Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

ÐỊA TẠNG BỒ TÁT BỔN NGUYỆN KINH GIẢNG KÝ

Tập 45 (Số 14-12-45)

Xin mở cuốn Khoa Chú, quyển hạ, trang 61, xin xem kinh văn:

          Phục thứ Quán Thế Âm Bồ Tát, nhược vị lai hiện tại chư thế giới trung, lục đạo chúng sanh lâm mạng chung thời, đắc văn Ðịa Tạng Bồ Tát danh, nhất thanh lịch nhĩ căn giả, thị chư chúng sanh, vĩnh bất lịch tam ác đạo khổ, hà huống lâm mạng chung thời, phụ mẫu quyến thuộc, tương thị mạng chung nhân xá trạch, tài vật, bảo bối, y phục, tố họa Ðịa Tạng hình tượng, hoặc sử bịnh nhân vị chung chi thời, nhãn nhĩ kiến văn, tri đạo quyến thuộc, tương xá trạch bảo bối đẳng vị kỳ tự thân, tố họa Ðịa Tạng Bồ Tát hình tượng.

          Lại nữa, này Quán Thế Âm! Trong các thế giới về thuở hiện tại và vị lai, nếu những chúng sanh trong Lục Đạo lúc sắp mạng chung mà được nghe một tiếng danh hiệu của Bồ Tát Địa Tạng thoáng qua lỗ tai, thì các chúng sanh đó vĩnh viễn không còn phải trải qua nỗi khổ nơi Tam Ác Đạo nữa, huống chi là lúc sắp mạng chung, cha mẹ cùng hàng quyến thuộc đem nhà cửa, tài vật, của báu, y phục v. v… của người sắp chết đó mà đắp, vẽ hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng, hoặc làm cho người bịnh lúc chưa chết, được mắt thấy tai nghe, biết rằng hàng quyến thuộc đem nhà cửa, vật báu v. v… vì mình mà đắp vẽ hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng.

Trước hết chúng ta hãy coi đoạn này, đây là việc chuyển ác nghiệp lúc lâm chung.  Việc này đã có nhiều người chú ý tới.  Ở Úc Châu có bạn đồng tu hỏi tôi, khi người lớn tuổi trong nhà lâm chung, phải giúp họ như thế nào.  Đối với Phật pháp chưa chắc những vị đồng tu này đã nhận thức được sâu lắm, nhưng họ đều quan tâm tới đại sự lúc lâm chung.  Nhà Phật thường nói ‘việc sanh tử trọng đại’.  Vì con người lúc lâm chung, chẳng phải nói một người khi chết đi thì hết thảy đều chấm dứt, vậy thì chẳng phải lo lắng gì hết.  Nhưng thế gian này có không ít người thông minh, người có trí huệ, và những tín đồ các tôn giáo, dù họ không hiểu rõ duyên do của việc sanh tử, nhưng sự thật này vẫn tồn tại, họ có thể tin sâu không nghi, đều băn khoăn tới chuyện sau khi chết rồi mình sẽ đi đầu thai ở cõi nào, sanh tới cõi nào?  Có thể giác ngộ tới mức này đã là tương đối không dễ rồi.  Nếu họ có thể nhận thức rằng việc này là nhân duyên quả báo thì lúc khởi tâm động niệm hằng ngày, họ làm bất cứ việc gì cũng sẽ dè dặt một chút.  Ðây cũng là việc mà Ấn Quang đại sư muốn cứu vãn thế đạo nhân tâm, tiêu trừ kiếp nạn trên thế gian, nên đã đặc biệt đề xướng giáo dục nhân duyên quả báo, đạo lý là ở chỗ này.  Nếu nói với họ về đại đạo lý của vũ trụ nhân sanh, người thật sự có thể hiểu được cũng chẳng nhiều, nhưng nói về lý luận và sự thật của nhân quả báo ứng thì người thường cũng có thể hiểu được.  Ðối với việc thay đổi nhân tâm, khuyên mọi người dứt ác tu thiện, tiêu trừ hết thảy tai nạn trong thế gian có thể thâu được hiệu quả tốt đẹp.  Đối với quan niệm lý luận này, có thể nói kinh Ðịa Tạng có phân lượng rất nặng trong nền giáo học này.  Ðây cũng là việc mà chúng ta đã nhắc tới trong phần trước, sau khi đức Phật Thích Ca Mâu Ni diệt độ, tại sao đức Phật giao phó trọng trách giáo hóa chúng sanh cho Ðịa Tạng Bồ Tát, đạo lý là như vậy.

          Kinh văn vừa mở đầu, đức Phật gọi Quán Thế Âm Bồ Tát, Quán Thế Âm ở đây đại biểu cho chúng sanh trong lục đạo, nên gọi Quán Thế Âm Bồ Tát cũng như gọi tên của chúng ta vậy.  Ðoạn kinh sau khai thị, đối với chúng ta mà nói vô cùng thân thiết, đặc biệt là khi chúng ta thấy câu ‘các thế giới vị lai và hiện tại’, chữ ‘vị lai’ được đặt ở hàng đầu, chữ ‘hiện tại’ là chỉ đại chúng hiện diện trong pháp hội lúc đó được đặt ở hàng nhì, ‘vị lai’ đặt ở hàng nhất.  Từ đó có thể thấy kinh này thật ra là nhằm giảng cho chúng ta nghe.  ‘Chư thế giới trung’ chẳng phải chỉ là thế giới Sa Bà mà thôi, nó chỉ rõ pháp môn Ðịa Tạng gồm tận hư không, trọn khắp pháp giới, cùng với kinh Tịnh Ðộ, kinh Hoa Nghiêm không hai không khác.  Từng chi tiết nhỏ đều tỏ rõ phạm vi của pháp Ðại Thừa gồm tận hư không, trọn khắp pháp giới.  Ðối tượng của Ðại Thừa là hết thảy chúng sanh trong pháp giới, chúng ta hiểu được ý nghĩa này thì tâm lượng của chúng ta mới được mở rộng, đây là chân tâm, đây là tâm lượng vốn sẵn có của chúng ta, đúng như câu ‘tâm bao trùm hư không, lượng gồm hết thế giới nhiều như cát’, hết thảy chúng sanh vốn có sẵn [tâm này], cùng chư Phật Như Lai không hai không khác.  Bây giờ tại sao tâm lượng nhỏ như vậy?  Tâm lượng nhỏ nên mới bị tà môn ngoại đạo gạt gẫm, nên mới có chuyện bị lừa gạt, bị thiệt thòi, tâm lượng mở rộng thì sẽ không như vậy.  Chẳng có gì hư không pháp giới chẳng bao gồm, do đó mỗi chữ mỗi câu trong kinh đều có ý nghĩa sâu rộng vô hạn, chúng ta phải thấu hiểu, phải học hỏi từ đó.  Cho nên đoạn này ghi ‘chư thế giới trung’, chẳng ghi là Sa Bà thế giới.

          Trong đoạn này đặc biệt nói tới ‘lục đạo chúng sanh’, các cõi nước chư Phật đều có lục đạo chúng sanh, trong đó cũng có cõi chẳng có lục đạo chúng sanh nhưng chẳng nhiều.  Thí dụ như Tây phương Cực Lạc thế giới chẳng có lục đạo chúng sanh, đại đa số cõi nước chư Phật đều có lục đạo chúng sanh, họ  đều rất khổ, mê hoặc sâu đậm.  ‘Lúc lâm chung được nghe danh hiệu Ðịa Tạng Bồ Tát’, chữ quan trọng là chữ ‘văn’ (nghe), chữ ‘văn’ ở đây là ‘Văn Huệ’ trong Tam Huệ của Bồ Tát, chứ không phải là tùy tiện ‘nghe’ mà được, người thế gian chúng ta đều hiểu sai chữ ‘văn’ trong câu này.  Ðây là kinh Ðại Thừa, hết thảy đều phải dùng tiêu chuẩn của Bồ Tát Ðại Thừa để đo lường.  Tam Huệ của Bồ Tát được xây dựng trên cơ sở Tam Học của Thanh Văn.  Hiện nay nhiều người nói họ niệm kinh Ðịa Tạng, noi theo lời dạy trong kinh Ðịa Tạng mà tu hành nhưng không đạt được hiệu quả, do đó họ phỉ báng Phật, phỉ báng Pháp và nói kinh Ðịa Tạng không linh nghiệm.  Họ chẳng nghĩ rằng họ đã hiểu sai chân thật nghĩa của Như Lai chứ chẳng phải kinh không linh nghiệm.  Trong kinh nói tới ‘thiện nam tử, thiện nữ nhân’, bạn đã đạt tới tiêu chuẩn của chữ ‘thiện’ này chưa?  Chẳng có ai nghĩ tới.  Tiêu chuẩn của ‘thiện’ là gì?  Là ‘Tam Phước’, chúng ta đã giảng rất rõ ràng, tiêu chuẩn ‘người thiện’ của thế gian là ‘hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng, từ tâm không giết, tu thập thiện nghiệp’, bạn đã làm được chưa?  Nếu bạn đã làm được thì bạn là người thiện trong thế gian.  Phật pháp được xây dựng trên cơ sở ‘thiện’ của thế gian, ngay cả tiêu chuẩn này bạn cũng chẳng làm nổi thì bạn học Phật chỉ là ở ngoài cửa mà thôi chứ chưa nhập môn, có tu tới đâu cũng chỉ ở ngoài cửa.  Chúng ta phải hiểu đạo lý này.

          Sau khi làm được nền tảng này thì mới có thể bước vào cửa Phật.  Tiêu chuẩn vào cửa Phật là phước thứ nhì: ‘Thọ trì Tam Quy, đầy đủ các giới, chẳng phạm oai nghi’, bạn đã làm được chưa?  Tam Quy, trên hình thức mọi người đã làm xong, nhưng chẳng có nội dung thì làm sao có cảm ứng?  Giới kinh đã nói rõ ràng, bạn thật sự thọ trì Tam Quy thì bạn sẽ được 36 vị thần hộ pháp ngày đêm bảo vệ, hộ trì bạn.  Hôm nay bạn đã thọ Tam Quy, chẳng có vị thần hộ pháp nào cả.  Khi bạn thọ ngũ giới, thọ một giới thì bạn có năm vị thần hộ pháp bảo hộ bạn, đầy đủ năm giới thì có 25 vị thần hộ pháp ngày đêm hộ vệ.  Ngày nay bạn chẳng có vị thần hộ pháp nào cả, một vị cũng chẳng có thì bạn đã thọ suông rồi.  Phật giáo ngày nay, chúng ta phải hiểu rõ, mọi người phát tâm tiếp nối huệ mạng của Phật, hoằng pháp lợi sanh là một sự nghiệp to tát! Bất cứ sự nghiệp nào trên thế gian cũng không sánh bằng, do đó Phật pháp chú trọng ở nơi ‘hành’ chứ không ở nơi ‘nói’, nói càng nhiều cũng chẳng dùng được, nhất định phải làm được.  Ðầy đủ phước thứ hai thì ‘Văn Huệ’ mới có cơ sở.  Ðây là Phật pháp sơ cấp, tu Giới Ðịnh Huệ Tam Học, do giữ Giới được Ðịnh, do Ðịnh khai Huệ, sau khi khai Huệ xong rồi thì mới có ‘Văn Huệ, Tư Huệ, Tu Huệ’.  Chữ ‘đắc văn’ (được nghe) ở đây, nghe danh hiệu Ðịa Tạng Bồ Tát, vừa nghe danh liền tương ứng, tương ứng với cái gì?  Tương ứng với cả bộ kinh.  Tên của bộ kinh này là Ðịa Tạng Bồ Tát, nghe tới danh hiệu này thì lý luận, phương pháp, cảnh giới của cả bộ kinh đều hiện ra, được vậy thì bạn mới có thể ngộ nhập cảnh giới này.

          Do đó mới nói ‘Vừa lọt vào tai, là chư chúng sanh vĩnh viễn chẳng trải qua nỗi khổ trong tam ác đạo’, vĩnh viễn chẳng đọa tam ác đạo, đây là cảnh giới gì?  Các bạn đồng tu đều hiểu rõ, các bạn đều học Giáo rồi, chứng quả Tu Ðà Hoàn thì vĩnh viễn chẳng rơi vào tam ác đạo.  Nếu không chứng quả Tu Ðà Hoàn thì sẽ không tránh miễn tam ác đạo.  Ở đây nói nghe được danh hiệu Ðịa Tạng Bồ Tát liền chứng Sơ Quả, địa vị này trong Ðại Thừa Viên Giáo chính là Bồ Tát Sơ Tín, đó không phải là siêu phàm nhập thánh mà tôi đã nói với bạn rồi sao?  Nếu bạn nói làm sao người đó vừa nghe danh hiệu Bồ Tát liền có thể nhập cảnh giới này?  Chư vị hãy nghĩ về những công án của Thiền Tông Trung Quốc hồi trước, không nhất định là nghe danh hiệu Phật, danh hiệu Bồ Tát, không chừng khi bạn nhìn thấy một vật gì đó, nghe một âm thanh gì đó thì liền đột nhiên khai ngộ.  Chúng ta thấy những chuyện này rất nhiều trong các công án Thiền Tông.  Chuyện đó rất khó, đó là khế nhập vào cảnh giới của tự tánh.  Còn chuyện này dễ, Giáo Hạ dễ hơn Thiền Tông, nhưng sự ngộ nhập của Giáo Hạ chẳng triệt để bằng Tông Môn.  Tông Môn khi chưa ngộ thì chẳng có cách gì khác, nhưng một khi ngộ rồi thì sẽ kiến tánh.  Còn sự ngộ nhập [khi nghe danh hiệu nói trên] thì không chắc sẽ kiến tánh.  Nhưng một niệm nghĩ tới những lời dạy, những lời giáo huấn trong kinh giáo tự nhiên khởi lên trong tâm mình, ngay lúc đó liền có thể sám trừ nghiệp chướng, liền có thể phát tâm noi theo hành nghi của Ðịa Tạng Bồ Tát, liền đạt được quả vị Sơ Tín Bồ Tát.  Quả vị Sơ Tín trên phương diện đoạn đức thì tương đương với quả vị Sơ Quả của Tiểu Thừa, thật sự vĩnh viễn không đọa tam ác đạo.  Tuy chẳng thoát ly lục đạo luân hồi, chắc chắn sẽ không đọa tam ác đạo.  Bạn sẽ hỏi tại sao không đọa tam ác đạo?  Vì đã cắt đứt duyên tam ác đạo rồi.

          Duyên tam ác đạo là gì?  Tham, sân, si, mạn.  Người này trong mỗi tâm niệm đều nghĩ tới Bồ Tát, niệm niệm đều học theo Bồ Tát thì những tâm tham, sân, si, mạn, nghi đều đoạn hết, thật sự đã hết.  Niệm niệm đều tương ứng với thanh tịnh, bình đẳng, giác, từ bi.  Người mê thì khi khởi tâm động niệm chẳng quên mình, luôn luôn nghĩ về ta, nghĩ vậy là mê, là chấp trước, chẳng buông xuống nổi.  Người giác ngộ rồi thì niệm niệm đều nghĩ tới hết thảy chúng sanh.  Tai nạn trong thế gian này nhiều như vậy, chúng sanh khổ như vậy, người giác ngộ khởi tâm động niệm đều nghĩ mình phải làm như thế nào để giúp đỡ chúng sanh, làm sao cứu giúp những người bị nạn.  Chính mình không đủ trí huệ, không đủ khả năng, cũng chẳng có phước báo thì khởi tâm này, khởi ý niệm này chẳng phải là khởi vọng tưởng hay sao?  Ðúng vậy, đó là vọng tưởng.  Nếu thật tâm nghĩ về vấn đề này thì tự nhiên sẽ được Phật, Bồ Tát gia trì.  Chúng ta không có trí huệ, Phật có trí huệ, chúng ta không có khả năng, Phật có khả năng, chúng ta không có phước báo, Phật có phước báo.  Ðây là điều Chương Gia đại sư dạy tôi thuở trước, lão nhân gia dạy tôi phải nương nhờ Phật, Bồ Tát mới được, không thể nương nhờ người ta.  Những người có đại hộ pháp, ở thế gian này làm quan lớn, giàu to, bạn nương nhờ những người đó cũng không đáng tin, nương nhờ Phật, Bồ Tát mới đáng tin.  Chúng ta dùng tâm chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, giác, dùng tâm đại từ bi vì xã hội vì chúng sanh, đặc biệt là vì những chúng sanh đang chịu khổ nạn, [tâm niệm ấy] sẽ tương ứng với Ðịa Tạng Bồ Tát.  Pháp thân, báo thân, và ứng hóa thân của chư Phật Như Lai, chư đại Bồ Tát đều tận cùng hư không, trọn khắp pháp giới, nơi nào có cảm thì nơi đó có ứng, cảm ứng đạo giao chẳng sai chạy mảy may.

Chúng ta phải thông suốt hiểu rõ đại đạo lý này, từ đó tâm chúng ta mới thanh tịnh, mới có thể có cảm ứng.  Chúng ta học Phật nhờ cậy vào cái gì?  Nhờ vào điểm này.  Chúng ta thành tựu là phước của chúng sanh; chúng ta không thể thành tựu thì chúng sanh phải chịu khổ, phải chịu tai nạn.  Cho nên sự khổ nạn của hết thảy chúng sanh, lúc trước tôi thường nhắc nhở các bạn đồng tu, ai tạo ra những sự khổ nạn này?  Chính chúng ta tạo thành, chúng ta tu không tốt nên mới làm cho chúng sanh chịu khổ.  Chúng ta phải gách vác trách nhiệm này, tuyệt chẳng thể đẩy cho người khác, [nếu nói] ‘chuyện này chẳng liên quan gì tới mình’, có vị Phật, Bồ Tát nào nói chúng sanh khổ nạn không liên quan tới mình?  Bạn hãy tra hết trong kinh điển cũng không có nói như vậy.  Phật, Bồ Tát chẳng giống với người trong thế gian, mọi người ai cũng biết mê với giác.  Người mê hoặc sẽ thoái thác trách nhiệm, người giác ngộ tuyệt đối sẽ chẳng thoái thác trách nhiệm.  Cho nên ‘đoạn đức’ giống nhau, trí huệ chẳng giống nhau, trí huệ của Bồ Tát Sơ Tín lớn hơn quả vị Sơ Quả Tiểu Thừa quá nhiều, đây là việc chúng ta đáng học tập, bạn hiểu được đạo lý, chân tướng sự thật này thì bạn đọc đoạn kinh trên sẽ không khởi nghi vấn, sẽ biết đây là lời chân thật

Phần sau nói về tu phước, có thể tu phước thì càng tốt.  Ðây là nói ‘Huống chi lúc lâm chung, cha mẹ quyến thuộc’, người nhà thân quyến ‘đem nhà cửa, tài sản, của quý, y phục của người lâm chung’, đoạn này rất quan trọng! Nhất định phải dùng tài sản của người đó để tu phước, như vậy mới có công đức.  Lấy tài vật của người khác để tu tích công đức, tự mình đều không được gì, những công đức có được đều là của người khác, còn mình lại mang tội, chúng ta phải hiểu việc này.  Nhất định phải là tài vật của chính mình mới gọi là tịnh tài.  Nếu phước báo của họ trên thế gian rất lớn, nhà cửa của họ rất lớn, đất đai rất nhiều, ở Trung Quốc đời xưa chúng ta đã biết những người như vậy, thường thường thì họ dâng hiến nhà cửa của mình ra để làm đạo tràng, chúng ta thấy có nhiều người như vậy trong lịch sử Trung Quốc.  Như cư sĩ Dương Nhân Sơn thời cận đại, ông là một trưởng giả giàu có, lúc gần vãng sanh, trước khi vãng sanh ông lập di chúc, quyên tặng nhà cửa của mình làm Kim Lăng Khắc Kinh Xứ, quý vị hiện nay đi đến Kim Lăng Khắc Kinh Xứ ở Nam Kinh, đó chính là căn nhà cũ của Dương Nhân Sơn.  Những tài sản này của ông không lưu lại cho con cháu ông ta, ông quyên ra để làm sự nghiệp Phật giáo, đây là một tấm gương tốt cho chúng ta.  Tài sản và đồ vật quý báu của ông đều quyên ra.  Bố thí quần áo, quần áo của bạn quá nhiều hãy đem cho người ta, những người khổ nạn trong thế gian rất nhiều, họ không có cơm ăn, không có quần áo mặc, tại sao không quyên ra để bố thí? Ðó gọi là tu phước chân thật.  Tự mình dùng vài bộ quần áo để thay đổi là đủ rồi, có vài đôi giày để thay đổi cũng đủ rồi.  Lúc trước chúng tôi thấy trên báo nói tới một người giàu, đó là một phu nhân tổng thống, bà ta có tới mấy ngàn đôi giày, còn nhiều hơn tiệm bán giày, quần áo không biết có tới mấy ngàn bộ, chúng tôi không biết vì báo không có đăng.  Một người làm sao dùng cho hết! [Chúng ta phải biết] bố thí là tu phước.

Phương pháp bố thí tu phước rất nhiều, nơi đây chỉ nêu ra một thí dụ, chúng ta đọc kinh cũng không nên đọc chết cứng trên câu kinh, đó là sai lầm.  Phương pháp bố thí rất nhiều, nơi đây chỉ nêu một thí dụ, ‘đúc vẽ hình tượng Ðịa Tạng’, tại sao?  Việc này dễ làm nhất.  Nếu kêu bạn làm giống ông Dương Nhân Sơn quyên nhà cửa để làm đạo tràng thì khó lắm.  Có nhiều người nói ‘Tôi không có khả năng lớn như vậy, nhà tôi rất nhỏ’.  Dù quyên tặng cũng không thể làm đạo tràng, ở đây chỉ nêu ra để làm một thí dụ.  Nếu nói đắp nặn tô vẽ hình tượng Ðịa Tạng thì không khó, nếu tài lực khả năng của bạn lớn, thì bạn tô nặn hình tượng Ðịa Tạng cao lớn trang nghiêm.  Nếu sức lực của bạn nhỏ thì bạn nhờ người ta vẽ một tượng Ðịa Tạng Bồ Tát, đó là việc tùy sức lực của mỗi người [mà làm việc tô vẽ, đúc nặn hình tượng Ðịa Tạng Bồ Tát].  Nhưng thời xưa thì được, chẳng có vấn đề, công đức tạo tượng rất lớn.  Thời đại ngày nay tạo tượng, thử hỏi bạn có công đức hay không?  Không thể phủ nhận, công đức cũng có, nhưng không rõ ràng, không được quả báo ngay bây giờ.  Tại sao vậy?  Vì Phật pháp hoằng dương không được rõ rệt, người niệm kinh Ðịa Tạng rất nhiều nhưng có bao nhiêu người hiểu được ý nghĩa trong kinh?  Do đó có thể biết, nếu muốn hết thảy chúng sanh làm công đức chân thật trong nhà Phật, có thể có được công đức ngay trong hiện tại, thì nhất định phải có người tuyên dương, giảng giải pháp môn Ðịa Tạng cho thấu triệt, cho rõ ràng thì người ta nhìn thấy hình tượng Ðịa Tạng Bồ Tát sẽ cảm nhận một cách khác biệt.

Nếu hoàn toàn không hiểu Phật pháp, thậm chí hiểu lầm, cho rằng [hình tượng Bồ Tát là] ngẫu tượng, người thờ hình tượng Bồ Tát Ðịa Tạng cũng không cung kính, vả lại còn phê bình đó là ngẫu tượng, cho là mê tín!  Chúng ta thử nghĩ xem đối với những người phê bình, những người chỉ trích [việc đúc vẽ hình tượng này] có ích lợi gì không?  Cũng có ích lợi, đúng như câu ‘một phen lọt vào tai thì vĩnh viễn thành hạt giống đạo’, nhưng sự lợi ích ấy vô lượng kiếp về sau mới khởi tác dụng, hiện nay không khởi tác dụng nổi.  Trong kinh đã nói rất rõ ràng, tạo tội hủy báng vẫn phải đọa địa ngục để thọ tội, đến khi thọ hết tội, hạt giống đạo này tương lai lúc gặp thiện duyên mới có thể khởi hiện hành.  Do đó có thể biết công việc hoằng pháp hiện thời quan trọng hơn bất cứ việc gì khác, bất cứ sự nghiệp thế gian, xuất thế gian khác đều không quan trọng bằng sự nghiệp hoằng dương Phật pháp.  Những bạn đồng học chúng ta đã phát tâm xuất gia, bất luận nhân duyên xuất gia của bạn là gì đều là thiện căn phước đức, nhân duyên đầy đủ, nhân duyên phát tâm có thể khỏi phải xét tới.  Ðời này bạn có cơ hội tiếp xúc đến chánh pháp, có cơ hội nghe được chánh pháp, tu học chánh pháp thì quá đủ rồi.  Ðây không những là việc đáng cho chúng ta hân hoan, đúng như cổ đức đã nói đây là ‘cơ hội hiếm có, khó gặp từ vô lượng kiếp tới nay’, đời này chúng ta đã [may mắn] gặp được.  Chúng ta nhất định phải coi trọng, nhất định phải phấn chấn, nỗ lực khắc phục phiền não tập khí của chính mình, được vậy thì chúng ta mới không uổng phí gặp được cơ hội này.  Không thể khắc phục được phiền não tập khí của mình, tùy thuận phiền não tập khí của mình là việc vô cùng đáng tiếc, trong kinh gọi [những người như vậy] là những ‘người đáng thương xót’; ‘người đáng thương xót’ ấy không phải là chỉ người nào khác, một người trong đời này chẳng gặp được Phật pháp thì đâu có gì đáng thương?  Ðã gặp được Phật pháp nhưng để cho luống uổng, người như vậy mới là đáng thương.  Do đó có thể biết trong kinh nói ‘người đáng thương’ là những người nào?  Là những người như chúng ta, bỏ lỡ cơ hội trước mắt, không thể trong đời này khế nhập cảnh giới, nguyên nhân là chúng ta vẫn tùy thuận phiền não tập khí, chúng ta vẫn không thể khắc phục chính mình.

Sau khi Niệm Phật Ðường được xây dựng, rất nhiều bạn đồng tu đã làm gương tốt cho chúng ta, họ tự khắc phục [phiền não của] chính mình.  Phiền não của mình vốn rất nặng, tập khí rất nặng, ngủ nghỉ rất nhiều, ủy mị không phấn chấn,  bước vô Niệm Phật Ðường không có lòng tin, làm sao có thể ở trong đó suốt 24 giờ, 36 giờ đồng hồ?  Sau khi vô Niệm Phật Ðường, niệm vài lần liền khắc phục phiền não tập khí của mình, đây là tấm gương rất rõ ràng.  Do đó Niệm Phật Ðường đã thành tựu cho rất nhiều người, công đức của Niệm Phật Ðường vô cùng thù thắng.  Người già thấy người trẻ tuổi tinh tấn như vậy, cảm thấy mình ngày tháng chẳng còn bao lâu nên họ càng tinh tấn thêm, họ được khích lệ.  Còn người trẻ tuổi thấy người già đã lớn tuổi như vậy mà nhiễu Phật suốt 24 giờ, 36 giờ đồng hồ chẳng ngủ chẳng nghỉ, người trẻ tuổi cảm thấy xấu hổ; người già và người trẻ khích lệ và nhắc nhở lẫn nhau như vậy nên có thể đạt được hiệu quả tốt đẹp.  Người niệm Phật một mình thì dễ làm biếng, dễ thuận theo phiền não tập khí, đây là lý do tại sao đại sư Mã Tổ và Bách Trượng đời Ðường xây dựng tòng lâm, mục đích là đề xướng việc cùng tu (cùng nhau tu tập), ích lợi của việc cùng tu là như vậy, đó là nương vào đại chúng, nhờ đại chúng.  Từ đó trở về trước, đức Phật giảng kinh thuyết pháp, dạy đại chúng [chứ không có tu chung], tu hành là việc làm của mỗi cá nhân.  Trong kinh chúng ta thấy đức Phật chưa hề hướng dẫn đại chúng tu hành, đức Phật chỉ giảng kinh thuyết pháp, tu hành là việc của từng cá nhân riêng rẽ.  Thời đó mỗi cá nhân đều dụng công [tinh tấn], chẳng cần người khác đốc thúc, mỗi người đều thành tựu.

Từ Chánh Pháp tới Tượng Pháp, rồi từ Tượng Pháp chuyển tới Mạt Pháp, căn tánh con người đời này không bằng đời trước, dần dần giải đãi, làm biếng, phóng dật [hơn người đời trước], rất khó khắc phục phiền não tập khí của mình, do đó các vị Mã Tổ, Bách Trượng mới đề xướng cùng tu.  Mã Tổ, mọi người hãy nghe rõ, chẳng phải là vị Mã Tổ mà dân gian cúng bái, nếu bạn hiểu như vậy thì bạn sai lầm quá đỗi.  Chữ ‘Tổ’ là tổ sư Thiền Tông, họ của ngài là họ Mã, phần đông người ta xưng ngài là Mã Tổ, pháp danh của ngài là Ðạo Nhất Thiền sư; người ta quen xưng ngài là Mã Tổ, chẳng phải là vị Mã Tổ [1] mà dân gian cúng tế.  Ðạo Nhất và Bách Trượng thiền sư đề xướng xây dựng tòng lâm, đề xướng cùng tu, nương nhờ đại chúng, đây là đặc sắc của Phật giáo Trung Quốc.  Ðặc biệt là vào thời Mạt pháp, lúc trước thầy Phương Ðông Mỹ đã nói với tôi nhiều lần rằng muốn phục hưng Phật giáo thì nhất định phải khôi phục chế độ tòng lâm, nghĩa là khôi phục chế độ cùng tu.  Ngày nay chúng ta đề xướng làng Di Ðà, làng Di Ðà chính là tòng lâm được hiện đại hóa.  Trên hình thức thì khác với tòng lâm lúc trước, nhưng thật chất thì giống nhau, đây là điều nhà Phật thường gọi là nối tiếp huệ mạng của Phật, chúng ta chỉ thay đổi hình thức chứ chẳng thay đổi thật chất.

Cho nên đối với giáo học nhà Phật, chúng ta phải làm cho xã hội nhận biết phương thức giáo học của chúng ta khác với giáo học của xã hội.  Tại sao khác nhau?  Vì mục đích khác nhau.  Giáo dục xã hội nhằm dạy kỹ năng, còn mục đích giáo dục nhà Phật nhằm mở mang trí huệ, phá mê khai ngộ, cầu chân thật trí huệ, chẳng đặt khả năng kỹ thuật ở hàng đầu, chúng ta đặt trí huệ chân thật ở hàng đầu, hoàn toàn khác nhau.  Giáo học nhà Phật ở tại Giới Ðịnh Huệ, sách giáo khoa của chúng ta cũng là Giới Ðịnh Huệ Tam Học, Ðại Tạng Kinh thường được người ta gọi là Tam Tạng, Tam Tạng là Kinh, Luật, Luận, trong đó nói về Tam Học Giới Ðịnh Huệ, hoàn toàn khác với giáo học thế gian, chúng ta phải nói rõ điều này cho người ta biết.  Nếu dùng khái niệm của họ mà nói, nhà Phật chú trọng nơi giáo dục Ðức Hạnh, hiện nay giáo dục xã hội thiếu tầng này, chẳng có môn này.  Nếu muốn xã hội an định, thế giới hòa bình thì phải đa nguyên hóa xã hội, muốn đạt đến mục tiêu mọi người tôn trọng lẫn nhau, kính ái lẫn nhau, hợp tác lẫn nhau, thì giáo dục đức hạnh vô cùng quan trọng.  Ðây là một giáo dục đặc biệt, chẳng phải giáo dục phổ thông, nếu dùng khái niệm giáo dục phổ thông, chiếu theo những quy định, chương trình bắt buộc của chánh quyền, giáo dục nhà Phật sẽ không thể đạt tới mục tiêu của chính mình, đây là điều chúng ta nhất định phải hiểu rõ.  Giáo dục thời xưa ở Trung Quốc rất giống với giáo học trong nhà Phật, nhưng giáo học hiện đại và giáo học cổ đại Trung Quốc và giáo học nhà Phật hoàn toàn khác nhau.  Chúng ta nhất định phải nhận thức rõ ràng, và cũng phải làm cho xã hội đại chúng đều nhận biết, làm cho giáo dục nhà Phật có thể phát triển chẳng có chướng ngại trong tương lai, chúng ta sẽ đưa thành quả của chúng ta cho xã hội đại chúng coi.  Chúng ta bồi dưỡng các pháp sư này, pháp sư có pháp sư xuất gia, có pháp sư tại gia, cả hai pháp sư tại gia và xuất gia đều có thể cống hiến cho xã hội.  Ðây là một đoạn nói về việc tu phước.

Ðoạn sau nói về việc chuyển nghiệp, chuyển nghiệp tốt nhất là làm cho người bịnh biết người nhà của họ tu phước dùm họ, tại sao vậy?  Trong kinh luận thường nói ‘cảnh tùy tâm chuyển’, nếu người bịnh không biết người nhà giúp họ tu phước thì họ rất khó chuyển biến, chuyển rất chậm, vì họ không biết chính mình có phước, họ có tâm tự ti.  Nếu biết chính mình có phước thì họ sẽ chuyển biến nhanh chóng.  Trong kinh Đại Thừa thường nói ‘cảnh tùy tâm chuyển’, ‘hết thảy pháp từ tâm tưởng sanh’, do đó chúng ta tu phước dùm họ thì nhất định phải cho họ biết, họ biết tự mình đã tu phước báo gì, biết có phước báo chân thật họ sẽ sanh tâm hoan hỷ, do đó chuyển nghiệp dễ dàng.  Vì lý do này khi người bịnh sắp chết, lúc đầu óc họ còn sáng suốt, hãy nói với họ: ‘người nhà đem tài sản của họ đi làm nhiều phước báo’.

Hiện nay chư vị có thể thấy Hồng lão cư sĩ, lúc chúng tôi đi thăm ông, lúc đó ông đang ở thời kỳ nguy cấp, cụ cũng nghĩ như vậy và sợ chẳng sống được bao lâu nữa, cụ gấp muốn lo cho xong việc quyên tặng miếng đất để cho cư sĩ Lý Mộc Nguyên làm chuyện tốt, cụ sợ gì mà mỗi ngày đều hối thúc ông ta?  Cụ sợ sau khi cụ chết đi thì chuyện này không thành, mỗi ngày cụ đều gọi rất nhiều cú điện thoại [hối thúc].  Ông Lý Mộc Nguyên cũng rất nhiệt tâm, mỗi ngày phải chạy tới chạy lui nhiều lần.   Tự mình biết rõ, đặc biệt là lúc ông Lý Mộc Nguyên nói về kế hoạch xây làng Di Ðà cho cụ nghe, cụ rất hoan hỷ, cụ đã làm được một chuyện tốt, nhờ vậy cụ thật sự có thể chuyển trở lại, còn chuyển nhanh chóng như vậy.  Tế bào ung thư ở cổ họng của cụ có thể thay đổi, nghe nói hiện nay có thể bít lỗ hổng lại, cụ bị lủng lỗ ở cổ họng đã ba năm nay, bây giờ đã lành rồi.  Cụ chuyển đổi nhanh chóng như vậy.  Phước báo mà cụ đã tu được thù thắng hơn đắp vẽ hình tượng của Ðịa Tạng Bồ Tát quá nhiều, cụ có phước, có tiền bạc, và có thành ý để xây Niệm Phật Ðường.

Hôm qua cư sĩ Lý Mộc Nguyên thương lượng với tôi, tôi đề nghị thờ một vạn tượng Phật A Di Ðà trong Niệm Phật Ðường, ông thảo luận với tôi coi một vạn tượng Phật A Di Ðà này dùng gỗ khắc hay dùng cách khắc nổi [trên tường].  Trong Niệm Phật Ðường, tại sao chúng ta thờ nhiều tượng Phật như vậy?  Có hai ý nghĩa: thứ nhất là hết thảy chư Phật Như Lai gia trì, hết thảy chư Phật Như Lai đều niệm A Di Ðà Phật, do đó khi bạn bước vào Niệm Phật Ðường, mười phương ba đời hết thảy chư Phật Như Lai đều tiếp cận hết.  Ý thứ hai là người niệm Phật chúng ta tương lai đều thành Phật, niệm A Di Ðà Phật đều làm A Di Ðà Phật, mỗi người chúng ta đều là hóa thân của A Di Ðà Phật, khi bước vào Niệm Phật Ðường, trong số các tượng Phật trong Niệm Phật Ðường có một tượng là chính mình, bạn coi như vậy thân thiết biết bao.  Do đó bước vào Niệm Phật Đường thì ‘tự tha bất nhị’ (ta và người không hai), sanh Phật bất nhị, chúng sanh và Phật là một.  Trong đó có ý nghĩa tiêu biểu pháp, công đức này vô cùng thù thắng, vô cùng trang nghiêm.  Mỗi người bước vào Niệm Phật Ðường đều cảm thấy thân thiết, do đó những tượng Phật này phải đúc cho thật trang nghiêm.  Chúng ta dùng phương thức này để phát triển đạo tràng, làm cho mọi người đều sanh tâm hoan hỷ, dốc hết tâm hết sức để hộ trì đạo tràng này, hy vọng đạo tràng này trở thành đạo tràng gương mẫu cho hết thảy đạo tràng niệm Phật trên thế giới.  Hiện nay mỗi tháng nhiều người từ các địa phương ở hải ngoại phát tâm tổ chức tới đây [tu học] càng ngày càng nhiều, nơi đây tự nhiên trở thành một Niệm Phật Ðường trung tâm, cho nên có cảm ứng chẳng thể nghĩ bàn.  Sanh nhật 79 tuổi của cụ Hồng vừa qua, chúng tôi nghe được tin mừng, Tam Bảo gia trì, làm cho lòng tin của chúng tôi càng thêm vững chắc.  Chúng ta có thể nêu ra thí dụ trước mắt cho đoạn kinh văn này.  Phần sau là quả báo, chư vị hãy mở xem:

Thị nhân nhược thị nghiệp báo hiệp thọ trọng bịnh giả, thừa tư công đức, tầm tức trù dũ, thọ mạng tăng ích.

            Người đó nếu do nghiệp báo phải chịu bịnh nặng, thì nhờ công đức này liền được khỏi bịnh, tuổi thọ thêm lâu dài.

Hiện nay quả báo của cụ Hồng thật sự là giống như trong kinh đã nói, nghiệp báo của cụ đáng lẽ là phải bị bịnh nặng, sau khi làm công đức này xong thì bịnh của cụ đã hết.  Không những hết bịnh mà còn kéo dài tuổi thọ, không giả dối tí nào.  Chú Giải nói rất hay, chúng ta hãy đọc coi: ‘Hà cố tu vị bịnh nhân ư Ðịa Tạng xứ, tu cúng tố tượng’ (tại sao phải vì bịnh nhân đắp nặn, thờ tượng Địa Tạng), trước hết nêu lên câu hỏi tại sao phải làm vậy?  ‘Nhằm có thể lành bịnh, trường thọ’, nguyên nhân là như vậy, có thể miễn trừ tật bịnh, có thể kéo dài tuổi thọ, phước báo.  Ðược trường thọ nhưng không có phước thì cũng rất khổ.  Ðược trường thọ lại có phước, vì họ tu nên có phước, cúng Phật được kéo dài tuổi thọ.  Phần sau ghi ‘Chỉ Quán vân’ (sách Ma Ha Chỉ Quán viết) Chỉ Quán là giáo nghĩa Thiên Thai; ‘bố úy ác đạo, nhân mạng vô thường, nhất tức bất truy, thiên tải trường vãng’ (ác đạo đáng kinh sợ, mạng người vô thường, một hơi thở ra không hít vào được thì sẽ đi vào đó cả ngàn năm) đây là lời đức Phật cảnh cáo chúng ta, đây là chân tướng sự thật.  Trong thế gian có người thật sự không sợ ác đạo, trong kinh gọi là Nhất Xiển Ðề, nghĩa là người không có thiện căn, họ không biết sự dễ sợ trong ác đạo, họ cứ vẫn tạo tội nghiệp như cũ.  Ðặc biệt là những người dùng chiêu bài Phật Giáo để lừa gạt chúng sanh, cầu danh văn lợi dưỡng, tạo vô lượng vô biên tội nghiệp, tạo nghiệp báo địa ngục.  Thọ mạng con người rất ngắn ngủi, ‘nhân mạng vô thường, nhất tức bất truy’, một hơi thở không trở lại thì đã đọa lạc rồi.  ‘Thiên tải trường vãng, u đồ miên mạc’ (Đi vào đó (trụ trong đó) cả ngàn năm, đường tối tăm dài dằng dặc, mông lung), đây là hình dung ba đường ác, ba đường ác rất dễ đọa vào, rất khó thoát ra.

          Phía sau nói ‘chẳng có tư lương’, dùng cách nói hiện nay thì đó là chẳng có điều kiện để thoát ra khỏi ba đường ác.  Lúc đó bạn phải làm sao đây?  Sau khi đọa vào ba đường ác, muốn tu phước cũng không có duyên.  Con người chúng ta ở trên thế gian này có bao nhiêu người giàu sang, bao nhiêu người có khả năng, cả đời chẳng gặp nhân duyên tu phước.  Muốn tu phước nhưng chẳng có chỗ để tu phước, cứ vì ngu si chẳng nhận biết ruộng phước chân chánh, dùng tài lực của mình để hộ trì tà đạo, không những chẳng trồng phước, trái lại chiêu cảm một số ương họa, tội lỗi, chuyện này rất nhiều, chúng ta thường thấy.

          Do đó mới biết, câu tiêu trừ nghiệp chướng này nói thì dễ, bắt đầu làm đích thật là không dễ, nhất định phải có huệ, có phước, chẳng có phước huệ muốn tiêu trừ nghiệp chướng cũng tiêu trừ không nổi.  Nếu chúng ta bình tĩnh quan sát, đừng coi gì khác, chỉ coi những đồng tu học Phật, tức là những người chung quanh chúng ta, bạn hãy quan sát cặn kẽ.  Họ rất hy vọng tiêu nghiệp chướng, cũng rất sốt sắng nỗ lực làm việc tiêu nghiệp chướng, tự mình cho rằng tu phước là tiêu nghiệp chướng, nhưng nếu bạn quán sát kỹ những gì họ làm tương phản với mục đích của họ, muốn tiêu nghiệp chướng nhưng những gì họ làm lại tăng thêm nghiệp chướng, chứ chẳng tiêu trừ nghiệp chướng.  Tại sao họ lại làm như vậy?  Vì chẳng có trí huệ.  Tại sao không có trí huệ?  Vì đọc kinh quá ít, đối với chân tướng của vũ trụ nhân sanh vẫn còn mê hoặc, vẫn chưa hiểu rõ.  Trong Phật pháp đâu là chánh pháp? Đâu là tà pháp?  Họ chẳng có khả năng phân biệt, cứ lấy giả cho là thiệt.  Ngạn ngữ thường nói ‘nhận giả chẳng nhận chân, nghe gạt chứ không nghe lời khuyên’, đó là ngu si! Người thế gian thường nói ‘xả tài tiêu tai’, họ đã xả tiền tài nhưng tai chướng tiêu không nổi, không những chẳng tiêu tai nổi mà ngược lại còn tăng thêm tai họa, ngu si tới mức như vậy, bạn nói có đáng thương hay không!

          Do đó chúng ta mới biết, đức Phật trong kinh cứ lập đi lập lại, không những chúng ta phải hiểu nghĩa, còn phải hiểu sâu nghĩa thú.  Bạn hiểu cạn cợt cũng không được, phải hiểu cho sâu.  Sau đó mới biết làm thế nào để tu phước, làm thế nào tích công lũy đức, làm thế nào tiêu trừ nghiệp chướng, làm thế nào nhập cảnh giới Phật.  Then chốt vẫn ở câu ‘thâm giải nghĩa thú’ này.  Cho nên chư Phật, Bồ Tát xuất hiện trong thế gian, sự nghiệp của họ là làm việc này cho hết thảy chúng sanh.  Thế Tôn làm tấm gương tốt nhất cho chúng ta, ngài giảng kinh thuyết pháp mỗi ngày trong suốt 49 năm, giúp cho đại chúng thâm giải ý thú.  Ðến đời sau này mới có người xuất gia bỏ việc giảng kinh để hướng dẫn đại chúng huân tu, đây cũng là biểu hiện đại từ bi.  Họ có thể giảng không?  Họ có thể giảng chứ chẳng phải không.  Tại sao họ bỏ việc giảng kinh để hướng dẫn đại chúng tu hành?  Mục đích cũng giống vậy, là giúp đại chúng mau chóng thành tựu ngay trong đời này, đạo lý là như vậy.  Ngày nay phải coi trọng cả hai việc này thì mới có hiệu quả, nếu chỉ dựa vào việc giảng kinh, không đề xướng tu hành, người ta chỉ có văn huệ, chỉ có giải ngộ.  Giải ngộ không thể liễu sanh tử, chẳng thể thoát ra khỏi Tam Giới; cho dù tu phước, phước đó cũng là phước báo nhân thiên, hoặc là phước báo hữu lậu trong lục đạo.  Chỉ có thể cứu nỗi khổ nhất thời, chẳng thể giải thoát, do đó nhất định phải đề xướng Hành Môn.  Có Giải có Hành, Giải và Hành cùng quan trọng, tu học cả Định lẫn Huệ thì chúng sanh đời Mạt pháp mới có hiệu quả.  Nếu không, chỉ có Hành không có Giải, công phu tu hành lâu nếu không đạt được hiệu quả thì họ sẽ khởi tâm ngờ vực, nghi hoặc, họ sẽ thoái chuyển vì họ không hiểu nghĩa lý.  Trong đạo tràng hiện nay, Giảng Đường phải kết hợp với Niệm Phật Đường thì mới tốt.  Đây là điều chúng tôi đề xướng, chúng ta tận tâm tận lực đẩy mạnh, hết lòng mà làm, chúng ta nhất định sẽ đạt được quả báo như trong kinh đã nói.  Xem tiếp đoạn chót:

Thị nhân nhược thị nghiệp báo mạng tận, ứng hữu nhất thiết tội chướng nghiệp chướng, hiệp đọa ác thú giả, thừa tư công đức mạng chung chi hậu, tức sanh nhân thiên, thọ thắng diệu lạc, nhất thiết tội chướng tất giai tiêu diệt.

Còn nếu người đó nghiệp báo sanh mạng đã hết, đáng phải chịu tất cả tội chướng, nghiệp chướng, và đọa vào đường ác, song nhờ công đức này nên sau khi mạng chung liền được sanh vào cõi trời, cõi người, hưởng sự vui thù thắng vi diệu, tất cả tội chướng đều được tiêu trừ.

Cho nên y giáo phụng hành có hai loại quả báo khác nhau, một là lúc thọ mạng chưa hết có thể tiêu trừ nghiệp chướng, kéo dài phước thọ.  Còn thứ nhì là lúc nghiệp báo hết rồi, những tội nghiệp mà người đó đã tạo trong đời này nhất định đọa ba đường ác.  Trước lúc lâm chung nếu nghe danh hiệu Phật, Bồ Tát, thấy hình tượng Phật, Bồ Tát, họ có thể sanh tâm sám hối chân thật.  Chiêm lễ, phía trước đã nói rồi, trong lúc chiêm lễ sanh tâm hối hận, sanh tâm sám hối, thật sự phát tâm sửa lỗi.  Nếu không thể sanh tâm sám hối thì hiệu quả của sự chiêm lễ rất yếu ớt.  Vẫn phải đọa ba đường ác, trong A Lại Da Thức được trồng một hạt giống thiện mà thôi chứ chẳng thể khởi tác dụng.  Nếu lúc chiêm lễ sanh tâm hối hận, sám hối thì họ có thể chuyển nghiệp ngay lúc đó, hạt giống đó lập tức nẩy mầm, họ liền có thể thoát lìa nỗi khổ trong ba đường ác, chắc chắn được quả báo nhân thiên.  Làm sao biết là họ sanh cõi trời hay cõi người? Dựa trên sức mạnh của một niệm sám hối này, nếu thành tâm khẩn thiết sám hối thì sức mạnh đó rất lớn, sức mạnh ấy có thể chuyển quả báo sanh ba đường ác trở thành sanh cõi trời.  Nếu có tâm xấu hổ, sám hối nhưng không mạnh mẻ thì họ sẽ sanh cõi người.  Quả báo thọ sanh đến hai cõi trời và người khác nhau rất lớn, quả báo này đều chuyển biến từ một tâm niệm.  Nếu lúc lâm chung có thể nghe được pháp môn Tịnh Độ, nhất tâm khẩn thiết nguyện sanh tây phương Tịnh Độ, phước báo ấy vô cùng thù thắng.  Do đó mười phương hết thảy chư Phật tán thán, hết thảy chư Phật, Bồ Tát tuyên dương pháp môn Tịnh Độ, khuyến khích hết thảy chúng sanh phát nguyện vãng sanh tây phương Cực Lạc thế giới, việc này có đạo lý của nó, chỉ có pháp môn này mới có thể làm cho hết thảy chúng sanh được giải thoát rốt ráo.  Nhưng then chốt vẫn ở tại câu ‘nếu không thể khắc phục phiền não tập khí của mình thì chỉ có thể kết pháp duyên với Tịnh Độ mà thôi’, đời này vẫn không thể thành tựu.  Những người vãng sanh Tịnh Độ, kinh A Di Đà nói rất rõ ràng ‘Chẳng thể dùng ít thiện căn, phước đức, nhân duyên được sanh cõi ấy’, do đó có thể biết phải có nhiều thiện căn, nhiều phước đức, nhiều nhân duyên mới có thể trong đời này được vãng sanh.

          Người như thế nào mới là người nhiều thiện căn, nhiều phước đức, nhiều nhân duyên?  Điều kiện thứ nhất là được thân người, thứ hai là nghe Phật pháp, được nghe tới kinh luận Tịnh Độ, những điều này chứng minh người đó có nhiều thiện căn.  Nhiều phước đức là như thế nào?  Tiếp xúc Tịnh Độ, nghe tới pháp môn này liền sanh tâm hoan hỷ, có thể tin có thể phát nguyện, có thể y giáo phụng hành, đó là nhiều phước đức.  Chúng ta nghe xong, nghe xong không thể tin, tin xong không thể hiểu rõ, hiểu rõ rồi nhưng không chịu làm theo, không chịu thật sự tu hành, tu hành không thể khắc phục phiền não tập khí của mình, đó là thiếu phước đức.  Tuy có thiện căn, bạn có duyên đã gặp được, nhưng phước báo của bạn rất mỏng, vẫn cứ thiếu một chút, thì đời này không thể vãng sanh, phải đợi đến đời tương lai.  Đời tương lai không phải là đời sau [kế tiếp đời hiện tại], không hẳn vậy.  Cơ hội kế tiếp có thể phải đợi vô lượng kiếp sau, như vậy bạn mới biết chuyện này phiền phức.  Cho nên gặp cơ hội này, người thông minh lập tức nắm chắc trong đời này, chứ không đợi tới lần kế tiếp; lần kế tiếp không biết phải đợi tới bao giờ mới gặp lại, tuyệt đối không phải là đời kế tiếp, đời thứ nhì, thứ ba, không phải vậy, lần kế tiếp có thể sẽ là bao nhiêu kiếp, bao nhiêu vạn ức năm bạn mới gặp được, chúng ta phải hiểu rõ chân tướng sự thật này.

Trong đời hiện tại, làm thế nào để nắm chắc cơ hội [vãng sanh]?  Chẳng có gì khác ngoài việc buông xuống, thực sự phải buông xuống được.  Nếu không buông nổi thì làm sao?  Đại sư Ấn Quang dạy cho chúng ta một phương pháp rất hay, ngài dạy chúng ta dán một chữ Tử (chết) ở trên trán, niệm niệm đều nghĩ mình sắp chết, chết thì bạn có thể mang theo được không?  Bạn còn chuyện gì không buông xuống được?  Bạn hãy coi những người đã chết [trong số những người bạn quen biết], có vật gì họ có thể mang theo được không?  Do đó Tổ Ấn Quang dạy người ta thường nghĩ tới việc ‘chết’, cứ nghĩ tôi gần chết rồi, phương pháp này hay vô cùng!  Lão nhân gia làm một tấm gương cho chúng ta, trong phòng niệm Phật nhỏ của ngài, trong phòng nghỉ của ngài chỉ thờ một tượng A Di Đà Phật, phía sau tượng Phật viết một chữ Chết, giờ phút nào cũng nhắc nhở chính mình đối với danh văn lợi dưỡng, ngũ dục lục trần của thế gian chẳng tiêm nhiễm mảy may, triệt để buông xuống, nhất tâm niệm Phật cầu sanh tịnh độ, [nếu làm được vậy thì] chắc chắn được sanh!  Tại sao người thế gian niệm Phật không thể vãng sanh?  Vì không buông xuống, vẫn cứ lưu luyến [sự việc thế gian].

          Chữ ‘buông xuống’ ở đây, quý bạn cũng đừng hiểu lầm, không phải là dạy bạn hết thảy đều buông xuống trên mặt Sự, đều không làm nữa, chỉ nhất tâm niệm Phật trong Niệm Phật Đường, nếu [muốn làm được như] vậy thì cũng phải có phước báo to lớn.  Ngày nay chúng ta xuất gia, ngạn ngữ thường nói ‘làm hòa thượng một ngày, đánh chuông một ngày’, đây là nói rõ bổn phận của chính mình, chúng ta sống một ngày thì làm một ngày, tuy làm tuyệt đối không chấp trước, đó chính là buông xuống.  Tuyệt đối không lưu luyến, giữ tâm thanh tịnh, điều này rất quan trọng, chẳng nhiễm trước mảy may.  Những việc hôm nay tôi nên làm, tôi đều đã làm xong, ngày mai làm nữa không?  Đừng nghĩ tới nó, niệm niệm nghĩ A Di Đà Phật tới tiếp dẫn, niệm niệm mong muốn vãng sanh Cực Lạc thế giới, như vậy mới đúng.  Ngày mai còn chưa vãng sanh, ngày mai làm thêm một ngày, chúng ta cũng đừng mong cầu đức Phật A Di Đà mau mau tới tiếp dẫn chúng ta, hết thảy đều tùy duyên, tùy thuận tự nhiên, hết thảy đều để cho đức Phật sắp đặt.  Phật A Di Đà còn chưa tới, nghĩa là chúng ta phải làm thêm vài ngày nữa, chúng ta hãy sốt sắng, nỗ lực mà làm, niệm niệm đều tương ứng với A Di Đà Phật. Thọ mạng chưa hết thì hãy giúp thêm một số người, tận tâm tận lực giới thiệu pháp môn này cho đại chúng, hướng dẫn cho đại chúng, ngày nay việc chúng ta làm là việc này, ngoài việc này ra, hết thảy pháp thế gian và xuất thế gian đều chẳng liên can gì với mình, như vậy mới được.  Cách này tức là ‘thường dán chữ Tử (Chết) trên trán mình’, chẳng phải nói dán chữ Tử trên trán thì chuyện gì cũng không làm, vậy thì hoàn toàn hiểu lầm ý của tổ sư.  Dán chữ Tử này trên trán nghĩa là vạn duyên buông xuống, buông xuống hết thảy vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, niệm niệm đều vì chúng sanh, niệm niệm vì Phật pháp tồn tại lâu dài trên thế gian, chúng ta dốc hết tâm lực để làm.  Xin xem đoạn kinh kế tiếp, đây là đoạn thứ ba, ‘thị tiên vong thế giới’, đây cũng là cảm ứng chẳng thể nghĩ bàn.

Phục thứ Quán Thế Âm Bồ Tát, nhược vị lai thế hữu nam tử nữ nhân, hoặc nhũ bộ thời, hoặc tam tuế, ngũ tuế, thập tuế dĩ hạ vong thất phụ mẫu, nãi chí vong thất huynh đệ tỷ muội, thị nhân niên ký trưởng đại, tư ức phụ mẫu cập chư quyến thuộc bất tri lạc tại hà xứ, sanh hà thế giới, sanh hà thiên trung.

Lại nữa, này Bồ Tát Quán Thế Âm! Vào đời vị lai, nếu có kẻ nam người nữ nào, hoặc lúc còn bú mớm, hoặc lúc lên ba tuổi, năm tuổi, mười tuổi trở xuống mà chết mất cha mẹ, cho đến chết mất anh em chị em, người đó khi khôn lớn thường nhớ tưởng đến cha mẹ cùng hàng quyến thuộc, song không rõ họ lạc vào chốn nào, sanh về thế giới nào, hoặc sanh trong cõi trời nào.

          Những việc này trong thế gian đều có, lúc trước thường có, hiện nay ít rồi.  Người hiện nay còn có thể nghĩ tới cha mẹ, anh em chị em thật sự là chẳng nhiều, đây là vì nhân tâm và thân tình ngày càng bạc bẽo, đạo nghĩa ngày càng sa sút.  Ngược lại thì hiện nay phiền não ngày càng nặng nề, tạo ác ngày càng nghiêm trọng, chỉ lo tự lợi chẳng màng kẻ khác, thậm chí không chăm sóc cho người nhà, thân quyến.  Cư sĩ Lý thường nói với tôi rằng có một số người khi cha mẹ già rồi liền cho cha mẹ vô viện dưỡng lão, tháng đầu còn gởi một số tiền, viện dưỡng lão thâu nhận nuôi dưỡng người già, thí dụ lệ phí nuôi người già mỗi tháng là năm trăm đồng, tháng đầu tiên thì họ còn gởi tiền trả lệ phí.  Tới tháng thứ nhì thì đợi thiệt lâu mới gởi tiền tới, tới tháng thứ ba thì thôi không gởi nữa, sau đó đi mất biệt, không tới nữa, chẳng tới thăm cha mẹ nữa.  Nói thật ra người như vậy hiện nay rất nhiều, ngay cả súc sanh cũng không bằng, súc sanh còn biết nuôi cha mẹ, bạn nghĩ coi thế gian này có bi thảm hay không, người già đáng thương biết mấy!  Người già chẳng có khả năng làm việc, sức lực suy yếu, để dành được chút ít tiền cũng bị con cái tìm đủ mọi cách để cướp giựt, tới già có nhiều người phải nhờ chính phủ trợ giúp, có người phải nhờ xã hội cứu trợ, bi thảm biết mấy!  Đây là chuyện mà nơi đâu, bất cứ lúc nào cũng có thể thấy được.

Những người già chẳng có ai nuôi dưỡng phải nương nhờ vào sự cứu trợ của những người có lòng từ trong xã hội.  Những cơ quan làm việc từ thiện xã hội này có thật mà cũng có giả nữa.  Thật thì đương nhiên là việc tích lũy công đức, quả báo thù thắng.  Nhưng cũng có giả, giả là vì họ mượn danh nghĩa làm việc từ thiện xã hội để mong cầu danh lợi cho mình, dùng danh nghĩa làm việc từ thiện rồi đi khắp nơi quyên tiền, phân nửa tiền quyên được họ bỏ vô túi để tự hưởng thụ, còn phân nửa còn lại mới dùng để chăm sóc cho người già.  Người xưa có một câu nói rất khó nghe ‘từ thiện gia, từ thiện khởi gia’ (người làm việc từ thiện, dùng việc từ thiện để xây dựng sự nghiệp của mình), câu sau là nói họ làm việc từ thiện, họ làm sao làm giàu?  Nhờ đi quyên tiền, nhờ làm việc này mà xây dựng sự nghiệp.  Trước mắt hiện giờ thì họ có chút hưởng thụ, quả báo sau này đều ở trong ba đường ác, vì họ không làm tròn trách nhiệm của người làm việc từ thiện.  Thật sự làm việc từ thiện, cơ cấu làm việc từ thiện này rất lớn, chăm sóc cho người già phải dùng nhiều nhân công, chắc chắn phải có phí tổn cần thiết, trừ những phí tổn nhất định cần thiết này ra, những tài khoản còn lại đều phải dùng để cúng dường cho người già, như vậy mới đúng.

Chúng tôi có tham quan một làng của những người về hưu ở Úc Châu, làng này do tư nhân kinh doanh, chuyên môn chăm sóc người già, có thâu lệ phí.  Chúng tôi đi quan sát, tìm hiểu, lệ phí của họ rất hợp lý, trong lệ phí đó gồm có lệ phí phục vụ, lệ phí phục vụ là gì?  Là tiền trả lương cho những người làm công ở đó.  Thâu bao nhiêu?  Năm phần trăm.  Người già cư trú ở đó phải đóng lệ phí, mỗi tuần 170 đồng là lệ phí sanh hoạt của họ, bao gồm tiền quét dọn và những lệ phí khác, tổng cộng là 170 đồng.  Dùng năm phần trăm của 170 đồng để trả lương cho những người làm công, như vậy rất hợp lý.  Cho nên tôi rất kính trọng họ, việc họ làm thật sự là sự nghiệp từ thiện.  Họ chỉ nhận lấy một phần lương bổng rất thấp, chỉ tạm đủ sống, cống hiến tinh thần, khả năng của mình cho làng của người về hưu này, dốc hết tâm lực để chăm sóc cho những người già về hưu này;  không thể nói chỉ chăm sóc cho người ta rồi mình không đủ tiền sinh sống, như vậy cũng không được, họ cũng phải lo cho đời sống của họ, cho nên họ cũng nhận tiền công một cách hợp lý, vậy là đúng như pháp.  Những sự nghiệp từ thiện theo phương thức như vậy rất đáng cho chúng ta khen ngợi, đáng cho chúng ta giới thiệu và khuếch trương.  Nếu không phải là cơ quan từ thiện chăm sóc cho người già, mà [dùng chiêu bài của cơ quan từ thiện] để quyên tiền thì làm vậy là tạo tội nghiệp.

Xã hội ngày nay vô cùng phức tạp, trong đó chư Phật, Bồ Tát đem lại lợi ích cho chúng sanh, cũng có yêu ma quỷ quái muợn danh nghĩa từ thiện để tìm cầu danh lợi cho mình, gây tổn hại cho chúng sanh.  Chúng ta phải nhận biết rõ ràng, phải có khả năng phân biệt, do đó thế gian hiện nay vô cùng bi thảm đáng thương.  Cũng còn người có đạo nghĩa, tâm địa vẫn còn đôn hậu chứ không phải chẳng có, nhưng càng ngày càng ít.  Những người biết tri ân báo ân, kinh này nói tới những người này.   Trong kinh đặc biệt nói ‘đời vị lai’, chẳng nói hiện tại mà nói đời vị lai.  ‘Có người nam, người nữ, hoặc lúc bú mớm’, lúc đó là lúc nhỏ xíu, lúc còn bú đã bất hạnh sanh ra đúng lúc cha, mẹ, hoặc anh em qua đời.  Hoặc lúc ‘ba tuổi, năm tuổi, mười tuổi trở xuống’, lúc đó người thân đã qua đời, lớn lên nhớ không rõ, trí nhớ rất mơ hồ.  Hiện nay rất thuận tiện, hiện nay có thể chụp hình, hình màu, lại có thể thâu hình, cho nên tuy lúc còn nhỏ cha mẹ qua đời, nếu người nhà giữ được những hình ảnh, những cuồn phim này, lúc lớn lên họ vẫn có thể nhìn thấy hình dáng người đã khuất.  Nếu có thể thâu âm, âm thanh và hình dáng đều có thể thâu lại thì tiện lợi hơn đời xưa quá nhiều.  Khi coi tới những đoạn kinh này, chúng ta phải biết, những băng thâu hình, thâu âm đời sống gia đình, đặc biệt là sự quan tâm chăm sóc của cha mẹ đối với con cái lúc còn nhỏ, [những việc này] rất tốt!  Đợi tới lúc người đó lớn lên quên mất hình dáng của cha mẹ, đem ra chiếu cho họ coi và nói: ‘Hồi nhỏ cha mẹ họ đã chăm sóc họ như thế nào’, nhắc họ biết hiếu đạo, ngày nay họ phải dùng thái độ như thế nào để đối xử với cha mẹ?

Chúng ta đọc kinh phải hiểu đạo lý này, cách làm này.  Kinh Địa Tạng dạy họ cách suy tư, suy nghĩ thì sẽ biết tình trạng của người nhà, thân quyến sau khi mất, họ phải có trí huệ, suy nghĩ nhiều rồi cũng có thể hiểu được.  Hành trì cả đời của cha mẹ lúc còn sống, thiện nhân chắc chắn sẽ cảm thiện quả, ác nhân chắc chắn sẽ được ác báo, nhân quả báo ứng tơ hào chẳng sai.  Ngày nay khoa học kỹ thuật phát triển vô cùng thuận tiện, mỗi gia đình đều có thể thu hình cuộc sống của mình.  Ngày xưa chẳng có những công cụ khoa học này, người tới tuổi già thường tưởng nhớ tới cha mẹ mình, tưởng nhớ tới người nhà thân quyến, chẳng biết họ sanh tới cõi nào, ở thế giới nào?  Sanh tới cõi trời nào?  Người có ý tưởng như vậy đa số đều là người học Phật, đều là những tín đồ có tín ngưỡng tôn giáo nhiệt thành, thì họ mới nghĩ tưởng như vậy.  Người chẳng tin tôn giáo sẽ chẳng nghĩ tới việc người nhà thân quyến thác sanh tới cõi nào?  Sanh cõi trời nào?  Họ sẽ chẳng nghĩ tới việc này.  Chỉ có người có tín ngưỡng tôn giáo mới nghĩ như vậy.  Ở ngoại quốc những người có tín ngưỡng tôn giáo đều coi trọng, lúc trước tôi đã cư trú ở Mỹ rất lâu, bậc tiểu học ở Mỹ đã coi trọng tín ngưỡng tôn giáo rồi, thầy giáo khuyên học trò lựa chọn một tôn giáo; nếu học trò không có tín ngưỡng tôn giáo thì thầy sẽ cho rằng học trò là học sinh có vấn đề.  Nếu học trò có tín ngưỡng tôn giáo, bất luận là tín ngưỡng tôn giáo nào, thầy giáo đều rất vui vẻ, tôn trọng, ái hộ, giúp đỡ học trò.  Người ngoại quốc vô cùng coi trọng tín ngưỡng [vì] tôn giáo có thể duy trì phẩm đức của con người, họ có thể kính thần, đọc kinh thì tư tưởng hành vi tự nhiên sẽ dè dặt, không dám làm chuyện bậy bạ, họ coi đó là giáo dục đạo đức.  Ngược lại người đông phương thời nay lại sơ sót trong việc này.  Chúng ta đọc đoạn kinh tiếp theo:

          Thị nhân nhược năng tố họa Địa Tạng Bồ Tát hình tượng, nãi chí văn danh, nhất chiêm nhất lễ, nhất nhật chí thất nhật, mạc thoái sơ tâm văn danh kiến hình chiêm lễ cúng dường.

Nếu người đó có thể đắp vẽ hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng, thậm chí nghe danh hiệu, một lần chiêm ngưỡng một lần đảnh lễ, từ một ngày cho đến bảy ngày đừng thoái thất tâm nguyện ban đầu mà nghe danh hiệu, ngắm hình tượng, chiêm lễ, cúng dường.

          Đây là phương pháp đức Thế Tôn dạy chúng ta tu hành, bạn muốn biết sau khi mất người nhà thân quyến sanh tới cõi nào, thế giới nào, [dùng phương pháp này] có thể thỏa mãn nguyện vọng của bạn, Phật dạy bạn phương pháp tu hành.  Câu quan trọng trong phương pháp này tức là ‘đừng thoái thất tâm ban đầu’, bốn chữ ‘mạc thoái sơ tâm’.  Phương pháp tu hành có mấy loại, ‘đắp vẽ hình tượng Địa Tạng Bồ Tát’ là một loại, ‘nghe danh chiêm lễ’ là loại thứ nhì; nói cách khác pháp môn rất nhiều, chỉ nêu ra một hai mà thôi.  Quan trọng nhất là ‘một ngày tới bảy ngày, đừng thoái tâm ban đầu, nghe danh thấy hình tượng, chiêm lễ cúng dường’, lập lại thêm lần nữa.  Việc này trong sách xưa của Trung Quốc có ghi chép rất nhiều, người Trung Quốc coi trọng hiếu đạo, đề xướng giáo dục hiếu kính, do đó căn bản giáo dục Trung Quốc chính là dạy hiếu, dạy kính.  Tư tưởng của nền giáo học này từ xưa tới cuối đời nhà Thanh chẳng hề thay đổi, có thể nói tông chỉ của nền giáo dục ở Trung Quốc là hiếu kính.  Hiếu Kính được thực hiện trong việc cúng tế, cho nên trong đời sống của dân chúng đời xưa, cúng tế là một vấn đề quan trọng nhất trong cuộc sống.

Chúng ta đọc Cổ Lễ, trong đó quan trọng nhất, trong sáu lễ, thứ nhất là Tế Lễ, Tế Lễ cũng gọi là Cát Lễ, chữ Cát ở đây là chữ Cát trong từ ngữ “cát tường” (tốt lành), Cát Lễ tức là Tế Lễ, cúng tế.  Đối tượng cúng tế của người Trung Quốc là cúng tổ tiên, kinh điển nhà Phật gọi là quỷ thần, quỷ thần là tổ tiên, chẳng phải là ai khác, là tế tổ tiên.  Nếu không phải là tổ tiên của mình mà bạn cúng tế thì là nịnh hót, nịnh nọt, chẳng liên can gì tới bạn thì bạn nịnh hót họ làm gì?  Cúng tế tổ tiên là việc đáng làm, là việc đương nhiên. Cúng tế quan trọng nhất là ‘cúng thần như thần hiện diện ở đó’, là ý nghĩa nói trong đoạn này.  Người chủ trì việc cúng tế gọi là ‘tế công’, tức là người trai giới tế lễ, chủ trì việc cúng tế.  Chữ ‘trai’ nghĩa là gì?  Trai giới.  Ba ngày trước khi cúng tế, người chủ trì phải trai giới.  Trai nghĩa là gì?  Trai nghĩa là tu tâm thanh tịnh, dùng cách nói hiện nay của chúng ta, người chủ lễ phải bế quan ba ngày, trịnh trọng như vậy.  Ba ngày này không tiếp khách, buông bỏ hết thảy sự việc.  Ba ngày này ở trong một căn phòng nhỏ, ăn uống có người trông nom, cung cấp, cũng giống như bế quan vậy.  Trong ba ngày này họ làm gì?  Suy nghĩ, vì người đó cúng tế cha mẹ tổ tiên của mình, người đó nghĩ về đời sống của cha mẹ tổ tiên lúc còn sanh tiền, nhà Phật chúng ta gọi là quán tưởng, phải nghĩ tưởng để mời họ đến, được vậy thì tế lễ mới có cảm ứng.  Trong ba ngày ba đêm tưởng nhớ tới âm thanh, dung mạo, nhất cử nhất động của tổ tiên lúc còn sống, đó gọi là tưởng nhớ.  Do đó lúc cúng tế phảng phất nghe đến âm thanh, phảng phất nhìn thấy hình tướng thì buổi tế lễ đó mới có hiệu quả.  Đâu giống như tế lễ bây giờ, đều dùng tâm loạn xạ, ngay cả khái niệm căn bản cũng không có, chỉ tới đó cúi xuống vái một hai lần cho có rồi thôi, chẳng có một chút thành ý gì hết, hoàn toàn chỉ làm lấy có thì làm sao có cảm ứng!

          Phật pháp còn coi trọng việc tế lễ này hơn người Trung Quốc, bảy ngày bảy đêm, một ngày tới bảy ngày, người Trung Quốc chỉ tế lễ ba ngày, còn Phật pháp nói bảy ngày.  Do đó ‘Đừng thoái tâm ban đầu, nghe danh thấy hình, chiêm lễ cúng dường’, cúng dường là tịnh tâm cúng dường, chẳng đặt nặng ở những phẩm vật, tâm cung kính tức là cúng dường.  Dùng cách bình thường của chúng ta mà nói, chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác, từ bi là cúng duờng.  Do đó có thể biết, cúng dường chẳng phải là cúng những phẩm vật này, chẳng đặt nặng ở chỗ này, hình thức không quan trọng.  Trên hình thức thì tận tâm tận lực làm, chẳng cần phải cầu kỳ, chẳng quá đáng, chỉ tùy phần tùy sức, tượng trưng cho tâm tôn kính, ý chân thành của chúng ta.  Thật ra nếu hoàn cảnh gia đình rất thanh bần, rất nghèo túng thì cúng một ly nước là đủ rồi, tâm thành kính của chúng ta cũng có thể biểu đạt được.  Nếu nhất định phải làm cho đẹp đẽ, làm ra vẻ long trọng, đi muợn tiền để mua những phẩm vật ấy thì sai rồi, tổ tiên của bạn nhất định chẳng hy vọng bạn mắc nợ, nếu chúng ta mắc nợ để cúng dường thì là chẳng cung kính, đó là đại bất kính.  Tại sao vậy?  Cha mẹ, tổ tiên của bạn thấy vậy sẽ lo lắng, bạn mắc nợ như vậy thì tương lai làm sao trả đây?  Không mắc nợ thì khoẻ khoắn, tùy khả năng của mình mà cúng dường, viên mãn rốt ráo, chúng ta phải hiểu đạo lý này, đặc biệt trong Phật pháp rất chú trọng vấn đề này.  Trong hết thảy sự cúng dường, pháp cúng dường là tốt nhất, trong pháp cúng dường thì y giáo tu hành cúng dường là quý nhất, nghĩ tới lời dạy của cha mẹ tổ tiên là gì?  Chúng ta có làm được chưa?  Chúng ta học Phật, lời dạy của Phật, Bồ Tát chúng ta có hiểu không, có ghi nhớ không, có làm theo hay không?  Đó mới là cúng dường thật sự.

‘Văn danh kiến hình’ đều là nhắc nhở, nghe đến danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát, nghĩ tới những lời dạy trong kinh này, không phải chỉ nói danh hiệu này mà thôi, trong danh hiệu còn có ý nghĩa, trong ý nghĩa có Lý có Hạnh, đây chính là điều Phật pháp Đại Thừa thường nói ‘một tức là hết thảy’ (nhất tức nhất thiết), một danh hiệu có thể bao gồm hết thảy Phật pháp vào trong đó.  Không chỉ là Đại Phương Quảng, danh hiệu A Di Đà Phật bao gồm hết thảy mà danh hiệu của bất cứ một vị Phật, Bồ Tát nào cũng bao gồm hết thảy, cho nên ‘nhất’ chẳng phải là ‘một’ nhất định nào, ‘nhất’ là bất cứ ‘nhất’ nào.  Không những là Phật pháp, thế pháp cũng không ngoại lệ, có pháp nào không bao dung hết thảy pháp?  Pháp pháp đều viên dung, như vậy mới nói tới chỗ chân thật, chỗ cứu cánh.  Như vậy chúng ta mới biết như thế nào là tu kính.  Ngày nay Niệm Phật Đường chúng ta chính là tu pháp môn này.  Quan trọng nhất là không thoái thất tâm ban đầu, tâm ban đầu rất quý, người xưa thường nói ‘sơ phát tâm, thành Phật còn có dư’, nhưng tại sao nhiều người đều không thành công?  Vì họ chẳng giữ nổi tâm ban đầu, tâm ban đầu là chân tâm, lâu rồi thì họ sẽ mệt mỏi, sẽ giải đãi, sẽ chán ghét, tâm [ban đầu ấy sẽ] thay đổi.  Dù có tu đều là trên hình thức, cái tâm chân thành đó chẳng còn nữa, nên chẳng đạt được hiệu quả.  Cúng dường ở đây chúng ta phải hiểu là ‘cúng dường bằng cách tu hành y như lời dạy’.  Xin xem tiếp đoạn sau, đoạn sau nói về quả báo:

          Thị nhân quyến thuộc, giả nhân nghiệp cố đọa ác thú giả, kế đương kiếp số.

          Thì quyến thuộc của người đó nếu do ác nghiệp mà bị đọa vào đường ác lẽ ra phải chịu đến nhiều số kiếp.

          ‘Thị nhân’ tức là người đã khuất, ‘giả nhân nghiệp cố’, ‘nghiệp’ là nghiệp báo mà họ đã tạo trong đời quá khứ, họ đã tạo ác nghiệp.  Tạo ác nghiệp thì nhất định sẽ đọa cõi ác, chữ ‘ác thú’ là ba đường ác, thời gian đọa ác thú rất dài.

Thừa tư nam nữ huynh đệ tỷ muội, tố họa Địa Tạng hình tượng, chiêm lễ công đức, tầm tức giải thoát.

Nay nhờ công đức đắp vẽ hình tượng Bồ Tát Địa Tạng và chiêm lễ của con cái, anh em chị em, nên liền được giải thoát

          Người nhà quyến thuộc của họ thường thường nghĩ nhớ họ, thường có thể y giáo phụng hành, hồi hướng công đức này cho họ thì họ sẽ được lợi ích, có thể nhờ đó mà thoát ra khỏi tam ác đạo.  Kinh này cũng nói lúc bình thường chúng ta, đặc biệt là người học Phật, mộng thấy người nhà, mộng thấy cha mẹ hoặc thân quyến đã mất, họ tới tìm mình để làm gì?  Họ nhờ bạn giúp đỡ.  Sau khi bạn tỉnh dậy, tốt nhất là bạn tụng kinh, niệm Phật hồi hướng cho họ, lý do họ tới là như vậy.  Người thế gian, người không học Phật, nằm mộng thấy như vậy thì làm sao?  Đốt giấy tiền vàng bạc cho người mất, vì họ cần giúp đỡ.  Hơn phân nửa những người đã khuất mà bạn mộng thấy đều ở cõi ngạ quỷ, nếu ở cõi súc sanh và cõi người thì họ sẽ không tìm bạn, chúng sanh ở cõi địa ngục không có khả năng thoát ra khỏi địa ngục, do đó hơn phân nửa những người đến tìm bạn đều ở cõi ngạ quỷ.

          Lúc tôi vừa học Phật, tôi có một người bạn làm chung sở, cả nhà họ đều tin Cơ Đốc Giáo.  Vợ của ông này chết đi, người hàng xóm cũng là người làm chung sở và là một người học Phật, họ thường tiếp xúc nên chúng tôi rất thân.  Vợ người bạn học Phật này nằm mộng liên tiếp ba lần trong một tuần, mộng thấy vợ người bạn tin Cơ Đốc Giáo đến xin tiền.  Vì trong mộng bà ấy cũng quên là người kia đã khuất nên bà nói: ‘Nếu cần tiền, chị nên xin chồng chị chứ sao lại xin tôi’.  Bà kia nói ‘Chồng tôi không có tiền, xin chị giúp đỡ’.  Bà này kể chuyện nằm mộng cho tôi nghe, tôi nói: ‘Họ tin Cơ Đốc Giáo nên không đốt giấy tiền vàng bạc, nên bà ấy không có tiền.  Bà ấy đến tìm bà đề làm gì?  Là để xin tiền, bà hãy đốt chút giấy tiền cho bà ấy’.  Sau khi đốt giấy tiền vàng bạc cho bà ấy thì chẳng nằm mộng thấy bà ấy lại nữa.  Đây đều là chân tướng sự thật, do đó ở cõi ngạ quỷ, đốt giấy tiền vàng bạc cũng khá hữu dụng.

          Chúng ta học Phật nên biết tốt nhất là tụng kinh, niệm Phật hồi hướng cho họ, làm vậy rất có hiệu quả.  Thí dụ nếu nằm mộng thấy họ thì bạn hãy tụng một cuốn kinh Địa Tạng, hoặc niệm ba cuốn, hoặc niệm một vạn danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát hồi hướng cho họ, định số để hồi hướng cho họ.  Họ đến tìm bạn, bạn giúp như vậy đích thật có thể giúp họ thoát khổ.  Bạn tụng kinh, niệm Phật hồi hướng cho họ, họ được lợi ích bao nhiêu thì phải coi bạn tụng niệm có thành tâm hay không, tâm bạn càng kiền thành, càng thanh tịnh thì phước họ được càng lớn.  Nếu bạn tụng kinh, niệm Phật có xen tạp, dùng tâm tạp loạn mà niệm thì họ sẽ được lợi ích rất nhỏ.  Do đó càng cung kính, càng thành tâm thì phước càng lớn, phước mình tu được cũng lớn, trong kinh nói chúng ta được sáu phần bảy, họ được một phần bảy.

Hôm nay đã hết giờ, chúng tôi giảng đến đây.

 

Tập 46 (Số 14-12-46)

          Xin mở cuốn Khoa Chú quyển hạ, trang 65, xin xem kinh văn:

          Sanh nhân thiên trung thọ thắng diệu lạc, thị nhân quyến thuộc như hữu phước lực, dĩ sanh nhân thiên thọ thắng diệu lạc giả, tức thừa tư công đức, chuyển tăng thánh nhân thọ vô lượng lạc.

Sanh trong cõi trời cõi người, hưởng sự vui thù thắng vi diệu.  Nếu quyến thuộc của người đó có phước lực, đã được sanh vào cõi trời, cõi người và hưởng thọ sự vui thù thắng vi diệu rồi, thì sẽ nhờ công đức này mà nhân Thánh tăng trưởng, hưởng vô lượng sự vui.

          Trong Chú Giải vừa mở đầu liền nói ‘đã sanh vào cõi thiện, tăng ích công huân, chưa thoát khổ luân, sớm sanh Tịnh Độ’, giống như ý nghĩa của đoạn kinh này.  Đây là nói rõ nếu quyến thuộc trong nhà lúc còn sống làm việc thiện, tu phước, đời sau còn được thân người.  Nếu sức mạnh của thiện hạnh, phước đức ấy rất lớn thì họ có thể sanh lên trời hưởng phước cõi trời.  Quyến thuộc vì người đó cúng dường  hình tượng Địa Tạng Bồ Tát, tu học noi theo phương pháp dạy trong kinh điển, để siêu độ cho họ, vun bồi phước đức cho họ, họ có thể thành tựu công đức như vậy.  Kinh này nói rất rõ ràng ‘Quyến thuộc người đó, nếu có phước lực’, làm theo phương pháp này là tu phước, tu học như vậy họ có thể được lợi ích hay không?  Có thể được lợi ích, tăng thêm phước báo của họ.  Ở đây nói ‘Nhờ vào công đức đó chuyển tăng nhân Thánh’, nhân Thánh là cơ duyên gặp Phật pháp, trong lúc họ thọ phước báo cõi người hoặc cõi trời họ có duyên gặp Phật pháp, đương nhiên chúng ta có thể thấy việc này là do oai thần của Địa Tạng Bồ Tát gia trì làm cho họ có thể tiếp nhận Phật pháp, tín ngưỡng và hiểu rõ Phật pháp, y giáo tu hành, được vậy thì quả báo của họ sẽ rất thù thắng, ‘thọ vô lượng niềm vui’.  ‘Vô lượng niềm vui’ là một tiêu chuẩn, đến lúc nào mới thật sự được vô lượng niềm vui?  Tổng quy về pháp môn Tịnh Độ mới thật sự được vô lượng niềm vui, vả lại trong thời gian rất ngắn liền có thể đạt được, cổ đức thường nói ‘Phật pháp thành tựu ngay trong đời này’, chẳng cần phải đợi tới đời sau.

          Do đó có thể biết, pháp môn này thật sự đúng như Thiện Đạo đại sư đã dạy, ngài nói ‘chín phẩm vãng sanh đều do gặp duyên chẳng giống nhau’.  Từ lời dạy của ngài chúng ta có thể hiểu được sau khi con người chết đi thác sanh vào cõi nào cũng là do gặp duyên khác nhau, quý bạn nghĩ coi đúng không?  Trong đời này nếu chúng ta gặp ác duyên, hoàn cảnh nhân sự và hoàn cảnh vật chất đều không tốt, trong tâm phiền muộn, bồn chồn, thường khởi tham sân si mạn thì sẽ đọa tam ác đạo.  Tại sao đọa tam ác đạo?  Vì gặp duyên chẳng giống nhau.  Nếu trong đời này bạn gặp được thiện tri thức, gia đình êm ấm, học trường tốt, gặp thầy giáo tốt, bạn bè tốt thì bạn nhất định có tâm thiện, hành vi thiện, bạn nhất định sẽ ở trong tam thiện đạo, do vậy mới biết ‘duyên’ rất quan trọng.  Trong Phật pháp gọi là duyên, hiện nay người trong thế gian gọi là cơ hội, tuy ngôn từ khác nhau nhưng ý nghĩa đều giống nhau.  Do đó trong sách xưa chúng ta đọc thấy chuyện ‘Mẹ ngài Mạnh Tử ba lần dời chỗ ở’, việc này rất có đạo lý.  Mẹ ngài Mạnh Tử dọn nhà ba lần, chư vị nên biết hiện nay dọn nhà rất bình thường, nhất là ở ngoại quốc, dân tộc du mục thường xuyên dọn nhà, còn Trung Quốc thời xưa dọn nhà chẳng dễ, [phần đông người ta] đều cư trú mãi ở một địa phương, bao nhiêu đời cũng ở một chỗ, ở trong ngôi nhà xưa, làm gì có việc thường thường dọn nhà?  Tại sao mẹ Mạnh Tử phải dọn nhà ba lần?  Đều vì con cái, vì hoàn cảnh sinh hoạt của con nhỏ, nơi đó duyên không tốt thì phải dọn nhà, chọn lựa nơi nào người hàng xóm đều là người thiện, người tốt, để cho con nhỏ sinh hoạt trong hoàn cảnh tốt đẹp, từ nhỏ đứa con có thể huân tập những sự tốt lành.  Lý do Mạnh Tử có thể trở thành thánh nhân là nhờ được mẹ dạy dỗ, được mẹ săn sóc chu đáo.  Hiện nay chúng ta thấy rất nhiều gia đình con cái chẳng thuận thảo, con cái chẳng nghe lời, nguyên nhân là gì?  Con cái tiếp xúc với những đám bạn xấu, hoàn cảnh sinh sống không tốt, nguyên nhân này rất lớn.

          Đời này chúng ta học Phật, nếu muốn thành tựu thì chúng ta phải chọn một hoàn cảnh tốt đẹp [thuận tiện] cho sự học Phật.  Đây cũng là lý do chúng tôi muốn xây làng Di Đà, xây Niệm Phật Đường, chẳng qua là muốn tạo dựng một hoàn cảnh tu hành tốt đẹp.  Mọi người đều biết tây phương Cực Lạc thế giới, tại sao [những người ở đó] có thể thành tựu nhanh chóng?  Vì hoàn cảnh tu học tốt đẹp, cõi nước chư Phật ở mười phương cũng không thể so sánh với thế giới Cực Lạc.  Thế giới Cực Lạc là nơi ‘chư thượng thiện nhân tụ hợp tại một chỗ’, bạn nói hoàn cảnh này tốt biết mấy?  Cổ đại đức giải thích chữ ‘thượng thiện’, ‘thượng thiện’ là chỉ những người nào?  Là chỉ Đẳng Giác Bồ Tát.  Thập Địa Bồ Tát đã rất ‘thiện’, còn thêm chữ ‘thượng’, ‘thượng thiện’ là Đẳng Giác Bồ Tát.  Do đó có thể biết Bồ Tát ở tây phương Cực Lạc thế giới đều là Đẳng Giác Bồ Tát.  Ở trong hoàn cảnh này tu học thì làm sao bạn không thành Phật cho được?  Đây là nơi mười phương cõi nước chư Phật cũng không thể sánh bằng, đạo lý là như vậy.  Khi chúng ta chọn hoàn cảnh tu học, tại sao lại chọn thế giới Cực Lạc?  Tại sao chư Phật Như Lai đều khuyên chúng ta chọn thế giới Cực Lạc?  Đạo lý là như vậy.  Hoàn cảnh tu học ở mười phương cõi nước chư Phật tuy là tốt, nhưng làm sao tìm được nhiều Đẳng Giác Bồ Tát ở chung một chỗ như vậy, không thể nào tìm được.  Thanh văn, Duyên Giác, Bồ Tát đều có, vả lại tu học đều thành tựu theo thứ lớp, phải từ Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng dần dần nâng cao lên.  Cho dù tây phương Cực Lạc thế giới hạ hạ phẩm vãng sanh, khi sanh tới đó ‘đều làm A Duy Việt Chí Bồ Tát’, đây là lời đức Phật A Di Đà nói trong bốn mươi tám lời nguyện của ngài.  Câu này là bổn nguyện công đức của Phật A Di Đà, nguyện của ngài đều đã thành hiện thực, ngài đã thành Phật.  Sanh tới tây phương Cực Lạc thế giới liền làm A Duy Việt Chí Bồ Tát, đây là pháp khó tin, ai tin nổi việc này?  Đây là lời đức Phật nói.  Phật chẳng thể nào vọng ngữ, lời Phật nói tuyệt đối là chân thật, chúng ta phải nên tin sâu chẳng nghi, cho nên chúng ta phải lựa chọn hoàn cảnh tu học [tốt đẹp nhất ở cõi Cực Lạc].  Câu này tuy không nói rõ nhưng đã bao gồm ý nghĩa ‘chuyển tăng nhân thánh, thọ nhận vô lượng niềm vui’ trong đó.  Xin xem tiếp kinh văn:

          Thị nhân cánh năng tam thất nhật trung, nhất tâm chiêm lễ Địa Tạng hình tượng, niệm kỳ danh tự, mãn ư vạn biến, đương đắc Bồ Tát hiện vô biên thân, cụ cáo thị nhân quyến thuộc sanh giới.

Nếu người đó lại có thể trong hai mươi mốt ngày nhất tâm chiêm lễ hình tượng Bồ Tát Địa Tạng và niệm danh hiệu của Ngài đủ một vạn biến, thì sẽ được Bồ Tát hiện thân vô biên, nói cho người đó cõi giới mà quyến thuộc của họ đã sanh về.

Phía trước nói thời gian tu hành là một ngày cho tới bảy ngày, chẳng thoái tâm ban đầu.  Chỗ này tăng thêm một bậc ‘có thể trong vòng ba tuần’, chữ quan trọng then chốt nhất trong sự tu hành là ở chỗ ‘nhất tâm’, hai chữ này rất quan trọng!  Nếu là loạn tâm, tạp tâm thì hiệu quả sẽ không được vậy, chỉ có thể được một chút phước báo, do đó trong kinh nói nhất tâm, nhất lễ, nhất chiêm, chữ này rất quan trọng.  Ở đây nói rõ hơn đoạn trước, ‘nhất tâm chiêm lễ hình tượng Địa Tạng, niệm danh hiệu ngài, đủ một vạn lần’.  Chữ ‘vạn’ ở đây không phải là con số, chữ này tiêu biểu ý viên mãn, rốt ráo.  Viên mãn nghĩa là trong ba tuần, 21 ngày bạn dốc hết sức niệm, thật ra nói niệm cũng chẳng phải là niệm bao nhiêu danh hiệu, quan trọng là niệm được tương ứng, vậy mới quan trọng!  Niệm được nhiều nhưng nếu không tương ứng thì cũng như người xưa nói ‘Hét bể cổ họng cũng uổng công!’  Do đó quan trọng nhất là phải tương ứng, ‘một niệm tương ứng một niệm Phật, niệm niệm tương ứng niệm niệm Phật’, quan trọng là ở chỗ tương ứng.  Như thế nào mới là tương ứng?  Lúc niệm Địa Tạng Bồ Tát, tâm là tâm của Địa Tạng Bồ Tát.  Tâm Địa Tạng Bồ Tát là tâm gì?  Độ thoát hết thảy chúng sanh khổ nạn trong pháp giới, hiếu kính hết thảy chúng sanh trong pháp giới, đó là tâm Địa Tạng.

Tâm chúng ta tương ứng với tâm của Địa Tạng Bồ Tát, hạnh cũng phải tương ứng.  Hạnh là hành vi, thật sự là cống hiến thân tâm để phục vụ hết thảy chúng sanh, tạo tăng thượng duyên cho mọi chúng sanh được độ, đó là hạnh.  Tùy lúc tùy chỗ tận tâm tận lực khuyến hóa hết thảy chúng sanh, giúp cho hết thảy chúng sanh hiểu rõ trạng huống trong thập pháp giới, đặc biệt là trong sáu nẻo luân  hồi.  Chúng ta phải nói cho họ biết rõ tình huống trong sáu nẻo luân hồi, để họ biết lựa chọn.  Không những phải nói cho họ nghe, mà còn phải làm khuôn mẫu cho họ thấy, giúp họ giác ngộ.  Nếu bạn chỉ nói mà làm không nổi, người ta nghe cũng không tin.  Bạn phải làm cho bằng được thì người ta  nhìn thấy mới có thể tiếp nhận, tin tưởng, học tập, đó là hạnh tương ứng.  ‘Tâm hạnh tương ứng’ thì gọi là ‘niệm’, nhất tâm xưng niệm, do đó chư Phật, Bồ Tát chẳng có niệm thứ nhì, chỉ có [một niệm] là giúp đỡ chúng sanh, đây là điều chúng ta phải nên học tập.  Nhất tâm, chân thành tới mức cùng cực, người xưa có câu ‘thành thì linh’, linh nghĩa là cảm ứng, chân thành tới cùng cực thì cảm ứng vô cùng rõ ràng, cho nên bạn có thể cảm ứng được Địa Tạng Bồ Tát hiện thân, nói cho bạn biết thân quyến của bạn hiện nay sanh tới cõi nào, không phải bạn đang quan tâm tới họ sao?  Vì quan tâm muốn biết thân quyến ở nơi nào, bạn mới nhất tâm tu học pháp môn này, Bồ Tát chẳng làm bạn thất vọng, ngài sẽ hiện thân thuyết pháp cho bạn.

Nhất tâm, trong Chú Giải có nói về Sự Nhất Tâm và Lý Nhất Tâm, bạn có thể chuyên tâm lễ lạy, lễ lạy hình tượng Địa Tạng Bồ Tát, chuyên tâm niệm thánh hiệu Địa Tạng Bồ Tát, đó là Sự Nhất Tâm.  Đó cũng là nguyên tắc mà chúng ta thường nói ‘không hoài nghi, không xen tạp, không gián đoạn’.  Đoạn sau nói ‘khế nhập như hư không vô biên’, đây là Lý Nhất Tâm.  Đây là nói tương ứng với Chân Như tự tánh là Lý Nhất Tâm, hoặc nói tương ứng với Nhất Chân thì là Lý Nhất Tâm.  Chân tâm chính là pháp giới, chính là Chân Như, chính là tự tánh.  Tâm tánh rộng lớn như hư không, chẳng có biên giới, khế nhập cảnh giới này là đã siêu việt thập pháp giới.  Thập pháp giới còn có biên giới, còn có phạm vi, do đó siêu việt thập pháp giới là Lý Nhất Tâm.  Cảnh giới này rất khó hiểu, chẳng dễ gì đạt được.  Trong những kinh thông thường đức Phật nói để chúng ta hiểu được, phải niệm tới lúc phiền não dứt hết, phá được Phiền Não Chướng, phá luôn Sở Tri Chướng, đó là Lý Nhất Tâm.  Phiền não chướng rất rộng, [bao gồm] Kiến Tư phiền não, Trần Sa phiền não.  Trần Sa và Vô Minh thuộc về Sở Tri Chướng, Kiến Tư là Phiền Não Chướng.  Chư vị cũng hiểu rất rõ ràng, chúng ta có khả năng đoạn dứt hay không?  Khởi tâm động niệm vẫn còn nhân ngã thị phi, chúng ta bị phiền não trói buộc chẳng có khả năng dứt trừ.  Nhưng chư Phật, Bồ Tát, tổ sư đại đức đều cho chúng ta biết phiền não đều là hư vọng, chẳng phải thật.  Đã là hư vọng thì nhất định có thể dứt trừ.  Tự tánh chân tâm là sẵn có, vì là sẵn có nên nhất định có thể chứng được.  Làm sao dứt trừ phiền não, chứng được Chân Như đều ở trong vòng một niệm, một niệm này nhất định phải do chính người đó hạ công phu, ai cũng chẳng thể giúp được.  Do đó những gì đức Phật có thể giúp cho chúng ta chỉ là nói rõ ràng những chân tướng sự thật này cho chúng ta biết, dạy rõ những kinh nghiệm phương pháp mà ngài đã dùng để dứt trừ phiền não, chứng nhập tự tánh cho chúng ta tham khảo, ngài chỉ có thể làm tới mức này, còn những chuyện khác thì ngài không thể giúp được.

Chúng ta nhất định phải hiểu đạo lý này, đây là lời chân thật.  Người thật sự có thể giúp chúng ta là chính mình, đúng như câu nói ‘tự mình ngộ, tự mình tu, tự mình chứng’, chẳng kêu bạn phải nương nhờ người khác.  Chúng ta nghe Phật, Bồ Tát, nghe tổ sư đại đức giảng kinh thuyết pháp, tự mình giác ngộ rồi, sau khi giác ngộ thì chính mình sẽ chịu tu, tu cái gì?  Tu chỉnh hết thảy sự sai lầm.  Bấy lâu nay khi đối người, đối sự, đối vật chúng ta nghĩ sai, thấy sai, nói sai, làm sai nên mới tạo nghiệp, sai lầm tức là tạo nghiệp, chiêu cảm khổ báo trong tam đồ lục đạo, đó là phàm phu.  Đúng là tâm luân hồi tạo nghiệp luân hồi, những gì chúng ta làm đều là như vậy.  Trong đời này chúng ta gặp nhân duyên thù thắng, hiếm có, khó gặp, có thật sự hiểu rõ thì chúng ta mới sanh lòng cảm ân, mới biết tri ân báo ân.  Ân đức của Phật pháp đối với chúng ta quá lớn!  Nếu đời này không gặp được, bạn làm sao có cơ hội thoát ly luân hồi?  Chẳng có cơ hội, chắc chắn bạn sẽ tạo nghiệp tiếp tục.  Cho nên có duyên gặp được [Phật pháp] mới tỉnh ngộ, sau khi tỉnh ngộ thì phải chân tu, tu cái gì?  Tuyệt đối không tạo nghiệp.  Không những không tạo ác nghiệp, nói với chư vị biết, thiện nghiệp cũng không tạo luôn.  Mọi người phải hiểu câu này, nếu nói thiện nghiệp cũng không tạo thì đức Phật Thích Ca Mâu Ni giảng kinh, thuyết pháp có phải là thiện nghiệp hay không?  Độ chúng sanh có phải là việc tốt hay không?  Nếu chuyện tốt cũng không làm thì đức Phật Thích Ca nhập Niết Bàn rồi, chẳng cần phải giảng kinh thuyết pháp nữa.

Phật, Bồ Tát vẫn thị hiện những việc đoạn ác, tu thiện cho người ta coi, cả hai thứ thiện ác ngài cũng không tạo.  Không làm ác thì chúng ta dễ hiểu, còn không làm thiện nghĩa là gì?  Ngài làm hết thảy pháp thiện nhưng tuyệt đối không khởi lên ý niệm mong cầu quả báo thiện, như vậy gọi là không tạo nghiệp thiện, nhất định không mong cầu thiện quả.  Người thế gian trồng thiện nhân muốn được thiện quả, tại sao họ tu thiện?  Vì mong có thiện quả nên họ mới chịu tu thiện.  Phật, Bồ Tát đã giác ngộ thật sự nên không cầu thiện quả.  Đó gọi là không suy nghĩ ác, không suy nghĩ thiện, cắt đứt cả thiện lẫn ác, đó mới là người tu hành thật sự.  Bạn hãy quan sát kỹ càng họ thật sự được đại tự tại.  Chỉ có cắt đứt cả thiện lẫn ác thì mới được tự tại.  Nếu vẫn còn mong cầu thiện quả thì sẽ không tự tại, quả báo của họ ở tại nhân thiên; nhân thiên có thiện quả, chẳng thể thoát lìa Tam Giới, chẳng thể thoát mười pháp giới.  Vì chẳng dứt cái niệm mong cầu thiện quả này, đây là điều chúng ta phải hiểu rõ.  Nếu chúng ta cắt đứt ý niệm về quả báo thiện phước trong thế gian thì bạn chắc chắn sẽ thoát khỏi Tam Giới, bạn mới có thể siêu việt thập pháp giới.

Nếu trong đời sống hằng ngày có thể dụng công như vậy, không những chắc chắn vãng sanh, vả lại nhất định sẽ vãng sanh tới Thật Báo Độ, không tới Đồng Cư Độ và Phương Tiện Độ.  Có bao nhiêu người niệm Phật cầu vãng sanh, mong cầu tây phương Cực Lạc thế giới, mong gặp A Di Đà Phật, họ có tâm này.  Chúng ta thường nói đới nghiệp vãng sanh, khi vãng sanh Cực Lạc là sanh về Đồng Cư Độ, Phương Tiện Độ.  Cõi Đồng Cư và Phương Tiện ở thế giới Cực Lạc khác với mười phương thế giới, giống như cõi Thật Báo, đây là cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn, cho nên chư Phật nói đây là pháp khó tin.  Chúng ta hiểu đạo lý và chân tướng sự thật này thì nhất định phải cầu tương ứng, làm thế nào mới tương ứng?  Bạn hãy tự suy nghĩ, bạn có thể suy nghĩ được, một niệm tương ứng thì một niệm Phật.

Do đó trên mặt sự tướng có cần mỗi ngày lễ lạy Địa Tạng Bồ Tát hay không?  Cần chứ, rất cần.  Cần xưng niệm hay không?  Cần chứ.  Chúng ta chuyên tu Tịnh Tông, mỗi ngày lễ Phật A Di Đà, xưng niệm A Di Đà Phật thì cũng được.  Nếu chúng ta kính ngưỡng Địa Tạng Bồ Tát thì có thể thỉnh một tượng Địa Tạng Bồ Tát thờ ở một bên tượng A Di Đà Phật, chúng ta xưng niệm A Di Đà Phật thì đã bao gồm Địa Tạng Bồ Tát trong đó; chúng ta lễ Phật A Di Đà thì cũng bao gồm Địa Tạng Bồ Tát ở trong đó, như vậy dễ đạt được nhất tâm.  Chẳng cần phải niệm bao nhiêu tiếng A Di Đà Phật, lại niệm thêm bao nhiêu tiếng Địa Tạng Bồ Tát, rồi lại niệm bao nhiêu tiếng Quán Âm Bồ Tát, như vậy thì sẽ phân tâm.  Do đó chúng ta thờ Tây Phương Tam Thánh, niệm một câu A Di Đà Phật thì đã niệm hết thảy, như vậy thì dễ nhiếp tâm hơn.  Đoạn này nói về việc tưởng nhớ người nhà quyến thuộc quá vãng, thậm chí những vị chưa từng gặp mặt, hoặc lúc nhỏ đã gặp mặt, khi lớn lên dần dần quên mất, thường tưởng nhớ người nhà không biết họ đang ở cõi nào thì dùng phương pháp tu học như trên, Bồ Tát sẽ nói cho bạn biết, trong lúc cảm ứng sẽ nói cho bạn biết người nhà của bạn hiện nay đang ở cõi nào?  Chữ ‘sanh giới’ nghĩa là cõi nào.  Xin xem tiếp kinh văn:

Hoặc ư mộng trung, Bồ Tát hiện đại thần lực thân lãnh thị nhân ư chư thế giới kiến chư quyến thuộc.

Hoặc trong giấc mộng, Bồ Tát hiện đại thần lực, đích thân dắt người đó đến các thế giới để thấy hàng quyến thuộc của mình.

Cảm ứng này rất rõ ràng, hoặc trong mộng bạn thấy Bồ Tát, Bồ Tát dắt bạn đi tới các thế giới bạn sẽ thấy được người nhà quá vãng của bạn.  Chúng ta hãy đọc một đoạn trong Chú Giải: ‘thượng thị hiển cơ hiển ứng cố ư xưng lễ chi tế, hiện thân cáo tri kỳ giới’ (trên đây hiển thị cảm ứng rõ ràng, nhờ xưng niệm lễ bái nên [Bồ Tát] hiện thân cho biết [người nhà quá vãng] sanh tới cõi nào), đây là câu kết luận cho đoạn trên.  Hiển cảm hiển ứng, rất rõ ràng giống như cô Bà La Môn nói ở đoạn trước, cảm ứng vô cùng rõ ràng, tuy Giác Hoa Định Tự Tại Vương Phật chẳng hiện thân, nhưng có âm thanh nói cho cô biết mẹ cô hiện đang ở cõi nào.  Như vậy là rất rõ ràng.  ‘Quyến thuộc minh cơ minh ứng, cố ư mộng trung tương cáo’ (Quyến thuộc cảm ứng âm thầm, nên [Bồ Tát] hiện trong mộng cho biết), đoạn này nói [Bồ Tát hiện] trong mộng.  Rất nhiều người trong mộng thấy Phật, Bồ Tát đến chỉ dạy, việc này chúng ta thường gặp, thường nghe nói, còn hiển cảm hiển ứng khá ít, minh cảm minh ứng nhiều hơn.  Phía sau ngài nêu một thí dụ, việc này “giống như chuyện người cõi trời hiện ra trong mộng như trong luật Thiện Kiến[2] đã nói, đấy chính là giấc mộng chân thật”, giấc mộng này chẳng phải từ vọng tưởng biến hiện ra, thông thường khi phàm phu nằm mộng đều là do vọng tưởng trong ý thức biến hiện ra.  Còn mộng này thật sự là Phật, Bồ Tát hoặc thiện thần cảm ứng hiện ra cảnh trong mộng như vậy, mộng như vậy mới đáng tin.

Phía sau ngài nói ba câu rất hay, ‘nhiên tu liễu tri thiện ác phàm thánh chi sự vô phi thị mộng’ (sau đó nên biết những chuyện thiện ác phàm thánh chẳng qua cũng là mộng), đây là lời đức Phật dạy chúng ta trong kinh Kim Cang ‘Hết thảy pháp hữu vi như mộng huyễn bọt bóng’.  Chúng ta hiện nay sanh sống trong thế giới này, bạn hãy quan sát kỹ càng nó cũng là cảnh trong mộng.  Nói tới hôm qua, hôm qua đã đi mất, hôm qua vĩnh viễn sẽ chẳng trở lại, chuyện ngày hôm qua rõ ràng cũng chỉ là cảnh trong mộng.  Nói tới hôm nay, hôm nay lại biến thành quá khứ nữa rồi, chúng ta sống một trăm năm, mỗi ngày đều ở trong mộng, có thứ nào là chân thật?  Trong mộng đừng tạo nghiệp thì kể như bạn cũng giác ngộ rồi.  Chẳng có việc gì là thật cả, vậy thì so đo tính toán làm chi!  Tại sao ở trong cảnh mộng không làm việc tốt?  Làm thêm một chuyện thiện, tích lũy công đức, thì sau này bạn còn tiếp tục có giấc mộng đẹp.  Nếu tạo tội nghiệp thì sau này giấc mộng của bạn sẽ toàn là ác mộng.  Nếu bạn không muốn ác mộng, chỉ muốn mộng đẹp thì bạn phải làm việc tốt.  Biết niệm niệm đều ở trong mộng, mỗi ngày đều ở trong mộng thì chúng ta mới thật sự khâm phục đức Phật Thích Ca Mâu Ni, khâm phục tới năm vóc sát đất, lời ngài nói đều là sự thật, ‘mộng huyễn bọt bóng’, ‘như sương cũng như điện chớp’, có phải thật sự tồn tại hay chăng?  Chẳng phải!  [Tất cả đều biến đổi] trong từng sát na.

Tối hôm qua trong buổi giảng kinh Hoa Nghiêm, tổng kết đoạn kinh Đâu Suất Thiên Vương, quy kết về niệm Phật, chư vị nên lắng lòng tìm hiểu.  Người học Phật chúng ta nhất định phải hiểu nguyên lý, nguyên tắc trong đó, nhất định phải thâm giải ý thú.  Trong kinh Hoa Nghiêm đức Phật nói hết thảy pháp, bao gồm pháp thế gian, xuất thế gian, hư không pháp giới ‘duy tâm hiện’.  Tướng hiện nay của chúng ta, tướng này từ đâu đến?  Do tâm hiện.  Tâm hiện tướng, hết thảy những tạo tác trong tướng là ‘thức’, ‘duy thức biến’, thức đang tạo tác, tâm hiện tướng.  Nói cho chư vị biết tướng là vọng tướng, thức cũng là vọng thức, đều chẳng phải thật.  Do đó tướng đưọc hiện và thức được biến ấy, trong Bách Pháp đều thuộc về pháp hữu vi, pháp hữu vi đều là giả, đều là mộng huyễn bọt bóng.  Cái có thể hiện tướng là thật, chân như vô vi.  Chúng ta trong giả tướng, vọng thức giác ngộ xong, có thể tương ứng với Chân Như Vô Vi, vọng thức tới tiếp dẫn hết thảy chúng sanh, giúp hết thảy chúng sanh giác ngộ, đó là Bồ Tát hạnh.

Bồ Tát nói chuyện, Bồ Tát sinh hoạt, khởi tâm động niệm, hết thảy tạo tác đều nhằm giác ngộ chúng sanh.  Tuy giác ngộ chúng sanh, chẳng có mảy may mong cầu, chỉ cần có một ý niệm mong cầu thì liền không tương ứng với tự tánh.  Ngày nay chúng ta khuyên người cầu sanh tây phương Cực Lạc thế giới có phải là mong cầu hay không?  Tương ứng với tự tánh hay không?  Chẳng tương ứng.  Tuy chẳng tương ứng, nhưng đang đi trên con đường tương ứng với tự tánh, cùng phương hướng này, cùng mục tiêu này, dần dần tới gần minh tâm kiến tánh.  Đến Cực Lạc thế giới để làm gì?  Để minh tâm kiến tánh, hoàn cảnh tu học ở nơi đó tốt đẹp, đạo lý là như vậy, đây gọi là ‘đới nghiệp vãng sanh’, đới nghiệp vãng sanh Cực Lạc thế giới là tốt nhất!  Thù thắng nhất!  Sau khi hiểu rõ rồi chúng ta mới không hoài nghi, mới chết lòng trọn ý tu học pháp môn này, đối với hết thảy pháp thế gian và xuất thế gian đều không mong cầu, đều buông xuống, chỉ cầu sanh Tịnh Độ, chỉ cầu gặp A Di Đà Phật, đó gọi là đới nghiệp.  Đây là việc phàm phu chúng ta trong một đời này chắc chắn có thể thành tựu, khẳng định không luống uổng.  Sanh tới tây phương Cực Lạc thế giới rồi mới buông xả ý niệm mong cầu này sạch sành sanh, lúc đó mới rốt ráo thành Phật đạo.

Các đồng tu học Phật hiện nay, việc khó xả nhất là tâm cầu nguyện.  Những sở cầu, sở nguyện đều là hư vọng, họ mong cầu phú quý, phước đức hiện tiền; nói thật ra những thứ này đều có thể đạt được nếu bạn biết đạo lý nhân quả.  Bạn muốn được thiện quả thì phải tu thiện nhân; nếu tâm hạnh của bạn không thiện thì chắc chắn sẽ không được thiện quả, đây là cầu phước báo trong lục đạo, chẳng rốt ráo.  Nhưng đại đa số con người chỉ nhìn việc trước mắt, chẳng có nhãn quang lâu dài rộng lớn; chỉ có người thật sự giác ngộ mới thật sự phát tâm thoát ra khỏi sáu nẻo luân hồi, tâm đó là tâm thuần thiện.  Mong cầu vãng sanh, mong cầu thoát ra khỏi sáu nẻo luân hồi, niệm niệm vẫn còn tạo nghiệp thì nguyện vọng này của bạn vĩnh viễn sẽ không đạt được.  Tại sao vậy?  Vì những gì bạn làm trái nghịch với tâm nguyện của bạn, trái nghịch thì bạn làm sao mãn nguyện được?  Muốn vãng sanh tây phương Cực Lạc thế giới, thế giới Cực Lạc là thế giới như thế nào?  Trong kinh nói rất rõ ràng, rất rành rẽ, đó là thế giới Phổ Hiền Bồ Tát, chẳng phải Bồ Tát thông thường.  Nói cách khác, hạnh của Bồ Tát thông thường không thể vãng sanh thế giới Cực Lạc, muốn vãng sanh thế giới Cực Lạc thì phải tu hạnh Phổ Hiền.  Kinh Vô Lượng Thọ giảng vô cùng rõ ràng, kinh Hoa Nghiêm cũng giảng rõ ràng như vậy.  Có lẽ bạn đồng tu sẽ hỏi chúng tôi thấy rất nhiều bà cụ, ông cụ niệm Phật vài năm liền được vãng sanh, đó là thật chứ chẳng giả.  Lúc lâm chung họ nói với những người xung quanh ‘A Di Đà Phật tới tiếp dẫn tôi, tôi đi theo ngài’, đó là thiệt chẳng phải giả.  Chúng ta hãy hỏi ‘Họ có tu hạnh Phổ Hiền hay không?’  Có chứ!  Niệm cuối cùng là niệm của hạnh Phổ Hiền thì chắc chắn được sanh, đạo lý là như vậy.

Hạnh Phổ Hiền là gì? Là tâm thanh tịnh và tâm bình đẳng; tâm thanh tịnh là ‘Phổ’, tâm bình đẳng là ‘Phổ’.  Tâm bạn không thanh tịnh, không bình đẳng thì có giới hạn, có giới hạn thì sẽ không bình đẳng.  Nói cách khác bạn vẫn còn phân biệt, vẫn còn chấp trước thì không phải hạnh Phổ Hiền.  Chúng ta bố thí, cúng dường, chiêm lễ, xưng danh đều là tu hành, đều là những việc mọi người làm hằng ngày, nhưng nếu bạn có phân biệt, có chấp trước thì đó không phải là hạnh Phổ Hiền, chỉ có thể nói là hạnh Bồ Tát chứ không phải là hạnh Phổ Hiền.  Trong hạnh Phổ Hiền không có phân biệt, không có chấp trước.  Xa lìa hết thảy phân biệt chấp trước thì một lần chiêm lễ là hạnh Phổ Hiền, bố thí cúng dường cũng là hạnh Phổ Hiền, thậm chí nói chúng ta mặc áo ăn cơm cũng là hạnh Phổ Hiền.  Khởi lên phân biệt chấp trước thì không phải là hạnh Phổ Hiền.  Hạnh Phổ Hiền tương ứng với pháp giới, chẳng có giới hạn, thường thì chúng ta nói công đức đó lớn nhất, chẳng thể nghĩ bàn.  Niệm niệm đều tương ứng với hư không pháp giới, đó thuộc về Lý Nhất Tâm.  Phàm là người vãng sanh, niệm sau cùng nhất định sẽ không có hết thảy phân biệt chấp trước rồi mới ra đi.  Nếu niệm sau cùng còn phân biệt chấp trước thì họ sẽ đọa lạc.  Chúng ta làm sao có thể bảo đảm niệm sau cùng của mình không có phân biệt chấp trước?  Việc này quá khó, quá khó.

Do đó tu hành là sửa đổi tư tưởng, kiến giải, hành vi sai lầm của chúng ta, nhất định phải trong đời sống hằng ngày của chúng ta xa lìa vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, công phu đắc lực rồi thì tự mình mới thật sự nắm chắc việc vãng sanh.  Trong đời sống sanh hoạt thường ngày, bất luận là đời sống vật chất hay đời sống tinh thần, có cũng được, không có cũng được.  Có cũng không phân biệt, không chấp trước, không có cũng đừng phân biệt đừng chấp trước thì bạn sẽ được tự tại.  Không có thì muốn cho có, khi có rồi lại sợ mất đi, lo được lo mất, vậy thì một ngày bạn niệm mười vạn tiếng Phật hiệu, mỗi ngày lạy mười vạn lạy cũng chưa chắc thoát ra khỏi sáu nẻo luân hồi.  Nguyên nhân là gì?  Sáu nẻo luân hồi là do chấp trước tạo thành, nếu bạn vẫn còn chấp trước nặng nề như vậy thì làm sao có thể thoát được?  Thập pháp giới là do phân biệt tạo thành, chỉ cần có phân biệt, có chấp trước thì bạn sẽ không có cách chi thoát ra khỏi sáu nẻo và thập pháp giới, những gì bạn tu chẳng phải là hạnh Phổ Hiền.  Hạnh Phổ Hiền nói một cách đơn giản cho quý vị đồng tu nghĩa là đối với hết thảy pháp đều không sanh tâm phân biệt, không sanh tâm chấp trước thì bất luận bạn tu pháp gì cũng là hạnh Phổ Hiền, lúc nảy có nói mặc áo ăn cơm cũng là hạnh Phổ Hiền, điểm này rất quan trọng!

Nếu hết thảy đều không phân biệt, không chấp trước thì bạn sẽ chuyển được cảnh giới, sẽ không bị cảnh giới chuyển.  Năm mươi ấm ma nói trong kinh Lăng Nghiêm, bất cứ loại ấm ma nào cũng không thể bén sát thân bạn.  Bạn sẽ hỏi tại sao không bén sát thân bạn được?  Vì bạn chẳng có thân thì [ấm ma] bén sát vào cái gì?  Nếu bạn có thân thì nó mới có thể bén sát vào được.  Rõ ràng là có tấm thân này, tại sao lại nói không có thân?  Có tức là không, [nghĩa là] bạn có thân này, nhưng bạn không chấp trước thân này là thân nên thân này không tồn tại.  Tại sao oán gia chủ nợ tìm được thân của bạn?  Bạn chấp trước vật này là thân của bạn thì oán gia trái chủ sẽ tìm được; nếu bạn không chấp trước thân này thì họ không nhìn thấy bạn, không tìm thấy bạn.  Vì chấp trước thân này là ‘tôi’, nên họ nhìn thấy, tìm bạn báo thù.  Nếu bạn không chấp trước vật này là thân của bạn thì họ tìm không thấy bạn, [bạn chẳng hiện hữu] chẳng có.  Chúng ta phải hiểu đạo lý này, yêu ma quỷ quái gì cũng không thể bén sát thân bạn được.  Vậy thì bạn ở đâu?  Tận hư không trọn khắp  pháp giới đều là bạn, yêu ma quỷ quái cũng không lìa khỏi hư không pháp giới, bạn bao gồm họ, họ không thể bao gồm bạn.  Bất luận họ phá phách như thế nào, đó chỉ là một chút bịnh nhẹ thôi, giống như thân thể bạn có chỗ nào đau ngứa, gãi gãi một chút là xong, không thể bị tổn hại.  Nếu bạn có phân biệt chấp trước thì phiền phức sẽ lớn lắm.

Cho nên nói lời chân thật với bạn, con người sẽ không sanh bịnh.  Bịnh từ đâu đến?  Bịnh đến từ vọng tưởng, phân biệt, chấp trước.  Con người cũng không suy già, [vậy thì] tại sao lại già? Vì vọng tưởng, phân biệt, chấp trước nên mới già.  Con người cũng không chết, [vậy thì] tại sao lại chết?  Vì vọng tưởng, phân biệt, chấp trước  nên bạn mới chết.  Lìa khỏi vọng tưởng, phân biệt, chấp trước thì tất cả [bịnh, già, chết] đều không có!  Trong hư không pháp giới, đối với hết thảy chúng sanh có duyên, trong kinh nói tùy loại hóa thân, tùy theo căn cơ mà thuyết pháp, bạn coi như vậy tự tại biết bao!  Tùy loại hóa thân, hiện tướng cũng như vô tướng, không có thân cũng như có thân, có và không có là một chứ chẳng phải hai.  Thuyết pháp là để giúp đỡ chúng sanh giác ngộ, tuy tận tâm tận lực giúp đỡ họ nhưng dường như có dường như không.  Trong kinh Kim Cang đức Phật nói ‘độ vô lượng vô biên chúng sanh nhưng thật ra không có chúng sanh được độ’.  Do đó bạn gây phiền phức cho Phật cũng không được, thật là không có chúng sanh được độ.  Bạn muốn hủy báng đức Phật Thích Ca Mâu Ni, đức Phật Thích Ca nói suốt đời ngài chưa từng nói một câu nói, nếu bạn nói đức Phật thuyết pháp là bạn báng Phật, bạn làm sao phê bình ngài?  Ngài chẳng nói một câu, chẳng nói một chữ, ‘nói tức là không nói, không nói mà nói’, nói và không nói là một chứ chẳng phải hai, bạn hãy lắng lòng tìm hiểu ý tứ này, thật là cao minh.  Nếu nói người ta dựa vào đó mới có thể hủy báng chúng ta, thì chúng ta sai rồi.  Nếu họ không nói thì họ làm sao sai được?  Có nói là có lỗi, không nói thì không lỗi, quý bạn hãy lắng lòng suy nghĩ về ý này.  Họ ‘làm nhưng không làm, không làm mà làm’.

Thế gian này chúng ta có giảng kinh thuyết pháp, đức Phật nói với chúng ta tây phương Cực Lạc thế giới cũng có giảng kinh thuyết pháp, nếu bạn thật sự tới tây phương Cực Lạc thế giới, bạn nghe đức Phật A Di Đà giảng kinh gì, giảng pháp gì?  Chẳng có.  Giảng kinh thuyết pháp là đối với phàm phu chúng ta nói, tây phương Cực Lạc thế giới có giảng kinh thuyết pháp hay không?  Không có.  Không giảng tức là giảng, giảng tức là không giảng, đó là thuyết pháp thật sự, bạn nghe thật sự.  Trong kinh nói không sai, lục trần cũng thuyết pháp, sáu trần có nói không?  Không có, đó là tiêu biểu pháp, bạn nhìn sắc tướng, tai nghe âm thanh liền khai ngộ, càng ngộ càng sâu, càng ngộ càng rộng, chẳng có ai nói từng câu, từng câu dài dòng cho bạn nghe, chẳng cần phiền phức như vậy!  [Nếu nói vậy thì là] coi thường thế giới Cực Lạc quá đỗi.  Mỗi ngày cúng dường mười phương chư Phật, trong lúc cúng dường bạn liền ngộ được diệu pháp, thật ra cảnh giới này kinh Hoa Nghiêm đã hiển thị quá rõ ràng, do đó lúc bạn mở kinh Hoa Nghiêm ra vô cùng hoan hỷ, chỉ cần bạn đọc và hiểu ý nghĩa trong đó thì bạn sẽ hoan hỷ không cùng tận.  Đâu cần phải nói chi dài dòng?  Chỗ nào cũng là tiêu biểu pháp, tiêu biểu pháp tức là thuyết pháp.  Tại sao đức Phật không trực tiếp thuyết pháp cho chúng ta, nói tên của những quỷ thần, các vị thiên vương, cứ nói trực tiếp đi.  Những vị đó đều là chư Phật, Bồ Tát, Pháp Thân đại sĩ, tại sao không nói vị Đẳng Giác Bồ Tát này, vị Pháp Vân Địa Bồ Tát kia, tại sao không nói như vậy?  Nếu nói như vậy thì mệt chết được.

Đức Phật dùng những tạp thần, dùng chư thiên, thiên vương để tiêu biểu pháp, [những vị này đều] sống động, dạy bạn khi thấy hết thảy vạn vật thì liền biết đó là cảnh giới Hoa Nghiêm.  Thấy cây cối, thần cây, thấy nước, thần nước hết thảy đều là cảnh giới Hoa Nghiêm.  Cảnh giới Hoa Nghiêm ở đâu?  Những gì lục căn chúng ta tiếp xúc đến đều là [cảnh giới Hoa Nghiêm].  Nhìn thấy hết thảy chúng sanh đều là Pháp Thân đại sĩ, đều là những vị tạp thần.  Thấy những vị lãnh đạo các tầng lớp trong xã hội đều là các vị thiên vương, nhân vương, do đó kinh này biến thành rất sống động.  Thì ra kinh Đại Phương Quảng Hoa Nghiêm chính là xã hội của chúng ta, bạn nói con người sống trong hoàn cảnh này, một hạt bụi một cọng lông, một hạt cát một giọt nước, chẳng có gì không phải là cảnh giới Hoa Nghiêm, con người sanh hoạt trong đó làm sao không vui sướng cho đuợc?  Làm sao không hoan hỷ cho được?  Hoàn cảnh xung quanh đều là chư Phật Như Lai, đều là Pháp Thân đại sĩ.  Nếu bạn hiểu được thì cõi này chính là [cảnh giới Hoa Nghiêm]; nếu bạn không hiểu thì hãy tới thế giới Cực Lạc, tới đó để huân tập, để hun đúc.  Nếu hiểu được thì tận hư không, trọn khắp pháp giới đều là Cực Lạc thế giới, đều là Hoa Tạng thế giới.

Chúng ta có thể khế nhập vào tầng này thì bạn mới thật sự cảm được ân đức của chư Phật, mới biết lời Thiện Đạo đại sư đã nói tới tuyệt mức rồi, [ngài nói] ‘gặp duyên chẳng giống nhau’, chúng ta gặp được duyên này quá thù thắng, vô cùng thù thắng.  Đúng như câu Bành Tế Thanh đã nói ‘một ngày hiếm có khó gặp được trong vô lượng kiếp qua’, chúng ta đã gặp được ngày này.  Bạn làm thế nào mới có thể khế nhập?  Bạn phải chân tu, sau khi hiểu rõ rồi phải buông xuống, buông xuống hết thảy thân tâm thế giới, chẳng mong cầu gì hết.  Chẳng cầu thì tự tánh sẽ hiện tiền, bản tánh sẽ hiện tiền.  Nếu cầu thì một niệm mong cầu ấy chính là chướng ngại của tự tánh.  Đây là chân tướng sự thật, đích thật là mộng huyễn bọt bóng, chúng ta nằm mộng hằng ngày, liên tục từng sát na nối tiếp nhau.  Câu cuối trong Chú Giải rất hay, hàng thứ hai trang 67 bắt đầu từ chính giữa, ‘Cố viết như mộng cần gia, không danh hoặc tuyệt.  Hồi quán thế gian giai mộng trung sự. Duy đại giác lãng nhiên xưng đại mộng giác nhĩ’ (Cho nên nói: Trong mộng càng thêm siêng gắng, danh từ (tức ngôn ngữ) rỗng không, phiền não dứt bặt, nhìn lại thế gian đều là chuyện trong mộng. Chỉ có đại giác rành rành  nên gọi [đại giác] là sự giác ngộ trong giấc mộng lớn vậy [3]).  Cảnh giới của chư Phật, Bồ Tát là đại giác lãng nhiên, từ trong giấc mộng lớn tỉnh ngộ trở lại, đây là chư Phật, Bồ Tát.  Tốt lắm, xin mời xem tiếp đoạn kinh sau: 

Cánh năng mỗi nhật niệm Bồ Tát danh thiên biến chí ư thiên nhật.

Nếu người đó lại có thể mỗi ngày đều niệm danh hiệu Bồ Tát một ngàn biến, luôn đến một ngàn ngày.

Đây là nói về việc tu nhân, thời gian dài hơn, phía trước nói một ngày tới bảy ngày, sau đó nói ba tuần.  Tới đoạn này thời gian dài hơn, một ngàn ngày, là ba năm, ba năm không gián đoạn, đủ thấy tâm bền bĩ và nghị lực của người đó.  Ba năm không gián đoạn, tức là mỗi ngày bạn có định khóa, định khóa tuy không nhiều, nhưng một ngày cũng không thiếu, đây là sự liên tục nói trong kinh, phù hợp yêu cầu tịnh niệm tương tục.  Tới giờ thì nhất định phải làm công khóa, niệm một ngàn danh hiệu Bồ Tát, thời gian này cũng không dài lắm, phải có tâm bền bỉ, suốt ba năm không gián đoạn.

Thị nhân đương đắc Bồ Tát khiển sở tại thổ địa quỷ thần chung thân vệ hộ.

Thì người đó sẽ được Bồ Tát sai các quỷ thần và thổ địa sở tại hộ vệ trọn đời.

Bồ Tát phái thần hộ pháp bảo hộ bạn, thật ra là vì bạn tu trì có công phu, những quỷ thần này kính trọng ngưỡng mộ bạn, Địa Tạng Bồ Tát hoan hỷ, cảm được quỷ thần hộ vệ.  Đây đều là quả báo, bạn được quỷ thần hộ vệ.

Hiện thế y thực phong ích, vô chư tật khổ, nãi chí hoạnh sự, bất nhập kỳ môn hà huống cập thân.

Hiện đời y phục thức ăn dư dật, không có các thứ bịnh khổ, cho đến các hoạnh sự còn không hề vào đến cửa, huống nữa là đến nơi thân!

Chúng ta coi đoạn kinh này, đây là những gì hoàn cảnh sinh hoạt trước mắt chúng ta cần đến.  Hiện nay thế gian này có tai nạn, tai nạn quá nhiều chúng ta không thể nào dự liệu được, bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu đều có thể gặp, chúng ta làm sao đối phó?  Lúc trước thầy Lý dạy chúng ta chỉ có cách duy nhất là nhất tâm niệm Phật cầu sanh tịnh độ.  Do đó trong tai nạn lớn lao bạn vẫn có thể được bình yên, y phục thức ăn của bạn không thiếu thốn, phải tu như thế nào?  Phải tu bố thí, đừng sợ chúng ta bố thí hết sạch thì chẳng còn gì để ăn, chẳng có mặc thì phải làm sao?  Bạn bố thí hết sạch, bạn chẳng có ăn chẳng có mặc thì Phật, Bồ Tát sẽ gởi đồ ăn, đồ mặc tới cho bạn, bạn phải có lòng tin như vậy.  Nếu tới lúc đó Phật, Bồ Tát không đem tới thì làm sao?  Nghiệp chướng của mình quá nặng, nỗ lực cố gắng nhất tâm niệm Phật, tuyệt đối không oán trời, trách người, cảm ứng đạo giao.  ‘Không có các tật bịnh, khổ đau’.  ‘Tật’ là bịnh, bạn sẽ không bị bịnh tật, sẽ không bị khổ nạn.  ‘Hoạnh sự’ là tai họa, thiên tai nhân họa, những sự việc không thể đoán trước được, bạn sẽ không gặp phải những sự việc này.  Những tai biến này ‘không hề đến cửa huống chi là đến thân’, nghĩa là nơi bạn cư trú sẽ chẳng xảy ra những chuyện này, đương nhiên thân bạn sẽ không bị những tai nạn này.  Nghĩ tới điều này thì bạn sẽ niệm Phật, niệm Bồ Tát rất thiết tha, hiện giờ đích thật có thể dứt trừ nghiệp chướng, miễn trừ hết thảy tai nạn, tiêu tai miễn nạn, đây là phương pháp tu học duy nhất.

Niệm A Di Đà Phật rất tốt, niệm Quán Thế Âm Bồ Tát cũng tốt, niệm Địa Tạng Bồ Tát cũng tốt, [nhưng] phải nhất tâm xưng niệm.  Ghi nhớ tâm hạnh tương ứng, cảm ứng sẽ thù thắng.  Nếu miệng niệm mà tâm không tương ứng, vẫn còn làm những chuyện tổn hại người ta lợi ích cho mình, tổn hại chúng sanh, tổn hại xã hội, bạn niệm như thế nào đi nữa cũng uổng công, tại sao vậy?  Vì chẳng tương ứng.  Nhất định phải ghi nhớ [lời dạy] trong kinh này, nguyên tắc nói ở đoạn trước, mỗi ngày xưng niệm một ngàn tiếng trong vòng một ngàn ngày, không thể rời khỏi nguyên tắc này, đó chính là ‘nhất tâm xưng niệm’.  Trong nhất tâm nhất định không có xen tạp, không có vọng tưởng, không có phân biệt, không có chấp trước thì mới gọi là nhất tâm.  Vả lại phải biết cách niệm danh hiệu Phật, Bồ Tát, đây là một bài tập trong lớp, bài học trong lớp, sau khi học xong phải áp dụng vào đời sống thì mới có ích lợi.  Không thể nói tôi ở trong chùa niệm Phật nhất tâm được một tiếng đồng hồ, nửa tiếng đồng hồ, niệm xong bước ra ngoài lại làm chuyện thị phi nhân ngã, chuyện tham sân si mạn, vậy thì không được.  Phải giữ được nhất tâm suốt ngày; tôi đối sự, đãi người, tiếp vật đều thành tâm, thành ý, đều đem lại lợi ích cho chúng sanh, lợi ích cho người khác, đó mới là tu hành chân thật, mới gọi là biết dụng công thật sự, mới có cảm ứng đạo giao.  Tuyệt đối không phải là hối lộ Phật, Bồ Tát, mỗi ngày đều nghĩ nhớ tới các ngài, làm theo phương pháp này, các ngài sẽ bảo hựu cho tôi được thăng quan, phát tài.  Còn đối với oan gia, tôi hy vọng người đó chết sớm, bạn khởi ý niệm như vậy thì sai rồi, hoàn toàn không đúng.  Phải tu như thế nào?  Phải khởi tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng, tâm từ bi đối sự, đãi người, tiếp vật.  Niệm Phật, tâm của mình phải giống tâm Phật, nguyện của mình giống nguyện của Phật, hạnh giống hạnh của Phật, áp dụng vào đời sống hằng ngày.  Sáng mai niệm, sợ ngày mai quên mất, ngày mai niệm thêm một lần nữa.  Mỗi ngày đều làm vậy, làm suốt ba năm thì bạn sẽ quen, bạn sẽ làm mãi mãi, do đó mới được thiện thần ủng hộ, Phật, Bồ Tát hộ niệm.

Thị nhân tất cánh đắc Bồ Tát ma đảnh thọ ký

Người đó rốt ráo sẽ được Bồ Tát xoa đảnh thọ ký cho.

          Đây là được quả báo cứu cánh viên mãn.  Ở đây chữ Bồ Tát là Địa Tạng Bồ Tát, nhất định sẽ được Địa Tạng Bồ Tát xoa đảnh thọ ký cho bạn, bạn tu nhân chân thật thì quả báo đương nhiên sẽ thù thắng.  Phật, Bồ Tát dạy bạn làm thế nào tu nhân chứng quả, đó là xoa đảnh thọ ký.  Xem tiếp đoạn sau, đây là đoạn thứ tư, ‘thành độ sanh chứng quả’.  Kinh văn càng về sau càng thù thắng, càng gần tới kết thúc, càng tỏ rõ Phật, Bồ Tát từ bi.  Chúng ta hãy lắng lòng quan sát, coi Bồ Tát đau lòng rát miệng khuyên chúng ta.

          Phục thứ Quán Thế Âm Bồ Tát, nhược vị lai thế hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, dục phát quảng đại từ tâm, cứu độ nhất thiết chúng sanh giả, dục tu vô thượng Bồ Đề giả, dục xuất ly Tam Giới giả.

Lại nữa, này Bồ Tát Quán Thế Âm! Vào đời vị lai, nếu có kẻ thiện nam người thiện nữ nào muốn phát lòng từ rộng lớn để cứu độ tất cả chúng sanh, muốn tu Đạo Bồ Đề Vô Thượng, muốn ra khỏi Tam Giới.

Trước hết nói rõ điều kiện, đây là những hạng người nào?  Đây là người rất phi thường, đích thật là Bồ Tát.  ‘Thiện nam tử, thiện nữ nhân’, chữ ‘thiện’ này nhất định phải đầy đủ Tịnh Nghiệp Tam Phước mới là thiện, không phải là thiện thông thường [của người thế gian].  Người thiện trong thế gian không có tâm lượng lớn như vậy, người thiện Nhị Thừa cũng không có tâm lượng này, đây là thiện của Bồ Tát Đại Thừa.  Họ phát tâm từ bi rộng lớn, bốn chữ ‘quảng đại từ tâm’ bao gồm mười một điều trong Tịnh Nghiệp Tam Phước.  Sau đó nói cụ thể, ‘cứu độ hết thảy chúng sanh’, ‘hết thảy’ nghĩa là tận hư không, trọn khắp pháp giới, chẳng hạn định ở một địa phương nào, ngài phát tâm rộng lớn ‘chúng sanh vô biên thệ nguyện độ’ trong tứ hoằng thệ nguyện.  ‘Muốn tu đạo Bồ Đề vô thượng’, đây là nguyện ‘Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành’ trong tứ hoằng thệ nguyện.  ‘Muốn thoát ra khỏi Tam Giới’ chính là ‘phiền não vô biên thệ nguyện đoạn’, như vậy thì bạn mới thoát ra khỏi Tam Giới, đó mới là thật sự giác ngộ.

Lời chú thích trong Chú Giải rất hay ‘thử thị đại Bồ Tát tâm, tập hạnh Bát Nhã Ba La Mật, cố năng phát khởi độ nhân chi tâm.  Nhiên từ bi bổn cụ, tích giả ngã nhân cố phân bỉ thử.  Kim tri đồng thể cố phát đẳng tâm’ (Đó là tâm to lớn của Bồ Tát, tập hạnh Bát Nhã Ba La Mật, cho nên có thể khởi tâm độ người.  Từ bi vốn đầy đủ, lúc trước còn phân chia mình và người nên còn đối đãi.  Nay biết hết thảy đều cùng chung một thể nên khởi tâm bình đẳng), chúng ta có phát tâm này chưa?  Nếu chưa thì hãy mau phát tâm này, tuy phát tâm nhưng trong đời sống thường ngày vẫn còn khi có khi không thì tâm ấy không khẩn thiết, không chân thật, cho nên công phu tu học không đắc lực, không thể chuyển cảnh giới thì cũng như không thật sự phát tâm, do đó phát tâm nhất định phải chân thật.  Tâm chân thật nhất định phải ‘trụ chân thật huệ’, ở đây nói ‘tập hạnh Bát Nhã Ba La Mật’, trong kinh Vô Lượng Thọ gọi là ‘trụ chân thật huệ’, tâm của bạn mới có thể phát được, do đó ‘từ bi vốn đầy đủ’.  Chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác, từ bi đều là những gì tự tánh chúng ta vốn đầy đủ, vốn đã có, cùng hết thảy chư Phật Như Lai không hai, không khác.

Tại sao bây giờ bạn không có tâm này?  Vì bạn chấp vào Ta và Người (nhân ngã), kinh Kim Cang nói về bốn tướng ‘ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng’.  Bốn tướng này trên thật tế chính là vì bạn trong cảnh giới khởi lên vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, bạn sai ở chỗ này.  Bạn có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước nên bạn chia ranh giới, cho rằng có ta có người, tâm từ bi của bạn không thể khơi dậy.  Chẳng những không thể khởi tâm từ bi, tâm chân thành cũng không khởi được, thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác đều hoàn toàn không thể khởi lên, tánh đức vốn sẵn có không thể khởi tác dụng.  [Nếu vậy thì] cái gì khởi tác dụng?  Phiền não, vọng tưởng khởi tác dụng, đời sống của bạn làm sao yên ổn được?  Dĩ nhiên là sẽ không yên ổn, không dễ chịu.  Nếu trí huệ đức năng vốn sẵn có trong tánh đức của bạn khởi tác dụng thì đời sống của bạn sẽ yên ổn, sẽ vui sướng, bạn sẽ sống đời sống của Phật, Bồ Tát.  Trong các buổi giảng chúng tôi thường nói bạn sẽ sống một cuộc đời có trí huệ cao độ, người đời nay gọi là đời sống có nghệ thuật cao, thật ra người thế gian nói về đời sống có nghệ thuật chỉ là có danh vô thực.  Giống như người thế gian nói về ‘chân thiện mỹ’, chân thiện mỹ của người thế gian cũng có danh vô thật, chỉ có Phật, Bồ Tát mới thật, đời sống các ngài mới thật sự chân thiện mỹ.  Do đó nhất định phải phát tâm này, phải phát tâm độ hết thảy chúng sanh, xả mình vì người.

Chúng ta thờ Phật, chúng ta dùng đèn, [hương, và nước] để cúng Phật, đèn tượng trưng cho ý nghĩa thiêu đốt chính mình chiếu soi kẻ khác.  Đèn đời xưa đều là đèn dầu, dầu đốt một thời gian thì cạn dần, phát ra ánh sáng chiếu soi kẻ khác, đèn cầy còn sáng hơn nữa.  Do đó khi nhìn thấy đèn, bạn liền biết hy sinh chính mình để thành tựu kẻ khác, nếu không thì bạn cúng đèn cũng uổng công.  Còn hương tiêu biểu Ngũ Phần Pháp Thân: Giới, Định, Huệ, Giải Thoát, Giải Thoát Tri Kiến.  Nước tiêu biểu thanh tịnh, bình đẳng.  Những vật này đều nhằm nhắc nhở bạn khi nhìn thấy đèn, hương, nước thì bạn phải biết tu học như thế nào, chứ Phật, Bồ Tát đâu cần những thứ này làm chi!  [Đèn, hương, và nước] chẳng qua là để giúp chúng ta, làm tăng thượng duyên cho chúng ta tự độ mà thôi.

Câu cuối trong Chú Giải nói về việc thoát ly Tam Giới, chúng ta hãy đọc: ‘Xuất ly Tam Giới giả, tức Viên Giáo Sơ Tín chí Thất Tín, Kiến Tư tiên khử, trường biệt Tam Giới khổ luân dã’ (Người thoát ra khỏi Tam Giới là Bồ Tát Viên Giáo Sơ Tín đến Thất Tín, đã đoạn dứt Kiến Tư phiền não, vĩnh viễn xa lìa nỗi khổ trong Tam Giới).  Đây là lời nhắc nhở chúng ta, Bồ Tát Sơ Tín trong Viên Giáo đã đoạn hết 88 phẩm Kiến Tư Hoặc trong Tam Giới, công phu đoạn phiền não của Bồ Tát Sơ Tín tương đương với quả vị Sơ Quả của Tiểu Thừa.  Chúng ta biết quả vị Sơ Tín nhập dòng Thánh, nghĩa là nhập vào cảnh giới thánh nhân, chẳng còn là phàm phu.  Tuy Bồ Tát Sơ Tín chưa thoát ra khỏi Tam Giới, vẫn ở trong hai cõi Trời, Người tu hành, chắc chắn không đọa vào ba cõi ác, họ bảo đảm không đọa tam đồ.  Tại sao không đọa tam đồ?  Vì họ không tạo ác nghiệp của tam đồ nữa, đã đoạn nghiệp nhân sanh vào cõi ác.  Nói cách khác họ chẳng còn vì chính mình nữa.  Trong Kiến Hoặc tuy nói có 88 phẩm, nhưng quy nạp chẳng ra ngoài năm loại.  Thứ nhất là Thân Kiến, họ không chấp trước cái thân này là Ta, phần trước có nói yêu ma quỷ quái sẽ không thể bén sát vào thân họ được, họ biết thân này không phải là Ta.  Cách nói thông thường của chúng ta, thân là đồ vật mà ta có cũng giống như ta có quần áo vậy, quần áo này của ta chứ không phải là ta, xả bỏ rất dễ, bỏ cái cũ để đổi lấy cái mới.  Họ biết thân chẳng phải ta, thân là vật của ta, do đó trong mười pháp giới thọ thân, xả thân rất dễ, họ chẳng chấp trước.  Thân này hư rồi bèn đổi một thân khác, cũng như không thích quần áo này đổi quần áo khác, không nhất định phải đợi mặc cũ rách rồi mới đổi, có thể thay đổi bất cứ lúc nào.  Đây là nói sanh tử rất tự tại, không chấp trước mảy may.

Phàm phu mê hoặc, họ cho rằng thân này là ta nên họ rất khó xả, rất khó buông bỏ, cứ thương tiếc không chịu buông bỏ thân này.  Giống như mấy đứa con nít, chúng nó rất tham trước mặc quần áo đẹp, kêu nó thay quần áo khác thì nó la khóc um sùm không chịu thay, nó cũng giống như chúng ta [không chịu xả bỏ thân này vậy].  Cho nên hiểu rõ chân tướng sự thật rồi thì xả thân thọ thân chẳng khó khăn gì cả, chẳng sợ hãi, vậy thì sau khi thay đổi họ được thân tốt hơn, trang nghiêm hơn.   Nếu tham luyến, chấp trước, không chịu buông xả thân này, thì ngược lại càng đổi càng xấu, mất đi thân người, đổi thân ngạ quỷ, súc sanh, địa ngục, lý do đều vì chẳng buông bỏ tham sân si.  Đức Phật dạy chúng ta tu hành phải dồn sức vào những việc này, dứt trừ tâm tham, tâm sân giận.  Đoạn được tâm tham thì không đọa ngạ quỷ, đoạn tâm sân giận thì không đọa địa ngục, đoạn tâm ngu si thì không đọa súc sanh, vĩnh viễn xa lìa tam ác đạo.  Xin xem tiếp:

Thị chư nhân đẳng kiến Địa Tạng hình tượng cập văn danh giả, chí tâm quy y.

Những người đó thấy hình tượng Bồ Tát Địa Tạng cùng nghe danh hiệu, rồi chí tâm quy y.

Đây là phương pháp tu hành.  Trong câu này quan trọng nhất là ở chỗ ‘chí tâm’.  ‘Quy’ nghĩa là trở về, ‘y’ nghĩa là nương tựa, chân tâm quay về noi theo kinh Địa Tạng Bổn Nguyện mà tu hành, đó gọi là quy y Địa Tạng Bồ Tát.  Nếu bạn không chịu tu hành noi theo kinh giáo thì không gọi là quy y, bạn chẳng quay về, bạn không làm theo, ‘y’ là phải làm theo.  Những gì trong kinh dạy, chúng ta phải làm cho được, những gì kinh dạy không được làm thì chúng ta nhất định không làm, y giáo phụng hành mới kể là quy y, làm với tâm chân thành thì bạn ‘chí tâm quy y’, công đức này rất lớn, quá lớn, phải quay lại từ trong tâm.  Câu sau nêu lên những sự tướng:

Hoặc dĩ hương hoa y phục bảo bối ẩm thực cúng dường chiêm lễ.

Hoặc đem hương hoa, y phục, vật báu, đồ ăn thức uống để cúng dường chiêm lễ. 

Hương hoa tiêu biểu cho ý nghĩa gì chúng ta phải hiểu rõ, ‘hương’ là giới hương, phải trì giới, phải tuân giữ pháp luật.  ‘Hoa’ tiêu biểu Lục Độ, ‘y’ tiêu biểu Nhẫn Nhục.  ‘Vật báu’ là vật người thế gian trân quý, tiêu biểu tài vật; ‘ẩm thực’ để nuôi dưỡng sanh mạng, chẳng thể thiếu.  Dùng những thứ này để cúng dường chiêm lễ, cúng trước hình tượng Bồ Tát, đây là việc làm trong mỗi khóa tụng niệm hằng ngày.  Ứng dụng vào sanh hoạt nghĩa là phải cứu giúp hết thảy chúng sanh, đặc biệt là những chúng sanh đang chịu khổ nạn, chúng ta làm sao dùng ‘hương’ để cúng dường cho họ?  Dạy họ tuân giữ pháp luật, dạy họ giữ giới, vậy nghĩa là dùng hương để cúng dường chúng sanh.  Làm thế nào dùng hoa để cúng dường?  Dạy họ bố thí, dạy họ làm nhân thiện mới được quả thiện, dạy họ xử sự đãi người tiếp vật phải nhẫn nại, phải nhẫn nhịn, đó là bố thí cúng dường.  Dạy họ học Phật, quy y Tam Bảo, tiếp nhận lý luận, phương pháp của Phật dạy để tu hành, đó là cúng dường của báu.  Lúc họ bị khổ nạn, chúng ta chăm sóc đời sống vật chất cho họ là ẩm thực cúng dường.  Chúng ta phải đem những bài tập trong lớp học ứng dụng vào đời sống thì mới gọi là tu hành.  Nếu nói chỉ làm ở trong chùa hoặc chỉ làm trong gia đình mình, mỗi ngày đều cúng dường Phật, Bồ Tát như vậy, chiêm lễ xưng danh, bạn có thể cứu độ hết thảy chúng sanh hay sao?  Bạn có thể chứng Vô Thượng Bồ Đề hay sao?  Bạn có thể thoát ly Tam Giới hay sao?  Không thể được.

Cho nên chúng ta trong khóa tụng sáng tối, bất luận là ở trong chùa hay là trong phòng thờ Phật ở nhà, bạn phải hiểu ý nghĩa của khóa tụng sáng tối, tôi đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần, khóa tụng buổi sáng là nhắc mình phải làm, phải thực hiện [những lời dạy của Phật], vậy thì cây hương bạn đốt buổi sáng không uổng phí.  Đốt cây hương này là nhắc mình hôm nay xử sự, đối người, tiếp vật phải đúng như pháp, như pháp nghĩa là giữ giới, và cũng khuyên người khác tuân giữ pháp luật, giữ quy củ.  Khuyên người ta trồng thiện nhân, đoạn ác tu thiện, đó là ‘cúng hoa’, thì hoa đó mới không uổng phí.  Do đó những sự tiêu biểu pháp này đều nhắc nhở chính mình, tự mình phải làm, phải khuyên người khác làm.  Khóa tụng buổi tối phản tỉnh,  kiểm điểm, thành tích của mình hôm nay ra sao?  Mình có làm được hay không?  Có sốt sắng làm không?  Tự mình thỏa mãn thành tích của mình hay không?  Nếu tự mình cảm thấy không thỏa mãn thì phải sám hối, phải sửa lỗi, ngày mai làm tốt hơn hôm nay, đó gọi là tu hành; khóa tụng sáng tối này của bạn thành tựu công đức chân thật, chẳng phải chỉ làm trên hình thức.  Ngày nay người ta tu hành chỉ có hình thức, chẳng có thật tế, do đó họ không thể thành công.  Câu cuối cùng:

Thị thiện nam tử đẳng, sở nguyện tốc thành, vĩnh vô chướng ngại.

Thì điều nguyện cầu của các thiện nam thiện nữ đó sẽ chóng được thành tựu, vĩnh viễn không bị chướng ngại.

‘Sở nguyện’ là ba nguyện nói ở phần trước, nguyện độ chúng sanh, nguyện thành Phật đạo, nguyện thoát ra khỏi Tam Giới, lục đạo đều có thể thành tựu.  Chúng ta phải ghi nhớ, hiểu rõ việc này.

Hôm nay đã hết giờ, chúng tôi giảng đến đây thôi.

Trong quá trình chuyển ngữ chắc không tránh khỏi thiếu sót, xin các bậc thức giả hoan hỷ phủ chính cho. 

Xin thành thật cám ơn.                                        

Nhóm Diệu Âm, ngày 4 tháng 9 năm 2006

 

[1] Mã Tổ mà dân gian thờ phụng chính là Thiên Hậu, còn gọi là Thiên Phi, hay Thiên Hậu Nguyên Quân. Do bà được dân Phước Kiến, Mân Nam, Quảng Đông thờ phụng như một vị thánh mẫu bảo hộ dân chài nên được xưng tụng là Ma Tổ 媽祖, dần dần danh hiệu này bị người Việt đọc trại thành Mã Tổ.

[2] Luật Thiện Kiến là gọi tắt của bộ luật Thiện Kiến Luật Tỳ Bà Sa (tức là bộ chú giải về Luật Tứ Phần) do ngài Giác Âm (Buddhaghosa) biên soạn, do ngài Tăng Già Bạt Đà La (Sanghabhadra) dịch sang tiếng Hán, được đánh số 1462 trong tập 24 của Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh.

[3] Ý nói: Tất cả đều là huyễn, chỉ có giác ngộ là chân thật. Do từ trong huyễn cảnh có thể siêng tu, dứt bặt đối đãi để đạt đến giác ngộ, cho nên sự giác ngộ ấy có thể gọi là từ trong giấc mộng lớn mà giác ngộ vậy.

Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.