Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.
PrintFriendly and PDF

KINH BỒ-TÁT TRÌ NHÂN

Hán dịch: Đời Tây Tấn, Tam tạng Pháp sư Trúc Pháp Hộ, người nước Nguyệt Chi
Việt dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh

 

QUYỂN 1

Phẩm 1: BỐN PHÁP

Nghe như vầy:

Thuở nọ, Đức Phật ngụ nơi vườn trúc Ca-lân thuộc thành Vương xá, cùng với chúng đại Tỳ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi vị, hàng Bồ-tát không thể tính kể. Tất cả các bậc Đại thánh đều đã đạt được thần thông, biện tài vô ngại, trí tuệ không giới hạn, các căn đều tịch tĩnh, thông suốt tất cả những pháp căn bản, tùy theo bệnh mà cho thuốc để cứu giúp chúng sinh, làm chiếc cầu pháp để thoát khỏi ba cõi.

Khi ấy, Đức Thế Tôn giảng nói kinh pháp cho vô số trăm ngàn chúng và quyến thuộc vây quanh.

Bồ-tát Trì Nhân liền từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa lại y phục, quỳ gối, thưa:

–Thưa Thế Tôn! Bồ-tát làm thế nào để kiến lập thệ nguyện, vun trồng vô lượng cong đức, hiểu rõ các pháp, thực hành hết thảy các pháp Ba-la-mật, thông đạt vô lượng phương tiện thiện xảo, giữ gìn tuệ căn bản không thể ví dụ, mặc áo giáp giới đức để truyền bá đạo lý chân chánh, giảng nói về ân đức và Từ bi cho chúng sinh, che chở cho chúng sinh như hư không, không thể lường xét, tâm được thanh tịnh, đầy đủ đức hạnh, Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định và Trí tuệ, dùng các Ba-la-mật bao trùm khắp nơi? Vì những chúng sinh muốn thực hành những hạnh nghiệp ấy để đạt đến nguồn gốc thù thắng của đạo lớn vô thượng, nên con mới thưa hỏi Đức Như Lai về những điều như vậy. Con muốn thưa hỏi Đức Như Lai về sự hành hóa của hàng Bồ-tát Đại sĩ, các vị đi khắp ba cõi để giáo hóa, siêng năng giữ gìn giới cấm, giảng pháp khắp nơi, tu tập về hạnh thanh tịnh, bất cứ ở đâu cũng đều tu tập trọn vẹn Trí tuệ ba-la-mật, dùng vô lượng phương tiện để giáo hóa đúng lúc. Vì những chúng sinh có tâm hộ trì chánh pháp nhưng không thể tự thông đạt được nên con mới thưa hỏi Đức Như Lai.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là Bồ-tát hiểu rõ các pháp, có thể giảng nói đúng lúc cho mọi người, tâm của các vị vững mạnh, không bỏ mất lực và niệm, đạt đến tuệ vi diệu, thông suốt tất cả các pháp, biết rõ nguồn gốc của chương cú, nghĩa lý, thường biết rõ thân mạng đời trước, không quên mất giữa chừng, thành tựu đạo Chánh chân Vô thượng và làm Bậc Tối Chánh Giác?

Đức Phật nói:

–Lành thay! Lành thay! Này Bồ-tát Trì Nhân! Vì muốn cho chư Thiên và chúng sinh khắp mười phương được nhiều sự hộ niệm và được nhiều an ổn nên ông mới thưa hỏi Như Lai những ý nghĩa cốt yếu như vậy. Ông đã vun trồng công đức không thể nghĩ bàn, vì đã phá tan mọi lưới nghi cho chúng sinh, vì tâm Từ bi rộng lớn mà hiển bày ánh sáng lớn cho họ, đời hiện tại và vị lai ông nên tu tập tâm Từ bi vô tận của các Bồ-tát để hiển bày đạo lớn khắp chúng sinh, phát thệ nguyện rộng lớn để cứu giúp tất cả, giáo hóa, cứu giúp chúng sinh thoát khỏi các tai nạn, có được nơi nương tựa, giúp đỡ chúng sinh vượt qua ngã và ngã sở, khiến họ không còn bị đọa vào ba cõi ác và thoát khỏi các khổ nơi địa ngục, rồi kiến lập đạo quả Chánh chân Vô thượng cho họ. Ông cũng muốn cho chúng sinh thoát khỏi những tai nạn sinh, già, bệnh, chết, buồn rầu, khốn khổ… được an ổn lâu dài, ở đời vị lai, vào thời mạt pháp nên lưu truyền chánh pháp để làm tiêu tan sợ hãi cho chúng sinh, khiến họ không còn lo âu gì nữa. Hãy lắng nghe và khéo suy nghĩ!

Bồ-tát Trì Nhân và đại chúng yên lặng lắng nghe.

Đức Phật nói:

–Này Bồ-tát Trì Nhân! Bồ-tát có đầy đủ bốn pháp để quan sát những ngôn từ, lời dạy và để hiểu rõ các pháp, có thể dạy bảo cho mọi người đúng luc. Những gì là bốn? Đó là: Tâm ý luôn luôn chân chánh, chí nguyện trọn vẹn với đạo pháp chưa từng xao lãng, tánh hạnh nhu hòa, đĩnh đạc, Từ bi và tâm luôn ứng hợp với những pháp thù thắng. Đó là bốn pháp. Lại có bon pháp. Những gì là bốn? Phân biệt những ý nghĩa về đạo, thông suốt hết mọi chủng tánh; thấu hiểu các hạnh và nẻo hướng đến của nghĩa lý; giảng nói tất cả những sự cốt yếu của các pháp; thông đạt nguồn gốc các phap, tùy lúc mà hóa độ. Đó là bốn pháp. Lại có bốn pháp. Những gì là bốn? Hiểu rõ vô lượng sự hành hóa của các pháp, dùng hạnh vượt trên tất cả để xiển dương vô lượng giáo pháp, nên phân tích và hành hóa đúng lúc, vun trồng công đức vô tận để nhận biết rõ nhân duyên các pháp và đoạn trừ các tập. Đó là bốn. Lại có bốn pháp. Những gì là bốn? Nương nơi chánh hạnh mà đạt được đạo quả Chánh chân Vô thượng; mau chóng đầy đủ diệt và đạo, thực hiện ba mươi bảy phẩm Trợ đạo; thông đạt các pháp bằng trí tự nhiên không có nơi nương tựa; biết rõ các phương tiện thiện xảo, thành tựu tâm Từ bi rộng lớn. Đó là bốn. Lại có bốn pháp. Những gì là bốn? Tâm không còn nhơ uế, không ôm lòng tham tiếc, ganh ghét; dùng tâm Từ bi để cứu giúp chúng sinh, giới đức thanh tịnh, các hạnh đều trong sáng, luôn tinh tấn không hề biếng trễ, siêng tu thanh tịnh thành tựu đạo quả; hiểu rõ, thuận theo các hạnh, chuyên tư duy về đạo. Đó là bốn. Lại có bốn pháp. Những gì là bốn? Tâm tánh thanh tịnh, các nguyện trong sáng; vun trồng các công hạnh, oai đức thanh tịnh; nhẫn nhục, nhu hòa, kiến lập pháp thù thang; đạt được ánh sáng lớn chiếu soi khắp nơi, hiểu rõ ý nghĩa của kinh điển, hội nhập vào nẻo đạo. Đó là bốn. Lại có bốn pháp. Những gì là bốn? Sớm tối siêng tu để cầu Nhất thiết trí, giữ tâm luôn định tĩnh, chánh niem; thông đạt pháp môn giải thoát, thực hành theo tâm Bi; dùng tâm Từ, Hỷ, Xả không bờ bến để giúp chúng sinh khỏi các tai nạn; xiển dương nghĩa lý nơi chánh pháp và hiểu rõ về đạo. Đó là bốn. Lại có bốn pháp. Những gì là bốn? Nương theo trí tuệ để hành hóa trọn vẹn; làm bậc Thánh sáng suốt, thanh tịnh, có chí nguyện rộng lớn; ưa thích đạt đến oai đức và tuệ không chướng ngại; tâm luôn nghĩ đến sự cứu giúp, chưa từng bỏ hạnh ấy. Đó là bốn. Lại có bốn pháp để quan sát về ngôn từ, nghĩa lý và kiến lập thệ nguyện vững chắc. Những gì là bốn? Ý chí vững mạnh, mọi mong cầu đều đầy đủ; tánh và hạnh an ổn, sự tu hành đều thành tựu; sự hành hóa rốt ráo, nhớ nghĩ về đạo không gián đoạn; tu theo bốn Niệm xứ, thành tựu được đức độ mẫu mực. Đó là bốn. Lại có bốn pháp để quan sát về ngôn từ, nghĩa lý và kiến lập thệ nguyện vững chắc. Những gì là bốn? Ý luôn dùng đức để kiến lập, tâm luôn nhớ nghĩ đến ba mươi bảy phẩm Trợ đạo của Phật; ý căn thông suốt, hiểu rõ những nơi từng sinh ra trong vô số kiếp thuở xưa; ý nương vào bình đẳng và tuệ thanh tịnh của bậc Thánh, không ai có thể phá hủy được, mau thành tựu quả vị Phật; giữ gìn Nhất thiết trí của chư Phật. Đó là bốn pháp. Lại có bốn pháp. Những gì là bốn? Biết rõ hết thảy phương tiện, đầy đủ trí tuệ; thông đạt và siêng năng hiển bày tuệ chân chánh; có nhân duyên nên được gần gũi và đạt đến quả vị Phật; luôn tinh tấn hành hóa, chưa từng biếng trễ. Đó là bốn. Lại có bốn pháp để kiến lập chí nguyện kiên cố. Những gì là bốn? Thường siêng năng, không xa lìa Phật đạo; tâm tánh an hòa, có thể chế ngự được ý; thông đạt các pháp, chưa từng buông lung, xiển dương đạo lý, các căn tịch tĩnh; luôn ứng hợp với nghĩa lý kinh điển, không trái với lời Phật dạy. Đó là bốn. Lại có bốn pháp để kiến lập chí nguyện kiên cố. Những gì là bốn? Kiến lập giới thanh tịnh, sự tu hành không có tỳ vết; không bị năm ấm ngăn che; tâm không chấp thủ, chưa từng biếng nhác; trừ sạch mọi tội lỗi diệt hết các phiền não. Đó là bốn. Lại có bốn pháp để kiến lập chí nguyện kiên cố. Những gì là bốn? Tâm không tán loạn, luôn cầu pháp chân chánh; dùng phương tiện làm cho tâm an ổn, thuận theo tất cả các pháp; biết rõ lúc nào là đúng thời, không bỏ phép tắc; bất cứ sinh ra ở đâu cũng không tham sản nghiệp, chỉ thích làm vị Sa-môn. Đó là bốn. Lại có bốn pháp để kiến lập chí nguyện kiên cố. Những gì là bốn? Thường gần gũi bạn lành, xa lìa bạn ác; ưa thích pháp sâu xa, chưa từng buông lung; quy y chư Phật và các Bồ-tát; thưa hỏi về giới luật, thông đạt các pháp quán. Đó là bốn. Lại có bốn pháp để quan sát những ngôn từ và hiểu rõ các pháp cú. Những gì là bốn? Dung mọi phương tiện để hiểu rõ các đạo nghiệp; thông suốt các pháp môn, nhân duyên và quả báo; luôn đặt trí tuệ là trên hết, hiểu rõ Phật đạo; thông đạt, xiển dương nghĩa lý, chương cú của các pháp. Đó là bốn. Bồ-tát lại có bốn pháp để quan sát về ngôn từ và hiểu rõ chương cú của các pháp. Những gì là bốn? Hiểu rõ, xiển dương những lời dạy chân thật; mở bày các pháp, thông đạt tất cả; phân tích các pháp, đầy đủ mọi phương tiện; biết rõ các nghĩa lý, nguồn gốc do đâu mà có. Đó là bốn. Lại có bốn pháp để quan sát về nghĩa lý và ngôn từ. Những gì là bốn? Tu theo tuệ bậc Thánh, hiểu rõ đạo nghiệp; đạt được uy lực, ban bố các pháp; mau thành tựu quả vị Phật và tuệ thanh tịnh; dùng ánh sáng các Ba-la-mật chiếu soi khắp nơi. Đó là bốn. Lại có bốn pháp để thông đạt các pháp. Những gì là bốn? Hiểu rõ các tập, siêng năng tu hành; diệt hết các nhân, không có điều gì mà không biết; nhờ vào sự chứng đắc nên đạt được thần lực; lúc nào cũng siêng năng tu tập, nghe nhận kinh điển chân chánh. Đó là bốn. Lại có bốn pháp để hiểu rõ các pháp. Những gì là bốn? Biết rõ vạn vật đều là vô thường; nhận biết vạn vật vốn do các nhân mà thành; biết chắc vạn vật đều trở về sự diệt tận; hiểu rõ vô thường nên tu tập theo tám Chánh đạo. Đó là bốn. Lại có bốn pháp để thông đạt các pháp. Những gì là bốn? Thông suốt các hành đều do các tập chứa nhóm; thấu đạt tất cả sự diệt tận của các tập; đạt được nhân duyên về năng lực lớn không cùng tận; nương vào phương tiện nên biết được sự hợp, tan của các hành. Đó la bốn. Lại có bốn pháp để hiểu rõ các pháp. Những gì là bốn? Thông suốt hết mọi nẻo hướng đến của các nghĩa lý, ngôn từ; hiểu thấu các nghĩa lý mà không nhờ người khác; diễn nói hết thảy các pháp và tất cả mọi coi nguồn về tướng của trí tuệ; khiến cho tất cả các pháp đều kiến lập nơi tuệ vô tướng. Đó là bốn. Lại có bốn pháp, dù sinh ra ở đâu cũng thường biết được đời trước của mình, nhớ nghĩ không quên, cho đến phát tâm Chánh chân Vô thượng. Những gì là bốn? Các căn sáng suốt, biết rõ pháp thiện, ác; nhờ biết rõ ý niệm phải, trái của người khác nên tất cả các ấm đều được tiêu trừ; sinh ở chỗ nào cũng luôn chánh niệm; thường hướng đến đạo Chánh chân Vô thượng. Đó là bốn. Lại có bốn pháp làm cho tâm ý không quên mất đạo Chánh giác. Những gì là bốn? Thường thực hành thiền định, thông đạt các phương tiện; trí tuệ thông suốt, xem ánh sáng trí tuệ là trên hết; biết rõ các pháp quán nên quan sát khắp nơi; đạt được trí tuệ nên ánh sáng chiếu cực xa. Đó là bốn. Lại có bốn pháp để tâm ý không quên mất đạo Chánh giác. Những gì là bốn? Đạt được các pháp Tổng trì và tuệ không chỗ sinh; chứng đắc tuệ siêu việt tột cùng nơi bậc Thánh; dùng tuệ diệt trừ để quan sát ba cõi; dùng tuệ vô bờ để thấy khắp ba cõi. Đó là bốn pháp. Lại có bốn pháp, dù sinh ra bất cứ đâu cũng thường biết được đời trước, không hề tán loạn, hướng đến Chánh giác. Những gì là bốn? Nhờ đoạn trừ các kết sử nên không thể tán loạn, lời nói không bao giờ sai sót, tất cả các hạnh nghiệp đạt được đều là vô vi, đạt được hạnh như Phật và đạo lớn không cùng tận. Đó là bốn. Khi ấy, Đức Phật nói kệ:

Người ấy đã thành tựu
Tâm, tánh thường sáng suốt
Chưa từng quên chánh pháp
Nhờ đạt được Chánh giác.
Hiểu rõ tất cả pháp
Nhu hòa, tu Từ bi
Biết các pháp là không
Thông đạt vô số hạnh.
Tu theo tuệ chân thật
Đầy đủ tuệ bậc Thánh
Diệt trừ tâm nhơ uế
Chưa từng có ganh ghét.
Dùng phương tiện đúng lúc
Thông hiểu tuệ vô thượng
Chí nguyện rất rộng lớn
Cho đến thành Chánh giác.
Tâm ý luôn tự tại
Ba mươi bảy trợ đạo
Tâm ấy đều thông suốt
Biết vô số đời trước.
Hiểu khổ từ đâu sinh
Đều do nguồn gốc tập
Tất cả đều sẽ diệt
Biết hết thảy vốn không.
Nhờ chánh pháp Bồ-tát
Giáo hóa khắp ba cõi
Khiến cho người tăm tối
Đều đạt đạo Vô thượng.

Đức Phật bảo Bồ-tát Trì Nhân:

–Bồ-tát có năm pháp để thực hành về năng lực thanh tịnh, đạt được công đức như vậy. Những gì là năm? Nhờ bản tánh nhu hòa tuệ lực thanh tịnh nên các nguyện đều thanh tịnh, thần lực về tuệ sáng suốt của bậc Thánh và cội gốc công đức đều thanh tịnh, năng lực của đạo vô lượng nên các thệ nguyện đều thanh tịnh, thần lực của tuệ này dứt bặt các nghiệp chướng nên thần lực của tuệ thanh tịnh. Đó là năm. Lại có năm pháp khiến năng lực của tuệ được thanh tịnh. Những gì là năm? Nhờ năng lực ấy để xiển dương các oai nghi phép tắc, thành tựu các niệm khiến thần lực của tuệ thanh tịnh, nương vào phương tiện thiện xảo, hiểu rõ năng lực không tỳ vết, vì chúng sinh giảng rõ diệu lực của bậc Thánh, muốn đạt được năng lực của thần thông nên siêng năng tu tập. Đó là năm. Lại có năm pháp để làm năng lực của trí tuệ được thanh tịnh và đạt được tất cả những hạnh nghiệp công đức. Những gì là năm? Bố thí thanh tịnh gọi là diệu lực của trí tuệ; cứu giúp chúng sinh chính là năng lực thanh tịnh; kiến lập tâm Từ rộng lớn là thần lực của trí tuệ thanh tịnh; tâm Bi rộng lớn là thần lực của trí tuệ thanh tịnh; nhờ Hỷ, Xả không cùng tận nên là năng lực của trí tuệ thanh tịnh. Đó là năm. Lại có năm pháp làm năng lực thanh tịnh, đạt được công đức. Những gì là năm? Giới của vị ấy thanh tịnh nên đạt được tuệ thuần nhất, nhờ thực hành giới cấm nên dùng tuệ để cứu giúp chúng sinh, nhẫn thanh tịnh nên không bao giờ sân hận, năng lực của tuệ thanh tịnh nên cứu giúp những người không có thế lực, lực học rộng hiểu nhiều thanh tịnh nên thông đạt tất cả. Đó là năm. Lại có năm pháp để làm đầy đủ các công đức. Những gì là năm? Nhờ tu hành siêng năng nên đạt được chí nguyện về lực của trí tuệ, nhờ siêng năng tu tập nên tuệ thanh tịnh, có diệu lực của tuệ nhất tâm nên mau đạt được định ý, thông đạt tuệ thiền định, dùng tâm thanh tịnh rỗng lặng để quan sát ba cõi là không. Đó là năm. Lại có năm pháp để đạt được công đức. Những gì là năm? Trí tuệ thanh tịnh nên học rộng hiểu nhiều không hề nhàm chán; nhờ có được uy lực nên vượt trên thế lực; mạnh mẽ, có oai lực, cứu giúp người yếu đuối; nhờ uy lực nơi ánh sáng của bậc Thánh nên hiểu biết thanh tịnh; dùng thần lực của tuệ thanh tịnh để diễn đạt về hữu, vô, sinh tử và vô vi. Đó là năm. Lại có năm pháp để thành tựu diệu lực ánh sáng của bậc Thánh và đạt được công đức. Những gì là năm? Nương vào năng lực của trí tuệ để phân tích các pháp quán; nhờ thông đạt các lực nên được thanh tịnh hoàn toàn; có ánh sáng của tuệ giải thoát nhờ thành tựu diệu lực bậc Thánh; đạt được tuệ vô sinh nên có được năng lực về đạo; nhờ nhất tướng và thật tướng đều thanh tịnh nên dùng năng lực của trí tuệ để quan sát thấy những vật sở hữu vốn là thanh tịnh. Đó là năm.

Đức Phật bảo Bồ-tát Trì Nhân:

–Hàng Bồ-tát Đại sĩ nên luôn tu tập theo những pháp thanh tịnh như vậy.

Bấy giờ, Đức Phật nói kệ:

Năm Lực không gì sánh
Đạt được tuệ thanh tịnh
Tiêu trừ năm ấm cái
Tự nhiên đạt thần thông.
Bố thí, trì giới, nhẫn
Tinh tấn, nhất tâm, tuệ
Sáu độ vốn không tướng
Hành giả chẳng danh tự.
Đạo hạnh là tất cả
Không vướng mắc các cõi
Thoát ba cõi như huyễn
Đến nẻo không sinh tử.

Đức Phật bảo Bồ-tát Trì Nhân:

–Các Bồ-tát Đại sĩ lại có ba pháp, tuy ở trong cõi đầy sắc tướng nhưng luôn dùng năng lực của pháp thanh tịnh để siêng năng tu tập trí tuệ. Những gì là ba? Ưa thích đạo pháp, siêng năng không mệt mỏi, tu hành không hề buông lung. Đó là ba. Lại có ba pháp: Đối với sắc pháp luôn có tuệ lực thanh tịnh, mau thành tựu quả vị Phật, đạt đến Nhất thiết trí. Vì sao? Vì siêng năng tu tập nên không buông lung, thành tựu các pháp, nhờ tâm thanh tịnh nên đạt đến năng lực của đạo, mau thành tựu tinh tấn; tu hành theo Từ bi và trí tuệ không hề thoái chuyển, nhờ không thoái chuyển nên xiển dương đạo pháp, thành tựu công đức; nhờ đã thành tựu công đức nên mau chứng đắc các pháp, thông đạt diệu lực của trí tuệ, nhờ thông đạt như vậy tức là bậc Như Lai ở thế gian, liền đạt được oai đức diễn nói không chướng ngại, chính là đã làm theo Đức Như Lai, đạt được trí tuệ của bậc Thánh nên quan sát nơi Đức Như Lai, không bao lâu nữa sẽ chứng đắc đạo trí tuệ của Như Lai.

Đức Phật bảo Bồ-tát Trì Nhân:

–Thuở xưa, trải qua vô số kiếp, Như Lai đã thực hành nghiệp Bồ-tát và đã được Phật Đăng Quang thọ ký: “Ở đời sau cùng, ông sẽ đạt được diệu lực của trí tuệ thanh tịnh và các Ba-la-mật giống như ta.” Có Bồ-tát nào đạt được tuệ này thì vị ấy cũng chuyển pháp luân như Như Lai hiện nay đang chuyển pháp luân, cũng gầm lên tiếng gầm của sư tử giống như vậy. Nhờ đạt được tuệ này, vị ấy liền được tự tại đối với các pháp, đạt được tự tại rồi liền thành tựu đại đạo. Nếu muốn đạt đến trí tuệ không cùng tận này thì nên học pháp ấy, không bao lâu nữa sẽ chứng đắc quả vị Chánh giác Vô cực của Phật.

Phẩm 2: PHẬT DIỆU TUỆ SIÊU VƯƠNG

Đức Phật bảo Bồ-tát Trì Nhân:

–Thuở xưa, cách đây vô lượng, vô số kiếp không thể tính kể, khi ấy, có Đức Phật hiệu là Diệu Tuệ Siêu Vương đầy đủ mười tôn hiệu: Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Lúc Đức Phật ấy trụ thế, chúng Thanh văn không thể tính kể, hàng Bồ-tát thì vô số, đều là bản nguyện của Đức Phật ấy khi còn học đạo đã phát ra. Cõi nước ấy thanh tịnh, công đức cao vời, không có ba cõi ác và tám nạn, chúng sinh an ổn, đủ phước đức, yên vui, tất cả đều lìa tham dục, diệt trừ năm ấm, ở thế gian không thể so sánh được, họ đều dùng các đạo phẩm để cùng nhau an lạc, dùng bốn Thiền định để thực hành chánh niệm.

Đức Phật nói:

–Này Bồ-tát Trì Nhân! Đức Phật Diệu Tuệ Siêu Vương thọ tám mươi ức trăm ngàn kiếp. Chúng sinh trong cõi nước ấy sống đến ba mươi ức kiếp. Lúc ấy, trong nước không có vua cai trị muôn dân, mà chỉ có Đức Như Lai Diệu Tuệ Siêu Vương làm vị Pháp vương, dân chúng đều tôn xưng Đức Phật ấy là bậc Đạo Vương Vô Thượng. Hàng Bồ-tát của Đức Như Lai Diệu Tuệ Siêu Vương có khả năng làm tất cả như: tiêu trừ lưới nghi khắp chúng sinh, khiến họ hoan hỷ, diễn nói kho tàng pháp không cùng tận của Bồ-tát.

Khi ấy, các Bồ-tát nghe Đức Phật giảng nói về diệu lực của pháp thanh tịnh như vậy xong, có năm trăm Bồ-tát nhất tâm siêng năng, ngày đêm ân cần, chẳng nghĩ đến ngồi, chẳng muốn ăn, suốt đời không nghĩ đến y phục, mà chỉ nghĩ đến đạo Pháp vương Chánh chân Vô cực, tư duy về diệu lực của pháp thanh tịnh ở đời tượng pháp. Nhờ cội gốc công đức về nhất tâm đã đạt được nên sau khi lâm chung, các vị ấy được sinh ra ở phương Đông, cách cõi nước của Đức Phật này tám ngàn ức cõi nước, đã sinh hoặc sẽ sinh đều chứng đắc pháp ấy, luôn ghi nhớ không quên, biết được đời trước, sáng suốt, thông minh, các căn lanh lợi, thấy khắp tất cả, suy xét biết rõ từ xưa đến nay. Lại nữa, ở cõi nước ấy có Đức Phật hiệu là Vô Lượng Hoa Vương, đang giảng nói kinh pháp, năm trăm Bồ-tát này sinh đến cõi nước của Đức Phật ấy, đến năm mười sáu tuổi, các vị đều xin cha mẹ xuất gia, trừ bỏ các nghiệp, làm vị Sa-môn tu hành thanh tịnh, ở chỗ Đức Phật ấy siêng năng tu tập suốt sáu mươi ức năm.

Đức Phật bảo Bồ-tát Trì Nhân:

–Bấy giờ, năm trăm vị Bồ-tát ấy gặp được hai mươi ức chư Phật, đều ở nơi các cõi nước chư Phật ấy để siêng năng tu hành suốt ngày đêm, giống như ở chỗ Đức Như Lai Diệu Tuệ Siêu Vương. Trải qua một vạn kiếp, năm trăm vị ấy được hai vạn Đức Phật thọ ký là sẽ chứng đắc đạo quả Chánh chân Vô thượng. Trong ức vạn kiếp, cúng dường phụng sự hai vạn Đức Phật xong, năm trăm vị ấy đều lần lượt thành Phật trong một kiếp. Cho nên, này Bồ-tát Trì Nhân! Bồ-tát Đại sĩ nào muốn mau thành tựu đạo quả Chánh chân Vô thượng, làm Bậc Tối Chánh Giác thì nên siêng năng tu học giống như vậy, dùng diệu lực của tuệ thanh tịnh nắm được điều cốt lõi của kinh điển, ngày đêm siêng tu, chớ nên biếng nhác, buông lung. Vì sao? Vì cội nguồn tu học của chư Phật đều nhờ vào siêng năng, lấy không buông lung làm nguồn gốc thì đạt đến đạo quả Tối Chánh Giác, đầy đủ các đạo phẩm. Thuở xưa, Như Lai luôn siêng năng như vậy nên mới được gặp mười hai ức chư Phật Thế Tôn, sinh ở chỗ nào cũng được diệu lực về ý, thông suốt hết từ xưa đến nay, biết rõ hết thảy đời trước, bất cứ gần hay xa đều thấy hết. Đó là nhờ Như Lai siêng năng học pháp này, không hề buông lung, ngày đêm siêng tu, chưa từng biếng trễ.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn dùng tâm Từ không thể cùng tận cùng với tâm Bi rộng lớn quan sát khắp bốn phương, rồi từ trong Tam-muội Chánh thọ hóa hiện chư Phật đầy khắp tam thiên đại thiên thế giới. Tất cả chư Phật đều giảng nói kinh pháp, dứt trừ nghi ngờ của chúng sinh, những ai được nghe pháp đều hoan hỷ, chư Phật lại giảng nói pháp cho hàng Bồ-tát.

Khi ấy, Đức Thế Tôn lại dùng thần thông hiển hiện oai đức khiến các chúng Bồ-tát trong vườn Trúc đều thấy được chư Như Lai khắp mười phương đang giảng nói kinh pháp nơi cõi nước mình. Lúc ấy, tất cả chúng Bồ-tát đều từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay hướng về Đức Phật kính và lễ khen ngợi:

–Thật là điều chưa từng có! Oai đức, thánh tuệ của chư Phật Thế Tôn là không thể nghĩ bàn. Đạo pháp thù thắng siêu tuyệt, cao vời vô lượng, giống như hư không, chẳng thể nắm giữ.

Đức Như Lai liền bảo các Bồ-tát:

–Điều này chưa phải là khó. Như Lai Chí Chân không thể giới hạn, không thể ví dụ. Vì sao? Này thiện nam! Thông đạt tất cả các pháp giới thì không có điều gì mà không thông suốt, Như Lai Chí Chân đã thông đạt tất cả pháp giới. Như Lai dùng công đức thần thông bằng một sợi lông để biến hóa thì đã không thể lường xét được, ánh sáng chiếu đến các thế giới khắp mười phương nhiều như số cát trong sông Hằng, trong ánh sáng ấy đều phát ra âm thanh diễn nói kinh pháp. Dù cho nơi mỗi lỗ chân lông của Như Lai phát ra trăm ngàn ức thần thông biến hóa thì cũng chẳng phải là khó. Vì sao? Vì công đức thần thông của Như Lai Chí Chân không có giới hạn, luôn cao vời như vậy. Lại nữa, này thiện nam! Như Lai biết được tâm chúng sinh nên thuyết pháp cho họ. Trong thời tượng pháp, ít có chúng sinh tin ưa như thế, cũng không siêng năng tu tập mong được an lạc, pháp vô lượng này cũng thật là hiếm có. Vì sao nay Như Lai xuất hiện ở đời năm trược. Những gì là năm trược? Một là chúng sinh nhiều xấu ác, không biết nghĩa lý. Hai là sáu mươi hai tà kiến dấy khởi mạnh mẽ, không chấp nhận lời dạy về đạo pháp. Ba là chúng sinh có nhiều tham dục, phiền não dấy khởi, không biết lìa bỏ. Bốn là mạng sống ngắn ngủi, thuở xưa, con người sống đến tám vạn bốn ngan năm mới chấm dứt, ngày nay tuổi thọ khoảng chừng một trăm, hoặc dài hơn, hoặc ngắn hơn. Năm là tiểu kiếp sắp hết, ba tai nạn sẽ nổi lên làm hại tất cả. Nếu ở trong đời ác năm trược này mà có một người tin ưa nghĩa lý sâu thẳm của thời tượng pháp và có thể tin nhận về tuệ chân chánh của Phật như vậy thì đó là điều rất khó, chưa từng có, huống nữa là tin ưa, nghe nhận và thọ trì theo sự hành hóa của Phật.

Này chư thiện nam! Thuở xưa, từ vô số kiếp, Như Lai đã mặc áo giáp công đức lớn, suốt ngày đêm luôn tu tập theo các hạnh tinh tấn, nhẫn nhục, nhân đức, Từ bi… Nếu thấy chúng sinh ở chỗ nguy hiểm, tai nạn khổ sở, không ai cứu giúp, luôn lo sơ đọa vào các cõi ác thì Như Lai nguyện sinh đến các cõi ấy để dẫn dắt, làm lợi ích cho họ, cứu giúp các chúng sinh bị tai nạn khiến được gặp chánh đạo. Công đức của Như Lai Chí Chân không thể lường xét, như hư không một mình không có bạn nhưng mạnh mẽ, bao trùm khắp mười phương. Bản nguyện của chư Phật đời quá khứ cũng đều thanh tịnh. Những ai có thể tin ưa, hoan hỷ và thọ trì nghĩa lý của vô lượng pháp sâu xa, vi diệu như vậy là đều nhờ thuở xưa, vị ấy đã từng được giáo hóa nên hôm nay mới tin nhận, hoan hỷ. Trong hiện tại, chúng sinh ít có niềm tin đối với những pháp mà Như Lai đã hiển bày như mười Lực, bốn Vô sở úy, mười tám pháp Bất cộng của chư Phật và tuệ về không, vô… người ưa thích tu tập những pháp này thật là hiếm thấy. Nếu có thể hiểu được pháp này, đó là nhờ oai đức, thần thông biến hóa và công đức mạnh mẽ của Như Lai. Chư Phật này dùng năng lực của trí tuệ, phương tiện thiện xảo ngày đêm giáo hóa chúng sinh, siêng tu không biếng trễ, đều do thuở xưa luôn luôn nhất tâm, không bỏ pháp này, thường thực hành tâm Từ lớn, tu tập tâm bi không cùng tận, dùng tâm hỷ, xả rộng lớn để cứu giúp chúng sinh.

Lại nữa, này thiện nam! Các vị học hạnh Bồ-tát nhưng ít có tâm thương xót, ở trong đời năm trược mà thành tựu đạo quả Tối Chánh Giác, vì chúng sinh đời năm trược mà giáo hóa thì thật là khó, cũng thật là hiếm có, nên làm theo sự giáo hóa của Như Lai trong hiện tại. Vì sao? Thuở xưa, Như Lai rất mực siêng năng tích chứa công đức, mỗi kiếp đều tự mình bố thí đầu mắt, da thịt, các chi phần, vợ con, nước thanh, tùy tùng, xe cộ… không hề luyến tiếc, kể cả thân mạng cũng chẳng tham tiếc, vì biết ba cõi không thể nương tựa, chỉ có đạo mới có thể nương nhờ, dùng năng lực không cùng tận, thực hành phương tiện thiện xảo để giáo hóa chúng sinh, khiến họ có thể chứng đắc đạo quả Chánh chân Vô thượng. Nhớ lại thuở xưa, trong một ngày, Như Lai đều bố thí vô lượng, cho hết thân mạng mà không hề luyến tiếc, đều do thương xót, nhớ nghĩ đến chúng sinh nên giáo hóa khiến họ từ nơi tối tăm thấy được ánh sáng của đạo. Cũng nhớ về thuở xưa, cách đây vô số kiếp, thấy những chúng sinh đói khát, không có thức ăn nước uống, Như Lai liền bố thí đầy đủ theo khả năng của mình như: cắt da thịt của mình để nấu nướng rồi đem cho họ, không tạo ra các tai nạn, tâm không sân hận, chỉ tu hành theo tâm bi rộng lớn, thương xót chúng sinh, thực hành theo tâm Từ không bờ bến. Do đó, nên tư duy như vầy: Luôn tu tập siêng năng, giáo hóa chúng sinh như vậy, siêng năng chứa nhóm công đức như vậy thì sẽ chứng đắc đạo quả Bồ-đề vô thượng.

Này các vị! Nên siêng năng tu học pháp vi diệu như vậy, tu tập đạo pháp không cùng tan như vậy, cũng nên tu hành hạnh Bồ-tát và giáo hóa chúng sinh giống Như Lai thuở xưa, vì họ mà diễn nói kinh pháp, thì sẽ được giải thoát giống Như Lai trong hiện tại.

Lúc ấy, trong Hiền kiếp có một ngàn Đức Phật đều khen ngợi hạnh nguyện thuở xưa của Như Lai, mỗi vị đều khen: “Đức Như Lai Năng Nhân thuở xưa tu hành siêng năng, không thể lường xét, không thể ví dụ, trí tuệ cao vời, đầy đủ các Ba-la-mật, ở trong đời năm trược, nhiễu loạn này để giáo hóa chúng sinh, công đức không cùng tận, không thể tính kể.”

Do đó, này các vị! Có chúng sinh nào siêng năng tu hành như vậy, ưa thích tu tập, không hề buông lung thì người ấy sẽ mau thành tựu quả vị Chánh giac.

Lại nữa, Như Lai đạt được đạo quả Chánh chân Vô thượng, thành Bậc Tối Chánh Giác, lúc sắp diệt độ cũng giáo hóa vô lượng chúng sinh. Nếu có thể siêng năng tu tập như vậy thì nên theo lời dạy mà thực hành, không nên biếng trễ, nên kiến lập chùa, tháp ở nơi có xá-lợi của Phật dù bằng hạt cải, sẽ chứng đắc hạnh nghiệp diệt độ của Phật. Vì sao? Chư Phật khởi tâm Từ bi vì các chúng Bồ-tát đời vị lai mà bố thí, cũng vì các Bồ-tat tu hành Phật đạo nên đã từng giáo hóa, do nhân duyên này mà hiển bày đại đạo. Lại nữa, vì tâm Từ bi nên Như Lai sinh vào trong tám nạn, cũng vì tâm bi rộng lớn nên ban bố xá-lợi khắp nơi. Nếu có thể thâu lấy xá-lợi lớn bằng hạt cải và râu tóc của Như Lai rồi kiến lập chùa, tháp để cúng dường thì sau khi Như Lai diệt độ, người ấy sẽ gặp được xá-lợi, tâm rất vui mừng, rồi chọn nơi chốn để xây chùa tháp, tôn trí xá-lợi, tùy theo tâm nguyện của chúng sinh mà khởi tâm bi rộng lớn, nên biết đời trước người ấy đã tu hành pháp Bồ-tát, luôn đem tâm bình đẳng đối với chúng sinh nên đạt được những mong ước, xá-lợi lưu truyền khắp nơi. Chư Phật đã chứa nhóm công đức, ánh sáng không có giới hạn, cao vời như vậy, vì thương xót chúng sinh nên khởi tâm bi rộng lớn, vì đời mạt pháp mà kiến lập tâm Từ không cùng tận đối với tất cả chúng sinh. Có Bồ-tát nào ở thời tượng pháp mà ưa thích, siêng năng tu tập không buông lung, cho đến phát nguyện vào thời mạt pháp cũng hoằng hóa, giữ gìn, đọc tụng kinh điển, hoặc giảng nói cho người khác khiến kinh này được lưu truyền rộng rãi tức là đã kien lập quả vị Bồ-tát; hoặc có thể giữ gìn, đọc tụng, giảng nói cho người khác, dùng kinh điển này để khai hóa các Bồ-tát khiến các vị tu học, đọc tụng và tiếp tục lưu truyền mãi. Vì sao? Vì kinh điển này còn tồn tại ở thế gian thì chánh pháp của Phật còn hiện hữu mãi, nên xem như Như Lai còn ở đời. Này các vị! Thuở xưa, Như Lai vốn đã dùng phương tiện như vậy để giáo hóa chúng sinh, thuyết giảng kinh điển, là để dìu dắt chúng sinh trong đời năm trược về sau mới giảng nói kinh điển này.

Này các vị! Nếu ở cõi nước, đô thành, huyện ấp, xóm làng nào có lưu truyền kinh điển này, hoặc có người thọ trì, đọc tụng, giảng nói cho người khác như: học giả, thiện nam… thì nên thấy như Phật còn ở đời, khi sắp lâm chung, sẽ được Như Lai đến chỗ người ấy, vì Như Lai còn hiện hữu, không hề diệt độ. Vì sao? Này các vị! Chẳng phải Như Lai đã từng nói: Phật là Pháp thân, nếu thấy Pháp thân tức thấy Như Lai, không nên dùng sắc thân để quan sát Như Lai. Nếu tin nhận, nghe thấy, thọ trì kinh điển này thì thấy Như Lai; đã nghe pháp rồi như pháp mà tu hành mới gọi là thấy Phật; nghe giảng nói chánh pháp, thuận theo pháp mà hội nhập đạo gọi là thấy Phật. Như Lai chưa từng dùng pháp để phát sinh ra pháp, dùng chủ thể thực hành pháp mà diễn nói kinh điển, không ôm vọng tưởng để mong cầu các pháp mới gọi là thấy Như Lai, không chấp thủ đối với tất cả các pháp mới gọi là thấy Như Lai. Thiện nam nào không chấp vào các pháp đó là thấy Như Lai. Vì sao? Vì Như Lai Chí Chân không trụ nơi ngôn từ về pháp hay phi pháp nên không thể dùng pháp để quán thấy Như Lai. Vì sao? Vì Như Lai đã từng đưa ra ví dụ: Giống như bị trói vào chiếc bè nên pháp còn phải trừ bỏ huống nữa là phi pháp. Do đó, phải bỏ cả pháp và phi pháp mới gọi là thấy Như Lai. Vì sao? Vì Như Lai Chí Chân đều trừ bỏ các pháp, không hề giảng nói các pháp, cũng chẳng có xứ sở, không có đối tượng để sinh khởi cũng chẳng có danh hiệu huống nữa là giảng nói về các xứ sở. Vì sao? Vì Như Lai đã xa lìa tất cả các pháp. Nếu có thể quan sát như lời dạy của Như Lai thì thấy được Như Lai, vì chư Phật vốn đã đoạn trừ tất cả các pháp mới được chứng đắc đạo quả Chánh giác. Do đó, tất cả các pháp đều hư vọng không chân thật, thấy tất cả các pháp vốn là không, vốn thanh tịnh, quan sát chân thật như vậy mới thấy Như Lai. Lại nữa, này các vị! Không thủ đắc các pháp thì không có các pháp, gọi là không buông lung. Người nào không thấy có pháp cũng không thấy có phi pháp, do không thấy có pháp cũng chẳng có phi pháp nên mới hiểu rõ được nghĩa này. Nhờ hiểu được nghĩa này mới thấy bản tánh thanh tịnh, do quan sát bình đẳng chính là thấy Như Lai, thấy pháp như vậy cũng là thấy Như Lai. Quan sát Như Lai như vậy sau đó đạt được giác ngộ bình đẳng. Nếu quan sát Như Lai theo cách nào khác, thì đó là quán sai lệch. Người nào quán sai lệch rồi, gọi là quán hư dối, chẳng phải là quan sát chân thật.

Lại nữa, này các vị! Cho là chân thật tức bặt dứt hết thảy âm thanh, ngôn từ; không thật, không dối cũng chẳng phải chân thật hay hư dối, trừ sạch tất cả các nghiệp sở hữu, hoàn toàn không chấp thủ vào hết thảy đối tượng thọ nhận mới thấy Như Lai. Vì sao? Vì Như Lai Chí Chân không chấp giữ các pháp, nếu có đối tượng sinh khởi thì khiến được sinh khởi, diệt trừ tất cả sự chấp giữ các pháp gọi là tự nhiên, do thông đạt về tự nhiên nên quan sát như vậy gọi là quan sát chư Phật, nếu thấy như vậy là đã theo lời dạy của Như Lai. Những ai quán Phật như thế đều hội nhập tất cả các pháp vốn không, đã thông đạt tất cả các pháp vốn không, nên biết rõ hết thảy cũng vốn không, liền hiển bày đạo pháp, phân biệt các hành vốn đều thanh tịnh, tất cả các pháp đều trở về không, tất cả các pháp đều là pháp Như Lai thì được tự nhiên hội nhập vào đạo, biết tất cả các pháp đều thể nhập vào cảnh giới Như Lai, tất cả các pháp giới đều không thể nghĩ bàn liền thành Bậc Tối Chánh Giác. Cho nên, này các vị! Chư Phật đã giảng nói, tất cả các pháp đều là cảnh giới của Như Lai, cũng không có cảnh giới nào là cảnh giới của Như Lai. Vì sao? Vì tất cả các pháp đều có cảnh giới, nhưng suy xét thì các pháp ấy không có cảnh giới, đó là cảnh giới của Như Lai. Tất cả các pháp đều là cảnh giới mà không thấy có các cảnh giới mới gọi là có cảnh giới, cảnh giới ấy cũng là cảnh giới của Như Lai. Tất cả các hạnh của chúng sinh đều không có cảnh giới mà có thể hiểu rõ cảnh giới thanh tịnh chân thật, tuy biết pháp ấy nhưng hoàn toàn không thể thông đạt, chỉ có Như Lai Chí Chân mới thông suốt tất cả, cho nên gọi là không có cảnh giới. Cảnh giới của Như Lai là cảnh giới không chấp thủ, gọi là cảnh giới của Như Lai. Vì sao? Vì chư Phật đã giảng nói về tận cội nguồn chân thật của các cảnh giới, nhưng không thấy có các cảnh giới mới gọi là cảnh giới của Như Lai. Tất cả các cảnh giới đều là cảnh giới của Như Lai.

Nếu biết rõ không có cảnh giới cũng chẳng phải không có cảnh giới, thông suốt hết thảy, đó gọi là chứng đắc, không chấp thủ vào cảnh giới thì đó là cảnh giới của Như Lai.

Này các vị! Thông đạt tất cả các pháp là không có cảnh giới, đó là cảnh giới của Như Lai, là hội nhập nghĩa lý nơi nẻo đạo, quan sát các pháp như vậy chính là đạt đến cảnh giới của Như Lai, an lạc nhưng không thấy đối tượng an lạc là cảnh giới của Như Lai, không hề chấp giữ cũng chẳng yêu ghét. Vì sao? Vì biết không có cảnh giới gọi là cảnh giới Phật, cho nên nói: không có cảnh giới, đó là cảnh giới của Như Lai. Do tất cả các pháp không thể nắm giữ nên không có xứ sở, đối với tất cả các pháp không có đối tượng chấp thủ nên gọi là cảnh giới Như Lai. Khi được thể nhập vào tuệ nhưng tất cả các pháp đều không có đối tượng thể nhập, do đó, không có sáu pháp môn cũng không có đối tượng hội nhập. Vì sao? Này các vị! Không có các pháp môn cũng không có đối tượng hội nhập nên chẳng có sự thấy. Vì sao? Vì Như Lai Chí Chân không thủ đắc các pháp cũng chẳng có đối tượng để hội nhập, không có đối tượng thấy cũng không có đối tượng thuyết giảng, không có thiện, ác, thô tế, vi diệu, ngôn từ hay gốc ngọn. Đó gọi là hội nhập vào tất cả các pháp, thể nhập vào chỗ không hình tướng, không có sự ứng hợp nào mà chẳng ứng hợp, đối với tất cả các pháp, không siêng năng cũng chẳng biếng trễ, không hợp lại cũng chẳng tan rã, đó gọi là pháp môn tất cả các pháp, gọi là pháp môn không tên gọi, pháp môn không ngôn từ, pháp môn không có đối tượng hội nhập, pháp môn không chấp thủ, pháp môn không thể trao truyền, pháp môn vô sinh, pháp môn hoàn toàn tịch tĩnh… không nhờ những pháp môn này để có thể biết được các pháp. Nếu thấy được pháp thì chẳng phai nhờ pháp môn, vì pháp môn hoàn toàn tịch tĩnh, nên không phải do pháp môn mới có thể thông đạt được pháp. Nếu thấy pháp mà không nương pháp môn thì có thể chứng đắc các pháp, cũng chẳng có đối tượng để xuất hay nhap. Vì sao? Tất cả các pháp đều không có pháp môn, mà pháp môn cũng chẳng thể nắm bắt, tất cả các pháp đều là pháp môn tạm có, tất cả các pháp vốn thanh tịnh, tất cả các pháp môn không thể nghĩ bàn, tất cả các phap không thể đoạn trừ cũng chẳng phải không thể đoạn trừ, không có giới hạn. Này các vị! Do đó, hết thảy các pháp đều không thể thủ đắc, là hư dối, không thật có, tất cả các pháp môn không thể lường, không thể xét. Pháp môn bản tế ấy không thể cùng tận, không thể diệt trừ, nắm bắt được bản tế hoặc thấu hiểu về bản tế thì chính là nghĩa chân thật. Thiện nam, thiện nữ nào thông đạt được những pháp môn này thì đã thể nhập vào tất cả các pháp môn, có khả năng giảng nói theo tâm nguyện của chúng sinh.

Khi ấy, Đức Phật bảo Bồ-tát Trì Nhân:

–Có Bồ-tát Đại sĩ nào muốn dùng phương tiện để hiểu rõ tất cả các pháp, phân biệt rành rẽ ý nghĩa các pháp, muốn thành tựu đầy đủ năng lực của ý, tùy theo thời nghi mà thể nhập các pháp, sinh ở chỗ nào tâm cũng không đoạn dứt, hoặc dùng tâm tịch tĩnh để chứng đắc đạo quả Chánh chân Vô thượng thì nên tu tập, thể nhập vào pháp môn này, nếu đạt được ánh sáng của pháp môn này thì nên siêng năng tu tập pháp ấy để mau chóng trở về nơi nương tựa.

QUYỂN 2

Phẩm 3: VUA TRÌ THÍ

Đức Phật bảo Bồ-tát Trì Nhân:

–Thuở xưa, cách đây vô số kiếp không thể tính kể được, có Đức Phật hiệu là Ý Phổ Ngọc Vương, đầy đủ mười tôn hiệu: Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Vào đời của Đức Phật ấy, có tám mươi ức na-do-tha chúng Sa-môn, đều là bậc A-la-hán đã đoạn tận các lậu hoặc; các bậc Học và Vô học A-na-hàm, Tư-đà-hàm, Tu-đà-hoàn cũng có tám mươi ức na-do-tha, cùng với tám mươi bốn ức triệu chư Bồ-tát đều vân tập đến chỗ Đức Phật ấy.

Này Bo-tát Trì Nhân! Lúc ấy, Đức Như Lai có tuổi thọ là tám vạn năm. Trong đời ấy có vị vua tên là Trì Thí, làm vua hai vạn cõi nước, dân chúng đông đảo, mưa gió điều hòa, lúa gạo được mùa, trăm họ được an ổn. Thành của vua ngự rộng bốn trăm tám mươi dặm, đều do châu báu và bốn loại ngọc báu làm thành, tường của thành ấy có bảy lớp, cây cối, hào sâu và lan can bao quanh đều có bảy lớp, có bảy lớp lưới châu báu bao bọc trên các vách tường và các hàng cây, dùng bốn loại báu đan xen làm màn giăng quanh ở trên. Trong hai vạn cõi nước ấy, mỗi cõi nước có năm trăm quận huyện. Lại nữa, trên những cây ấy đều mọc ra vải vóc tốt đẹp, tự nhiên có bảy bau và các y phục mịn màng; mỗi ao nước đều có năm trăm ao tắm vây quanh, mỗi ao tắm đều do bảy báu làm thành, mọc ra hoa sen bằng bảy báu như hoa sen xanh, hoa sen hồng, hoa sen vàng và hoa sen trắng đầy khắp trong ao. Những hoa sen ấy lớn bằng bánh xe. Nước trong những ao ấy tự nhiên có tám vị. Quốc vương của nước ấy có tám vạn bốn ngàn phu nhân, thể nữ; trong cung của hoàng hậu có hai vị thái tử: một vị tên là Vô Hạn Ý, vị kia tên là Vô Hạn Giới. Năm mười sáu tuổi, một hôm đang ngủ, trong giấc mộng, hai vị thái tử thấy hình tượng Đức Như Lai đẹp đẽ oai nghiêm, thân sắc vàng ròng, tướng tốt trang nghiêm, oai đức cao vời, ánh sáng chiếu khắp mười phương không có giới hạn. Trong giấc mộng thấy việc này rồi, hai vị thái tử đều vô cùng hoan hỷ. Sau khi thức dậy, tâm họ rất thản nhiên, đều nhờ họ đã biết đạo chân chánh từ kiếp trước, liền nói kệ:

Trong mộng chúng con thấy
Bậc Tối Thắng trời, người
Sắc thân màu vàng ròng
Tướng do trăm phước thành.
Nhờ ở trong giấc mộng
Thấy tất cả công đức
Và gần gũi tôn nhan
Nên hoan hỷ vô lượng.
Quán ánh sáng bậc Thánh
Rực rỡ như mặt trời
Trong tâm rất vui mừng
Vượt trên tất cả chúng.
Oai đức thật cao vời
Giống như núi báu chúa
Ai thấy hình tượng Ngài
Đều rất đỗi vui mừng.

Đức Phật bảo Bồ-tát Trì Nhân:

–Sau khi thấy điềm lành này, hai vị thái tử liền đến chỗ vua cha và mẫu hậu để trình bày sự việc: “Thưa cha mẹ! Tối hôm qua, trong giấc mộng, anh em chúng con được thấy Đức Như Lai Chí Chân, nên chúng con xin cha mẹ để đến chỗ Đức Như Lai, hiện tại Ngài đang ở đời, đã giáo hóa từ lâu rồi, nhưng chúng con vì buông lung, bị chìm đắm trong năm dục, không biết Đức Phật ra đời, bị năm ấm trói buộc, các lưới ác che phủ, tự cao tự đại, không có tâm cung kính, vì bị mê hoặc như vậy nên không thể gặp Đức Như Lai để thưa hỏi và nhận lãnh đạo trí tuệ.” Vua cha và mẫu hậu liền đồng ý. Sau khi xin cha mẹ xong, hai vị thái tử liền đến chỗ Đức Phật Ý Phổ Ngọc Vương cúi đầu đảnh lễ sát đất, thưa: “Thưa Thế Tôn! Chúng con bị tội lỗi che lấp, mê hoặc bao vây, bị tà vạy cám dỗ nên không được gần gũi phụng sự Ngài để thưa hỏi, nhận lãnh những lời dạy bảo. Chúng con thật hổ thẹn khi nhìn thấy tôn nhan của Ngài. Đức Thế Tôn vì tâm Từ bi rộng lớn nên đã chiếu ánh sáng đến để khai mở tăm tối cho chúng con, khiến chúng con được phụng sự, gần gũi Ngài. Hôm nay, chúng con muốn thỉnh Phật và Thánh chúng Bồ-tát nhận những phẩm vật của chúng con như: thực phẩm, y phục, giường chiếu, thuốc thang chữa bệnh… trong ba tháng; còn thành quách, vườn rừng, lâu đài, nơi ở được trang hoàng đẹp đẽ, giăng cờ, lọng, các ao tắm đầy hoa sen… của vua cha thì chúng con sẽ xin vua cha và mẫu hậu để dâng lên Đức Như Lai, hàng Bồ-tát cùng các Thanh văn….”

Sau khi dùng tất cả những vật dụng để cúng dường Phật và Thánh chúng suốt ba tháng, hai vị thái tử được cha mẹ đồng ý cho đi xuất gia, dù họ rat buồn thương. Ở chỗ Đức Như Lai ấy, hai vị luôn kính tin, không luyến tiếc hoàng cung, liền xuất gia làm Sa-môn, học hạnh thanh tịnh. Khi ấy, thấy hai vị thái tử bỏ nước xuất gia, Đức Như Lai Chí Chân Ý Phổ Ngọc Vương liền quan sát căn tánh của thái tử Vô Hạn Ý và Vô Hạn Giới, rồi giảng nói rõ ràng về phẩm “Năm ấm suy” của Bồ-tát. Nghe xong, hai vị thái tử đều kính nhận, suốt tám vạn bốn ngàn năm chưa từng ngủ nghỉ, cũng chẳng nghĩ đến an uống, giường nằm, mà chỉ ngồi tư duy về nghĩa lý của kinh và đọc tụng, suốt tám vạn bốn ngàn năm chưa từng nghĩ tưởng gì khác, thường chánh niệm tư duy về sự trống rỗng của năm ấm, từ đầu đến cuối đều hoàn toàn là không, chẳng thật có, chúng chỉ tồn tại do điên đảo, do mê hoặc điều này nên không thể giác ngộ. Hiểu rõ năm ấm như vậy nên hai vị ấy tu tập phạm hạnh, nhờ tư duy pháp này nên thông đạt nghĩa lý sâu xa, không chấp vào nẻo hướng đến của các ấm, chí nguyện rộng lớn, không hề mong cầu nên sau khi lâm chung, được sinh lên cõi trời Đâu-suất. Sau khi Đức Như Lai diệt độ, hai vị ấy lại từ cõi trời Đâu-suất hạ sinh vào nhà trưởng giả giàu co ở cõi Diêm-phù-đề. Đến năm mười sáu tuổi, trong giấc mộng, họ lại thấy hình tượng của Đức Như Lai. Trong giấc mộng ấy, họ thấy mình theo Đức Như Lai nghe pháp như vậy mà được thông suốt về năm ấm cùng các nhập của hàng Bồ-tát. Sau khi tỉnh giấc hai vị ấy rất đỗi vui mừng, trong một vạn năm, luôn tu hạnh thanh tịnh, cũng thông đạt về năm ấm và các nhập từ đầu đến cuối. Sau khi lâm chung, họ lại sinh vào cõi trời Đao-lợi, vừa sinh ra lien mạng chung, được sinh trong nhà Phạm chí ở thế gian, gặp Đức Như Lai Ý Phổ Ngọc Vương thuở xưa. Vào thời mạt pháp sau cùng, chánh pháp còn sót lại trong khoảng một ngàn năm, nhờ cội gốc công đức thuở xưa nên hai vị ấy luôn có lòng tin, không luyến tiếc gia đình mà xuất gia học đạo, học rộng hiểu nhiều, trí tuệ như biển, thông suốt năm ấm và các nhập, suy tìm đến tận nguồn gốc, biết rõ lý chân chánh. Khi ấy, hai vị dùng phương tiện để khuyên dạy cho hai vạn người và hai vạn ức chư Thiên đều phát tâm nơi quả vị Chánh chân Vô thượng. Nhờ nhân duyên này, hai vị thái tử ấy đã cùng thực hành hạnh Bồ-tát, được gặp mười ức na-do-tha chư Phật, ở đời mạt pháp sau cùng, lại đạt được pháp Nhẫn vô sinh, lại gần gũi, cúng dường ức ức triệu chư Như Lai. Hai vị này trong một kiếp nữa, sẽ chứng đắc quả vị Chánh chân Vô thượng, làm Bậc Tối Chánh Giác, vị thứ nhất tôn hiệu là Vô Lượng Âm, vị thứ hai tôn hiệu là Vô Lượng Quang. Do đó, này Bồ-tát Trì Nhân! Bồ-tát nào muốn chứng đắc đạo quả Chánh chân Vô thượng, làm Bậc Tối Chánh Giác thì nên siêng năng tu tập theo kinh điển này để hiểu rõ các am, nhập và nguồn gốc hữu, vô của các pháp mà Như Lai đã giảng nói.

Phẩm 4: MƯỜI TÁM CHỦNG TÁNH

Đức Phật bảo Bồ-tát Trì Nhân:

–Thế nào gọi là Bồ-tát hiểu rõ các tánh? Nếu có thể phân biệt về mười tám tánh thì có khả năng tư duy, nhận biết về các pháp quán như: tận cội nguồn tánh của mắt là không có nhãn giới, đều là không, không có ngã và ngã sở, chẳng thể tồn tại lâu dài. Tánh của mắt là trống rỗng nên gọi là thật tánh, nương vào thật tánh của mắt nên gọi là không chân thật, đều do tư tưởng mê hoặc tạo thành. Mắt không có đối tượng để thành tựu cũng chẳng nhận biết được các hành là hình tướng của hư không. Giống như hư không, hết thảy đều không có đối tượng để tạo thành, không có sự nắm bắt cũng chẳng có xứ sở. Mắt không phải bên trong, bên ngoài cũng không ở chặng giữa, tất cả các nghiệp là giả tạm, không chân thật cũng không thể nắm giữ, đều do nhân duyên sinh khởi, không có quá khứ, hiện tại hay vị lai, đó là thật tánh vốn thanh tịnh, không hình tướng, tội hay phước có ra đều dấy khởi do điên đảo, vì duyên hiện tại trói buộc nên gọi là “nhãn không giới”, không thể thấy, chấp vào mắt, cho là không có giới mà thức ở trong đó nên gọi là nhãn giới, nhãn căn thanh tịnh nên sắc sáng rỡ hợp với ý căn, do nhân duyên trói buộc nên ba pháp hòa hợp là mắt, sắc kết hơp với nhãn giới, mà nhãn giới ấy không phải là giới cũng không phải không là giới, những ai có trí tuệ sáng suốt mới thấu hiểu được. Do đó, Bồ-tát hiểu rõ nhãn giới tức là thông đạt nghĩa chân thật, vì biết rõ sắc vốn không thể nắm bắt. Thế nào gọi là hiểu rõ sắc không có giới? Vì không kết hợp với sắc cũng chẳng xa lìa sắc, không có đối tượng sinh trưởng, tuy bàn luận về sắc giới nhưng không thể nắm bắt sắc vì sắc không có xứ sở. Vì sao gọi sắc không có giới? Vì sắc không có bên trong, bên ngoài cũng không ở chặng giữa, chỉ tồn tại giả tạm, do tư tưởng ấy nên mắt mới thấy ánh sáng của sắc, tánh mắt thanh tịnh nên thấy sắc là đẹp, tạm gọi là sắc, không phải là có xứ sở. Ví như gương sáng thì thấy được cảnh tượng, khuôn mặt; mắt thanh tịnh không nhơ bẩn nên phản chiếu tưởng là có sắc, tuy thấy trong gương có hình ảnh nhưng hình ảnh ấy từ bên trong xuất ra chứ không phải từ bên ngoài vào, do hình ảnh bên ngoài chiếu vào, lại hiện ra bên trong gương. Mắt cũng như vậy, do thanh tịnh mới thấy được sắc như thấy hình ảnh trong gương. Do thấy thật tánh của sắc và không sắc nên khong chấp vào cảnh giới, không thể nắm giữ cũng chẳng có đối tượng thành tựu. Sắc tướng ấy vốn không sinh ra nên chúng sinh không thể hiểu được. Nếu thấy được sắc thì mới gọi là hiểu sắc. Giới cũng không có đối tượng sinh khởi nên không có giới, nhờ hiểu được sắc giới nên hiểu rõ tận cùng gốc rễ của sắc là không có quá khứ, không vị lai hay hiện tại, là trống rỗng, là thật tánh, nên gọi là tất cả đều do nhân duyên hòa hợp mà thành. Sắc giới là như vậy. Nhờ nhãn thức mà quan sát chân thật biết là không có giới. Thế nào gọi là quán? Nếu không có nhãn thức thì mắt và sắc không có xứ sở; vốn từ thanh tịnh mà đến nên mắt và sắc không thể thủ đắc, tất cả đều không thể nắm giữ. Nhãn thức không có pháp, chỉ tạm gọi mà thôi, nhãn thức không tập hợp, không có tướng chân thật; giới của nhãn thức cũng do điên đảo xen tạp từ đời trước mà có, bị nhân duyên hiện tại trói buộc cùng với nhân duyên hòa hợp nên gọi là nhãn thức, do đó chúng sinh luôn ở trong điên đảo. Chỉ có bậc Thánh mới phân biệt và thông đạt được nhãn thức là không có giới. Vì sao? Mắt không có đối tượng tạo thành, mười hai nhân duyên sinh khởi là do hòa hợp sinh ra, chỉ là sự tạo tác giả mà có, tạm gọi là nhãn thức; ưa thích sự vận hành của thức và khởi lên các sự chứa nhóm hợp thành thức, tuy có đối tượng để thấy nhưng đều hư vọng, không chân thật, hình tướng chỉ là tạm có, do nhân duyên hiển hiện mà thôi. Vì giảng nói về nhãn thức khiến chúng sinh hiểu rõ nên Như Lai đã diễn nói, phân biệt về các hình tướng, do các tưởng hợp thành nên gọi là thức, không có gì thành mắt, nhờ nguồn gốc thức thanh tịnh nên biết tướng do các hành mà có gọi là đối tượng thấy, do tập hợp nhãn thức như vậy nên gọi là không có giới. Vì sao? Vì mắt không mong rằng ta sẽ nắm bắt nhãn thức và cũng không thể hiểu rõ ràng về chúng; sắc và thức không đạt đến thật tướng. Vì sao? Vì không có đối tượng để tạo thành, chỉ tạm mượn ngôn từ để hiển bày ý nghĩa, vì cứu giúp những chúng sinh nguy khốn. Ý niệm là lĩnh vực, nguồn gốc của đối tượng hoạt động là mắt, là tướng tự nhiên của thức. Ba pháp: nhãn giới, sắc giới và thức giới nhóm họp thành các giới, vì nhân duyên giảng nói các pháp về tướng của nghiệp… nên tạm nói có mắt, sắc và thức. Đó là tư duy. Nhờ điều này để khiến chúng sinh hội nhập, đạt đến chỗ không còn thấy có mắt, không thấy có sắc giới cũng chẳng có thức giới. Giáo hóa như vậy là đoạn trừ các kiến chấp. Nếu có khả năng hiểu rõ, đạt đến các phương tiện để giác ngộ của Như Lai thì có thể thông suốt tất cả ba cõi là không có cõi. Vì sao? Vì chấp vào các cõi nhưng thật sự không có cõi, sắc không thể nam bắt, tai, thanh và thức giới cũng vậy, đối với mũi, hương và thức; lưỡi, vị và thức; thân, xúc và thức; ý, pháp và thức… mà suy lường, tư duy và quan sát đều không có đối tượng để tạo thành. Ý giới cũng là trống rong, không chân thật, thảy đều không thật có. Lại nữa, các chủng loại ấy đều không có đối tượng tạo thành. Ví như có người đem hạt giống gieo xuống đất, muốn chúng nảy mầm nhiều thì phải nhờ các nhân duyên như nước, ánh sáng mặt trời chiếu xuống, chỉ riêng hạt giống thì không thể tạo ra mầm, hạt giống ấy cũng không thể cùng mầm hợp thành, mà nhờ hạt giống sinh ra mầm, hạt giống không tách rời mầm, mầm cũng không thể tách rời hạt giống. Ý giới cũng vậy, từ ý nghiệp này mà hiển hiện các loại nghiệp khác, nên nói là ý giới. Ý không rời niệm, niệm cũng không rời ý, tuy ý giới có nhân duyên riêng biệt hợp thành. Ý giới ấy không phải bên trong, bên ngoài hay chặng giữa, đều do những tạo tác vốn có đời trước tạo thành và do ý nghiệp nương nơi giới mà hợp thành cùng với nhân duyên hiện tại sinh ra, cho nên tạm gọi là ý. Từ chính mình sinh khởi đủ tất cả tội, phước; mười hai duyên khởi là hiển bày có đối tượng giảng nói, cho nên gọi là ý giới. Dùng phương tiện để giảng nói là muốn chúng sinh hiểu rõ tận cùng nguồn gốc ấy, nếu cầu chân thật rốt ráo thì không có nguồn gốc cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tâm tự buông lung không có xứ sở. Nếu có nhận thức được những ngôn từ hòa dịu thì ý giới ấy cũng chẳng phải là chân thật, không có quá khứ, hiện tại hay vị lai. Người sáng suot hiểu rõ ý giới và pháp giới đều không thật có. Thế nào là quan sát thật tướng của pháp giới? Đó là hết thảy đều không thật có, không thể nắm bắt. Pháp giới không tạo thành cũng không có hình tượng, chỉ do điên đảo mà kiến lập, không có người hay mạng sống, từ hư giả mà sinh khởi sự nhận thức, do đó gọi là pháp giới. Thế nào là hiểu rõ pháp giới nhưng pháp giới không hiển bày? Pháp giới là không thật có, đều từ nhân duyên phát sinh. Vì do nhân duyên sinh nên gọi là không có pháp giới. Vì pháp giới do nhân duyên hợp thành nên luôn biến chuyển, điên đảo. Như Lai Chí Chân thông đạt cảnh giới chúng sinh cho nên gọi là pháp giới. Đó là sự tập hợp giả tạm, tên gọi cũng không thật. Pháp giới không phải bên trong, không có bên ngoài cũng chẳng phải chặng giữa. Song, vì dứt trừ kết sử, chấp vào pháp thiện, bất thiện và đoạn trừ tất cả các sự bàn luận về giáo lý, cho nên gọi là thực hành. Sự bàn luận là không thật có, pháp giới cũng trống rỗng, không có sự thành tựu hình tướng, tên gọi cũng chỉ tạm có mà thôi. Pháp cũng như vậy, không có đối tượng tạo nên hình tướng, vì đoạn dứt những tư tưởng chấp về pháp nên mới hiện bày, giảng nói, nhưng hết thảy đều không có cảnh giới, như trước đã nói. Không có duyên quá khứ, hiện tại hay vị lai mà chỉ do kiến chấp trói buộc, chúng sinh không hiểu được chúng từ duyên hợp thành. Người có trí tuệ thì thông đạt rõ ràng, pháp giới là không có cảnh giới, không nhiều, không ít, chỉ là phương tiện mà nói pháp giới. Người nào hiểu tường tận về pháp giới thì trừ sạch mọi đối tượng sinh khởi trong tất cả ba cõi. Do không vướng mắc các pháp nên không giảng nói về pháp giới hoặc nói về nhân duyên, tướng, dụng hay xứ sở của các pháp. Đó gọi là rốt ráo. Người có trí tuệ cho rằng tướng không có đối tượng sinh khởi. Vì sao? Vì tướng của pháp giới không có đối tượng tạo thành, pháp giới không có xứ sở, không có xứ sở cũng chẳng phải không có xứ sở, không có chỗ hòa hợp, an trụ cũng chẳng phải không an trụ. Quan sát, hiểu rõ pháp giới hoàn toàn không có đối tượng trụ chấp. Pháp giới không sinh ra, không phải chủ thể, không phải chỗ tập hợp, không phải tập hợp nên cũng chẳng tan rã. Pháp là không có đối tượng tạo lập cũng không thành tựu. Nếu có thể quan sát về pháp giới như vậy thì xét về ý thức mà không thấy có thức. Như vậy, nên quan sát như thế nào? Nên quán “Không có đối tượng sinh khởi cảnh giới” gọi là thức giới. Vì sao? Xét về ý thức thì không thật có, là giả tạm không thật, do điên đảo mà thành, từ ý niệm mà có ra nên gọi là ý thức, do sự tạo tác của phàm phu thiếu trí tuệ, chỉ có bậc Hiền thánh mới thông đạt rõ ràng mà thôi. Do hai pháp trên là chỗ duyên dựa cho ý thức nên chúng sinh không thể hiểu rõ được. Chỉ có bậc Trí mới có thể phân biệt hết thảy đều là hư vọng, từ tưởng không chân chánh mà sinh khởi ý thức. Cảnh giới của ý thức ấy không có gì đặc biệt, chỉ là muốn giảng nói tường tận nên tạm mượn ngôn ngữ. Sự vay mượn ấy là vì chúng sinh không hiểu được ngọn nguồn ý thức là không có cảnh giới, do nhân duyên chứa nhóm, xoay chuyển không bờ bến. Các bậc Hiền thánh không tìm cầu thức giới, không chấp ở trong, ở ngoài cũng chẳng phải ở giữa. Người có trí tuệ hiểu rõ ý thức ấy nhưng không thấy có ý thức mà thấy chúng đều từ nhân duyên, từ điên đảo dấy khởi. Do hai nhân duyên này mà có những chúng sinh từ tư tưởng không chân thật nên chấp nhận hư dối, đều từ sự vận dụng của tâm, theo tướng thế gian nên có ý thức. Tâm của chúng sinh vốn từ nhân duyên này mà có. Ý thức không có quá khứ, hiện tại hay vị lai. Xét về nguồn gốc của ý thức cũng không có đối tượng chấp giữ. Ý thức tồn tại không có quá khứ, vị lai cũng chẳng có đối tượng để kiến lập, ý không có đối tượng để nắm giữ. Vì sao? Ý thức vốn thanh tịnh, không có hai, không tướng cũng không phải hai tướng, tuy có chỗ để tồn tại nhưng không thể thấy. Người có trí tuệ hiểu rõ ý thức là như vậy. Những ai biết ý thức như thế thì không thấy có pháp để giảng nói, không có sự kết hợp cũng chẳng có sự tách rời; không có tướng sinh khởi cũng chẳng có tướng giáo hóa, chỉ riêng Hiền thánh mới hiểu rõ. Thế nào là thức giới? Nghĩa là không từ đâu sinh ra cũng không có nhân duyên. Vì sao? Vì ý thức giới từ nhân duyên sinh khởi, xét về gốc ngọn của chúng thì không thể thấy. Người có trí tuệ hiểu rõ sự tạo thành ý là như vậy, vốn không có tạo tác, do chúng sinh tự tạo ra, không có đối tượng sinh khởi. Do chúng sinh tạo ra nên tướng cũng không có đối tượng sinh khởi.

Đức Phật bảo:

–Này Bồ-tát Trì Nhân! Bồ-tát nào quan sát như vậy thì thông đạt về ý thức và cũng không chấp giữ thức.

Phẩm 5: HIỂU RÕ VỀ BA CÕI

Đức Phật bảo Bồ-tát Trì Nhân:

–Bồ-tát Đại sĩ nhờ thông đạt về ý thức nên không chấp vào cõi Dục, cõi Sắc và cõi Vô sắc. Nên quán sát như vầy: Tuy ở trong ba cõi nhưng không chấp giữ cõi Dục, cõi Sắc và cõi Vô sắc, hiểu rõ các cõi như vậy nên thấy đều không có các cõi, lại giảng nói rõ ràng. Biết tường tận chúng sinh ở trong cõi Dục nên Bồ-tát thị hiện ở cõi Dục, biết cõi Sắc và cõi Vô sắc nên thị hiện ở các cõi ấy, ở cõi nào thì thị hiện ở cõi đó, để diễn nói pháp cốt yếu. Các vị hiểu rõ các pháp là tự nhiên, không có cảnh giới, ba cõi cũng không có hình tướng, không có xứ sở, đều từ nhân duyên sinh, luôn xoay vần không giới hạn. Bậc trí thông đạt cảnh giới của ba cõi đều không thật có, từ không hợp thành, do điên đảo mà hiện hữu, hiểu như vậy là hiểu được sự giả tạm, nhưng hoàn toàn không bỏ hẳn sinh tử vì diệt trừ nghiệp điên đảo và tập khí trong ba cõi cho chúng sinh. Như Lai Chí Chân cũng giảng nói cho chúng sinh hiểu ba cõi là không có cảnh giới, chỉ vì họ thiếu trí tuệ, chất chứa những mê hoặc nên cho là có. Tất cả vốn thanh tịnh, tự nhiên, không có cảnh giới nào cả, cũng chẳng nương tựa vào ba cõi. Người có trí tuệ hiểu rõ điều này, là không có cảnh giới, quan sát ba cõi và chúng sinh đều không, bản thân mình cũng như hư không, không có gì cả. Tất cả các pháp đều từ nhân duyên sinh, từ điên đảo hợp thành, tạm có danh hiệu mà thôi, hết thảy đều không có đối tượng tạo thành, là rỗng không, không tạo tác, vốn tự nhiên thanh tịnh, bình đẳng như hư không, đối với tất cả các cõi đều không vướng mắc, giống như hư không thảy đều không thật có. Vì sao? Vì hoàn toàn tịch tĩnh. Hư không vốn thanh tịnh nên không thể nắm bắt, tất cả các cõi cũng như vậy, không ở trong, không ở ngoài cũng chẳng ở giữa, cõi không có cõi, đều không chấp giữ, không sinh khởi. Các bậc có trí tuệ thấy không có sự phát sinh cũng còn phân biệt, không an trụ cũng chẳng phải không an trụ, không bình đẳng, không tà kiến, vốn thanh tịnh không chấp giữ. Bậc trí thông đạt như vậy nên không nắm giữ những điều giả tạm mà luôn bặt dứt ý niệm, không tạo tác. Do đó, bậc Trí không lấy các cõi làm cảnh giới, tướng cũng không có đối tượng sinh ra, chỉ theo thế gian để đặt tên mà thôi, nên không phân biệt, không sinh khởi tưởng. Nếu diệt trừ điều này thì không còn các cõi, giả sử nói là có thì xét tận ngọn nguồn cũng không thể biết, vì không thể biết nên tất cả cũng như vậy. Chỉ có bậc Trí mới thấy được.

Đức Phật nói:

–Này Bồ-tát Trì Nhân! Bồ-tát nào thông đạt như vậy thì hiểu rõ mười tám chủng tánh và ba cõi, các cõi của chúng sinh cùng cõi của chính mình, đạt đến bình đẳng như hư không. Nhờ quan sát như vậy nên các vị ấy luôn bình đẳng, không chấp giữ cảnh giới, do không chap giữ nên thoát khỏi tất cả các cõi, nếu giảng nói thì chỉ tạm mượn mà thôi, biết hết thảy các cõi đều không thật có, ưa thích thể nhập vào đạo, thông suốt các cõi, biết tướng của chúng sinh là không hai, do thấy là không hai nên thấy các cảnh giới, dùng phương tiện thiện xảo để giảng nói cho chúng sinh, tạm nói là có mười hai duyên khởi để mở bày cho chúng sinh khiến họ thể nhập vào nghĩa rốt ráo, nhờ đạt được tuệ thấy khắp tất cả các cõi nên gọi là không có hình tướng.

Này Bồ-tát Trì Nhân! Như Lai Chí Chân không thủ đắc hết thảy xứ sở các pháp, cũng chẳng phải không thủ đắc, không hề quên mất tư duy bình đẳng mới đạt được đạo quả Chánh chân Vô thượng. Vì sao? Vì tất cả các pháp hoàn toàn không thật có, vốn chúng là tự nhiên, không hề thành tựu, thấy các cõi cũng đều như hư không, thật sự rỗng rang; do bình đẳng như hư không nên không có tướng sinh khởi. Như Lai thông đạt tất cả các cõi như vậy, nên Như Lai không cho rằng các cõi là tự nhiên, không cảnh giới cũng chẳng có hình tướng. Vì sao? Vì chúng không thật có cũng không thể nắm bắt. Do không thật có nên biết chúng là tự nhiên. Này Bồ-tát Trì Nhân! Nên biết, Như Lai đã giảng nói, nếu thông đạt về sự sinh khởi của các pháp thì hàng Bồ-tát Đại sĩ ấy có khả năng hiểu được tất cả ngọn nguồn, phân biệt thô, tế như vậy nên giảng nói ý nghĩa hợp, tan của các cảnh giới, thể nhập vào các cõi, hiểu rõ chúng chẳng phải là tự nhiên mà tất cả các cõi đều là cõi hư không, trở lại tự thiêu hủy, không có cảnh giới cũng không thể nhập. Giả sử cho là có thì không bao giờ nắm bắt được, vì chúng sinh không biết nên cho là có. Giống như nhà ảo thuật học làm các phép thuật, vì chúng sinh mà hiện bày vô số sự biến hóa, nhưng những sự biến hóa ấy thì không thể nắm bắt hình tướng, dù cho bao nhiêu người đi nữa cũng không thể biết được. Họ nghe, tin theo sự biến hóa rồi cho là thật có, nhưng người hiểu biết thì biết đó chính là huyễn. Lời Như Lai nói cũng vậy. Nếu có thể hiểu rõ chúng huyễn hóa, không thật thì không bị chúng sinh mê hoặc; nếu có trí tuệ sáng suốt để tự thấu hiểu chính mình như huyễn hóa, hiểu được mọi sự giả tạm thì đời này, người ấy đạt được bản chất tự nhiên như huyễn. Bồtát nào thông suốt, thể nhập điều này thì có thể diễn nói về thật tướng của huyễn. Do hiểu được thật tướng nên sinh ở bất cứ đâu, vị ấy cũng như vậy, đều dùng phương tiện thiện xảo thị hiện, giảng nói cho chúng sinh hiểu biết thảy đều như huyễn hóa. Người nào được nghe, thấy, hiểu rõ pháp huyễn này thì không còn chấp giữ cho đến thành tựu đạo quả Chánh chân Vô thượng. Những người thiếu trí tuệ thì không thể nào thấu đạt được, cho nên mới vì họ mà diễn nói tất cả các pháp. Nếu biết tất cả các pháp thảy đều như huyễn, muốn thể nhập ý nghĩa này thì nên học về pháp cốt lõi sâu xa, không cầu nắm bắt sắc; do sắc không thể nắm bắt nên không thể đoạn trừ. Nói không thể đoạn trừ tất cả các cõi đều là giả tạm, muốn diễn nói về mọi sự hợp, tan, phân biệt các cảnh giới, tạo ra nhân duyên, phương tiện thiện xảo để giảng nói về cội gốc, ngọn nguồn của chân lý, thế gian, xuất thế gian, hữu vi, vô vi, thuận hợp, không thuận hợp, ứng hợp hoặc chẳng ứng hợp, giảng nói về phương tiện thiện xảo, hoặc hoàn toàn bặt dứt ngôn ngữ, có ý nghĩa, không có ý nghĩa, nói về nhân duyên mà phân biệt xứ sở hay không có xứ sở… thì nên thông đạt tất cả đều như huyễn.

Phẩm 6: CÁC NHẬP

Đức Phật bảo Bồ-tát Trì Nhân:

–Thế nào là Bồ-tát thông suốt các nhập? Ở đây, Bồ-tát quan sát và hiểu rõ ngọn nguồn của mười hai nhập. Thế nào gọi là quán? Nghĩa là, đối tượng có thể quan sát là không thấy chỗ hội nhập của mắt, mắt không thành tựu, đều không thật có. Vì sao? Chỗ hội nhập của mắt đều từ duyên đối và điên đảo mà sinh khởi. Sự trói buộc của sắc và duyên khởi hòa hợp có hai nhân duyên: một là nhãn nhập, hai là theo đối. Vì phát sinh ra sắc nên gọi là nhãn nhập. Như vậy, mắt và sắc có hai chỗ nương tựa, chấp giữ, là chỗ nhập của mắt và sắc. Sắc chính là đối tượng của mắt, mắt thấy sắc, rồi chấp huyễn làm tướng, cho nên gọi là các nhập, chính là chứa nhóm và chấp giữ. Mắt không lệ thuộc sắc, sắc cũng không lệ thuộc mắt; sắc không lệ thuộc sắc, mắt cũng không lệ thuộc mắt, hết thảy đều từ duyên khởi. Do sắc và duyên nên gọi là sắc nhập. Mắt thấy đối tượng là duyên nên gọi là có tướng, nên gọi nhập là nghiệp. Thế nào gọi nhập là nghiệp? Do lấy điên đảo làm lợi ích cứu cánh nên không thể nắm bắt được nhập, mắt và các sắc. Người có trí tuệ sáng suốt không tìm cầu các nhập nên thấy được chân lý. Do điên đảo hợp thành nên phàm phu thiếu trí tuệ cho là có hai tướng. Mắt thâu nhận sắc, liền hiển bày sự chân thật của nhập. Hiểu rõ chân lý sắc là đối tượng của mắt, không ở bên trong, không ở bên ngoài cũng không phải ở giữa. Mắt và các sắc không có quá khứ, hiện tại hay vị lai, chỉ hiện bày mắt thấy sắc, do hiện bày mắt thấy sắc nên có tham muốn, nắm bắt. Phàm phu ít trí tuệ thì không thể biết sự vận hành này. Bậc có trí tuệ biết rõ là rỗng không, không thật có, do tư tưởng điên đảo nên thành cac nhập, các nhập là thật tướng sao cho là có? Nhập ấy không có tướng, đều từ duyên khởi, cho nên gọi là các nhập. Như Lai đã giảng nói các nhập là trống rỗng, đều từ điên đảo, tạm có do nhân duyên, không có sự tạo tác cũng chẳng khiến người tạo tác. Mắt không thể gọi là sắc, sắc không thể gọi là mắt, cũng không có đối tượng nhận biết, hết thảy đều vắng lặng. Mắt, sắc và các nhập đều cùng tịch tĩnh, không có người tạo ra, tư nhân duyên sinh khởi. Phàm phu ít trí tuệ nên tâm luôn điên đảo, chỉ có bậc Hiền thánh mới thấu đạt được, chúng vốn không hề sinh ra cũng chưa từng diệt, không đến, không đi. Mắt không thể xa rời mắt, mắt không nghĩ là mắt, sắc cũng không bỏ sắc, liền biết là thật tướng vì sắc không nghĩ là sắc. Vì sao? Vì hết thảy đều không, hết thảy đều tịch tĩnh nên thông đạt thật tướng. Mắt không nương vào mắt, sắc không biết là sắc, vì là thật tướng. Thật tướng của mắt và sắc thì không thể thành tựu. Mắt không cầu nơi mắt cũng không tập hợp hay tan rã, hết thảy đều rỗng lặng. Mắt không chứa nhóm mắt, cho rằng ta là đối tượng của mắt. Sắc không chứa nhóm sac, sắc là ngã sở, huyễn là thật tướng. Mắt, sắc đều là rỗng không nên gọi là thật tướng, chỉ tạm nói mà thôi. Tai – thanh, mũi – hương, lưỡi – vị, thân – xúc, tâm – pháp cũng không thể nắm bắt, đều là không thật có, cũng chẳng có đối tượng thành tựu. Vì sao? Vì từ nhân duyên sinh khởi, ở chỗ điên đảo, do hai nhân duyên mà kiến lập, từ tâm pháp khởi lên các nhập, cho nên gọi là các nhập. Do pháp nhân duyên nên tạm có các nhập, pháp không lệ thuộc tâm, tâm không lệ thuộc pháp, pháp không lệ thuộc pháp, tâm không lệ thuộc tâm mà lệ thuộc đều từ duyên khởi, kiến lập các pháp. Nhờ tâm thấy tướng, không thể nhập vào pháp, bậc Trí thông đạt điều này, nếu tìm cầu nguồn gốc các nhập mà thấy được chân lý thì đều là điên đảo hợp thành. Phàm phu ít trí tuệ nên thấy có hai tướng. Pháp không ở bên trong, bên ngoài cũng không ở giữa, tâm không thể nhập vào pháp, pháp cũng không thể nhập vào tâm, không có quá khứ, hiện tại hay vị lai, tất cả đều từ duyên sinh. Người thiếu trí tuệ không thể hiểu rõ, chỉ có bậc Trí mới thông đạt điều ấy. Vì sao? Tất cả đều không thật có, vì ở nơi thật tướng, không hoàn toàn thể nhập vào pháp cũng không có tướng chân thật nên không thành tựu, chỉ hiện hữu giả tạm mà thôi. Như vậy, này Bồ-tát Trì Nhân! Bồ-tát nào hiểu rõ mọi đối tượng của các nhập thì liền thông đạt tất cả mười hai nhập, không còn vướng mắc, lệ thuộc, đoạn trừ các nhập. Do tạo lập các nhập và các phân biệt khiến không còn đối tượng sinh khởi, hiểu rõ về tướng không, giống như chỗ hòa hợp của các dòng nước, cho nên nói là nước luôn len lỏi vào khắp mọi nơi. Mười hai nhân duyên này cũng lại như vậy. Cho rằng trong, ngoài đều từ duyên sinh như dòng nước ấy đến và tồn tại ở nhiều nơi, tuy nói thật tướng không thể nắm bắt được xứ sở nhưng do bị kiến chấp trói buộc nên các nhập ấy mới hướng đến phiền não. Phàm phu không thể đoạn trừ phiền não nên gọi là nhập môn, mắt lệ thuộc sắc và tai, mũi, miệng, thân và tâm cũng vậy, không có nơi nương tựa. Bồ-tát Đại sĩ thông đạt thật tướng, hiểu rõ các nhập, nhờ hiểu rõ các nhập nên trừ sạch mọi kết sử. Này Bồ-tát Trì Nhân! Như vậy gọi là Bồ-tát thông suốt các nhập.

Phẩm 7: MƯỜI HAI NHÂN DUYÊN

Đức Phật bảo Bồ-tát Trì Nhân:

–Thế nào là hiểu rõ, giảng nói và quan sát mười hai duyên khởi? Phải quán như thế nào? Đó là, không biết các pháp không có nghiệp vô minh, cho nên gọi là si; không biết chúng không có xứ sở, gọi là vô minh; không hiểu rõ các pháp có sinh khởi vô minh nên gọi là si. Sao không thông đạt điều này mà gọi là vô minh? Do vô minh làm duyên nên có hành. Nếu không thấu rõ các pháp, không làm theo pháp này, gọi là do vô minh làm nhân duyên nên liền có hành; có hành và duyên nên phát sinh thức, nên nói từ hành đến thức có hai tướng là danh và sắc. Do đó, từ thức làm duyên mà sinh ra danh và sắc, từ danh, sắc lại sinh ra sáu nhập, nên gọi là từ danh sắc làm duyên mà có sáu nhập; do đây liền có thọ, nên nói từ sáu nhập làm duyên sinh ra những đối tượng khác; nhân đây mà có thọ, nên nói từ đối tượng này làm duyên nên có thọ; lại sinh khởi ái nên nói từ thọ làm duyên sinh ra ái, từ duyên ái sinh ra thọ nên gọi từ duyên ái sinh khởi thọ; từ đối tượng là thọ lại có chấp giữ, nên gọi từ duyên thọ mà có chấp thủ, do nắm giữ nên sinh khởi mãi, gọi là từ duyên vốn có sinh ra đối tượng, từ duyên đã sinh khởi mà có già, bệnh, chết, than khóc, lo buồn, các việc không vừa ý và các tai nạn, khổ đau nhóm họp, từ khi sinh ra đã có vô lượng khổ. Vì sao các khổ lại nhóm họp? Vì vô minh nên chứa nhóm các điên đảo, do từ ái mà khởi lên tham dục, tâm lúc nào cũng luyến tiếc không buông bỏ. Do đó, thế gian tự giam hãm mình trong mười hai duyên khởi, không có mắt sáng suốt nên bị lưới vô minh bao phủ, chịu bệnh tật, ở nơi tối tăm đều do vô minh dẫn đầu. Nên quán mười hai nhân duyên như vậy thì hiểu rõ vô minh này là giả tạm, không thật có. Lại nữa, vì không thể nhận biết bản tế. Vì sao không thể nhận biết? Vì không sáng suốt, vì vô minh nên không thể biết sự sinh khởi của bản tế. Nếu có trí tuệ sáng suốt thì nên quán điều này, hiểu rõ bản tế tức đạt đến chỗ không bờ bến, không khởi tư tưởng cũng chẳng phải không có tư tưởng, liền đoạn trừ mọi tư tưởng. Do đoạn dứt các tư tưởng nên không nương vào vô minh. Tất cả các pháp không phải là vô minh, mà cho là các pháp không xa lìa vô minh là tâm tự cao, tự đại. Vì sao? Vì bỏ vô minh, do đó gọi tất cả các pháp đều là vô minh. Người nào có thể hiểu rõ tất cả các pháp đều là vô minh thì thông đạt về nghiệp, không thể đạt đến trí tuệ. Do tiêu trừ vô minh nên gọi là hiểu rõ về nghiệp. Thế nào la tiêu trừ vô minh? Là thông suốt tất cả các pháp đều không thật có, là hư vọng, không chân thật, ở nơi pháp điên đảo biết là không thật có, chỉ tạm nói có mà thôi, do đó gọi là đoạn trừ vô minh, cũng đoạn trừ minh; minh và vô minh thảy đều hư vọng, không thật có nên gọi là vô minh. Do vô minh nên có sự tạo tác của nghiệp, lại khởi lên mười hai nhân duyên. Phàm phu thiếu trí tuệ, không thể thông đạt, tự mình lao vào tà kiến, tối tăm, hết thảy không thật có mà trở lại tạo ra có, cho nên gọi là hành; không có xứ sở, không có ngôn từ cũng chẳng phải không có ngôn từ, không nhận biết, sáng cũng chẳng phải là tối, nghiệp của các hành vốn là trống rỗng, đối tượng của pháp là không có mà trở lại tạo tác nên có đối tượng, đó gọi là duyên của vô minh, khiến thành tựu các hành. Hành ấy là vô thường, từ đây, chẳng phải do nghiệp mà có các hành. Lại nữa, quan sát các hành không có quá khứ, hiện tại hay vị lai, vô minh ấy là không, là hiểu rõ vô minh, các hành vốn không, các hành đều là thật tướng, hành không hề chấp thủ. Do vô minh nên sinh khởi các hành mà vô minh ay không lệ thuộc các hành, không đoạn trừ minh và hành, vô minh liền tiêu diệt, hành không trừ bỏ hành, bỏ hành và vô minh này thì phá hết tối tăm mà còn ở trong điên đảo vô minh thì không thể có, đó gọi là thật tướng. Hành không thể nắm bắt cũng gọi là thật tướng, do tối tăm che lấp nên gọi là vô minh, vì sự tăm tối của vô minh mà tạo ra các hành. Nếu pháp không có vô minh thì không thật có, do pháp giả tạm nên có vô minh, hành và thức, hành không lệ thuộc hành, không khởi lên thức và hành. Vì sao? Vì hành không biết là hành, hành không có pháp đối tượng để có thể đạt đến được, từ hành và thức sinh ra các điên đảo. Hành và thức ấy khong ở bên trong, không ở bên ngoài, không phải chặng giữa, không khởi lên thức, do buông lung, tạo tác nên sinh ra thức. Người có trí tuệ biết tìm cầu thức là không thể được vì thức không có đối tượng sinh ra cũng chẳng có đối tượng thấy, không thể phân biệt về thức, danh sắc, sáu nhập và đối tượng của thọ. Thọ có sinh, già, bệnh, chết, lo buồn, than khóc, nhóm họp những điều không vừa ý và khổ não… xoay vần không bờ bến, không thể chấm dứt sinh tử, rơi vào trong năm sông bốn dòng, không thể tự cứu mình, hiểu rõ chúng không có nguồn gốc, hết thảy đều không thể thủ đắc, không đạt đến, không cùng tận về nghiệp bình đẳng, ngay cả mười hai nhân duyen cũng vậy. Đây gọi là hai loại vô minh. Do đó, siêng năng cầu tất cả các pháp, vì cầu các pháp nên không có tư tưởng nào mà chẳng dấy khởi, đây là hội nhập mười hai nhân duyên bằng cách thuận hợp, sáng suốt.

Này Bồ-tát Trì Nhân! Bồ-tát nào hiểu rõ, giảng nói về mười hai duyên khởi, biết được duyên hòa hợp là có đối tượng sinh khởi, phân biệt, không chứa nhóm, đó gọi là hiểu được chúng không có đối tượng sinh ra. Nếu thông đạt duyên khởi và quán mười hai nhân duyên thì không nên xét về sự phát sinh, không đạt đến tuệ phương tiện. Nếu có thể thông suốt mười hai nhân duyên là không có đối tượng sinh ra mới gọi là hiểu rõ và đạt đến tuệ vô sinh. Do đó, này Bồ-tát Trì Nhân! Bồtát Đại sĩ muốn thể nhập vào tuệ vô sinh, kiến lập sự chứng đắc thì nên phân biệt, giảng nói và thực hành theo mười hai duyên khởi, ngoài ra còn phải biết các duyên khởi không có đối tượng sinh khởi, nhờ quán như vậy mới có thể đạt được tuệ vô sinh. Do đạt được tuệ vô sinh nên kiến lập sự chứng đắc, gọi là không có đối tượng sinh khởi, thông đạt đạo tuệ. Như vậy, này Bồ-tát Trì Nhân! Bồ-tát Đại sĩ nào thực hành như vậy, đối với đối tượng phát sinh các duyên mà thấy không có đối tượng sinh ra thì thoát hẳn ba cõi, thông đạt nhân duyên, quan sát chúng là không có đối tượng sinh khởi. Nếu có Bồ-tát đạt đến tướng vô sinh thì mau chóng đạt được pháp Nhẫn vô sinh, dần dần gần gũi hạnh Bồ-tát, đích thân phụng sự chư Phật, được Phật thọ ký sẽ thành tựu đạo quả Chánh chân Vô thượng, làm Bậc Tối Chánh Giác. Lại nữa, nhờ chính mình kính giữ, tu hành theo lời Phật dạy như vậy nên các bậc Bồ-tát đều được thọ ký. Các vị đều tin ưa, phân biệt tất cả các pháp thế gian để cứu giúp thế gian, thông đạt cội nguồn mười hai duyên khởi là nhờ hiểu duyên khởi, được chư Phật Thế Tôn luôn thị hiện trước mặt, không còn sợ hãi ma Ba-tuần, nếu ở hiện tại mà thấy đất, nước và tất cả các vật đều sinh tử thì đã vượt qua các tai nạn, nhổ sạch gốc rễ vô minh. Thực hành như vậy thì đạt được an lạc trọn vẹn, luôn gặp Bồ-tát.

Đức Phật bảo:

–Này Bồ-tát Trì Nhân! Bồ-tát nào hiểu rõ như vậy, biết ngã và ngã sở đều do nhân duyên mà có, nếu được nghe, hiểu rõ nguồn gốc về mười hai duyên khởi mà tin ưa, không nghi ngờ về ngọn nguồn thành tựu của chư Như Lai thì không bao lâu, vị ấy sẽ được thọ ký, đạt được pháp Nhẫn vô sinh. Nhờ đã được thọ ký nên không bao lâu, vị ấy ở chỗ chư Như Lai mà được chứng đắc đạo quả Chánh chân Vô thượng, thành Bậc Tối Chánh Giác.

QUYỂN 3

Phẩm 8: BA MƯƠI BẢY PHẨM

Đức Phật bảo Bồ-tát Trì Nhân:

–Thế nào là Bồ-tát thông đạt về niệm xứ, phân biệt, quan sát và thực hanh bốn Niệm xứ? Sao gọi là bốn Niệm xứ? Đó là tự quán nơi thân, thọ, tưởng và pháp. Thế nào là quán nơi thân, thọ, tưởng và pháp? Ở đây, Bồ-tát tự quan sát thật tướng của thân: vô thường, khổ và không chẳng phải là điều cốt lõi của thân, thân chính là bệnh tật, tai họa, nhóm họp các sự tổn hại cho là vui, luôn thay đổi không ngừng, nhơ uế chẳng sạch. Nên quan sát như vầy: Khắp trong thân này có vô số bệnh tật, chín nơi nhơ uế lúc nào cũng bài tiết chất chẳng sạch, giống như nhà xí. Lại nên quan sát kỹ như vầy: Không có sợi lông tóc nào đáng ưa, đáng giữ, nhơ uế chẳng sạch, chỉ là bọc da che thịt gân cốt chằng chịt, đều từ tội phước mà thành, tích tập các nhiễm ô liền có các ấm. Thế nào là tích tụ? Thế nào là các ấm? Đều do nhân duyên đời trước mà có các ấm, vốn nương vào sự giả tạm rồi cho sự tắm rửa, trang sức… là thân ta. Đây gọi là tích tụ.

Thế nào là các ấm? Từ nhân duyên sinh khởi thành ra quả báo, từ sự tạo tác mà có bốn đại, xét kỹ ngọn nguồn của thân đều chẳng thật có, thọ nhận bốn đại thành sắc ấm do nhân duyên nên tạm có. Vì sao gọi là thân? Là chính mình tạo tác nên gọi là thân, là chỗ nương của tâm nên gọi là thân, nơi tạo ra tội – phước gọi là thân, từ tư tưởng sinh khởi, dễ mất đáng khinh, cùng hòa hợp với các nghiệp tạo tác gọi là thân, từ nhân duyên mà có thân, không có một chút an ổn, lại tan rã ngay, không tồn tại lâu dài, không thể tồn tại mãi, sẽ phải xa lìa nên gọi là thân. Thân không ở trong, không ở ngoài cũng không ở chặng giữa, tuy có khổ não nhưng thân không biết là thân, cũng không thể thấy, không thể hiểu rõ, không vượt qua, cũng chẳng có tư tưởng, giống như các loài cỏ cây, ngói đá, thân chẳng tạo thành thân. Nhờ quán như vậy nên hiểu rõ, không còn tham đối với thân, không còn ưa thích, biết thân là tai họa. Thân không có quá khứ, hiện tại hay vị lai, thân này như bọt nước, nhờ tắm rửa trang sức, thân này như nhà ở của tám mươi thứ vi trùng, thân này là khổ đau, vô số bệnh tật; thân này không thể cứu, bị ba khổ làm nguy khốn. Nói khổ là tai họa sinh tử, hoạn nạn phải xa lìa. Thân này là vật để chứa khổ đau và các tai nạn. Nếu tư duy theo nghĩa này thì không còn tham thân mình, không ngưỡng mộ người khác cũng chẳng có đối tượng ưa thích. Thân này là vô ngã, chẳng có gì lợi ích, không thể nắm giữ cũng chẳng thật có. Thân này chẳng phải thật tướng mà trống rỗng, hoàn toàn không chân thật, chỉ kiến lập giả tạm mà thôi, là sự nhóm họp từ gốc tạo tác, không lợi ích, tuy có thân này nhưng chẳng phải là thân ta, nên siêng năng đoạn trừ tham dục. Khi đã quan sát về thân mình và mạng sống thì không còn vướng mắc vào hợp tan, không thấy đến đi hay xứ sở an trụ, chẳng còn thấy quá khứ, hiện tại hay vị lai, luôn dấy khởi tưởng nhưng không hề chấp giữ, không nương vào thân mạng, vì thân chẳng phải là ngã cũng chính là vô ngã, nên không có đối tượng chấp giữ, không hợp, không tan cũng chẳng từ đâu đến, chúng khiến cho phiền não thiêu đốt tâm không biết nơi hướng đến, xét ngọn nguồn của thân nhưng không thấy đối tượng sinh khởi tức đã an trụ vào diệt độ. Bồ-tát cũng vậy, nên quán thân chẳng phải thân, vì đã thông đạt thân là rỗng không, nếu thân muốn đầy đủ tức đã tự tiêu diệt, mà thân, ý phải trụ nơi sự vận hành thuận hợp. Đó là quán thân mà không chấp vào thân.

Đức Phật nói:

–Này Bồ-tát Trì Nhân! Thế nào là Bồ-tát quan sát về thọ? Bồtát nào quan sát ba thọ nơi thân là thọ lạc, thọ khổ và thọ không lạc không khổ. Xét những thọ ấy, không biết nơi hướng đến, không đến không đi, đều là rỗng không, do nhân duyên hòa hợp mà có, lại nhận chịu quả báo tội, phước, chỉ do điên đảo dấy khởi, biết thọ vốn là không, vì tư tưởng kiến lập. Quán như vậy rồi, vị ấy không vướng mắc thọ, không thấy có quá khứ, hiện tại hay vị lai, cũng chẳng có xứ sở, biết rõ thọ trong quá khứ là rỗng không chẳng có ngã cũng không có ngã sở, vô thường hay kiên cố đều là pháp điên đảo, thọ trong quá khứ là rỗng không, tịch tĩnh bặt dứt tư tưởng, hiện tại và vị lai cũng vậy.

Nên biết, thọ không hề được kiến lập, không có hình tướng để nắm bắt, đều tự phân tán. Thọ ấy không khởi cũng chẳng diệt, không có xứ sở, không ở bên trong cũng chẳng ở bên ngoài. Phàm phu thiếu trí tuệ nên từ điên đảo sinh khởi thọ, quả báo tội phước có hợp thì có tan, cho nên gọi thọ là không, là pháp giả tạm, trống rỗng, biết được từ nhân duyên mà có thọ là thấu đạt xứ sở của tâm, thọ và ý đều trở về diệt độ, không thấy chỗ tích chứa của thọ nên tâm tự cho: Thọ là không, là thật tướng, không hình tướng, không thấy sinh ra vì thọ không có sinh khởi cũng chẳng diệt đi, không tạo lập tư tưởng; do không lập tư tưởng nên chẳng có tướng, tướng không có đối tượng phát sinh. Như vậy là quán khắp thọ nơi thân, không có đối tượng duyên dựa, hiểu rõ thọ là chân thật vốn là không, nhờ đoạn trừ thọ, xa lìa các nhập về thọ, không hòa hợp với chúng nên không lệ thuộc thọ, các hành đều tịch tĩnh, mau chóng đạt đến phương tiện để thành tựu chánh định. Bồ-tát quan sát sự vận hành của thọ như vậy nên thông đạt các hành, thấy khắp mười phương.

Đức Phật nói:

–Này Bồ-tát Trì Nhân! Thế nào là Bồ-tát quan sát sự vận hành của tâm ý? Bồ-tát nào quan sát sự vận hành của tâm thì nên phát tâm quan sát về tâm pháp trong khoảng một niệm, nếu thấy tâm luôn thay đổi thì có khả năng quan sát. Vị ấy tự nghĩ: Tâm kia chưa từng buông lung, không đến đi, do các duyên khác nhau khiến có hình tướng. Tâm có đối tượng để dấy khởi cũng chẳng thành tựu, vì không hình tướng nên không thể nắm bắt, tâm không đến đi cũng chẳng có xứ sở, không có quá khứ, hiện tại hay vị lai, do nhân duyên hiện bày mà có đối tượng để nhớ nghĩ. Nếu xét về tâm ấy thì không ở trong, không ở ngoài cũng không ở chặng giữa, không có phiền não, tâm không xứ sở cũng chẳng phải thật tướng, không thể thực hành xong cũng chẳng thể đoạn dứt. Nếu có đối tượng đoạn trừ thì gọi là tâm có vô số sự biến hóa. Giả sử không thể suy xét thì tướng sinh khởi liền tiêu diệt. Này Bồ-tát Trì Nhân! Tâm không có chỗ an trụ, không có chỗ tồn tại, nếu có chỗ tồn tại thì đã biết được, nên gọi là không có tâm niệm cũng chẳng có đối tượng thấy. Vì sao? Vì tâm ấy rỗng lặng, thật tướng, không hình dáng, không có chúng sinh. Lại nữa, tâm không thể nắm bắt vì chẳng có xứ sở, không có sự hòa hợp cũng chẳng có sự tan rã. Tâm không có quá khứ, không có vị lai cũng chẳng ở giữa nên không thể thấy. Tâm không phải thật tướng, chẳng thanh tịnh, tâm không tự biết là tâm, tâm không thể đoạn hẳn, tâm chẳng có tâm nên gọi là vốn thanh tịnh. Phàm phu do điên đảo nên lấy nhân duyên giả tạm làm thành các tướng, tâm tự dấy khởi niệm. Lại nữa, tâm ấy là rỗng không, chẳng có ngã, ngã sở mà cho là có thân tâm, luôn tồn tại lâu dài, vĩnh viễn an ổn, đó là do pháp điên đảo, là tự mình đi vào chỗ tối tăm. Quan sát tâm như vậy là đạt được niệm xứ ve tâm nhu hòa, tâm không còn tưởng niệm cũng chẳng phải không có tưởng để hiểu rõ về tâm, mà không hề sinh khởi, không có đối tượng phát sinh tưởng. Vì sao? Vì tâm không có đối tượng phát khởi, không thể nắm bắt giới hạn sự chân thật, không thể thủ đắc tướng ấy vì tướng của tâm không dấy khởi. Người sáng suốt thì phân biệt, thông đạt điều này, biết sự tích tập của tâm và chỗ diệt tận. Các vị quan sát kỹ về tâm nên biết rõ tâm chẳng có sự chứa nhóm, không có chỗ diệt tận do chẳng nắm giữ được tâm. Tâm còn không thể nắm bắt huống nữa là có đối tượng tích tập, có nơi nương tựa rốt ráo. Do đó, tâm không diệt các tưởng cũng chẳng phải không có tưởng vì đạt đến sự thanh tịnh của tâm. Tâm đã thanh tịnh thì không còn rơi vào phiền não, không bị nhiễm ô. Vì sao? Vì thông đạt, trừ hết các vướng mắc nên tâm thanh tịnh. Tâm chúng sinh do loạn động nên nhiễm phiền nao. Tâm thanh tịnh là nhờ có khả năng nhận biết và đoạn trừ. Tâm tự nhớ nghĩ: Trong tâm có phiền não, do đó mới có thể quan sát hoạt động của chúng sinh. Tâm có đối tượng để vướng mắc là vì có phiền não, nhờ tâm sáng suốt nên đạt được sự thanh tịnh. Quan sát như vậy rồi, vị ấy không còn tham dục, phiền não, không mong đạt được tâm thanh tịnh, lúc ấy mới thấu đạt tâm vốn thanh tịnh. Bồ-tát quan sát sự vận hành của tâm ý như vậy là thông suốt về nguồn gốc thanh tịnh.

Đức Phật nói:

–Này Bồ-tát Trì Nhân! Thế nào là Bồ-tát luôn chú tâm nơi pháp để quan sát sự vận hành của pháp ấy? Bồ-tát nào quan sát tất cả pháp mà không chấp pháp bên trong, không nắm giữ pháp bên ngoài, không thấy ở giữa hoặc có khổ não. Pháp không có quá khứ, hiện tại hay vị lai, do mười hai nhân duyên mà có, các pháp là điên đảo, không thể thành tựu. Lại quan sát pháp ấy không có bên trong, bên ngoài hay ở giữa. Pháp không có hợp, tan; hết thảy các pháp đều không có hình tướng, không thật có cũng chẳng phải không thật có, chỉ tạm nói có mà thôi. Tất cả các pháp giống như hư không, cũng là tưởng huyễn hóa, phát sinh thật tướng vốn sáng suốt, thanh tịnh nhưng do nương tựa vào phiền não. Hết thảy các pháp là không thể thấy, quan sát tướng chân thật của chúng giống như sự thấy trong giấc mộng, tỉnh giấc thì không còn đối tượng để thấy. Tất cả các pháp giống như hình ảnh phản chiếu, vốn thanh tịnh, không hình tướng, không có tên gọi và tưởng. Các pháp không thể tư duy. Tất cả các pháp như tiếng vang, từ hư không, chẳng kiến lập nên chúng là không, là thật tướng, không thể nắm bắt. Các pháp như sóng nắng, không thật có, nên kiến lập, quan sát các pháp như vậy. Phàm phu nếu thấy có vô số sự biến hóa thì biết là không có pháp, tức không cho là pháp không hợp không tan, thấy các pháp hoàn toàn không có sự nhiễm ô. Nhờ quán như vậy nên thấy tất cả các pháp không đến không đi, không chấp vào chỗ kiến lập của các pháp. Vì sao? Vì không có xứ sở cũng chẳng phải khong có xứ sở, hết thảy các pháp đều từ nhân duyên sinh khởi, ở nơi điên đảo, xoay chuyển không cùng tận, không có ngôn ngữ cũng chẳng phải không có ngôn ngữ, không có hai tướng cũng chẳng phải một tướng, không có tướng nhỏ. Bậc trí thông đạt nên không nắm giữ cũng chẳng phải không nắm giữ. Vì sao? Vì các pháp không sinh cũng chẳng khởi, không tạo cũng chẳng tác, cho đến không có người tạo tác. Các pháp lìa hình tướng cũng chẳng có thân thể, không phải tự nhiên hay tự nhiên mà thành. Các pháp có vô số, vốn là chân thật. Quan sát như vậy thì hiểu rõ tất cả các pháp, chúng không có ngã, ngã sở, không có người, không có mạng sống, xét kỹ đều là rỗng không, tâm liền nghĩ: Tất cả các pháp vốn là tánh không, là tự nhiên, không có tưởng, không chấp vào các tưởng cũng không mong tạo ra pháp. Xét hết thảy các pháp không hề sinh ra nên tự nghĩ: Pháp không có đối tượng phát sinh cũng chẳng hề diệt. Do quán như vậy nên đạt được niệm xứ về pháp, đối với tất cả các pháp đều thông đạt chúng không sinh khởi, biết là do tập và tưởng mà thành, lìa thật tướng nên không có tướng. Vì sao?

Vì không có sự thành tựu. Pháp là vô tướng nên xả bỏ tướng. Các bậc có trí tuệ phân biệt biết rõ tất cả các pháp này vốn là không. Bồ-tát nên quan sát như vầy: Các pháp và sự vận hành của pháp đều do tạo tac, không thủ đắc các pháp, cũng không sinh, không khởi lên các pháp, nếu có đối tượng để dừng thì cũng chẳng có đối tượng diệt. Tất cả các pháp đều là tướng diệt độ, các tướng vốn vắng lặng và tịch tĩnh. Bồ-tát quán như vậy là thấy các pháp, thông đạt về niệm xứ, không có nơi chốn để dừng cũng chẳng phải không có đối tượng để dừng nghỉ, hết thảy đều thể nhập vào tướng sáng suốt của các pháp, tự quan sát tâm mình thì đạt được pháp niệm xứ, mới gọi là xiển dương kinh điển, đối với tất cả các pháp thì không có chỗ trụ, giảng nói các pháp, dùng trí tuệ để cứu giúp chúng sinh, đây gọi là bậc thấy được tánh chân thật của tất cả các pháp, đạt được pháp niệm xứ.

Đức Phật nói:

–Nhờ niệm xứ mà đạt đến sự siêng năng tu tập về thân, thọ, tưởng và pháp, hiểu rõ ba cõi là không, không chấp vào thân, thọ, tâm và pháp thì gọi là bốn Chánh cần.

Đức Phật bao Bồ-tát Trì Nhân:

–Bồ-tát nào thông đạt về năm Căn thì vượt trên thế gian, luôn quan sát chân chánh. Những gì là năm? Một là tín căn, hai là tinh tấn căn, ba là ý căn, bốn là định căn và năm là tuệ căn. Đó là năm Căn, nên quan sát sự vận hành của chúng. Thế nào là quan sát? Nghĩa là, tin tất cả các pháp đều từ nhân duyên mà khởi, kiến lập do điên đảo, do hư vọng hợp thành, xoay vần không cố định giống như bánh xe, không có giơi hạn, cũng như giấc mộng tự nhiên biến mất; tin tất cả các pháp là vô thường, khổ, không, vô ngã, bệnh tật, đau đớn, già yếu, không tồn tại mãi, không thể sống lâu, lại phải xa lìa. Các pháp đều là không thật có, các căn lập tức tan rã giống như vạch ánh sáng, như sắc lực trẻ con, nhưng tư tưởng thì vui thích, cho là chân thật, không biết chúng đều là hư giả, không thật có. Những ai có tín căn đều biết tất cả các pháp không có quá khứ, hiện tại hay vị lai, không đến, đi cũng chẳng có chỗ trụ; tất cả các pháp là Không, Vô tướng, Vô nguyện, chẳng khởi chẳng vận hành không tưởng cũng chẳng thành tựu, giới và định đều thanh tịnh, trí tuệ biết rõ các pháp thanh tịnh. Nhờ có thể kính giữ, thực hành theo tín căn nên hành giả này không còn luân hồi, dốc tâm tin làm đầu, giữ gìn giới cấm, không bao giờ quên mất hoặc làm trái với đạo nghiệp. Do không quên mất nên vị ay thuận theo chánh pháp, trụ ở tâm tin không thể lay động, những quả báo thiện, ác đều trở lại giúp đỡ, luôn tạo lập nghiệp ngay thẳng, không hề dối trá, đoạn trừ hết sáu mươi hai tà kiến, không tìm cầu sự học hỏi bên ngoài làm thầy, như đã có được mặt trời, mặt trăng nên không có dùng đèn đuốc, chỉ quy y Đức Như Lai và Thánh chúng tri thức thiện, khéo léo thành tựu trọn vẹn giới thanh tịnh, thường nhẫn nhục, nhu hòa. Như vậy là tam tin không lay động, nhờ tâm tin ấy không thể lay động nên luôn giữ vững niềm tin, đầy đủ đạo pháp.

Đức Phật nói:

–Này Bồ-tát Trì Nhân! Thế nào là Bồ-tát quan sát tinh tấn căn? Thế nào là thành tựu đầy đủ và thông đạt các phương tiện? Bồ-tát nào tin vào đạo, không chống trái, nhờ siêng năng nên diệt trừ hết năm triền cái, nếu được nghe kinh điển sâu xa như vậy mà siêng năng kính nhận, thực hành suốt ngày đêm, không hề sợ hãi, tâm chẳng quên mất, thích học rộng nghe nhiều thì đối với pháp không hề bị trở ngại vì đoạn trừ vô minh, không xa lìa tinh tấn, nếu tâm khởi lên niệm ác hay pháp bất thiện thì dùng sức tinh tấn rộng lớn để tiêu trừ sạch. Sau khi đã thông đạt pháp, vị ấy lại siêng năng tu tập, chưa từng biếng nhác, không xem tinh tấn ấy là đủ mà lại càng siêng tu hơn, không vì sự thực hành này mà có đối tượng chống trái, không trở lại để theo thế lực, thông suốt các pháp, phân biệt ứng hợp, không tôn sùng người khác, do khéo léo, siêng năng tu học nên có tên gọi là tấn căn.

Đức Phật nói:

–Thế nào là Bồ-tát đạt được ý căn? Thế nào là hiểu rõ và thực hành theo ý căn? Bồ-tát nào làm chủ được ý mình, luôn bố thí, trì giới, học hỏi, đầy đủ phạm hạnh, giới phẩm trọn vẹn, hạnh nghiệp thanh tịnh, chánh định, tuệ, giải thoát và giải thoát tri kiến đều đầy đủ; thân, miệng và y thanh tịnh, hoàn toàn rỗng không, luôn cung kính, tâm ý ngay thẳng, đối với tất cả các pháp không sinh khởi tưởng, biết chúng luôn tồn tại với nhiều tướng khác nhau để quan sát và thực hành, thông đạt khổ, tập dùng diet đạo để đoạn trừ, kiến lập niệm xứ, dùng phương tiện để thấu đạt các căn, lực, giác chi, nhất tâm, thiền định và Tam-muội chánh thọ, xiển dương các pháp Không, Vô tướng và Vô nguyện, thì đạt được tuệ vô sinh và nhẫn nhục của bậc Thánh, không còn tham dục, được diệt độ là nhờ chú tâm nơi niệm xứ, đầy đủ các pháp, không thực hành theo các địa của hàng Thanh văn, Duyên giác, kính giữ tuệ vô ngại, tâm không mê hoặc. Trong thời tượng pháp, những ai có thể siêng năng như vậy, cẩn thận đối với thân và miệng, không xa rời ý, không nương tựa người khác, quan sát pháp như vậy là bậc trên hết, có oai đức, đạt được cội nguồn chân chánh. Đó là thông suốt, đạt đến ý căn.

Thế nào là Bồ-tát đạt được định ý căn? Thế nào là hiểu rõ về định ý căn ấy? Bồ-tát nào thường thực hành thiền định, nhất tâm không tán loạn, tu hành theo hạnh nghiệp của bậc Hiền thánh, tâm không vướng mắc do không buông lung nên khéo léo an trụ trong thiền định, tâm ý sáng suốt, đạt được các định, quan sát pháp môn thiền định không hề điên đảo, nhờ không tán loạn nên thể nhập tịch tĩnh, từ Tam-muội xuất ra nhưng không nương vào thiền định, có sự ưa thích nên tạo lập đạo nghiệp, dùng thiền định làm nhân duyên, tự mình hoan hỷ, không nương vào người khác, có thiền định chánh thọ nhưng không lệ thuộc vào lời dạy về thiền, nhờ đạt được oai đức và định ý nhất tâm nên vị ấy không còn tham đắm lợi dưỡng, tu hành lặng lẽ, là bậc Tối thượng, có oai đức, đạt được định ý căn và được giải thoát.

Đức Phật bảo Bồ-tát Trì Nhân:

–Thế nào là Bồ-tát thực hành trí tuệ căn? Thế nào là hiểu rõ về trí tuệ căn? Là Bồ-tát không còn ngã và ngã sở. Sao lại gọi như vậy? Vì diệt trừ hết các khổ, làm tiêu tan hết sự tạo tác của thân, lúc nào cũng thực hành theo trí tuệ, thấy khắp nơi, không còn tham dục, đoạn trừ tập, chứng đắc đạo quả, hướng đến nẻo vô vi. Vì thực hành theo tuệ căn nên thấy khắp ba cõi đều bừng cháy, biết ba cõi là khổ. Bậc trí không nương vào ba cõi, quan sát hết thảy đều là Không, Vô tướng và Vô nguyện, tâm chẳng sinh khởi cũng chẳng vận hành, thấy chúng đều là hữu vi nên không bỏ hết thảy như cứu lửa cháy trên đầu, đầy đủ pháp Phật, chuyên tu tập các pháp, tuy ở trong ba cõi nhưng dập tắt và buông bỏ vướng mắc, đối với ba cõi không hề luyến tiếc, tiêu trừ hết mọi ưa thích, xả bỏ các pháp hữu vi, tất cả nhiễm ô và sự trói buộc của ái dục, tâm không hề bị vướng mắc, không ưa thích năm dục lac, không tham đắm cõi Dục, cõi Sắc và cõi Vô sắc, tâm luôn mong muốn trí tuệ sáng suốt và vun trồng công đức của bậc Thánh không có giới hạn giống như sông biển, sự hành hóa chí thành không bờ bến, thông đạt các phap, dùng trí tuệ để hiểu rõ ba cõi nhưng không bị nhiễm ô. Đó là bậc hơn hết, đầy đủ công đức và trí tuệ căn, được đến bờ bên kia.

Đức Phật bảo Bồ-tát Trì Nhân:

–Thế nào gọi là căn? Căn nghĩa là không thể lay động, do không thể lay động nên chẳng buông lung, giong ruổi nên gọi là căn; vĩnh viễn không xoay vần, không nương tựa người khác, một mình không có bạn, tùy thuận theo giáo pháp gọi là căn; không nhục mạ người khác, không the lay động, chẳng bị sai lầm gọi là căn. Này Bồ-tát Trì Nhân! Như vậy là Bồ-tát hiểu rõ về các căn.

Lại nữa, này Bồ-tát Trì Nhân! Bồ-tát hiểu rõ về các căn của chúng sinh, khéo tu học Đại thừa, biết căn tánh của chúng sinh thanh tịnh hay nhiễm ô, căn tánh tham dục hay không tham dục, căn tánh sân hận hay không sân hận, căn tánh ngu si hay sáng suốt, biết căn tánh bị đọa vào cõi ác hoặc sinh vào loài người, biết căn tánh được sinh lên cõi trời hay cõi Phật khắp mười phương, căn tánh tâm thông minh, thấp kém hay trung bình… thảy đều thấy biết hết. Hoặc biết rõ hạng hạ tiện, thô xấu, các căn không đầy đủ, hoặc đủ các căn… đều biết tất cả; các căn ứng hợp với pháp, có căn tánh phương tiện hoặc chẳng có phương tiện cũng đều biết hết; căn tánh có tội hay không tội, căn tánh ô nhiễm hay không ô nhiễm, căn tánh nguy hại hay chẳng nguy hại thảy đều biết hết; căn tánh tùy thuận, căn tánh không tùy thuận, căn chướng ngại, căn không chướng ngại, căn hạnh cõi Dục, căn hạnh cõi Sắc, căn hạnh cõi Vô sắc, căn xiển dương điều lành, căn hoàn toàn ác… có thể biết tất cả; căn có nơi hướng đến, căn nhân từ, căn ở nơi tà kiến, căn tạo lập chánh kiến, căn tham tiếc, căn không keo rít… thảy đều biết hết; căn tánh nhạy bén, căn tánh chậm lụt, căn tánh mê hoặc, căn tánh sáng suốt, căn tánh nhanh nhẹn, căn tánh hiền hòa, căn tánh nhẫn nhục, căn tánh sân hận, căn tánh ganh ghét, căn tánh không ganh ghét, căn tánh đầy đủ sự bố thí, căn tánh không đầy đủ sự bố thí, căn tánh có niềm tin, căn tánh không có niềm tin, căn tánh tham dục, căn tánh lìa tham dục, căn tánh tại gia, căn tánh xuất gia, căn tánh trọn vẹn giới, căn tánh phá giới, thảy đều biết hết; căn tánh tin vào giới, căn tánh không tin vào giới, căn tánh thanh tịnh, căn tánh trọn vẹn nhẫn, căn tánh sân hận, căn tánh hướng đến tinh tấn, căn tánh biếng nhác, căn tánh tâm tán loạn, căn tánh giữ gìn điều cốt yếu, căn tánh định ý, căn tánh trí tuệ sáng suốt, căn tánh bỏ mất trí tuệ, căn tánh đầy đủ ánh sáng của bậc Thánh, căn tánh ngu si, căn tánh không sợ hãi, căn tánh tự cao tự đại, căn tánh không còn tự cao, căn tánh đạt được đạo, căn tánh theo tà kiến, căn tánh tâm an ổn, căn tánh tâm ý buông lung… thảy đều biết hết; căn tánh ý tán loạn, căn tánh tịch tĩnh, căn tánh phát khởi, căn tánh không có đối tượng sinh khởi, căn tánh thanh tịnh, căn tánh ô nhiễm, căn tánh thông minh, căn tánh hiển bày sáng suốt, căn tánh Thanh văn, căn tánh Duyên giác, căn tánh thừa Bồ-tát, căn tánh thừa chư Phật… thảy đều hiểu rõ và biết tất cả. Đó gọi là bậc đạt được diệu lực, không có bạn cũng chẳng buông lung, gọi là không còn luân hồi, đạt đến phương tiện khéo léo, tên là ý căn, biết rõ căn tánh của chư Thiên, Rồng, Thần, A-tu-la, Calâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già, Nhân phi nhân, là bậc Tối thượng oai đức cao vời, không ai sánh kịp cũng chẳng thể lay động, dùng mọi phương tiện để hành hóa, đạt đến bờ bên kia. Những ai siêng năng tu tập theo kinh điển như vậy thì mau chóng thông đạt, được tự tại đối với tất cả các pháp, đi đến các cõi nước khắp mười phương không hề bị chướng ngại.

Đức Phật bảo Bồ-tát Trì Nhân:

–Thế nào là Bồ-tát hiểu rõ về đạo? Thế nào là đạt được đạo? Đó là Bồ-tát thực hành theo tám Thánh đạo: Một là chánh kiến, hai là chánh niệm, ba là chánh ngữ, bốn là chánh mạng, năm là chánh nghiệp, sáu là chánh tinh tấn, bảy là chánh niệm, tám là chánh định.

Thế nào là chánh kiến? Đó là Bồ-tát đoạn trừ tất cả các tà kiến. Vì sao? Vì tất cả các đối tượng để thấy cho đến Niết-ban, nếu muốn thấy Phật thì phải đoạn trừ các kiến chấp như vậy, mới gọi là chánh kiến. Do không có kiến chấp, không nắm giữ kiến chấp, không thành lập danh tự về các kiến chấp, không có chỗ nương tựa, tất cả đều khong có đối tượng nhớ nghĩ, do không điên đảo, không có đối tượng, không có tưởng, nên gọi là chánh kiến. Thế nào gọi là thấy bình đẳng? Là buông bỏ hết tà kiến, hư vọng ở thế gian, như vậy là đoạn trừ hết các đối tượng thấy, trụ ở chánh kiến mà không hề vướng mắc, không có tưởng cũng chẳng phải không có tưởng, không chấp vào Niết-bàn, xa lìa sự nắm bắt các dục và không chứa nhóm các kiến chấp. Thế nào là chánh kiến? Tất cả đều tịch tĩnh, không còn sinh khởi, an lạc, cũng chẳng tan mất, thấy tất cả là không tạo tác, vốn là thanh tịnh, không mong cầu hết thảy các pháp, cũng chẳng phải không có tưởng, ứng hợp với tất cả. Đó gọi là chánh kien xuất thế gian. Thế nào là chánh kiến? Là không thủ đắc hiện tại, cũng chẳng ra khỏi thế gian mà dùng chánh kiến để hiện bày pháp thế gian và xuất thế gian nhưng không khởi tưởng hiện bày, diệt trừ tất cả các tưởng, không nắm giữ pháp tà kiến, bình đẳng đối với các pháp không bình đẳng, không còn tạo tác. Đó gọi là xuất thế gian, mới gọi là chánh kiến. Như vậy, tất cả các pháp đều không có đối tượng sinh khởi, cho nên gọi là chánh kiến; thấy sự chân thật, ngay thẳng không sai lệch, đó gọi là chánh kiến. Này Bồ-tát Trì Nhân! Đó là Bồ-tát thực hành chánh kiến.

Thế nào là chánh niệm? Đó là biết như thật về tất cả các ý niệm, những tư duy về vô vi, pháp Phật, Thánh chúng… đều là tư tưởng tà vạy. Vì sao? Vì đoạn trừ tất cả những tư tưởng và tư duy về bình đẳng… thì niệm ấy gọi là chánh niệm, vì không còn các tưởng nên gọi là chánh niệm. Vì sao? Vì diệt trừ hết thảy những tư duy gọi là quan sát chân chánh, khi nào không có tà vạy cũng chẳng có các tưởng mới trụ trong chánh niệm, không thủ đắc tư duy, xa lìa các tưởng tà hay chánh… gọi là chánh niệm. Do trừ hết các tưởng, các tập khí, mọi ý niệm, xả bỏ sự hư vọng, điên đảo, dứt bặt các tưởng và chẳng phải tưởng… hết thảy các niệm, không nương vào các niệm, tiêu trừ các tưởng. Đó gọi là chánh niệm.

Thế nào là chánh ngữ? Tất cả ngon từ đều là hư vọng, là điên đảo, là tưởng mê hoặc mà cho là chân thật rồi tự nghĩ: Đoạn trừ hết thảy các ngôn từ đã giảng nói, đó là chánh ngữ. Ngôn ngữ không thể diễn đạt, không đến, không đi, chỗ thấy cũng vay, không có gì sai khác, do đạt được chánh ngữ nên miệng luôn nói lời ngay thẳng, chân thật, cho nên gọi là chánh ngữ, miệng nói lời thanh tịnh, bất cứ ở đâu cũng đều bặt dứt ngôn từ, biện tài, tuy tâm thông đạt nhưng miệng chẳng giảng nói, xả bỏ lời nói tà vạy, trụ nơi chánh ngữ.

Thế nào là chánh nghiệp? Đạt được chánh nghiệp thì biết rõ tất cả các nghiệp tà vạy. Tất cả những nghiệp ấy chẳng phải chân thật, vốn chẳng tạo tác. Vì sao? Vì tất cả các nghiệp đều không đạt đến chỗ rốt ráo mà chúng đều tan rã, đó gọi là chánh nghiệp. Nghiệp không có chánh, không có tà, không có đúng, chẳng có sai, không có tưởng cũng chẳng phải không có tưởng… đều vượt qua các nghiệp, không tạo tác chánh, tà, hiểu rõ các nghiệp là không tạo tác cũng chẳng phải không tạo tác, đó gọi là chánh nghiệp; có thể giảng nói về các nghiệp chánh, tà, hiểu đúng như thật về các nghiệp, cũng thấy được sự chân thật, không có sự ứng hợp nào mà chẳng ứng hợp, đó gọi là chánh nghiệp; do thực hành chân chánh, không có nghiệp tà, thấy bình đẳng, hành hóa theo chân lý, đó là chánh nghiệp.

Thế nào là chánh mạng? Nghĩa là, biết tất cả các mạng sống đều rơi vào tà vạy. Vì sao? Vì các tưởng như: tưởng về mạng sống, tưởng về vạn vật, về vô vi, Niết-bàn, tưởng về thanh tịnh và tưởng thấy Phật… cho đến trụ vào nhất tam thanh tịnh, muốn được mạng sống thanh tịnh đều rơi vào nghiệp sai quấy. Tất cả các mạng sống đều là tánh mạng chân chánh, nhưng không cho là tà cũng chẳng cho là chánh, đó gọi là chánh mạng; nói rằng tà mạng và tất cả các mạng sống đều thanh tịnh, đó là chánh mạng; hiểu rõ tất cả các mạng sống là không có chánh hay tà, trụ vào hạnh thanh tịnh, không buông lung, không có chánh hay tà, không có hai, chẳng phải một, không có sự ứng hợp nào mà chẳng ứng hợp, đó là chánh mạng; không trụ vào tà vạy để đạt được mạng sống thanh tịnh, không tưởng về mạng sống, không có thiện, bặt dứt ngôn ngữ, không có mạng sống cũng chẳng phải không có mạng sống, luôn thực hành bình đẳng, thấy biết chân không hư dối, đó gọi là chánh mạng.

Thế nào là chánh tinh tấn? Là trừ bỏ các tinh tấn tà vạy. Vì sao? Vì tất cả các sự tinh tấn đều rơi vào nẻo tà, ở đâu có tinh tấn mà tâm bị kết sử trói buộc thì gọi là tà tinh tấn. Vì sao? Vì tất cả các pháp không có tinh tấn chân thật hay tà vạy, các sự thực hành chân chánh thì không phải chân chánh, vì chúng chẳng phải chân chánh nên gọi là tà tinh tấn, là chẳng phải tinh tấn, không rốt ráo, chẳng có ngôn từ, bặt dứt sự tinh tấn vì chúng không thật có, đoạn trừ tưởng về Niết-bàn, không còn tưởng về pháp Phật, biết tinh tấn thực hành và tất cả các sự tinh tấn đều chẳng phải chân chánh, cho đến không có tinh tấn, tất cả đều bình đẳng nên không có tinh tấn, bình đẳng đối với tất cả các pháp, không gì khác biệt, không có tinh tấn, vượt trên những phương pháp, nếu có phương pháp thì cũng chẳng chấp giữ, không có gì mà chẳng ứng hợp. Đó là chánh tinh tấn, đạt được những điều này thì gọi là tinh tấn, cũng gọi tinh tấn là chánh định, bặt dứt cả tinh tấn mới gọi là chân lý, như vậy là thấy bình đẳng, không khởi tưởng về tinh tấn, do không có tưởng nên đúng là chánh tinh tấn.

Thế nào là chánh niệm? Tất cả các niệm đều là tưởng về tà, các niệm của ý cũng chính là tư duy tà vạy. Vì sao? Vì tất cả đều rơi vào ta kiến, chúng đều từ ý sinh khởi nên gọi là tà. Ý không có đối tượng để nhớ nghĩ. Vì sao? Vì tất cả các sự nhớ nghĩ đều do nhân duyên sinh, nên cũng gọi nhân duyên là tà vạy. Ý nơi đối tượng của niệm không khởi cũng chẳng diệt gọi là chánh niệm. Cho là chánh niệm vì không có ý niệm, trụ xứ và nghiệp phát khởi, không có ý cũng chẳng phải không có ý, thanh tịnh bậc nhất, ý niệm không tà vạy, đoạn trừ hết các tư duy, không khởi y niệm đối với các điều tà thì gọi là an trụ nơi chánh niệm. Bậc chánh niệm ấy, không phải chánh, không phải tà, không phải chánh niệm hay tà niệm, diệt trừ tất cả các ý, các niệm và tư tưởng, hiểu rõ hết thảy nhưng tâm không hề loạn động, thường thực hành sáu Độ, gọi là trụ nơi chánh niệm, ý chưa từng sinh khởi tưởng có ý hay chưa có ý, thông suốt hết thảy ý niệm, biết chúng là chân thật nhưng không suy nghĩ có ý hay không có y, ứng hợp hay chẳng ứng hợp, đó là trụ nơi chánh niệm, không có ý cũng chẳng tà vạy, nhớ nghĩ đến hạnh bình đẳng, không có niệm cũng chẳng phải không có niệm, không có nhân, không tư duy cũng chẳng có đối tượng để tư duy, hết thảy đều chẳng mong cầu, đạt đến chỗ bặt dứt ngôn ngữ, không có ý cũng chẳng phải không có ý, trụ vào tư duy bình đẳng, không ngôn từ, chẳng bàn luận, xả bỏ hết thảy từ ngữ, hiểu đúng như thật, không hề giảng nói, chẳng có tư duy cũng không có tưởng. Đó gọi là trụ vào bình đẳng.

Thế nào là chánh định? Nghĩa là, thấy tất cả các định đều là tà định. Vì sao? Vì chấp giữ tưởng làm nhân duyên của định, chấp vào tà hay chánh đều là tà định, cho nên gọi thủ đắc định này không phải là chân chánh. Nếu đối với các thọ mà không có đối tượng thọ nhận, chẳng mong cầu tưởng về chánh định, không giảng nói về tịch tĩnh, không nhớ nghĩ đến chánh định, không có đối tượng duyên dựa, không tạo tác cũng chẳng truyền trao, bặt dứt sự vui mừng, vĩnh viễn an lạc, hiểu rõ về tưởng của định, đối với Tam-muội không có chỗ trụ chấp. Đó gọi là Chánh định Tam-muội. Sở dĩ gọi chánh định vì đối với tất cả các định không hề vướng mắc nên không buông lung, đạt được tuệ như thật thông suốt định ý, không nương vào các định, không mong cầu ý niệm, không lệ thuộc vào các hạnh chân chánh, do đó không có tưởng nào mà chẳng phải tưởng, chẳng phải tưởng ấy cũng không có tưởng, gọi là chánh định. Định này không chánh, không tà, tất cả đều chẳng mong cầu, vì đoạn trừ các tưởng và diệt hết các sự mong cầu, gọi là chánh định. Cho là chánh định vì không có định chánh hay tà, tâm không có đối tượng sinh khởi cũng chẳng có chánh hay tà, không có chánh định cũng chẳng có tà định. Vì sao? Vì có khả năng hiểu rõ các định phương tiện, cho đến trụ vào chánh định, không có tưởng về Tam-muội, không chứa nhóm bình đẳng, ban rải khắp tất cả mới gọi là chánh định, vị ấy không còn luân hồi, không tạo tác cũng chẳng buông lung, đối với các pháp chánh hay tà đều bình đẳng, tất cả định ý đều trở về nơi chánh định, biết tất cả ba cõi đều là pháp hữu vi, dùng trí tuệ để nhận biết và tư duy về chân lý, qua lại tự tại trong năm cõi.

Đức Phật bảo Bồ-tát Trì Nhân:

–Như vậy là Bồ-tát hiểu rõ ý nghĩa của đạo, đạt được như vậy nên thông suốt ngọn nguồn về đạo, nếu thực hành theo hạnh bậc Thánh, xiển dương chân lý như vậy gọi là chánh định.

QUYỂN 4

Phẩm 9: THẾ GIAN VÀ XUẤT THẾ GIAN

Đức Phật nói:

–Này Bồ-tát Trì Nhân! Bồ-tát làm thế nào để hiểu rõ những điều cốt lõi của pháp thế gian và xuất thế gian? Thế nào là thế gian và xuất thế gian? Đó là, Bồ-tát thường phải tư duy thuận hợp về thế gian và xuất thế gian. Thế nào là tư duy thuận hợp? Thế nào là pháp thế gian và pháp xuất thế gian? Nếu chấp vào pháp điên đảo thì đều từ tưởng mà có, do nhân duyên sinh khởi, hư vọng hòa hợp, có hai nhân duyên để kiến lập cũng từ hai loại tưởng mà sinh khởi: Một là từ hư vọng, hai là từ vô sinh. Từ ngôn ngữ hư dối và pháp mê hoặc thì có được tướng tăm tối, giống như trẻ thơ cầm vô số vật vẽ vào hư không. Phàm phu luôn ở trong thế gian, tưởng là có thế gian, xét thế gian ấy đều tan rã, thay đổi, hoại diệt, nhờ thấy tất cả các pháp thế gian đều từ hư vọng mà thành, nhân ấy không tạo tác, vốn chẳng sinh ra, các ấm và các nhập đều từ duyên mà khởi; sắc, thanh, hương, vị và xúc cũng là pháp do duyên mà có. Phàm phu thiếu trí tuệ tâm luôn duyên dựa nên không nói sắc do duyên tạo ra, sở dĩ thấy như vậy là do có vô số kiến chấp, lai có sự nương tựa, vướng mắc. Nếu xả bỏ hết những chủng tánh ấy thì khiến thế gian thấy được chỗ điên đảo. Do thấy được sự tồn tại của pháp thế gian và xuất thế gian như vậy nên biết chân lý của pháp thế gian, đạt đến cội nguồn thanh tịnh, đó là pháp xuất thế. Bậc trí không mong cầu pháp thế gian, thông đạt chúng là không thể nắm bắt, đối với pháp xuất thế gian cũng vậy. Nếu không thể hiểu rõ pháp thế gian và xuất thế gian thì không thể biết được hạnh nghiệp thế gian và xuất thế gian, không thông suốt được thế gian và xuất thế gian vốn thanh tịnh. Thế nào là thông suốt hạnh nghiệp xuất thế gian? Nếu thế gian vốn thanh tịnh thì xuất thế gian cũng vậy. Vì sao? Vì vĩnh viễn không thể nắm bắt. Pháp thế gian vốn thanh tịnh, thảy đều rỗng lặng, pháp xuất thế gian cũng vậy, vốn là tự nhiên; thế gian vốn tịch tĩnh vì thật tướng của thế gian luôn thành tựu rốt ráo, nên quan sát như vầy: Thế gian và xuất thế gian đều không thể nắm bắt, không thủ đắc xuất thế gian, không đắm nhiễm thế gian, không nhớ nghĩ đến xuất thế gian, do không nhớ nghĩ đến thế gian và xuất thế gian nên không can dự vào sự thanh tịnh ở thế gian. Vì sao? Vì hiểu rõ thế gian vốn là pháp hư vọng tạm bợ, mê hoặc, nhờ thấy như vậy nên biết thế gian duyên dựa vào sự trống rỗng, nên không khởi tưởng đối với thế gian cũng không ưa thích xuất thế gian. Vì sao? Sở dĩ gọi thế gian vốn là do năm ấm, do tham cầu tập hợp tất cả pháp thế gian mà thành. Bậc trí thông đạt rằng tìm cầu các ấm thì vĩnh viễn không thể được, năm ấm là thật tướng nên không thể nắm bắt, năm ấm vốn thanh tịnh nên cũng không thể nắm giữ, năm ấm không đến, đi, không có đối tượng hướng đến, không thể biết được nơi chốn. Đó là xuất thế gian. Vì không tìm cầu nơi hướng đến của năm ấm nên không chấp vào năm ấm, biết tất cả vốn thanh tịnh và các nhập cũng vốn thanh tịnh. Bồ-tát nào quan sát pháp thế gian mà không có đối tượng để thấy thì vị ấy đã đạt đến pháp xuất thế, không còn chấp vào xuất thế gian cũng không hòa hợp với thế gian nên không có thế gian mà chỉ thấy xuất thế gian, ở nơi xuất thế gian nên không còn chấp pháp thế gian không thấy có sai khác, không còn xoay vần trong hai pháp thế gian và xuất thế gian. Vì sao? Này Bồ-tát Trì Nhân! Trong hiện tại, vị ấy hiểu rõ ngọn nguồn thế gian vốn không thật có, xuất thế gian cũng vậy. Tuy thấy có thế gian nhưng không có pháp thế gian, phân biệt về pháp xuất thế gian cũng giống như vậy, vì hiểu rõ không có pháp thế gian. Giả sử có người cho: Thế gian khác với xuất thế gian, thì đối với người ấy, Phật không xuất hiện ở đời, tuy Phật có ra đời nhưng họ vẫn gặp đời điên đảo, không thể phát tâm hành đạo, hiểu pháp chân chánh, phải nhờ bậc có trí tuệ quan sát thế gian để giảng nói kinh pháp, ở trong đời điên đảo, tham chấp mà cứu giúp chúng sinh, đó gọi là xuất thế gian. Cho nên, này Bồ-tát Trì Nhân! Nhờ hiểu rõ pháp chân chánh, dùng trí tuệ để quan sát và thông đạt thế gian điên đảo nên gọi là xuất thế gian. Như Lai xuất hiện ở đời, giảng nói các pháp khắp nơi, nhưng không phân biệt có hai loại thế gian và xuất thế gian, dùng trí tuệ chân chánh để quan sát và được chứng đắc, cho nên gọi là giảng nói pháp xuất thế gian.

Đức Phật nói:

–Này Bồ-tát Trì Nhân! Chẳng phải nhờ vào pháp này mà tồn tại ở thế gian, chúng không có đối tượng hướng đến, không thể tiêu trừ, không duyên dựa vào sự tranh luận về thế gian mà hiểu được ý nghĩa thế gian, không nhớ nghĩ pháp xuất thế gian, thông đạt ngôn từ ở thế gian, thấu rõ nguồn gốc các tưởng rồi cho rằng tưởng có hai, không thể thông suốt đúng như pháp nên không thể cứu giúp chúng sinh, không hiểu biết rõ cũng chẳng đạt được pháp xuất thế gian. Vì sao? Vì dùng hai hạnh. Hai hạnh ấy không thể biết được là thế gian hay xuất thế gian. Bồ-tát thấu rõ về phương tiện của tất cả các pháp như vậy thì thông suốt tất cả pháp thế gian và xuất thế gian.

Phẩm 10: HỮU VI VÀ VÔ VI

Đức Phật bảo Bồ-tát Trì Nhân:

–Sao gọi là Bồ-tát phân biệt biết rõ về pháp hữu vi và vô vi? Thế nào là pháp hữu vi và vô vi? Đó là, Bồ-tát dùng sự hiểu biết chân chánh để thuận theo nghĩa lý và tìm hiểu pháp hữu vi và vô vi. Thế nào là thuận theo nghĩa lý? Thế nào là tìm cầu điều trên? Đó là, không tạo tác pháp hữu vi, nếu có đối tượng để thấy thì tự nhiên biết tên gọi, có tạo tác nên gọi là hữu vi. Lại nữa, pháp hữu vi là hư giả, chuyển đổi. Thế nào là thay đổi? Do có tập hợp nên tự nhiên tan rã, kiến lập do hai nhân duyên mà nhân duyên vốn không cùng tận, tất cả mọi vật hiện có đều do nhân duyên sinh. Hết thảy các pháp hoặc không tạo tác, tự tạo tác hay bảo người khác tạo tác đều tự nhiên sinh ra, đó là pháp hữu vi, cũng chính là pháp tự nhiên, không có sự xoay vần nên gọi là hữu vi. Pháp hữu vi ấy không ở trong, không ở ngoài, cũng chẳng ở giữa, tồn tại huyễn hoặc, không hợp không tan, do tư tưởng hư vọng kiến lập, từ duyên vô minh sinh ra nghiệp ngu si mà có tất cả các pháp, chúng tự nhiên xoay vần, không thể tạo ra, từ pháp hữu vi mà nhận chịu tướng nghiệp, cũng do điên đảo, vì phàm phu do tối tăm nên duyên dựa vào danh tự ấy. Lại nữa, bậc có trí tuệ thì thông đạt không thể chạm tới biên vực của hữu vi, không nương tựa vào hữu vi cũng chẳng phải hòa hợp mà có pháp. Đó gọi là trí tuệ. Nhờ trí tuệ nên phân biệt được nẻo thật, có đối tượng tạo tác, bặt dứt tất cả sự tạo tác. Nhờ trí tuệ mà thấu rõ tất cả các hành đều trống rỗng, tạm bợ, các pháp này đều chẳng thật có, bao gồm cả tự nhiên cũng chẳng phải tự nhiên, từ ý niệm mà có ra hết thảy pháp hữu vi. Vì sao? Vì không nên làm theo nhân duyên hưu vi, hoặc biết rõ pháp vô vi là chưa từng chứa nhóm các duyên của pháp hữu vi, hiểu rõ vô vi như vậy mới thông đạt các pháp. Thế nào là hiểu rõ? Tất cả các pháp hữu vi đều chẳng thật có, là không có hình tướng, chúng không có giới hạn, chẳng có sự nhóm họp, bậc Trí quan sát về điều này, không có pháp hữu vi là chỗ đạt đến sự sinh khởi rốt ráo. Pháp hữu vi ấy cũng chẳng có đối tượng thọ nhận, đều chẳng khác biệt. Hữu vi và vô vi cũng không có gì khác nhau, đoạn trừ hết các nghiệp hữu vi, đó là hữu vi cũng là vô vi, đây là tướng hữu vi, đây là tướng vô vi. Sao gọi là tướng hữu vi? Nghĩa là, biết có sinh chắc chắn có chết, có nhóm họp thì phải xa lìa. Thế nào là tướng vô vi? Là không sinh, không diệt, không tập hợp cũng chẳng xa lìa, phàm phu không thể hiểu rõ được hai nghĩa này nên chẳng thể biết được hữu vi, do các pháp có tướng sinh khởi, tướng hoại diệt, cũng chẳng trụ vào tướng khác, do từ không có tướng mà sinh rồi trụ nơi tướng khác, nếu không có tướng ấy thì Như Lai đã giảng nói, từ tướng này sinh khởi, từ tướng này hoại diệt cũng trụ vào tướng này.

Đức Phật bảo Bồ-tát Trì Nhân:

–Như Lai đã giảng nói, tất cả các pháp đều là tướng hữu vi, vì có sự thành tựu, không có tướng sinh khởi, không có tướng hoại diệt, cũng chẳng có tướng tồn tại. Như Lai cũng giảng nói tướng vô vi không là tướng phải tướng quấy, không thể dùng tướng hữu vi ấy để hướng đến vô vi. Vì phàm phu ít trí tuệ, Như Lai mới giảng nói các pháp, khi pháp hữu vi khởi lên thì phải diệt tận, chỉ có vô vi mới an lạc vì không tạo tác, không sinh, không diệt, cũng chẳng có chỗ trụ. Đó gọi là vô vi. Từ đối tượng tích tập ấy mà có sự sinh diệt, nếu chẳng tích tập thì hoàn toàn rốt ráo, không hoạt động, không rốt ráo cũng chẳng trụ ở đâu khác, đó là hiểu biết chân chánh, là bậc có trí tuệ, không mong tích tập, biết có đối tượng sinh khởi thì có tan rã, không bám víu vào nơi nào khác. Bồ-tát nào quan sát về pháp hữu vi và pháp vô vi thì nên quán như vầy, chúng không phải có cũng chẳng phải không, mà luôn thấy như thật, không thấy hữu vi và vô vi, hữu vi không thấy được vô vi, vô vi không thấy được hữu vi cũng chẳng thấy có vô vi nào khác mà tự biết là do ngã và ngã sở, có sự chân chánh là thấy được hạnh nghiệp hữu vi, không có hữu vi nào khác tức là thấy chân lý, mọi tư duy đều là vọng tưởng, pháp hữu vi và vô vi ấy hoàn toàn không có tưởng. Hữu vi và vô vi không có tưởng phân biệt và các tưởng khác, bặt dứt các sự vướng mắc là thông đạt về vô vi, diệt trừ các duyên, biết chúng vốn thanh tịnh, không có nhân duyên, nhân ấy vốn thanh tịnh tức thấy chân lý. Do có thể thấu rõ như vậy nên không tạo tác, không chứa nhóm. Bồ-tát nào có thể kiến lập hữu vi và vô vi như vậy thì hiểu rõ các pháp là không phải có cũng chẳng phải không, không duyên dựa vào hữu vi và vô vi mới có thể đạt được đạo quả giác ngộ.

Đức Phật bảo Bồ-tát Trì Nhân:

–Bồ-tát nào phân biệt năm ấm, hiểu rõ các chủng tánh, thông đạt sáu nhập, biết rõ mười hai nhân duyên, tường tận về bốn Niệm xứ, năm Căn, tám Chánh đạo, thấu rõ về hạnh nghiệp thế gian và xuất thế gian, nhận biết rõ về pháp hữu vi và vô vi thì nhờ sự thông suốt này, vị ấy hiểu rõ cội nguồn của tất cả các pháp, giảng nói rộng rãi về các pháp, đạt được diệu lực của ý, biết tường tận chương cú của tất cả các pháp, bặt dứt sinh tử, tâm không hề tan hoại, có khả năng đạt đến đạo quả Chánh chân Vô thượng, thành Bậc Tối Chánh Giác.

Phẩm 11: BỒ-TÁT BẢO QUANG

Đức Phật bảo Bồ-tát Trì Nhân:

–Về thời quá khứ, cách đây vô số kiếp không thể lường xét, không có giới hạn, bấy giờ có Đức Phật hiệu là Như Lai Tử Kim Sơn Vương đầy đủ mười tôn hiệu: Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Như Lai Tử Kim Sơn Vương sống lâu năm kiếp, chúng Thanh văn không thể tính kể, chúng Bồ-tát cũng không có giới hạn, không thể biết được là nhiều hay ít. Cõi nước ấy hưng thịnh, mưa gió điều hòa, năm thứ lúa thóc hoa màu luôn được mùa. Dân chúng an lạc, mạnh mẽ không khiếp sợ, mỗi người đều đạt được tâm bình đẳng, thực phẩm sử dụng không bị bệnh tật, ít tham, sân, si, khéo léo tu tập, sống đúng lễ nghĩa, thuận theo giới luật thanh tịnh. Vì đoạn trừ lưới nghi cho hàng Bồ-tát và tất cả chúng sinh khiến các vị không còn kết sử, nên Đức Như Lai ấy đã khai mở kho tàng giáo pháp của Bồ-tát. Khi ấy, có vị Bồ-tát tên là Bảo Quang, nghe Đức Phật ấy thuyết giảng về hạnh nghiệp của các Bồ-tát xong, Bồ-tát Bảo Quang liền thông đạt các ấm, các nhập, mười tám giới, mười hai nhân duyên, các căn, niệm xứ, tám Chánh đạo, pháp thế gian và xuất thế gian, pháp hữu vi và vô vi, liền kính nhận và siêng năng tu tập, trải qua mười hai ức năm, chưa từng khởi tâm tham, sân, si, không tham cầu lợi dưỡng, thực phẩm, y phục, giường chiếu, thuốc thang trị bệnh, tâm chỉ siêng tu, thể nhập đúng như pháp, luôn tư duy, tu tập tinh tấn trọn đời, ở chỗ Đức Phật tu phạm hạnh, sau khi lâm chung được sinh trở lại nước ấy, cũng trong loài người, ở nơi chỗ cũ, lại xuất gia học đạo, hiểu đúng như pháp, kính giữ để thực hành; lại ở cõi ấy sáu mươi ức năm, tu tập phạm hạnh, tâm không lìa xa, gặp được pháp Phật, luôn mong cầu không buông bỏ. Sau khi lâm chung, Bồ-tát ấy được sinh trở lại cõi Phật kia, gặp Đức Như Lai Tử Kim Sơn Vương vẫn còn ở đời, nên tiếp tục ở cõi nước ấy tu hành phạm hạnh. Trong mỗi kiếp, trải qua năm lần sinh ra rồi chết đi, sau khi Đức Như Lai Tử Kim Sơn Vương diệt độ năm kiếp, Bồ-tát ấy chính là bậc mô phạm, học rộng hiểu nhiều không có giới hạn, thông đạt các pháp, ở trong năm kiếp mới có thể nghe nhận, quan sát những điều thưa hỏi từ Đức Phật kia, rồi đạt được diệu lực về ý, quan sát về Như Lai, vì chúng sinh mà giảng nói rõ ràng khai mở cho vô lượng người khiến họ phát khởi tâm Bồđề vô thượng. Sau khi Đức Phật ấy diệt độ, chánh pháp trụ ở đời một kiếp, Bồ-tát ấy được sinh trở lại trong loài người năm trăm lần, thường xuất gia học đạo, tôn kính Đức Phật, hiểu rõ kinh điển, giáo hóa cho vô số chúng sinh, khiến họ thể nhập vào các hạnh. Bồ-tát Bảo Quang gặp được vạn ức Đức Phật, cuối cùng gặp Đức Phật tôn hiệu là Vô Lượng Quang Như Lai Chí Chân Đẳng Chánh Giác và được Đức Phật ấy thọ ký: Trải qua vô lượng kiếp, ông sẽ chứng đắc đạo quả Chánh chân Vô thượng, vô số kiếp nữa, ông sẽ được gặp trăm ngàn triệu ức na-do-tha chư Phật và thành tựu quả vị Bồ-đề vô thượng, có tôn hiệu là Quyết Nhất Thiết Nghị Như Lai Chí Chân Đẳng Chánh Giác, chúng Thanh văn không thể lường xét, không có giới hạn, chúng Bồ-tát có vô số. Dân chúng trong nước ấy sống lâu hai kiếp, lúa gạo đầy đủ và được an ổn. Do đó, này Bồ-tát Trì Nhân! Bồ-tát nào muốn thông đạt chánh pháp, được lợi ích như vậy thì nên siêng năng học hỏi, thọ trì và đọc tụng kinh điển cốt yếu này.

Đức Phật lại bảo Bồ-tát Trì Nhân:

–Bồ-tát nào tu học theo kinh điển này muốn đạt được phương tiện thiện xảo thì thường tu học theo bốn pháp. Những gì là bốn? Một là, từ bỏ gia đình, dứt sạch các nghiệp, làm hạnh Sa-môn. Hai là, xa lìa nơi ồn ào, ơ chỗ thanh tịnh để tu tập. Ba là, giữ giới thanh tịnh, không để thiếu sót, sai trái. Bốn là, không còn biếng nhác, siêng năng tư duy không dừng nghỉ. Đó là bốn. Lại nữa, thực hành theo bốn pháp này, siêng năng cầu học rộng hiểu nhiều, thường nhẫn nhục thì mau thành tựu bốn pháp. Những gì là bốn? Một là, tuy ở cõi người nhưng luôn ở vùng giữa nước đầy đủ văn hiến. Hai là, gặp đời có Phật, không ở biên địa. Ba là, thường kính giữ chánh pháp, không hề chống trái. Bốn là, trừ sạch tội lỗi, không gặp tai ương. Đó là bốn. Bồ-tát nào tu học theo kinh điển cốt yếu như vậy thì có được oai lực, luôn bố thí, giữ giới thanh tịnh nhẫn nhục, siêng năng, nhất tâm trí tuệ, đạt được sự sáng suốt của bậc Thánh, nhờ tu tập pháp này mà đạt đến phương tiện thiện xảo như vậy.

Đức Phật bảo Bồ-tát Trì Nhân:

–Bồ-tát nên kiến lập công đức, ở chỗ thanh vắng, luôn biết đủ

như vậy thì không còn bị trần cảnh ngăn che, thương xót chúng sinh, dùng tâm Từ bi rộng lớn để cứu giúp họ, sau đó mới học theo pháp như vậy thông đạt các hạnh cốt yếu. Lại nữa, Bồ-tát nên thể nhập vào pháp môn Tổng trì, siêng năng tu học. Thế nào là thể nhập vào pháp môn Tổng trì, siêng năng tu học? Nghĩa là, lập chí siêng tư duy, thông đạt vô lượng pháp, dùng phương tiện để quan sát, kính giữ vô số hạnh. Lại hiểu rõ, quan sát các pháp môn định ý, các pháp môn cốt lõi, thể nhập nhân duyên chánh hạnh không thể nghĩ bàn, đạt được năng lực như vậy, thông suốt tất cả các pháp, phân biệt các pháp, chứng đắc diệu lực về ý; nhờ có khả năng thông đạt như vậy nên đoạn trừ hết sinh, già, bệnh, chết, ý chí mạnh mẽ, không khiếp sợ, không bỏ mất chánh pháp, cho đến chứng đắc đạo quả Chánh chân Vô thượng, thành Bậc Tối Chánh Giác.

Đức Phật lại bảo Bồ-tát Trì Nhân:

–Bồ-tát nao thông đạt pháp môn Tổng trì thì có khả năng hiểu rõ hết tất cả các pháp, tường tận về ngôn từ, dùng một pháp thể nhập vào trăm ngàn pháp, dùng diệu lực của đạo để phân biệt các pháp và thông đạt tất cả. Lại nữa, Bồ-tát nào đạt được pháp môn định ý, hội nhập vào âm thanh, liền thể nhập vào vô lượng pháp môn định ý, nhờ được thể nhập như vậy nên có khả năng thấu rõ vô số pháp môn; nhờ thể nhập vào pháp môn của tất ca các pháp nên giảng nói các pháp, cứu giúp khắp nơi. Lại nữa, Bồ-tát ấy thực hành theo trí tuệ nên có được diệu lực của tuệ, thông suốt về các tưởng, hiểu rõ về tưởng rồi, lại nhờ diệu lực của tuệ nên thấu rõ tat cả các pháp, thông suốt nhanh chóng không bị chướng ngại. Lại nữa, Bồ-tát nào thông đạt vô lượng pháp môn định ý, nhờ trụ vào địa này nên biết được tất cả các pháp khắp mười phương. Lại nữa, Bồ-tát nào thông đạt vô lượng pháp môn Tổng trì thì thấu suốt các diệu lực của pháp môn định ý không có giới hạn, nhờ pháp môn định ý này mà xiển dương nguồn gốc của các pháp không có giới hạn, nhờ đạt được địa của đạo này nên hội nhập khắp các pháp, không có điều gì mà chẳng thông đạt. Lại nữa, Bồ-tát có khả năng thông suốt và quan sát các hạnh của thế gian, phân biệt rõ về hữu vi và vô vi, thực hành các pháp, tâm không bị vướng mắc pháp hữu vi, vô vi, thực hành tất cả các pháp như vậy nên mau chóng thông đạt các pháp, đạt được trí tuệ sáng suốt. Lại nữa, Bồ-tát thực hành phương tiện thiện xảo, quan sát tất cả các pháp vốn không có đối tượng để thực hành, tuy quán như vậy nhưng không lệ thuộc pháp thế gian, không vướng mắc pháp thế gian, cũng không có đối tượng duyên dựa, nhờ tu theo các pháp như vậy nên mau chóng hiểu rõ tất cả các pháp, phân biệt các pháp, đạt được diệu lực của ý, dùng tài sản bố thí, thấu suốt chương cú, đoạn trừ sinh, già, bệnh, chết, đầy đủ các hạnh. Do đó, này Bồ-tát Trì Nhân! Có bốn pháp để Bồ-tát thực hành các pháp, đạt được giải thoát. Những gì là bốn? Đối với pháp này nên thực hành đúng như ý nghĩa, siêng tu tập chánh pháp, đối với kinh điển này không hề chướng ngại và thể nhập vào khắp các tuệ bậc nhất.

Phẩm 12: BẢN SỰ

Đức Phật bảo Bồ-tát Trì Nhân:

–Về thuở quá khứ, cách đây vô số kiếp không thể tính kể, không có giới hạn, có Đức Phật hiệu là Vô Lượng Quang Siêu Thù Vương đầy đủ mười tôn hiệu: Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Vào thời của Đức Phật ấy, chúng Thanh văn không thể tính kể, các chúng hội không có giới hạn, chúng Bồ-tát không thể lường xét. Đức Phật ấy trụ thế trong một kiếp. Cõi nước của Ngài đều do bảy báu làm thành, cây bằng bảy báu bao bọc chung quanh, tất cả các cây được trang hoàng bằng các loại báu, đẹp đẽ quý giá, khắp các nẻo đường đều có màn che, dưới các gốc cây đều có tòa Sư tử, trên các tòa ấy được trải những vải vóc mịn màng, tốt đẹp, hết thảy các chân của tòa ấy đều bằng lưu ly, dùng xích trân châu để trang hoàng các cây, có hương thơm tự nhiên, hợp thành lá, hoa luôn đua nhau nở rộ, ở trước các cây ấy có ao tắm tự nhiên, nước tám công đức, cát ở dưới đáy ao bằng pha lê, xa cừ, xích trân châu, ao tắm ấy được làm bằng ba loại báu, trong ao có hoa sen đủ màu sắc tự nhiên mọc lên. Lại nữa, lan can của các ao nước ấy bằng bảy thứ báu, tất cả lan can và đất đều bằng phẳng như bàn tay. Cõi nước của Đức Phật ấy thanh tịnh, không nhơ uế, có nhiều cây báu tốt tươi, như cây cổ thụ trú độ trời Đao-lợi, được trang trí bằng ngọc minh nguyệt rực rỡ, có ức ngàn cây đầy khắp cõi Phật ấy, ánh sáng của chúng tỏa chiếu, che lấp ánh sáng của mặt trời, mặt trăng. Các cây báu ấy có ngọc quý đan xen, phát ra âm thanh cực hay, những loai chim phượng và các ngọc nữ cõi trời ca múa hát xướng, đủ loại âm thanh êm tai như vậy vang khắp cả cõi Phật ấy. Cõi nước của Ngài không có ba đường ác, không phạm các điều ác, không giảng nói câu cú xen tạp cho chung sinh mà chỉ giảng nói về pháp giải thoát, đó là nói về tạng pháp của Bồ-tát để giáo hóa cho vô số người trong một ngày khiến họ phát tâm Bồ-đề, do phát tâm như vậy nên đã dốc tâm cầu đạo quả Bồ-đề vô thượng, liền đầy đủ các phẩm trợ đạo. Thế nên, này Bồ-tát Trì Nhân! Đức Như Lai Vô Lượng Quang Siêu Thù Vương do nhân duyên dùng phương tiện để giáo hóa khiến vô lượng, vô số chúng sinh phát tâm cầu đạo Bồ-đề, nên hiện nay, Ngài đản sinh ở phương dưới của cõi này. Ở cõi Phật ấy, Ngài đã thành tựu mọi hạnh Bồ-tát. Sau khi Phật diệt độ, chánh pháp tồn tại nửa kiếp, sau khi chánh pháp diệt hết, có một vị Bồ-tát tên là Ý Vô Hạn sinh vào coi nước của Đức Phật ấy. Cõi ấy cách đây mười cõi nước của chư Phật. Năm mười sáu tuổi, Bồ-tát Ý Vô Hạn liền xuất gia làm Sa-môn, ở chỗ Đức Phật Vô Lượng Quang Siêu Thù Vương để nghe nhận kinh điển. Khi pháp diệt hết, Bồ-tát ấy giảng nói về các ấm và phân tích rõ ý nghĩa của tất cả các nhập cho các Bồ-tát khác. Nghe pháp xong, các vị ấy đều siêng năng tu hành. Nhờ dùng phương tiện thiện xảo để đạt đến giải thoát ở nơi pháp này và nhân duyên gieo trồng cội gốc công đức mà Bồ-tát ấy được Đức Phật kia thọ ký và được gặp vô số chư Phật để nghe pháp này, sinh ở chỗ nào cũng biết được đời trước của mình, không lập gia đình, siêng tu phạm hạnh, luôn có tín tâm nên xuất gia làm Sa-môn lúc còn nhỏ tuổi, ở đâu cũng đạt được diệu lực của ý, thường phòng hộ thân, thành tựu công đức, đời sau cũng sẽ đạt được đạo quả Bồđề vô thượng, thành Bậc Tối Chánh Giác, hiệu là Vô Lượng Quang Châu Vương Như Lai Chí Chân Đẳng Chánh Giác. Bồ-tát nào muốn mau chóng thành Phật, đạt được Nhất thiết trí, đầy đủ Phật đạo, thì ở nơi đời năm trược, lúc pháp gần diệt hết nên siêng năng, chí thành kính nhận, giảng nói pháp này, lúc nào cũng ưa thích siêng năng tu tập. Đến đời sau, những ai kính nhận kinh điển này, vun trồng vô lượng công đức, đọc tụng tu tập và giảng nói cho người khác thì phước của người ấy không thể ví dụ được.

Phẩm 13: NHÓM BẠT-ĐÀ-HÒA – NĂM TRĂM BỒ-TÁT

Bấy giờ, Bồ-tát Kiều-viết-đâu – thuộc nhóm năm trăm vị Bồ-tát như Bồ-tát Bạt-đà-hòa – từ chỗ ngồi đứng dậy, quỳ gối chắp tay bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Ở đời mạt pháp sau này, lúc pháp sắp diệt, chúng con sẽ thọ trì pháp ấy. Trong đời năm trược, chúng con sẽ ủng hộ chánh pháp, thọ trì kinh điển này và đọc tụng giữ gìn, giảng nói rộng rãi cho người khác.

Lại có vô số chúng Bồ-tát đều từ chỗ ngồi đứng dậy, quỳ gối chắp tay, đảnh lễ Đức Phật rồi phát nguyện:

–Bạch Thế Tôn! Ở đời mạt pháp sau này, chúng con sẽ mặc áo giáp thệ nguyện kính nhận kinh này, thuận theo pháp vi diệu mà Đức Phật đã giảng nói.

Các Bồ-tát này đã chứa nhóm cội gốc công đức, đầy đủ kho tàng phẩm trợ đạo, ở chỗ nào cũng ủng hộ pháp. Sau khi nghe kinh pháp này, các vị ấy càng thêm hoan hỷ, thọ trì, đọc tụng, giảng nói cho những người chưa thông đạt khiến họ thể nhập vào đạo rộng lớn.

Khi ấy, Đức Như Lai liền mỉm cười. Từ nơi miệng Đức Phật phát ra ánh sáng năm màu chiếu khắp tam thiên đại thiên cõi Phật, mặt đất chấn động đủ sáu cách. Tôn giả A-nan từ chỗ ngồi đứng dậy, quỳ gối chắp tay bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Nhân duyên gì mà Như Lai mỉm cười? Thế Tôn mỉm cười như vậy là có ý nghĩa gì khiến ánh sáng chiếu soi làm mặt đất chấn động?

Đức Phat bảo Tôn giả A-nan:

–Ông có thấy chúng Bồ-tát đứng trước Như Lai không? Vào đời sau, các vị này sẽ hộ trì chánh pháp, mặc áo giáp thệ nguyện để cứu giúp tai nạn nguy khốn cho chúng sinh, được chư Phật hộ niệm. Trải qua vô số kiếp, ở chỗ chư Phật, các Bồ-tát này đã mặc áo giáp thệ nguyện như vậy, ở trước chư Phật thọ trì kinh này, hộ trì ba phẩm chánh pháp, hướng dẫn cho vô số chúng sinh khiến họ đến chỗ chư Phật, nương theo ý nghĩa ba phẩm để tu tập chánh pháp. Hôm nay, chúng Bồ-tát này đang đứng trước Như Lai, ở đời vị lai, khi pháp sắp diệt, các vị này sẽ giáo hóa cho chúng sinh chưa thông hiểu, khiến họ kính nhận ba phẩm chánh pháp. Trong Hiền kiếp, các Bồ-tát này lại được gặp chư Phật, nhận lãnh chánh pháp của hàng ngàn chư Phật, vào đời vị lai cũng được gặp chư Phật và kính nhận giáo pháp như vậy.

Này A-nan! Chúng Bồ-tát này đã vun trồng công đức không thể lường xét, khó có thể tính kể những kinh pháp mà các vị này thực hành. Các Bồ-tát này luôn làm cho chúng sinh an ổn để cúng dường chư Phật. Giả sử Như Lai có giảng nói về các vị này đã tu tập chánh pháp và làm cho chúng sinh an ổn như thế nào thì người đời không thể tin được. Nếu không tin thì sẽ ở trong đêm dài bất an, bị đọa vào cõi ác.

Lại nữa, này A-nan! Như Lai sẽ giảng nói cho các ông hiểu rõ về việc làm lợi ích cho tất cả chung sinh của các vị này. Giả sử hết thảy chúng sinh trong tam thiên đại thiên thế giới đều do sự vận hành của tưởng nên bị đọa vào địa ngục, trong đại chúng này có một người bảo các chúng sinh trong địa ngục: “Mọi người đừng sợ hãi, tôi sẽ cứu giúp tất cả.” Khi ấy, người đó dùng phương tiện đích thân cứu giúp tất cả chúng sinh ấy khiến họ thoát khỏi tai nạn, khổ đau nơi địa ngục, đều đến nơi an ổn. Trong vô số ngàn năm, người ấy phải ở trong địa ngục, cũng chưa từng biếng nhác, luôn khiến chúng sinh được an lạc. Này A-nan! Đối với chúng sinh, người ấy luôn dùng tâm Từ bi để cứu giúp họ thoát khỏi địa ngục, được sự an ổn, vậy công đức có tăng trưởng nhiều không?

Tôn giả A-nan thưa:

–Bạch Thế Tôn! Rất nhiều!

Đức Phật nói:

–Giả sử người ấy hiển bày thần thông cao vời để khiến cho chúng sinh đạt được an lạc bậc nhất, tăng trưởng an lạc không bờ bến, thành tựu tâm Từ bi rộng lớn, ai cũng được che chở thì công đức của vị ấy không thể dùng tâm để tư duy, cũng chẳng thể diễn tả bằng lời nói. Này A-nan! Tuy Bồ-tát ấy chịu ở trong địa ngục để cứu giúp vô số chúng sinh, đưa họ đến nơi an ổn, vì tâm Từ bi nên đã giúp chúng sinh thoát khỏi hoạn nạn, nhưng đó chỉ là sự an lạc hữu vi, dù làm như vậy gấp trăm, gấp ngàn, ức vạn lần hay hơn cả ức vạn lần cũng không bằng người thọ trì kinh điển này. Vì sao? Vì xét việc làm này chỉ là sự an lạc hữu vi nên có lúc chấm dứt, không thể đạt đến vô vi, không xa lìa tham dục, không đạt được diệt độ, không thành tựu thần thông, giác ngộ cũng chẳng đạt đến cốt lõi Niết-bàn tịch tĩnh.

Lại nữa, này A-nan! Các Bồ-tát ấy kiến lập chúng sinh nơi an lạc vô thượng, đạt đến Nhất thiết trí. Các vị này luôn phát nguyện học đạo Bồ-tát, chứng đắc Phật đạo, cứu giúp chúng sinh, kiến lập các địa Thanh văn, Duyên giác, hộ trì pháp Phật, tu hạnh Bồ-tát, an trụ quả vị Phật. Chúng Bồ-tát này luôn khuyên chúng sinh thực hành hạnh Bồtát, không lường xét lời Phật dạy, chẳng tin theo tà vạy, kiến lập tâm Từ, thành tựu Nhất thiết trí, nên công đức không có giới hạn.

Đức Phật nói:

–Này A-nan! Trong một ngàn kiếp hoặc vô số kiếp cho đến trăm ức kiếp không thể tính kể, không bờ bến như vậy, chư Phật Thế Tôn vẫn thường giảng nói chánh pháp này, giáo hóa liên tục, cho đến vô số trăm ngàn ức na-do-tha kiếp, các vị luôn nối tiếp nhau thành Phật, nên công đức không cùng tận, không có giới hạn. Vì sao? Từ thuở xưa, trăm ngàn ức chư Phật luôn thực hành hạnh Bồ-tát, kiến lập Phật đạo. Dù sinh ở chỗ nào, các ông cũng nên thọ trì kinh điển này, giúp đỡ, khuyến khích cho chúng sinh, đạt được đạo quả Chánh chân Vô thượng, thành Bậc Tối Chánh Giác. Vào đời vị lai sẽ có vô số Bồ-tát giáo hóa cho vô số chúng sinh, luôn khuyến khích, giúp đỡ họ đầy đủ pháp Phật, thành tựu đạo quả Bồ-đề vô thượng. Này A-nan! Các Bồtát ấy đã giáo hóa, kiến lập cho hết thảy chúng sinh khiến đạt được Nhất thiết trí, chứng đắc đạo quả Vô thượng.

Thiện nam, thiện nữ nào không trái với lời Phật dạy cũng chẳng đoạn dứt nguồn gốc Nhất thiết trí, vào đời vị lai, khi pháp sắp diệt thì kiến lập, ủng hộ cho chúng sinh, an trụ vào tâm Tư bi rộng lớn, làm lợi ích khắp tất cả, khuyến khích giúp đỡ họ, khiến được an ổn, không đọa vào cõi ác, cúng dường, khen ngợi vô số ngàn ức Bồtát và chư Phật, thì thiện nam, thiện nữ ấy đạt được công đức không thể lường xét. Vì sao? Vì các thiện nam này đã vun trồng công đức không thể nghĩ bàn.

Đức Phật bảo Tôn giả A-nan:

–Trong vô số ngàn triệu ức kiếp, Như Lai đã chứa nhóm chánh pháp quý báu này. Những thiện nam nào thọ trì pháp này thì được vô số chư Phật trong vô lượng cõi nước khắp mười phương và chư Phật hiện tại đều ủng hộ, khiến người tu học pháp này được an ổn.

Đức Phật nói:

–Này A-nan! Chư Thiên và loài người đều cung kính đảnh lễ quy y, thưa hỏi và nhận lãnh giáo pháp ở các thiện nam này. Chư Phật khắp mười phương cũng khen ngợi các vị này. Kinh pháp mà các thiện nam ấy đã giảng nói, không ai sánh kịp. Này A-nan! Như Lai đã thọ ký cho những thiện nam này, khiến họ dứt sạch nghi ngờ. Ở đời vị lai, những ai thọ trì chánh pháp vô thượng này, hoặc tu tập, đọc tụng, giảng nói cho người khác cùng tu học, thì thiện nam, thiện nữ ấy sẽ mau chóng gần gũi Nhất thiết trí. Lúc pháp sắp diệt, người nào được nghe kinh pháp sâu xa này mà cung kính, hoan hỷ tin nhận thì được Phật thọ ký, thực hành hạnh Bồ-tát, đạt được đạo quả chí chân. Vào đời vị lai, những ai ưa thích hộ trì pháp này, tự mình kính nhận giáo pháp thì được chư Phật ủng hộ vì các thiện nam, thiện nữ này không hề chê bai kinh pháp vi diệu ấy. Đối với hàng Thanh văn thì Như Lai thọ ký sẽ được gặp Đức Phật Di-lặc xuất hiện ở thế gian, đoạn trừ hết các lậu hoặc, không có ái dục, nhờ tin nhận pháp sâu xa này nên không hề chê bai, đạt được công đức.

Đức Phật nói:

–Bồ-tát nào được nghe, tu tập và tin ưa pháp sâu xa này thì cũng được thọ ký: Đời vị lai, ở chỗ Đức Phat Di-lặc được xuất gia học đạo, lại lập thệ nguyện mới được quả báo thù thắng. Thiện nam, thiện nữ nào có cội gốc công đức, nhu hòa, vun trồng công đức không giới hạn thì đời vị lai, khi pháp sắp diệt sẽ kính nhận, tinh tấn tu hành pháp sâu xa này, công đức của vị ấy cao vời không thể lường xét.

Phẩm 14: CHÚC LỤY

Bấy giờ, Bồ-tát Trì Nhân bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Đức Như Lai đã vì chúng con mà giảng nói chánh pháp, chẳng phải cầu danh lợi. Ở đời vị lai, những ai được nghe kinh điển này thì sẽ ưa thích, kính nhận nghĩa lý vi diệu, nhờ đó mới mau chóng thông hiểu các pháp, đạt được tuệ phân biệt và diệu lực của ý, nhận rõ các pháp, thấu đạt tuệ về đạo, sinh ở chỗ nào cũng nhớ mãi không quên, dùng ánh sáng pháp rộng lớn chiếu khắp mười phương.

Đức Phật nói:

–Này Bồ-tát Trì Nhân! Bồ-tát nào quan sát pháp này thì được trí tuệ rộng lớn, sáng soi không bờ bến, chứa nhóm công đức không có giới hạn. Nếu đời vị lai, những ai thọ trì hoặc đọc tụng kinh pháp này, những kho tàng vi diệu khác của Bồ-tát và siêng năng tu tập các pháp giải thoát thì ma không thể phá hoại, không bị tội lỗi ngăn che, được Như Lai thọ ký sẽ được gặp hai, ba vị Phật, đạt được pháp Nhẫn vô sinh, nhờ chứng đắc pháp nhẫn này nên sẽ thành tựu đạo quả Bồ-đề vô thượng, tự thông hiểu các pháp và luôn tự tại, làm nghiêm tịnh cõi Phật, viên mãn cho hàng Thanh văn, thọ trì lời dạy về đạo, thực hành hạnh Bồ-tát. Do đó, này Bồ-tát Trì Nhân! Như Lai sẽ nói về pháp ấy để đoạn trừ tất cả nghi ngờ. Ở đời vị lai, những ai đạt được bốn nghĩa về hạnh tự tại, thực hành pháp Bồ-tát, thọ trì kinh điển này thì ủng hộ cho họ, khiến họ mặc áo giáp thệ nguyện. Những gì là bốn? Một là, tự mình đạt được cội gốc của công đức rộng lớn sâu xa không bến bờ, không thể giới hạn. Hai là, vì chúng sinh mà phát khởi nguồn gốc căn lành. Ba là, thưa hỏi, nhận lãnh kinh pháp cốt yếu của Như Lai. Bốn là, giữ gìn kho tàng chánh pháp, ở chỗ vô số chư Phật để tuyên nói, giáo hóa. Đó là bốn. Lại có bốn pháp để hộ trì pháp sâu xa ở đời vị lai. Những gì là bốn? Một là, luôn thâu giữ, siêng năng, ở trong đời ác vẫn tu tập, kính giữ chánh pháp. Hai là, nếu ở nơi tai nạn, nguy hiểm, khổ sở tột cùng, tranh luận về chánh pháp thì vẫn giữ gìn chánh pháp, khi mọi người tranh chấp thì giáo hóa khiến họ hòa hợp để ủng hộ chánh pháp. Ba là, thực hành nhẫn nhục, đầy đủ nhân từ, hòa nhã. Bốn là, ở đời vị lai, tâm không oán hận, ở đâu cũng thường thực hành Từ bi. Đó là bốn pháp để đạt đến pháp sâu xa, mau chóng thành tựu Nhất thiết trí.

Bấy giờ năm trăm Bồ-tát như Bồ-tát Bạt-đà-hòa, Bồ-tát Kiềuviết-đâu… và các Bồ-tát khác, nghe Đức Phật giảng nói về chánh pháp này, các vị đều ở trước Phật suy nghĩ: “Ở đời vị lai, chúng ta sẽ ủng hộ chánh pháp.” Đức Phật liền dùng tay phải xoa đầu các Bồ-tát rồi nói:

–Này các thiện nam! Trong vô số kiếp, Như Lai đã chứa nhóm đạo quả Chánh chân Vô thượng này, thành tựu kho tàng báu rộng lớn, gắng nhẫn, siêng năng, chịu các hạnh khổ, đạt được an lạc, không bờ bến, bỏ hết tất cả an lạc, lo buồn nơi thân mới đạt được đạo pháp, thành Bậc Tối Chánh Giác, nay đem giao phó cho các ông. Nếu có thể tu học, đọc tụng pháp này thì giảng nói nghĩa lý rộng rãi cho bốn chúng. Nếu lúc chánh pháp sắp hủy diệt thì nên kiến lập, ủng hộ mới mong xiển dương ánh sáng pháp rộng lớn không bờ bến. Đức Phật lại giao phó cho các Bồ-tát: “Như Lai như cha, các Hiền thánh như con, Phật như vua, các ông như tôi, cha từ con hiếu, vua chánh tôi trung thì thiên hạ thái bình. Trong vô số kiếp, Như Lai đã chứa nhóm kho tàng chánh pháp quý báu này khiến lưu truyền khắp mười phương. Tất cả chư Thiên, loài người đều từ hiếu, quy y Như Lai. Như Lai đã dùng tâm Từ bi để cứu giúp.”

Khi ấy, năm trăm Bồ-tát như Bồ-tát Bạt-đà-hòa, Bồ-tát Kiềuviết-đâu… và các chúng Bồ-tát khác cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật, thưa:

–Thưa Thế Tôn! Nương vào thần lực của Phật, chúng con sẽ dốc tâm gánh vác, ủng hộ giáo pháp mà Như Lai đã giảng nói. Cúi xin Đức Như Lai rũ lòng ban ân, khiến kho tàng chánh pháp quý báu này được lưu truyền khắp mười phương, cho tất cả chúng sinh đời vị lai đều được nhờ ân.

Khi Đức Như Lai dùng oai thần giảng nói pháp này, có vô số Bồ-tát khong thể tính kể đều đạt được Nhất sinh bổ xứ, đầy đủ cội gốc công đức, có trí tuệ trọn vẹn, vô số ức ngàn chư Thiên, loài người phát khởi tâm đạo, được Đức Phật thọ ký, ở đời vị lai sẽ thành Phật đạo, mỗi vị đều có danh hiệu.

Đức Phật giảng nói như vậy rồi, Bồ-tát Trì Nhân, năm trăm Bồtát như Bồ-tát Bạt-đà-hòa, Bồ-tát Kiều-viết-đâu… tất cả các chúng Bồ-tát và bốn bộ chúng, các hàng Trời, Người A-tu-la… nghe lời Phật dạy thay đều hoan hỷ, đảnh lễ rồi lui ra.

 

Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.