Bài Viết Lưu Trữ

B

BÙI HƯU

Từ điển Đạo Uyển

裴休; C: péixīu; J: haikyū;

Một vị Cư sĩ có duyên lớn với cuộc đời hoằng hoá của Thiền sư Hoàng Bá Hi Vận và là người biên tập tác phẩm Hoàng Bá truyền tâm pháp yếu.

Năm Hội Xương thứ hai đời Ðường Vũ Tông (842), ông giữ một chức quan ở huyện Chung Lăng (nay là huyện Tiến Hiền, tỉnh Giang Tây), thỉnh Sư về mở pháp hội tại chùa Long Hưng. Năm Ðại Trung thứ hai đời Ðường Tuyên Tông (848), cư sĩ đổi về huyện Uyển Lăng (nay là huyện Nghi Thành, tỉnh An Huy), lại thỉnh Sư về đó mở pháp hội tại chùa Khai Nguyên. Trong hai lần pháp hội này, ông đã ghi chép lại những lời dạy của Sư mà ngày nay được biết dưới tên Hoàng Bá truyền tâm pháp yếu. Ngoài ra, ông cũng đến tham học với các vị danh tiếng cùng thời như Khuê Phong Tông Mật và Quy Sơn Linh Hựu.

BỔNG HÁT

Từ điển Đạo Uyển

棒喝; J: bōkatsu;

Nghĩa là “Gậy và Quát”; là phương thức tiếp dẫn giáo hoá đệ tử của các vị Tổ sư trong Thiền tông. Các vị khi tiếp dẫn người học để lấp tuyệt tư duy hư vọng, hoặc khảo nghiệm cảnh ngộ thì dùng gậy hoặc quát to. Người ta cho rằng dùng gậy thì bắt đầu từ Thiền sư Ðức Sơn Tuyên Giám, tiếng quát (Hát) bắt đầu từ Thiền sư Lâm Tế Nghĩa Huyền.

Ðức Sơn nổi danh vì cây gậy trên tay không kém tiếng quát của Lâm Tế. Thiền sư Nhật Bản Nhất Hưu Tông Thuần (j: ikkyū sōjun) đề cao phương pháp hoằng hoá này trong một thời mà Thiền tông đang trên đường suy vi, chết cứng trong các sắc thái, nghi lễ rườm rà bên ngoài. Với một âm điệu chế nhạo – đặc trưng cho thiền – Sư ca ngợi phong cách của hai vị tiền bối. Tự gọi mình là “Cuồng vân” (狂雲; j: kyōun), Sư viết như sau trong một bài kệ được lưu lại trong Cuồng vân tập (狂雲集; j: kyōunshū):

Cuồng vân, cuồng phong
Hỏi ta đó là gì?
Sớm lang thang trên núi,
Chiều lại đến thành đô.
Vung cây gậy đúng lúc,
Lâm Tế cùng Ðức Sơn,
Gương mặt đầy hổ thẹn.

BỐN XỨ

Từ điển Đạo Uyển


S, P: arūpasamādhi; dịch đúng là “Vô sắc giới định”, nhưng vì định này bao gồm bốn cấp nên được gọi như trên.
Chỉ bốn cõi tâm thức mà phép tu thiền định của Phật giáo nguyên thuỷ có thể dẫn đến. Bốn xứ này nằm trong vô sắc giới (Ba thế giới, Tứ thiền bát định).

BỐN TỰ TÍN

Từ điển Đạo Uyển


S: catur-vaiśaradya; P: catuvesārajja; Hán Việt: Tứ vô uý (四無畏), Tứ vô sở uý (四無所畏);
Bốn niềm tự tin của một vị Phật:

  1. Tự tin rằng mình thành Phật, bậc Chính đẳng chính giác;
  2. Tự tin rằng không còn Ô nhiễm (s: āśrava) sót lại;
  3. Tự tin rằng đã vượt qua mọi chướng ngại;
  4. Tự tin rằng đã giảng giáo pháp thoát khỏi Luân hồi.

BỐN TINH TIẾN

Từ điển Đạo Uyển


S: samyak-prahāṇāni; P: sammā-padhāṇa; Hán Việt: Tứ chính cần (四正勤);
Một phép quán tưởng được đức Phật khuyên làm, nhằm loại trừ bất thiện pháp. Bốn tinh tiến là:

  1. Tinh tiến tránh làm các điều ác chưa sinh (s: anutpannapāpakākuśaladharma);
  2. Tinh tiến vượt qua những điều ác đã sinh (s: utpanna-pāpakākuśala-dharma);
  3. Tinh tiến phát huy các điều thiện đã có (s: utpan-nakuśala-dharma), nhất là tu học Bảy giác chi;
  4. Tinh tiến làm cho các điều thiện phát sinh (s: anutpannakuśala-dharma).

Bốn tinh tiến chính là Chính tinh tiến trong Bát chính đạo.

BỐN PHẠM TRÚ

Từ điển Đạo Uyển

S, P: catur-brahmavihāra; Hán Việt: Tứ phạm trú (四梵住), cũng được gọi là Tứ vô lượng tâm (四無量心);

Một phép thiền định, trong đó hành giả tạo điều kiện cho bốn tâm thức cao thượng phát sinh. Bốn phạm trú là: Từ (s: maitrī) vô lượng, Bi (s, p: karuṇā) vô lượng, Hỉ (s, p: muditā) vô lượng và Xả (s: upekṣā) vô lượng. Bốn tâm này đối trị bốn phiền não là sân hận, ganh tị, buồn bực và tham muốn. Trong Ðại thừa, Bốn phạm trú cũng được gọi là hạnh Ba-la-mật (s: pāramitā; Lục độ). Ðó là tâm thức của Bồ Tát muốn cứu độ chúng sinh. Thực hành Bốn phạm trú, thiền giả sẽ tái sinh tại cõi Thiên (s, p: deva). Có khi Bốn phạm trú cũng được gọi là “bốn vô lượng” (vô lượng; s: apramāṇa; p: appa-maññā).

Ðức Phật giảng về phép thiền định này như sau: “Có bốn vô lượng. Hỡi các tỉ-khâu, một người tràn đầy tâm từ (bi, hỉ, xả) sẽ phóng tâm đó đi một phương, hai phương, ba phương, bốn phương, rồi phía trên, phía dưới, xung quanh mình. Người đó phóng tâm đi khắp thế giới, chiếu rọi khắp nơi với tâm từ (bi, hỉ, xả), tâm thức vô lượng vắng bóng sân hận và phiền não.”

BỐN NIỆM XỨ KINH

Từ điển Đạo Uyển

S: smṛtyupasthāna-sūtra; P: satipaṭṭhāna-sutta; Hán Việt: Tứ niệm xứ kinh (四念處經);
Một bài kinh giảng rõ phép quán Bốn niệm xứ, được trình bày trong Trường bộ kinh và Trung bộ kinh, một trong những phép thiền quán quan trọng của Tiểu thừa.

BỐN NIỆM XỨ

Từ điển Đạo Uyển

S: smṛtyupasthāna; P: satipaṭṭhāna; Hán Việt: Tứ niệm xứ (四念處);
Bốn phép Quán cơ bản về sự tỉnh giác. Phương pháp thiền quán của Phật giáo nguyên thuỷ gồm quán thân, Thụ (s, p: veda-nā), Tâm (s: citta) và các Pháp (tức là những ý nghĩ, khái niệm). Phương pháp quán này được nói rõ trong kinh Bốn niệm xứ (p: satipaṭṭhāna-sutta) và đức Phật từng nói rằng, pháp này có thể đưa đến Niết-bàn. Ngày nay tại phương Tây, phép quán bốn niệm xứ được phổ biến rộng, trong đó hành giả ngồi (Toạ thiền) hay áp dụng phép quán này trong các hoạt động hàng ngày.

Quán Thân bao gồm sự tỉnh giác trong hơi thở, thở ra, thở vào (p: ānāpānasati), cũng như tỉnh giác trong bốn dạng cơ bản của thân (đi, đứng, nằm, ngồi). Tỉnh giác trong mọi hoạt động của thân thể, quán sát 32 phần thân thể, quán sát yếu tố tạo thành thân cũng như quán tử thi.

Quán Thụ là nhận biết rõ những cảm giác, cảm xúc dấy lên trong tâm, biết chúng là dễ chịu, khó chịu hay trung tính, nhận biết chúng là thế gian hay xuất thế, biết tính vô thường của chúng.
Quán Tâm là chú ý đến các tâm pháp (ý nghĩ) đang hiện hành, biết nó là tham hay vô tham, sân hay vô sân, si hay vô si (Tâm sở).

Quán Pháp là biết rõ mọi pháp đều phụ thuộc lẫn nhau, đều Vô ngã; biết rõ Năm chướng ngại có hiện hành hay không, biết rõ con người chỉ là Ngũ uẩn đang hoạt động, biết rõ gốc hiện hành của các pháp và hiểu rõ Tứ diệu đế.
Trong Ðại thừa, các phép niệm xứ được hiểu là quán thân, thụ, tâm, pháp; bốn thứ đều là dạng của tính Không.

BÔN GIÁO

Từ điển Đạo Uyển

T: bon; nguyên nghĩa của chữ Bôn là “thỉnh cầu”, “tụng niệm”;

Danh từ dùng chỉ các trường phái tôn giáo khác nhau trước khi đạo Phật được Liên Hoa Sinh (s: padmasambhava) đưa vào Tây Tạng. Danh từ Bôn-pô (t: bonpo) ban đầu được dùng để chỉ các Ðạo sư với những chức năng khác nhau như gọi thần phù hộ, thực hành nghi lễ mai táng… Dần dần về sau, một hệ thống lí thuyết được thành lập với sự ảnh hưởng lớn của các người du nhập từ phương Tây. Shang-Shung – được xem là một miền đất phía Tây của Tây Tạng – đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành Bôn giáo. Bắt đầu từ thế kỉ 11, Bôn giáo chính thức xuất hiện như một tông phái tự lập. Sự khác biệt chính của giáo phái này với các tông phái Phật giáo tại đây chính là sự gìn giữ, tiếp nối truyền thống của Bôn giáo thời xưa của phái này. Ngày nay, Bôn giáo vẫn còn lưu hành và có nhiều điểm tương đồng với giáo lí của phái Ninh-mã (t: nyingmapa).

Truyền thống Tây Tạng quan niệm rằng, dân Tây Tạng – đặc biệt là nhà vua – được ba nhóm sau đây hộ trì trước khi Phật pháp được truyền sang:

  1. Những người theo đạo Bôn, được gọi là Bôn-pô (bonpo);
  2. Những thi hào với những bài thơ, bài hát của họ và
  3. Những trò chơi, những câu đố đặc biệt. Dần dần, bản phận của các vị Bôn-pô thay đổi, được mở rộng và trong thời gian sau, người ta phân biệt ba thời kì.

“Bôn giáo sơ khởi” là giai đoạn đầu, chưa lập văn tự. Trong thời gian này, các vị Bôn-pô sử dụng những phương tiện khác nhau để “dưới chinh phục ma quỷ, trên cầu chư thiên, ở giữa làm sạch bếp lửa.” Các phương pháp tiên tri như sử dụng dây cầu xin, vấn linh được áp dụng thường xuyên và các lời giải đáp được xem như là quyết định của “Bề trên.”

Với sự giết hại của Tri-gum – một vị vua được nhắc đến trong truyền thuyết – thời “Bôn giáo đổi hướng” bắt đầu. Bản phận của các vị Bôn-pô trong thời này là việc mai táng nhà vua theo đúng nghi lễ. Cũng trong thời gian này, các vị Bôn-pô ở đây bắt mối liên hệ với những Bôn-pô nằm ngoài Tây Tạng, phần lớn xuất xứ từ phía Tây. Giáo lí của họ được mở rộng và hệ thống hoá.

Trong thời “Bôn giáo chuyển biến” hệ thống triết lí của đạo Bôn thâu nhập rất nhiều thành phần của Phật pháp nhưng vẫn giữ những yếu tố truyền thống. Thời gian này trùng hợp với giai đoạn hoằng hoá Phật pháp của hai vị Ðại sư Ấn Ðộ là Tịch Hộ (s: śāntarakṣita) và Liên Hoa Sinh, bắt đầu từ thế kỉ thứ 8 và kéo dài đến thế kỉ thứ 10. Một nhân vật quan trọng của Bôn giáo xuất hiện trong thời gian này, đó là Shen-rab, được nhiều người xem là người chính thống sáng lập Bôn giáo.

Trong thời gian sau, giáo lí căn bản của Bôn giáo được hệ thống hoá và kết tập trong một Ðại tạng vối cấu trúc tương tự như Ðại tạng của Phật giáo Tây Tạng (Cam-châu-nhĩ/Ðan-châu-nhĩ). Shen-rab chia giáo lí của đạo Bôn thành chín thừa. Bốn thừa đầu được gọi là “Nhân thừa” (因乘), bốn thừa kế tiếp được gọi là “Quả thừa” (果乘) và song song với dòng Ninh-mã, họ cũng có một hệ thống Ðại cứu kính (t: rdzogchen) riêng biệt.

BỐN CÁCH SINH

Từ điển Đạo Uyển

S, P: caturyoni; Hán Việt: Tứ sinh (四生);

Bốn cách sinh của sáu loài Hữu tình (Lục đạo; s: gati):

  1. Sinh con (胎生; thai sinh; s: jarāyuja): loài người, loài có vú;
  2. Sinh trứng (卵生; noãn sinh; s: aṇḍaja): chim, bò sát;
  3. Sinh nơi ẩm ướt (濕生; thấp sinh; s: saṃsvedaja): côn trùng;
  4. Hoá sinh (化生; s: aupapāduka), không do mẹ sinh, do Nghiệp lực (s: karma) sinh (thiên giới, địa ngục, loài sinh trong một thế giới vừa hình thành).

BỘI LI DỤC

Từ điển Đạo Uyển

倍離欲; C: bèilíyù; J: bairiyoku;
(Tâm) rời khỏi tham dục mạnh gấp đôi. Tình thế khi hành giả phải chế ngự »gấp đôi« căn bản phiền não của mình, mà nơi đó vẫn còn nhiều việc phải làm. Một trong Tam li dục (三離欲) đề cập trong Du-già sư địa luận; đến đây tương đương với hành giả chứng được quả vị Nhất lai (一來果, theo Du-già luận 瑜伽論).

BỐ-TÁT

Từ điển Đạo Uyển

布薩; S: upavasatha; P: uposatha; J: fusatsu;

Là ngày thanh tịnh, trai giới, lễ sám hối; một trong những ngày lễ quan trọng nhất tại các nước theo Phật giáo Nam truyền, Thượng toạ bộ. Ðó là những ngày 1, 8, 15, 23 âm lịch trong tháng, trong đó các Phật tử tại gia tưởng niệm đến Phật pháp, giữ nhiều giới luật hơn những ngày khác như đi thăm viếng chùa chiền, học tập giáo pháp. Trong ngày này nhiều người giữ tám giới (tám giới đầu của mười giới, xem dưới Giới) hoặc thực hành thiền định. Ðặc biệt trong hai ngày rằm và ba mươi thì các Thượng toạ lại thuyết giảng giới luật của Tăng-già trước đại chúng (Ba-la-đề mộc-xoa).

Các tỉ-khâu bắt buộc phải tham dự các buổi lễ Bố-tát và những buổi lễ này được tổ chức trong một phòng đặc biệt của một Tinh xá (p: vihāra). Phòng này phải đủ lớn để chứa được tất cả tăng chúng. Nếu một tỉ-khâu nào đó mắc bận thì phải tự nói lí do cho một tỉ-khâu khác và bảo đảm rằng, ông ta không tự biết mình vi phạm cấm giới (Ba-la-đề mộc-xoa). Lễ này không thể được tổ chức nếu một tỉ-khâu nào đó không tham dự được vì một lí do khác ngoài bệnh. Các tỉ-khâu nào phạm giới đều phải tự thú với một tỉ-khâu khác trước buổi lễ. Trong buổi lễ chính, vị trụ trì thuyết Ba-la-đề mộc-xoa và yêu cầu ba lần các vị phạm giới tự kiểm điểm. Cư sĩ, Tỉ-khâu-ni, Sa-di và các tỉ-khâu bị trục xuất ra khỏi tăng-già không được tham dự buổi lễ này.

Trong một Thiền viện tại Nhật thì lễ Bố-tát được thực hành hai lần trong tháng và trong hai lần này, thiền sinh phải tự phát lộ những hành vi phạm giới, sám hối và lặp lại Tứ hoằng thệ nguyện.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!

Kính thưa quý Phật tử,

Chúng tôi xin thông báo là chúng tôi không còn nhận yêu cầu thỉnh Kinh Địa Tạng nữa, vì bộ Kinh này đã hết. Thành thật xin lỗi quý Phật tử nào đã yêu cầu thỉnh trễ.

Kinh Địa Tạng đã được gởi đến người nhận, rất mong quý Phật tử hoan hỷ dành chút thời gian thông báo cho trang nhà biết khi đã nhận được Kinh, Vì chúng tôi chưa nhận đủ thông báo từ người nhận, thành thật tri ân.

Nam mô A Di Đà Phật.

Trân trọng,

Tạng Thư Phật Học

 

* Quý Phật tử có thể thông báo cho chúng tôi biết ở địa chỉ: https://tangthuphathoc.net/gui-xac-nhan/

Thanks for signing up. You must confirm your email address before we can send you. Please check your email and follow the instructions.
Chúng tôi tôn trọng sự riêng tư của bạn. Thông tin của bạn được an toàn và sẽ không bao giờ được chia sẻ.
Nam mô A Di Đà Phật!
×
×