SỐ 384
KINH BỒ TÁT TÙNG ĐÂU THUẬT THIÊN GIÁNG THẦN MẪU THAI THUYẾT QUẢNG PHỔ
(KINH BỒ TÁT XỬ THAI)
Hán dịch: Đời Diêu Tần, Sa-môn Trúc Phật Niệm, người đất Lương Châu
Việt dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh

 

QUYỂN IV

Phẩm 11: TÙY HỶ

Khi ấy, trong pháp hội có Bồ-tát tên Đảnh Vương dẫn hai vạn năm ngàn người từ thế giới An Trụ ở phương Đông đến, bước tới trước chỗ Phật, đầu mặt đảnh lễ Đức Phật và lui qua ngồi một bên, bạch:

–Bạch Thế Tôn! Con nghe Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn ở trong thai giáo hóa với vô lượng thần biến, có cung điện bảy báu được trang hoàng rất nhiều vật báu, được chư Phật Thế Tôn tôn trọng cung kính. Chư Phật Thế Tôn quá khứ, hiện tại và vị lai chưa từng giảng nói pháp khó có này. Tướng pháp của chân tế không thể cùng tận, luôn thực hành những hạnh khổ cực từ vô số kiếp. Trong thời gian đó cũng có sinh có diệt. Con muốn nghe biết tất cả những quốc độ khác nhau mà thần đức của Như Lai đã giáo hóa, luôn hành bình đẳng nhập vào đạo vô vi, bát giải đồng chân, phạm hạnh thanh tịnh để cho chúng con không còn nghi ngờ.

Đức Phật dạy:

–Lành thay! Lành thay! Này Đại sĩ Đảnh Vương! Những điều ông hỏi thật sâu xa khó nghĩ, có nhiều lợi ích, cứu độ những người mê lầm, phước nhiều không thể tận.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn liền dùng diệu lực của thiền định, Tammuội, duỗi cánh tay vàng xuống hai mươi hai ức cõi Phật ở phương dưới bưng thần tháp bảy báu của Như Lai Thi Khí. Tháp ấy ngang rộng một vạn tám ngàn do-tuần, bên ngoài vách tháp có hành lang bảy báu.

Nước ao, vườn, trái cây cũng đều bằng bảy báu. Ao sau vườn có bờ bằng vàng bạc. Trong ao ấy tự nhiên có nước cam lồ tám vị, có vô số trăm ngàn loại chim kỳ lạ: uyên ương, nhạn, le le. Tiếng chim kêu rất hay và mọi người cùng nhau vui chơi rất thú vị.

Khi ấy, Đức Thế Tôn nói kệ với Bồ-tát Đảnh Vương:

Thức Khí quá khứ Phật
Thần pháp bằng bảy báu
Cây hoa rất nhiều màu
Hoa vàng, thân bằng bạc.
Ao nước có tám vị
Người đói khát no đủ
Phước cúng được quả báo
Đạt công đức trong thai.
Lại sau Phật diệt độ
Đấng bản nguyện Tùy Thức
Tháp bảy báu Phật ấy
Khắp cả hằng sa cõi.
Có rất nhiều châu báu
An lạc cũng khó lường
Đức Phật thủ diệt độ
Bậc tối thắng đệ nhất.
Cũng có tháp bảy báu
Đầy khắp cõi hư không
Người mắt sáng hiểu biết
Cung phụng tâm cung kính.
Dẹp mạn, không cao ngạo
Không tham đắm lợi dưỡng
Quả báo ao bảy báu
Dứt tưởng không chấp trước.
Cũng trong thai giáo hóa
Lưu hành vô số kiếp
Thần đức đại thông đạt
Độ thoát hơn ba Phật.
Giáo hóa các đệ tử
Ba thừa không dứt đoạn
Rời khỏi phương Đông này
Trong thai hiện biến hóa.
Khuyến khích kẻ hậu lai
Dẫn dắt vào nhãn tịnh
Lại Phật Ca Diếp Tôn
Ngồi thẳng ức trăm kiếp.
Chư Thiên làm quyến thuộc
Tịch tĩnh không lay động
Cũng có tháp bảy báu
Ở cõi Phật Kim Cang.
Cứu độ kẻ đọa lạc
Không rơi vào đường tà
Ta nay Thích Ca Văn
Dũng mãnh hiện một mình.
Chuyên tâm giữ ý chí
Không vướng đường sinh tử
Cõi Phật tuy xấu ác
Nhưng độ không thể lường.
Nay ở bào thai mẹ
Lấy thần biến làm vui
Chúng sinh cõi dục giới
Đọa lạc vào vạc dầu
Dìu dắt họ ra khỏi
Giống như con thiêu thân.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn dùng thần lực biến ba ngàn đại thiên thế giới sáng rực màu vàng ròng khiến cho đại chúng trong pháp hội đều thấy thế giới An lạc. Các Bồ-tát ở đó đều ngồi trên hoa sen bảy báu. Đệ tử quyến thuộc ở đây đều màu vàng ròng, họ ăn uống bằng thiền định giải thoát, giới luật oai nghi chưa từng sai trái.

Thế nào, này Bồ-tát Đảnh Vương! Ai đến cõi Phật vừa hiện để du hóa cúng dường, phụng thờ thì phước ấy nhiều không?

Bồ-tát Đảnh Vương thưa:

–Rất nhiều, rất nhiều, bạch Thế Tôn! Vì sao? Vì cúng dường một cõi Phật phước ấy khó lường, huống chi là nhiều cõi Phật như vậy.

Đức Phật dạy:

–Nếu có Bồ-tát vượt qua Bất thoái chuyển ở Nhất sinh bổ xứ, ở trong thai hiện thần thông biến hóa, ai cung kính Bồ-tát này thì đức ấy rất tối thắng. Vì sao? Vì Bồ-tát này đã làm Phật sự không thể nghĩ bàn.

Phật lại dạy Bồ-tát Đảnh Vương:

–Nay Ta sẽ nói cho ông về tám đường chánh để trừ bỏ tám điên đảo.

Hằng hà sa các cõi Phật khắp mười phương xây đầy tháp bảy báu, nhưng không bằng cúng dường Bồ-tát Bát chánh đạo này với y phục, thức ăn uống, giường chiếu, thuốc thang, hương viên, hương bột, hương vụn, chiên-đàn, gấm lụa, vòng hoa, những vật trang hoàng nơi thân v.v… thì phước ấy rất nhiều.

Nếu có Đại Bồ-tát đối với bốn loài sinh: thai, hóa, thấp, noãn mà phân biệt về bốn ý chỉ trong một ngày, hai ngày, cho đến bảy ngày; một tháng, hai tháng, cho đến bảy tháng; một năm, hai năm, cho đến bảy năm; một kiếp, hai kiếp, cho đến bảy kiếp và nếu có chúng sinh phụng thờ cúng dường trước tháp bảy báu cho đến Bồ-tát tám chánh đạo thì không bằng người cúng dường cho Bồ-tát bốn ý chỉ này, phước ấy rất nhiều.

Nếu Bồ-tát Nhất sinh bổ xứ ở trong thai chuyển pháp luân vô thượng bao hàm hết tất cả sự biến hóa, vô số đại sĩ thần đức qua lại xoay vần không bị chướng ngại, rồi trở về hợp lại nơi một người không giác tri và có chúng sinh cúng dường phụng thờ, không thương tiếc những gì của bản thân, giống như ngày nay Ta đã trải qua ba a-tăng-kỳ kiếp đoạn trừ diệt tưởng, đây là thân cuối cùng vào thai để giáo hóa, chứng quả thần thông, đều được giải thoát.

Giống như quả chín, biến đổi không dừng, thân Phật là không, không có giới, định, tuệ, giải nhưng mùi hương của Ngài xông ướp bằng đức hạnh oai nghi, không làm mất mười hai hạnh Đầu-đà. Một phần khổ này là cảnh giới của Ta.

Khi ấy, Bồ-tát Đảnh Vương đến trước Phật nói kệ tán thán:

Thức là gốc sinh tử
Là đường đến Niết-bàn
Tự tại trong bào thai
Diệu dụng vô lượng cõi.
Bốn sinh thành cõi Phật
Biến mười sáu thần túc
Đạo vốn không một tướng
Thệ nguyện đều như nhau.
Chúng sinh bị trói buộc
Hiện có người tốt, xấu
Vô hình không thể thấy
Nay mới được quan sát.
Các thân Phật quá khứ
Dạy bảo không bờ bến
Pháp bát đạo vô thượng
Chuyên về độ quần mê.
Kinh pháp hình xá-lợi
Hiện thần thông nơi đời
Nay ta chỗ dẫn dắt
Được nghe không thể bàn.
Sáu thần pháp báu pháp
Kho báu, đài bảy báu
Mỗi mỗi phân biệt kỹ
Ý nghĩa không thể lường.
Xưa kia Phật hành đạo
Như không, không chấp trước
Nay ở bào thai mẹ
Thọ hóa chẳng phải một.
Đắc tánh chân như Phật
Cũng trụ tánh như thật
Trừ bỏ tâm kiêu mạn
Lạy đấng không, vô tánh.
Mỗi ánh sáng xá-lợi
Chiếu khắp các cõi Phật
Thọ hóa như hằng sa
Là do thần Đức Phật.
Quốc độ cách đây xa
Nhuận đạo cam lồ Phật
Nay muốn về cõi xưa
Tuyên dương pháp Như Lai.

Nói kệ xong, Bồ-tát Đảnh Vương đi nhiễu quanh Phật ba vòng và lạy Phật, lui ra.

 

Phẩm 12: NGŨ ĐẠO TẦM THỨC

Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn thị hiện chỗ thức sẽ đi đến là: Hướng đến thức đạo, thức tục, thức hữu vi, thức vô vi, thức hữu lậu, thức vô lậu, thức hoa, thức quả, thức báo, thức vô báo, thức trời, rồng, quỷ thần, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già, nhân và phi nhân, trên đến thức nơi cõi trời thứ hai mươi tám, dưới đến thức ngục Vô Cứu.

Khi ấy, Đức Thế Tôn ở trong thai hiện dây móc xích bằng hài cốt đầy khắp ba ngàn đại thiên thế giới.

Phật bảo A-tư-đà:

–Ông có thể phân biệt thức của hài cốt này không?

A-tư-đà thưa:

–Không phân biệt được. Vì sao? Vì chưa được thấu triệt, sức tu hành chưa đạt.

Phật bảo Bồ-tát Di-lặc:

–Trong cõi trời này ông chưa đắc thần thông chăng?

Bồ-tát Di-lặc bạch:

–Có điều thành tựu, có điều chưa thành tựu.

Phật bảo Bồ-tát Di-lặc:

–Ông hãy quan sát dây móc xích hài cốt để cho tất cả chúng sinh biết nơi thức đến. Hãy phân biệt, xác định rõ ràng để không còn nghi ngờ.

Khi ấy, Bồ-tát Di-lặc liền đứng dậy, cầm gậy thần bảy báu kim cương gõ vào dây móc xích hài cốt để nghe tiếng của xương cốt. Lúc này, Bồ-tát Di-lặc bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Người này qua đời vì nội kết sân giận quá nhiều

nên thức đọa làm loài rồng.

Lại gõ vào xương và nói:

–Người này kiếp trước hành đầy đủ mười điều thiện nên được sinh lên cõi trời.

Lại gõ vào xương nói:

–Người này đời trước phá giới phạm luật nên sinh trong địa ngục.

Cứ như vậy, Bồ-tát gõ xương: hữu lậu – vô lậu, hữu vi – vô vi, trên là hai mươi tám tầng trời, dưới đến địa ngục Vô Cứu và biết nơi thức đi đến, biết quả báo thiện ác, hành quả báo của nghiệp trắng đen; trong đó chỉ có một toàn thân xá-lợi là không hề bị hư hao.

Khi ấy, Bồ-tát Di-lặc lấy gậy gõ vào để suy tìm thức này nhưng không biết thức của ai. Gõ như vậy ba lần, Bồ-tát Di-lặc thưa Phật:

–Thần thức của người này con không thể biết được. Chẳng lẽ Như Lai nhập Niết-bàn rồi sao?

Phật bảo Bồ-tát Di-lặc:

–Ông là người vào đời vị lai sẽ tiếp nối quả vị Phật, sẽ được thành Phật, đắc đạo vô thượng, vậy sao gõ vào xá-lợi mà không biết thức của ai?

Bồ-tát Di-lặc bạch:

–Phật không thể nghĩ bàn, không thể hạn lượng, vì chẳng phải cảnh giới của chúng con để có thể lường xét. Nay con có điều nghi ngờ, cúi xin Đức Thế Tôn hãy nói thần thức của năm đường để cho hết thảy mọi người được biết chỗ thiện ác mà họ đến để không còn ai nghi ngờ gì cả. Với Như Lai, nay xá-lợi này không có hư hao, xin Như Lai hãy nói thức ấy để chúng con biết.

Phật bảo Bồ-tát Di-lặc:

–Chư Phật quá khứ, hiện tại và vị lai đều lưu hành xá-lợi, chẳng phải cảnh giới của các ông phân biệt. Vì sao? Vì xá-lợi này tức là xálợi của Ta, làm sao có thể tìm kiếm thần thức của Như Lai được, nay Ta phân biệt rõ cho ông về thức thượng, trung, hạ của Như Lai. Dù là Bồ-tát nhưng đều khác nhau.

Bồ-tát Sơ trụ chưa tạo được sức căn đức mà chỉ đắc thần thông.

Bồ-tát Nhị trụ thì dùng thiên nhãn nhìn biết nơi thức hướng đến là thoái hay địa bất thoái. Cũng nhìn thấy người ở cõi Dục, cõi Sắc, cõi Vô sắc, hoặc nhìn thấy chúng sinh ở vô số hằng hà sa cõi Phật phương Đông cúng dường chư Phật, phụng thờ không bị chướng ngại. Còn biết kiếp số mà họ thọ ký là một kiếp, hai kiếp, cho đến trăm ngàn ức kiếp.

Hoặc có Bồ-tát ở địa Tam trụ nhìn thấy xá-lợi thì biết nơi thức đi đến là Niết-bàn hữu dư hay Niết-bàn vô dư. Như Lai không thấy chỗ đi đến của hành thức, tứ trụ.

Bồ-tát Tứ trụ thấy thức pháp của Sơ trụ, Nhị trụ, Tam trụ, nhưng không thấy chỗ đi đến thức pháp xá-lợi của bậc Ngũ trụ.

Phật bảo Bồ-tát Di-lặc:

–Bồ-tát Ngũ trụ phân biệt phẩm hạ. Đối với Lục trụ thì thấy hoặc không thấy nơi thức đi đến. Bồ-tát Bất thoái chuyển lên đến Nhất sinh bổ xứ thì không biết ý nghĩa của Như Lai khi cất bước chân. Bồ-tát kế thấy Bát trụ, Thất trụ, Lục trụ nhưng lại không biết ý nghĩa của Nhất sinh bổ xứ khi cất bước chân, huống chi là muốn gõ vào móc xích xương cốt để phân biệt. Việc này không thể làm được.

Phật bảo Bồ-tát Di-lặc:

–Ông nên biết điều này, mười tôn hiệu: Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật – Thế Tôn chỉ có Phật mới biết ý nghĩ theo thần thức của Phật.

Khi ấy, Đức Thế Tôn dùng kệ nói với đại chúng:

Luân hồi vực năm đường
Thần thức ấy rất khổ
Tai, mũi, thân tâm dơ
Không thể nào xa lìa.
Thức tưởng kết thêm cấu
Lấy đao trí tuệ chặt
Tuệ chiếu chỗ tối tăm
Được đến trường vô úy.
Thức Phật đều thấy pháp
Những bộ xương xá-lợi
Giả sử nát như bụi
Rất nhỏ không thể thấy.
Như Lai biết rõ ràng
Pháp thiện ác báo ứng
Thức Phật rất vi diệu
Chẳng phải, chẳng không phải.
Vừa nói độ vạn ức
A-tăng-kỳ chúng sinh
Di-lặc lại thành Phật
Cũng sẽ bỏ xá-lợi.
Vốn do mẹ sinh ra T
hai pháp cũng như nay.

Nghe Phật nói xong, Đại Bồ-tát Di-lặc đi nhiễu quanh Phật bảy vòng, đầu mặt lạy sát chân Ngài rồi trở về chỗ cũ.

 

Phẩm 13: CHƯ PHẬT HÀNH TỀ VÔ SAI BIỆT

Bấy giờ, Đức Thế Tôn liền thị hiện tướng kỳ lạ đặc biệt: Biến tất cả Bồ-tát thành Phật có đầy đủ tướng ánh sáng. Tất cả mặc dù khác nhau nhưng đều thuyết pháp cùng một giọng nói, phân biệt vô thường, đời đời đều trở về không.

Đức của các vị khó lường được và cung kính tôn trọng nhau, có đầy đủ oai nghi và chỉ nói pháp vi diệu, không có bớt thêm, co, duỗi, cúi, ngước. Các vị đều ngồi nơi tòa cao bằng bảy báu cực đẹp, có màn trướng bằng the lụa.

Đầu tiên: Nói pháp độ vô số toàn là nam, không có nữ.

Nói pháp lần thứ hai: Độ toàn nữ, không có nam.

Nói pháp lần thứ ba: Độ toàn người chánh kiến.

Nói pháp lần thứ tư: Độ toàn người tà kiến.

Nói pháp lần thứ năm: Độ nam nữ chân chánh bằng nhau.

Nói pháp lần thứ sáu: Độ tà chánh cũng bằng nhau.

Ngay khi ấy, tất cả pháp đều được thành tựu, không còn ngã sở và đạo quả được thành thục.

Theo pháp thường của chư Phật nói là nói về nghĩa lý.

Thần túc thứ ba có tám vạn bốn ngàn pháp môn không hành, tám vạn bốn ngàn pháp môn vô tướng, tám vạn bốn ngàn pháp môn vô nguyện. Mỗi pháp môn đều có vô lượng nghĩa. Giống như thân người trí tuệ có một ngàn cái đầu, mỗi đầu có ngàn cái lưỡi, mỗi lưỡi có một ngàn nghĩa. Nếu muốn đạt hoàn toàn nghĩa của ba pháp môn thì đối với trăm ngàn phần chưa đạt được một. Đây là kho tàng bí mật tinh túy của chư Phật. Được như vậy là đều nhờ kiếp trước đã thành tựu trong sự tu học.

Khi ấy, dù khác nhau nhưng chư Phật đều đồng thanh nói kệ:

Nguyện xưa của chúng ta
Nay đã được thành quả
Thân vàng, lời thanh nhã
Các tướng đều đầy đủ.
Muốn cầu tuệ vô cực
Thành tựu không còn nghi
Lành thay, đấng ba cõi
Tối thắng không ai bằng.
Xưa Ta ở Đâu-suất
Chọn lựa nơi thọ sinh
Giáng xuống vào thai mẹ
Kết duyên chư Như Lai.
Những chúng sinh không duyên
Nói Ta không thành đạo
Trong thai dạy chúng sinh
Trong thời gian thành Phật.
Kinh Ta nói trước sau
Tám mươi bốn ức voi
Sức voi và sức người
Chở vác không thể nổi.
Nay Ta phải hoan hỷ
Ghi nhớ đừng quên mất
Nói pháp chưa thành đạo
Trong thai giảng chánh pháp.
Phật hành không sai khác
Tất cả đều bình đẳng
Chỉ Phật mới biết Phật
Công đức nghĩa nhiều ít.
Muốn đắc từ nghì Phật
Việc làm phải kỳ diệu
Trải qua vô số kiếp
Không đạt được mảy lông.

Sau khi nói kệ này, Đức Thế Tôn thuyết pháp lần đầu tiên toàn là nam, không có nữ, và ngay trên tòa họ đắc Bất thoái chuyển, có lòng tin kiên cố, không thể nào làm trở ngại được.

Bấy giờ, Thích Ca Mâu Ni thâu oai thần trở lại giống như trước và nói kệ:

Chứng quả tám chánh đạo
Không thầy tự nhiên ngộ
Một mình dạo ba cõi
Tự đạt đạo Niết-bàn.
Pháp vốn không một tướng
Đại biện tài mau lẹ
Nay Ta đã chứng quả
Dứt ái không chấp trước.
Vốn tánh pháp năm ấm
Không thấy có thiện ác
Dùng thần lực cứu khổ
Thản nhiên đạo tịch diệt.
Các ông trong hội này
Thệ nguyện đã thành tựu
Chưa đắc, nay đã đắc
Vui thay, nghiệp lành này.
Dây nhân duyên làm ngại
Trừ sạch không còn gì
Pháp la võng “Ta”, “Tôi”
Tự nhiên bị hủy hoại.
Ngu si không thấy chân
Tự đọa bốn sắc duyên
Chưa quan sát kỹ càng
Phân biệt gốc tướng khổ.
Như nay Ta thành đạo
Công phu nói không hết
Phật gầm tiếng sư tử
Kiếp lửa, kiếm ác cướp.
Đúc nặn chúng sinh khổ
Lấy màu nhuộm tơ trắng
Nhẫn nhục chịu khổ hại
Đến chết không trả thù.
Giữ tâm như hư không
Thay đổi không lâu dài
Đối với đời bấy giờ
Tội ngũ nghịch khổ não.
Khó dạy, không thể độ
Chư Phật không cứu được
Tìm gốc làm hiện duyên
Chỉ dẫn chỗ vô vi.
Phá tâm ương ngạnh ấy
Chuyên nhất được giải thoát
Giáo pháp nói lần đầu
Không sinh, không khởi diệt
Đều hướng về Phật đạo
Không ai bị đọa lạc.

Khi Phật nói kệ này xong, các chúng nam, chúng nữ, chúng chánh, chúng tà đều có lòng tin rốt ráo, đắc địa Bất thoái chuyển.

Phật bảo các Đại Bồ-tát:

–Các ông muốn thấy Như Lai dùng thần lực giáo hóa đạo không thể nghĩ bàn, pháp tánh thuần thục, không có người nam, người nữ, theo nghĩa phương tiện thiện xảo nói thọ thân người nữ, không được Phật thọ ký. Ma, Thích, Phạm vương không có tướng chân thật. Các ông có muốn biết bốn chúng này được thọ ký thành Phật không?

Khi ấy, Bồ-tát tên Vô Tận Ý đứng dậy, trịch bày vai phải, gối phải quỳ sát đất, chấp tay thưa Phật:

–Con chưa hề nghe Như Lai nói pháp về bốn hạng người này được thành Phật. Nay mới khai diễn đại nghĩa.

Và lại bạch Phật:

–Xả thân thọ thân liền thành Phật sao?

Phật bảo Bồ-tát Vô Tận Ý:

–Ông hãy lắng nghe cho rõ, suy nghĩ thật kỹ, Ta sẽ phân biệt rõ ràng cho ông: Chín mươi mốt kiếp về quá khứ có Phạm Thiên vương tên Đại Biện Tài, thông suốt xưa và nay, thường thích nhàn cư, ngồi trong cung trời suy nghĩ: “Nay ta có thể giáo hóa cung nữ và các Phạm vương ở đây. Khi ta được thành Phật đều có chư Thiên đi theo, cạo bỏ râu tóc, mặc pháp phục, đồng thời thành Phật không vui sao?”.

Nghĩ như vậy xong, Phạm Thiên vương liền ở cung trời, đến cây Trú-độ, ngồi ngay thẳng tư duy, nhất ý nhất tâm, chánh niệm tỉnh giác, không có tưởng niệm gì khác, liền thành Phật với ba mươi hai tướng của bậc đại nhân và tám mươi vẻ đẹp.

Quyến thuộc của chư Thiên tu hành chánh pháp Tỳ-kheo, đắc Ala-hán và tất cả đều là hàng lợi căn. Chúng Thiên nữ ấy có người đắc Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, không còn sinh trở lại thế gian này nữa, rồi liền nhập Niết-bàn. Đó gọi là Phạm Thiên vương không xả thân thọ thân mà thân hiện tại được thành Phật đạo.

Phật bảo Bồ-tát Vô Tận Ý:

–Bảy mươi sáu kiếp về quá khứ có Thiên vương thứ sáu – thống lãnh ba ngàn đại thiên thế giới – tên là Hại Ác. Từ tầng trời thứ sáu trở xuống đến tự tại vô ngại, ở cung trời ấy trải qua vô số sự tư duy, hối hận: “Những việc xưa kia hủy báng Tam bảo, ngăn cản đạo quả. Giả sử ta thọ báo, đọa vào ba đường, không rời khỏi đường ác, thì nay ta có thể sửa đổi tâm làm ác và cùng với quyến thuộc chư Thiên trong cung trời này tu phạm hạnh, cầu đạo vô thượng, tiến tới thành Phật, không phải vui sao?”.

Lại suy nghĩ: “Cảnh giới mà ta cai quản có vô lượng vô số Thiên nữ vui chơi, không gì vui hơn đây. Giả sử ta thành Phật thì cũng giống như cõi này, dần dần biếng trễ, kiêu mạn”.

Lại tới kiếp số loài ma có tri thức tu hành, bước lên quả vị Thập trụ, giảng nói công đức của Phật, xuất gia tu đạo, có các tướng đầy đủ. Tâm ma khai mở, sửa đổi, tâm tánh nhập vào thiền định, không có dấy nhiều tưởng niệm, căn tánh mau lẹ. Ngay đó, liền ở cung trời mà chứng đạt tam minh, trang nghiêm cõi Phật, không còn tái sinh nữa, liền thành Vô Thượng Chánh Chân Chánh Đẳng Chánh Giác, phóng ra ánh sáng lớn chiếu khắp tất cả cõi ma, không chỗ nào là không thấy.

Khi ma thành Phật, có ba ức Thiên tử tâm tự sinh niệm, cho rằng: Do ma huyễn hóa chứ chẳng phải đạo chân thật và hết thảy rút lui trở về cung. Mười sáu ức Thiên tử đều đến thân cận, phụng thờ, cúng dường như Phật không khác. Và ngay nơi tòa chứng bốn quả. Đó là đại Thiên vương Hại Ác, không xả thân thọ thân mà thành Phật đạo.

Phật bảo Bồ-tát Vô Tận Ý:

–Sáu mươi mốt kiếp về quá khứ, ở phương Đông có Thích Thiên Tử tu thiên nhãn, tâm thanh tịnh, thích thiền định, luôn muốn xuất gia tiến đến Phật đạo. Pháp của chư Thiên ấy bị suy nên có điềm ứng và không bao lâu qua đời.

Chư Thiên từ từ giảm sút sự ham thích về ngủ nghỉ, thân thể dơ bẩn, hoa tự khô héo, không thích tòa báu, thức ăn không ngon, rồi liền đi ra sau vườn tắm rửa, giặt giũ. Với thân trời này, mắt thấy rất xa: “Làm thế nào có Phật để đến lễ lạy, viếng thăm, cung kính cúng dường, được thọ giới cấm của Phật và liền ngay thân này đắc thành Phật đạo”. Nghĩ như vậy xong, ngồi ngay thẳng tư duy, dùng thiên nhãn thấy phương trên có Phật hiệu Vô Lượng Không Hành, ở trong thế giới Thanh Tịnh, hiện đang giảng nói pháp, đầu, giữa, cuối hoàn toàn thiện.

Thế rồi Thích Thiên Tử dùng thần lực khoảng như người co duỗi cánh tay, đến chỗ Phật ấy lễ lạy sát chân, lui qua đứng một bên và nói kệ khen Phật:

Tướng sáng chiếu mười phương
Chiến thắng các ma oán
Giảng nói con đường đạo
Dứt nghi, không còn lầm.
Người phạm hạnh thanh tịnh
Đều nhờ hạnh tối thắng
Tùy cơ nói chân pháp
Không trái pháp bản hạnh.
Con là chủ chư Thiên
Muốn tu đạo thanh tịnh
Cúi xin Phật thương xót
Được đến chỗ an ổn.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo Thích Thiên Tử:

–Lành thay! Lành thay! Ông phát tâm rộng lớn, muốn được cứu vớt khổ của chúng sinh: người chưa đắc được đắc, người chưa đạt được đạt, người chưa thành tựu được thành tựu, muốn cho người mù được mắt sáng, người điếc được nghe, người gù lưng được thẳng, người không có tay chân được có tay chân. Ông hãy trở về bổn cung, ngồi nơi cây đạo, phân biệt các hành là pháp trụ hay pháp tán.

Nghe xong, Thích Thiên Tử lạy trước Phật. Khi ấy, ông ta biến mất, trở về cung trời. Quyến thuộc chư Thiên đều quy về nương tựa, làm cho công đức của ông ta càng tăng trưởng, tướng suy hao đã tiêu mất sạch. Ông ta ngồi thẳng thâu giữ thân, tâm, ý bất động, liền đắc thành Vô Thượng Chánh Chân Đẳng Chánh Giác, hướng dẫn chín mươi ba ức Thiên nữ chứng bốn đạo quả. Đó gọi là Thiên Đế thích không xả thân thọ thân mà thành Phật đạo.

Phật bảo Bồ-tát Vô Tận Ý:

–Năm mươi bốn ức hằng hà sa kiếp về quá khứ có thế giới tên Hỏa Diệm, Phật hiệu Vô Dục gồm đủ mười tôn hiệu: Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn giảng nói pháp độ người, khéo tu phạm hạnh, biết rõ về pháp Tứ đế, bố thí cho tất cả. Dân chúng cõi đó đều thọ thân nữ, hiểu rõ vô thường, khổ, không, vô ngã, phân biệt về thọ nhập, không còn phiền não, nhàm chán thân khổ này; cùng nhau phát thệ nguyện rộng lớn, mặc áo giáp vô úy muốn cứu độ chúng sinh, làm thanh tịnh cõi Phật, trừ bỏ các xấu ác, lập ý chí kiên cố, đạt đến Bất thoái chuyển; cùng nhau thực hành hiểu rõ về pháp không, vô tướng, vô nguyện. Trong một lúc, trong một ngày thông đạt Tam đẳng, liền thành Phật đạo, các tướng đầy đủ, sống chết tự tại, lấy nhỏ nhập vào lớn, lấy lớn nhập vào nhỏ. Trong một ngày độ vô lượng a-tăng-kỳ chúng sinh, giáo hóa chúng sinh vào Niếtbàn vô dư y. Đó gọi là bất xả thân thọ thân mà thành Phật đạo.

Bấy giờ, muốn lặp lại nghĩa này, Đức Thế Tôn nói kệ:

Pháp tánh như biển lớn
Không nói có đúng – sai
Kẻ phàm phu, Hiền thánh
Bình đẳng không cao thấp.
Chỉ do tâm cấu diệt
Thủ chứng như trở tay
Đạo thành vua ba cõi
Xiển dương tướng sư tử.
Phân biệt vốn không pháp
Không có hạnh nam nữ
Nay đời năm trược này
Hiện có phần thọ thân.
Đoạn diệt kẻ chấp thường
Làm chướng ngại kiếp số.

Khi Đức Thế Tôn nói kệ này xong, có tám vạn bốn ngàn ức chúng sinh lập chí kiên cố và tất cả đều nguyện thành Phật, không còn tái sinh.

 

Phẩm 14: HÀNH ĐỊNH BẤT ĐỊNH

Bấy giờ, trong chúng hội có Bồ-tát tên là Thường Tiếu, đạt sáu thần thông, có oai đức và thần lực tự tại, biện tài vô úy, chấm dứt phần sinh tử, không còn chấp trước việc gì, những điều nói ra đều được tin dùng, hiểu rõ các pháp không, như huyễn hóa, như mộng, như sóng nắng, như lá đỏ trong nước mà loài thú ngu si cho là nước thịt, cuối cùng không lấy được, như tiếng vọng trong núi; hiểu rõ các pháp không sinh, không diệt, muốn đoạn trừ tất cả sự nghi ngờ của chúng sinh, nên liền đứng dậy, trịch bày vai phải, gối phải quỳ sát đất, chấp tay thưa Phật:

–Cúi xin Thế Tôn, con có chút nghi ngờ. Nếu được cho phép con mới dám thưa. Trí tuệ của đại Thánh Như Lai vô ngại, trước biết do nhân duyên quá khứ trói buộc các hành, sau làm rõ nguyên lý thành bại và nhân duyên hợp tan của vị lai. Hành nghiệp thiện ác là do phát tâm khác nhau. Nay con nghe Như Lai ở trong thai giáo hóa chúng sinh là các hành có sai khác, có đối không đối, có quả báo không có quả báo, có hành đen trắng, không có hành đen trắng. Lại có chúng sinh từ khi mới phát tâm trải qua vô số kiếp mà không được thành tựu, hoặc có chúng sinh chỉ sáng phát tâm mà chiều liền thành Phật. Cúi xin Thế Tôn hãy giảng nói cho, con rất muốn nghe.

Đức Thế Tôn dạy Bồ-tát Thường Tiếu:

–Theo lý lẽ mà ông hỏi đều là do oai thần của Như Lai cảm vời tạo ra. Muốn thành tựu các pháp thì không đoạn thật tánh của Như Lai, trước cũng như sau. Vì sao? Vì pháp tánh của Như Lai không thể nào nắm bắt, giữ gìn được, cũng chẳng phải là phạm vi của A-la-hán, Phậtbích-chi biết được.

Khi ấy, Đức Thế Tôn dùng thần lực xuất ra tướng lưỡi rộng dài, ánh sáng nơi tướng lưỡi chiếu đến a-tăng-kỳ kiếp cõi Phật, tận cùng phương Đông, khiến cho chúng sinh nơi năm đường thấy ánh sáng ấy tìm đến chỗ Như Lai. Ngay giữa chặng mày, Đức Thế Tôn lại xuất ánh sáng tướng lông trắng, trên chiếu đến tám mươi bốn ức hằng hà sa cõi chúng sinh.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn nói kệ cho Bồ-tát Thường Tiếu:

Ba mươi mốt âm vang
Nghiệp báo được trong sạch
Bốn mươi tám trần cấu
Trời hành năm mươi năm.
Bồ-tát tóc bảy báu
Phát sinh tâm chúng sinh
Bốn loại cây đạo quả
Tâm thức định không loạn.
Kẻ thiếu trí vô phước
Mắc khẩu nghiệp rất nhiều
Ăn uống biết vừa đủ
Đi đứng đúng oai nghi.
Bình đẳng thương tất cả
Mới gọi đạo Bồ-tát
Đời năm trược ba cõi
Điên đảo vướng cõi ma.
Phá hoại gốc nghiệp thiện
Như bóng không rời hình
Căn tánh có lanh chậm
Tới lui lòng do dự.
Phát nguyện độ chúng sinh
Công đức trọn đầy đủ
Thành tựu thân mười lực
Pháp hữu vi thế tục.
Tư duy khó lường được
Vừa chết lại tái sinh
Như lửa cháy núi rừng
Tâm niệm đốt chánh pháp.
Lan đến a-tăng-kỳ
Thân mặc giáp thệ nguyện
Dũng mãnh độ kẻ dữ
Tiêu diệt chúng quân ma.
Lỗ chân lông thân người
Hơn sáu mươi bốn vạn
Người trí tuệ biết rõ
Các nghiệp báo nhỏ nhặt.
Người lợi căn Diêm-phù
Thọ thân rất xấu xí
Từ mỗi lỗ chân lông
Rịn chảy không kín đáo.
Thân kim cang Như Lai
Chân lông ba mươi bảy
Kín đáo không rịn chảy
Không bị lửa thiêu cháy.
Ma và quyến thuộc ma
Sa-môn, Bà-la-môn
Phạm thiên và chúng Thích
Thần lực các quỷ thần.
Muốn đụng lông tóc Phật
Việc này không thể được
Hư không thành địa giới
Nhật nguyệt có thể rơi.
Muốn đụng lông tóc Phật
Không thể nào làm được
Đây là nghiệp pháp tục
Chẳng phải tướng vô vi.
Thọ hành chịu nghiệp quả
Các tướng đều khác nhau
Thân Phật thể kim cang
Ngoài hành theo báo nghiệp.
Là quả báo thế tục
Lìa xa pháp vô vi
Tướng Phật pháp chân thật
Không hiện ra bên ngoài.
Muốn biết tướng trong Phật
Như khéo dùng thần túc.

Nói kệ xong, Đức Thế Tôn bảo Bồ-tát Thường Tiếu:

Báo của duyên, báo của duyên
Báo của chí đạo vô ngại
Báo của Tam bảo chân tánh
Báo của hành thú Niết-bàn
Báo của thế tục vô trước
Báo của nhất hướng cứu cánh.

Đó là đệ nhất nghĩa của Đại Bồ-tát, không nhiễm, không chấp trước, không thể nắm bắt, không vướng vào cõi Dục cũng không lìa cõi Dục. Quá khứ có, hiện tại có, vị lai có. Chẳng phải quá khứ có, chẳng phải hiện tại có, chẳng phải vị lai có, không sinh, không diệt. Qua trăm ngàn kiếp, Đại Bồ-tát đã thông đạt, không còn chướng ngại, khiến cho mọi tầng lớp chúng sinh đều hiểu rõ không đó vốn có quả báo để thành tựu khẩu nghiệp, thông đạt tất cả âm thanh.

Hoặc có Đại Bồ-tát trong phút chốc có thể làm cho ba ngàn đại thiên thế giới hóa thành thủy giới, giống như Tỳ-kheo đắc thiền quán vô lượng thủy giới. Côn trùng, rùa, ba ba trong thủy giới ấy không xúc chạm nhau. Do chứa công đức nhiều kiếp nên không hư không hoại.

Đó gọi là Đại Bồ-tát nhập vào Tam-muội thủy giới.

Hoặc có chúng sinh thấy Bồ-tát nhập định cho là nước, rồi lấy gạch, ngói, đá, cây cỏ quăng vào. Bồ-tát nhập định, tâm như hư không, không biết có người đến xúc não. Đó là Đại Bồ-tát nhập vào lực của thủy giới.

Hoặc có Bồ-tát thiền định thâu giữ tâm nhập vào Tam-muội Hỏa giới, khiến cho ba ngàn đại thiên quốc độ này bùng cháy. Chúng sinh ngu si nói Bồ-tát gặp lửa kiếp thiêu, chạy tán loạn nhưng không tránh được lửa. Mặc dù lửa cháy đỏ nhưng Bồ-tát thấy mát mẻ không nóng. Đó là Đại Bồ-tát nhập vào Tam-muội Hỏa quang. Oai thần của Tammuội này không thể lường xét. La-hán, Phật-bích-chi cũng không thể đạt được.

Hoặc có Bồ-tát nhập năm phần pháp thân, tâm định bất động, khiến ba ngàn đại thiên thế giới nào bò bay máy cựa cho đến trùng, kiến đều dùng oai thần tiếp đỡ chúng, nên chúng không gặp phiền não, bảy ngày được an ổn. Sau khi qua đời, tất cả đều sinh lên cõi trời. Trong một ngày nói pháp mà hóa hiện có mặt khắp mọi nơi, trong đó người nào thấy thần đức của Như Lai thì trần cấu đều được trừ sạch, muốn gì được nấy, hoặc sinh vào cõi chư Phật ở phương khác. Đó là nhờ Đại Bồ-tát nhập năm phần pháp thân định tâm ban cho.

Có Bồ-tát nhập vào Tam-muội Bất động sư tử phấn tấn, khiến cho ba ngàn đại thiên thế giới chấn động đủ sáu cách. Chúng sinh trong đó đều quy phục, tu hành thanh tịnh, mặc áo hổ thẹn, bỏ tâm kiêu mạn, hướng dẫn chúng sinh đến tám con đường chân chánh, trừ khử bảy mươi bảy tâm chấp ngã. Cấu nhiễm chất chứa lâu đời chỉ trong nhất thời đều trừ sạch cả. Đó là do Đại Bồ-tát nhập vào Tam-muội Phấn tấn vô úy cảm vời tạo ra.

Có Đại Bồ-tát nhập định Ý tán thân, phân biệt thức tụ từ đâu đến và đi về đâu. Mỗi mỗi đều phân biệt rõ ràng là không, vô tịch nhiên. Trước, sau, giữa đều không có đầu mối. Đó là do Đại Bồ-tát nhập Tam-muội Định ý tán thân mà cảm vời tạo ra.

Có Đại Bồ-tát nhập Tam-muội Nhẫn đảnh, có thể làm thân này biến thành con trùng không có tay chân đầy khắp ba ngàn đại thiên thế giới. Chúng sinh thấy chẳng biết đó là gì nên nói là đống thịt. Nếu ai lấy ăn thì mùi vị như cam lồ và đều làm no đủ cho các chúng sinh bị đói khát. Đó là do Đại Bồ-tát nhập Tam-muội Nhẫn đảnh mà cảm vời tạo ra.

Có Bồ-tát dùng thần lực Tam-muội khiến núi, sông, đá, vách trong ba ngàn đại thiên thế giới này hóa thành cam lồ, giống như đường phèn, ăn vào không biết chán, khiến cho bốn chứng bệnh nặng kiết sử của chúng sinh vĩnh viễn lành hẳn không còn trở lại. Chúng sinh phát nguyện: “Nguyện muốn sinh về thế giới vô tận”. Đó là nhờ thần lực của Đại Bồ-tát cảm vời tạo ra.

Lại nữa, Đại Bồ-tát nhập vào Tam-muội Độc bộ, làm cho tất cả chúng sinh trong ba ngàn đại thiên thế giới này thấy Bồ-tát đi cất bước chân, hạ chân xuống. Ai gặp Bồ-tát đi bộ có thể ngăn chận người tội không còn địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Đây đều do thân, khẩu, ý của Bồ-tát thanh tịnh và phát nguyện cứu độ đạt đến cứu cánh, không bao giờ quay trở lại. Đó là nhờ vô lượng tâm nguyện phước lành của Đại Bồ-tát cảm vời tạo ra.

Lại nữa, Đại Bồ-tát dùng thần thông định nhập vào Tam-muội Nhạo pháp, khiến cho các loài chúng sinh trong ba ngàn đại thiên thế giới này đều quay về, đến chỗ Bồ-tát để cầu xin xuất gia, tu phạm hạnh vô thượng, phát tâm giống nhau, cạo bỏ râu tóc, mặc pháp phục, theo pháp thường của chư Phật về pháp oai nghi, giới cấm, giáo thọ trì thì có thể tức thời ở vào địa Minh tuệ. Địa Minh tuệ là nơi hành pháp của Bồ-tát Bát trụ, chẳng phải nơi Nhị thừa tu tập. Đó gọi là nhờ thần lực của Đại Bồ-tát cảm vời tạo ra.

Lại nữa, Đại Bồ-tát dùng đại bi của Phật nhập vào định vô ngại, khiến cho các loài chúng sinh mê tối trong ba ngàn đại thiên thế giới này cùng làm cha mẹ, anh em, bạn bè, dòng họ, tri thức, ai không có của cải thì cho của cải, cung cấp các vật cần dùng cho đến quốc thành, vợ con, voi ngựa, vàng bạc, châu báu, xe cộ, mã não, bạch châu, hổ phách, thủy tinh, lưu ly, chiếu khăn, thuốc thang, hương hoa, phấn xoa v.v… đều cho họ sung túc. Những người được sự giáo hóa trong đó đều đầy đủ, khiến chúng sinh phát tâm ở trong địa Nhạo pháp.

Sao gọi là địa Nhạo pháp? Nghĩa là ai hợp với đạo Tu-đà-hoàn thì có pháp chân thật cốt yếu để đoạn ba kiến pháp.

Ai hợp với đạo Tư-đà-hàm thì còn bảy đời nữa thành đạo.

Ai hợp với đạo A-na-hàm thì nói pháp thiện không có năm ấm che lấp.

Ai hợp với đạo A-la-hán thì nói Niết-bàn thọ chứng không trở ngại.

Ai hợp với đạo Bồ-tát thì nói pháp Lục độ đảnh nhẫn, phát tâm tiến lên.

Ai hướng đến Phật đạo thì nói Nhất thiết trí thanh tịnh rốt ráo trang nghiêm cõi Phật, giáo hóa chúng sinh. Từ cõi Phật này đến cõi Phật khác cúng dường, lễ lạy, thờ phụng chư Phật Thế Tôn, được đắc sáu thần thông.

  • Mắt có thể thấy thấu triệt.
  • Tai có thể nghe thông suốt.
  • Tự biết đời trước.
  • Biết tâm người khác.
  • Thân có thể bay.
  • Các trần cấu đều đoạn sạch, không còn nghi ngờ về Phật, Pháp, Tăng.

Đó gọi là nhờ thần lực của Đại Bồ-tát nhập Tam-muội Nhạo pháp mà cảm vời tạo ra.

Có Đại Bồ-tát nhập vào Tam-muội Kim cang, khiến cho ba ngàn đại thiên thế giới biến thành bảy báu, cứu giúp, ban bố cho người nghèo khổ. Ai xin thức uống cho thức uống, ai xin thức ăn cho thức ăn và rồi nói cho họ về quả báo của sự tham lam bỏn sẻn. Hễ người nào tham lam bỏn sẻn thì chết đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, nghèo khổ, áo không đủ che thân, bị người ghét bỏ, hoặc làm nô tỳ, làm người ở mướn, hoặc đọa làm súc sinh gánh vác mang nặng.

Bồ-tát nói cho họ về hạnh không dâm dục thì được sinh lên trời. Dâm là ô uế, chết đọa vào đường ác như núi đao, rừng kiếm, xe lửa, lò than, địa ngục thiết chủy, địa ngục hắc thằng, địa ngục phất thỉ, núi băng, cối giã v.v… chịu vô lượng khổ. Hoặc vào trong ngục hoa sen đỏ, gió thổi lửa đốt xương cốt phân ly.

Ở đấy Bồ-tát giảng nói về vô thường, thân không tồn tại lâu dài như đánh đá thấy lửa, như sấm sét qua trước mắt, huyễn hóa chẳng phải một thì vì sao chịu khổ, tinh thần suy sụp mà không mong cầu thoát khỏi.

Bồ-tát nói pháp chân thật cho họ như vậy để người chịu tội đều được hết khổ. Đó gọi là nhờ Đại Bồ-tát dùng Tam-muội định ý đại bi của Phật mà cảm động đến.

Khi ấy, Đức Thế Tôn nói kệ:

Chúng sinh muốn giải thoát
Cửa năm đường ba cõi
Tinh tấn không biếng trễ
An trụ đạo vô vi.
Như người xây nhà cửa
Không cây gỗ mà thành
Chủ yếu trước ban đất
Rồi dựng trụ, xây tường.
Phật đạo như hư không
Không do một hạnh thành
Giữ ý thật kiên cố
Ruộng tâm không quyến luyến.
Hằng sa Phật quá khứ
Vị lai cũng không tận
Có vị lần lượt thành
Có vị được siêu việt.
Ta dạy ngộ chưa ngộ
Khiến đến tám chánh đạo
Nghe rồi không thọ nữa
Pháp này do ai tạo.
Xưa ta xả tưởng thân
Kiếp số không cho khó
Không thầy mà tự ngộ
Là đạo sư tất cả.
Đạo sư hiện ra đời
Không duyên, không thần thông
Cốt độ người chưa độ
Thị hiện thành vô vi.

Khi Đức Thế Tôn nói kệ này xong, có năm mươi sáu ức hằng hà sa chúng sinh đoạn trừ vọng tưởng, không còn ưa thích nghiệp của thế tục và đồng thời phát nguyện cầu đạo vô thượng.

Pages: 1 2 3 4 5 6 7