Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.
PrintFriendly and PDF

ÐỊA TẠNG BỒ TÁT BỔN NGUYỆN KINH GIẢNG KÝ

Tập 39 (Số 14-12-39)

          Xin mở cuốn Khoa Chú quyển hạ, trang 23, chúng ta hãy đọc kinh văn một lần:

          Phục thứ Địa Tạng, nhược vị lai thế trung hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, ngộ Phật tháp tự, Đại Thừa kinh điển.  Tân giả bố thí cúng dường, chiêm lễ tán thán, cung kính hiệp chưởng.  Nhược ngộ cố giả hoặc huỷ hoại giả, tu bổ doanh lý, hoặc độc phát tâm, hoặc khuyến đa nhân đồng cộng phát tâm.

Lại nữa, này Ðịa Tạng! Trong đời vị lai như có kẻ thiện nam người thiện nữ nào gặp chùa tháp thờ Phật và kinh điển Ðại Thừa – nếu còn mới thì bố thí cúng dường, chiêm ngưỡng, lễ lạy, khen ngợi, chắp tay cung kính; nếu đã cũ kỹ hoặc hư hoại thì sửa sang tu bổ, hoặc riêng mình phát tâm, hoặc khuyên nhiều người khác cùng phát tâm.

          Nửa phần trước trong đoạn kinh này đã giới thiệu qua, nửa phần sau này dạy [cách chúng ta xử lý] những đồ cũ.  Quy mô của tháp tự cũ rất lớn, chẳng phải đơn độc một hai người thường có thể làm, có thể tu sửa, do đó ở đây đức Phật dạy nếu bạn có khả năng thì một người phát tâm, rất tốt!  Công đức vô cùng thù thắng, nếu một mình không có khả năng thì khuyên mọi người cùng phát tâm, cả hai đều là vô lượng công đức.  Còn sau khi tu bổ kinh điển, nhất định phải có nơi chốn đàng hoàng để cất giữ; thời xưa có một số gia đình chứa của báu trong nhà, đời đời tương truyền, đại gia đình có nề nếp có thể truyền được lâu dài.  Hiện nay là quy chế gia đình nhỏ, vả lại phải thường dời chỗ ở.  Chẳng giống như hồi trước ở Trung Quốc chọn một nơi xây nhà, một khi cư trú chỗ nào là mấy trăm năm ở mãi trong một ngôi nhà.  Con người hiện nay thường dọn nhà, ở ngoại quốc chỉ cần cắm một cái bảng thì tùy tiện có thể bán nhà, do đó bảo tồn những điển tịch cổ này rất khó khăn.  Khi gặp trường hợp như vậy chúng ta phải có trí huệ, tốt nhất là đem để ở trường, hoặc thư viện chính phủ.  Ở Trung Quốc chùa lớn, đại tòng lâm, chúng ta biết những chỗ đó có thể giữ được lâu dài, có thể bảo quản, như Tứ Đại Danh sơn ở Trung Quốc, những đạo tràng này bất luận có thay đổi như thế nào, thì những đạo tràng này vẫn được duy trì.  Ở nơi đó có lầu tàng kinh, có thể giữ ở những chỗ đó.  Đây là giữ những cuốn kinh cũ, sau khi tu bổ, sửa sang xong đem cất giữ ở những chỗ nói trên.  Còn những cuốn cũ quan trọng, chúng ta có thể in lại.  In lại có thể lưu thông rộng rãi, còn bản gốc thì giữ gìn cẩn thận, bản in lại thì lưu truyền rộng rãi.  Thậm chí có thể đem vào máy điện toán, giữ trong máy điện toán có hai cách, một là dùng cách chụp hình để giữ trong máy, có thể nhìn thấy hình dáng của bản in gốc trên máy điện toán, hình dáng của chữ in trong bản in gốc, làm vậy rất có giá trị nghệ thuật.  Còn một cách nữa là làm bản in mới để lưu thông trên mạng, cách này cũng tốt.

          Nói chung, Phật pháp coi trọng ở chỗ lưu thông phổ biến, chứ không coi trọng ở chỗ cất giữ, vì bạn cất giữ thì có ích lợi cho ai?  Do đó nhất định phải lưu thông, công đức của sự lưu thông thù thắng vô cùng.  Ngày nay chúng ta thấy nhiều chỗ in kinh, trong thị trường người đời in kinh phía sau có ghi câu ‘Sở hữu bản quyền, in lại nhất định truy cứu’, như vậy còn được.  Nếu là tứ chúng đệ tử trong cửa Phật, hoặc là đạo tràng, nếu trang bản quyền lại in câu này thì phiền phức lớn lắm, cả đời bạn tu hành có tốt tới đâu, công đức có làm lớn tới đâu đi nữa, bạn sẽ không tránh khỏi đọa lạc.  Nguyên nhân là gì?  Bạn gây chướng ngại cho sự lưu thông Phật pháp, tội này nặng hơn bất cứ tội gì khác, bạn có làm bao nhiêu chuyện tốt gì cũng chẳng chống chọi nổi tội này; bạn đã làm cho pháp thân huệ mạng của bao nhiêu người đoạn dứt vì câu [bản quyền] này, do đó chúng ta phải rõ ràng rành rẽ về sự lợi hại được mất của chuyện bản quyền.  Phàm có thể đem lại lợi ích cho xã hội, lợi ích đại chúng, lưu thông là bố thí.  Phía trước đã nói qua, thí tài thì được giàu sang, thí pháp thì được trí huệ, nếu bạn không chịu bố thí, gây trở ngại cho sự bố thí, không những bạn chịu quả báo nghèo hèn mà còn phải bị quả báo ngu si.  Ngu si rất đáng sợ, người tạo tội cực nặng, nguyên nhân căn bản đều là ngu si.  Thời gian thọ báo trong tam ác đạo, như kinh đã nói đều là ‘vô số kiếp’, người ta phải chịu nạn to lớn này đều vì họ chẳng hiểu đạo lý.  Một niệm chuyển đổi trở lại, phát tâm bố thí, phát tâm cúng dường, thì được phước vô lượng.

          Xin xem đoạn kinh tiếp theo.  Trong phần chú thích có một đoạn, chúng ta hãy đọc xem, hàng thứ nhất trang 24, bắt đầu từ câu thứ hai.  “Nếu gặp những thứ bị hư tổn, hủy hoại thì phải nên tu bổ, tu bổ xong phải xếp đặt”, câu này nói về kinh luận Đại Thừa, “Tích Hiền vân” nghĩa là người xưa nói, đại đức nói, “nếu để trong rương tráp để trùng mọt đục, giấy mực phai mờ, rách nát, tự mình chẳng tu bổ, chẳng chịu lưu truyền, chưa khỏi mắc tội với pháp bảo, trái nghịch cấm chế của Phật”.  Sách vở để lâu sẽ sanh mọt, do đó trách nhiệm của người giữ kinh sách rất lớn, nhất định phải thường đem sách mở ra, không coi cũng phải lật ra để khỏi bị mọt.  Vì giấy Trung Quốc khác giấy ngoại quốc, mỗi năm phải đem phơi để khỏi bị ẩm thấp, hiện nay kỹ thuật phát triển có thể khỏi cần phải đem phơi nắng, phơi nắng rất phiền phức, có thể dùng máy hút ẩm thấp, dùng chất bột hút ẩm thay thế, cho nên khỏi cần phải phơi nắng.  Ở thư viện ngoại quốc, chúng ta thấy họ điều chỉnh không khí, nhiệt độ vô cùng nghiêm ngặt, nên sách vở có thể giữ được lâu, chúng ta phải học hỏi những kỹ thuật này.  Đặc biệt là những lầu tàng kinh ở Trung Quốc, người phụ trách quản lý sách vở ở lầu tàng kinh nên đi đến các thư viện đại học trong nước và ngoài nước để tham quan, học hỏi; hiện đại hóa những thiết bị này.  Chúng ta nhất định phải hiện đại hóa, làm vậy là hy vọng điển tịch có thể bảo tồn được tốt đẹp, được lâu dài, phí tổn cho việc này trong đạo tràng tuyệt đối không thể tiết kiệm.  Phía trước đã nói kinh tạng chính là thiện tri thức của chúng ta, Phật chẳng còn tại thế, chúng ta tu hành chứng quả phải nương nhờ nơi kinh tạng.

          Những câu sau đây rất quan trọng, chúng ta cứ thường sơ sót, ‘Nếu không thể tu bổ, thì không được thiêu đốt’, có nhiều người không hiểu, khi kinh Phật hư rách rồi bèn đem thiêu, như vậy là có tội.  Nếu bạn không thể tu bổ, phải tìm người phát tâm tu bổ, phải chú ý việc này.  Sau đó ngài trích dẫn ‘Như sách Năm Trăm Câu Hỏi có ghi nếu kinh bổn ghi Giới Luật không dùng nữa, rời rạc rồi có thể đốt không?’.  Đây là nói về Giới Kinh, chẳng có người coi, chẳng còn dùng nữa, cũ rách rồi, có thể đốt không?  ‘Đáp: Không được.  Không biết là phạm tội, cứ thiêu thì phạm tội Xả Đọa’.  ‘Nếu biết thiêu là có tội mà vẫn cứ thiêu, phạm tội Quyết Đoán[1].  Giống như ‘phương tiện phá Tăng’, ‘phá Tăng’ là phá hòa hợp tăng, tội này nặng lắm.  ‘Giống như thiêu cha mẹ’, tội đó bao nặng.  Hôm nay chúng ta hãy nghĩ xem trong các vị tứ chúng đồng tu, có bao nhiêu người tạo tội này?  Tùy ý liền hủy bỏ kinh tạng, tạo tội nghiệp cực nặng.  Đương nhiên có rất nhiều người không biết đã tạo tội nặng như vậy, họ đã tạo rồi; ở đây nói rất rõ ràng, không biết mà tạo thì tội đó còn nhẹ; đã biết mà còn tạo thì tội đó cực nặng.  Thiêu cha mẹ, phá hòa hợp tăng là tội Ngũ Nghịch, sẽ đọa địa ngục A Tỳ.  Không biết mà phạm tuy tội chẳng nặng bằng, quả báo vẫn là trong ba đường ác.  Nếu đã phạm tội nặng này thì phải sám hối thật sự, sám trừ tội nghiệp, phát tâm tu thiện, phát tâm tu sửa tháp tự, tu bổ lưu thông kinh giáo Đại Thừa, như vậy mới gọi là thật sự sám hối.  Đoạn kinh sau nói về quả báo:

Như thị đẳng bối tam thập sanh trung, thường vi chư tiểu quốc vương.

Như những người này, trong ba mươi đời thường được làm Tiểu Quốc Vương;

          Đoạn này nói quả báo của người phát tâm tu bổ tháp tự, kinh sách cũ là ‘trong ba mươi đời thường làm các quốc vương nhỏ’.  Quốc vương nhỏ hiện nay là thị trưởng, huyện trưởng, chúng ta coi thời cổ Ấn Độ cùng với thời đại Xuân Thu Chiến Quốc ở Trung Quốc, Sử Ký có ghi nước lớn rộng cỡ một trăm dặm, nước nhỏ cỡ hai mươi, ba mươi dặm.  Hai mươi, ba mươi dặm giống như hiện nay làng, xã, một trăm dặm vuông đại khái bằng một đô thị.  Vào thời cổ những vùng như vậy là một quốc gia, triều nhà Châu có tám trăm chư hầu, tức là tám trăm nước nhỏ.  Tám trăm nước nhỏ này chia ra ở chỗ nào?  Ở lưu vực Hoàng hà và Trường giang, hiện nay gọi là vùng trung nguyên, khu vực này hiện nay chiếm một diện tích không lớn lắm ở Trung Quốc, chỉ là một khu vực rất nhỏ mà trong đó có tám trăm nước.  Chư hầu tức là quốc vương nhỏ, tương đương với huyện trưởng, thị trưởng, trấn trưởng, những vị này đều được gọi là quốc vương nhỏ.  Như vậy đủ biết những người có thể làm chức quận trưởng, thị trưởng, bất luận là trung ương nhậm chức, hoặc được trúng tuyển ở địa phương đều đã tu phước trong đời trước, nếu không tu phước thì họ không làm nổi chức đó.  Bất quá là có một điểm khác nhau, thời đại vua chúa ngày xưa những chư hầu này đều là đời đời nối tiếp; nói cách khác chức tước của họ là chức vụ cả đời, đời trên mất đi thì con cái tiếp tục, đó thật là phước báo, phước báo đó rất lớn.  Người hiện nay tu phước chẳng bằng người xưa, phước báo nhỏ, tại sao?  Có thể nhậm chức hai, ba năm trong một nhiệm kỳ thôi, nhiều nhất là tiếp tục một kỳ, hai kỳ là hiếm lắm rồi, điều này nói rõ phước người ngày nay mỏng hơn người xưa, [phước ấy] đều do nhân đã tu đời trước.

          Đàn việt chi nhân thường vi Luân Vương hoàn dĩ thiện pháp giáo hóa chư tiểu quốc vương.

          Còn vị Ðàn Việt thì thường làm Luân Vương, lại dùng thiện pháp mà giáo hóa các Tiểu Quốc Vương.

          Đàn việt là người dẫn đầu làm.  Do đó có thể biết nếu làm việc này một mình thì họ sẽ là đại quốc vương, những người cùng họ làm việc này là tiểu quốc vương.  Chúng ta phải suy nghĩ cặn kẽ về sự tu nhân và quả báo này thì bạn mới có thể hiểu, hiểu xong rồi chúng ta mới biết phải tu phước như thế nào.  Phật pháp vô cùng coi trọng việc tu phước, không phải người học Phật không tu phước, [nếu nghĩ vậy thì] hoàn toàn sai lầm.  Đức Phật dạy chúng ta đừng hưởng phước, nhưng phải tu phước, đó là ý của Phật, chúng ta phải hiểu.  Có phước thì để cho hết thảy chúng sanh hưởng, đừng hưởng riêng mình, tại sao?  Vì phiền não tập khí của mình chưa dứt, thường thường một khi hưởng phước thì sẽ mê hoặc điên đảo, sẽ đọa lạc, vì muốn phòng ngừa tác dụng phụ này cho nên đức Phật dạy chúng ta đừng hưởng phước.  Phật thường thường tán thán khổ hạnh, khổ hạnh thì đạo tâm của người mới vững chắc, sẽ chẳng thoái chuyển, những vị Tăng thường tu khổ hạnh cũng tu phước chứ chẳng phải không tu phước, hết thảy phước báo dành cho đại chúng hưởng, đó là bố thí càng lớn.  Trong kinh Hoa Nghiêm chúng ta thấy Tỳ Lô Xá Na Như Lai, trong kinh Tịnh Độ thì thấy đức Phật A Di Đà, chúng ta thấy y báo, chánh báo thế giới đó trang nghiêm, phước báo vô cùng, đức Phật có hưởng riêng mình không?  Chẳng có, Phật chia sẻ phước báo đó cho mười phương chúng sanh, cho hết thảy những người vãng sanh đến cõi nước đó hưởng thọ.  A Di Đà Phật cũng vậy, cho người khắp mười phương vãng sanh đến tây phương tịnh độ hưởng thọ, ngài chẳng hưởng riêng một mình.

Vậy thì chúng ta sẽ hỏi ‘Rốt cuộc A Di Đà Phật có hưởng không?  Quý vị hãy tự suy nghĩ về vấn đề này.  A Di Đà Phật phát nguyện tiếp dẫn chúng sanh vãng sanh, bạn phải biết bao nhiêu người niệm Phật ở mười phương thế giới, A Di Đà Phật phải tiếp dẫn hết, chúng ta cứ nghĩ A Di Dà Phật bận rộn vô cùng, làm sao rảnh rỗi?  Có thể nói mỗi phút, mỗi giây ngài đều phải tiếp dẫn người vãng sanh, chưa hề gián đoạn, chuyện này người thế gian chúng ta chẳng có cách gì làm nổi!  A Di Đà Phật có khả năng, ngài có thể hóa thân, chúng ta không thể hóa thân, ngài có thể hóa vô lượng vô biên thân, đồng thời tiếp dẫn vô lượng vô biên người vãng sanh, ngài có khả năng như vậy.  Trong kinh Vô Lượng Thọ chúng ta thấy những nguyện đức Phật A Di Đà đã phát, nguyện nào cũng đã thực hiện, chẳng có nguyện nào hư dối, đây là pháp tối thượng thừa trong Phật pháp.  Trong kinh Địa Tạng hơn phân nửa là nói về chúng sanh có nghiệp chướng cực nặng, do đó trong kinh thường nói quả báo cõi trời, cõi người, rất ít khi nhắc tới quả báo tương lai thành Phật.  Chúng ta xem tiếp đoạn kế:

Phục thứ Địa Tạng, vị lai thế trung, nhược hữu thiện nam tử thiện nữ nhân, ư Phật pháp trung sở chủng thiện căn hoặc bố thí cúng dường, hoặc tu bổ tháp tự, hoặc trang lý kinh điển, nãi chí nhất mao nhất trần, nhất sa nhất chước.

Lại nữa, này Ðịa Tạng! Trong đời vị lai, nếu có kẻ thiện nam người thiện nữ nào ở trong Phật Pháp đã gieo trồng thiện căn—hoặc là bố thí cúng dường, hoặc là tu bổ chùa tháp, hoặc sửa sang kinh điển, cho đến chừng bằng một mảy lông, một hạt bụi, một hạt cát, một giọt nước.

          Đây là lời tóm tắt những gì đã nói phía trên.  Vị lai thế trung, là chỉ hiện tại chúng ta, thiện nam tử thiện nữ nhân là người tu phước, ‘bố thí cúng dường’, ‘tu bổ tháp tự’, ‘trang lý kinh điển’, là những nghiệp thiện mà họ tu, việc thiện mà họ làm, hiện nay có nhiều người không biết những việc thiện này, sơ sót hết.  Thí dụ nói chuyện in kinh, tạo tượng Phật, nhiều người giàu sang, có địa vị, thế lực trên thế gian nghe xong họ bèn cười mỉa mai nói đó là mê tín, họ đối với những chuyện này không ra sức [dù nhẹ như] một cọng tóc mà còn khuyên người khác đừng làm việc này.  ‘Đó là mê tín, bạn làm việc đó làm chi, làm vậy có ích gì?’, họ đề xướng việc gì?  Họ tán thán việc cứu tế xã hội, từ thiện xã hội, họ rất sốt sắng nỗ lực làm việc cứu trợ chúng sanh chịu khổ nạn trong xã hội, cứu tế những chúng sanh đang chịu bịnh khổ, hiện nay gọi là sự nghiệp từ thiện phước lợi.  Vì xã hội đề xướng, chính phủ coi trọng, phần tử trí thức tán thán, do đó đệ tử trong nhà Phật cũng làm theo, coi chuyện này là công chuyện chính thức, và coi Phật pháp là công chuyện phụ, cho rằng chúng ta học Phật tức là phải làm sự nghiệp phước lợi xã hội, làm cho người đời tán dương.  Chuyện này đúng hay không?  Không thể nói không đúng, nhưng cũng không thể nói hoàn toàn đúng.  Câu này nghĩa là sao?  Sự nghiệp phước lợi xã hội là chuyện phải làm, phước lợi của Phật pháp chẳng có người biết, mọi người đều đi làm sự nghiệp từ thiện, có thể cứu vãn xã hội hay không?  Không thể, xã hội vẫn hướng đến động loạn.  Lợi ích của Phật pháp là dạy con người dứt ác tu thiện, giải quyết vấn đề từ căn bản, mục tiêu là nhằm làm cho xã hội này được vĩnh viễn thịnh trị, yên ổn, giúp chúng sanh giác ngộ, bỏ hết phiền não, bỏ hết dục vọng, mở mang trí huệ đức năng của tự tánh.

          Làm việc từ thiện, cứu người bị bịnh khổ, nếu có phương pháp làm cho người không bịnh không khổ, có phải là hay hơn là đi cứu khổ hay không!  Có phương pháp đó không?  Có chứ, Đại Thừa có thể cứu hết thảy chúng sanh không bịnh không khổ.  Giáo học Phật pháp thường dùng hai câu tỏ rõ tông chỉ ‘phá mê khai ngộ, lìa khổ được vui’.  Sự nghiệp từ thiện là cứu khổ, còn chưa được vui, chỉ làm mức khổ giảm bớt và dời lại về sau mà thôi, chẳng có cách chi làm được vui.  Vui là sau khi giác ngộ xong họ mới được vui, tâm khai ý giải, pháp hỷ sung mãn, việc này phải nhờ Phật pháp.  Trong kinh đức Phật nói bố thí cúng dường, tu bổ tháp tượng, ấn tống kinh điển trong nhà Phật là phước báo hạng nhất trên thế gian.  Các bạn nói từ thiện cứu tế, thì đây là việc từ thiện cứu tế rốt ráo viên mãn nhất trên thế gian và xuất thế gian, cứu pháp thân huệ mạng của người, cứu con người vĩnh viễn thoát khỏi luân hồi.  Không chỉ là tam ác đạo, giúp người trong một đời siêu việt mười pháp giới, làm Phật, làm Bồ Tát, sự nghiệp từ thiện gì trên thế gian có thể sánh bằng?  Trên lịch sử trong và ngoài nước xưa nay chẳng thiếu nhà từ thiện, họ đem ra rất nhiều tài vật để cứu trợ xã hội.  Phước báo của họ còn có hạn, ngay lúc đó có người tán thán, sau đó thì người ta bèn quên mất, thậm chí muốn tra tìm trong lịch sử cũng tìm không ra, cũng tiêu mất theo mây khói.  Người theo đuổi sự nghiệp giáo học, bạn coi đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Khổng Lão Phu Tử ở Trung Quốc, hai vị này lúc còn tại thể chẳng có tiền tài, chẳng có thí tài, các ngài chỉ thí pháp, thí vô úy.  Nếu nói tài bố thí?  Các ngài dùng thể lực, lao lực, trong Phật pháp gọi là nội tài bố thí, truyền đến nay đã hơn hai ngàn năm trăm năm, người thế gian hiện nay nghe đến tên các ngài đều hoan hỷ, tán thán.  Nghiệp nhân, quả báo thù thắng tỏ rõ trước mắt chúng ta.

          Chúng ta phải biết, khi bố thí tài vật thì người ta sẽ có được lợi ích nơi thân, bố thí pháp thì người ta sẽ có được lợi ích nơi tâm, tâm được lợi ích thì thân chắc chắn sẽ được lợi ích, nhưng khi thân được lợi ích thì tâm chưa chắc đã được lợi ích.  Trong tâm chẳng lìa phiền não, lo lắng, vọng tưởng phân biệt chấp trước, đây là việc mà bố thí tài vật tuyệt chẳng thể làm nổi.  Pháp bố thí có thể phá vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, có thể giúp người ta vĩnh viễn buông bỏ phiền não, cho dù thân này có nghèo hèn, họ cũng vui sướng.  Nhan Hồi là học trò của Khổng Phu Tử, ông là một thí dụ [điển hình], ông vô cùng nghèo hèn nhưng sinh sống vô cùng vui sướng.  Ngày nay có một số bạn đồng tu nghe đến Phật pháp, tâm khai ý giải, được lợi ích của Phật pháp, bạn tặng tiền tài cho những người này họ không lấy, họ chẳng mong muốn những thứ này.  Tiền tài họ có thể không cần, họ chỉ cần Phật pháp, khi bạn tặng cho họ một cuốn kinh, một cuồn băng, họ coi như trân bảo, coi như đồ quý vô giá, những người này đã giác ngộ, trong Phật pháp gọi là đã khai ngộ rồi.  Những người này chắc chắn sẽ thành công trong hiện tại, lìa khổ được vui.  Lìa khổ được vui chẳng ở chỗ giàu sang, tương lai chắc chắn có thể vãng sanh bất thoái thành Phật, chư vị nghĩ coi có sự bố thí cúng dường nào sánh bằng?

          Rất đáng tiếc là nhiều người trong thế gian không biết, [mặc dù] họ không biết, chúng ta không thể trách họ, chúng ta phải quay trở lại trách chúng ta, tại sao họ không biết?  Chẳng có ai nói cho họ biết thì họ làm sao biết được?  Do đó quảng đại quần chúng trong xã hội ngày nay hiểu lầm Phật giáo, lỗi này là lỗi của ai?  Lỗi này là người xuất gia chúng ta chẳng làm tròn trách nhiệm, chúng ta có lỗi đối với đức Phật Thích Ca Mâu Ni, có lỗi đối với các vị tổ sư truyền pháp trong nhiều đời, chúng ta chẳng làm tròn trách nhiệm.  Người xuất gia chuyên làm việc gì?  Hoằng pháp lợi sanh, mọi người đều biết, bạn cũng biết nói.  Bạn đã làm tròn việc hoằng pháp lợi sanh hay chưa?  Bạn làm sao?  Sơ sót rồi, do đó lỗi lầm là của chúng ta.  Không những có lỗi đối với Phật tổ, chúng ta cũng có lỗi đối với quảng đại chúng sanh, làm cho họ hiểu lầm, làm họ bỏ qua cơ hội tu phước trước mắt.  Sau khi hiểu rõ chân tướng sự thật, tự mình phải sám hối, phải sốt sắng nỗ lực tu học, tận tâm tận lực giới thiệu Phật pháp cho quần chúng, cho hết thảy chúng sanh, đó mới là sám hối thật sự, mới có thể tiêu trừ tội nghiệp quá khứ của mình.  Xin xem tiếp kinh văn:

Như thị thiện sự, đãn năng hồi hướng pháp giới thị nhân công đức bá thiên sanh trung thọ thượng diệu lạc.

Những thiện sự như thế mà đều có thể đem hồi hướng cho Pháp Giới, thì công đức của người này sẽ là trong trăm ngàn đời đều được hưởng sự vui sướng vi diệu, tối thượng.

Đây là nói việc hồi hướng và không hồi hướng.  Nếu bạn không chịu hồi hướng thì quả báo như đã nói phía trước ‘trong ba mươi đời thường làm quốc vương nhỏ’, làm huyện thị trưởng, trấn trưởng, bạn sẽ được phước báo này.  Nếu bạn có thể hồi hướng pháp giới, ‘hồi hướng pháp giới’ nghĩa là gì?  Tôi tu được phước đều không hưởng riêng mình, tôi cúng dường phước của tôi cho hết thảy chúng sanh, cho mọi người hưởng thọ, công đức đó sẽ to lớn.  Kinh Hoa Nghiêm nói với chúng ta ‘Pháp giới tức thị nhất tâm’, dùng nhất tâm để tu phước để tu thiện thì phước đó, thiện đó lớn bằng hư không pháp giới, nghĩa là rất lớn.  ‘Thượng diệu lạc’ là niềm vui Bồ Đề Niết Bàn trên quả địa Như Lai, niềm vui này chúng ta nói không nổi, có nói ra cũng không có ai hiểu nổi.  Tại sao?  Chẳng có ai từng trải qua thì làm sao hiểu được?  Quả báo cõi trời, cõi người không cách chi sánh bằng, đó là hồi hướng.  Cho nên người hiểu rõ, người giác ngộ, niệm niệm đều vì chúng sanh, niệm niệm đều vì pháp giới, đó là tâm Bồ Đề, tâm Bồ Tát.  Xin xem tiếp kinh văn:

Như đãn hồi hướng tự gia quyến thuộc hoặc tự thân lợi ích như thị chi quả, tức tam sanh thọ lạc xả nhất đắc vạn báo.

Còn như chỉ hồi hướng cho thân quyến trong gia đình hoặc cho lợi ích của riêng mình, thì quả báo là sẽ được hưởng sự vui sướng trong ba đời, cứ thí xả một thì được báo đáp vạn lần trội hơn.

Giả sử những việc thiện mà bạn đã làm, phía trước có nói về bố thí cúng dường, tu bổ tháp tự, kinh lý những điển tịch.  Bạn làm những việc thiện này, nếu chỉ làm vì mình, hoặc vì một nhà thì quả báo này sẽ nhỏ.  Quả báo sẽ là hưởng thọ sự vui trong ba đời, chẳng phải làm tiểu quốc vương trong ba mươi đời, đây là nói bạn vì chính mình, vì gia đình mình.  ‘Xả một được quả báo hàng vạn’ là thiệt chứ chẳng phải giả, bạn sẽ được phước báo đời sau.  Trong chú giải có trích dẫn vài câu trong ‘Ngũ khổ chương cú kinh’, nhắc nhở chân tướng của quyến thuộc trong gia đình bạn là gì.  Đoạn này ở trang hai mươi tám, hàng thứ ba đếm ngược lại, bắt đầu từ chính giữa, trong đó có nói ‘quyến thuộc của nhà mình’, giải thích như thế nào là quyến thuộc của gia đình mình.  ‘Ngũ khổ chương cú kinh vân’, đây là lời Phật nói ‘phụ tử, phu phụ, huynh đệ, gia thất, tri thức, nô tỳ’ (cha con, vợ chồng, anh em, gia thất, tri thức, nô tỳ), đây là nói về ‘gia’, quyến thuộc trong gia đình.  Phật nói có năm nhân duyên, nếu không phải là năm duyên này thì nhất định sẽ không thành người trong nhà, không thành quyến thuộc trong một nhà;  quyến thuộc gồm có bạn bè, tri thức chính là bạn bè, bạn tốt của bạn.

Duyên thứ nhất trong năm nhân duyên là ‘oán gia’, phần tiểu chú ghi ‘cha con sát hại lẫn nhau’, đó là oán gia.  Thứ nhì là ‘trái chủ’ (chủ nợ), ‘tài sản của cha mẹ, con cái xài phí, phá tan’, sanh ra một đứa con phá nhà, cha mẹ gầy dựng tài sản cực khổ, khó nhọc vừa tới tay con mới mấy ngày đã phá tan, [người con này chính] là chủ nợ!  Cha mẹ thiếu nợ người con, người con đến là để đòi nợ.  Thứ ba ‘thưởng trái’ (trả nợ), cha mẹ là người chủ nợ, con cái đến để trả nợ, cho nên con cái kiếm tiền để cúng dường cha mẹ, đó là để trả nợ.  Người con chẳng có tâm hiếu kính gì đối với cha mẹ, chẳng có tâm cung kính, nhưng chẳng để cho cha mẹ thiếu thốn vật chất, cung cấp rất châu đáo.  Trong đó cũng phải coi thiếu nợ nhiều ít, nếu người con đời trước thiếu rất nhiều thì phụng dưỡng rất chu đáo, đầy đủ đối với cha mẹ; nếu thiếu ít thì cúng dường cho cha mẹ rất ít, trong xã hội hiện nay chúng ta cũng có thể nhìn thấy.  Thứ tư là ‘bổn nguyện’, nương theo nguyện trở lại, trong đó có ân đức, chúng ta gọi là báo ân, con cái loại này có tâm hiếu thuận cha mẹ, tâm hiếu kính, đây là bổn nguyện.  Thứ năm là ‘chân hữu’ (bạn bè chân thật), đời trước là bạn đồng tham, đạo hữu, có cùng chí hướng, đời này gặp lại, đây thật sự là thiện tri thức.  ‘Tri thức’ nói phía trước chính là duyên này, thật sự là bạn đồng tham, đạo hữu.  Trên đây là nói về phạm vi của ‘quyến thuộc nhà mình’.  Nếu hết thảy công đức tu học của chúng ta đều hy vọng chính mình được lợi ích, hy vọng nhà mình được lợi ích, tâm lượng như vậy rất nhỏ, quả báo sẽ rất hữu hạn, chỉ có thể thọ lạc trong ba đời, đây gọi là ‘xả một, được quả báo hàng vạn’.

Do đó chúng ta tu học, tu thiện, tu phước, tâm lượng nhất định phải lớn, dụng tâm nhất định phải chân thật.  Có nhiều người, thí dụ những nạn lụt ở Trung Quốc đại lục, có rất nhiều người nghe tới tin này vẫn chưa chịu phát tâm, tôi hỏi họ tại sao?  Họ nói tiền cứu trợ này có thật sự là đến tay những người bị nạn hay không?  Có bị người trung gian cắt xén bớt không?  Họ thường có những lo âu như vậy, làm cho việc thiện bị cắt đứt, bỏ mất cơ hội này.  Chúng ta phải biết người nào có nhân quả riêng của người đó, nếu ai cũng sợ tiền cứu trợ bị người ta lấy bớt thì những người chịu nạn này sẽ không được cứu trợ rồi.  Cho dù có bị lấy bớt cũng không sợ, chúng ta cũng phải làm.  Chính bạn không thể đích thân đi cứu trợ thì phải nhờ người trung gian, không thể không làm.  Trong những sự bố thí cúng dường thì [cúng dường] Phật pháp càng quan trọng hơn, tại sao vậy?  Người hiểu được Phật pháp, người tin nhân quả, khi chúng ta nhờ vả họ, họ nhất định sẽ làm hoàn hảo, viên mãn.  Xin coi đoạn sau chót:

Thị cố Địa Tạng, bố thí nhân duyên, kỳ sự như thị.

Cho nên, này Ðịa Tạng! Những nhân duyên của sự bố thí là như thế!

Ở đây đức Phật tổng kết, ý tứ chẳng cùng tận.  Câu này nói rõ, nhân bạn đã làm và quả báo có được sẽ giống như trong kinh đã nói.  Trong chú giải có vài câu vô cùng cảm động, chúng ta xem chú giải hàng thứ nhất, bắt đầu từ phía dưới: ‘Tổng chỉ vương thần nam nữ đẳng, sở tu chi nhân, sở đắc chi quả, cố vân kỳ sự như thị’ (Chỉ chung những người như vua, quan, nam, nữ, v.v…, những nhân mà họ đã làm, những quả báo có được, cho nên mới nói sự việc ấy là như vậy).  ‘Kỳ sự như thị’ là chỉ những nghiệp nhân quả báo nói ở phía trước.  ‘Vô nại thế nhân, tín giả thí bất tận lực, bất tín giả toàn bất năng hành’ (Hiềm rằng người trong thế gian kẻ tin được thì bố thí không hết sức, người không tin thì hoàn toàn không thể bố thí), hai câu này nói rõ sự tướng của chúng sanh.  Những người trong xã hội tin tưởng lời đức Phật đã làm rồi nhưng không làm hết sức mình, cho nên được phước ấy không giống như quả báo đã nói trong kinh.  Tại sao vậy?  Vì bạn không dốc hết sức làm.  Chúng ta thấy có rất nhiều người tu phước, nhìn thấy họ có nghiệp chướng, họ chẳng thể chuyển đổi nghiệp chướng trở lại, do đó làm cho người khác khởi lòng nghi ngờ: “Người đó thường làm việc từ thiện, thường làm chuyện thiện, nghiệp chướng của họ còn chưa thể chuyển đổi trở lại, Phật, Bồ Tát chẳng bảo hựu họ”, làm cho xã hội đại chúng mất lòng tin đối với Phật pháp.  Họ làm phước nhưng tại sao không thể chuyển nghiệp?  Vì chẳng dốc hết sức, họ có mười phần sức lực, chỉ dùng một phần để tu phước, vậy thì làm sao có thể chuyển nghiệp?

Chúng ta thấy rất nhiều người giàu có hiện nay, những người sáng lập các công ty lớn, những người giàu xụ.  Lúc trước tôi ở Đài Loan, có một khoảng thời gian ông Đổng Sự Trưởng của công ty mỏ than Thụy Tam mời tôi giảng kinh tại nhà ông, ông lấy một phòng lớn làm giảng đường, đại khái có thể đủ chỗ một trăm người nghe.  Cư sĩ Lý Kiến Hưng rất nổi tiếng ở Đài Loan.  Lúc tuổi xế chiều bị chứng lãng trí vì tuổi già, cầu sanh không được, cầu chết cũng không xong, có lẽ phải kéo dài mười mấy năm mới thoát được.  Tại sao ông ta không thể chuyển trở lại được?  Vì phước báo quá lớn, tài sản quá nhiều, làm một chuyện nhỏ này đối với ông chỉ là ‘một cọng lông của chín con trâu’, huống chi làm chẳng có tâm cung kính, chân thành, cho nên chẳng chuyển nghiệp lực nổi.  Nếu làm đúng như lời đức Phật dạy trong kinh, bạn phải tận tâm tận lực bố thí cúng dường thì nghiệp chướng gì cũng sẽ tiêu mất hết.  Bạn nghĩ coi bạn có thể nào xả hết tài sản của bạn không?  Không thể nào xả hết nổi, càng xả thì càng có nhiều, người thế gian không tin tưởng.  Tôi có tài sản mười triệu, tôi xả một vạn thì cũng là khá lắm rồi, hôm nay tôi lấy một vạn [đồng] làm công đức, thì đó chỉ là một phần ngàn, ông ta nghĩ vậy là cũng đáng kiêu ngạo lắm rồi, so với người khác là nhiều lắm rồi, [vậy thì] làm sao chuyển nghiệp của ông ta nổi!  Nếu ông ta dùng trọn hết tài sản để làm phước, thì tiền tài sau đó sẽ đến lập tức.

Bạn sẽ hỏi, lời nói này có gì chứng minh không?  Có chứ, Phạm Lãi thời đại Xuân Thu chính là một thí dụ rất rõ ràng.  Ông này là đại thần của Việt Vương Câu Tiễn, là một người thông minh tuyệt đỉnh, ông giúp Việt Vương Câu Tiễn đánh bại Ngô Vương Phù Sai, phục hưng đất nước.  Ông biết rõ tánh tình của Câu Tiễn, biết Câu Tiễn là người có thể cùng hoạn nạn chứ không thể cùng giàu sang, lúc đất nước bị nạn thì có thể hợp tác mật thiết với nhau, lúc không hoạn nạn thì có tâm đố kỵ, không thể nào dung nạp người khác, Phạm Lãi biết rất rõ.  Cho nên khi đất nước vừa phục hưng thì ông liền trốn đi, thay đổi tên họ thành Đào Châu Công, đi làm ăn buôn bán.  Ông bắt đầu bằng việc làm ăn nhỏ, chưa được mấy năm liền giàu to, sau khi giàu có liền đem hết tài sản đi cứu trợ những người nghèo khổ, dùng hết tiền tài để cứu trợ.  Sau đó lại bắt đầu công chuyện làm ăn nhỏ, qua vài năm sau cũng giàu to, [cứ như vậy] giàu ba lần rồi đem tài sản phân tán [cứu trợ người nghèo khổ] ba lần nữa.  Việc này có thể chứng minh cho lời đức Phật nói chẳng sai, trong mạng của bạn có bao nhiêu tiền của thì đem đi đâu bỏ cũng chẳng mất, bỏ đi hết sạch qua mấy ngày sau nó vẫn trở lại, [do đó mới biết] trong mạng mình sẵn có thì sẽ không bao giờ mất hết.

Ngày nay người ta không tin lời đức Phật dạy, cứ cho rằng bao nhiêu tài sản của mình bỏ đi thì ngày mai làm sao có cơm ăn?  Ngày mai lấy gì sinh sống?  Nghĩ tới ngày mai, năm tới, cả cuộc đời, còn nghĩ tới đời con đời cháu, một đồng xu cũng không chịu bỏ ra, đây là một sự suy nghĩ sai lầm.  Không chịu xả thì phước báo sẽ hưởng hết rất nhanh, sau khi hưởng xong thì không còn nữa, tới lúc đó mới thật sự khổ, họ chẳng biết rằng càng xả thì sẽ càng giàu.  Những người tin Phật trong thế gian, nói thật ra họ rất kém cỏi, tại sao vậy?  Họ không hiểu thấu triệt những đạo lý trong Phật pháp, không thể thâm nhập, không thể khởi lên lòng tin.  Nguyên nhân này cũng là vì chúng ta, những người xuất gia làm công việc hoằng pháp chưa tận hết trách nhiệm, chẳng giảng rõ ràng, nói rành rẽ; một người không hiểu rõ ràng mà nghe pháp sư giảng xong liền khởi lòng tin thì rất khó!  Cũng có chứ chẳng phải không có, đó là những người thiện căn phước đức đời trước [đến lúc đó] chín muồi.  Tuy không hiểu rõ, lão hòa thượng giảng xong tôi bèn tin, tôi tin lời của ngài, tôi chịu thật sự làm theo, người như vậy rất ít, rất hiếm.  Phần đông người ta đều là ‘người tin thì không tận tâm bố thí, người không tin thì hoàn toàn không thể làm’, hai câu này nói rõ tình trạng của chúng sanh trong đời.

Sau đó ngài đưa ra những sự thật để chứng tỏ, trong kinh ‘Thí Dụ’ có hai câu chuyện, quý vị hãy tự xem, ở đây chúng ta không cần phải nói thêm.  Chúng ta nêu câu chuyện của Phạm Lãi, ông là người Trung Quốc, những người đọc sách đều biết.  Ở Trung Quốc đại lục trước kia thờ cúng thần tài, thần tài là ai?  Chính là Phạm Lãi, [thờ cúng như vậy] rất có đạo lý.  Hiện nay thờ cúng thần tài, tôi không biết là thờ cúng vị nào?  Có lẽ thần tài đã thay đổi thành người khác.  Ở Đài Loan người ta coi Quan Công là thần tài, không có lý chút nào.  Quan Công chẳng liên quan gì tới chuyện phát tài?  Thờ Quan Công chẳng có lý.  Quan Công tiêu biểu cho nghĩa khí, đích thật là nghĩa khí ngút trời, ngài là một người tri ân báo ân, việc này rất đáng đề xướng, ngài rất đáng cho người ta tôn kính; còn nói thờ Quan Công thì sẽ phát tài thì chưa chắc.  Vì nhìn từ lịch sử hay đọc sách của ngài, hình như sự phát tài chẳng liên quan gì với ngài; [nghĩa là nếu] chúng ta mời ngài làm Bộ Trưởng Tài Chánh thì là sai rồi, mời ngài làm Bộ Trưởng Quốc Phòng thì được.  Mời ngài làm Bộ Trưởng Tài Chánh thì sai rồi, ngài chẳng phải là người lo về tài chánh.  Mời Phạm Lãi làm thần tài thì vô cùng hợp lý, ngài thật sự biết cách phát tài, có phương pháp, phương pháp đó chẳng khác gì lời dạy của Phật, [cả hai] đều cùng một đạo lý.

Chúng ta học Phật phải thấu hiểu Lý rõ ràng, sau khi thấu suốt mới có thể khởi lòng tin, thật sự chịu làm, tự cầu mong phước báo.  Do đó nếu bạn có phước báo viên mãn thì chỉ cần tu học đúng như lý như pháp.  Tài thí thì tiền tài của bạn sẽ chẳng thiếu thốn, sự hưởng thụ vật chất của bạn cũng sẽ chẳng thiếu, cho dù trong lúc có tai họa to lớn thì bạn cũng sẽ không bị thiếu thốn.  Pháp thí sẽ được thông minh trí huệ.  Vô úy thí được khỏe mạnh sống lâu.  Điều tốt nhất trong vô úy thí là ăn chay, ăn chay là vô úy thí, tuyệt đối chẳng làm tổn hại hết thảy chúng sanh hữu tình, không ăn thịt chúng sanh, vun bồi tâm từ bi, đó là vô úy thí.  Tâm địa từ bi thì các động vật nhỏ nhìn thấy bạn cũng vui vẻ, sẽ không làm hại bạn, sẽ rất gần gũi với bạn.  Điều thứ nhì là thường giữ tâm niệm, dốc hết sức lực để giúp đỡ những người đang chịu khổ nạn, đó đều thuộc về vô úy thí.  Họ không có đồ ăn thì chúng ta cho họ thức ăn, họ sẽ chẳng sợ hãi, sẽ chẳng lo lắng; khi họ không có quần áo mặc thì chúng ta cho họ quần áo, làm cho họ được ấm áp, chẳng sợ bị lạnh, đó cũng là vô úy thí; phàm những việc giúp cho chúng sanh được thân tâm yên ổn đều thuộc về vô úy thí, quả báo là chính mình sẽ được khoẻ mạnh sống lâu.  Ngày nay đồng bào ở đại lục đang chịu những sự khổ nạn lớn lao, chúng ta phải dốc hết sức lực đi cứu trợ, đừng sợ xả, phải biết càng xả thì phước báo càng nhiều.

Trong chú giải phần cuối từ dòng thứ năm đếm ngược lại, câu sau chót ‘hành đạo chi nhân bất đãn trì giới thiền tụng, diệc đương bố thí tác phước’ (người hành đạo không những chỉ trì giới, thiền định, tụng niệm mà còn phải bố thí làm phước), đây là lời Phật dạy trong kinh.  [Đức Phật] dạy cho đệ tử đời sau, khi tu hành làm việc đạo, không phải chỉ trì giới, tham thiền, đọc tụng Đại Thừa, đây đều là công khóa thường nhật, ‘mà còn phải bố thí làm phước’, bạn phải biết nên thường bố thí, nên làm cả ba việc tài thí, pháp thí, và vô úy thí.  Tiếp theo sau, chúng ta coi ‘Đại Ái Đạo Kinh vân, kim thế diệt tội, hậu thế đắc thân’ (Đời này diệt tội, đời sau được rộng rãi hơn). Chữ “Thân” [ở đây] là thân trương (mở rộng ra)‘Hữu tài bất thí, thế thế thọ bần’ (có tiền tài mà không chịu bố thí, đời đời sẽ chịu nghèo hèn), đây là gì?  Bỏn xẻn tiền tài, bỏn xẻn thì sẽ bị quả báo bần cùng, bỏn xẻn pháp thì bị quả báo ngu si, bỏn xẻn vô úy thì bị quả báo bịnh khổ, tai nạn.  Những thứ thọ dụng của con người trong thế gian từ đâu đến?  Bạn có tin hay không?  Có tin lời Phật dạy không?  Nếu tin, hiện nay tôi nghèo hèn thì hãy mau tu bố thí, tại sao vậy?  [Có bố thí] mới thoát khỏi cảnh nghèo túng.  Khi nghèo túng thì tôi đâu có gì để bố thí, bạn hãy nghĩ lại coi có không?  Hôm nay tôi ăn cũng ăn không no, ăn không no thì tôi nhịn một bữa, lấy bữa ăn đó đem bố thí cho người khác, vậy thì bạn cũng bố thí được, lẽ nào không thể bố thí?  Thật sự có tâm bố thí cúng dường, như phía trước có nói bố thí cúng dường rất ít như ‘một hạt bụi, một cọng lông, một hạt cát, một giọt’, mà có tâm rộng lớn, tâm chân thật thì sẽ được quả báo không thể nghĩ bàn.  Đức Phật đã mở ra con đường cho chúng ta đi, người nghèo túng cũng có thể tu bố thí và được phước báo to lớn, vậy thì mới công bình.

Sau đó nói ‘cố nhập đạo tất dĩ trí huệ vi bổn, trí huệ tất dĩ phước báo vi cơ’ (cho nên khi nhập đạo phải lấy trí huệ làm gốc, trí huệ phải lấy phước báo làm nền tảng), hai câu này rất hay, không thể thiên về một bên.  Trong kinh Phật có kể hai câu chuyện nói về sự ‘thiên về một bên’, có một người tu hành coi trọng tu trí huệ, một người lại chú trọng tu bố thí, đời sau khi quả báo của hai người này hiện đến, người chú trọng tu trí huệ, tu thiền định chứng được quả vị A La Hán, vậy là rất hay rồi.  Tuy chứng quả A La Hán nhưng ông ta không có phước báo, thường thường đi trì bát, nhưng chẳng có ai chịu cúng dường, đúng như câu ‘La Hán trì bình trống không’, phải chịu đói, rất khổ!  Có ai biết được ông ta chứng A La Hán?  Người ta vừa nhìn thấy ông liền ghét, chẳng có duyên phận, chẳng có ai cúng dường ông ta. Còn người chú trọng tu phước thì khá hơn, nhưng lại đọa vào loài súc sanh, làm một con voi lớn, đầu thai làm con voi lớn.  Con voi này có phước, được vua thích cỡi, khi vua đi đâu đều cỡi con voi này, do đó con voi này được nuôi nấng rất tốt, được rất nhiều người hầu hạ nó, đút cho nó ăn, khi đi ra ngoài đường thì đeo anh lạc, châu báo đầy mình, [do đó mới có câu] ‘Tu phước không tu huệ, voi lớn đeo anh lạc’, phước báo đó rất lớn.  Đức Phật dạy chúng ta phước huệ song tu, cho nên khi thành Phật, đức Phật được xưng là Nhị Túc Tôn, “túc” nghĩa là đầy đủ, viên mãn, “nhị” nghĩa là hai, đó là trí huệ viên mãn và phước báo viên mãn, do đó Phật là người [trọn đủ] phước huệ.  Đức Phật chẳng dạy chúng ta không tu phước, nếu bạn cho rằng đức Phật dạy chúng ta không tu phước thì bạn hoàn toàn sai lầm, [nếu vậy thì] đức Phật làm sao được gọi là Nhị Túc Tôn được?

Nhưng đức Phật thường cảnh giác chúng ta, cảnh cáo chúng ta, tu phước chứ đừng hưởng phước, sợ chúng ta hưởng phước bị mê mất.  Nếu bạn hưởng phước mà không bị mê thì được!  Vậy thì đức Phật cũng tán thành bạn hưởng phước.  Do đó đến khi nào mới hưởng phước?  Sau khi minh tâm kiến tánh thì có thể hưởng phước, tại sao vậy?  Kiến tánh rồi, sẽ không mê nữa.  Đây là chỗ khác nhau giữa Đại Thừa và Tiểu Thừa, Bồ Tát Đại Thừa có thể hưởng phước, bậc thánh Tiểu Thừa không thể hưởng phước, khi hưởng phước thì họ sẽ mê mất.  Thế nên [đối với người] Tiểu Thừa, đức Phật tán thán khổ hạnh.  Trong số đệ tử của đức Phật, chúng ta có thể thấy tôn giả Đại Ca Diếp tu khổ hạnh, [ngài có tiếng là] ‘Đầu Đà hạnh bậc nhất’, tôn giả Ca Diếp xuất thân từ nhà giàu có, trưởng giả, ngài chẳng phải là người nghèo hèn, sau khi xuất gia tu khổ hạnh, nhận lấy những cái khổ mà người khác không chịu, ngài hoan hỷ, vui vẻ làm gương cho người sơ học.

Trong kinh Hoa Nghiêm, chúng ta thấy Thiện Tài đồng tử tượng trưng cho Đại Thừa, [là người có thể] hưởng phước.  Khi Thiện Tài đồng tử được sanh ra, trong nhà ngài, trong sân nhà, các cây, cỏ đều biến thành vàng bạc, lưu ly bảy báu, đó là tiêu biểu Đại Thừa.  [Người tu học] Đại Thừa có thể hưởng thọ [vì] họ chẳng mê, cảnh giới của Đại Thừa và Tiểu Thừa khác nhau.  Chúng ta có căn cơ gì?  Tuy chúng ta tu học pháp Đại Thừa, nói thật ra ngay cả căn cơ Tiểu Thừa chúng ta cũng không bằng, chúng ta hoàn toàn là phàm phu, điểm này chúng ta phải biết.  Nếu phàm phu không niệm Phật cầu sinh Tịnh Độ thì chẳng có con đường nào khác, muôn vàn xin đừng tưởng là học pháp Đại Thừa, cứ cho mình là Bồ Tát, tự hào mình là Bồ Tát, đi đâu cũng kiêu ngạo, như vậy thì chắc chắn sẽ đọa ác đạo, đây là điều chúng ta nhất định phải hiểu rõ ràng, chúng ta đích thật chỉ là phàm phu.  Chúng ta đã đọc, đã nghe kinh Đại Thừa, đã tăng trưởng không ít kiến thức, nếu thật sự nghe hiểu, thật sự giác ngộ, phải nên phát tâm sốt sắng nỗ lực tu học, vậy mới đúng.  Phần Chánh Tông của kinh này đến đây là hết, đoạn kinh văn sau đây thuộc về phần Lưu Thông, xin xem kinh văn.  Khoa Chú quyển Hạ, trang ba mươi mốt: Địa Thần Hộ Pháp Phẩm đệ thập nhất.

 

PHẨM THỨ 11: ĐỊA THẦN HỘ PHÁP

Từ đây về sau là phần Lưu Thông của kinh.  Phần Lưu Thông gồm có ba phần:  Địa Thần Hộ Pháp lưu thông, Kiến Văn Lợi Ích lưu thông, Chúc Lụy Nhân Thiên lưu thông.  Chúng ta coi kinh Địa Tạng chẳng dài lắm, từ xưa tới nay kinh này có khi in thành một quyển, có khi in thành hai quyển, ở đây được in thành ba quyển, kinh văn không dài lắm, nếu xét về tầm vóc thì kinh này có tầm vóc của một đại kinh.  Phần đông kinh điển, kinh Đại Thừa cũng chẳng ngoại lệ, phần Lưu Thông chỉ có vài hàng mà thôi, phần Tựa cũng chỉ có vài hàng, chỉ có đại kinh thì phần Tựa, Chánh Tông, Lưu Thông đều khá phong phú.  Phần Tựa của kinh này chiếm hết một phẩm, ‘Thần Thông trên cung trời Đao Lợi’, phần Lưu Thông dài ba phẩm, đây là tầm vóc của đại kinh.  Giống kinh Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, kinh Vô Lượng Thọ cũng vậy.  Chúng ta coi tầm vóc của kinh liền biết, đó là những kinh luận quan trọng nhất trong Đại Thừa, có thể nói là Đại Thừa trong Đại Thừa, Nhất Thừa trong Nhất Thừa, đích thật là như vậy.  Chữ Lưu (trong chữ Lưu Thông) có ý nghĩa của chữ ‘Nước’, nước luôn di chuyển, lưu chuyển ba đời, thông đạt mười phương.

Đức Phật dạy chúng ta, Phật pháp phải đem lợi ích rộng rãi cho hết thảy chúng sanh.  Bất cứ một người nào, tứ chúng xuất gia và tại gia, chỉ cần bạn quy y Phật môn, làm đệ tử Phật, thì bạn đều có trách nhiệm và sứ mạng lưu thông Phật pháp.  Do đó đức Phật trong phần cuối của một bộ kinh đều khuyên chúng ta phải lưu thông bộ kinh ấy, chấp trì và tiếp nối pháp môn, đây là đại từ đại bi, giúp Như Lai rộng độ chúng hữu tình.  Nếu chúng ta không thể làm hết trách nhiệm này, cho dù chính mình tu rất tốt thì cũng có lỗi đối với Như Lai.  Pháp thế gian coi trọng việc ‘bất hiếu gồm có ba chuyện, không có người tiếp nối là tội lớn nhất’, dù bản thân bạn rất hiếu dưỡng cha mẹ, nhưng bạn không có người nối dõi, chẳng có người tiếp tục hương hỏa, dòng dõi truyền tới đời bạn thì đứt mất, đó gọi là đại bất hiếu.  Phật pháp cũng như vậy, tổ tổ tương truyền, truyền đến đời mình, mình tu cũng khá tốt, học cũng khá giỏi, nếu không thể truyền Phật pháp cho người khác, Phật pháp truyền đến mình thì bị đứt mất, dù có tu học tốt hơn nữa bạn cũng không thể thành Phật, cũng không thể vượt thoát luân hồi, tại sao vậy?  Việc làm của bạn có lỗi đối với Phật, Bồ Tát, có lỗi đối với Tổ Sư đại đức, làm sao có thể nhẫn tâm truyền đến đời bạn bèn bị đứt mất?  Nhất định phải truyền pháp, mỗi đời đều có người [kế thừa], làm cho Phật pháp thường trụ thế gian, chẳng đến nổi bị đứt mất, đây là ý nghĩa sâu xa của sự Lưu Thông, chúng ta phải hiểu như vậy.

Trong sự tu học Phật Pháp, chúng ta đã đọc trong kinh này, đã đọc phần Chánh Tông, công đức gì lớn nhất?  Phước báo gì lớn nhất? Lưu Thông, phần trước đã nói với bạn, tu sửa tháp tự cũ, tu bổ kinh sách cũ đều thuộc về việc Lưu Thông [Phật pháp].  Thân hành, ‘thân’ là gương cho người khác thấy, thì đó là dùng thân để lưu thông Phật pháp, làm cho người khác thấy, đó là thị hiện.  ‘Khẩu’ tuyên nói là lưu thông.  Đừng sợ mệt, bạn hãy coi đức Phật Thích Ca cả đời thị hiện cho chúng ta coi, ngài cũng thị hiện già, bịnh, nhưng già và bịnh chẳng gián đoạn sự giảng kinh thuyết pháp, người khác khuyên ngài ngưng nghỉ, ngài không ngưng nghỉ vì muốn đem lại lợi ích cho chúng sanh.  Những sự thị hiện này đều là dạy chúng ta, đừng nghĩ là “già, bịnh thì có thể nghỉ ngơi, có thể về hưu”.  Đến lúc lâm chung đức Phật Thích Ca còn giảng kinh Đại Bát Niết Bàn, kinh này được ngài giảng ba tháng trước khi lâm chung, đây là lời dạy sau cùng.  Sau khi ngài từ cõi trời Đao Lợi trở về, giảng kinh Đại Bát Niết Bàn trong một ngày một đêm rồi viên tịch.  Ngài dạy chúng ta đến chết cũng không nghỉ ngơi, đây là tinh thần gì?  Đức Phật làm gương cho chúng ta coi, không phải chỉ nói khơi khơi để khuyên chúng ta mà thôi, không phải vậy, ngài làm gương thật sự, đây là điều chúng ta phải học, noi gương đức Phật Thích Ca, phải làm giống y hệt ngài, làm việc hoằng pháp lợi sanh lưu thông Phật pháp mãi cho đến hơi thở cuối cùng, đó mới thật sự là đệ tử của Phật, truyền nhân của chư Phật Như Lai.  Xin xem kinh văn:

Nhĩ thời Kiên Lao địa thần bạch Phật ngôn, Thế Tôn, ngã tùng tích lai chiêm thị đảnh lễ vô lượng Bồ Tát Ma Ha Tát, giai thị đại bất khả tư nghị thần thông trí huệ, quảng độ chúng sanh.

Lúc đó Kiên Lao Ðịa Thần bạch cùng Ðức Phật rằng: “Bạch Ðức Thế Tôn! Từ trước đến nay, con từng chiêm ngưỡng đảnh lễ vô lượng Bồ Tát Ma Ha Tát, đều là những bậc đại thần thông trí huệ bất khả tư nghị, quảng độ chúng sanh.

Kiên Lao địa thần là địa thần ở cõi Diêm Phù Đề, người thế gian chúng ta thường gọi địa thần là ‘Thổ Địa Công’, sơn thần cũng thuộc loại địa thần này.  ‘Thổ Địa’ là tên gọi của địa thần, khu vực cai quản rất nhỏ, cỡ một làng, một trấn.  Kiên Lao địa thần là “Tổng địa thần”, cai quản cả Diêm Phù Đề, dùng cách nói hiện nay của chúng ta thì đó là cai quản địa cầu.  ‘Địa’ rất cứng rắn, cho nên xưng ngài là Kiên Lao Địa Thần.  Chú thích trong cuốn Chú Giải rất tường tận, trong kinh A Hàm đức Phật nói với tỳ kheo, có ‘Tứ đại thiên thần’, thứ nhất là ‘Địa Thần’, thứ nhì là ‘Thủy Thần’, thứ ba là ‘Phong Thần’, thứ tư là ‘Hỏa Thần’, địa, thủy, phong, hỏa (đất, nước, gió, lửa) là tứ đại.  Địa Thần cũng tham dự pháp hội này, sau khi nghe đức Phật giảng kinh thuyết pháp, ngài đứng ra thỉnh pháp, trước tiên nói về kinh lịch của ngài lúc trước.  Ngài nói ‘Con từ trước tới nay’, đó là những việc ngài đã thấy từ trước tới nay.  ‘Chiêm thị, đảnh lễ vô lượng vô số Bồ Tát, Ma Ha Tát’, chúng ta xem từ câu trên biết thời gian tu hành của vị địa thần này rất lâu dài.  Từ chỗ này chúng ta hiểu được Kiên Lao địa thần cũng là Pháp Thân Đại Sĩ thị hiện, trong những đời quá khứ ngài đã gặp vô lượng Bồ Tát, Ma Ha Tát, ngài đã từng bố thí, cúng dường, thân cận số Bồ Tát, Ma Ha Tát như vậy.  ‘Ma Ha Tát’ là Địa Thượng Bồ Tát, ‘Bồ Tát’ là địa vị Tam Hiền, ngài cũng đã từng gặp, bố thí cúng dường vô lượng vô số Tam Hiền thập thánh Bồ Tát.  ‘Đều là những vị có thần thông trí huệ chẳng thể nghĩ bàn, rộng độ chúng sanh’, đây là những vị ngài từng gặp.  Xin xem tiếp:

Thị Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát ư chư Bồ Tát thệ nguyện thâm trọng.  Thế Tôn thị Địa Tạng Bồ Tát ư Diêm Phù Đề hữu đại nhân duyên.

Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát đây so với chư Bồ Tát, thì thệ nguyện thâm trọng.  Bạch Ðức Thế Tôn! Bồ Tát Ðịa Tạng đây có đại nhân duyên với cõi Diêm Phù Ðề.

Đây là lời của Kiên Lao Địa Thần nói, đây là người ngài đã gặp.  So với những Bồ Tát khác, Địa Tạng Bồ Tát càng đáng cho địa thần kính phục, tại sao vậy?  Lời thệ nguyện của ngài sâu nặng, sau đó ngài có nói rõ.  [Địa Tạng Bồ Tát]  ‘có đại nhân duyên với cõi Diêm Phù Đề’, Kiên Lao là địa thần ở cõi Diêm Phù Đề, ngài biết Địa Tạng Bồ Tát có duyên phần đặc biệt đối với cõi này.  Chúng ta phải hiểu lời nói này, Địa Tạng Bồ Tát đối với địa phương nào cũng có duyên phần, duyên này tuyệt đối đều là bình đẳng, tuyệt đối không thiên lệch.  Tại sao địa thần nói như vậy?  Là nói cho chúng ta nghe.  Trong phẩm Tựa chúng ta đã thấy Địa Tạng Bồ Tát phân thân trăm ngàn ức, ngài ở mười phương tam thế hết thảy cõi nước chư Phật độ những chúng sanh khổ nhất, tâm Bồ Tát đều thanh tịnh, bình đẳng, từ bi, làm sao có thể thiên lệch được?  Lời nói này của Kiên Lao địa thần là lời nói tùy thuận cơ duyên, ngày nay chúng ta sanh tại Diêm Phù Đề, hiện giờ là chúng sanh ở cõi Diêm Phù Đề cho nên địa thần nói với chúng ta, Bồ Tát có nhân duyên to lớn với chúng ta, chúng ta cảm thấy thân thiết đối với ngài, dụng ý là như vậy.  Nói thật ra bắt đầu học Phật thì phải bắt đầu từ kinh Địa Tạng, phía trước có nói ‘Địa’ là tâm địa, ‘Tạng’ là kho báu, học Phật trước hết phải khai phá kho tàng trong tự tánh, hết thảy những lời dạy trong kinh này đều dạy chúng ta phương pháp mở kho tàng trong tự tánh.  Tự tánh có vô tận trí huệ, đức năng, có vô tận phước báo, làm thế nào mới khai mở được?  Trong kinh này đức Phật nói rõ ràng cho chúng ta.  Hiện nay điều quan trọng là chúng ta có thể tin sâu không hoài nghi, có thể y giáo tu hành hay không?  Nếu có thể tin sâu không hoài nghi, y theo lời dạy mà tu hành thì bạn sẽ có phước, trí huệ sẽ mở mang, phước báo sẽ hiện tiền.

Vấn đề là chúng ta đích thật tin chẳng sâu, hiểu không rốt ráo, cho nên làm theo không dốc sức, không sốt sắng.  Chúng ta được phước rất mỏng, nhân tố đều ở tại chính mình, Phật chẳng sai, pháp cũng chẳng sai, cổ thánh tiền hiền cũng không có sai.  Họ rất từ bi, sợ chúng ta coi xong kinh này không hiểu nên mới viết chú giải tường tận, chú giải này chính là bố thí cúng dường.  Khi chúng ta có khả năng, tốt lắm!  Giảng giải bộ kinh này, chính mình cũng có thể viết chú giải.  Nếu chính mình không có khả năng thì phải lấy Chú Giải của người xưa đem in ra, lưu truyền rộng rãi cúng dường đại chúng.  Phía trước trong kinh này có nói, người soạn Chú Giải này là người dẫn đầu, ngài khởi đầu tu bố thí cúng dường, ngày nay chúng ta đọc Chú Giải này, chúng ta hưởng ứng và phát tâm in ra để lưu truyền kết duyên.  Còn quả báo thì người dẫn đầu làm Chuyển Luân Thánh Vương, chúng ta tùy hỷ thì làm tiểu quốc vương, quả báo cũng được giải thích rất rõ ràng.  Việc tu phước, người có khả năng sức lực thì tự mình làm, còn người không có khả năng sức lực thì khuyên đại chúng cùng nhau làm, phước không bị lãng phí, mất mát.  Còn được phước nhiều hay ít là do sự dụng tâm của bạn, nếu tâm bạn chân thành thì phước bạn được sẽ chắc thật, chân thật, tâm lượng bạn lớn thì phước báo bạn cũng sẽ lớn.  Cho nên tu bố thí cúng dường, chẳng có nói người nào đó ra tiền nhiều thì họ sẽ được phước lớn, ra tiền ít thì được phước ít, chẳng lẽ nào như vậy.  Nếu người ra tiền nhiều nhưng tâm của họ không chân thành, chẳng tận tâm tận lực thì họ sẽ được phước báo nhỏ.  Còn người ra tiền rất ít, như hiện nay cuốn kinh này chúng ta in ra hình như là giá bảy mươi đồng Đài Loan, cỡ ba đồng mấy tiền Tân Gia Ba, chưa tới bốn đồng.  Họ chỉ in một cuốn, đây là người ra sức ít.  Nếu tâm lượng của họ lớn, tu phước chẳng vì chính mình, chẳng vì nhà mình mà vì chúng sanh, vì Phật pháp, hy vọng thế gian này có thêm một cuốn sách lưu truyền, phát tâm như vậy thì họ sẽ được quả báo lớn, tâm này rất thù thắng, rất quý báu.  Chúng ta xem tiếp:

Như Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Âm, Di Lặc diệc hóa bá thiên thân hình độ ư lục đạo, kỳ nguyện thượng hữu tất cánh.

Như các ngài Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Âm, Di Lặc cũng hóa hiện trăm ngàn thân hình để độ [chúng sanh] trong Lục Ðạo, nhưng nguyện của các ngài còn có lúc hoàn mãn.

Ở đây địa thần so sánh, những Bồ Tát khác phát nguyện không lớn bằng nguyện của Địa Tạng Bồ Tát, [nguyện của các Bồ Tát khác] còn có lúc cùng tận; còn nguyện của Địa Tạng Bồ Tát chẳng có cùng tận.  ‘Địa ngục chẳng không, thề chẳng thành Phật’, địa ngục có thể trống không được sao?  Cho nên thử hỏi Địa Tạng Bồ Tát có thể làm Phật được không?  Chư vị thử nghĩ coi Địa Tạng Bồ Tát có thể làm Phật được không?  Người thông suốt sẽ biết rằng Địa Tạng Bồ Tát đã thành Phật từ lâu rồi, tại sao vậy?  Hết thảy chư Phật, Bồ Tát là một người, chẳng phải rất nhiều, ngài làm sao không thành Phật?  Nên hiện thân gì để độ được bèn hiện thân đó, nên dùng thân Địa Tạng Bồ Tát để độ bèn hiện thân Địa Tạng Bồ Tát, nên hiện thân Quán Âm Bồ Tát để độ bèn thị hiện thân Quán Âm Bồ Tát, Quán Âm Bồ Tát, Di Lặc vẫn là một người, đây là thật, đây là chân tướng sự thật, chư Phật Như Lai tùy loại hóa thân, tùy cơ thuyết pháp.  Ở đây chỉ là nhấn mạnh, nói với người sơ học rằng Địa Tạng quan trọng, vun bồi cơ sở từ pháp môn Địa Tạng.  Địa Tạng dạy những gì?  Hiếu kính cha mẹ, tôn kính sư trưởng, hiếu kính chính là tu phước tu huệ, bạn có thể hiếu kính là phước, bạn hiểu rõ hiếu kính là huệ, phước huệ song tu.  Kinh này là hiếu kinh trong nhà Phật, Đại Thừa Phật pháp được xây dựng trên cơ sở của hiếu đạo, hiếu đạo viên mãn tức là Phật đạo viên mãn, thành tựu, Đẳng Giác Bồ Tát vẫn còn một phẩm danh tướng vô minh chưa phá trừ nên hiếu đạo còn chưa viên mãn.  Cho nên Đại Thừa Phật pháp được xây dựng trên cơ sở của hiếu đạo viên mãn, đây là điều chúng ta phải biết.  Kinh dạy chúng ta những gì nên làm, những gì không thể làm, đó đều thuộc về hiếu kính, người thật sự hiếu kính cha mẹ, tôn kính sư trưởng nhất định có thể hiểu ý này, biết phải y giáo phụng hành.  Y giáo phụng hành thì cha mẹ vui mừng, đó là tận hiếu, sư trưởng vui mừng, đó là tôn sư trọng đạo.

Hôm nay đã hết giờ, chúng ta giảng đến đây thôi.

 

Tập 40 (Số 14-12-40)

          Xin mở cuốn Khoa Chú quyển hạ, trang 32, xin xem kinh văn:

          Thị Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát ư chư Bồ Tát thệ nguyện thâm trọng.  Thế Tôn thị Ðịa Tạng Bồ Tát ư Diêm Phù Ðề hữu đại nhân duyên, như Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Âm, Di Lặc diệc hóa bá thiên thân hình độ ư lục đạo, kỳ nguyện thượng hữu tất cánh.

Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát đây so với chư Bồ Tát, thì thệ nguyện thâm trọng.  Bạch Ðức Thế Tôn! Bồ Tát Ðịa Tạng đây có đại nhân duyên với cõi Diêm Phù Ðề. Như các ngài Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Âm, Di Lặc cũng hóa hiện trăm ngàn thân hình để độ Lục Ðạo, nhưng nguyện của các ngài còn có lúc hoàn mãn.

          Ðoạn kinh này so sánh cho chúng ta coi, chỉ rõ Ðịa Tạng Bồ Tát có duyên phận đặc biệt với thế gian này; Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Âm, Di Lặc cũng có duyên phận rất sâu với thế gian chúng ta, chẳng thua gì Ðịa Tạng Bồ Tát.  Ở chỗ này so sánh thệ nguyện, nói nguyện của các Bồ Tát khác độ hóa chúng sanh trong lục đạo còn có khi chấm dứt, chỉ có nguyện của Ðịa Tạng Bồ Tát chẳng có khi chấm dứt, ‘địa ngục chẳng không, thề chẳng thành Phật’.  Nguyện này đích thật sâu nặng hơn nguyện của các Bồ Tát khác.  Chúng ta biết Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Âm, Di Lặc đều là cổ Phật tái lai, thị hiện thân Bồ Tát trong lục đạo để độ hóa chúng sanh.  Trong kinh đức Phật có nói, Văn Thù Bồ Tát trước kia đã từng làm Long Chủng Thượng Vương Phật, điều này chỉ rõ trong kiếp lâu xa trước kia các ngài đã thành Phật rồi, hiện nay giúp đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy dỗ chúng sanh trong thế gian này, đúng như câu ‘Một đức Phật ra đời, ngàn Phật ủng hộ’, là ý nghĩa như vậy, chúng ta phải hiểu.  Xin xem tiếp kinh văn:

          Thị Ðịa Tạng Bồ Tát, giáo hóa lục đạo nhất thiết chúng sanh sở phát thệ nguyện kiếp số như thiên bá ức Hằng Hà sa.

          Còn Bồ Tát Ðịa Tạng đây phát thệ nguyện giáo hóa tất cả chúng sanh trong Lục Ðạo, trải đến kiếp số như số cát của trăm ngàn ức sông Hằng.”

          Câu này nói rõ Ðịa Tạng Bồ Tát dùng thân phận Bồ Tát để giúp đỡ hết thảy chúng sanh, thời gian dài chẳng có cách chi tính kể, Bồ Tát đời đời kiếp kiếp đều đã phát lời trọng nguyện.  Trong hội này chúng ta thấy, trong phẩm Tựa đại chúng tham dự pháp hội là mười phương chư Phật Như Lai.  Phía trước đã báo cáo với chư vị, các chư Phật Như Lai này đều là học trò của Ðịa Tạng Bồ Tát, con số học trò thành Phật đã chẳng thể nghĩ bàn, còn thầy giáo vẫn dùng thân phận Bồ Tát để giúp đỡ hết thảy chúng sanh, đây là điều chúng ta phải nên học tập.  Tích lũy công đức, giáo hóa chúng sanh, chẳng màng đến địa vị của mình, chẳng màng lợi ích cá nhân, Ðịa Tạng Bồ Tát hầu như lấy việc này để tỏ rõ cho chúng ta, dạy chúng ta phải học tập như thế nào.  Có lẽ có bạn đồng tu sẽ hỏi trong Phẩm Phổ Môn có nói ‘Nên dùng thân Phật để độ được, Quán Thế Âm Bồ Tát liền hiện thân Phật để nói pháp’.  Ðịa Tạng Bồ Tát có thể hiện thân Phật để thuyết pháp hay không?  Ðương nhiên là có thể, nếu Ðịa Tạng Bồ Tát gặp hạng chúng sanh này, nên dùng thân Phật để độ được, đương nhiên ngài sẽ hiện thân Phật để thuyết pháp, chúng ta phải hiểu rõ cả Lý lẫn Sự, không thể nghiêng về một bên.  Do đó có thể biết chư Phật Bồ Tát giáo hóa chúng sanh đều rất linh động, tùy cơ ứng biến, tuyệt chẳng phải cứng chắc như khúc gỗ, vô cùng hoạt bát, cho nên mới làm cho hết thảy chúng sanh khai ngộ, làm cho chúng sanh được lợi ích chân thật.  Xin xem đoạn kinh kế tiếp:

          Thế Tôn, ngã quán vị lai cập hiện tại chúng sanh, ư sở trú xứ, ư nam phương thanh khiết chi địa, dĩ thổ thạch trúc lâm, tác kỳ khám thất, thị trung năng tố họa nãi chí kim ngân đồng thiết.  Tác Ðịa Tạng hình tượng, thiêu hương cúng dường, chiêm lễ tán thán.

          Bạch đức Thế Tôn! Con xem xét chúng sanh đời hiện tại và vị lai, nơi chỗ sạch sẽ ở phương Nam trong cuộc đất mình trú ngụ, mà dùng đất, đá, tre, gỗ dựng cất cái khám hoặc cái thất; ở trong đó có thể tô vẽ cho đến dùng vàng, bạc, đồng, sắt làm hình tượng Ðịa Tạng Bồ Tát, đốt hương cúng dường, chiêm lễ, ngợi khen.

          Ðoạn này nói người có thể cúng dường tu phước, đặc biệt chữ ‘vị lai’ là chỉ thời đại ngày nay của chúng ta.  Câu ‘Hiện tại chúng sanh’ có hai cách giải thích, một là nói lúc Thế Tôn giảng kinh thuyết pháp ở cung trời Ðao Lợi, đại chúng tham gia lúc đó chính là ‘hiện tại chúng sanh’.  Còn một ý nghĩa nữa là vị lai hiện tại, thời gian vị lai quá dài, quá dài, hãy dùng sự tích Ðịa Tạng Bồ Tát giáo hóa chúng sanh, thời gian kể từ sau lúc đức Phật Thích Ca Mâu Ni diệt độ cho đến trước lúc Di Lặc Bồ Tát hạ sanh đều thuộc về đời vị lai.  Vị lai, hiện tại chúng sanh, đó chính là các thời đại, các vùng, chỉ cần chúng ta gặp bộ ‘Kinh Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện’, chỉ cần nghe đến pháp môn này, thì chúng ta thuộc về [những chúng sanh] nói trong câu trên.  Nói một cách khác, câu này chính là nói về chúng ta.

          Phải tu cách nào?  Ở nơi mình cư trú, ‘ở phía nam của chỗ đất thanh khiết’, có phải lựa hướng nam trong bốn hướng đông, tây, nam, bắc hay không?  Chúng ta phải hiểu, nếu nhà người đó hướng về hướng bắc thì rất tốt, hướng đó đúng rồi.  Nếu căn nhà của họ hướng về hướng nam, vậy thì hướng nam là hướng ngay cửa nhà họ, bạn nghĩ xem có cúng Ðịa Tạng Bồ Tát ngay cửa nhà mình hay không?  Chắc chắn là không.  Nhất định phải như sự tiêu biểu pháp trong kinh Hoa Nghiêm, Thiện Tài đồng tử năm mươi ba lần tham vấn đều hướng về phương nam, ‘Nam’ chẳng chỉ hướng nam, Nam là chỉ hướng ‘trí huệ’, phàm những nơi có thiện tri thức cư trú đều gọi là hướng nam; khi chúng ta hiểu ý nghĩa này thì sẽ dễ hiểu hơn, phàm nơi thờ cúng Ðịa Tạng Bồ Tát đều gọi là hướng Nam, chư vị nhất định phải hiểu đạo lý này.

          Trong nhà mình có phòng riêng làm nơi thờ Phật [thì rất tốt], còn nếu không có nơi làm phòng thờ Phật thì thờ ở phòng khách, nhưng phải thờ ở hướng ‘thượng’ trong phòng này.  Hướng nào được gọi là hướng ‘thượng’?  Phòng này chỉ có một cửa hoặc có nhiều cửa, bất luận là từ cửa nào bước vô phòng, chỗ mà mình vừa bước vô liền nhìn thấy thì đó là ‘hướng thượng’.  Giống như phòng học này của chúng ta, chỗ chúng ta ngồi là hướng ‘thượng’.  Ở đây chỉ có hai cánh cửa, [chỗ này là chỗ] khi chúng ta vừa bước vô liền nhìn thấy.  Còn [cánh cửa] kia, chỗ này cũng được gọi là hướng ‘thượng’, [chỗ này] khi vừa bước vào liền nhìn thấy.  Còn chỗ ngồi của Hứa cư sĩ thì không được gọi là hướng ‘thượng’, chỗ ngồi của Khoan Dung pháp sư cũng không phải là hướng ‘thượng’, khi người ta bước vô thì không thấy [chỗ đó].  Hướng ‘thượng’ là chỗ chúng ta phải chú ý đến, là chỗ cung kính nhất, thờ Ðịa Tạng Bồ Tát ở chỗ này, chỗ này chính là hướng Nam.  Không nhất định phải tìm vị trí của bốn hướng đông, tây, nam, bắc, [chúng ta] phải hiểu đạo lý này.  Hướng Nam tượng trưng cho quang minh, trí huệ.

          Câu ‘Chỗ đất thanh khiết’ rất quan trọng!  Nơi cúng Phật nhất định phải thanh khiết.  Ấn Quang đại sư đã từng nói có người thờ tượng Phật trong phòng ngủ của mình, hỏi Ấn Quang đại sư có đúng như pháp không?  Ðại sư nói ‘Nơi thờ hình tượng của Tam Bảo cũng giống như đại hùng bảo điện’, ở nơi đó phải khởi tâm cung kính, do đó phần nhiều không nên thờ Phật trong phòng ngủ của mình.  Trong trường hợp nào mới có thể thờ tượng Phật trong phòng ngủ?  Trong lúc bịnh nặng, lúc cầu vãng sanh, trong lúc đó thì không kiêng kỵ gì hết, trong mọi lúc, mọi nơi, trong tâm niệm đều không được lìa Phật thì mới được!  Lúc đó thì có thể thờ tượng Phật.  Trường hợp thứ hai là tuy không sanh bịnh, tâm cầu vãng sanh thiết tha, hy vọng vãng sanh sớm hơn, hy vọng được gặp Phật sớm hơn, tuyệt đối không dùng tâm giải đãi, kiêu mạn để cúng dường, mà là vô cùng cung kính; giống như con cái trong ngóng cha mẹ vậy, phải dùng tâm vô cùng kiền thành, hiếu kính mới được.  [Chúng ta] nhất định phải hiểu việc này.  Chẳng phải nói cúng dường tượng Phật thì Phật, Bồ Tát sẽ che chở, gia trì, trong phòng mình có yêu ma quỷ quái, cúng dường hình tượng Phật, Bồ Tát để tránh tà, hoặc thờ tượng Phật coi như thưởng thức [tác phẩm] nghệ thuật, vậy thì sẽ có tội lỗi, vậy là tuyệt đối không được.  Cho nên ‘phàm nơi có hình tượng Tam Bảo thì nơi đó giống như đại hùng bảo điện vậy’, lời khai thị này của Ấn Quang đại sư rất có lý, chúng ta phải y giáo phụng hành.

          Phía sau nói ‘làm khám thờ’, ‘khám’ là căn nhà nhỏ để cúng dường tượng Phật, dùng đất, dùng gạch, dùng trúc, dùng gỗ đễ làm khám đều được.  Hiện nay người Trung Quốc chẳng đòi hỏi làm cho được tỉ mỉ, còn người Nhật rất chăm chút khi làm khám, bất luận là tượng Phật lớn, tượng Phật nhỏ, người Nhật đều nhất định phải làm khám để thờ, khi cúng thì họ mở cửa khám này ra, cúng xong thì họ đóng cửa lại, như vậy rất có lý.  Thật ra người Nhật học được từ thời Tùy Ðường và vẫn giữ gìn mãi cho đến ngày nay, họ chẳng thay đổi, tinh thần này của người Nhật rất đáng cho chúng ta học theo, không thay đổi những lời dạy của cổ thánh tiền hiền.  ‘Trong đó có thể tô vẽ, thậm chí đúc hình tượng của Ðịa Tạng Bồ Tát bằng vàng bạc’, cúng dường hình tượng Bồ Tát trong khám thờ, hình tượng này vẽ cũng được, tô đắp cũng được.  Bất luận dùng chất liệu gì để làm, phía sau nêu lên vài thí dụ, vàng, bạc, đồng, thiết đều thuộc về kim loại, dùng gỗ để điêu khắc cũng được, dùng đất sét đắp cũng tốt.

          Bạn có thể cúng dường, ‘đốt hương cúng dường, chiêm lễ tán thán’.  Ý nghĩa của việc cúng dường hình tượng Ðịa Tạng Bồ Tát là gì, chúng ta nhất định phải hiểu.  Thứ nhất là làm cho chúng ta khởi lên tâm lễ kính, Phổ Hiền Bồ Tát dạy chúng ta phương pháp tu hành, trong mười cương lãnh thì thứ nhất là ‘Lễ kính chư Phật’, nhìn thấy hình tượng Phật, Bồ Tát thì liền khởi lên tâm lễ kính.  Chúng ta phải dùng tâm lễ kính chư Phật, Bồ Tát trong đời sống hằng ngày, đối với mọi người cũng lễ kính như vậy, đối với mọi sự việc đều phải lễ kính.  Kính sự tức là hết lòng phụ trách, tận tâm tận lực làm việc đó cho viên mãn, đó nghĩa là lễ kính đối với sự việc.  Ðối với vật cũng như vậy, đối với bàn ghế chúng ta cũng phải lễ kính, chẳng phải là lễ lạy, mà là sắp xếp những vật này cho ngay ngắn, lau chùi sạch sẽ, đó là lễ kính.  Nếu sắp méo xẹo, trong đó đóng bụi, dơ dáy không lau chùi thì đó là không kính.  Do đó đối người, đối sự, đối vật chỉ có một tâm chân thành cung kính, đó là ý nghĩa thứ nhất của việc cúng dường hình tượng Phật, Bồ Tát, chúng ta thật sự đạt được thọ dụng chân chánh. 

          Ý nghĩa thứ hai là ‘nhìn thấy thánh hiền thì nghĩ mình phải [học theo] cho giống’, Phật, Bồ Tát cũng là từ phàm phu tu thành, ngày nay các ngài thành Bồ Tát, thành Phật, tại sao chúng ta còn là phàm phu, do đó chúng ta phải noi gương Bồ Tát, học theo Bồ Tát, đời này chúng ta cũng phải làm Phật, làm Bồ Tát, thúc đẩy ý chí hướng thượng của chúng ta, đây là ý nghĩa thứ nhì.

          Ý nghĩa thứ ba là khi nhìn thấy hình tượng Phật, Bồ Tát, thì liền nghĩ đến lời dạy của Phật, Bồ Tát, nhìn thấy hình tượng Ðịa Tạng Bồ Tát liền nghĩ đến lời dạy của đức Thế Tôn trong kinh Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện.  Chúng ta phải ghi nhớ kỹ lưỡng, phải giải sâu nghĩa thú, y giáo phụng hành.  Do đó cúng dường hình tượng Phật, Bồ Tát có ba ý nghĩa này, chẳng phải là mê tín, phần đông người ta nói chúng ta cúng dường hình tượng Phật, Bồ Tát là cúng bái ngẫu tượng, đó là sai rồi, họ hoàn toàn hiểu lầm.  Do đó có thể biết việc cúng dường tượng Phật, Bồ Tát trong nhà Phật có ý nghĩa rất sâu, rất rộng; nói tóm lại thì đó là giáo học, chẳng lìa giáo dục, hơn nữa trong đó có ý nghĩa quay trở về cội gốc, báo đáp ân đức cội nguồn.  Chúng ta làm đệ tử Phật, bất luận tại gia, xuất gia, khi gặp người có hoài nghi, chúng ta phải giải thích, làm cho họ hiểu sự lợi ích chân thật của sự cúng dường hình tượng Phật, Bồ Tát.  Lợi ích này là lợi ích thân thiết với mình, lợi ích ngay trước mắt, chẳng có gì là mê tín!  ‘Chiêm lễ tán thán’, tán thán tức là giải thích, diễn thuyết cho người.  Tự mình y giáo phụng hành là tán thán, vì người diễn nói cũng là tán thán.  Xin xem tiếp kinh văn:

          Thị nhân cư xứ, tức đắc thập chủng lợi ích

          Thì ngay chỗ những người đó ở sẽ được mười điều lợi ích.

          Phần sau này nói về mười điều lợi ích.

          Hà đẳng vi thập, nhất giả thổ địa phong nhưỡng, nhị giả gia trạch vĩnh an, tam giả tiên vong sanh thiên, tứ giả hiện tồn ích thọ, ngũ giả sở cầu toại ý, lục giả vô thủy hỏa tai, thất giả hư hao tịch trừ, bát giả đỗ tuyệt ác mộng, cửu giả xuất nhập thần hộ, thập giả đa ngộ thánh nhân.

Những gì là mười?  Một là đất đai mầu mỡ; Hai là nhà cửa yên ổn mãi mãi; Ba là người đã mất được sanh thiên; Bốn là người hiện còn được tăng tuổi thọ; Năm là mọi mong cầu đều được toại ý; Sáu là không có tai họa về nước và lửa; Bảy là trừ sạch việc hư hao; Tám là dứt hẳn ác mộng; Chín là ra vào đều có thần theo hộ vệ; Mười là thường gặp nhân Thánh.

          Ðây là mười điều lợi ích của sự cúng dường hình tượng Phật, Bồ Tát, đâu có ai không muốn đạt được!  Nhưng chư vị nhất định phải nhớ, vừa rồi nói về ba ý nghĩa của việc cúng dường tượng Phật, nếu bạn không hiểu thì sẽ không được mười lợi ích này, bạn cúng dường hình tượng Phật, Bồ Tát nói thật ra là mê tín.  Bạn làm sao được lợi ích như trong kinh đã nói!  Ðây là vì bạn cúng dường không đúng như pháp, chẳng đúng như lý, chỉ cúng dường trên hình thức, chẳng có thật chất.  Bạn có thể có lợi ích hay không đều ở chỗ bạn dụng tâm như thế nào.  Tâm hạnh của bạn tương ứng với lời dạy của Phật thì bạn sẽ được lợi ích, mức độ tương ứng càng cao thì lợi ích càng lớn.  Tương ứng như thế nào?  Chẳng ra ngoài ba chữ Tín, Nguyện, Hạnh; chúng ta có thể tin tưởng lời dạy của Phật, Bồ Tát, có thể  hiểu rõ, có thể phát nguyện, có thể phụng hành.  Trong bộ kinh này, chữ nghĩa vừa xem hình như không sâu cho lắm, hình như là kể một vài câu chuyện, nhưng Lý rất sâu, rất rộng.  Lần này chúng tôi giới thiệu, báo cáo cho quý vị, bị thời gian hạn chế, không thể giảng kỹ được, chỉ giảng sơ lược; tương lai nếu có nhân duyên tôi sẽ giảng kỹ thêm một lần nữa.  Ðặc biệt là Chú Giải của Thanh Liên pháp sư, ngài trích dẫn kinh điển để làm chứng cứ, trích dẫn nhiều kinh khác để chứng minh nên nội dung của bản chú giải hết sức phong phú.  Bạn có thể tin, có thể hiểu, có thể phát nguyện, có thể thực hành thì sẽ được lợi ích, lợi ích vô biên tóm lại thành mười loại.

          Thứ nhất ‘đất đai trù phú’, thứ nhì ‘nhà cửa vĩnh an’, hai câu này ngày nay người ta gọi là phong thủy, phong thủy rất tốt.  Vì sao bạn có được phong thủy tốt như vậy?  Vì khi tâm tốt, cảnh sẽ chuyển theo tâm, bạn đi coi phong thủy làm chi, [nếu hiểu rồi thì bạn] không cần coi.  Chỉ cần bạn ‘giữ tâm tốt, nói lời tốt, làm chuyện tốt, làm người tốt’, có tâm thiện, hành vi thiện thì hoàn cảnh cư trú, hoàn cảnh sinh hoạt tự nhiên sẽ chuyển đổi tốt hơn.  Hoàn cảnh sinh hoạt và hoàn cảnh tự nhiên chính là việc mà người thế gian gọi là phong thủy.  Nhà Phật thường nói ‘Mỗi ngày đều là ngày tốt, giờ nào cũng là giờ tốt, chỗ nào cũng là chỗ tốt’, ở đâu cũng nói hoàn cảnh làm sao không tốt được?  Hết thảy nơi cư trú của Phật, Bồ Tát đều tốt, chẳng có gì xấu cả.  Trong kinh Lăng Nghiêm nói đạo lý này ‘Nếu có thể chuyển cảnh thì giống như Như Lai’, Như Lai tức là giờ nào cũng là giờ tốt, ngày nào cũng là ngày tốt, nơi nào cũng là nơi tốt.  Tại sao vậy?  Như Lai có thể chuyển cảnh giới, phàm phu không thể chuyển cảnh giới, mà ngược lại còn bị cảnh giới chuyển, phiền phức sẽ lớn lắm.  Bạn mong cầu có ngày tốt, giờ tốt, nơi chốn tốt, đi đâu tìm được?  Cả đời cũng chẳng gặp được, đi mọi nơi tìm cũng tìm không ra.  Tìm được một chỗ núi sông thanh tú, hùng vĩ thì rất tốt, xây một căn nhà ở đó để cư trú, đâu biết rằng ở đó có yêu ma quỷ quái, có rất nhiều dã thú, làm cho bạn ở đó không yên, vậy là do nguyên nhân gì?  Vì tâm tà, tâm mê nên bạn không chuyển được cảnh giới, bạn sẽ bị cảnh giới chuyển; bị cảnh giới chuyển là phàm phu, người có thể chuyển cảnh giới là thánh nhân.  Thánh nhân là người như thế nào?  Phía trước chúng tôi cũng đã giải thích, mọi người đừng quên, thánh nhân là người hiểu rõ sự lý, người Trung Quốc gọi là thánh nhân, người Ấn Ðộ gọi là Phật, Bồ Tát.  Phật, Bồ Tát là người hiểu rõ chân tướng sự thật của nhân sanh.  Ở Trung Quốc xưng người hiểu rõ chân tướng vũ trụ nhân sanh là thánh nhân.

          Cho nên mười điều lợi ích này, thứ nhất là đất đai biến đổi.  Chúng ta coi hoàn cảnh cư trú của chúng ta, đại hoàn cảnh là địa cầu, địa cầu hiện nay đã biến thành như thế nào?  Hầu như hiện nay mỗi người đều biết sanh thái tự nhiên đã bị phá hoại rồi, những năm gần đây năm nào cũng xảy ra tai biến quá nhiều, số lần mỗi năm xảy ra đều gia tăng, phạm vi mỗi lần xảy ra đều lớn hơn, càng ngày càng nghiêm trọng, như vậy thì chịu sao nổi!  Tại sao sanh thái tự nhiên trên địa cầu bị phá hoại đến mức như vậy?  Vì tư tưởng của con người, ngôn hạnh trái nghịch với tánh đức, người thế gian không hiểu, cho rằng những tai hại này chẳng ăn nhằm gì tới mình, chẳng ăn nhằm gì tới tư tưởng hành vi của nhân loại, nghĩ vậy là sai rồi.  Ðức Phật biết rất rõ ràng, trong kinh thường nói ‘Y báo chuyển theo chánh báo’, địa cầu là y báo, chánh báo là tâm người.  Tâm người thiện, đất đai trù phú, nhà cửa bình yên; tâm người chẳng thiện, tai nạn liên tiếp xảy ra.  Tai nạn do con người gây ra là chiến tranh, tai nạn tự nhiên hiện nay càng ngày càng nhiều.  Thủy tai, hỏa tai, động đất, hiện nay nhiệt độ địa cầu biến đổi [2], thậm chí tầng ozone bao bọc ngoài địa cầu bị lủng lỗ, báo chí gần đây có đăng tin này, vết nứt càng ngày càng nghiêm trọng, diện tích chỗ bị lủng hồi trước vốn chẳng lớn, nghe nói hiện nay diện tích của chỗ bị lủng bằng diện tích nước Mỹ, vậy thì rất phiền phức.  Tầng ozone này bảo vệ địa cầu, tiếp thâu tia tử ngoại tuyến trong ánh sáng mặt trời, nếu không có tầng ozone này bảo vệ, tia tử ngoại tuyến trực tiếp chiếu xuống địa cầu, hai phần ba động vật, thực vật trên địa cầu không thể sống sót, do đó tầng ozone này có tác dụng rất lớn.

          Khoa học gia nghiên cứu nếu tầng ozone được khôi phục lại như cũ, tối thiểu cũng cần mấy trăm năm, đây là khoa học gia căn cứ trên thống kê tính toán ra.  Chúng ta biết không cần như vậy, chỉ cần lòng người hướng thiện.  Tầng ozone vì sao bị phá hoại?  Do lòng người, đây là yếu tố thứ nhất.  Nếu bạn nói vì những khí phế thải từ địa cầu làm ô nhiễm, vậy thì phải bị ô nhiễm toàn diện, mỗi quốc gia đều thải ra những khí này, tại sao [những khí này] lại bay tới Nam Cực?  Không lẽ khí phế thải từ khắp nơi trên thế giới hoàn toàn tập trung tới Nam Cực hết, đâu có lẽ nào như vậy!  [Thực ra là vì] lòng người.  Hiện nay sanh thái tự nhiên bị phá hoại, ngày càng nghiêm trọng.  Tai hại do con người gây ra, nguy cơ này cũng ngày càng rõ rệt, do đó mười thứ lợi ích này làm sao mới đạt được!  Trong kinh đức Phật dạy ‘trong cộng nghiệp còn có bất cộng nghiệp’, lời này đem lại một chút hy vọng, trong cộng nghiệp còn có biệt nghiệp, cũng như câu nói ‘ông tu ông được, bà tu bà được, không tu thì không được’.  Nếu chúng ta thật sự có thể tu trì chân thật thì mới được! Chúng ta vẫn được lợi ích này, vấn đề là bạn có chịu tu thật sự hay không?

          Gần đây một việc rất rõ rệt, chúng tôi tìm được một miếng đất ở Dương Thổ Cảng, thảo kế hoạch xây làng Di Ðà.  Làng Di Ðà dùng để làm gì?  Nhằm thành tựu cho người niệm Phật vãng sanh thành Phật, đây là công đức hạng nhất trong thế gian và xuất thế gian, có công đức nào lớn hơn công đức giúp người làm Phật?  Chẳng phải giúp họ tương lai thành Phật, mà là hiện nay thành Phật, pháp môn này là pháp môn thành tựu ngay trong đời này.  Chủ đất Hồng lão cư sĩ vô cùng khó được, ông bị bịnh ung thư nặng, trên cổ họng của ông bị khoét một lỗ hổng đã ba năm rồi, thân thể vô cùng suy yếu, tôi từng gặp mặt ông một lần.  Ông đã đến lúc “sáng không bảo đảm được tới tối”, sống ngày nào hay ngày nấy; ông tìm cư sĩ Lý Mộc Nguyên muốn làm một chuyện tốt trước khi ông từ giả cõi đời, làm một chút phước báo.  Ông Lý Mộc Nguyên thuật lại ý tưởng xây làng Di Ðà cho ông nghe, ông vô cùng hoan hỷ.  Miếng đất này là tài sản riêng của ông, nhưng ông đã quyên tặng cho một hội tên là ‘Bồi Hoa Cơ Kim’. Hội này cho một trường học mướn đất, lấy tiền mướn làm việc từ thiện mỗi năm.  Nhưng lão cư sĩ Hồng còn có thể quyết định về miếng đất này, ông là chủ tịch hội cơ kim, cho nên họ mở cuộc họp đồng ý quyên tặng miếng đất này cho Cư Sĩ Lâm làm làng Di Ðà, đồng thời yêu cầu Cư Sĩ Lâm tặng 25 triệu cho hội cơ kim Bồi Hoa, giữ số tiền này trong ngân hàng và lấy tiền lời làm chuyện từ thiện, đây là chuyện tốt!  Miếng đất này rộng 208000 thước, hiện nay tìm một miếng đất rộng như vậy ở Tân Gia Ba tương đối không dễ dàng, đây đúng là Tam Bảo gia trì nên mới có cảm ứng thù thắng như vậy.

          Hồng lão cư sĩ cũng lo đến vấn đề kinh tế của Cư Sĩ Lâm, vì có miếng đất này xong còn phải xây làng Di Ðà, xây Niệm Phật Ðường, làm sao có tiền nhiều như vậy?  Do đó ông mới tìm cư sĩ Lý Mộc Nguyên, giảm số tiền 25 triệu còn 15 triệu, Cư Sĩ Lâm chỉ giao 15 triệu cho hội Bồi Hoa làm tài khoản, việc này đối với Cư Sĩ Lâm vô cùng dễ dàng.  Cư sĩ Lý hỏi ông nếu hội Ðổng Sự vẫn đòi 25 triệu thì phải làm sao?  Cụ Hồng nói nếu họ vẫn đòi 10 triệu này thì cụ sẽ trả.  Tâm này vừa mới phát thì cảm ứng lập tức hiện lên.  Hôm trước lúc bác sĩ khám thì thấy tế bào ung thư đã biến mất, bác sĩ nói với cụ hai tháng sau cụ sẽ khỏe trở lại, sẽ bình phục như cũ, nghe nói hiện nay tinh thần cụ rất phấn chấn, tiếng nói cũng vô cùng cứng cỏi, thật là chẳng thể nghĩ bàn!  Cụ lập tức liền có thể biến đổi [vận mạng].

          Người ta ai cũng muốn tu phước, ai cũng muốn trồng phước, ruộng phước ở đâu?  Ðiểm này nhất định phải hiểu rõ.  Nếu vì lợi ích của chính mình thì không phải là ruộng phước, vì lợi ích đoàn thể của mình cũng không phải là ruộng phước.  Cư sĩ Lý Mộc Nguyên phát tâm xây làng Di Ðà là để cúng dường toàn thế giới, các bạn đồng tu niệm Phật cầu vãng sanh đến đạo tràng này nên làng Di Ðà này chẳng phải của địa phương mà là của cả thế giới.  Vả lại người đến đó niệm Phật chẳng phải trả một đồng xu nào cả, chỉ cần người đó chịu niệm Phật thì tứ sự cúng dường đều do đạo tràng phụ trách.  Nếu nói đến phước lợi xã hội, thì bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới đều chẳng có sự nghiệp phước lợi xã hội bằng làng Di Ðà; ở đó chẳng đòi hỏi bất kỳ một điều kiện nào hết, chỉ cần bạn chịu niệm Phật, bạn phát nguyện cầu sanh tịnh độ, thì làng Di Ðà sẽ phát tâm cúng dường cho bạn.  Không những chỉ cúng dường, càng khó được nữa là chúng ta coi mỗi người niệm Phật trong làng Di Ðà như “cha mẹ của chính mình, chư Phật vị lai”, dùng tâm hiếu thuận, tâm cung kính để đối xử với những người niệm Phật này, điểm này rất khó làm được!  Trong những việc làng Di Ðà làm, cúng dường trên phương diện vật chất chẳng phải là việc khó, làm trong tâm mới khó!  Cư Sĩ Lâm từ trên tới dưới, từ người lãnh đạo cho đến những người làm việc thiện nguyện, họ dùng tâm trạng thái độ gì để phục vụ?  Dùng tâm hiếu thuận, tâm cung kính.  Do đó bệnh của Hồng lão cư sĩ lập tức liền khỏi, đạo lý là ở chỗ này.  Chư vị nghĩ coi đó có phải là tâm chuyển cảnh giới hay không?  Bệnh của cụ thật sự đã đến giai đoạn nguy ngập, bản thân cụ hiểu rất rõ.  Cụ nói với ông Mộc Nguyên là cụ đang chờ ngày ra đi, hối thúc cư sĩ Lý Mộc Nguyên phải mau mau làm việc này cho xong, bịnh cụ thật sự đã đến mức “hôm nay không biết chuyện ngày mai.”

          Do đó sự chuyển biến này làm cho chúng ta khởi lòng tin đối với lời dạy của đức Phật trong kinh điển, đích thật là tâm chuyển cảnh giới, thân thể chúng ta là cảnh giới gần nhất, tướng tùy tâm chuyển, thể chất cũng sẽ tùy tâm chuyển, đâu có chuyện gì mà chuyển không nổi đâu!  Vấn đề là nếu bạn không hiểu đạo lý này, không biết phương pháp, không sốt sắng làm thì bạn chuyển không nổi.  Khi bạn hiểu lý luận, biết phương pháp, và sốt sắng làm thì bạn sẽ chuyển rất nhanh.  Dung mạo sẽ thay đổi, thể chất sẽ thay đổi, hoàn cảnh nơi bạn cư trú sẽ thay đổi, hoàn cảnh nhỏ chung quanh sẽ thay đổi, hoàn cảnh lớn cũng sẽ thay đổi.  Ngày nay chúng ta thấy tai nạn toàn thế giới, đạo tràng Cư Sĩ Lâm có cống hiến gì không đối với cả thế giới?  Cống hiến lớn vô cùng!  Người thế gian không thừa nhận, quý vị ở đây tụng kinh, niệm vài câu Phật hiệu có cống hiến gì đâu?  Họ không thừa nhận nhưng chư Phật, Bồ Tát thừa nhận, thiên long quỷ thần thừa nhận.  Lý luận này trong các buổi giảng chúng tôi đã báo cáo cho quý vị rất nhiều rồi, dùng cách nói của khoa học gia là các làn sóng nhiễu sóng lẫn nhau.  Chúng ta biết hết thảy các vật chất đều có hiện tượng dao động, nguyên tử là đơn giản nhất, nguyên tử khinh khí (hydrogen) là đơn thuần nhất, [chỉ gồm] một nhân nguyên tử [3] và một điện tử, điện tử xoay quanh hạt nhân. Giống như gì?  Chuyển động, do có chuyển động thì sẽ sanh ra sóng, đại khái sóng có thể chia thành ba loại: sóng ánh sáng, sóng âm thanh, sóng chấn động đều có thể gọi là sóng điện từ, nó có hiện tượng dao động.  Hiện tượng dao động bình thường thì sanh thái sẽ bình thường, nếu hiện tượng dao động không bình thường thì làn sóng không bình thường quấy nhiễu làn sóng bình thường; sanh thái tự nhiên của địa cầu bình thường nhưng sóng của tâm con người không bình thường nên ảnh hưởng đến sóng của địa cầu, ảnh hưởng đến sóng của hết thảy vật chất, đạo lý là như vậy.

          Hiện nay chúng ta niệm Phật, sóng của sự niệm Phật này là sóng thù thắng nhất, sóng bình thường nhất, sóng này chân thành có thể kết hợp với sóng của tâm từ bi của chư Phật Như Lai, sẽ sanh ra sức mạnh rất lớn, có thể giảm bớt, trấn áp sóng tham sân si mạn tà ác của con người trên thế gian, do đó giảm bớt tai nạn, đạo lý là như vậy.  Hiện nay sự nghiên cứu của khoa học gia nghiên về sóng vật chất, bỏ sót những làn sóng từ sự khởi tâm động niệm, tư tưởng, họ đã sơ sót, họ không biết sóng tâm lý, tư tưởng có thể thay đổi sóng vật lý, đây chính là như câu nói trong nhà Phật ‘cảnh chuyển theo tâm’;  đức Phật đã dạy ‘Hết thảy pháp từ tâm tưởng sanh’, từ đó bạn mới biết làn sóng tư tưởng chủ tễ hết thảy vạn sự vạn vật.  Ngày nay làn sóng niệm Phật của chúng ta tốt, tôi nghe bạn đồng tu nói, ở ngoại quốc rất nhiều người nghe tiếng niệm Phật họ vô cùng hoan hỷ, sau khi họ nghe được họ nói “âm nhạc” này, họ coi tiếng niệm Phật như âm nhạc, họ nói “âm nhạc” này làm cho tâm họ rất bình yên, an tịnh, âm nhạc này từ đâu tới?  Họ muốn băng thâu âm tiếng niệm Phật, đây là chứng minh rất rõ ràng sóng tư tưởng có thể lắng đọng, làm êm dịu sóng vọng tưởng của họ, có thể dẹp yên sóng tư tưởng, sóng vọng tưởng của chúng sanh, thế nên nó có thể thay đổi sóng của vật chất, từ đó mới có việc ‘đất đai trù phú, gia trạch vĩnh an’.

          Trước kia có người hỏi tôi biết coi phong thủy không? 

          Tôi nói ‘Tại sao ông lại nghĩ tới việc này?’. 

          Ông ta nói ‘Các vị hòa thượng có lẽ đều biết coi phong thủy’. 

‘Tại sao vậy?’ 

‘Ngài coi những tòng lâm tự viện ở Trung Quốc đều được xây ở nơi phong thủy tốt nhất’, do đó ông ta cho rằng những vị hòa thượng đều biết coi phong thủy.

Tôi nghe xong mới cười to và nói với ông ta: ‘Không phải là hòa thượng biết coi phong thủy, hòa thượng thật sự là không biết coi phong thủy.  Tâm của hòa thượng tốt lành, hành vi tốt lành, là người tốt, chỗ người tốt cư trú thì phong thủy không tốt cũng trở thành tốt, là nguyên do như vậy’.  

Phong thủy thay đổi theo tâm con người, chứ chẳng phải là con người thay đổi theo phong thủy, chẳng có đạo lý này.  Do đó những người nghiên cứu về phong thủy đã từng nói ‘Ðất phước người có phước ở, người có phước ở nơi đất phước’, đất phước có phong thủy tốt, người không có phước báo, người bạc phước ở nơi đó chẳng được mấy ngày liền chết ngang vì họ không có phước!  Lời này nói rất có đạo lý.  Quan trọng nhất là bạn phải tu phước, khi bạn có thể tu phước thì tất cả đều chuyển đổi trở lại, do đó mười thứ lợi ích này là thuyết minh cho việc tâm chuyển cảnh giới.

          Bạn hãy nghĩ thử xem, bạn có thể học theo tấm lòng của Bồ Tát, sự phát nguyện của Ðịa Tạng Bồ Tát hay không?  Ðịa Tạng Bồ Tát giữ tâm niệm gì?  Tâm hiếu kính.  Dùng tâm hiếu dưỡng cha mẹ, hiếu dưỡng pháp giới hết thảy chúng sanh, việc này quá sức [tưởng tượng]!  Dùng tâm phụng sự sư trưởng, phụng sự hết thảy pháp giới chúng sanh.  Ðể giúp đỡ hết thảy chúng sanh đang chịu khổ nạn, vĩnh viễn chẳng gián đoạn đến tận tương lai, do đó nói ‘Ðịa ngục chẳng không thề chẳng thành Phật’, tâm hạnh này, lời nguyện rộng lớn này quá vĩ đại!  Do đó cảnh giới của ngài hoàn toàn chuyển đổi.  Chúng ta có thể nắm vững cương lãnh quan trọng, tu hành đúng như lý như pháp thì mười điều lợi ích này đương nhiên sẽ hiện ra, lẽ nào không hiện được!  Nếu bạn không hiểu lý luận, phương pháp, coi đoạn kinh văn này, bạn cũng làm theo cách này, [nhưng sẽ] không giống, không được như vậy.  Họa một bức hình Ðịa Tạng Bồ Tát, đúc một tượng Ðịa Tạng Bồ Tát để ở nhà cúng dường, thì bạn liền có thể đạt được, làm gì có chuyện đó.  Nhất định phải hiểu lý luận, phải biết phương pháp, làm sao chuyển đổi chính mình, những sự sai lầm trước kia của mình, sai lầm trên tư tưởng, trên sự suy nghĩ, trên hành vi, mỗi một việc đều sửa đổi trở lại, phải hạ công phu từ trong tâm.  Trong tâm khoẻ mạnh, thân thể chúng ta thuộc về vật chất, vật chất sẽ bình thường, thì sẽ khôi phục sanh thái tự nhiên, sanh thái tự nhiên là sanh thái khoẻ mạnh nhất.  Do đó đọc đoạn kinh này thì nhất định phải hiểu đạo lý này, từ đó mới biết câu nào trong kinh Phật cũng đều chân thật, chẳng có câu nào hư dối.

          ‘Ðất đai trù phú’, tức là người thế gian gọi là thâu hoạch tốt, ngũ cốc đầy kho, mưa thuận gió hòa.  ‘Nhà cửa vĩnh an’, nhà cửa là nơi bạn cư trú, bình an hạnh phúc.  ‘Người mất trước kia được sanh cõi trời’, việc này trong kinh cũng nói rất nhiều, con cháu hiếu thuận, con cháu học Phật, tổ tiên cũng hưởng lây.  Con cháu làm Bồ Tát, họ là tổ tiên của Bồ Tát, bất kể họ ở cõi nào cũng được kẻ khác tôn kính.  Ở đây chúng ta thấy mẹ của cô Bà La Môn, cô Quang Mục đều đọa trong ác đạo, con gái hiếu thuận, con gái học Phật, như lý như pháp chứng được quả vị Bồ Tát, do đó mẹ của họ lập tức được những quỷ thần này đưa đến cõi trời Ðao Lợi để hưởng phước.  Tại sao vậy?  Làm sao có thể giam cha mẹ của Bồ Tát trong tam đồ!  Cho nên trong nhà Phật thường nói ‘Nhất tử thành Phật, cửu tổ sanh thiên’, [khi một người con thành Phật thì] tổ tiên chín đời quá khứ đều sanh lên trời, lời này là thật chứ chẳng giả.  Hiện nay chúng ta làm sao thành Phật?  Nói cho chư vị biết, vãng sanh Cực Lạc thế giới chính là thành Phật.  Cho nên niệm Phật thật sự cầu vãng sanh, sanh tới tây phương Cực Lạc thế giới thì chín đời tổ tiên của bạn đều sanh lên trời, như vậy mới là báo ân thật sự.

          Chúng ta muốn cầu siêu cho tổ tiên, cứu bạt tổ tiên, thì phải làm sao?  Phải niệm Phật, nhất định tự mình phải có thành tựu.  Trong kinh văn chúng ta thấy cô Bà La Môn niệm Phật đắc định, trong pháp môn niệm Phật thì ít nhất là Sự Nhất Tâm Bất Loạn, cô đắc được Niệm Phật Tam Muội.  Trong lúc nhập định cô nhìn thấy địa ngục, đi đến địa ngục, quỷ vương ở địa ngục nhìn thấy liền xưng cô là Bồ Tát, chính bản thân cô cũng không biết mình đã thành Bồ Tát, quỷ vương xưng cô là Bồ Tát.  Cô Quang Mục cũng niệm Phật, công phu ở mức thấp hơn, cảnh giới cô thấy là ở trong mộng chứ không phải trong định, hiệu quả chẳng thù thắng bằng cô Bà La Môn, nhưng cảm ứng cũng chẳng thể nghĩ bàn.  Trong sự tưởng tượng của chúng tôi, đó cũng tương đương với công phu thành phiến, nếu không được công phu thành phiến thì đạt không được hiệu quả này.  Do đó bạn độ người đã mất, bạn độ họ đến cõi nào, họ được lợi ích lớn nhỏ hoàn toàn dựa trên công phu tu hành của bạn, công phu của bạn sâu thì người mất được lợi ích lớn, bạn tu học có công phu thấp thì họ được lợi ích nhỏ.  Chúng ta muốn báo ân thì phải báo ân như thế nào, [đọc đến đoạn này] thì có thể hiểu nhất định phải dứt ác, tu thiện, nhất định phải phát tâm làm Phật.  Kinh Vô Lượng Thọ nói về cảnh giới của đức Phật A Di Ðà, kinh này nói về cảnh giới của Ðịa Tạng Bồ Tát, từng câu từng chữ trong kinh Vô Lượng Thọ chúng ta đều thực hiện trong đời sống thì chúng ta là A Di Ðà Phật, chính bạn đã làm Phật.  Thực hiện từng câu từng chữ trong kinh này vào trong đời sống thì bạn đã thành Bồ Tát rồi.  Lời Phật dạy chúng ta phải làm theo, chứ không phải chỉ nói suông mà thôi, nói chẳng dùng được, phải sốt sắng mà làm.

          Thứ tư ‘Hiện tồn ích thọ’, ‘hiện tồn’ là ai?  Là người thân, quyến thuộc, chẳng phải chính bạn, chính bạn thì không cần phải nói, cha mẹ anh em, vợ con còn sống đều được hưởng lây.  Một mình bạn tu hành, cả nhà được phước, người đã mất cũng được phước.  Không những cả nhà bạn được phước, những người hàng xóm láng giềng nơi bạn cư trú [cũng hưởng lây], bạn tu hành có thành tựu càng lớn thì phạm vi được phước càng lớn, có thể làm cho cả địa phương được phước, cả quốc gia được phước, cả thế giới được phước.  Bạn có chịu làm thật sự hay không?  Muốn khu vực này, xã hội, quốc gia, thế giới được phước thì nhất định phải quên mình, tuyệt đối không có tâm niệm tự tư, niệm niệm đều vì xã hội, niệm niệm vì nhân dân, vì hết thảy chúng sanh, tu hành như vậy thì thế giới được phước, do đó ‘hiện tồn’ sẽ mở rộng đến cả thế giới, ‘tiên vong’ cũng là cả thế giới.  Bài vị lớn thờ trong đạo tràng chúng ta chẳng phải là của một nhà nào, mà là cả thế giới, chúng ta cúng những chúng sanh tử nạn trên toàn thế giới.  Còn những người còn sống trên thế giới, chúng ta hy vọng họ có thể sống bình an, hạnh phúc.  Chúng ta hồi hướng công đức của các bạn đồng học, hồi hướng chúng sanh, hồi hướng pháp giới.

          ‘Thứ sáu, sở cầu toại ý’, đây tức là câu ‘trong cửa nhà Phật, có cầu ắt ứng’, cầu đúng như lý như pháp thì nhất định sẽ có cảm ứng.  Chúng ta mong cầu đúng lý đúng pháp mà còn chưa có cảm ứng là vì nguyên nhân gì?  Duyên chưa chín muồi.  Một niệm mong cầu này của bạn rất quý, mong cầu cho chúng sanh chứ chẳng cho mình; cầu cho chúng sanh mà chưa có cảm ứng là vì phước chúng sanh chưa đủ.  Chúng ta hy vọng xây một Niệm Phật Ðường, nếu xây xong mà không có người đến niệm nên sự mong cầu này sẽ chẳng có cảm ứng.  Chúng ta coi hiện nay những việc người ta mong cầu, hầu như là thật sự có cầu liền có ứng, tại sao vậy?  Mọi người đều muốn niệm Phật, thật sự chịu niệm Phật, thật sự biết niệm Phật, chẳng phải là thiểu số mà là đa số, do đó cảm ứng chẳng thể nghĩ bàn.

          Quý vị ở đây đã thấy tận mắt, tòa cao ốc xây kế bên Cư Sĩ Lâm, kể từ ngày đào móng trở đi, cư sĩ Lý Mộc Nguyên đều ở đó niệm Phật, cầu mong ngôi nhà lầu này xây xong sẽ cho chúng ta, ông ta nói với tôi mỗi ngày ông đều đến đó sáu, bảy lần cho nên người chủ đất chú ý và đến hỏi ông: Ông có ý muốn ngôi nhà này không?  Muốn chứ, ông ra giá bao nhiêu?  Người chủ đó tính giá tiền, cả vốn lẫn lời là bốn mươi tám triệu.  Ông Lý Mộc Nguyên lúc đó trả giá là ba mươi lăm triệu, ông ta không chịu bán, còn nói chắc cái đầu ông Lý Mộc Nguyên bị “mát dây” rồi.  Ông ta nói: Giá tiền bốn mươi tám triệu của tôi ông trả có ba mươi lăm triệu thì sao được?

          Năm nay kinh tế suy thoái, giá nhà đất xuống dốc quá chừng, người chủ này lại đến tìm ông Lý Mộc Nguyên và nói ông chịu bán với giá ba mươi lăm triệu.  Lý Mộc Nguyên nói bây giờ nhà ốc xuống giá, chẳng còn giá trị đó nữa.  Trả giá còn hai mươi lăm triệu.  Ông chủ đất cũng khá thú vị, ông ta nói để tôi về tính lại.  Vài tuần sau nói với cư sĩ Lý, đôi bên nhượng bộ một chút, ông ta giảm một chút còn mình thêm giá một chút, cuối cùng thì đôi bên đồng ý với là hai mươi bảy triệu rưỡi.  Ngay ngày hôm đó [chúng tôi] đã tuyên bố trong buổi giảng kinh, chư vị đồng tu đều có tham dự.  Tiền đặt cọc là một phần mười, tức là hai triệu bảy trăm năm mươi ngàn, Cư Sĩ Lâm viết chi phiếu giao cho ông chủ đất và đôi bên ký tên vào hợp đồng mua bán.  Người chủ đất này quá tham lam, ông ta thấy chúng tôi tuyên bố với nhiều người [trong buổi giảng kinh ngày hôm đó], rồi lại tuyên bố trên mạng lưới điện toán, [nên ông ta nghĩ] chúng tôi không thể nào không mua, không mua không được.  Ông tăng giá tiền lên thêm hai triệu, Lý cư sĩ không chịu, nói là đã ký giấy rồi.  [Ông ta nói]  Ông ký tên chứ tôi đâu có ký tên, [ông ta] trả lại tấm chi phiếu.  Cư sĩ Lý thấy vậy bèn tìm chỗ khác, tìm được Dương Thổ Cảng, tìm xong vô cùng thỏa mãn, chỗ đó rộng hai mươi tám ngàn thước.

          Hiện nay miếng đất ở Cư Sĩ Lâm, chắc là vì chủ đất phá sản bị ngân hàng bán đấu giá, người chịu trách nhiệm quản lý của ngân hàng đến gặp cư sĩ Lý Mộc Nguyên, cư sĩ Lý đợi họ bán đấu giá.  Cư sĩ Lý nói với tôi rằng ông chuẩn bị trả giá là mười hai triệu, nếu được giá thì chúng tôi sẽ mua, còn không thì thôi, chúng tôi tính xây ở khu Dương Thổ Cảng trước, nếu họ không chịu bán [với giá đó].  Nhưng chúng tôi quan sát kỹ, căn lầu đó chẳng có ai chịu mua, cho nên cuối cùng tôi nghĩ chắc cũng sẽ bán cho Cư Sĩ Lâm với giá mười hai triệu.  Các bạn nghĩ coi căn nhà này giá mười hai triệu, miếng đất lớn ở Dương Thổ Cảng giá mười lăm triệu, cộng lại là hai mươi bảy triệu, [đó có phải là do] đức Phật A Di Ðà tặng cho chúng ta [hay không?].  Lúc đầu vốn là chỉ mua được một chỗ, bây giờ trở thành hai chỗ, tương lai phát triển rất khả quan, sức mạnh của chúng ta chỉ nên dồn vào chỗ này, chẳng còn khả năng đi kiếm chỗ khác nữa.  ‘Những gì mong cầu đều toại ý’, Phật, Bồ Tát sắp đặt, an bài đều khít khao vừa đúng.  Do đó khi con người có thiện tâm, vì chúng sanh, vì chánh pháp trụ lâu dài ở thế gian.  Cả đời chúng ta làm sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh, chẳng phải vì một khu vực mà vì cả thế giới, vì hết thảy chúng sanh, hy vọng hết thảy mọi người trên địa cầu này đều có thể chung sống hòa đồng, có thể tôn trọng lẫn nhau, hỗ tương hợp tác, cùng nhau xây dựng một xã hội hòa bình, hưng vượng, phồn vinh, đây là nguyện vọng của chúng ta.  Chúng ta tuyệt đối không tham tiếng tăm lợi dưỡng, chúng ta chấp nhận sống một cuộc đời thanh bần tự tại, đó mới là niềm vui chân chánh.

          ‘Thứ sáu, chẳng có tai nạn nước lửa’.  Năm nay tai nạn nước lửa rất nhiều, mọi người đều cho rằng đây là tai nạn thiên nhiên.  Tai nạn thiên nhiên có nhân tố của con người, nhân tố của con người là duyên, [nhân tố này là những] quan niệm sai lầm, tư tưởng sai lầm, tự tư tự lợi, tham sân si mạn, đây là nhân của tai nạn thiên nhiên.  Nếu trừ được nhân này, người thế gian đều có thể giác ngộ, tiêu trừ sự ngăn cách chủng tộc, tiêu trừ cái nhìn lầm lạc của các tôn giáo tín ngưỡng, đều có thể làm theo Phật, Bồ Tát, giống như Thượng Ðế yêu thương người đời, sẽ chẳng làm tổn thương một chúng sanh nào cả, giúp đỡ hết thảy chúng sanh chung sống hòa bình.  Chúng sanh biết tôn trọng lẫn nhau, hợp tác lẫn nhau, thì tất cả những tai hại do con người gây ra, tai hại thiên nhiên đều có thể miễn trừ.

            Thứ bảy ‘Hư hao tịch trừ’, dùng ‘hư hao’ để nói về cơn bão kinh tế hiện nay vô cùng thích hợp, ngày nay gọi là nguy cơ kinh tế, tai nạn này cũng có thể tiêu trừ.  Nửa thế kỷ trở lại đây có rất nhiều lời tiên đoán đông và tây phương, phần nhiều đều là những lời tiên đoán cổ xưa, ba ngàn năm trước, mấy trăm năm trước đều xuất hiện, đều được lưu hành khắp nơi.  Những lời tiên đoán này có một điểm giống nhau là dự đoán cuối thế kỷ này sẽ có tai nạn to lớn xảy ra.  Quy nạp những tai nạn này đại khái có ba loại: thứ nhất là chiến tranh nguyên tử do con người tạo, thế chiến thứ ba, đây là chiến tranh có tiềm năng tiêu diệt [cả thế giới]; thứ hai là kinh tế hoàn toàn khủng hoảng, hư hao; thứ ba là tai hại tự nhiên, trên thế giới sẽ xảy ra địa hình biến đổi (vỏ trái đất biến dạng), vấn đề này rất nghiêm trọng.  Ðịa cầu xoay vần trong không gian, độ nghiên của địa cầu cũng sẽ thay đổi, sẽ làm cho khí hậu cả thế giới hoàn toàn thay đổi, bất bình thường, có thể là Nam Bắc Cực biến thành Xích Ðạo, những vùng đất Xích Ðạo hiện nay biến thành Nam Bắc Cực.  Sự thay đổi này ảnh hưởng toàn thể sanh vật trên địa cầu, sanh vật sẽ bị hủy diệt, sau đó [những sanh vật sống sót mới] từ từ thích nghi với khí hậu và sanh trưởng trở lại, chẳng biết sẽ phải trải qua bao nhiêu vạn năm mới hình thành giống như thế giới hiện nay, tai nạn này vô cùng đáng sợ!  Hiện nay mọi người đều gán vào tai nạn thiên nhiên, chẳng phải sức con người có thể kháng cự.

 

          Người nói những lời này chẳng hiểu rõ triệt để chân tướng sự thật, trong kinh điển đức Phật nói với chúng ta, người Trung Quốc cổ xưa cũng có một câu nói ‘Con người nhất định có thể thắng Thiên’.  Thiên là gì?   Thiên chính là tự nhiên.  Lòng người chẳng an định thì chẳng có cách gì khác, lòng người phải yên định thì tai hại tự nhiên sẽ có thể miễn trừ, cách nói này rất có đạo lý.  Ngày nay chúng ta phải dốc hết tâm lực để phổ biến Phật pháp, tại sao?  Hy vọng có thể cứu vãn tai nạn.  Dù chúng ta không có năng lực có thể tiêu trừ tai nạn, hy vọng là tai nạn này có thể giảm bớt, dời về sau, hy vọng sức tàn phá của tai nạn sẽ giảm bớt.  Còn giảm đến mức độ nào, dời đến khi nào thì phải dựa trên công hạnh của chúng ta.  Do đó chúng ta phải tận tâm tận lực mà làm, nhất định phải dứt ác tu thiện, phải xả mình vì người, chúng ta và cả xã hội đại chúng là một thể, đây là việc chúng ta nên khẳng định trước tiên.  Hết thảy chúng sanh có quan hệ gì với chúng ta?  Hoàn cảnh tự nhiên có quan hệ gì với chúng ta?  Phải hiểu thật rõ ràng, thật rành rẽ.  Sau đó chúng ta phải phát tâm, tự hỏi mình làm sao báo đáp ơn chúng sanh?  Mỗi ngày chúng ta đều niệm kệ hồi hướng ‘Trên đền bốn ơn nặng, dưới độ khắp ba đường khổ’, làm thế nào thực hiện?  Phải biết báo ân của chúng sanh, báo đáp ân đức của hoàn cảnh tự nhiên, báo đáp ân đức của thiên địa quỷ thần thì mới tiêu trừ được hết thảy tai nạn, những vấn đề này vô cùng hiện thực.

 

          ‘Thứ tám, đỗ tuyệt ác mộng’, cho dù mình có nằm mơ cũng tuyệt đối sẽ chẳng bị ác mộng, không ác mộng thì sẽ ngủ ngon, ngủ vô cùng yên ổn.  Người có tâm tư tà ác, ‘tà’ nghĩa là tà tri tà kiến, tư tưởng kiến giải của họ sai lầm, sai ở chỗ nào?  Tự tư tự lợi, niệm niệm đều gây tổn hại cho người, lợi cho mình thì đó là tư tưởng tà vạy.  Ác là ‘thập ác’, thân tạo ‘sát, trộm, dâm’, khẩu tạo ‘nói dối, nói lưỡi hai chiều, nói lời ác độc, nói thêu dệt’, ý có ‘tham, sân, si’, đó là thập ác.  Nếu là người tà ác thì sẽ thường bị ác mộng.  Nói cách khác ngủ cũng không yên ổn, ngày tháng như vậy sẽ vô cùng đau khổ.  Nếu chúng ta có thể đoạn dứt tà ác, vun bồi tâm chân thành, bất luận là đối người, đối sự, đối vật đều là một lòng chân thành, chẳng dối mình, chẳng dối người, hoàn toàn thanh tịnh. Thanh tịnh là tuyệt chẳng ô nhiễm, chẳng bị hoàn cảnh bên ngoài ô nhiễm, và cũng không bị phiền não trong tâm mình làm ô nhiễm, tâm của bạn được thanh tịnh.  Tu tâm bình đẳng, chánh giác, từ bi. Từ bi là thương yêu hết thảy chúng sanh một cách bình đẳng, chẳng có điều kiện, trong đời này chúng ta thật sự sống trong lòng thương yêu rộng lớn, có thể xả mình vì người.  Chỉ cần làm cho hết thảy chúng sanh được phước lợi, cho dù phải hy sinh tánh mạng của mình thì cũng chẳng tiếc, đây thật sự là đại từ đại bi.  Thân tâm yên ổn thì làm sao có ác mộng được?  Người học Phật nếu còn ác mộng thì tự mình phải cảnh giác, vì nguyên nhân gì?  Công phu chẳng đắc lực, bất luận bạn tu học pháp môn nào, dấu hiệu đầu tiên của công phu đắc lực là sẽ không có ác mộng, nếu còn ác mộng thì công phu chưa được đắc lực. 

 

          ‘Thứ chín, ra vào có thần hộ vệ’, ‘thần’ là thiện thần hộ pháp, ‘ra’ là nói đi chơi, đi du lịch, hiện nay cơ hội du lịch rất nhiều, ‘vào’ là trở về.  Bất luận đi đâu chơi, hay cũng có khi đi học thêm, đi học hay đi du lịch cũng vậy, bất cứ nơi nào bạn cũng được chư Phật hộ niệm, long thiên thiện thần bảo hộ, sẽ chẳng gặp tai nạn, bạn sẽ không bao giờ gặp [tai nạn].  Bạn có những thiện thần này bảo hộ, người cùng đi với bạn cũng được nhờ, họ cũng sẽ được bình yên, cũng được những thiện thần hộ pháp bảo vệ.  Tu hành chân thật rất quan trọng!  Phật pháp đích thật đem lại cho chúng ta lợi ích chân thật, lợi ích hiện thực chứ chẳng phải nói suông, chẳng phải mê tín, trong đó hàm chứa đạo lý rất sâu.

 

          Sau cùng ‘gặp nhiều nhân duyên thánh thiện’, ‘nhân thánh’ tức là nói về duyên phận, bạn sẽ thường gặp duyên phận tốt lành.  Nhân duyên này là gì?  Là nhân duyên thành Phật, thành Bồ Tát, đó chính là nhân thánh.  Thường gặp nhân duyên khai ngộ, gia tăng đạo nghiệp, giống như Thiện Ðạo đại sư đã dạy, đồng tu học Phật thành tựu được cao hay thấp đều do gặp duyên chẳng đồng, nếu gặp duyên thù thắng, thì bạn sẽ thành tựu tốt đẹp.  Trước triều nhà Tùy, khi giáo pháp Tịnh Ðộ được truyền vào Trung Quốc, các đại đức đời xưa đều cho rằng người vãng sanh Thượng Phẩm Thượng Sanh đến tây phương Cực Lạc thế giới đều phải là Bồ Tát, chỉ có Bồ Tát mới vãng sanh Thượng Phẩm Thượng Sanh, phàm phu làm không nổi, phàm phu phần nhiều đều là Hạ Phẩm vãng sanh, người xưa có cách nói như vậy.  Thiện Ðạo đại sư đã thay đổi cách nói này, truyện ký Trung Quốc có ghi rằng Thiện Ðạo đại sư là A Di Ðà Phật thị hiện, nếu thật sự như vậy thì sự đính chánh này là do đích thân A Di Ðà Phật nói ra.  Thiện Ðạo là tổ thứ hai của tông Tịnh Ðộ, chúng ta phải tin sâu chẳng nghi, [tất cả đều do] ‘gặp duyên chẳng đồng’.

 

          Ngày nay Cư Sĩ Lâm và Tịnh Tông Học Hội dự trù xây làng Di Ðà, duyên này là nhân duyên thù thắng hạng nhất, thật sự là hy hữu, khó gặp.  Chẳng phải chỉ là trăm ngàn vạn kiếp [mà là vô lượng kiếp] khó gặp gỡ, chúng ta vô cùng may mắn gặp được, gặp được nhân duyên thù thắng này, đây đích thật là ‘nhân thánh’.  Có thể tu một ngày trong đó đều là phước báo của bạn đã tích lũy nhiều đời nhiều kiếp, nếu chẳng phải thiện căn đời trước thì bạn muốn niệm Phật một tiếng đồng hồ trong đạo tràng này cũng không được, cho dù họ niệm trong thời gian rất ngắn, niệm một cây hương, hai cây hương, có người nói với tôi cảm nhận của họ đích thật khác thường.  Cả đời họ đã gặp rất nhiều đạo tràng, tham dự rất nhiều pháp hội cùng tu, đều chẳng thù thắng bằng chỗ này, chẳng cảm nhận tốt như nơi này.  Rất nhiều người nói ‘từ trường’ ở đây rất tốt, thật sự bước vào Niệm Phật Ðường đều chẳng muốn đi ra, điều này chứng tỏ đạo tràng này có sức nhiếp thọ rất mạnh.  Sức mạnh đó của ai?  Tuyệt đối chẳng phải chính chúng ta có sức mạnh này.  Là do Tam Bảo gia trì, thật là được chư Phật hộ niệm, thiện thần ủng hộ, cho nên mới có khí phận thù thắng, làm cho mọi người có được thọ dụng tốt đẹp như vậy.

 

          ‘Gặp nhiều nhân thánh’, duyên phận của bạn tốt, thường gặp chánh pháp, gặp thiện tri thức, gặp bạn đạo tốt, đây là duyên phận.  Duyên cũng nhờ chính mình tu hành chân thật mới có cảm ứng.  Như chúng ta thấy trong kinh Hoa Nghiêm có câu ‘tịnh tâm gặp duyên’ thì bạn mới thật sự được lợi ích, dùng tâm thanh tịnh, tâm chân thành, tâm từ bi khi gặp duyên mới có thể có thọ dụng.  Nếu tâm không chân thành, không thanh tịnh, không từ bi, gặp duyên này cũng như không gặp, cũng bỏ lỡ. Quan hệ của kinh Ðịa Tạng đối với sự tu học, làm người, đối với đời sống của chúng ta quá lớn.  Giáo nghĩa của trọn bộ kinh này quy nạp thành hai chữ ‘hiếu kính’, hiếu kính cha mẹ, tôn kính sư trưởng.  Do đó cổ đức có nói bộ kinh này là Hiếu Kinh trong Phật giáo, cách nói này rất đúng.

 

          ‘Hiếu kính’ chẳng xa lạ gì đối với chúng ta, trên thật tế phải giảng hai chữ ‘Hiếu Kính’ này như thế nào thì e rằng rất ít người có thể giảng được, thật là rất ít.  Nếu nói sâu vào thì người biết được càng ít.  Hàm nghĩa của hai chữ ‘Hiếu Kính’ sâu rộng vô tận, thực hiện được hai chữ này một cách rốt ráo thì thành Phật rồi, Bồ Tát còn chưa viên mãn, khi thành Phật mới viên mãn.  Do đó chúng ta thường nói Ðẳng Giác Bồ Tát còn một phẩm Sanh Tướng Vô Minh chưa đoạn thì Hiếu Kính còn chưa viên mãn.  Do đó mới biết hai chữ Hiếu Kính là pháp môn đại tổng trì của Phật pháp, pháp môn tổng trì nghĩa là tổng cương lĩnh, nguyên tắc chính của sự giáo học, Phật giáo dạy người cái gì?  Dạy Hiếu, dạy Kính.  Phải mở rộng Hiếu Kính, mở rộng hiếu thuận cha mẹ thành hiếu thuận hết thảy chúng sanh, phụng sự sư trưởng thành phụng sự hết thảy chúng sanh, đó chính là tâm Bồ Tát, tâm Phật.

 

          Từ đó bạn mới thường gặp được Phật, Bồ Tát, ‘gặp được nhiều nhân thánh’ là thường gặp được Phật, Bồ Tát, thường có người dạy chánh pháp cho bạn.  Người thế gian chúng ta nói bạn là người may mắn, người khác muốn gặp cũng không gặp được, còn bạn thì may mắn gặp được.  Tự mình phải có đủ lòng kiền thành, háo học, luôn mong muốn đem lại lợi ích cho chúng sanh thì bạn sẽ gặp.  Nói thật ra chư Phật, Bồ Tát, thiện tri thức, chỗ nào mà không có?  Lúc nào mà không có?  Mọi lúc, mọi nơi đều có rất nhiều.  Chỉ vì mình có mắt mà nhìn không ra, đã gặp rồi nhưng cũng như không gặp, thiệt là đáng tiếc.  Vì chúng ta không đủ điều kiện, đã gặp mà luống qua.  Hy vọng mọi người lưu ý điểm này, thiện tri thức chân chánh niệm niệm đều có nguyện vọng truyền pháp, tiếc là tìm không ra người, chỉ cần tìm được người phát tâm muốn học hỏi liền hết lòng giáo huấn, vả lại đều là làm việc thiện nguyện.  Trong giảng đường của chúng ta, mọi người đều thấy, [mấy tấm hình này] là ba vị thầy của tôi, [các thầy] đều dạy tôi miễn phí, tôi chẳng có khả năng trả học phí, tôi không có khả năng cúng dường, lúc đó đời sống của tôi vô cùng cực khổ, tôi không thể cúng dường cho thầy, [trái lại] thầy lại còn cúng dường cho tôi, còn chăm sóc đời sống cho tôi, cả đời này tôi không lúc nào quên.  Tuy các thầy đều chẳng còn nữa, Hàn Quán Trưởng hộ trì tuy không còn nữa, nơi chúng tôi tu học trong giảng đường chúng tôi thờ hình của họ, vậy thì cũng giống như quý thầy hiện diện ở đây vậy, [chúng tôi] không quên ân đức [của quý thầy] nên mới có thể gặp được nhân thánh.

Hôm nay đã hết giờ, chúng ta giảng đến đây thôi.

Trong quá trình chuyển ngữ chắc không tránh khỏi thiếu sót, xin các bậc thức giả hoan hỷ phủ chính cho. 

Xin thành thật cám ơn.                                        

Nhóm Diệu Âm, ngày 4 tháng 9 năm 2006

 

[1] Tội Quyết Đoán là tên gọi khác của tội Tăng Tàn

[2] hiện tượng global warming

[3] (proton+neutron)

Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.