Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

ÐỊA TẠNG BỒ TÁT BỔN NGUYỆN KINH GIẢNG KÝ

Tập 37 (Số 14-12-37)

          Xin mở cuốn Khoa Chú quyển hạ, trang 13, xin xem kinh văn:   

          Cánh năng ư tháp miếu tiền phát hồi hướng tâm, như thị quốc vương nãi cập chư nhân tận thành Phật đạo dĩ thử quả báo vô lượng vô biên.

          Nếu lại có thể ở trước chùa tháp mà phát tâm hồi hướng, thì các Quốc Vương cho đến những người đó, thảy đều thành Phật Ðạo, bởi quả báo ấy là vô lượng vô biên.

          Ðoạn này nói về công đức có được khi bố thí trong đạo tràng nhà Phật, tu bổ kinh sách cũ, hình tượng Phật, Bồ Tát.  Phía trước nói trồng nhân này sẽ có quả báo làm Chuyển Luân Thánh Vương trong trăm ngàn năm; do đó có thể biết phước báo của sự bố thí chẳng thể nghĩ bàn.  Trong kinh điển, đức Phật dạy chúng ta, trong cõi người, người giàu sang nhất là Chuyển Luân Thánh Vương, trong kinh nói nghiệp nhân Chuyển Luân Thánh Vương đã tạo, chú giải ở đây có trích dẫn lời cổ đức, trang 13, câu cuối cùng hàng thứ nhất: “Diệu Huyền vân”, chữ ‘Diệu’ là Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, ‘Huyền’ là Huyền Nghĩa, quyển này do Trí Giả đại sư soạn.  Những lời này của Trí Giả đại sư đều dẫn từ kinh điển, đoạn này nói ‘phước này đều do tán tâm trì giới, và dùng từ tâm khuyên kẻ khác’, câu này vô cùng quan trọng! Tại sao họ được phước lớn như vậy?  Tương đương với Chuyển Luân Thánh Vương trong cõi người chúng ta, giống như những vị lãnh đạo các nước lớn nhất, những vị này giống như Chuyển Luân Vương.  Hiện nay nước Mỹ là nước giàu mạnh nhất trên thế giới, tuy có rất nhiều quốc gia người Mỹ không thể thống trị nhưng cũng chịu ảnh hưởng của Mỹ, thậm chí chịu sự chi phối của thế lực nước Mỹ.  Tổng thống Mỹ đích thật có đầy đủ ý nghĩa như Chuyển Luân Vương, nhưng chẳng có phước báo lớn bằng Chuyển Luân Thánh Vương, tại sao?  Nhiệm kỳ của họ chỉ có bốn năm, vả lại còn phải chịu các sự ràng buộc của Quốc Hội, chẳng thể làm theo ý riêng của mình, do đó còn thua xa Chuyển Luân Thánh Vương.  Hơn hai trăm năm trước, ba đời vua Khang Hy, Ung Chánh, Càn Long ở Trung Quốc có thể nói cũng khá giống Chuyển Luân Thánh Vương, lúc đó Trung Quốc vô cùng cường thịnh, các nước nhỏ ở Á Châu đều triều cống Thanh triều, đều là chư hầu của đế quốc nhà Thanh.  Cho nên chúng ta mở bản đồ lúc triều Thanh hưng vượng nhất, có lẽ lớn gấp ba diện tích Trung Quốc hiện nay, đất đai Trung Quốc hiện nay chỉ sánh bằng một phần ba Trung Quốc dưới triều Càn Long, do đó quốc vương thời đó khá giống với Chuyển Luân Thánh Vương.

          Họ làm sao tu được phước báo ấy?  Ðây là Trí Giả đại sư trong Huyền Nghĩa Kinh Pháp Hoa nói với chúng ta ‘tán tâm trì giới’, họ chẳng chú tâm, họ có trì giới không?  Họ có trì giới ‘và dùng tâm từ để khuyên kẻ khác’, tâm địa họ lương thiện, họ tu phước và còn khuyên nhắc rất nhiều người tu phước, lúc phước báo của họ hiện ra, chính họ làm đế vương, còn những người tu phước với họ đều là đại thần, bộ hạ của họ, những kẻ phước lớn trong đó sẽ làm tiểu vương.  Chế độ thời xưa, Tổng Ðốc chính là tiểu vương, Tuần Phủ cũng là tiểu vương, Tuần Phủ tương đương với chức tỉnh trưởng hiện nay, còn Tổng Ðốc thường là [vị quan] cai quản hai tỉnh, [hai chức này] đều là thân phận tiểu vương.  Vua các nước, các vùng xa xôi, vua các nước nhỏ đều tu được phước báo như vậy.

          [Câu kế tiếp trong Khoa chú là] “Thích Thiêm vân”, phần sau nói về Thích Thiêm, câu cuối hàng thứ hai; Thích Thiêm là ‘Thích Thiêm Huyền Nghĩa’, ‘Huyền Nghĩa’ là do Trí Giả đại sư soạn, [‘Thích Thiêm’] là chú giải cho Huyền Nghĩa, do Trạm Nhiên pháp sư soạn.  Ngài giảng khá cặn kẽ, trích dẫn kinh để thuyết minh, ngài nói ‘Làm bảy pháp trước’, đây là nói làm thiện cả đời, họ làm những việc thiện nào?  Thứ nhất là ‘Thí cho những người nghèo cùng’, họ rất nhiệt tâm lo lắng cho những người bần cùng, cho nên họ cảm được quả báo có rất nhiều người ủng hộ, đây là có ân đức, là báo ân.  Thứ hai ‘Kính dâng hiếu dưỡng’, họ tôn kính người khác, có thể hiếu dưỡng.  Ðặc biệt là có thể hiếu dưỡng cha mẹ, hiếu dưỡng kẻ bề trên, họ tôn kính một cách đặc biệt.  Thứ ba ‘Bốn thời, tám tiết cúng tế tứ hải’, đây tức là cung kính quỷ thần.  Hai điều trước là đối với người, điều này là đối với thiên địa quỷ thần, người hiện nay sơ sót việc này.  Ðời sống con người chúng ta có quan hệ mật thiết đối với thiên địa quỷ thần, quan hệ giữa người với nhau phải làm cho tốt đẹp, quan hệ giữa người với thiên địa quỷ thần cũng phải làm cho tốt đẹp, người xưa hiểu chuyện này; không những cổ nhân Trung Quốc hiểu được, chúng ta thấy cổ nhân trên thế giới cũng biết việc cúng tế quỷ thần.  Người hiện nay coi chuyện này là mê tín, cực lực bài xích, làm quan hệ đối với quỷ thần bị hư hỏng.  Nói cách khác, chẳng được sự giúp đỡ của quỷ thần, nếu quỷ thần do đó làm loạn, phá hoại, thì chúng ta phải chịu khổ, chúng ta không có khả năng chống đỡ.  Tới lúc nào thế giới này mới có thể khôi phục, được an định, phồn vinh, hưng vượng giống như ngày xưa thì mọi người phải giác ngộ, chúng ta phải đối xử hòa hài với thiên địa quỷ thần.  Cổ lễ của Trung Quốc, chư vị coi thử về ba bộ sách nói về Lễ: ‘Châu Lễ’, ‘Nghi Lễ’, ‘Lễ Ký’ đều đặt việc cúng tế ở hàng đầu, cúng tế tức là giao thiệp với thiên địa quỷ thần, giữ mối quan hệ tốt đẹp với họ.  Ðây là sự thật, chẳng phải giả.  Chẳng phải nói nếu bạn tin thì có, không tin thì chẳng có, chẳng phải đơn giản như vậy; bạn tin thì có sự việc này, không tin thì vẫn có sự việc này, đây là sự thật, chúng ta nhất định phải hiểu.  Người thế gian tuy miệng nói một cách cứng rắn là họ không tin, sự thật thì họ đều đã từng trải qua, đã từng thể nghiệm trong đời sống, nghe đến rất nhiều, có nhiều người đã đích thân trải qua.  Chúng ta nhất định phải coi trọng sự thật này, phải cúng tổ tiên, cúng thiên địa quỷ thần.  Thứ tư là ‘Thường tu nhẫn nhục’, cho nên họ có thể giữ gìn được phước báo, có thể hưởng dùng trong trăm ngàn đời, nguyên nhân chính là họ có thể nhẫn nhục; nếu không thể nhẫn nhục, dẫu phước báo lớn lao thì cũng sẽ hưởng hết trong một đời; nhà Phật nói rất hay, bố thí là tu phước, nhẫn nhục là giữ gìn [phước báo]; nếu bạn không thể nhịn thì bạn không giữ nổi, sẽ đánh mất rất nhanh.  Phía sau còn ba điều, nhất định phải đoạn tham, sân, và si, đây là tam độc phiền não.  Ðây là lúc còn sống tạo bảy thứ nhân thiện, thù thắng, sau đó lại phát tâm phục vụ đại chúng nên mới được cảm ứng thù thắng, được quả báo tốt như vậy.

          Trong cả bộ kinh Ðịa Tạng, phẩm này là phẩm quan trọng nhất, phần cuối cùng của kinh quy kết về Tam Bảo, ‘Danh Hiệu Phẩm’ là Phật Bảo, ‘Bố Thí Phẩm’ là Pháp Bảo, sau đó ‘Lợi Ích Tồn Vong Phẩm’ là Tăng Bảo.  [Hiện nay] Phật chẳng còn tại thế, trong Tam Bảo thì Pháp Bảo trọng yếu nhất, khuyên chúng ta tu bố thí.  [Chúng ta nhất định phải hiểu] định nghĩa của hai chữ ‘Bố Thí’cho rõ ràng.  Bố thí chính là phục vụ, bố thí hết thảy chúng sanh tức là phục vụ cho nhân dân, cho xã hội, phục vụ cho chúng sanh trong thập pháp giới, đó là Phật đạo, Bồ Tát đạo.  Do đó chúng ta không thể nhìn sai việc Bố Thí, cứ cho rằng quyên tặng một ít của cải thì trong nhà Phật gọi là bố thí, vậy thì bạn hiểu việc bố thí một cách quá đơn giản, quá hạn hẹp rồi.  Trong Bồ Tát hạnh, đức Phật dạy cho chúng ta sáu nguyên tắc, sáu điều, trong kinh điển gọi là Lục Ðộ, Lục Ba La Mật, tức là sáu nguyên tắc cho hành vi của Bồ Tát.  Thứ nhất là Bố Thí, thứ hai cũng là Bố Thí, thứ ba vẫn là Bố Thí.  Ðức Phật giảng Bố Thí chia thành ba loại: thứ nhất là Bố Thí Tài, thứ nhì là Bố Thí Pháp, thứ ba là Bố Thí Vô Úy; điều thứ nhất trong Lục Ðộ là Bố Thí, Bố Thí bao gồm cả ba thứ: tài, pháp, và vô úy.  Thứ hai là Trì Giới, trì giới là tuân giữ pháp luật.  Thứ ba là Nhẫn Nhục, tuân giữ pháp luật và nhẫn nhục đều thuộc về Vô Úy Bố Thí; sau đó là ‘Tinh Tấn, Thiền Ðịnh, Bát Nhã’ đều thuộc về Pháp Bố Thí.  Do đó nếu bạn quy nạp Bồ Tát hạnh thì đó chính là hai chữ Bố Thí; giải thích hai chữ Bố Thí chính là phục vụ cho hết thảy đại chúng.

          Bất luận bạn có thân phận gì, bạn làm nghề gì, hết thảy bạn đều vì chúng sanh, vì xã hội, vì nhân dân thì đó là tu bố thí ba la mật.  Mỗi người chúng ta lợi sanh là làm một gương mẫu tốt cho chúng sanh, đó là tu bố thí ba la mật.  Tâm địa một người trên thế gian tốt, phẩm đức tốt, hành vi tốt, làm gương tốt cho xã hội, thì đã bố thí ‘thân’ mình, cả thân và tâm đều tu bố thí.  Ðời sống chúng ta, bất luận là giàu sang hay nghèo hèn, giàu sang thì làm một gương giàu sang tốt, nghèo hèn thì làm một gương nghèo hèn tốt.  Người nghèo hèn giữ vững bổn phận, vui với cái nghèo, vậy chính là bố thí; người giàu sang làm gương tốt của một người giàu, dùng những gì mình dư dả giúp cho những người nghèo, đó là gương tốt cho người giàu, có phước thì cùng hưởng với hết thảy chúng sanh.  Bạn làm trong chánh phủ, phục vụ cho nhân dân, bạn buôn bán cũng phục vụ cho nhân dân, bạn làm công cũng phục vụ cho nhân dân.  Chúng ta đã xuất gia, người xuất gia nghiên cứu Phật pháp, kinh giáo cho thấu triệt, giảng giải tường tận cho hết thảy chúng sanh, đó là phục vụ nhân dân, giúp mọi người phá mê khai ngộ, giúp mọi người nâng cao mức sống, người xuất gia cũng phục vụ nhân dân.  Tất cả Phật pháp chẳng có gì khác, nói đến cuối cùng tổng kết lại chỉ là phục vụ hết thảy chúng sanh mà thôi.  Chúng ta phát tâm phục vụ cho chúng sanh, và cũng khuyên hết thảy chúng sanh cũng phải phục vụ chúng sanh, thực sự có thể hy sinh chính mình, xả mình vì người thì người đó gọi là Bồ Tát.  Niệm niệm đều nghĩ đến chúng sanh, nghĩ đến toàn thể xã hội, nghĩ đến hết thảy nhân dân, chẳng nghĩ đến mình, chẳng nghĩ đến nhà mình; mình và nhà mình là một phần tử của đoàn thể, cả đoàn thể tốt thì lẽ nào mình không tốt được.  Cho nên họ có phước báo lớn như vậy, phước báo có nguồn gốc từ đâu, chúng ta hiểu được.  Ðoạn kinh văn sau đây [nói] nếu bạn có thể mở rộng tâm lượng phục vụ thì phước báo của bạn còn lớn hơn nữa.

          Cánh năng ư tháp miếu tiền phát hồi hướng tâm

          Nếu lại có thể ở trước chùa tháp mà phát tâm hồi hướng.

          ‘Tâm hồi hướng’ là tâm gì?  Ngày nay chúng ta phục vụ một khu vực, hoặc càng nhỏ hơn nữa là một đoàn thể, một đoàn thể xã hội, một khu vực.  Mở rộng ra tới cả nước, ngày nay nói đến cả thế giới, đây là việc chúng ta có thể làm trên phương diện sự tướng.  Tâm hồi hướng, tuy trên mặt Sự chúng ta chẳng làm được, nhưng tâm nguyện của chúng ta đã đạt được.  Tâm phục vụ của chúng ta là tận hư không, trọn khắp pháp giới, chẳng hạn chế tại địa cầu này, lời nói này có phải là lời nói suông hay không?  Không phải, khi thật sự có tâm nguyện thì chẳng phải nói suông.  Tiếc là hiện nay chúng ta chẳng có khả năng, nếu một ngày nào đó chúng ta có thần thông, bay đi biến hóa tự tại, đích thật chúng ta rất hoan hỷ giúp đỡ hết thảy chúng sanh trong mười phương thế giới, giống như chư Phật, Bồ Tát vậy, tùy loại hóa thân ở tận hư không, trọn khắp pháp giới, tùy cơ thuyết pháp, đây là tâm hồi hướng.  Tâm của bạn đã mở rộng, một khi tâm đã mở rộng thì phước báo của bạn chẳng phải chỉ làm Chuyển Luân Vương trăm ngàn đời mà thôi.

          Như thị quốc vương nãi cập chư nhân tận thành Phật đạo dĩ thử quả báo vô lượng vô biên.

          Thì các Quốc Vương cho đến những người đó, thảy đều thành Phật Ðạo, bởi quả báo ấy là vô lượng vô biên.

          Tại sao vừa hồi hướng thì liền thành Phật?  Tâm hồi hướng này là tâm Phật, tâm là tâm Phật thì làm sao không thành Phật cho được?  Ðương nhiên sẽ thành Phật.  Tâm nói ở phía trên [1] chẳng phải tâm Phật, mà là tâm người, trong bốn thứ từ bi, đó là ‘Chúng Sanh Duyên Từ Bi’, cho nên quả báo đó sẽ là thân Chuyển Luân Vương.  Một khi đã phát nguyện hồi hướng thì tâm đó là tâm Phật, từ bi đó là đại từ đại bi, chẳng có điều kiện gì cả, ‘Vô Duyên Ðại Từ, Ðồng Thể Ðại Bi’, cho nên chắc chắn thành Phật.  Bất luận là phát tâm dẫn dắt, khuyên dạy mọi người, hoặc là cùng nhau làm đều thành Phật đạo.  ‘Ðều thành Phật đạo’, chư vị phải biết, những người này đều phát tâm hồi hướng thì họ mới có thể thành Phật đạo.  Trong đó có nhiều người như vậy, nếu có người không phát tâm rộng lớn này thì họ sẽ không thành Phật đạo được, người chân chánh phát tâm mới thành Phật được.  Quả báo thành Phật mới rốt ráo, viên mãn, trên quả vị Phật, nên dùng thân Chuyển Luân Vương để độ được thì ngài sẽ hiện thân Chuyển Luân Vương, nên dùng thân thiên vương để độ được thì ngài sẽ hiện thân thiên vương, bạn coi các ngài tự tại biết bao.  Nếu chẳng có tâm lượng to lớn này, tuy tu phước báo lớn làm Chuyển Luân Vương, thân cũng không tự tại, họ không thể tùy ý mình đi làm thiên vương, đi làm quỷ vương, họ không thể làm những gì tâm họ muốn.  Nếu thành Phật, thành Bồ Tát thì mới làm được tùy tâm mong muốn.  Bất cứ thân phận gì cũng có thể thị hiện, vả lại thị hiện không chỉ [hạn chế] một thân, cùng lúc, cùng một nơi có thể hiện vô lượng thân, hiện các thân phận khác nhau, chỉ có quả địa Phật và đại Bồ Tát mới có thể làm được, do đó phát nguyện hồi hướng rất quan trọng.

          Trong kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật, Thế Tôn giảng cho chúng ta về Bồ Ðề Tâm, chí thành tâm là Thể của Bồ Ðề tâm, [Thể tức] là bản thể.  Hết thảy pháp đều lưu xuất từ tâm này, đều được xây dựng từ tâm này. Tâm người phải chân thành, chân thành đến cùng cực, không những không có tâm riêng tư, ngay cả vọng tưởng cũng không có, đây là nói về Thể, tức là bản thể [của cái tâm].  Có [bản] Thể thì đương nhiên cũng có Dụng, trong Dụng có chia thành hai loại, một là Tự Thọ Dụng, hai là Tha Thọ Dụng.  Nếu dùng cách nói hiện nay mà nói thì bạn dùng tâm gì đối với chính mình, thì dùng tâm đó để đối xử với kẻ khác, đối với mình là tự thọ dụng, đối với kẻ khác là tha thọ dụng.  Phật dạy chúng ta, đối với mình là Thâm Tâm, thâm tâm là tâm háo thiện, háo đức, tự mình có thể tu thiện, tích đức, đây là đối với chính mình; đối với kẻ khác là Tâm Phát Nguyện Hồi Hướng.

          Phát nguyện hồi hướng là đại từ đại bi, phát nguyện hồi hướng tức là phát nguyện phục vụ cho hết thảy chúng sanh.  Bất luận ở lúc nào, bất luận ở nơi đâu, toàn tâm toàn lực phục vụ cho đại chúng, sự phục vụ này hoàn toàn là nghĩa vụ, chẳng mong cầu báo đền gì hết.  Người thế gian phục vụ thì phải nói tới đền đáp, còn chư Phật, Bồ Tát phục vụ thì không có đền đáp, tất cả đều là hiến dâng, nói theo hiện nay thì gọi là nghĩa vụ, hoàn toàn là tình nguyện.  Nếu có quan niệm tình nguyện này thì cũng chưa phải là Phật, Bồ Tát, tại sao vậy?  Tâm thương yêu của họ còn thấp một cấp, ‘pháp duyên từ’ chứ không phải là đại từ đại bi.  ‘Ðại từ đại bi’ thì ngay cả ý niệm nghĩa vụ cũng không có, những gì họ làm thật sự là công việc nghĩa vụ, nhưng tuyệt đối không có ý niệm nghĩa vụ, đó mới thật sự là Phật, Bồ Tát, quả báo đó mới là vô lượng vô biên.  Pháp sư Thanh Liên trong Chú Giải cũng trích dẫn một số sự tích, chư vị hãy coi những chuyện này, sau khi chư vị nghe tôi nói xong thì sẽ coi và hiểu những chuyện này, vậy thì chúng ta không cần phải nói nhiều nữa.  Xin xem phần kinh văn dưới đây, phần này là đoạn thứ tư nói về Bố Thí, phước báo có được khi ‘bố thí cho người già, người bịnh, sản phụ’.

          Phục thứ,

          Lại nữa

          Trong kinh thêm chữ ‘Phục thứ’, nghĩa là phần mở đầu của một sự việc khác.  Ðức Phật giảng cho chúng ta các thứ bố thí, đây là loại thứ tư.  Gọi là:

          Ðịa Tạng, vị lai thế trung hữu chư quốc vương cập Bà La Môn đẳng.

          Này Ðịa Tạng! Trong đời vị lai, như có các vị quốc vương cùng hàng Bà La Môn v.v…

          Câu này nói về người có thể bố thí, người phát tâm bố thí nhiều như vậy, thân phận, địa vị, phước báo của họ đều chẳng bằng nhau, nhưng họ đều có thể phát tâm bố thí, phước có được từ sự bố thí hoàn toàn dựa trên tâm niệm và thái độ của người bố thí, tuyệt chẳng dựa trên địa vị của họ cao hay thấp, được phước báo lớn nhỏ chẳng liên quan gì tới địa vị của họ, cũng chẳng liên quan đến tài lực, vật lực của họ.  Quan hệ ở chỗ họ phát tâm, họ có dùng tâm chân thành hay không, tâm có rốt ráo hay không, có tận tâm tận lực hay không, phước báo lớn hay nhỏ là dựa trên những điểm này mà xét.  Do đó có thể thấy tu vô lượng vô biên phước báo là việc mà mỗi người chúng ta đều có phần, mỗi người đều có thể làm được.  Phần sau là đối tượng của sự bố thí.

          Kiến chư lão bịnh cập sanh sản phụ nữ nhược nhất niệm gian cụ đại từ tâm

          Gặp những người già yếu, tật bịnh và phụ nữ sinh đẻ, nếu trong một niệm đầy đủ lòng đại từ

          Quan trọng ở chỗ ‘đại từ tâm’, tâm đại từ là tâm Phật, tâm niệm và thái độ của Pháp Thân Ðại Sĩ, đây chẳng phải là người bình thường.  [Họ] chẳng đòi hỏi điều kiện gì cả, khi gặp là nhất định sẽ giúp đỡ.

          Bố thí y dược, ẩm thực, ngọa cụ sử lịnh an lạc

          Ðem thuốc men, đồ ăn thức uống, mền chiếu bố thí cho, khiến cho họ được an vui

          Thấy người ta có khổ nạn thì lập tức ra tay giúp đỡ.  Hiện nay trong xã hội có rất nhiều người già, người bịnh đáng thương xót, chẳng có người chăm sóc, tại sao cả xã hội trở thành như vậy?  Vì đường lối giáo dục sai lầm.  Giáo dục hiện nay đều là giáo dục của Công Lợi chủ nghĩa [2], chẳng giống với Trung Quốc thời xưa, giáo dục thời xưa ở Trung Quốc là giáo dục đạo đức, giáo dục nhân nghĩa, tôn trọng đạo đức nhân nghĩa.  Giáo dục hiện nay là công lợi, là giáo dục lợi hại, đối với mình có lợi là bạn bè, đối với mình không có lợi thì là kẻ thù, bạn nói như vậy thì làm sao được! Xã hội này, Mạnh Tử nói [nếu] ‘Kẻ trên, người dưới tranh nhau thủ lợi’, đất nước này sẽ bị nguy hiểm.  Sự nguy hiểm này nói rõ sẽ có tai nạn lớn xảy ra, hoặc là thiên tai, hoặc là nhân họa, đều do nghiệp cảm của chúng sanh tạo ra, vì mọi người đều tạo nghiệp chẳng thiện.  Thế nên tại sao người đời sau tôn kính cổ thánh tiền hiền đời xưa?  Tại sao sùng bái họ?  Vì họ có trí huệ, họ dựng nên một đường lối giáo hóa chúng sanh, dạy chúng sanh ‘đạo đức, nhân nghĩa, lễ nghĩa’, minh đạo, tu đức, hành nhân, tận nghĩa, giữ lễ, xã hội sẽ an định, nhân dân sẽ yên vui, biết hợp tác lẫn nhau, chung sống hòa mục, đó là đế vương phục vụ cho nhân dân, làm gương tốt cho xã hội đại chúng.

          Trong xã hội công lợi hiện nay, mỗi người chỉ cầu cho lợi ích của cá nhân mình, gia đình cũng chẳng lo đến, đúng là vong ân, bội nghĩa.  Cha mẹ nhọc nhằn nuôi con khôn lớn, đến lúc cha mẹ già thì con cái bỏ xó, vứt bỏ, cho rằng hiếu dưỡng cha mẹ là một gánh nặng, họ không chịu gánh vác gánh nặng này, họ bỏ đi, cha mẹ sống chết gì cũng chẳng liên quan tới mình, cha mẹ bị bịnh chẳng có người chăm sóc, cha mẹ già bỏ xó cũng chẳng có người săn sóc.  Hiện nay ở ngoại quốc có chế độ phước lợi cho người già, quốc gia đứng ra nuôi người già, quốc gia phải có tài lực mới được.  Sự nghiệp phước lợi xã hội là do người Mỹ đề xướng đầu tiên, sau khi thế chiến thứ hai chấm dứt, nước Mỹ giàu mạnh nhất nên họ khởi xướng chế độ này; rất nhiều dân tộc, quốc gia trên thế giới đều bắt chước.  Hiện nay mối tệ xảy ra, gánh nặng quốc gia quá lớn, làm cho chính sách kinh tế quốc gia suy xụp.  Nhưng có ai dám phế trừ chế độ này không?  Chẳng ai dám.  Quốc gia đó là xã hội dân chủ, nếu bạn muốn phế trừ chế độ này thì dân chúng sẽ không bỏ phiếu cho bạn, thì bạn sẽ không đắc cử, vì [người ứng cử] muốn lấy lá phiếu nên cắn chặt răng vẫn phải duy trì chế độ này.  Nước Mỹ hiện nay thiếu nợ, hầu như mỗi người trên thế giới đều biết, bốn đời còn chưa trả hết, họ vốn là nước [dư dả] cho người ta vay mượn, hiện nay biến thành nước thiếu nợ, đây đều là do chánh sách sai lầm.

          Cho nên chánh phủ Tân Gia Ba rất thông minh, thấy được trạng thái bịnh hoạn này của xã hội.  Tân Gia Ba có phước lợi xã hội không?  Có chứ, cội nguồn chủ yếu của phước lợi xã hội là số tiền dành dụm của nhân dân, họ gọi là ‘công tích kim’ (tiền tích trữ chung), đây là tiền chánh phủ buộc bạn phải dành dụm.  Số dành dụm này là để phòng hờ khi bạn sanh bịnh, khi bạn đến tuổi già, có thể tự nuôi mình.  Thật ra khi có khó khăn, chánh phủ trợ giúp một ít, quy chế này tốt!  Ở ngoại quốc vì có chế độ phước lợi xã hội nên người dân chẳng có quan niệm dành dụm, [họ thường nghĩ] già cũng không sao, có nhà nước nuôi.  Cho nên tiền thu nhập hằng tháng, họ đều tiêu xài hết trơn, nhiều người còn xài quá lố, tạo nên hiện tượng thiếu nợ rất nhiều.

          Trong quan niệm giáo dục cổ xưa Trung Quốc, thiếu nợ là nhục nhã, bạn làm sao có thể mượn tiền để sống qua ngày?  Ngạn ngữ thường nói ‘Không nợ cả mình khoẻ re’.  Ðời sống nghèo khổ một tí cũng không sao, không thiếu nợ thì đời sống chẳng có áp lực, đời sống của họ rất thoải mái.  Còn những quốc gia tiên tiến ở ngoại quốc hầu như là không có ai không thiếu nợ, áp lực đời sống rất lớn.  Xã hội như vậy, tôi sống ở bên đó hai mươi mấy năm, tôi nhìn thấy rất khó chịu, con người sống ở trên thế gian là để làm gì?  Là để trả nợ, bạn coi có đáng thương hay không, bi ai biết bao!  Mỗi ngày nỗ lực làm việc là để trả nợ.  Trả tiền nợ của ngân hàng, mượn tiền ngân hàng, đất đai, căn nhà của bạn ở là do mượn tiền mua trả góp, chiếc xe hơi bạn lái cũng do tiền mượn ngân hàng, mượn công ty bảo hiểm trả góp để mua.  Số tiền mỗi tháng kiếm được thì trước tiên phải trả ngân hàng, trả công ty bảo hiểm, còn lại một phần nhỏ mới dành để chi dụng cho sanh hoạt.  Lúc tôi ở Mỹ, phần đông các người Mỹ có thể nói là tiền thu nhập rất khả quan, mỗi tháng có thể kiếm được ba ngàn Mỹ kim, số ba ngàn này phải đóng thuế, phải trả góp cho ngân hàng, trả góp cho công ty bảo hiểm, trên thực tế kiếm được ba ngàn đồng còn lại chỉ được tám trăm đồng, do đó tiền lương ba ngàn đồng nhưng thật ra chỉ còn tám trăm đồng.  Tám trăm đồng tiền chi dụng cho sanh hoạt so với Trung Quốc chúng ta cao hơn rất nhiều, nhưng chỉ miễn cưỡng đủ cho họ chi dùng trong một tháng.  Người Trung Quốc đỡ hơn người ngoại quốc vì người Trung Quốc biết tiết kiệm.  Mỗi tháng họ có thể dành dụm hai trăm đồng là điều rất khó khăn, rất hiếm có.  Cho nên số tiền thâu nhập ba ngàn đồng, họ có thể thật sự dành dụm chỉ bất quá là hai trăm đồng mà thôi, [từ chuyện này chúng ta mới biết] họ sinh sống như thế nào?

Còn người đến tuổi già, mỗi tiểu bang ở Mỹ có tài chính riêng rẽ, nước Mỹ là nước liên bang, mỗi tiểu bang cũng giống như một nước nhỏ, có rất nhiều luật lệ riêng rẻ, nhưng không trái nghịch với hiến pháp liên bang.  Vì của cải của mỗi tiểu bang không giống nhau nên phước lợi xã hội cũng khác nhau.  Như tiểu bang Cali khá sung túc, người già ở Cali mỗi tháng có thể lãnh được năm trăm đồng tiền dưỡng già, năm trăm đồng có thể chi dụng cho một tháng, chẳng thành vấn đề.  Tôi ở tiểu bang Texas, hoàn cảnh kinh tế của Texas thua Cali nên tiền dưỡng già ở Texas chỉ có hơn ba trăm đồng, đời sống vật chất có thể miễn cưỡng sống qua ngày, còn đời sống tinh thần rất đau khổ, thật sự là họ chỉ ngồi ăn rồi chờ chết.  Họ mỗi ngày ăn no xong rồi phơi nắng, chẳng có người nói chuyện với họ.  Chúng tôi đến thăm viện dưỡng lão, người già nhìn thấy chúng tôi đều thích nói chuyện với chúng tôi, có người nói chuyện với họ thì họ mới cảm thấy an ủi.

Chúng tôi nhìn thấy hiện tượng thê thảm của người già, nên chúng tôi có ý định muốn xây làng Di Ðà, giúp đỡ họ giải quyết sự khổ nạn, tìm cho họ một đời sống tinh thần.  Có một số viện dưỡng lão tổ chức rất khá, mỗi tuần có tổ chức một buổi họp có tính chất giúp vui, trong đó có biểu diễn, có ca hát, khiêu vũ, do ai tổ chức?  Ðều do người già tự tổ chức.  Những người trẻ tuổi một chút, sức khoẻ còn khá đứng ra biểu diễn, còn nhiều người lớn tuổi đi đứng không được phải ngồi xe lăn, họ xúm lại làm khán giả, như vậy kể là rất khá rồi.  Nhưng chúng tôi cảm thấy như vậy cũng chưa đủ, chúng ta phải thường có người trẻ tuổi đến đó biểu diễn, đặc biệt là khích lệ học sinh trẻ tuổi, các em nhỏ có thể thường xuyên đến làng Di Ðà biểu diễn, làm cho người già có thể thường gặp mặt, tiếp xúc các em nhỏ, làm cho tinh thần của họ được an ủi.  Rất nhiều đoàn ca vũ trên thế giới, các đoàn diễn xiếc Trung Quốc, chúng ta có thể mời những đoàn biểu diễn giỏi đến làng Di Ðà biểu diễn.  Cho nên làng Di Ðà không chỉ đơn thuần niệm Phật, trong đó có nhiều sinh hoạt giúp vui này.  Chúng tôi hy vọng có thể giúp người già trải qua thời gian mà họ cảm thấy hạnh phúc nhất trong đời của họ, chúng tôi hướng về mục tiêu này mà làm, phục vụ cho người già, người bịnh.

Trong kinh đề cập tới ‘sanh sản phụ nữ’, hiện nay y dược phát triển, chăm sóc phụ nữ sanh sản chẳng cần chúng ta phải bận tâm.  Thời xưa người phụ nữ sanh sản vô cùng khổ sở, chẳng có người chăm sóc.  Cho nên lúc sanh sản là lúc quan hệ tới tánh mạng, là lúc cần người giúp đỡ nhất.  Hiện nay trừ phi là những chỗ vô cùng lạc hậu, chưa phát triển, còn những chỗ đã phát triển, hoặc những quốc gia đang phát triển đại khái đều không thành vấn đề.  Ở đây đức Phật khuyến khích chúng ta phải bố thí thuốc men, thức ăn, mền chiếu cho những chúng sanh khổ nạn, cần chúng ta giúp đỡ, họ rất cần những vật này, nếu bạn có thể chăm sóc được, mục đích là ‘sử lịnh an lạc’, làm cho họ được thân tâm bình yên, làm cho họ lìa khổ hưởng vui.  Xin xem tiếp kinh văn:

Như thị phước lợi tối bất tư nghị, nhất bá kiếp trung, thường vi Tịnh Cư Thiên Chủ, nhị bá kiếp trung thường vi Lục Dục Thiên Chủ, tất cánh thành Phật vĩnh bất đọa ác đạo, nãi chí bá thiên sanh trung nhĩ bất văn khổ thanh.

Thì phước lợi đó không thể nghĩ bàn, trong một trăm kiếp thường được làm Thiên Chủ trời Tịnh Cư, trong hai trăm kiếp thường được làm Thiên Chủ cõi Lục Dục Thiên và rốt ráo sẽ được thành Phật, vĩnh viễn không còn đọa vào ác đạo, thậm chí trong trăm ngàn đời, tai không hề nghe đến tiếng khổ.

Ðoạn kinh văn này nói về quả báo của sự bố thí.  Bố thí là nhân của phước đức, ba nghiệp đều phải biết tu học.  Trong tâm thường giữ ý niệm bố thí, bố thí chính là phục vụ chúng sanh, chúng ta nói như vậy thì mọi người dễ hiểu, mỗi niệm đều có tâm nguyện phục vụ chúng sanh, đó là tâm bố thí.  Lúc thường ngày dùng lời nói để khuyên người, phục vụ xã hội, phục vụ nhân dân, đó là miệng bố thí.  Trong đời sống hằng ngày, chúng ta thật sự làm được, ngay ở chỗ làm, ngay trong cách sinh sống hằng ngày, phải làm việc có lợi ích cho xã hội, cho chúng sanh, đó là thân bố thí, [làm vậy] thì bạn nhất định sẽ có phước. ‘Tài thí’ gồm có nội tài và ngoại tài, ngoại tài là vật ngoài thân, nội tài là thân thể, tôi dùng thân thể của tôi, dùng sức lực của tôi phục vụ mọi người, đây là ‘nội tài bố thí’, thí tài thì sẽ được giàu sang.  ‘Pháp thí’ là dùng trí huệ, dùng kỹ thuật, khả năng của mình để giúp đỡ người khác, quả báo sẽ được thông minh, trí huệ.  ‘Vô úy thí’ là làm cho mọi người thân tâm yên ổn, xa lìa lo sợ, buồn rầu, phiền não, quả báo là được khoẻ mạnh, sống lâu.  Như vậy thì phước báo của bạn mới viên mãn, trong đời sống vật chất của bạn chẳng thiếu thốn, chẳng cần quá nhiều, không thiếu thốn là được rồi, là viên mãn rồi.  Cái ăn, cái mặc đầy đủ, thông minh, trí huệ, khoẻ mạnh, sống lâu, thì phước báo của người đó mới viên mãn.  Ngày nay chúng ta thấy thế gian này, có rất nhiều người giàu sang nhưng không có trí huệ, họ thật sự giàu có [nhưng] ngu si.  Lại thấy có người thông minh, rất có trí huệ, thân thể không khoẻ, nhiều tai nạn, nhiều bịnh, đó là gì?  Ðời trước họ chẳng tu vô úy thí, thường làm tổn thương hết thảy chúng sanh, [nên họ] bị nhiều tai họa, nhiều bịnh.  Họ nói: ‘Tôi đâu có hại chúng sanh gì đâu, chẳng hại ai hết’, mỗi ngày ăn thịt chúng sanh thì đã là phiền phức rồi.

Tôi nhớ có một lần, cư sĩ họ Lôi ở Hương Cảng làm báo cáo tại đây, bà thấy quả báo ngay trong đời này, có một người thích ăn đồ biển, lúc chết bị một bịnh giống như con cua vậy, giống cá tôm vậy, lúc quả báo hiện lên mọi người đều nhìn thấy, làm cho rất nhiều người sợ hãi, những người thích ăn đồ biển đều không dám ăn nữa.  Bà ở đây thuật lại chuyện này, chúng tôi có thâu hình, cuồn băng thâu hình này có thể lưu thông cho mọi người coi, chuyện bà kể lại là chuyện thật, người thật.  Trong Giới Kinh tuy đức Phật chẳng cấm mọi người ăn thịt, đức Phật khuyên người ăn ‘Tam Tịnh Nhục’.  Tam tịnh nhục nghĩa là thứ nhất không trông thấy [con vật đang] bị giết, bạn chẳng thấy sự sát sanh, thứ hai bạn chẳng nghe thấy âm thanh [lúc con vật bị] giết, thứ ba là tuyệt đối chẳng giết cho mình ăn, đó gọi là tam tịnh nhục.  Nhưng có một số người thích ăn thịt sống, tận mắt nhìn thấy con vật bị giết, đích thân kêu người đầu bếp giết con vật ấy, họ muốn ăn đồ tươi, ăn như vậy thì tạo nghiệp nặng lắm.  Cho dù bạn tu bố thí được phước, dù bạn tu pháp bố thí được thông minh trí huệ, quả báo bạn được sẽ là thân thể bị nhiều tai họa, nhiều bịnh.

Thông thường thì thân thể người Trung Quốc chẳng bằng người ngoại quốc, người ngoại quốc ăn thịt, họ thật sự ăn tam tịnh nhục, vả lại lúc ăn thịt cũng tương đối đơn thuần.  Ở ngoại quốc chúng ta thấy họ ăn nhiều nhất là thịt bò, thịt gà, những thịt động vật khác họ không ăn, rất ít ăn, họ yêu thương động vật.  Nếu họ thấy bạn làm tổn thương động vật thì họ không thích, họ sẽ không tha thứ cho bạn.  Ở Úc Châu nếu làm tổn thương động vật bừa bãi thì phải bị phạt, phải bị phạt tiền thậm chí phải bị ở tù, đây là [luật lệ] bảo hộ động vật.  Gà và bò của họ được [chuyên môn] nuôi để làm thịt, như vậy thì sự tạo nghiệp sẽ nhẹ.  Hãy coi người Trung Quốc, đặc biệt là người miền nam cái gì cũng ăn, cái gì cũng muốn ăn sống, như vậy thì tạo nghiệp rất nặng, sẽ chịu tai nạn rất nhiều.  Do đó chúng ta phải biết làm cách nào để tu phước.

 [Nói đến] phương pháp sống khoẻ mạnh, trường thọ, cố nhiên phương thức sống của chúng ta rất quan trọng, đó đều là duyên.  Nguyên nhân thật sự là do đời quá khứ tu vô úy thí, làm cho hết thảy động vật, làm cho các loài hữu tình, động vật có sinh mạng được yên ổn, được vui sướng, không thể sát hại chúng nó, đó thuộc về vô úy thí, ngày nay gọi là thương yêu động vật.  Chúng tôi thấy những động vật sanh trưởng trong vùng hoang dã ở Mỹ, ở Gia Nã Ðại, ở Úc Châu chẳng sợ con người.  Bạn coi những động vật nhỏ ấy, bạn ngoắc tay thì nó liền đi tới, chim cũng không sợ người ta, nó bay xuống đậu trên thân bạn, con sóc [nhìn thấy bạn] vừa ngoắc tay nó liền chạy lên tay bạn.  Ðộng vật ở Trung Quốc khác ở ngoại quốc, vừa thấy người ta nó liền chạy mất, động vật cũng thông hiểu tánh người, sống ở chỗ nào mà nó biết con người không hại nó, con người là bạn của nó, thì nó mới dám lại gần [người ta].  Còn ở Trung Quốc hay Ðài Loan thì làm sao được, chim vừa nhìn thấy người ta thì liền bay mất, nó biết những người này là kẻ thù của nó, là oán gia, chắc chắn sẽ giết hại chúng nên chúng mau mau chạy trốn.

Ðoạn này dạy chúng ta làm thế nào để tu bố thí, làm sao tu phước, bố thí tức là tu phước, nếu bạn có thể tu học như vậy, tu bố thí như vậy, quả báo sẽ là ‘trong vòng một trăm kiếp, thường làm Thiên Chủ cõi trời Tịnh Cư’; cõi trời Tịnh Cư là cõi Tứ Thiền thiên, quả vị này cao, họ sẽ được quả báo như vậy.  Cội nguồn của quả báo đều ở chỗ phát tâm, bạn biết phát tâm thì sẽ tin lời Phật nói, tin quả báo đều là chân thật.  ‘Hết thảy pháp từ tâm tưởng sanh’, hết thảy pháp đều do tâm niệm mà chuyển biến, trong nhân nói phía trước, quan trọng nhất là phải có đại từ tâm thì bạn mới có quả báo này.  Nếu bạn chỉ có “ái duyên từ, chúng sanh duyên từ”, thì quả báo sẽ chẳng lớn như vậy, đây là lòng đại từ đại bi giống như chư Phật, Bồ Tát, quả báo này sẽ chẳng thể nghĩ bàn.  Thời gian một trăm kiếp dài như vậy, bạn sẽ làm Ðại Phạm thiên vương, đây là [thiên vương] cõi trời Sắc Giới.

‘Trong hai trăm kiếp thường là thiên chủ cõi trời Lục Dục’, Ðại Phạm thiên vương, phước báo của thiên chủ cõi Tịnh Cư hết thì sẽ đọa trở xuống, nhưng họ còn phước dư.  Phước đó tuy không đến cõi trời Sắc Giới, nhưng sẽ hưởng phước tiếp ở trời Dục Giới.  ‘Nhất định thành Phật, vĩnh viễn không đọa ác đạo’, ‘Nhất định thành Phật’ là nói hạt giống Kim Cang gieo trong A Lại Da Thức sẽ không hư hoại, nếu gặp được nhân duyên thù thắng, duyên thù thắng này giống như lời nói của Thiện Ðạo đại sư ‘gặp duyên không đồng’.  Nếu họ gặp được Ðại Thừa Phật pháp, gặp được pháp môn Tịnh Ðộ, dựa trên thiện căn, phước đức, và thêm nhân duyên, thì họ nhất định sẽ vãng sanh thành Phật, vậy thì vĩnh viễn sẽ chẳng đọa ác đạo, sanh đến tây phương thế giới thì đương nhiên ‘sẽ chẳng nghe tiếng khổ’.  Ðoạn này nói về quả báo của họ.

Ðoạn này trong Chú Giải, Thanh Liên pháp sư chú thích rất nhiều, nói rõ những sự chẳng thể nghĩ bàn.  Trong đó ngài trích dẫn kinh, luận, nêu ra các vật bố thí gồm có nhà cửa, giường, đồ ăn, thuốc men, nói rõ những thứ này đều là thế pháp, làm sao có thể nói là chẳng thể nghĩ bàn?  Sau đó nói ‘Ðó là do lúc bố thí, một niệm có đủ tâm đại từ, bèn là căn bản thành Phật?’, cho nên quan trọng ở ba chữ ‘đại từ tâm’.  Nếu thật sự dùng tâm đại từ đại bi, chẳng có phân biệt, chẳng có chấp trước, một tâm niệm này liền chẳng thể nghĩ bàn, cho nên được phước cũng chẳng thể nghĩ bàn, quả báo chẳng thể nghĩ bàn.  Phần chú thích còn lại, chư vị có thể tự xem.  Xin xem tiếp kinh văn:

Phục thứ Ðịa Tạng, nhược vị lai thế trung hữu chư quốc vương, cập Bà La Môn đẳng, năng tác như thị bố thí, hoạch phước vô lượng, cánh năng hồi hướng, bất vấn đa thiểu tất cánh thành Phật.  Hà huống Thích Phạm Chuyển Luân chi báo

Lại nữa, này Ðịa Tạng! Trong đời vị lai, như có các vị Quốc Vương cùng hàng Bà La Môn v.v…, có thể làm những việc bố thí như thế, sẽ được vô lượng phước lành. Nếu lại có thể đem hồi hướng, thì không kể là nhiều hay ít, rốt ráo đều sẽ thành Phật; huống gì là những quả báo Thích, Phạm, Chuyển Luân.

Ðức Phật tổng kết lại, một khoa ‘kết hướng thành Phật’.  Ðức Phật lại nói với Ðịa Tạng Bồ Tát, hàng kinh văn này có hai đoạn, đoạn trước là tổng kết phước của sự bố thí, đoạn sau tổng kết phước của sự hồi hướng.  Tổng kết bố thí đặc biệt nhắc đến ‘trong đời vị lai’, câu này chỉ đời hiện tại của chúng ta, năm xưa lúc đức Phật giảng kinh thuyết pháp nói về đời vị lai, ‘vị lai’ bao gồm thời đại chúng ta.  ‘Có các quốc vương và Bà La Môn, v.v..’, đây là những người có thể bố thí, ‘v.v..’ bao gồm chúng ta, mọi người đều bao gồm trong đó.  Khi bạn hiểu được đạo lý này, hiểu rõ được chân tướng sự thật thì nên sốt sắng nỗ lực phục vụ cho xã hội, đại chúng, đây tức là tu bố thí ba la mật.  Phục vụ cho xã hội đại chúng quan trọng nhất là phải có tâm chân thành, tâm thanh tịnh, chúng ta làm tròn nghĩa vụ chẳng mong đền đáp, quần áo thức ăn trong đời sống mình đầy đủ là được rồi, tuyệt chẳng tham lam hưởng thọ xa xỉ, nếu tham các thứ này thì những gì bạn tu được đều báo trọn hết, đều hết sạch.  Nếu bạn không mong cầu phước báo, thì phước báo tích lũy ở đó càng ngày càng nhiều, sẽ biến thành đại phước báo chẳng thể nghĩ bàn!  Ðại phước báo chính mình cũng chẳng nhận lấy, đem đại phước báo này cúng dường hết thảy chúng sanh, thành tựu vô lượng vô biên phước báo cho mình.   Có vô lượng vô biên phước báo cũng không hưởng dùng, đem hết thảy phước báo ấy đều cúng dường tận hư không, trọn khắp pháp giới hết thảy chúng sanh, bạn nói như vậy viên mãn, vui vẻ biết bao!  Việc vui lớn nhất trong đời người chẳng vượt quá niềm vui này.

Chúng ta ở nhà nhỏ, sống một đời sống đơn giản có gì là không tốt?  Sống rất tự tại, cần gì phải ở trong nhà lộng lẫy, bước ra cửa có rất nhiều người tung hô, đưa đón, tôi cảm thấy đời sống như vậy rất bất tiện.  Bước ra khỏi cửa phải dẫn theo nhiều người hộ vệ, tới lui không tự do, giàu sang quá mức.  Ở nhà thì sợ người ta trộm cướp, phải mướn rất nhiều nhân viên bảo vệ, nói thật ra như vậy là vô hình trung giam lỏng chính mình trong nhà, chẳng được tự do, tự tại.  Làm chi phải như vậy!  Bạn có của cải tại sao không bố thí?  Bố thí mới thật sự được tự do tự tại, trong kinh Phật thường nói ‘đời sống giải thoát’, đó là đời sống tốt đẹp nhất, chẳng bị gò bó, được tự do tự tại, như vậy mới đúng.  Chúng ta học Phật phải hiểu lý, phải hiểu rõ chân tướng sự thật thì mới chịu tu bố thí, chịu phục vụ cho xã hội đại chúng, cống hiến thân tâm của chúng ta, cống hiến trí huệ, khả năng của chúng ta, tạo phước cho mọi người chứ đừng hưởng phước, vậy thì bạn sẽ có vô lượng phước.  Ðây là đoạn tổng kết phước của sự bố thí.

‘Còn có thể hồi hướng, chẳng hỏi là nhiều hay ít, rốt cuộc sẽ thành Phật’, sau đó là tổng kết phước báo của sự hồi hướng.  ‘Có thể hồi hướng, chẳng kể nhiều ít, rốt cuộc sẽ thành Phật’, vì nguyên nhân gì?  Vì phía trước nói bạn có đại từ tâm, đại từ tâm là tâm Phật, chẳng hỏi công đức bạn tu được nhiều ít, bạn đều sẽ thành Phật, vì bạn dùng tâm Phật để phục vụ xã hội đại chúng.  ‘Huống chi là quả báo Thích Phạm Chuyển Luân’, đây là thí dụ ngay cả việc thành Phật bạn còn có thể làm được, huống chi là những phước báo nhỏ của cõi trời, cõi người.  ‘Thích’ là thiên chủ cõi Dục Giới, ‘Phạm’ là thiên chủ cõi Sắc Giới, ‘Chuyển Luân’ thánh vương là người có phước báo lớn nhất trong cõi người, bốn chữ này nói về đại phước báo trong lục đạo.  Làm Phật là phước báo rốt ráo viên mãn trong cả thế gian và xuất thế gian, phước báo rốt ráo viên mãn bạn còn có thể được, huống chi là phước báo nhỏ trong lục đạo.  Trăm đời, ngàn đời là phước báo nhỏ trong lục đạo thì đương nhiên sẽ được.  Chúng ta hiểu rõ đạo lý này, hiểu rõ chân tướng sự thật xong, thì mới biết không thể không tu bố thí, đối với chính mình có lợi ích chân thật, hết thảy pháp thế gian, xuất thế gian, chỉ có pháp này là thật, những thứ khác đều là giả.  ‘Phàm những gì có tướng đều là hư vọng’, nhà Phật thường nói ‘Tất cả đều không mang theo được, chỉ có nghiệp đi theo thân’, trong thế gian này có cái gì bạn có thể đem theo được?  Lời Phật dạy chúng ta phải ghi nhớ ‘Cõi nước mong manh, mạng người vô thường’, được thân người là quý báu nhất, ngày nay chúng ta có được thân người, thì việc có ý nghĩa nhất, có giá trị nhất là tu phước, phục vụ cho hết thảy chúng sanh, được vậy thì đời này bạn mới có ý nghĩa, có giá trị.  Chúng tôi nói có ý nghĩa, có giá trị, nói thật ra là rất trống rỗng, rất trừu tượng, ý nghĩa của nó là ở chỗ nào?  Giá trị ở đâu?  Ðoạn kinh văn này giảng rất tường tận, sát thật, ý nghĩa và giá trị này là phước báo vĩnh hằng, phước báo đời đời kiếp kiếp bạn hưởng chẳng cùng tận, ý nghĩa và giá trị ở chỗ đó.  Nếu chúng ta còn một tâm niệm tham, còn một tâm bỏn xẻn, còn không chịu phục vụ rốt ráo cho mọi người, chính mình còn lưu lại một chút thì phước báo bạn tu được sẽ nhỏ, quả báo của bạn sẽ chẳng thù thắng.

Cho nên một người có phước báo hay không đều ở tại một niệm.  Một niệm này của chúng ta có phải vì người khác hay không, vì cả xã hội, vì quốc gia, vì toàn nhân loại không, nếu vậy thì phước báo của bạn sẽ lớn.  So đo từng chút vì chính mình, vì gia đình mình thì phước báo của bạn sẽ nhỏ, rất nhỏ.  Bạn vì một người thì phước báo bạn tu được, đời sau bạn được phước báo của một người, vì một người hoặc vì gia đình mình, thì phước báo của bạn sẽ lớn bấy nhiêu.  Bạn vì một người, thì tương lai thân thể bạn khoẻ mạnh, cường tráng.  Nếu bạn vì một gia đình, bạn là gia trưởng trong gia đình, thì cả gia đình bạn được hạnh phúc, đâu có giống như đã nói trong kinh, mà làm Ðại Phạm thiên vương, làm Ðao Lợi thiên vương, bạn chẳng có phước phần này, tại sao vậy?  Vì tâm lượng quá nhỏ.

Cho nên cùng một sự việc tu bố thí, quả báo lớn hay nhỏ, tên của phẩm này là ‘So sánh phước báo’, đều ở tại tâm của bạn, đều ở tại [tâm bạn] lớn hay nhỏ, có một tâm niệm đại từ bi, tâm đó là ‘tâm bao trùm hư không, lượng trọn khắp pháp giới’, cho nên phước báo của một sự bố thí nhỏ được tâm lượng phóng lớn lên, rốt cuộc thành Phật, cho nên sự hồi hướng đó sẽ lớn, tâm lượng sẽ lớn.  Tại sao chúng ta không dùng tâm lượng lớn?  [Chúng ta] phải học dùng tâm lượng lớn thì tất cả đều sẽ lớn, một việc thiện nhỏ nhoi cũng biến thành quả báo trùm hư không pháp giới.  Trong kinh Hoa Nghiêm chúng ta đã học mở rộng tâm lượng, trong hội giảng kinh này đức Phật cũng dạy chúng ta mở rộng tâm lượng, cho nên kinh này cùng kinh Hoa Nghiêm chẳng có gì sai khác, đều có cùng cảnh giới.  Mở rộng tâm lượng phục vụ cho hết thảy chúng sanh, cho dù hy sinh tính mạng cũng chẳng tiếc nuối, cũng rất hoan hỷ, rất cao hứng, chúng ta hy sinh làm cho hết thảy chúng sanh được phước, lìa khổ được vui, thì chúng ta cũng cảm thấy rất vui sướng, rất đáng giá!  Nhất định không vì chính mình, không vì sự tham dục của mình thì mới thật sự là đệ tử của Phật, đó mới thật sự thực hiện lời giáo huấn của đức Phật.

Xin xem tiếp đoạn kinh sau đây, trang thứ mười tám vừa mở đầu phần chú giải có vài câu, chúng ta nên ghi nhớ, Thanh Liên pháp sư trích một đoạn trong kinh ‘Ngũ đạo tội báo’, chúng ta hãy đọc một lượt.  ‘Hiền giả hảo bố thí’ (Kẻ hiền thích bố thí’, chữ ‘Hiền giả’ ở đây chính là Bồ Tát, người thích bố thí chính là Bồ Tát, ‘thích bố thí’ nói theo hiện nay là thích phục vụ cho nhân dân, nhiệt tâm phục vụ cho nhân dân, dốc hết tâm lực phục vụ cho dân chúng, đó chính là ‘kẻ hiền thích bố thí’.  ‘Thiên thần tự phù tướng’ (thiên thần tự nhiên giúp đỡ), ‘phù tướng’ là giúp đỡ, bạn có thể cảm động đến thiên địa quỷ thần giúp đỡ.  ‘Thí nhất đắc vạn bội’ (bố thí một sẽ được gấp vạn lần), đây là nói về quả báo, quả báo của sự bố thí chẳng thể nghĩ bàn, vượt trội hơn sự bố thí của bạn không chỉ vạn lần thôi đâu.  ‘An lạc thọ mạng trường’ (Yên vui thọ mạng dài), đây là bài kệ thứ nhất, nói rõ về phước báo của sự bố thí.  Bài kệ thứ hai,

‘Kim nhật đại bố thí,

kỳ phước bất khả lượng,

giai đương đắc Phật đạo,

độ thoát ư thập phương’.

(Hôm nay đại bố thí,

phước ấy chẳng thể lường,

nhất định thành Phật đạo,

độ thoát khắp mười phương). 

Hai bài kệ này, ý nghĩa của bài thứ nhất là tổng kết phước của sự bố thí chúng ta vừa mới nói, bài thứ nhì là tổng kết phước của sự hồi hướng.

Chúng ta nhất định phải tỉnh ngộ, lúc trước mê hoặc điên đảo, tham lam bỏn xẻn, bây giờ tỉnh ngộ, giác ngộ trở lại, hoàn toàn vứt bỏ những quan niệm, cách suy nghĩ, cách làm sai lầm lúc trước, chúng ta phải học theo Phật, nghe theo lời dạy của đức Phật, sửa đổi tư tưởng của chúng ta, sửa đổi cách làm của chúng ta.  Từ đây trở về sau khi chúng ta khởi tâm động niệm, phải nghĩ đến sự khổ vui của xã hội đại chúng, phải nghĩ đến họa phước của xã hội đại chúng, tuyệt đối không thể làm những gì bất lợi đối với xã hội, ngay cả suy nghĩ cũng không được, những gì có lợi cho xã hội thì chúng ta phải tận tâm tận lực mà làm, phải hiểu rõ đạo lý này.  Nếu chúng ta tham tiền, chiếm tài sản của xã hội đại chúng làm của riêng mình, quả báo nhất định là đọa địa ngục, nhất là những của cải dành để cứu trợ kẻ hoạn nạn.

Trước kia lúc tôi mới học Phật, lão cư sĩ Châu Kính Trụ kể một câu chuyện cho tôi nghe, sau này ông có chép chuyện này trong sách, ông để lại mấy cuốn sách cho đời sau, hình như trong ‘Giảng ký kinh Bát Ðại Nhân Giác’ có kể câu chuyện này.  Hình như trong cuốn ‘Ảnh Trần Hồi Ức Lục’ cũng có kể chuyện này.  ‘Ảnh Trần Hồi Ức Lục’ là tự truyện của Ðàm Hư pháp sư, đây là chuyện đời trước, [lão cư sĩ Châu Kính Trụ và pháp sư Ðàm Hư] cả hai đều cùng một thời đại, tuổi cũng xấp xỉ, họ đều đích thân nhìn thấy.  Năm đầu thời Dân Quốc ở Thượng Hải có một người giàu có, sống ở vùng Tô Giới.  Người này vô cùng giàu có, làm quan đời nhà Thanh, chức quan rất lớn, sau khi chế độ Dân Quốc thành lập, triều đình nhà Thanh bị lật đổ, ông lánh nạn sang Tô Giới, lúc đó vùng này được sự bảo hộ của người ngoại quốc.  Lúc về già ông học Phật, thường làm việc sửa sang đường xá, trong nhà Phật cũng tu bố thí cúng dường, ông thường tu phước không kém ai cả, trong nhà Phật phần đông người ta gọi ông là một đại thiện nhân, kính trọng ông như Phật, Bồ Tát.

Mấy năm sau ông mất, ông có mấy bà vợ nhỏ, hình như bà vợ thứ tư, tôi nhớ không rõ.  Sau khi ông mất bà vợ này rất tưởng nhớ ông.  Ðúng lúc đó có một người Pháp biết thuật ‘thông linh’, có thể nói chuyện với người mất.  Bà vợ thứ tư nghe nói  nên đi tìm ông người Pháp này.  Bà nhờ ổng tìm người chồng vừa mất về cho bả gặp mặt.  Ông người Pháp này chịu giúp bà nhưng với giá rất mắc, hình như lúc đó ông ra giá một ngàn đồng, nếu không phải là nhà giàu có sẽ không trả nổi, bà ta quá giàu nên bà ta mướn ông [chẳng do dự].  Bà đưa tên họ cho ông ta, giờ sanh, giờ chết lúc nào, chết rồi chôn ở nơi đâu, [dùng những dữ kiện này] ông ta có thể đi tìm; nhưng kết cuộc là ông tìm không ra.  Ðương nhiên bà vợ nhỏ này rất tức giận và nói ‘ông có gạt tôi không?’.  Ông nói ‘Tôi tuyệt đối không gạt bà’.  Và nói tiếp ‘nếu bà có bạn bè thân thích vừa mới qua đời, tôi sẽ tìm cho bà coi, tôi chẳng gạt bà đâu, tôi sẽ nhận một nửa giá thôi’.  Bà [không còn cách nào khác] nên phải chịu cho ổng tìm thử.  Ðúng lúc đó con trai lớn của chồng bà cũng vừa mất chẳng lâu nên bà kêu đứa con dâu tới, nhờ ông người Pháp [tìm người con trai của chồng bà] với giá phân nửa.   Quả nhiên chẳng lâu sau đó, ông ta tìm được hồn của người con trai trưởng này về và nhập vào một người, người này [sau khi bị nhập vào] có hành động, thái độ y hệt như người con trai vừa chết của chồng bà, ngay cả tiếng nói cũng giống hệt.  Bà hỏi người con trai: ‘Cha con vừa mất tại sao lại tìm không ra?’  Người con nói ‘Cha con mất đi liền đọa địa ngục rồi’, do đó người Pháp này không tìm ra, hồn ở cõi quỷ thì ông còn tìm được chứ cõi địa ngục thì ông không tìm nổi, người mất đó đích thật đã đọa địa ngục rồi.

Ông ấy là một người tốt, thường sửa sang đường xá, mỗi ngày đều lạy Phật, niệm kinh, đã làm rất nhiều chuyện tốt trong nhà Phật, tại sao ổng vẫn đọa địa ngục, lẽ nào như vậy?  Người con trai đó nói “Lúc cha làm quan trong triều đình nhà Thanh, có một lần nhà vua phái ông đi cứu trợ dân chúng đang bị thiên tai, chắc ổng nuốt hết số tiền cứu trợ cho dân bị nạn, cho nên rất nhiều người chẳng được cứu trợ và chết mất, tội nghiệp đó quá nặng, sau này bất kể ông tu hành tới đâu đều không có cách nào bù đắp nổi nên vẫn phải đọa địa ngục.  Chuyện này chẳng ai biết, ông có một người bạn còn sống, có thể người bạn này biết đôi chút, quý vị có thể đi hỏi người bạn này coi”.  Sau đó bà vợ thứ tư của ông quan kể trên tìm được người bạn này, hỏi coi có chuyện như vậy xảy ra hay không?  Người bạn đó suy nghĩ một hồi và đáp đúng là có chuyện như vậy, ông ta đã làm quan khâm sai đại thần, đi phát tiền cứu trợ cho dân chúng.  Ông quan đó đã cướp đoạt số tiền, bao nhiêu tiền thì không ai biết, người bạn này cũng chẳng biết, chỉ nói đích thật là có sự việc như vậy.  Ðây là một việc sai lầm to tát mà ổng đã phạm, bạn nghĩ coi chỉ tham một số tiền như vậy, đủ sống giàu sang được bao lâu?  Ðến lúc già làm bao nhiêu chuyện tốt cũng chẳng bù đắp nổi, vẫn phải đọa địa ngục.  Việc đọa địa ngục, như trong kinh này nói chúng ta thấy [đọa địa ngục] sẽ chịu khổ vô số kiếp.

Cho nên tiền cứu trợ tuyệt đối không thể cướp đoạt được, tội lỗi này sẽ không thể tính nổi!  Số tiền đó là để cứu mạng người ta.  Khi thấy tiền này mà muốn cướp đoạt, quả báo sẽ đọa địa ngục.  Khi gặp tai nạn xảy ra, dốc hết sức lực, tâm lực giúp đỡ còn không kịp, khi thấy người ta ra sức, ra của để cứu trợ thì phải sanh tâm hoan hỷ, phải tu tùy hỷ công đức, làm sao có thể khởi tâm tham được!  Ðó là tạo tội cực nặng.  Phàm là việc cứu trợ, cứu tế thì công đức đều rất lớn, trong kinh chúng ta thấy được, nếu khởi tâm niệm ác, gây trở ngại, phá hoại, cướp đoạt số tiền cứu trợ đó thì tội này sẽ đọa địa ngục.  Tài thí đã như vậy thì pháp thí cũng như vậy, đặc biệt là bố thí Phật pháp, Phật pháp là sự giáo dục nhằm cứu độ hết thảy chúng sanh đang chịu khổ nạn, gây trở ngại cho sự lưu thông Phật pháp là cắt đứt pháp thân huệ mạng của hết thảy chúng sanh, quả báo sẽ ở A Tỳ địa ngục, năm địa ngục Vô Gián.

Nếu chư vị đọc kinh Phát Khởi Bồ Tát Thù Thắng Chí Nhạo thì sẽ hiểu, kinh này là kinh Ðại Thừa, là một phần trong kinh Bảo Tích, là một đoạn lớn trong Kinh Bảo Tích, kinh Vô Lượng Thọ cũng trong kinh Bảo Tích.  Trong kinh này, đức Phật đã nói toạc ra các tội nghiệp của người xuất gia thời Mạt Pháp, nói một cách tường tận, chúng ta đọc kinh này đều lông tóc dựng đứng.  [Tự hỏi] chính mình có phạm tội không, có làm gì sai trái không?  Nếu đã làm sai, còn không sám hối, còn không sửa đổi, thì niệm Phật cũng chẳng thể vãng sanh!  Nhất định phải hiểu việc này.  Ðã tạo tội này cũng không sao, chỉ cần [người đó thật tâm] sám hối thì sẽ tiêu trừ nghiệp chướng, sự sám hối này hoàn toàn chuyển đổi trở lại, tuyệt đối không thể tái phạm lỗi lầm, phải sốt sắng dứt ác tu thiện, tích lũy công đức, thay đổi những quan niệm, hành vi sai lầm trước kia, chuyển đổi một trăm tám mươi độ trở lại, như vậy mới có thể cứu chính mình.  Do đó [chúng ta] phải lưu thông kinh này rộng rãi, phải giảng nhiều lần, phải sốt sắng học tập.  Tôi nhớ tôi đã giảng kinh này ba lần, ở Mỹ giảng một lần, ở Ðài Loan một lần, ở đây cũng giảng một lần, có băng thâu âm, băng thâu hình, hình như cũng có đồng tu chép lại thành sách.  Bài viết thành sách này tôi chưa coi lại, khi tôi coi xong và biết trong đó đích thật không có sai lầm thì có thể đem lên mạng lưới điện toán, lưu truyền trên mạng lưới, chắc hiện nay đã có băng thu âm và thu hình trên mạng.

Cho nên phước báo của sự lưu thông Phật pháp, sự phục vụ hết thảy chúng sanh của Phật pháp, phước báo này lớn nhất.  Chúng ta phải noi theo đức Phật Thích Ca Mâu Ni, bố thí trí huệ cả đời, đây là pháp thí, bố thí trí huệ bao gồm tài thí, tại sao vậy?  Hoàn toàn là sự dạy học thiện nguyện, dùng thân thể, sức mạnh của chúng ta để khuyên xã hội đại chúng khuyến thiện sửa lỗi, dùng thể lực của chúng ta [để làm việc này] thì đó thuộc về tài thí.  Chúng ta quan tâm xã hội đại chúng, yêu mến xã hội đại chúng, dốc hết tâm sức để giúp đỡ xã hội đại chúng, giúp họ giác ngộ, sửa sai cải tiến, giúp họ phát tâm phục vụ xã hội, phục vụ nhân dân, phục vụ chúng sanh, đó chính là pháp thí, pháp cúng dường, phước báo đó lớn nhất.  Tuy có phước báo lớn, chúng ta cũng không hưởng thọ, hồi hướng phước báo đó cho hết thảy chúng sanh hưởng dùng.  Cả đời đức Phật Thích Ca Mâu Ni sống rất đơn giản, trong các đệ tử có một số đại quốc vương, vua của mười sáu nước lớn ở Ấn Ðộ thời bấy giờ đều quy y đức Phật Thích Ca Mâu Ni, đều làm học trò của đức Phật.  Ðức Phật cũng vẫn ba chiếc y, một bình bát, chẳng thay đổi cách sinh hoạt của ngài, đây là sự răn dạy của đức Thế Tôn cho chúng ta, làm gương cho chúng ta, [làm vậy] mới có thể làm cho xã hội đại chúng tôn trọng, kính ngưỡng.

Phàm phu thế gian có ai không tham tiền tài, có ai không tham hưởng thọ?  Khi đọa lạc vào sự tham dục thì sẽ tạo tội nghiệp, gây phiền phức cho chính mình, đức Phật hiện thân thuyết pháp, làm gương cho chúng ta.  Ðời người ở thế gian có ba bữa cơm no là được rồi, chẳng cần theo đuổi khẩu vị, ăn no là được rồi.  Quần áo vải thô có thể che thân là được rồi.  Ban đêm có một giường ngủ thoải mái, ngủ rất tự tại là đủ rồi, còn mong cầu gì nữa?  Nếu còn dư thì chia xẻ cho hết thảy đại chúng hưởng dùng, như vậy gọi là Phật, Bồ Tát, đó gọi là hành Bồ Tát đạo, đó gọi là học Phật.  Trong thế gian bất luận chúng ta là thân phận gì, địa vị gì, bất luận làm ngành nghề nào, sống cách nào, chỉ cần mỗi niệm đều vì chúng sanh, vì xã hội, vì nhân dân thì người đó chính là Bồ Tát, người đó thật sự hành Bồ Tát đạo.  Tâm họ chính là tâm Bồ Tát, phước báo cũng giống như đã nói trong kinh, đều chẳng cùng tận.

Hôm nay đã hết giờ, chúng tôi giảng đến đây thôi.

 

Tập 38 (Số 14-32-38)

          Xin mở cuốn Khoa Chú quyển hạ, trang 17, lần trước đã nói qua đoạn kinh này, chúng ta đọc lại một lần:

Phục thứ Ðịa Tạng, nhược vị lai thế trung hữu chư quốc vương, cập Bà La Môn đẳng, năng tác như thị bố thí, hoạch phước vô lượng, cánh năng hồi hướng, bất vấn đa thiểu tất cánh thành Phật.  Hà huống Thích Phạm Chuyển Luân chi báo

Lại nữa, này Ðịa Tạng! Trong đời vị lai, như có các vị Quốc Vương cùng hàng Bà La Môn v.v…, có thể làm những việc bố thí như thế, sẽ được vô lượng phước lành. Nếu có thể đem hồi hướng, thì không kể là nhiều hay ít, rốt ráo đều sẽ thành Phật; huống gì là những quả báo Thích, Phạm, Chuyển Luân.

          Phía trước đã báo cáo tường tận rồi, trong đoạn này quan trọng nhất là tâm lượng, ngạn ngữ Trung Quốc có nói ‘[tâm] lượng lớn thì phước lớn’.  Tại sao lại trồng phước nhỏ, bố thí ít có thể được phước báo lớn như vậy?  Ðây là điều người mới học Phật như chúng ta nghe lời dạy trong kinh sẽ không khỏi hoài nghi.  Sự hoài nghi này đều [là vì chúng ta] dùng nhân tình thế gian để đo lường, chứ không biết việc này nhân tình chẳng thể tưởng tượng nổi.  Lý luận trong đó là vì ‘xứng tánh’, chỉ cần xứng tánh thì dù bố thí rất ít, thật sự như một sợi lông, một hạt bụi nhỏ xíu, công đức đó cũng bằng tận hư không, trọn khắp pháp giới.  Phật pháp thù thắng ở chỗ này, chỗ khó [hiểu trong] Phật pháp cũng ở tại chỗ này, khó ở chỗ phàm phu vĩnh viễn không thể mở rộng tâm lượng, tâm lượng vẫn còn nhỏ, tâm lượng nhỏ thì dù có bố thí cho nhiều đi nữa, phước báo cũng có hạn; nếu có tâm lượng lớn, bố thí nhỏ nhoi thì phước báo cũng không thể nghĩ bàn, [chúng ta] phải lắng lòng thể hội đạo lý này.  Trong Chú Giải có vài câu, trang 17, hàng thứ ba đếm ngược lại, coi từ chính giữa, tôi đọc cho mọi người nghe ‘Nhược bất vị tự cầu nhân thiên phước báo’ (Nếu không tự cầu phước báo nhân thiên), ‘Nhược’ là giả thiết, giả sử chúng ta nhất định chẳng vì cầu phước báo nhân thiên cho mình, mục đích của sự bố thí là gì?  ‘Ðều hồi hướng cho pháp giới chúng sanh’, chỉ hy vọng hết thảy chúng sanh được phước, được lợi ích, tuyệt đối chẳng nghĩ đến mình, vậy thì phước báo của sự bố thí này sẽ rất lớn.  Do đó ‘Tắc bất vấn thí chi đa thiểu, tất cánh thành Phật (nên không hỏi bố thí bao nhiêu, rốt cuộc sẽ thành Phật).  Dùng bốn chữ ‘tất cánh thành Phật’ để hình dung phước báo đó bao lớn, vì phước báo thế gian và xuất thế gian chẳng có gì lớn hơn việc thành Phật, nói đến thành Phật thì phước báo đó đạt tới mức rốt ráo viên mãn.  Chúng ta phải hiểu đạo lý này thì chúng ta sẽ không hoài nghi nữa.  Sau cùng đức Phật tóm tắt lại:

          Thị cố Ðịa Tạng phổ khuyến chúng sanh, đương tri thị học.

          Vì thế, này Ðịa Tạng, ông nên khuyến hóa chúng sanh đều phải học theo như thế.

          Câu này tổng kết đoạn trước, vì đoạn trên nói về duyên cố, trồng thiện nhân được thiện quả, quả báo thù thắng như vậy thì ai mà không mong cầu?  Tại sao chúng sanh cầu không được?  Phương pháp tu học của chúng sanh không đúng như lý, không đúng như pháp, cho nên được phước có hạn; nếu tu học đúng như lý, như pháp thì sẽ được phước vô lượng vô biên.  Nhưng [muốn biết] lý luận và phương pháp thì nhất định phải đi sâu vào Kinh Tạng, nếu không đọc kinh, không nghiên cứu giáo lý thì làm sao bạn hiểu được lý luận này?  Làm sao biết được phương pháp này?  Cho nên chư Phật, Bồ Tát, chư tổ sư đại đức xưa nay thường khuyến khích chúng ta ‘không thể không đọc kinh điển’, đạo lý là ở chỗ này.  Xem tiếp đoạn sau, thứ hai là ‘Nam nữ thí phước’, xin xem kinh văn:

          Phục thứ Ðịa Tạng

          Lại nữa, này Ðịa Tạng

          Lại gọi Ðịa Tạng Bồ Tát thêm một lần nữa.

          Vị lai thế trung nhược thiện nam tử, thiện nữ nhân ư Phật pháp trung, chủng thiểu thiện căn, mao phát sa trần đẳng hứa, sở thọ phước lợi bất khả vi dụ.

          Trong đời vị lai, nếu có kẻ thiện nam người thiện nữ nào ở trong Phật Pháp mà gieo trồng chút ít thiện căn chừng bằng mảy lông, sợi tóc, hạt cát, hạt bụi, thì phước lợi được thọ hưởng sẽ không thể ví dụ thế nào cho được.

          Ðoạn kinh này cũng thường làm cho đại chúng khởi nghi hoặc, có nhiều người tự cho rằng mình ở trong nhà Phật trồng phước tu thiện rất nhiều rồi, nhưng tại sao không được phước?  Trong lịch sử Trung Quốc nổi tiếng nhất là Lương Võ Ðế, Lương Võ Ðế cả đời tu bố thí có ai sánh bằng?  Lúc đó ông dùng quyền lực, oai thế của một ông vua để hộ trì Phật pháp, xây dựng chùa chiền, trong lịch sử ghi đến bốn trăm tám chục ngôi chùa.  Nhà Phật chúng ta thường nói xây một ngôi tháp, đúc một tượng Phật thì được phước báo chẳng thể nghĩ bàn rồi, huống chi ông vua đã xây bốn trăm tám mươi ngôi chùa!  Bạn có thể tính số tượng Phật ông đã đúc là bao nhiêu chăng?  Không thể nói mỗi chùa chỉ có một tượng Phật thôi đâu, vậy thì ông tạo bao nhiêu tượng Phật, tượng Bồ Tát.  Bố thí cúng dường người xuất gia, ông rất thích [giúp cho] người ta xuất gia, khi có người xuất gia thì ông nhất định sẽ bố thí cúng dường, trong sách ghi [ông cúng dường] mấy trăm ngàn người, phước báo đó bao lớn!   Phước báo thì nhất định là có, nghiệp lực của ông chẳng thể chuyển đổi trở lại, vì lý do gì?  Tâm lượng không lớn, chẳng có trí huệ, đây là việc mà nhà Phật thường nói ‘chỉ tu phước, chứ không tu huệ’, ông chỉ tu tài thí, hình như cũng có pháp thí, nhưng vẫn thiếu trí huệ, [vì] tâm lượng chẳng lớn.

          Do đó lúc Ðạt Ma tổ sư gặp vua, dùng cách nói hiện nay gọi thái độ của vua là ‘đáng được kiêu ngạo’.  Vua làm nhiều chuyện tốt trong nhà Phật như vậy rất đáng kiêu ngạo, hãnh diện về những việc mình đã làm nên hỏi Ðạt Ma tổ sư: ‘Công đức của tôi như vậy lớn không?’, Ðạt Ma tổ sư đáp: ‘Chẳng có công đức’.  Lời Ðạt Ma tổ sư nói là lời chân thật, tại sao chẳng có công đức?  Khi bạn có thái độ kiêu mạn thì công đức liền mất, chúng ta phải hiểu đạo lý này.  Bố thí thật sự là có công đức, nhưng khi kiêu mạn khởi lên thì mất hết, chẳng còn công đức nữa, kiêu mạn là lửa thiêu rừng công đức.  Ðạt Ma tổ sư là một người bất phàm, nói chuyện với Lương Võ Ðế không hợp lắm nên Lương Võ Ðế không hộ trì ngài, do đó sau khi rời khỏi, ngài phải đến chùa Thiếu Lâm ngồi nhìn vách, chẳng có ai biết, một vị tổ sư đại đức như vậy đến Trung Quốc, chẳng có ai nhận biết, chẳng ai hộ trì.  Ngồi nhìn vách hết chín năm, kể ra cũng khá, cũng đợi được tới lúc truyền pháp cho ngài Huệ Khả.  Nếu năm xưa Lương Võ Ðế chịu hộ trì ngài thì Thiền Tông sẽ phát triển sớm hơn, chẳng cần phải đợi đến đời thứ sáu là đời ngài Huệ Năng, đã phát triển sớm hơn rồi.  Chẳng có ai nhận biết, đây là vì không có huệ nhãn, Lương Võ Ðế không nhận ra, cơ hội thật sự trồng phước báo to lớn bị luống qua, chẳng thể hộ trì Ðạt Ma tổ sư, đã bỏ lỡ cơ duyên.  Quan trọng ở chỗ khiêm tốn, cung kính, tâm lượng rộng lớn, đây đều là biểu hiện của trí huệ.  Cho nên từ thái độ của Lương Võ Ðế mà nhìn, ông ta chẳng có trí huệ, tâm lượng quá nhỏ, tuy làm rất nhiều việc bố thí, nhưng được phước không lớn, nguyên nhân là ở chỗ này.

          Trong câu kinh này có chữ quan trọng, mọi người phải nhìn rõ ràng, chữ ‘Thiện’.  Chứ không nói ‘Nhược nam tử, nữ nhân, ư Phật pháp trung, chủng thiểu thiện căn’, [mà phải] là ‘thiện nam tử, thiện nữ nhân’, ‘thiện’ là chữ quan trọng.  Tiêu chuẩn của thiện là gì?  Tịnh Nghiệp Tam Phước trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ dạy rất rõ ràng, tiêu chuẩn của thiện trong thế gian nhất định phải làm được bốn câu ‘Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng, từ tâm không sát hại, tu mười thiện nghiệp’, người như vậy mới gọi là thiện nam tử, thiện nữ nhân, cho nên Phật pháp nói đến ‘thiện’ là có tiêu chuẩn hẳn hòi.  Nếu chỉ nói nam tử, nữ nhân mà không có chữ ‘thiện’, thì người thông thường chúng ta cũng có phần, nếu thêm chữ thiện thì chúng ta phải nghĩ coi mình có đủ tiêu chuẩn này không.  Nhưng kinh này là kinh Ðại Thừa, không những là kinh Ðại Thừa, chúng ta quan sát kỹ từ đầu tới cuối, có thể nói kinh này là đại kinh liễu nghĩa Nhất Thừa; nói một cách khác, tiêu chuẩn của ‘thiện’ phải nâng cao, nâng cao thêm một tầng là ‘thiện’ Nhị Thừa, tức là Thanh Văn, Duyên Giác, người Trung Quốc gọi là La Hán, Bích Chi Phật.  ‘Thọ trì tam quy, đầy đủ các giới, chẳng phạm oai nghi’, đây là thiện Nhị Thừa, chúng ta làm được ba câu này chưa?  Còn phải nâng cao hơn, kinh này là kinh Ðại Thừa, tiêu chuẩn thiện Ðại Thừa còn phải thêm bốn câu ‘Phát Bồ Ðề Tâm, tin sâu nhân quả, đọc tụng Ðại Thừa’, đây là tự lợi.  Tự lợi xong rồi lợi người, đây là Bồ Tát Ðại Thừa, lợi người là ‘khuyến tấn hành giả’, đây mới là khuyến hóa hết thảy chúng sanh, thiện nam tử, thiện nữ nhân là tiêu chuẩn này.  Nói cách khác mười một câu trong Tịnh Nghiệp Tam Phước đều làm được hết, vậy thì còn vấn đề gì nữa?  Chúng ta vừa nói [tâm] lượng lớn thì phước lớn, người phát Bồ Ðề tâm, phát Bồ Ðề tâm thì lượng sẽ lớn, Bồ Ðề tâm tuyệt chẳng có tâm vì mình, chẳng có tự tư tự lợi; tâm tự tư tự lợi là mê hoặc, là tâm luân hồi, tâm phàm phu.  Niệm niệm vì hết thảy chúng sanh trong hư không pháp giới, đó là Bồ Ðề tâm.

Do đó người như vậy trong Phật pháp ‘trồng thiện căn ít ỏi’, ít tới mức độ nào?  ‘Mao phát sa trần’, mao là lông trên thân chúng ta, ví dụ ít; ‘phát’ là tóc trên đầu, một cọng tóc.  Một hạt cát, một hạt bụi, đây là hình dung bạn trồng thiện căn ít, ít đến cùng cực.  Tuy ít như vậy, phước bạn có, lợi ích đạt được chẳng thể so sánh được, chẳng có cách gì nói ra được, Phật cũng nói không hết.  Cho nên mọi người phải biết Tam Bảo là phước điền hạng nhất trong thập pháp giới.  Nhưng Phật pháp truyền đến nay đã trải qua ba ngàn năm nên chẳng tránh khỏi bị biến chất.  Chúng ta coi thế giới hiện nay, bất luận hàng hóa gì, lúc vừa mới ra thị trường thì tốt nhất, chiêu bài được làm cho sáng rỡ, hai ba năm sau liền bị biến chất, đồ giả mạo cũng nhiều, tuyệt đối chẳng bằng lúc đầu; Phật pháp đã truyền hết ba ngàn năm làm sao không biến chất được!  Rất khó tránh được.  Ðặc biệt là nhằm thời Mạt pháp, như kinh Lăng Nghiêm đã nói thời đại chúng ta hiện nay ‘tà sư thuyết pháp như cát sông Hằng’;[nhiều chỗ] trên hình thức là một đạo tràng nhà Phật, nhưng trên thực chất thì chưa chắc.  Do đó bạn muốn trồng phước trong nhà Phật thì phải nhìn rõ cái ‘tràng’ này có ‘đạo’ không?  Có người thật sự tu hành trong đó hay không?  Nếu không thì bạn trồng phước sai chỗ, bạn nhận lầm phước điền.  Bạn trồng phước nhưng tương lai chẳng được phước, bạn không thể trách Phật nói sai, Phật chẳng nói sai, mà vì bạn thô tâm sơ ý, tưởng lầm hàng giả là hàng thiệt, phải trách chính bạn, chính bạn sơ ý thô tâm chẳng biết hàng thiệt, bạn mắc lừa, bị thiệt thòi rồi.

Nhưng muốn thật sự có thể nhận biết sự việc cũng chẳng phải là chuyện đơn giản, bạn phải có trí huệ, phải có kiến thức, trí huệ và kiến thức từ đâu mà có?  Từ ‘Ðọc tụng Ðại Thừa, khuyến tấn hành giả’, đó là ‘vì người diễn nói’, vì người diễn nói có lợi ích rất lớn, đúng như câu ‘nương theo giáo học mà trưởng thành’, nếu chẳng thông qua giáo học, khai trí huệ là chuyện vô cùng khó khăn.  Nếu bạn thật sự phát tâm dạy học, nhiệt tâm dạy học, cơ hội khai trí huệ sẽ rất nhiều, nếu bạn không theo đuổi việc giáo học thì cơ hội này sẽ ít.  Trong quá trình giáo học, lúc bạn chuẩn bị, sưu tập tài liệu tham khảo, sẽ thường giúp bạn giác ngộ, nếu bạn không làm việc giáo học thì sẽ không tìm những tài liệu này.  Trong quá trình giáo học bạn có dịp tiếp xúc với người làm giáo học, khi trả lời câu hỏi giải quyết vấn đề cho họ thường giúp mình giác ngộ, do đó trong sư đạo có câu ‘sư tư đạo hiệp’, thầy giáo dạy học trò, học trò trợ giúp thầy giáo khai trí huệ, giúp trí huệ thầy, giúp đức hạnh của thầy, tạo cơ hội cho thầy, đó mới gọi là giáo học giúp nhau phát triển, cả hai đều có tiến triển, tăng trưởng lẫn nhau, [chúng ta] phải hiểu đạo lý này.  Trong Chú Giải đoạn này có trích dẫn kinh luận, nêu ra rất nhiều thí dụ, trong những thí dụ này quan trọng nhất là phải có tâm chân thành, tâm cung kính, tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng, tâm từ bi, chư vị hãy ghi nhớ mười chữ này, dùng tâm này để bố thí cúng dường tu phước thì quả báo sẽ giống như đã nói trong kinh.  Tâm thanh tịnh chẳng ô nhiễm, tâm bình đẳng chẳng phân biệt, tâm chẳng ô nhiễm, chẳng phân biệt thì sẽ bao trùm hư không, lượng gồm thâu thế giới nhiều như cát, do đó họ sẽ được phước lớn.  Xem tiếp đoạn kinh sau đây:

Phục thứ Ðịa Tạng, vị lai thế trung, nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, ngộ Phật hình tượng, Bồ Tát hình tượng, Bích Chi Phật hình tượng, Chuyển Luân Vương hình tượng, bố thí cúng dường, đắc vô lượng phước, thường tại nhân thiên, thọ thắng diệu lạc.

Lại nữa, này Ðịa Tạng! Trong đời vị lai, nếu có kẻ thiện nam người thiện nữ nào gặp hình tượng Phật, hình tượng Bồ Tát, hình tượng Bích Chi Phật, hình tượng vua Chuyển Luân mà bố thí cúng dường, thì sẽ được vô lượng phước báo, thường ở cõi người, cõi trời, hưởng sự vui thù thắng, vi diệu.

Kinh Ðịa Tạng được lưu thông rất rộng rãi, rất phổ biến, có lẽ mỗi đồng tu học Phật đều đã từng tụng qua bộ kinh này, thấy phước báo của sự bố thí cúng dường nói trong kinh cho nên rất thích tạo tượng Phật, Bồ Tát.  Phước báo của sự tạo tượng rất lớn, kinh nói [người ấy] thường ở cõi trời, cõi người, sẽ chẳng đọa tam ác đạo, có bao nhiêu người mỗi ngày niệm Phật nhưng vẫn đọa tam ác đạo.  Chư vị có thể coi đoạn tổng kết trong cuốn Ðại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông Chương Sớ Sao do Quán Ðảnh pháp sư soạn.  Lúc học bộ kinh này, tôi coi đoạn này vô cùng thắc mắc nên đi hỏi thầy Lý, tôi nói coi xong không hiểu.  [Trong Sớ Sao] ngài nói người niệm Phật có một trăm loại quả báo, thứ nhất là ‘niệm Phật đọa A Tỳ địa ngục’, tôi thật không hiểu.  Phước báo của sự niệm Phật rất lớn, tại sao lại đọa địa ngục A Tỳ được?  Ðây là chuyện không thể nào xảy ra.  Thầy Lý nghe tôi hỏi xong bèn nói: ‘Câu hỏi này rất hay, vấn đề này rất quan trọng, tôi không nói cho ông nghe [liền bây giờ], đợi đến lúc giảng kinh sẽ nói cho mọi người cùng nghe’.  Tại sao họ làm vậy còn đọa địa ngục?  Nguyên nhân là họ dùng tâm địa ngục để tu phước, nên vẫn phải đọa địa ngục.  Tâm địa ngục là tâm gì?  Tham, sân, si.  Họ bố thí cúng dường hình tượng Phật, Bồ Tát để làm gì?  Vì thấy lợi ích của việc này quá lớn, giống như làm ăn buôn bán vậy, đây là [đổi] vốn một, [để được] lời cả vạn, chuyện này không thể không làm; họ dùng tâm như vậy, họ chẳng có tâm thiện.  ‘Thiện nam tử, thiện nữ nhân’, họ quên mất chữ ‘thiện’ này.  Dùng tâm tham, sân, si, dùng tâm buôn bán tham lời, vậy thì làm sao được!

Ở Cư Sĩ Lâm chúng ta, cư sĩ Lý nói với tôi, lúc trước Cư Sĩ Lâm có một số Ðổng Sự quản lý đạo tràng chẳng hiểu Phật pháp, họ quản lý đạo tràng này giống như quản lý một công ty, cửa hàng, đạo tràng này mỗi năm phải thâu nhập bao nhiêu tiền, làm sao để số tiền này sanh lời, làm sao để cho nó làm ra nhiều tiền hơn, mục đích là ở chỗ này, họ chẳng nghĩ đến làm việc đạo, cho nên đạo tràng này tích lũy rất nhiều tiền.  Khi Lý cư sĩ nắm quyền, ông đem số tiền đó xài hết, có nhiều người biết được rất không hài lòng, trong ánh mắt của họ thì Lý cư sĩ là một người con phá hoại gia sản, nhưng khi nhìn thấy đạo tràng ngày nay hưng vượng như vậy, tôi tin tưởng họ cũng sẽ dần dần tỉnh ngộ.  Hết thảy [số tiền người ta] cúng dường là để cho bạn làm việc đạo, mỗi ngày Cư Sĩ Lâm cúng dường ba bữa ăn miễn phí cho đại chúng, có ai dám làm?  Chẳng ai dám làm việc này.  Cánh cửa này vừa mở ra, về sau làm thế nào thu xếp?  Làm sao có nhiều tiền để cúng dường như vậy?  Do đó nếu bạn không có trí huệ thì không được, nếu bạn không có lòng tin thì bạn sẽ không dám làm.

Lý cư sĩ có trí huệ, có lòng tin, lúc khai trương tới nay chưa hề phải mua gạo, mua cải, mua dầu, mọi người biết Cư Sĩ Lâm làm chuyện tốt này, hiện nay trên thế giới [Cư Sĩ Lâm] là chỗ đầu tiên làm việc này, chẳng có chỗ thứ hai [nào như vậy].  Ba bữa ăn mỗi ngày, suốt một năm chẳng thiếu ngày nào hết, bất luận bạn tin Phật hay không, khi bạn đến đây thì có thể dùng một bữa ăn tự dọn, tôi nghe nói còn có người dẫn cả nhà tới ăn, cho nên những người ở gần Cư Sĩ Lâm, trong nhà có thể khỏi cần bếp núc; tuy nhiên đến đó ăn thì phải ăn chay, bạn thích ăn chay thì bạn cứ tới, nếu bạn không thể ăn chay thì không có cách chi.  Rất nhiều bạn đồng tu tự động đem gạo, đem dầu, đem rau cải, đem đồ ăn đến [Cư Sĩ Lâm nhiều đến nổi] chất cao như núi, ăn chẳng hết.  Ăn không hết lại sợ hư nên phải đem cho viện dưỡng lão, cô nhi viện, phải lấy xe chở đi cho vì ăn chẳng hết.  Thức ăn ở đó rất ngon, tôi đã ăn qua vài lần, có lúc họ còn nấu cho tôi vài món đặc biệt, tôi nói khỏi cần, chỉ đem vài món ở dưới  [phòng ăn Cư Sĩ Lâm] cho tôi ăn thử, tôi ăn cảm thấy rất ngon.  Bố thí cúng dường thật thì phước báo ấy rất lớn.  Chẳng như nhiều người hằng ngày đều phải tính toán, so đo từng chút, làm vậy thì được bao nhiêu lợi ích?  Càng bố thí càng có nhiều, bạn thí tài, thì sẽ giàu sang, thí pháp thì có nhiều pháp.  Cho nên đạo tràng Cư Sĩ Lâm, ngày nay mọi người tới tham quan, bạn coi chỗ đó hưng vượng, người hưng vượng, tài sản cũng hưng vượng, tại sao có thể hưng vượng như vậy?  Là do bố thí, trồng phước mà ra.

Lý cư sĩ có tâm lượng to lớn, muốn xây làng Di Ðà, người cư trú ở trong làng Di Ðà chỉ cần có một điều kiện, đó là ‘chịu niệm Phật’.  Chỉ cần kẻ ấy chịu niệm Phật, thì chẳng cần bất kỳ một điều kiện nào khác, chẳng nhận một xu nào cả, [làng Di Ðà] sẽ nuôi bạn tới già, cúng dường bốn món cần thiết, tốt hơn chánh sách phước lợi của bất cứ chính phủ, quốc gia nào trên thế giới hiện nay.  Bất cứ quốc gia nào chăm sóc người già đều chẳng bằng Cư Sĩ Lâm.  Ðối với người già dưỡng lão, phước lợi của người già là hạng nhất trên thế giới.  Người ngoại quốc chỉ cần lấy được quyền cư trú hợp pháp ở Tân Gia Ba [thì sẽ được cư trú ở làng Di Ðà]; đệ tử Phật tuyệt đối phải tuân giữ pháp luật, tuyệt đối không thể phạm pháp, ai có thể cư trú hợp pháp thì làng Di Ðà sẽ nuôi người đó tới già.  Bạn cư trú ở đó thân tâm yên ổn, có thể bảo đảm bạn vãng sanh, một khi ở đó thì tương lai nhất định sẽ thành Phật, đó là đạo tràng hạng nhất trên thế giới.  Tối hôm qua ông Lý bàn với tôi phải lập Phật Học Viện, đã làm đơn xin chính phủ, hoạch định của ông ta là lớp dự bị một năm, lớp chánh thức ba năm, lớp nghiên cứu ba năm, thời gian theo học là bảy năm, học sinh tới đó học hoàn toàn miễn phí, thức ăn quần áo, nơi ăn chốn ở đều do Phật Học Viện cúng dường, chẳng thâu một xu [của học sinh]; trên thế giới ai dám lập ra Phật Học Viện như vậy?  Trường nào cũng phải thâu học phí, phải trả tiền ăn uống, còn Phật Học Viện này chẳng thâu tiền gì hết, trên thế gian này hiếm hoi nhất!  Ở nơi đạo tràng như vậy, bạn tu một chút phước thì đó là thật sự trồng ruộng phước.

Do đó khi chúng ta quan sát một đạo tràng, thứ nhất là phải coi đạo tràng đó có đạo phong, có học phong, [những người ở] đạo tràng đó học những gì, tu những gì, có sốt sắng học tập, sốt sắng tu trì hay không.  Nếu mọi người trong đạo tràng này đều sốt sắng học tập, nỗ lực tu trì thì đó là đạo tràng đúng như pháp; tu phước ở đạo tràng này mới có được quả báo tương ứng với lời nói trong kinh.  Có hoàn toàn tương ứng hay không, tương ứng một cách viên mãn không?  Không hẳn.  Tại vì sao?  Phải xét coi bạn là ‘thiện nam tử, thiện nữ nhân’ hay không?  Phước điền thật sự không sai, nếu bạn dùng tâm ‘một vốn vạn lời’ đến đó trồng phước, phước bạn được sẽ nhỏ, chẳng tương ứng với lời đức Phật dạy trong kinh, bạn chắc chắn sẽ được phước, nhưng phước không lớn.  Nếu bạn thật sự phát tâm Bồ Ðề, chẳng vì chính mình mà vì chúng sanh, vì Phật pháp thường trụ thế gian, quyết chẳng vì lợi ích của mình, vậy thì được phước sẽ giống như lời nói trong kinh.  Thế nên việc trồng phước, thứ nhất phải là phước điền chân thật.  Thứ hai là bạn phải có thiện tâm chân chánh, thì phước báo đó mới viên mãn.  Cho nên phía sau, trong Chú Giải có ghi ‘Chư Phật, Bồ Tát, … dạy cho người thoát khổ, là Kính Ðiền của chúng sanh’, ở đây nói về ‘Kính Ðiền’ và ‘Ân Ðiền’, các bạn đồng tu hãy tự coi Chú Giải.

Trong Chú Giải có vài câu rất quan trọng, tôi đọc qua một lượt, trang 20 hàng thứ hai, bắt đầu từ câu thứ hai, ‘Ðại Luận nói’, Ðại Luận tức là Ðại Trí Ðộ Luận, trong Ðại Trí Ðộ Luận có một đoạn ‘tài là nhân duyên của ác tâm’, tại sao?  Tài vật luôn luôn làm cho người ta khởi tâm tham, tham là một trong tam độc, vô lượng vô biên phiền não đều sanh từ chỗ này, do đó ‘tham’ là đầu mối của tâm ác.  ‘Thường nên xả bỏ’, một người thông minh, có trí huệ, biết họa hại của ‘tham’ nên họ có thể buông xả, có thể buông xuống tâm tham.  ‘Huống chi bố thí được phước lớn, mà không bố thí’, có lẽ nào như vậy?  Tham là họa hại, Thí thì được phước lớn.  Bạn bố thí, xa lìa họa hại, còn được phước lợi, người có trí huệ sao không làm cho được?  ‘Xan tham là tướng hung, sanh ra lo sợ’ ‘xan tham (keo kiệt)’ là bạn có mà không chịu bố thí, không chịu làm việc tốt, đây là tướng hung, tướng suy thoái, đem đến cho người ta những sự âu sầu, lo lắng, sợ hãi.  Người có tiền lo sợ của cải của mình mất hết, mỗi ngày đều lo được lo mất, tâm lo lắng nặng trĩu.  Tôi thường nghe người ta nói các ông chủ lớn trong thương trường, nếu mỗi đêm không uống thuốc an thần thì không thể ngủ, nguyên nhân là gì?  Lo lắng quá sức, vậy không phải là ‘tiền tài’ đã hại họ rồi sao?  Uống thuốc an thần nhiều quá, lẽ nào không bị bịnh ung thư?  Nó khởi tác dụng phụ, thật là tướng hung, suy thoái, lời Phật nói chẳng sai.  ‘Tẩy chi dĩ thí thủy, tắc vi sanh phước lợi’ (dùng nước bố thí để tẩy thì sẽ sanh ra phước lợi), đây là một bài kệ, trong đó có hai bài kệ.  Dùng phương pháp gì để tẩy bỏ sự lo lắng, sợ sệt?  Dùng bố thí, bố thí có thể đem đại phước đại lợi cho bạn, ‘do đó được phước vô lượng’, tại sao không chịu bố thí?

Không chịu bố thí vì không biết lợi ích của sự bố thí, cho nên họ không chịu bố thí.  Khi biết lợi ích của sự bố thí thì bạn sẽ thích bố thí, thường bố thí, tận tâm tận lực bố thí, phước báo chẳng cùng tận.  Hiện tượng này, trong các đoàn thể chư vị hãy coi Cư Sĩ Lâm, coi Tịnh Tông Học Hội, sự thật bày trước mắt bạn; còn về cá nhân thì các bạn có thể coi cư sĩ Lý Mộc Nguyên, bạn cũng có thể coi tôi.  Khi tôi học Phật liền học bố thí, ngày đầu tiên Chương Gia đại sư gặp tôi liền dạy tôi tu bố thí; tôi cũng thật sự nghe theo lời ngài dạy, ngài có trí huệ, ngài thấy tôi không có phước báo vả lại đoản mạng, ngài thương xót tôi nên dạy tôi tu bố thí.  Ngày nay tôi có một chút phước báo, đó là nhờ tôi tu bố thí trong đời này mà được, chẳng liên quan gì đến đời trước.  Ngày nay chúng ta hiểu Phật pháp, hiểu được một chút về nhân quả.  Ðời quá khứ chắc tôi tu huệ chứ chẳng tu phước, [nên đời này tôi] có một chút trí huệ, khi thầy nói xong, tôi vừa nghe liền hiểu; [sự sinh sống trong] đời này vô cùng gian khổ, chúng tôi đã sống qua những ngày tháng rất khổ sở, quý vị có nằm mộng cũng không nghĩ tới.

Hôm qua ở Cư Sĩ Lâm, thầy Vĩnh nói với tôi, thầy đi Ðại Lục và có dịp đến viếng căn phòng của Ấn Quang pháp sư, ban đêm chẳng có đèn, khi coi sách, viết lách ở tại bàn đặt kế cửa sổ, dùng ánh sáng bên ngoài, thầy coi xong rất cảm động.  Ngày nay chúng ta có nhiều thiết bị để chiếu sáng mà còn chê lên chê xuống, ngày nay phước báo hưởng thọ vật chất của con người quá lớn.  Tôi nói với thầy, lúc nhỏ chúng tôi đi học, lúc học trung học ở tại Quý Châu, vào thời kỳ kháng chiến, học ban đêm phải thắp đèn dầu, ánh sáng của cây đèn dầu còn nhỏ hơn cây đèn cầy.  [Nếu muốn sáng như] một cây đèn cầy, phải thắp cây đèn dầu có năm tim đèn, thắp hết năm tim đèn mới sáng bằng ngọn đèn cầy; cây đèn dầu lúc đó chúng tôi dùng dầu đồng, độ sáng chỉ bằng một phần năm của đèn cầy, chúng tôi dùng đèn dầu để coi sách như vậy, quý vị không thể nào nghĩ tới.  Con người ngày nay có phước nhưng không chịu đọc sách, ngày xưa chúng tôi nghèo như vậy mà lại thích đọc sách.  Phía sau là một bài kệ trong Ðại Trí Ðộ Luận, chúng ta hãy đọc thử, hàng cuối trong Chú Giải, ‘Ðại Luận nói: ‘Người tu bố thí, danh vang khắp mười phương, người có trí đều kính mến, khi nhập chúng chẳng lo sợ, mạng chung sanh lên trời, lâu dần ắt được Niết Bàn’, lời Phật nói là lời chân thật.  Phật dạy Bồ Tát cách sinh hoạt, Sáu Ba La Mật chính là sinh hoạt của Bồ Tát, điều thứ nhất chính là Bố Thí, bố thí tức là buông xả, buông xuống, lúc đó bạn sẽ được thoải mái, được tự tại, sẽ mở mang trí huệ.  Người không chịu bố thí, tâm nhãn rất nhỏ, tâm niệm luôn vì mình, người như vậy làm sao mở mang trí huệ cho được, không thể nào được.  Xin coi đoạn kinh kế tiếp:

Nhược năng hồi hướng pháp giới, thị nhân phước lợi bất khả vi dụ.

Như có thể đem hồi hướng cho Pháp Giới, thì phước lợi của người ấy sẽ không thể ví dụ thế nào cho được.

Chúng ta coi chú thích cho đoạn này trước, chú thích chỉ có ba hàng, ‘Ðại Luận chép: Trong hai thứ bố thí mà Phật nói’, hai thứ bố thí là tài thí và pháp thí, ‘pháp thí hạng nhất, vì quả báo của việc tài thí có hạn, còn [quả báo của] pháp thí là vô lượng.  Tài thí được quả báo ở cõi Dục Giới, pháp thí được quả báo trong Tam giới, và ngoài Tam giới’, đây là trích dẫn lời nói trong Ðại Trí Ðộ Luận.  Sau đó còn nói ‘Nếu không cầu danh tiếng, tài lợi thế lực’ bạn bố thí không cầu danh, cũng không cầu tài, cầu lợi, quyền lợi, địa vị, bạn không cầu gì hết.  ‘Chỉ vì học Phật đạo’,  Phật đạo là gì?  Trí huệ chân thật, giải thoát chân thật, chỉ vì đoạn phiền não, chỉ vì đoạn dứt lo âu, được thanh tịnh, tự tại, sung sướng, đó là Phật đạo.  ‘Hoằng đại từ bi tâm, độ các thứ khổ của sanh lão bịnh tử, đó gọi là thanh tịnh pháp thí’, như vậy thì đúng như lý như pháp.  Chúng ta dùng tâm thanh tịnh, dùng tâm chẳng mong cầu để giúp hết thảy chúng sanh, đặc biệt là hết thảy chúng sanh đang chịu khổ nạn, đó là thanh tịnh pháp thí.

Trong pháp thí bao gồm cả tài thí, chúng ta ra tiền, ra sức là tài thí, chúng ta tồn tâm là pháp thí, chẳng có một mảy may mong cầu, tham vọng.  Nghĩ đến chúng sanh khổ, giúp đỡ hết thảy chúng sanh là nghĩa vụ chúng ta phải làm.  Khi giúp những người này dứt khoát không có tâm thiên lệch, bố thí một cách bình đẳng, thanh tịnh.  Do đó tôi thường khuyên các bạn đồng tu, tầm mắt phải xa và lớn, còn [đối với] sự hoằng truyền của Phật pháp và lợi ích chúng sanh, mức độ tối thiểu là chúng ta phải lấy chúng sanh trên toàn thế giới làm đối tượng, chẳng [hạn chế ở tại] một khu vực nào, bạn nhất định phải mở rộng tâm lượng.  Nếu chỉ là một khu vực, khu vực đó tốt, còn khu vực khác nghèo hèn, lạc hậu, thì thế giới này vĩnh viễn sẽ chẳng được hòa bình, cho nên phải nghĩ đến toàn diện, giáo học và nâng cao toàn diện, làm cho hết thảy chúng sanh đều được phá mê khai ngộ, xã hội mới đạt được an định, thế giới mới đạt được hòa bình vĩnh viễn.  Tuy trong đời quá khứ hết thảy chúng sanh trồng nhân chẳng giống nhau, duyên đời này không giống nhau, [chỉ cần] giác ngộ là được, có thể chăm sóc lẫn nhau, hợp tác lẫn nhau, miễn trừ hết thảy tranh chấp, tránh khỏi hết thảy tai họa.

Chúng ta coi phần chú thích kế tiếp, ‘Nếu không như vậy, thì là pháp giao dịch trong thương trường’, đây là nói bạn không có tâm đại từ bi, tại sao bạn đến cửa Phật để bố thí?  Nghe nói trong cửa Phật ‘bố thí một thì sẽ được quả báo hàng vạn’, sự trao đổi này tốt lắm, có sự mua bán nào vốn một mà lời hàng vạn?  Bố thí trong cửa Phật là ‘bố thí một được quả báo hàng vạn’, hãy mau đến đó bố thí, nếu có ý niệm này thì đó là đổi chác trong thương trường.  [Mục đích] là mua chác, trao đổi, tâm cầu lợi thiết tha, tìm đúng chỗ rồi, vốn một lời hàng vạn, có thể lời to; tâm đó tuyệt đối là sai lầm, chẳng tương ứng.  Sau đó lại nói ‘Lại nữa này Bồ Tát, biết thật tướng của chư pháp, như Niết Bàn chẳng tận’, Bồ Tát có trí huệ, hiểu rõ chân tướng của hết thảy pháp trong thế gian và xuất thế gian.  ‘Niết Bàn’ là Phạn ngữ, có nghĩa là ‘không sanh, không diệt’.  Không sanh không diệt là thật chứ chẳng giả.  Phàm những gì có sanh có diệt đều là giả, chẳng phải thiệt.  ‘Phước đức nhập thật tướng của chư pháp cũng chẳng cùng tận’, làm sao nhập?  Tương ứng với chư pháp thật tướng.  Làm sao mới tương ứng?  Tâm tương ứng, tâm niệm bạn dấy khởi lúc bố thí tương ứng với chư pháp thật tướng.  Hiện tượng tương ứng là gì?  Thanh tịnh không ô nhiễm, thanh tịnh bình đẳng, tuy bố thí nhưng không nhiễm trước bố thí.   Bố thí là tướng, phàm những gì có tướng đều là hư vọng’.  Do đó bất luận tu bố thí như thế nào, nói thật ra Phật pháp nói hết thảy pháp đều là bố thí, bố thí bao trùm hết thảy Phật pháp.  Phật dạy người không ngoài ba loại tài thí, pháp thí, và vô úy thí; cho nên những gì chúng ta tu học trong đời sống hằng ngày đều chẳng vượt ra khỏi ba loại này.  Có thể dùng tâm thanh tịnh, tâm chân thành để phục vụ hết thảy chúng sanh, phục vụ xã hội, phục vụ nhân dân thì đó là bố thí; phải có tâm bố thí, chỉ có phục vụ chứ không cầu lợi.  Thế nên Phật, Bồ Tát là người có trí huệ làm công tác nghĩa vụ giáo dục, học trò của đức Phật cũng như vậy, đây là sự giáo học trí huệ, giáo học nghĩa vụ, cho nên được phước chẳng thể nghĩ bàn, như vậy sẽ nhập chư pháp thật tướng.  ‘Do đó phước lợi chẳng thể ví dụ’, đây là phước báo chân thật, lợi ích chân thật, chẳng có cách gì ví dụ nổi.

‘Hồi hướng pháp giới’, hồi hướng tức là phục vụ, gần đây [trong lúc] giảng kinh Hoa Nghiêm vào đoạn [nói đến các] quỷ vương, thiên vương đại biểu Thập Hồi Hướng.  Thập Trụ, Thập Hạnh nói trong Ðại Kinh thành tựu khả năng trí huệ của chính mình, sau khi trí huệ đức năng thành tựu thì phải phục vụ đại chúng, vì đại chúng phục vụ thì gọi là hồi hướng, hồi tự hướng tha, đem trí huệ đức năng cống hiến cho xã hội, cống hiến cho hết thảy chúng sanh, đó gọi là hồi hướng.  Pháp giới là phạm vi, phạm vi này quá lớn, quá lớn!  Chẳng phải là một quốc gia, một tinh cầu, mà là tận hư không, trọn khắp pháp giới, tâm lượng này bao lớn.  Do đó phước đức, lợi ích của nó sẽ vô lượng vô biên, cùng quả vị chư Phật Như Lai không hai, không khác.  Ðoạn này nói phước bạn có được khi tạo tượng Phật, tạo hình tượng Bồ Tát, tạo tượng Chuyển Luân Thánh Vương.  Xin xem đoạn kế:

Phục thứ Ðịa Tạng, vị lai thế trung, nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, ngộ Ðại Thừa kinh điển, hoặc thính văn nhất kệ nhất cú, phát ân trọng tâm, tán thán cung kính, bố thí cúng dường, thị nhân hoạch đại quả báo vô lượng vô biên.

Lại nữa, này Ðịa Tạng! Trong đời vị lai, nếu có kẻ thiện nam người thiện nữ nào gặp kinh điển Ðại Thừa, hoặc nghe thấy một bài kệ, một câu kinh, rồi phát tâm ân cần trân trọng, cung kính ngợi khen, bố thí cúng dường, thì người ấy sẽ được đại quả báo vô lượng vô biên.

Ðoạn trước nói về người có thể bố thí, có thể tu phước, ‘thiện nam tử, thiện nữ nhân’.  Ðoạn sau nói họ tu phước, được phước, đây là khi gặp kinh điển Ðại Thừa, hoặc là ‘nghe một câu một kệ’, chỉ gặp được chút pháp Ðại Thừa, nhưng sau khi nghe xong họ có thể phát tâm, phát tâm chân thành, ‘ân trọng’ tức là chân thành, ưa thích tán thán, cung kính bố thí cúng dường, đây là những gì họ tu.  Chư vị ở đây chắc chắn phải chú ý đến, thứ nhất nói họ là ‘thiện nam tử, thiện nữ nhân’, người có đủ thiện căn phước đức, chẳng phải là người thường, tức là đoạn trước nói họ hoàn toàn làm được Tịnh Nghiệp Tam Phước dạy trong Quán Kinh, họ là người như vậy.  Gặp được kinh điển Ðại Thừa dù chỉ một câu một kệ, họ hiểu sâu nghĩa thú, trong kinh Kim Cang đức Phật dạy ‘hiểu sâu nghĩa thú’, một câu một kệ tuy ít, hiểu sâu nghĩa thú thì chẳng ít; nói một cách khác họ nghe xong và hiểu rõ ràng, rành rẽ.

Vào đời Ðường, Huệ Năng đại sư trong Thiền Tông là một người làm công cực khổ, ngài bán củi kiếm sống, trong xã hội ngày nay không có người làm nghề này nữa.  Trước thời kháng chiến, lúc kháng chiến vừa mở đầu, đại khái khoảng sáu mươi năm trước, tôi ở Phước Kiến, đời sống lúc đó còn có rất nhiều người bán củi, bán nước, chẳng có nước máy, [nên người ta] gánh nước từ bờ sông, từ giếng đi bán, một gánh nước lúc đó là ba bản đồng, bằng một xu, lúc đó dùng bản đồng.  Người bán củi, đốn củi trên núi gánh xuống thành thị bán, rất cực khổ, ngài Huệ Năng bán củi sinh sống.  Bán củi xong, đem tiền về, lúc đó nghe một người đang tụng kinh Kim Cang, [người đó] tụng kinh trong phòng, ngài đứng ở kế cửa sổ lắng nghe.  Thời xưa cửa sổ không có cửa kiếng, nếu có kiếng thì bên ngoài nghe không được, lúc đó cửa sổ dùng giấy dán bít lại, mùa đông cũng dán giấy, mùa đông thường dán hai lớp giấy.  Cửa sổ dán bằng giấy cho nên bên trong nói chuyện, bên ngoài có thể nghe được.  Ngài ngẫu nhiên nghe được vài câu, nghe đến câu ‘Không nên trụ ở đâu mà sanh tâm ấy’ (Ưng vô sở trụ, nhi sanh kỳ tâm) trong kinh Kim Cang, ngài bèn ngộ nhập.

Nếu bạn hỏi, ngài làm sao có thể ngộ nhập?  Ngài là thiện nam tử, người niệm kinh hằng ngày cũng chẳng ngộ nhập vì người đó chẳng phải là thiện nam tử.  Kẻ chẳng phải là thiện nam tử niệm kinh cho thiện nam tử nghe, nên thiện nam tử khai ngộ.  Chư vị thử nghĩ xem, Tịnh Nghiệp Tam Phước dạy trong Quán Kinh, bạn coi kỹ xem ngài Huệ Năng có thực hiện được chưa?  Ngài đã thực hiện được.  Ngài thật sự đã hiếu dưỡng cha mẹ, ngài bán củi mua gạo về nhà cúng dường mẹ.  Tuy ngài chẳng đi học, chúng ta không thấy ngài phụng sự sư trưởng, nhưng sau này khi ngài đến Hoàng Mai, chúng ta thấy [ngài đã làm được], thật sự đã hiếu dưỡng cha mẹ, tôn kính sư trưởng.  Từ tâm bất sát, tu thập thiện nghiệp vô cùng rõ ràng.  Ngài chẳng có học nhưng đều đã làm trọn, đó là thiện căn phước đức trong đời quá khứ cho nên ngẫu nhiên được nghe người ta đọc kinh, [đó là] cơ duyên, là duyên phận.  Duyên phận này làm cho ngài trở thành một vị Tổ Sư.  Nếu lúc ngài bán củi chẳng nghe được người ta đọc kinh thì sẽ phải bán củi vĩnh viễn, làm sao có thể nghe đến Phật pháp?  Vừa nghe được một lần, nghe được một câu một kệ, nghe xong ngài thật sự hiểu được, thật sự nghe rõ ràng, nên ngài liền phát tâm ân trọng, ngài liền tán thán, cung kính, thật sự muốn học, thật sự đi hỏi ‘cuốn sách ông niệm đó là sách gì?’, ông đó niệm kinh.  ‘[Kinh này] từ đâu mà có?’.  ‘Từ Hoàng Mai tới’, nghe xong ngài liền muốn đi [đến Hoàng Mai] để học hỏi.

Việc cúng dường nói ở đây, bốn chữ ‘bố thí cúng dường’ là pháp cúng dường, quan trọng nhất trong pháp cúng dường là ‘y giáo tu hành cúng dường’.  Phải giải thích ‘bố thí’ như thế nào?  Bố thí là bỏ hết thảy những điều sai trái từ trước, đó chính là bố thí, noi theo Phật pháp mà tu học chính là ‘cúng dường’, sự bố thí này chẳng dính dáng tới tiền tài, cúng dường cũng chẳng liên quan đến phẩm vật.  Bỏ hư vọng, học chân thật, “xả vọng” chính là bố thí, “học chân” là cúng dường, người như vậy sẽ ‘có được quả báo to lớn, vô lượng vô biên’.  Chú Giải nói rõ cho chúng ta, trích Khởi Tín Luận, giải thích Ðại Thừa, Thể của kinh Ðại Thừa lớn, Tướng lớn, Dụng lớn, do đó công đức vô lượng vô biên.  Chúng ta lật cuốn Chú Giải tới trang 22, đoạn cuối này rất quan trọng, chúng ta hãy đọc qua một lần bắt đầu từ hàng thứ nhất, câu thứ hai hàng đầu ‘Kim tức văn thị chương cú, tín tâm thanh tịnh, tắc sanh thật tướng pháp nhãn’ (Nay nghe được lời này, khởi lòng tin, khởi tâm thanh tịnh, ắt sanh thật tướng pháp nhãn) đây là nói lý luận y cứ của một câu một kệ được vô lượng phước.  Làm sao có thể như vậy được?  Ðạo lý là ở chỗ này.  Giống như kinh Kim Cang có nói ‘lòng tin thanh tịnh ắt sanh thật tướng’, sanh thật tướng nghĩa là gì?  Minh tâm kiến tánh, phước báo và lợi ích ấy có gì sánh bằng?  Phước báo họ được là minh tâm kiến tánh.  ‘Tức sử nhất kệ nhất cú, diệc phục tăng tiến Bồ Ðề’,  (Dù chỉ là một câu một kệ, cũng tăng tiến Bồ Ðề), từ sự tích của Lục Tổ Huệ Năng chúng ta nhìn thấy vô cùng rõ ràng, việc này có thể chứng thật cho lời đức Phật dạy trong kinh là chân thật, chẳng hư dối.

Thời đại ngày nay của chúng ta, tu pháp bố thí tiện lợi hơn ngày xưa rất nhiều, nhưng phước chúng ta được không bằng người xưa, vì dụng tâm chẳng bằng người xưa.  Người xưa chân thành cung kính, người hiện nay khởi tâm động niệm còn tâm riêng tư, chưa xả chính mình, do đó phước của sự bố thí chẳng giống như kinh đã nói, đạo lý là như vậy.  Ngày nay quan trọng nhất là chúng ta xả hết thảy những điều hư vọng chẳng chân thật, Thiện Ðạo đại sư dạy chúng ta ‘Hết thảy đều phải làm từ tâm chân thật’, câu này rất quan trọng!  Hết thảy đều dùng tâm chân thật làm cơ sở, khởi đầu từ tâm chân thật mới đúng, chẳng có mảy may hư vọng, chẳng dối mình, chẳng gạt người, niệm niệm đều chân thật, bất luận là tu pháp môn gì, bất luận tu bố thí gì, đều được phước chẳng thể nghĩ bàn.  Ðoạn sau cùng trích một đoạn trong lời dạy của đức Phật, nói rõ một câu một kệ được vô lượng phước, chúng ta coi hàng thứ hai trong phần chú thích, trang hai mươi hai, hàng thứ hai bắt đầu từ câu cuối cùng.

‘Phật cáo A Nan nhược hữu tùng tha văn nhất tứ cú kệ’ (Ðức Phật nói với ngài A Nan, nếu có người nghe được bốn câu kệ), đây là giả thiết, nếu nói có duyên nghe người ta tụng kinh hoặc giảng kinh, thời gian rất ngắn, chỉ nghe người ta nói bốn câu kệ.  ‘Hoặc thư chi trúc bạch’ (Hoặc viết trên tre hay trên vải), thời xưa chẳng có giấy, thời xưa ở Trung Quốc dùng thẻ tre, viết chữ trên thẻ tre, nếu quý vị đến Cố Cung Bảo Tàng Viện tham quan [thì sẽ thấy] những điển tịch trước triều Hán vẫn còn viết trên thẻ tre.  Bạch là một miếng vải dệt bằng tơ, lúc đó chẳng có giấy, cũng được viết trên những miếng tơ này, hiện nay gọi là sách, thư tịch.  ‘Sở hữu danh tự ư nhược can kiếp, thủ bỉ hòa thượng A Xà Lê đẳng, hà đảm kiên thượng hoặc bối phụ đảnh đới.  Thường tương nhất thiết âm nhạc chi cụ, cúng dường thị sư, thượng bất năng cụ báo sư ân’ (Hết thảy danh tự trong bao nhiêu đó kiếp, đem hòa thượng, A Xà Lê cõng trên vai, hoặc đội trên đỉnh đầu.  Thường dùng những nhạc cụ cúng dường thầy cũng chẳng thể báo đền ân thầy), câu này nói về tri ân báo ân.  Bạn làm sao khai ngộ?  Vì người khác truyền thọ cho bạn một câu một kệ, cho bạn cơ hội này, bạn có thiện căn, sau khi nghe xong có thể hiểu sâu nghĩa thú, bạn khai ngộ, bạn thành Phật rồi.  Người truyền trao cho bạn một câu một kệ là thầy của bạn, là ân sư của bạn, ân đức đó bao lớn?  Ðức Phật nêu một thí dụ, chúng ta coi thí dụ này, báo đáp chẳng cùng tận.  Ví dụ nói bạn cõng thầy trên vai, hoặc cõng trên lưng, hoặc trên đỉnh đầu, dùng hết thảy những nhạc khí để cúng dường cũng báo đáp không hết, đây là một người thật sự tri ân báo ân.

Sau đó nói ‘Nhược ư hòa thượng sở, khởi bất kính tâm, hằng thuyết ư quá, ngã thuyết ngu si, cực thọ đa khổ.  Ư đương lai thế tất đọa ác đạo’ (Nếu đối với hòa thượng, khởi tâm bất kính, luôn kể lỗi thầy, ta nói kẻ ấy ngu si, sẽ chịu nhiều sự khổ cùng cực. Trong đời tương lai, ắt đọa ác đạo), vị thầy này có ân đối với bạn, bạn đối với thầy chẳng có tâm cung kính, còn thường nói đến lỗi của thầy.  Thầy có lỗi hay không?  Rất khó nói.  Tại sao rất khó nói?  Có lỗi hay không là ở chỗ bạn khởi tâm động niệm, nếu bạn dùng tâm phiền não nhìn, [sẽ thấy] lỗi của thầy vô lượng vô biên, nếu dùng tâm thanh tịnh nhìn thì [sẽ thấy] thầy đích thật chẳng có lỗi.  Ngẫu Ích đại sư nói rất hay: “cảnh duyên chẳng có tốt ác, chẳng có đẹp xấu”, cảnh là gì?  Là hoàn cảnh vật chất, duyên là hoàn cảnh nhân sự, hết thảy người, hết thảy vật, nói cho chư vị biết chẳng có thiện cũng chẳng có ác, chẳng có đẹp chẳng có xấu, thiện ác, đẹp xấu là ở tại nơi tâm mình.  Tâm bạn thiện thì nhìn hết thảy người đều là người thiện, thấy hết thảy pháp đều là thiện pháp; nếu tâm bạn ác thì nhìn hết thảy người đều là người ác, thấy hết thảy pháp đều là pháp ác.  Lời của Ngẫu Ích đại sư nói rất đúng.  Cũng giống như lời nói gió động, phan động trong Ðàn Kinh, Huệ Năng đại sư thấy được, chẳng phải gió động cũng chẳng phải phan động, mà là tâm bạn đang động.  Một câu nói liền nói toạc chân tướng sự thật ra.  Trong kinh Hoa Nghiêm chúng ta thấy chư Phật, Bồ tát thị hiện biểu diễn, biểu diễn trên Tích Tướng[3] năm mươi ba lần tham vấn có thiện có ác, trong đó còn có sát, đạo, dâm vọng, Thiện Tài đồng tử vẫn tới tham phỏng.  Sát, đạo, dâm là ba độc phiền não [thường được đề cập] trong Phật pháp, Bồ Tát thị hiện, Thiện Tài tham học được vô lượng công đức.  Ngài làm sao đạt được?  Nếu chúng ta tiếp xúc những thứ này thì nhất định sẽ đọa A Tỳ địa ngục, tại sao người ta tiếp xúc có thể thành vô thượng đạo?  Vì dùng tâm chẳng giống nhau.  Chúng ta dùng tâm gì?  Bồ Tát dùng tâm gì?  Cho nên đoạn này rất quan trọng.  Sau đó nói tiếp ‘Thị cố ngã giáo nhữ đẳng thường hành cung kính tôn trọng chi tâm, ái trọng Tam Bảo thậm thâm chi pháp, tất hoạch vô lượng vô biên chi đại quả hỹ’ (Do đó Ta dạy các ông thường giữ tâm cung kính tôn trọng, trân quý, yêu tiếc pháp thậm thâm của Tam Bảo, ắt sẽ gặt được vô lượng vô biên quả báo), chỗ này trích dẫn lời đức Phật dạy.  Câu sau cùng:

Nhược năng hồi hướng pháp giới, kỳ phước bất khả vi dụ.

Nếu có thể đem hồi hướng cho Pháp Giới, thì phước báo này sẽ không thể ví dụ thế nào cho được.

Phần chú thích nói, Chú Giải trích dẫn Phó Pháp Tạng Kinh, lời Phật nói ‘Pháp thị chúng sanh chân thiện tri thức, tác đại lợi ích, tế chư khổ não’ (Pháp là chân thiện tri thức của chúng sanh, làm lợi ích lớn lao, tế độ các khổ não), có thể giúp hết thảy chúng sanh vượt qua hết thảy khổ nạn, nhất định phải nương vào Phật pháp, cho nên Phật pháp mới là chân thiện tri thức của chúng sanh.  Trong Phật pháp đặc biệt là pháp Ðại Thừa, pháp ngày nay chúng ta tu học là phần thù thắng, tinh hoa nhất trong Ðại Thừa, bao gồm Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh.  Chúng ta có được lợi ích, chúng ta tuân giữ giáo giới của đức Phật phải nên giới thiệu rộng rãi lợi ích này cho hết thảy chúng sanh.  Ðó là gì?  Hồi hướng pháp giới, chẳng hưởng riêng mình, phải đem lại lợi ích cho hết thảy chúng sanh, nhất định không sợ gian khổ, sốt sắng nỗ lực mà làm.  Sống một ngày thì làm một ngày, đến hết đời này phải làm việc này cho tốt đẹp, đó gọi là công đức viên mãn.  Không sợ gian khổ, không thể tham hưởng thọ ngũ dục lục trần trong thế gian, lãng phí mạng sống quý báu của mình.  Nếu Bồ Tát tham hưởng thụ, trong đó có thể được tự lợi, không thể lợi người, điểm quý báu của Phật pháp là ở chỗ lợi người.  Muốn lợi người thì nhất định phải buông bỏ sự yên vui của riêng mình.  Lúc trước thầy Lý nói với tôi đâu có ai mà không thích ở túp lều trên núi?  Ðó là sự hưởng thụ cá nhân, hưởng thụ niềm vui đại tự nhiên, tiêu dao sơn thủy, niềm vui hạng nhất trong đời người.  Nhưng làm vậy không thể đem lại lợi ích cho chúng sanh, chỉ có thể tự lợi, chẳng thể lợi người.  Phật, Bồ Tát, [và những] người đắc đạo minh tâm kiến tánh đích thật có thể hưởng thụ vì họ đạt được đại tự tại.  Nhưng họ buông bỏ sự hưởng thụ của mình, chẳng từ lao nhọc mỗi ngày giáo hóa chúng sanh, đi vào đô thị, thôn trang chỉ cần có người chịu nghe, chịu tiếp nhận, đúng như câu ‘Trong cửa nhà Phật không xả một ai’, các ngài đều hoan hỷ, sẵn sàng giải thích, thuyết giảng tường tận cho người.

Cả đời đức Phật Thích Ca Mâu Ni, giảng kinh thuyết pháp bốn mươi chín năm chẳng gián đoạn, mỗi ngày đều phục vụ cho mọi người, giảng giải cho đại chúng, mãi cho đến già cũng chưa từng buông bỏ công việc giảng kinh thuyết pháp dạy dỗ chúng sanh, rất đáng cho người đời sau chúng ta tôn kính, đáng cho người đời sau bắt chước.  Chúng ta có khi nào nghe, coi trong kinh thấy đức Phật Thích Ca Mâu Ni đi nghỉ mát ở chỗ nào đó chăng?  Chưa từng thấy qua.  Ngày nay dù công việc rất gian khổ, mỗi ngày đều phải làm việc, [người ta] vẫn tìm thời gian đi nghỉ mát, chưa bao giờ nghe đức Phật Thích Ca Mâu Ni đi nghỉ mát cả.  Cũng chẳng nghe một ngàn hai trăm năm mươi người [đệ tử của Phật] đi nghỉ mát, chưa hề nghe tới.  Ở đây chúng ta lập Phật Học Viện, nghe nói còn có nghỉ mùa Hè, nghỉ mùa Ðông, còn nghỉ học, do đó những điểm này chúng ta phải nghĩ tới.  Tương lai lập Phật Học Viện nhất định phải nghỉ hè, phải tùy thuận thế gian, vì trường học trong thế gian đều nghỉ hè.  Nhưng khi chúng ta nghỉ hè thì phải làm sao?  Phải làm gì?  Hy vọng mọi người học theo đức Phật Thích Ca Mâu Ni, đi khắp nơi giảng kinh thuyết pháp để nghỉ mát, đem những điều bạn đã học trong khóa học này tìm một chỗ để giảng kinh trong dịp nghỉ hè, làm vậy thì dịp nghỉ hè này bạn chẳng luống qua, lợi dụng khoảng thời gian này kết pháp duyên với hết thảy chúng sanh.  Nếu các bạn có ý này, tôi có thể sắp xếp cho các bạn, mời nhiều chỗ ở nước ngoài gởi thiệp mời các bạn, nghỉ hè một tháng thì giảng kinh một tháng, nghỉ hè hai tháng thì giảng kinh hai tháng, chẳng luống qua.  Không thể nghỉ hè rồi đi du ngoạn sơn thủy, vậy thì sai rồi!  Nếu nghỉ hè như vậy, những gì bạn học được trong học kỳ này đều mất hết, bạn làm sao tiến bộ được?  Tiến bộ là niệm niệm đều cần cù gắng sức, chẳng buông bỏ, phải hiểu đạo lý này.

Xin xem đoạn kinh tiếp theo, đoạn này nói về phước báo bố thí, tu bổ kinh điển, tháp tự.  Phần chú thích nói trên còn một đoạn rất quan trọng, trang 22, hàng thứ năm, đoạn sau, chúng ta hãy đọc!  ‘Thị cố trí giả, dục đắc vô thượng an ổn khoái lạc, ưng đương chí tâm cần thính kinh pháp’ (Do đó những người có trí huệ muốn được niềm vui sướng yên ổn vô thượng thì phải nên chí tâm, siêng năng nghe kinh pháp), câu này tóm lại một đoạn trong Phật Thuyết Kiên Ý Kinh, đoạn này chúng ta phải đem ra lưu thông, in ra để phổ biến rộng rãi.  Ðoạn này ở trang 23, hàng thứ ba, mọi người hãy ghi nhớ.  Trong kinh Phật Thuyết Kiên Ý, trong đoạn kinh này ‘Phật cáo A Nan, kỳ hữu hảo tâm thiện ý chi nhân, văn Phật minh pháp, nhất tâm nhi thính năng nhất nhật khả, bất năng nhất nhật, bán nhật khả, bất năng bán nhật, nhất thời khả’ (Ðức Phật bảo ngài A Nan nếu có người hảo tâm có thiện ý nghe Phật hiểu pháp, hết lòng mà nghe thì có thể nghe một ngày, không thể nghe một ngày thì nghe nửa ngày, không thể nghe nửa ngày thì nghe một thời cũng được), một thời ở đây là chỉ một thời của cổ Ấn Ðộ, tức là bốn giờ ngày nay, ngày đêm chia ra sáu thời, một thời tương đương với bốn giờ hiện nay.  ‘Bất năng nhất thời, bán thời khả’ (Không thể nghe một thời thì nghe nửa thời cũng được), bán thời tức là hai giờ ngày nay.  ‘Bất năng bán thời tu du khả’ (không thể nghe bán thời thì nghe một lát cũng được), nếu bạn không rảnh nghe hai giờ thì nghe mấy phút cũng được.  ‘Kỳ phước bất khả lượng’ (Phước ấy chẳng thể tính đếm).  Chúng ta đổi một chữ ở phần dưới, [tức là] “kỳ phước bất khả lượng” (phước ấy không tính đếm được) thành “kỳ phước bất khả hạn” (phước ấy không có giới hạn). Dùng chữ “giới hạn” thì dễ hiểu hơn. Phía trước đoạn kinh [vừa dẫn trên đây trong Chú Giải] có ghi một chữ “văn”, ý nói đoạn văn vừa dẫn trên đây là kinh văn [trích từ Phật Thuyết Kiên Ý Kinh].  Tiếp theo ‘thị cố trí giả dục đắc vô thượng an ổn khoái lạc, ưng đương chí tâm cần thính kinh pháp’ (Do đó những người có trí huệ muốn được niềm vui sướng yên ổn vô thượng thì phải nên chí tâm, siêng năng nghe kinh pháp).  Chúng ta dùng đoạn kinh này để khuyên mọi người hãy thường nghe kinh, cho nên đoạn kinh này rất quan trọng!  Quý vị hãy đánh máy đoạn này ra thành một bài ngắn, có thể dùng để khuyên người ta đến nghe kinh.  Xin xem tiếp:

Phục thứ Ðịa Tạng nhược vị lai thế trung

Lại nữa, này Ðịa Tạng! Trong đời vị lai

Trong kinh nói ‘vị lai thế trung’ tức là thời đại hiện nay của chúng ta

Hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân

Như có kẻ thiện nam người thiện nữ nào

[Người] có đầy đủ điều kiện của chữ ‘thiện’ này vô cùng hy hữu, vô cùng hiếm có

Ngộ Phật tháp tự Ðại Thừa kinh điển, tân giả bố thí cúng dường, chiêm lễ tán thán, cung kính hiệp chưởng.  Nhược ngộ cố giả hoặc hủy hoại giả tu bổ doanh lý, hoặc độc phát tâm hoặc khuyến đa nhân đồng cộng phát tâm.

Gặp chùa tháp thờ Phật và kinh điển Ðại Thừa—nếu còn mới thì bố thí cúng dường, chiêm ngưỡng, lễ lạy, khen ngợi, chắp tay cung kính; nếu đã cũ kỹ hoặc hư hoại thì sửa sang tu bổ, hoặc riêng mình phát tâm, hoặc khuyên nhiều người khác cùng phát tâm.

Ðoạn này nói về việc tu phước.  Ý nghĩa của chữ ‘Tự’ phần trước đã nói qua, nếu dùng cách nói hiện nay thì ‘Tự’ nghĩa là một cơ cấu vĩnh cữu, chẳng phải là một thiết bị tạm thời, mà là vĩnh viễn.  Ngày xưa cơ cấu làm việc của nhà vua gọi là ‘Tự’, cơ cấu làm việc của quan chức từ Tể tướng trở xuống thì gọi là ‘Bộ’, thường có thể thay đổi, có thể phế trừ, có thể xây dựng sửa đổi mới lại.  Cơ cấu làm việc của nhà vua vĩnh viễn chẳng thay đổi.  Ở Trung Quốc từ triều Hán đến triều Thanh có thể nói đều chẳng thay đổi, cho nên ‘Tự’ là một cơ cấu làm việc lâu dài, chúng ta phải hiểu nghĩa của chữ Tự.  Nhưng ngày nay khi mọi người thấy ‘Tự’, ngay cả cách suy nghĩ cũng không đúng, ‘Tự’ thường đại diện cho mê tín, đại diện quỷ thần, vừa nghe chữ ‘Tự’ và ‘miếu’ bèn nối liền thành ‘chùa miếu’, trong đó cúng quỷ thần, làm việc mê tín, đây là một sai lầm rất lớn.  ‘Tự’ ngày xưa là cơ cấu làm việc giáo dục của Phật giáo, giáo dục Phật giáo phải làm việc vĩnh viễn, không thể phế trừ, đình chỉ, không thể tạm ngưng cho nên gọi là ‘Tự’.  Nhưng ngày nay nhiều người hiểu sai chữ này, cho nên chúng ta phải đổi một danh xưng mới, lão cư sĩ Hạ Liên Cư đề xướng đừng dùng danh từ ‘tự viện, am đường’ nữa, hãy dùng ‘Học Hội’, chữ ‘Học Hội’ này là do cụ Hạ đề xướng.  Ngày nay chúng ta dùng tên Tịnh Tông Học Hội, chúng ta không dùng tên Tịnh Tông Tự, không dùng tên Di Ðà Tự mà dùng Tịnh Tông Học Hội, làm cho người ta nghe đến danh xưng này liền cảm thấy mới mẻ, chẳng bị hiểu lầm, ý kiến này rất hay.  Chúng ta đọc sách của cụ nên tuân theo ý của cụ, chúng ta thành lập Tịnh Tông Học Hội.

Tháp Phật là nơi cúng dường xá lợi của Phật, Tự là nơi tuyên dương truyền bá Phật giáo.  ‘Ðại Thừa kinh điển’ là pháp bảo quan trọng nhất trong nền giáo dục Phật Ðà, phần trước có nói đây là chân thiện tri thức của chúng sanh.  ‘[Tháp Tự] mới thì bố thí cúng dường, chiêm lễ tán thán, cung kính chắp tay’, khi gặp chùa tháp mới xây, ngày nay khoa học kỹ thuật phát triển, chúng ta tạo ra những kinh luận này dễ dàng, nhưng nhất định phải làm cho đẹp đẽ, trang trọng, làm cho người ta nhìn thấy liền sanh tâm hoan hỷ, sanh tâm cung kính tán thán, cho nên in kinh không thể in một cách sơ sài.  Nếu in một cách sơ sài thì người ta nhìn thấy không sanh hoan hỷ, đó là lỗi của chúng ta.  Kinh điển nhất định phải in cho hoàn hảo, ráng hết sức in cho đẹp.  Lần này chúng ta in bộ kinh này, chư vị nhìn thấy đều sanh tâm hoan hỷ.  Bản in này không dễ tìm, ở Ðài Loan bản in này đã được in đi in lại rất nhiều lần nên chữ đều bị mờ, bản in tôi dùng là bản cũ, nét chữ đã bị phai mờ, cho nên tôi phải đi kiếm bản gốc.

Lần trước tôi đến Hương Cảng, tôi đã lưu ý đi tìm, cũng nhờ Phật, Bồ Tát gia trì, khi đến thư viện Trung Hoa Phật Giáo tôi tìm được một bản, đây là bản in đầu tiên ở Hương Cảng, Húc Lãng pháp sư in, bản in này rất cũ rồi, giấy đã phai màu.  Một lần khác tôi đi thăm Giác Quang pháp sư, Giác Quang pháp sư gọi điện thoại tìm tôi, chúng tôi gặp mặt và đến chỗ của thầy dùng cơm, trong tủ sách của thầy có một cuốn, cuốn này đều cùng một bản in nhưng được giữ kỹ hơn bản in của Sướng Hoài pháp sư.  Thầy để trong tủ sách rất sạch sẽ, chúng tôi đem về hai cuốn này, phía trước là hình trắng đen, chẳng phải hình màu, khi tới Ðài Loan chúng tôi đi tìm hình có màu, bản in của chúng ta hiện nay so với những bản cũ tốt hơn nhiều, đẹp hơn những bản gốc.  Chúng tôi tặng mười cuốn cho Thường Hoài pháp sư, và mười cuốn cho Giác Quang pháp sư, chúng tôi nhận một cuốn sau đó tặng cho họ mười cuốn, tặng cho họ cuốn kinh đẹp hơn cuốn của họ cho chúng tôi rất nhiều.  Chúng tôi làm như vậy, về sau khi có chỗ nào tặng cho họ sách tốt, sách đẹp, họ sẽ đem cho chúng tôi, họ biết cho chúng tôi chẳng mất mát mà còn có báo đền.  Chúng tôi đã in hai vạn cuốn, nghe nói hiện nay rất nhiều người ở Ðài Loan thấy bản in này đẹp như vậy, họ cũng muốn in, phát tâm như vậy rất tốt!  In cho thật nhiều, bản in của chúng tôi để tại xưởng in Thế Hoa ở Ðài Bắc, giữ nguyên bản ở đó nên [sau này ai muốn in] khỏi phải trả tiền làm bản gốc, ai thích in đều có thể lấy bản đó đi in, như vậy thì giá vốn sẽ thấp hơn.  [Kinh sách] mới chúng ta nhất định phải làm cho thật đẹp, thật trang nghiêm, khi người ta thấy liền sanh tâm hoan hỷ, [họ mới sanh tâm] ‘bố thí cúng dường, chiêm lễ tán thán, cung kính chắp tay’.  Do đó nếu kinh sách in không đẹp thì sẽ chẳng được.  Ðây là điều mà Phật dạy chúng ta ở chỗ này, phải dốc hết sức làm cho được hoàn hảo.

‘Nếu gặp [kinh sách] cũ, hoặc bị hư hoại’, chữ ‘cố’ nghĩa là cũ, sách cũ có giá trị cao.  Cao ở chỗ nào?  Thứ nhất là sách đó đã lưu truyền rất lâu, đã có rất nhiều người đọc qua, năm tháng lâu đời chứng tỏ kinh này là kinh chân thật.  Nếu là giả, ngụy tạo thì đã bị đào thải sớm rồi, cho nên nó có giá trị lịch sử.  Lại được rất nhiều cao tăng đại đức đọc qua, nếu dùng cách nói hiện nay thì từ trường của nó rất khác thường, đồ mới như thế nào cũng không bằng đồ cũ, chư vị phải biết, nó có giá trị kỷ niệm, có sức lôi cuốn rất mạnh mẽ.  Nhưng đồ vật truyền lâu đời thì sẽ bị hư hao, hiện nay tôi còn cỡ ba mươi, bốn mươi cuốn sách đời Minh, tính sơ sơ cũng đã sáu trăm năm, giấy rất mỏng manh, giòn rụm, khi lật cứ sợ nó bị rách, do đó những sách này tôi làm sao đọc được?  Tôi chụp (photocopy) lại, tôi đọc bản copy, còn sách gốc thì giữ nguyên, không thường mở ra.  Ở đây không thuận tiện cho lắm, ở Ðài Loan thì tiện hơn, nếu ở Ðài Loan thì tôi sẽ đem đi ‘bồi’ lại, giống như trang hoàng bức họa vậy, bên trong lót một miếng giấy bông, lót lớp giấy này thì sách có thể bảo tồn ít nhất một ngàn năm.  Vì hiện nay những sách này hơn phân nửa là in bằng giấy Mao Biên, chẳng phải giấy tốt lắm, chỉ là giấy Mao Biên thường.  Giấy Mao Biên chỉ giữ được năm trăm năm cho nên hiện nay nhất định phải tu bổ.  Tu bổ nghĩa là phải bồi, sau đó đóng (xỏ chỉ) lại, làm như vậy có thể giữ được thêm một ngàn năm, sách này đã trở thành đồ cổ rồi.  Chúng ta phải hiểu đạo lý này, đừng cho rằng đồ cũ rách thì nên liệng bỏ, cũ rách vẫn có giá trị.  Thật sự là người trong nghề, người biết [giá trị] món hàng, [khi tới] Cố Cung Bảo Tàng Viện ở Ðài Loan, không phải là người sành điệu thì thích coi cái gì?  Coi đồ ngọc đời Minh, Thanh, ngọc ấy vô cùng đẹp đẽ.  Còn người sành điệu thì coi cái gì?  Coi đồ đồng đời Hạ, Thương, Châu, [những đồ ấy là] đồng hư sắt vụn, đồ đạt không hoàn hảo, nhiều khi chỉ là một miếng vụn, [nhưng đó lại là] báu vật vô giá.  Làm sao sánh bằng những đồ bằng vàng bạc, ngọc ngà đời Minh, Thanh?  Không sánh bằng, [nhưng nó có] giá trị lịch sử, do đó [chúng ta] phải hiểu đạo lý này.

Sách cũ chúng ta phải tu bổ, tháp tự cũ chúng ta cũng phải tu bổ, trên phương diện này thì chúng ta thua xa người Nhật. Khi tôi đi Nhật tham quan, tham học, đối với việc người Nhật bảo tồn tháp tự, tu bổ đồ cổ, tôi khâm phục năm vóc sát đất.  Những thứ này họ đã học được từ Trung Quốc, sau khi học xong vẫn giữ gìn mãi cho đến ngày nay; họ có thể giữ gìn lâu như vậy sao?  Mỗi năm họ đều tu bổ, cây cột này bị mối mục rồi, họ dùng gỗ giống hệt, vật liệu giống hệt, hình thức giống hệt để làm cây cột khác thay thế.  Do đó khi bạn đi Nhật sẽ thấy chùa miếu trang nghiêm, [phỏng theo] mô thức đời nhà Hán.  Học sinh người Nhật du học đến Trung Quốc vào đời Ðường nhiều nhất, họ học các lối kiến trúc cổ đại, Trung Quốc có rất nhiều phi diêm (mái cong vút), phi diêm thuộc đời nhà Minh; đời Hán, Ðường còn chưa có phi diêm, do đó khi đi Nhật bạn sẽ thấy được rất nhiều kiến trúc đời Hán, Ðường, hoàn toàn giống với những gì ghi trong sách cổ Trung Quốc.  Hiện nay chúng ta đọc Lễ Ký, coi không hiểu rất nhiều cách thức sinh hoạt thời đại đó, nhưng khi tới Nhật bèn hiểu ngay, những thứ đó chính là cách sinh hoạt của người Nhật.  [Còn về] y phục, người Nhật mặc ‘hòa phục’, quần áo người Nhật gọi là ‘hòa phục’, hay ‘Ngô phục’, nói ‘Ngô phục’ thì bạn sẽ có ấn tượng, ‘Ngô’ là Giang Tô, phục trang của thời đại Ngô Việt, truyền qua tới ngày nay người Nhật vẫn còn mặc, vẫn giống y như vậy, người Nhật bảo tồn văn hóa cổ đại của Trung Quốc.  Cách thức tu bổ tháp tự của họ đích thật đáng cho chúng ta học tập, nhất định phải dùng vật liệu gốc, dùng cách thức thời xưa để tạo ra vật mới [giống hệt như vậy.  Họ giữ được] giống y như thời xưa, bảo tồn được vô cùng hoàn chỉnh, đây là việc chúng ta tới đó tham quan không thể không khâm phục.

Người Nhật có thể hấp thụ văn hóa kỹ thuật tân tiến nhất của tây phương, lại có thể bảo tồn những vật cố hữu, chẳng phế bỏ, đây là chỗ họ cao minh hơn người Trung Quốc.  Thậm chí đối với một con đường cũ xưa, họ cũng không phá bỏ con đường xưa, khi mở đường mới họ làm kế bên con đường cũ, bảo tồn con đường cũ.  Ðường cũ dùng gạch trải đường, có xe ngựa dành cho khách du lịch tới coi, ngồi xe ngựa rất thích thú.  Lúc tôi đi tham quan Nhật khoảng hơn hai mươi năm trước, tôi có ấn tượng rất sâu đậm.  Nói thật ra ở Trung Quốc có thể khôi phục vài cổ thành, hôm kia nhân dịp tết Trung Thu quý vị đến Ðường Thành để hội họp [ăn mừng], ở Hong Kong có một chỗ gọi là Tống Thành.  Nói thật ra nếu Trung Quốc có thể khôi phục diện mạo của Khai Phong trở về đời Tống, khôi phục diện mạo của Tây An trở về quy mô đời Ðường, một thành phố đời Ðường, một cái đời Tống, người ở đó có thể khỏi làm việc gì cả, chỉ bán đồ ăn cho khách du lịch là có thể kiếm lời, người trên toàn thế giới sẽ đến đó tham quan.  Có ai không muốn đi tới đó coi thử?  Coi đời sống của người đời Ðường, đời Tống, quần áo trang sức hoàn toàn khôi phục trở về thời xưa, dụng cụ cũng thuộc đời xưa, [thu hút mọi người] đến đó du lịch, họ sẽ tiếp đãi du khách, thu hút người trên toàn thế giới đến đó du lịch, đây là một chuyện tốt.  Khi tôi đi Nhật tham quan bèn nghĩ đến chuyện này, bạn đừng tưởng là không có thu nhập, thu nhập sẽ rất khả quan, rất khá.  Bạn bán đồ lưu niệm, mượn cơ hội này để tuyên dương văn hóa Trung Quốc, lợi ích vô lượng vô biên.  Khi ở Mỹ tôi có tham quan một thành phố [của người] Ðan Mạch, thành phố đó chẳng lớn, người Âu Châu di dân tới đó.  Cách thức sinh hoạt, kiến trúc của Ðan Mạch ở đó, hoàn toàn là cách sinh hoạt đời xưa của người Ðan Mạch, đi tới chỗ đó cũng giống như bạn đi tới Ðan Mạch vậy, rất có ý nghĩa, rất thú vị.  Ðường phố ở đó có xe ngựa.  Ðây là việc bảo tồn văn hóa cổ, có giá trị, có ý nghĩa.  Ðoạn này dạy chúng ta làm thế nào để tu bổ, khôi phục tháp tự xưa, điển tịch, kinh điển đời xưa, [chúng ta] phải nên coi trọng.

Hôm nay đã hết giờ, chúng ta giảng đến đây thôi.

Trong quá trình chuyển ngữ chắc không tránh khỏi thiếu sót, xin các bậc thức giả hoan hỷ phủ chính cho. 

Xin thành thật cám ơn.                                        

Một nhóm Diệu Âm cư sĩ, ngày 4 tháng 9 năm 2006

 

[1] Tâm phía trước chính là cái tâm khuyến hóa tu bổ kinh tượng, chùa miếu bị hư hỏng.  Do phát tâm nhưng không biết hồi hướng nên quả báo nhỏ hơn, trong đoạn này, do hành nhân đã làm những thiện sự ấy lại biết phát tâm hồi hướng nên quả báo vô cùng rộng lớn.

[2] Công lợi chủ nghĩa là chủ nghĩa chú trọng lợi ích trước mắt của mình, làm việc gì cũng đặt lợi ích của mình lên trên hết.

[3] Bổn và Tích là hai khái niệm của kinh Pháp Hoa, Bổn là quả địa thật sự, còn Tích là sự biến hiện trong phương diện hóa độ. Xin dùng một thí dụ minh họa như sau: Quán Thế Âm Bồ Tát là một vị cổ Phật có hiệu là Chánh Pháp Minh Như Lai, nhưng vì bi tâm độ sanh, ngài thị hiện thân Bồ Tát để phụ trợ Phật Thích Ca giáo hóa chúng sanh trong cõi Sa Bà, thị hiện tu nhân trong cõi Sa Bà, vãng sanh qua Cực Lạc để làm pháp vương tử phù tá đức Phật Di Đà. Như vậy, Bổn của Quán Thế Âm Bồ Tát là Chánh Pháp Minh Như Lai, còn Tích là thân Quán Thế Âm Bồ Tát. Tích tướng chính là những sự hóa hiện, hình tướng nơi Tích. Chẳng hạn, Bà Tu Mật Đa Nữ có bổn địa là Bồ Tát, nhưng ngài thị hiện thân dâm nữ nhằm hóa độ khách làng chơi, hoặc bổn địa của Phú Lâu Na là Bồ Tát, nhưng ngài lại thị hiện thân Thanh Văn, đúng như kinh Pháp Hoa đã dạy: “Nội bí Bồ Tát hạnh, ngoại thị hiện Thanh Văn”.

Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.