Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.
PrintFriendly and PDF

ÐỊA TẠNG BỒ TÁT BỔN NGUYỆN KINH GIẢNG KÝ

Tập 23 (Số 14-12-23)

          Xin mở cuốn Khoa Chú quyển trung, trang 49, xin xem kinh văn:

          Hà huống thiện nam tử, thiện nữ nhân tự thư thử kinh, hoặc giáo nhân thư, hoặc tự tố họa Bồ Tát hình tượng, nãi chí giáo nhân tố họa, sở hữu quả báo tất hoạch đại lợi

          Huống chi là người thiện nam, người thiện nữ tự biên chép kinh này, hoặc bảo người biên chép, hoặc tự mình đắp vẽ hình tượng của Bồ Tát, cho đến bảo người khác đắp vẽ, thì quả báo mà người đó được ắt sẽ có lợi ích lớn.

          Phía trước nói về người thân, quyến thuộc, bạn bè trước lúc họ lâm chung, dùng tài vật của họ, thay họ tu phước, họ sẽ được phước báo vô cùng thù thắng.  Nếu lúc mình còn khỏe mạnh có thể tu phước báo cho chính mình, vậy thì quả báo đương nhiên càng thù thắng, đây nói về Lý này.  ‘Huống chi người thiện nam, người thiện nữ’, ‘thư’ là viết, chép, thời xưa kỹ thuật ấn loát còn chưa phát minh, hơn phân nửa kinh sách và hình tượng Phật, Bồ Tát đều được chép và vẽ.  Chép một bộ kinh, thì thế gian có thêm một bộ kinh điển, có thể vì chúng sanh làm tăng thượng duyên cho Phật pháp, cho nên công đức này rất lớn.  Đức Phật chẳng còn tại thế, Phật pháp có thể trụ thế lâu dài thì nhất định phải nhờ kinh điển, kinh điển phải có người hộ trì, lưu thông; công đức lưu thông kinh điển, hộ trì Phật pháp trong thế gian và xuất thế gian đích thật là hạng nhất.  Vì chỉ có Phật pháp mới có thể làm cho chúng sanh giác ngộ, có thể làm cho chúng sanh phá mê, phá mê khai ngộ mới có thể được vô lượng phước báo.  Đức Phật thành thật nói với chúng ta, phước báo chân thật của hết thảy chúng sanh vốn đã có sẵn trong tự tánh, nhưng nếu bạn không giác ngộ thì tự tánh bạn bị che lấp.  Tuy có phước báo, cũng giống như kho tàng vậy, ẩn kín trong núi sâu, chôn vùi dưới lòng đất, tuy có nhưng bạn chẳng dùng được.  Nhà của bạn xây trên mỏ vàng, phía dưới là mỏ vàng vô tận, nhưng bạn chẳng lấy dùng mà vẫn phải chịu quả báo nghèo khổ, bạn chẳng thọ dụng được.  Cho nên Phật pháp dạy bạn khai trí huệ, khai phát kho tàng trong tự tánh của bạn, phước báo ấy chẳng cùng tận.

          Phật pháp dạy bạn tu phước, duyên do của việc tu phước là gì?  Do bạn còn chưa kiến tánh.  Khi chưa kiến tánh, nếu muốn hưởng phước báo thì phải làm sao?  Phải nhờ ‘tu’.  Phước nhờ ‘tu’ có được chẳng phải của tự tánh, [phước trong] tự tánh mới chẳng cùng tận.  Như chúng ta thấy cõi Cực Lạc nói trong kinh Tịnh Độ, đó là phước báo của tự tánh.  Kinh Hoa Nghiêm nói đến Hoa Tạng thế giới của đức Phật Tỳ Lô Giá Na cũng là phước báo của tự tánh.  Chư vị phải biết nếu chúng ta phá mê khai ngộ, minh tâm kiến tánh, y báo chánh báo trang nghiêm giống như thế giới Cực Lạc và thế giới Hoa Tạng sẽ hiện ra.  Đương nhiên nói thì dễ, thật sự làm được rất khó, lúc chúng ta chưa kiến tánh mà muốn được phước, phương pháp duy nhất là phải ‘tu’, bạn tu nhiều thì phước báo của bạn sẽ lớn, bạn tu ít thì phước báo của bạn sẽ nhỏ.

          Tu phước trong nhà Phật là thù thắng nhất nhưng chúng ta phải có trí huệ, biết rõ.  Trong kinh Lăng Nghiêm, Thế Tôn nói thời Mạt Pháp chúng ta, tà sư thuyết pháp nhiều như cát sông Hằng, đây là để nhắc nhở chúng ta, trong thời kỳ này có Phật pháp giả, có Phật pháp giả mạo.  Trồng phước trong Phật pháp giả thì khá khó khăn.  Không phải là nói không có, trên lý luận thì vẫn có!  Nhưng bạn chẳng thọ dụng được.  Chỉ gieo trồng hạt giống trong A Lại Da thức, đến lúc nào mới có thể hưởng thọ được, quá khó.  Trong kinh có thí dụ, vô lượng kiếp sau mới có thể hưởng thọ được.  Nếu chúng ta trồng phước, ngay hiện giờ liền có thể hưởng thọ, bất luận là chúng xuất gia, tại gia, tu hành chân chánh, cúng dường [họ thì chúng ta] liền có phước.  Cho nên mọi người cũng đừng có thành kiến, nhất định đối với chúng xuất gia thì chúng ta mới cung kính, còn chúng tại gia thì thua một bậc, thế gian thường có phân biệt sai lầm như vậy.  Nhất định phải hiểu, trong nhóm đồng tu tại gia cũng có người tu hành rất nghiêm túc, chư Phật, Bồ Tát thị hiện thân phận tại gia cũng rất nhiều, nhất định phải hiểu đạo lý này.  Phàm những người tốt, người thiện, người hiền có sức ảnh hưởng nhất định đối với xã hội, địa phương, phong tục, giáo hóa, chúng ta đều nên cúng dường, nên học theo họ, như vậy mới đúng.

          Tự mình chịu chép kinh, hiện nay chẳng cần chép kinh, hiện nay kỹ thuật ấn loát phát triển, khoa học kỹ thuật phát triển thì in kinh là được rồi.  Chúng ta lựa bản in nào tốt, bản chú giải tốt, rồi ấn loát lưu thông với số lượng nhiều, nên hiện nay tu phước đích thật tiện lợi hơn người xưa rất nhiều.  Người hiện nay tu phước chẳng đuợc quả báo bằng người xưa, đó là vì nguyên nhân khác.  Nguyên nhân đó là gì?  Tâm địa chẳng kiền thành, chẳng cung kính, chẳng khẩn thiết, làm thì làm nhiều hơn người đời xưa, phước thì được ít hơn người xưa, đây chính là lời dạy của Ấn Quang pháp sư: “Có một phần thành kính thì được một phần lợi ích, mười phần thành kính thì được mười phần lợi ích”.  Chuyện của người hiện nay chúng ta làm vượt trội hơn người xưa không chỉ gấp trăm lần, ngàn lần, nhưng chẳng được phước bằng người xưa.  Đó là vì người xưa có một trăm phần thành kính, hiện nay chúng ta chỉ có một, hai phần thành kính, do đó phải hiểu đạo lý này.  Nếu chúng ta có tâm thành kính giống như người đời xưa, hiện nay tu phước chắc chắn sẽ vượt trội người xưa trăm lần, ngàn lần, sẽ được phước báo gấp trăm lần, ngàn lần, điều này không thể không biết.  Cho nên [chúng ta] có rất nhiều cơ hội trước mặt mà bỏ lỡ, thiệt là đáng tiếc!  Đây là nói về việc lưu thông kinh điển.

          Phía dưới là việc đúc tạo tượng Phật, hiện nay đúc hình tượng Phật, Bồ Tát rất thuận tiện, hiện nay có thể làm khuôn, làm khuôn xong có thể đúc mấy ngàn tượng, mấy vạn tượng Phật với chi phí thấp.  Hiện nay [mọi việc đều] cơ giới hóa, thời xưa phải dùng tay nghề khéo léo.  Còn việc vẽ tranh, ấn loát cũng rất thuận tiện.  Thế nên chúng ta phải biết làm sao có thể theo kịp những đại đức thời xưa, phải có tâm chân thành cung kính, tâm khẩn thiết đem lại lợi ích cho chúng sanh, thì bạn sẽ được ích lợi to lớn, ‘sở thọ quả báo, tất hoạch đại lợi’.  Chúng ta tự làm, dạy người khác làm, nếu tự mình chẳng có nhân duyên, điều kiện chẳng đủ thì chúng ta khuyên người khác làm cũng được lợi ích rất lớn.

          Chúng ta coi Chú Giải trang 50, hàng thứ nhất, Thanh Liên pháp sư dẫn chứng một đoạn trong kinh Niết Bàn, đoạn này rất quan trọng!  Tôi đọc một lần, mọi người hãy nghe.  Kinh Niết Bàn nói: “Ư ác thế trung, thư tả kinh quyển’ (Trong đời ác, biên chép kinh), chúng ta hiện nay nói chuyện in kinh, ‘diệc khuyến tha nhân lịnh đắc thư tả, cụ túc năng giải, tận kỳ nghĩa vị’ (cũng khuyên kẻ khác biên chép, đầy đủ có thể hiểu rõ tận cùng nghĩa vị), không những tự mình lưu thông kinh sách, đối với ý tứ nói trong kinh sách cũng có thể thông đạt, có thể hiểu rõ, đó là chép kinh.  ‘Tố họa hình tượng’, phía sau nói về tạo tượng, tạo tượng bằng cách nặn cũng được, bằng cách vẽ cũng được.  Trong kinh Tạo Tượng dạy ‘Tạo hình tượng Phật, Bồ Tát, phước ấy vô lượng, vô cùng tận, chẳng thể tính đếm’.  Hai đoạn nhỏ này đều là đoạn trích trong kinh, quả báo, phước đức thật sự là vô lượng vô biên.  Trong kinh nói ‘cụ túc năng giải, tận kỳ nghĩa vị’, hai câu này rất quan trọng, khi bạn thật sự hiểu rõ đạo lý này, hiểu rõ sự thật quả báo thì bạn mới chịu làm hết lòng, dùng tâm chân thành cung kính mà làm, chẳng hoài nghi.

          Phật pháp trong xã hội hiện nay đích thật đã suy thoái, tại sao lại suy thoái?  Chẳng có thiện tri thức răn dạy, tuy kinh điển lưu thông rất nhiều, chẳng có người giảng giải.  Bạn chỉ đọc tụng, chẳng hiểu rõ, họ cũng hiểu được tạo tượng rất tốt, cũng phát tâm tạo tượng, nhưng khi gặp một số ác tri thức nói: ‘Bạn làm như vậy là mê tín, làm như vậy chẳng có công đức’, nghe xong thì người ấy rất dễ thoái tâm.  Nếu ác duyên này rất rộng lớn, gặp được một người nói như vậy, gặp hai người cũng nói như vậy, gặp bốn năm người cũng nói như vậy thì lòng tin của người đó sẽ bị lay chuyển.  Có thể nào gặp nhiều người cùng nói giống như vậy không?  Rất có thể.  Đức Phật nói [đời Mạt pháp] ‘tà sư thuyết pháp nhiều như cát sông Hằng’, bạn gặp mười người, tám người cũng đâu có gì lạ.  Gặp được một trăm, một ngàn người đều nói như vậy thì bạn phải làm sao?  Đến lúc ấy rốt cuộc chúng ta tin lời đức Phật nói hay tin lời mọi người?  Nhất định phải hiểu nghĩa kinh, việc này rất quan trọng!  Cho nên chúng ta hiểu rồi, chúng ta có nghĩa vụ tuyên dương, có nghĩa vụ đem ý nghĩa chân thật trong kinh Phật, chẳng sợ phiền toái mà giảng giải cho người ta nghe.  Giúp người giác ngộ, củng cố lòng tin, tâm nguyện của họ, thành tựu cho phước đức lợi ích của họ, đây là vì muốn cho họ tốt.

          Trong Phật pháp hết thảy đều vì chúng sanh, quyết chẳng vì mình.  Chư Phật, Bồ Tát tuyệt chẳng có thành kiến, tuyệt chẳng có ý tứ về mình, đức Phật giảng hết thảy kinh có ý tứ của mình trong đó không?  Chẳng có.  Đức Phật Thích Ca thuyết pháp bốn mươi chín năm, chẳng có câu nào, chữ nào là ý tứ của riêng mình.  Nếu biết là ý tứ của riêng mình thì đó là phàm phu, phàm phu mới có riêng mình, riêng mình là ngã chấp cứng chắc.  Ngã chấp chẳng phá được thì vẫn là phàm phu lục đạo luân hồi, họ làm sao có thể thuyết pháp?  Đức Phật đoạn dứt hết cả hai Ngã Chấp và Pháp Chấp, ngài làm gì có Ta, làm gì có ý về ‘Ta’.  Đã chẳng có Ta, chẳng có ý tứ của Ta, kinh Phật được nói như thế nào?  Nói thật ra, vừa mở cuốn kinh câu thứ nhất liền nói với bạn ‘Như thị ngã văn’, ý của bốn chữ này là tự tánh tỏ lộ ra, vậy mới gọi là ‘như thị’.  ‘Như thị’ là từ chân như tự tánh tuôn trào ra, chân như tự tánh chúng sanh và Phật bình đẳng.   Kinh Phật từ tự tánh tuôn trào ra, nói cách khác, cũng tuôn trào từ tự tánh của chúng ta, là sự việc như vậy.  Do đó nó chân thật, chẳng hư dối, chúng ta phải hiểu đạo lý này.  Tương lai khi chúng ta minh tâm kiến tánh, Phật pháp thường nói ‘chứng’, trong ‘tín, giải, hành, chứng’, bạn ‘chứng’ cái gì?  Chứng minh hết thảy kinh Phật nói đều từ tự tánh của mình tuôn trào ra, vậy gọi là chứng quả.  Tự tánh của Phật và tự tánh của mình chẳng khác, là một chẳng phải hai, chứng minh việc này.  Sanh Phật bất nhị, chúng sanh và Phật chẳng hai, đều là một.

          Ðức Phật đã kiến tánh, chúng ta hiện nay chưa kiến tánh, chúng ta nghe lời Phật dạy tức là thuận theo tự tánh, tuyệt chẳng phải bị đức Phật Thích Ca xỏ mũi dẫn đi.  Bạn y giáo phụng hành là tánh đức của tự tánh hiển lộ, lời răn dạy của đức Phật mới đạt đến mức cao minh chân chánh, thật sự đạt đến chí thiện, viên mãn.  Trong quá trình học tập, nhất định phải hiểu ‘hằng thuận chúng sanh, tùy hỷ công đức’, đây là lời Phổ Hiền Bồ Tát dạy chúng ta, đây là tổng cương lãnh, nguyên tắc chung của sự tu hành.  Làm sao có thể làm việc này đến chí thiện, viên mãn.  Chí thiện tuyệt đối chẳng trái nghịch tánh đức, chẳng trái nghịch Lý gọi là khế lý, như vậy là chí thiện.  Viên mãn là khế cơ, cơ là đại chúng hiện tiền.   Hôm qua tôi triệu tập hết thảy những pháp sư lãnh chúng, tôi nói những đạo lý này, làm thế nào làm cho Niệm Phật Đường đạt đến mức chí thiện rốt ráo, nhất định phải biết khế lý, khế cơ; khế lý nghĩa là chẳng trái nghịch kinh giáo, noi theo nguyên lý, nguyên tắc, phương pháp trong kinh giáo để tu học; khế cơ là nhất định phải làm cho đại chúng trong Niệm Phật Đường niệm đến mức sanh tâm hoan hỷ, niệm được đúng như pháp.  Nhất định để cho họ có thể đè nén phiền não, chúng ta chẳng nói ‘diệt’, khi ở trong Niệm Phật Đường nhất định phải chế ngự được phiền não, phải tương ứng với nhất tâm.  Nếu chẳng đạt được cảnh giới nhất tâm thì tối thiểu cũng phải được công phu thành phiến.  Thời gian trong Niệm Phật Đường chẳng có vọng niệm, trong tâm chỉ có một câu ‘A Di Đà Phật’, ‘nhớ Phật, niệm Phật, hiện tiền tương lai nhất định thấy Phật’.

          Cho nên phải chăm lo cho mỗi người trong đại chúng niệm Phật, phải thường chăm sóc họ, nên thường hỏi họ: ‘Bạn có ý kiến gì đối với Niệm Phật Đường không?  Có cảm thấy chỗ nào chẳng hợp lý không?’  Xin mọi người cho ý kiến, chúng ta hết lòng cải tiến.  Mỗi ngày phải tìm ra khuyết điểm của mình, phải sửa đổi lỗi lầm, một ngày không cải tiến là một ngày không tiến bộ.  Thường thường thì chúng ta chẳng nhìn thấy lỗi lầm của mình, nhưng người khác nhìn thấy.  Người khác thấy nhưng chẳng nói ra thì phải làm sao?  Mình phải đi hỏi.  Chúng ta phải hoan hỷ nghe lỗi lầm, mạnh dạn sửa lỗi, đây là nguyên tắc tu hành đức Phật dạy cho chúng ta, là nguyên tắc quan trọng, đây gọi là pháp môn sám hối, pháp môn tinh tấn.  Biết lỗi phải sửa, ưa thích người ta cho ý kiến, nghe lời đề nghị, phê bình của kẻ khác chúng ta phải hết lòng phản tỉnh, sửa sai đổi mới, đạo tràng như vậy mới có tiền đồ, đạo tràng này mới trở thành đạo tràng mô phạm, điển hình cho thế gian, trong đó chúng ta mới có thành tựu chân chánh.  Điểm này quan trọng phi thường!  Chẳng có người nào thật sự thành công trong thế gian, xuất thế gian mà chẳng tu học như vậy.  Cho dù họ có thành tựu nhưng chẳng nghe lời đề nghị của kẻ khác, cố chấp thành kiến của mình thì sự nghiệp của họ làm lớn đến đâu cũng chẳng kéo dài được.  Chỉ có tôn trọng ý kiến của đại chúng, sự nghiệp của họ mới có thể kéo dài, mới vĩnh viễn chẳng thất bại.  Thánh nhân thế gian và xuất thế gian đều dạy chúng ta đạo lý này, chúng ta phải ghi nhớ, tiếp nhận.  Xem tiếp kinh văn:

          Thị cố Phổ Quảng, nhược kiến hữu nhân độc tụng thị kinh nãi chí nhất niệm tán thán thị kinh, hoặc cung kính giả, nhữ tu bá thiên phương tiện khuyến thị đẳng nhân, cần tâm mạc thoái, năng đắc vị lai hiện tại thiên vạn ức bất khả tư nghị công đức.

          Vì thế, Phổ Quảng, nếu thấy có người đọc tụng kinh này, cho đến có một niệm tán thán kinh này hoặc tỏ lòng cung kính, thì ông phải dùng trăm ngàn phương tiện khuyên người đó nên phát tâm siêng năng, đừng thoái thất, thì sẽ được ngàn vạn ức công đức không thể nghĩ bàn ở hiện tại và vị lai.

          Đây là khuyến tu.  Khi thấy người tụng kinh, thấy người cung kính Tam Bảo, nhất định phải khuyến khích họ, khen ngợi họ.  Sự khuyến khích, khen ngợi này không những có lợi ích rất lớn cho họ, trên thực tế cũng là răn dạy một số người vô tri.  Họ thấy người này khen ngợi việc đọc kinh, khuyến khích đọc kinh, có thể khải phát lòng tin của họ.  Cho nên khuyên một người tức là khuyên rất nhiều người, quả báo thù thắng chẳng thể nghĩ bàn, nên họ mới ‘được ngàn vạn ức công đức chẳng thể nghĩ bàn’.  Đây là như chúng ta thường nói ‘Một phen lọt vào tai, vĩnh viễn thành hạt giống đạo’, công đức chẳng thể nghĩ bàn là nói từ chỗ này.  Nếu ba thứ thiện căn, phước đức, nhân duyên của người ấy, cả ba đều đầy đủ thì đời này người ấy sẽ thành tựu, đây là chuyện tương đối chẳng dễ.  Nhưng không phải là chẳng có, trong đời mạt pháp ngũ trược cũng có.  Người có thiện căn kém tuy hiện thời chẳng thể được lợi ích, nhưng hạt giống kim cang đã được trồng trong A Lại Da thức, người hiện nay gọi là ghim vào ấn tượng của bạn, ấn tượng của bạn rất sâu đậm, vĩnh viễn sẽ chẳng diệt mất.  Tương lai khi gặp duyên, tức là gặp được một số điều kiện [thuận lợi] thì hạt giống ấy sẽ khởi tác dụng, sẽ có thể giúp bạn tu hành chứng quả.

          Hiện nay chúng ta sợ người ta nói mình mê tín, nói thật ra chẳng phải chúng ta mê tín, họ mới mê tín.  Như thế nào là mê tín?  Chưa tìm hiểu rõ ràng chân tướng sự thật bèn tin tưởng, vậy gọi là mê tín.  Chúng ta là những người học Phật, chưa tìm  hiểu rõ chân tướng sự thật bèn tin Phật pháp, bèn niệm kinh lạy Phật, thì đó là mê tín, chẳng sai gì cả!  Người ấy nói chúng ta mê tín thì người ấy cũng mê tín, tại sao?  Người ấy đối với Phật pháp cũng chưa tìm hiểu rõ ràng, minh bạch, bèn nói đó là mê tín, do đó họ cũng mê tín.  Cái mê tín của chúng ta có ích lợi, còn mê tín của họ thì có hại, chẳng có lợi, nên cả hai đều là mê tín.  Khi bạn đã tìm hiểu Phật pháp rõ ràng rành rẽ, xong rồi bạn nói chúng ta ‘tín’ hay ‘mê tín’, nếu vậy thì điều bạn nói mới đúng.  Chưa tìm hiểu rõ ràng bèn nói chúng ta mê tín, tôi cảm thấy họ mê tín còn nhiều hơn, mê tín trên mê tín, chúng ta thì mê tín một tầng, họ thì mê tín hai tầng.  Cho nên muốn phê bình đúng đắn thì bạn nhất định phải tìm hiểu rõ ràng, nếu bạn chẳng hiểu rõ mà cứ tùy tiện nói thì sẽ rất dễ làm mích lòng, rất dễ tạo ác báo như trong kinh đã nói.  Ác báo hình thành như thế nào?  Do ngu si.  Ngu si như thế nào?  Chưa tìm hiểu rõ ràng bèn nói bừa, tùy tiện phê bình, vậy là không nên, thái độ học vấn như vậy là sai lầm, chẳng đúng đắn.  Nghe người ta nói thì cũng không được, người ta nói có đáng tin không?  Khi nghe người ta nói, chúng ta phải đi sâu vào, nghiên cứu để tìm chứng minh.  Giống như chúng ta học Phật vậy, chúng ta đọc kinh điển của đức Phật Thích Ca Mâu Ni, chẳng phải nhất loạt thuận theo, nghe theo ngài, chúng ta ở trong ấy tu học, cầu chứng, chứng minh lời Phật nói là chân thật, chẳng phải giả.  Đây là điểm thù thắng của nền giáo học Phật Đà, đức Phật nói cho bạn, giảng cho bạn hiểu rõ, tín, giải, hành, chứng.  Bạn phải ‘tin’ trước, sau khi bạn ‘tin’ xong thì tìm cầu ‘giải’, chỉ ‘tin’ thôi không được, nhất định phải ‘giải’ (hiểu rõ).  ‘Giải’ xong, bạn phải cầu ‘chứng’, chứng minh điều bạn ‘tin’, điều bạn ‘giải’, đích thật là vốn có trong tự tánh, chẳng phải đến từ bên ngoài, Phật pháp gọi là Nội Học, ý nghĩa là như vậy.

          ‘Cần tâm mạc thoái’, bốn chữ này là chữ quan trọng mấu chốt trong đoạn này.  Chúng ta khuyến khích, khuyên một người, mục đích là ở chỗ này, hy vọng kẻ ấy dũng mãnh tinh tấn, đừng thoái chuyển, được vậy thì người ấy nhất định sẽ thành tựu ngay trong đời này.  Trong Chú Giải có một đoạn trích dẫn kinh văn, trong Chú Giải trang 51 hàng thứ ba, câu cuối cùng.  Trong kinh Kiên Ý có một đoạn “Phật cáo A Nan, kỳ hữu hảo tâm thiện ý chi nhân, văn Phật minh pháp, nhất tâm nhi thính, năng nhất nhật khả” (Phật bảo A Nan, người có tâm tốt, thiện ý ấy, nghe hiểu pháp của Phật, lắng nghe chăm chú trong một ngày cũng được), người ấy có thể nghe một ngày cũng tốt! “Bất năng nhất nhật, bán nhật khả” (Không thể [nghe] một ngày, [thì nghe] nửa ngày cũng được).  Đây là lúc Phật còn tại thế, lúc ấy ‘nhất thời’ bằng bốn giờ đồng hồ hiện nay.  Ấn Độ thời xưa chia ban ngày thành ba thời, ban đêm ba thời, ngày đêm thành sáu thời.  Ở đây nói một thời tức là bốn giờ hiện nay.  “Bất năng nhất thời, bán thời khả”, bán thời tức là hai tiếng đồng hồ hiện nay.  “Bất năng bán thời, tu du khả”, ‘tu du’ tức là một thời gian rất ngắn, nghe mười phút, năm phút cũng được.  “Kỳ phước bất khả lượng” (Phước ấy chẳng thể tính đếm được), phước báo của họ chẳng thể tính đếm.

          Cuối cùng ngài kết luận “tạm thính thượng nhĩ, huống cung kính hồ” (tạm nghe còn được huống chi cung kính nghe), tạm nghe cũng được phước lớn như vậy, tại sao phước này lớn như vậy?  Vì một người trong lục đạo luân hồi được thân người rất khó, thân người rất khó được.  Được thân người mà được nghe Phật pháp lại càng khó, có thể là trong vô số kiếp bạn mới có cơ hội nghe được vài câu Phật pháp, vài câu Phật pháp này lọt vào A Lại Da thức, tương lai sẽ là nhân duyên được độ, cho nên phước báo chẳng thể tính đếm nổi.  Ngày nay chúng ta tạo nhân duyên cho người khác có được hạt giống Phật, bạn phải biết quả báo thù thắng cỡ nào!  Trong bất kỳ trường hợp nào, [ví như] trường hợp có nhiều người, chúng ta cúi đầu, chắp tay, niệm một câu A Di Đà Phật thì có biết bao nhiêu người nhìn thấy, nghe được; người thấy, người nghe đã được gieo hạt giống trong A Lại Da thức, đó chỉ là trong phút chốc, chúng ta đang biểu diễn.  Mục đích chúng ta biểu diễn là gieo trồng hạt giống Kim Cang cho chúng sanh, đó gọi là phát Bồ Đề tâm, hành Bồ Tát đạo.  Bất luận người thấy, người nghe tin hay không thì hạt giống đã được gieo rồi, như Phật đã nói “phước ấy chẳng thể tính đếm nổi”.  Chúng ta thường thường tu phước, tạo phước, nhưng mỗi ngày cũng tạo tội nghiệp.  Chúng ta phải so sánh tội và phước, mỗi ngày tạo phước nhiều hay tội nhiều?  Tạo tội nghiệp sẽ bị quả báo cũng chẳng thể tính đếm nổi, đây là một việc phiền phức to lớn.

          Làm sao chân chánh giác ngộ, chẳng tạo tội nghiệp, chuyên tạo phước báo thì tiền đồ chúng ta sẽ tươi sáng.  Nhất định phải giác ngộ đời người vô cùng ngắn ngủi, đời người rất khổ, khổ thì chúng ta phải cắn răng thật chặt, phải chịu đựng cho rồi.  Chịu khổ cũng không tạo nghiệp, tuyệt chẳng vì muốn cải thiện hoàn cảnh sinh hoạt trước mắt mà tạo nên các thứ tội nghiệp, trước mắt nếm được một chút vị ngọt, hậu quả chẳng thể lường nổi, người thông minh chẳng làm chuyện khờ dại này.  Khổ báo trước mắt là do đời quá khứ, đời này mình chẳng tu phước nên phải thọ những quả báo này.  Phật pháp dạy rất rõ ràng “Muốn biết nhân đời trước, những gì mình thọ đời này chính là nó”, những gì đời này mình thọ là do mình tạo đời trước.  Đời trước tu phước, đời này hưởng phước, đời trước chẳng tu phước thì đời này lấy phước ở đâu mà hưởng?  [Hiểu vậy thì sẽ] chẳng oán trời, chẳng trách người.  “Muốn biết quả đời sau, những gì mình làm đời này chính là nó”, những hành vi mình làm đời này là nhân, đời sau sẽ có quả báo.  Nếu việc mình làm đời này vun trồng phước lớn, tạo nhân thù thắng, ngay đời này liền thay đổi hoàn cảnh sinh sống của mình.  Liễu Phàm Tứ Huấn là thí dụ rất rõ ràng, những người có thành tựu bằng với Viên Liễu Phàm trong Phật pháp chẳng biết có bao nhiêu mà kể, chẳng có ghi chép nên không biết được, quá nhiều, quá nhiều.  Muốn có thể thay đổi hoàn cảnh sanh hoạt hiện tiền của chúng ta, chỉ cần bạn hết lòng nỗ lực, đoạn ác tu thiện, phước này là thật, hơn nữa còn lâu dài, là phước báo chân thật.  Nếu dùng thủ đoạn bất chánh để cướp đoạt của cải bất nghĩa mà được phước, thì phước ấy là giả, rất ngắn ngủi.  Phước hưởng hết rồi thì ác báo liền hiện ra, đáng sợ vô cùng.

          Bởi vậy nên [chúng ta] nhất định phải tìm hiểu rõ ràng những Lý, Sự này.  Đời người rất ngắn ngủi, trong thời gian ngắn tạm này tạo tội nghiệp làm chi!  Chẳng đáng tí nào.  Thường thường đọc kinh Địa Tạng sẽ có ích lợi, mỗi lần đọc là nhắc mình đề cao cảnh giác, mỗi câu trong ấy đều là lời chân thật, chẳng có câu nào là dọa dẫm người, đe dọa người.  Lời Phật dạy câu nào câu nấy đều chân thật, mạng người vô thường, quốc độ mong manh, tại sao không tu phước?  Tại sao không nghĩ đến đời sau?  Đời sau thời gian dài, đời này thời gian ngắn.  Người thông minh phải suy tính cho lâu dài, đừng lo lắng cho thời khắc ngắn tạm trước mắt, bất luận vinh hoa phú quý gì hiện nay đều như hoa đàm thoáng hiện, đều chẳng đáng ngưỡng mộ, chẳng đáng truy cầu.  Sinh sống thanh bạch, cực khổ một chút mới tốt, thường thường đề cao cảnh giác, thường khởi lên tâm muốn thoát ly, hy vọng thoát ly lục đạo luân hồi.  Đoạn này giới thiệu đến đây thôi.

          Xem tiếp đoạn sau ‘mộng mị kiến quỷ’, đây cũng là chuyện thường xảy ra.  Thiên địa quỷ thần có thật, rất nhiều người đích thân từng trải qua, lúc tôi còn trẻ cũng từng trải qua, làm sao không tin được!  Chuyện gặp quỷ ở ngoại quốc cũng rất nhiều, thành phố nào cũng có rất nhiều ‘nhà ma’, cho nên chuyện này là thật chẳng giả.  Ở tiểu bang California có một vị đồng tu, mấy năm trước đã qua đời.  Hai vợ chồng già mua một căn nhà ở California, sau khi dọn vô mới biết nhà này có quỷ, con quỷ ấy rất dữ dằn, là người Mỹ.  Người này chắc là chủ nhà trước đó, sau khi chết chẳng xả căn nhà ấy, chẳng chịu xa lìa, thành quỷ rồi vẫn ở trong căn nhà đó.  Đương nhiên khi có người khác dọn vào nhà nên ‘ông’ chẳng vui, mỗi đêm quỷ xuất hiện, trong nhà có tiếng đồ đạc di động, cửa phòng tự động mở ra, người sống ở đó khủng hoảng, sợ hãi, nhưng chẳng làm gì được.  Có một lần ông cụ đang tắm, cụ khoảng sáu mươi mấy tuổi, lúc đó là buổi chiều, không phải buổi tối.  Cụ đang tắm bỗng nhiên cửa phòng tắm tự động mở ra, toàn thân cụ đều lông tóc dựng đứng, cụ bèn hỏi đại: “Này bạn, ông tên là gì?”  Quỷ ấy cũng nói tên ra.  Nghe nói xong cụ sợ hết hồn nên mau mau xông ra ngoài, chưa kịp mặc quần áo gì hết bèn chạy ra ngoài, chuyện xảy ra như vậy.  Quỷ ấy thật sự đã nói tên của hắn ra, sau này cụ kể lại cho chúng tôi nghe.  Những nhà có quỷ như vầy ở Mỹ quá nhiều, có những căn nhà ma nổi tiếng chẳng ai dám ở, nhà đó bán không được, ai cũng biết nhà đó có ma.  Bởi vậy ‘quỷ’ có thiệt, chứ chẳng phải giả đâu.  Xin xem kinh:

          Phục thứ Phổ Quảng nhược vị lai thế chư chúng sanh đẳng hoặc mộng hoặc mị, kiến chư quỷ thần nãi cập chư hình.

Lại nữa, này Phổ Quảng, nếu những chúng sanh ở đời vị lai, hoặc trong mộng mị, trông thấy các quỷ thần cùng các hình bóng khác;

Đủ mọi thứ hình tượng.

Hoặc bi hoặc đề, hoặc sầu hoặc thán, hoặc khủng hoặc bố;

Hoặc buồn bã, hoặc khóc lóc, hoặc rầu rĩ, hoặc than thở, hoặc hãi hùng, hoặc sợ sệt;

Nói bạn nằm mộng nhìn thấy những hình tượng này.  Theo cách đức Phật nói, chúng ta có thể thấy “nếu những chúng sanh ở đời vị lai”, lúc đó đức Phật nói đời vị lai tức là đời chúng ta hiện nay.  Chúng ta hiện nay, rất nhiều chúng sanh trong mộng mị trông thấy quỷ thần.  ‘Mộng’ là mơ hồ, chẳng rõ ràng, ‘mị’ là ngủ.  Phàm lúc mơ hồ, chẳng rõ ràng, lúc có, lúc không, cảnh giới ấy đều gọi là cảnh mộng.  Trong lúc ngủ, mộng cảnh thường thường xuất hiện, hầu như mỗi người đều có kinh nghiệm này.  Nhìn thấy một số quỷ thần, đặc biệt là nhìn thấy người nhà thân quyến đã mất, hoặc mộng thấy những quỷ thần chẳng quen biết, thấy hình dáng của họ rất đáng thương, phía sau nói “buồn, khóc, sầu, than, hãi hùng, sợ sệt” trông thấy những hình tướng này.  Người chẳng học Phật nhìn thấy cảnh giới hãi hùng, sợ sệt nhiều.  Sau khi chúng ta học Phật, cảnh giới hãi hùng sợ sệt trong mộng dần dần ít đi, những thứ này thuộc về ác mộng, mộng [có cảnh tượng] khủng khiếp, dễ sợ ít đi, nhưng mộng thấy một số quỷ thần buồn, khóc, sầu, than nhiều, thường thường gặp cảnh giới này khởi lên.  Gặp những chuyện này là vì nguyên nhân gì?  Đức Phật trong kinh nói với chúng ta, xin xem tiếp kinh văn:

Thử giai thị nhất sanh, thập sanh, bá sanh, thiên sanh, quá khứ phụ mẫu, nam nữ, đệ muội, phu thê quyến thuộc, tại ư ác thú, vị đắc xuất ly, vô xứ hy vọng phước lực cứu bạt.  Đương cáo túc thế cốt nhục sử tác phương tiện, nguyện ly ác đạo.

Đây đều là cha mẹ, con cái, anh chị em, vợ chồng, quyến thuộc từ một đời, mười đời, trăm đời, hay ngàn đời trong quá khứ, còn đang đọa lạc trong ác đạo, chưa được  thoát ra, lại không trông mong vào phước lực nơi nào để cứu vớt, nên mới nói với kẻ có tình cốt nhục trong đời trước để họ tạo phương tiện hòng thoát khỏi ác đạo.

Phải ghi nhớ họ đến cầu xin bạn giúp đỡ.  Nếu bạn chẳng học Phật thì họ chẳng đến cầu bạn, tại sao?  Vì bạn chẳng có khả năng giúp đỡ họ.  Hiện nay bạn học Phật, họ biết bạn có khả năng giúp đỡ họ nên họ tới xin bạn.  Do đó phàm mộng thấy những cảnh giới này, chúng ta nên niệm Phật hồi hướng cho họ, niệm kinh hồi hướng cho họ.  Bạn niệm kinh Địa Tạng cũng rất tốt, niệm danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát cũng rất tốt.  Niệm kinh Vô Lượng Thọ, niệm kinh A Di Đà, niệm danh hiệu A Di Đà Phật cũng tốt, đây là pháp môn chính của chúng ta, sức mạnh của pháp môn chính thù thắng phi thường.  Tại sao vậy?  Mỗi ngày tụng, mỗi ngày niệm, chúng ta đặc biệt hồi hướng cho họ.  Họ đến xin giúp đỡ, cầu cứu.

Trong ‘Ảnh Trần Hồi Ức Lục’ chúng ta thấy có một câu chuyện do Đàm Hư pháp sư kể, gọi là ‘Tám Năm Đóng Cửa Đọc Lăng Nghiêm’, bạn hãy coi đoạn này.  Lúc đó họ đều là cư sĩ tại gia, tiếp xúc đến Phật pháp, biết Phật pháp hay, vô cùng hâm mộ kinh Lăng Nghiêm, vài người chí đồng đạo hiệp hợp lại mỗi ngày cùng nhau nghiên cứu, mỗi ngày đọc tụng.  Cũng vì cơ duyên chẳng thành thục, phương bắc rất ít người giảng kinh, cho nên chỉ có thể kiếm vài người cùng nhau nghiên cứu, y theo phương pháp này tu học.  Nhưng họ cũng rất chịu khó, mấy người tụ lại cùng nhau thảo luận nghiên cứu học tập, và có thể duy trì được tám năm, rất hiếm có!  Trải qua một thời gian dài như vậy, ít nhiều cũng có một ít công phu; một chút công phu này vô cùng khó được, rất hy hữu, thế nên cảm động quỷ thần đến cầu siêu độ.

Cụ Đàm không kể chuyện của chính mình mà kể chuyện của một người bạn của cụ; họ hùn vốn mở một tiệm thuốc nhỏ để duy trì đời sống.  Buổi trưa lúc ít khách, họ ngủ gục ở quầy.  Một người bạn của cụ ngủ gục và nhìn thấy hai người đi vào, đây là chuyện ông đó kể lại cho Đàm Hư lão pháp sư nghe sau khi tỉnh dậy.  Ông ấy nói hai người đi vào là oán thân chủ nợ đời trước, vì xích mích tiền bạc nên phải thưa kiện; [kết quả là] ông thắng kiện nên hai người kia thắt cổ tự tử.  Vì chuyện này nên ông ấy cũng thường cảm thấy buồn bực và hối hận; lúc đòi nợ đã làm cho hai người này phải chết, khi thấy hai người này đi vào tiệm ông cứ tưởng là họ đến kiếm chuyện, sợ họ lại để trả thù.  Thấy vẻ mặt hai người này rất hòa hoãn, ông cũng hơi yên bụng và hỏi: “Quý vị đến đây làm gì?”.  Họ nói: “Đến cầu xin siêu độ”.  Lúc đó ông mới yên tâm, biết họ chẳng phải đến gây phiền phức mà đến xin siêu độ.  Ông nói: “Được, làm sao siêu độ?”.  Họ nói: “Chỉ cần ông đồng ý là được”.  “Vậy thì được, tôi đồng ý”.  Bèn thấy hai linh quỷ này đạp lên đầu gối, lên vai ông rồi bay lên trời, chỉ cần đồng ý siêu độ là được.  Bạn nghĩ xem dựa vào sức mạnh gì?  Dựa vào việc đóng cửa tám năm đọc Lăng Nghiêm.  Hai người này đi khỏi chẳng bao lâu lại có hai người khác đến, là một phụ nữ và một đứa trẻ, nhìn lại thì ra đó là vợ và con đã qua đời của ông.  Ông hỏi: “Đến làm gì?”.  [Họ đáp]  “Để xin siêu độ”.  Cũng giống như khi nảy: “Tôi đồng ý siêu độ”.  Sau đó hai linh quỷ đó đạp lên đầu gối, lên vai rồi bay lên trời, chẳng cần nghi thức gì cả.  Người siêu độ phải có công phu thật sự mới được, nếu không có công phu, dù làm nghi thức gì cũng chẳng có tác dụng, nhất định phải có công phu tu hành chân chánh.  Nói cách khác, ban đêm mộng thấy những quỷ thần này đến xin bạn siêu độ, đó là chứng minh bạn cũng có một chút công phu, nếu bạn chẳng có công phu thì họ chẳng đến.

Do đó lúc chúng ta tụng kinh, niệm Phật, lễ Phật, thậm chí khi giảng kinh trên giảng đài, khi gần xong chúng ta đều hồi hướng, hồi hướng nhất định phải dùng tâm chân thành ‘trên đền bốn ân nặng, dưới độ ba đường khổ’.  Làm thế nào cho công đức hồi hướng được viên mãn?  Phải làm đến có hiệu quả thật sự?  Cũng là do một tâm chân thành.  Lúc thường ngày chúng ta tu học, từng ly từng tí công phu đều vì chúng sanh, chẳng vì mình thì công đức hồi hướng sẽ viên mãn.  Hôm nay tôi mở cuốn kinh ra, tụng kinh này là vì ai?  Vì hết thảy chúng sanh.  Ngày hôm nay tôi bước vào Niệm Phật Đường niệm câu A Di Đà Phật này, như nói trong kinh, niệm vài phút cũng được, vài giờ cũng vậy, niệm nửa ngày, một ngày, hai ngày hai đêm, tôi niệm vì ai?  Vì hết thảy chúng sanh mà niệm, công đức hồi hướng ấy sẽ viên mãn.   Ngày nay chúng ta học Kinh Giáo, phát tâm giảng kinh thuyết pháp là vì ai?  Vì hết thảy chúng sanh.  Nếu nói phát tâm là vì mình thì lợi ích rất nhỏ, công đức chẳng lớn; vì hết thảy chúng sanh, vì Phật pháp trụ thế lâu dài, công đức sẽ chẳng thể nghĩ bàn!  Trong kinh đều dạy những công đức như vậy.

Quý vị nhất định phải biết vì chính mình thì công đức rất nhỏ, cùng làm một việc nếu vì chúng sanh, vì Phật pháp thì công đức lợi ích vô lượng vô biên.  Bởi lẽ chúng sanh vô biên, Phật pháp vô biên nên công đức lợi ích của bạn sẽ vô biên.  Chúng ta hiểu rõ đạo lý này, hiểu rõ chân tướng sự thật này thì tại sao lại vẽ cái vòng[1] đó nhỏ như vậy, chỉ vì mình, vì nhà mình, vì đoàn thể của mình.  Cùng làm một việc như nhau nhưng được phước nhỏ, công đức nhỏ, lợi ích nhỏ.  Người ta cũng làm việc như vậy, tại sao lại được vô lượng vô biên công đức, lợi ích?  [Khác nhau] chỉ trong vòng một niệm.  Phật pháp nói “một niệm tương ứng”, niệm này có tương ứng hay không?  Tương ứng với tự tánh, tương ứng với chân tâm; tự tánh tức là pháp giới, chân tâm tức là pháp giới.  Đức Phật đã nói rất nhiều rồi, chúng ta nhất định phải thấu hiểu, phải ghi nhớ, y giáo phụng hành.  Sau này gặp trường hợp giống như vậy, có một số tín đồ đến gặp chúng ta, nói với chúng ta những chuyện này.  Hãy kể lại cho họ biết [những chuyện] kinh Địa Tạng có nói đến, [khuyên họ] về nhà tụng kinh, niệm Phật hồi hướng cho [những quỷ thần ấy].

Còn có những người chẳng tin Phật, hoặc vừa mới tiếp xúc đến Phật pháp cũng nằm mộng thấy quỷ thần đến tìm họ.  Lúc trước tôi có một người bạn, vợ ông liên tục nằm mộng ba lần trong một tuần nên bà ấy rất thắc mắc.  Bà mộng thấy gì?  Mộng thấy một bà hàng xóm vừa qua đời khoảng nửa năm.  Nằm mộng [thấy bà hàng xóm] ba lần xin tiền, nhờ giúp đỡ, nói đời sống bà rất khốn khổ.  Trong mộng cũng chẳng nghĩ là bà hàng xóm này đã qua đời.  Bà cảm thấy kỳ lạ và nói: “Bà khổ thì cũng đâu cần tìm tôi, bà hãy hỏi chồng bà xem sao”.  Bà hàng xóm nói: “Chồng tôi không có tiền, xin bà giúp cho”.  Trong vòng một tuần nằm mộng thấy ba lần, bà ấy đến tìm tôi, tôi cũng quen thân với bà.  Tôi suy nghĩ và nói: “Ồ! Họ là người Cơ Đốc Giáo, chẳng có tiền”.  Tín đồ Cơ Đốc Giáo không đốt ‘giấy tiền’ (tiền âm phủ, đồ mã); tôi nói tiếp: “Không sao đâu, bà hãy đốt một số giấy tiền cho bà ấy đi”.  Bà ta [sực nhớ và] hiểu được, sau khi đốt một số ‘giấy tiền’ thì chẳng nằm mộng [thấy bà hàng xóm nữa].  Tín đồ Cơ Đốc Giáo chẳng đốt giấy tiền, bà hàng xóm đang ở cõi quỷ, đốt giấy tiền cũng có thể dùng ở cõi quỷ.  Cho nên việc đốt ‘giấy tiền’ này, Ấn Quang lão pháp sư có nói trong Văn Sao, đối với việc này ngài chẳng tán thành nhưng cũng chẳng phản đối, tại sao không tán thành?  Trong Phật pháp chẳng có việc này.  Trong Phật pháp nói đến siêu độ chỉ là niệm danh hiệu Phật, Bồ Tát, tụng kinh hồi hướng cho họ.  Nhưng cũng không phản đối, người mất luân hồi đi vào sáu nẻo, chỉ có cõi quỷ mới dùng ‘giấy tiền’ được, những cõi khác chẳng dùng được.  Nếu kẻ ấy sanh vào cõi quỷ, họ cần có ‘giấy tiền’, bạn không cho họ đốt thì không phải đã cắt đứt nguồn tiền tài của họ rồi sao?  Việc này cũng phiền phức lắm vì họ sẽ hận bạn, thế nên ngài chẳng phản đối.  Chúng ta học thái độ này của lão pháp sư cũng tốt, không đề xướng nhưng cũng không phản đối.  Đây là phong tục tập quán trong dân gian, chẳng liên quan gì đến Phật pháp, nếu thật sự học Phật thì chẳng cần những thứ này.

            Thế nên biết được cảnh trong mộng, mộng thấy những quỷ thần này có quan hệ đến mình.  Nếu họ [có duyên với mình] trong đời quá khứ, mười đời, trăm đời, ngàn đời thì đương nhiên chúng ta chẳng nhận biết được.  Tuy chẳng nhận biết, các vị quỷ thần này biết họ có duyên phận với chúng ta, do nhân duyên đời trước họ sẽ tìm bạn để xin giúp đỡ.  Thọ mạng của quỷ dài, thọ mạng con người ngắn, trong kinh đức Phật nói một ngày trong cõi quỷ bằng một tháng ở cõi người.  Cho nên người ta tế lễ quỷ thần ngày mồng một, mười lăm đúng lúc họ ăn bữa trưa, bữa chiều, một ngày của họ bằng một tháng của chúng ta, phải hiểu đạo lý này.  Vả lại thọ mạng cõi ngạ quỷ đại khái cũng trên một ngàn tuổi, thọ mạng rất dài.  Nếu cũng tính ba trăm sáu mươi ngày là một năm, vậy thì một ngàn tuổi, bạn phải biết một ngày của họ bằng một tháng của cõi người, cho nên lúc ông Chương Thái Viêm làm phán quan cho Đông Nhạc Đại Đế, [ông Viêm] đã gặp các ông Hàn Dũ, Liễu Tông Nguyên trong cõi quỷ, ngay cả những người mất thời triều Hán, ông cũng gặp họ trong cõi quỷ.  Từ triều Hán đến nay ít nhất là hai ngàn năm, thọ mạng của quỷ dài hơn con người quá nhiều, thật vậy, trong lục đạo thì thọ mạng con người ngắn.  Có lúc thì thọ mạng của con người cũng dài, chúng ta sanh nhằm lúc thọ mạng con người ngắn, trong kinh Phật nói thọ mạng con người dài nhất là tám vạn bốn ngàn tuổi.  Chúng ta đang trong kiếp giảm, phước báo rất nhỏ, thọ mạng dài thì phước báo lớn, thọ mạng ngắn thì phước báo nhỏ.  Tuy phước nhỏ nhưng nếu chịu tu, cũng rất dễ chẳng khó, duyên tu phước lại thù thắng hơn.  Dùng thời gian ngắn để tu phước báo to lớn, đây là người thông minh, có trí huệ.  Thế nên chúng ta phải ghi nhớ đoạn kinh văn này, đây đều là cha mẹ, thân bằng quyến thuộc đời quá khứ có nhân duyên đến nhờ chúng ta giúp đỡ.  Phía sau là phương pháp giúp đỡ:

          Phổ Quảng, nhữ dĩ thần lực khiển thị quyến thuộc, lịnh đối chư Phật, Bồ Tát tượng tiền, chí tâm tự độc thử kinh, hoặc thỉnh nhân độc, kỳ số, tam biến hoặc thất biến.

Này Phổ Quảng, ông nên dùng thần lực khiến cho những quyến thuộc đó đối trước tượng của chư Phật, Bồ Tát, chí tâm tự đọc kinh này, hoặc thỉnh người khác đọc, đủ số ba biến hoặc bảy biến.

Đây là Phật sự siêu độ, cho nên Phật sự siêu độ là từ kinh Địa Tạng mà có.  Tự mình có thể đọc thì tốt nhất, vì tâm mình thành khẩn, đọc kinh vì người nhà, quyến thuộc của mình, tâm ấy rất kiền thành.  Nếu tự mình không thể đọc, thì mời người khác đọc, hiện nay phần đông đều thỉnh người xuất gia.  Vì trong kinh có nói, người khác đọc cho họ, họ chỉ được một phần bảy lợi ích.  Do đó thường thường người ta thỉnh bảy người đọc thì họ mới được một phần, là đạo lý như vậy.  Đọc ba lần, bảy lần cũng được.  Chúng ta phải hiểu lý luận và phương pháp của việc siêu độ thì mới là không mê tín, bạn phải nói cho người ta tin, đó là sự thật.

Như thị ác đạo quyến thuộc, kinh thanh tất thị biến số, đương đắc giải thoát, nãi chí mộng mị chi trung vĩnh bất phục kiến.

Như vậy, kẻ quyến thuộc đang ở trong ác đạo kia, khi tiếng tụng kinh đủ số biến đó xong, sẽ được giải thoát, cho đến trong mộng trong mị không thấy hiện về nữa.

          Bạn không còn mộng thấy họ nữa.  Mộng chẳng thấy là người ấy đã thoát khỏi quỷ đạo, đã được lợi ích, thoát khỏi cõi quỷ, hơn phân nửa là đầu thai đến làm người, hoặc được phước đức lợi ích lớn thì có thể sanh lên trời.  Sanh lên cõi trời đều ở cõi trời Đao Lợi trở xuống, sanh đến Tứ Vương Thiên, Đao Lợi Thiên.  Trong kinh nói phần đông đều là nói sơ lược, nếu nói kỹ, giữa cõi trời Tứ Vương và Đao Lợi, phước báo và cấp bậc cũng khác nhau.  Cho dù sanh đến trời Đao Lợi, phước báo mỗi người cũng chẳng giống nhau.  Cũng như chúng ta đều sanh đến cõi người, nhưng thọ dụng của mỗi người trong đời chẳng giống nhau, có người giàu sang phú quý, có người nghèo khổ thấp hèn, đều cùng được thân người nhưng phước báo khác nhau.  Do đó có thể biết cùng được thân cõi trời, phước báo cũng khác nhau.  Những người trên trời chẳng có phước, hoặc phước rất ít, hoàn cảnh sanh hoạt vật chất có khi còn chẳng bằng người có đại phước báo ở cõi người, nhưng thân của họ là thân trời.  Đạo lý này thật ra chẳng khó hiểu, bạn hãy nghĩ con người chúng ta, được thân người trong cõi người, cõi súc sanh chẳng bằng cõi người, có những sự hưởng thọ của súc sanh, những người nghèo khổ chúng ta chẳng bằng nó, sánh chẳng bằng súc sanh, đây chẳng phải là cùng một đạo lý sao?  Thế nên bạn quan sát kỹ lưỡng một chút thì dần dần bạn sẽ thấu hiểu trạng huống trong lục đạo luân hồi.  Người giàu có nuôi những con vật trong nhà, người nghèo khổ thật sự sánh chẳng bằng [những con vật ấy], thua xa.  Sự ăn uống, nơi cư trú của nó được bao nhiêu người chăm sóc, lúc sanh bịnh còn có viện thú y, được xe đưa rước vào bịnh viện, người nghèo làm sao có phước như vậy?  Cho nên thân của nó là thân súc sanh, súc sanh có phước báo, phước báo đó lớn hơn người nghèo chúng ta quá nhiều.  Cùng một đạo lý ấy, người cõi trời mà không có phước báo còn chẳng bằng đời sống con người, đây là đạo lý chung, cho nên tuy sanh lên trời nhưng cũng phải có phước báo mới được.  Sanh lên trời cần có điều kiện gì?  Tu hoàn hảo Ngũ Giới Thập Thiện thì được sanh lên trời.  Nếu không tu bố thí, chẳng chịu giúp đỡ người khác, sanh lên trời cũng chẳng có phước báo, thế mới biết tu phước quan trọng lắm.  Khi bạn thật sự có phước báo, bất luận sanh đến cõi nào cũng hưởng phước, cho nên phước báo có thể đem theo được, chẳng mất.  Công đức cũng có thể mang theo được, nhưng công đức rất dễ mất, trong kinh thường nói: ‘lửa [sân hận] thiêu trụi rừng công đức’, công đức chẳng dễ giữ gìn.  Phước đức thì không sao, có thể giữ gìn, công đức rất khó gìn giữ.  Công đức, nói cho chư vị biết tâm thanh tịnh, Định-Huệ là công đức, vừa khởi tâm tham, tâm sân giận lên thì tâm thanh tịnh của bạn mất tiêu, lập tức bạn sẽ mê mất, định-huệ chẳng còn nữa, định-huệ là công đức, khác với phước đức.  Xem tiếp đoạn sau, đoạn này [có tiểu đề trong cuốn Chú Giải] là ‘Hạ tiện cầu hối’, tức là phương pháp sám hối.

          Phục thứ Phổ Quảng nhược vị lai thế hữu chư hạ tiện đẳng nhân, hoặc nô hoặc tỳ, nãi chí chư bất tự do chi nhân, giác tri túc nghiệp yếu sám hối giả.

          Lại nữa, này Phổ Quảng, nếu đời sau có những người hạ tiện, hoặc tớ trai, hoặc tớ gái, cho đến những kẻ không được tự do, biết rõ là do túc nghiệp, cần phải sám hối.

          Đây là nêu ra một nhóm chúng sanh sám hối trước.  Bần tiện (nghèo hèn) là sự khổ ở nhân gian, ‘bần’ là chẳng có của cải, ‘tiện’ là chẳng có địa vị, trái ngược với phú quý.  ‘Phú’ là có của cải, ‘quý’ là có địa vị, quý tiện và bần phú sai khác rất lớn.  Sự sai khác này là do những nghiệp chúng ta đã làm, đã tạo ở đời trước.  Nếu muốn trách xã hội này giàu nghèo chẳng quân bình, giàu nghèo tuyệt đối sẽ chẳng quân bình, đây là đạo lý nhất định.  Tại sao?  Vì nghiệp của mỗi cá nhân tạo thành khác nhau, thì làm sao tạo thành quả báo giống nhau cho được?  Đây là việc chẳng thể xảy ra.  Do đó [y theo] lời dạy của thánh hiền, hy vọng mọi người đều hiểu rõ sự thật của nhân quả báo ứng, mọi người sẽ chẳng trách móc nữa.  Người giàu có nghĩa vụ giúp đỡ người nghèo, người nghèo hèn biết được mình phải tu phước, biết phải sám hối, làm phước thì xã hội này mới có thể hòa hài, an định, phồn vinh, tôn trọng lẫn nhau.  Ngày nay họ giàu là do đời trước họ tu giỏi, tôi nghèo là vì tôi chẳng tu, tôi làm sao có thể trách kẻ khác được?  Trồng dưa thì được dưa, trồng đậu thì được đậu, hiểu đạo lý này thì sẽ chẳng oán trời trách người, biết mình chẳng tu.  Chẳng tu thì không sao cả, hiện nay tu cũng còn kịp, ngày nay tôi chịu tu thì đời sau sẽ tốt đẹp.  Nếu người giàu chẳng chịu tu, chỉ hưởng phước mà không tu phước thì đời sau sẽ biến thành nghèo hèn, đó mới là đạo lý chân chánh.

          Trong đoạn này Thanh Liên pháp sư trích dẫn kinh Biện Ý, đây là lời Phật dạy: “Năm việc thường sanh đê tiện, làm nô tỳ cho người”, làm nô tỳ thì chẳng có địa vị trong xã hội, chẳng có địa vị thì gọi là ‘tiện’.  Phật nói có năm nghiệp nhân tạo thành quả báo này: 

Thứ nhất “Kiêu mạn bất kính nhị thân” (Kiêu ngạo chẳng kính cha mẹ), nhị thân là cha mẹ, thái độ đối với cha mẹ kiêu mạn, chẳng tôn kính cha mẹ, chẳng hiếu thuận, đời sau kẻ ấy phải chịu quả báo này. 

Thứ hai “Cang cường vô khác tâm” (Ương ngạnh chẳng cung kính), ‘khác’ là cung khác, tức là cung kính, hạng người này cũng có quả báo như vậy; cứ tưởng mình giỏi, bất cứ ở đâu cũng chẳng nhường kẻ khác.  Trong kinh này đức Phật cũng thường cảm thán “Chúng sanh ở Diêm Phù Đề ương ngạnh, khó dạy”, tại sao Phật nói chúng sanh khó dạy?  Tập khí quá nặng, chúng ta thường gọi là cá tánh quá mạnh, chẳng dễ tiếp nhận lời khuyên của kẻ khác. 

Thứ ba “Phóng dật bất lễ tam tôn” (Phóng dật chẳng lễ Tam Bảo) tam tôn là Tam Bảo, khinh mạn Tam Bảo.  Điều thứ nhất là chẳng kính cha mẹ, còn điều này là chẳng kính thầy giáo.  Đại đạo trong thế gian, xuất thế gian là hiếu thân, tôn sư, chẳng hiếu thuận cha mẹ, chẳng tôn kính thầy giáo, Tam Bảo là gương mẫu hạng nhất trong sư đạo.  Phật pháp là sư đạo, là mô phạm, điển hình cho thầy giáo, bạn làm sao có thể đối với họ tùy tiện, chẳng có một chút cung kính được? 

Thứ tư là “Đạo thiết dĩ vi sanh nghiệp” (Trộm cắp làm nghề nghiệp), cả đời làm việc trộm cắp để duy trì cuộc sống.  Thủ đoạn trộm cắp rất nhiều, nhất định phải hiểu rõ ý nghĩa chân chánh của nó, trong Phật pháp gọi là ‘không cho mà lấy’, đó đều gọi là trộm cắp, cũng như người Trung Quốc chúng ta thường gọi là tài vật bất nghĩa.  Bạn chẳng nên có được, bạn chiếm lấy nó, đoạt lấy, đây cũng là nghiệp nhân của sự hạ tiện.

          Thứ năm ‘Phụ trái đào tị bất thường’ (Thiếu nợ tránh né không trả), thiếu nợ chẳng chịu trả nợ, đời này không chịu trả, đời sau gặp lại cũng phải trả, chẳng thể tránh được.  Điểm này chúng ta nhất định phải biết.  Thiếu nợ thì nhất định phải trả, thiếu nợ mạng phải đền mạng, nhà Phật nói nhân quả thông suốt ba đời, chẳng phải chỉ có đời này mà thôi.  Đời này bạn tránh được, còn đời sau thì sao? Còn đời sau nữa, bất kỳ đời nào gặp lại cũng phải trả, thiếu mạng phải đền mạng, thiếu tiền phải trả tiền.  Trừ phi đối phương giác ngộ, chỉ có học Phật mới giác ngộ; đối phương giác ngộ rồi [và nói với bạn]: “Những gì bạn thiếu tôi thì thôi, chẳng cần bạn trả, bạn thiếu nợ mạng cũng chẳng cần bạn trả”, dứt hết rồi, vậy mới được.  Nếu không gặp người giác ngộ, họ cứ ghi nhớ trong lòng, đến đòi nợ, đòi mạng, vậy thì không có cách chi khác.  Sách chép chuyện trong nhà Phật có ghi đại sư An Thế Cao triều Hán. Truyện Ký An Thế Cao trong Cao Tăng Truyện, quyển một, [có chép] ngài đến Trung Quốc hai lần để đền mạng.  Trong đời trước ngài đã ngộ sát hai người, đời này đến để đền mạng hai người ấy.  Hai lần này cũng là ngộ sát, ngài ngộ sát người ta, người ta cũng ngộ sát ngài.

          Đây là Bồ Tát thị hiện để nói cho chúng ta khi thành Phật, thành Bồ Tát cũng chẳng có cách gì khác, vẫn phải đền mạng, thiếu tiền cũng phải trả tiền, thiếu nợ mạng phải đền mạng.  Chẳng thể nói bạn thành Phật, thành Bồ Tát thì có thể không trả, chẳng có đạo lý này, [nếu vậy thì] luật nhân quả sẽ bị lật đổ.  Thành Phật, thành Bồ Tát cũng không tránh khỏi, huống chi là phàm phu chúng ta.  Phàm phu khi trả nợ, đền mạng chẳng cam chịu, chẳng cam tâm thì phiền phức sẽ lớn, trả tới trả lui dây dưa chẳng dứt, thì sẽ rắc rối lớn lắm.  [Cứ luân phiên] đòi nợ, trả nợ, đòi mạng, đền mạng chẳng dứt, nhiều đời nhiều kiếp đều làm việc này, khổ chẳng nói nổi.  Phật, Bồ Tát tốt hơn ở chỗ nào?  Họ đều rõ ràng, rành rẽ vì họ có Túc Mạng Thông, Tha Tâm Thông, Thiên Nhãn Thông, họ thấy rõ nhân duyên đời trước rõ ràng, cho nên họ trả từng món nợ, trả sạch hết, sau này không còn nữa.  Họ tình nguyện, đồng ý trả, bị người ta giết cũng cam tâm tình nguyện, tuyệt chẳng có tâm trả thù, nợ nần đến đây chấm dứt.  Phàm phu thì [chẳng chịu trả nợ nên] món nợ này chẳng chấm dứt, chẳng cam tâm, chẳng chịu, vẫn còn tâm niệm trả thù, kết oán đời đời kiếp kiếp không bao giờ dứt, đáng sợ vô cùng.

          Nếu các bạn thấu hiểu những sự tướng này một cách cặn kẽ, thì sau đó bạn mới biết tại sao phải tôn kính Tam Bảo, tại sao công đức lợi ích của Tam Bảo lớn như vậy, bạn mới có thể hiểu được đôi chút.  Chỉ có Tam Bảo mới có thể thật sự giải quyết vấn đề, những vấn đề vướng mắc nhiều đời nhiều kiếp khi gặp được Tam Bảo đều có thể giải quyết, đây là việc bất kỳ pháp môn nào khác trong thế gian đều chẳng làm nổi.

          Chúng ta biết mình chịu bần cùng hạ tiện, ở trong địa vị này, biết đây là quả báo do ác nghiệp mình tạo đời trước.  Hiểu được đạo lý này, hiểu được sự thật thì sẽ có phương pháp để cứu vãn, phương pháp cứu vãn là sám hối.  ‘Giác tri túc nghiệp’ (Biết được nghiệp đời trước), đây tức là bạn hiểu rõ.  [Muốn] ‘Giác tri túc nghiệp’ nếu không nhờ Phật pháp thì không thể được.  Trong pháp thế gian cũng có, tuy có nhưng không rốt ráo.  Người có học vấn, có đức hạnh trong thế gian, như một số nhà tôn giáo, họ cũng biết một vài Sự, Lý của nhân quả báo ứng, cũng biết tu pháp sám hối, nhưng tri kiến của họ chẳng viên mãn, chẳng rốt ráo, do đó cách sám hối của họ hơn phân nửa thuộc về Sự, có thể giúp đỡ chút ít chứ chẳng thể giải quyết vấn đề một cách triệt để.  Muốn giải quyết vấn đề triệt để phải giúp con người thoát khỏi tam giới, như vậy mới là triệt để.  Chẳng thể thoát ra khỏi lục đạo luân hồi thường là phiền phức sẽ ở đằng sau, trước mắt thì hòa hoãn đôi chút, nhưng sự việc chẳng chấm dứt, thế mới biết Phật pháp thù thắng vô cùng.  Phía sau là phương pháp đức Phật dạy cho chúng ta:

          Chí tâm chiêm lễ Địa Tạng Bồ Tát hình tượng

          Chí tâm chiêm lễ hình tượng Ðịa Tạng Bồ Tát

          Quan trọng ở tại ‘chí tâm’, dùng tâm chân thành, tâm thanh tịnh, tâm chân thành thanh tịnh tức là pháp sám hối.  Do đó có thể biết, hình tượng Địa Tạng Bồ Tát là một tăng thượng duyên cho chúng ta sám hối.  Tại sao bạn có thể tiêu trừ hết nghiệp chướng?  Vì bạn chí tâm.  Lúc bình thường bạn dùng vọng tâm, bây giờ đối trước hình tượng Phật, Bồ Tát là dùng tâm chân thành.

          Nãi chí nhất thất nhật trung, niệm Bồ Tát danh, khả mãn vạn biến.

          Rồi trong bảy ngày niệm danh hiệu của Bồ Tát đủ một vạn biến

          ‘Nhất thất’, bảy là một con số viên mãn.  Bạn tìm thời gian tu tập đàng hoàng trong bảy ngày, trong bảy ngày chấp trì danh hiệu Bồ Tát, đây gọi là đả Địa Tạng thất, hoặc đọc kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện, niệm danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát bảy ngày, trong một thất (bảy ngày).  Thật sự kết thất niệm Phật, thật ra phải là bảy  ngày bảy đêm chẳng gián đoạn, công đức lợi ích vô cùng thù thắng.  Bảy ngày bảy đêm chẳng hoài nghi, chẳng xen tạp, chẳng gián đoạn, người căn tánh lanh lợi bèn được nhất tâm, được nhất tâm bèn siêu phàm nhập thánh.  Phía trước chúng ta thấy cô Quang Mục, cô Bà La Môn, họ đều dùng phương pháp niệm Phật nên chẳng phải là người phàm, nên họ có thể đi đến địa ngục.  [Gặp] Quỷ vương trong địa ngục, cô hỏi quỷ vương nơi đó là nơi nào?  Quỷ vương đáp: “Đây là địa ngục”.  “Tôi làm sao đến được?”.  Quỷ vương đáp “Có hai hạng người có thể vào địa ngục, thứ nhất là Bồ Tát, thứ nhì là tội nhân”.  Do đó có thể biết cô niệm Phật một ngày một đêm, niệm đến nhất tâm bất loạn nên mới có thể vào địa ngục.  Đây là như kinh Di Đà nói: “Nếu một ngày… cho đến bảy ngày”.  Người lợi căn thì một ngày, một đêm bèn được nhất tâm, người căn tánh thấp hơn thì bảy ngày, bảy ngày bảy đêm có thể được nhất tâm.  Hiện nay các đồng tu niệm Phật trong Niệm Phật Đường chúng ta, đừng nói một thất, niệm liên tiếp bảy cái thất cũng chẳng được nhất tâm, nguyên nhân là gì?  Niệm Phật chẳng đúng như pháp.  Chuyện phiền phức nhất là xen tạp, lúc niệm Phật vẫn còn vọng niệm xen tạp trong đó, như vậy thì không đúng như pháp.  Nếu không có vọng niệm, thật sự đạt đến tiêu chuẩn này, không hoài nghi, không xen tạp, không gián đoạn thì bảy ngày bảy đêm có thể thành công.

          Chúng ta xem Tịnh Độ Thánh Hiền Lục, xem Vãng Sanh Truyện, trong Tịnh Độ Thánh Hiền Lục có truyện pháp sư Oánh Kha đời Tống.  Ngài là một người xuất gia phá giới, tập khí rất nặng, ngài tự biết rõ tương lai nhất định sẽ đọa địa ngục.  Tạo tội nghiệp quá nhiều, tự mình chẳng có cách kiềm chế mình, tâm chuyển theo cảnh, vậy thì đâu có cách nào khác?  Ngài tự biết rõ, ‘giác tri túc nghiệp’, chỗ hay của ngài là bốn chữ này, ngài biết tương lai nhất định sẽ đọa địa ngục, nghĩ đến đọa địa ngục bèn sợ hãi, ngài rất lo sợ.  Ngài hỏi các bạn đồng tham làm sao có thể không đọa địa ngục?  Những bạn đồng tham này bèn đưa cho ngài một cuốn ‘Vãng Sanh Truyện’.  Ngài coi Vãng Sanh Truyện, mỗi khi đọc một chuyện đều cảm động đến khóc.  Coi xong ngài phát tâm nhất định cầu vãng sanh, đóng cửa phòng lại để niệm A Di Đà Phật, ba ngày ba đêm chẳng ăn cơm, cũng chẳng uống nước.  Ba ngày ba đêm chí tâm chiêm lễ, tâm chân thành cảm động A Di Đà Phật, A Di Đà Phật bèn đến.  Ngài niệm suốt ba ngày ba đêm đến lúc chịu không nổi nữa rồi ngả gục xuống, trong lúc hôn trầm, trong giấc ngủ mộng thấy A Di Đà Phật tới, đây là trong giấc mộng.  Ngài xin đức Phật A Di Đà cầu vãng sanh, A Di Đà Phật nói với ngài “Thọ mạng của ông còn mười năm, ông hãy gắng dụng công, mười năm sau lúc ông mạng chung, ta sẽ đến tiếp dẫn ông”.  Ngài tự biết rõ về mình, ngài nói: “Tập khí của con quá nặng, thời gian mười năm dài như vậy, chẳng chống nổi sự dụ hoặc bên ngoài, chẳng biết sẽ tạo bao nhiêu tội nghiệp, vậy thì làm sao được!  Con chẳng muốn sống mười năm nữa, con xin theo Phật đi ngay bây giờ”.  A Di Đà Phật nghe xong cũng gật đầu: “Thôi thì như vầy, ba ngày sau ta đến tiếp dẫn ông”.  Pháp sư Oánh Kha rất vui mừng bèn tỉnh dậy, chuyện này chẳng giả, ngài nói với đại chúng ba ngày sau sẽ vãng sanh.  Cảnh giới hoàn toàn giống với cô Quang Mục, cô Bà La Môn, ba ngày ba đêm.  Do đó trong kinh Di Đà  nói “Nếu một ngày, …, đến bảy ngày” [là thật] chẳng giả, vấn đề là bạn có thể ‘chí tâm’ hay không?  Bạn có thể ‘không xen tạp’ không?

          Ngày nay công phu niệm Phật của chúng ta không thể đắc lực, nói thật ra hiện nay thì ít hoài nghi, nhưng không thể nói là không có, sự hoài nghi đó ngay cả bạn cũng chẳng biết.  Nguyên nhân là gì?  Đối với đạo lý và chân tướng sự thật của việc niệm Phật vãng sanh bạn cũng chẳng hiểu rõ triệt để, cho nên tâm hoài nghi của bạn chưa dứt.  Thật sự hiểu rõ triệt để, chẳng hoài nghi, không hoài nghi thì nhất định sẽ chẳng lưu luyến thế gian này, do đó nếu còn lưu luyến thế gian này chứng tỏ bạn còn hoài nghi.  Mục đích của sự giảng kinh thuyết pháp là ở chỗ này, thật sự giúp đỡ đại chúng đoạn nghi sanh tín.  Sau đó công phu sẽ chẳng xen tạp, nếu làm đến mức chẳng xen tạp, chẳng gián đoạn, chẳng có một ai không thành công hết.  Cho nên đứng mà vãng sanh, ngồi mà vãng sanh, chẳng sanh bịnh.  Pháp sư Oánh Kha chẳng sanh bịnh, niệm Phật rõ ràng mà vãng sanh; thời đại gần đây cũng có nhiều người làm được việc này.  Chúng ta làm sao có thể nói không tin được?  Tại sao họ có thể làm được?  Không sanh bịnh là do sám trừ hết nghiệp chướng, chí tâm thì có thể sám trừ nghiệp chướng.  Chúng ta còn sanh bịnh là còn nghiệp chướng, bạn chẳng chịu hết lòng sám trừ nghiệp chướng, cho nên còn bị ma bịnh trói buộc.  Chân tâm sám hối thì sẽ tiêu trừ hết nghiệp chướng.  Bịnh nghiệp chướng, sám hối có thể trị dứt, công đức bạn sám hối thật sự, oán gia trái chủ cũng xa lìa, cũng được hưởng ké, được lợi ích.  Cho nên pháp sám hối nói thật ra, tám vạn bốn ngàn pháp môn đều thuộc về pháp môn sám hối, hai chữ ‘sám hối’ bao gồm hết tất cả pháp môn tu hành của Bồ Tát, chẳng có pháp nào không phải là pháp sám hối.  Phía sau nói về quả báo có được:

          Như thị đẳng nhân, tận thử báo hậu, thiên vạn sanh trung, thường sanh tôn quý, cánh bất kinh tam ác đạo khổ.

            Những người như thế sau khi mãn báo thân này, trong ngàn vạn đời về sau thường sanh vào nhà tôn quý, không phải trải qua nỗi khổ nơi ba đường ác nữa.

          Đây là quả báo.  Cho nên hiện nay bần cùng, hạ tiện thì phải biết nghiệp nhân của mình, biết nghiệp nhân rồi quay lại tu Bồ Tát đạo.  Nếu nói, đây là nói thời quá khứ làm nô tỳ cho kẻ khác, bạn phải chịu chủ nhân kiềm chế, tự mình chẳng thể tự do, chẳng có bảy ngày bảy đêm để tu hành, thì lúc bình thường tu hành cũng được.  Vả nữa trong các cách tu hành chẳng pháp môn nào thù thắng hơn pháp môn niệm Phật, pháp môn niệm Phật chẳng chướng ngại, mọi lúc mọi nơi trong tâm chỉ có A Di Đà Phật, nhớ Phật niệm Phật cũng chẳng gây trở ngại cho công việc của bạn.  Bạn làm việc gì thì cũng làm như thường, bạn còn làm được tốt hơn, làm viên mãn hơn.  Trong tâm hết thảy đều buông xuống, nhất tâm niệm Phật.  Có khả năng thì có thể đọc kinh, chẳng có khả năng đọc kinh thì một câu A Di Đà Phật này cũng đủ rồi.  Trong thời cận đại chúng ta gặp không ít người chỉ thọ trì một câu A Di Đà Phật, lúc vãng sanh tướng lành thù thắng phi thường, chúng ta nhìn thấy công đức lợi ích tận mắt.  Cho nên nhất định phải niệm Phật, niệm Phật là công đức hạng nhất, niệm Phật là phước đức thù thắng vô biên.  Nghiệp chướng tiêu trừ rồi thì phước báo tự nhiên hiện ra, nghiệp chướng chưa tiêu hết cũng chẳng màng, hết lòng nỗ lực tu học, đời sau nhất định có quả báo thù thắng.  Không những không đọa ba đường ác, mà còn siêu việt lục đạo luân hồi, còn có thể độ rất nhiều chúng sanh, thật sự là tự hành hóa tha.  Chuyển thân tội báo thành thân Bồ Tát, đó không phải là cùng Bồ Tát ứng hóa hay sao, nên dùng thân nô tỳ để độ thì hiện thân nô tỳ để độ, như vậy chẳng phải là cùng một chuyện hay sao?  Vấn đề là bạn đã thật sự giác ngộ hay chưa, thật sự giác ngộ thì dùng thân này để tu, dùng thân này để chứng quả, dùng thân này để độ hóa hết thảy chúng sanh.  Bạn niệm Phật thành tựu, vãng sanh tự tại, nếu bạn có thể đứng mà vãng sanh, ngồi mà vãng sanh, thì cả nhà của bạn sẽ được độ.

            Lúc trước ở Hương Cảng, bà chủ Đông Liên Giác Uyển là phu nhân Hà Đông, cụ niệm Phật vãng sanh nên độ được cả nhà.  Cả nhà cụ đều theo đạo Cơ Đốc, chỉ có cụ niệm Phật, nhưng con cái cụ rất hiếu thuận, cũng rất thông minh, tuy tín ngưỡng khác nhau, người nhà họ rất tự do, đều tôn trọng lẫn nhau.  Cụ ăn chay niệm Phật, con trai, con gái, con dâu cụ đều là tín đồ Cơ Đốc, họ đều tôn trọng lẫn nhau.  Lúc cụ vãng sanh, cụ nói với các con: “Cả đời chúng ta đều rất tôn trọng, đều chẳng can thiệp vào tín ngưỡng của kẻ khác”, cụ nói: “Hôm nay má vãng sanh, má chỉ có một yêu cầu là muốn các con niệm Phật tiễn đưa má ra đi”.  Con và con dâu cũng rất thông hiểu nhân tình và nói: “Dạ, tụi con sẽ niệm Phật tiễn má đi”.  Cụ thật sự ngồi mà vãng sanh, người nhà niệm Phật tiễn cụ đi.  Chứng kiến cảnh tượng ấy mới biết Phật giáo chẳng phải giả, [sau đó] các con của cụ đều niệm Phật, đều quay trở về.  Bạn hãy xem cụ rất kiên nhẫn độ người nhà của cụ, đến phút cuối cùng mới biểu diễn cho các con thấy; lúc thường ngày cụ chẳng khuyên họ, một câu cũng chẳng nói, rất tôn trọng các con, cuối cùng biểu diễn một phen cho họ coi, coi Cơ Đốc Giáo có thể ngồi mà vãng sanh không?  Có thể biết trước ngày giờ ra đi không?  Dùng phương pháp ấy mà độ cả nhà của cụ.  Không những độ cả nhà mà còn ảnh hưởng đến cả xã hội.  Đây chẳng phải là một nhà bình thường, ký giả đến phỏng vấn, đăng lên báo, bạn xem ảnh hưởng đến bao nhiêu người?  Như vậy mới thật là có trí huệ.  Phương pháp độ người nhà rất nhiều, bạn phải thật sự hiểu rõ, bạn phải biểu diễn cho họ thấy.  Người hiện đại dùng miệng nói, họ chẳng tin thì biểu diễn cho họ coi, họ không thể không tin.

          Trong chú giải trang 56, quý vị hãy coi, ở đây trích dẫn lời nói trong kinh Biện Ý, hàng thứ nhất trang 56. 

          “Phật cáo Biện Ý hữu ngũ sự đắc vi tôn quý, chúng nhân sở kính” (Phật bảo Biện Ý có năm sự việc được tôn quý, mọi người kính trọng),

          Ðây là nghiệp nhân, chỉ cần bạn chịu tu thì bạn sẽ được phước báo. 

          Thứ nhất là ‘Thí huệ phổ quảng’ (Bố thí rộng rãi), tức là bố thí nhiều, tu bố thí, dùng tâm bình đẳng, tâm thanh tịnh tu bố thí, bạn sẽ được thân tôn quý. 

          Thứ nhì “Lễ kính Tam Bảo cập chúng trưởng giả” (Lễ kính Tam Bảo và những người đức hạnh đáng tôn kính), đây tức là hộ trì Phật pháp, tôn kính sư trưởng. 

Thứ ba là “Nhẫn nhục vô hữu sân khuể” (Nhẫn nhục, chẳng nổi giận). 

Thứ tư “Nhu hòa khiêm hạ” (Mềm mỏng, hiền hòa, khiêm tốn, nhún nhường), đây là thái độ phải có khi xử sự, đãi người, tiếp vật. 

Thứ năm “Bác văn kinh giới” (Nghe rộng kinh giới), thông đạt kinh điển, đối với giới luật họ cũng hiểu rõ, có thể tuân giữ, làm được. 

Đây là lời Phật dạy trong kinh: năm việc được người tôn kính, nghiệp nhân để được quả báo tôn quý, có địa vị trong xã hội.  Do đó nếu bạn không tu nhân thì làm sao có quả báo được?  Bạn muốn có quả báo thù thắng thì phải biết làm thế nào tu nghiệp nhân thù thắng, nghiệp nhân quả báo tơ hào chẳng sai.

          Hôm nay đã đến giờ, giảng đến đây thôi.

 

Tập 24 (Số 14-12-24)

          Xin mở cuốn Khoa Chú quyển trung, trang 56:

          Phục thứ Phổ Quảng, nhược vị lai thế trung, Diêm Phù Đề nội, Sát Lợi, Bà La Môn trưởng giả, cư sĩ, nhất thiết nhân đẳng cập dị tánh chủng tộc hữu tân sản giả, hoặc nam hoặc nữ, thất nhật chi trung, tảo ư độc tụng thử bất tư nghị kinh điển, cánh vi niệm Bồ Tát danh, khả mãn vạn biến, thị tân sanh giả hoặc nam hoặc nữ túc hữu ương báo, tiện đắc giải thoát, an lạc dị dưỡng, thọ mạng tăng trưởng, nhược thị thừa phước sanh giả, chuyển tăng an lạc, cập dữ thọ mạng.

Lại nữa, này Phổ Quảng, nếu trong đời vị lai, nơi cõi Diêm Phù Ðề, trong hàng Sát Lợi, Bà La Môn, trưởng giả, cư sĩ, hết thảy các người và những chủng tộc dòng họ khác, có người mới sinh được con trai hoặc con gái, trong vòng bảy ngày, sớm vì đứa trẻ đó mà tụng kinh điển không thể nghĩ bàn này, lại vì đứa trẻ mà niệm danh hiệu của Bồ Tát đủ một vạn biến, thì đứa trẻ mới sinh đó, hoặc trai hoặc gái, nếu đời trước có ương báo thì đều được giải trừ, lại thêm yên ổn, vui vẻ, dễ nuôi, thọ mạng tăng trưởng, còn nếu nương nơi phước lực mà thọ sanh, thì nó càng được an vui hơn và sống lâu hơn.

          Đây là dạy lúc sanh sản nên làm thế nào để tu phước.  Sự việc này, vệ sinh, thuốc men hiện nay phát triển hơn lúc trước, tình huống tốt hơn lúc trước rất nhiều.  Thời xưa, đặc biệt là những vùng nông thôn lạc hậu, sanh con là một việc lớn liên quan đến tánh mạng.  Do đó đức Phật ở đây đặc biệt nêu ra, dạy chúng ta cách làm thế nào tu học, làm sao cho mẹ con được bình yên.  Đức Phật trong kinh dạy chúng ta, quan hệ giữa người trong nhà vô cùng mật thiết, chắc chắn là có nhân duyên sâu xa, chẳng phải ngẫu nhiên mà tụ hợp.  Nhân duyên vô cùng phức tạp, Phật quy nạp những nhân duyên phức tạp này thành bốn loại lớn, đó là như trong kinh thường nói: ‘báo ân, báo oán, đòi nợ, trả nợ’, cho nên mới tụ lại thành người một nhà.  Cha con, anh em, chị em đều chẳng rời những quan hệ này, do nhân duyên đời trước nên mới thành người một nhà, ngạn ngữ thường nói: “Chẳng phải oan gia thì chẳng đụng đầu”, lời này rất có đạo lý.  Nhưng sau khi giác ngộ, người trong nhà của bạn biến thành quyến thuộc trong Pháp, như vậy rất tốt, rất thù thắng.  Chẳng giác ngộ thì người trong nhà [tụ lại để] ân oán báo đền lẫn nhau, đó gọi là khổ chẳng nói nổi.  Rốt cuộc thì báo ân rất ít, báo oán lại nhiều, trả nợ thì ít, đòi nợ thì nhiều, cho nên cả đời người thế gian xảy ra những ‘chuyện chẳng như ý nhiều như cơm bữa’, đây là sự thật mà chúng ta đã từng trải qua, đích thân nhìn thấy.  Cho nên con cái sanh ra, nhất định phải hiểu nhân duyên đời trước của nó.

          Quả báo đều là bình đẳng, bất luận giàu sang, nghèo hèn, trong kinh nói tới ‘Sát Lợi’, trước kia ở Ấn Độ là hoàng tộc, Bà La Môn là những nhà tôn giáo có địa vị cao trong xã hội, trưởng giả, cư sĩ đều có phước báo.  Phía sau nói ‘hết thảy các người và những chủng tộc dòng họ khác’, phạm vi bao gồm rất rộng, bao gồm hết bốn dòng họ, giai cấp ở Ấn Độ, người Trung Quốc chúng ta gọi là nghèo, giàu, sang, hèn.  Bất luận là thân phận nào, địa vị nào, sanh sản tuyệt chẳng thể tránh khỏi, hơn nữa sự đau khổ trong khi sanh sản đều bình đẳng, người giàu sang thì chăm sóc chu đáo một chút, người nghèo hèn thì chăm sóc tệ một chút.  Nói tóm lại, nỗi khổ này chẳng thể nào tránh khỏi.  Phật dạy chúng ta phương pháp ‘trong vòng bảy ngày sớm vì đứa trẻ đó mà đọc tụng kinh điển không thể nghĩ bàn này’, phải ‘sớm đọc’.  Tốt nhất là nếu người trong nhà có tín ngưỡng Phật pháp, có thể tiếp nhận giáo huấn của đức Phật, nên đọc vào lúc nào?  Ngay lúc mang thai bèn đọc.  Mỗi ngày đọc một bộ Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh, hoặc niệm một ngàn danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát, phải dùng tâm chân thành, cung kính để tụng niệm thì phước báo sẽ rất lớn.  Cho dù đứa con trong thai đến để báo oán, là oán gia chủ nợ đến, nếu bạn có thể chăm sóc nó như vậy thì oán kết ấy sẽ được hóa giải.  Bạn có ân đối với nó thì nó sẽ chẳng báo oán, nó sẽ đến cảm ơn, chuyển biến phải bắt đầu từ lúc ban đầu.  Ở đây nói ít nhất phải là bảy ngày trước khi sanh, đương nhiên càng sớm thì càng tốt.  Cho nên khi chúng ta hiểu đạo lý này, biết phương pháp này, tốt nhất là khi mang thai bèn đọc, bèn tu tập theo phương pháp này.  Người làm mẹ, tâm bình khí hòa, chân thành cung kính, thanh tịnh bình đẳng, khởi tâm động niệm gì cũng tuyệt đối sẽ ảnh hưởng đến đứa bé trong thai.  Dùng lý luận khoa học hiện nay để nói thì mọi người dễ hiểu hơn, đây thuộc về hiện tượng ba động (làn sóng).

          Nói theo Phật pháp, giống như hết thảy vạn pháp ở Tây Phương Cực Lạc thế giới đều phát ánh sáng, không những thân người phát ánh sáng, vạn vật cũng phát quang.  Thật ra Cực Lạc thế giới quang minh chiếu khắp, thế gian này của chúng ta chẳng phóng quang hay sao?  Nếu tất cả hết thảy người, vật ở thế gian này của chúng ta chẳng quang minh chiếu khắp như tây phương Cực Lạc thế giới thì Nhất Chân pháp giới sẽ chẳng đứng vững nữa.  Đâu có lý nào chỗ này quang minh cực lớn, còn chỗ kia chẳng có quang minh, vậy thì chẳng có lý?  Nhất định phải biết Nhất Chân pháp giới bao gồm thế giới này của chúng ta, chẳng phải nói rời khỏi thế giới này của chúng ta lại có một Nhất Chân pháp giới riêng rẽ, chẳng có đạo lý ấy!  Trong kinh nói về một việc gì?  Ở chỗ đó quang minh chiếu khắp, mọi người đều có thể đích thân cảm giác được, còn quang minh chiếu khắp ở thế gian này của chúng ta, chúng ta chẳng cảm giác được, là đạo lý như vậy chứ không phải là quang minh không có chiếu.  Tại sao chúng ta chẳng có cảm giác?  Vì tâm chúng ta không thanh tịnh, tâm quá loạn rồi, vọng niệm quá nhiều, nên bạn chẳng nhìn thấy cảnh giới ấy; chẳng phải là không có, cùng Cực Lạc thế giới và Hoa Tạng thế giới không hai không khác.  Dùng cách nói của vật lý hiện đại thì rất dễ hiểu, quang là gì?  Quang là hiện tượng làn sóng (ba động).  Chỉ cần có động thì sẽ có sóng, hiện nay khoa học gia gọi là ‘ba’, nhà Phật chúng ta gọi là ‘quang’, quang chính là ba động.  Hết thảy tất cả vật chất hiện nay đều biết, vật chất cấu tạo hình thành như thế nào?  Phân tách đến cuối cùng biến thành nguyên tử, điện tử, lạp tử [2].  Những vật chất cơ bản này ở dưới trạng thái gì?  Đều chuyển động. Đức Phật chẳng cần các dụng cụ khoa học, ngài nhìn thấy rất rõ ràng, hiện nay dụng cụ tân tiến nhất còn chưa quan sát tới, Phật đã nhìn thấy rõ ràng.  Đức Phật nói những hiện tượng này cho chúng ta, lời của ngài nói rất khéo léo, rất uyển chuyển, nói ra chân tướng này, chẳng có ai tin tưởng, chẳng ai tiếp nhận.  Thế nên cách nói như vậy rất vi diệu, rất cao minh, chúng ta gọi là thiện xảo phương tiện.

          Phật nói hiện tượng vật chất, nói cho chúng ta bốn nguyên tắc ‘địa, thủy, hỏa, phong’ (đất, nước, lửa, gió)  Địa thủy hỏa phong nói về cái gì?  Nói về vật chất căn bản, hiện nay gọi là lạp tử cơ bản, nhất định có bốn hiện tượng này.  ‘Địa’ là gì?  Là một dạng vật chất có thể nhìn thấy được, thì gọi là ‘địa’.  Địa tượng trưng cho vật chất, mắt thịt chúng ta chẳng thể nhìn thấy, dưới kính siêu hiển vi có thể phát hiện, thấy được nó.  Phật chẳng cần những dụng cụ này, mắt Phật gọi là Ngũ Nhãn Viên Minh, ngài có thể nhìn thấy, phàm phu chúng ta chẳng thể nhìn thấy.  Thế nên mắt của ngài sắc bén hơn chúng ta, ngài nhìn thấy hiện tượng này.  Vật chất căn bản hình thành như thế nào?  Nó có mang điện.  Cho nên ‘hỏa đại’ tức là điện dương, ‘thủy đại’ tức là điện âm, ngày nay chúng ta nói nó có ôn độ (độ ấm), có thấp độ (độ ướt).  ‘Phong đại’ là gì?  Là trạng thái di động, chẳng phải chỉ tịnh (ở yên một chỗ), đây là nói về vật chất căn bản.  Hết thảy tất cả hiện tượng vật chất bao gồm cả những tổ chức tế bào của con người đều có hiện tượng này.  Bạn nghĩ xem nó làm sao không có động được?  Lạp tử căn bản cũng chuyển động ở đó.  Động thì sẽ sanh ra ‘ba’ (sóng [năng lượng]), ba động có phạm vi bao lớn?  Nói cho chư vị lý luận và phương pháp đều giống nhau, làn sóng này biến tận hư không pháp giới.  Sau đó bạn nghĩ thử xem, vạn vật trời đất bao nhiêu chúng sanh khởi tâm động niệm, thì ‘ba’ (sóng) càng hiện rõ, phúc độ ba động (cường độ dao động) càng lớn.  “Ba động” của vật chất tương đối vi tế, tương đối nhỏ, từ đó bạn mới biết làn sóng trong không gian sinh hoạt của chúng ta phức tạp đến mức nào.  Trong kinh Phật nói thiện niệm, thiện tâm thì làn sóng sẽ ôn hòa, ổn định, bình lặng, sau khi tiếp xúc bạn sanh tâm hoan hỷ, tiếp xúc có cảm giác rất sung suớng.  Ác niệm ác tâm thì làn sóng sẽ rất mãnh liệt, bạn cảm xúc đến cả thân người chẳng thoải mái.  Hiện nay có người gọi hiện tượng này là ‘từ trường’, gọi là từ trường cũng được.  Ở nội địa Trung Quốc, người luyện khí công gọi là ‘khí’, cũng được, đều là một việc này.  Bạn gọi là ‘khí’ cũng được, trong Phật pháp gọi là ‘quang’, gọi là ‘ba động’, gọi là ‘từ trường’ đều cùng một đạo lý.

          Do đó có thể biết khi thần thức đến đầu thai, nó có niệm đầu (một niệm), nó có làn sóng, thế nên khi người mẹ khởi tâm động niệm, hết thảy cử chỉ đều ảnh hưởng đến bào thai, vì vậy người Trung Quốc thời xưa chú trọng thai giáo, đạo lý là như vậy.  Chúng ta hiểu được ‘thai giáo’ ghi trong sách xưa, trong đó có nói một số nguyên lý, nhưng nói chẳng rõ ràng, thấu triệt, đọc xong chúng ta nửa tin nửa ngờ, chẳng biết mức nghiêm trọng của ảnh hưởng [thai giáo], chẳng biết được!  Ngày nay chúng ta hiểu rõ chân tướng sự thật của ‘ba động’ thì biết khởi tâm động niệm ảnh hưởng đến thai nhi rất nhiều, rất lớn, do đó người làm mẹ trong thời gian mang thai, khởi tâm động niệm đều là thiện, đều thanh tịnh, thì đứa bé trong thai nhận được lợi ích rất lớn, quá lớn!  Người ta ai cũng hy vọng con cái của mình tốt lành, con hiếu cháu hiền.  Làm sao dạy nó?  Lúc mang thai, tự mình chúng ta phải hiếu thảo, phải tận hiếu, ba động của sự hiếu thảo ảnh hưởng tới đứa trẻ.  Chúng ta tu Tịnh, tu thanh tịnh, tu phước, vậy mới thật sự dạy nó gieo trồng hạt giống [thanh tịnh, phước đức.  Việc này] chẳng phải là không có đạo lý, nhất định chẳng có mê tín.

          Tại sao đức Phật dạy chúng ta đọc bộ kinh này?  Kinh này là Hiếu Kinh, tinh thần nói trong kinh này quy nạp vào bốn chữ ‘hiếu thân tôn sư’, hiếu thuận cha mẹ tôn kính sư trưởng là căn bản của sự giáo học thế gian và xuất thế gian.  Chúng ta tu học Phật pháp Đại Thừa bắt đầu học từ đâu?  Từ kinh Địa Tạng, Địa là tâm địa, Tạng là là kho tàng.  Bảo tàng trong tâm địa là gì?  Vô lượng trí huệ, vô lượng đức năng; ‘đức’ là phước đức, ‘năng’ là năng lực kỹ thuật; vô lượng tài nghệ là kho báu vốn có trong tự tánh chúng ta, đó gọi là Địa Tạng.  Kho báu chôn dưới đất, giống như ngày nay chúng ta gọi là kho vàng bạc, nếu không khai thác mà cứ chôn vùi dưới đất, tuy có nhưng chúng ta chẳng được thọ dụng.  Bạn phải biết khai thác, dùng phương pháp gì để khai thác?  Khai thác kho báu trong tự tánh nhất định phải dùng tánh đức, phải dùng công cụ này, tương ứng với nó thì mới khai phá được.  Trong tánh đức, tánh thù thắng nhất chính là ‘hiếu kính’, thế nên hiếu kính mới có thể khai phát kho báu tự tánh.  Tu học Phật pháp Đại Thừa phải bắt đầu học từ đâu?  Phải học Địa Tạng trước nhất, hạ thủ từ chỗ này.  Học Hiếu Đạo trước, từ Hiếu Đạo xây dựng Sư Đạo, Phật pháp là Sư Đạo, Sư Đạo xây dựng trên cơ sở của Hiếu Đạo.

          Thuở trước tôi thấy một số pháp sư đi Mỹ hoằng pháp, khi tiễn đưa họ, tôi khuyên họ đến Mỹ đừng xây chùa miếu, tôi khuyên họ xây Từ Đường, đề xướng Hiếu Đạo.  Tại sao?  Nếu không có Hiếu Đạo thì Phật pháp nhất định sẽ không bám rễ, sẽ chẳng xây dựng được đạo tràng Phật pháp, vì chẳng có cơ sở, Phật pháp là Sư Đạo.  Xây từ đường tốt hơn, xây từ đường hoằng dương Phật pháp, hiệu quả lớn hơn xây chùa nhiều.  Vì bạn xây chùa xong, người ta vừa nhìn thì thấy là Phật giáo, người chẳng tin Phật sẽ chẳng bước vô, cái duyên ấy bèn tuyệt mất.  Tôi xây từ đường mỗi năm cúng tế tổ tiên, người Trung Quốc chẳng kể là tin theo tôn giáo nào, ai cũng chẳng quên tổ tiên, họ phải tới tham gia lễ cúng tổ tiên.  Trong lúc cúng tế có thể giảng giải Phật pháp, có thể giảng giải giáo học truyền thống của Trung Quốc, được vậy thì dần dần có thể cảm hóa hết thảy đại chúng.  Do đó dùng từ đường làm đạo tràng tốt hơn chùa miếu nhiều lắm.  Nhưng những pháp sư này chẳng nhận lời đề nghị của tôi.  Người Nhật, người Trung Quốc xây đạo tràng ở Mỹ rất nhiều, trên thực tế đều là độ cho kiều dân Trung Quốc, rất ít người [Mỹ] ở địa phương ấy bước vô, nguyên nhân là ở chỗ này, chúng ta đã lộn ngược đầu đuôi rồi.  Cho nên tuy đã xây dựng hơn một trăm năm, dùng thí dụ như ở Mỹ, Phật pháp được truyền đến Mỹ đã trên một trăm năm, ngày nay chẳng có biện pháp bám rễ, chẳng có biện pháp hoằng dương, rất nhiều người không biết nguyên nhân ở chỗ nào.

          Khi giảng kinh khắp nơi ở Mỹ, tôi thường nhắc nhở mọi người, chúng ta chẳng có phước báo, sức lực rất yếu kém, tôi đề xướng hiện đại hóa và bản địa hóa.  Bạn xây đạo tràng ở Mỹ, hình thức của đạo tràng nhất định phải dùng kiến trúc của Mỹ, nhất định không thể xây theo lối kiến trúc cung điện của Trung Quốc ở Mỹ, người Mỹ vừa nhìn thấy liền nghĩ đây là từ ngoài đến, văn hóa nước ngoài, lập tức sanh khởi tâm bài xích, sẽ không chịu bước vào.  Do đó tôi khuyên mọi người xây đạo tràng ở Mỹ phải xây như thế nào?  Xây giống như tòa Bạch Cung, xây giống [tòa nhà] Quốc Hội của Mỹ.  Hình tượng Phật, Bồ Tát ở trong ấy nhất định phải tạo giống gương mặt của người Mỹ, người Mỹ vừa nhìn liền nghĩ “À, đây là người nhà mình”, như vậy mới độ họ được.  Chúng ta phải biết, hai ngàn năm trước Phật pháp truyền đến Trung Quốc, những cao tăng Ấn Độ thông minh, họ tạo tượng Phật có gương mặt của người Trung Quốc, xây đạo tràng có hình thức của người Trung Quốc.  Người Trung Quốc tôn kính nhà vua nhất, vua cư trú trong cung điện, họ phỏng theo phương thức ấy mà xây đạo tràng, người dân nhìn thấy rất ưa thích.  Trong đời này có ai đủ phước có thể vào hoàng cung tham quan một phen bao giờ?  [Một người dân thường] chẳng có cơ duyên này, chẳng có phước ấy thì đi vào chùa cũng như vào hoàng cung vậy, do đó họ nhất định sẽ vào chùa.  Phải hiểu đạo lý này, đây là cơ sở vật chất.

          Nội dung ở trong [đạo tràng] nhất định phải dạy ‘Hiếu’, phải dạy ‘Kính’, phải bắt đầu từ Hiếu Kính, người đời xưa biết được.  Phật giáo truyền đến Trung Quốc, tại sao lại được triều đình nhiệt liệt hoan nghinh?  Lý tưởng và quan niệm cơ bản của giáo học Phật giáo cùng với giáo huấn của cổ thánh tiên hiền Trung Quốc chẳng hẹn mà giống nhau, giáo học của nhà Nho cũng xây dựng trên cơ sở của Hiếu Đạo, Phật pháp cũng vậy.  Vả nữa, Phật pháp giảng tường tận hơn nhà Nho, giảng rõ ràng, rành rẽ hơn, thế nên truyền đến Trung Quốc bèn được triều đình tiếp nhận nồng nhiệt, đạo lý là như vậy.  Phật pháp đối với xã hội, đối với quốc gia, với nhân dân, đích thật có lợi ích, tuyệt chẳng phải là mê tín.  Trong lịch sử Trung Quốc những người tu học Phật pháp là người nào?  Đều là giai cấp sĩ đại phu, thời xưa gọi là giai cấp sĩ đại phu, ngày nay gọi là phần tử trí thức, chẳng phải người thường.  Người thật sự có học vấn, có đạo đức lại tu học Phật pháp, tiếp nhận Phật pháp, tin theo Phật pháp, y giáo phụng hành, như vậy mới thật sự đạt được hiệu quả thay đổi phong tục, khơi động trào lưu trong nhân gian, phong khí ấy là phong khí lành mạnh.

          Hiện nay chùa chiền đã biến chất, chẳng còn dạy học, lúc trước chùa chiền là trường học, là nơi dạy học.  Hiện nay thay đổi rồi, biến thành chỗ siêu độ người chết, vậy là hoàn toàn biến chất, biến đổi quá lớn.  Chuyện siêu độ này vốn chẳng có trong Phật giáo, tại sao lại biến đổi thành hiện tượng này?  Lúc tôi mới bắt đầu học Phật, tôi thân cận Đạo An pháp sư, lúc đó chúng tôi cùng nhau lập Đại Chuyên Phật Học Giảng Tọa, tôi hỏi lão pháp sư: “Phật sự [siêu độ] bắt đầu từ nguyên nhân gì?  Tại sao lại biến thành như vậy?”.  Ngài nói với tôi một hồi, tôi nghĩ cũng rất có lý.  Ngài nói chuyện này có lẽ bắt đầu từ thời nhà Đường, năm Khai Nguyên, thời đại của Đường Minh Hoàng, vì những năm cuối, nhà vua sủng ái Dương Quý Phi, dẫn đến dị nghị trong triều, [sau đó] An Lộc Sơn tạo phản, gần bị mất nước.  May nhờ Quách Tử Nghi dẹp loạn này, số dân quân bị tử thương rất nhiều.  Cho nên dẹp xong cuộc loạn này, triều đình bèn xây một chùa ở mỗi chiến trường, các chùa này đều gọi là ‘Khai Nguyên Tự’, là vì vậy mà chùa Khai Nguyên được xây dựng.  Xây những đạo tràng này là nhằm truy điệu những người dân, người lính bị tử nạn, mời pháp sư tụng kinh để siêu độ, đó gọi là pháp hội truy điệu, là bắt đầu như vậy.  Triều đình, quốc gia đề xướng truy điệu vong hồn tử nạn, trong dân gian bèn bắt chước làm theo, nên khi người già mất đi cũng mời pháp sư đến để siêu độ, lúc đó việc siêu độ cũng là một việc phụ.  Trong đạo tràng cũng vẫn giảng kinh, thuyết pháp, hướng dẫn đại chúng tu hành, [siêu độ chỉ] là chuyện phụ thêm.  Hiện nay siêu độ lại trở thành việc chính, còn việc chính yếu thật sự lại biến mất, chẳng còn nữa, đổi việc phụ thành việc chính, là điên đảo hết rồi, như vậy nên biến thành mê tín.  Chúng ta phải biết những sự thật này đã diễn biến, hình thành như thế nào.

          Nói thật ra những lý luận phương pháp, nguyên lý, nguyên tắc của việc siêu độ đều nằm trong kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện.  Người [thực hành việc] siêu độ làm thế nào thật sự làm cho người mất có thể rời khỏi ác đạo, có thể sanh lên trời hưởng phước trời.  Trong kinh đã giảng rất rõ ràng, bản thân người siêu độ phải chứng quả thì mới được; nếu bản thân không thể nâng cao cảnh giới của mình, chẳng thể chứng quả thì người được siêu độ (người mất) được lợi ích rất có hạn.  Giống như thí dụ trong kinh, như cô Quang Mục là một người con có hiếu, biết mẹ mình lúc còn sống tạo rất nhiều tội nghiệp.  Cô hiểu biết Phật pháp, nếu làm những hạnh nghiệp như mẹ cô đã làm cả đời, tương lai nhất định phải đọa địa ngục, đọa địa ngục thì sẽ rất khổ, địa ngục dễ vào nhưng rất khó thoát ra.  Cô muốn cứu mẹ nên chỉ còn cách cầu Phật.  Phật dạy cô phương pháp gì?  Dùng phương pháp niệm Phật, [đức Phật] chẳng dạy cô cách gì khác.  Cô gái Bà La Môn cũng dùng phương pháp niệm Phật, cô Quang Mục cũng dùng phương pháp niệm Phật, họ chẳng dùng cách khác, chỉ niệm Phật.

          Cô Bà La Môn niệm một ngày một đêm, ngày nay chúng ta gọi là tinh tấn niệm Phật, cô là phàm phu nhưng vì muốn cứu mẹ nên trong vòng một ngày một đêm cô niệm rất chân thành, rất khẩn thiết, rất đúng như pháp, niệm một ngày một đêm bèn được nhất tâm bất loạn; kinh Di Đà nói ‘Nếu một ngày, nếu hai ngày, …, đến bảy ngày’.  Được nhất tâm bất loạn, cô bèn chứng quả, nên trong Ðịnh cô có thể đến địa ngục, quỷ vương trong địa ngục thấy cô tới, chắp tay xưng cô là Bồ Tát.  Từ phàm phu cô tu hành trong một ngày một đêm liền siêu phàm nhập thánh, đạo lý là ở chỗ này.  Quỷ vương hỏi cô: “Bồ Tát, cô đến đây làm gì?”.  Cô hỏi quỷ vương: “Đây là chỗ nào?”.  Quỷ vương trả lời: “Đây là địa ngục”, chỉ có hai hạng người có thể đến địa ngục, một là người tạo nghiệp thọ báo; hai là Bồ Tát, nếu chẳng phải hai hạng người này thì nhìn chẳng thấy địa ngục.  Cô hỏi tiếp, hỏi thăm tung tích của mẹ cô, quỷ vương đáp: “Ba ngày trước mẹ cô đã sanh lên cõi trời Đao Lợi, không những mẹ cô được sanh, những người cùng chịu tội với mẹ cô đều được sanh lên trời Đao Lợi.”  Nghe nói bà có một người con hiếu thuận tu phước cho bà, cúng dường Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai, có phước báo này nên bà được sanh lên trời.

          Bà làm sao có phước báo này?  Nếu mẹ cô chẳng tạo tội đọa địa ngục, có thể cả đời cô Bà La Môn cũng chẳng đạt đến cảnh giới này, lúc bình thường niệm Phật rất giải đãi, lơ là thì làm sao niệm đến nhất tâm được?   Đây là vì cứu mẹ nên phải liều mạng!  Một ngày một đêm cảnh giới bèn chuyển biến, bèn nâng cao.  Cô có thể chuyển phàm thành thánh là nhờ sức mạnh gì?  Nhờ duyên của mẹ cô giúp cô, mẹ cô được sanh lên trời là do đạo lý này.  Nếu cô chỉ siêu độ trên hình thức thì không ăn nhằm gì cả, tự mình chẳng được phước, người được siêu độ cũng chẳng được phước.  Pháp giới của ác đạo cùng pháp giới của con người chẳng khác nhau.  Nếu nói gia đình của bạn, con cái bạn được giáo dục rất tốt, được mọi người trong xã hội tôn trọng; bạn làm tổng thống, làm bộ trưởng, cha mẹ của bạn đi đến chỗ nào cũng được người ta tôn kính, đạo lý cũng giống như vậy.  Nếu bản thân bạn chẳng có thành tựu, cha mẹ bạn làm sao được quỷ thần cung kính?  Cho nên trong kinh nói về siêu độ, bảy phần công đức tự mình được sáu phần, người được siêu độ chỉ được một phần.  Tự mình niệm Phật một ngày một đêm, niệm đến nhất tâm bất loạn, đó là công đức chính cô đạt được, mẹ cô được hưởng lây, hưởng phước của cô nên bà được sanh lên trời Đao Lợi, đây là một phần bảy công đức.  Nếu tự mình không thành tựu, thì đối phương sẽ chẳng được phước lớn như vậy.

          Thông thường thì bố thí chỉ là mời họ đến dùng cơm, như ‘Phóng Diệm Khẩu’ là mời khách, mời dùng cơm, [làm cho] họ được no ấm mà thôi, chẳng giúp họ rời khỏi ác đạo.  Muốn thật sự rời khỏi ác đạo, trong pháp sự siêu độ, những pháp sư ấy tùy văn nhập quán, sau buổi pháp sự ấy họ thật sự thành Bồ Tát, cảnh giới của họ nâng cao thì hiệu quả của việc siêu độ mới lớn, hết thảy những người được siêu độ nhất định sẽ được sanh lên trời.  Nếu bạn hỏi tại sao được sanh lên trời?  Vì trong Phật sự siêu độ, các pháp sư ấy hết lòng nỗ lực, dùng tâm thanh tịnh, bình đẳng để tu học, chính họ siêu phàm nhập thánh, từ địa vị phàm phu nâng cao đến Bồ Tát, là đạo lý như vậy.  Nếu làm xong Phật sự mà bạn vẫn còn là phàm phu thì bạn chẳng có sức mạnh như vậy.  Thế nên chúng ta phải hiểu đạo lý, làm Phật sự siêu độ phải hết lòng, niệm những kinh văn ấy, niệm những kệ tụng ấy nhất định phải khế nhập cảnh giới, sau khi nhập cảnh giới phải không thoái chuyển, thì công đức đó vô lượng vô biên, phước họ được sẽ không biết là bao lớn!  Không thể nói làm qua loa, sơ sài cho hết trách nhiệm, không thể như vậy.  Việc siêu độ làm sao có thể trả giá được?  [Nếu làm việc siêu độ như] làm ăn buôn bán thì công đức gì cũng không có, hoàn toàn rơi vào hình thức, vậy thì sai rồi.  Không những chỉ siêu độ vong linh, mà thật sự cũng siêu độ cho mình, tự mình siêu độ rồi thì vong linh sẽ được siêu độ theo, nếu tự mình chẳng có biện pháp siêu độ thì chắc chắn sẽ không siêu độ vong linh nổi.  Phật pháp thường nói tự mình chưa độ mà muốn độ người khác, chẳng bao giờ có chuyện ấy, chẳng có đạo lý như vậy!  Trong kinh này chúng ta thấy, cô Bà La Môn thật sự chính mình đã được độ, chính mình được độ xong mới có thể độ người ta, những vong linh này nương nhờ phước lực của cô để siêu sanh.  Siêu sanh cao nhất cũng chỉ đến trời Đao Lợi, lên những cõi cao hơn nữa phải tự mình có công phu tu hành, người ta muốn giúp cũng chẳng giúp nổi.

          Làm Phật sự siêu độ, ở Trung Quốc quy mô lớn nhất là vào đời Lương Võ Đế, Lương Võ Đế siêu độ phi tử của ông, người chủ trì pháp hội siêu độ này là vị cao tăng đương thời: Bảo Chí Công.  Sau này chúng ta biết Bảo Chí Công là Quán Thế Âm Bồ Tát hóa thân tái lai.  Quán Thế Âm Bồ Tát đích thân chủ trì pháp hội siêu độ, sau đó Lương Hoàng Sám được truyền [cho đến nay].  Quán Thế Âm Bồ Tát chủ trì pháp hội này, siêu độ phi tử của Lương Võ Đế cũng chỉ lên đến trời Đao Lợi, chư Phật Như Lai có chủ trì thì cũng được vậy mà thôi.  Nương nhờ vào phước báo của người khác chỉ có thể đạt đến cảnh giới này, muốn lên trên nữa phải dựa vào sự tu hành của chính mình, chính mình chẳng có công phu tu hành thì không được!  Nương phước báo của người khác thì cao nhất chỉ có thể đến trời Đao Lợi.  Chúng ta phải hiểu rõ ràng, rành rẽ đạo lý và chân tướng sự thật này.  Cho nên khi chính mình tu hành thật sự chuyển được cảnh giới, thật sự có công phu, thì Phật sự siêu độ có thể chẳng cần hình thức.

          Chúng ta đọc Ảnh Trần Hồi Ức Lục thấy trong lời của Đàm Hư pháp sư kể lại, lúc đó ngài cùng ba, bốn người bạn cùng nhau nghiên cứu kinh Lăng Nghiêm, trong đó có một đoạn ‘Đóng cửa tám năm đọc Lăng Nghiêm’.  Đây là những cư sĩ tại gia, mỗi ngày còn phải làm việc, bôn ba công việc, chẳng thể chuyên tâm.  Nhưng dùng tám năm để học một bộ kinh, ít nhiều thì họ cũng có công phu định lực, nếu tám năm học mười bộ, tám bộ thì sẽ chẳng có hiệu quả.  Tám năm dồn sức vào một bộ kinh, tâm định trên bộ kinh này, oán thân trái chủ tìm họ nhờ siêu độ.  Ông thoạt nhìn thấy linh quỷ đến bèn sợ hãi, họ đều là oan gia đời trước, sợ họ đến kiếm chuyện phá rối.  Những oan gia chủ nợ này đến quỳ trước mặt ông, cầu xin ông siêu độ cho họ, tâm của ông mới hết sợ, biết họ chẳng phải tới kiếm chuyện.  Làm thế nào siêu độ?  “Chỉ cần ông nhận lời là được”.  “Được! tôi đồng ý”.  Ông thấy oan hồn ấy đạp lên đầu gối, đạp lên vai ông rồi bay lên trời, nghi thức gì cũng chẳng cần làm.  Khi chính bạn đạt đến cảnh giới này, có công phu này thì họ sẽ nhờ phước báo của bạn, chỉ cần bạn đồng ý là được.  Cho nên bạn phải biết việc siêu độ vong linh hoàn toàn dựa vào đức hạnh và công phu tu hành của chính mình.

          Ngày nay trong pháp hội siêu độ ở Cư Sĩ Lâm, chúng ta kết hợp giảng đường với niệm Phật đường của chúng ta, sức mạnh này rất lớn!  Phía dưới [noi theo] hình thức làm Phật sự siêu độ, nội dung thật sự trong đó nương vào Niệm Phật Ðường, do đó sự siêu độ này rất thù thắng.  Chắc chắn những sự siêu độ hồi trước chẳng sánh bằng, đích thật có chư Phật, Bồ Tát trong đạo tràng, có thiện thần hộ pháp trong đạo tràng.  Những pháp sư, đồng tu làm việc siêu độ này dùng tâm chân thành, thanh tịnh nên cảm ứng chẳng thể nghĩ bàn, thật sự tu vô lượng vô biên phước báo.  Chúng ta hiểu đạo lý này, hiểu cảm ứng của “tâm điện”, nói thật ra [tâm điện] tức là những làn sóng tư tưởng, khởi tâm động niệm, tất cả đều là thiện, thuần thiện.  Sức mạnh của những làn sóng này mạnh, có thể nhiễu loạn những làn sóng ác niệm của hết thảy chúng sanh, kể cả những quỷ thần trên thế gian, chúng ta quân bình những làn sóng ác, làm vậy tạo nên hiệu quả rất lớn.  Trong ấy đích thật có đạo lý.

          Đoạn này nói niệm kinh Địa Tạng lúc sanh sản có lợi ích.  Khi niệm kinh nếu có thể hiểu rõ lý luận, phương pháp, cảnh giới nói trong kinh thì sức mạnh càng thù thắng.  Do vì bạn hiểu được, khi bạn đọc thì tùy văn nhập quán, lúc bình thường chúng ta không thể chuyển cảnh giới, ít nhất thì lúc đọc tụng có thể chuyển cảnh giới được một chút; bạn có thể chuyển một phần, hai phần cũng có hiệu quả, hiệu quả được tỏ lộ qua các làn sóng.  Nếu thấu hiểu sâu hơn, lúc thường ngày có thể y giáo tu hành thì sức mạnh ấy chẳng thể nghĩ bàn.  Phía sau nói về quả báo ‘thị tân sanh tử’, đứa bé mới vừa sanh, hoặc trai hoặc gái, ‘túc hữu ương báo, cánh đắc giải thoát’, nếu đời trước nó tạo tội nghiệp, đời này đến để thọ báo thì tội nghiệp ấy bị tiêu mất.  Đích thật là tiêu trừ nghiệp chướng cho đứa bé, tiêu trừ nghiệp chướng vào lúc này thì dễ hơn.  Khi đứa bé trưởng thành, mỗi ngày từ sáng đến tối nó suy nghĩ lung tung, tới lúc đó bạn muốn tiêu trừ nghiệp chướng sẽ chẳng được.  Lúc bây giờ [còn nhỏ] nó hoàn toàn nghe lời nên tiêu trừ nghiệp chướng đều phải làm ngay bây giờ.  Do đó chúng ta mới thấu hiểu việc cổ thánh tiên hiền nói về thai giáo quan trọng dường nào, đây là thai giáo [nói] trong nhà Phật.

          Sau đó nói ‘an lạc dị dưỡng, thọ mạng tăng trưởng’, đứa bé này nghiệp chướng tiêu trừ, tai nạn cũng tiêu trừ, rất dễ nuôi, thọ mạng tăng trưởng.  Nếu đứa bé này thừa phước mà sanh, đời quá khứ nó có tu phước, tức là chúng ta có nói nó đến để báo ân, đời quá khứ chịu ân đức với cha mẹ, tự mình cũng tu phước.  ‘Chuyển tăng an lạc, cập dữ thọ mạng’, bạn có thể dạy nó, giúp nó, thì phước báo của nó càng lớn, thọ mạng càng dài.  Chú giải chú rất hay, chúng ta có thể tham khảo, không cần nói thêm.  Xem đoạn kinh tiếp theo, quyển trung, trang 59:

          Phục thứ Phổ Quảng, nhược vị lai thế chúng sanh, ư nguyệt nhất nhật, bát nhật, thập tứ nhật, thập ngũ nhật, thập bát nhật, nhị thập tam, nhị thập tứ, nhị thập bát, nhị thập cửu nhật, nãi chí tam thập nhật, thị chư nhật đẳng, chư tội kết tập, định kỳ khinh trọng.

Lại nữa, này Phổ Quảng, trong mỗi tháng, ngày mùng một, mùng tám, mười bốn, mười lăm, mười tám, hăm ba, hăm bốn, hăm tám, hăm chín và ba mươi là những ngày kết tập các nghiệp tội, thẩm định nặng nhẹ.

Chúng ta xem trước đoạn này.  Đoạn này trong Khoa Chú gọi là “Trai tụng cảm báo’, trong kinh nói về ngày Thập Trai, có kinh nói về Lục Trai, đều tính bằng âm lịch, hiện nay càng ngày càng ít dùng âm lịch, cả thế giới hiện nay đều dùng dương lịch.  Ở đây nói sáu ngày trai, ‘ư nguyệt’ [nghĩa là] mỗi tháng, mồng một, mồng tám, mười bốn, mười lăm, tháng thiếu có hăm chín, tháng đủ có ba mươi.  Đức Phật nói những ngày này đều là ngày các vị thiên địa quỷ thần đi tuần tra trong thế gian, cho nên chúng sanh khởi tâm động niệm, ngôn ngữ hành động có khi làm lành, có khi làm ác, các quỷ thần đều ghi chép, họ ở nơi đó điều tra, đây là ‘chư tội kết tập, định kỳ khinh trọng’.  Nói thật ra, những việc này dùng cách nói hiện nay đều liệt vào ‘hồ sơ’, đến lúc lâm chung nếu không có phước đức, khi gặp vua Diêm La bèn lấy ‘hồ sơ’ này ra để định đoạt quả báo nặng nhẹ.  Những chuyện này rốt cuộc có hay không, có phải là mê tín hay không?  Nói cho chư vị biết, [những chuyện này đều] có thật!  Tại sao?  Thế gian chúng ta cũng như vậy.  Bạn coi mỗi ngày cảnh sát đi tuần, lúc bạn phạm tội thì cảnh sát hình sự đến điều tra bạn, phải tìm kiếm chứng cớ phạm tội của bạn, sau đó mới phán xử.  Người thế gian chúng ta định tội một người, tìm một chứng cớ rất khó, không dễ, [nhưng] quỷ thần tìm chứng cớ của bạn, bạn chẳng có biện pháp ẩn dấu, chúng ta có thể lừa gạt người nhưng không thể lừa gạt quỷ thần.  Hiện nay dùng khoa học để biện án, dùng khoa học để trắc nghiệm lời nói dối, đâu biết rằng những quỷ thần ấy chẳng dùng các công cụ khoa học này, họ trực tiếp dựa trên tư liệu của làn sóng điện để kết án, khởi tâm động niệm gì họ cũng biết, đúng như câu nói ‘trên đầu ba thước có thần minh’, con người có thể tự gạt mình, gạt người khác, nhưng chẳng gạt nổi quỷ thần.

Đặc biệt là chúng ta đọc kinh Vô Lượng Thọ, trong kinh đức Phật nói nhân số ở tây phương Cực Lạc thế giới quá lớn, chẳng có cách chi tính đếm.  Những người đến tây phương Cực Lạc thế giới đều là người tu pháp môn niệm Phật từ mười phương thế giới của chư Phật vãng sanh đến, chẳng phải chỉ có thế giới này của chúng ta mà thôi; mười phương hết thảy thế giới chư Phật, mỗi ngày số người vãng sanh không biết là bao nhiêu mà kể.  Sanh đến thế giới Cực Lạc, họ có thần thông đạo lực, hầu như bằng với đức Phật A Di Đà, chúng ta đọc thấy trong kinh.  Thiên nhãn, thiên nhĩ của  những người này, dùng cách nói hiện nay của chúng ta là bén nhạy nhất, tận hư không, trọn khắp pháp giới, họ đều nhìn thấy, sự khởi tâm động niệm của hết thảy chúng sanh họ đều biết, họ có tha tâm thông.  Năng lực thần thông của quỷ thần rất có hạn, năng lực của quỷ thần chắc chắn không bằng A La Hán, năng lực của A La Hán có thể biết năm trăm đời, trong vòng năm trăm đời của một người, tình huống trong mỗi đời, mỗi kiếp, A La Hán đều biết.  Quỷ thần chẳng có năng lực này, đại khái những gì bạn làm gần đây, họ biết được.  Chuyện một năm, hai năm, mấy tháng, họ biết rất rõ ràng, họ có năng lực này.  Năng lực của người ở tây phương Cực Lạc thế giới rất mạnh, quá mạnh!  Chúng ta ở đây khởi tâm động niệm gì họ đều biết rõ, chúng ta muốn vãng sanh về Cực Lạc thế giới, nếu tâm niệm của bạn chẳng thiện, hành vi chẳng thiện, cả ngày niệm A Di Đà Phật, một ngày niệm mười vạn tiếng Phật hiệu chẳng gián đoạn, tương lai cũng không thể vãng sanh nổi.  Tại sao niệm Phật không thể vãng sanh?  Mỗi ngày bạn chấp trì danh hiệu là khẩu thiện, nhưng tâm bạn chẳng thiện, hành vi chẳng thiện.  Điều kiện vãng sanh tây phương Cực Lạc thế giới là ba nghiệp thanh tịnh, trong ba nghiệp quan trọng nhất là ‘tâm’, tâm tịnh thì cõi Phật tịnh, tâm thiện thì ngôn hạnh nhất định sẽ thiện, như vậy mới có thể vãng sanh, chúng ta nhất định phải hiểu rõ đạo lý này.

Cho nên bạn coi kinh Vô Lượng Thọ nói về điều kiện vãng sanh, bất luận là bậc thượng, bậc trung, bậc hạ, điều kiện quan trọng nhất là ‘phát Bồ Đề tâm, nhất hướng chuyên niệm’.  Nếu chúng ta chỉ làm được nhất hướng chuyên niệm, chẳng phát Bồ Đề tâm thì không thể vãng sanh.  Nói thêm một lời thành thật, khi thật sự phát Bồ Đề tâm, chẳng niệm Phật cũng có thể vãng sanh.  Trong kinh nói về một niệm lúc lâm chung, mười niệm đều có thể vãng sanh, tại sao?  Bồ Đề tâm.  Bồ Đề tâm là tâm thiện, tâm thiện, hạnh thiện một đời chẳng niệm Phật, đến lúc lâm chung niệm một tiếng, mười tiếng đều chắc chắn vãng sanh.  Nếu không phát Bồ Đề tâm, tâm chẳng thiện, hạnh chẳng thiện, mỗi ngày đều niệm A Di Đà Phật, người xưa nói: “Hét bể cổ họng cũng uổng công”!  Tây phương Cực Lạc thế giới là ‘nơi các người thiện tụ hội một chỗ’, chúng ta không thiện thì không hợp với họ, chẳng có cách chi sống chung, họ đều là thượng thiện, chúng ta nhất định phải hiểu đạo lý này.  Tại sao mỗi ngày gắng sức niệm Phật?  Vì sợ lúc lâm chung quên mất.  Mỗi ngày niệm Phật cũng như huấn luyện vậy, cũng như câu ‘luyện binh ngàn ngày, chỉ dùng trong một buổi’.  Mỗi ngày huấn luyện không ngừng, mỗi giờ mỗi phút đều đề khởi câu Phật hiệu, đề khởi câu Phật hiệu này có dụng ý rất sâu, rất rộng; không những là không để Phật hiệu quên mất, không thể quên mất tâm của Phật, nguyện của Phật, hạnh của Phật, tâm của ta phải giống y như tâm Phật.  Cho nên khi nghe đến Phật hiệu, nhìn thấy tượng Phật, thì phải nghĩ tâm mình phải giống như vậy, nguyện của mình cũng phải giống như vậy, hạnh của mình cũng phải giống như vậy, làm vậy thì bạn nhất định sẽ được sanh.  Tâm, nguyện, hạnh tương ứng tức là phát Bồ Đề tâm, đây là điều kiện nhất định phải có để vãng sanh, thật sự có thể làm được tâm, nguyện, giải, hạnh tương ứng với đức Phật A Di Đà, đó chính là Bồ Đề tâm viên mãn.

Do đó đương nhiên sẽ buông bỏ danh văn lợi dưỡng và ngũ dục lục trần trong thế gian, nhất định phải tu đức, vinh hoa phú quý chẳng thể thường còn, phải nhìn xa, phải nhìn rộng.  Trong một đời này của chúng ta, sanh mạng rất ngắn ngủi, thế gian rất khổ, chúng ta nhìn xa, nhìn rộng thì tiền đồ vô cùng xán lạn.  Ngày nay không gian sinh hoạt của chúng ta hạn cuộc ở trên địa cầu này, tuy khoa học kỹ thuật phát triển, giao thông tiện lợi nhanh chóng, chúng ta vẫn chẳng rời khỏi địa cầu.  Nếu vãng sanh tây phương Cực Lạc thế giới, không gian sinh hoạt của chúng ta sẽ rất lớn, tận hư không, trọn pháp giới là không gian sinh hoạt của chúng ta, bạn nói như vậy thì tự tại biết mấy, đó mới gọi là hạnh phúc thật sự!  Đến tây phương Cực Lạc thế giới thì trí huệ, năng lực đều khôi phục, như chư Phật, Bồ Tát tùy loại hóa thân.  Giống như kinh Phạm Võng có nói ‘trăm ngàn ức hóa thân’, kẻ ấy có năng lực này, cùng lúc có thể đến hết thảy cõi nước chư Phật nghe Phật giảng kinh thuyết pháp, có khả năng phân thân, trên cúng dường chư Phật, dưới hóa độ chúng sanh, họ thật sự có khả năng này.

Trong kinh này đức Phật đề xướng nhất định phải đoạn ác tu thiện [ít nhất là] sáu ngày, mười ngày trong một tháng.  Chẳng phải nói thường ngày không cần, những ngày này quỷ thần đến khảo sát nên đặc biệt làm một chút chuyện tốt cho họ coi, đây là bất đắc dĩ.  Nếu mỗi ngày đều làm như vậy thì đương nhiên càng tốt, càng thù thắng.  Sợ bạn làm chẳng nổi, mỗi tháng dạy bạn tu mười ngày, ít hơn thì sáu ngày, có tu vẫn tốt hơn không tu.  Nếu có thể tu hằng ngày thì phước báo của bạn quá thù thắng rồi.  Ngày nay trong các phương pháp tu của chúng ta thì niệm Phật tốt nhất.  Niệm Phật, trường trai!  Ý nghĩa của chữ ‘Trai’ vốn là tu tâm thanh tịnh, tâm ‘Trai’ là cầu tâm thanh tịnh.  Về sau biến thành trì ngọ, không ăn quá ngọ, ‘ngọ’ là hai giờ từ mười một giờ đến một giờ, đều là giờ ngọ.  Nói nghiêm khắc theo Phật pháp thì là quá ‘trung’ (giữa ngày), ‘chẳng ăn quá giữa ngày’ mới gọi là ‘trì trai’.  Thời điểm ‘Giữa ngày’ thay đổi hằng ngày, hơn nữa mỗi địa phương còn có giờ sai khác.  Hiện nay nếu thường đi du lịch thì chuyện này càng phiền phức, mỗi nơi mấy giờ, mấy phút, mấy giây mới là ‘giữa ngày’, bạn phải biết thật rõ ràng, chuyện này tương đối phiền phức.  Lúc trước cả đời trụ ở một đạo tràng thì dễ dàng hơn, thời điểm ‘giữa ngày’ ở nơi đó, thời xưa dùng ‘nhật quỹ’ [3] để đo lường, ngày trời không mưa có thể đo lường thời điểm ‘giữa ngày’, mỗi ngày sai khác bốn ‘giây’, nhất định phải hiểu việc này.  Ngày nay có thể dùng lịch thiên văn, chỉ cần bạn biết kinh độ, kinh độ ở địa phương đó, dùng lịch thiên văn thì chẳng sai.  Do đó chấp trước việc này cũng chẳng thuận tiện, rất phiền phức, đối với đời sống nói thật ra cũng tạo nên áp lực, vậy cũng chẳng bằng chúng ta mỗi ngày đúng như pháp thì tốt nhất.  Hiểu rõ những chân tướng sự thật này, tự hành hóa tha nhất định phải có phương tiện khéo léo.

Tôi thân cận thầy Lý ở Đài Trung, lúc chưa đến Đài Trung tôi cũng trì ngọ, không ăn quá giữa ngày.  Lúc đó tôi dùng lịch thiên văn, từ nhỏ tôi rất ưa thích thiên văn, cho nên đến nơi nào, tôi nhất định sẽ liên lạc với đài thiên văn, tôi rất thích quan sát hiện tượng thiên văn.  Do đó mỗi năm đài thiên văn nhất định sẽ gởi tặng lịch thiên văn cho tôi.  Tôi đến Đài Trung thân cận thầy Lý, thầy Lý thấy tôi chấp trước như vậy nên một ngày nọ thầy răn dạy tôi, thầy nói: “Con một mình tu như vậy thì được, nhưng chẳng thể độ chúng sanh”.  Tôi nói: “Tại sao vậy?”.  “Vì con quá chấp trước”.  Thầy nói khi bạn đến một địa phương nào đó hoằng pháp, những tín đồ nơi ấy, đặc biệt là thời đại công nghiệp ngày nay, họ cung kính mời bạn đi ăn cơm, có thể là sau mười hai giờ trưa, nhất định là sẽ quá ngọ (giữa ngày), hoặc là mời bạn dùng cơm tối.  Nếu bạn không đồng ý, nhất định cố chấp cách trì ngọ này của bạn, người ta sẽ khởi lên tâm lý gì?  “Vị pháp sư này khó khăn quá, chúng tôi muốn cúng dường cầu phước cũng không được”, như vậy sẽ làm cho người ta lui sụt, làm cho người ta hủy báng.  Thầy nói đây là cách làm của người Tiểu Thừa, tuyệt đối chẳng phải là hạnh Bồ Tát.  Tôi nói: “Vậy thì phải làm sao?”, thầy nói: “Tùy duyên”.  Bản thân thầy Lý cũng trì ‘nhật trung nhất thực’, mỗi ngày ăn một bữa.  Nhưng khi có tín đồ mời thầy dùng cơm, cơm tối thầy cũng ăn, mọi người đều vui vẻ, đều hoan hỷ.  Khi tôi ở Đài Trung có cơ hội thì thầy nhất định sẽ dẫn tôi đi theo, kết duyên với mọi người.  Những người này nghe nói thầy Lý trì ngọ, mỗi ngày ăn một bữa, [khi được mời] thì buổi tối cũng vui vẻ dùng cơm với họ, họ càng tăng thêm lòng cảm kích, mới biết thầy thật là từ bi, nhiếp thọ chúng sanh.

Bồ Tát làm hết thảy sự việc đều vì chúng sanh, Địa Tạng Bồ Tát nói: “Chỉ cần chúng sanh được độ thì vào địa ngục tôi cũng cam tâm”, đây là tinh thần của Địa Tạng Bồ Tát.  Chẳng chấp trước cứng chắc vào những chi tiết nhỏ nhoi này, làm vậy thì đúng như pháp. Trong Phật pháp, giới luật có quan trọng đến đâu cũng có khai duyên, đó gọi là ‘khai giới’, ‘khai trai’, chẳng phải ‘phá trai’, chẳng phải phá giới.  Nếu tự bạn có tâm tham, bạn tìm một tín đồ nói: “Tôi thật ngại, quý vị hãy thường mời tôi dùng cơm”, vậy thì bạn đã phá giới, làm sai rồi.  Tuyệt đối chẳng phải tự mình cố ý làm như vậy ‘hằng thuận chúng sanh, tùy hỷ công đức’.  Trong pháp Đại Thừa ‘phương tiện có nhiều cửa, đường về nguồn chẳng hai’ [4], khác với tư tưởng, kiến giải, hành trì của Tiểu Thừa.  Đại Thừa đích thật rất phóng khoáng, nắm vững được nguyên lý, nguyên tắc, hết thảy vì lợi ích của chúng sanh, lợi ích chúng sanh thật sự là lợi ích chính mình.

Giống như hiện nay [nếu y theo lời dạy] trong kinh, âm lịch đối với chúng ta chẳng thuận tiện, nhưng phải hiểu ý nghĩa của nó.  Hiện nay phần đông đều tính hằng tuần, nếu mỗi tuần chúng ta có thể tu trai giới một ngày, hai ngày, thì công đức sẽ rất thù thắng.  Tuy nhiên chẳng nhất định phải là những ngày này, vì thời gian một tháng chẳng dài, những quỷ thần khảo sát này chắc chắn có thể nhìn thấy.  Người hiện đại phải sống theo cuộc sống hiện đại, chúng ta không cần phải câu nệ vào lời trong kinh điển, nhưng nhất định phải tương ứng với tinh thần nói trong kinh, như vậy thì được.  Nhất định phải biết thông đạt quyền biến, [nhằm đem lại] lợi ích cho sanh hoạt người hiện đại, làm cho họ không có áp lực trong đời sống, như vậy mới tốt.  Xin xem đoạn kinh văn kế tiếp, trang 61:

Nam Diêm Phù Đề chúng sanh cử chỉ động niệm vô bất thị nghiệp, vô bất thị tội, hà huống tứ tình sát hại, thiết đạo, tà dâm, vọng ngữ, bá thiên tội trạng.

Mọi cử chỉ, động niệm của chúng sanh trong cõi Nam Diêm Phù Ðề không chi là không nghiệp, không chi là không tội, huống hồ là buông lung giết hại, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ, trăm ngàn tội trạng.

Những câu này vô cùng quan trọng!  Không nhớ hết cả bộ kinh, những câu kinh quan trọng nhất định phải ghi nhớ, nhất định phải học thuộc lòng, từng giờ, từng phút luôn luôn nhắc nhở chính mình.  ‘Nam Diêm Phù Đề’ chỉ địa cầu của chúng ta.  Chúng sanh trên địa cầu này, đích thật từng ‘cử chỉ, động niệm’ đều là đang tạo nghiệp, tạo tội, khởi tâm động niệm đều chẳng thiện, khởi tâm động niệm đều là tự tư tự lợi, đó tức là nghiệp, là tội.  Họ chấp trước cứng chắc, người thế gian không hiểu, hình như là vì lợi ích của chính mình, vì bảo vệ lợi ích của mình, mọi người đều cho rằng vậy là chính đáng, chính xác, đâu có sai lầm?  Vậy là vọng tưởng, chấp trước của người thế gian.  Đức Phật nói đây là sai lầm, hơn nữa là sai lầm quá đỗi.  Lục đạo luân hồi hình thành như thế nào?  Chính là do tự tư tự lợi, ngã chấp biến thành.  Nếu bạn không thể phá trừ, không thể buông bỏ vọng tưởng, chấp trước thì bạn vĩnh viễn kẹt trong lục đạo luân hồi.  Trong lục đạo, đức Phật đã nói quá nhiều rồi, chắc chắn là thời gian trong tam ác đạo dài, trong tam thiện đạo ngắn.  Tam thiện đạo ví như đi nghỉ hè, du lịch ngắm cảnh; tam ác đạo ví như nhà mình, đi ra ngoài vài ngày lại trở về nhà.  Trong kinh Địa Tạng chúng ta thấy việc này quá rõ ràng, quá rành rẽ rồi, đức Phật nói [khởi tâm động niệm đều tự tư tự lợi] như vậy là sai lầm to lớn.  Như thế nào mới đúng?  Khởi tâm động niệm đều vì hết thảy chúng sanh, không vì mình, thì bạn sẽ vĩnh viễn thoát ly lục đạo luân hồi, siêu việt tam giới, như vậy mới đúng.

Lời Phật dạy chúng ta là chân thật, thật sự phá mê khai ngộ, lìa khổ hưởng vui. Niềm vui này không phải là niềm vui trong tam giới, trong tam giới chẳng có vui sướng.  Siêu việt tam giới mới thật sự hưởng được vui sướng.  Phật nói tam giới đều khổ.  Trên trời cũng có khổ, khổ ít một chút thôi, nhưng vẫn là khổ.  Chúng ta phải hiểu rõ ràng rành rẽ đạo lý và chân tướng sự thật này, sau đó thật sự mới cảm ân đội đức đối với giáo huấn của đức Phật.  Chúng ta thật rất hân hạnh, người thế gian nói vận mạng thiệt tốt mới gặp được Phật pháp, đức Phật là thiện tri thức chân chánh của chúng ta, chúng ta gặp được thì đời này thật sự được giải thoát.  Nếu chẳng gặp Phật pháp, như trong kinh đã nói, chúng ta khởi tâm động niệm đều tạo nghiệp, đều tạo tội.  Sau khi hiểu rồi thì hãy vì Phật pháp, vì chúng sanh, vì Phật pháp thì hy vọng Phật pháp được lưu truyền rộng rãi, hy vọng Phật pháp trụ lâu dài trên thế gian, có thể làm cho hết thảy chúng sanh được lợi ích của Phật pháp, phải phát cái tâm này.  Niệm niệm phải nghĩ đến hết thảy chúng sanh, không những nhân loại trên toàn thế giới, còn súc sanh, ngạ quỷ, chư thiên, hết thảy chúng sanh đều được lợi ích thù thắng của Phật pháp, vậy thì chúng ta mới mở rộng tâm lượng.

Bồ Tát tức là phục vụ cho hết thảy chúng sanh, thù thắng nhất chẳng gì hơn xây dựng Phật pháp, xây dựng Phật pháp tức là y giáo phụng hành.  Xây dựng trong đời sống hằng ngày của chúng ta, xây dựng trong ngành nghề của chúng ta, xây dựng trong công việc của chúng ta, xây dựng trong cách xử sự, đãi người, tiếp vật của chúng ta, làm cho cả xã hội, đời sống của mọi người, trong từng ngành nghề đều xây dựng Phật pháp.  Xây dựng Phật pháp tức là mọi người đều biết phục vụ xã hội, phục vụ đại chúng.  Cách nói của người hiện nay là hy sinh, dâng hiến, đó tức là Bồ Tát, làm được như vậy được phước chẳng cùng tận.  Phước báo hiện tiền, Phật dạy chúng ta phải xả, đừng hưởng; vừa hưởng phước bèn mê, bèn hồ đồ, Phật dạy chúng ta ‘xả đắc’ (xả được).  ‘Buông xả’ là nhân, ‘được’ là quả, buông xả tiền tài thì được của cải, buông xả phước thì được phước, buông xả cái gì thì được cái đó, sau khi được thì phải xả tiếp tục.  Cho nên ý nghĩa tầng thứ hai của ‘xả được’ còn sâu thêm, đem những gì bạn đạt được rồi xả tiếp, vậy thì những gì bạn đạt được càng thêm thù thắng, càng viên mãn, tự mình vĩnh viễn không hưởng thọ, có phước báo, phước báo này cho chúng sanh hưởng, đây là Phật, Bồ Tát chân chánh ứng hóa tại thế gian.  Trong thế gian này có [Phật, Bồ Tát] hay không?  Có chứ.  Người hiểu được Phật pháp, thật sự hiểu được thì họ sẽ y giáo phụng hành, thì họ sẽ làm như vậy, làm được hoàn toàn tương ứng, đó tức là Bồ Tát thị hiện.

Đây là nói hết thảy chúng sanh chẳng có người dạy dỗ, hướng dẫn, là hiện tượng này.  Cho nên giáo học quan trọng hơn hết, thế gian và xuất thế gian đều được xây dựng trên giáo học.  Những đế vương Trung Quốc cổ đại đều là người thông minh, họ cai trị quốc gia, hy vọng củng cố chánh quyền, quốc gia tồn tại lâu dài, họ bắt đầu từ đâu?  ‘Giáo học trước hết’, trước nhất phải làm giáo dục cho tốt.  Trong giáo dục quan trọng nhất là khuyên Hiếu, làm cho nhân dân biết hiếu đạo, dạy nhân dân biết tôn sư trọng đạo.  Mỗi người đều tu dưỡng đức hạnh của mình thì xã hội sẽ an định, thiên hạ sẽ thái bình.  Cho nên họ chú trọng giáo dục, sắp giáo dục vào chính sách hàng đầu của quốc gia.  Chế độ của quốc gia thời xưa, dưới Thừa Tướng có sáu Bộ, thời xưa phân công không rõ ràng như ngày nay, chỉ phân thành sáu bộ phận.  Trong sáu Bộ ấy, xếp hàng đầu là Bộ Giáo Dục, hồi xưa gọi là Bộ Lễ; trong sáu Bộ thì Lễ Bộ Thượng Thư là hạng nhất, xếp Giáo Dục hạng nhất, coi sự việc này quan trọng dường ấy.  Còn giáo dục Phật giáo lại lập ra một cơ cấu riêng, càng tôn trọng hơn, do hoàng đế cai quản, điều động.  Cơ cấu giáo dục này gọi là ‘Tự’, cho nên danh từ ‘Tự’ là như thế nào?  ‘Tự’ là danh từ của cơ quan làm việc dưới quyền hoàng đế.  Tại sao lấy danh xưng này?  Danh xưng này là xây dựng, kiến lập vĩnh viễn, sẽ không thay đổi, từng đời, từng đời truyền mãi về sau.  Cơ cấu này, cơ quan thiết lập vĩnh viễn mới gọi là ‘Tự’, tuyệt đối chẳng thể thay đổi, tuyệt đối không được phế bỏ, dùng danh xưng này.  Hoàng đế hy vọng triều đại của mình vĩnh viễn truyền về sau, chẳng bị người ta lật đổ, hy vọng từng đời truyền mãi về sau, do đó cơ quan này được xây dựng vĩnh viễn.

Dưới hoàng đế có chín ‘Tự’, người đứng đầu Tự gọi là Khanh, [có] chín Khanh, [tức] tam Công, cửu Khanh [5]; tam Công là cố vấn của hoàng đế, ngày nay gọi là người cố vấn cho chánh sách quốc gia, nhà vua có vấn đề khó khăn gì thì đi hỏi những cố vấn này.  Chữ “Tự” nói theo cách bây giờ tức là đơn vị nhất cấp, trực thuộc nhà vua quản trị.  Cơ cấu Phật giáo cũng gọi là Tự, do nhà vua trực tiếp quản trị, nhà vua trực tiếp điều hành giáo dục Phật giáo.  Trung Quốc từ triều Hán trở về sau, giáo dục có hai hệ thống, một là giáo dục nhà Phật, hai là giáo dục nhà Nho.  Giáo dục nhà Nho do thừa tướng phụ trách, điều khiển, giáo dục nhà Phật do nhà vua đích thân chủ trì, hướng dẫn, điều khiển, cho nên giáo dục nhà Phật phát triển rộng hơn giáo dục nhà Nho.  Đây là vì thời xưa người dân tôn kính nhà vua, dùng quyền lực của nhà vua đem giáo dục này đến mỗi tỉnh, mỗi huyện, mỗi làng, đều có xây Phật Tự.  Còn giáo dục nhà Nho cao nhất là mỗi huyện có một trường, chẳng được đẩy mạnh rộng rãi như nhà Phật, đạo lý là như vậy, coi trọng giáo dục.  Còn việc Phật pháp biến chất trở thành tôn giáo, đổi thành sự phục vụ cho người chết, chỉ mới bắt đầu trong thời gian gần đây, đại khái Trung Diệp (khoảng giữa) đời Thanh trở về sau mới trở nên như vậy, lúc đầu đời nhà Thanh chẳng có, vẫn còn là giáo dục.  Chúng ta xem vào thời Khang Hy, Ung Chánh, Càn Long, Phật pháp vẫn còn là giáo dục, là giáo học như cũ, cho nên trong cung đình cũng tụng kinh.

Những đế vương triều nhà Thanh rất thông minh, họ làm như thế nào?  Họ là dân tộc thiểu số vào trung nguyên làm chủ, dân tộc thiểu số thống trị dân tộc đa số có thể làm cho người dân cả nước đều phục tùng, kéo dài vương triều hơn hai trăm sáu mươi năm là có đạo lý của họ.  Họ dùng phương pháp gì để cai trị?  Họ dùng kinh Vô Lượng Thọ, chiêu này rất cao minh.  Hoàng đế nói chẳng phải quý vị nghe lời tôi, hết thảy chúng ta đều nghe lời đức Phật, tôi cũng nghe lời đức Phật, quý vị mọi người đều nghe lời đức Phật, phương pháp này rất cao minh.  Chẳng phải tôi thống trị quý vị, mà là đức Phật thống trị chúng ta, vậy thì còn gì để nói nữa?  Cho nên người trong cung đình đọc kinh Vô Lượng Thọ, cũng thỉnh pháp sư giảng kinh Vô Lượng Thọ, mọi người y giáo phụng hành.  Người phế trừ việc đọc kinh trong triều Mãn Thanh chính là Từ Hi thái hậu, có lẽ Từ Hi thái hậu nghe những gì nói trong kinh Vô Lượng Thọ đều là tật xấu của bà, chắc nghe xong không thoải mái, không vui lắm nên không đọc nữa.  Sau đó bà lại buông lung, làm càng làm bậy, làm đất nước suy yếu.  Giả sử bà vẫn noi theo phép tắc của tổ tông, chẳng thay đổi phương pháp cũ, vẫn y giáo phụng hành, có lẽ ngày nay vương triều nhà Thanh vẫn còn, sẽ không thay triều đổi chủ, người dân sẽ không làm loạn.  Đáng tiếc là những phép tắc, giáo huấn của tổ tông đã bị phế bỏ, tự mình làm càng làm bậy, làm mất lòng dân, cho nên quân cách mạng khởi lên, mới bị người ta lật đổ.  Đây là tội bà đã tạo trong đời.  Chúng tôi từng nghe nói lúc Từ Hi chết, bà rất hối hận, biết mình đã làm sai, hình như có nói một câu: “Hy vọng người nữ vĩnh viễn chẳng nắm chánh [quyền]”, lúc lâm chung mới biết người nữ nắm việc triều chánh, tạo nên tai họa lớn lao như vậy, nhưng hối hận đã trễ.

Ngày nay chúng ta đọc đoạn kinh này ‘hà huống tứ tình sát hại, thâu đạo, tà dâm, vọng ngữ, bá thiên tội trạng’ thì cũng giống như nói về xã hội hiện đại của chúng ta.  Thời xưa người ta đọc kinh, đọc đến những hiện tượng này nhưng chẳng nhìn thấy, bây giờ các hiện tượng này đã quá phổ biến trên thế giới.  Chúng ta thấy những hiện tượng này chẳng thể không sợ hãi, chúng sanh tạo những tội nghiệp này làm sao nói không có quả báo cho được?  Ngày nay những tai biến trên toàn thế giới [xảy ra], người hiện nay đều gán vào tai họa tự nhiên, đều cho rằng chẳng do sức người tạo nên, suy nghĩ như vậy là sai lầm.  Tai họa tự nhiên hình thành như thế nào?  Đều do tâm con người tạo thành.  Nếu chúng ta suy nghĩ kỹ càng, hết thảy vạn vật, phía trước đã nói tất cả đều đang ‘động’, chỉ cần là một hình tượng vật chất, thì nguyên tử, điện tử của nó đều đang dao động, và khi ấy sẽ có ‘sóng’.  Khi tâm con người khởi tâm động niệm, giết hại, trộm cắp, tà dâm, nói dối, những làn sóng cực ác này, hơn nữa hết thảy chúng sanh đều tạo các ‘làn sóng’ này, bạn nghĩ coi ‘sóng’ ác này lớn dường nào.  ‘Làn sóng’ lớn mạnh này thay đổi vật chất, ảnh hưởng vật chất, cải biến vật chất, làm cho kết cấu bình thường của vật chất bị phá hoại mất.  Đây tức là câu chúng ta thường nói trong Phật pháp: ‘Y báo chuyển theo chánh báo’, y báo là núi sông đại địa, biến chuyển theo tâm con người, tâm người thiện thì hoàn cảnh sẽ tốt, mưa thuận gió hòa; tâm người chẳng thiện thì sẽ sanh lên các thứ tai họa.

Đáng tiếc là hiện nay phần đông người ta không tin [việc này], cứ cho cách nói như vậy là mê tín.  Đợi đến một ngày nào đó họ hiểu rõ ràng, hiểu rành rẽ thì chẳng còn kịp nữa, thế giới đã bị hủy diệt rồi.  Chẳng tin tưởng lời dạy chân thật của Phật thì bạn phải nhận chịu quả báo.  Những ‘sóng’ này vô cùng xấu ác, hiện nay gọi là ‘từ trường’, trong Phật pháp gọi là ‘quang’, người Trung Quốc nội địa gọi là ‘khí’; [quang này] xấu cùng cực, ác cùng cực, khi bạn tiếp xúc đến thì thân tâm chẳng yên ổn, hầu như mọi người trên toàn thế giới chúng ta đều có cảm nhận này, có nơi nào đời sống con người được yên ổn?  [Mọi người] đều lo lắng, âu sầu, chẳng biết nơi nào yên ổn.  Mọi người đều biết tai họa gần xảy ra, nhưng chẳng biết tai họa hình thành như thế nào?  Những thứ này đều là ảnh hưởng của ‘sóng’.  Tại sao thế giới của chư Phật, Bồ Tát tốt đẹp như vậy?  Tâm của mỗi cá nhân ở đó đều thanh tịnh, hiền lành, cho nên hoàn cảnh, y báo nơi cư trú đều rất thù thắng.  Phàm những người vãng sanh đến Tây phương Cực Lạc thế giới đều là thượng thiện, tâm bạn không thiện thì sẽ không sanh đến được.  Trong Phật pháp nói tây phương Cực Lạc thế giới là một thế giới rất mới mẻ, đức Phật A Di Đà xây dựng tới nay chỉ mười kiếp mà thôi, mười kiếp so với thời gian vô hạn là một thời gian rất ngắn, cho nên nói đó là một thế giới mới mẻ.  Người ở đó chẳng phải là người bản xứ, trong đó chẳng có người bản xứ, đều là người từ nơi khác di dân đến.  Còn điều kiện di dân, đức Phật A Di Đà rất thông minh, di dân cần điều kiện gì?  Tâm địa hiền lương, tâm địa thanh tịnh, ngài tuyển chọn những người như vậy; người tâm địa chẳng hiền lương thì không được vào, cho nên thế giới ấy tốt đẹp như vậy.

Chẳng như thế giới Sa Bà của chúng ta có người bản xứ, chẳng có cách chi, những người này tâm địa chẳng thiện nên gọi là đời ác ngũ trược.  Chúng sanh tạo tội nghiệp nhiều như vậy, chư Phật, Bồ Tát tới khuyên răn, hướng dẫn, khuyên họ chưa chắc đã nghe, chưa chắc có thể y giáo phụng hành.  Nhưng Phật, Bồ Tát từ bi đến cùng cực, chúng sanh không nghe, các ngài cũng tới khuyên, sự khuyến cáo này vĩnh viễn sẽ chẳng gián đoạn, chẳng chấm dứt, vẫn hy vọng có một ngày bạn giác ngộ, quay trở về.  Nên người thật sự hiểu được, giác ngộ rằng hoàn cảnh ở đây chẳng dễ tu hành, đức Phật khuyên chúng ta ‘di dân’ đến tây phương Cực Lạc thế giới, kinh Vô Lượng Thọ dạy chúng ta [phương pháp] di dân.  Khi chúng ta hiểu rõ đạo lý, biết được phương pháp, chúng ta sẽ có lòng tin rất sâu, biết mình chắc chắn có thể di dân đến tây phương Cực Lạc thế giới ngay trong đời này được, chúng ta thay đổi hoàn cảnh sinh sống, thay đổi hoàn cảnh tu hành.  Chúng ta cũng biết tận hư không, trọn khắp pháp giới đều là một thể, nên di dân đến Cực Lạc thế giới xong thì phải giúp đỡ những chúng sanh trong lục đạo, đều từ bi, có trí huệ giống chư Phật, Bồ Tát, họ đến răn dạy, hướng dẫn những chúng sanh này.  Trong đoạn sau, đức Phật dạy chúng ta phương pháp tu hành:

Năng ư thị thập trai nhật, đối Phật, Bồ Tát chư hiền thánh tăng tiền, độc thị kinh nhất biến.  Đông tây nam bắc, bá do tuần nội vô chư tai nạn, đương thử cư gia nhược trưởng nhược ấu, hiện tại vị lai bá thiên tuế trung, vĩnh ly ác thú.

Nếu trong mười ngày trai này đối trước hình tượng của Phật, Bồ Tát, cùng chư Hiền Thánh mà đọc tụng kinh này một biến, thì [chung quanh chỗ người đó ở, bốn hướng] Ðông Tây Nam Bắc, trong khoảng một trăm do tuần, sẽ không có các tai nạn. Còn trong nhà của người đó, hoặc già hoặc trẻ, trong trăm ngàn năm hiện tại và vị lai được vĩnh viễn xa lìa ác đạo.

Quả báo này quá thù thắng, nên nhiều người thấy trong kinh này nói như vậy bèn nghi ngờ.  Họ cho rằng kinh này quá khoa trương, chẳng phù hợp với chân tướng sự thật.  Cách nói này thật ra là sai lầm, họ chẳng hiểu rõ nghĩa thú nói trong kinh Phật.  Kệ khai kinh nói: ‘Nguyện giải Như Lai chân thật nghĩa’, câu này rất quan trọng, bạn đã giải sai ý nghĩa của Phật rồi, đây là kinh Đại Thừa, chẳng phải là kinh Tiểu Thừa.  Kinh Đại Thừa là cho Bồ Tát tu học, phàm phu có thể tu Bồ Tát hạnh được không?  Có thể chứ, kinh Hoa Nghiêm thù thắng nhất, người đương cơ trong ấy gọi là Đại Tâm Phàm Phu, phàm phu có thể tu học, phàm phu có thể học Bồ Tát pháp, có thể học pháp môn của quả địa Như Lai, như vậy thì Phật pháp mới viên dung vô ngại.  Nhưng bạn nhất định phải phát đại tâm (tâm rộng lớn), đại tâm tức là chẳng vì mình, mà vì hết thảy chúng sanh, như vậy là đại tâm, có đại tâm thì có thể tu học pháp của Đại Thừa Bồ Tát.  Do đó có thể biết, trong kinh nói ‘đọc kinh này một biến’, chữ ‘đọc’ nhất định chẳng có nghĩa là chúng ta nhìn kinh này, đọc một lần, thế thì quả báo này chắc chắn sẽ không đạt được.  Phải ‘đọc’ như thế nào?  Đọc xong phải có thể ‘giải’ (hiểu) ý nghĩa trong đó, ‘giải’ xong phải có thể y giáo phụng hành.  Bạn coi câu cuối của mỗi bộ kinh đều ghi ‘tín thọ phụng hành’, nếu làm chẳng nổi bốn chữ này, mỗi ngày bạn đọc một trăm lần thì cũng chẳng được; [như việc] niệm Phật, cổ đức châm biếm người ta, nói ‘hét bể cổ họng cũng uổng công’, đọc kinh cũng vậy, ‘hét bể cổ họng cũng uổng công’.  Đọc kinh phải y giáo phụng hành, niệm Phật cũng phải y giáo phụng hành.  Nghe câu Phật hiệu, nhìn thấy tượng Phật thì phải nghĩ đến lời răn dạy của Phật trong kinh điển, là mượn [Phật hiệu và tượng Phật] này để nhắc nhở chính mình, đừng quên lời giáo huấn của đức Phật, chúng ta phải thực hiện những lời giáo huấn này trong đời sống hằng ngày.  Không những mình phải làm như vậy, còn phải khuyên người ta làm với mình, như vậy mới gọi là ‘đọc kinh’.  Nghĩa là nói một tháng bạn đọc mười lần, bạn sẽ chẳng quên.

Phật dạy người xuất gia chúng ta trì giới, mỗi nửa tháng phải đọc Giới Kinh một lần, tại sao vậy?  Vì sợ quên mất.  Nửa tháng tụng một lần để ôn lại, phải y giáo phụng hành, chứ chẳng phải niệm cho Phật, Bồ Tát nghe.  Hàn Sơn, Thập Đắc châm biếm [chuyện] tụng giới nửa tháng, ý châm biếm là gì?  Nửa tháng chỉ đọc một lần, lúc thường ngày thì một điều cũng chẳng làm nổi, vậy thì đâu có ích gì!  Phải nên tuân giữ từng điều [trong Giới Kinh], phải làm cho bằng được từng điều mới đúng.  Đọc kinh cũng như vậy, kinh Địa Tạng dạy chúng ta những lý luận, nguyên tắc, phương pháp này, [chúng ta] phải làm!  Việc này [6] còn tốt hơn việc tụng giới mỗi nửa tháng.  Một tháng tụng Giới Kinh hai lần, ở đây dạy bạn mỗi tháng đọc mười lần.  Hiện nay chúng ta không niệm kinh Địa Tạng, chúng ta niệm kinh Vô Lượng Thọ được không?  Được chứ.  Kinh Vô Lượng Thọ bao gồm kinh Địa Tạng, nói thật ra chẳng có kinh nào mà kinh Vô Lượng Thọ chẳng bao gồm, toàn bộ Phật pháp đều rút gọn trong kinh Vô Lượng Thọ.

Có một năm tôi giảng Đại Ý kinh Địa Tạng ở Mỹ, tại những thành phố miền đông nước Mỹ, có vị đồng tu hỏi tôi:

“Thưa pháp sư, không phải thầy chỉ giảng kinh Tịnh Độ thôi sao, tại sao thầy lại giảng kinh Địa Tạng?  Có phải thầy đã xen tạp không?” 

Tôi nói: “Không có, tôi cũng đang giảng kinh Vô Lượng Thọ, giảng pháp môn Tịnh Độ”. 

Vị ấy nói: “Làm sao kinh Địa Tạng là pháp môn Tịnh Độ được?”. 

Tôi nói: “Pháp môn Tịnh Độ được xây dựng trên cơ sở của Tam Phước, bạn thừa nhận hay không?” 

Ông ấy nói: “Thừa nhận”. 

Tôi nói: “Tam Phước là [lời dạy trong] kinh Quán Vô Lượng Thọ, câu đầu tiên trong Tam Phước: ‘Hiếu dưỡng phụ mẫu, phụng sự sư trưởng, từ tâm bất sát, tu thập thiện nghiệp’, đúng không?” 

Ông nói: “Đúng”. 

Tôi nói: “Kinh Địa Tạng giảng bốn câu này, kinh này tức là chú giải cho bốn câu đó”. 

[Nghe xong] ông mới hiểu.  Cho nên chúng ta giảng bộ kinh này là pháp căn bản của Tịnh Độ, mười sáu chữ trong kinh Tịnh Độ được bao gồm trong bộ kinh này, bộ kinh này nói về mười sáu chữ này.  Nếu bạn không hiểu kinh Địa Tạng thì bạn không hiểu phước thứ nhất trong Tam Phước, bạn cũng chẳng biết cách tu làm sao.  Thế nên tôi giảng kinh Địa Tạng chính là giảng kinh Tịnh Độ, là giảng kinh Vãng Sanh, tôi chẳng rời khỏi Tịnh Tông, chẳng rời khỏi A Di Đà Phật.

Câu ‘Đọc kinh này một lần’, [chúng ta] nhất định phải hiểu ý nghĩa trong câu này.  Nếu khi đọc có thể hiểu ý nghĩa, lý luận, có thể làm theo như câu cuối trong kinh ‘tín thọ phụng hành’, vậy mới thật sự gọi là ‘đọc kinh’.  Bạn thật sự làm, thật sự làm được thì sẽ có hiệu quả [như kinh nói].  ‘Đông tây nam bắc, trong vòng một trăm do tuần’, do tuần ở đây là tiểu do tuần.  Thời xưa tiểu do tuần bằng bốn mươi dặm Trung Quốc, đơn vị đo lường thời xưa ngắn hơn ngày nay.  Trong kinh chúng ta thấy, người xưa thân cao một trượng hai thước, thật ra ngày nay có người cao một trượng hai không?  Rất nhiều, quá nhiều.  Chúng ta coi trong cuốn Châu Xích Khảo của Hoằng Nhất đại sư, trong đoạn nói về ba mươi mốt loại giới luật, chư vị hãy xem.  Một thước (xích) thời xưa khoảng chừng hơn năm tấc (thốn) một chút, chưa tới sáu tấc, cứ như vậy mà tính, một trượng [7] hai chỉ bằng ngày nay bảy, tám bộ (feet), người cao tám bộ quá nhiều.  Thế nên phải biết đơn vị đo lường chiều dài thời xưa chẳng giống ngày nay.  Nếu tính ra một do tuần ít nhất cũng là mười dặm, chắc có lẽ không xê xích nhiều lắm.  ‘Trăm do tuần’ rất lớn, ít nhất cũng bằng một vùng một trăm dặm, hoặc khoảng một vùng bốn trăm dặm, khu vực lớn như vậy không có tai nạn, đây là một người có phước báo.  Nếu nói mọi người đều tu phước thì sức mạnh ấy còn lớn hơn nữa.

Phước của một người tu rất yếu ớt, ngày nay Cư Sĩ Lâm xây Niệm Phật Đường, mọi người cùng nhau tu tập, chư vị có thể thấy được.  Tôi nghĩ quý vị học Phật chắc cũng đã đi tới nhiều nơi, cũng gặp không ít đạo tràng, ngày nay người Trung Quốc gọi là ‘khí’, khí phận này rất hưng thạnh, có thể trong đời bạn thấy Cư Sĩ Lâm là hạng nhất.  Tại sao?  Có nhiều người như vậy ở đó thiệt thà niệm Phật, khi rời khỏi Niệm Phật Đường thì không tính.  Khi bước vào Niệm Phật Đường thì họ thật thà niệm, thế nên từ trường ấy rất thù thắng, người vào đạo tràng này có thể sanh tâm thanh tịnh, tâm hoan hỷ, cái sức mạnh ấy sẽ bảo hựu cả vùng đó.  Người trong vùng ấy, từ trường lớn ấy phát ra các làn sóng ảnh hưởng đến khu vực này.  Thế nên Niệm Phật Đường này, trong sự tưởng tượng của tôi nửa năm sau sẽ ảnh hưởng đến khí phận cả vùng Tân Gia Ba, làm cho cư dân Tân Gia Ba ai nấy cũng sanh tâm hoan hỷ.  Những người cư trú trong khu vực này, trong tâm sẽ rất an tịnh, rất sung sướng, rất vui vẻ.  Nhờ sức mạnh gì?  Làn sóng điện ở đây phát ra qua lớn, vượt hơn sự suy nghĩ lung tung của con người, làn sóng lớn này sẽ quân bình những làn sóng khác, sanh ra hiệu quả lớn dường ấy.  Ngày nay người thế gian nói về làn sóng tư tưởng, tư tưởng này của chúng ta là tư tưởng của Phật, tư tưởng của Bồ Tát, làn sóng lớn như vậy, lúc tôi giảng kinh có nói, tần số của chúng ta giống với tần số của đức Phật A Di Đà nên có thể nối liền, do đó sóng này có thể gộp vào sóng của Phật, Bồ Tát và sanh ra hiệu quả rất lớn, hiệu quả, cảm ứng này rất lớn.  Ở đây tuy có ba, bốn triệu người nhưng không sao cả, từ trường này có thể bao gồm hết, có thể làm cho sóng của họ biến đổi thật nhiều, làm cho tâm tình họ bình lặng, yên tịnh, tâm tình yên ổn hòa hài, thật sự có thể sanh hoan hỷ, cảm giác khu vực này yên ổn, thái bình.  Lợi ích của Phật pháp thù thắng như vậy nhưng tiếc là chẳng có người biết, chẳng có người thật sự làm!

Cho nên chúng ta phải cảm kích cư sĩ Lý Mộc Nguyên, nếu chẳng có sự ủng hộ mạnh mẽ của ông thì tôi nói làm sao, khuyên như thế nào đi nữa cũng khó đạt được hiệu quả, vì nói ra người ta không tin.  Ở đây cư sĩ Lý Mộc Nguyên tin tưởng, ông chăm lo đầy đủ hết thảy mọi việc, phát tâm hết lòng làm việc này.  Chúng tôi nghĩ có thể làm chừng nửa năm, một năm sau, xã hội đại chúng nhìn thấy hiện tượng này tự nhiên sẽ khẳng định, tự nhiên sẽ hoan hỷ.  Hiện nay chúng ta thấy người đến Cư Sĩ Lâm ngày càng nhiều, hôm qua Lý cư sĩ nói với tôi, người tham dự buổi lễ siêu độ kỳ này vượt trội hơn năm ngoái rất nhiều, người niệm Phật cũng nhiều thêm.  Nghe nói có một số người, vốn là tham gia các pháp hội khác, [nhưng sau đó] họ đều đến đây, đây là hiện tượng tốt, cảm ứng chẳng thể nghĩ bàn!  Sự thị hiện này đích thật có hiệu quả như vậy, ngày nay chúng ta thấy tận mắt nên càng có thể đoạn dứt nghi hoặc, sanh khởi lòng tin.  ‘Còn ở nhà người đó, hoặc già hoặc trẻ, hiện tại hoặc vị lai’, hiện tại là lợi ích hiện tiền, vị lai ‘trong trăm ngàn năm được vĩnh viễn xa lìa ác đạo’, đây là nói rõ ảnh hưởng sâu rộng.

Hôm nay đã hết giờ, chúng ta giảng đến đây thôi.

Trong quá trình chuyển ngữ chắc không tránh khỏi thiếu sót, xin các bậc thức giả hoan hỷ phủ chính cho. 

Xin thành thật cám ơn.                                                       

Một nhóm Diệu Âm cư sĩ, 4 tháng 9-2006

 

[1] vẽ cái vòng ở đây nghĩa là vạch ra giới hạn, hạn cuộc

[2] Lạp tử  là thuật ngữ khoa học để gọi những hạt cơ bản nhỏ hơn nguyên tử. Lạp tử gồm nhiều loại như: khoa khắc (quark), khinh tử (lepton), dẫn lực tử (graviton), quang tử (photon), giao tử (gluon), phản lạp tử (antiparticle)…

[3] dụng cụ đo bóng mặt trời để tính thời giờ

[4] phương tiện hữu đa môn, quy nguyên vô nhị lộ

[5] Tam Công là những quan chức cao cấp nhất chuyên phụ tá nhà vua để xử lý việc nước.  Đời Tây Châu, Tam Công là chức Thái Sư, Thái Phó, Thái Bảo, sau đời Bắc Ngụy, Tam Công đổi thành Tam Sư.  Đời Tây Hán, Tam Công là chức Thừa Tướng (sau đổi thành Đại Tư Đồ), Thái Úy (sau đổi thành Đại Tư Mã), Ngự Sử Đại Phu (sau đổi thành Đại Tư Không).  Đời Đông Hán thì Tam Công là chức Thái Úy, Tư Đồ, Tư Không.

Cửu Khanh là chín quan chức chủ yếu trong chính phủ trung ương vào đời Tần Hán, thông thường cũng dùng để gọi chung cả triều đình, gồm có Phụng Thường, Lang Trung Lịnh, Vệ Úy, Thái Phó, Đình Úy, Điển Khách, Tông Chánh, Trị Túc Nội Sử, Thiếu Phủ.  Từ đời Ngụy Tấn trở đi, vai trò của chức Cửu Khanh nhẹ đi, quyền xử lý triều chánh giao cho các ty sở thuộc Thượng Thư Đài. Từ thời Tùy Đường cho đến đời Tống, chức Cửu Khanh ngạch trật rất cao nhưng không có thực quyền, chỉ có chức Tông Chánh là giữ nguyên quyền hạn, không thay đổi. Triều Minh thì Lục Bộ Thượng Thư, Đô Sát Viện Đô Ngự Sử, Đại Lý Tự Khanh, Thông Chánh Sứ Ty hợp thành “Đại Cửu Khanh”; Thái Thường Tự Khanh, Thái Phó Tự Khanh, Quang Lộc Tự Khanh, Chiêm Sự, Hàn Lâm Học Sĩ, Hồng Lô Tự Khanh, Quốc Tử Giám Tế Tửu, Uyển Mã Tự Khanh, Thượng Bảo Ty Khanh là “Tiểu Cửu Khanh”.  Triều Thanh, Cửu Khanh chỉ chung những chức những trưởng quan độc lập ngoài Lục Bộ Thượng Thư, nhưng chẳng có phạm vi rõ ràng. Ngoài ra, còn gọi Tông Nhân Phủ Phủ Thừa, Chiêm Sự, Thái Thường Tự Khanh, Thái Phó Tự Khanh, Quang Lộc Tự Khanh, Hồng Lư Tự Khanh, Quốc Tử Giám Tế Tửu, Thuận Thiên Phủ Phủ Doãn, Tả Hữu Xuân Phường Thứ Tử là “Tiểu Cửu Khanh”

[6]  tức là việc mỗi tháng tụng kinh Địa Tạng mười lần

[7] Một trượng là mười xích, như vậy một trượng hai là mười hai xích. Xích vào đời Châu chỉ có 15,8cm, do vậy một trượng hai khoảng độ một thước bảy, một thước tám hiện thời. Chứ nếu tính theo đời Thanh thì một xích là 32cm đến 35cm. Người trượng hai sẽ cao gần 4m! Điều dễ hiểu lầm là phần trước dùng chữ Xích với ý nghĩa chữ Xích đời Châu (tức 15,8cm), nhưng trong phần sau, khi Hòa Thượng  ước tính “một trượng hai bằng bảy, tám xích hiện thời” thì chữ Xích này lại được hiểu theo nghĩa hiện thời, tức là Xích là dịch nghĩa của chữ foot. Như vậy, một trượng hai tương đương với 7,8 ft.

Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.