Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.
PrintFriendly and PDF

ÐỊA TẠNG BỒ TÁT BỔN NGUYỆN KINH GIẢNG KÝ

Tập 27 (Số 14-12-27)

          Xin mở cuốn Khoa Chú quyển trung, trang 79, chúng ta đọc kinh văn một lần:

          Hà huống lâm mạng chung nhân, tại sanh vị tằng hữu thiểu thiện căn, các cư bổn nghiệp, tự thọ ác thú, hà nhẫn quyến thuộc cánh vi tăng nghiệp

Huống chi là người sắp chết lúc còn sống chưa từng có chút thiện căn, phải y theo bổn nghiệp mà tự đọa ác đạo, quyến thuộc nỡ nào tăng thêm nghiệp tội của người ấy!

Lần trước giảng đến đây, xin xem thí dụ tiếp theo:

Thí như hữu nhân, tùng viễn xứ lai, tuyệt lương tam nhật, sở phụ đam vật cường quá bá cân, hốt ngộ lân nhân cánh phụ thiểu vật, dĩ thị chi cố chuyển phục khốn trọng.

Ví như có người từ xứ xa đến, tuyệt lương thực đã ba ngày, lại vác theo đồ vật nặng hơn trăm cân, bỗng gặp kẻ lân cận gởi ít món đồ nữa, vì thế mà càng khốn đốn, nặng nề thêm.

          Trong thí dụ này, ý nghĩa rất rõ ràng, ví dụ có một người từ xa đến đây.  Thời xưa giao thông chẳng phát triển, đi xa phần đông đều là đi bộ, đường xa thì đương nhiên sẽ rất mệt nhọc, tiêu hao thể lực.  Nếu ba ngày chẳng ăn cơm, thì nỗi khổ này chúng ta có thể tưởng tượng mà biết.  Người này chẳng phải chỉ đi bộ mà còn gánh hành lý nặng một trăm cân, gánh này rất nặng, ba ngày chẳng ăn cơm mà phải đi trên đường dài, như vậy đã rất mệt rồi.  Đây là ví dụ người sắp chết nói ở trên, lúc còn sống chẳng làm việc gì tốt, sau khi chết đương nhiên sẽ y theo hạnh nghiệp mà nhận lấy quả báo.  ‘Hốt ngộ lân nhân, cánh phụ thiểu vật’ (bỗng gặp người lân cận gởi ít món đồ nữa), ví dụ người nhà quyến thuộc chẳng hiểu biết mà còn sát sanh, cúng tế làm tăng thêm tội nghiệp [cho kẻ ấy], tiền đồ của kẻ ấy đương nhiên càng khốn khổ.  Ví dụ này rất dễ hiểu.  Chúng ta xem tiếp kinh văn, trang 80:

          Thế Tôn, ngã quán Diêm Phù chúng sanh, đản năng ư chư Phật giáo trung, nãi chí thiện sự, nhất mao nhất trích, nhất sa nhất trần, như thị lợi ích tất giai tự đắc.

          Bạch đức Thế Tôn, con xem xét chúng sanh cõi Diêm Phù Ðề, ở trong giáo pháp của chư Phật, nếu có thể làm thiện sự chừng bằng một sợi lông, một giọt nước, một hạt cát, một hạt bụi, thì tất cả đều tự được lợi ích.

          Đây là lời của Địa Tạng Bồ Tát nói với Thế Tôn, thật ra nói với Thế Tôn tức là Thế Tôn chứng minh cho ngài, những lời ngài nói câu nào cũng là chân thật, dụng ý thật ra là vì chúng ta.  ‘Diêm Phù chúng sanh’ tức là chúng ta.  ‘Đản năng ư chư Phật giáo trung’, hai chữ ‘Phật giáo’ là mấu chốt quan trọng, ngày nay nhắc đến Phật giáo có phải là ý nghĩa của chữ Phật giáo trong sự tưởng tượng của chúng ta chăng?  Chẳng phải.  Trong hết thảy những lời giáo huấn của chư Phật, Phật dạy chúng ta như thế nào, chúng ta có hiểu không?  Chúng ta có làm được không?  Thật sự hiểu rõ rồi, chịu làm, cho dù làm một việc thiện nhỏ xíu, ‘nhất mao, nhất trích, nhất sa, nhất trần’ rất ít, hình dung tu thiện ít.  ‘Mao’ là sợi lông, lông trên thân thể, đây là vật nhỏ nhất trong chánh báo của chúng ta, ‘trần sa’ (hạt bụi, hạt cát) là vật nhỏ nhất trong y báo của chúng ta, cả hai đều hình dung việc thiện nhỏ.  Bạn sẽ có được toàn bộ lợi ích của việc thiện nhỏ này, huống chi là việc thiện lớn.  Những gì dạy trong Phật pháp, dù có nhỏ cũng xứng tánh.  Đã xứng tánh thì nói thật ra việc thiện chẳng có lớn nhỏ, việc thiện lớn trọn khắp hư không pháp giới, việc thiện nhỏ cũng trọn khắp hư không pháp giới, thậm chí khi bạn khởi một niệm thiện, một niệm làm lợi ích chúng sanh thì quả báo cũng sẽ chẳng thể nghĩ bàn.  Những lời nói này của Địa Tạng Bồ Tát, người sơ học đích thật rất khó chấp nhận, có phải là Phật, Bồ Tát dùng những lời này để khuyến khích chúng ta, chưa chắc đã là thật.  Chúng sanh tiếp xúc Phật pháp, đặc biệt là người sơ học, có thể nói những nghi hoặc này vô cùng phổ biến, hoàn toàn dùng tâm phàm phu của chúng ta để đo lường cảnh giới của Phật, Bồ Tát, vậy là sai lầm quá đỗi.

          Phàm phu chúng ta dùng vọng tâm, chư Phật, Bồ Tát dùng chân tâm, vọng tâm vĩnh viễn chẳng duyên đến cảnh giới chân thật.  Kinh luận của Pháp Tướng Tông nói rất nhiều về công năng của Ý Thức, thức thứ sáu trong tám thức mạnh nhất, đối ngoại nó có thể duyên đến hư không pháp giới, đối nội nó có thể duyên đến A Lại Da thức, tiếc rằng nó không thể duyên đến tự tánh.  Chư vị phải biết Nhất Chân pháp giới là tự tánh, nó có thể duyên hư không pháp giới, có thể duyên thập pháp giới, nhưng chẳng có cách chi để duyên Nhất Chân pháp giới, không có cách chi duyên tự tánh.  Do đó kiến giải và trí huệ của phàm phu làm sao có thể biết cảnh giới của Phật, Bồ Tát?  Dựa vào vọng tưởng của mình để tưởng tượng cảnh giới Phật, Bồ Tát là hoàn toàn sai lầm, đây là việc chúng ta phải biết.  Trí huệ chân thật là gì?  Khi ‘hai chướng’ đã bị phá thì trí huệ chân thật mới hiện ra.  Chúng ta thử nghĩ chúng ta có Phiền Não Chướng, có Sở Tri Chướng, không những có, vả lại còn rất nặng nề thì lấy đâu ra trí huệ cho được!  Tự mình cảm thấy rất có trí huệ, trong Phật pháp đó chỉ là ‘thế trí biện thông’, thế trí biện thông không thể giải quyết vấn đề được.  Xin xem tiếp:

          Thuyết thị ngữ thời, hội trung hữu nhất trưởng giả danh viết Đại Biện.  Thị trưởng giả cửu chứng Vô Sanh, hóa độ thập phương, hiện trưởng giả thân.

          Nói lời như thế xong, trong pháp hội có một vị trưởng giả tên là Ðại Biện, vị trưởng giả này từ lâu đã chứng Vô Sanh, hiện thân trưởng giả để hóa độ thập phương.

          Đến đây là một đoạn nhỏ.  Từ đoạn kinh này, chúng ta liền hiểu trưởng giả Đại Biện cũng là chư Phật Như Lai thị hiện.  ‘Cửu chứng vô sanh’, câu này nói ngài đã thành Phật từ lâu rồi, độ chúng sanh trong mười phương thế giới ‘hiện thân trưởng giả’, đây là thị hiện.  Nên dùng thân trưởng giả để được độ thì ngài liền hiện thân trưởng giả, tham dự pháp hội Địa Tạng, giúp đỡ Thế Tôn và Địa Tạng Vương Bồ Tát giáo hóa chúng sanh.  Ngài đứng ra nêu câu hỏi, thông qua câu hỏi và câu trả lời này có thể phá trừ nghi hoặc của chúng ta.  Sau đó:

          Hiệp chưởng cung kính vấn Địa Tạng Bồ Tát ngôn:

          Cung kính chắp tay hỏi Ðịa Tạng Bồ Tát rằng:

          ‘Hiệp chưởng cung kính’ là kính trọng tột cùng, là lễ tiết, thỉnh giáo Địa Tạng Bồ Tát.

          Đại sĩ

          Thưa Đại sĩ

          Đây là lời xưng tán Bồ Tát.

          Thị Nam Diêm Phù Đề chúng sanh mạng chung chi hậu, tiểu đại quyến thuộc vị tu công đức, nãi chí thiết trai, tạo chúng thiện nhân, thị mạng chung nhân đắc đại lợi ích, cập giải thoát phủ.

          ” Chúng sanh trong cõi Nam Diêm Phù Ðề sau khi mạng chung được hàng quyến thuộc kẻ lớn người nhỏ, đều vì người chết mà tu công đức, cho đến thiết trai, tạo những thiện nhân, thì người chết ấy có được lợi ích lớn và được giải thoát chăng?”

          Ý nghĩa của câu hỏi này chẳng khó hiểu.  Đây là nói chúng sanh trong thế gian sau khi qua đời, người nhà của họ giúp họ làm một số công đức, thí dụ như ‘thiết trai’.  Ý nghĩa của ‘thiết trai’ rất rộng, như tập tục hiện nay [những việc như] Phóng Diệm Khẩu, Mông Sơn Thí Thực, đều là thiết trai, đều nghĩa là mời quỷ thần dùng cơm; cũng như việc tu phước trên thế gian, [thiết trai cúng dường tăng chúng thì gọi là] “trai tăng”.  Thời xưa những nhà giàu có thiết trai cúng dường cả ngàn vị tăng.  Và tạo ra các thiện nhân khác, làm nhiều việc thiện hồi hướng cho người mất.  Người mất này có phải nhờ người nhà thân quyến làm công đức cho họ nên họ có được lợi ích?  Họ có thể được giải thoát không?  Chúng ta hãy coi lời khai thị của Địa Tạng Bồ Tát:

          Địa Tạng đáp ngôn, Trưởng Giả, ngã kim vị vị lai hiện tại nhất thiết chúng sanh, thừa Phật oai lực lược thuyết thị sự.

          Ðịa Tạng Bồ Tát đáp: “Này ông trưởng giả, nay tôi vì tất cả chúng sanh trong hiện tại cùng vị lai, nương oai lực của đức Phật mà lược nói về việc đó.

          Địa Tạng Bồ Tát đáp, xưng ‘trưởng giả’, đây là cung kính lẫn nhau.  Trưởng giả xưng Bồ Tát bằng ‘Đại Sĩ’, Bồ Tát xưng ông là ‘Trưởng Giả’.  Nhân vì ông đã hỏi, nay tôi vì ‘vị lai’, ‘vị lai’ là chỉ chúng ta, ‘hiện tại’ nghĩa là đương lúc đó, ‘nhất thiết chúng sanh thừa Phật oai lực, lược thuyết thị sự’.  ‘Thừa Phật oai lực’ câu này ‘tôn sư trọng đạo’, chẳng dám cho rằng tự mình có thể nói; Lý và Sự của chuyện này quá sâu, quá rộng, tôi làm sao có thể nói?  Nương nhờ oai thần gia trì của Phật nên mới có thể nói.  Thật ra Địa Tạng Bồ Tát đã thành Phật từ lâu rồi, nhưng hiện nay thị hiện làm thân Bồ Tát.  Vô lượng vô biên học sinh đều đã thành Phật, có lẽ nào thầy giáo còn chưa thành Phật!  Đây là tỏ rõ chư Phật Như Lai đại từ đại bi, hạ thấp dùng thân phận Bồ Tát để thuận tiện độ chúng sanh.  Chư vị cũng biết Phật pháp là sư đạo, chúng ta phải cung kính thầy giáo, phải đến nơi thầy giáo mà cầu học, chẳng thuận tiện bằng thân phận Bồ Tát.  Bồ Tát là bạn đồng học với chúng ta, ngài là học trò của Phật, chúng ta cũng là học trò của Phật, ngài là học sinh lớp trước, là lớp đàn anh của chúng ta, cùng thân phận, cho nên chúng ta không cần phải cầu xin, ngài có thể đến tìm chúng ta.  Chẳng có đạo lý thầy giáo đi tìm học trò, nhưng bạn đồng học có thể, làm vậy thì thuận tiện trong việc giáo huấn, ‘làm người bạn không mời của hết thảy chúng sanh’.  Chỉ cần quan sát thấy cơ duyên của chúng sanh chín muồi thì ngài sẽ chủ động đi đến, đây là điều thuận tiện của thân phận Bồ Tát trong việc giáo hóa chúng sanh.  Do đó Địa Tạng Bồ Tát vĩnh viễn ở tại địa vị Bồ Tát, nguyên nhân là như vậy.

          Trưởng giả, vị lai hiện tại chư chúng sanh đẳng, lâm mạng chung nhật đắc văn nhất Phật danh, nhất Bồ Tát danh, nhất Bích Chi Phật danh, bất vấn hữu tội vô tội giai đắc giải thoát.

          Này ông Trưởng Giả, các chúng sanh ở hiện tại hay vị lai, lúc sắp mạng chung mà nghe được danh hiệu của một đức Phật, danh hiệu của một vị Bồ Tát, danh hiệu của một vị Bích Chi Phật, thì bất luận là có tội hay không tội, thảy đều được giải thoát.

          Lợi ích này nói thật ra quá lớn, lớn vô cùng.  Chư vị nhất định phải biết, lúc lâm chung một niệm cuối cùng là mấu chốt quan trọng, đời sau sanh đến cõi nào là [quyết định] nơi một niệm cuối cùng này.  Nghiệp bạn đã tạo cả đời rất nhiều, huống chi còn đời quá khứ, nghiệp tích lũy nhiều đời, nhiều kiếp vô lượng vô biên.  Trong kinh đức Phật nói nếu nghiệp bạn đã tạo có thể tích, thể tích nhỏ như hạt bụi, những nghiệp đã tạo thì khắp cả hư không cũng chẳng dung chứa nổi.  Nghĩ lại đời quá khứ, nhiều đời nhiều kiếp trong vô lượng kiếp qua, ví dụ này của Phật chẳng quá đáng, may là tội nghiệp chẳng có thể tích, chẳng có hình tướng.  Nhưng nó lại có sức mạnh, sức mạnh này tạo nên luân hồi, biến thành những cảnh giới đau khổ.  Nhưng một người sanh vào cõi nào đích thật quyết định tại một niệm cuối cùng, đương nhiên trong hết thảy tâm niệm (niệm đầu) này, một niệm này mạnh nhất.  Trong kinh đức Phật nói nghiệp nhân của chúng ta nhiều vô lượng, cái nào mạnh thì dẫn đi trước, nghiệp nhân nào mạnh thì thọ báo trước.  Nếu không nghe được Phật pháp thì người ta trong một niệm cuối cùng lúc lâm chung sẽ nghĩ về cái gì?  Nếu họ nghĩ đến người nhà thân quyến, ân ái chẳng buông xả thì họ sẽ sanh đến cõi quỷ, do vì tâm tham nặng; nếu nghĩ đến kẻ thù còn chưa trả thù thì họ sẽ sanh vào địa ngục, do vì tâm sân khuể nặng; mê hoặc điên đảo, mơ mơ màng màng mà chết thì sẽ sanh vào cõi súc sanh; đây là [trường hợp] xảy ra nhiều nhất, phổ biến nhất.  Do đó giờ phút ấy là giờ phút quan trọng, nghe được danh hiệu Phật, nhất tâm nghĩ tưởng Phật, họ làm sao không giải thoát được?

          Nếu lúc lâm chung có thể nghe đến danh hiệu của đức Phật A Di Đà, người này cả đời chưa từng tiếp xúc đến Phật pháp, đến lúc lâm chung mới có người dạy họ niệm A Di Đà Phật.  Dạy họ niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, khi Phật đến tiếp dẫn thì đi theo đức Phật A Di Đà, họ bèn được vãng sanh.  Năm xưa ở thủ đô nước Mỹ, Hoa Thạnh Đốn (Washington DC), chuyện của ông Châu Quảng Đại là một thí dụ rất rõ ràng.  Ba ngày trước khi mất ông mới gặp được Phật pháp, người ta giảng cho ông nghe, ông bèn tin tưởng, tiếp nhận, niệm Phật được ba ngày thì được Phật tiếp dẫn vãng sanh.  Đây là [trường hợp] người nhà, thân quyến là thiện tri thức.  Gặp người dạy họ niệm danh hiệu Bồ Tát, danh hiệu Bích Chi Phật, cho dù không vãng sanh đến tây phương Cực Lạc thế giới thì nhất định sẽ được phước báo ở cõi trời, cõi người.  ‘Giải thoát’ tức là giải thoát từ ba cõi ác, sanh đến ba cõi thiện, đây là lời dạy trong nhà Phật.  Nếu họ có thể hiểu sự tiêu biểu pháp, ý nghĩa của danh hiệu Phật, Bồ Tát, thì công đức lợi ích họ đạt được càng thù thắng, họ đích thật có thể khế nhập vào cảnh giới.  Do đó chúng ta phải ghi nhớ việc này, khi tiễn đưa người sắp mất nhất định phải khuyên họ niệm Phật, nếu người nhà thân quyến đều có thể trợ niệm thì sẽ thù thắng vô cùng.

Niệm Phật hằng ngày đều là [chuẩn bị cho] một niệm cuối cùng lúc lâm chung, hy vọng lúc bình thường niệm Phật cho thật quen thuộc, lúc lâm chung mới không quên niệm Phật, lúc bình thường phải buông xuống hết vạn duyên thì lúc lâm chung mới không có chướng ngại.  Cái gì cũng phải buông xuống, thật sự đối với thế gian này chẳng có một tơ hào tham luyến thì sẽ được tự tại vãng sanh.  Chỉ cần có một mảy may tham luyến, nhiễm trước thì sẽ chướng ngại cho sự niệm Phật vãng sanh lúc lâm chung.  Tự chúng ta phải hiểu rõ ràng, rành rẽ, lúc lâm chung có thể gặp thiện tri thức hay không?  Có thể gặp được vài người giúp đỡ hay không?  Rất khó nói!  Do đó chúng ta biết được chuyện này thì thường ngày phải nên kết thiện duyên cho nhiều, phải tham gia trợ niệm cho nhiều.  Bạn có thể thường giúp đỡ trợ niệm cho người lâm chung là nhân, đến lúc chính mình lâm chung thì nhất định sẽ có người đến giúp bạn.  Lúc thường ngày bạn không chịu giúp đỡ người khác thì lúc lâm chung dứt khoát sẽ không có người giúp bạn, nhân duyên quả báo tơ hào chẳng sai.  Do đó lúc thường ngày phải trồng nhân lành thì bạn mới được quả lành, nhất định phải tin việc Địa Tạng Bồ Tát dạy ở đây.  Xin xem đoạn kinh kế tiếp, đây đều là lời của Địa Tạng Bồ Tát dạy:

Nhược hữu nam tử nữ nhân tại sanh bất tu thiện nhân, đa tạo chúng tội, mạng chung chi hậu quyến thuộc tiểu đại, vi tạo phước lợi nhất thiết thánh sự, thất phần chi trung nhi nãi hoạch nhất, lục phần công đức sanh giả tự lợi.

Nếu có người nam hoặc người nữ lúc sống không tu thiện nhân mà lại tạo nhiều nghiệp tội, sau khi mạng chung lại được hàng quyến thuộc vì người chết mà tu tạo phước lợi lớn nhỏ; thì tất cả Thánh sự, trong bảy phần công đức, người chết được một phần, còn sáu phần thuộc về người sống hiện lo tu tạo đó.

Nhất định phải hiểu đạo lý này.  Ngày nay chúng ta thấy người nhà quyến thuộc trên thế gian làm Phật sự giúp cho người mất, thông thường khi thỉnh người xuất gia thì nên thỉnh bảy người, tại sao?  Trong bảy phần công đức, người mất chỉ được một phần.  Tụng kinh phải tụng bảy bộ, việc này là từ kinh này nói.  Người mất chỉ hưởng được một phần bảy, còn người niệm kinh, niệm Phật được sáu phần bảy, đây là nói về tỷ lệ [của phước đức].  Người mất hưởng được lợi ích bao lớn đều dựa trên sự lợi ích của người nhà.  Nếu người tụng kinh khai ngộ chứng quả khi tụng kinh, ‘chứng quả’ tức là nhập cảnh giới trong kinh.  Các vị đại đức thời xưa dạy chúng ta lúc đọc kinh phải tùy văn nhập quán (quán tưởng theo lời kinh), mọi người phải nghe rõ ràng, không phải vừa đọc kinh vừa khởi vọng tưởng, vậy thì hoàn toàn sai lầm.  Chẳng phải vừa đọc kinh vừa nghĩ lời nói trong kinh có ý nghĩa gì, nếu đọc như vậy thì chẳng có ai được ích lợi gì cả, phải niệm cho thiết thật, thật thà.  Từ ‘Như thị ngã văn’ đến ‘tín thọ phụng hành’ (từ đầu đến cuối) chẳng có một vọng niệm nào cả thì mới có công đức.  Công đức này tức là tâm thanh tịnh, bạn tu tâm thanh tịnh, bạn tu Định thì họ được lợi ích.  Nếu có thể ‘nhập quán’, ‘quán’ chẳng dùng tâm ý thức, dùng tâm ý thức là tư tưởng, là vọng tưởng, chẳng phải ‘quán’; chẳng dùng tâm ý thức mà khế nhập vào cảnh giới ấy thì gọi là quán, đó là từ Định khai trí huệ.  Đọc bộ kinh này, cảnh giới trong kinh biến thành cảnh giới của mình, tự tha bất nhị (mình và người chẳng hai), sanh Phật nhất như (chúng sanh và Phật là một), nhập cảnh giới này.  Người mất đạt được lợi ích đó sẽ chẳng thể nghĩ bàn, họ đạt được công đức lợi ích thù thắng nhất.  Công đức lợi ích thù thắng nhất cũng chỉ có thể giúp cho họ sanh lên trời Đao Lợi, nhưng sẽ được phước báo to lớn ở trời Đao Lợi.

Nếu người mất này lúc còn sống là người niệm Phật, là người hiểu rõ Phật pháp, sau khi họ mất và nghe tụng kinh, rất có thể sẽ nhắc nhở họ niệm Phật vãng sanh Tịnh Độ, vậy thì họ nhất định sẽ được sanh Tịnh Độ.  Do đó hết thảy Phật sự siêu độ là nhằm tạo tăng thượng duyên cho người mất, sợ họ quên mất, cốt ý nhắc nhở họ.  Nếu lúc còn sống họ chưa tiếp xúc Phật pháp thì rất khó, hoàn toàn dựa trên phước báo thì họ chỉ có thể sanh đến trời Đao Lợi mà thôi.  Lợi ích lớn nhỏ chẳng bằng nhau, trong kinh nói rất rõ ràng, rành rẽ, chúng ta phải tự suy nghĩ tại sao sự siêu độ này họ được lợi ích.  Phía trước đã nói với chư vị rồi, nếu chẳng vì người ấy qua đời thì người nhà, thân quyến sẽ chẳng biết tu phước, sẽ chẳng được lợi ích thù thắng.  Vì duyên cớ này nên người nhà mới tu phước, lễ lạy sám hối, tụng kinh, lạy Phật, đây là người mất tạo tăng thượng duyên cho người nhà, là vì nguyên nhân như vậy nên người mất mới được một phần bảy phước báo.  Do đó phước người nhà quyến thuộc tu được càng lớn thì người mất được càng nhiều, đạo lý là như vậy.

Dĩ thị chi cố vị lai hiện tại thiện nam nữ đẳng, văn kiện tự tu, phần phần kỷ hoạch.

Thế nên, các thiện nam thiện nữ ở hiện tại và vị lai, nghe lời nói vừa rồi nên cố gắng tự tu hành, thì được hưởng trọn phần công đức.

Vì duyên cớ này nên Địa Tạng Bồ Tát nói ‘vị lai hiện tại thiện nam nữ đẳng văn kiện tự tu’, ‘kiện’ nghĩa là thân thể của bạn rất khỏe mạnh, ‘văn’ nghĩa là sáu căn rất thông minh.  Bạn hiểu rõ đạo lý này, biết được sự thật này, thừa lúc thân thể còn khỏe mạnh phải nên sốt sắng nỗ lực tự tu hành, sẽ được trọn phần phước báo, tự mình sẽ hưởng trọn.  Trong Chú Giải, Thanh Liên pháp sư trích dẫn một đoạn trong kinh Tùy Nguyện Vãng Sanh, chúng ta hãy đọc đoạn kinh này, đoạn này là do Phổ Quảng Bồ Tát nói.  Hàng thứ nhất trang 85 trong Kinh Tùy Nguyện Vãng Sanh:

Phổ Quảng Bồ Tát bạch Phật ngôn, nhược thiện nam nữ vị chung chi thời, nghịch tu sanh thất, nhiên đăng huyền phan, thỉnh tăng chuyển kinh (thỉnh xuất gia nhân niệm kinh), đắc phước đa phủ.  Phật ngôn kỳ phước vô lượng.  (Phổ Quảng Bồ Tát hỏi đức Phật: “Nếu người thiện nam, thiện nữ khi còn chưa chết, tu trước cho mình, thắp đèn treo phan, thỉnh người xuất gia niệm kinh, được phước nhiều không?”.  Đức Phật dạy: “Phước đó vô lượng”)

[Đoạn kinh vừa đọc trên đây] có thể ấn chứng cho kinh này.  Lại nói:

“Phụ mẫu thân tộc mạng chung thọ khổ, vị kỳ tu phước, đắc phước đa phủ” (Khi cha mẹ, thân quyến chết thọ khổ, [người nhà] vì họ tu phước sẽ được phước nhiều không?)

Đây là tu phước dùm cho người ta.

“Phật ngôn, thất phần hoạch nhất” (Phật dạy: “Được một phần bảy”). 

Trong bảy phần công đức, họ hưởng được một phần, nói giống kinh này.

Phía trước Phổ Quảng Bồ Tát hỏi ‘nghịch tu sanh thất’, nghĩa là lúc người còn chưa chết, nói chúng ta tự mình tu, mời pháp sư đến tụng kinh, ‘chuyển’ nghĩa là mời pháp sư đến tụng kinh, mời pháp sư giảng kinh cũng gọi là ‘chuyển kinh’.  Phần đông người ta khi còn sống chẳng biết làm Phật sự siêu độ cho mình trước, rất ít người như vậy.  Nhưng công đức thỉnh pháp sư giảng kinh này rất lớn, nếu có khả năng thì tự mình thỉnh thì công đức ấy bạn hưởng trọn; nếu tự mình không có khả năng thì cùng vài người đồng tham đạo hữu đi mời.  Mời pháp sư giảng một bộ kinh hoặc mời pháp sư giảng kinh một ngày thì công đức chẳng thể nghĩ bàn.  Bạn hãy nghĩ có người nào trong đời có dịp mời được pháp sư giảng kinh một lần?  Vô cùng hiếm hoi.  Giống như chúng tôi đi đến chỗ khác giảng kinh, chúng tôi thường đến Hương Cảng, qua đó giảng ba ngày.  Những đồng tu bên đó, rất nhiều người hợp lại mướn một giảng đường, mời một số bạn đồng tu tới nghe giảng, đây là việc nói trong kinh này.  Trong những tình huống như vậy, chúng ta là người hiểu biết [đạo lý này] thì đừng làm những buổi diễn giảng thông thường, buổi giảng thường thì công đức ít, phải giảng kinh.  Nếu mời chúng tôi giảng một, hai giờ đồng hồ, giảng một lần thì chúng tôi giảng kinh gì?  Có thể trích dẫn một đoạn trong kinh để giảng, như vậy cũng là giảng kinh.  Tôi không thể giảng toàn bộ kinh thì giảng đại ý của cả bộ kinh, hoặc trích một, hai đoạn trong kinh ra mà giảng, như vậy là [cách làm] của người hiểu biết, người trong ngành.

Lúc Hương Cảng được trao trả [cho Trung Quốc] được một năm, đồng tu bên đó mời tôi giảng kinh, thời gian chỉ có sáu ngày, mười hai giờ.  Chúng tôi cảm kích nhiệt tâm hộ pháp của họ, tôi giảng kinh Vô Lượng Thọ.  Giảng kinh Vô Lượng Thọ thì mười hai giờ làm sao giảng cho hết?  Chúng tôi trích lục ra một cuốn sách, cuốn này mọi người đều xem qua.  Trích ra mười sáu đoạn trong kinh Vô Lượng Thọ, mỗi đoạn đều là kinh văn, như vậy chính là ‘thỉnh tăng chuyển kinh’, là họ mời, hợp lại với nhau mà mời.  Chúng ta phải hiểu đạo lý này, biết mình nên làm như thế nào.  Đặc biệt là người nhà, thân quyến của mình, thấy họ cả đời chẳng làm việc gì tốt, họ mê hoặc điên đảo, người học Phật chúng ta hiểu rất rõ, có thể nhìn thấy tương lai của họ.  Làm sao giúp họ?  Giúp cách này tốt hơn bất cứ việc gì khác, [cách này là] mời pháp sư giảng kinh.  Chúng ta phát khởi, bắt đầu rồi mời họ lại tham gia thì họ sẽ được phước, dùng phương pháp này để tiếp dẫn họ, thế nên phương tiện khéo léo như vậy nhiều lắm.

Chúng ta coi đoạn kinh kế tiếp, ‘duyên tiền sanh bất tín đạo đức cố’, ‘duyên’ nghĩa là lúc còn sống họ không tin đạo đức.  Đoạn kế tiếp là ‘nhược dĩ vong giả nghiêm thân chi cụ’, ‘nghiêm thân chi cụ’ dùng cách nói bây giờ nghĩa là những thứ như vòng vàng, châu báu, đồ trang sức mà họ cất giữ, đó gọi là ‘nghiêm thân chi cụ’.  ‘Ốc trạch viên lâm’ là tài sản ruộng đất, ‘ốc trạch’ là nhà cửa, ‘viên lâm’ là đất đai.  ‘Dĩ thí Tam Bảo, khả bạt địa ngục chi khổ’.  Cho dù cả đời tạo tội cực nặng, trước lúc chết nếu có thể đem hết thảy tài sản của người đó cúng dường Tam Bảo, phước báo này có thể vượt trội tội nghiệp đọa địa ngục của người đó.  Nguyên nhân là gì?  Cúng dường Tam Bảo, mỗi ngày đều có những người xuất gia tu hành, người tại gia tu hành, mỗi ngày ở nơi đó tụng kinh, lễ sám, một phần bảy công đức này sẽ rất lớn, quá lớn!  Đạo lý là như vậy.  Nhưng ở đây phải hiểu rõ, trong Tam Bảo có thật và giả.  Đạo tràng Phật pháp chân chánh, đạo tràng Phật pháp chánh pháp mới có hiệu quả này.  Nếu không phải là chánh pháp, thế gian hiện nay giống như lời nói trong kinh Lăng Nghiêm ‘Tà sư thuyết pháp như cát sông Hằng’, có rất nhiều nơi là đạo tràng giả, Phật pháp giả, mượn danh nghĩa Phật pháp để làm những việc trái nghịch với lời dạy của đức Phật, làm vậy là tạo tội nghiệp.  Nếu bạn làm vậy (nghĩa là cúng dường Tam Bảo giả, đạo tràng giả) để bố thí cúng dường cho người mất thì sẽ giúp họ tạo tội nghiệp, thúc đẩy họ tạo tội nghiệp, phải đọa địa ngục càng đọa càng sâu, không những không thể thoát khỏi mà còn đọa sâu thêm, đây là việc chúng ta nhất định phải phân biệt rõ ràng.

Gần đây các bạn đồng tu ở Hương Cảng gọi điện thoại cho tôi, nói ở Hương Cảng có một vị pháp sư tám mươi mấy tuổi, ngài có một đạo tràng muốn hiến tặng cho người xuất gia.  Điều kiện của ngài là phải có năm người xuất gia, có năm tỳ kheo thì ngài mới chịu tặng, ngài ở Thuyên Loan, Hương Cảng.  Điều kiện này rất tốt, nhưng rất khó, sợ rằng đến khi ngài vãng sanh cũng chẳng tìm được năm vị tỳ kheo, đây là sự thật, rất khó tìm được!  Cách suy nghĩ này đúng đắn, nhưng khá khó khăn.  Do đó ở thời đại hiện nay, chúng ta phải biết tìm không ra năm tỳ kheo, cho dù là cư sĩ tại gia, là Phật giáo đồ có chánh tín làm việc hoằng pháp lợi sanh thì cũng là việc tốt.  Thật sự là hoằng pháp lợi sanh, hoặc dùng là đạo tràng tu học cho mình, làm đạo tràng tu hành niệm Phật, đạo tràng lưu thông Phật pháp, đó là công đức chân thật.  Xin xem đoạn kinh kế tiếp:

Vô thường đại quỷ, bất kỳ nhi đáo, minh minh du thần vị tri tội phước, thất thất nhật nội như si, như lung.

Ðại quỷ Vô Thường không hẹn mà đến, thần hồn mù mịt, chưa rõ là tội hay phước, trong bốn mươi chín ngày như ngây như điếc.

 Ở đây Bồ Tát nói với chúng ta trạng huống của người sau khi chết.  Thế Tôn trong kinh điển thường nhắc chúng ta ‘Cõi nước mong manh, mạng người vô thường’, đây là lời Phật dạy chúng ta về chân tướng của cuộc đời.  Dạy chúng ta luôn luôn đề cao cảnh giác, phải có tâm cảnh giác cao độ, tuyệt đối đừng nghĩ rằng mình còn trẻ tuổi, thọ mạng của mình còn lâu dài, nghĩ vậy là sai rồi.  Người xưa thường nói: ‘Trên đường đến suối vàng chẳng phân biệt già trẻ, phần mộ trơ trọi đều là của thiếu niên’ [1], chẳng có ai cúng tế, còn trẻ đã chết mất, chẳng có gia đình, chẳng có con cái, đều biến thành phần mộ cô độc, chúng ta nhất định phải đề cao cảnh giác.  ‘Vô thường đại quỷ, bất kỳ nhi đáo’ câu này nói đời người vô thường, bất cứ lúc nào đều có thể chết, bạn cũng chẳng có cách chi để dự đoán nhân duyên gì mình sẽ chết.  Đặc biệt là sanh vào thế gian hiện nay của chúng ta, tai nạn biến đổi quá nhiều, quá nhiều; bạn coi thử trên toàn thế giới chỗ nào cũng có tai nạn, có thủy tai; miền đông nước Mỹ hiện nay có gió lốc (phong tai), tin tức hôm qua nói có hơn năm mươi mấy vạn người bị ảnh hưởng, gió lốc rất lớn; còn động đất thì chẳng có cách chi để biết trước, chẳng hẹn mà đến.  Cho nên tâm của người học Phật hiểu rất rõ ràng, rất rành rẽ, cho dù những tai nạn này xảy ra thì cũng không sợ hãi.  Điều này vô cùng quan trọng!  Khi tai nạn xảy ra lại kinh hoàng, sợ hãi thì hỏng hết, kinh hoàng sợ hãi sẽ rơi vào tam ác đạo.

Hôm trước cư sĩ Lý Mộc Nguyên báo cáo với mọi người, ông đi tiễn đưa những người vãng sanh, sau đó ông giúp họ tắm rửa, nhập liệm.  Thân thể của một số người thì mềm mại, đại khái phần lớn những người niệm Phật vãng sanh thân thể đều mềm mại, đây là tướng tốt.  Ngược lại có một số người thân thể cứng đờ, nguyên nhân là gì?  [Khi chết mà] kinh hoàng sợ hãi thì thân thể sẽ cứng ngắc.  Khi chết rất tự tại, chẳng sợ hãi thì thân thể của họ sẽ mềm mại.  Do đó chúng ta có thể nhìn những người đã mất thì biết tình huống lúc họ ra đi, nếu họ ra đi một cách êm đềm thì chắc chắn sẽ chẳng sanh vào ác đạo.  Khi ra đi họ rất thoải mái, rất an tường, rất sáng suốt, tinh thần trí óc sáng suốt thì chắc chắn sẽ không đọa ác đạo, lúc đó niệm Phật nhất định sẽ vãng sanh, thế nên khi tiễn đưa người vãng sanh có thể thấy được những tướng lành này, đạo lý là như vậy.  Nếu không tin Phật pháp, chẳng gặp thiện tri thức [thì họ chẳng có phước];  lúc lâm chung có thể gặp thiện tri thức là đại phước báo, lúc ấy nếu có người nhắc nhở họ, giúp họ, dẫn dắt họ niệm Phật, cho dù cả đời có tạo ác nghiệp nặng cũng không sợ, [nếu họ tin tưởng, buông xuống vạn duyên, và thiết tha niệm Phật thì họ] có thể vãng sanh, đó gọi là đới nghiệp vãng sanh; chỉ sợ là lúc đó chẳng có người giúp họ, mà ngược lại quấy rối họ, người nhà khóc lóc, náo động thì sẽ hỏng mất, đó là chướng ngại to lớn.  Bốn câu sau nói về trạng huống của họ: ‘minh minh du thần’, đây tức là hồn phách của họ, trong Phật pháp gọi là A Lại Da Thức, người thế tục gọi là linh hồn.  ‘Du thần’ tức là linh hồn, nhà Phật gọi là ‘du thần’ rất đúng.  Gọi bằng linh hồn là cách gọi tâng bốc, tại sao?  [Linh hồn] nhất định chẳng ‘linh’, nếu nó ‘linh’ thì làm sao có thể rơi vào tam ác đạo được?  Nó rơi vào tam ác đạo, do đó có thể biết nó chẳng ‘linh’.  Lời của Khổng Lão Phu Tử nói trong Kinh Dịch rất có lý, ngài gọi linh hồn bằng ‘du hồn’, ở đây chúng ta gọi là ‘du thần’, gọi như vậy rất có lý.  Vì tốc độ của nó rất nhanh, trôi giạt chẳng định, đích thật là du hồn.  Trong Kinh Dịch nói ‘du hồn vi biến’, ‘biến’ nghĩa là người đó đi đầu thai, đi đổi một thân thể khác, ‘minh minh du thần’. ‘Vị tri tội phước’ lúc đó thật sự ‘như si như lung’, ngu dốt đần độn, trong bốn mươi chín ngày là trong trạng huống như vậy, chúng ta gọi là thân Trung Ấm, do đó thân Trung Ấm đều mê hoặc, ngu đần.

Hoặc tại chư ty, biện luận nghiệp quả, thẩm định chi hậu, cư báo thọ sanh.  Vị trắc chi gian, thiên vạn sầu khổ, hà huống đọa ư chư ác thú đẳng.

Hoặc ở tại các ty sở để biện luận về nghiệp quả, sau khi thẩm định xong thì cứ y theo nghiệp mà thọ sanh. Trong lúc chưa biết ra sao đó thì đã ngàn muôn sầu khổ, huống là phải bị đọa vào các ác đạo!

‘Hoặc tại chư ty’ đây là cõi quỷ, những cơ quan làm việc trong cõi ngạ quỷ, biện luận trong những pháp đình đó, có người nói họ tạo bao nhiêu tội nghiệp, họ chẳng nhìn nhận nên phải ở đó biện luận.  Người thế gian có khi quên mất những tội nghiệp mà mình đã tạo, có khi cố ý không nhìn nhận.  Nhưng ở cõi âm, quỷ thần có sổ sách ghi chép, có câu nói rất đúng ‘ngẩng đầu ba thước có thần linh’[2].  Trong kinh đức Phật nói khi một người sanh ra liền có hai vị thần theo sát bên mình, một thần gọi là ‘Đồng Sanh’, một thần gọi là ‘Đồng Danh’, hết thảy những hạnh nghiệp mà bạn đã tạo, họ đều ghi chép lại.  Đến lúc lâm chung nếu gặp vua Diêm La, những hồ sơ ở chỗ vua Diêm La rất đầy đủ, từng ly từng tí trong đời bạn đều chẳng chối cãi gì được, thế nên phải đến đó để biện luận.  Sau khi phán định thì sẽ ‘cư nghiệp thọ sanh’, bạn đến cõi nào đầu thai thì phải đi thôi.  Trong kinh Địa Tạng nói rất rõ ràng, vua Diêm La có quyền tăng thêm tội của bạn không?  Hoặc là xá miễn tội của bạn không?  Chẳng có quyền lực, ngài rất công bằng, chánh trực, y theo những gì bạn đã tạo mà phân phát, ngài chẳng có quyền lực tăng thêm tội, và cũng chẳng có quyền ân xá cho bạn; nếu nói ngài tăng thêm hoặc ân xá tội của bạn thì ngài phạm pháp.  Do đó tiền đồ cả đời của mình đích thật là do chính mình nắm lấy, chẳng phải do họ chủ tể, [chúng ta] nhất định phải biết việc này.

Đến lúc đó người chết ở âm ty gánh chịu những sự phán xử này, lúc còn chưa định án thì họ rất buồn khổ, ‘thiên vạn sầu khổ’, đó là lúc chưa định án.  Sau khi phán xử xong nếu là ác nghiệp nặng thì chắc chắn phải đi vào tam ác đạo thọ sanh.  Thọ sanh trong tam ác đạo cũng có nghiệp duyên, trong cõi súc sanh tìm cha mẹ, cha mẹ ấy trong đời trước đều có duyên phận với họ; trong cõi ngạ quỷ và địa ngục thì phần nhiều là hóa sanh, trong cõi ngạ quỷ cũng có thai, noãn, thấp, hóa sanh, trong địa ngục thì hoàn toàn là hóa sanh.  Nếu chẳng là hóa sanh, mà là thai sanh, là noãn sanh thì nhất định phải tìm cha mẹ.  Đức Phật đã dạy rất rõ ràng, duyên này nói chung chẳng ra ngoài bốn thứ: ‘báo ân, báo oán, trả nợ, đòi nợ’, nếu không giác ngộ thì nhiều đời, nhiều kiếp phải làm những việc như vậy.  Sau khi giác ngộ rồi thì sẽ khác, sau khi giác ngộ thì trong vòng một niệm, chuyển nghiệp lực thành nguyện lực, chuyển nghiệp báo thành thị hiện.  Chư Phật, Bồ Tát thị hiện ở cõi người, nên dùng thân gì để độ thì hiện thân ấy.  Cho nên chuyển cảnh giới thật sự là ở trong vòng một niệm, một niệm này của chúng ta có thể chuyển trở lại hay không?  Nói trên lý luận thì tuyệt đối có thể, trên sự tướng thì phải coi trình độ giác ngộ của bạn.  Nếu bạn thật sự đã giác ngộ thì sẽ chuyển trở lại rất dễ dàng.

Làm sao biết mà chuyển trở lại?  Người chuyển trở lại tuyệt đối chẳng có ‘tự kỷ’, nếu còn có ‘Ta’ thì dứt khoát chưa chuyển.  Vì bạn còn ngã chấp, đó là phàm phu, chẳng phải Phật, Bồ Tát; Phật, Bồ Tát chẳng có Ta.  Nếu dùng tiêu chuẩn kinh Kim Cang thì chư vị sẽ dễ hiểu ‘Chẳng có tướng tôi, chẳng có tướng người, chẳng có tướng chúng sanh, chẳng có tướng thọ giả’ thì bạn đã chuyển trở lại rồi.  Nếu bạn vẫn còn bốn tướng trên thì bạn còn chưa chuyển.  Có muốn chuyển cách mấy, có nỗ lực cách mấy để chuyển thì cũng chẳng chuyển nổi, tại sao?  Vì bạn còn ‘tưởng’, còn ‘niệm’, ‘tưởng’ là vọng tưởng, bạn có phân biệt, có chấp trước thì bạn sẽ chẳng chuyển nổi.  Do đó chân chánh muốn chuyển trở lại thì phải buông xuống hết vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, khởi tâm động niệm đều nghĩ đến hết thảy chúng sanh thì bạn sẽ chuyển trở lại.  Thân này của chúng ta có được từ cha mẹ, là thân nghiệp báo, một khi chuyển trở lại liền thành hóa thân thị hiện, nhất định chẳng có sanh tử, chẳng có phiền não, tuyệt đối chẳng có nhân ngã, thị phi, đó tức là bạn đã chuyển trở lại.  Khi thật sự chuyển xong, thì đời sống, công việc đều giống như bình thường chẳng thay đổi gì hết, chỉ có trong tâm thay đổi.  Lúc trước là vì mình, hoặc vì gia đình, hoặc vì đoàn thể [của mình], hiện nay thì vì tận hư không, trọn khắp pháp giới, chẳng khác gì với sự thị hiện của chư Phật, Bồ Tát.  Như vậy thì gọi là siêu phàm nhập thánh, thật sự liễu sanh tử, xuất tam giới, nhập cảnh giới của Phật, Bồ Tát.  Chúng ta học Phật phải có thể khế nhập  vào cảnh giới này thì mới là thành tựu rốt ráo.  Muốn nói đến phương pháp dụng công, nói thật ra chính là ‘nhìn thấu, buông xuống’, thật sự nhìn thấu, thật sự buông xuống mới được.  Đoạn kinh văn này pháp sư Thanh Liên chú giải tương đối phong phú, quý vị có thể tham khảo.  Xin xem tiếp kinh văn:

Thị mạng chung nhân vị đắc thọ sanh, tại thất thất nhật nội, niệm niệm chi gian vọng chư cốt nhục quyến thuộc, dữ tạo phước lực cứu bạt.

Khi người chết đó chưa được thọ sanh, trong bốn mươi chín ngày luôn luôn trông ngóng hàng cốt nhục quyến thuộc tu tạo phước lực để cứu vớt cho.

Đây là sự thật, khi còn sống thì không biết, chết đi gặp phải khổ nạn nên lúc bấy giờ không nơi nương tựa, đích thật là khổ sở, cô độc lẻ loi.  Hy vọng duy nhất của họ là mong người nhà có thể làm phước cho họ, có thể siêu độ họ.  Nhưng rất nhiều thân quyến chẳng hiểu đạo lý này, tùy thuận theo tập tục thế gian sát sanh tế lễ quỷ thần như nói ở trên, cầu tà đạo, ‘võng lượng’ tức là tà đạo, không những chẳng ích lợi mà còn hại thêm.  Đây là vì người thế gian vô tri, chẳng có ai chỉ dẫn, chúng ta nói đến sự đáng thương, nói đến sự thê thảm thì không ai hơn họ, còn nặng nề hơn lúc họ chịu khổ nạn lớn lao khi còn sống, chẳng biết lớn hơn gấp bao nhiêu lần.  Sự tội phước nói trong kinh đích thật chính là thập thiện, thập ác, chúng ta đừng nói quá cao, quá huyền diệu, chỉ đơn giản dùng ngũ giới, thập thiện để làm tiêu chuẩn.  Phá giới tạo ác là tội nghiệp vô biên; trì giới tu phước, tu phước nghĩa là sốt sắng làm theo thập thiện, đây là điều căn bản lớn lao để làm người.  Con người sau khi chết đi rồi, những người khác có thể nhờ cậy để giúp đỡ được, chẳng biết được mấy kẻ? Đặc biệt trong thời đại hiện tại, những thành phần trông cậy được càng ngày càng thấp, người trong xã hội hiện thời cho đó là mê tín.  Chúng ta xem thử những người trẻ tuổi hiện nay, nếu không có người dạy dỗ họ đàng hoàng, thì sẽ còn ai tin nữa?  Nói cách khác, sau khi chết đi và gặp những sự khổ nạn này thì bạn phải dựa vào ai để giúp bạn?  Chẳng có ai giúp hết.  Sự thật này là một vấn đề thiết thật đối với chúng ta, hơn nữa vừa nghĩ đến thì liền là việc ở trước mắt, rất gần với thời gian của chúng ta.  Ở đây đức Phật dạy chúng ta, nhắc nhở chúng ta, thừa lúc thân thể hiện nay còn khoẻ mạnh, nhất định phải hết lòng, nỗ lực tu học, thì công đức, phước đức này mình được trọn.  Đây là y cứ trong kinh điển cho việc cúng thất cho người chết.

Quá thị nhật hậu, tùy nghiệp thọ báo

Qua khỏi những ngày ấy rồi thì cứ theo nghiệp mà thọ báo.

‘Thị nhật’ tức là [thời gian trong khoảng] bảy thất, tức bốn mươi chín ngày.  Phần nhiều thì trong vòng 49 ngày đều chuyển thế, đều không biết luân hồi đến cõi nào.  Cũng có số ít người trong bảy thất này chưa đi đầu thai, thậm chí đến vài năm, vài chục năm cũng chưa đầu thai, cũng ở trong trạng thái Trung Ấm.  Đây là những hạng người nào?  Là người vô cùng chấp trước, họ không đi đầu thai.  Người vô cùng chấp trước thân thể, chúng ta thường gọi là ‘quỷ giữ thây ma’, họ chẳng đi đầu thai, chẳng nỡ xa lìa thân thể.  Hơn phân nửa loại quỷ này là gì?  Họ ở trong mồ mả.  Ngoài ra còn những người chẳng nỡ xả bỏ căn nhà của họ, họ cũng không đi đầu thai nên căn nhà ấy trở thành nhà có quỷ.  Có trường hợp như vậy nhưng rất ít, phần nhiều đều tùy theo nghiệp mà đi thọ báo hết, chấp trước nhẹ thì đều tùy theo nghiệp mà đi thọ báo.

Nhược thị tội nhân, động kinh thiên bá tuế trung, vô giải thoát nhật.

Nếu là tội nhân thì phải trải qua trong trăm ngàn năm, không có ngày được giải thoát;

Thời gian chúng ta sống ở thế gian rất ngắn ngủi, rất ít người có thể sống đến một trăm tuổi, quá ít.  Những tội nghiệp [bạn] tạo trong thời gian ngắn này quá đủ [cho bạn] chịu, khi bạn thọ báo thì ‘trong trăm ngàn năm, chẳng có ngày thoát ra’, bạn phải thọ quả báo này.  Đây là nói về cái gì?  Bạn ở cõi ngạ quỷ, cõi súc sanh, thọ báo trong cõi súc sanh đừng tưởng là thọ mạng của nó rất ngắn, súc sanh ngu si, chấp trước, nên rất khó thoát nổi thân hình của chúng.  Trong kinh đức Phật đã từng nói, năm xưa có ổ kiến ở vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc, đức Phật nói với mọi người ổ kiến đó trải qua bảy vị Phật ra đời, những con kiến trong đó còn chưa thoát thân loài kiến.  Chẳng phải thọ mạng của loài kiến rất dài, sau khi nó chết đi lại đầu thai làm kiến trong ổ đó, vì nó chấp trước ổ kiến tức là nhà của nó, chấp trước thân hình ấy chính là nó, sau khi chết vẫn trở lại làm kiến.  Thông thường chúng ta nói một vị Phật ra đời là ba A Tăng Kỳ kiếp, bảy vị Phật tức là hai mươi mốt A Tăng Kỳ kiếp, nó vẫn không thể thoát khỏi thân loài kiến, bạn nói như vậy chịu sao nổi!  Thế nên đây là một chuyện rất dễ sợ.

Những chuyện ngu ngốc này, nói thật ra mỗi người trong chúng ta đều đã làm qua, chẳng phải chỉ làm một lần, vô lượng kiếp đến nay không biết đã làm bao nhiêu lần.  Hiện nay trong đời này gặp được Phật pháp, được đọc kinh điển, nghe được lời khai thị của đức Phật, hiểu rõ rồi.  Có phải đã hiểu thật sự rồi chăng?  Hiểu thật sự thì từ hôm nay trở đi nhất định không làm việc ngu si này nữa.  Nếu còn muốn tạo mười nghiệp ác, còn muốn huỷ phạm ngũ giới thì bạn cũng chưa hiểu rõ, bạn chưa hiểu thật sự.  Người hiểu thật sự sẽ chẳng tạo nữa, trong đời này hạ quyết tâm vĩnh viễn thoát ly luân hồi.  Không những nói thân thể đời này là thân sau cùng, trong lục đạo luân hồi đầu thai thành thân này là thân sau cùng, còn tiến thêm một bước lập tức biến thân này thành ứng hóa thân, chuyển đổi nghiệp báo của chúng ta thành sự thị hiện.  Đây là sự học Phật của bạn thật sự đạt được công phu, bạn thật sự có thành tựu, bạn đạt được lợi ích viên mãn.

Năm xưa tiên sinh Phương Đông Mỹ nói “Học Phật là sự hưởng thọ tối cao trong đời người”, có lẽ sự hưởng thọ tối cao đó còn chưa đạt đến cảnh giới cao tột này, đích thật ngay trong đời này chuyển phàm thành thánh.  Thầy Lý thường dạy chúng ta phải “sửa đổi tâm lý”, sửa đổi tâm phàm phu, tâm luân hồi của chúng ta thành tâm Bồ Tát, thành tâm Phật.  Tâm luân hồi tức là mười nghiệp ác.  Còn mười nghiệp thiện [tức là không làm mười nghiệp ác]; tâm Bồ Tát tức là tâm Thanh Tịnh, Bình Đẳng, Giác, dùng tâm Thanh Tịnh, Bình Đẳng, Giác để hành Lục Độ Ba La Mật.  Chư vị phải biết Thanh Tịnh, Bình Đẳng, Giác và hành Lục Độ Ba La Mật tức là Phổ Hiền Mười Đại Nguyện Vương, đây chính là một chuyển biến to lớn.  Câu tiếp theo:

Nhược thị Ngũ Vô Gián tội đọa đại địa ngục thiên kiếp, vạn kiếp vĩnh thọ chúng khổ.

Nếu là tội Ngũ Vô Gián thì phải đọa vào đại địa ngục, chịu những sự đau khổ trong ngàn kiếp, muôn kiếp.

Đây là sự thật, trong xã hội ngày nay tạo năm tội Vô Gián rất dễ dàng.  Người thời cổ đều coi trọng giáo dục, tuy trường học chẳng nhiều, hình như giáo dục chẳng phát triển như hiện nay, đây là cái nhìn từ hình tướng của nhiều người, thật ra hình tướng cũng chẳng thấy rõ ràng.  Người đời xưa coi trọng giáo dục hơn người bây giờ, người không biết chữ cũng coi trọng giáo dục, chẳng giống ngày nay, hiện nay nói thật ra có rất nhiều trường học, rất nhiều trường đại học, viện nghiên cứu, [nhưng mọi người đều] bỏ quên giáo dục.  Người xưa thường nghĩ đến tương lai, đều biết có đời sau nên thường nghĩ tưởng cho đời sau, biết phải tích đức, phải làm việc thiện.  Người hiện nay không hiểu đạo lý này, hành động của người hiện đại tự tư tự lợi, chỉ nghĩ cho mình, chẳng nghĩ đến kẻ khác, cho nên hành vi đều là làm những việc lợi ích cho mình, tổn hại người khác, đây là tư tưởng của người hiện đại.  Nhưng tổn hại người khác thật sự có đem lại lợi ích cho mình không?  Lợi cho mình ở đây tức là ví dụ “liếm mật trên lưỡi dao” trong kinh Phật, cứ tưởng mình có được lợi ích, thật ra tự mình tạo nên năm tội Vô Gián.  Lợi ích bạn có được trong đời này có thể hưởng được mấy ngày?  Bạn có thể hưởng được những gì?  Nói thật ra, một thứ gì cũng không hưởng được.

Bạn nói bạn được tiền tài, của cải, tiền tài này ở đâu?  Trên thân một cắc cũng không có, những con số này rất trống rỗng, trừu tượng.  Tài sản đất đai của bạn càng nhiều, chỗ bạn đứng đó chiếm diện tích không tới một bộ [vuông], cái giường bạn ngủ ban đêm cũng chỉ là cái giường sáu bộ (cỡ một mét tám) mà thôi, bạn đạt được cái gì?  Những gì bạn đạt được chính là vô lượng vô biên tội nghiệp, bạn đạt được có bấy nhiêu thôi.  Những tội nghiệp này tương lai sẽ phải đọa vào địa ngục Ngũ Vô Gián để thọ báo, việc bạn làm chính là như vậy.  Chư vị hãy thử nghĩ xem như vậy đâu phải là giáo dục?  Đó chính là tà thuyết, là hố lửa, là âm mưu, hiện nay chẳng phải là giáo dục, giáo dục hiện nay đã chẳng tồn tại nữa.  Giáo dục thời xưa ở Trung Quốc dạy luân lý đạo đức, khi bạn hiểu rồi, có thể thực hiện thì sẽ chẳng mất phước báo nhân thiên, đời sau còn có thể hưởng thọ phước báo nhân thiên, tuyệt đối sẽ chẳng đọa địa ngục, đó mới là giáo dục.  Giáo dục nhà Phật còn thù thắng hơn nữa, giúp bạn siêu việt lục đạo, thoát khỏi luân hồi, giúp bạn làm Phật, làm Bồ Tát.  Làm Phật, làm Bồ Tát là khôi phục tánh đức viên mãn của mình, không gian sanh hoạt của chúng ta sẽ là tận hư không, trọn cả pháp giới, cả hư không pháp giới đều là chính mình, bạn sẽ thật sự đạt được.  Nếu bạn không giác ngộ, thì một phân một hào bạn cũng chẳng đạt được, nếu bạn thật sự giác ngộ thì tận hư không, trọn khắp pháp giới bạn sẽ đạt được hoàn toàn, như vậy thì làm sao giống nhau được?  Xin xem tiếp:

Phục thứ trưởng giả, như thị tội nghiệp chúng sanh, mạng chung chi hậu, quyến thuộc cốt nhục, vị tu doanh trai, tư trợ đạo nghiệp.  Vị trai thực cánh, cập doanh trai chi thứ, mễ cam thái diệp bất khí ư địa, nãi chí chư thực vị hiến Phật Tăng, vật đắc tiên thực.

Lại nữa, này ông Trưởng Giả, sau khi những chúng sanh gây nghiệp tội như thế mạng chung, hàng cốt nhục quyến thuộc vì họ mà làm chay cúng dường để trợ giúp nghiệp đạo, thì khi thức ăn chưa làm xong cùng trong lúc đang làm, chớ có đem nước gạo, lá rau đổ vung vãi nơi đất, cho đến các thứ đồ ăn chưa dâng cúng cho Phật và chư Tăng thì chẳng được ăn trước.

Ðây là nói rõ thân quyến, người nhà tu phước cho người mất, nêu ra một thí dụ.  Trong thí dụ này, chư vị nhất định phải hiểu tinh thần của nó là gì.  Tại sao họ lại được phước?  [Ðược phước hay không] đều ở hai chữ ‘thành kính’.  Nếu chẳng có tâm thành kính thì làm theo phương pháp này cũng chẳng đạt được.  Chí thành cung kính, chẳng có gì khác, tâm thành kính là tánh đức, tâm thành kính là chánh giác.  Do đó quý vị nên biết chẳng thành chẳng kính là tướng mê hoặc, đó là nghiệp chướng.  Thành kính là giác ngộ, là tánh đức tỏ lộ, là Bát Nhã phóng quang.  Ở đây nêu một thí dụ, nêu ‘doanh trai’, ‘doanh’ là kinh doanh (lo liệu, chuẩn bị), là doanh tạo (lo liệu, nấu nướng), tức là bạn ‘biện trai [3]’.  Ðây là trong nhà Phật thường gọi là cúng ngọ, cúng bữa trưa, đó tức là ‘doanh trai’.  Doanh trai bạn phải chú ý ‘vị trai thực cánh, cập doanh trai chi thứ’, lúc bạn nấu những món ăn để cúng này, lúc cúng cơm phải có tâm cung kính.  ‘Mễ cam thái diệp bất khí ư địa’, đây là vật đáng kính.  Mễ cam là gì?  Là nước vo gạo.  Cơm này là dùng để cúng ngọ, cúng dường chư Phật, cúng dường quỷ thần, đối với các ngài có kính trọng như vậy.  Việc cúng ngọ này chưa làm xong, nước vo gạo cũng không được tuỳ tiện đổ xuống đất, chân thành cung kính đến mức độ như vậy.  Phải đợi đến lúc cúng ngọ xong thì mới xử lý những vật phế thải này.  ‘Mễ cam thái diệp’ đều là những vật không còn dùng nữa, đây là việc rất ít người nấu thức ăn để cúng dường biết đến, những rau cải lặt xong bèn vứt bỏ, huống chi là nước vo gạo?

 ‘Nãi chí chư thực vị hiến Phật Tăng vật đắc tiên thực’, ‘tiên thực’ là gì? nếm thử mùi vị, trong nhà bếp bạn nấu nướng rồi nếm mùi vị.  Ðó là gì?  Bạn ăn xong rồi mới cúng Phật, vậy là đại bất kính.  Ðây là lỗi nhiều người thường phạm, chẳng biết, chẳng hay, không thể làm như vậy được.  Trên điểm này, người Trung Quốc chúng ta chẳng bằng người ngoại quốc, những đầu bếp ngoại quốc tuyệt đối chẳng thử mùi vị, tại sao?  Ðồ ăn chẳng có vị thì họ nếm cái gì?  Ðồ ăn ngoại quốc lạt và không có vị, chẳng có vị.  Các chai nhỏ đựng vật liệu nấu ăn đều để trước mặt, bạn tự pha chế.  Bạn đi ra ngoại quốc ăn đồ ăn, thức ăn đều là thức luộc, chẳng có mùi vị gì hết.  Nhưng những chai đựng gia vị đều để ở một chỗ, bạn tự pha chế, tự nếm, như vậy rất có lý.  Khẩu vị của mỗi người đều khác nhau, người kia muốn có mùi vị ngon, bạn phải chịu sự chi phối của họ, tự mình pha nếm mùi vị là quyền của tôi, tôi thích ăn vị nồng một chút hoặc lạt một chút, tôi có quyền.  Người ta làm sẵn cho bạn thì bạn chẳng có cách gì để lựa chọn, chỉ còn cách là nghe lời sắp đặt của họ.  Thế nên điểm này tôi cảm thấy ngoại quốc tốt hơn Trung Quốc.  Những món cải của họ đều là cải luộc, dầu muối gì cũng chẳng có.  Ở Trung Quốc thời xưa khi tế lễ cũng làm như vậy, cũng chẳng nêm mùi vị, đó thật sự là tâm cung kính.  Yêu cầu đối với thức ăn thì phải hiểu đạo lý này.

Như hữu vi thực, cập bất tinh cần, thị mạng chung nhân, liễu bất đắc lực.

Nếu ăn trái phép và không được tinh sạch kỹ lưỡng, thì người chết đó trọn không được trợ lực nào cả.

Những sự cúng dường này của bạn, người mất chẳng được mảy may.  ‘Vi thực’ là gì?  Chưa cúng dường Phật, Tăng mà bạn ăn trước, bạn lấy đồ ăn thừa đem cho người khác, đừng nói đối với Phật, Bồ Tát, [chỉ riêng] đối với quỷ thần, đối với người ta đã là không cung kính rồi.  Hoặc là ‘bất tinh cần’, tức là bạn không sốt sắng làm công việc này, chẳng có thành tâm, chẳng có tâm cung kính để làm công việc này, người chết ấy cũng sẽ chẳng đắc lực, chẳng nhận được sự giúp đỡ của bạn.  Nếu chúng ta cúng ngọ (cúng Phật bữa trưa), nếu có vi phạm thì đó thật là có tội với Phật, Bồ Tát.  Nhưng Phật, Bồ Tát đại từ, đại bi, dứt khoát sẽ chẳng trách bạn, [tuy] Phật, Bồ Tát không trách bạn, nhưng thần hộ pháp chán ghét bạn, thần hộ pháp là phàm phu, họ chẳng phải là Phật, Bồ Tát, người ‘gây ra rắc rối’ đều là thần hộ pháp.  Nếu bạn làm rất đúng như pháp, rất cung kính thì thần hộ pháp cũng cung kính bạn; nếu bạn làm chẳng đúng như pháp thì thần hộ pháp chán bỏ bạn, chúng ta phải hiểu đạo lý này.  Lúc bình thường khi chúng ta giảng kinh chẳng phải chư vị cũng phải thông đạt tình lý, nhìn thấy người khác [không làm đúng như pháp] thì cũng đừng nói, nói ra thì mắc lỗi với người khác, ai chịu nghe bạn?  Người thế gian đều là như vậy, họ cảm thấy họ chẳng làm sai, khi bạn muốn nói họ [làm sai], họ còn nói bạn nhiều chuyện, chúng ta gây xích mích với người ta làm chi!  Giảng kinh là Phật trong kinh giảng, họ nghe xong chẳng có lời gì để nói.  Là Phật nói, chẳng phải tôi nói, tôi chẳng có gây phiền phức gì cho bạn, Phật dạy chúng ta làm như vây.  Thế nên chúng ta đọc kinh, nghe kinh phải nên giác ngộ, phải biết tự mình làm thế nào để cải tiến, cải tiến tức là tu hành, tu sửa hành vi sai lầm của chúng ta.  Câu kế tiếp:

Như tinh cần hộ tịnh.

Nếu có thể kỹ lưỡng giữ gìn tinh sạch

Chúng ta dùng tâm chân thành, cung kính để làm, ‘biện Trai’ đúng như lý, như pháp, mỗi ngày lo việc ăn uống tức là ‘biện Trai’.  Ý nghĩa thật sự của ‘Trai’ tức là ăn một bữa giữa ngày, hiện nay chúng ta mỗi ngày ăn ba bữa, ba bữa còn không đủ, ban đêm còn ăn ‘tiêu dạ’ (bữa ăn khuya), còn ăn thêm mấy món điểm tâm, mỗi ngày ăn bảy, tám lần, nói thật ra như vậy là quá đáng.  Nhưng nếu [bạn] chịu thật thà niệm Phật thì thần hộ pháp cũng tha thứ cho bạn, thần hộ pháp mắt nhắm, mắt mở, bạn chịu niệm Phật thì kể là khá lắm rồi.  Nếu còn chẳng chịu niệm Phật nữa thì thần hộ pháp sẽ trừng phạt.  Chúng ta nhất định phải hiểu đạo lý này, tu hành đúng như lý như pháp, thật sự sẽ được chư Phật hộ niệm, long thiên tôn kính bạn.  Ðó là ‘tinh cần hộ tịnh’.

Phụng hiến Phật, Tăng

Ðem dâng cúng cho Phật và Tăng,

Chữ ‘Tăng’ ở đây, chư vị phải nhớ chẳng riêng chỉ người xuất gia, chữ này có nghĩa rộng, Tăng là chúng hòa hợp.  Ðệ tử Phật bất luận là tại gia, xuất gia, bốn người ở chung với nhau cùng tu, tuân giữ Lục Hòa Kính đều gọi là Tăng Chúng, gọi là Tăng Ðoàn.  Hiện nay phần đông người ta nghĩ đến Tăng đều là người xuất gia, ý nghĩa này hơi thiên lệch; tức là tôn kính người xuất gia, chẳng tôn kính người tại gia, chúng ta [nghĩ vậy là] sai rồi.  Có nhiều người tại gia thật sự tu Lục Hòa Kính, chúng ta lại quên lãng, người xuất gia chưa chắc đã tu Lục Hòa Kính, như vậy cách hành xử của chúng ta bị lộn ngược.  Do đó chữ ‘Tăng’ ở đây phải khẳng định là Tăng đoàn hòa hợp, bất luận là tại gia, xuất gia, những người chân chánh phát tâm tu hành, hiểu đạo lý đều gọi là ‘Tăng’.  Những danh xưng trong nhà Phật này chúng ta phải rõ ràng.  Còn thân phận của người xuất gia, chỉ có Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Sa Di, Sa Di Ni là người xuất gia.  Những danh xưng Pháp Sư, Hòa Thượng, A Xà Lê đều chẳng phân biệt tại gia, xuất gia, thế nên người tại gia cũng có thể gọi là Hòa Thượng.

Danh từ ‘Hòa Thượng’ nghĩa là gì?  Hòa Thượng là tiếng Phạn dịch âm, ý nghĩa là thân giáo sư, tức là ngày nay chúng ta gọi là thầy giáo, thầy trực tiếp dạy mình, cổ Ấn Ðộ gọi là Hòa Thượng.  Nếu không trực tiếp dạy mình, giống như chúng ta ở trong một trường học, học trong trường, thầy giáo trong trường đó rất nhiều, có vài thầy dạy tôi, còn nhiều thầy khác chưa từng dạy tôi; họ đều là thầy giáo trong trường nhưng rất nhiều thầy chưa dạy tôi, chúng ta quen gọi họ là thầy giáo.  Trong Phật pháp những thầy chưa từng dạy chúng ta được xưng là ‘A Xà Lê’, xưng là ‘pháp sư’; những thầy trực tiếp dạy chúng ta thì xưng là ‘hòa thượng’, quan hệ với hòa thượng rất gần gũi.  Phần lớn những vị trụ trì trong một số chùa xưng là hòa thượng, cũng giống như hiệu trưởng trong trường học, tuy hiệu trưởng chưa có dạy lớp của bạn nhưng cũng được coi là trực tiếp dạy bạn.  Vì hiệu trưởng chủ trì đường lối giáo dục, xếp đặt khóa học, ông ấy mời một số thầy giáo đại diện cho ông để dạy bạn, trên thật tế thì ông ta cũng là thân giáo sư, ông phải chịu trách nhiệm giáo học.  Những thầy giáo [đến lớp dạy học] chỉ là người chấp hành mà thôi, trong Phật pháp có thể gọi chung là A Xà Lê; trong số A Xà Lê này có người đến lớp tôi dạy, có người chưa dạy trong lớp tôi.  Do đó tại gia, xuất gia, nam nữ, già trẻ gì cũng có thể dùng danh từ ‘hòa thượng’.  ‘Pháp sư’ cũng là danh từ chung, tại gia, xuất gia đều có thể dùng.  Thuật ngữ ‘Sa Môn’ trong kinh Phật cũng là danh từ chung, tại gia, xuất gia đều có thể dùng.  Nhưng hiện nay ở Trung Quốc theo thói quen những danh từ này đều chỉ người xuất gia, thật ra đều là danh từ chung.  Chúng ta phải biết những việc này.  ‘Tinh cần hộ tịnh, phụng hiến Phật, Tăng’.

Thị mạng chung nhân thất phần hoạch nhất

Người chết hưởng được một phần trong bảy phần công đức.

Bảy phần công đức, người đó được một phần.  Nếu chúng ta làm chẳng đúng như pháp thì một phần cũng chẳng đạt được.  Do đó nhất định phải nuôi dưỡng tâm thành kính này lúc ngày thường, không chỉ khi chúng ta đối với Phật, Bồ Tát, đối với những người tu hành mà thôi, đối với hết thảy tất cả chúng sanh đều phải tu tâm thành kính, [được vậy thì] khi chúng ta làm sự việc này sẽ có công đức, hiệu quả rất lớn.

Thị cố trưởng giả, Diêm Phù chúng sanh nhược năng vị kỳ phụ mẫu nãi chí quyến thuộc, mạng chung chi hậu thiết trai cúng dường chí tâm cần khẩn, như thị chi nhân tồn vong hoạch lợi

Thế nên này ông Trưởng Giả, những chúng sanh trong cõi Diêm Phù, sau khi cha mẹ hay quyến thuộc qua đời, nếu có thể thiết trai cúng dường, chí tâm cầu khẩn, thì những người như thế, kẻ còn lẫn người mất đều được lợi ích.”

‘Tồn’ [chỉ người sống], người sống được sáu phần bảy của sự lợi ích, người mất được một phần bảy, chúng ta phải hiểu rõ cả Lý lẫn Sự.  Trên Sự, ở đây Bồ Tát chỉ nêu lên một việc, phương pháp tu phước cho người mất rất nhiều, chẳng nói hết.  Ở đây chúng ta tổng kết một cương lãnh quan trọng, đó là ‘thành kính’, bất luận tu phước gì cũng phải ‘tinh cần hộ tịnh’, bốn chữ này quan trọng vô cùng!  ‘Tinh’ là thuần chứ không tạp, ‘tịnh’ là thanh tịnh chẳng nhiễm.  Cho nên dùng tiền phải dùng tịnh tài, đích thật là tiền tài mình đáng có được thì chúng ta bố thí mới có công đức, mới có hiệu quả.  Nếu là tiền tài bất nghĩa, như câu  “của người Bồ Tát, của mình lạt buộc” [4],  như vậy thì không được, vậy là chẳng tịnh, chẳng thanh tịnh, chẳng phải là tịnh tài, bạn dùng của cải như vậy thì sẽ chẳng được phước, phải hiểu rõ ràng, rành rẽ.

Thuyết thị ngữ thời, Ðao Lợi thiên cung hữu thiên vạn ức na do tha Diêm Phù quỷ thần giai phát vô lượng Bồ Ðề chi tâm.

Nói lời này xong, tại cung trời Ðao Lợi có ngàn muôn ức na-do-tha quỷ thần ở cõi Diêm Phù Ðề đều phát tâm Bồ Ðề vô lượng.

Phước báo này của Ðịa Tạng Bồ Tát và Phổ Quảng Bồ Tát tu được rất lớn, lớn ở chỗ nào?  Một người hỏi một người trả lời làm cho đại chúng nghe xong, có nhiều chúng sanh như vậy phát Bồ Ðề tâm, công đức là ở chỗ này.  Thế nên phía trước nói ‘Thỉnh Tăng chuyển kinh’, ý nghĩa của chữ ‘Tăng’ ở đây mọi người đều biết không nhất định là người xuất gia, người tại gia cũng được; thỉnh những pháp sư này giảng kinh, người tại gia hay xuất gia cũng được.  Theo thói quen của đa số ở Trung Quốc, người tại gia giảng kinh nhất định phải thọ Bồ Tát giới thì phù hợp với lời nói của Phật trong kinh, chẳng phải là ‘người Bạch Y’ thuyết pháp, người Bạch Y chưa thọ giới.  Người đã thọ Bồ Tát giới thì có thể đắp Mạn Y[5], chẳng gọi là Bạch Y; chưa thọ Bồ Tát giới thì không được đắp Mạn Y.  Hiện nay có rất nhiều địa phương nói thọ năm giới có thể đắp Mạn Y, như vậy là sai lầm, tuyệt đối không thể.  Ðã thọ Bồ Tát giới mới được đắp Mạn Y, mới là Tăng Ðoàn, mới tính là Tăng Chúng.  Thọ Bồ Tát giới, bạn thăng tòa giảng kinh thì sẽ chẳng bị người ta phê bình.  Nhất định phải thọ Bồ Tát giới [mới được] đắp y, chúng ta phải ghi nhớ việc này, năm giới dứt khoát không thể đắp.  Nhưng mặc áo tràng (áo hải thanh) thì không sao, áo tràng là lễ phục của người Trung Quốc thời xưa, ai cũng có thể mặc, bạn chưa quy y cũng có thể mặc, đây là áo thời xưa.  Ðây là lễ phục của các thư sinh thời xưa, lễ phục triều nhà Hán.  Áo của người tại gia phần đông có thêu hoa, còn người xuất gia thì không có thêu hoa, màu trơn, khác nhau như vậy.

Ðại Biện trưởng giả, tác lễ nhi thoái

Trưởng giả Ðại Biện lễ chào rồi lui ra.

Chúng ta cũng lễ chào rồi lui ra.

 

Tập 28 (Số 14-12-28)

 

PHẨM THỨ 8: CÁC VUA DIÊM LA VÀ QUYẾN THUỘC TÁN THÁN

Xin mở cuốnKhoa Chú, quyển trung, trang số 91, hàng thứ hai đếm ngược lại, Diêm La Vương Chúng Tán Thán Phẩm đệ bát, xin xem kinh văn:

Nhĩ thời Thiết Vi sơn nội, hữu vô lượng quỷ vương dữ Diêm La thiên tử câu nghệ Ðao Lợi lai đáo Phật sở.

Lúc đó, trong núi Thiết Vi có vô lượng Quỷ Vương cùng với Diêm La Thiên Tử đồng lên cung trời Ðao Lợi, đến chỗ của Ðức Phật.

Chúng ta coi trước đoạn này, bộ kinh này nói rất cặn kẽ về tình huống trong lục đạo.  Tương truyền thế gian có mười điện Diêm Vương, đích thật có việc này.  Lúc trước tôi ở Ðài Bắc, tổng cán sự của Tổng Hội Phật Ðà Giáo Dục Cơ Kim, cư sĩ Giản Phong Văn nói với tôi, lúc ông tĩnh tọa, trong thiền định ông nhìn thấy rất nhiều lần, ông nói với tôi vua Diêm La trong cõi quỷ, thoạt nhìn thì ông này không cao lắm, đại khái chỉ cao ba bộ, nhìn thấy rất rõ ràng. Còn chúng sanh trong quỷ đạo, rất nhiều người đích thân tiếp xúc đến, đặc biệt là ở y viện, các bác sĩ, y tá trong nhà thương, họ rất tin những chuyện này vì rất nhiều người đã từng gặp qua.  Ở Ðài Bắc có một tổng y viện Vinh Dân, trước kia tôi có vài bạn đồng học phục vụ ở đó, họ nói với tôi họ đích thân từng trải qua.  Họ nói nếu thấy Ðại Quỷ Vô Thường xuất hiện ở trước cửa phòng bịnh, trong tập tục Trung Quốc họ gọi là Bạch Vô Thường, Hắc Vô Thường; nếu gặp được, nhìn thấy ở phòng nào, thì người bịnh ở phòng đó nhiều nhất là ba ngày sẽ mất.  Cho nên chúng ta nói đến chuyện quỷ thần trong nhà Phật, hầu như họ đều tin tưởng, chẳng nghi ngờ gì hết.  Chúng ta đối với lời dạy của đức Phật, trong kinh Ðại Thừa đức Phật nói với chúng ta ‘Như Lai là người nói lời chân thật, lời thật thà, chẳng vọng ngữ, chẳng nói dối’, những gì được nói đều là chân tướng sự thật.  Tuy là chân tướng sự thật, nhưng cũng không ra ngoài nguyên tắc này, những tướng này cũng không chân thật, cũng giống như cõi người chúng ta.  Những hiện tượng hiện tiền của chúng ta cũng không chân thật, trong kinh nói ‘Phàm những gì có tướng đều là hư vọng’, ‘Hết thảy pháp hữu vi như mộng huyễn, bọt, bóng’.  Nhưng những hiện tượng này tồn tại, có tướng không tánh, chẳng có tự tánh, cho nên nói nó không tịch.  Nhưng những hiện tượng này, nếu bạn không hiểu rõ, không rành rẽ, bạn khởi phân biệt chấp trước trong ấy thì bạn phải chịu khổ nạn, đây là điều nhất định không thể tránh khỏi.  Nếu bạn hiểu rõ, rành rẽ, đối với những hiện tượng này không khởi phân biệt, không khởi chấp trước thì những hiện tượng này sẽ không chướng ngại, giống như kinh Hoa Nghiêm có nói ‘Lý Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại’, bạn sẽ được đại tự tại trong đời sống.  Nghĩa thú chân chánh của lời Phật dạy là ở chỗ này.

‘Nhĩ thời’ là lúc giảng xong phẩm Lợi Ích Cho Kẻ Còn Người Mất.  Vì phẩm trước giảng đối với người qua đời nên làm thế nào để kỷ niệm, giúp đỡ họ, làm thế nào để siêu độ họ, có lợi ích chân thật cho người mất, bất luận họ đọa lạc vào cõi nào cũng có lợi ích.  Cho dù sanh đến cõi trời, cõi người hưởng phước, sự siêu bạt này cũng có thể tăng thêm phước báo của họ, trong ác đạo có thể giúp họ siêu sanh.  Từ địa ngục có thể siêu sanh đến cõi ngạ quỷ, lợi ích này đã rất lớn rồi, nếu có thể siêu sanh đến cõi người, cõi trời, thì phước đức đó càng lớn.  Thế nên quan hệ giữa các vua Diêm La và chuyện này rất mật thiết, họ nghe xong vô cùng cảm động, đến tán thán.  ‘Thiết Vi sơn nội’ phía trước đã nói, đây là nơi người thế gian chúng ta nói chỗ của Âm Tào Địa Phủ.  Núi Thiết Vi thật sự là ở đâu, con người chúng ta chẳng nhìn thấy, những chỗ Thiết Vi, Tu Di, biển lớn nói trong kinh đều là nơi mắt thịt chúng ta chẳng nhìn thấy.  Vừa nghe hình như không thể nghĩ bàn, trên thực tế khoa học gia ngày nay đã chứng minh cho chúng ta, đây là vì thời gian, không gian khác nhau.  Không gian chúng ta đang cư trú hiện nay gọi là không gian ba chiều.  Khoa học gia đã phát hiện không gian bốn chiều, nhưng phần đông chúng ta vẫn không cảm nhận, tiếp xúc được.  Còn những không gian có duy thứ cao hơn thì chẳng phải là chỗ phàm phu chúng ta có thể hiểu được.  Thế nên trạng huống trong lục đạo chính là thời gian, không gian khác nhau [mà thôi].

Ở đây có ‘vô lượng quỷ vương’, những quỷ vương này đều dưới quyền cai quản của vua Diêm La.  Họ đều đến cung trời Đao Lợi, ‘lai đáo Phật sở’, đây là cùng Địa Tạng Bồ Tát đến để tham dự pháp hội này.  Từ chỗ này chúng ta có thể hiểu được đức Phật Thích Ca Mâu Ni trong hội ở cung trời Đao Lợi này, đây là hội cuối cùng, pháp hội cuối cùng trước khi ngài nhập niết bàn.  Thế Tôn xuất hiện ở thế gian, pháp hội lần thứ nhất là ở Bồ Đề Trường, trong thiền định, tức là pháp hội Hoa Nghiêm.  Hoa Nghiêm được giảng trong định, phàm phu chúng ta chỉ thấy đức Phật Thích Ca Mâu Ni ở dưới cây Bồ Đề tĩnh tọa, chẳng biết ngài ở nơi đó khai diễn pháp hội lớn, trang nghiêm như vậy.  Hội cuối cùng ở cung trời Đao Lợi, hội này cũng thù thắng vô cùng, trạng huống thù thắng nói thật ra chẳng thua hội kinh Hoa Nghiêm, chúng ta nhìn thấy trong phẩm tựa mười phương hết thảy chư Phật Như Lai đều đến tham dự; bạn nghĩ xem hội này lớn biết mấy, đây cũng là cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn.  Họ đến chỗ của Phật.  Sau đây nêu lên danh xưng của các vị quỷ vương, tổng cộng nêu lên ba mươi bốn vị:

Sở vị Ác Ðộc Quỷ Vương, Ða Ác Quỷ Vương, Ðại Tranh Quỷ Vương, Bạch Hổ Quỷ Vương, Huyết Hổ Quỷ Vương, Xích Hổ Quỷ Vương, Tán Ương Quỷ Vương, Phi Thân Quỷ Vương, Ðiển Quang Quỷ Vương, Lang Nha Quỷ Vương, Thiên Nhãn Quỷ Vương, Ðạm Thú Quỷ Vương, Phụ Thạch Quỷ Vương, Chủ Hao Quỷ Vương, Chủ Họa Quỷ Vương, Chủ Thực Quỷ Vương, Chủ Tài Quỷ Vương, Chủ Súc Quỷ Vương, Chủ Cầm Quỷ Vương, Chủ Thú Quỷ Vương, Chủ Mỵ Quỷ Vương, Chủ Sản Quỷ Vương, Chủ Mạng Quỷ Vương, Chủ Tật Quỷ Vương, Chủ Hiểm Quỷ Vương, Tam Mục Quỷ Vương, Tứ Mục Quỷ Vương, Ngũ Mục Quỷ Vương, Kỳ Lợi Thất Vương, Ðại Kỳ Lợi Thất Vương, Kỳ Lợi Xoa Vương, Ðại Kỳ Lợi Xoa Vương, A Na Tra Vương, Ðại A Na Tra Vương.

Ðó là: Ác Ðộc Quỷ Vương, Ða Ác Quỷ Vương, Ðại Tranh Quỷ Vương, Bạch Hổ Quỷ Vương, Huyết Hổ Quỷ Vương, Xích Hổ Quỷ Vương, Tán Ương Quỷ Vương, Phi Thân Quỷ Vương, Ðiển Quang Quỷ Vương, Lang Nha Quỷ Vương, Thiên Nhãn Quỷ Vương, Ðạm Thú Quỷ Vương, Phụ Thạch Quỷ Vương, Chủ Hao Quỷ Vương, Chủ Họa Quỷ Vương, Chủ Thực Quỷ Vương, Chủ Tài Quỷ Vương, Chủ Súc Quỷ Vương, Chủ Cầm Quỷ Vương, Chủ Thú Quỷ Vương, Chủ Mỵ Quỷ Vương, Chủ Sản Quỷ Vương, Chủ Mạng Quỷ Vương, Chủ Tật Quỷ Vương, Chủ Hiểm Quỷ Vương, Tam Mục Quỷ Vương, Tứ Mục Quỷ Vương, Ngũ Mục Quỷ Vương, Kỳ Lợi Thất Vương, Ðại Kỳ Lợi Thất Vương, Kỳ Lợi Xoa Vương, Ðại Kỳ Lợi Xoa Vương, A Na Tra Vương, Ðại A Na Tra Vương.

Tổng cộng nêu ra ba mươi bốn vị, đây chỉ là nói sơ lược.  Ba mươi bốn quỷ vương này, chư vị phải biết đó là ba mươi bốn loại, số lượng trong mỗi loại chẳng biết là bao nhiêu.  Giống như trong kinh Hoa Nghiêm chúng ta thấy những tạp thần chúng vậy, số lượng trong mỗi loại trong kinh Hoa Nghiêm đều nói ‘vô lượng’, ở đây cũng vậy.  Trong các loại quỷ vương, đặt Ác Độc Quỷ Vương đầu tiên, trong chú giải cũng nói rất rõ ràng ‘Ác Độc là thủ lãnh của các quỷ vương nên được đặt đầu tiên’, đây là thủ lãnh của hết thảy quỷ vương.  Ý nghĩa tượng trưng ở đây là ‘thập ác tam độc, vừa ác vừa độc’, danh xưng được lập từ đây.  Những vị này có thể tham dự pháp hội của đức Phật nhất định chẳng phải thật là ngạ quỷ đạo, thật sự chúng sanh trong cõi ngạ quỷ chẳng có phước đức lớn như vậy để tham dự pháp hội nơi cung trời Đao Lợi.  Những vị này giống như các vị trong hội kinh Hoa Nghiêm, đều là chư Phật Như Lai, Pháp Thân Đại Sĩ ứng hóa, như câu ‘Nên dùng thân quỷ thần để độ được thì hiện thân quỷ thần để độ’.  Phương pháp độ chúng sanh cũng chẳng giống nhau, nên dùng phương pháp ác độc để độ thì ngài sẽ dùng phương pháp ác độc.  Thế nên đức Phật giáo hóa chúng sanh có hai môn: chiết phục và nhiếp thọ; thật ra người thế gian chúng ta thường nói thi ân và ra oai, cũng cùng một đạo lý, hoàn toàn phải coi căn tánh của chúng sanh.  Chúng ta không thể dùng phương pháp giáo hóa sai lầm, lúc cần dùng oai thì phải dùng oai, lúc nên dùng lòng từ nhiếp thọ thì phải dùng lòng từ.  Trong kinh Phật gọi là ‘ái ngữ’, ái ngữ không nhất định phải là lời nói dễ nghe, mà là gì?  Thật sự là lời nói thương mến bảo hộ chúng sanh, khi bạn trách móc, dạy dỗ, chửi mắng, bạn thật sự thương mến bảo hộ, bạn trừng phạt kẻ ấy cũng là thương mến bảo hộ kẻ ấy.  Lục đạo chúng sanh tạo tác những tội nghiệp này, làm sao mới tiêu trừ được?  Phải dùng những phương pháp ác độc này để tiêu trừ nghiệp chướng của họ, Bồ Tát thị hiện trong cõi quỷ, cõi địa ngục cũng là đại từ đại bi, giúp đỡ những chúng sanh tạo nghiệp này nhanh chóng tiêu trừ nghiệp chướng.

Trong chú giải, Thanh Liên pháp sư nói rất rõ ràng, ngài nói ở hàng cuối: ‘Những vị quỷ vương đó đều là những Bồ Tát không thể nghĩ bàn, đại quyền ứng hóa, dùng ác công phá ác, dùng độc đối trị độc’.  Thiên Thai đại sư giảng kinh Pháp Hoa, giảng đến tánh ác và tu ác; Thanh Liên pháp sư là học giả Thiên Thai nên ở trong chú giải ngài dùng giáo nghĩa Thiên Thai rất nhiều; đây tức là dùng độc công phá độc, dùng phương pháp này.  Giáo học nhà Nho nói với chúng ta một người thầy tốt, người thầy dạy dỗ học sinh khéo léo nhất định phải hiểu cơ hội giáo dục, trong Phật pháp gọi là khế cơ, khế cơ nhất định phải nhận biết [thời] ‘cơ’, phải vận dụng khéo léo ‘thời cơ’ này.  Trong kinh Hoa Nghiêm chúng ta thấy người học chân chánh chỉ thấy có một mình ta là học trò thôi, ngoài chính mình ra chẳng có ai không phải là thiện tri thức, chẳng có ai không phải là Phật, Bồ Tát cả.  Nhà Nho dạy người ta ‘Trong ba người cùng đi, phải có một người là thầy mình’, ba người này: một là mình, thứ hai là người nói thiện, thứ ba là người nói ác.  Ác Độc quỷ vương ở đây đại biểu cho người ác, họ đều là thầy của mình.  Sự thị hiện của họ làm cho chúng ta hiểu về thiện ác, làm cho chúng ta biết dứt ác, tu thiện, hiểu rõ thiện nhân thiện quả, ác nhân ác báo, làm mọi thứ thị hiện để giáo hóa chúng sanh.  Thế nên trong năm mươi ba lần tham vấn, chúng ta thấy Thắng Nhiệt Bà La Môn, Cam Lộ Hỏa Vương rất rõ ràng, đặc biệt là phương pháp dạy dỗ chúng sanh của Cam Lộ Hỏa Vương, đó chính là [phương pháp] ác độc.

Vị thứ hai là ‘Đa Ác Quỷ Vương’, đích thật là như vậy, nhưng tâm địa vô cùng từ bi.  Dùng phương pháp [ác độc] để chiết phục chúng sanh, làm cho họ quay đầu hướng thiện.  Căn tánh chúng sanh chẳng tương đồng, thủ đoạn giáo hóa của Bồ Tát chẳng giống nhau.  Từ trong đó chúng ta giác ngộ, tỉnh ngộ thì đó là đại thiện tri thức.  Do đó trong hết thảy cảnh duyên, chúng ta dùng tâm chân thành tiếp xúc, dùng tâm cung kính tiếp xúc, tổ Ấn Quang dạy ‘Một phần thành kính được một phần lợi ích, mười phần thành kính được mười phần lợi ích’.  Họ thị hiện như thế nào, chúng ta học tập như thế nào?  Trong ấy đạt được đại lợi ích, trong ấy sanh trí huệ chân thật.

Thứ ba ‘Đại Tranh Quỷ Vương’, ‘Tranh’ tức là đấu tranh.  Thế Tôn nói với chúng ta, trong thời đại hiện nay, năm lần năm trăm năm sau [khi đức Phật nhập niết bàn] là thời đấu tranh kiên cố, bất luận là y theo sự tính toán của người Trung Quốc hoặc của người Tây phương, đức Phật Thích Ca Mâu Ni diệt độ đến nay đã hơn năm lần năm trăm năm.  Năm lần năm trăm năm tức là hai ngàn năm trăm năm, bất luận là dùng cách tính nào, thời đại hiện nay đều là thời đại đấu tranh kiên cố.  Nếu bạn hỏi có đạo tràng nào không đấu tranh, đó thật là rất kỳ lạ, vậy thì đức Phật Thích Ca Mâu Ni không phải nói sai rồi sao?  Do đó chúng ta thấy trong thế gian hiện nay đấu tranh, trong cửa Phật cũng đấu tranh, chẳng có lúc nào, chỗ nào không có đấu tranh.  Có bao nhiêu người từ trong sự đấu tranh có thể giác ngộ, tỉnh ngộ, thật sự giác ngộ thì sẽ tu nhẫn nhịn, họ có thể tu Nhẫn Nhục Ba La Mật, có thể thành tựu Thiền Định Ba La Mật.  Đấu tranh đến cuối cùng thì mọi người tỉnh ngộ trở lại, đấu tranh chẳng phải là biện pháp, đấu tranh quá khổ.  Nhưng nếu không trải qua sự đấu tranh đau khổ như vậy thì họ sẽ chẳng giác ngộ, khi bạn nói Phật pháp, thiện pháp với họ, họ sẽ chẳng nghe được.  Những người này, những chuyện này chúng ta đều đích thân thể nghiệm rồi, không trải qua những giai đoạn này không được, [phải trải qua] thì họ mới quay về.  Do đó Phật, Bồ Tát bèn thị hiện cảnh giới này, làm cho bạn nếm hết sự khổ thì bạn mới quay đầu trở lại được.

Ba vị thứ tư, năm, sáu này ‘Bạch Hổ, Huyết Hổ, Xích Hổ Quỷ Vương’, ba loại này chúng ta đều gọi là lão hổ, quỷ vương có đầu hổ thân người.  Hổ là mãnh thú, đó là ‘mãnh mà có oai, mạn mà nhiều bạo lực’, kiêu mạn, bạo lực.  Phần đông các quỷ vương đều ở trong cõi người tu hành có phước báo, càng là quỷ vương lớn thì phước báo càng lớn.  Tại sao tu phước lớn mà lại rơi vào cõi quỷ?  Trong kinh luận đức Phật dạy chúng ta về nghiệp nhân quả báo của mười pháp giới, [sanh vào] cõi quỷ là vì tâm tham, cõi địa ngục là vì tâm sân giận, ngạo mạn là một loại sân khuể.  Cho nên khi bạn tu phước báo to lớn, nếu không đoạn dứt tham và sân giận thì quả báo tương lai sẽ làm quỷ vương.  Quỷ vương của cõi ngạ quỷ, của cõi địa ngục, sẽ sanh làm những vị này.

Thứ bảy ‘Tán Ương Quỷ Vương’, ‘Ương’ tức là tai ương, người hiện đại chúng ta gọi là các loại ôn dịch.  Người thế gian tạo ra tội nghiệp cực nặng, quỷ thần nơi đó trước hết tạo ra rất nhiều tai biến, những việc này đều là cảm ứng.  Họ khởi tâm động niệm chẳng cảm ứng đến thiên thần, cảm ứng đến Phật, Bồ Tát, mà cảm ứng đến yêu ma quỷ quái, bạn coi như vậy thì làm sao được!  Nếu nói cảm ứng đạo giao với thiên thần thì đó là thập thiện nghiệp đạo, tứ vô lượng tâm.  Trong buổi giảng chúng ta dùng phương pháp khoa học hiện đại để nói, những làn sóng tư tưởng khi chúng ta khởi tâm động niệm còn nhanh hơn làn sóng điện; sóng điện, sóng ánh sáng chẳng thể sánh bằng làn sóng tư tưởng của chúng ta.  Khi chúng ta khởi tâm động niệm, một niệm này vừa khơi dậy thì liền biến trọn hư không pháp giới; nói thật ra tốc độ của sóng điện và sóng ánh sáng còn rất có hạn, một giây chỉ đi được ba mươi vạn kilo mét, chẳng nhanh lắm.  Còn một niệm của chúng ta vừa khởi lên, trong sát na liền biến trọn pháp giới, nên mới có thể khởi cảm ứng đạo giao cùng hết thảy chúng sanh.  Chúng ta khởi lên một niệm gì?  Khởi lên một niệm tham, sân, si, mạn, tự tư tự lợi, hại người lợi mình.  Một niệm này cảm ứng đến ai?  Cảm ứng đến ngạ quỷ, địa ngục, một niệm này vừa khởi lên thì những quỷ thần này liền đến.  Họ đến chẳng đem đến chuyện tốt cho bạn, mà đem đến tai nạn vô cùng.

Chúng ta coi tên của những quỷ vương này có thể hiểu được, những tai biến trên thế gian hiện nay của chúng ta, những hiện tượng chẳng bình thường, tại sao trước kia chẳng có?  Những gì chúng ta thấy trong lịch sử, người đời trước khởi tâm động niệm đều nhân từ, đôn hậu, tuy cũng có những người có tâm hại người lợi mình nhưng chỉ là số ít trong xã hội, phần lớn người ta đều có tâm nhân từ, đôn hậu, đều an phận mình.  Nói cách khác cảm ứng với thiên thần thì nhiều, cảm ứng với quỷ thần thì ít.  Thế nên hiện tượng đó là quốc thái dân an, xã hội an định, nhân dân đều có thể an cư lạc nghiệp.

Tâm người thời nay khác với thời xưa, tâm người thời đại này nhiều ác niệm, cảm ứng với quỷ thần nhiều, cảm ứng với thiên thần ít, quá ít, đây là nguyên nhân chư Phật, Bồ Tát không thể cứu vớt, đều quy về những nghiệp chúng ta đã tạo.  Ðức Phật nói trong cộng nghiệp có biệt nghiệp, chúng ta hiểu được đạo lý này, trong thời đại này chúng ta hiểu rõ, chúng ta rành rẽ thì nhất định phải đoạn dứt ác, phải tu thiện, không thể nhìn thấy người ta tạo ác [rồi nói] hình như chẳng có quả báo.  Nếu bạn rất bình tĩnh, lắng lòng quan sát thì bạn sẽ cảm thấy quả báo vô cùng dễ sợ.  Không những quả báo đáng sợ, hoa báo cũng đáng sợ.  Cho nên Tán Ương Quỷ Vương cảnh tỉnh chúng ta, cảnh cáo, cảnh giác chúng ta, hiện tượng này tức là các loại tai biến.  Phàm hết thảy những hiện tượng không bình thường, trong bản Chú Giải có nêu ‘Đông Nhạc Kinh’, Đông Nhạc Kinh là kinh của Đạo Giáo, nói: ‘Chúng sanh trong thế gian chẳng tin nhân duyên thiện ác quả báo, chẳng kính thiên địa, chẳng hiếu thuận cha mẹ, chẳng tôn kính sư trưởng, hiếp đáp thần lý, lưng quay ra trước, mặt quay ra sau, miệng nói có nhưng tâm không’, tạo những nghiệp này.  Đây chính là hiện tượng phổ biến trong xã hội hiện nay.  Do đó những quỷ vương này hoành hành chẳng ai ngăn cản, họ cảm ứng với nghiệp lực của những chúng sanh nói trên.

‘Phi Thân Quỷ Vương’ đây là một loại phi hành Dạ Xoa.  ‘Ðiện Quang Quỷ Vương’ mắt giống như điện chớp, hình dáng vô cùng hung ác, vừa nhìn thấy liền sợ hãi.  ‘Lang Nha Quỷ Vương’, răng của họ giống như chó sói vậy.  ‘Thiên Nhãn Quỷ Vương’, trong chú giải Thanh Liên pháp sư giải thích rất thú vị: Quán Thế Âm Bồ Tát thiên thủ thiên nhãn, thiên nhãn của ngài ở trên tay, còn thiên nhãn của quỷ vương này không biết ở đâu?  Cũng không nhất định là có thiên nhãn.  Giống như thiên thủ thiên nhãn của Quán Thế Âm Bồ Tát là tiêu biểu pháp, chúng ta phải hiểu ý nghĩa này.  Nhãn quang của ngài vô cùng bén nhạy, vật cực kỳ nhỏ bé ngài cũng có thể quán sát rõ ràng, cho nên gọi là thiên nhãn.  ‘Ðạm Thú Quỷ Vương’ chuyên môn ăn những động vật nhỏ, [giống như câu nói kẻ] mạnh ăn hiếp yếu, chúng ta thấy sư tử, hổ báo đều thuộc loại này.  Những quỷ vương này thị hiện trên thế gian ắt cũng dùng thân của sư tử, hổ báo, chuyên môn ăn những loài súc sanh, nó phải thọ các nghiệp báo này.  Những súc sanh này trong đời quá khứ cũng tạo ác nghiệp trong cõi người nên mới đọa vào loài súc sanh, trong cõi súc sanh chúng còn nghiệp dư, phải chịu quỷ vương sát hại; những quỷ vương này hại chúng, đây cũng là quả báo của chúng.  Kinh Phật nói về chúng sanh trong lục đạo, chịu tam đồ khổ báo; tam đồ, súc sanh tức là huyết đồ.  Súc sanh rất ít khi chết tốt lành, đều là ăn nuốt lẫn nhau, đều là đổ máu mà chết, cho nên ‘huyết đồ’ là súc sanh.  ‘Ðao đồ’ là ngạ quỷ, đao là ví dụ, giống như có người cầm dao lúc nào cũng muốn giết họ, họ rất sợ hãi; quỷ sợ hãi, sống trong sự lo sợ, thân tâm chẳng yên ổn, đây là trạng huống của phần lớn cõi ngạ quỷ.  Ðịa ngục gọi là ‘Hỏa đồ’, địa ngục Hàn Băng cũng là một màn lửa, địa ngục chẳng xa lìa lửa, đó gọi là Tam Ðồ.

‘Phụ Thạch Quỷ Vương’ tức là những quỷ vác gạch, vác cát, lấp sông, lấp biển.  Quỷ vương chuyên môn bắt những tiểu quỷ này, dùng những tiểu quỷ này để lấp sông lấp biển, đặc biệt là những lúc nước sông tràn ngập, lụt lội, đê gần bị vỡ, những quỷ vương này bèn bắt những tiểu quỷ lấp những lỗ vỡ trên đê.  Ðương nhiên họ tìm được đều là những kẻ tạo nghiệp báo này, nếu bạn chẳng tạo nghiệp này thì bạn chẳng nhìn thấy những quỷ vương này, cũng chẳng gặp họ.  Phàm những gì bạn gặp thì đó là nghiệp hoặc của bạn.  Ðừng nói là gặp, nếu chẳng có nghiệp này thì ngay cả nằm mộng bạn cũng chẳng thấy.  Nhưng dưới một trạng huống nào đó bạn có thể nhìn thấy, [ví như] trong định, trong định có thể thấy thì đó chẳng phải là nghiệp lực.  Nếu chẳng phải là trong định nhìn thấy những quỷ thần này thì nhất định có liên quan đến nghiệp lực của mình.

Thứ mười bốn, mười lăm ‘Chủ Hao Quỷ Vương, Chủ Họa Quỷ Vương’, hai loại này khá gần gũi.  ‘Hao’ nghĩa là tổn hao, tổn hao của cải.  ‘Họa’ là tai họa.  Trong chú giải có nêu vài câu trong Thái Thượng Cảm Ứng Thiên, những câu này đều là thật.  ‘Thiên địa có Tư Quá thần’ (thần cai quản việc lỗi lầm), ‘Ty’ là cai quản, điều tra, ghi chép, đích thật là có việc này.  Trong đó có thiên thần, có quỷ thần, ‘địa’ tức là nói quỷ thần; thiên thần, quỷ thần thường đến nhân gian điều tra, quan sát.  Y nhân sở phạm khinh trọng, dĩ đoạt nhân toán (Dựa theo con người phạm tội nặng hay nhẹ mà định đoạt số mạng người ấy); ‘toán’ tức là ‘số’, thọ mạng là số, phước lộc bạn hưởng trong đời cũng là ‘số’, do đó khi bạn thật sự hiểu rõ, thông suốt thì đích thật như sách đã nói ‘Một miếng ăn, miếng uống đều đã định sẵn’.  Liễu Phàm Tứ Huấn đã nói rất thấu đáo, có Lý có Sự, những sự nhân quả báo ứng nói trong Liễu Phàm Tứ Huấn còn rõ ràng hơn Thái Thượng Cảm Ứng Thiên.  Thái Thượng Cảm Ứng Thiên chỉ nói về một số điều mục, phân tích đạo lý còn Liễu Phàm Tứ Huấn nói rõ ràng hơn, bạn có thể coi cả hai rồi so sánh.  Chúng ta sẽ hiểu trong đời này, người thế gian nói bạn có bao nhiêu của cải đều đã định sẵn trong vận mạng của bạn; nếu trong vận mạng chẳng có thì dù bạn dùng hết mọi cách cũng chẳng đạt được; những gì trong mạng có thì bạn không cần phải mong cầu, đúng lúc thì nó sẽ tự nhiên mang đến.  Thế nên người xưa nói ‘quân tử vui làm người quân tử, tiểu nhân oan uổng làm người tiểu nhân’, quân tử hiểu đạo lý này nên chẳng mong cầu gì cả.  Trong mạng có sẵn thì một phần cũng chẳng thiếu, hà tất phải mong cầu?

Ông Viên Liễu Phàm được Vân Cốc thiền sư khai thị một phen xong, nên ông đã giác ngộ, buông bỏ hết thảy, mỗi ngày tịnh tọa, dưỡng thân tâm của mình, chẳng có một vọng niệm.  Vân Cốc thiền sư rất khâm phục ông, ông ngồi suốt ba ngày ba đêm trong thiền đường chẳng có một vọng niệm.  Thiền sư khen ngợi ông, nói công phu của ông rất khá.  Ông Liễu Phàm nói lý do ông không khởi vọng niệm vì ông biết khởi vọng niệm chẳng làm được gì, chẳng ích gì, nên ông không khởi vọng niệm nữa.  Vận mạng của ông đã được Khổng tiên sinh đoán chẳng sai mảy may, mỗi năm đi thi, thi đậu hạng mấy đều đoán trúng, mỗi năm được bao nhiêu tiền lương cũng đoán không sai, thế nên ông tin tưởng [vận mạng an bày] chẳng khởi vọng tưởng nữa.  Sau khi nói rõ nguyên nhân, Vân Cốc thiền sư cười ông và nói: “Tôi cứ tưởng ông là thánh nhân, nhưng ông thật ra vẫn là phàm phu”, đúng là một phàm phu tiêu chuẩn.  Sau đó Vân Cốc thiền sư dạy ông [phương pháp] sửa đổi vận mạng, mỗi một miếng ăn, miếng uống của ông đều do đời trước định sẵn.  Làm thế nào định?  Ðều do chính mình tạo ra, ông đã học được đạo lý này nơi Vân Cốc thiền sư.

Của cải giàu có trong mạng của bạn từ đâu đến?  Là từ bố thí tài vật mà có.  Ðời quá khứ bố thí tài vật nhiều thì đời này bạn được của cải rất nhiều, nếu bạn bố thí ít thì bạn được ít.  Cho dù trong đời này dùng những thủ đoạn không chính đáng để đạt được thì cũng là những gì có sẵn trong vận mạng của bạn.  Nếu trong mạng bạn chẳng có thì dùng thủ đoạn gì bạn cũng chẳng đạt được, vậy thì bạn cưỡng cầu làm chi?  Dùng thủ đoạn không chánh đáng để hiện nay phát tài, thí dụ của cải trong mạng của bạn có thể dùng tám mươi năm, bạn có 80 năm mạng lộc, khi bạn dùng thủ đoạn không chính đáng liền phát tài tức khắc, đây là hoạnh tài, thí dụ khi bạn 40 tuổi thì đạt được hết những của cải trong 40 năm sau của bạn, phía sau chẳng còn nữa.  Nếu bạn đạt được như vậy, khi hưởng dùng hết thì thọ mạng của bạn cũng sẽ hết luôn.  Ðây là như ngạn ngữ có nói ‘lộc tận người mất’.  Bạn vốn còn thọ mạng, tuổi thọ vẫn còn nhưng lộc đã hết, bạn đã hưởng hết lộc thì phước của bạn cũng hết, đây là một loại.  Còn có một loại người khác, họ rất tiếc phước, cũng chịu tu phước, khi thọ mạng của họ đã hết, thọ mạng hết nhưng phước của họ vẫn còn dư, trong trường hợp này thì họ sẽ kéo dài tuổi thọ.  Thí dụ nói họ có phước lộc 60 năm, nhưng trong 60 năm này họ chẳng hưởng hết, vẫn còn phước dư nên tuổi thọ của họ có thể sẽ kéo dài mười năm, hai mươi năm, hưởng hết họ mới ra đi.  Chúng ta phải biết đạo lý này, phải hiểu những chân tướng sự thật này.

Do đó nếu bạn muốn giàu có thì phải tu bố thí tài vật, càng bố thí thì càng được nhiều; nếu bạn muốn thông minh trí huệ thì phải tu bố thí pháp; nếu bạn muốn khoẻ mạnh sống lâu thì phải tu bố thí vô úy.  Quả báo bạn muốn có, quả ắt phải có nhân, nếu không tu nhân thì làm sao có quả báo?  Do đó người thế gian chẳng hiểu đạo lý này, tạo hết thảy tội nghiệp, cướp đoạt tài sản của người khác làm của mình, thủ đoạn phương pháp cướp đoạt nhiều vô lượng vô biên, đều làm tổn người lợi mình, cứ cho rằng mình thông minh, tài giỏi, thật ra thì hoàn toàn tính sai cả!  Ðâu biết rằng thiên địa quỷ thần nhìn thấy rõ ràng.  Làm ác thì ắt giảm phước, tổn thọ, đây chính là những vị Chủ Hao, Chủ Họa quỷ thần.  Ðây tức là như đoạn sau có nói: ‘Dựa theo con người phạm tội nặng hay nhẹ mà định đoạt số mạng người ấy. Số mạng bị kém đi thì nghèo cùng, hao tổn, gặp nhiều chuyện lo lắng, hoạn nạn, ai cũng ghét bỏ, mắc phải tai ương tù tội, sự vui sướng, tốt lành tránh xa, thường gặp vận xấu’[6].  Những chuyện nói trong Thái Thượng Cảm Ứng Thiên chính là những chuyện này.

Vị thứ mười sáu ‘Chủ Thực Quỷ Vương’, tập tục trong dân gian gọi là Thần Ngũ Cốc, hay là phần nhiều gọi là Táo Thần (ông Táo, thần bếp) chính là vị này, chuyên môn cai quản việc ăn uống trong dân gian, ông chuyên cai quản việc này.  Cũng thuộc về những gì mà phần đông chúng ta gọi là phước báo, phước báo này nặng về việc ăn uống, đây là việc trong đời sống hằng ngày bất cứ người nào cũng chẳng thiếu.  Sự ăn uống trong nhà Phật có lễ tiết.  Trước khi ăn phải dùng tâm thanh tịnh, cung kính để cúng dường, đây là sự chí kính đối với loại quỷ thần, hy vọng họ có thể gia trì, bảo hựu.  Nếu chúng ta ăn uống chẳng điều độ, chẳng biết lễ tiết thì những vị Chủ Thực Thần này sẽ chẳng hoan hỷ.  Nếu lại chà đạp lương thực thì tội lỗi này rất nặng.  Phải biết trên thế gian này có rất nhiều địa phương bị đói khát, chúng ta có đồ ăn uống, có nghĩ đến những người bị đói khát hay không?  Nếu mỗi khi ăn uống đều có thể nghĩ đến thì đó là tâm từ bi tỏ lộ, đây tức là tích lũy công đức.  Có tâm niệm này rồi, khi gặp những tai nạn này thì bạn nhất định sẽ cứu giúp, giúp đỡ, đừng coi thường chuyện này.  Thánh hiền thế gian và xuất thế gian đều nói với chúng ta, dạy chúng ta phải ngăn chặn sai lầm ngay từ đầu mới có thể tránh khỏi hết thảy tai họa.  Vi tiệm, vi là nhỏ nhiệm, tiệm nghĩa là chậm chạp, những việc nhỏ này mà bạn chẳng phòng bị thì dần dần sẽ biến thành tai họa lớn.  Cho nên phải giữ tiểu lễ, phải phòng ngừa những lỗi nhỏ, nếu không phòng ngừa lỗi lầm nhỏ thì dần dần sẽ biến thành tai họa lớn, chúng ta phải hiểu đạo lý này.  Cổ thánh tiền hiền nói về chữ ‘vi’ (tinh tế, mầu nhiệm, nhỏ, ẩn dấu), ‘vi’ nghĩa là khởi tâm động niệm, phải phòng ngừa từ chỗ này.  Phàm những chuyện không lợi cho chúng sanh, chẳng lợi cho xã hội, thì một niệm (niệm đầu) ấy không được khởi, nếu khởi một niệm ấy thì tuyệt đối sẽ có hại cho mình.  Niệm niệm đều có thể vì chúng sanh, vì xã hội thì nhất định sẽ có lợi ích.

Tuy trước mắt bạn chẳng nhìn thấy sự lợi ích này, quỷ thần đã nhìn thấy rất rõ ràng, đã ghi chép rất rành rẽ, tích tiểu thiện sẽ thành đại thiện, tích tiểu công thì thành đại công, tích lũy càng sâu dầy, tích lũy càng nhiều thì ngay đời này sẽ thọ báo, chẳng cần đợi đến đời sau.  Trong Liễu Phàm Tứ Huấn chúng ta thấy, sau khi ông Viên Liễu Phàm hiểu rõ đạo lý, cả nhà đều tu tích công đức, ông được quả báo ngay hiện đời.  Trong mạng ông chẳng có công danh, công danh lúc trước tức là thi đậu học vị tiến sĩ, học vị cao nhất này trong mạng ông vốn chẳng có, trong mạng ông chỉ có tú tài; sau này ông đậu cử nhân, đậu tiến sĩ đều do đời này tu được.  Trong mạng chỉ sống tới 53 tuổi, ông sống đến bảy mươi mấy tuổi, ông chẳng cầu trường thọ; trong mạng chẳng có con cái, ông lại được hai người con trai ngoan.  Ðây đều do mạng hiện đời chuyển trở lại, ông tu tích nhiều, đây là gương tốt, mô phạm cho chúng ta.  Cho nên người thế gian, thường thường người nghèo khốn còn có thể tu phước, còn vui làm phước, còn người giàu có lại sơ ý bỏ qua, chẳng biết tu phước, chúng tôi đã thấy rất nhiều.  Người càng có tiền lại càng keo kiệt, càng chẳng dám xả, khi họ xài tiền thì nhất định phải có lợi cho họ, những gì chẳng đem lại lợi ích hiện tiền cho họ thì họ chẳng chịu xài, họ rất coi trọng danh lợi.  Người như vậy hưởng phước hết rồi thì chẳng còn phước dư, đời sau phải chịu tai ương, trừng phạt.

Vị thứ mười bảy ‘Chủ Tài Quỷ Vương’, người thế gian gọi là Thần Tài.  Chủ Tài Quỷ Vương tức là Thần Tài.  Lời giải thích trong cuốn Chú Giải rất hay: Trong phủ của Đông Nhạc Đại Đế có Chủ Tài Án Chủ [là người chịu trách nhiệm quản lý tài chánh][7] , Nhạc Phủ chỉ Ðông Nhạc đại đế, thật ra Ngũ Nhạc là đại quỷ vương, địa vị của ông chỉ thấp hơn vua Diêm La, vua Diêm La giống như vua một nước.  Khu vực quản lý bởi Ngũ Nhạc rất lớn, quản lý rất nhiều tỉnh, cao hơn địa vị của tỉnh trưởng.  Hình như Ðông Nhạc đại đế cai quản sáu, bảy tỉnh, ông có khu vực cai quản lớn như vậy.  Trước kia Chương Thái Viêm đã từng làm phán quan cho Ðông Nhạc đại đế, chức vị phán quan rất lớn, tương đương với chức bí thư trưởng của chúng ta, do đó đối với sự việc trong quỷ đạo ông nói với người ta rất nhiều, rất chi tiết.  Dưới ông ta (tức Đông Nhạc Đại Đế) có vị quỷ vương quản trị tài chánh, trong [phủ] Đông Nhạc gọi vị ấy là Chủ Tài Án Chủ, Chủ Tài Án Chủ tức là Chủ Tài Quỷ Vương, người thế gian chúng ta xưng là Thần Tài, Thần Tài này có lớn, có nhỏ.

Sau đây có hai câu chúng ta phải ghi nhớ, ‘có của cải mà không chịu bố thí thì quỷ đứng nhìn, ganh ghét’.  Bạn có tiền mà không chịu bố thí, quỷ cũng ghen ghét bạn, phiền phức này sẽ rất lớn!  Quỷ sẽ thường tìm bạn, gây rắc rối cho bạn.  Thái thượng cấm ngặt việc cướp đoạt tài vật của người khác[8], đây là việc chúng ta đặc biệt phải chú ý đến, cướp đoạt vật của người khác, tội ấy sẽ cực nặng, cực lớn.  Nếu chúng ta bình tĩnh, lắng lòng để quan sát, chẳng cần phải đợi đến quả báo đời sau, ngay đời này họ cũng sẽ chịu quả báo, ác báo, trong xã hội ngày nay có rất nhiều chuyện này.  Chúng ta hãy xem cổ phiếu trên thế gian, cổ phiếu là gì?  Cổ phiếu chính là cờ bạc, đều là cướp đoạt tài vật của người khác.  [Có nhiều người] kiếm nhiều tiền từ việc chơi cổ phiếu, lúc cổ phiếu tuột giá thì họ liền nhảy lầu tự tử, nhà tan người mất, quả báo trước mắt.  Những chuyện như vậy xảy ra rất nhiều, đây là thủ đoạn chẳng chánh đáng.  Những gì họ đạt được, lúc nảy chúng ta đã nói qua đều là những gì trong mạng họ có sẵn, những gì chẳng có trong mạng thì tuyệt đối chẳng đạt được.  Vật cướp đoạt người khác cũng là vật có sẵn trong mạng, giống như hưởng thọ sớm hơn mà thôi, tổn hại kẻ khác, tạo tội nghiệp.  Sau khi hưởng phước báo của mình sớm hơn, cũng là tạo tội nghiệp.  Thế nên chúng ta nhất định phải hiểu tài vật gì cũng có chủ của nó, những tài vật bất nghĩa dứt khoát không thể lấy, sau khi lấy xong thì nhất định sẽ bị tai nạn, chắc chắn sẽ không có lợi ích.

Phía sau có ‘Chủ Súc Quỷ Vương’, ‘Súc’ là súc sanh, là những con vật nuôi trong nhà.  Những gia súc này cũng có quỷ thần giám sát, chúng ta đối xử với những súc sanh này cũng phải có lễ, súc sanh thông tánh người.  Hôm qua cư sĩ Lý Mộc Nguyên nói với chúng ta ở Quang Minh Sơn có nuôi chó, [người ta] thả rất nhiều chó ở đó, họ quan sát thấy những súc sanh này có linh tánh.  Khi chó gặp những người ưa thích chó, thương yêu chó thì nó sẽ ngoắc đuôi và tỏ vẻ rất thân thiết.  Khi chó gặp những người ăn thịt chó, hay giết chó thì từ đằng xa nó đã tru lên, tỏ vẻ rất hung dữ đối với họ, chó có thể cảm biết được.  Không những chỉ có loại súc sanh này mà thôi, hết thảy các loài chúng sanh nếu bạn không hại chúng thì chúng sẽ tuyệt chẳng bao giờ hại bạn.

Chúng ta xem truyện ký của Ấn Quang pháp sư, đó là sự thật, tuyệt chẳng có tơ hào khoa trương.  Sau khi Ấn Quang pháp sư bảy mươi tuổi, những loại muỗi mòng, bọ chét đều chẳng phá khuấy ngài nữa.  Căn phòng ấy đích thật thường có ruồi, muỗi, kiến, sau khi Ấn Quang pháp sư dọn đến phòng ấy trú thì những côn trùng này đều dọn nhà đi hết.  Tại sao vậy?  Cả đời Ấn Quang pháp sư chẳng làm tổn thương đến các động vật nhỏ.  Trước kia căn phòng này đã có những loại côn trùng này, những thị giả và tín đồ của ngài muốn dẹp, đuổi chúng đi, lão pháp sư nói: ‘Không cần, hãy lưu chúng ở lại đó’.  Tại sao? ‘Vì đức hạnh của tôi không đủ, lưu chúng nó lại để cảnh sách tôi, nhắc nhở tôi’, do đó nên mọi người đều không động đến chúng.  Một thời gian sau những động vật nhỏ này đều bị cảm hóa.  Ðây là một thí dụ rất tốt, đại sư có thể làm được, tại sao chúng ta làm không được?  Phải thường sanh tâm xấu hổ, phải hướng về Ấn Quang pháp sư mà học tập.

Thứ mười chín, hai mươi là ‘Chủ Cầm Quỷ Vương, Chủ Thú Quỷ Vương’, đây là nói về cầm thú, mỗi loại cầm thú đều có quỷ vương của loại ấy.  Trong đó cũng có nói, Thiên Thai đại sư nói về mười hai con giáp trong Ngũ Hành[9], mười hai con giáp đều là cầm thú, đều thuộc về loại này.  Những quỷ vương này đều là Bồ Tát, Pháp Thân đại sĩ hóa thân.  Thứ hai mươi mốt ‘Chủ Mỵ Quỷ Vương’, phần đông chúng ta gọi ‘Mỵ’ là yêu quái, là thuộc loại này.  Người thế gian thường nói loại chúng sanh này năm tháng lâu ngày liền biến thành yêu quái, thành yêu tinh.  Ở Trung Quốc rất nhiều thần cây, những cây lâu năm, cây ngàn năm đều có những quái vật này[10].  Họ là gì?  Trong Phật pháp chúng ta gọi là thần cây.  Lâu đời rồi thì họ dần dần thông linh, họ có thể biến hóa, họ cũng tu hành, họ tu phương pháp gì thì chúng ta không biết.  Trong sự tưởng tượng của chúng ta thì đại khái chắc cũng giống như nhân đạo, có rất nhiều pháp môn tu hành.  Họ tu hành chẳng lìa khỏi vọng tưởng, phân biệt, chấp trước nên biến thành những loại quỷ mỵ này.  Nếu lìa khỏi vọng tưởng, phân biệt, chấp trước thì sẽ tương ứng với Phật đạo, sự khác biệt giữa Phật đạo và hết thảy đạo trong thế gian là ở chỗ này.  Cho nên dù họ tu hành có được thần thông, được trí huệ thì cũng chẳng thoát ra khỏi tam giới, lục đạo là vì họ chẳng thể lìa khỏi phân biệt, chấp trước.

Vị sau đó là Chủ Sản Quỷ Vương, ‘Sản’ là sanh sản; ở đây nói rất rõ ràng, đón rước, giúp đỡ khi sanh sản.  Loại quỷ vương này rất được dân gian tôn trọng, hình như ở thành phố Ðài Bắc có một miếu của Bảo Sanh Ðại Ðế, chúng tôi chưa đi vào nhưng đã đi ngang qua cửa, nhìn thấy tấm biển ngạch ghi Bảo Sanh Ðại Ðế, là thuộc loại quỷ vương này.  Hơn phân nửa những quỷ vương này là thân phận phụ nữ.  Thứ hai mươi ba là Chủ Mạng Quỷ Vương, đây là trong kinh Phật nói “Tỳ Sa Môn, chủ hộ mạng người trong bốn thiên hạ”.  Tỳ Sa Môn là Bắc Phương Thiên Vương, một vị trong tứ đại thiên vương, đây là đức Phật phó chúc cho họ phải bảo hộ mạng người trong bốn thiên hạ.  Thứ hai mươi bốn là Chủ Tật Quỷ Vương, ‘Tật’ là bịnh tật, phàm khi con người sanh bịnh thì vị quỷ vương này sẽ hiện ra.  Nói thật ra khi sanh bịnh, người bịnh và bác sĩ đều có duyên phận với nhau.  Cho nên khi sanh bịnh, quan trọng nhất là tâm địa phải thanh tịnh, từ bi, thành kính thì bạn sẽ cảm được sự giúp đỡ của Chủ Tật quỷ vương.  Khi bạn gặp thầy thuốc, thầy thuốc ra toa cho bạn, ghi những thuốc men này cho bạn, ghi phương pháp chữa trị thường đều có quỷ thần ở đó giúp đỡ.  Nếu tâm địa của bạn chẳng thanh tịnh, rất nhiều vọng tưởng, đặc biệt là tư tưởng tà ác thì quỷ vương này cũng sẽ gây phiền phức cho bạn, bịnh này của bạn sẽ [làm cho bạn] rất khổ, chúng ta phải hiểu đạo lý này.

Vị thư hai mươi lăm là ‘Chủ Hiểm Quỷ Vương’, đây là nói về núi cao, biển lớn, những nơi nguy hiểm này là khu vực do họ cai quản.  Hiện nay có nhiều người thích leo núi, cũng có nhiều người thích ra biển, đây đều là việc dễ gặp phải hiểm nạn, vô cùng nguy hiểm.  Phải biết đây đều là những nơi có quỷ thần cai quản, chúng ta cũng có cơ hội đi đến những nơi này, ngày nay gọi là đi du lịch.  Do đó kinh Ðịa Tạng nói trước khi chúng ta đi du lịch, tốt nhất là một tuần trước khi đi nên niệm kinh Ðịa Tạng, niệm danh hiệu Ðịa Tạng Bồ Tát đủ một vạn biến thì chuyến đi của bạn sẽ được thiện thần bảo hựu, được bình yên.  Tại sao niệm kinh này, niệm danh hiệu Ðịa Tạng Bồ Tát thì được bình yên?  Quan hệ giữa những quỷ thần này với Ðịa Tạng Bồ Tát vô cùng mật thiết, khi bạn có thể tôn kính Ðịa Tạng Bồ Tát, tu học theo pháp môn Ðịa Tạng thì họ nhìn thấy sẽ sanh tâm hoan hỷ, lễ kính đối với bạn cho nên ở những chỗ nguy hiểm này đều có thể tránh khỏi tai nạn, hung hiểm.

Phía sau nói ‘Tam Mục Quỷ Vương’, ‘Tứ Mục Quỷ Vương’, ‘Ngũ Mục Quỷ Vương’, đây là nói dựa trên hình trạng của họ, họ có ba con mắt, có bốn mắt, năm mắt.  ‘Kỳ Lợi Thất Vương’, trong bản Chú Giải có nói ý nghĩa danh từ này chưa được phiên dịch rõ ràng, nhưng trong kinh Kim Quang Minh có dịch là Đại Lực Thiên, cũng có khi dịch là Hỏa Thần. Đối với [ý nghĩa danh xưng của] loại quỷ thần này, có thể tham khảo trong bản chú giải ấy.  Năm xưa đức Phật giảng kinh tại Ấn Ðộ, thời gian giảng kinh tại lưu vực sông Hằng tương đối dài, Phật nhắc đến những quỷ thần này, nói Kỳ Lợi Thất Vương ở phía bắc sông Hằng, chắc là nói đến những quỷ thần tại Ấn Độ, [Kỳ Lợi Thất] là tên chung của những thần thuộc khu vực đó, tức những vùng ở phía Nam và Bắc sông Hằng.  A Na Tra Vương, người Trung Quốc chúng ta gọi là Na Tra, là [danh xưng chung] của những vị ở giữa thiên thần và quỷ thần, đại khái họ do Tứ Vương Thiên cai quản.  Tứ Vương Thiên có thể gọi là thiên thần, cũng có thể gọi là quỷ thần, họ là thủ lãnh của quỷ thần, do Ðao Lợi Thiên Chủ cai quản, họ chịu sự cai quản của Ðao Lợi Thiên Chủ.  Do đó nói thật ra, ngài cũng là Ðại Quỷ Vương, Tứ Thiên Vương là thủ lãnh của các quỷ vương.  Xem tiếp đoạn kinh sau:

Như thị đẳng đại quỷ vương, các các dữ bá thiên chư tiểu quỷ vương, tận cư Diêm Phù Ðề các hữu sở chấp, các hữu sở chủ.

Những vị Ðại Quỷ Vương như thế, mỗi vị cùng với trăm ngàn tiểu quỷ vương, toàn cư ngụ ở cõi Diêm Phù Ðề, ai nấy đều có chức trách, đều có phần chủ trị riêng.

Ðây là nói về tổ chức của xã hội trong cõi quỷ, tình trạng của tổ chức này tương tợ với cõi người.  Nói thật ra tình hình này trong lục đạo ở thế giới Sa Bà, thế giới của chư Phật ở nơi khác đại khái đều giống nhau, đó là vì người có cùng một tâm, tâm có cùng một lý, xét từ kết cấu thì đại khái đều giống nhau.  Mỗi vị quỷ vương này đều có chức trách riêng của họ, ‘các hữu sở chấp’ tức là sự cai quản, chức trách của họ, ‘sở chủ’ tức là phạm vi cai quản của họ, những sự vật do họ cai quản.

Thị chư quỷ vương dữ Diêm La thiên tử, thừa Phật oai thần, cập Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát lực, câu nghệ Ðao Lợi, tại nhất diện lập.

Các Quỷ Vương đó cùng với Diêm La Thiên Tử nương oai thần của đức Phật và oai lực của Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát cùng đến cung trời Ðao Lợi và đứng qua một phía.

Ðoạn này nói rõ họ làm sao có thể tham gia pháp hội ở cung trời Ðao Lợi.  Ðây là nhờ oai thần của Phật gia trì, Ðịa Tạng Bồ Tát giáo huấn lúc  thường ngày, vì duyên cớ này nên họ mới cùng với Ðịa Tạng Bồ Tát đến cung trời Ðao Lợi để tham gia pháp hội của đức Phật Thích Ca Mâu Ni.  Trong pháp hội ‘nhất diện lập’, trong pháp hội có chỗ ngồi của họ.  Ðây là giới thiệu nhân vật, đoạn sau đây nói về các hoạt động của họ trong pháp hội:

Nhĩ thời Diêm La thiên tử, hồ quỳ hiệp chưởng

Lúc đó Diêm La Thiên Tử quỳ gối chắp tay

Ðây là chí kính.

Bạch Phật ngôn, Thế Tôn, ngã đẳng kim giả dữ chư quỷ vương, thừa Phật oai thần cập Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát lực, phương đắc nghệ thử Ðao Lợi đại hội, diệc thị ngã đẳng hoạch thiện lợi cố.  Ngã kim hữu tiểu nghi sự, cảm vấn Thế Tôn, duy nguyện Thế Tôn từ bi tuyên thuyết.

Bạch với đức Phật: “Thưa Thế Tôn, nay chúng con cùng các vị Quỷ Vương nương nhờ oai thần của đức Phật và oai lực của Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát mới được đến đại hội nơi cung trời Ðao Lợi này, mà cũng là chúng con được thiện lợi vậy.  Nay con có chút việc nghi ngờ, xin hỏi Thế Tôn, cúi xin Thế Tôn từ bi tuyên thuyết”.

Ðây là hoạt động quan trọng của họ trong pháp hội: đến thỉnh pháp.  ‘Ngã đẳng’, phạm vi của chữ ‘đẳng’ rất rộng, có thể nói tận hư không, trọn khắp pháp giới hết thảy ‘Chủ’ của các cõi U Minh.  Trong kinh Hoa Nghiêm xưng họ là ‘Thế Chủ’, ‘Thế gian chủ’, Diêm La và quỷ vương cũng là một loại Thế Chủ, số lượng cũng vô lượng vô biên.  Pháp hội Hoa Nghiêm xứng tánh, pháp hội Ðịa Tạng cũng xứng tánh, trong kinh này chúng ta nhìn thấy rất rõ ràng.  Dùng cách nói hiện nay thì ‘Xứng tánh’ nghĩa là đột phá hết thảy thời gian, không gian, những gì pháp hội này hiển thị chính là Nhất Chân pháp giới, pháp giới bình đẳng, cùng với Hoa Nghiêm không hai không khác.  Ðược Phật lực của đức Phật gia trì, oai thần của Ðịa Tạng Bồ Tát gia trì nên họ mới có cơ hội tham gia pháp hội này.  Phía dưới nói ‘diệc thị ngã đẳng hoạch thiện lợi cố’, khi được tham gia pháp hội này họ hoan hỷ vô cùng, họ được đại thiện, được lợi ích to lớn.  Nhưng sau khi nghe xong, họ có nghi vấn, cho nên ‘cảm vấn Thế Tôn’, hy vọng Thế Tôn khai đạo cho họ, phá tan nghi hoặc của họ.  Họ đến đây là để thỉnh pháp.

Phật cáo Diêm La thiên tử, tứ nhữ sở vấn, ngô vị nhữ thuyết.

Ðức Phật bảo Diêm La Thiên Tử: “Cho phép ông hỏi, Ta sẽ vì ông mà nói rõ.”

Thế Tôn vô cùng từ bi, nói với những vua Diêm La này, quý vị có câu hỏi gì thì nêu ra, tùy ý quý vị hỏi gì thì đức Phật sẽ trả lời hết.  Trong Phật pháp quan trọng nhất là phá mê sanh tín, có nghi vấn thì phải hỏi; nếu có nghi vấn mà không hỏi thì sẽ sanh ra rất nhiều chướng ngại trong sự tu học.  Chúng ta nói tu học, chư vị phải biết tu học tức là đời sống hiện thực của chúng ta, tu hành và đời sống là chung một việc, dứt khoát không phải là hai việc.  Hiện nay có một số người cứ coi tu học và đời sống thành hai việc [riêng rẽ], vậy là hoàn toàn sai lầm.  Do đó trong đời sống họ không thể cải thiện, họ chẳng đạt được lợi ích, chẳng được tốt đẹp, chính là vì quan niệm sai lầm này sanh ra.

Thị thời Diêm La thiên tử chiêm lễ Thế Tôn cập hồi thị Ðịa Tạng Bồ Tát.

Lúc đó, Diêm La Thiên Tử chiêm lễ đức Thế Tôn và ngoái nhìn Bồ Tát Ðịa Tạng.

Ðây là lễ tiết, chỗ này chúng ta cũng phải học theo.  Những người này là tùy tùng, cùng đi với Ðịa Tạng Bồ Tát đến đại hội này.  Họ thỉnh giáo đức Thế Tôn, nhất định không thể quên thầy của họ, Ðịa Tạng Bồ Tát là thầy của họ, cũng phải thăm thầy, chào hỏi thầy, xin thầy gia trì.

Nhi bạch Phật ngôn

Rồi bạch Phật rằng

Rồi mới nói.

Thế Tôn, ngã quán Ðịa Tạng Bồ Tát tại lục đạo trung, bá thiên phương tiện nhi độ tội khổ chúng sanh, bất từ bì quyện, thị đại Bồ Tát hữu như thị bất khả tư nghị thần thông chi sự.

“Bạch Thế Tôn, con xem xét Bồ Tát Ðịa Tạng ở trong sáu đường dùng trăm ngàn phương chước để cứu độ những chúng sanh mắc phải tội khổ, chẳng từ mệt nhọc. Vị đại Bồ Tát này có những sự thần thông bất khả tư nghì như thế.

Ðây là lời khen ngợi trước.  Từ bi thần lực của Ðịa Tạng Bồ Tát, các vua Diêm La nhận biết Ðịa Tạng Bồ Tát rất rõ ràng, đối với từ bi, oai đức của Ðịa Tạng Bồ Tát đã vô cùng kính ngưỡng từ lâu. Lời nói của ngài hoàn toàn là sự thật, Ðịa Tạng Bồ Tát ở trong lục đạo, đặc biệt là ở trong ba đường ác, chúng sanh ở nơi nào chịu nạn khổ nhất thì Ðịa Tạng Bồ Tát nhất định sẽ đến nơi đó, nhất định sẽ không bỏ rơi chúng sanh.  Phương pháp giáo hóa chúng sanh của ngài vô lượng vô biên, trong kinh này chỉ nói sơ lược, chỉ nói một nguyên tắc, cương lãnh, chúng ta từ trong bộ kinh này lắng lòng mà tìm hiểu, đâu phải chỉ có trăm ngàn phương tiện thôi đâu?  Ðộ hóa những chúng sanh khổ nhất này vĩnh viễn chẳng mệt mỏi, cũng giống như Phổ Hiền Bồ Tát, hết đời vị lai chẳng mệt mỏi, chẳng chán chường.  Câu cuối cùng là lời tán thán Bồ Tát ‘hữu như thị bất khả tư nghì thần thông chi sự’. 

Nhiên chư chúng sanh, thoát hoạch tội báo vị cửu chi gian hựu đọa ác đạo.

Nhưng các chúng sanh vừa được thoát khỏi tội báo, chẳng bao lâu lại đọa vào ác đạo nữa.

Ðây chính là chỗ vua Diêm La có nghi vấn, là chuyện họ không thể hiểu, nên họ nói ra.  Những chúng sanh này thoát khỏi ác đạo, ‘tội báo’ tức là tam ác đạo, ‘thoát’ là thoát ly, ‘hoạch’ được thoát lìa tội báo.  Nhưng ‘vị cửu chi gian, hựu đọa ác đạo’, ‘vị cửu’ nghĩa là rất ngắn tạm.  Trong chú giải có nêu lên một thí dụ, nêu Ðịa Ngục Ðẳng Hoạt trong địa ngục, Ðẳng Hoạt là một trong tám đại địa ngục.  Thọ mạng trong địa ngục này giống như thọ mạng của Tứ Ðại Vương thiên, năm chục năm ở cõi người là một ngày trong địa ngục, người này lìa khỏi địa ngục rồi đến cõi người, ở cõi người lại tạo tội nghiệp, cho dù sống được một trăm tuổi, sau khi chết đi lại quay trở về địa ngục, xem lại ở địa ngục mới trải qua hai ngày; một trăm năm ở cõi người chỉ bằng hai ngày ở địa ngục, họ đi rồi tại sao qua hai ngày liền trở về?  Việc như vậy quá nhiều, quá nhiều.  Phần đông những cõi ngạ quỷ, quý vị đều biết, một ngày ở cõi quỷ bằng một tháng ở cõi người, người ta sống một năm thì ở cõi ngạ quỷ mới có mười hai ngày.

Cho nên họ thấy những người này tiếp nhận sự dạy dỗ của Ðịa Tạng Bồ Tát, Ðịa Tạng Bồ Tát khổ lòng mỏi miệng khuyên nhủ, [nếu] họ chịu giác ngộ, quay về, khi khởi lên một niệm quay về thì họ có thể thoát khỏi ác đạo, cho dù ở trong địa ngục A Tỳ cũng chẳng ngoại lệ.  Chỉ cần bạn khởi một niệm hướng thiện, một niệm ấy liền siêu việt, cho nên chúng ta đừng coi thường một niệm này.  Người thế gian chúng ta niệm Phật cầu vãng sanh Tịnh Ðộ cũng là một niệm này, một niệm lúc lâm chung nếu bạn niệm A Di Ðà Phật, bạn nghĩ về tây phương Cực Lạc thế giới thì với một niệm ấy liền vãng sanh.  Lúc bình thường dạy chúng ta niệm Phật là huấn luyện, là sợ lúc lâm chung quên mất một niệm ấy, một niệm đó sai lầm thì sẽ hỏng hết.  [Niệm Phật lúc] bình thường ví như luyện binh, một niệm cuối cùng lúc lâm chung là giao chiến, khi bạn tắt thở, bạn sanh vào cõi nào là dựa trên một niệm lúc lâm chung này, do đó chúng ta phải coi trọng một niệm này.  Làm sao mới thật sự nắm chắc để cho một niệm này không bị mất?  Nhất định phải biết tu phước.  Người có phước báo, phước báo chân chánh không có nghĩa là hiện giờ có của cải, có địa vị, không phải vậy, phước báo đó là giả.  Thật sự có phước báo thì lúc lâm chung không bị bịnh khổ, dự biết thời giờ đã đến, biết lúc nào mình ra đi, chẳng sanh bịnh, [đầu óc] sáng suốt rõ ràng, đứng mà vãng sanh, ngồi mà vãng sanh, vô cùng tự tại, người như vậy gọi là người có phước báo to lớn.  Tại sao nói phước báo của người đó to lớn?  Vì họ vĩnh viễn thoát ly luân hồi, sẽ chẳng tạo nghiệp lục đạo nữa.  Nếu họ trở lại cõi người, trở vào lục đạo thì họ [dùng thân phận] Bồ Tát, chẳng phải phàm phu nữa.  Họ đến thế gian tùy loại hóa thân, giống như những quỷ vương Diêm La cũng hóa thân đến, họ đến để cứu khổ cứu nạn, giúp đỡ những chúng sanh đang chịu khổ nạn, tuyệt đối chẳng tạo nghiệp thọ báo.  Như vậy gọi là có phước báo to lớn, đó là phước báo thật sự, chúng ta nhất định phải thấy rõ ràng, rành rẽ.  Thế nên [chúng ta] không nên mong cầu những phước báo hữu lậu của thế gian, chúng ta phải tu phước báo vô lậu, như vậy mới là một người thật sự có trí huệ, thật sự hiểu rõ, trong nhà Phật gọi là người chân chánh giác ngộ.  Ðây là hiện tượng họ nhìn thấy nên thưa hỏi đức Phật Thích Ca Mâu Ni.  Thật ra những chuyện này, đâu phải là họ chẳng biết, như vậy gọi là đã biết mà cứ hỏi, hỏi để đức Phật nói ra cho mọi người đều tin tưởng.  Nếu Bồ Tát nói ra, quỷ vương nói ra, lòng tin của mọi người cũng chẳng đủ nên phải thỉnh Phật giảng nói.  Do đó cách hỏi này thuộc về ‘Cách hỏi để lợi lạc hữu tình’, không phải là họ không biết, họ hỏi thay chúng sanh, chúng ta nhất định phải học việc này.  Muốn Phật pháp được hoằng dương rộng rãi, muốn Phật pháp trụ lâu dài trong thế gian thì nhất định phải biết nêu câu hỏi thay cho chúng sanh.

Thế Tôn, thị Ðịa Tạng Bồ Tát, ký hữu như thị bất khả tư nghị thần lực, vân hà chúng sanh nhi bất y chỉ thiện đạo, vĩnh thủ giải thoát, duy nguyện Thế Tôn vị ngã giải thuyết.

Bạch Thế Tôn, Bồ Tát Ðịa Tạng đã có thần lực bất khả tư nghì như thế, cớ sao chúng sanh chẳng chịu nương về thiện đạo để được giải thoát mãi mãi? Cúi xin Thế Tôn dạy rõ việc đó cho chúng con.

Ðây đích thật là nghi hoặc lớn lao của chúng ta, các ngài rất từ bi nêu câu hỏi thay chúng ta.  Trí huệ, từ bi, thần thông, đạo lực của Ðịa Tạng Bồ Tát cùng chư Phật Như Lai chẳng khác gì, điều này chúng ta phải biết.  Số học trò của Ðịa Tạng Bồ Tát đã thành Phật rồi không thể tính biết được, chẳng có cách chi tính nổi, vị thầy này còn trụ ở địa vị Bồ Tát, đây là từ bi đến cùng cực.  Tại sao cứ trụ ở địa vị Bồ Tát, chẳng dùng địa vị của Phật để độ chúng sanh?  Ðiểm này mọi người nhất định phải biết, Phật là sư đạo, pháp thế gian và xuất thế gian nhất định phải tôn sư trọng đạo.  Cho nên ‘chỉ nghe nói [học trò] đến học chứ chưa bao giờ nghe ông thầy đi dạy’, chỉ có bạn đi đến đâu cầu học, chẳng nói thầy giáo đến để dạy cho bạn, chẳng có đạo lý đó.  Nói cách khác, dùng thân phận của Phật để độ chúng sanh có nhiều việc bất tiện, không thể chủ động đi giáo hoá chúng sanh, cũng không thể nói là không có người mời đức Phật bèn nói, nhất định phải có người thỉnh, nhất định phải để cho người ta tôn trọng pháp, tôn trọng học thuật thì thầy giáo mới có thể dạy.  Thân phận Bồ Tát thì không giống vậy, Bồ Tát là thân phận bạn đồng học, bạn lớp đàn anh nên giống như trong kinh Vô Lượng Thọ có nói ‘làm người bạn không mời’, đó là Bồ Tát.  Phật thì không thể, cho nên Phật phải thoái lui đến địa vị Bồ Tát thì mới có thể rộng độ chúng sanh.

Trí huệ, thần thông, đạo lực của Ðịa Tạng Bồ Tát đích thật chẳng khác gì với chư Như Lai, tại sao những chúng sanh này không nghe lời?  Không tuân theo lời dạy của Bồ Tát ‘vĩnh thủ giải thoát’.  Nói thật ra chúng ta thấy những tôn giáo khác trên thế gian, cho đến thấy Nhất Quán Ðạo [11], kinh điển của Nhất Quán Ðạo, trong đó cũng khuyên người niệm A Di Ðà Phật cầu sanh tây phương Cực Lạc thế giới để được giải thoát vĩnh viễn, ở trong đó cũng có.  Cũng khuyên người niệm Quán Thế Âm Bồ Tát hòng tiêu tai miễn nạn, tại sao người ta không chịu nghe theo?  Chúng ta nói một cách chung chung là nghiệp chướng tập khí quá nặng, cũng nghĩa là tham, sân, si, vọng tưởng quá nặng, chẳng buông xuống nổi.  Bên trong có phiền não tập khí [tích lũy] từ vô thỉ kiếp đến nay, bên ngoài lại bị dụ dỗ bởi ngũ dục lục trần, hiện nay trong ngũ dục lục trần lại cộng thêm yêu ma quỷ quái, sức mạnh càng tăng thêm.  Thế nên vừa thoát ra khỏi địa ngục sanh đến cõi người chưa được bao lâu lại bị mê hoặc, lại tạo tội nghiệp, rồi đọa lạc trở lại.  Chẳng phải là Ðịa Tạng Bồ Tát không có năng lực này, mà vì chúng sanh không chịu nghe lời, chẳng thể y giáo phụng hành, nên mới chuốc phải những khổ nạn này.

Hôm nay đã hết giờ, chúng ta giảng đến đây thôi.

Trong quá trình chuyển ngữ chắc không tránh khỏi thiếu sót, xin các bậc thức giả hoan hỷ phủ chính cho. 

Xin thành thật cám ơn.                                        

Một nhóm Diệu Âm cư sĩ, ngày 4 tháng 9 năm 2006

 

[1] Hoàng tuyền lộ thượng vô lão thiếu, cô phần đô thị thiếu niên nhân.

[2] Cử đầu tam xích hữu thần minh

[3] Trai có nghĩa gốc là trong sạch, thanh khiết, nên cơm chay được gọi là Trai vì không dùng đến huyết nhục tanh hôi, đồng thời hàm nghĩa dùng cái tâm thanh khiết, không bần đục vì phiền não mà chuẩn bị nên gọi là “biện trai”, người ăn vô bằng cái tâm rỗng rang, không tham chấp để thọ dụng vật cúng dường thanh khiết nên gọi là “thọ trai”

[4] Nguyên văn ‘khảng tha nhân chi khái’, nghĩa là “của người” tức tài sản của người khác thì mình rộng rãi, còn tiền tài của mình thì giữ chặt khư khư, không chịu nhả ra, giống như dùng dây lạt để buộc (cột) thật chặt!

[5] Mạn Y (tiếng Phạn là patta), là một loại y của Tăng sĩ, vải để nguyên khổ không cắt ra [may thành y] thì gọi là Mạn Y. Mạn Y dành cho Sa Di và người thọ giới Bồ Tát đắp.

[6] Y nhân sở phạm khinh trọng, dĩ đoạt nhân toán.  Toán giảm tắc bần hao, đa phùng ưu hoạn, nhân giai ác chi, hình họa tùy chi, cát khánh tị chi, ác tinh tai chi.

[7] Nhạc Phủ hữu Chủ Tài Án Chủ giả

[8] Nhiên thái thượng vưu cấm hoạnh thủ nhân tài giả

[9] Sở dĩ nói như vậy là vì trong Dịch Học, người ta gán mỗi con giáp tương ứng với một hành, chẳng hạn Tý, Sửu thuộc Thổ, Ngọ, Mùi thuộc Thủy vân vân…

[10] Trong bài giảng nào đó, Hòa Thượng có nói thật ra cây không có thần, mà do thần chấp trước, nương gá vào cây, coi đó như là cung điện của chính mình nên gọi là thần cây.

[11]  Một giáo phái có nguồn gốc từ Trung Quốc Đại Lục, hiện nay là một giáo phái rất phát triển ở Đài Loan.  Danh xưng Nhất Quán Đạo có từ năm 1886, đời Thanh Đức Tông, khởi thủy từ vùng Sơn Đông, sau đó được truyền đi nhiều nơi.  Nhất Quán Đạo dung hợp năm tôn giáo: Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo, Thiên Chúa giáo, và Hồi giáo.  Vị thần chính được tôn thờ gọi là Minh Minh Thượng Đế.  Họ thường tiếp xúc với các loại quỷ thần bằng cách phù loan.  Các buổi lễ tiếp đón tín đồ mới đều được diễn ra trong vòng bí mật, họ thường bắt tín đồ không được tiết lộ những gì họ đã tuyên thệ!

Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.