SỐ 384
KINH BỒ TÁT TÙNG ĐÂU THUẬT THIÊN GIÁNG THẦN MẪU THAI THUYẾT QUẢNG PHỔ
(KINH BỒ TÁT XỬ THAI)
Hán dịch: Đời Diêu Tần, Sa-môn Trúc Phật Niệm, người đất Lương Châu
Việt dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh

 

QUYỂN VII

Phẩm 26: PHÁ TÀ KIẾN

Bấy giờ, Đức Thế Tôn nhập chánh định Tam-muội, phân thân biến hóa, phóng ra ánh sáng lớn để muốn cho các Đại Bồ-tát và bốn bộ chúng: Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di phá tan cảnh giới của ma, trụ vào chánh địa.

Đức Thế Tôn bảo đại chúng:

–Ta nhớ về quá khứ cách đây chín mươi mốt kiếp, Ta tu hành khổ hạnh trong núi cùng với Tôn sư và năm ngàn người ở phía Nam núi Tuyết, phía Bắc thành Thanh Tịnh. Ta là đệ tử nhỏ nhất trong chúng ấy, nhưng siêng tụng đọc kinh điển, toán số kỹ thuật, thiên văn địa lý đều thấu tỏ. Theo pháp thường của chúng ấy, nếu có đệ tử nào sở học đã thành tựu thì nên báo ân thầy.

Lúc ấy Ta một thân một mình, không có tiền của, vật báu để dâng lên thầy nên quỳ lạy, xin muốn xuống núi vào xóm làng đi xin. Thầy không cho phép. Xin nài ba lần như vậy nhưng thầy vẫn không cho. Vì sao? Vì Ta thông hiểu rõ ràng các kinh điển đứng đầu trong chúng. Thầy nói với Ta: “Ta có kho tàng kinh điển bí mật quý báu, ngươi chưa đọc tụng sao lại rời ta để vào nhân gian đi xin?”.

Khi ấy thầy đưa quyển kinh cứ một câu có năm chữ, bảo Ta tụng thuộc lòng. Chưa được vài ngày, Ta đã học thuộc và thưa trước thầy: “Thầy hãy cho phép con xuống núi đi xin để báo ân thầy”. Thầy cũng không cho và nói với Ta: “Ông nên học hỏi văn thư bí sấm về mặt trời, mặt trăng, sao, tai nạn, yêu quái, họa phước, núi lay đất chuyển.

Những điều này ông cũng chưa biết, sao lại muốn rời ta để vào nhân gian đi xin?”.

Rồi thầy đưa quyển kinh, cứ một câu kinh gồm một ngàn chữ, bảo Ta học thuộc. Chưa được mấy ngày, Ta đã thành tựu và bạch thầy đi xin để báo ân thầy. Thầy cũng không cho, nói: “Ta có quyển kinh, cứ một câu kinh gồm một vạn chữ. Những quý báu trong kinh ông cũng chưa đọc tụng, vì lý do gì mà muốn rời ta để đi xin?”.

Thế rồi thầy lại đưa kinh bảo Ta tụng đọc thuộc lòng. Chưa đến vài ngày Ta đã thấu đạt về kỹ thuật, phước họa, sự vận hành của các sao và tất cả đều được thông suốt. Khi ấy, thầy khuyên Ta nên ở lại và không còn kinh nào để đưa cho Ta học nữa.

Ta liền từ tạ thầy xuống núi, vào thôn xóm đi xin, thấy năm ngàn Phạm chí dị học ở một làng lớn, cùng nhau cúng tế trời.

Theo pháp cúng tế trời thì phải giết năm trăm con bò, năm trăm con dê, năm trăm con lạc đà, năm trăm con ngựa, voi mạnh nhất có sáu ngà, năm trăm người nữ, một cây gậy bằng vàng, một bồn rửa mặt bằng vàng, vải trắng một ngàn xấp, vàng bạc tiền đều phải năm vạn. Những vật báu này sau khi được cúng cho trời thì sẽ đưa cho thầy.

Bấy giờ, Ta xuống núi với y phục dơ nhớp, bụi bặm. Trước đây ở trong núi tu khổ hạnh lâu năm, mặc áo da nai, nghe năm ngàn vị Phạm chí dị học thiết đại lễ đàn nên Ta liền đến đó.

Khi ấy sư trưởng hỏi Ta: “Nếu kinh điển kỹ thuật nhiều thì mới cho ngồi trên, còn kinh điển ít thì cho ngồi dưới”.

Vị sư ấy không biết gì cả, không thông đạt bí yếu sấm ký nên cho Ta ngồi trên, nhưng sư ấy lại tức giận nói: “Đây là người như thế nào, đáng lẽ châu báu đủ mọi vật phải thuộc về ta, sao bị người này chiếm đoạt? Nếu đời sau gặp nhau, ta quyết phải báo thù, giống như đã chiếm đoạt của ta ngày hôm nay”.

Bấy giờ Ta liền nói: “Tà kiến điên đảo chẳng phải chân thật, phân biệt rõ ra thì chỉ có vô vi mới gọi là Niết-bàn, không sinh già bệnh chết, không đây, không kia, chặng giữa. Quán tự tướng của nó là thanh tịnh, bốn vô sở úy làm phước thì sinh lên trời, bị tội thì đọa vào địa ngục, tham lam bỏn sẻn thì làm ngạ quỷ, mắc nợ thì làm súc sinh, quả báo thiện ác giống như bóng theo hình”.

Khi ấy, tâm thức của năm trăm người được khai sáng, liền thỉnh Ta làm thầy. Những voi, ngựa, trâu, dê, lạc đà v.v… sắp bị giết, Ta lại không giết. Còn gậy vàng, bồn rửa vàng, đáng lẽ Ta nhận nhưng Ta liền đem đưa cho vị Thượng tọa tức giận kia. Năm trăm người nữ được gởi trở lại cho chủ thờ cúng. Năm vạn tiền vàng Ta chỉ lấy năm trăm thôi. Năm vạn tiền đồng Ta cũng chỉ nhận năm trăm, còn lại gởi cho chủ thờ cúng.

Ta đi từ thôn này đến thôn khác, từ nước này qua nước nọ, dần dần đến bên ngoài cửa phía Đông của thành Thanh Minh. Ta thấy năm trăm Phạm chí tuổi cao đức lớn, học đạo ngày ngày đứng dưới lửa mặt trời thiêu đốt, thân thể xấu xí dơ bẩn. Ta liền lấy năm trăm tiền vàng đưa mỗi người một đồng, từ biệt họ vào thành. Ta thấy người trong thành lấy nước thơm rảy lên đất để khử trừ bụi dơ, treo cờ phướn, lọng báu và mọi người sắp thẳng hàng trong tư thế đoan nghiêm, chuẩn bị ra ngoài thành.

Đi tới một tí, Ta thấy một cô gái cầm bảy cành hoa. Khi ấy, Ta nhìn xung quanh tìm hương kiếm hoa nhưng không có. Ta hỏi cô gái ấy: “Tôi muốn hoa trên tay của cô”.

Cô ta trả lời: “Hoa này đã có chủ. Đức Phật sắp vào thành, tôi đem hoa này dâng lên Phật”

Không thể được rồi, Bồ-tát lại dùng quyền phương tiện nói với cô gái: “Tôi có năm trăm tiền báu, tôi mua mỗi hoa một trăm tiền, nếu được thì cô bán”.

Thế rồi Ta đưa tiền ra, cô ta tham của báu nên lấy năm cành hoa đưa cho Ta. Đi được khoảng mười bước, cô ta tự nghĩ: “Người này có tướng mạo đoan nghiêm mà lại mặc y phục bằng da nai, vì ham năm cành hoa của ta mà không tiếc tiền bạc. Điều này chắc chắn có lý do”.

Thế rồi cô ta quay lại kêu: “Này ông ơi, ông dùng hoa ấy để làm gì vậy?”.

Ta trả lời: “Để dâng lên Phật”.

Nghe đến danh hiệu Phật, cô ta liền lấy hai cành hoa còn lại đưa cho Ta. Ta ra khỏi thành, thấy Đức Phật đằng xa, chư Thiên và dân chúng đông nghẹt cả đường, không có một chỗ đất hở trống nào để lễ lạy. Trước Phật có một vũng nước, rộng bằng chỗ một người đứng. Ta liền trải tóc trên vũng nước ấy và ca ngợi Phật với bài kệ:

Phá tâm ái kiêu mạn
Diệt được dục nộ si
Chân tướng sáng bậc nhất
Xin Phật thấu lòng con.
Thệ nguyện xưa con cầu
Ngày nay được thấy Phật
Nay rải năm cành hoa
Nguyện đắc Bất thoái chuyển.
Hai cành hoa còn lại
Cô gái gởi cúng Phật
Vô thượng đại Đạo sư
Thương xót đạp tóc con.

Khi ấy, Đức Như Lai Quang Minh thấy Ta tâm tịnh phát nguyện rộng lớn, không có gì có thể làm trở ngại, hủy hoại được, liền dùng kệ khen Ta:

Đồng tử phát tâm lớn
Rộng cứu độ muôn người
Nguyện lớn không tự có
Trồng nhiều gốc công đức.
Qua vô số kiếp sau
Đời năm vạn năm trược
Thành Phật độ chúng sinh
Danh hiệu Thích Ca Văn.
Ba mươi hai tướng sáng
Đấng kỳ diệu loài người
Thọ tuệ xưng Phật rồi
Đất chấn động sáu cách.
Chư Thiên, người thế gian
Thấy Ta được thọ ký
Thường muốn diệt các sử
Đều nguyện sinh cõi Ta.

Bấy giờ, Đức Như Lai Quang Minh liền đạp trên tóc Ta đi qua, Phật dùng thần lực nhận năm cành hoa của Ta và đem thân Ta để trên hư không. Hai cành hoa còn lại Phật để trên hai bên vai. Xưa kia tu hành phá tất cả những vật dụng của năm ngàn Phạm chí cúng trời thờ lửa, dạy họ hành chánh kiến, tám pháp bình đẳng, ngồi nằm kinh hành mỗi bước đều làm lợi ích, độ thoát chúng sinh. Từ đó đến nay, chưa từng bị đọa vào ba đường, tám nạn, thế trí biện thông, biên địa, sau Phật.

Lúc này trên chỗ ngồi, chúng sinh cõi ma cho thường là đoạn diệt, nói khổ là vui, vô thường cho là hữu thường, không có thân nói rằng có thân, tu tập bốn điên đảo, không có trí tuệ để nhận biết rõ ràng, bị năm triền cái che lấp, tham đắm vào lợi dưỡng.

Muốn độ những người tà kiến này, Đức Thế Tôn nói kệ:

Tà kiến, đạo không thật
Như loài trùng Thiết thôi
Đục xương vào tủy não
Đau đớn vô số kể.
Lợi dưỡng hoại đạo đức
Người trí không làm vậy
Thân hành tâm kiên cố
Trừ sạch pháp vô minh.

Khi Đức Thế Tôn nói pháp chân thật về cú nghĩa, vị nghĩa, tự nghĩa cho những người tà kiến này thì có vô số trăm ngàn chúng sinh phát tâm cầu đạt đạo Chánh chân vô thượng.

 

Phẩm 27: VĂN THÙ THÂN BIẾN HÓA

Bấy giờ, Đức Thế Tôn Vô Sở Trước Đẳng Chánh Giác nhập vào Tam-muội Thượng tôn định ý, quan sát các Đại Bồ-tát quá khứ, hiện tại, vị lai có kiếp số nhiều ít, sẽ từ một kiếp, hai kiếp cho đến trăm ngàn vô số ức kiếp thủ Bát-niết-bàn.

Có Đại Bồ-tát cúng dường chư Phật, thành tựu công đức, giáo hóa chúng sinh, làm thanh tịnh cõi Phật.

Có Đại Bồ-tát từ lúc đồng chân hành bát trụ, không có vợ con, dập tắt tư tưởng dâm dục, tự tại ở quả vị của mình, không cha mẹ, anh em mà đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Phật bảo Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:

–Về thuở xưa cách đây bảy mươi chín kiếp, tại thế giới Hoa Quang, ông ở trong thai thuyết pháp toàn thân xá-lợi. Dân chúng cõi ấy cao ngàn do-tuần, thân của Phật cao vạn do-tuần. Đông, Tây, Nam, Bắc, bốn góc trên dưới rộng vô lượng, không có giới hạn, không thể tính kể, dù thầy tính, đệ tử tính cũng chẳng thể nào lường được, căn bản thanh tịnh, vốn ông ở nơi đó. Thân Phật phóng ra ánh sáng, thị hiện thần túc để cho đại chúng đồng loạt được thấy Như Lai làm lợi ích cho chúng sinh.

Khi ấy, Đức Thế Tôn nói kệ:

Văn-thù vốn thành Phật
Trong thai hiện biến hóa
Thân cao vạn do-tuần
Tướng ánh sáng rực rỡ.
Mắt như hoa sen xanh
Môi miệng đỏ lửa sáng
Bốn mươi răng trắng thẳng
Mắt nháy ngước lên xuống.
Chư Thiên, rồng, quỷ thần
Đem hương hoa cúng lạy
Nay Ta ở thai này
So với cõi của ông.
Đối với mười sáu phần
Không bằng một mảy lông
Đức biến hóa Như Lai
Thông đạt không chướng ngại.
Hương giữ giới lan xa
Chư Phật đều khen ngợi
Các đại chúng đến đây
Muốn hỏi pháp khó có
Cúi đầu trước Như Lai
Để trừ lưới nghi ngờ.

Bấy giờ, Đại Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi ngay trên tòa ngồi, dùng định lực thần túc giống như người lực sĩ co duỗi cánh tay, tiếp thế giới Hoa Quang để bên trong thai thân mẫu của Phật Thích Ca Mâu Ni nơi cõi Ta-bà.

Thế giới của hai Đức Phật không chướng ngại nhau, vẫn hiện đầy đủ các tướng tốt của thân Phật, ngồi bên Thọ vương giảng nói pháp tối thắng thâm diệu.

Bồ-tát cõi ấy cũng đến gần gũi Đức Phật Thích Ca Văn, thừa sự cúng dường hương hoa, cờ phướn, lọng báu. Đệ tử Bồ-tát của Thích Ca Văn Ni cũng đến cõi kia cúng dường lễ bái.

Âm thanh nói pháp vi diệu sâu xa của hai vị Phật khai thông với nhau, không có chướng ngại. Đức Phật kia nói vô sinh thì ở đây cũng nói như vậy. Ta nói về tâm định thì bên kia cũng nói như vậy. Ý, đoạn, căn, lực, giác đạo hai bên giống nhau. Bên kia nói khổ, không, vô ngã, bên đây cũng vậy.

Khi ấy, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi nói kệ:

Quán trong ngoài thanh tịnh
Duyên diệt, tưởng cũng vậy
Các cõi Phật mười phương
Thần đức không khác nhau.
Đều do căn chúng sinh
Hiện có diệu, không diệu
Cho ta thành thân Phật
Cõi này rất là nhỏ.
Vì chúng có nghi ngờ
Hiện biến hóa trong thai
Thân ta như vi trần
Nay ở cõi Phật kia.
Ba mươi hai tướng sáng
Hiện khắp cả mọi nơi
Xưa làm thầy Năng Nhân
Nay lại làm đệ tử.
Đạo Phật rất rộng lớn
Thanh tịnh không tăng giảm
Ta muốn thấy thân Phật Hai
Ngài không cùng đứng.
Cõi này hiện giáo hóa
Cõi ta hiện thân Phật
Cõi kia có kiếp thiêu
Cõi ta không hư hoại.
Lực Phật biến khắp nơi
Tâm chúng sinh chẳng một
Chúng hội nghe ta nói
Ngoài đây ra còn có.
Cõi Phật tên Vô Khuyết
Phật hiệu Thăng Tiên Tôn
Quốc độ nhiều gấp bội
Thanh tịnh không cấu uế.
Quốc thành bằng bảy báu
Đất thủy tinh lưu ly
Ao bát giải cam lồ
Rửa sạch mọi trần cấu
Khiến trụ chốn vô ngại
Rực rỡ ánh sáng lớn
Đức Phật Thăng Tiên ấy
Chẳng phải người nào khác
Chúng hội ai muốn biết
Đó chính là thân Ta.
Ngoài đây lại còn có
Cõi nước tên Cứu Cánh
Phật hiệu Đại Trí Tuệ
Bồ-tát nhiều vô lượng.
Không có hàng Nhị thừa
Bích chi và Thanh văn
Bồ-tát Ma-ha-tát
Không còn dâm nộ si.
Gốc mục lá không sinh
Huống chi lại có trái
Tướng đại nhân đầy đủ
Cứu người trước, mình sau.
Mạnh như năm dòng sông
Năm sử năm trói buộc
Năm ấm luôn than thở
Luân hồi trong năm đường.
Bảy tên sứ trói chặt
Không lìa bảy chỗ sinh
Tám chánh đạo vô vi
Diệt trừ tám nghiệp tà.
Tám tuệ quán thanh tịnh
Trước lấy nước bát giải
Bát trụ bát trừ nhập
Tám đạo pháp hữu vi.
Pháp khổ có chín phần
Chúng sinh đi sáu đường
Trọn vẹn chín không ngại
Trang nghiêm cây Phật đạo.
Pháp mười lực, vô úy
Mặc áo thệ từ bi
Tay cầm kiếm trí tuệ
Phát sạch rừng kiết sử.
Các chúng sinh cõi này
Tham đắm sinh kiêu mạn
Bệnh nặng không thầy giỏi
Bệnh tình càng kịch liệt.
Giống như lửa đồng hoang
Thiêu đốt cả núi rừng
Núi cao gió thổi mạnh
Cháy rực bao giờ tắt.
Thế giới của chúng ta
Đại trí tuệ giảng rõ
Như thân ta ngày nay
Bậc Như Lai đại trí.

Sau khi Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi nói kệ này, có vô lượng a-tăng-kỳ chúng sinh đều nguyện sinh về cõi Hoa Quang.

Khi ấy, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi thâu thần túc lại, hiện đệ tử Bồ-tát của Đức Phật Thích Ca Văn. Bao nhiêu quốc độ đều trở lại nguyên như cũ.

 

Phẩm 28: BÁT HIỀN THÁNH TRAI GIỚI

Bấy giờ, trong chúng hội có Bồ-tát tên Trí Tích, vốn tạo nhiều công đức với chư Phật quá khứ, chiến thắng quân ma, với phương tiện thiện xảo làm trang nghiêm cõi Phật, tu hành nhẫn nhục trong vô số kiếp. Tâm nhẫn không sơ sót, không phế bỏ thiền hành, là tiếng gầm của sư tử trong đại chúng. Đi một mình trong ba cõi, lên xuống lúc nào cũng được, không điều gì là không thông suốt, ứng đối không trở ngại, có thể làm núi sông, tường đá biến thành bảy báu, đem bố thí cho những người nghèo khổ, giúp đỡ đầy đủ bốn việc cần dùng, hiểu rõ về quán không, pháp tánh đều thanh tịnh. Biết rõ ba đời, có oai nghi phép tắc. Quán pháp như huyễn, như hóa, như bóng trong gương, như sóng nắng, như tiếng vang trong hang. Quyến thuộc đi theo đều thành tựu căn bản, giữ gìn giới cấm không phạm một mảy nào.

Bồ-tát Trí Tích từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch bày vai phải, gối phải quỳ sát đất, chấp tay thưa Phật:

–Vui thay, bạch Thế Tôn! Như Lai giáo hóa không chỗ nào là không thấu đạt. Tám bộ chúng trời, rồng, người, quỷ đều đến đạo tràng. Chúng sinh cõi không giới cho đến thai sinh, hóa sinh được cứu độ không thể lường. Cúi xin Thế Tôn hãy phân biệt về các hành thiện, ác trong sáu đường, oai nghi giới cấm đầu, giữa, cuối đều thiện. Phân biệt rõ ràng về những người chưa biết được biết.

Phật bảo Bồ-tát Trí Tích:

–Lành thay! Lành thay! Ông đã hỏi Như Lai về nghĩa sâu xa ấy. Nay Ta sẽ phân biệt cho ông về những kết quả của giới cấm thiện ác. Ông hãy lắng nghe cho rõ, suy nghĩ thật kỹ.

Thuở xưa vô số kiếp, có một thời Ta làm chim chúa cánh vàng, cung điện bằng bảy báu, ao sau vườn cũng đều xây bằng bảy báu, dạo chơi trong vườn thấy tâm được tự tại. Phép tắc thi hành giống như Chuyển luân Thánh vương. Phụ nữ trong cung nội giống như Thiên nữ. Trải qua trăm ngàn kiếp mới vào biển tìm rồng để ăn thịt.

Khi ấy, trong biển có rồng hóa sinh, vào các ngày: mồng tám, mười bốn, rằm thì thọ trai giới của Như Lai, gồm tám giới cấm:

  1. Không sát sinh.
  2. Không trộm cắp.
  3. Không tà dâm.
  4. Không nói dối, nói thêu dệt.
  5. Không uống rượu.
  6. Không nghe ca hát âm nhạc.
  7. Không thoa hương hoa phấn sáp.
  8. Không nằm giường cao rộng.
  9. Không ăn phi thời.

Rồng hóa sinh vâng giữ tám pháp của Hiền thánh.

Chim cánh vàng dài tám ngàn do-tuần, mỗi cánh dài bốn ngàn do-tuần. Biển lớn ngang dọc ba trăm ba mươi sáu vạn dặm, Chim cánh vàng dùng cánh vẹt nước để bắt rồng. Nước chưa kịp hợp lại thì chim cánh vàng đã ngậm rồng bay lên.

Theo phép tắc của chim cánh vàng, khi muốn ăn rồng thì trước tiên ngậm đuôi đem đến phía Bắc núi Tu-di. Nơi đó có cây sắt lớn cao mười sáu vạn dặm. Chim cánh vàng ngậm rồng đến đó để chuẩn bị ăn, nhưng qua một ngày đêm tìm đuôi rồng không biết ở đâu. Sáng mai rồng lòi đuôi ra, nói với chim cánh vàng: “Rồng hóa sinh chính là ta đây. Nếu không giữ tám pháp trai giới thì ta sẽ bị ngươi ăn thịt rồi”.

Nghe vậy, chim cánh vàng hối hận, tự trách mình: “Oai thần của Phật sâu xa khó lường”, và nói: “Cung điện của tôi cách đây không xa, ông hãy cùng tôi đến đó để vui chơi”.

Rồng liền theo chim cánh vàng đến thăm cung điện.

Chim cánh vàng nói: “Quyến thuộc chúng tôi ở đây không nghe tám pháp trai giới. Cúi xin ông hãy chỉ dạy oai nghi giới cấm để sau khi qua đời, tôi được sinh làm người”.

Khi đó, rồng đem hết pháp giới cấm bảo chim cánh vàng đọc tụng. Lúc ấy, tại cung điện của chim chúa, rồng nói kệ:

Nhà cung điện bảy báu
Trang nghiêm rất thích thú
Do hành giới không đủ
Làm thân chim cánh vàng.
Tôi là con Long vương
Tu đạo bảy vạn kiếp
Lấy kim đâm lá cây
Phạm giới làm thân rồng.
Tôi không từ thai sinh
Thấp sinh hay noãn sinh
Chuyển thân không thoái chuyển
Làm sáng Phật, Pháp, Tăng.
Nay ông thọ tám giới
Giáo hóa quyến thuộc ông
Giữ giới không được phạm
Sẽ được sinh chỗ lành.
Cung điện tôi trong biển
Cũng làm bằng bảy báu
Châu ma-ni, pha lê
Châu minh nguyệt, vàng, bạc.
Hãy theo tôi đến đó
Thăm viếng tu Phật sự
Tăng thêm cội gốc lành
Từ bi thấm mọi nơi.

Nghe rồng nói, chim cánh vàng thọ tám pháp trai giới và tự nói: “Từ đây trở về sau, trọn đời không sát sinh, như chư Phật, chỉ dạy cho quyến thuộc chim cánh vàng”.

Sau khi thọ ba quy y, chim cánh vàng theo rồng về cung điện trong biển. Trong cung điện có tháp bảy báu, đó là kho tàng mà chư Phật đã giảng nói. Đặc biệt có hòm bằng bảy báu đựng đầy kinh Phật, như: Mười hai nhân duyên, Tam-muội Tổng trì v.v… Thấy vậy, rồng tử và rồng nữ đem hương hoa cúng dường, lễ bái, thừa sự, giống như cung điện vàng Đàn-bà-ma-la ở cõi trời, rồi nói với chim cánh vàng: “Tôi làm thân rồng đã trải qua kiếp số mà chưa hết, nhưng chưa từng sát sinh hay làm nhiễu loạn các loài thủy tộc”.

Bấy giờ, rồng nói kệ với chim cánh vàng:

Giết là nghiệp bất thiện
Giảm tuổi thọ, chết yểu
Thân như con thiêu thân
Thấy ánh sáng rồi chết.
Giữ giới, vâng lời Phật
Được sinh trời Trường Thọ
Tạo phước đức nhiều kiếp
Không đọa cõi súc sinh.
Nay tôi làm thân rồng
Giới đức hạnh trong sáng
Tuy đọa trong sáu súc
Nhưng có ngày thoát khỏi.

Sau khi rồng nói kệ này thì rồng tử và rồng nữ tâm bừng sáng, tâm ý thông suốt và sau khi qua đời tất cả đều sinh về cõi Phật A-di-đà. Phật bảo Bồ-tát Trí Tích:

–Kiếp trước Ta đã hành giới đức trọn vẹn, thành Bồ-tát biến hóa tự tại, không chỗ nào là không vào, cũng làm chim cánh vàng, cũng làm loài rồng, cũng có khi biến hóa làm rùa, ba ba v.v…

 

Phẩm 29: NĂM LẠC

Bấy giờ, Đức Thế Tôn quan sát những suy nghĩ trong tâm thức của chúng sinh, là muốn biết những nơi đã từng trải qua của Như Lai, như từng sinh loài chim cánh vàng, được rồng giáo hóa. Những kẻ được độ nhiều vô lượng, không thể tính kể. Ngoài ra còn có những kiếp gì, nên muốn biết ý ấy.

Thấu rõ tâm niệm của chúng sinh, Như Lai muốn thị hiện những pháp về thân, khẩu, ý xưa kia Ngài đã tu tập:

–Này các thiện nam, thiện nữ hãy lắng nghe Ta nói: Xưa kia có Thiên Đế thích, từ quá khứ đến nay trải qua vô số kiếp, luôn hưởng phước trời tự nhiên, là người tôn quý bậc nhất trong ba ngàn đại thiên thế giới của các trời Đế thích. Khi ấy, A-tu-la vương La Hầu sinh một cô con gái đẹp đẽ, đầy đủ nết na, có sáu mươi bốn tài năng, đi đứng tới lui không mất oai nghi, mặt như hoa đào, miệng tỏa ra mùi thơm như hoa Liên-ưu-bát, thân có mùi thơm Ngưu-đầu-chiên-đàn, không cao không thấp, không đen không trắng, không mập không ốm, trọn đủ tư cách của người nữ.

Bấy giờ, Thích-đề-hoàn-nhân suy nghĩ: “Thiên nữ trong cung điện của ta nhan sắc đẹp đẽ hơn các Thiên nữ khác, nhưng không bằng con gái của A-tu-luân kia. Nay ta tập hợp binh chúng đến đánh với Atu-luân để chúng phải nộp cô gái ấy cho ta”.

Suy nghĩ thế rồi, Đế thích mời chư Thiên đến bàn luận về việc chiến đấu. Chư Thiên thưa Đế thích:

–Chư Thiên chiến đấu chắc chắn là thua chúng. Ta hãy chọn những người chuyên về nhạc cầm với cây đàn lưu ly chín mươi mốt dây và một thuyền, ca hát khen ngợi về cõi trời của ta thọ hưởng hoan lạc với vô lượng công đức.

Chư Thiên khen hay và làm theo ý kiến này.

Đế thích lập tức ra lệnh Bàn-giá-dực cầm nhạc trời chuẩn bị đầy đủ nhạc cụ rồi ở trên trời bỗng nhiên biến mất. Như kẻ lực sĩ co duỗi cánh tay, đã đến đứng trước mặt A-tu-la vương Bà-ha và đánh đàn với kệ:

Ta là trời Đế thích
Thầy đánh đàn tuyệt diệu
Tiếng ca khúc hòa nhã
Tiếng trong suốt rất hay.
Làm cho trời kia vui
Không còn tưởng buồn sợ
Nghĩ áo cơm, đến ngay
Cơm cam lồ bảy báu.
Giường vàng bạc, thuyền ngọc
Chuyển động thân quay tròn
Thấy vui không nhàm chán
Tôn quý nhất trong trời.
Nay sai chúng tôi đến
Muốn nói hạnh bất tịnh
Dâng thức ăn cam lồ
Muốn cầu việc hôn nhân.
Chủ ta có cung điện
Châu ngọc không thể lường
Thiên nữ làm quyến thuộc
Hơn ngàn vạn ức số. Biết Bà-ha có con
Hãy giao cho chủ tôi
Còn như không bằng lòng
Thì đến lúc phải đánh.
Tu luân nghe lời này
Nổi tức giận đùng đùng
Vật nhỏ, ý muốn lớn
Vậy ngươi muốn làm gì?
Tuy không có cam lồ
Nhưng ta dự trữ đủ
Cũng có binh chúng mạnh
Đủ để chống cự nhau.

Nghe vậy, Bàn-giá-dực trở về nói lại cho trời Đế thích.

Khi ấy, A-tu-la vương Bà-ha liền ra lệnh:

–Tất cả tập hợp binh chúng! Ta có việc phải đi chinh chiến. Ngay bây giờ hãy chuẩn bị đầy đủ, không ai nghi ngờ gì cả! Và ra lệnh bằng kệ:

Thiên Đế thích hào quý
Sai sứ Bàn-giá-dực
Ca tụng bằng ngữ âm
Muốn ta việc hôn nhân.
Chúng nay chưa tập binh
Ta nên nhóm binh trước
Đến đánh không dùng sức
Thắng vạn không mất một.

Nghe vậy, vệ thần của A-tu-luân liền tập hợp binh chúng đến sườn núi Tu-di đánh phá cung trời, tiếp đánh phá cung Phong thiên, rồi đánh phá cung Mã thiên và đánh phá cung Trang nghiêm thiên.

Khi ấy, có vị trời tên Đại Lực đến nói với Thích-đề-hoàn-nhân:

–Đại vương nên biết: A-tu-luân Bà-ha tập hợp binh chúng đã phá tan bốn cửa trời. Đại vương! Bây giờ phải làm thế nào?

Thiên Đế thích liền nhớ lại bài tụng xưa kia, nên nói kệ:

Oai thần lực chư Phật
Cứu hộ nguy ách con
Nhẫn tuệ phá sân giận
Giải thoát đạt an ổn.
Xưa con không ngủ nghỉ
Chiều nay bỗng buồn ngủ
Điềm này không tốt lành
Tu-luân chiếm cõi con.

Thiên Đế thích nhớ đến công đức của Phật nên binh chúng A-tuluân lần lần rút lui ra khỏi bốn cửa sau vườn và vào trong ao, trốn trong ngó sen.

Khi ấy, Thích-đề-hoàn-nhân ra lệnh đại thần:

–Các ông hãy mau tập hợp binh chúng đuổi theo binh chúng của A-tu-luân.

Nhận lệnh Thiên vương, các đại thần của Đế thích liền tập hợp chúng trời theo bốn cửa để tìm kím nhưng chỉ thấy áo giáp, cung tên trên đất mà chẳng thấy đám A-tu-luân đâu cả. Tiến dần tới trước thì gặp cung điện A-tu-luân nhưng chỉ thấy ngàn vạn chúng A-tu-luân Bàha nữ mà chẳng thấy thân của A-tu-luân.

Họ đem các chúng nữ trở về cung trời Đao-lợi. Thấy vậy, chúng A-tu-luân ra cầu xin quy mạng và nói với Thích-đề-hoàn-nhân:

–Chúng tôi ngu hoặc, không biết thần lực của đệ tử Phật cao vời như vậy. Trước đây tiên tổ chúng tôi tín thờ Như Lai, nghe Phật có giới không được lấy vật người khác. Nay Thiên vương Đế thích đem quyến thuộc của tôi về hết cung trời, thật chẳng phải là phép tắc của đệ tử Phật thực hành.

Nghe họ nói vậy, Thiên Đế thích rất buồn, không vui, nghĩ: “Atu-luân nói vậy chứng tỏ là ta đã phạm vào giới không cho mà lấy. Ta nên phụng thờ giới cấm, không phạm tội trộm cắp” và liền cho các Atu-luân nữ trở về.

Khi ấy, A-tu-luân liền đem cô gái mình yêu quý nhất dâng cho Thiên Đế thích. Thiên Đế thích đem cam lồ ngon ngọt mời A-tu-luân. Tu-luân cùng Đế thích hòa hợp tu hành pháp thiện: Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu, không mang hương hoa phấn sáp, không ăn phi thời, giữ gìn ba pháp quy y của Như Lai.

Những hành nghiệp xưa kia trải qua vô số đời, ta đã làm Chuyển luân Thánh vương, vô số đời làm Thiên Đế thích, vô số đời làm Phạm Thiên vương, phụng giữ tám pháp trai giới của Hiền thánh, độ những khổ nạn, cứu những tai ách. Giả sử trong bốn cõi thiên hạ bị lửa cháy giống như kiếp thiêu, mà ai nhất tâm quy y, xưng danh hiệu Như Lai, giữ gìn tám pháp trai giới, thân có rơi trong lửa nhưng không bị cháy. Nếu bị ngập nước, nước cũng không thể nhận chìm. Tám pháp trai giới là cha mẹ của chư Phật.

 

Phẩm 30: KHẨN ĐÀ LA

Khi ấy trong chúng hội có Bồ-tát Tín Giải Thoát, trong vô số atăng-kỳ kiếp về quá khứ đã làm Khẩn-na-la vương.

Qua phía Bắc núi Tu-di là núi Lưu Ly. Qua phía Bắc núi Lưu Ly là núi Tiểu Thiết Vi. Phía Bắc núi Tiểu Thiết Vi có núi Đại Hắc. Khẩn-na-la vương cai quản núi này. Quá khứ hằng hà sa chư Phật, ông ta không thấy cũng không nghe pháp, không được chúng Tăng giáo hóa, không có ánh sáng mặt trời, mặt trăng và sao chiếu vào. Nhờ xưa kia tạo một phước bố thí nên được ở trong cung điện bảy báu và sống rất lâu. Vì sao? Vì lúc ở nhân gian gặp được ruộng phước: Có ông trưởng giả xây tháp Phật, Khẩn-đà-la vương này đã cúng dường một cây trụ để làm tháp. Lại còn đem thức ăn thanh tịnh bố thí cho người thợ xây. Sau khi qua đời, ông làm Hung Ức thần vương, ở giữa hai núi, cung điện nhà cửa bằng bảy báu.

Khi còn ở nhân gian, ông có của cải nhiều vô lượng. Có một Samôn vào buổi sáng ôm bát đi đến nhà ông khất thực. Biết có vị Sa-môn đang đứng ngoài cửa, vợ ông ta bưng cơm ra cúng dường. Thấy vợ đưa thức ăn cho vị Sa-môn, trưởng giả liền nổi giận, quát:

–Người đi xin này là ai mà dám dòm ngó vợ ta? Hãy làm cho người này tay chân đều đứt gãy.

Do đó, sau khi qua đời, ông ta bị thọ thân xấu xí. Qua bốn mươi tám kiếp luôn không có tay chân.

Còn khi ở nhân gian, ta học pháp tiên nhân trong núi sâu, tụng tập chú thuật, có thể di chuyển mặt trời, mặt trăng, đổi đêm thành ngày, đổi ngày thành đêm. Trong khoảng hơi thở có thể nhổ ra vàng bạc bảy báu, có thể làm cây khổ phát triển cành lá hoa quả, có thể làm nước biển khô cạn, ở trong lửa cháy có thể bay được. Mắt có thể thấy thấu suốt, tự biết được đời trước, biết được tâm người, tai nghe rất xa. Ta có năm trăm đệ tử quyến thuộc, nghe Phật ra đời hiệu là Thanh Tịnh Quang Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn nói pháp vi diệu, đầu giữa cuối đều thiện, ta dẫn các đệ tử ra khỏi núi sâu, bay ngang qua ao sau vườn cung vua. Thấy các thể nữ đang tắm trong ao bèn nhìn xuống và sinh tâm ái nhiễm. Thế là ta và các đệ tử đều mất thần túc, rơi xuống trong vườn. Khi ấy, ta tức giận cũng vì đi cầu Phật mà phải mất thần túc.

Thấy năm trăm đàn ông ở trong vườn, các thể nữ chạy vào thưa vua. Vua ra lệnh tùy tùng dẫn họ vào để hỏi. Họ đến nơi, vua hỏi: –Các ông là ai?

Trả lời:

–Chúng tôi là những người học đạo tiên trên núi. Trong núi tụng tập chú thuật, có thể di chuyển mặt trời, mặt trăng, đổi đêm thành ngày, đổi ngày thành đêm cho đến tai nghe tiếng rất xa. Năm trăm đệ tử quyến thuộc của tôi nghe Phật ra đời hiệu là Thanh Tịnh Quang, tôi đưa các đệ tử ra khỏi núi sâu, bay ngang qua ao tắm sau vườn vua, thấy các thể nữ liền sinh tâm ái nhiễm nên đều mất thần túc, phải ở lại trong vườn.

Vua hỏi:

–Các ông ở trong núi sâu học đạo tiên, đến nay là bao lâu? Trả lời:

–Đã hai mươi hai tiểu kiếp.

Vua lại hỏi:

–Qua bao kiếp số học đạo, tâm như chết, không lay không động.

Vì sao còn tâm dục để phải mất thần túc?

Trả lời:

–Vì vốn cho rằng đạo chân thật là thần linh đệ nhất, vọt lên chìm xuống đều tự tại theo ý muốn. Không ngờ hôm nay bỗng nhiên mất

đạo. Thật xấu hổ với Thánh vương! Tùy Thánh vương trị phạt, Vua nói:

–Ông vốn học đạo đã hai mươi hai tiểu kiếp, hình khô, tâm mỏi mệt mà sự tu tập không chân chánh. Giống như người ngu si tìm của báu trong hư không. Đối với pháp chân đế lại không đạt được thật tướng. Bậc thầy mà các ông đang tìm cầu là Như Lai Đẳng Chánh Giác, gần núi Nhạc Trĩ. Tôi sẽ đưa các ông đến chỗ Phật. Nếu Phật có dạy bảo gì thì hãy phụng hành làm theo.

Khi ấy đại vương sửa soạn đủ năm nghi vệ, dẫn quyến thuộc và năm trăm người học đạo tiên đến núi Nhạc Trĩ. Vua xuống xe, cởi kiếm, bỏ mũ, từ bỏ năm nghi vệ rồi đi bộ đến chỗ Phật, đầu mặt lạy sát chân Phật và ngồi qua một bên. Bỗng nhiên vua đến trước Phật thưa:

–Bạch Thế Tôn! Năm trăm người này học đạo tiên trên núi đã hai mươi hai tiểu kiếp, nghe Phật ra đời nên muốn đến diện kiến. Khi bay qua sau cung, vì tham đắm ái dục nên bị mất thần túc. Cúi xin Đức Thế Tôn nói pháp vi diệu để họ được năm đạo thần thông trở lại.

Phật bảo đại vương:

–Năm trăm người này đã tu căn lành, nhưng thành thì liền hoại, không bao giờ đạt cứu cánh. Vì xưa làm trưởng giả, thấy Tỳ-kheo khất thực mà sân giận rủa: “Khiến cho ông không có tay chân”. Qua vô số kiếp làm Hung Ức thần vương ở giữa hai núi Đại Thiết Vi và núi Hắc, bị quả báo không có ánh sáng của mặt trời, mặt trăng. Trước đây còn ở nhân gian lấy cột trụ bố thí cho người, do ân huệ một lần cúng dường Phật-bích-chi, sau được làm người học đạo tiên trong núi. Do tâm dục phát khởi nên phải mất thần túc. Duyên này đã có từ lâu chứ chẳng phải mới hôm nay. Sau khi năm trăm người này qua đời đều sinh vào cõi Phật Vô Nộ. Phật ấy giảng cho họ về sinh, già, bệnh, chết, mười hai nhân duyên, khổ không có gốc khổ, tập, diệt, đạo quả cũng như vậy.

Sau khi nghe Phật dạy, ý vua bừng sáng và cũng muốn sinh vào cõi Phật Vô Nộ.

Bấy giờ, quốc vương và năm trăm tiên nhân liền đứng dậy lạy Phật rồi lui ra.

 

Phẩm 31: HƯƠNG ÂM THẦN

Biết tâm niệm của chúng hội, Đức Thế Tôn liền nhập định ý Tam-muội vô hình, theo âm tiếng của chúng sinh mà đến cứu hộ họ.

Xưa ở nhân gian, ta làm Hương Âm thần vương, coi giữ một cõi Diêm-phù-đề, hai cõi Diêm-phù-đề, cho đến hằng hà sa cõi Diêm-phùđề. Quyến thuộc nam nữ lấy hương thơm làm thức ăn. Áo mặc phục sức đều xông ướp hương thơm. Hoặc sinh vào cõi Uất-đan-việt ở phương Bắc, Câu-da-ni, Phất-vu-đãi, sinh nơi nào cũng làm Hương Âm thần vương, sống một kiếp, hai kiếp, ba kiếp, cho đến vô số a-tăng-kỳ kiếp. Biết có Phật, có Pháp, có Tỳ-kheo Tăng, tâm luôn xa lìa, không tham muốn. Vì sao? Vì tham đắm năm dục, lấy hương thơm làm vui, trong hương thơm không nghe tiếng nào khác, chỉ nghe ca hát vui thích về năm dục, cả ngày lẫn đêm không biết nhàm chán. Có tri thức thiện xưa tu căn lành, từ đất vọt lên, hiện nửa thân người, nói với ta:

–Nơi này vui lắm sao mà tham đắm đến thế? Đây chẳng phải là hạnh chân thật thanh tịnh. Hãy vứt bỏ hương xông ướp để được chỗ an lạc. Hương thơm này là sóng nắng, là huyễn, là hóa. Nay Phật đang ở nơi đời, hãy đến thọ giáo để được hương thơm thanh tịnh bay tỏa khắp mọi nơi.

Nghe vậy, Hương Âm thần vương rất vui mừng, nói:

–Lành thay! Lành thay! Này bậc tri thức thiện, tôi muốn ông đưa tôi thấy hương thơm thanh tịnh. Nay trong lúc Phật còn ở đời hãy cùng nhau đến lễ lạy.

Khi ấy, Địa thần vọt lên khỏi đất, nói với Hương Âm thần vương:

Như Lai Vô Sở Trước
Nay đang ở phương Nam
Trong thai quán thanh tịnh
Quyến thuộc vô biên số.
Xông đốt các hương thơm
Treo cờ phướn, lọng báu
Cúng dường như hằng sa
Hương giới đức thâm diệu.
Bay tỏa khắp mười phương
Nếu ai ngửi hương ấy
Quyết đắc đạo vô thượng
Ông hãy đưa quyến thuộc.
Đi đến Diêm-phù-đề
Nhất tâm quy y Phật
Sẽ được diện kiến Phật
Đức của Phật mênh mông.
Đều theo các bản hạnh
Vừa nghe nghĩa ba câu
Thành đạo ngay tại chỗ
Định lực ba không tuệ.
Mười tám pháp bất cộng
Tướng đại nhân tốt đẹp
Sau ông cũng đạt được
Thân màu vàng ròng đỏ.
Mềm mại không dính bụi
Pháp thân định trí tuệ
Ông sẽ được đầy đủ
Đến đó chớ sợ sệt.
Chánh tâm, đừng nghi ngờ
Dũng mãnh không thoái lui
Nhanh như sư tử bước
Phân biệt quán thân tâm.
Hiểu đều không, tự tại
Nhãn thức vốn không sắc
Trừ đối không tạo cấu
Nên hành ba pháp môn.
Nay, sau và chặng giữa
Đắc tịnh ba thông tuệ
Pháp tổng trì vô ngại
Tưởng vô thường, vô lạc.
Kiếp số tạo bất thiện
Lửa tuệ thiêu chốt lát
Vàng bạc báu lưu ly
Tu-di bằng bảy báu.
Bị lửa kiếp thiêu đốt
Hành báo không thể mất
Như Lai giáo hóa đời
Thương họ, không vị kỷ.
Sinh bất cứ nơi nào
Diệt ràng buộc cho người
Như người bắn trên không
Cung tên rơi xuống đất.
Cúng dường các ruộng phước
Không chọn là Hiền thánh
Cũng như uống thuốc độc
Tìm thuốc giải khắp nơi.
Khí độ càng bốc mạnh
Không lâu liền qua đời
Có tri thức thiện xưa
Trao cho thuốc giải độc.
Lần lượt không chọn lựa
Gặp được pháp giải độc
Bố thí làm nghiệp phước
Không lựa chọn cao thấp.
Được bậc Thánh khen ngợi
Là tối tôn bậc nhất.

Nghe Địa thần vọt lên nói như vậy, Hương Âm thần vương tâm khai ý mở, lạy sát đất, nói:

–Ông hãy làm thầy tôi, chỉ dạy sự tối tăm ngu dốt của tôi. Nay tôi ngu mê không phân biệt đâu là chân ngụy. Hãy nhận sự sám hối lo lắng ngu si của tôi.

Khi ấy, Địa thần liền vọt lên, hiện thân kim sắc Phật với ba mươi hai tướng, phóng ra ánh sáng lớn, dùng lực thần túc đón Hương Âm thần vương đến thai quán. Trong chúng hội chẳng ai hiểu biết gì cả.

Phật bảo chúng hội:

–Từ vô số a-tăng-kỳ kiếp Ta từng là lớn là nhỏ, nhập vào chỗ vi tế mà không bị chướng ngại. Có lúc ở trên trời giáo hóa trong kiếp số. Có lúc ở loài người chịu khổ thay thế cho họ. Có lúc ở trong loài súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục, phân thân giáo hóa, không chỗ nào mà không vào.

Khi ấy Hương Âm thần vương và bảy mươi hai ức quyến thuộc đều phát tâm vô thượng, trụ vào địa Bất thoái chuyển.

 

Phẩm 32: ĐỊA THẦN

Khi ấy, trong chúng hội có Bồ-tát tên Thiện Nghiệp, từ tòa ngồi đứng dậy, trịch bày vai phải, gối phải quỳ sát đất, chấp tay thưa Phật:

–Con có điều nghi ngờ, muốn thưa Như Lai nhưng không dám.

Phật bảo Bồ-tát Thiện Nghiệp:

–Ông cứ hỏi tự nhiên. Ta sẽ phân biệt rõ ràng cho ông.

Bồ-tát Thiện Nghiệp bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Trong sáu đại chúng thần, vị nào là tối diệu nhất? Địa, thủy, hỏa, phong, không hay là thức?

Đức Phật liền dùng thần túc làm cho Địa thần ấy từ dưới đất vọt lên, đứng trên đất. Thủy thần từ dưới nước vọt lên, đứng trong nước. Hỏa thần từ trong lửa vọt lên, đứng trong lửa. Phong thần từ gió vọt ra, đứng trong gió. Không thần từ hư không vọt ra, đứng trong hư không.

Thức thần từ thức vọt ra, đứng trong thức.

Phật bảo Bồ-tát Thiện Nghiệp:

–Ông hãy đích thân đến hỏi sáu vị thần này đi.

Bồ-tát Thiện Nghiệp hỏi Địa thần:

–Trong sáu đại, ông là tối diệu phải không?

Địa thần trả lời:

–Trong sáu thần, tôi là tối thắng. Vì sao? Vì tôi sinh ra vạn vật, nào núi, sông, đá, tường, cây, cỏ, hoa quả v.v… tất cả đều nương vào tôi mà đứng. Tất cả chúng sinh loài hữu tình cũng nhờ tôi mà được tồn tại.

Do đó tôi là tối thắng nhất.

Bồ-tát Thiện Nghiệp hỏi Thủy thần:

–Trong sáu thần, ông là tối diệu phải không?

Thủy thần trả lời:

–Trong sáu thần, tôi là tối diệu. Vì sao? Vì nếu không có nước thì đất bị khô cạn, không được thấm nhuần, cây cỏ, hoa quả đều bị khô héo. Loài chúng sinh thuộc hữu tình sẽ bị chết khát. Vì thế, tôi là tối thắng.

Bồ-tát Thiện Nghiệp lại hỏi Hỏa thần:

–Trong sáu thần, ông là tối thắng phải không?

Hỏa thần trả lời:

–Trong sáu thần, tôi là tối thắng. Vì sao? Vì nếu không có lửa thì chất nuôi dưỡng vạn vật phát triển làm sao chín được. Nếu gặp sương, mưa đá, băng lạnh, điện chớp… tất cả chúng sinh loài hữu tình sẽ bị chết cóng. Vì thế, tôi là tối thắng.

Bồ-tát Thiện Nghiệp lại hỏi Phong thần:

–Trong sáu thần, ông là tối thắng phải không?

Phong thần trả lời:

–Trong sáu thần, tôi là tối thắng. Vì sao? Vì nếu không có gió thì thân, rễ, mầm, cây cối, hoa quả v.v… không thể nào phát triển được. Tất cả chúng sinh hữu tình tới lui, lay động đều nhờ vào gió của tôi. Vì thế tôi là tối thắng.

Bồ-tát Thiện Nghiệp lại hỏi Không thần:

–Trong sáu thần, ông là vi diệu phải không?

Không thần trả lời:

–Trong sáu thần, tôi là vi diệu. Vì sao? Vì núi sông, tường đá, cây cối, hoa quả v.v… tất cả chúng sinh hữu tình tới lui, qua lại tôi đều dung nạp để tất cả được hòa nhau, qua lại thông suốt. Vì thế tôi là tối thắng.

Bồ-tát Thiện Nghiệp lại hỏi Thức thần:

–Trong sáu thần, ông là tối thắng phải không?

Thức thần trả lời:

–Trong sáu thần, tôi là tối thắng. Vì sao? Vì năm thần trên là đầy tớ của tôi. Tôi là vua của họ. Đi tới, qua lại, đẹp hay xấu, nên tránh biết để tránh, nên đến biết để đến. Họ đều là đui mù, chỉ có tôi là mắt sáng. Vì thế tôi là tối thắng.

Bấy giờ, Địa thần thưa với Bồ-tát Thiện Nghiệp:

–Điều này không đúng. Vì sao? Vì luôn bị thần thức lừa gạt, không chỉ cho đường tắt. Ngã muốn được cứng rắn thì lại cho mềm mại. Khi ngã cần mềm mại thì lại đưa cứng cỏi. Ngã muốn đến phương Nam, lại dẫn đến phương Bắc. Trong các lũ giặc không gì bằng thức thần. Tự mình xưng là vua, điều này không như thế được.

Thủy thần thưa với Bồ-tát Thiện Nghiệp:

–Những gì thức thần nói đều không đúng. Vì sao? Vì nước có khả năng thấm nhuần, làm vạn vật phát triển. Tánh ngã cần lạnh, lại đưa cho ngã nóng. Đốt lửa làm tiêu băng giá, không còn tánh lạnh nữa, đó là do thức lừa gạt. Do đó nên thức nói không đúng.

Hỏa thần thưa với Bồ-tát Thiện Nghiệp:

–Thức nói không đúng gì cả. Vì sao? Vì lửa có thể làm cho vật chín, cũng cho ánh sáng và cây cối, hoa quả theo thời gian mà phát triển, nếu không có lửa thì thức nương vào đâu? Do đó mà thức nói không đúng.

Phong thần thưa với Bồ-tát Thiện Nghiệp:

–Thức nói không đúng. Vì sao? Vì vạn vật phát triển, đi tới qua lại, lay động mà thức ngăn chận không cho ngã chuyển động. Do đó mà thức nói không đúng.

Không thần thưa với Bồ-tát Thiện Nghiệp:

–Thức nói cũng không đúng. Vì sao? Vì pháp không của tôi thì không có vật nào là không được dung nạp. Dung nạp vạn loại tới lui, qua lại, thông suốt, không chướng ngại. Tất cả đều là không của tôi. Nếu không có không của tôi thì thức nương tựa vào đâu? Do đó mà thức nói không đúng.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn hỏi Bồ-tát Thiện Nghiệp:

–Những gì mà sáu đại này bàn luận là có cú nghĩa hay không có cú nghĩa? Có vị nghĩa hay không có vị nghĩa? Có tự nghĩa hay không có tự nghĩa?

Bồ-tát Thiện Nghiệp thưa:

–Bạch Thế Tôn! Tánh của năm đại đều bằng nhau. Vì sao? Vì nếu địa giới nhiều mà thủy giới ít thì không thành tựu.

Nếu thủy giới nhiều mà hỏa giới ít thì không thành tựu.

Nếu hỏa giới nhiều mà phong giới ít thì không thành tựu.

Nếu phong giới nhiều mà không giới ít thì không thành tựu.

Nếu không giới nhiều mà thức giới ít thì không thành tựu.

Nếu năm thức bằng nhau, thức không phân biệt được thì không thành tựu.

Bấy giờ, Bồ-tát Thiện Nghiệp nói kệ:

Pháp thức thần không hình
Lấy năm đại làm nhà
Phân biệt nghiệp thiện ác
Đến đi, chân ngụy khác.
Thức chỉ chỗ đường lành
Đi đến đường an ổn
Thức là vua thứ sáu
Các đại khác không bằng.

Phật bảo Bồ-tát Thiện Nghiệp:

–Những gì ông hỏi đều là do thần lực của Như Lai.

Khi ấy, trong chúng hội có một trăm bảy mươi ức chúng sinh hiểu biết pháp thâm diệu và tất cả đều phát tâm cầu đạo Chánh chân vô thượng.

 

Phẩm 33: NGƯỜI

Bấy giờ, trong chúng hội có Bồ-tát tên Pháp Ấn, nghe Như Lai giảng nói sáu đại chúng sinh thọ thân năm ấm, phân biệt trong ngoài hiểu rõ đều là không, hoàn toàn không thật có, trong lòng nghi ngờ rằng thức làm loạn tưởng, chẳng phải pháp chân thật. Ai là người? Sao gọi là người? Người từ đâu sinh?

Phật bảo Bồ-tát Pháp Ấn:

–Lành thay! Lành thay! Những gì ông hỏi đều là do oai thần của chư Phật ứng tiếp. Vì sao? Vì vô số a-tăng-kỳ hằng hà sa chư Phật ở quá khứ và vô số hằng hà sa chư Phật ở vị lai đều phân biệt nguồn gốc con người với danh hiệu, tên họ không thể nghĩ bàn. Hàng Nhị thừa, La-hán, Phật-bích-chi không thể nào lường tính được. Nay ông hãy lắng nghe cho rõ, suy nghĩ thật kỹ. Ta sẽ giảng nói cho ông.

Ví như thế giới Ta-bà ở cõi Diêm-phù-đề có hạt giống chúng sinh, điều này không đúng. Vì sao? Vì chẳng phải tánh chân, chẳng phải loài người.

Cõi Đông: Phất-vu-đãi cũng chẳng phải loài người.

Cõi Bắc: Uất-đan-việt cũng chẳng phải loài người.

Cõi Tây: Câu-da-ni cũng chẳng phải loài người.

Trừ cõi Phật Vô Lượng Thọ và cõi Phật A-súc, trừ cõi Trang Nghiêm, cõi Phật Hư Không, trừ các Bồ-tát trong chúng hội hôm nay của Ta, còn lại chẳng phải người.

Vì sao? Vì từ xưa đến nay, cho đến lúc thành Phật, trong thời gian ban đầu không tạo ác. Đây gọi là loài người.

Giống như có người tu khẩu nghiệp đối với người không tu, đó gọi là loài người.

Người thọ pháp ba quy đối với người không thọ, đó gọi là loài người.

Người phụng trì năm giới đối với người không phụng trì, đó gọi là loài người.

Người tu hành mười thiện đối với người không tu hành, đó gọi là loài người.

Người hướng Tu-đà-hoàn đối với người không hướng, đó gọi là loài người.

Người đắc Tu-đà-hoàn đối với người không đắc, đó gọi là loài người.

Người hướng Tư-đà-hàm đối với người không hướng, đó gọi là loài người.

Người đắc Tư-đà-hàm đối với người không đắc, đó gọi là loài người.

Người hướng A-na-hàm đối với người không hướng, đó gọi là loài người.

Người đắc A-na-hàm đối với người không đắc, đó gọi là loài người.

Người hướng A-la-hán đối với người không hướng, đó gọi là loài người.

Người đắc A-la-hán đối với người không đắc, đó gọi là loài người.

Người hướng Phật-bích-chi đối với người không hướng, đó gọi là loài người.

Người đắc Phật-bích-chi đối với người không đắc, đó gọi là loài người.

Người hướng Phật đạo đối với người không hướng, đó gọi là loài người.

Người đắc Phật đạo đối với người không đắc, đó gọi là loài người.

Cho nên nói Nhân Tôn Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn là loài người.

Phật bảo Bồ-tát Pháp Ấn:

–Hãy lắng nghe cho kỹ. Chư Phật quá khứ đối với hiện tại, vị lai, đó gọi là loài người.

Hiện tại đối với quá khứ, vị lai, đó gọi là loài người. Vị lai đối với quá khứ, hiện tại, đó gọi là loài người.

Đối với pháp ba đời thì hiện tại đối với quá khứ, vị lai là đệ nhất. Vì sao? Vì trong hiện tại, Như Lai có thể hành pháp quá khứ, vị lai. Vì sao? Vì quá khứ đã qua, vị lai chưa đến, còn pháp hiện tại thì tự nhiên. Chẳng phải quá khứ có thể diệt hiện tại, vị lai. Chẳng phải vị lai có thể diệt quá khứ, hiện tại.

Khi ấy, Đức Thế Tôn nói kệ:

Quá khứ Đẳng Chánh Giác
Dạy cứu độ chúng sinh
Phân biệt nguồn gốc người
Thượng, trung, hạ vi diệu.
Hiện tại Phật tối thắng
Rõ khứ, biết vị lai
Diệt trừ kiết trước sau
Chiếu sáng như mặt trời.
Những chúng sinh khổ hạnh
Hai chân và bốn chân
Giảng nghe pháp cam lồ
Đầy đủ trừ các tưởng.
Chư Thiên hành mười thiện
Từ một, hai mươi hai
Trên trời, dưới chẳng phải
Tạo công đức khác nhau.
Như Lai đủ các tướng
Hành thiện không cấu uế
Tánh đức như ánh sáng
Hạnh thanh tịnh không dơ.
nếu ai sinh phỉ báng
Nói Phật đạo không thật
Chết đọa ngục A-tỳ
Chư Phật không cứu được.
Hơi miệng hôi tanh dơ
Thân bị phiền não đốt
Niệm ác theo bùng dậy
Đều do tội phỉ báng.
Hành thiện tu công đức
Thần thức đến cõi lành
Như người vào ao tắm
Sạch sẽ hết bụi dơ.
La-hán, Phật-bích-chi
Đoạn diệt không còn sinh
Không còn nghĩ thân ta
Xa lìa năm đường khổ.
Những pháp xưa Phật hành
Được chư Phật chấp thuận
Được mọi người tôn quý
Nên hiệu Tôn Trung Tôn.

Nói kệ xong, Đức Thế Tôn nói với Bồ-tát Pháp Ấn:

–Đó gọi là loài người.

Bấy giờ, Bồ-tát Pháp Ấn liền đứng dậy, trịch bày vai phải, gối phải quỳ sát đất, chấp tay thưa Phật:

–Lành thay! Bạch Thế Tôn! Thế Tôn nói nghĩa ấy rất hay. Đối với Như Lai thì chúng con trong hội này chẳng phải là loài người. Vậy làm thế nào để thị hiện được làm loài người?

Phật bảo Bồ-tát Pháp Ấn:

–Hiểu biết các pháp là không, không có sở hữu, không có đây, không có kia, không thấy có đây – kia. Đó gọi là loài người.

Quan sát pháp tánh không có quá khứ, hiện tại và vị lai. Hiểu biết pháp tánh là không tịch, không hai. Đó gọi là loài người.

Đối với bốn đạo quả, có người thành tựu, có người không thành tựu, không thấy có một, không thấy có hai. Đó gọi là loài người.

Đối với tướng của các pháp, không thấy trang nghiêm, không thấy có trang nghiêm, hiểu rõ đều là không tịch, chẳng phải một, chẳng phải hai. Đó gọi là loài người.

Cõi Phật thanh tịnh, trừ sạch dâm nộ si, cũng không thấy tịnh, không thấy bất tịnh. Hai việc đều như hư không. Đó gọi là loài người.

Phân biệt ba mươi bảy phẩm trợ đạo có thành có bại, không thấy trong cõi dục có người, không có người. Đó gọi là loài người.

Phát tâm rộng lớn không vì riêng mình, làm an ổn cho chúng sinh, ở đâu đều không sợ, không thấy hữu trụ, không thấy vô trụ, hai việc đều bình đẳng. Đó gọi là loài người.

Phân biệt tâm không đắm nhiễm, giữ tâm giống như hư không, không bị lay chuyển; không thấy định, cũng không thấy không định. Đó gọi là loài người.

Hướng dẫn chỉ chỗ lành cho những chúng sinh tà kiến, lấy tám pháp chân chánh để rửa sạch tâm dơ; không thấy chánh, cũng không thấy không chánh. Đó gọi là loài người.

Đối với bốn bộ chúng: Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di có đạo tâm kiên cố, không bị tham đắm, không thấy giới hạnh có phạm hay không phạm. Đó gọi là loài người.

Như vậy, đối với pháp Như Lai thì pháp ấy càng làm lợi ích cho chúng sinh. Đối với Phật được trở lại tu các công đức, không luống qua một cách uổng phí.

Bấy giờ, trong chúng hội có bảy mươi ức chúng sinh đều phát tâm tâm cầu đạt Chánh chân vô thượng, đối với loài người tu hành Bất thoái chuyển.

 

Phẩm 34: HÀNH

Khi ấy, trong chúng hội có Bồ-tát tên Tạo Hạnh từ tòa ngồi đứng dậy, trịch bày vai phải, chấp tay thưa Phật:

–Lành thay! Bạch Thế Tôn! Thế Tôn nói về loài người rất hay. Chẳng phải trước, chẳng phải sau, chẳng phải hai bên, chặng giữa. Vậy làm sao biết được quả báo của hành nghiệp?

Thân quá khứ chẳng phải hiện tại.

Thân hiện tại chẳng phải vị lai.

Thân vị lai chẳng phải quá khứ.

Hoặc bên trong tạo tác mà bên ngoài thọ quả báo.

Hoặc bên ngoài tạo tác mà bên trong thọ quả báo.

Thân phàm phu tạo tác mà thân Tu-đà-hoàn thọ quả báo.

Thân Tu-đà-hoàn tạo tác mà thân Tư-đà-hàm thọ quả báo.

Thân Tư-đà-hàm tạo tác mà thân A-na-hàm thọ quả báo.

Thân A-na-hàm tạo tác mà thân A-la-hán thọ quả báo.

Hoặc có chúng sinh đắc Tam-muội Từ mà không có Bi, Hỷ, Xả.

Có chúng sinh đắc Bi mà không có Từ, Hỷ, Xả.

Có chúng sinh đắc Hỷ mà không có Từ, Bi, Xả. Có chúng sinh đắc Xả mà không có Từ, Bi, Hỷ.

Có chúng sinh từ địa Phàm phu, không hướng đến địa Tín, địa Pháp mà lại thủ Tu-đà-hoàn.

Có chúng sinh không hướng đến địa Tín, địa Pháp, Tu-đà-hoàn mà lại thủ Tư-đà-hàm.

Có chúng sinh không hướng đến địa Tín, địa Pháp, Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm mà lại thủ A-na-hàm.

Có chúng sinh không hướng đến địa Tín, địa Pháp, Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm mà lại thủ A-la-hán.

Có chúng sinh không hướng đến địa Tín, địa Pháp, Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán mà lại thủ A-la-hán bỉ thử A-la-hán.

Có chúng sinh hướng đến Phật-bích-chi, rơi trở lại vào địa phàm phu.

Có chúng sinh hướng đến A-la-hán, rơi trở lại vào địa phàm phu.

Có chúng sinh hướng đến A-na-hàm, rơi trở lại vào địa phàm phu.

Có chúng sinh hướng đến Tư-đà-hàm, rơi trở lại vào địa phàm phu.

Có chúng sinh hướng đến Tu-đà-hoàn, rơi trở lại vào địa phàm phu.

Có chúng sinh từ địa Pháp rơi trở lại vào địa phàm phu.

Có chúng sinh từ địa Tín rơi trở lại vào địa phàm phu.

Những chúng sinh này đều có nghi ngờ với Như Lai. Cúi xin Thế Tôn hãy phân biệt rõ ràng để các chúng hội hoát nhiên đại ngộ.

Khi ấy, Đức Thế Tôn dạy Bồ-tát Tạo Hạnh:

–Lành thay! Lành thay! Những vấn đề ông hỏi đều là vị lai, hiện tại, quá khứ, cũng là quả báo hành nghiệp của chư Phật. Nay Ta sẽ phân biệt rõ ràng. Ông hãy lắng nghe cho rõ, suy nghĩ thật kỹ.

Thế nào, này Bồ-tát Tạo Hạnh! Ông muốn Như Lai nói về quả báo hành nghiệp trong vô lượng a-tăng-kỳ kiếp quá khứ hay muốn Như Lai nói về quả báo hành nghiệp trong vô lượng a-tăng-kỳ kiếp vị lai, hay muốn Như Lai nói về quả báo hành nghiệp trong vô lượng a-tăngkỳ kiếp trong hiện tại?

Bồ-tát Tạo Hạnh bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Xin tạm gác quả báo hành nghiệp thuộc quá khứ, vị lai sang một bên. Con muốn nghe quả báo hành nghiệp hiện tại của thân Như Lai.

Phật bảo Bồ-tát Tạo Hạnh:

–Quả báo hành nghiệp của vô lượng a-tăng-kỳ kiếp quá khứ cũng ở hiện tại.

Quả báo hành nghiệp của vô lượng a-tăng-kỳ kiếp vị lai cũng ở hiện tại.

Quả báo hành nghiệp hiện tại tạo tác cũng là nhân duyên của quá khứ và vị lai thọ quả báo.

Nay Ta sẽ giảng nói cho ông về điều này.

Xưa kia Ta từng tu vô số khổ hạnh, tu hạnh thanh tịnh hoặc hạnh bất tịnh. Tu hạnh trời, tu hạnh người. Ban đầu cầu Phật đạo, các lậu đã đoạn tận, có thần thông biến hóa rồi bỗng nhiên đại ngộ. Ba cõi đều khổ, chỉ có Ta là vui. Tu khổ hạnh bên bờ sông Ni-liên sáu năm, mỗi ngày ăn một hạt mè, một hạt gạo. Đây là do lúc xưa Ta phạm bốn lỗi về miệng với một vị Duyên giác, đoạn tuyệt sự bố thí, nên nay thọ quả báo này.

Khi Ta thành Phật, có năm trăm đồng tử rêu rao, phỉ báng, mắng chửi và đến ngã tư ngõ hẻm nói: “Đạo Phật không chân thật”. Lúc đó, dân chúng trong nước có người tin, có người không tin. Người tin là hàng địa Tín, địa Pháp. Người không tin là hàng ngoại đạo phàm phu. Những người này căn lực đã thành tựu, không còn bị chướng ngại.

Phật ra đời chiếu sáng khắp nơi. Địa ngục được chấm dứt, ngạ quỷ được no đủ, súc sinh không còn mang vác, chở nặng. Ví như Ta bị Đề-bà-đạt-đa lấy đá ném làm ngón chân Phật chảy máu. Lúc ấy, Ta tránh né đi về phương Đông: đến cõi Phất-vu-đãi, phương Bắc: đến cõi Uất-đan-việt, phương Tây: đến cõi Câu-da-ni. Ta lại lánh từ cõi trời Đao-lợi lên đến trời Tam Thập Tam. Vậy mà viên đá ấy cứ vẫn theo Ta. Ta lại né trở về chỗ cũ và bị đá làm tổn thương.

Ta ở nước Ma-kiệt-đà, trong vườn Họa Ám thanh vắng mà kinh hành. Khi ấy có một trưởng giả tên Thi-lợi-quật thỉnh mời Ta để cúng dường. Ta liền nhận lời mời và dẫn Tôn giả A-nan đi theo.

Nhà trưởng giả có bảy lớp cửa, mỗi cửa đều có người canh giữ. Theo thường pháp của chư Phật quá khứ, hiện tại và vị lai là im lặng thọ thỉnh chứ không nhận lời thỉnh bằng cách khác. Đệ tử xuất gia của Ta đạo hạnh cũng như vậy. Khi Ta đến cửa thì nghe bên trong nhà trưởng giả Thi-lợi-quật trỗi âm nhạc để vui chơi nên quên hẳn là Ta đã đến đứng bên ngoài một ngày một đêm rồi.

Phật bảo Tôn giả A-nan:

–Ông hãy đi khất thực! Còn Ta đứng ở đây.

Lúc đó có Mã tướng đi ngang qua chỗ Phật, Phật theo xin thức ăn. Mã tướng nói:

–Tôi không có thức ăn, chỉ có lúa mạch chín, tôi sẽ đem đến cho ông.

Thế rồi Mã tướng lấy lúa mạch chín cúng dường Phật, Phật liền thọ thực. Thấy vậy, Mã tướng cho là Phật ăn.

Có vị trời tên Tinh Luyện đem thức ăn đi, mọi người cho là Phật ăn. Thật là Phật không ăn, chỉ vì độ người kia nên Phật hiện thọ thực và Phật đứng nơi cửa chín mươi ngày như vậy.

Tôn giả A-nan cũng đi khất thực chín mươi ngày.

Như Lai dùng oai thần không cho quốc vương và quần thần biết Phật đang đứng nơi ấy. Vì sao? Vì sợ họ sinh ngã mạn, phỉ báng. Nếu Phật không dùng oai thần thì người khác làm sao trông thấy được.

Khi ấy, trưởng giả Thi-lợi-quật có chút việc đi ra ngoài thành dạo chơi. Thấy Phật đứng ngoài cửa, ông ta thưa:

–Phật đến đây khi nào?

Phật nói với trưởng giả:

–Trước đây ông đã thỉnh Ta, nên Ta mới đến. Ông ở trong vui chơi thích thú. Ta đến đây đã chín mươi ngày rồi. Ta định quay về lại vườn Họa Ám nhưng được Mã tướng cúng dường lúa chín của ngựa ăn.

Trưởng giả Thi-lợi-quật rất xấu hổ, năm vóc gieo xuống đất, thưa:

–Cúi xin Thế Tôn hãy rủ lòng tha thứ và đừng giận con. Hãy cho phép con sám hối lỗi lầm.

Phật bảo trưởng giả:

–Duyên này đã có từ lâu, chứ chẳng phải mới đây đâu.

Khi ấy, trưởng giả thỉnh Phật vào trong nhà cúng dường tứ sự. Phật giảng pháp làm cho ông đoạn sạch các trần cấu và đắc pháp nhãn thanh tịnh.

Phật dạy:

–Vào thuở xưa, có một thời Ta ở tại thành Tỳ-xá-ly. Khi mới thành Phật chưa được bao lâu thì Lục sư ngoại đạo hưng thịnh. Ta có một ngàn hai trăm năm mươi người đệ tử. Một ngàn một trăm người đều đắc A-la-hán với sáu thông thấu triệt.

Lúc đó, có cô gái Chiên-già-ma-na-thị, là đệ tử của A-xà-la-síxá-khâm-bà-la, thọ minh giáo của thầy. Mỗi buổi sáng cô ta đến chỗ Phật, bên ngoài hiện pháp thanh tín nữ nhưng bên trong học giáo của tà sư. Thường xuyên qua lại, cố muốn cho mọi người thấy và lấy cỏ nhét vào bụng, càng ngày càng làm cho lớn dần. Sau đó, cô ta lấy bồn gỗ cột vào bụng, giống như người phụ nữ sắp sinh con.

Khi ấy, tà sư hỏi cô ta: “Người của thai này là ai?”.

Cô ta thưa: “Hàng ngày con đến chỗ Sa-môn Cù-đàm cho nên con có thai này”.

Tà sư liền tức giận, nói: “Dám lừa gạt đệ tử của ta à. Đệ tử này sắp sinh lên cõi trời Phạm thiên, vậy mà làm hủy nhục đệ tử ta đến nỗi như thế này”.

Nói rồi, tà sư dẫn các đệ tử và cô gái ấy đến chỗ Phật. Trong lúc Như Lai đang giảng pháp cho vô số chúng Tăng thì Phạm chí lớn tiếng nói: “Sa-môn Cù-đàm này đã phạm dâm dục, thật không phải là người đắc đạo mà tự xưng là đã đắc đạo. Những sự biến hóa đều là huyễn thuật, chẳng phải đạo chân thật”.

Rồi chỉ vào cô gái, Phạm chí nói tiếp: “Mọi người có thấy không? Vì ông ta yêu thương cô gái này của tôi nên cô ta phải mang thai”.

Nói xong, ngay lúc đó Đế thích hóa làm một con chuột vàng, chui vào nơi người cô ta, cắn đứt dây làm bồn gỗ rơi xuống đất. Thấy vậy, mọi người quở mắng: “Đám đồ đệ của ông dám đến hủy báng Thánh nhân à. Hãy rút ra khỏi nước ngay”.

Xưa có một thời ở nước Cẩm-tỳ-lê, Ta ngồi thiền định, hành đạo bên một gốc cây, trải qua chín mươi ngày nhưng vẫn không dời đổi chỗ. Khi đó, có Lục sư tên Kim-na-kim-ly, có đệ tử nữ tên Tuân-đànan-đề nổi tâm ganh ghét và muốn làm chướng ngại công đức của Phật rồi tự khen ngợi đạo của thầy mình.

Cô ta nói: “Tôi có thể làm cho mọi người không ai đến cúng dường Phật, để danh tiếng của thầy tôi lan tràn ra bên ngoài”.

Cô ta nghĩ ra mưu kế: Hàng ngày đến chỗ Phật. Vào một ngày nọ, cô ta nhờ kẻ khác giết mình, đem chôn sau vườn của tinh xá. Sau đó tà sư đem tử thi ra nói: “Phật giết người”, làm cho tai tiếng hiềm chê lan ra ngoài, ai ai đều biết.

Thuở xưa, hông trái của Ta bị trúng gió độc nên sai Kỳ Vực đến trị. Kỳ Vực nói: “Cần phải có sữa bò, phân voi, xá-lợi Sa-tất-bát-thilợi-sa, hồ thục, nấu làm thuốc trị khỏi ngay”.

Thuở xưa, Ta ở trong một thôn nọ, du hành giáo hóa. Ta bị cọc ngựa đâm vào chân, từ trên thủng xuống làm cho đau đớn vô cùng và sai Kỳ Vực đến trị.

Một thuở nọ Ta bị đau đầu giống như bị hai núi Tu-di ép lại làm cho đầu nhức, đau đớn không thể tả nổi. Nay mặc dầu Ta đã thành Phật, chấm dứt các lậu, các điều thiện đã được chứa nhóm, nhưng bản hạnh vốn không mất.

Từ vô số kiếp, Ta đã tu hành thanh tịnh, quả báo của hành nghiệp khó có thể lìa. Thân Phật còn như vậy, huống chi là La-hán, Phật-bíchchi, làm sao tránh khỏi quả báo của hành nghiệp.

Khi ấy, Đức Thế Tôn nói kệ với Bồ-tát Tạo Hạnh:

Bốn thành tựu tối thắng
Sống lâu vô số kiếp
Trời đất đều hủy hoại
Tu-di như tro bụi.
Hành nghiệp đi bên thân
Không chỗ nào trốn khỏi
Ta thành Tối Chánh Giác
Ba cõi không ai bằng.
Phải thọ chín quả báo
Nghiệp trước liên kết nhau
Ta có lực Tam-muội
Kim cang không ngăn được.
Không thể tránh nghiệp báo
Xả mà không thọ báo
Đời này Ta chấm dứt
Không có phân biệt nữa.
Vĩnh lìa đường tử sinh
Không tạo nghiệp ấy nữa
Người quá tham năm dục
Buông lung không cẩn thận.
Đời này và đời sau
Thường đọa chỗ hữu ái
Niết-bàn không chấp trước
Thị hiện pháp hữu vi.
Nếu không hiện giáo hóa
Chúng sinh khó độ được
Bát đẳng đạo vô vi
Đường đi của Hiền thánh.
Xa lìa các trói buộc
Không có pháp sinh diệt
Đạo là quán vô thường
Tư duy pháp bất tịnh.
Nhất tâm không lay động
Thành tựu các tướng tốt
La-hán, Phật-bích-chi
Đền trả nào do Ta.
Bị hành nghiệp đeo đuổi
Đi đâu để tránh khỏi
Xá-lợi Phật trí tuệ
Luôn hành công đức Phật.
Bị bệnh phải diệt độ
Đây chứng minh rõ ràng
Mục-liên có thần túc
Từng bước vượt Tu-di.
Phạm chí cầm cây đánh
Xương nát như hạt cải
A-la-hán Bà-kiệt
Chiến thắng rồng Nan-đà.
Khi sắp vào diệt độ
Tròng mắt rơi vô số
Tỳ-kheo-ni Kim Hoa
Thần đức khó thể lường.
Hóa làm vua Chuyển luân
Thống lãnh bốn thiên hạ
Qua đời nhập vô vi
Bị kiếm xẻ toàn thân.
Bích Chi tên Quang Minh
Đời không có pháp
Phật Theo đời, tuổi thọ hết
Vào vạc dầu diệt độ.
Hiện tại Ta đang nói
Nghiệp báo những người ấy
Nếu nói về quá khứ
A-tăng-kỳ hạnh Phật.
Kiếp này đến kiếp khác
Nghiệp báo không thể hết
Vị lai lại có Phật
Ở ngay trên tòa này.
Cũng sẽ nói nghiệp báo
Giống như nay không khác
Bồ-tát Ma-ha-tát
Tinh tấn không biếng trễ
Nên mau lìa nghiệp báo
Không cho chúng đi theo.

Nghe Phật nói kệ này, Bồ-tát Tạo Hạnh hết mực kinh sợ, nhàm sinh tử luân hồi trong năm đường và tất cả đều phát tâm vô thượng, trụ vào địa Bất thoái chuyển.

 

Phẩm 35: PHÁP TRỤ

Bấy giờ, thấy chúng hội tịch nhiên thanh tịnh, thuần nhất không tạp loạn, Đức Thế Tôn đưa lưỡi dài rộng đến hai tai, phóng ra ánh sáng lớn lên đến vô lượng a-tăng-kỳ cõi. Thấy ánh sáng, chúng hội rất vui mừng khôn xiết, ca ngợi là điều chưa từng có.

Khi ấy, Đức Thế Tôn thâu ánh sáng lại và nói với Đại Bồ-tát Dilặc:

–Từ vô số kiếp đến nay, thân, khẩu, ý của Ta thanh tịnh, không

có vết dơ, được quả báo với ánh sáng thật tướng này. Đây là do không nói dối.

Phật lại bảo Đại Bồ-tát Di-lặc:

–Nay Ta giao phó kinh điển Bồ Tát Thai Hóa này cho ông. Ông hãy tuyên giảng, lưu hành rộng rãi. Nếu có thiện nam, thiện nữ nào đọc tụng kinh này, đem hương hoa cúng dường, nào hương vụn, hương bột, the lụa, cờ phướn, lọng báu, ca xướng âm nhạc v.v… thì công đức này rất nhiều, rất nhiều.

Nếu có thiện nam, thiện nữ không thể rốt ráo sáng chiều đọc tụng, dù chỉ trong khoảng chốt lát tâm nghĩ nhớ đến kinh này thì phước đức ấy cũng không thể tính kể. Vì sao? Vì thai kinh này là cha mẹ của chư Phật, là đứng đầu trong các kinh. Chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai cần y theo trong mẫu thai kinh mà giáo hóa, cứu độ chúng sinh quá hơn sắc thân trăm lần, ngàn lần, ức vạn lần cũng không thể tính kể được.

Phật lại bảo Đại Bồ-tát Di-lặc:

–Nếu có thiện nam, thiện nữ nào lễ bái cúng dường kinh điển này, muốn được diện kiến chư Phật nơi mười phương, nên nhất tâm quy mạng, không có tư tưởng nào khác, thì lập tức được thấy chư Phật khắp mười phương.

Nếu có thiện nam, thiện nữ nào phát đại thệ nguyện: “Con muốn làm cho địa ngục được chấm dứt, ngạ quỷ, súc sinh không còn bệnh phiền não”, rồi nhất tâm quy mạng đọc tụng kinh này thì các chúng sinh khổ não kia đều được giải thoát.

Phật bảo Đại Bồ-tát Di-lặc:

–Duyên Ta nay đã tận, không còn giáo hóa được nữa. Kinh này được lưu giữ ngàn năm, đến hai ngàn năm hoặc ba ngàn năm. Nay nên phân làm ba phần:

  • Một phần giao cho A-nan, đệ tử mà Ta để lại giáo hóa.
  • Một phần giao cho Long vương Nan-đà-ưu-bát-la.
  • Phần còn lại, Di-lặc cùng Ta giảng nói để cho tất cả chúng sinh đều được nghe biết, không được để gián đoạn.

Này Di-lặc! Khi ông thành Phật, ông nên giảng nói rộng rãi kinh này. Chúng sinh mười phương thiên hạ, cho đến loài côn trùng, loài người đều nhờ kinh này mà được giải thoát.

Này Di-lặc! Sau khi ông nhập Niết-bàn, kinh này lưu hành trên đời hai mươi mốt kiếp, sau đó mới đoạn mất. Nếu có thiện nam, thiện nữ nào đọc tụng kinh này, tâm không tán loạn, phát đại thệ nguyện: “Muốn cho chúng sinh đều đồng một thệ nguyện như ta, đồng thời đều sinh vào nước Thanh Tịnh, phụng thờ lễ kính chư Phật Thế Tôn” thì đạt được nguyện ấy, không bị trở ngại.

Phật bảo Bồ-tát Di-lặc:

–Ông nên vâng giữ giáo pháp của Ta. Hãy nghĩ đến ân Phật. Ai muốn báo đáp ân Phật thì phải nhất tâm phụng trì cúng dường kinh Thai Hóa, công đức phước lợi này là không thể nói hết được. Vì sao? Vì kinh Thai Hóa này là kho báu của các pháp, được chư Phật ấn chứng. Chỉ có Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn mới có thể mở bày làm rõ ấn phong này để thị hiện cho chúng sinh.

Này Di-lặc! Ông nên biết: Những gì mà Ta nói trước sau đều ở trong kinh thâm diệu Tam-muội tổng trì, nếu ông quên một chữ, một câu thì tội này còn nhẹ. Còn như với kinh này mà quên một câu, một chữ thì tội ấy rất nặng. Vì sao? Vì kinh này là cha mẹ của chư Phật Thế Tôn.

Sau khi Đức Thế Tôn nói xong, khắp mặt đất chấn động đủ sáu cách. Các Bồ-tát trong chúng hội nói với nhau:

–Đức Phật Thích Ca Văn lìa pháp tánh không lâu, chắc chắn sẽ hiện sắc tướng trở lại như cũ.

Khi ấy trong chúng hội có tám mươi bốn ức chúng sinh đều phát tâm vô thượng, trụ Bất thoái chuyển. Các Bồ-tát bỗng nhiên biến mất và đều lìa thai hóa, cúng dường kim quan xá-lợi của Phật Thích Ca Văn.

 

Phẩm 36: PHỤC BẢN HÌNH

Bấy giờ, Đức Thế Tôn thâu oai thần, trở lại trong kim quan, tịch nhiên im lặng. Chư Thiên đốt hương rải hoa cúng dường. Khi ấy, Tôn giả Đại Ca-diếp dẫn năm trăm đệ tử từ nước Ma-già-đà về chỗ Phật. Nghe hôm nay Đức Phật sẽ diệt độ nên đau buồn khóc lóc, không thể kiềm chế được.

Đức Thế Tôn dùng thiên nhãn thấy Tôn giả Đại Ca-diếp đến, liền từ kim quan duỗi hai chân ra. Thấy vậy, Ca-diếp rờ vuốt, khóc lóc khôn tả.

Tôn giả Ca-diếp nói kệ:

Tất cả hành vô thường
Có sinh thì có diệt
Không sinh thì không diệt
Diệt này rất là vui.
Ai được Phật giáo hóa
Được độ khắp mọi nơi
Con hành đạo quá xa
Đau lòng không gặp Phật.
Pháp giới đều vô thường
Sắc thân cũng như vậy
Không có già, bệnh, chết
Vô vi không còn sinh.
Sống lâu trăm hà sa
Cũng sẽ phải diệt độ
Huống Thiên Tôn thầy con
Giữa chốn đầy bụi cấu.

Bấy giờ, Tôn giả Đại Ca-diếp và năm trăm đệ tử đi nhiễu quanh kim quan bảy vòng rồi đứng qua một bên.

Khi ấy, Tôn giả A-nan vịn góc Tây Bắc của kim quan, Nan-đà vịn góc Đông Bắc. Chư Thiên ở sau đứng trực phía Bắc, đưa ra khỏi Song thọ bốn mươi chín bước, an táng kim quan.

Theo pháp của Sa-môn, lấy hương Ngưu-đầu-chiên-đàn để trên kim quan. Các Phạm Thiên vương, Thích-đề-hoàn-nhân dẫn thiên chúng ở trên hư không rải hoa cúng dường. Bấy giờ, Tôn giả Ca-diếp cầm lửa đốt củi chiên-đàn để hỏa thiêu.

Tám vua nước lớn tranh nhau phân chia xá-lợi, tùy theo sức mạnh mà lấy được nhiều ít. Tất cả đều đem về cúng dường.

 

Phẩm 37: XÂY THÁP

Bấy giờ, tám vua nước lớn: vua Ưu Điền, vua Đảnh Sinh, vua Ác Sinh, vua A Xà Thế.

Bốn đại binh mã chủ: Tối hào binh mã chủ, Dung nhan binh mã chủ, Xí thạnh binh mã chủ, Kim cang binh mã chủ.

Tám đại vương này cùng nhau giành xá-lợi. Mỗi người thống lãnh binh chúng dàn ra một bên.

Tám đại vương nói:

–Xá-lợi Phật, ta phải lấy riêng cho bằng được.

Có một đại thần tên Ưu-bà-cát khuyên can, nói với các đại vương:

–Đừng tranh giành xá-lợi Phật nữa, mà phân chia ra để cùng nhau cúng dường. Làm gì mà phải dấy binh chinh phạt nhau.

Khi ấy, Thích-đề-hoàn-nhân liền hiện làm người, nói với tám đại vương:

–Chư Thiên chúng tôi cũng phải có phần. Nếu cùng nhau ra sức tranh cãi thì sẽ có bên thắng bên bại.

Bấy giờ, Long vương A-nậu-đạt, Long vương Văn-lân, Long vương Y-na-bát nói với tám đại vương:

–Chúng tôi cũng phải có phần xá-lợi.

Ưu-bà-cát nói:

–Thôi, các ông hãy dừng lại, nên cùng nhau chia xá-lợi.

Rồi ông liền phân làm ba: một phần cho chư Thiên, một phần cho Long vương và một phần cho tám vua. Rồi ông ta lấy bồn bằng vàng chứa hơn một thạch. Vị quan này lén lấy mật bôi bên trong bồn và lấy bồn để lường, phân chia xá-lợi.

Chư Thiên được xá-lợi rồi, trở về trời xây tháp Du-bà bằng bảy báu.

Long vương được xá-lợi trở về long cung cũng xây tháp Du-bà bằng bảy báu.

Tám vua được xá-lợi trở về nước mình cũng xây tháp Du-bà bằng bảy báu.

Quan thần Ưu-bà-cát được phần xá-lợi dính trong bình vàng ba đấu và một lọ, cũng xây tháp Du-bà bằng bảy báu, lấy tro và đất xây bốn mươi chín ngọn tháp Du-bà bằng bảy báu.

Chỗ hỏa thiêu cũng xây tháp Du-bà bằng bảy báu, cao bốn mươi chín do-tuần, dùng hương hoa cúng dường, treo lụa cờ phướn, lọng báu, suốt ngày lẫn đêm trỗi âm nhạc không dứt đoạn.

Nhờ oai thần của Phật khiến cho tháp bảy báu đều có ánh sáng. Ban đêm tỏa ánh sáng như ban ngày, ban ngày phóng ra ánh sáng như ban đêm. Các thiên thần giữ tháp đều đến canh giữ, không có kẻ xấu ác đến xúc phạm.

 

Phẩm 38: XUẤT KINH

Sau khi Phật nhập diệt bảy ngày đêm, Tôn giả Đại Ca-diếp nói với năm trăm A-la-hán:

–Hãy đánh kiền chùy tập hợp chúng. Năm trăm vị đều đến từ thế giới chư Phật trong mười phương. Ai đắc A-la-hán, sáu thông thấu triệt thì tập hợp hết ở giữa song thọ cõi Diêm-phù-đề này. Nay Phật Thích Ca Văn đã đến tuổi thọ nhập Niết-bàn. Chỗ hỏa thiêu đã xây xong tháp bảy báu. Nay tập hợp đại chúng là muốn được giảng nói pháp thân chân tánh của Phật. Hãy mau tập hợp để chọn những lời nói vi diệu.

Khi ấy, năm trăm vị La-hán nghe lời chỉ bảo của Tôn giả Đại Cadiếp, dùng sức thần túc, như người lực sĩ co duỗi cánh tay đến từ hằng hà sa cõi khắp mười phương. La-hán tập hợp được tám ức bốn ngàn vị đến cõi Kham Nhẫn để nghe thọ chánh pháp.

Thấy đại chúng đã tập hợp, Tôn giả Đại Ca-diếp nói với Ưu-baly:

–Ông làm Duy-na, hãy bảo Tôn giả A-nan đi ra.

Nhận lời chỉ giáo, Ưu-ba-ly bảo Tôn giả A-nan ra, nói:

–Ông là thị giả của Phật, nay có lỗi lớn với chúng tôi, ông có tự biết không?

Tôn giả A-nan thưa Tôn giả Đại Ca-diếp:

–Tôi xét thấy không có lỗi lớn nào với Thánh chúng cả.

Tôn giả Ca-diếp bảo Tôn giả A-nan:

–Thế nào, này Tôn giả A-nan! Kinh được Phật giảng nói: Nếu có A-la-hán đắc đạo, sáu thông thấu triệt, tu bốn thần túc, tu nhiều, hành nhiều, có thể sống hơn một kiếp. Vì sao ông im lặng, không trả lời Phật?

Khi ấy, Tôn giả A-na-luật đưa Tôn giả A-nan ra ngoài, rồi bỗng nhiên kêu Tôn giả A-nan ra trước, lấy việc xưa mà quở trách A-nan. Khi ấy, A-nan tâm hoang mang, tự suy nghĩ: “Phật diệt độ chưa bao lâu mà lại sỉ nhục ta đến như vậy”, liền tư duy bốn ý chỉ, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi, tám thánh đạo, phân biệt về gốc của khổ là tập, về quả của diệt, đạo, tức ở trước đại chúng thành A-la-hán. Các trần cấu đã được diệt sạch và bỗng nhiên đại ngộ. Thánh chúng khen ngợi, chư Thiên ca hát. Ngay lúc đó, mặt đất chấn động đủ sáu cách, chư Thiên rải hoa, trỗi nhạc. Sắc thân diệt độ, còn pháp thân vượt ra khỏi thế gian, làm lợi ích cho chúng sinh, phần nhiều được thấm nhuần, rồi sai A-nan thăng tòa cao bằng bảy báu.

Tôn giả Ca-diếp nói với Tôn giả A-nan:

–Pháp Phật giảng nói, một chữ một lời phải nên cẩn thận, chớ có để thiếu sót. Tạng của Bồ-tát tập trung lại một chỗ. Tạng Thanh văn tập trung để một chỗ. Tạng Giới luật tập trung để một chỗ.

Khi ấy, Tôn giả A-nan nói lớn:

–Tôi nghe như vầy:

Một thời, là nói về chỗ Đức Phật ở thì Tôn giả Ca-diếp và tất cả Thánh chúng đều rơi nước mắt, khóc lóc không tự kềm chế được, than thở: “Già – chết như huyễn, như hóa. Hôm qua thấy Phật mà hôm nay nghe nói đã diệt độ rồi”.

Tạng kinh Thai Hóa được đưa ra đầu tiên.

Thứ hai: Tạng Trung Ấm.

Thứ ba: Ma Ha Diễn Phương Đẳng.

Thứ tư: Tạng Giới Luật.

Thứ năm: Tạng Bồ Tát Thập Trụ.

Thứ sáu: Tạp Tạng.

Thứ bảy: Tạng Kim Cang.

Thứ tám: Phật Tạng.

Đây là pháp kinh của Phật Thích Ca Văn, tập hợp đầy đủ.

Mồng tám tháng hai: Thành Phật.

Mồng tám tháng hai: Chuyển pháp luân.

Mồng tám tháng hai: Hàng phục quân ma. Mồng tám tháng hai: Nhập Niết-bàn.

Pages: 1 2 3 4 5 6 7