Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

ÐỊA TẠNG BỒ TÁT BỔN NGUYỆN KINH GIẢNG KÝ

Tập 43 (Số 14-12-43)

          Xin mở cuốn Khoa Chú quyển hạ, trang 48, đoạn này giới thiệu đơn giản tác dụng của việc Thế Tôn phóng hào quang, trước hết chúng ta giới thiệu sơ những danh tướng này rồi mới tổng hợp lại.

          Sở vị bạch hào tướng quang, đại bạch hào tướng quang, thụy hào tướng quang, đại thụy hào tướng quang, ngọc hào tướng quang, đại ngọc hào tướng quang, tử hào tướng quang, đại tử hào tướng quang, thanh hào tướng quan, đại thanh hào tướng quang, bích hào tướng quang, đại bích hào tướng quang, hồng hào tướng quang, đại hồng hào tướng quang, lục hào tướng quang, đại lục hào tướng quang, kim hào tướng quang, đại kim hào tướng quang, khánh vân hào tướng quang, đại khánh vân hào tướng quang, thiên luân hào quang, đại thiên luân hào quang, bảo luân hào quang, đại bảo luân hào quang, nhật luân hào quang, đại nhật luân hào quang, nguyệt luân hào quang, đại nguyệt luân hào quang, cung điện hào quang, đại cung điện hào quang, hải vân hào quang, đại hải vân hào quang.

          Như là: Tướng hào quang màu trắng, tướng hào quang màu trắng lớn; tướng hào quang tốt lành, tướng hào quang tốt lành lớn; tướng hào quang ngọc, tướng hào quang ngọc lớn; tướng hào quang màu tía, tướng hào quang màu tía lớn; tướng hào quang màu xanh, tướng hào quang màu xanh lớn; tướng hào quang màu xanh biếc, tướng hào quang màu xanh biếc lớn; tướng hào quang màu đỏ, tướng hào quang màu đỏ lớn; tướng hào quang màu lục, tướng hào quang màu lục lớn; tướng hào quang màu vàng y, tướng hào quang màu vàng y lớn; tướng hào quang mây lành, tướng hào quang mây lành lớn; tia sáng ngàn vòng tròn, tia sáng ngàn vòng tròn lớn; tia sáng vòng tròn báu, tia sáng vòng tròn báu lớn; tia sáng vầng mặt trời, tia sáng vầng mặt trời lớn; tia sáng vầng mặt trăng, tia sáng vầng mặt trăng lớn; tia sáng cung điện, tia sáng cung điện lớn; tia sáng mây biển, tia sáng mây biển lớn.

          Thứ nhất là ‘bạch hào tướng quang’.

Thứ nhất là Tướng hào quang màu trắng.

          Bạch hào là một trong ba mươi hai tướng tốt [của đức Phật], trong chú giải có nói đến nghiệp nhân của hảo tướng này, tuy chỉ có một hai câu nhưng vô cùng quan trọng.  ‘Trong lúc bố thí, có thể làm vừa lòng người nhận’, hai câu này quan trọng.  Chúng ta biết đức Phật dạy hết thảy chúng sanh, dạy những gì?  Dạy bố thí, bố thí chính là xả, chính là buông xuống.  Có thể xả hết thảy thì người đó sẽ thành Phật.  Có xả nhưng không rốt ráo, thì người đó là Bồ Tát, còn phàm phu thì hoàn toàn không biết xả.  Phạm vi của chữ  ‘Xả’ này rộng vô cùng, có thể nói hết thảy pháp mà Thế Tôn giảng trong suốt bốn mươi chín năm đều nói về một việc bố thí, chư vị hãy lắng lòng suy nghĩ về ý nghĩa này.  Bên trong thì phải xả hết thảy phiền não; tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến là những thứ bên trong, khi nào bạn có thể xả hết thì bạn siêu việt luân hồi.  Do đó có thể biết, luân hồi hình thành như thế nào?  Luân hồi là do tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến tạo thành, chẳng do người khác tạo ra, mà do chính mình tạo ra.  Bên ngoài là ngũ dục lục trần, tiền tài, sắc đẹp, tiếng tăm, ăn uống, ngủ nghỉ, sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, tất cả đều phải xả hết.

          Đức Phật dạy chúng ta xả dựa trên đạo lý gì?  Ðức Phật đã giảng đạo lý này rất rõ ràng, rành rẽ, trong suốt bốn mươi chín năm giảng dạy chẳng khi nào, chẳng nơi nào ngài không nói, đặc biệt là trong kinh Bát Nhã, đức Phật dạy chúng ta ‘vạn pháp vô sở hữu, tam tâm bất khả đắc’ (vạn pháp chẳng có cái sở hữu, tam tâm chẳng thể được), câu này đã nói toạc chân tướng sự thật ra rồi.  Hết thảy hiện tượng bên ngoài ngũ dục lục trần đều vô sở hữu, trong kinh dạy ‘Phàm những gì có tướng đều là hư vọng’, ‘Hết thảy pháp hữu vi như mộng huyễn bọt bóng’, bạn làm sao có thể có được?  Bạn mong muốn có được thì sai rồi! Một niệm này vừa khởi lên thì lục đạo liền hiện ra, bạn bèn rơi vào lục đạo luân hồi, chẳng biết hết thảy pháp huyễn có, chẳng phải thật có, đó là giả.  Tam tâm chẳng thể được, ‘tâm quá khứ chẳng thể được, tâm hiện tại chẳng thể được, tâm vị lai chẳng thể được’.  Cái tâm có thể được thì không tồn tại, những pháp có thể được đều chẳng tồn tại, đức Phât dạy bạn cách sống một cuộc sống bình thường, đó chính là vạn duyên buông xuống, thân tâm thế giới đều chẳng thể được, đây là cảnh giới Phật.  Ðây chính là đời sống của một người bình thường, cảnh giới của người bình thường.  Bên trong bạn có một tâm niệm ‘có được’, bên ngoài [bạn nghĩ rằng] có hết thảy những thứ có được, vậy thì bạn đã hoàn toàn mê mất rồi.  ‘Lúc hành bố thí, có thể làm vừa lòng người nhận’, ý này rất sâu, bạn làm thế nào mới làm vừa lòng người khác?  Làm việc bố thí, làm cho người ta giác ngộ, đó mới là làm vừa lòng người khác.  Chẳng phải họ muốn tiền tài, họ được tiền tài thì sẽ thỏa mãn, đó là thỏa mãn lòng tham, sân, si, hoàn toàn trái ngược với chân tướng sự thật.

          Do đó có thể biết, hết thảy hiện tượng được hình thành như thế nào?  Đều do duyên sanh.  Duyên cũng chẳng phải thật, ‘duyên’ là gì?  Sát na sanh diệt, cho nên sanh sanh chẳng trụ[1], đó là duyên.  Ngày nay chúng ta có được thân này là duyên, những người mình gặp, hết thảy sự, vật trong đời này đều là duyên, nhất định phải biết hết thảy duyên đều sanh sanh chẳng trụ, sát na sanh diệt.  Hiểu rõ chân tướng sự thật thì tự nhiên chúng ta sẽ làm giống như Phật, Bồ Tát, chỉ kết thiện duyên với người trong thế gian, tuyệt chẳng kết ác duyên, hết thảy ác duyên phải hóa giải hết, oán gia nên cởi mở chứ đừng nên kết.  Làm sao hóa giải?  Khi gặp oán gia đối đầu đến dày vò mình, mình phải vui vẻ tiếp nhận, chẳng có mảy may oán hận, hơn nữa còn phải sanh lòng hoan hỷ, tại sao vậy?  [Vì họ tạo cơ hội cho mình giảm bớt nghiệp chướng, tạo cơ hội cho mình] trả dứt món nợ này.  Tại sao họ dày vò mình, họ gây phiền phức cho mình, tại sao họ không gây phiền phức cho người khác?  Nghĩ tới đó mình liền nhận biết nhân duyên này; chắc là đời quá khứ mình đã gây khó khăn cho họ, đời này họ mới gây khó khăn cho mình, nhân duyên quả báo tơ hào chẳng sai, chỉ có người hiểu biết, người giác ngộ hoan hỷ tiếp nhận.  Trả dứt nợ rồi thì khi gặp gỡ lần sau sẽ vui vẻ.

          Cho dù sát hại [thì người giác ngộ cũng hoan hỷ tiếp nhận], giống như trong kinh đức Phật kể chuyện vua Ca Lợi bị lóc thịt, chuyện này xuất xứ từ kinh Niết Bàn, đức Phật kể rất rõ ràng.  Có một vị Bồ Tát tu hành trong núi, chẳng gây chướng ngại cho ai, khi vua Ca Lợi đi săn, vua đi ngang chỗ Bồ Tát tu hành.  Bồ Tát đang tĩnh tọa, nhà vua dẫn theo rất nhiều người, trong đó có không ít cung nữ, họ nhìn thấy Bồ Tát trang nghiêm, thanh tịnh, từ bi nên hoan hỷ đến thỉnh giáo Bồ Tát, rất nhiều người vây quanh Bồ Tát.  Nhà vua nhìn thấy bèn không vui, còn nổi giận và ra lệnh lăng trì Bồ Tát, lăng trì nghĩa là dùng dao xẻ từng miếng thịt xuống.  Bồ Tát chẳng có mảy may oán hận, ngài thành tựu được nhẫn nhục Ba La Mật rốt ráo, hơn nữa Bồ Tát còn phát nguyện, tương lai khi thành Phật thì ngài sẽ độ ông vua này trước nhất.  Phật nói lúc đó vị Bồ Tát bị vua Ca Lợi lóc thịt chính là tiền thân của đức Phật Thích Ca Mâu Ni.  Vua Ca Lợi là ai?  Chính là tôn giả Kiều Trần Như.  Lần sau khi hai người gặp lại thì quan hệ giữa hai người rất tốt, oán kết đã được cởi mở.  Người thế gian gặp chút xíu chuyện gì không vừa ý thì ấm ức trong lòng, đó là chuyện phiền phức!  Ðời đời kiếp kiếp, oan oan tương báo chẳng bao giờ dứt, vô cùng đáng thương.  Tại sao lại làm những chuyện khờ dại này?  Nhẫn Nhục tiên nhân bố thí những gì cho vua Ca Lợi?  Bố thí từ bi, nhẫn nhục, bố thí thiền định, trí huệ, đó mới là ‘làm vừa lòng người’.  [Làm vậy nên] được tướng bạch hào.  Câu thứ hai:

          Tướng đại bạch hào quang.

Tướng hào quang màu trắng lớn

          Ý nghĩa của chữ ‘Ðại’ còn thù thắng hơn phía trước, mười sáu cặp trong ba mươi hai câu này, câu sau trong mỗi cặp đều thêm chữ ‘đại’, ý nghĩa đều giống nhau, ý nghĩa của chữ ‘đại’ là ‘càng vượt trội hơn’.  Thứ ba:

          ‘Thụy hào tướng quang’

Tướng hào quang tốt lành

          ‘Thụy’ là tường thụy[2] (cát tường, tốt lành), thời xưa dùng ngọc để làm vật tiêu biểu cho sự cát tường, tốt lành, ngọc là một loại đá quý nên người xưa thường đeo ngọc, bất kể là người nam hay nữ.   Và cũng dùng ngọc để làm tín vật, ngày nay gọi tín vật là bằng cứ, chứng cứ.  Ở đây tiêu biểu lục đạo thừa sức oai thần của Ðịa Tạng Bồ Tát, và cũng là Ðịa Tạng Bồ Tát lấy đó làm bằng cứ cho chúng sanh trong lục đạo, noi theo lý luận và phương pháp của Ðịa Tạng Bồ Tát để tu hành thì sẽ siêu việt tam đồ, siêu việt lục đạo, đây là chứng cứ cát tường, tốt lành nên gọi là ‘thụy hào tướng quang’.

          ‘Ðại thụy hào tướng quang’

          Không cần phải nói nữa, đây là tướng thù thắng nhất trong các thụy hào tướng quang, nên thêm chữ ‘đại’.  Thứ năm:

          ‘Ngọc hào tướng quang’

          Tướng hào quang ngọc

          Tiêu biểu cho chúng sanh trong lục đạo.  Người xưa vô cùng coi trọng ‘Ngọc’, bởi lẽ tánh chất của ‘ngọc’ ôn hòa, nhuận trạch, gọi là đức ôn nhuận; [ngọc được] mài dũa có thể làm ra rất nhiều dụng cụ.  Phàm phu trong lục đạo, tánh tình hấp tấp nên thời xưa quân tử đeo ngọc, ngọc là vật trân quý, khi bạn đeo trên người lúc nào cũng phải giữ gìn nó nên bạn không thể vọng động, lao chao, dụng ý của sự đeo ngọc là vậy.  Trên tay bạn đeo chiếc vòng ngọc, nếu bạn nổi giận lấy tay đập bàn thì vòng ngọc liền bể nát, dụng ý là như vậy.  Dạy bạn ôn hòa, nhu mì như ngọc, tránh hấp tấp, nóng nảy, ngọc có ý nghĩa như vậy.  ‘Ngọc hào tướng quang’ tiêu biểu cho phàm phu trong lục đạo, buông xả sự nóng nảy trong căn nhà lửa, nhà lửa chính là lục đạo, xả bỏ tập khí không tốt trong lục đạo, tăng trưởng tánh đức.  Ðức năng trong tự tánh không gọi là tập khí, tại sao?  Vốn đã đầy đủ, nó chẳng hình thành từ sự huân tập.  Phàm phu gọi là tập khí, tập khí là do huân tập mà thành, chẳng phải bản tánh, đó gọi là tập tánh.  Khổng lão phu tử có câu ‘tánh tương cận, tập tương viễn’ (Về  bản tánh thì giống nhau, nhưng do được giáo dục (tập luyện, huấn luyện, tu tập) mà trở thành khác nhau), tánh là Chân Như bản tánh, Chân Như bản tánh của mọi người đều giống nhau, Phật pháp nói càng thấu triệt hơn; nhưng tập tánh của mỗi người chẳng giống nhau.  Không những xa lìa bản tánh của chính bạn, tập tánh của bạn cũng hoàn toàn khác với [tập tánh của] hết thảy đại chúng, dù cho ý chí của các bạn hợp nhau nhưng thời gian [hợp nhau] cũng sẽ không lâu dài.

          Ngạn ngữ thường nói ‘Hoa chẳng tươi hết một trăm ngày’, đây là thí dụ, hoa có tốt tới đâu cũng không thể duy trì suốt ba tháng được.  Dùng thí dụ thiển cận này để nói rõ sự giao tiếp giữa người với nhau, lúc [quan hệ] tốt đẹp cũng giống như lúc hoa nở vậy.  [Quan hệ giữa] người [với nhau] chẳng kéo dài tới ngàn ngày, ngàn ngày là ba năm, ở lâu rồi thì thói quen [tốt xấu] gì cũng đều lộ ra, lúc mới gặp mặt thì không biết tập khí của bạn, rất cung kính bạn, vậy thì còn khá!  Ở chung lâu rồi thói quen tật xấu gì cũng lộ ra, tâm cung kính gì cũng mất hết, chúng ta phải hiểu đạo lý này.  Làm sao mới có thể giữ được tốt đẹp lâu dài?  Phải kiến tánh, khi tánh đức tỏ lộ thì sẽ có thể giữ được tốt đẹp lâu dài, nó chẳng phải là tập khí, mà là bản tánh.  Ðại thánh đại hiền thế gian và xuất thế gian, kiến giải lời nói của họ thật sự có học vấn, họ dạy chúng ta giao tiếp giữa người và người với nhau phải dùng thái độ như thế nào?  Phải lợt lạt, [ngạn ngữ có câu] ‘sự giao thiệp giữa quân tử với nhau lạt như nước’, lợt lạt thì mới có thể giữ được lâu dài.  Thân cận quá mức thì tương lai nhất định sẽ xa cách, hời hợt, đó là đạo lý tự nhiên, chúng ta phải biết.  Do đó sự tiêu biểu của ‘ngọc hào tướng quang’ dạy chúng ta buông bỏ tập khí, vun bồi thiên tánh, thiên tánh chính là tánh đức, xa lìa lục đạo, khế nhập vào cảnh giới thánh hiền.  Câu thứ bảy:

          ‘Tử hào tướng quang’

Tướng hào quang màu tía

          Màu tía ở đây tiêu biểu ‘tạp loại chúng sanh được lợi ích’.  Phạm vi của tạp loại vô cùng rộng lớn, như phía trước có nói tập khí của hết thảy chúng sanh chẳng giống nhau, nhiễm ô không giống nhau, tạo nghiệp khác nhau, quả báo khác nhau, chỉ cần nhìn thấy hào quang của Phật liền được lợi ích.  Lợi ích lớn nhỏ, dày mỏng cũng tùy theo chúng sanh mà sai khác.  Kinh điển nói về nhân duyên khác nhau rất nhiều, chúng ta phải lắng lòng tìm hiểu.  Câu thứ chín:

          ‘Thanh hào tướng quang’

Tướng hào quang màu xanh

          Màu xanh này tiêu biểu cho địa ngục.  Tại sao dùng màu xanh để tiêu biểu địa ngục?  Trong phần chú thích cũng có nói màu này tiêu biểu địa ngục Hắc Nghiệp.  [Chúng sanh trong] địa ngục này tạo tội cực nặng.  Tội gì cực nặng?  Tội đoạn dứt pháp thân huệ mạng của hết thảy chúng sanh nặng nhất.  Khi bạn giết một người, trong Phật pháp nói, nếu người đó tội nghiệp không nặng lắm thì trong vòng bốn mươi chín ngày liền đầu thai trở lại, trong lục đạo xả thân thọ thân là một hiện tượng rất bình thường.  Do đó tội giết sanh mạng của một người không nặng lắm, tội đoạn huệ mạng của người mới nặng.  Nói một cách dễ hiểu một chút, gây chướng ngại cho người cầu đạo, chướng ngại người ta học Phật, phá hoại cơ duyên học Phật của đại chúng thì tội đó chính là đoạn pháp thân huệ mạng của chúng sanh, tội này mới nặng.  Nặng ở chỗ nào, chư vị nhất định phải biết rõ ràng.  Sanh mạng mất đi thì có lại rất nhanh, có thể khi xả tấm thân này được thân khác càng tốt hơn thân này, trang nghiêm hơn thân này.  Kẻ hại người tạo tội nghiệp, kẻ bị hại chẳng tạo tội nghiệp, kẻ giết người có tội, kẻ bị giết chẳng có tội gì cả?  Do đó kẻ bị hại, bị giết khi chuyển thế phước báo còn lớn hơn phước đời trước.  Những chuyện này rất nhiều, nhưng hơn phân nửa kẻ giết người khi chết đi sẽ đọa ác đạo, quả báo sẽ không tốt hơn đời này.  Do đó thân người, thân trong lục đạo, sanh mạng rất dễ được, nhưng cơ hội học Phật thì khó lắm, chẳng dễ gì gặp được.  Kệ khai kinh có câu ‘trăm ngàn muôn kiếp khó gặp được’, đó là sự thật.

          Kẻ ấy gặp được cơ hội hiếm hoi này nhưng bạn lại phá hoại cơ hội đó, bạn gây chướng ngại cho họ, bạn nghĩ coi tội này nặng hay không?  Nếu kẻ ấy nghe pháp, thật sự hiểu rõ ràng, rành rẽ, sốt sắng tu học thì có thể trong đời này vãng sanh bất thoái thành Phật.  Bạn cắt đứt cơ hội của người ấy trong đời này có thể vĩnh viễn thoát khỏi luân hồi, thành Phật thành Tổ, tội đó nặng không?  Giả sử chúng ta thật sự hiểu rõ đạo lý, hiểu rõ chân tướng sự thật này, chuyện xấu gì đều có thể làm nhưng nhất định sẽ không gây chướng ngại cho người tu đạo, đặc biệt là [người] niệm Phật.  Vì tu học các pháp môn khác trong đời này rất khó vượt thoát luân hồi, nhưng phước báo nhân thiên thì rất dễ đạt được, chỉ có pháp môn niệm Phật cầu sanh Tịnh Ðộ trong đời này bạn có thể vĩnh viễn vượt thoát luân hồi, viên thành Phật đạo.  Cơ hội gặp được pháp môn này khó khăn vô cùng.  Bạn làm mất cơ hội này của người ta thì tội nghiệp ấy sẽ rất nặng.

          Khi đọa địa ngục, chúng sanh ở địa ngục nhìn thấy hào quang của Phật, nói cho chư vị biết [chúng sanh ở địa ngục nhìn thấy] hào quang đó màu xanh.  Mỗi loài chúng sanh nhìn thấy hào quang Phật sẽ thấy màu sắc khác nhau, cũng vậy mỗi loài chúng sanh nhìn thấy tướng Phật cũng sẽ khác nhau.  Năm 1982, Thánh Nhất pháp sư ở Hương Cảng đi triều bái núi Phổ Ðà, nhóm họ rất ít, hình như gồm ba, bốn người, khi đến động Phạn Âm họ ở cửa động lễ lạy cầu mong được thấy Quán Âm Bồ Tát.  Họ gồm có ba người, đúng rồi, Thánh Nhất pháp sư nói với tôi, đại khái thầy lạy chừng nửa giờ thì thấy Quán Âm Bồ Tát hiện ra, ba người đều nhìn thấy nên vô cùng hoan hỷ.  Sau khi ra về ba người trò chuyện trao đổi lẫn nhau coi mỗi người nhìn thấy Quán Âm Bồ Tát ra sao?  Thánh Nhất pháp sư nhìn thấy Quán Âm Bồ Tát thân màu hoàng kim, đội mão Tỳ Lô, tướng ấy giống như tượng Ðịa Tạng vậy, Ðịa Tạng Bồ Tát đội mão Tỳ Lô, thân màu hoàng kim, có hào quang màu vàng.  Ba người đều là người xuất gia, một người thì nhìn thấy thân tướng như Bạch Y đại sĩ, còn người kia thì nhìn thấy tướng một vị tỳ kheo, tức là tướng người xuất gia.  Ba người cùng lạy một lúc, đều nhìn thấy cùng lúc, thấy tướng [Bồ Tát Quán Âm] hiện ra đều khác nhau.  Từ chuyện này, bạn sẽ hiểu đức Phật phóng hào quang làm gì có nhiều màu sắc khác nhau!  Cùng một hào quang ấy, mỗi loài chúng sanh nhìn thấy đều khác nhau.  Phật hiện tướng cũng chỉ là một tướng nhưng mỗi loài chúng sanh nhìn thấy cũng sẽ khác nhau.  Ðức Phật nói ra cũng chỉ là một âm thanh, mỗi loài chúng sanh sẽ nghe thành âm thanh khác nhau.  Ðạo lý này trong kinh đức Phật cũng đã giảng rất rõ ràng, ‘cảnh tùy tâm chuyển’, đức Phật thị hiện một cảnh giới, mỗi chúng sanh có tâm niệm khác nhau, mỗi người chuyển đổi thành cảnh giới tự thọ dụng của riêng mình.  Nhưng bất luận là nhìn thấy hình tướng như thế nào, màu sắc gì, chẳng có ai không được lợi ích, mọi người đều có lợi ích.  Câu thứ mười:

          Bích hào tướng quang

          Tướng hào quang màu xanh biếc

          Bích là màu xanh đậm (xanh biếc), màu xanh thì lợt, còn xanh biếc thì đậm, chúng ta gọi là màu lục bích.  Trong phần chú thích có nói ‘tiêu biểu hạng lợi căn trong địa ngục, như Ðiều Ðạt ở trong ngục mà cảm thấy vui thích như đang ở trong cõi trời Tam Thiền’, Ðiều Ðạt là Ðề Bà Ðạt Ða, Ðề Bà Ðạt Ða tạo tội nghiệp rất nhiều, tội nặng vô cùng nên đã đọa địa ngục.  Nhưng chúng ta biết Ðề Bà Ðạt Ða là Bồ Tát thị hiện, ngài chẳng phải là phàm phu, cũng là chư Phật Như Lai ứng hóa trong thế gian, giống như đóng kịch, ngài đóng vai kẻ ác.  Ngài đóng vai này rất giống thật, tạo nhân ác nên cũng cảm lấy quả báo ác, phải đọa địa ngục.  Ngài đọa địa ngục thật, trong địa ngục có thọ tội hay không?  Chẳng có, [ngài cảm thấy] ‘vui như Tam Thiền’.  Trong các cõi Tứ Thiền thiên thì vui sướng nhất là cõi Tam Thiền.  Ðây là cách dạy chúng sanh từ mặt trái, thị hiện cho người thế gian thấy, [dạy họ] không thể làm việc ác, làm ác thì nhất định sẽ chịu quả báo khổ.  Vua A Xà Thế vô ngục, vua A Xà Thế cũng là Bồ Tát thị hiện, lúc lâm chung ngài sám hối kịp lúc nên lúc tướng địa ngục hiện ra vua chẳng bị đọa.

          Ông Trương Thiện Hòa đời Ðường ở Trung Quốc là một thí dụ điển hình, mọi người đều biết, lúc lâm chung ông ta cũng thấy cảnh giới địa ngục hiện lên.  Ở đây, chú giải nói ‘tạm vào liền ra’, tạm vào chẳng phải là thật vào, tướng địa ngục hiện lên họ nhìn thấy, vừa nhìn thấy liền lập tức sám hối.  Tăng thượng duyên của Trương Thiện Hòa rất tốt, ngay lúc đó gặp được một vị pháp sư đi ngang, nghe tiếng ông la hét kêu cứu.  Vị pháp sư này bước vào coi, và hỏi duyên cớ?  Ông Trương làm nghề giết trâu, ông nhìn thấy rất nhiều người đầu trâu đòi mạng ông.  Vị pháp sư này liền thắp một cây nhang đưa cho ông, dạy ông lớn tiếng niệm A Di Ðà Phật, niệm được vài câu A Di Ðà Phật, ông nói những người đầu trâu đều biến mất, A Di Ðà Phật đã tới [tiếp dẫn] ông vãng sanh Cực Lạc thế giới. Do đó sức mạnh của sự sám hối không thể nghĩ bàn.  Ðây là nói những chúng sanh có căn tánh lanh lợi, tuy đã tạo tội địa ngục, nhưng biết sám hối, biết quay về, đã quay về nhanh chóng.  Câu thứ mười ba:

          Hồng hào tướng quang.

          Tướng hào quang màu đỏ

            [Màu đỏ] tiêu biểu cõi súc sanh.  Chúng ta biết có nhiều chúng sanh trong cõi súc sanh cũng biết tu hành, người xưa có viết một cuốn sách chuyên kể những chuyện súc sanh tu hành và được quả báo thiện.  Lúc trước Hoằng Hóa Xã của Ấn Quang đại sư đã in chẳng ít, [cuốn đó tựa là] “Vật Do Như Thử”, có lẽ các bạn đồng tu đã coi qua cuốn sách này, trong đó ghi toàn là những chuyện súc sanh niệm Phật.  Ðàm Hư pháp sư lúc trước ở Hương Cảng giảng khai thị trong Phật thất có kể một chuyện, một con gà trống ở chùa Ðầu Ðà, Ôn Châu, ngài kể chuyện này, đây là một chuyện thật.  Có người đem một con gà trống thả trong chùa, linh tánh của con gà này rất nhạy bén, mỗi ngày đều theo đại chúng tụng hai khóa sáng tối, tụng niệm xong nó cũng đi ra theo mọi người.  Một ngày nọ tụng xong nó không theo mọi người ra ngoài, mọi người ra hết, nó còn nhiễu Phật trong chánh điện, thầy Hương Ðăng nói với nó, kêu nó đi ra.  Con gà này cũng chẳng nghe theo, đứng trong chánh điện ngước đầu nhìn tượng Phật, kêu lên ba tiếng rồi chết, đứng mà vãng sanh.  Lúc đó Ðế Nhàn lão pháp sư là phương trượng chùa Ðầu Ðà, đây là một chuyện súc sanh vãng sanh.  Súc sanh nhìn thấy hào quang Phật màu hồng.  Câu kế:

          Lục hào tướng quang

Tướng hào quang màu lục    

          Màu lục, trong chú giải ghi ‘tiêu biểu chung cho địa ngục, ngạ quỷ cùng nhập pháp lưu’, màu lục tiêu biểu cho tam ác đạo.  Chúng sanh trong tam ác đạo nhìn thấy Phật quang có màu lục, khi [chúng sanh trong ác đạo] nhìn thấy hào quang Phật đều có thể thoát ly ác đạo.  Chúng ta biết rõ những súc sanh này đều là người tu hành đời quá khứ, lúc lâm chung khởi lên một niệm sai lầm bèn đọa vào cõi súc sanh; súc sanh ngu si, [những người này] không thể khởi chánh niệm lúc lâm chung nên đọa vào ác đạo.  Sau khi đọa vào ác đạo nhưng rốt cuộc thiện căn cũng còn sâu đậm, họ không phải không biết hiện giờ mang thân súc sanh, nhưng vẫn không quên niệm Phật, do đó vẫn còn duyên phận này, vẫn có thể tiếp cận đạo tràng, vẫn có thể nhìn thấy tượng Phật, nghe tới âm thanh của Phật.  Súc sanh nhìn thấy hào quang của Phật có màu lục.  Kế tiếp là câu thứ mười bảy:

          Kim hào tướng quang.

          Tướng hào quang màu vàng y

          Rất nhiều người trong chúng ta thấy hào quang Phật có màu vàng, màu vàng kim, [người có] căn tánh này không những lanh lợi mà còn rất sâu đậm, trong kinh Phật gọi là thiện căn, phước đức, nhân duyên chín muồi.  Chú giải ghi “tiêu biểu ngạ quỷ”, chư vị phải ghi nhớ, ngạ quỷ không nhất định là chỉ cõi ngạ quỷ, có thể coi là nghiệp nhân ngạ quỷ, nghiệp nhân của ngạ quỷ là tham lam.  ‘Tuy chôn vùi lâu trong ác thú, nhưng Phật tánh không mất’, chúng ta có thể khẳng định hết thảy chúng sanh địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh đều có Phật tánh, đây là điều mà đức Phật thường nói trong kinh.  Hết thảy chúng sanh từ vô lượng kiếp đến nay đều đã từng học Phật, đều đã từng nghe pháp, đều đã từng thân cận chư Phật Như Lai, chỉ là không nghe lời dạy, vẫn tùy thuận tập khí của mình, vẫn tạo nghiệp lục đạo luân hồi như cũ, chẳng may đọa vào tam đồ.  Những chủng tử đã huân tập trong vô lượng kiếp đến nay rất nhiều, thiện căn vẫn tương đối sâu dày, tuy đọa ác đạo, gặp được duyên Phật, thiện căn sẽ hiện ra.  Ðặc biệt là pháp môn niệm Phật, vãng sanh tây phương Cực Lạc thế giới, [chúng sanh cõi] quỷ và súc sanh vãng sanh cũng sẽ thấy hào quang màu vàng, cũng sẽ thấy A Di Ðà Phật đến tiếp dẫn.  Nghiệp chướng tam ác đạo [của chúng sanh] trong những cõi này nặng nề, rất khó giác ngộ, nhưng một khi giác ngộ thì chẳng thua gì cõi người.  Ðức Phật A Di Ðà độ chúng sanh là độ chín pháp giới chúng sanh, trong kinh chúng ta cũng thấy rất rõ ràng cho nên nói trong tam ác đạo, nếu vãng sanh tây phương Cực Lạc thế giới, thấy hào quang của A Di Ðà Phật chiếu soi cũng sẽ là màu vàng.  Kế tiếp là câu thứ mười chín:

          Khánh vân hào tướng quang

Tướng hào quang mây lành

          Khánh vân, người Trung Quốc cũng gọi là ‘Cảnh Vân’.  Chú giải nói “Ðó tiêu biểu cho điềm lành ‘lìa khỏi ngũ trụ phiền não, tỏ lộ ngũ phần pháp thân’”.  Khánh vân cũng là mây màu, giống như cầu vồng buổi sáng và buổi chiều vậy, đó gọi là khánh vân.  Nó có rất nhiều màu, tiêu biểu xa lìa ngũ trụ phiền não.  Ngũ Trụ phiền não là gì?  Ðây là danh từ Phật học mà cũng là thường thức phổ thông.  Trên thật tế chính là ‘Kiến Tư phiền não, Trần Sa phiền não, Vô Minh phiền não’, thông thường chúng ta chia phiền não thành ba loại.  Nói ngũ trụ cũng là ba thứ này mở rộng ra, Kiến Tư phiền não, [hay gọi là] Kiến phiền não là một trụ, Kiến Hoặc, trong Phật pháp gọi là ‘Kiến Nhất Thiết Xứ Trụ Ðịa’, nó sanh ra từ Phân Biệt chứ chẳng phải có sẵn, Kiến là một trụ.  Trong Tư Hoặc có ba trụ, có Dục Giới, Sắc Giới, Vô Sắc Giới, đây là Tư Hoặc, cả ba đều gọi chung là ‘Ái Trụ Ðịa’, phiền não này có sẵn khi sanh ra, là tập khí từ vô thỉ kiếp đến nay.  Tư Hoặc là gì?  Là ‘tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến’, đây là tập khí tích lũy từ nhiều đời nhiều kiếp tới nay, gọi là phiền não có sẵn khi sanh ra.  Hợp lại thành tứ trụ, Kiến là một trụ, Tư có Dục Giới, Sắc Giới, Vô Sắc Giới, bốn trụ này cộng lại là phiền não chướng, thông thường chúng ta cũng gọi là Kiến Tư phiền não.  Sau đó là Trần Sa, Vô Minh. Trần Sa cộng với Vô Minh thành một trụ gọi là Vô Minh Trụ Ðịa, cộng lại là Ngũ Trụ.  Vô Minh Trụ Ðịa là cội gốc, thuộc về Sở Tri Chướng, bốn trụ đầu là Phiền Não Chướng, Trụ thứ năm Trần Sa và Vô Minh hợp lại gọi là Sở Tri Chướng, cũng gọi là Ngũ Trụ Vô Minh, hay Ngũ Trụ Phiền Não.  Do đó có thể biết nếu phá hết Ngũ Trụ thì đạt đến quả địa Như Lai.  A La Hán chỉ phá bốn trụ, nên siêu việt Dục Giới, Sắc Giới, và Vô Sắc Giới, còn Trần Sa và Vô Minh chưa phá, Vô Minh Trụ Ðịa chưa phá do đó họ không thể thoát Tam Giới.  Khi phá Trần Sa, Trần Sa thí dụ cho ‘nhiều’, Vô Minh chính là căn bản.  Phá một phẩm Căn Bản Vô Minh thì siêu việt thập pháp giới, bắt đầu phá Sở Tri Chướng.  Ở đây dùng Khánh Vân Hào Tướng Quang để tiêu biểu pháp, lìa Ngũ Trụ phiền não, hiển lộ Ngũ Phần pháp thân, cảnh giới này trong kinh Hoa Nghiêm gọi là Viên Giáo Sơ Trụ Bồ Tát, họ nhập vào cảnh giới này.  Thứ hai mươi mốt:

          Thiên Luân Hào Quang

          Tia sáng ngàn vòng tròn

          Ý nghĩa này chẳng giống phía trước, hào quang nói phía trước chẳng có tướng hình bánh xe, trong Chú Giải gọi là Tán Quang (hào quang phân tán), hào quang hình bánh xe viên mãn hơn tán quang, nó tiêu biểu pháp viên mãn, lợi ích cho chúng sanh căn tánh viên đốn.  Trong căn tánh của những chúng sanh học Phật, căn tánh quý nhất, hiếm nhất là căn tánh viên đốn; chúng ta có phải thuộc loại căn tánh này không?  Không phải, nếu là căn tánh viên đốn thì tu học sẽ chẳng khó khăn như vậy, vừa tiếp xúc đến liền khai ngộ, đúng như câu ‘nghe một, ngộ ngàn’, ngộ nhập vào cảnh giới của Phật rất dễ dàng.  Trong hết thảy căn tánh, những người có căn tánh viên đốn rất ít, căn tánh này chính là hạng người Thượng Thượng Thừa như Ðàn Kinh đã nói đến, càng hiếm hơn là [căn tánh] Ðại Thừa.  Chúng ta nghe xong trong tâm liền vô cùng ngưỡng mộ, có phương pháp gì vun bồi cho chúng ta trở thành căn tánh viên đốn?  Có chứ không phải là không có.  Vấn đề là bạn chịu tiếp nhận hay không, bạn có chịu y giáo phụng hành hay không, phương pháp đó là gì?  Huân tập, tất cả căn tánh của chúng sanh đều có được từ sự huân tập, Phật pháp cũng chẳng ngoại lệ, Phật pháp do nhân duyên sanh.  Làm thế nào huân tập?  Phải thường đọc tụng kinh điển Ðại Thừa viên đốn, bạn thường đọc tụng, dần dần không hay không biết bạn trở thành căn tánh viên đốn.  Khi đọc tụng bạn phải hiểu rõ, sau khi hiểu rồi thì phải y giáo tu hành, hoàn toàn thực hiện những đạo lý, phương pháp, cảnh giới được nói trong kinh điển vào đời sống thì dần dần bạn sẽ trở thành căn tánh viên đốn mà bạn cũng không biết.  Ðó cũng như việc nói ở trên ‘thuyết viên pháp, bị viên căn, nhập viên môn, hoạch viên ích’ (thuyết pháp viên đốn, đầy đủ căn tánh viên đốn, vào cửa viên đốn, gặt được lợi ích viên đốn).  Nhà Phật thường nói ‘Người viên đốn thuyết pháp, chẳng pháp nào không viên đốn’, thuyết pháp như vậy, nghe pháp cũng như vậy, ‘người viên đốn nghe pháp, chẳng pháp nào không viên đốn; pháp người viên đốn tu, chẳng pháp nào không viên đốn’.

          Quan trọng là phải biết cách học, bạn biết học mới được, nếu bạn không biết học thì để ngay trước mắt bạn cũng chẳng học được.  Pháp gì là pháp viên đốn?  Nói cho chư vị biết, pháp nào cũng viên đốn.  Không những hết thảy những pháp mà đức Phật đã nói là pháp viên đốn, hết thảy những pháp thế gian cũng viên đốn, một viên đốn thì hết thảy đều viên đốn.  Nếu bạn nói bộ kinh này là Viên Giáo Ðại Thừa, bộ kinh kia là Biệt Giáo thì bạn sai rồi, bạn chưa viên đốn.  Làm sao mới viên đốn?  Lìa hết thảy phân biệt, chấp trước thì sẽ viên đốn.  Viên là chân, và cũng chính là ‘chân tướng sự thật’, ‘chân thật chi tế’ mà tôi thường nói; trong Hiển Giáo, Mật Giáo gọi là ‘đại viên mãn’, đó là pháp viên mãn.  Ðem pháp viên mãn rồi khởi phân biệt thì pháp đó trở thành không viên, đây là việc mà chúng ta tạo thành, tuyệt đối không phải pháp có thiên, có viên.  Bạn nói “pháp có cạn, có sâu” thì đó là sai lầm; nói “pháp có cao, có thấp”, thì bạn hoàn toàn sai lầm.  Pháp là bình đẳng, pháp tuyệt đối không có thiên và viên, tuyệt đối không có cao và thấp, tuyệt đối không có cạn và sâu.  Do đó kinh Hoa Nghiêm nói rất hay ‘một là tất cả, tất cả là một’.  Sở chứng của Sơ Trụ Bồ Tát thì cạn, sở chứng của Ðẳng Giác Bồ Tát thì sâu, cạn sâu chẳng hai.  Trong sở chứng của Sơ Trụ Bồ Tát có pháp của bậc Ðẳng Giác, trong pháp tu của Ðẳng Giác Bồ Tát có pháp của bậc Sơ Trụ, như vậy mới gọi là ‘viên’.  Chúng ta phải hiểu ý nghĩa này, nhất định phải thật sự áp dụng vào trong đời sống, thật sự luyện tập.  Luyện cái gì?  Lìa hết thảy vọng tưởng, chấp trước.  ‘Thiên Luân hào quang’ có tướng hình bánh xe.  Trong phần chú thích có nói ‘Bánh xe có ngàn căm tiêu biểu ‘nhất niệm thiên như’ trong lục đạo, cho đến hiển rõ viên chuyển vô ngại’, vô ngại là cảnh giới của kinh Hoa Nghiêm.  ‘Di luân châu táp’ (trọn khắp, không xen hở) tức là tận hư không, trọn khắp pháp giới là một thể hoàn chỉnh, vậy mới là đại viên mãn, mới là hào quang luân tướng.  Phần sau nói về tướng thù thắng sai khác trong luân tướng.  Thứ hai mươi ba:

          Bảo Luân hào quang

Tia sáng vòng tròn báu

          ‘Bảo luân’ có cùng ý nghĩa như ‘thiên luân’, trong đó thêm một chữ ‘Bảo’, câu này quan trọng ở chữ ‘bảo’.  Trong sự tiêu biểu pháp, [chữ ‘bảo’] tiêu biểu ‘kẻ có căn tánh viên mãn, đầy đủ trong ngũ đạo’.  Do đó mới biết căn tánh viên đốn là của quý, tại sao nói đó là của báu?  Khi họ tiếp xúc đến Phật pháp, trong đời này tuyệt đối thành tựu.  Phần đông khi đại chúng tiếp xúc đến Phật pháp chưa chắc có thể thành tựu trong một đời, nguyên nhân là vì sao?  Vì căn tánh chẳng giống nhau, duyên phận chẳng giống nhau.  Tự mình đầy đủ căn tánh viên đốn, khi gặp duyên phận tốt sẽ nhất định thành tựu.  Duyên chỗ này là Ðịa Tạng Bồ Tát, kinh Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện, duyên này thù thắng vô cùng.  Nếu có thể tu học noi theo lý luận, phương pháp, cảnh giới của kinh này thì sẽ có thể thành Phật thành Tổ, không những siêu việt lục đạo mà còn siêu việt thập pháp giới.  Ðây chính là người có đại căn tánh, căn tánh lanh lợi như Lục Tổ Ðàn Kinh đã nói.  Người có căn tánh này sau khi tiếp xúc liền có thể tin, có thể hiểu, có thể làm theo.  Nếu không phải là căn tánh này, sau khi tiếp xúc đôi khi họ sẽ không tin, hoặc đã tin nhưng không hiểu, hiểu rồi nhưng không chịu làm theo.  Dù làm nhưng lúc đó còn nghi ngờ, lo lắng, làm không thoải mái cho lắm.  Họ vẫn rơi vào vọng tưởng chấp trước, quả báo của họ được đương nhiên sẽ không giống nhau.  Ở đây chúng ta có thể thấy người có căn tánh viên đốn là người như thế nào?  Họ nhìn sự việc rõ ràng, rành rẽ, họ làm việc thoải mái, nhanh nhẹn, đem lợi ích cho chúng sanh, tự mình thanh tịnh vô vi, chẳng nhiễm mảy may, họ có thái độ như vậy.  Thứ hai mươi lăm:

          Nhật luân hào tướng 

          Tia sáng vầng mặt trời

          Chỗ này cũng có vài câu rất hay, nói Bồ Tát ‘từ lúc mới phát tâm vì độ chúng sanh chẳng bao giờ ngưng nghỉ, giải đãi.  Ðến thế gian, trụ ngũ thần thông, ở nơi hư không, phóng trí huệ quang minh, diệt tà kiến hý luận’, những câu này đều nói từ cảnh giới [của Bồ Tát], họ đích thật chẳng giống như phàm phu thông thường.  Tâm địa càng thanh tịnh thì trí huệ càng viên mãn, đối với nghiệp nhân quả báo của vạn sự vạn pháp thế gian, xuất thế gian đều thấy rõ ràng.  Tuy thấy rõ ràng, Bồ Tát ứng hóa nơi thế gian vẫn tùy duyên y như cũ.  Giống như câu ‘hằng thuận chúng sanh, tùy hỷ công đức’ dạy trong Phổ Hiền Hạnh Nguyện, quý vị thích làm như thế nào thì làm như vậy, thiện nhân sẽ cảm thiện quả, ác nhân sẽ cảm ác báo, nhân duyên quả báo nhất định sẽ tương ứng lẫn nhau, nhất định sẽ không sai.  Chư Phật, Bồ Tát đối với hết thảy chúng sanh, nhất định sẽ chẳng có mảy may miễn cưỡng, xen tạp trong đó.  Sự hằng thuận này chúng ta thật chẳng dễ làm được, chúng ta xử sự, đãi người, tiếp vật đều thêm một chút ý tứ của mình, thêm vào một chút ý tứ của mình thì không gọi là tùy thuận.  Tùy thuận là thuận theo tự nhiên, chẳng thêm mảy may ý tứ gì cả, do đó Phật giảng kinh thuyết pháp chỉ là khuyên cho bạn nghe, khi bạn ngộ rồi thì bạn sẽ tùy thuận theo chỗ ngộ của bạn; khi mê thì thuận theo chỗ mê của bạn.  Phật, Bồ Tát chẳng thêm một ý tứ gì hết.  Nếu bạn hỏi vì sao?  Ðạo lý này rất sâu.  Chúng ta phải lắng lòng để hiểu, phải sốt sắng học theo, như vậy mới gọi là học Phật, học giống y như Phật, rồi sau đó được đại tự tại trong đời sống.  Thứ hai mươi bảy:

          Nguyệt luân hào tướng

          Tia sáng vầng mặt trăng

          Ở đây tiêu biểu Bồ Tát, ‘Cụ trí đoạn nhị đức, cố năng trừ ngũ đạo nhiệt não, ích tứ chúng thanh lương.  Nhiên thử nhị luân’ (Đầy đủ Trí đức và Đoạn đức, nên có thể diệt trừ năm thứ nhiệt não, làm cho tứ chúng thanh lương.  Hai luân đó), ‘nhị luân’ nghĩa là nhật, nguyệt.  ‘Chánh biểu đại sĩ quyền thật nhị trí, chiếu lý giám cơ dã’ (tiêu biểu cho hai trí Quyền và Thật của đại sĩ, soi rõ Lý, quán rõ căn cơ).  Trong đoạn này quan trọng nhất là câu cuối ‘chiếu lý giám cơ’, Thực Trí chiếu lý, Quyền Trí giám cơ.  Cơ nghĩa là căn cơ của chúng sanh, chúng ta thường nói quán cơ, ‘giám’ nghĩa là ‘quán’, bạn có thể nhận biết cơ duyên của hết thảy chúng sanh, bạn có thể giúp chúng sanh nghĩa là khế cơ.  Bạn có Thực Trí chiếu lý, chẳng mê chân tướng của vũ trụ nhân sanh mảy may, đó là chiếu lý.  Khế cả lý và cơ, như vậy mới có thể đem lại lợi ích chân thật cho hết thảy chúng sanh.  Do đó không thể không giảng kinh, không thể không giảng kỹ càng.  Phần đông đại chúng ngày nay rất sơ ý, tâm trí vọng động, ngày nay không thể giảng kinh như người xưa, người xưa nói chuyện rất hàm súc, trong lời nói có hàm ý, bạn phải biết cách nghe.  Nếu bạn không biết nghe thì bạn sẽ không hiểu ý nghĩa.  Nếu dùng cách nói hàm súc như người xưa thì chẳng có ai hiểu nổi, bạn nói cũng uổng công.  Một tí hàm súc gì cũng không được, nói như vậy người ta chưa chắc đã hiểu, cho nên chúng ta phải cầu Tam Bảo gia trì.  Trong việc nghiên cứu giáo lý, giảng kinh là quan trọng hơn hết.  Vậy thì niệm Phật quan trọng hay không?  Cũng quan trọng, giống như hai bánh xe của chiếc xe, nếu thiếu một bánh thì xe không chạy được, chúng ta phải hiểu đạo lý này.

          Chúng ta phải quan sát ‘nguy cơ’ trong thế gian hiện nay nguy cấp đến cùng cực.  Mục đích của Bồ Tát trụ trong thế gian là giúp con người phá mê khai ngộ, lìa khổ được vui.  Mỗi một dấu hiệu, thái độ chuyển biến của người trong thế gian dù nhỏ cách mấy chúng ta cũng phải nhận biết, nếu không nhận biết thì bạn làm sao dạy người ta?  Do đó khi lục căn chúng ta tiếp xúc với sáu trần đều phải quán chiếu.  Hiện nay là thế giới như thế nào?  Dân chủ tự do mở rộng, khuynh hướng tương lai nhất định sẽ dân chủ, tự do, mở rộng tới mức không hạn chế, chuyện này rất phiền phức.  Tại sao vậy?  Chúng ta là phàm phu chứ chẳng là thánh nhân.  Mức thấp nhất trong Phật pháp là Tứ Thánh Pháp Giới: A La Hán, Bích Chi Phật, Bồ Tát, Phật, các ngài mới là thật sự dân chủ, tự do, mở rộng, các ngài có đức hạnh, có trí định, có đức năng, như vậy mới được, mới được thọ dụng chánh đáng, đúng mức!  Trong Nhất Chân pháp giới đạt tới mức mở rộng rốt ráo, thật sự chẳng có giới hạn, kinh Hoa Nghiêm gọi đó là ‘lý vô ngại, sự vô ngại, lý sự vô ngại, sự sự vô ngại’, ở đó thì dân chủ, tự do, mở rộng đạt tới mức cứu cánh viên mãn.  Nhưng nếu phàm phu làm như vậy thì sẽ tùy thuận phiền não, một khi phiền não được mở rộng thì chịu sao nổi!  Phật, Bồ Tát có trí huệ, trí huệ mở rộng thì rất tốt!  Còn phiền não thì không thể mở rộng, phiền não nhất định phải được thu hẹp, ngăn chận không cho nó vượt ra ngoài giới hạn, như vậy mới có thể duy trì cho xã hội được an toàn, an định, chúng ta phải hiểu việc này.

          Năm mươi ba lần tham học trong kinh Hoa Nghiêm có nói tới sát, trộm, dâm.  Sát trộm dâm này có trí huệ viên mãn, không những không đọa tam đồ, ngay cả thập pháp giới cũng không đọa.  Còn phàm phu chúng ta tùy thuận phiền não, nếu chúng ta phạm sát, trộm, dâm thì chắc chắn sẽ đọa tam đồ.  Tùy thuận trí huệ thị hiện tạo sát trộm dâm chẳng đọa tam đồ là tại sao?  Thí dụ những kẻ giết người, đốt nhà trong xã hội liền bị kết tội giam vào tù, còn diễn viên hát trên sân khấu giết người, đốt nhà thì không phạm tội, chẳng có ai kết tội họ vì đó là giả, đó là đóng kịch, chẳng phải thiệt.  Bồ Tát làm việc sát, trộm, dâm cũng là đóng kịch, chẳng phải thiệt, các ngài tùy thuận trí huệ, còn người trong thế gian tùy thuận phiền não.  Dân chủ phải dành riêng cho ai?  Là dành cho Phật, Bồ Tát.  Còn những người trong một quốc gia, có phải ai cũng là Phật, Bồ Tát hay không, nếu phải thì có thể nói đến dân chủ; nếu không phải là Phật, Bồ Tát thì dân chủ sẽ rất nguy hiểm, việc này là thật chứ chẳng phải giả.

          Có một năm tôi trú ở Mộc Sách, Đài Loan, cách đây cũng khoảng bốn mươi năm.  Tôi ở đó giảng kinh, tôi nhớ là giảng kinh Lăng Nghiêm.  Cụ Triệu Hằng Dương đến nghe vài lần, ông này là một vị quân phiệt thời đầu Dân Quốc, lúc đó ai cũng gọi ông là Hồ Nam Vương.  Ở Đài Loan, ông là người có vai vế giống như Tưởng Giới Thạch, ông Tưởng rất tôn kính cụ Triệu, lúc đó cụ Triệu cỡ chín mươi tuổi.  Một hôm giảng kinh xong, chúng tôi đi tản bộ tiễn cụ về nhà, trên đường về cụ vô cùng cảm khái và nói một câu, cụ hối hận, đến tuổi xế chiều cụ mới học Phật, cụ nói: ‘Hồi còn nhỏ tuổi bồng bột, ngu ngốc, làm cách mạng là sai rồi!’.  Tôi hỏi cụ: ‘Sai ở chỗ nào?’.  Cụ nói ‘Trong chế độ dân chủ chẳng có nhân tài’, tôi nghe xong liền hiểu.  Bạn nghĩ coi ở Trung Quốc hồi đó, thời đế vương chuyên chế, nhân tài làm thế nào xuất hiện?  [Nhờ người ta] cầu mới có!  Lưu Bị đi tìm Gia Cát Lượng phải ba lượt đi đến lều tranh [để mời Gia Cát Lượng ra giúp mình].  Còn người hiện nay thì như thế nào?  Đâu cần mời?  [Khi tranh cử họ nói] Tôi rất giỏi, hãy bầu cho tôi đi, tôi làm việc rất đắc lực, ai cũng chẳng bằng tôi.  Người thật sự có học vấn, có khả năng đều rút lui, chẳng bao giờ tranh với kẻ khác.  Do đó trong chế độ dân chủ phải đi đâu tìm nhân tài?  Nhân tài đều không lộ diện, đều dấu mặt, chắc chắn sẽ không ra tranh cử, chẳng bao giờ.  Người thật sự có đạo đức, có học vấn, sẽ không làm những chuyện này.  Phương pháp phục vụ xã hội, cống hiến cho chúng sanh rất nhiều, họ sẽ không đi theo con đường này, họ sẽ ẩn cư, ẩn cư ở đâu?  Ở trong các ngành công nghiệp, thương nghiệp, nông nghiệp, họ làm những nghề này để cống hiến cho xã hội, phục vụ nhân dân.  Cho nên ẩn cư không nhất định phải ẩn cư trong rừng núi, người ẩn cư trong rừng núi cũng có, nhưng ẩn mặt trong giới công, thương càng nhiều hơn, đương nhiên phạm vi phục vụ của họ khá nhỏ.  Cho nên cụ Triệu lúc về già học Phật, dần dần giác ngộ, hiểu rõ những đạo lý này.

          Có bao nhiêu người hiểu được đạo lý này? Bao nhiêu người giác ngộ?  Ngày nay cho dù chúng ta hiểu rõ nhưng cũng chẳng dám phản đối, tại sao vậy?  Dân chủ tự do là một trào lưu, bạn có thể phản đối cả trào lưu hay sao!  Do đó Phật, Bồ Tát thuận theo tự nhiên, trào lưu dân chủ thì thuận theo dân chủ, tự do thì thuận theo tự do, khi tự do dân chủ tới cuối cùng rồi họ cũng sẽ giác ngộ, sẽ quay trở lại.  Do đó đối với chuyện này, trí huệ của ông Tôn Trung Sơn đáng cho chúng ta kính phục, tiếc là thọ mạng ông ta quá ngắn, và cũng là vì chúng sanh phước mỏng, ông ta chết quá sớm.  Ông đã quán sát, rút tỉa những truyền thống tốt đẹp của Trung Quốc cổ xưa kết hợp với những ưu điểm của Tây Phương; ông đề xướng cách mạng, đề xướng chánh sách chuyên chế nhất đảng, ông chẳng tán thành tự do dân chủ mở rộng.  [Ông chủ trương] tập hợp nhân tài toàn quốc lại thành một đoàn thể điều khiển quản lý quốc gia, thay thế cho vua chúa, vua chúa là một nhà, một nhà này thống trị cả nước.  Ông chủ trương những người tài giói thông minh trong nước hợp lại để thống trị quốc gia, phương pháp này tốt, đây chẳng phải là chế độ có nhiều đảng.  Khi có nhiều đảng thì sẽ tranh giành với nhau, hễ có tranh thì sẽ loạn, Mạnh Tử nói ‘Trên dưới tranh giành quyền lợi với nhau’, quốc gia sẽ loạn, sẽ nguy hiểm.  Ông Tôn đọc sách nhiều nên hiểu được đạo lý này, làm sao để thật sự tạo phước cho xã hội, cho quần chúng, làm cho mọi người đều có đời sống hạnh phúc mỹ mãn thật sự, đây là đại nhân, đại trí; nhân vật như vậy trong lịch sử cũng rất hiếm có.  Trên đây là đoạn nói về ‘chiếu lý giám cơ’.  Thứ hai mươi chín:

          Cung điện hào quang

          Tia sáng cung điện

          Cung điện nói theo cách nói hiện nay là những kiến trúc cao lớn, hồi xưa thông thường cung điện cao hơn những căn nhà thường.  Ở đây khi nói tới ‘cung điện’ chúng ta không thể nghĩ tới cung điện [vua chúa] ngày xưa, như vậy không đúng, chúng ta phải nghĩ tới những tòa nhà cao lớn trong đô thị ngày nay.  Chữ này ở đây ‘tiêu biểu vượt khỏi tam đồ đến nhân thiên, hiển thị ngũ đạo cùng quy Phật quả, hiện tướng cao hiển’.  Tam đồ là tầng thấp nhất, vượt ra khỏi tam đồ sanh tới cõi cao hơn tức là cõi trời, cõi người.  Hai cõi này cũng chưa kể là cao cho lắm, ngũ đạo trên thực tế chính là lục đạo, gồm có trời, người, súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục.  ‘Ngũ đạo cùng quy về Phật quả’, chỉ có Tịnh Độ thật là ‘bao gồm cả ba căn, lợi độn đều thâu trọn’, có thể làm cho chúng sanh ở địa ngục thành Phật ngay trong một đời.  Trong Phật pháp, trong vô lượng vô biên pháp môn chỉ có pháp môn này là thù thắng nhất.  Nghĩa là trong hết thảy pháp môn thì pháp môn Tịnh Độ này là cao nhất, thù thắng nhất.  Chư vị phải biết pháp môn càng thù thắng thì càng đơn giản, vì vậy kinh luận của Tịnh Tông ít nhất, chỉ có năm kinh và một luận, càng ít thì càng dễ học. 

          Chúng ta phải học hết năm kinh một luận hay chăng?  Không hẳn vậy, trong sáu thứ này, bất kể học theo một thứ nào đều có thể thành tựu.  Năm kinh và một luận này dài ngắn khác nhau, kinh Vô Lượng Thọ dài, chữ nhiều; Chương Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông ngắn, chữ ít, chỉ có 244 chữ, nhưng lý luận, nguyên tắc, cảnh giới, thành tựu chẳng khác; chỉ cần noi theo một trong sáu thứ này đều có thể vãng sanh bất thoái thành Phật, đây là điểm thù thắng của pháp môn này, hết thảy chúng sanh gặp được đều có lợi ích to lớn.  Dù đời này không thể hoàn toàn tin tưởng, không thể hoàn toàn hiểu rõ, chẳng sốt sắng tu hành, sự lợi ích chân thật ấy vẫn tồn tại.  Đời sau, đời sau nữa khi gặp pháp môn này, thiện căn ấy được khơi dậy thì nhất định sẽ thành tựu.  Chúng ta cũng vậy, chẳng phải là chúng ta chỉ gặp pháp môn Tịnh Độ trong đời này mà thôi, mà là nhiều đời trước, đời nào cũng đã từng gặp qua.  Đã gặp qua nhưng tại sao ngày nay vẫn còn trôi lăn trong lục đạo luân hồi?  Vì lúc trước gặp rồi nhưng chẳng tin sâu, chẳng hiểu thấu, chẳng sốt sắng làm theo, vẫn tùy thuận phiền não như cũ, vẫn trôi lăn trong lục đạo luân hồi, cho nên ngày nay mới ra nông nỗi này.  Hôm nay may mắn gặp lại là do thiện căn đời trước hiện ra, nhất định phải đừng hoài nghi, phải hạ quyết tâm đời này y giáo phụng hành, thì sẽ thành công và thoát ra khỏi lục đạo.  Do đó đời này có thể tin, có thể hiểu, có thể phát nguyện, có thể hành vẫn là nhờ thiện căn của đời trước, đây là thói quen nghe pháp tu học, thói quen này là thói quen tốt, có thể tùy thuận theo thói quen này thì tốt!  Câu cuối cùng:

 Hải Vân hào quang.

           Tia sáng mây biển

‘Biểu Sanh Phật nhất như, Y Chánh bất nhị, nhiễm tịnh đồng nguyên, khổ lạc vô dị.  Như hải mạc trắc biên nhai, như vân nguyên vô phân biệt.  Cố tri tình sanh phân biệt, pháp pháp điều nhiên.  Trí nhập nhất vô, sự sự bình đẳng.  Chung ư Hải Vân, lương hữu dĩ dã’ (Tượng trưng chúng sanh và Phật như một, Y báo Chánh báo chẳng hai, nhiễm tịnh đều có cùng cội gốc, khổ và vui chẳng khác.  Như biển chẳng dò được bến bờ, như mây vốn chẳng phân biệt.  Do đó, biết do tình (vọng tưởng, tình thức) mà sanh phân biệt, nên mới có từng pháp rạch ròi. Nếu trí nhập vào Nhất Vô (nhất chân pháp giới) thì mọi sự bình đẳng. [Vì thế, quang minh từ tướng bạch hào của Phật] kết thúc bằng Hải Vân là rất hợp lý vậy).  Đây là đoạn kinh văn nói đức Phật phóng quang, bắt đầu từ Bạch Hào, kết thúc là Hải Vân, ý nghĩa này rất sâu rất rộng, chúng ta phải lắng lòng thể hội.  Câu này ở đây tiêu biểu, đầu tiên là ‘Đại viên mãn quang minh vân’, trong phẩm thứ nhất được đặt đầu tiên.  Đoạn kinh này ở đây, lại đặt ý này ở sau chót, ý nghĩa trong đó sâu rộng vô tận, mọi người phải lắng lòng tìm hiểu, như vậy mới thật sự khế nhập vào Nhất Chân pháp giới.  Hiển rõ ngũ đạo đều quy về tịnh độ, quy vào Tịnh Độ tức là vào pháp bình đẳng, vào Nhất Chân pháp giới, Nhất Chân thì sẽ bất nhị, mọi thứ đều chẳng hai.  Cho nên hiện nay chúng ta cúng dường tượng Phật, chúng ta cúng dường ba tượng A Di Đà Phật hoàn toàn giống nhau.  Có người hỏi: “Thưa pháp sư, cúng dường như vậy có ý nghĩa gì?”  Tôi nói: “Đó là Tây Phương Tam Thánh”.  Họ nói: “Cả ba đều là A Di Đà Phật?”  Tôi nói “Không phải.  Vị chính giữa là A Di Đà Phật, bên đây là Quán Âm Bồ Tát, bên kia là Đại Thế Chí Bồ Tát; làm sao hoàn toàn giống nhau được?”  Thế giới tây phương Cực Lạc là pháp bình đẳng, chẳng có sai khác, tượng của quý vị có sai khác là vì phàm phu quý vị có tâm phân biệt.  Trên thực tế mỗi người vãng sanh về thế giới Cực Lạc đều có tướng mạo giống y hệt như đức Phật A Di Đà, không phải quý bạn đã đọc và biết việc này trong kinh Vô Lượng Thọ rồi sao?

Tương lai, làng Di Đà của chúng ta được xây dựng xong, tôi nói với cư sĩ Lý Mộc Nguyên, Niệm Phật Đường hình tròn, bốn bên của Niệm Phật Đường đều đặt tượng A Di Đà Phật; thật ra hiện nay chúng ta nói A Di Đà Phật thì bạn mới biết, còn không nói A Di Đà Phật thì bạn không hiểu, đó là người như thế nào?  Liên Trì hải hội, mỗi người vãng sanh tới thế giới Cực Lạc đều có tướng mạo giống y hệt đức Phật A Di Đà, đều có một hình tướng.  Một hình tướng là tướng bình đẳng, chẳng có sai khác, tướng mạo giống nhau, âm thanh giống nhau, thể chất giống nhau, đều là sắc thân màu vàng tía, như vậy mới đúng như pháp.  Do đó những gì bạn nhìn thấy đều là đại chúng trong Liên Trì hải hội, những vị thánh vãng sanh từ mười phương thế giới, trong kinh gọi là ‘nơi những vị thượng thiện tụ tập’.  Người không hiểu thì [nhìn thấy] trong đó toàn là A Di Đà Phật, còn người hiểu rõ thì [sẽ thấy] đó là Liên Trì hải hội.

Đây là vấn đề thuộc về phương diện cảnh giới, dùng phương pháp này dẫn dắt chúng ta dần dần khế nhập cảnh giới, sau đó chúng ta quay lại coi kinh văn của cả đoạn.  Trong đó nói nhiều ánh sáng có màu sắc khác nhau, thật ra chỉ là một ánh sáng.  Một luồng ánh sáng hiện ra nhiều màu sắc, hiện ra nhiều tướng, bạn phải biết chân tướng sự thật trong đó là gì?  Ánh sáng (quang) này từ đâu tới?  Từ Thật Trí, Trí huệ chân thật.  Thật Trí, trong kinh Bát Nhã gọi là ‘Bát Nhã Vô Tri’, Trí vô tri là Thật Trí, Thật Trí biến trọn hư không pháp giới, giống như cái gì?  Giống biển lớn, nước biển [ở đâu cũng] đều giống nhau, trọn khắp biển lớn, nước là Thật Trí.  Quang là gì?  Quang là ba động (làn sóng), ngày nay phần đông chúng ta đều biết, quang là hiện tượng ba động, âm thanh là hiện tượng ba động, điện cũng là hiện tượng ba động, ‘ba’ (làn sóng) là tác dụng.  Quý vị nghĩ thử coi nếu không có nước thì làm sao có sóng?  Sóng trên mặt nước là nhờ có nước mà có.  Chư Phật, Bồ Tát phóng quang, nhờ vào cái gì?  Nếu không dựa trên cái gì [thì quang làm sao phóng được, cũng như] sóng không có nước thì sóng làm sao thành hình được?  [Nếu không có nước thì] nhất định sẽ không có sóng.  Chư vị nên biết ‘sóng’ là ‘Quyền Trí’, Quyền Trí phải dựa vào Thật Trí, dựa vào Thật Trí để khởi quang ba (sóng ánh sáng), âm thanh của Như Lai phát ra là âm ba (sóng âm thanh), quang là quang ba.  Như Lai, chúng ta gọi là Pháp Thân Đại Sĩ, quang ba (sóng ánh sáng), thanh ba (sóng âm thanh), từ ba (sóng điện từ) do họ phát ra đều phát ra từ Thật Trí.  Là đạo lý như vậy.

Chúng ta có Thật Trí hay không?  Có chứ, [Thật Trí này] đều bình đẳng, chẳng phải do tu mà có, trong tự tánh vốn sẵn có đầy đủ.  Chúng ta vốn có đầy đủ, nhưng chúng ta đã mê mất.  Mê mất thì Thật Trí này biến thành gì?  Biến thành Vô Minh, cho nên lục đạo phàm phu khởi tâm động niệm gì cũng là ‘ba động’ (làn sóng).  Làn sóng này dựa trên cái gì?  Dựa trên Vô Minh, vô minh tức là tự tánh, tự tánh đã mê thì gọi là vô minh, vô minh đã giác ngộ thì gọi là tự tánh, do đó vô minh và tự tánh là một.  Khi khởi tác dụng thì nó biến thành hai kết quả, khi ngộ thì là Nhất Chân pháp giới, được đại tự tại; khi mê thì là lục đạo luân hồi, khổ nạn vô biên.  Chỗ quý báu của Phật pháp là một niệm Giác ngộ, đây là đạo lý của sự phóng quang trong đoạn này.  Sau khi bạn hiểu rõ rồi, khi bạn nhìn thấy đức Phật phóng quang, chẳng nói một lời, ý tứ viên mãn trong đó bạn đã hiểu rõ hết, thì đâu cần phải nói nhiều lời thừa thãi nữa?  Tận hư không, trọn khắp pháp giới đều là tác dụng này mà thôi, một cái là thể, một cái là dụng, Quyền Trí là dụng, Thật Trí là thể, Thể biến trọn khắp hư không pháp giới, Dụng cũng biến trọn khắp hư không pháp giới; Thể này là tĩnh, thanh tịnh tịch diệt.  Dụng là động; Thể vô tướng, Dụng có tướng, Dụng có làn sóng, làn sóng thì có tướng.  Có nhiều hiện tượng mắt thịt chúng ta không nhìn thấy, đức Phật có thể thấy, [ngài có] ngũ nhãn viên minh, ngài có thể nhìn thấy.  Ngày nay chúng ta nhìn thấy quang, nghe được âm thanh, nhưng không thấy được hiện tượng ba động của hào quang, không cảm được hiện tượng ba động của âm thanh.  Nhưng hiện nay nhờ vào máy móc chúng ta có thể cảm thấy được.  Trên máy móc chúng ta có thể thấy âm thanh cao thấp, âm thanh cao thì [làn sóng] tương đối tập trung, âm thanh tập trung lại thì phát ra âm thanh cao.  Còn âm thanh thấp thì [làn sóng] rời rạc, đây là dựa vào máy móc khoa học chúng ta có thể thấy [hình tướng của] âm thanh cao thấp.  Làn sóng của ánh sáng (quang ba) cũng có dài ngắn, có quang ba có làn sóng rất dài, có quang ba có làn sóng rất ngắn, hiện tượng làn sóng dài ngắn này có thể thấy được; hiện tượng làn sóng dài ngắn này sẽ hiện ra màu sắc khác nhau.

Do đó có thể biết, chúng ta hiểu được nguyên lý này, làn sóng ánh sáng đức Phật phát ra là một; nói cách khác ánh sáng này phát ra đều bằng phẳng, bình lặng, chẳng có sóng.  Âm thanh của đức Phật phát ra cũng bằng phẳng, bình lặng, chẳng có sóng.  Cho nên ‘Đức Phật dùng một âm thanh thuyết pháp, chúng sanh tùy loại đều hiểu được’.  Còn làn sóng của chúng sanh phát ra [không bằng phẳng] có sóng, khi tiếp xúc đến sóng của đức Phật, sóng của Phật hòa nhập vào sóng của chúng sanh, hằng thuận chúng sanh.  Nhưng khi hai làn sóng này trộn lẫn vào nhau, sẽ giúp chúng sanh khai trí huệ, làm cho họ lãnh ngộ, nguyên lý là như vậy.  Sau đó bạn mới biết ngày nay thế giới động loạn như vậy, chúng sanh khổ sở như vậy, làn sóng trong tâm của mọi người phát ra là như thế nào?  Sóng của tham sân si rất xấu, hơn nữa cường độ của làn sóng lên xuống rất lớn.  Ngày nay chúng ta niệm Phật tu định, làm cho làn sóng chúng ta phát ra êm dịu, làn sóng của họ rất lớn, khi hai làn sóng này đụng nhau, làn sóng của chúng ta tăng lên, làn sóng của họ giảm xuống.  Đây là lý do tại sao tai nạn trên thế gian được giảm bớt hoặc dời về sau.

Cho nên làn sóng chúng ta niệm Phật trong Niệm Phật Đường cũng hòa theo làn sóng điện được truyền khắp toàn thế giới.  Niệm Phật có lợi ích gì?  Lợi ích ở chỗ này.  Khi bạn thật sự hiểu rõ thì bạn sẽ khởi lòng tin, chúng ta ở đây niệm Phật thì cả thế giới được lợi ích, chứ chẳng phải là chỉ có chúng ta được lợi ích mà thôi.  Do đó khi bạn phát tâm chân thật, tâm khẩn thiết, tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng, tâm từ bi để niệm Phật [thì bạn đầy đủ] tự lợi lợi tha.  Nếu bạn không hiểu được đạo lý này, bạn ở nhà niệm vài câu Phật hiệu có ích lợi gì cho xã hội không?  Thật sự có ích lợi, người trong xã hội không nhìn thấy, nhưng họ được thọ dụng, họ được lợi ích.  Họ không biết sự ích lợi này từ đâu tới, cũng không biết làm thế nào thay đổi, đó là mê hoặc; chỉ có người giác ngộ, người sáng suốt hiểu được đạo lý này.  Cho nên mỗi chữ, mỗi câu trong kinh Phật, mọi người càng dễ hiểu được.  Đức Phật giảng kinh thuyết pháp, phóng quang hiện tướng lành để làm gì?  Để hiển thị đạo lý này.  Ngày nay [khoa học gia] nói về Sanh Hóa, về Vật Lý, về Hóa Học, đức Phật đều đã nói rõ trong đó, hơn nữa nói rất rốt ráo viên mãn, hy vọng mọi người đều lắng lòng tìm hiểu.  Phật pháp là một khoa học cao siêu, sâu sắc, hoàn toàn chẳng thua gì những khoa học tân tiến hiện nay, vả lại còn cao minh hơn họ, khoa học kỹ thuật của họ không thể giải quyết vấn đề, khoa học kỹ thuật của Phật pháp có thể giải quyết.  Cho nên hy vọng các bạn đồng tu phải sốt sắng, nỗ lực, tuyệt đối chẳng có gì mê tín ở trong đó.

Được rồi, hôm nay chúng tôi giảng tới đây.

 

Tập 44 (14-12-44)

          Xin mở cuốn Khoa Chú quyển hạ, trang 51 và xem kinh văn:

          Ư đảnh môn thượng, phóng như thị đẳng hào tướng quang dĩ, xuất vi diệu âm, cáo chư đại chúng, thiên long bát bộ.  Nhân phi nhân đẳng, thính ngã kim nhật ư Ðao Lợi thiên cung, xưng dương tán thán Ðịa Tạng Bồ Tát ư nhân thiên trung lợi ích đẳng sự, bất tư nghị sự.  Siêu thánh nhân sự, chứng thập địa sự, tất cánh bất thoái A Nậu Ða La Tam Miệu Tam Bồ Ðề sự.

          Từ trên đảnh môn phóng ra những tướng tia sáng như thế xong, lại nói ra tiếng vi diệu mà bảo đại chúng, Thiên Long Bát Bộ, nhân cùng phi nhân v.v… rằng: “Hãy lắng nghe hôm nay Ta tại cung trời Đao Lợi, tuyên bày ngợi khen Bồ Tát Địa Tạng về những sự lợi ích trong hàng trời, người, những sự không thể nghĩ bàn, những sự siêu vượt nhân Thánh, những sự chứng quả Thập Địa, những sự rốt ráo không thoái chuyển nơi A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề [3] .

          Phía trước chúng ta thấy Thế Tôn phóng quang, thụy tướng phóng quang trước khi nói câu tổng kết.  Kế tiếp đức Phật nói với mọi người, ngài dùng âm vi diệu, hàm ý  trong ‘âm vi diệu’ rộng sâu vô hạn, một âm hàm chứa hết thảy âm, mỗi một âm hàm chứa hết thảy sự, do đó gọi là vi diệu âm.  Nói với đại chúng ở trong hội bao gồm thiên long bát bộ, nhân và phi nhân, đây đều là những đại chúng được Ðịa Tạng Bồ Tát giáo hóa.  ‘Thính ngã kim nhật, ư Ðao Lợi thiên cung, xưng dương tán thán Ðịa Tạng Bồ Tát’ (Nghe tôi hôm nay xưng dương tán thán Địa Tạng Bồ Tát ở cõi trời Đao Lợi), câu này là lời tổng kết từ lúc pháp hội khai mạc đến lúc bấy giờ,  toàn bộ kinh văn đều xưng dương tán thán Ðịa Tạng Bồ Tát.  Mấy câu sau này là tổng kết ‘ư nhân thiên trung lợi ích đẳng sự’ (những sự lợi ích trong cõi người và cõi Trời), sau đó nói rất cụ thể, tóm tắt toàn bộ kinh.  Câu này là nhằm kết danh (tổng kết những giáo nghĩa của danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát) mà cũng là nói tới Giáo, [tức là nếu] chúng ta dùng bốn thứ ‘Giáo, Lý, Hành, Quả’ để nói, thì câu này nói về Giáo.  Lần này chúng tôi đi Úc Châu hai mươi ngày, quán sát sự khuếch trương văn hóa đa nguyên, dần dần cũng đã có thành quả.  Chúng ta quay lại nhìn nền giáo học của nhà Phật, đích thật là tài liệu dạy học cho những người theo đuổi công việc đa nguyên văn hóa, đây chính là kinh điển Ðại Thừa.

          ‘Ư nhân thiên trung lợi ích đẳng sự’, nhân thiên là chỉ cõi trời, cõi người, và cũng là những cõi trong lục đạo.  Những cõi trong lục đạo đương nhiên là thể sanh hoạt đa nguyên văn hóa.  Ðịa Tạng Bồ Tát, Thích Ca Thế Tôn, làm sao có thể đối với hết thảy chúng sanh, chủng loại khác nhau, tộc quần khác nhau, phương thức sinh hoạt khác nhau, thậm chí đối với tư tưởng kiến giải khác nhau, tín ngưỡng khác nhau, có thể giúp họ tiêu trừ những thứ khác nhau này, giúp họ dung hợp thành một thể cộng đồng.  Thể cộng đồng tức là Nhất Chân Pháp Giới, thể đa nguyên bất đồng là Thập Pháp Giới, đây là lợi ích chân thật, đây là trí huệ cao độ của Thế Tôn, sự dạy dỗ thiện xảo phương tiện.  Do đó giáo học trong Phật pháp, đức Phật dạy chúng ta những gì?  Ðây là điều chúng ta nhất định phải hiểu rõ.  Thứ nhất là đức Phật dạy con người chúng ta phải cư xử như thế nào, đức Phật dạy phải tuân theo ‘Lục Hòa Kính’.  Nếu chúng ta không thể sống chung, hòa đồng với người khác thì nói chi đến thành tựu?  Quan hệ giữa người với người vô cùng phức tạp, nói thật ra mỗi người, mỗi chúng sanh, đều là một hình thể đa nguyên văn hóa.  Vì mỗi người, mỗi chúng sanh trong đời trước, đời đời kiếp kiếp luân hồi trong lục đạo, A Lại Da thức đã chứa đựng nhiều hạt giống, nhiều tập khí khác nhau, đó không phải là một kết cấu đa nguyên văn hóa hay sao?  Huống chi lúc mọi người tiếp xúc với nhau thì phải đối xử như thế nào, đây là cả một sự học vấn.  Có thể dẹp hết sự kỳ thị, hiểu lầm, ngăn cách.  Có thể tôn kính, hợp tác, quan tâm lẫn nhau, đây là điều đức Phật hy vọng nơi chúng ta.  Ðặc biệt là tu học Ðại Thừa, trong kinh thường dạy chúng ta ‘tâm bao thái hư, lượng châu sa giới’ (tâm bao trùm hư không, lượng gồm thâu các thế giới nhiều như cát), trong hết thảy cảnh giới của chúng sanh vẫn còn vạch ranh giới, như vậy là sai rồi, trái nghịch với lời dạy của đức Phật, trái nghịch lời dạy của Bồ Tát.  Cho nên học Phật điều thứ nhất là phải mở rộng tâm lượng, phải bao dung hết thảy thì bạn mới có thể vào cửa Phật, mới hiểu được lời Phật dạy, mới được lợi ích chân thật.  Lợi ích chính mình, lợi ích xã hội, lợi ích hết thảy chúng sanh, những gì trong kinh giảng đều là những việc này. 

          Câu thứ nhì nói ‘bất tư nghị sự’, đây là tổng kết từ mặt Thể; Lý là một, tại sao những thứ khác nhau có thể dung hợp thành một Thể? Vì Lý là một.  Tướng có nhiều thứ, Sự có nhiều thứ, Dụng có nhiều thứ, Lý chỉ có một, do đó có thể quy về một.  Kinh Hoa Nghiêm có câu ‘nhất tức thị đa, đa tức thị nhất’ (một chính là nhiều, nhiều chính là một), nó có thể quy về một vì Thể chỉ là một.  Giống như biển lớn, biển là Thể, những bọt nước trong biển, có cả ngàn cả vạn bọt nước khởi lên, mỗi bọt nước đều khác nhau, mỗi bọt nước là một vòng nho nhỏ riêng biệt, nhưng hết thảy những bọt nước này khởi lên từ đâu?  Đều từ biển lớn.  Chúng sanh mê muội, mê mất rồi, chẳng biết Thể là một, nên mới khởi lên mọi thứ hiểu lầm; nếu biết Thể là một thì tâm bình đẳng, thanh tịnh, từ bi sẽ tự nhiên khởi lên.  Cho dù là oán gia, kẻ thù cũng phải biết Thể của chúng ta đều là một, lìa khỏi Lý Thể thì đi đâu tìm Hiện Tướng?  Thể là gì?  Chân Như Bản Tánh, Chân Như Bản Tánh chẳng thể nghĩ bàn, ‘bất tư nghị sự’ là kết thể.       

‘Siêu thánh nhân sự, chứng Thập Địa[4] sự’, đây là nói về Hành, là Kết Tông, Tông chính là phương pháp tu hành, cương lãnh tu học của chúng ta, đây là Hành.  “Siêu thánh nhân” [5] là nhân hạnh tu của Bồ Tát, ‘chứng Thập Địa’ là quả, tu nhân chứng quả.  Thập Địa dù là Biệt Giáo Bồ Tát cũng đã vào Nhất Chân pháp giới, siêu việt thập pháp giới, khế nhập Nhất Chân pháp giới.  Nếu nói Tam Hiền Bồ Tát, thì phải là Viên Giáo Tam Hiền Bồ Tát mới siêu việt thập pháp giới.  Nếu là Biệt Giáo Tam Hiền Bồ Tát thì vẫn còn trong thập pháp giới.  Nói Thập Địa thì nhất định đã siêu việt thập pháp giới, nhập Nhất Chân pháp giới.  Câu cuối cùng là kết luận, dùng ‘tất cánh bất thoái A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề sự’.  Tổng kết này chẳng phải Thế Tôn vì chúng ta nói, mà đây là tổng kết những gì đã nói trong Địa Tạng pháp hội, thật ra những gì đức Phật Thích Ca đã nói trong 49 năm cũng có thể dùng những câu này để tổng kết.  Đức Phật giảng cho chúng ta là giảng những điều này.  Thậm chí mười phương ba đời hết thảy chư Phật Như Lai giảng cho hết thảy chúng sanh cũng chẳng vượt ra ngoài tổng kết này.

          Hiểu ý nghĩa của những câu này thì chúng ta sẽ hiểu đức Phật dạy chúng ta, dạy chúng ta làm người phải biết quan hệ giữa người với người, phải biết làm sao đối xử với kẻ khác. 

Thứ nhì, hiểu rõ quan hệ giữa người với thiên nhiên, hiện nay chúng ta gọi là hoàn cảnh thiên nhiên, sanh thái tự nhiên, làm thế nào để sinh hoạt trong hoàn cảnh thiên nhiên, đối xử với động vật, thực vật, sơn hà đại địa.  Hoàn cảnh thiên nhiên [cung ứng,] chăm sóc cho chúng ta, chúng ta cũng phải yêu mến, bảo vệ thiên nhiên; hoàn cảnh thiên nhiên cống hiến cho chúng ta, quần áo, thức ăn, chỗ ở; mọi việc  trong cuộc sống chúng ta đều phải nhờ hoàn cảnh tự nhiên mới có thể sinh tồn.  Chúng ta làm sao báo đáp hoàn cảnh thiên nhiên, có ai đã nghĩ về vấn đề này chưa?  Đức Phật đã nghĩ tới, Bồ Tát đã nghĩ tới.

          Thứ ba, con người ứng xử như thế nào đối với quỷ thần?  Giáo dục của nhà Phật dạy những chuyện này.  Trong ba thứ này nếu có một thứ nào sai trái thì sẽ đem đến phiền phức, trong Phật pháp gọi là tạo nghiệp.  Nếu cả ba thứ đều hoàn hảo thì sẽ có công đức, tích lũy công đức, nếu một thứ nào làm không tốt thì sẽ tạo nghiệp.  Muốn ba quan hệ này đều tốt đẹp thì trước hết phải hiểu rõ ràng, rành rẽ hoàn cảnh, chân tướng sự thật.  Đức Phật giảng kinh thuyết pháp cho chúng ta chính là giảng rõ những chân tướng sự thật này, dạy chúng ta làm sao tiếp xúc, đối xử với người, với vật, với sự, với thiên địa quỷ thần, đây cũng là mục tiêu của con người hiện nay theo đuổi văn hóa đa nguyên.  Mục tiêu này đều ở trong Đại Thừa Phật Giáo, hy vọng mọi người hãy lắng lòng thể hội kinh điển Đại Thừa.

          Tại sao chúng ta không thể hiểu được? Vì chẳng thiết thật thực hành.  Trong đời sống hằng ngày vẫn tùy thuận phiền não, tập khí, như vậy thì làm sao được.  Đừng nói bạn coi kinh không hiểu, bạn coi chú giải cũng không hiểu, tôi nói những thứ này bạn nghe cũng không hiểu.  Những gì bạn có thể hiểu được chỉ là ở bề ngoài, chỉ là ở ngoài da, chứ chẳng thấm thía gì tới bên trong.  Kinh điển nhà Phật, tôi đã từng nói với quý vị, mỗi chữ mỗi câu đều sâu rộng không bờ bến, vậy thì làm sao thâm nhập được?  ‘Siêu thánh nhân sự, chứng Thập Địa sự’ là nói chúng ta phải làm được, ‘bất tư nghị sự’ là chúng ta phải thấu hiểu, ‘nhân thiên lợi ích đẳng sự’ là những gì chúng ta phải học tập, được vậy thì bạn mới đạt đến đại dụng cứu cánh viên mãn, vậy thì mới đạt đến bất thoái vô thượng Bồ Đề.  Chư vị hãy tự coi Chú Giải của Thanh Liên pháp sư, ngài chú thích rất hay.  Xin xem đoạn kinh tiếp theo:

          Thuyết thị ngữ thời, hội trung hữu nhất Bồ Tát Ma Ha Tát danh Quán Thế Âm tùng tòa nhi khởi, hồ quỳ hiệp chưởng, bạch Phật ngôn, Thế Tôn, thị Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát cụ đại từ bi, lân mẫn tội khổ chúng sanh, ư thiên vạn ức thế giới hóa thiên vạn ức thân, sở hữu công đức cập bất tư nghị oai thần chi lực.

Nói lời ấy xong, trong Pháp Hội có một vị Bồ Tát Ma Ha Tát hiệu là Quán Thế Âm từ chỗ ngồi đứng dậy, quỳ gối chắp tay mà bạch Đức Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát đầy đủ đức đại từ bi, thương xót chúng sanh mắc tội khổ. Bồ Tát ở trong ngàn vạn ức thế giới hóa hiện ra ngàn vạn ức thân, tất cả công đức cùng sức oai thần chẳng thể nghĩ bàn.”

Chúng ta coi tới đây.  Đây là đoạn nói về Quán Thế Âm Bồ Tát, ngài cũng tham gia pháp hội này, và cũng là thính chúng trong pháp hội.  Ngài nghe đức Thế Tôn hết sức tán thán Địa Tạng Bồ Tát, sau khi nghe xong ngài đứng ra thay mặt các Bồ Tát khen ngợi Địa Tạng Bồ Tát.  Chúng ta phải lưu ý học tập.  Bạn coi lúc đầu pháp hội mở đầu như thế nào, đến cuối cùng pháp hội chấm dứt như thế nào, đây là điều chúng ta phải học tập.  Pháp hội trong thế gian thì nhất định sẽ bắt đầu bằng diễn văn khai mạc, lúc kết thúc cũng có một bài cảm tạ.  Lần này chúng ta tới Tịnh Tông Học Hội tại Tây Úc Đại Lợi, tôi không rõ tình hình ở đó, Học Hội này vừa mới thành lập.  Trên thực tế lúc chúng tôi đi tới đó thì nhân duyên chưa đầy đủ, họ thành lập quá sớm, tối thiểu họ phải học thêm ba năm, ba năm sau thành lập Tịnh Tông Học Hội thì mới đúng như pháp.  Pháp hội ở đó mở đầu và kết thúc đều đột nhiên, phần đầu không có giới thiệu, phần sau không có kết thúc, không thành lề lối quy củ gì cả, đây là lần đầu tiên trong đời tôi gặp pháp hội như vậy.  Họ chẳng có kinh nghiệm, cũng chưa từng tham dự những pháp hội khác, do đó chẳng biết nghi thức trong pháp hội, chẳng biết phải bắt đầu từ đâu.  Họ tiếp đãi chúng tôi rất nhiệt tình, chúng tôi rất cảm tạ, Hội Trưởng của họ tiễn tôi ra phi trường, ông ta hỏi tiếp đón chắc không được chu đáo lắm?  Tôi nói [quý vị] tiếp đón rất chu đáo, chúng tôi rất cảm tạ, nhưng pháp hội không chu đáo, nên học hỏi thêm.  Ông nói sẽ kiếm một ngày để tới Tân Gia Ba học tập.  Tôi nói: Không được! Một ngày liền học xong thì ông phải là thiên tài mới học nổi.  Thực sự muốn học đến nơi đến chốn thì phải lưu lại Tân Gia Ba ít nhất là ba tháng, làm sao chỉ học một ngày là xong cho được?  Nếu là người lãnh đạo một đoàn thể, giúp đỡ mọi người trong một địa phương học Phật, đó là Bồ Tát phát tâm, chẳng thể làm qua loa sơ sài, thật sự phải sốt sắng học tập.

          Bây giờ là lúc pháp hội gần kết thúc, Quán Thế Âm Bồ Tát thay mặt chúng Bồ Tát ra nói chuyện.  Mọi người đều rất quen thuộc với Quán Thế Âm Bồ Tát, danh tiếng của ngài được xếp vào hạng nhất, còn Địa Tạng Bồ Tát thì có nhiều người chẳng biết đến, nhưng chẳng có ai không biết đến Quán Thế Âm Bồ Tát, do đó việc Quán Thế Âm Bồ Tát đứng ra khen ngợi có ý nghĩa rất sâu.  Bồ Tát ‘bạch Phật’ và nói ‘Thế Tôn, Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát có đầy đủ đại từ bi’, lời này do Quán Thế Âm Bồ Tát nói ra, có ai không tin cho được?   Chúng ta đều biết Quán Thế Âm Bồ Tát đại từ đại bi, [ở đây] Quán Thế Âm tán thán Địa Tạng Bồ Tát là đại từ bi.  Hơn nữa lòng đại từ bi của Địa Tạng Bồ Tát chẳng thua gì Quán Thế Âm Bồ Tát.  ‘Trong ngàn vạn ức thế giới’, ‘ngàn vạn ức’ chẳng phải là con số mà là một hình dung từ, hình dung vô lượng vô biên thế giới, nơi nào có chúng sanh thì nơi đó có mặt Địa Tạng Bồ Tát, hóa ngàn vạn ức hóa thân.

          ‘Hết thảy công đức và sức oai thần chẳng thể nghĩ bàn’, hai câu trên là lời đức Thế Tôn [tán thán Địa Tạng Bồ Tát] trong kinh này.  Chúng ta phải có khả năng phân biệt cái gì là công đức, cái gì là phước đức.  Đoạn ác tu thiện, y giáo phụng hành, quý vị nghĩ coi đó là phước đức hay công đức?  Nếu bạn còn có ‘tướng Ta, tướng Người, tướng Chúng sanh, tướng Thọ giả’ thì những gì bạn tu chỉ là phước đức, chẳng thể ra khỏi tam giới.  Nếu bạn xa lìa hết bốn tướng kể trên thì đó là công đức.  Trong hội kinh Kim Cang đức Phật dạy chúng ta phải dùng ‘chẳng có tướng Ta, chẳng có tướng Người, tướng Chúng sanh, tướng Thọ giả mà tu những việc thiện’ thì đó là công đức.  Chúng ta hãy nghĩ những việc chúng ta tu hiện nay là gì?  Đều là phước đức, chẳng phải là công đức.  Khi khởi tâm động niệm vẫn còn ngã chấp, niệm niệm đều vì mình, cứ để ‘Ta’ ở tại hàng đầu.  Chư vị muốn vãng sanh ngay trong đời này thì chừng nào mới luyện tập?  Phải luyện tập ngay bây giờ, đừng đợi. [Nếu bạn nói] ‘Bây giờ tôi còn chưa tới lúc lâm chung, đợi tới lâm chung thì tôi mới xa lìa’.  Lúc lâm chung bạn có nắm chắc không, bạn có thể xa lìa không?  [Không thể nào.  Do đó] lúc thường ngày chúng ta phải luyện tập thật sự.

          Đối với cảm tình thế gian, chúng ta nói tình cảm phải lợt lạt, càng lợt lạt thì càng tốt.  Niệm niệm đều vì chúng sanh, vì xã hội, đừng nghĩ cho mình, nghĩ cho mình thì là tạo nghiệp, tạo tội.  Người ta ai cũng vì chính mình, đó là chuyện của người ta, họ muốn ở trong lục đạo luân hồi, đức Phật cũng chẳng làm gì được thì chúng ta làm gì được!  Sự tu hành chứng quả phải dựa vào sự nỗ lực của mỗi người, người khác không giúp gì được, Phật, Bồ Tát đại từ đại bi cũng chẳng giúp gì được, đây là việc riêng của mỗi người.  Mười pháp giới, mười con đường bày trước mặt, chúng ta chọn con đường nào?  Phật nói rõ cho chúng ta, cho chúng ta tự lựa chọn.  Chính mình muốn tùy thuận phiền não, tùy thuận tập khí, đại đa số là đi vào tam ác đạo.  Thật sự giác ngộ rồi, xa lìa hết thảy phiền não, tùy thuận theo lời dạy của Phật, Bồ Tát, thành tựu công đức.  Chúng ta phải phân biệt công đức và phước đức thật rõ ràng.  ‘Và sức oai thần chẳng thể nghĩ bàn’, đây là nói Địa Tạng Bồ Tát đặc biệt trong lục đạo, ngài cần mẫn dạy dỗ, dùng trí huệ viên mãn, phương tiện khéo léo đặc biệt giúp đỡ chúng sanh trong lục đạo.  Xin xem tiếp kinh văn:

          Ngã văn Thế Tôn dữ thập phương vô lượng chư Phật dị khẩu đồng âm tán thán Địa Tạng Bồ Tát vân, chánh sử quá khứ hiện tại vị lai chư Phật, thuyết kỳ công đức do bất năng tận.

Con được nghe Đức Thế Tôn cùng vô lượng chư Phật trong mười phương, khác miệng đồng lời ngợi khen Bồ Tát Địa Tạng rằng dầu cho chư Phật trong thuở quá khứ, hiện tại và vị lai đều tuyên nói về công đức đó, vẫn chẳng thể nói hết được.

Chúng ta biết được chân tướng sự thật này từ Quán Thế Âm Bồ Tát.  Chẳng phải chỉ có một mình đức Phật Thích Ca Mâu Ni tán thán Địa Tạng Bồ Tát, mười phương chư Phật cùng thốt ra lời khen ngợi, chẳng ai không tán thán Địa Tạng Bồ Tát.  Hết thảy chư Phật Như Lai cùng tán thán công đức của Địa Tạng Bồ Tát cũng chẳng hết.  Phía sau nói ‘Dù chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai’, tức là chư Phật mười phương ba đời nói về công đức của Địa Tạng Bồ Tát cũng nói chẳng hết.  Địa Tạng tượng trưng cho cái gì?  Chư vị phải biết Địa Tạng tượng trưng cho ‘hiếu dưỡng cha mẹ tôn kính sư trưởng’, công đức của Địa Tạng Bồ Tát tức là công đức của ‘hiếu thân tôn sư’.  Phía trước đã báo cáo với chư vị đồng tu rồi, sau khi diệt độ tại sao đức Phật Thích Ca chẳng giao phó việc giáo hóa chúng sanh cho những Bồ Tát khác mà phải đặc biệt giao phó cho Địa Tạng Bồ Tát?  Tại sao không giao cho Quán Thế Âm Bồ Tát?  Phía trước cũng đã nói với chư vị rồi, giao cho Quán Thế Âm Bồ Tát thì ngài không làm nổi.  Giao cho Văn Thù, Phổ Hiền, thì hai ngài cũng không làm nổi.  Giao phó cho Địa Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Bồ Tát tượng trưng cho hiếu kính, hiếu kính là cội rễ; Quán Thế Âm Bồ Tát là hiếu kính phát triển rộng ra, nếu chẳng có cội rễ thì làm sao phát triển rộng ra?  Do đó chúng ta nhất định phải hiểu đạo lý này.

          Từ đó bạn mới biết chúng ta học Phật phải học từ chỗ nào?  Phải học từ ‘hiếu dưỡng cha mẹ tôn kính sư trưởng’.  Ngày nay xã hội động loạn, nguyên do của sự động loạn này là ở chỗ nào?  Ở chỗ mê mất Địa Tạng, chẳng biết hiếu thân tôn sư.  Do đó cội rễ của sự an nguy, trị an, họa hại của xã hội ở tại gia đình, cội rễ của gia đình ở tại vợ chồng.  Giáo học thế gian và xuất thế gian đều biết đạo lý này, đều tốn rất nhiều tâm huyết để giáo huấn vun bồi cội rễ này, hy vọng mọi người giác ngộ.  Hai người kết hợp thành vợ chồng chẳng phải là chuyện của hai người, mà đối với xã hội cả hai đều có trách nhiệm.  Hai vợ chồng chẳng hòa hợp thì gia đình sẽ rạn nứt, gia đình đổ vỡ thì xã hội sẽ động loạn, người trên toàn thế giới sẽ chịu ảnh hưởng, sẽ chịu vạ lây, có ai hiểu được đạo lý này?  Giáo dục của nhà Phật rất coi trọng gia đình, giáo học nhà Nho dạy ‘Giữ vẹn luân thường, làm tròn trách nhiệm’.  Ngày nay xã hội động loạn, mọi người đều sơ ý giáo dục gia đình, cho nên nếu bạn không biết nguyên do gây ra động loạn, gây ra tai họa từ nơi nào thì bạn làm sao phòng ngừa?  Bạn làm sao có thể cứu vãn?  Người trong một nhà tụ hội với nhau đương nhiên đều có nguyên nhân, trong kinh đức Phật dạy con người tụ hội với nhau có bốn nguyên nhân: báo ân, báo oán, đòi nợ, trả nợ.  Ân ân oán oán chẳng bao giờ dứt, đây là chân tướng sự thật.

          Tại sao con người phải tiếp nhận giáo dục?  Tạo sao phải tiếp nhận giáo huấn của thánh hiền?  Vì thánh hiền hiểu rõ chân tướng sự thật, sau khi hiểu rõ thì bạn mới có thể hóa giải.  Dù người trong một gia đình đều vì báo oán mà hợp lại, [người hiểu biết cũng có thể tìm cách hóa giải], tấm gương sáng ở Trung Quốc là vua Thuấn, mọi người trong nhà vua Thuấn đều vì báo oán mà tụ hợp, chẳng vì báo ân.  Cả nhà bất hòa, vua Thuấn có trí huệ, biết tận hiếu, có thể hóa giải oán thù trong nhà, có thể làm cho người trong nhà tôn trọng lẫn nhau, tương thân tương ái, hợp tác lẫn nhau, nói theo Phật pháp thì đây là Bồ Tát.  Bồ Tát chẳng tránh né khi gặp oán gia trái chủ mà sẽ tìm cách hóa giải oán thù; tránh né chẳng thể giải quyết vấn đề, đời sau kiếp sau cũng sẽ gặp lại, [người hiểu rõ] phải biết tìm cách hóa giải.  Do đó oan gia nên giải chớ nên kết.  Nhỏ thì là người trong một nhà, phải có trí huệ, phải nhẫn nại tìm cách hóa giải, giải oan mở kết, vun bồi ân nghĩa thì cả nhà sẽ tự nhiên hòa hợp, có hòa hợp thì nhà này mới hưng vượng, việc này có đạo lý của nó.  Đây là khái niệm căn bản, khóa trình cơ sở trong sự giáo hóa chúng sanh của Địa Tạng Bồ Tát, do đó cho dù ba đời chư Phật Như Lai tán thán công đức lợi ích này cũng tán thán không hết.  Sau đó Quán Thế Âm Bồ Tát lại nói:

          Hướng giả, hựu mông Thế Tôn phổ cáo đại chúng dục xưng dương Địa Tạng lợi ích đẳng sự

          Vừa rồi lại được Đức Thế Tôn bảo khắp đại chúng rằng muốn tuyên nói các sự lợi ích của Bồ Tát Địa Tạng.

Trong chú giải giảng chữ “hướng giả” (trước đó, trên đây, vừa rồi) có cả ý nghĩa xa và ý nghĩa gần. Nếu hiểu “hướng giả” theo ý nghĩa gần thì “hướng giả” chính là văn tự trong phẩm này, còn hiểu theo ý nghĩa xa thì “hướng giả” chính là những phần văn tự ở đầu phẩm Tán Thán (tức phẩm thứ sáu, Như Lai Tán Thán), tức là những câu chữ thuộc trang hai mươi lăm trong quyển Trung của kinh này.

          Duy nguyện Thế Tôn vị hiện tại vị lai nhất thiết chúng sanh xưng dương Địa Tạng bất tư nghị sự, lịnh thiên long bát bộ chiêm lễ hoạch phước.

          Cúi mong Đức Thế Tôn, vì tất cả chúng sanh ở hiện tại và vị lai, mà tuyên nói những sự chẳng thể nghĩ bàn của Bồ Tát Địa Tạng, khiến cho Thiên Long Bát Bộ chiêm lễ được phước.

Không những Quán Thế Âm Bồ Tát chứng minh cho chúng ta, lại khải thỉnh cho chúng ta.  Lời khải thỉnh của ngài ‘vì hết thảy chúng sanh hiện tại và vị lai’, ‘hiện tại’ là những vị tham gia pháp hội lúc bấy giờ, ‘vị lai’ bao gồm chúng ta.  Ngày nay chúng ta đọc tới kinh này, nghiên cứu đoạn kinh này, bao gồm câu kinh này.  Thỉnh Thế Tôn giới thiệu thêm lần nữa những sự chẳng thể nghĩ bàn của Địa Tạng Bồ Tát, mục đích là làm cho những vị quỷ thần hộ pháp, thiên long bát bộ chiêm lễ được phước.  ‘Chiêm lễ’ là gì?  Là khởi tâm hiếu kính, sanh tâm này liền được phước.  Quỷ thần sanh tâm thì quỷ thần được phước, chúng ta sanh tâm thì chúng ta được phước.  Phần sau là Thế Tôn tiếp nhận lời thỉnh cầu của Quán Thế Âm Bồ Tát nói pháp cho chúng sanh.

          Phật cáo Quán Thế Âm Bồ Tát: Nhữ ư Sa Bà thế giới hữu đại nhân duyên.

          Đức Phật bảo Bồ Tát Quán Thế Âm: “Ông có đại nhân duyên với thế giới Sa Bà”.

Thế Tôn nhân dịp này trước hết tán thán Quán Thế Âm Bồ Tát, Quán Âm Bồ Tát có duyên rất sâu với thế giới chúng ta, ‘Phật chẳng độ người vô duyên’, do đó chúng ta học Phật thì phải biết kết pháp duyên với hết thảy chúng sanh.  Chúng ta phải hiểu rõ ý này, kết pháp duyên chứ không thể kết tình duyên, kết ‘tình’ duyên một đời thì phiền phức rất lớn, đời đời kiếp kiếp dây dưa chẳng dứt, sẽ phải tạo vô lượng vô biên tội nghiệp, phải chịu khổ báo dài lâu, do đó nhất định đừng kết tình duyên, chỉ kết pháp duyên mà thôi.  Pháp duyên là giới thiệu Phật pháp cho họ, giúp họ nhận biết Phật pháp, hiểu rõ Phật pháp, tu học Phật pháp, vậy gọi là kết pháp duyên.  Vĩnh viễn tự giữ thanh tịnh, bình đẳng, giác, trong đó nhất quyết không sanh thương yêu, chán ghét, đó là pháp duyên.  Nếu trong đó còn có vui mừng, có chán ghét thì sẽ biến thành tình duyên, vô cùng đáng sợ! Từ xưa tới nay, bao nhiêu vị đại đức tại gia, xuất gia kết duyên với hết thảy chúng sanh, biến pháp duyên trở thành tình duyên, họ đều đọa lạc, thiệt là quá nhiều!  Do đó Bồ Tát Đại Thừa nếu không có định huệ tương đối thì ngược lại chẳng bằng Tiểu Thừa.  Tiểu Thừa không giảng kinh, không thuyết pháp, xa lìa xã hội đại chúng, chỉ tu thiện cho riêng mình, họ chẳng dễ đọa vào ác đạo.  Đại Thừa Bồ Tát tiếp xúc với đại chúng, như câu ‘hòa quang đồng trần’, nếu chính mình không có định huệ, tự mình không thể an trú trong Niệm Phật Tam Muội, vẫn tùy thuận phiền não tập khí, chẳng có ai không đọa lạc.  Giảng kinh thuyết pháp hay tu hết thảy thiện nghiệp đều biến thành phước báo hữu lậu.

          Dù chúng ta phát tâm tu thiện, nói thật ra cũng chẳng phải là chuyện dễ, cái thiện đó có phải là chân thiện hay không.  Nếu chư vị có đọc Liễu Phàm Tứ Huấn, ông Viên Liễu Phàm nói rất hay: “Thiện có chân thiện, có giả thiện, có đại thiện, có tiểu thiện, có thiên thiện, có viên thiện” (chữ ‘thiên’ nghĩa là lệch lạc).  Ngài nói rất nhiều, bạn biết đâu là lời thật không?  Hiện nay chúng ta thấy thế gian có không ít người thật tâm muốn làm việc tốt, nhưng vì không có huệ nhãn, không nhận biết ruộng phước thật sự.  Trái lại họ dùng tài lực, vật lực của họ để tạo tội nghiệp, cho dù không cốt ý, tâm họ cũng muốn tu thiện, kết quả lại trở thành ác.  Tuy họ chẳng có tội, họ vẫn có lỗi.  Chúng ta không thể không cẩn thận, làm sao có thể phân biệt, có thể nhận ra?  Phương pháp duy nhất là đọc tụng Đại Thừa, được vậy thì chúng ta mới hiểu rõ hết thảy sự vật.  Hiện nay có nhiều người đều cho rằng xây dựng đạo tràng là việc tốt, Địa Tạng Bồ Tát trong kinh này cũng dạy chúng ta xây đạo tràng, tu sửa những đạo tràng cũ, công đức cũng rất lớn.  Nhưng bạn phải nghĩ coi ‘đạo tràng’ này có ‘đạo’ hay không?  Chẳng phải là xây một ngôi chùa thì gọi là đạo tràng, chùa đó có ‘đạo’ hay không?  Nếu không có đạo, bạn xây dựng chỗ đó làm cho rất nhiều người ở đó tranh giành với nhau, làm cho họ tạo tội nghiệp, bạn có lỗi hay không?  Chuyện này không thể không cẩn thận.

          Do đó cả đời tôi rất cẩn thận đối với chuyện này, chẳng dám làm chuyện này.  Sau khi bạn làm xong, người trong đạo tràng nhiều thêm, ai cũng tranh giành quyền lợi, làm chỗ đó trở thành một nơi tạo tội, chẳng bằng không xây thì hơn.  Do đó chúng tôi thường khuyên người ta ấn tống kinh, bố thí, chuyện này chẳng có lỗi lầm.  Kinh chúng ta in xong [cho dù] có người đem đi bán, nếu bán cũng tốt, có người mua kinh thì có người đọc kinh, chuyện này chẳng có tội.  Chỉ có lợi ích, chẳng có lỗi lầm.  Chúng ta nhất định phải hiểu rõ.  Nói thật ra những chuyện này, chỉ cần chúng ta lưu ý một chút thì sẽ có thể thấy rõ ràng, tự mình phải thường phản tỉnh, những gì chúng ta tạo tác là công đức hay là tội lỗi.

          Trong Phật pháp gọi là đúng như pháp hay không như pháp, đây là chuyện chúng ta coi trọng, tuyệt đối không thể dùng cảm tình để làm việc.  Ngày nay chúng ta ở đạo tràng này của Cư Sĩ Lâm Tân Gia Ba, tôi khuyên mấy vị đồng tu phát tâm hộ trì, đây là lần đầu tiên trong bốn mươi mấy năm học Phật.  Vì ở đây tôi thấy có ‘đạo’ có ‘học’, bạn hộ trì [đạo tràng như vậy] thì có công đức, đây là việc tốt.  Nếu nơi đây chẳng có đạo, chẳng có người tu học đúng như pháp thì hộ trì chỗ này sẽ thành vấn đề.  Do đó chúng ta phải bình tĩnh mà quan sát, những gì họ nghĩ, họ nói, họ làm có tương ứng với những lời đức Phật dạy trong kinh điển hay không.  Kinh điển là tiêu chuẩn, dùng tiêu chuẩn này để đo lường thì tự nhiên chúng ta sẽ hiểu rõ, chẳng cần đi hỏi người khác.  Đời này trong mấy chục năm ngắn ngủi, chúng ta gặp được cơ duyên có thể làm một chút việc tốt, việc này rất có ý nghĩa, rất có giá trị.  Ở đây đức Phật cũng tán thán Quán Thế Âm Bồ Tát, ngài có nhân duyên lớn lao đối với thế giới Sa Bà giống như Địa Tạng Bồ Tát.

          Nhược thiên nhược long, nhược nam nhược nữ, nhược thần nhược quỷ, nãi chí lục đạo tội khổ chúng sanh văn nhữ danh giả, kiến nhữ hình giả, luyến mộ nhữ giả, tán thán nhữ giả, thị chư chúng sanh ư vô thượng đạo tất bất thoái chuyển, thường sanh nhân thiên, cụ thọ diệu pháp, nhân duyên tương thục, ngộ Phật thọ ký.

Nếu hàng trời hoặc rồng, hoặc kẻ nam người nữ, hoặc thần hoặc quỷ, cho đến các chúng sanh tội khổ trong Lục Đạo nghe danh hiệu của ông, thấy hình tượng của ông, mến tưởng đến ông, khen ngợi ông, thì những chúng sanh ấy đều ở nơi Đạo Vô Thượng quyết chẳng còn thoái chuyển, thường được sanh vào cõi người, cõi trời, hưởng đủ sự vui vi diệu; khi nhân quả sắp thành thục liền được gặp Phật thọ ký cho.

Trong đoạn này đức Phật khen ngợi Quán Thế Âm Bồ Tát, đích thật ngài có nhân duyên to lớn đối với thế giới chúng ta.  Thế gian này bao gồm mười pháp giới ở Sa Bà, phạm vi rất lớn.  Chúng sanh trong mười pháp giới, đặc biệt là chúng sanh đang chịu khổ nạn trong lục đạo, trong kinh Vô Lượng Thọ đức Thế Tôn dạy chúng ta, lúc chúng ta gặp tai nạn to lớn thì phải nhất tâm xưng niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, lúc đó liền có thể thoát khỏi tai nạn.  Lời này chúng ta vừa nghe hình như là mê tín, thật ra lời này là có căn cứ, lý luận đích xác.  Trong đó quan trọng nhất là ‘nhất tâm xưng niệm’ thì mới có thể hóa giải được tai nạn.  Tai nạn hình thành như thế nào?  Là do làn sóng của những thói quen ác hiện ra, khi bạn nhất tâm xưng niệm thì tâm bạn thanh tịnh bình đẳng, làn sóng phát ra từ tâm bạn sẽ hòa lẫn với làn sóng lên xuống bất thường [của những tâm niệm ác].  Nếu sức mạnh làn sóng của bạn mạnh, bạn sẽ khuấy nhiễu làn sóng ác chứ nó không thể khuấy nhiễu làn sóng của bạn, làn sóng thanh tịnh bình đẳng sẽ làm cho làn sóng của ác niệm êm dịu xuống, do đó hiện tượng của tai nạn sẽ được hóa giải, đạo lý là như vậy.

          Hiện nay khoa học gia cũng biết đạo lý này, nhưng chẳng giải thích rõ ràng được.  Họ phát hiện, trong quá khứ họ cho rằng vật chất tồn tại trong thế giới chúng ta, hiện nay thì họ nói vật chất trên căn bản chẳng tồn tại, vật chất đều do hiện tượng làn sóng tạo thành.  Do đó nhất tâm xưng niệm, làn sóng này tốt nhất.  Nhất tâm tức là Nhất Chân pháp giới, là chân tâm; hết thảy các làn sóng khác là vọng tâm.  Chúng ta dùng chân tâm hóa giải vọng tâm thì tai nạn có thể bị tiêu trừ.  Những gì chân tâm hiện ra là Nhất Chân pháp giới của chư Phật Bồ Tát, ở đó rất yên định, rất hòa bình, cát tường, an vui.  Chúng ta phải lắng lòng thể hội đạo lý này, sau đó đức khi Phật dạy chúng ta phương pháp, chúng ta liền có thể khẳng định, chúng ta biết làm vậy thật sự sẽ có hiệu quả.  Đây chính là được Phật, Bồ Tát gia trì, người thế gian gọi là bảo hựu.  Nếu tự mình chẳng đạt được nhất tâm thì Phật, Bồ Tát gia trì không tới, khi bạn niệm tới nhất tâm thì liền cảm ứng đạo giao cùng chư Phật, Bồ Tát, là đạo lý như vậy, do đó trong Phật pháp đích thật là không có mê tín.

          Nơi đây nói ‘Nghe danh hiệu, nhìn thấy hình tượng’ là duyên.  ‘Luyến mộ, tán thán’, luyến mộ là học theo Phật, Bồ Tát, tán thán là khen ngợi, nghĩa là giới thiệu Phật, Bồ Tát cho đại chúng, chúng ta gọi là hoằng pháp lợi sanh.  Tán thán là hoằng pháp lợi sanh, luyến mộ là y giáo phụng hành.  Từ đây mới biết, người như vậy nhất định có thiện căn phước đức.  ‘Nghe danh hiệu nhìn thấy hình tượng’ là nhân duyên, người có thiện căn, phước đức, nhân duyên đầy đủ cho nên người này sẽ ‘nhất định không thoái chuyển trên đạo vô thượng’, đây là quả báo của họ.  ‘Thường sanh nhân thiên, thọ nhận đầy đủ niềm vui vi diệu’, đây là lúc họ còn chưa phát tâm cầu thoát khỏi lục đạo, thập pháp giới.  Họ ở trong lục đạo hưởng niềm vui vi diệu của cõi trời, người, chắc chắn sẽ không đọa tam ác đạo, cũng sanh tới cõi A Tu La.  Sanh tới cõi A tu la tuy hưởng thọ, hưởng lạc, nhưng lại tạo nghiệp, khi hưởng hết phước báo thì chắc chắn sẽ đọa lạc.  Trong cõi trời, cõi người nhất định sẽ gặp bạn tốt, gặp thầy tốt, tạo tăng thượng duyên cho họ.  Người có thiện căn, phước đức gặp thiện tri thức, cũng có thể sanh khởi lòng tin, có thể hiểu rõ, y giáo phụng hành, đây là nhân duyên thù thắng.  ‘Nhân quả gần chín muồi’, là lúc thật sự giác ngộ, giác ngộ rằng phước báo nhân thiên chẳng thể hưởng dài lâu, khi hưởng phước thì không thể không tạo nghiệp, tạo nghiệp mà chính mình cũng không biết, họ có thể bỏ phước báo của mình, chuyên tu Tịnh Độ, do đó ‘gặp Phật được thọ ký’.  Chúng ta phải biết trong thời đại này, chư Phật Như Lai đã dạy ‘thời Mạt Pháp, chỉ có tu Tịnh Độ mới thành công’, trong pháp môn Tịnh Độ thì quan trọng nhất là tâm thanh tịnh.

          Hôm qua lúc chúng tôi ở trên máy bay thấy tin tức hàng đầu trên báo Anh ngữ ghi “Kinh tế Tân Gia Ba suy thoái, họ đoán trước mùa Xuân năm sau còn khó khăn hơn bây giờ, chính phủ nhắc dân chúng phải chuẩn bị tâm lý”.  Chúng tôi đã nghe về việc này lâu rồi.  Tai nạn trong thế gian ngày càng nhiều, ngày càng cấp bách, chúng ta phải làm sao?  Thầy Lý đã dạy ‘Chỉ có một phương pháp duy nhất là niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ’, câu này của thầy là lời dạy chân thật.  Cầu sanh Tịnh Độ nhất định phải buông xuống vạn duyên, do đó xây dựng Thôn Di Đà và Niệm Phật Đường là một nhân duyên to lớn, không những hiếm có trong thời đại ngày nay, mà trong vô lượng kiếp cũng khó gặp được nhân duyên này, chúng ta phải biết [trân quý nhân duyên ấy].  Chúng tôi đi đến nhiều nơi ở hải ngoại, đi tới đâu người ta cũng nói ‘Xin pháp sư thường trú ở đây, lưu lại đây giảng kinh độ chúng con’, bạn phải biết đó là phá hoại đạo tràng này.  Một đạo tràng thù thắng có thể cứu giúp cả thế giới, đạo tràng này bị phá hoại thì cả thế giới sẽ chịu vạ lây.  Đạo tràng này cũng như đài truyền hình, đài này phát ra làn sóng tư tưởng bình lặng nên có sức mạnh rất lớn.  Bạn phân chia ra bốn năm phần rời rạc, mỗi đạo tràng sẽ rất yếu ớt, chẳng thể làm việc, chẳng giúp đỡ gì được trong việc giảm bớt tai nạn.

          Do đó quý vị hiểu rõ đạo lý này rồi, chúng ta hãy tập trung người niệm Phật trên toàn thế giới để có thể tạo nên một sức mạnh to lớn.  Nhưng người trên thế gian ai cũng coi trọng cảm tình, họ nói ‘[Pháp sư] ở Tân Gia Ba, tại sao không đi tới đây, không tới địa phương này của chúng tôi [để xây đạo tràng]?’.  Việc này đều do nhân duyên, mỗi chỗ đều có nhân duyên, chứ không phải là ưa thích một địa phương nào, làm gì có đạo lý như vậy!  Địa phương nào có duyên thì sẽ xây dựng ở nơi đó.  Người thế gian đều trọng cảm tình, đều vì mình, [họ nói ] xây [đạo tràng] ở đây, tốt nhất là làm ở nhà tôi, [họ chỉ nghĩ đến] một phạm vi nhỏ của mình.  Làm ở quốc gia mình còn chưa chịu, hãy làm ở tỉnh của tôi, ở thành phố của tôi, tốt nhất là ở nhà tôi, như vậy thì làm sao thoát khỏi Tam giới?  Làm sao có thể thoát khỏi luân hồi?  Tâm lượng như vậy quá nhỏ, chúng ta phải hiểu đạo lý này.  Chúng ta cảm thấy những người này rất nhiệt tình, rất dễ thương, chúng tôi cũng rất cảm kích.  Nhưng tuyệt đối không thể nghe theo họ, mục tiêu của chúng ta là vì hết thảy chúng sanh, vì thế giới hòa bình, an định.  Lớn có thể bao gồm nhỏ, nhỏ không thể bao gồm lớn.  Chúng ta xem tiếp:

          Nhữ kim cụ đại từ bi, lân mẫn chúng sanh cập thiên long bát bộ, thính ngô tuyên thuyết Địa Tạng Bồ Tát bất tư nghị lợi ích chi sự.

          Nay ông sẵn lòng đại từ bi, thương xót các chúng sanh cùng Thiên Long Bát Bộ, mà muốn nghe Ta tuyên nói những sự lợi ích chẳng thể nghĩ bàn của Bồ Tát Địa Tạng.

          Trong phẩm kinh này, Quán Thế Âm Bồ Tát đại diện chúng ta đứng ra khải thỉnh.  Lòng từ bi của Quán Thế Âm Bồ Tát chẳng khác gì Địa Tạng Bồ Tát, đều thương xót chúng sanh đang chịu khổ nạn, nếu thiên long bát bộ không nghe kinh nghe pháp thì cũng sẽ tạo tội nghiệp.  Sau đó là lời dạy Quán Thế Âm Bồ Tát, thật ra cũng là lời dạy cho đại chúng có mặt trong hội, ‘thính’ là lắng nghe, ‘ngô’ là lời Thế Tôn tự xưng, tuyên dương sự lợi ích chẳng thể nghĩ bàn của Địa Tạng Bồ Tát.

          Nhữ đương đế thính, ngô kim thuyết chi.

Ông hãy lắng nghe, nay Ta sẽ nói rõ.

          Quán Thế Âm ngôn, duy nhiên Thế Tôn, nguyện nhạo dục văn.

Ngài Quán Thế Âm bạch rằng: “Vâng, bạch Đức Thế Tôn! Con xin vui lòng nghe.”

          Những câu này không cần giải thích.  Sau đó Thế Tôn tuyên dương:

Phật cáo Quán Thế Âm Bồ Tát

Đức Phật bảo Bồ Tát Quán Thế Âm

Quán Thế Âm Bồ Tát là người đại diện cho chúng ta.

Vị lai hiện tại chư thế giới trung hữu thiên nhân thọ thiên phước tận, hữu ngũ suy tướng hiện, hoặc hữu đọa ư ác đạo chi giả.

Trong các thế giới về thuở hiện tại và vị lai, có vị thiên nhân nào phước trời thọ hưởng đã hết, có Ngũ Suy Tướng hiện ra, hoặc có vị phải đọa lạc nơi chốn ác đạo

Đoạn này rất quan trọng!  Chúng ta phải ghi nhớ, đây là lời giải thích chân tướng sự thật.  Sanh lên cõi trời, người trên trời hưởng phước cũng có ngày hết, khi hưởng hết phước thì chết.  Ở đây nói rõ thọ mạng người cõi trời dài lâu, nhưng không thể không chết, hết thảy lục đạo đều có sanh tử.  Hai thứ sanh tử đều đầy đủ ‘Phần đoạn sanh tử và Biến Dịch sanh tử’, cho dù sanh tới cõi trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng cũng còn sanh tử, như vậy thì không rốt ráo.  Có bao nhiêu người mong sanh lên trời?  Lên trời cũng không rốt ráo.  Không những phước trời hưởng hết, người Trời có sanh tử, vả lại sẽ đọa ác đạo.  Khi thọ mạng cõi trời hưởng hết rồi đọa tam ác đạo, đó là sự thật, chúng ta không thể không biết.  Trong Chú Giải, vài hàng đầu nói rất hay, chúng ta hãy đọc: ‘Chư thiên trong Tam giới đều mang túc nghiệp’, Tam giới gồm có sáu tầng trời Dục Giới, mười tám tầng trời Sắc Giới, và bốn tầng trời Vô Sắc Giới, tổng cộng có 28 tầng.  Làm sao có thể sanh lên trời?  Nghiệp tu đời trước khác nhau, sanh lên trời là do tu nghiệp thiện, trong kinh đức Phật dạy điều kiện sanh lên trời là phải tu ‘Thập thiện nghiệp và tứ vô lượng tâm’.

Ngày nay trong đời sống hằng ngày chúng ta xử thế, đối người, tiếp vật, có làm tròn mười nghiệp thiện hay không?  Chư vị đồng tu muốn được một chút thành tựu trong Phật pháp, đời này nhất định không thể làm việc hại người lợi mình, tuyệt đối không được làm.  Tuyệt đối không thể có tâm niệm hại người, đương nhiên không thể làm việc tổn hại tới người khác.  Bất luận trong trường hợp nào, miệng không nói lời ác độc, chúng ta phải biết đạo lý làm người căn bản này, phải làm cho bằng được.  Nếu có thể niệm niệm đều đem lại lợi ích cho chúng sanh, có thể xả mình vì người, đó là bạn tu tích phước đức, vậy thì bạn mới được phước báo cõi trời.  Khi khởi tâm động niệm đều vì xã hội, vì nhân dân, vì hết thảy chúng sanh, thì tiền đồ của bạn sẽ tươi sáng.  Cho dù không biết vãng sanh Tịnh Độ, cũng chắc chắn sẽ sanh lên trời, hưởng phước trời.  Chúng ta nhất định phải hiểu rõ những sự thiện ác, tội phước mà đức Phật đã dạy trong kinh.  Kinh Địa Tạng cũng rất rõ ràng, chúng ta thường đọc tụng, thường suy nghĩ, trong đời sống hằng ngày mỗi khi khởi tâm động niệm, ngôn ngữ tạo tác có phạm lỗi hay không?  Khi đọc tụng bạn hãy kiểm điểm tâm hạnh của mình, đó mới là thật sự tu hành.  Nếu phạm lỗi thì phải thật sự sám hối sửa lỗi, tuyệt đối không thể chất chứa, không thể che đậy, che đậy thì tội ấy sẽ nặng, tội nghiệp của bạn càng tích lũy càng nặng.  Bạn phải biết sám hối, phải thật sự sửa lỗi.  Tuyệt đối đừng lợi dụng người ta, làm vậy chẳng có ích lợi gì hết.  Bạn lợi dụng người ta thì đời sau cũng phải trả nợ, vậy thì có đáng gì đâu!  Như vậy không phải là gây phiền phức cho chính mình hay sao?  Đời sống của chúng ta càng đơn giản càng tốt.

Lần này chúng tôi đi tham quan một đạo tràng thuộc phái Tiểu Thừa ở Bách Tư Sâm (Perth, Úc Châu), tham quan xong tôi rất cảm động.  Nơi đó hiện nay có 17 vị xuất gia từ nhiều quốc gia đến đó tu học, họ được tín đồ cúng dường, đó là một miếng đất khoảng 9.600 acre toàn là rừng núi, họ xây đạo tràng tại đó, phòng ốc đều do chính họ thiết kế, họ tự xây cất chứ không mướn công nhân, xây cũng rất khá.  Họ có một Phật đường trang nghiêm, đơn giản mộc mạc.  Có một thư viện nho nhỏ, có phòng tắm, phòng tắm rất lớn chia ra nhiều gian.  Phòng nghỉ ngơi của họ có được 20 gian nhà, mỗi gian cách nhau chừng 5 phút đi bộ, gian phòng nghỉ ngơi này rất nhỏ, mỗi người một gian nhỏ tôi nhắm chừng khoảng 4 mét vuông, chắng lớn lắm, nếu để giường thì để được vừa đủ ba chiếc giường.  Phòng nhỏ này sạch sẽ, gọn gàng, giống như túp lều nhỏ vậy, phân tán trong khu vực này.  Họ nói hy vọng trong tương lai đạo tràng này tối đa chỉ có 20 người trú ở đó.  Chẳng có nhà bếp, người theo Tiểu Thừa chẳng có nhà bếp, chẳng nấu nướng, chỉ nhận sự cúng dường của người ta, mỗi ngày có cư sĩ đem cơm đến cúng dường cho họ.  Mỗi ngày họ ăn một bữa ngọ, coi xong tôi rất cảm động, họ chỉ chuyên tâm để làm việc đạo.  Trong thành phố họ có một đạo tràng chi nhánh, có một giảng đường, mỗi thứ sáu có hai pháp sư tới đó giảng kinh thuyết pháp, mỗi tuần một lần, thính chúng có khoảng hơn bốn trăm người đều là tín đồ của họ.  Có bạn đồng tu cùng đi với chúng tôi hỏi họ, nếu gặp lúc trời mưa, gió bão, chẳng có người đem cơm nước tới thì làm sao?  Họ nói trước giờ chưa từng gặp qua trường hợp như vậy.  Mấy năm trước bị cháy rừng, cây cối ở đó cũng bị thiêu trụi, nhưng gian nhà nghỉ ngơi của họ chẳng sao cả, thật là chẳng thể nghĩ bàn, do đó thật sự tu đạo thì có thần hộ pháp hộ vệ.  Chúng tôi tham quan xong rất cảm động, nhìn thấy hình dáng của người thật sự tu hành, đây là nơi [xứng đáng để cho] chúng ta đến để học hỏi.

Đoạn kinh này nói người cõi trời lúc ‘hưởng hết phước trời, có năm tướng suy kém hiện ra’.  Phước báo của người cõi trời lớn nhỏ khác nhau, cũng giống như người trong thế gian chúng ta.  Chúng ta được thân người, ai cũng được thân người, mọi người đều cư trú trên địa cầu này, phước báo của mỗi người không giống nhau.  Chúng tôi tới Úc Châu tham quan, phước báo người Úc Châu lớn hơn chúng ta, chúng ta đông người như vậy chen chúc trong một căn lầu nhỏ cũng như cái lồng chim bồ câu vậy, phòng nghỉ ngơi của người ta, một người trú ở một phòng thiệt lớn.  [Còn đạo tràng ở Perth nói trên] tuy phòng nghỉ ngơi nhỏ nhưng khoảng không gian sinh hoạt rất lớn; từ phòng này tới phòng khác phải đi bộ khoảng năm, sáu phút, [họ cư trú trong hoàn cảnh] núi non thanh tú như vậy.  Ngày nay chúng ta nói là từ trường khác nhau, khi bước vào đạo tràng thì tâm bạn liền thanh tịnh, liền hoan hỷ.  Dã thú trên núi rất nhiều, nhưng người xuất gia đều có tâm từ bi, dã thú cũng không hại người, con người có thể tiếp xúc với dã thú, dùng tâm chân thành, tâm thanh tịnh, tâm từ bi để tiếp xúc thì rắn độc, thú dữ cũng không hại bạn, vì tâm địa bạn từ bi, chẳng có tâm độc ác.  Nếu tâm bạn độc ác thì sẽ xung đột với chúng nó, nếu tâm bạn từ bi, thanh tịnh thì sẽ không xung đột.  Ở Trung Quốc cũng có rất nhiều người tu hành trong rừng sâu, họ thường ở gần cọp và những thú dữ khác.  Những thú dữ đó giống như những con vật bạn nuôi trong nhà vậy, nó biết nghe lời, đạo lý là như vậy.  Đúng như lời dạy của đức Phật, làm thế nào để sống chung hòa bình với chúng sanh trong lục đạo, tôn trọng lẫn nhau, hợp tác lẫn nhau.

Con người có thể chung sống hòa bình với rắn độc, thú dữ thì lẽ nào không thể chung sống hòa bình với người khác?  Do đó niệm niệm phải quay lại và suy nghĩ chính mình, đừng nghĩ tới người khác, lỗi lầm ở tại đâu?  Lỗi lầm chắc chắn là của mình, người khác không có lỗi, như vậy thì bạn mới có thể sống chung với người khác.  Nếu khởi tâm động niệm đều nghĩ mình chẳng có lỗi, người khác đều có lỗi, thì bạn sẽ đối lập với người ta, kình chống kẻ khác, mối thắt gút này vĩnh viễn không được hóa giải, cho nên thường phản tỉnh lỗi lầm của mình, sửa đổi lỗi lầm của mình, đừng yêu cầu người khác phải tùy thuận theo mình, phải yêu cầu mình tùy thuận theo mọi người, làm vậy mới đúng.  Phổ Hiền Bồ Tát dạy chúng ta ‘hằng thuận chúng sanh’, chứ chẳng kêu chúng sanh thuận theo mình.  Sau đó mới có thể tùy hỷ tu tập tích lũy công đức, công đức là Định và Huệ.  Định là ‘nhất tâm bất loạn’ nói trong kinh Di Đà, Định khởi tác dụng chính là Huệ, Định Huệ mới có thể giải quyết vấn đề.

Nếu phước báo của người cõi trời chẳng lớn, lúc lâm chung những hạt giống thói quen xấu trong A Lại Da Thức khởi lên làm cho họ đọa ác đạo.  Đây là điều đức Phật thường nói trong kinh, lúc lâm chung nghiệp lực mạnh nhất sẽ lôi đi, ý niệm nào mạnh thì người đó sẽ theo ý niệm đó đi đầu thai, do đó lúc lâm chung ý niệm thiện mạnh thì người đó sẽ sanh thiện đạo, ác niệm mạnh thì người đó sẽ sanh ác đạo.  Chẳng phải vua Diêm La phán cho bạn sanh vào cõi nào, mà do ý niệm của bạn dẫn bạn đi.  Nếu ý niệm ngu si của bạn mạnh sẽ dẫn bạn vào cõi súc sanh.  Ý niệm tham ái mạnh sẽ dẫn vào cõi ngạ quỷ; ý niệm sân giận mạnh sẽ dẫn vào cõi địa ngục.  Do đó có thể biết nếu ý niệm cuối cùng của chúng ta, ý niệm Phật mạnh thì sẽ sanh Tịnh Độ, lúc bình thường chúng ta phải vun bồi ý niệm này, chứ đừng đợi tới lúc lâm chung thì không kịp nữa.  Lúc lâm chung, mười niệm có thể vãng sanh là không sai, trên mặt Lý thì được, còn trên mặt Sự thì rất ít [người làm được như vậy].  Một ít người này đều do sức thiện căn đời trước mạnh mẽ, chỉ vì một lúc mê hoặc tạo tác ác nghiệp, lúc lâm chung có người nhắc nhở nên túc căn của họ được khơi dậy, như vậy mới vãng sanh, tuyệt đối chẳng phải là may mắn.  Nếu bạn muốn may mắn được sanh thì tuyệt đối chẳng có lẽ này, nhất định phải vun bồi, nỗ lực, dốc sức hằng ngày, chúng ta phải biết đây là ‘một đại sự nhân duyên trăm ngàn vạn kiếp khó gặp’.  Nếu đã hiểu được đạo lý và chân tướng sự thật này rồi thì bạn làm sao không buông xuống được?  Bạn chắc chắn sẽ buông xuống được.  Nếu bạn nói bạn chưa buông xuống được, đó là vì bạn chưa nhận thức rõ ràng chân tướng sự thật, chưa hiểu rõ đạo lý.  Sau khi thấu triệt thì nhất định sẽ buông xuống, tuyệt đối sẽ không tiêm nhiễm.

Trong kinh nói ‘năm tướng suy kém’ gồm có hai thứ: ‘năm tướng nhỏ và năm tướng lớn’.  Năm tướng suy kém nhỏ, thứ nhất là thân thể có mùi hôi.  Lúc bình thường thì thân thể của người cõi trời thanh tịnh, có mùi thơm.  Rất nhiều đồng tu niệm Phật, hoặc trong lúc niệm Phật, hoặc tụng kinh, thậm chí trong lúc kinh hành, thảo luận Phật pháp ngửi được mùi thơm lạ.  Mùi thơm lạ này từ đâu tới?  Có thể là mùi thơm lạ này từ trước tới giờ bạn chưa hề ngửi được, bạn chẳng diễn tả được, mùi thơm này rất lạ, thậm chí là một mùi thơm thật nồng.  Có lúc kéo dài cả mấy phút, mọi người đều ngửi được.  Cổ đại đức nói, khi chúng ta ở đó niệm Phật, tụng kinh, thảo luận Phật pháp, gặp lúc có người cõi trời đi ngang qua, họ nhìn thấy sanh tâm hoan hỷ, họ dừng lại chấp tay, lúc đó là lúc bạn ngửi được mùi thơm lạ.  Những trường hợp này rất nhiều, nhiều người đã từng trải qua.  Đến lúc năm tướng suy kém nhỏ hiện ra là lúc phước báo của họ sắp hết, chẳng còn mùi thơm.  Thứ hai trên thân người cõi trời đều có hào quang, [lúc tướng suy kém nhỏ hiện ra thì] hào quang này sẽ yếu đi.  Thứ ba là lúc tắm rửa thì nước dính trên thân thể; khi chúng ta tắm xong thì phải lau cho khô, người cõi trời không cần, nước sẽ không dính ướt trên thân.  Khi nước dính trên thân thì đó là tướng suy kém.  Thứ tư là họ sẽ khởi lên một ý niệm tham luyến đối với cảnh giới xung quanh, khởi lên ý niệm nhiễm trước.  Thứ năm là nháy mắt, lúc bình thường thì người cõi trời không nháy mắt, khi có nháy mắt thì đó là tướng suy kém.  Đây là năm tướng suy kém [chứng tỏ] họ hưởng gần hết phước báo.

          Khi phước báo hưởng hết thì ‘năm tướng suy kém lớn’ hiện ra, tướng thứ nhất trong ‘năm tướng suy kém’ là quần áo dơ.  [Lúc bình thường thì] quần áo của người cõi trời chẳng cần phải cắt may, chẳng cần phải giặt giũ, quần áo của họ không nhiễm chất dơ, nhưng tới lúc này thì sẽ nhiễm bụi bặm.  Thứ nhì, người cõi trời đều đội mão, trên mão có cài hoa tươi, hoa này sẽ khô đi, sẽ héo đi, đây là tướng suy thoái, lúc đó họ sẽ rất đau khổ.  Thứ ba là chảy mồ hôi.  Lúc có những tướng này xảy ra thì thọ mạng của họ đã gần hết, trong kinh nói đại khái không quá bảy ngày thì họ sẽ chết.  Thứ tư là thân thể có mùi hôi.  Thứ năm là họ đứng ngồi không yên.  Lúc năm tướng suy thoái nhỏ hiện ra, nếu họ có duyên gặp được chư Phật, Bồ Tát, gặp thiện tri thức, nếu họ có thể sám hối, quy y, noi theo lời dạy mà tu học thì họ có thể khôi phục, có thể gia tăng phước trời.  Nói cách khác, gia tăng thọ mạng của họ.  Năm tướng suy thoái lớn hiện ra thì không được, nhất định sẽ đọa lạc.  Do đó thiên nhân càng lên cao, đọa lạc càng khổ.  Trời Dục Giới, trời Sắc Giới, lúc phước hưởng hết có rất nhiều người sanh tới cõi người, đổi lấy thân người.  Sau khi thọ mạng của người ở cõi Tứ Thiền Thiên, Tứ Không Thiên hết, hơn phân nửa đều đọa tam đồ, ‘hoặc đọa ác đạo’ như người ta thường nói ‘trèo cao, té đau’, việc này có đạo lý trong đó.  Xin xem tiếp kinh văn:

          Như thị thiên nhân nhược nam nhược nữ, đương hiện tướng thời, hoặc kiến Ðịa Tạng Bồ Tát hình tượng, hoặc văn Ðịa Tạng Bồ Tát danh, nhất chiêm nhất lễ, thị chư thiên nhân, chuyển tăng thiên phước, thọ đại khoái lạc, vĩnh bất đọa tam ác đạo báo.

Các vị thiên nhân đó, hoặc nam hoặc nữ, đương lúc tướng suy hiện ra, mà hoặc thấy được hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng hoặc nghe được danh hiệu của Bồ Tát Địa Tạng, rồi một lần chiêm ngưỡng một lần đảnh lễ, thì các vị thiên nhân đó được phước trời thêm lớn, hưởng nhiều sự vui sướng, vĩnh viễn không phải đọa lạc vào ba ác đạo nữa.

          Việc này phải coi duyên phận, nếu duyên phận của người đó tốt, gặp được Ðịa Tạng Bồ Tát, lúc năm tướng suy thoái của họ hiện ra, nhìn thấy hình tượng Ðịa Tạng Bồ Tát hoặc nghe được danh hiệu của Ðịa Tạng Bồ Tát.  Không nhất định phải gặp tận mặt Bồ Tát, giống như hiện nay chúng ta đúc nặn hình tượng Ðịa Tạng Bồ Tát, bạn nhìn thấy tượng, nghe đến danh hiệu của Bồ Tát, cũng có thể ‘nhất chiêm nhất lễ’.  Câu ‘nhất chiêm nhất lễ’ ở đây, chúng ta đừng hiểu lầm, chỉ lạy Ðịa Tạng Bồ Tát một lần là thôi, làm gì có chuyện tiện nghi dữ vậy?  ‘Nhất’ là nhất tâm, phải hiểu như vậy, đó là chân tâm.  Dùng tâm chân thành để chiêm lễ, trong tâm chân thành có đầy đủ tâm sám hối, đầy đủ lễ kính.  Thiên Thân Bồ Tát trong Vãng Sanh Luận có dạy năm cương lãnh tu học, chữ ‘chiêm lễ’ trong câu ‘nhất chiêm nhất lễ’ có đủ [năm cương lãnh tu học nói trên].  Lão cư sĩ Hạ Liên Cư y cứ nguyên tắc này, đặt ra một công khóa cho người sơ học chúng ta ‘Tịnh Tu Tiệp Yếu’, ngài y theo năm nguyên tắc trong Vãng Sanh Luận của Thiên Thân Bồ Tát mà đặt ra.  Trong đó có lễ kính, xưng danh, sám hối, quan trọng nhất là sám hối.  ‘Những vị thiên nhân đó chuyển tăng thiên phước’, nghiệp chướng tiêu trừ, phước báo liền hiện ra, họ có thể kéo dài thời gian hưởng phước ở cõi trời.  ‘Vĩnh viễn không đọa quả báo trong tam ác đạo’.  Trong Chú Giải có ghi một câu chuyện [6], quý vị coi sẽ biết.  Từ những câu chuyện của người xưa, không những chúng ta có thể sanh khởi lòng tin, mà còn có thể nhận biết được chân tướng sự thật, biết làm sao tu học, đây là nói chiêm lễ, sám hối, tu phước.  Câu kế:

 

          Hà huống kiến văn Bồ Tát dĩ chư hương, hoa, y phục, ẩm thực, bảo bối, anh lạc bố thí cúng dường, sở hoạch công đức phước lợi vô lượng vô biên

Huống chi là được thấy tượng, được nghe tên của Bồ Tát, rồi đem các thức hương hoa, y phục, đồ ăn thức uống, vật báu, chuỗi anh lạc… mà bố thí cúng dường, thì công đức phước lợi có được sẽ vô lượng vô biên.

          Ðây là nói phước báo của sự thấy, nghe, chiêm lễ rất lớn, nếu cộng thêm cúng dường, thì phước của họ được đương nhiên sẽ càng lớn.  Ở đây nêu lên vài thí dụ ‘hương, hoa, y phục, thức ăn’, chúng ta phải hiểu ý nghĩa tiêu biểu pháp.  ‘Hương’ tượng trưng cho Tín, Giới, Ðịnh, Ngũ Phần Pháp Thân.  Chắc chắn không phải là chúng ta mang theo một chút hương đem đốt trước mặt Phật, Bồ Tát để cúng dường là được, đó chỉ là hình thức, [chúng ta] phải biết từ hình thức này mà hiểu được thật chất, đó mới là chân hương.  Do đó có thể xả bỏ tham, sân, si, tu Giới, Ðịnh, Huệ, mới thật sự là dùng hương cúng Phật.  Chúng ta đốt cây hương này có ý nghĩa như vậy, [đốt hương nhắc chúng ta] xa lìa tham, sân, si, siêng tu Giới, Ðịnh, Huệ.  ‘Hoa’ tiêu biểu cho Lục Ðộ, Vạn Hạnh, ‘Y’ [phục] tiêu biểu Nhẫn Nhục, chúng ta phải hiểu những nghĩa này.  ‘Thức Ăn’ tiêu biểu pháp vị, ‘bảo bối, anh lạc’ tiêu biểu dụng cụ trang nghiêm.  Chúng ta thật sự có thể y theo những phương pháp này để tu học, thì phước báo, lợi ích đạt được sẽ vô lượng vô biên.

          ‘Vô lượng vô biên’, trong Chú Giải có nói, phần cuối nói ‘Nay nhận được công đức phước lợi’, ‘tương ứng với Bát Nhã, giống như hư không vô lượng vô biên’.   Làm sao tương ứng với Bát Nhã?  Ðó là như kinh Kim Cang dạy chúng ta, Bồ Tát dùng câu ‘chẳng có ngã tướng, chẳng có nhân tướng, chẳng có chúng sanh tướng, chẳng có thọ giả tướng’, tu tích hết thảy thiện pháp, điều thiện lành tuy là nhỏ, nhưng công đức, phước lợi thâu hoạch được vô lượng vô biên, đó là đạo lý như vậy.  Nếu chấp tướng tu hành, phước báo tu học được càng lớn, nhưng thâu hoạch được phước báo rất nhỏ, sự thật này đức Thế Tôn đã nói rất nhiều lần trong kinh điển, đặc biệt là kinh Ðại Thừa, chúng ta phải lắng lòng tìm hiểu.  Do đó có thể biết mở rộng tâm lượng là đề mục tu học thứ nhất của người tu theo Ðại Thừa chúng ta.  Nếu không thể mở rộng tâm lượng, nói thật ra thì thành tựu của chúng ta thua xa Tiểu Thừa.  Người Tiểu Thừa cho dù không thể chứng quả, đây là sự thật, ngay cả sơ quả Tiểu Thừa là Tu Ðà Hoàn cũng không dễ gì chứng được, rất khó chứng được, nhưng phước báo nhân thiên họ chắc chắn sẽ đạt được.  Chúng ta coi xong chắc chắn sẽ không hoài nghi, họ tu thiên phước.  Nếu có thể đoạn được tám mươi tám phẩm Kiến Hoặc thì mới có thể chứng được quả vị Tu Ðà Hoàn, nhưng tám mươi tám phẩm Kiến Hoặc trong Tam Giới rất khó đoạn dứt được.

          Người tu học Ðại Thừa như chúng ta, nếu không thể buông xuống thân tâm thế giới thì niệm Phật không thể vãng sanh.  Ðây là câu khẩu đầu thiền mà vị ‘đường chủ’ trong Niệm Phật Ðường thường nói, nhắc nhở đồng tu niệm Phật từng giờ từng phút, ‘buông xuống hết thảy thân tâm thế giới’.  Buông xuống thân tâm thế giới là buông xuống bốn tướng ‘ta, người, chúng sanh, thọ giả’, tương ứng với Bát Nhã, đến lúc đó thì thật sự là ‘một niệm tương ứng một niệm Phật’, bạn sẽ có thể nắm chắc sự vãng sanh.  Nếu không nắm chắc vãng sanh thì [có thể là] bạn còn tiếc nuối một cái gì đó trên thế gian này, chỉ cần có một tơ hào tiếc nuối thì sẽ gây chướng ngại cho sự vãng sanh của bạn, do đó chúng ta nhất định phải xả sạch sành sanh.  Cái gì bạn có thì hãy bố thí, đem lại lợi ích cho chúng sanh, những gì thân thể này cần dùng đều rất có hạn, sở phí chẳng nhiều, cần gì phải tích lũy những vật dụng hằng ngày quá nhiều, để cho thân mình tạo tội nghiệp?  Do đó nhất định phải biết bố thí, phải biết chia xẻ phước báo của mình với hết thảy chúng sanh, vậy thì phước báo của bạn sẽ lớn, đó là phước báo thật sự.  Lời tán thán của đức Thế Tôn trong đoạn này rất dài, đến đây là hết một đoạn, phía sau là việc chuyển ác nghiệp lúc lâm chung, cũng vô cùng quan trọng, ngày mai chúng tôi sẽ nói tiếp.

Hôm nay đã hết giờ, chúng tôi giảng đến đây.

Trong quá trình chuyển ngữ chắc không tránh khỏi thiếu sót, xin các bậc thức giả hoan hỷ phủ chính cho. 

Xin thành thật cám ơn.                                        

Nhóm Diệu Âm, ngày 4 tháng 9 năm 2006

 

[1] Do sự vật sanh rồi diệt, thường gọi là “sanh diệt đồng thời”, vừa diệt rồi lại sanh, cho nên nhìn từ hiện tượng mọi pháp liên tục được sanh ra nên gọi là “sanh sanh”, do nó liên tục sanh diệt, biến đổi không ngừng nên gọi là “chẳng trụ”.

[2] Nguyên nghĩa của chữ ‘Thụy’ vốn là một loại ngọc dùng làm tin (tín phù), hoặc các thứ ngọc quý được các chư hầu cầm ở tay tượng trưng cho oai quyền.

[3] A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề nghĩa là ‘Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, đây là quả vị của Phật

[4] “Thập Địa” là quả vị của hàng Bồ Tát. Thập Trụ, Thập Hạnh và Thập Hồi Hướng được gọi chung là “Tam Hiền Vị,” tức là quả vị của Tam Hiền. Quả vị của Bồ Tát Thập Địa gồm có: Hoan Hỷ Địa, Ly Cấu Địa, Phát Quang Địa, Diễm Huệ Địa, Nan Thắng Địa, Hiện Tiền Địa, Viễn Hành Địa, Bất Động Địa, Thiện Huệ Địa, và Pháp Vân Địa.

[5] Những nhân duyên vượt trỗi của bậc thánh, tức là vượt trỗi nhân duyên của các địa vị thuộc Tam Hiền.

[6] Câu chuyện trong bản Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Khoa Chú, trang 435 như sau: Như Thiên Đế Thích, tướng suy lớn và nhỏ đột nhiên xuất hiện, lòng sanh hoảng sợ, nghĩ như thế này: “Ai có thể cứu giúp tai ách tướng suy như thế này cho tôi, tôi sẽ quy y người ấy”. Liền tự hiểu rõ, trừ Phật Thế Tôn ra, không ai có thể cứu giúp được, liền đến chỗ Phật, xót xa cầu thỉnh. Phật thuyết pháp cho ông ta, ông ta liền thấy được chân lý, khiến cho những tướng suy đều tiêu diệt ngay lập tức, nên ông ta hoan hỷ, nói bài kệ Ái Ngữ.

Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.