ có pháp môn này có thể cứu độ chúng sanh, đây là thật chứ chẳng giả.  Dùng pháp này làm cơ sở, cơ sở thật sự, lúc khai kinh chúng tôi đã nói với chư vị, phước thứ nhất trong Tam Phước dạy trong Quán Kinh, kinh này dạy đầy đủ mười một câu trong phước thứ nhất của Tam Phước.  Pháp môn Tịnh Tông dùng phước này làm cơ sở, dùng cơ sở này để niệm Phật cầu vãng sanh, nhất định sẽ được sanh Tịnh Độ, vả lại có thể khẳng định vãng sanh Thượng Bối, chắc chắn là Bậc Thượng trong ba bậc vãng sanh.  Tách khỏi cơ sở này thì vãng sanh sẽ không chắc chắn, lúc đó phải coi cơ duyên, người thế gian gọi là coi vận may, bạn có thể may mắn gặp được bạn tốt hay không?  Cơ duyên chẳng phải có được một cách ngẫu nhiên, vẫn phải nhờ thiện căn phước đức đời trước chín muồi, gặp được duyên mới hữu dụng, đến lúc lâm chung mới có thể tin, có thể nguyện, có thể hành, thì người đó mới có thể hối cãi.  Nếu có thể vun bồi cơ sở từ kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện này, thì cơ sở của bạn mới kiên cố, chắc thật.  Cho nên ‘Nếu có thể dùng công đức ấy để hồi hướng pháp giới, ắt sẽ thành Phật vượt thoát sanh tử’, chúng ta có thể tiếp nhận câu này, có thể tin tưởng, và có thể khẳng định.

          Thị cố Quán Âm nhữ đương tri. 

Phổ cáo hằng sa chư quốc độ.

Vì thế, Quán Âm, ông hãy nên,

Bảo khắp Hằng sa các cõi nước!

          Chúng ta kính mến Quán Thế Âm Bồ Tát thì phải nên noi gương, học theo ngài, ngài đối với cõi nước nhiều như cát sông Hằng đều phổ biến tuyên dương Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện kinh, chúng ta nên học theo và tuyên dương.  Đặc biệt là Chú Giải của Thanh Liên pháp sư hay vô cùng, chúng ta học hoặc hoằng dương bộ kinh này và có cuốn Chú Giải này để làm tài liệu tham khảo là đủ rồi, trong đó trích dẫn kinh điển, sưu tập rất nhiều tài liệu.  Lúc chúng ta khuyến cáo người ta, chúng ta có thể sưu tập những câu chuyện cảm ứng gần đây nhất mà trong kinh có nói, làm cho thính chúng tăng thêm lòng tin.

          Được rồi, hôm nay chúng tôi giảng tới đây.

 

Tập 50 (Số 14-12-50)

          Xin mở cuốn Khoa Chú quyển Hạ, trang 89, xin xem kinh văn hàng thứ hai:

Chúc Lụy Nhân Thiên Phẩm Đệ Thập Tam.

 

PHẨM THỨ MƯỜI BA: DẶN DÒ CỨU ĐỘ NHÂN THIÊN

          Đây là phẩm cuối của kinh này, và cũng là lời di chúc cuối cùng của Thế Tôn, lời lẽ vô cùng khẩn thiết, chúng ta đọc tụng phải thấu hiểu kỹ càng.  Xin coi kinh văn:

          Nhĩ thời Thế Tôn cử kim sắc tý, hựu ma Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát đảnh.

Lúc đó, Đức Thế Tôn giơ cánh tay sắc vàng xoa đảnh Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.

          ‘Nhĩ thời’ là lúc nói xong việc Thấy Nghe Được Lợi Ích, sau cùng đức Phật giao phó sứ mạng độ hóa chúng sanh cho Địa Tạng Bồ Tát, do đó chỗ này là đoạn ‘giơ cánh tay xoa đảnh’.  Thứ nhất là tiêu biểu an ủi, thứ nhì là giao phó sứ mạng trọng yếu cho ngài.  Sau đó đức Phật nói, đây là câu kinh trang 90:

          Nhi tác thị ngôn, Địa Tạng, Địa Tạng

Mà bảo rằng: “Này Địa Tạng! Địa Tạng!

          Thế Tôn gọi tên ngài Địa Tạng liên tục hai lần, tượng trưng lòng yêu mến sâu đậm, phó thác trách nhiệm nặng nề, chỗ này chúng ta có thể thấy lòng từ bi khẩn thiết, lời nói ân cần của Thế Tôn.

          Nhữ chi thần lực bất khả tư nghị.

Thần lực của ông không thể nghĩ bàn

Câu này tán thán Địa Tạng Bồ Tát, ngài có thể hóa hiện vô lượng vô biên thân, độ khắp hết thảy chúng sanh khổ nạn trong hư không pháp giới, đây là thần lực biến hiện, chẳng thể nghĩ bàn, lại nói tiếp:

Nhữ chi từ bi bất khả tư nghị.

Đức từ bi của ông không thể nghĩ bàn

          Đây là lời tán thán nghị lực của ngài, lòng từ bi của ngài vĩnh viễn không thoái chuyển, vô cùng khó được.  Chúng ta coi phàm phu trong lục đạo tuy có lòng từ bi, nhưng khi gặp nghịch cảnh, hoặc thuận cảnh cũng bị thoái chuyển, chẳng sánh bằng tâm nguyện ban vui, dứt khổ của Địa Tạng Bồ Tát vĩnh viễn chẳng thoái chuyển, vả lại đối với hết thảy chúng sanh đều bình đẳng gia trì, thật là chẳng thể nghĩ bàn.

          Nhữ chi trí huệ bất khả tư nghị.

Trí huệ của ông không thể nghĩ bàn

Trí huệ rộng sâu, biện tài vô ngại, Bồ Tát hiện thân cũng chẳng khác gì Quán Thế Âm Bồ Tát, [các ngài đều] tùy loại hiện thân, tùy cơ thuyết pháp.  Chúng ta biết Quán Thế Âm Bồ Tát chẳng có thân tướng nhất định, trong những bức họa của người xưa chúng ta thấy có ‘Quán Thế Âm Bồ Tát Biến Tướng Đồ’ (Những hình tướng khác biệt của Quán Thế Âm Bồ Tát) gồm có hơn năm trăm loại thân tướng khác nhau, nói rõ 32 ứng là 32 loại, trong mỗi loại hiện vô lượng vô biên thân tướng, Địa Tạng Bồ Tát cũng vậy, cũng vì chúng ta thị hiện nhiều thân tướng, phàm phu chúng ta có gặp cũng không nhận ra.  Đây là trí huệ sâu rộng, vô ngại chẳng thể nghĩ bàn.  Kế đó là biện tài:

Nhữ chi biện tài bất khả tư nghị.

Biện tài của ông không thể nghĩ bàn.

Biện tài là nói về khẩu nghiệp, thân, ngữ, ý và trí huệ đều chẳng thể nghĩ bàn.  Đây là lời đức Thế Tôn đích thân khen ngợi Địa Tạng Bồ Tát trong đại hội này.  Không những là vậy, sau đó còn nói:

Chánh sử thập phương chư Phật tán thán tuyên thuyết nhữ chi bất khả tư nghị sự, thiên vạn kiếp trung bất năng đắc tận.

Dầu cho chư Phật ở mười phương khen ngợi tuyên nói những sự không nghĩ bàn của ông, trong ngàn vạn kiếp cũng chẳng nói hết được. 

Lời tán thán này đã đạt đến cùng cực, không những đức Phật Thích Ca Mâu Ni tán thán là chẳng thể nghĩ bàn, mười phương hết thảy chư Phật Như Lai đồng thanh tán thán ngài có trí huệ đức năng, thân ngữ ý từ bi giáo hóa.  ‘Trong ngàn vạn kiếp’ là nói thời gian dài, ‘mười phương chư Phật’ là nói số lượng nhiều; thời gian dài như vậy tán thán cũng không hết.  Chúng ta không thể lơ là bỏ sót đoạn kinh này, trên thật tế nó tiêu biểu cho tánh đức của tự tánh, một phần hiếu kính trong tánh đức, đức hạnh ấy chẳng thể nghĩ bàn, chư Phật Như Lai tán thán cũng không thể tán thán hết.  Tánh đức của Bồ Tát khai hiển (khai triển, hiển hiện), mỗi người chúng ta cũng có đức năng giống hệt như Bồ Tát, đáng tiếc là đức năng này chưa được khai hiển, làm sao mới có thể khai hiển?  Noi theo phương pháp dạy trong kinh này mà tu học thì có thể mở mang tánh đức.  Do đó danh hiệu của Bồ Tát, tên của kinh này đều có hai chữ ‘Địa Tạng’.  Địa tượng trưng cho tâm địa, Tạng tỷ dụ kho báu, tâm địa của chúng ta, lý địa chân tâm, trí huệ, thần lực, từ bi, biện tài đều chẳng thể nghĩ bàn, trong vô lượng đức năng ở đây chỉ nêu ra bốn thứ, trên thật tế thì mỗi loại đều chẳng thể nghĩ bàn.  Giống như các nhà tôn giáo ngày nay tán thán Thượng Đế, khen ngợi Thần, trong lời tán tụng gọi là toàn tri toàn năng, chẳng có gì không biết, chẳng có gì không thể, nói thật ra đó là tánh đức trong tự tánh của chúng ta.  Ngày nay chúng ta hiểu được, biết chính mình có đức năng này thì phải giác ngộ, phải phấn chấn, khôi phục trí huệ đức năng của mình, không những độ mình mà còn có thể độ hết thảy chúng sanh.  Do đó có thể biết, Thế Tôn giao phó cho Địa Tạng Bồ Tát, chúng ta hãy nghĩ coi có liên quan gì với chúng ta hay không?  Nếu bạn hiểu rõ được ý nghĩa này thì sẽ biết nó có liên quan mật thiết với chúng ta.  Chúng ta nương nhờ Địa Tạng Bồ Tát để làm duyên, vậy thì Địa Tạng Bồ Tát ở đâu?  Những gì nói trong kinh này chính là ngài; chúng ta có thể tin, có thể hiểu, có thể làm theo thì chúng ta chính là phân thân của Địa Tạng Bồ Tát, chúng ta sốt sắng không ngừng nâng cao cảnh giới thì chúng ta là một phân thân trong vô số phân thân của Địa Tạng Bồ Tát, đó mới gọi là thật sự tu học pháp môn này.  Xin xem đoạn kinh kế tiếp:

Địa Tạng, Địa Tạng

Này Địa Tạng! Địa Tạng!

Chúng ta coi lời ghi trong kinh văn tỏ rõ Thế Tôn đau lòng rát miệng, từ bi đến cùng cực.

Ký ngô kim nhật Đao Lợi chư thiên trung ư bá thiên vạn ức bất khả thuyết, bất khả thuyết nhất thiết chư Phật, Bồ Tát, thiên long bát bộ, đại hội chi trung.

Ông hãy nhớ hôm nay Ta, trong cung trời Đao Lợi, nơi đại hội có trăm ngàn vạn ức không thể nói hết, không thể nói hết tất cả chư Phật, chư Bồ Tát, cùng Thiên Long Bát Bộ.

Trong đoạn này, ‘ký ngô’ là lời Thế Tôn tự xưng, ông phải ghi nhớ lời của ta nói ở cung trời Đao Lợi, tại sao lại thêm chữ ‘chư thiên trung’ sau chữ Đao Lợi?  Ý nghĩa này rất rộng.  Mọi người phải hiểu hội giảng kinh này chẳng khác gì với pháp hội giảng kinh Hoa Nghiêm.  Pháp hội Hoa Nghiêm ở tại Bồ Đề Tràng, chỗ này dung thông cùng với hư không pháp giới, cho nên tham gia pháp hội này bao gồm tận hư không, trọn khắp pháp giới hết thảy mọi loài chúng sanh, loài nào cũng chẳng sót, đây là Hoa Nghiêm hải hội.  Hội giảng kinh Địa Tạng này cũng không ngoại lệ, tuy nơi giảng kinh là ở cung trời Đao Lợi, thiên cung của Đế Thích, đại chúng tham dự pháp hội cũng tận hư không, trọn khắp pháp giới, trên từ chư Phật Như Lai dưới đến người cõi Trời, bao gồm luôn quỷ thần, pháp hội này thù thắng biết bao, to lớn biết bao!  Do đó mới thêm chữ ‘chư thiên’.  Thiên thần cõi trời Dục Giới, Sắc Giới đều tham gia pháp hội này.  Cho nên bốn chữ ‘Đao Lợi chư thiên’, Đao Lợi là nơi pháp hội giảng kinh, ‘chư thiên’ là nói các vị thiên chúng tham dự pháp hội.  ‘Ư bá thiên vạn ức bất khả thuyết bất khả thuyết nhất thiết chư Phật, Bồ Tát’(nơi đại hội có trăm ngàn vạn ức không thể nói hết, không thể nói hết tất cả chư Phật, chư Bồ Tát), pháp hội vừa mở đầu chúng ta liền thấy vô cùng thù thắng, mười phương tam thế hết thảy chư Phật đều tham dự pháp hội này, trong hết thảy kinh điển Đại Thừa từ trước tới giờ chưa từng chứng kiến cảnh giới thù thắng như vậy.  Đâu có bao giờ trong một lần giảng kinh mà hết thảy chư Phật đều tham gia, chưa từng nghe qua.

Trong hội giảng kinh Hoa Nghiêm chúng ta thấy cảnh giới này, trong hội giảng kinh Vô Lượng Thọ, kinh Di Đà chúng ta cũng thấy cảnh giới này, nhưng không phải vừa mở đầu [tất cả chư Phật, chư Bồ Tát] liền tới tham dự.  Trong kinh Tịnh Độ đến phần Lưu Thông mười phương chư Phật tán thán, trong kinh Di Đà chúng ta thấy có ghi sáu phương Phật, trong bản dịch kinh Di Đà của ngài Huyền Trang có ghi mười phương Phật, đây là vì bản dịch kinh của ngài La Thập đã lược bớt, tuy lược bớt chữ nhưng ý nghĩa vẫn viên mãn.  Hết thảy chư Phật tán thán nhưng chẳng nói rõ ràng như trong kinh này, pháp hội vừa mở đầu thì chư Phật Như Lai liền tới tham dự, mãi cho tới khi pháp hội kết thúc, chư Phật tham dự suốt từ đầu tới cuối.  Những vị Bồ Tát, những vị thiên long bát bộ hộ pháp đi theo chư Phật [cũng vậy].  Kinh Hoa Nghiêm nói về những chúng [Bồ Tát, chúng thần hộ pháp] này rất nhiều, rất chi tiết, tổng cộng nói tới mười loại; kinh Địa Tạng tuy không nói chi tiết nhưng ý tứ cũng rất viên mãn, giống như kinh Hoa Nghiêm vậy.

Tải dĩ nhân thiên chư chúng sanh đẳng, vị xuất Tam Giới tại hỏa trạch trung giả, phó chúc ư nhữ

Một lần nữa đem các chúng sanh trong cõi trời, người, những kẻ còn ở trong nhà lửa, chưa ra khỏi Tam Giới, mà giao phó cho ông. 

Chữ Tải cùng nghĩa với chữ ‘tái’ (lập lại) [4], thời cổ thường dùng chữ này.  ‘Tải’ nghĩa là thêm một lần, phía trước đã giao phó, bây giờ lại giao phó thêm lần nữa sợ ngài quên việc này.  ‘Nhân thiên chư chúng sanh’ là chỉ chúng sanh trong lục đạo; ‘vị xuất Tam Giới’(chưa ra khỏi Tam Giới) cũng chỉ chúng sanh trong lục đạo.  ‘Tại hỏa trạch trung’(ở trong nhà lửa) hỏa trạch là tỷ dụ, trong kinh Pháp Hoa đức Phật nói ‘Tam Giới như nhà lửa’, lửa tỷ dụ cho phiền não, chỉ cần phiền não không đoạn thì nhất định sẽ tạo ác nghiệp, nhân quả tuần hoàn, biển khổ không bờ bến.  Bạn tạo ác nhân cảm chiêu ác quả, lúc chịu ác báo lại tạo thêm ác nhân, vĩnh viễn chẳng có ngày thoát khỏi, những chúng sanh này vô cùng đáng thương.  Trong kinh Phật thường dùng danh từ ‘kẻ đáng thương’ đặc biệt là chỉ chúng sanh trong lục đạo, ngài đem trọng trách độ tận chúng sanh trong lục đạo này giao cho Địa Tạng Bồ Tát.  Tại sao đức Phật giao cho Địa Tạng Bồ Tát mà không giao cho những Bồ Tát khác?  Nguyên nhân này đã nói với chư vị ở phía trước rồi.  Địa Tạng tượng trưng cho pháp căn bản, pháp căn bản là hiếu thuận cha mẹ, tôn kính sư trưởng, nếu không thể làm được thì bất cứ pháp môn nào khác cũng không làm được, cho nên ngoài Địa Tạng Bồ Tát ra đức Phật không thể giao phó cho ai khác, đạo lý là như vậy.

Vô lịnh thị chư chúng sanh đọa ác thú trung nhất nhật nhất dạ.

Ông đừng để cho các chúng sanh đó bị đọa vào đường ác dù là một ngày một đêm. 

Đây là lòng từ bi của đức Phật, quyết không chịu nhìn thấy chúng sanh tạo ác nghiệp đọa vào tam ác đạo, đọa bao lâu?  ‘Một ngày một đêm’ Phật cũng không nhẫn tâm nhìn thấy.  Chúng sanh đọa vào ba đường ác, đúng là tự làm tự chịu, tuy đức Phật từ bi thấy chúng sanh [đọa lạc] cũng chẳng làm gì được.  Tại sao có hiện tượng như vậy?  Vì chúng sanh không chịu nghe lời dạy, không chịu nghe lời khuyên, vậy thì đâu còn cách chi?  Phật khuyên chúng sanh, Ma gạt chúng sanh, hết thảy chúng sanh đều chịu gạt chứ không chịu nghe lời khuyên, đi theo Ma thì sẽ rơi vào ba đường ác, đi theo Phật mới có cơ hội thoát ra khỏi Tam Giới.  Dù chỉ một ngày một đêm Phật cũng không nhẫn tâm nhìn thấy.

Hà huống cánh lạc Ngũ Vô Gián cập A Tỳ địa ngục, động kinh thiên vạn ức kiếp vô hữu xuất kỳ.

Huống là để cho họ phải đọa lạc vào địa ngục Ngũ Vô Gián cùng địa ngục A Tỳ, trải đến ngàn vạn ức kiếp không lúc nào ra khỏi! 

Đây là lời đức Phật nói trong pháp hội này, Phật tuyệt đối không nói dối, thời gian đọa vào Ngũ Vô Gián địa ngục dài bao lâu?  ‘Ngàn vạn ức kiếp’.  Trong ba cõi thiện chẳng có thời gian dài như vậy, mọi người đều biết, thọ mạng ở cõi trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng cũng chỉ có tám vạn đại kiếp.  Từ đây chúng ta mới thật sự hiểu được, nếu chúng sanh trong lục đạo không thể thoát khỏi Tam Giới thì thời gian đọa trong ác đạo nhất định sẽ dài lâu, thời gian ở tam thiện đạo sẽ ngắn ngủi.  Đọa vào địa ngục Vô Gián, địa ngục A Tỳ rất dễ dàng, đặc biệt là trong xã hội hiện nay việc tạo tội nghiệp như chẳng hiếu thuận cha mẹ, chẳng tôn kính sư trưởng, hủy báng Tam Bảo, phá hòa hợp Tăng đều là nghiệp nhân đọa vào địa ngục Vô Gián, A Tỳ.  Chúng ta hãy bình tĩnh quan sát xã hội hiện nay, có bao nhiêu người tạo tội nghiệp này?  Ngũ nghịch Thập Ác, mười nghiệp ác: thân tạo giết, trộm, dâm; khẩu nói dối, nói lưỡi hai chiều, nói lời ác độc, lời ỷ ngữ; ý khởi tham, sân, si.  Ai không tạo những nghiệp này?  Tuy chúng ta học Phật, mỗi ngày lạy Phật, mỗi ngày niệm kinh, nếu ba nghiệp thân ngữ ý của chúng ta vẫn chẳng thiện y như cũ thì vẫn đọa lạc, chẳng phải nói người niệm Phật, lạy Phật sẽ không đọa ba đường ác.  Mọi người hãy coi đoạn chót của cuốn Niệm Phật Viên Thông Chương Sớ Sao, trong ấy Quán Đảnh pháp sư có ghi ra một trăm thứ quả báo của sự niệm Phật, trong một trăm quả báo khác nhau này, điều thứ nhất là địa ngục, người niệm Phật làm sao rơi vào địa ngục?  Chúng ta phải suy nghĩ cho kỹ càng.  Đây là lời người xưa nói: ‘Miệng niệm Di Đà tâm tán loạn, hét bể cổ họng cũng uổng công!’, trong tâm nghĩ chuyện ngũ nghịch thập ác, miệng niệm Di Đà có ích gì?  Vẫn phải đọa Vô Gián, A Tỳ, đây là việc chúng ta phải hiểu, phải cảnh giác.

Một người thật sự muốn tu học phải hạ thủ công phu nơi tâm địa, đối với hết thảy chúng sanh tuyệt đối không khởi ác ý, cái gì là ác ý?  Bất cứ một ý niệm ác nào trong thập ác đều là ác ý, tuyệt đối không được khởi lên.  Không khởi ý niệm ngũ nghịch thập ác thì chúng ta mới có thể giữ được thân người, niệm Phật cầu sanh tịnh độ mới có hy vọng.  Chuyện này tuy nói là khó nhưng mọi người ai nấy đều có thể làm được, chẳng phải [khó quá] không làm được.  Nhà Nho cũng dạy người ta ‘khắc ý tác thánh’ (khắc phục ý niệm làm Thánh), niệm là vọng niệm, tức là những ý niệm ngũ nghịch thập ác, nếu bạn có thể khắc phục những ý niệm này thì bạn sẽ là thánh nhân, trong Phật pháp thì khắc niệm sẽ làm Phật.  Chúng ta biết những thứ này là phiền não tập khí từ vô thỉ kiếp tới nay, vì tập khí này trải qua thời gian quá dài, sức mạnh rất lớn, bất cứ lúc nào cũng có thể khởi lên, chúng ta muốn khắc phục cũng không khắc phục nổi, đức Phật dạy chúng ta rất nhiều phương pháp, có tới tám vạn bốn ngàn pháp môn, nhiều phương pháp đường lối như vậy chẳng qua chỉ là phương pháp khắc phục vọng tưởng tập khí mà thôi.  Đối với chúng ta phương pháp thuận tiện, thù thắng, đơn giản, dễ dàng nhất chẳng có gì hơn niệm Phật, ý niệm vừa khởi lên thì lập tức thay đổi thành A Di Đà Phật, làm được vậy thì gọi là công phu đắc lực, nhất định đừng cho ác niệm sanh khởi.  Niệm thứ nhất khởi lên, niệm thứ hai liền chuyển đổi trở lại, đó gọi là niệm Phật, người như vậy mới gọi là biết niệm Phật.  Lâu dần công phu đắc lực, công phu đắc lực nghĩa là những ý niệm này không khởi lên nữa, hạt giống nghiệp lực tập khí vẫn chưa đoạn nhưng nhờ công phu của bạn đắc lực nên vọng niệm không khởi lên, công phu như vậy trong pháp môn niệm Phật gọi là công phu thành phiến.  Công phu thành phiến nghĩa là câu Phật hiệu này đích thật có thể hàng phục phiền não, có thể khống chế nổi tập khí, kinh Phật nói làm được tới công phu này thì bạn chắc chắn sẽ sanh tịnh độ, đó gọi là đới nghiệp vãng sanh.

Tuy kinh Tịnh Độ có nói bốn cõi, ba bậc, chín phẩm, chúng ta hiểu rõ chứ đừng chấp chặt, hiểu những việc này là trí huệ, không khởi phân biệt chấp trước là công phu của bạn, nếu bạn cứ chấp trước cứng chắc trên những chuyện này thì phẩm vị khi bạn vãng sanh tới Cực Lạc thế giới sẽ thấp, phiền não tập khí của bạn vẫn còn rất nặng.  Chúng ta biết là có một sự việc như vậy, tuyệt đối đừng ôm ấp nó ở trong tâm, đừng khởi phân biệt, chấp trước thì tâm bạn mới thanh tịnh, tâm thanh tịnh thì cõi Phật tịnh, phẩm vị vãng sanh của bạn sẽ cao, đạo lý là như vậy.  Huống chi tây phương Cực Lạc thế giới là một hoàn cảnh tu học thù thắng, khác với cõi nước của hết thảy chư Phật ở mười phương.  Hết thảy cõi nước chư Phật trên sự tướng thì đích thật không bình đẳng, nhưng tây phương Cực Lạc thế giới là pháp giới bình đẳng, Bồ Tát ở cõi Phàm Thánh Đồng Cư và Bồ Tát ở cõi Thật Báo Trang Nghiêm cùng nhau nghe kinh, việc này đích thật chúng ta chưa từng thấy trong các kinh khác, thế giới những phương khác chẳng có sự việc như vậy, việc này chứng tỏ tây phương Cực Lạc thế giới là bình đẳng.  Tuy có bốn cõi, bốn cõi này hợp lại với nhau, trong đó không có ngăn cách, không có chướng ngại, bốn cõi ở cùng một chỗ là cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn, chư Phật gọi là pháp khó tin.

Nói tới đây, chúng ta thường dùng một tỷ dụ thiển cận cho mọi người hiểu rõ, giống như chúng ta đi học trong trường vậy, những trường học thông thường thì học trò khác cấp với nhau sẽ vào lớp học khác nhau.  Học sinh lớp một thì học trong một phòng, lớp hai học ở phòng khác, lớp ba sẽ học ở một phòng khác nữa.  Tình huống ở Cực Lạc thế giới rất đặc biệt, lớp ấu trĩ, lớp tiểu học, và lớp Tiến Sĩ đều vào cùng một lớp học, tình huống này rất đặc biệt chúng ta chưa từng nghe qua.  Trình độ cao thấp khác nhau đều học chung trong cùng một lớp học, đó gọi là pháp giới bình đẳng.  Những trường học thông thường của chúng ta, đại học và trung học chắc chắn sẽ không bao giờ học chung lớp, trung học và tiểu học cũng không bao giờ học chung lớp, đó là không bình đẳng, còn thế giới Cực Lạc là thế giới bình đẳng.  Tuy bình đẳng, trình độ của mỗi người đích thật khác nhau, thí dụ lúc vào cùng một lớp học, Bồ Tát cõi Thật Báo nhìn thấy báo thân A Di Đà Phật, còn Bồ Tát cõi Phàm Thánh Đồng Cư chỉ nhìn thấy ứng thân của A Di Đà Phật, đây là chỗ khác nhau.  Nhìn thấy tướng hảo quang minh của đức Phật cũng khác nhau, nhưng tất cả đều ở chung trong một lớp học.  Phật chẳng có hiện hai tướng, Phật chỉ hiện một tướng, mỗi người nhìn thấy và cảm nhận chẳng giống nhau, nhưng tuyệt đối là chung một chỗ, đây là cảnh giới không thể nghĩ bàn.  Do đó chư Phật khuyên chúng ta niệm A Di Đà Phật là rất có đạo lý, khuyên chúng ta niệm A Di Đà Phật là ái hộ chúng ta đến cùng cực!  Đó mới chân chánh là pháp cứu cánh, lìa khổ cứu cánh, được niềm vui cứu cánh, như vậy mới thật sự viên mãn.  Xin xem tiếp kinh văn:

Địa Tạng.

Này Địa Tạng!

Lại gọi ngài Địa Tạng, [trong kinh mỗi khi đức Phật] gọi tên thì chắc chắn sẽ có khai thị quan trọng, kêu tên để nhắc người đó.

Thị Nam Diêm Phù Đề chúng sanh

Chúng sanh ở cõi Nam Diêm Phù Đề này

Nam Diêm Phù Đề này là chỉ địa cầu chúng ta, đức Phật xuất hiện ở nơi đây, đối với chúng sanh ở nơi đây đặc biệt quan tâm.

Chí tánh vô định, tập ác giả đa, túng phát thiện tâm, tu du tức thoái, nhược ngộ ác duyên niệm niệm tăng trưởng.

Chí tánh không định, kẻ quen theo thói ác thì nhiều.  Dầu phát thiện tâm nhưng chốc lát liền thoái thất; nếu gặp ác duyên thì niệm niệm tăng trưởng.

Trong sáu câu này, đức Phật đã chẩn đoán và nói ra gốc bịnh chung của chúng sanh trong thế giới hiện nay, đó là gốc bịnh của chúng ta, chúng ta phải biết.  ‘Chí tánh vô định’, câu này rất quan trọng, ‘chí’ có thể nói là nguyện vọng của họ, ‘tánh’ có thể nói là tánh tình của họ, ‘vô định’ nghĩa là biến đổi quá nhiều, nói thật ra niệm niệm đều khác nhau, Phật, Bồ Tát gặp những chúng sanh này cũng khó độ.  Chí tánh vô định nghĩa là tâm tình tư tưởng tán loạn, thông thường chúng ta gọi là người đó không có chủ ý, chẳng có chủ tể.  Vả lại ‘tập ác giả đa’, ‘tập’ là tập tánh, tập tánh ác nhiều, thiện lại ít.  Trong sách nhà Nho chúng ta thấy Mạnh Tử nói tánh người thiện, Tuân Tử nói tánh người ác, Mạnh Tử và Tuân Tử đều là hiền nhân.  Tánh người rốt cuộc là thiện hay ác?  Trong Phật pháp nói ác nhiều, thiện ít.  Cách nói của thánh nhân đích thật cao minh hơn họ, cách nói của Khổng Lão Phu Tử khác với họ, Phu Tử nói ‘Tánh tương cận, tập tương viễn’ (Về bản tánh thì giống nhau, nhưng do được giáo dục (tập luyện, huấn luyện, tu tập) mà trở thành khác nhau).  Chữ Tánh mà Khổng Tử nói trong câu này nghĩa là ‘chân tánh’, chân tánh của hết thảy chúng sanh đều giống nhau, chẳng sai khác, chân tâm bản tánh, tánh này giống nhau; tập tương viễn, tập tánh khác nhau.  Do đó chữ tánh mà Mạnh Tử và Tuân Tử nói chẳng phải là chân như bản tánh mà là tập tánh, ngày nay chúng ta gọi ‘tập tánh’ là tập quán, thói quen cứ lập đi lập lại riết rồi trở thành tự nhiên.  Tập tánh chẳng phải do đời này tạo thành, mà là từ nhiều đời nhiều kiếp trước đã tạo thành, do đó phiền não nhà Phật gọi là ‘câu sanh phiền não’, bạn vừa sanh ra đã mang theo phiền não, chẳng do đời này học mà có, mà do tập khí đời trước tạo thành, nên gọi là tập tánh. 

Tập tánh chắc chắn là ác nhiều thiện ít, chư vị đã đọc Bách Pháp Minh Môn Luận, trong đó nói phiền não tâm sở có 26 thứ, thiện tâm sở chỉ có 11 thứ, cái nào nhiều hơn?  Thiện tâm sở chỉ có 11 thứ, còn ác tâm sở tới 26 thứ, ác nhiều thiện ít, huống nữa là sức mạnh của ác to lớn, sức của thiện yếu ớt.  Do đó người thường khi gặp thiện pháp, ‘dù phát thiện tâm, trong khoảnh khắc liền lui sụt’, rất khó giữ được lâu dài.  Khi gặp ác pháp thì ‘niệm niệm tăng trưởng’, chúng ta phải hiểu đạo lý này.  Khi gặp thiện pháp, thiện tâm sở quá ít, sức lực yếu ớt, chẳng dễ giữ được lâu.  Tại sao ác pháp có thể gia tăng?  Vì ác tâm sở quá nhiều, sức lực mạnh mẽ.  Do đó chúng ta thấy nhiều người có cơ hội tiếp xúc tới Phật pháp là rất tốt! Họ cũng tới nghe giảng, cũng tới niệm Phật, nhưng chẳng bao lâu sau liền nghe nói họ đã đi học ngoại đạo, học pháp môn khác, đây là do nguyên nhân gì?  Đạo lý là ở chỗ này.  Tuy có cơ hội tiếp xúc đến thiện pháp, thiện căn của họ yếu ớt, chẳng thể duy trì được lâu, nhất định sẽ thoái chuyển.  Chúng ta nhìn thấy hiện tượng này, chúng ta biết như vậy là bình thường.  Nếu sau khi tiếp xúc thiện pháp họ không thoái chuyển, như vậy là không bình thường, trong ngàn vạn người hiếm có được một, hai người có thể không thoái chuyển.  Khi gặp ác duyên họ cũng không thoái chuyển, gặp thiện duyên họ càng tinh tấn, chúng ta phải biết người như vậy là người có thiện căn sâu dày, người như vậy trong một đời này chắc chắn sẽ thành tựu, đây là điều mà chúng ta có thể tưởng tượng được.

Cho nên sáu câu này là lời đức Thế Tôn chẩn đoán chung cho [căn bịnh của] chúng sanh ở Diêm Phù Đề, chúng ta cũng bao gồm trong đó.  Chúng ta phải có tánh cảnh giác cao độ, thật sự phải học theo Pháp Tạng tỳ kheo, chúng ta phải ‘trụ chân thật huệ’, khi trụ chân thật huệ thì chí tánh (ý chí, tánh tình) sẽ định, nếu không trụ chân thật huệ thì chí tánh làm sao định được?  Cho nên người ta thường ‘kiến dị tư thiên, vô túc quái dã’ (thấy lạ nghĩ khác, không trách họ được).  Chí tánh của họ không định.  Chỉ có trụ chân thật huệ, thật sự biết tu hành đúng theo lời dạy, tuyệt đối xa lìa danh văn lợi dưỡng, ngũ dục lục trần của thế gian thì chúng ta mới có thể bảo đảm đời này chắc chắn thành tựu.  Thế pháp có thể ảnh hưởng người ta, có thể dụ dỗ người ta, chúng ta phải hiểu rõ ràng, phải thấy thấu suốt chân vọng, hư thật, thiện ác, thị phi, lợi hại, mỗi thứ đều phân biệt rành rẽ, tự mình phải biết rõ mình phải nên đi theo con đường nào.

Gần đây cư sĩ Lý Mộc Nguyên, ông thật sự là Bồ Tát chứ không phải là người thường, ông muốn tổ chức Phật Học Viện, đây là việc tốt.  Nếu Phật Học Viện này phải chịu sự chi phối, hạn chế của pháp luật, chúng ta phải tuân theo điều lệ của pháp luật, quý vị nghĩ coi có thể siêu việt Tam Giới hay không?  Có thể ngộ nhập kinh điển hay không?  Rất khó!  Giáo học của thế pháp và giáo học của Phật pháp hoàn toàn khác nhau, mục đích của thế pháp là dạy cho bạn có được kỹ năng, còn Phật pháp dạy bạn hiểu rõ chân tướng của vũ trụ nhân sinh, hai thứ hoàn toàn khác nhau.  Pháp thế gian dạy bạn Học, học rộng nghe nhiều, còn Phật pháp dạy bạn Định, Phật pháp là đạo, ngay cả Lão Tử cũng hiểu nguyên lý này ‘vi học nhật ích, vi đạo nhật tổn’ (chăm học tập thì kiến thức tăng trưởng; còn chăm lo nơi đạo thì dục vọng ngày càng giảm bớt), cho nên hai nền giáo học này khác nhau, Phật pháp là Đạo, thế pháp là Học.  Học thì càng nhiều càng tốt, tăng thêm thường thức, đó gọi là học thức, bạn phải học rộng nghe nhiều; Phật pháp tu đạo, đạo thì phải một môn thâm nhập, có đi sâu vào một môn thì bạn mới được định, mới có thể mở mang trí huệ.  Từ xưa tới nay Phật pháp chẳng có nghe nói việc tạo Phật Học Viện, thậm chí xây một lớp Phật Học cũng không có.  Phật Học Viện, lớp Phật Học bắt đầu có từ lúc nào?  Cuối đời nhà Thanh mới bắt đầu, Âu Dương Cánh Vô tổ chức Nội Học Viện, Hạ Môn tạo dựng Mân Nam Phật Học Viện, Thái Hư đại sư tạo dựng Vũ Hán Phật Học Viện, cuối đời Thanh đầu thời Dân Quốc mới bắt đầu có [những Phật Học Viện này], trước kia chưa từng nghe qua.

Lúc đức Phật Thích Ca Mâu Ni còn tại thế, ngài giảng kinh hơn ba trăm hội, thuyết pháp suốt 49 năm, chứ ngài chẳng mở lớp Phật Học, chẳng mở Phật Học Viện, mỗi ngày đều dạy học.  Phương thức dạy học hồi trước rất giống lối dạy trong trường tư thục của Trung Quốc thời xưa, tuy chẳng có tổ chức như trường học hiện nay, nhưng đời nào cũng vun bồi hiền nhân, cao tăng đại đức mỗi thời đại, mỗi địa phương đều có rất nhiều, sau khi Phật Học Viện được tạo dựng, rất ít cao tăng đại đức từ Phật Học Viện ra, thua xa thời xưa.  Có một năm khi giảng kinh ở Hương Cảng tôi gặp pháp sư Diễn Bồi, chúng tôi rất ít gặp mặt, ngài viếng Hương Cảng, nhiều pháp sư ở  Hương Cảng tiếp đón ngài, dẫn ngài đi tham quan, họ mướn một chiếc xe bus, hôm đó tôi cũng có tham dự nên tôi có dịp gặp ngài.  Trên xe có rất nhiều vị là học trò của ngài, Diễn Bồi pháp sư rất cảm kích và nói với tôi, ngài nói hiện nay những pháp sư thật sự đi khắp nơi giảng kinh thuyết pháp đều chẳng xuất thân từ Phật Học Viện, ngài chỉ tôi và nói ‘đó là kể cả ông ở trong đó’.  Chúng tôi tiếp nhận giáo dục tư thục, chẳng phải giáo dục chánh quy của nhà trường.  Khi tôi học Triết Học cũng là giáo dục tư thục, chẳng phải học từ nhà trường, chẳng từ Hệ Triết Học trong trường đại học.  Tôi học Triết Học ở nhà giáo sư Phương Đông Mỹ, mỗi tuần giáo sư dạy tôi hai giờ đồng hồ, học trò chỉ có mình tôi, một thầy một trò, chúng tôi xuất thân như vậy.  Học Phật pháp cũng vậy, ba năm đầu tôi thân cận Chương Gia đại sư, đại sư cũng dạy tôi mỗi tuần hai giờ, cũng là một thầy một trò, tôi theo học Chương Gia đại sư hết ba năm.  Từ cơ sở này sau đó tôi đến Đài Trung thân cận lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam, tôi theo thầy học giảng kinh thuyết pháp.

Do đó giáo học Phật pháp là một nền giáo dục đặc biệt, phương pháp của giáo học Phật pháp khác với thế gian, mục tiêu cũng khác, hiệu quả đương nhiên sẽ khác nhau.  Giáo học Phật pháp truy cầu trí huệ đức năng, tánh đức tỏ lộ, y theo kinh điển Phật pháp để nói, khoá trình tu học của giáo học Phật pháp chính là Giới, Định, Huệ tam học.  Giới học là dạy chúng ta làm thế nào xử sự, đãi người, tiếp vật.  Huệ học dạy chúng ta nhìn thấu, hiểu rõ chân tướng của vũ trụ nhân sanh.  Định học dạy chúng ta buông xuống, khôi phục tâm thanh tịnh, bình đẳng của chúng ta.  Do đó từ giáo học này chúng ta có thể đạt được thọ dụng thật sự, đích thật là phá mê khai ngộ, lìa khổ được vui.  Cả đời Thế Tôn dùng lý niệm này, tông chỉ này để dạy học trò, từ đó về sau mỗi đời cao tăng đại đức đều noi theo lời dạy của đức Phật, chẳng trái nghịch với tông chỉ này, noi theo đó mà lưu truyền ban bố Phật pháp, giáo hóa chúng sanh, chúng ta phải hiểu đạo lý này.  Trong thời đại ngày nay làm thế nào có thể dung hợp quy tắc của giáo học thế gian, lại có thể không trái nghịch với tông chỉ giáo học của đức Phật, thì Phật Học Viện như vậy mới có thể tận thiện tận mỹ, mới không đến nỗi chạy theo ‘Phật Học’.  Nếu chạy theo Phật Học thì chúng ta sẽ thất bại, đó là coi Phật pháp như môn nghiên cứu học thuật thế gian, không đạt được thực dụng.  Chúng ta phải học Phật, học Phật và Phật học là hai sự việc khác nhau, học Phật thì sẽ thành Phật, còn Phật học chẳng thể giải quyết vấn đề, học Phật mới có thể giải quyết vấn đề.  Kế đó đức Thế Tôn nói:

Dĩ thị chi cố, ngô phân thị hình bá thiên ức hóa độ, tùy kỳ căn tánh nhi độ thuyết chi.

Vì thế cho nên, Ta phải phân thân này ra làm trăm ngàn ức để hóa độ, tùy theo căn tánh mà độ thoát cho họ.

Câu này đức Thế Tôn làm gương cho Bồ Tát, đức Phật Thích Ca Mâu Ni cũng dùng vô lượng vô biên phân thân ứng hóa trong thế gian, nên dùng thân gì để độ được thì ngài sẽ hiện thân đó, nên dùng pháp môn gì để độ thì ngài sẽ nói những pháp môn đó.  Hiện nay trong thế gian của chúng ta có chư Phật, Bồ Tát hiện diện hay không?  Trong sự tưởng tượng của chúng tôi thì nhất định là rất nhiều, tại sao vậy?  Hiện nay chúng sanh gặp nạn, lòng từ bi của Phật, Bồ Tát vô cùng khẩn thiết, nhất định là rất nhiều, các ngài không lộ thân phận nên chúng ta không biết mà thôi.  Sách vở Trung Quốc đời xưa ghi những vị bộc lộ thân phận không nhiều, chỉ có vài vị mà mọi người đều biết, chúng ta biết Hàn Sơn, Thập Đắc là Văn Thù, Phổ Hiền hóa thân; A Di Đà Phật tái lai chúng ta biết được gồm có Vĩnh Minh Diên Thọ, đây là tổ thứ sáu của Tịnh Tông chúng ta, ngài là A Di Đà Phật tái lai; Phong Can hòa thượng hồi đó ở chùa Quốc Thanh cũng là A Di Đà Phật hóa thân.  Đức Phật Thích Ca Mâu Ni tái lai, nghe nói truyện ký ghi Trí Giả đại sư là hóa thân của đức Phật Thích Ca Mâu Ni.  Còn Thiện Đạo đại sư cũng là hóa thân của đức Phật A Di Đà, ngài là tổ thứ hai của Tịnh Độ Tông.  Gần đây nhất Ấn Quang đại sư là Đại Thế Chí Bồ Tát tái lai; vào thời nhà Tống, Bố Đại hòa thượng thời Nam Tống là Di Lặc Bồ Tát tái lai.  Đây là những vị Phật, Bồ Tát mà thân phận đã tiết lộ, hiện nay mọi người đều biết.  Còn những vị chẳng lộ thân phận thì quá nhiều, quá nhiều đi thôi!  Thế Tôn làm gương, khi đức Phật thị hiện nên dùng thân gì độ được thì ngài sẽ thị hiện thân ấy, ‘tùy kỳ căn tánh nhi độ thoát chi’ (tùy theo căn tánh ấy mà độ thoát), câu này đối với chúng ta vô cùng quan trọng!  Giáo hóa chúng sanh là việc vô cùng [linh động] hoạt bát, chẳng phải là phương pháp cứng chắc như khúc gỗ, nhất định phải biết ứng theo căn cơ mà thuyết pháp, tùy theo căn tánh chúng sanh mà độ họ, pháp ấy hoạt bát linh động biết bao!  Xin xem tiếp kinh văn:

Địa Tạng, ngô kim ân cần dĩ thiên nhân chúng phó chúc ư nhữ.

Này Địa Tạng! Nay Ta ân cần đem chúng trời, người giao phó cho ông.

Lại kêu tên ngài Địa Tạng, đặc biệt dùng chữ ‘ân cần’, ngữ khí càng về sau càng trân trọng, càng khẩn thiết, [đức Phật] giao phó những chúng sanh đang chịu khổ nạn trong lục đạo cho ngài Địa Tạng.  Dùng trí huệ, từ bi, thần lực của ngài để giúp đỡ những người này.

Vị lai chi thế.

 Vào đời vị lai,

‘Vị lai’ là chỉ thời gian sau khi đức Phật diệt độ, thời đại ngày nay chính là ‘thời vị lai’ [nói trong câu này]

Nhược hữu thiên nhân cập thiện nam tử, thiện nữ nhân.

Nếu có hàng trời, người cùng thiện nam thiện nữ nào,

Chúng ta biết người cõi trời đều là người thiện, họ tu thập thiện nên mới được sanh lên trời, do đó người cõi trời thiện nhiều ác ít, càng lên cao càng thiện.  Người cõi trời Dục Giới còn một số ác niệm, đến cõi trời Sắc Giới công phu thiền định sâu rồi, ý niệm ác dục hoàn toàn bị phủ kín, bị điều phục.  Tiêu chuẩn ‘thiện’ của ‘Thiện nam tử thiện nữ nhân’ trên thế gian rất thấp, chẳng cao lắm.  Sau đó ngài nói:

Ư Phật pháp trung chủng thiểu thiện căn, nhất mao nhất trần, nhất sa nhất trích.

Ở trong Phật Pháp mà trồng chút thiện căn chừng bằng một mảy lông, một hạt bụi, một hạt cát, một giọt nước.

Tiêu chuẩn của thiện nam tử, thiện nữ nhân nói trong đoạn này khác với tiêu chuẩn của thiện nam tử, thiện nữ nhân nói đoạn trước, đây là khi chúng ta đọc kinh, ý nghĩa của mỗi đoạn, tiêu chuẩn của mỗi đoạn khác nhau, tiêu chuẩn ở đoạn này thấp nhất.  Trong Phật pháp trồng một ít thiện căn, chỉ có một tí xíu thiện căn.  Sau đó là tỷ dụ ‘nhất mao’, mao là lông trên da chúng ta, là vật nhỏ nhất trong chánh báo của chúng ta, ‘nhất trần’, một hạt bụi trong y báo, một hạt cát, ‘nhất trích’ là một giọt nước, mấy chữ này đều hình dung số ít.  Nghĩa là nói dù trong Phật pháp trồng một ít thiện căn như vậy, ông cũng không thể bỏ sót họ.  Đây là lời đức Phật dặn dò Địa Tạng Bồ Tát, chúng ta tin tưởng sâu xa Địa Tạng Bồ Tát tuyệt đối sẽ y giáo phụng hành, tuyệt đối sẽ chẳng làm trái nghịch lời dặn dò của Thế Tôn.  Do đó chúng ta được an ủi to lớn, tuy thiện căn của chúng ta không nhiều, nhưng ở đây nói một cọng lông, một hạt bụi, một hạt cát, một giọt nước thì [thiện căn ít như vậy] chúng ta cũng có, điểm này là thật chứ không giả.  Trong đạo tràng chúng ta vừa xưng danh hiệu Phật, cúi đầu lạy một lạy thì đã trồng thiện căn, Địa Tạng Bồ Tát đâu lẽ nào không chăm sóc chúng ta?  Nếu Địa Tạng Bồ Tát không có biện pháp chăm sóc thì đó là vì chúng ta gặp ác duyên xong ý niệm ác cứ tăng thêm, vậy thì không có cách gì khác.  Vậy thì Địa Tạng Bồ Tát cũng không có cách chi chăm sóc, ngài cũng cảm thấy ‘tâm thì có dư nhưng không đủ sức’, là vì chúng ta không nghe lời răn dạy.  Nếu một ít thiện căn này của chúng ta có thể dần dần tăng lên thì nhất định sẽ được Bồ Tát hộ niệm, được Bồ Tát gia trì.  Chúng ta đọc tụng, nghiên cứu kinh điển sẽ khai ngộ, công phu niệm Phật của chúng ta sẽ đắc lực, chúng ta đoạn trừ việc ác sẽ không cảm thấy khó khăn, đều là do Phật, Bồ Tát gia trì chúng ta.  Chúng ta tu thiện có thể sanh tâm hoan hỷ, chúng ta hãy suy nghĩ cặn kẽ, đó có phải là nhờ Thế Tôn dặn dò Địa Tạng Bồ Tát ở cung trời Đao Lợi hay không?

Sau khi đức Phật diệt độ, ngài Địa Tạng thay thế đức Phật, nghĩa là sau khi đức Phật diệt độ, sau ba thời kỳ Chánh Pháp, Tượng Pháp, và Mạt Pháp trong pháp vận của đức Phật, ngài Địa Tạng thay thế đức Phật, tương lai sau khi pháp vận của đức Phật hết rồi, một vạn hai ngàn năm sau khi đức Phật diệt độ mãi cho đến khi Di Lặc Bồ Tát hạ sanh thị hiện thành Phật, đoạn thời gian ấy rất dài, dùng thời gian chúng ta để tính thì là hơn năm mươi mấy ức năm, trong khoảng thời gian này thế gian không có Phật pháp nên chúng sanh rất khổ, phải nhờ vào sự giúp đỡ của Địa Tạng Bồ Tát, phải nhờ Địa Tạng Bồ Tát dạy dỗ, đây là lời dặn dò của đức Phật trong pháp hội giảng kinh này.  Địa Tạng Bồ Tát gánh vác sứ mạng này, hết thảy chư Phật, Bồ Tát đều trợ giúp Địa Tạng Bồ Tát, giúp sức để ngài hoàn thành sứ mạng độ chúng sanh.  Tại sao chư Phật Như Lai, chư Đại Bồ Tát đều đến giúp đỡ Địa Tạng Bồ Tát?  Vì hoằng nguyện độ hóa chúng sanh là nguyện chung của chư Phật, Bồ Tát, bất cứ người nào đứng ra dẫn đầu thì các ngài đều vô cùng hoan hỷ giúp sức, tuyệt đối không bao giờ có chuyện đố kỵ, gây chướng ngại, chỉ có dốc hết sức lực để giúp cho thành công.  Trong thế pháp thường có câu ‘thành nhân chi mỹ’ (thành tựu cho sự tốt đẹp của người ta) huống chi chuyện này là bổn phận của chư Phật, Bồ Tát, đâu lẽ nào các ngài không chịu tận tâm tận lực trợ giúp cho được?

Tri kiến phàm phu thì khác, phàm phu sẽ nghĩ: đây là việc người đó làm, chẳng liên can gì với mình.  Đó là tri kiến phàm phu.  Chúng ta phải hỏi họ làm việc này có nhằm đem lại lợi ích cho xã hội, lợi ích cho chúng sanh hay không?  Ngày nay việc chúng ta làm có phải cũng là đem lại lợi ích cho xã hội, cho chúng sanh hay không?  Nếu mục đích giống nhau thì đâu có gì phải phân biệt?  Hà tất phải phân chia ra mình và người, phân chia như vậy thì chướng ngại sự nghiệp.  Nếu biết việc này là nguyện vọng chung, là sự nghiệp chung [của mọi người] thì mình và người sẽ không hai, họ làm cũng như chính mình làm.  Nói thật ra họ làm thì chính chúng ta phải nên vui mừng, vì có người đã làm, mình khỏi mắc công làm, mình chỉ đứng ở kế bên dốc hết tâm hết sức trợ giúp họ, như vậy cũng viên mãn công đức.  Do đó cách suy nghĩ của chư Phật, Bồ Tát khác với cách suy nghĩ của phàm phu.  Phàm phu nghĩ việc này nhất định phải thuộc về mình thì mình mới sốt sắng làm, nếu không phải của mình thì sự sốt sắng ấy giảm bớt.  Tuy Phật dạy chúng ta tùy hỷ công đức, cứ tưởng rằng sự tùy hỷ đó cũng không viên mãn, đó là tư tưởng và quan niệm sai lầm của phàm phu, chướng ngại cơ duyên tích lũy công đức của chính mình; chẳng biết sự thành tựu của họ chính là sự thành tựu viên mãn của mình, cho nên thường không thể hết sức tùy hỷ.

Quy kết nguồn gốc cũng là vì trí huệ chưa mở mang, chưa hiểu rõ chân tướng sự thật, nên còn chia mình và người, còn chia mình và người là vọng tưởng, phân biệt, chấp trước chưa buông xuống được, đây là chướng ngại nặng nề cho việc tu học và tích lũy công đức.  Nguyên nhân chánh là vậy, cho nên chư Phật, Bồ Tát cực lực khuyên chúng ta phải đọc tụng Đại Thừa, dạy chúng ta phải thân cận thiện tri thức, đạo lý là như vậy.  Thiện tri thức ở đâu?  Kinh giáo Đại Thừa chính là thiện tri thức, những chú giải của các vị Tổ sư, đại đức đời xưa chính là thiện tri thức, chúng ta phải thường đọc tụng, thường tìm hiểu, y giáo phụng hành, đó mới thật sự là thân cận Phật, Bồ Tát, thân cận thiện tri thức.

Trong các vị tri thức hiện tiền, chữ tri thức chính là như chú giải của cổ đức đã giải thích, ‘tri’ là nói chúng ta biết người đó, nghe danh nhưng chưa gặp mặt gọi là ‘tri’, ‘thức’ là người mình nhận biết, đã từng gặp mặt.  Những vị ‘tri’ và ‘thức’ này đương nhiên đều là những người chúng ta rất ngưỡng mộ, rất tôn kính, họ rất đáng cho chúng ta ngưỡng mộ và tôn kính.  Trong Phật pháp việc này thuộc về đạo nghiệp, đạo đức và học vấn chứ không phải là tài sản, địa vị, những gì chúng ta ngưỡng mộ là đạo đức và học vấn.  Trong những vị tri thức đương thời, đức học của họ tương ứng với Phật pháp, chúng ta có thể học theo họ, nếu đạo đức và học vấn của họ chẳng tương ứng với kinh điển, chúng ta phải kính trọng nhưng tránh xa họ.  Nghĩa là chúng ta tôn kính nhưng chúng ta không học theo họ, chẳng có nghĩa là chúng ta trốn lánh họ, hiểu vậy sai rồi, như vậy là không có ý kính trọng.  Đây là thái độ chính xác của người cầu học, chúng ta không học theo họ.  Chúng ta coi tiếp câu kinh sau:

Nhữ dĩ đạo lực, ủng hộ thị nhân, tiệm tu vô thượng, vật lịnh thoái thất.  Phục thứ Địa Tạng vị lai thế trung nhược thiên nhược nhân, tùy nghiệp báo ứng lạc tại ác thú.

Thì ông nên dùng đạo lực mà ủng hộ người đó, làm cho lần lần tu Đạo Vô Thượng, chớ để thoái thất. Lại nữa, này Địa Tạng! Trong đời vị lai, hoặc trời hoặc người, phải tùy theo nghiệp mà thọ báo ứng, đọa lạc vào ác đạo

          Trong Chú Giải vừa mở đầu liền trích dẫn một bài kệ trong kinh, bài kệ này ai cũng biết thuộc lòng, kinh nói:

          Giả sử bá thiên kiếp, sở tạo nghiệp bất vong

          Nhân duyên hội ngộ thời, quả báo hoàn tự thọ.

          (Trải qua trăm ngàn kiếp, những nghiệp đã tạo không mất

          Lúc nhân duyên gặp gỡ với nhau, vẫn tự  nhận lãnh quả báo)

          Đây là lời Phật dạy.  Lời này là thật, ‘Trải qua trăm ngàn kiếp’, đây là thật chứ chẳng phải giả.  Những nghiệp đã tạo, những hạt giống nghiệp đã tạo được chứa trong A Lại Da Thức, A Lại Da Thức là một kho chứa, rơi vào trong kho này vĩnh viễn không mất, vĩnh viễn không biến chất, chuyện này rất phiền phức!  Nghiệp nhân này khi gặp duyên liền được khơi dậy, khơi dậy tức là quả báo, bạn nhất định phải thọ nhận quả báo này.  Do đó mới biết một người nếu không có khả năng thoát ra khỏi lục đạo luân hồi, những nghiệp nhân thiện ác mà họ đã tạo từ vô lượng kiếp tới nay, dù đã trải qua vô lượng ức kiếp, khi gặp duyên cũng sẽ thọ quả báo.  Đúng như câu ‘Một miếng ăn một hớp nước không gì chẳng phải đã định sẵn’, do ai định?  Do chính mình định, chẳng do người khác định, là do nhân của mình đã tạo, bây giờ phải chịu quả báo, đó là chân lý, là chân tướng sự thật.  Người mê hoặc dám tạo nghiệp, vì họ hồ đồ!  Bồ Tát giác ngộ nhất định sẽ không dám tạo nghiệp.  Cho nên kinh nói ‘Chúng sanh sợ quả, Bồ Tát sợ nhân’, Bồ Tát là người đã giác ngộ, chúng sanh còn mê hoặc, lúc tạo nghiệp thì mờ mờ mịt mịt, đến lúc thọ nhận quả báo mới sợ hãi, lúc đó sợ cũng không còn kịp nữa, chẳng giúp gì được.  Bồ Tát giác ngộ cho nên đối với sự khởi tâm động niệm rất cẩn thận, rất thận trọng, tuyệt đối chẳng khởi một ác niệm đối với bất cứ người, sự, vật gì, tại sao vậy?  Ngài biết khi khởi lên một ác niệm, trong A Lại Da Thức đã gieo một hạt giống ác, tương lai sẽ có ác báo hiện ra, vậy thì làm chuyện đó làm chi!  Do đó họ tuyệt đối sẽ chẳng khởi lên một ác niệm nào hết.

          Dù tập quán xấu cũ gặp duyên khởi lên, chư vị nên biết, một niệm ác của chúng ta khởi lên cũng là hạt giống của thói quen ác khởi lên.  Khi niệm ấy vừa khởi lên, người giác ngộ liền lập tức đè nó xuống, người niệm Phật dùng câu Phật hiệu đè nén nó, đó chính là công phu.  Cho nên phải biết những hạt giống nghiệp lực trong A Lại Da Thức có thể khởi lên bất cứ lúc nào, ban đêm lúc nằm mộng cũng khởi lên.  Nếu nó không khởi lên thì làm sao có cảnh giới trong mộng?  Những cảnh giới trong mộng đều do hạt giống của những nghiệp lực thói quen cũ khởi lên.  Cho nên người biết dụng công sẽ hạ thủ công phu nơi đó, dùng một câu Phật hiệu, một danh hiệu Bồ Tát thay đổi ý niệm đó.  Tại sao kêu bạn phải thường niệm Phật, niệm Phật cho nhiều?  Khi bạn niệm Phật thì hạt giống lọt vào A Lại Da Thức là hạt giống Phật.  Hạt giống chứa đựng trong A Lại Da Thức nhiều vô lượng vô biên, cho nên nó biến hiện ra hư không pháp giới, thập pháp giới y báo chánh báo trang nghiêm đều do những hạt giống nghiệp lực này khởi lên, bạn làm sao có thể trách cảnh giới bên ngoài?  Hết thảy những cảnh giới bên ngoài, thuận cảnh cũng vậy, nghịch cảnh cũng vậy đều do tập khí của mình đã trồng từ trước khởi lên.  Người ngu không hiểu rõ chân tướng sự thật nên mới sanh vọng tưởng, phân biệt, chấp trước và khởi tâm động niệm trong những cảnh giới này; người giác ngộ hiểu rõ hiện tượng của cảnh giới, biết đó là do nguyên nhân gì tạo ra, thuận cảnh cũng vậy, ác cảnh cũng vậy, tất cả đều do hạt giống nghiệp lực trong A Lại Da Thức của chính mình biến hiện ra, do đó trong thuận cảnh hay nghịch cảnh họ cũng không khởi tâm động niệm, điềm nhiên bình lặng trải qua, đó mới là tu hành chân thật.

          Trong hết thảy cảnh duyên vĩnh viễn duy trì thanh tịnh, bình đẳng, giác, đó là công phu chân thật, tu hành chân thật.  Thanh tịnh bình đẳng tức là không khởi tâm, không động niệm, không phân biệt, không chấp trước.  Giác nghĩa là hiểu rõ ràng, rành rẽ, không hồ đồ, đối với lý sự, tánh tướng, nghiệp nhân, quả báo của hết thảy hiện tượng đều hiểu rõ ràng, rành rẽ, đó là ‘chánh giác’.  Cho nên năm chữ thanh tịnh, bình đẳng, giác trong tựa đề của kinh Vô Lượng Thọ đã nói đến cùng tột.  Nếu trong đời sống sinh hoạt hằng ngày chúng ta có thể tương ứng với năm chữ này, thì chúng ta sẽ sống đời sống của Phật, Bồ Tát, đó là như kinh nói ‘trụ chân thật huệ’.  Hết thảy những gì bạn làm đều đem lại lợi ích cho hết thảy chúng sanh, trong kinh gọi là ‘ban cho chân thật lợi ích’ (huệ dĩ chân thật lợi ích), đó chính là điều mà trong kinh đức Phật thường dạy chúng ta tích công lũy đức.  Cho nên tích công lũy đức nếu chính mình không ‘trụ chân thật huệ, ban cho chúng sanh lợi ích chân thật’, thì câu này có danh vô thực, khi thực hiện thì chúng ta mới biết nên làm như thế nào.

          Chúng ta coi thế gian này rất giống như lời nói trong kinh, trong kinh nói ‘trong đời vị lai’, đây là chỉ thời gian sau khi đức Phật diệt độ; ‘cả người cõi trời lẫn cõi người’ là hết thảy chúng sanh trong lục đạo.  ‘Tùy nghiệp báo ứng’, nói thật ra lục đạo chúng sanh rốt cuộc là như thế nào?  Bốn chữ này đã nói rõ ràng rồi.  Đời này chúng ta sanh tới thế gian làm người, chúng ta làm người là làm cái gì?  ‘Tùy nghiệp báo ứng’.  Nếu đời quá khứ làm việc thiện thì đời này bạn tới đây hưởng quả báo thiện.  Ngược lại nếu đời quá khứ làm việc ác thì đời này bạn tới đây chịu quả báo ác, cho nên Phật gọi đó là ‘nhân sanh thù nghiệp’ (đời người đến để trả nghiệp), bốn chữ này là lời nói tóm tắt mục đích của đời người.  Con người sanh tới thế gian này để làm gì?  Đến để đền trả nghiệp báo của chính mình.  Nhưng chúng ta mê hoặc, trong lúc đền trả nghiệp báo lại tiếp tục tạo nghiệp không ngừng, việc này rất phiền phức.  Đó thật là nhân quả tuần hoàn chẳng bao giờ dứt.  Việc này phiền phức lớn lắm cho nên trong lục đạo luân hồi vĩnh viễn chẳng có ngày thoát ra.  Hiện tượng luân hồi vô cùng tinh vi, khắng khít, tuyệt đối chẳng phải nói một người trong chúng ta sống ở đây mấy chục năm, sau khi chết đi lại sanh tới một cõi nào đó, nói vậy là quá tóm lược.  Tướng trạng vi tế tinh tường hơn là như thế nào?  Từ mỗi  ý niệm, lúc bạn khởi tâm động niệm bạn có thể cảm giác được chân tướng của luân hồi, bạn mới đột nhiên giác ngộ.  Chúng ta đang luân hồi, luân hồi trong từng ý niệm, nhân quả tuần hoàn trong từng ý niệm, nhân quả chuyển biến, nhân quả tiếp nối, đó là chân tướng của luân hồi, luân hồi trong từng ý niệm.

          Khi tạo nhân, ý niệm ác nhiều, hành vi ác nhiều thì sẽ  ‘rơi vào ác đạo’, chữ ác thú nghĩa là ba đường ác.  Thiên Thai đại sư dạy chúng ta, mỗi pháp giới trong mười pháp giới đều có đủ mười pháp giới trong đó, do đó thành trăm pháp giới.  Chúng ta dựa trên nguyên lý này có thể biết mỗi cõi trong lục đạo đều có đủ lục đạo trong đó.  Bạn hãy quán sát trong cõi người có thiên đạo, có Tu La đạo, có súc sanh đạo, có ngạ quỷ đạo, có địa ngục đạo.  Chúng ta được thân người, đó là nhân đạo.  Trong Tướng Tông gọi đó là ‘dẫn nghiệp’, dẫn dắt chúng ta tới đầu thai trong cõi người, chúng ta ai cũng được thân người.  Hoàn cảnh mỗi người chúng ta hưởng thọ có sáu cõi khác nhau, có người thì hưởng thọ đời sống như người trên trời, phước báo lớn [đây là thiên đạo trong cõi người], có người thì sống đời sống vô cùng cực khổ cũng như cảnh giới địa ngục vậy [đây là địa ngục đạo trong cõi người], đó là ‘mãn nghiệp’, cùng là thân người nhưng mãn nghiệp quả báo thiện ác khác nhau.  Cho nên nghiệp chia thành hai loại, loại thứ nhất dẫn bạn tới cõi nào thọ sanh, loại thứ nhì là sự thọ dụng của bạn sau khi thọ sanh.  Thiên Thai đại sư nói về thập pháp giới, phạm vi thập pháp giới còn rộng hơn nữa, trong cõi người có Phật đạo, Phật trong cõi người, Bồ Tát trong cõi người, Thanh Văn và Duyên Giác trong cõi người, lục đạo cộng với bốn đạo (tứ thánh pháp giới) cộng lại thành thập pháp giới.  Mỗi pháp giới đều chứa đủ mười ‘như thị’, như trong kinh Pháp Hoa có nói, mỗi pháp giới chứa đủ mười pháp giới, tính ra thành một trăm pháp giới, mỗi pháp giới chứa đủ mười ‘như thị’ nên tính ra thành một ngàn ‘như thị’.

          Trí Giả đại sự tụng kinh Pháp Hoa, triển khai đoạn này trong kinh Pháp Hoa cho chúng ta thấy được chân tướng sự thật, ngài Trí Giả mở ra sự việc này giống như một công thức trong Số Học vậy, bạn dùng thí dụ này rồi mở rộng ra thì bạn sẽ thấy chân tướng của pháp giới, trùng trùng vô tận, đó là việc kinh Hoa Nghiêm nói.  Trăm giới, mỗi một giới chứa đủ trăm giới, cộng lại thành một ức giới.  Sau đó trong một giới lại chứa đủ một ức pháp giới, [cứ như vậy nhân lên sẽ trở thành] trùng trùng vô tận.  Kinh Đại Thừa thường dùng lưới của Đại Phạm Thiên Vương làm tỷ dụ nhằm giải thích sự thật này.  Từ đó chúng ta mới có thể hiểu sơ sơ về trí huệ của chư Phật, Bồ Tát, sự quán sát của chư Phật, Bồ Tát.  Chúng ta có thể thấy được mấy phần sự thật, còn họ thì thấy được vô cùng rõ ràng, vô cùng triệt để.  Nếu chúng ta ở trong nhân gian, ở đây nhìn thấy cõi nhân gian này có lục đạo, vậy thì nhãn quang của bạn cũng khá lắm, bạn nhìn thấu được một tầng.  Nhưng bất cứ một pháp nào cũng sâu vô đáy, rộng vô biên, bạn nhìn được càng sâu càng rộng, tỏ rõ trí huệ của bạn sâu rộng, trí huệ sâu rộng vô tận, lý sự của pháp giới vô tận, từ chỗ này chúng ta mới dần dần hiểu được trí huệ của chư Phật, Bồ Tát vô tận, quán sát tới pháp giới sâu rộng vô hạn.  Chúng ta học Phật là học cái gì?  Là khôi phục trí huệ đức năng của chính mình.

          Khi thật sự khế nhập vào trong pháp giới, chẳng nói tới Chân Vọng, chẳng nói tới Có và Không, chẳng nói tới Đi và Về, chẳng nói tới Ẩn và Hiển thì bạn mới thật sự khế nhập.  Chưa khế nhập thì còn nói tới những thứ này, tổng kết những thứ này lại thì đó chính là Tương Đối Luận mà các khoa học gia thường nói tới.  Bạn chẳng khế nhập là tương đối, chúng ta sinh sống trong thế gian, thế gian này là tương đối.  Sau khi đi vào thế gian thì chẳng nói tới tương đối, khái niệm tương đối mất hết.  Sự tướng tương đối đương nhiên sẽ không tồn tại, đây là mục tiêu chung cực của sự tu học Phật pháp, là kết quả mà chúng ta mong cầu khi học Phật.  Tới lúc đó mới giải quyết hết thảy vấn đề trong tận hư không pháp giới, trong Phật pháp chứng được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, khôi phục hoàn toàn trí huệ đức năng trong tự tánh, hiện ra viên mãn và chẳng có mảy may khiếm khuyết, như vậy mới là nhập vào cảnh giới đó.  Phần kinh văn sau là lời đức Thế Tôn giao phó cho Địa Tạng Bồ Tát, [nhờ Địa Tạng Bồ Tát] dùng trí huệ thần lực của ngài để cứu giúp, hộ vệ chúng sanh, điều này chứng tỏ lòng thương mến quan tâm của chư Phật, Bồ Tát đối với hết thảy chúng sanh, ân đức này vĩnh viễn là vô tận.

           Hôm nay đã hết giờ, chúng tôi giảng đến đây.  Ngày mai có thể giảng hết trọn bộ kinh này.

Trong quá trình chuyển ngữ chắc không tránh khỏi thiếu sót, xin các bậc thức giả hoan hỷ phủ chính cho. 

Xin thành thật cám ơn.                                        

Nhóm Diệu Âm, ngày 4 tháng 9 năm 2006

 

[1] “Biên” ở đây là biên tế, tức những giới hạn, ranh giới nẩy sinh do chấp trước, phân biệt, chẳng hạn, ta, người, đúng, sai, thương, ghét, có, không, lý, sự, tánh, tướng, v.v…

Do có chấp trước nên tự đặt giới hạn, khởi tham ái, cái này là của ta, đây là nhà ta, đây là vợ con ta, đây là pháp môn của ta, đây là cảnh giới của ta, nên tà ma, ngoại đạo mới được dịp quấy nhiễu.

[2] Chữ sinh lý ở đây không có nghĩa là tình dục.  Sinh lý (physiology) nghĩa là các hoạt động trong đời sống của sinh vật hoặc là cơ năng của các bộ phận trong thân thể của sinh vật.

[3] phần khoa phán của sách Khoa Chú

[4] Đây là cách chuyển chú, tức là những chữ đồng âm dùng lẫn nhau. Do Tái và Tải trong tiếng Hán thời cổ đọc cùng âm.

Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.