Bài Viết Lưu Trữ

Bộ Cổ Dật

Đại Thừa Khai Tâm Hiển Tánh Đốn Ngộ Chân Tông Luận

Thích Thanh Từ dịch

 

Cư sĩ hỏi: Phật pháp u huyền kẻ phàm chẳng lường được, văn tự bao la ý nghĩa khó biết. Xin hỏi thiền sư về pháp yếu, tạm bày phương tiện, nói thẳng chỉ thẳng, chẳng bỏ thói tục, mong không có điều bí mật.

Thiền sư Đại Chiếu đáp: Lành thay! Khi nghe lời hỏi của ông, giống như căn cơ Bồ tát gần thuần thục. Ta nay đã bốn mươi lăm tuổi đời, vào đọa đã hơn hai mươi năm, mà chưa từng nghe có người hỏi y như nghĩa nầy. Ông có việc gì mà lại muốn giải nghi? Nên hỏi thẳng, nói thẳng, chớ chẳng cần nói quanh.

HỎI: Người muốn vào đạo nêntu pháp gì, xem pháp gì, chứng pháp gì, cầu pháp gì, ngộ pháp gì, được pháp gì mà đến Bồ đề?

ĐÁP: Chẳng một pháp có thể xem, cũng không có cầu. Chẳng một pháp để chứng, cũng không có sau. Chẳng một pháp để ngộ cũng không có đạo đáng tu. Đấy tức là bồ đề.

HỎI: Đệ tử từ đời vô thỉ đến nay trôi nổi trong sanh tử, cùng với lý trái nhau, chợt nghe lời đốn mờ mịt chẳng rõ, thần thức lờ mờ chẳng biết nơi nào. Giống như kẻ say chưa tỉnh. Cúi mong tiếp độ kẻ mê, dủ lòng ban cho ít lơi thưa hỏi, để làm phương tiện khể hội lẽ chơn. Xin hỏi: Thế nào là chơn tánh?

ĐÁP: Không khởi vọng tâm, thường không tướng thanh tịnh.

HỎI: Thế nào là tự tánh?

ĐÁP: Thấy nghe hiểu biết, tứ đại và tất cả pháp đều có tự tánh.

HỎI: Tự tánh từ đâu sanh?

ĐÁP: Từ vọng tâm sanh.

HỎI: Thế nào là lìa tự tánh?

ĐÁP: Vọng tâm chẳng khởi tức lìa tự tánh.

HỎI: Thế nào là đạo, thế nào là lý, thế nào là tâm?

ĐÁP: Tâm là đạo, tâm là lý, tức là tâm, ngoài tâm không lý, ngoài lý không tâm. Tâm bình đẳng gọi là lý. Lý hay soi sáng gọi là tâm. Tâm và lý bình đẳng gọi là tâm Phật. Đạt được lý nầy chẳng thấy có sanh tử, phàm thánh không khác, cảnh và trí không hai, lý sự đều chan hòa nhau, nhiễm tịnh nhứt như. Lý như chơn thật chiếu soi, tất cả đều là Đạo, tự tha đều lìa. Hành một lúc hay hành tất cả, cũng không trước sau hay khoảng giữa, mở hay cuộc đề tự tại gọi là Đạo.

HỎI: Thế nào là người thuận với chánh lý?

ĐÁP: Tâm chẳng dấy khởi, thường không tướng mạo là người thuận chánh lý.

HỎI: Thế nào là thuận với đạo?

ĐÁP: Trực tâm không dính mắc tất cả là thuận đạo.

HỎI: Thế nào là vọng?

ĐÁP: Không biế tự tâm là vọng.

HỎI: Thế nào là điên đảo?

ĐÁP: Dấy khởi muôn ngàn cảnh giới gọi là điên đảo.

HỎI: Thế nào là tự tâm, thế nào là vọng tâm?

ĐÁP: Nếu khởi phân biệt là vọng tâm, chẳng phân biệt là tự tâm.

HỎI: Tâm phân biệt và tâm chẳng phân biệt từ đâu sanh?

ĐÁP: Tâm phân biệt từ điên đảo sanh, tâm chẳng phân biệt từ chánh trí sanh.

HỎI: Tâm phân biệt và tâm chẳng phân biệt hợp lại từ đâu sanh?

ĐÁP: Từ chỗ vô ngã sanh.

HỎI: Đã có chỗ sanh thế nào lại bảo có điên đảo, có chánh trí?

ĐÁP: Nếu chẳng biết tự tâm tức hành muôn ngàn điên đảo, nếu biết tự tâm tức là chánh trí.

HỎI: Nay nói biết cùng chẳng biết từ đâu sanh?

ĐÁP: Biết từ ngộ sanh, chẳng biết từ vọng tưởng sanh.

HỎI: Tất cả chúng sanh đều ở trong vọng tưởng, sao lại cũng ở trong chánh trí?

ĐÁP: Tất cả chúng sanh không ở trong chánh trí, sự thật cũng không vọng tưởng.

HỎI: Tôi hiện giờ vọng tưởng, thế nào nói có chánh trí?

ĐÁP: Ông xưa nay thật không có vọng tưởng, nay nói vọng tưởng, giống như người uống cỏ Lan Đản tìm kim nơi hư không nhưng hư không (17) thật không có kim.

HỎI: Xưa nay vốn không vọng. Vậy tất cả người tu hành, đoạn cái gì để cầud a9ọ?

ĐÁP: Không đoạn một vật cũng không đạo để cầu

HỎI: Không đạo để tu, không vật để cầu, vậy sao trong kinh Đức Phật nói đoạn vọng tưởng?

ĐÁP: Đức Phật thực ra không có dạy người đoạn vọng tưởng. Nếu đoạn vọng tưởng tức chẳng lìa vọng tưởng. Tất cả chúng sanh do vọng nên thấy có sở đắc, do vọng nên thấy có sở đoạn, và do vọng nên thấy có pháp vọng tưởng. Đức Phật chẳng nói một chữ về pháp vọng tưởng. Ví như ông thầy thuốc đối với con bịnh mà nói thuốc, nếu không bịnh thì không nói thuốc.

HỎI: Đức Phật đã chẳng nói pháp vọng tưởng. Vậy cái vọng tưởng kia ai tạo tác?

ĐÁP: Chúng sanh tự tạo tác. Nếu được chánh trí tức là không.

HỎI: Thế nào chẳng tạo chánh trí mà nghiêng tạo vọng tưởng cùng khắp?

ĐÁP: Chẳng biết chánh trí tức có vọng tưởng, nếu biết vọng tưởng (tức có chánh trí).

HỎI: Đã có chánh trí tức gồm có vọng tưởng, thế sao nói không vọng tưởng?

ĐÁP: Chúng sanh thật ra không vọng tưởng cũng không chánh trí, cả hai đều không thế có.

HỎI: Cả hai đều không thể có tức không có phàm phu cũng không có thánh nhơn?

ĐÁP: Cũng có phàm phu, cũng có thánh nhơn. Đấy là do tự ông chẳng biết đó thôi.

HỎI: Thế nào là phàm, thế nào là thánh?

ĐÁP: Ông nếu phân biệt tức là phàm phu, nếu chẳng phân biệt tức là thánh.

HỎI: Phân biệt là phàm, chẳng phân biệt là thánh. Như đứa bé con dài ngắn chẳng phân là thánh nhơn ư?

ĐÁP: Khởi kiến giải nầy thật là kẻ quá ngu. Đứa bé con còn nhỏ chẳng biết tốt xấu, giống như người ngu không biết tôn ty. Há được chẳng phân biệt ư? Nên đối với lý chơn như thường hành phân biệt, tâm sẽ được trí vô phân biệt.

HỎI: Tạo tác mà chẳng sanh tâm (về việc tạo tác ấy) là trí chẳng phân biệt ư?

ĐÁP: Ông hãy xét chỗ tịnh tâm và chỗ khởi tâm, tức phải biết rõ tâm từ xưa nay vốn thanh tịnh, chẳng bị ngoại duyên làm ô nhiễm, đối với mọi việc phải thấy một cách rõ ràng. Nhơn duyên tánh khhông thể có, tức là biết nhơn duyên cũng không, cũng chẳng phải không, tức là tất cả sum la vạn tượng, vua tôi, cha mẹ, nhơn nghĩa lễ tín v.v. có ở thế gian. Đấy tức là chẳng hoại pháp thế gian. Cho nên trong kinh nói: “Chẳng hoại thế pháp mà vào Niết bàn”.

Nếu hoại pháp thế gian tức là phàm phu trôi nổi trong sanh tử. Pháp duyên thế gian kia, mỗi mỗi đều không chủ tể, mượn các duyên hòa hợp nhưng thể tánh nó đều không, rốt ráo không thể có. Nếu có người thấy được như thế tức gọi là kiến tánh. Tức là ở trong phân biệt được vô phân biệt trí: thường hành phân biệt mà chẳng phân biệt. Đấy là chẳng hoại pháp thế gian. Cho nên kinh nói: “Phân biệt các tướng kết hợp, vào đệ nhất nghĩa mà chẳng động”. Đó là bậc giác ngộ ngay nơi động mà khởi tịnh.

HỎI: Kinh Duy Ma nói: “Thường cầu vô niệm, trí huệ thật tướng. Nơi pháp thế gian ít muốn biết đủ, nơi pháp xuất thế mong cầu chẳng chán. Chẳng bỏ oai nghi mà thường theo thế tục khởi thần thông trí huệ dẫn đạo chúng sanh”. Nghĩa nầy thế nào?

ĐÁP: Nghĩa nầy tức là diệu dụng của chư Phật trong ba đời. Bậc chứng ngộ mới biết, tâm không thể đo lường được.

HỎI: Người thường cầu thật tướng vô niệm, duyên vào việc gì? Các kinh đã nói bố thí trì giới là phước báo cõi người, cõi trời. Há chẳng có niệm sao? Nhơn đâu có sự sai khác chẳng đồng, khiến cho tất cả người học hồ nghi chẳng tin?

ĐÁP: Ông chớ chẳng tin, ông là người chẳng hiểu việc. Phật nói bố thí trì giới là phước cõi người, cõi trời ấy là chúng sanh phần nhiều ở trong vọng tưởng. Phật có vô vàn phương tiện khéo, tùy theo ý của chúng sanh mà nói pháp vọng tưởng, để dẫn dụ họ vào cửa Đại thừa. Ông nếu chẳng tin xin dẫn kinh để chứng minh cho ông rõ:

Kinh Pháp Hoa nói: “Chín bộ giáo pháp của ta đây là tùy thuận chúng sanh nói Đại thừa làm gốc”. Lại nói “Trong cõi Phật mười phương chỉ có pháp nhất thừa, lại dùng sanh tự giả để dẫn đạo chúng sanh chớ không dùng tiểu thừa để tế độ chúng sanh”. Lại nói: “Chỉ có một sự thật nầy, có hai tức chẳng phải chơn”.

Kinh Chư Pháp Vô Hành nói: “Nếu người phân biệt giới (luật), đấy tức không có giới. Nếu người thấy có giới, ấy tức là mất giới”.

Căn cứ vào đây mà nói, biết rõ Phật nói về môn cứu cánh, chớ chẳng phải nói người không phước. Cốt dẫn chúng sanh khiến vào trí huệ Phật. Các bậc thánh hiền trong ba đời nói tâm đắc tự tại, tâm đắc giải thoát, tam đắc thánh nhơn, đấy là chiếc ấn lớn nhất của chư Phật trong ba đời phá nghi cho ông vậy.

HỎI: Chư Phật nói pháp nhất thừa là để giáo hóa chúng sanh. Như nay mọi người đều được khai ngộ. Sao lại nói rằng hoặc loạn chúng sanh? Đâu chẳng lỗi lầm ư?

ĐÁP: Ông chớ khởi ra ý nghĩ nầy. Chư Phật vì lòng đại bi, thấy chúng sanh rơi vào ba đường ác quá nhiều, nên mở phương tiện nói sáu ba la mật. Hành bố thí, trì giới, nhẫn nhục, sẽ lìa được ba đường ác, được sanh cõi trời cõi người. Hành tinh tấn, thiền định, trí huệ sẽ được lìa những khổ sở trong sanh tử, tương lai sẽ thành Phật.

HỎI: Cớ sao chư Phật quá khứ nói tam thừa, hiện tại chư Phật cũng nói tam thừa?

ĐÁP: Quá khứ, hiện tại và vị lai chu Phật đều nói tam thừa.

HỎI: Do nghĩa nào được biết như thế?

ĐÁP: Kinh Pháp Hoa nói: “Nếu lại tán thán Phật thừa, thì chúng sanh chìm trong khổ não. Nếu chẳng tin pháp nhất thừa nấy mà còn phá hoại chẳng tin, nên đọa vào ba đường ác. Ta thà chẳng nói pháp, muốn sớm vào niết bàn.Bèn nhớ lại phương tiện chư Phật quá khứ đã dùng, nên nay ta cũng đắc đạo cũng nói tam thừa , để biết rõ chư Phật quá khứ đều nói tam thừa, dẫn đường chúng sanh vào nhất thừa”.

HỎI: Thế nào là nhất thừa?

ĐÁP: Tâm là nhất thừa.

HỎI: Tâm thế nào là biết nhất thừa?

ĐÁP: Nên thấy tâm rỗng suốt không có tướng là nhất thừa .

HỎI: Thấy rõ ràng là tâm rỗng suốt không tướng mạo là nhất thừa, đấy là đắc quả thánh chăng?

ĐÁP: Đắc quả thánh.

HỎI: Có phàm chăng?

ĐÁP: Cũng có phàm.

HỎI: Phàm thánh có khác hay chẳng khác?

ĐÁP: Đều chẳng khác. Nếu một phen ngộ thì sớm phàm chiều thánh. Chẳng ngộ thì sáu đạo thọ sanh.

HỎI: Nay nói ngộ là ngộ cái gì?

ĐÁP: Ngộ tâm.

HỎI: Tâm phàm tâm thánh là một hay khác?

ĐÁP: Một.

HỎI: Thế nào là một?

ĐÁP: Thấy rõ tính thanh tịnh từ xưa đến nay không nhiễm không trước , tức là một.

HỎI: Ai biết không nhiễm không trước?

ĐÁP: Tâm biết không nhiễm không trước.

HỎI: Tâm thế nào biết không nhiễm?

ĐÁP: Các Đức Phật trong ba đời đều nói tâm không hình thể, rốt ráo không thể có. Cho nên được biếl là không nhiễm .

HỎI: Đã không hình thể, thế nào biết được không nhiễm?

ĐÁP: Chỉ vì không hình thể nên biết không nhiễm. Nếu có tướng mạo xứ sở là có nhiễm.

HỎI: Trước nói tâm, chưa biết tâm bao gồm bao nhiêu thứ?

ĐÁP: Ông nếu ngộ thì một tâm cũng không thể có. Nếu chẳng ngộ thì có biểt bao tâm, cũng không thể đếm hết được.

HỎI: Đấy là tâm phàm, thế nào là tâm thánh ?

ĐÁP: Ông nếu giữ tướng tức tâm phàm, lìa tướng tức tâm thánh.

HỎI: Tâm giữ tướng và tâm không giữ tướng thế nào, xin chỉ bày yếu nghĩa của nó?

ĐÁP: Tất cả người tu nếu thấy tâm qua lại tức là tâm dài ngắn. Thấy tốt xấu, thương ghét, vui giận, tà chánh, phàm thánh, tự tại hay chẳng tự tại. Thấy niết bàn, giải thoát, thấy Phật bồ tát, thấy cứu cánh không cứu cánh, thấy có hiểu biết không hiểu biết, thấy tinh tấn thiền định, trí tuệ v.v . Đấy là tâm vọng tưởng của phàm phu.

HỎI: Thế nào là tâm thánh chơn?

ĐÁP: Chẳng khởi một niệm, cũng chẳng thấy một vật, tức là tâm thánh nhơn.

HỎI: Thiền sư được tâm thánh nhơn chăng?

ĐÁP: Ta cũng không được.

HỎI: Đã không được tại sao biết?

ĐÁP: Ta nay không được cũng không biết. Cho nên kinh nói “không trí cũng không được”. Do chỗ không được tức là bồ tát.

HỎI: Lý nầy cứu cánh thuộc gì?

ĐÁP: Một vật chẳng thuộc. Nếu có chỗ thuộc tức là sanh tử luân hồi. Nếu không chỗ thuộc rốt ráo thường trụ.

HỎI: Tất cả chúng sanh đều do tám thức chuyển nên không được tự tại. Thế nào là tám thức?

ĐÁP: Tám thức là nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, mạt na thức, a lại da thức ấy vậy. Gọi thức là do nghĩa liễu biệt, như khi mắt cùng với hình sắc khế hợp nhau, ý thức ở trong phân biệt, lúc tốt lúc xấu, tùy theo chỗ chấp của nó liền có tướng sanh, rồi huân vào mạt na thức. Nương vào sự huân tập nầy rồi lại chấp thủ, rồi trở lại huân nơi đệ bát thức a lại da. Chỗ tích tụ những chủng tử của nghiệp thức nên được tên là tàng. Những thức như thế, các thức khác cũng vậy.

Tất cả chúng sanh tạo nghiệp thọ báo ấy là trước do tạng thức lần lượt thành nhơn mà tạo nghiệp vị lai. Cho nên nhơn tưởng mà thọ qủa chẳng dừng, rốt lại thọ khổ sanh tử trong sáu đạo. Nên người chưa liễu ngộ tâm, liền bị tám thức làm hoặc loạn. Nói tám thức ấy nghĩa là lấy cái sẵn có làm nhơn, nương vào duyên hiện tại mà khởi. Tạo tác nhơn duyên hòa hợp lại sanh làm nhơn tương lai.

Nay muốn đoạn trừ chẳng cho sanh nữa, nên chơn chánh quán sát rõ nhãn thức từ đâu mà có? Từ sắc có, từ mắt có, hay từ tâm có? Nếu từ tâm có người mù có tâm sao không có nhãn thức. người chết có mắt sao chẳng hay phân biệt các sắc. Nếu từ sắc có (cũng không được) vì sắc là chất ngại vô tri. Như thế các duyên nầy không thể tách riêng để biện biệt được, chỉ khi tâm liễu ngộ mới biết mà thôi. Khi mắt thấy hình sắc, mắt cùng nhơn duyên của nó là không. Mắt cùng duyên đã không, tức là sắc cũng không. Nếu nhận rõ ba việc nầy thể nó là không, liền không phân biệt. Vì không phân biệt nên ý thức phân biệt mà không phân biệt, thức thứ bảy muốn chấp mà không thể chấp.

Trong thức thứ tám lại không có huân tập những chủng tử tạp nhiễm. Do không chủng tử, lại chẳng yêu sống chết, nên lặng yên thường trụ, chẳng bận rộn về chỗ sanh diệt.

HỎI: Phật có ba thân, từ đâu mà được?

ĐÁP: Ba thân Phật từ tám thức mà được. Do chuyển tám thức thành bốn trí, gom bố trí thành ba thân. Đấy là từ nhân đến quả mà có ba thân sai khác.

HỎI: Nghĩa là như thế nào và cớ sao được biết.

ĐÁP: Do nhãn, nhỉ, tỷ, thiệt, thân thức chuyển thành diệu quan sát trí. Đệ lục ý thức chuyển thành thành sở tác trí (18). Đệ thất mạt na chuyển thành bình đẳng tánh trí. Đệ bát a lại da chuyển thành đại viên cảnh trí.

HỎI: Bốn trí nầy nghĩa như thế nào mà nói như thế?

ĐÁP: Năm thức trước cũng gọilà năm căn. Năm căn nầy là cửa huệ riêng soi vào tiền cảnh mà không vọng nhiễm, nên đem năm thức nầy làm diệu quan sát trí. Đệ lục ý thức cũng gọi là ý căn. Đây là cửa trí phải nên cần mẫn giác ngộ. Giác rồi liền tịnh, cùng với pháp khế hợp, chơn tục đều xét thấy, thành tựu trí huệ, chuyển ý thành huệ, huệ hay chiếu sáng, thức chẳng phân biệt, chuyểnt hành trí nên gọi là thành sở tác trí.

Đệ thất mạt na thức lại không chấp thủ, tự nhiên không yêu, không ghét, nên tất cả pháp đều bình đẳng. Thế nên gọi là bình đẳng tánh trí.

Đệ bát a lại da thức bên trong tức là không, những chủng tử tạp nhiễm đều thanh tịnh, giống như gương sáng treo ở giữa hư không, tất cả muôn tượng đều hiện ở trong ấy, nhưng mà gương sáng nầy không khởi ý niệm rằng ta hay hiện hình tượng. Hình tượng cũng không nói rằng ta từ gương sanh. Không năng sở nên trí nầy gọi là Đại viên cảnh trí.

HỎI: Bốn trí đã vậy, thế nào là ba thân?

ĐÁP: Đại viên cảnh trí là pháp thân. Bình đẳng tánh trí là báo thân. Thành sở tác trí và diệu quan sát trí là báo thân. Thành sở tác trí và diệu quan sát trí là hóa thân.

HỎI: Do đâu mà nói như thế?

ĐÁP: Căn cứ hiện tại mà nói. Khi định lực đầy đủ, tất cả công đức vô lậu đều tròn đầy và đủ ý nghĩa. Giống như gương sáng hiện các hình tượng mà không phân biệt, nên nói trí nầy là pháp thân. Vọng tâm đã hết, tánh bình đẳng thành tựu được muôn hạnh là do báo thân. Sáu căn không nhiễm độ chúng sanh rộng rãi, tự mình xa lìa và làm cho người xa lìa, khiến người hiểu biết mà tu nhơn là do hóa thân.

HỎI: Chúng sanh muốn cầu Phật quả. Trong ba thân trước tu thân nào?

ĐÁP: Kinh nói: “Từ bình đẳng nhập pháp thân lưu xuất báo thân, từ báo thân nầy lưu xuất hóa thân, từ hóa thân lưu xuất ba tạng giáo điển, mười hai bộ kinh”. Do lẽ đó nên trước phải tu pháp thân. Nói pháp thân ấy là nói diệu hữu diệu vô trung đạo chánh quán, nếu ngộ lý nầy tức là pháp thân. Do thấy được pháp thân nên biết thân tâm mình từ đời vô thỉ đến nay thường trái lại với pháp. Khi đã thấy được pháp liền phải chuyên cần, cần mẫn dụng ý không cho gián đoạn thì tự nhiên được thanh tịnh, thuận hợp với NHƯ. Thường Như chẳng dừng thì tâm như đã thành tựu, đấy là báo thân. Cho nên pháp thân thì sẵn có, báo thân là do tu hành. Còn hóa thân, kinh nói “hiện muôn ngàn thân gọi là hóa thân”.

HỎI: Ba thân đã như vậy. Thế nào là Tam bảo?

ĐÁP: Ba thân Phật cũng gọi là tam bảo: Phật bảo, Pháp bảo và Tăng bảo.

HỎI: Tam bảo có mấy loại?

ĐÁP: Nếu nói đầy đủ thì tam bảo có ba loại.

HỎI: Thế nào là ba?

ĐÁP: Một là nhất thể tam bảo, hai là biệt tướng tam bảo, ba là trụ trì tam bảo.

HỎI: Thế nào là nhất thể tam bảo ?

ĐÁP: Thể chơn tâm giác tánh thanh tịnh gọi là Phật bảo. Đầy đủ ý nghĩa và có hằng sa công dung gọi là Pháp bảo. Nghĩa của công dụng là nhứt vị gọi là Tăng bảo.

HỎI: Thế nào là biệt tướng tam bảo?

ĐÁP: Biệt tướng ấy tức là tự thân nầy gọi là Phật bảo. Hay tùy bịnh cho thuốc tự muốn tu hành gọi là Pháp bảo. Bốn đại năm ấm hòa hợp chẳng chống trái nhau gọi là Tăng bảo.

HỎI: Thế nào là trụ trì tam bảo?

ĐÁP: Trụ trì ấy là khéo hay dở trên tiếp dưới, mọi việc đều thanh tịnh bình đẳng, gọi là Phật bảo. tùy ý phát ngôn người nghe sanh hoan hỷ, gọi là Pháp bảo. Ở trong chúng môn kinh chẳng trái khéo phương tiện, hay hòa hợp với tất cả, chẳng tranh luận với nhau, gọi là Tăng bảo.

HỎI: Tại sao cho đó là BẢO?

ĐÁP: Bổn tánh nầy (đệ nhất nghĩa) chẳng ở trong ngoài cùng khoảng giữa, không thể cân lường, không thể đo được giá trị nên gọi là tam bảo. Đấy là thí dụ mà nói. Nếu cũng có giá cả thì chẳng gọi là bảo, cho nên nói hạt như ý bảo châu vô giá ấy vậy.

HỎI: Lão Kinh nói: “Đạo Phật không làm mà không gì chẳng làm”. Nghĩa nầy như thế nào?

ĐÁP: Đạo Phật vốn tự vô vi (không làm), chúng sanh khởi chấp ngã như núi tu di mà thành ra hữu vi (có làm). Nghĩa nầy ý không thể biết, tâm không thể lường, bậc chứng ngộ mới biết rõ. Chỉ thường công phu, một phen đại ngộ.

HỎI: Kinh nói: “Tất cả pháp đều từ kinh nầy sanh ra”, là thế nào?
ĐÁP: Kinh là tâm vậy. Tâm hay biểu hiện tất cả. Hành giả tu tập được viên chiếu vô ngại, chánh đạo cao tột nhơn đây mà phát sáng. Chư Phật ban đầu tự tu, sau giáo hóa chúng sanh, không pháp nào chẳng làm. Nên nói “từ kinh nầy sanh ra”.

HỎI: Kinh nói: “Gánh vác việc của Như lai”. Nghĩa nầy như thế nào?

ĐÁP: Ông chỉ nên phản chiếu lại tự tánh, chẳng trụ vào Thường, ngộ lẽ không thân (vô thân), ai chịu gánh vác? Liễu đạt sâu xa lý Bát nhã, và vì người rộng nói. Đấy tức là gánh vác chánh pháp, đảm đương thắng nghĩa, khiến cho chúng sanh thành tựu công đức, nên gọi “gánh vác việc Như Lai”.

HỎI: Kinh nói “Như lai độ chúng sanh”. Nghĩa nầy thế nào?

ĐÁP: Ông tự rõ chánh tánh của chúng sanh xưa nay vốn thanh tịnh, do sáu căn khởi tưởng nên bịnh phiền não sanh. Nếu quán phiền não sanh vốn không thì có gì nên độ? Cho nên, nếu nói Như lai độ tức là chấp ngã, nhơn, chúng sanh, họ giả.

HỎI: “Kim cang bát nhã ba la mật đa Kinh”. Nghĩa nầy thế nào?

ĐÁP: Kim cang là sắc tâm, bát nhã là thanh tịnh, ba la là bờ bên kia, mật là đến.

HỎI: “Chẳng chấp tướng, như như bất động” nghĩa như thế nào?

ĐÁP: Tâm ông nếy khởi có khứ lai tức là pháp hữu vi, đều là tướng chẳng an. Tâm ông nếu chẳng khởi, tức là không khứ không lai, ấy là pháp vô vi. Trong pháp vô vi cái động hay chẳng động đều lìa. Đấy tức là thường trụ. Nên gọi (như như bất động).

HỎI: Kinh Ôn Thất nói: “Cúng đủ bảy vật cho chúng sanh tắm rửa sạch sẽ được phước không lường”. Ý nghĩa của cái phước kia thế nào? Xin biểu thị.

ĐÁP: Kinh đã nói sự thật không dối. Ông nếu đủ bảy vật tắm rửa tức là phải trong ngoài khế hợp (tương ưng) thì phước đức không lường. Ông nếu lìa bảy vật tắm rửa (19), hoặc buông tâm tánh, thả tham sân, xen vào chuyện thị phi, khiến người khổ sở, tức là thân Phật ra máu. Thường chùi lau ba nghiệp tắm rửa như thế. Giống như rửa đồ, bùn nhơ hết thì nghỉ. Chỉ tâm thanh tịnh chẳng khởi tham sân, tự nhiên bình đẳng, tức là lìa phân biệt. Dùng nước phân biệt rửa sạch tất cả những bụi nhơ hoặc làm loạn cho được trong sạch.

HỎI: Tâm ba độc nầy nếu đối trị thành sáu ba la mật chăng?

ĐÁP: Ông chẳng có tâm dũng mãnh, siêng năng đối với ba độc, phát ba thệ nguyện. Một, thệ nguyện đoạn tất cả điều ác, để trừ chất độc của Sân. Hai, thệ làm tất cả việc lành, để trừ chất độc của Si. Ba, thệ độ tất cả chúng sanh, để trị chất độc của Tham. Do hay đoạn hay tu đối với ba độc biến thành ba nhóm tịnh giới.

Kế là phải rõ về tâm nhún nhường, tức là đối với năm ấm mà khởi ra năm loại tâm nhún nhường. một, thệ thấy tất cả chúng sanh, khởi ý tưởng là hiền thánh, tự thân mình khởi ý tưởng là phàm phu. Hai, thệ thấy tất cả chúng sanh khởi ý tưởng là quốc vương, tự thân mình khởi tưởng là dân dã. Ba, thệ thấy tất cả chúng sanh khởi tưởng là sư tăng, tự thân mình khởi tưởng là đệ tử. Bốn, thệ thấy tất cả chúng sanh khởi tưởng là cha mẹ, tự thân mình khởi tưởng là con cái. Năm, thệ thấy tất cả chúng sanh khởi tưởng là chủ nhơn, tự thân mình khởi tưởng là tôi tớ.

Sáu ba la mật cũng gọi là sáu độ: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ. Đối với sáu trần sáu căn thanh tịnh, lục đạo không sanh, trong ngoài chẳng đắm trước, tự nhiên là hạnh bố thí. Tức nhiếp về đàn ba la mật. Thiện ác bình đẳng đều không thể có được, tức nhiếp về thí ba la mật (giới). Cảnh và trí hòa hợp, sự chống trái hằng tiêu, tức nhiếp về nhẫn nhục ba là mật. Lặng lẽ chẳng động, muôn hạnh tự nhiên, nhiếp về tinh tấn ba la mật. Phồn hưng diệu tịch, pháp thân tự hiện, nhiếp về thiền ba la mật. Diệu tịch mở sáng không có sự biến đổi, cứu cánh thường trụ, tất cả không dính mắc, nhiếp về bát nhã ba la mật. Đấy gọi là sáu ba la mật. Chữ Phạn gọi ba la mật, chữ Hán gọi “đến bờ bên kia”.

HỎI: Kẻ thế tục nầy đến đây thưa hỏi đều là khởi tâm suy lường, sanh mê loạn. Thiền sư vui vẻ bố thí cho (lời vàng), không còn nghi ngờ nữa. Nhưng con chưa dám hỏi hết ý, sợ nhọc phiền ngài.

ĐÁP: Ông nếu không nghi chẳng nên hỏi lại. Pháp không được hỏi đáp, hỏi đáp tức có cao thấp. Không hỏi không đáp là pháp bình đẳng, nếu cầu kiến giải rộng tức là mất đạo gốc, ông cũng lại bị cái sở tri chướng, và khiến ông sanh tâm nghi ngờ. Nếu tâm thật bị ngưng trệ nên ân cần thưa hỏi, để chứng lẽ chơn.

HỎI: Kinh Lăng Già nói: “Xa lìa năng giác và sở giác”. Nghĩa nầy thế nào?

ĐÁP: Giác niệm chẳng sanh khởi, tâm kia an ổn thái bình.

HỎI: Đệ tử tuy người thế tục, tâm thức sớm đã vào đạo. nay nghe thầy nói đều là đạo chánh chơn, giác ngộ cao tột. Thệ một dạ chí thành, tâm không lui sụt, chóng chứng duyên đời, sáu thức tâm thân đều ở chỗ không, một lòng khao khát nhớ nghĩ, sụt sùi rơi lệ khôn nguôi, hiểu rõ được lòng rất hổ thẹn, đâu bằng than khóc! Lòng nầy xót đau, tự hận đã nhiều kiếp mê mờ chơn lý. Nếu chẳng nhờ thiền sư thương xót, bao giờ được ngộ? Cho nên có thể nói đây là luận đại giải thoát.

Làm luận nầy nếu hợp thánh ý, xin hồi hướng cho tất cả chúng sanh. Nếu chẳng hợp thánh ý, xin tội tiêu diệt. Như có người chẳng phải (đồng kiến đồng hành) chẳng nên truyền, sợ họ đem hủy báng phá hoại huệ pháp. Nếu có người phước trọng, thật sự giác ngộ, truyền cho pháp lớn không tiếc. pháp nầy không thể xem thường cũng không thể tranh luận, chỉ nên thầm biết trong lòng: vọng niệm chẳng sanh, tâm ngã sở diệt.

 

Luận Vô Tâm

This is custom heading element

 

Xét về lý thì không lời, cốt nhờ lời mà hiển bày lý. Đạo lớn thì không tướng, vì tiếp vật thô mà có hiện hình. Nay hãy tạm lập ra hai người để cùng bàn luận về vô tâm:

Đệ tử hỏi Hòa thượng: Có tâm hay không có tâm?

Đáp: Không tâm.

Hỏi: Đã không tâm, vậy cái gì thấy nghe giác biết? Caí gì biết là không tâm?

Đáp: Lại là không tâm thấy nghe giác biết, và không tâm hay biết không tâm.

Hỏi: Nếu đã không tâm lẽ ra không có thấy nghe giác biết, làm sao thấy nghe giác biết được?

Đáp: Dù ta không tâm mà hay thấy, hay nghe, hay giác, hay biết.

Hỏi: Đã hay thấy nghe giác biết, tức là có tâm, đâu nói được không tâm?

Đáp: Chỉ là thấy nghe giác biết đó là không tâm, chỗ nào lại lìa thấy nghe giác biết riêng có không tâm! Nay ta sợ ông còn chưa hiểu, sẽ tuần tự vì giải rõ khiến ông tỏ ngộ chân lý. Giả như thấy, trọn ngày thấy mà do vì không có thấy, nên thấy cũng không tâm. Nghe, trọn ngày nghe mà do vì không có nghe, nên nghe cũng không tâm. Giác, trọn ngày giác mà do vì không có giác, nên giác cũng không tâm. Biết, trọn ngày biết mà do vì không có biết, nên biết cũng không tâm. Trọn ngày tạo tác, làm mà không có làm nên làm không tâm. Vì vậy nói: Thấy nghe giác biết thảy điều không tâm.

Hỏi: Làm thế nào hay biết được là không tâm?

Đáp: Ông hãy chính chắn suy tìm xem, tâm có tướng mạo gì? Tâm đó có thể là tâm? Là chẳng phải tâm? Là ở trong? Là ở ngoài? Là ở khoảng giữa? Như thế, cả ba chỗ tìm tâm trọn chẳng thể được, cho đến đối với tất cả chỗ tìm cầu cũng chẳng thể được. Phải biết chính đó là không tâm.

Hỏi: Hoà thượng đã nói rằng, tất cả chỗ thảy là không tâm, lẽ ra không có tội phước, cớ sao chúng sanh luân hồi trong sáu thú, sanh tử chẳng dứt?

Đáp: Chúng sanh mê vọng, ở trong Không Tâm mà vọng sanh tâm, rồi tạo bao nhiêu thứ nghiệp, vọng chấp hữu vi, đủ để khiến cho luân hồi trong sáu thú, sanh tử chẳng dứt. Ví như có người ở trong tối thấy gốc cây trơ trụi cho là quỷ, thấy sợi dây cho là rắn, liền sanh sợ hãi. Chúng sanh vọng chấp cũng lại như vậy, ở trong Không Tâm vọng chấp Có Tâm, rồi tạo bao nhiêu thứ nghiệp (tuy vọng) mà thật không ai là chẳng luân hồi nơi sáu thú. Chúng sanh như thế, nếu gặp bậc Đại thiện tri thức dạy cho tọa thiền giác ngộ Không Tâm, thì tất cả nghiệp chướng thảy đều tiêu diệt hết, sanh tử liền dứt. Ví như trong tối, ánh sáng mặt trời một phen chiếu lên thì bóng tối đều mất. Nếu ngộ Không Tâm thì tất cả tội nghiệp cũng lại như thế.

Hỏi: Đệ tử ngu muội, tâm vẫn chưa thấu rõ, tất cả chỗ dụng từ sáu căn ứng ra? Nói năng, mọi thứ hành động, phiền não, bồ đề, sanh tử, niết bàn nhất định là Không Tâm chăng?

Đáp: Nhất định là không tâm. chỉ vì chúng sanh vọng chấp có tâm liền có tất cả phiền não, sanh tử, niết bàn. Thế nên Như Lai vì người có tâm nói có sanh tử; bồ đề thì đối với phiền não mà được tên; niết bàn đối với sanh tử mà được tên, những thứ này đều là pháp đối trị. nếu không tâm có thể được, tức phiền não, bồ đề cũng chẳng thể được, cho đến sanh tử, niết bàn cũng chẳng được.

Hỏi: Bồ đề, niết bàn đã chẳng thể được, vậy chư Phật ở quá khứ đều được bồ đề, điều này nghĩa là sao?

Đáp: Chỉ do văn tự của thế đế mà nói là được, đối với chân đế thật không thể được. Cho nên Kinh Duy Ma nói: “Bồ đề, chẳng thể do thân được, chẳng thể do tâm được.” Kinh Kim Cang lại nói: “Không có một chút pháp có thể được, chư Phật Như Lai chỉ do chẳng thể được mà được.” Phải biết, có tâm tức tất cả có, không tâm tức tất cả không.

Hỏi: Hòa thượng đã nói rằng, đối tất cả chỗ trọn đều không tâm, vậy cây đá cũng không tâm, há chẳng đồng với cây đá sao?

Đáp: Không tâm của ta và ông, tâm đó chẳng đồng với cây đá. Tại sao? Ví như trống trên cõi Trời, tuy rằng không tâm mà tự nhiên phát ra bao nhiêu thứ diệu pháp để giáo hoá chúng sanh. lại như hạt châu như ý, tuy rằng không tâm mà hay biến hiện ra nhiều thứ. Không tâm của ta và ông cũng lại như thế, tuy rằng không tâm mà khéo hay giác rõ thật tướng các pháp, đầy đủ bát nhã chân thật, ba thân, tự tại ứng dụng không ngại. Cho nên kinh Bảo Tích nói: “Do không tâm ý mà hiện hành.” Đâu đồng với cây đá ư! Cái không tâm đó tức là chân tâm. Chân tâm tức là không tâm.

Hỏi: Nay đây ở trong tâm làm sao tu hành?

Đáp: Chỉ ở trên tất cả việc, giác rõ không tâm chính đó là tu hành, chẳng riêng có tu hành nào khác. Cho nên biết, không tâm tức tất cả, tịch diệt tức không tâm.

Vị đệ tử ngay đó bỗng nhiên đại ngộ, mới biết ngoài tâm không vật, ngoài vật không tâm, mọi cử chỉ hành động đều tự tại, dứt hết các lưới nghi, không còn ngăn ngại, liền đứng lên làm lễ khắc sâu Không Tâm, bèn làm bài tụng:

Tâm thần vốn lặng,
Không sắc không hình.
Nhìn nó chẳng thấy,
Lắng nghe không tiếng.
Tợ tối chẳng tối,
Dường sáng chẳng sáng.
Bỏ đi chẳng diệt,
Lấy lại không sanh.
Lớn tức rộng trùm pháp giới,
Nhỏ thì đầu lông chẳng dừng.
Phiền não lẫn vào chẳng đục,
Niết bàn lóng lặng chẳng trong.
Chân như vốn không phân biệt,
Hay biện hữu tình, vô tình.
Thu lại tất cả chẳng lập,
Tan ra khắp giáp hàm linh.
Diệu thần trí không lường biết,
Chánh giác bặt chỗ tu hành.
Diệt ắt chẳng thấy nó hoại,
Sanh ắt chẳng thấy nó thành.
Đạolớn lặng lẽ: không tướng.
Muôn tượng im bặt: không tên.
Như đây vận dụng tự tại,
Thảy là tinh yếu KHÔNG TÂM.

Hòa thượng lại bảo: Trong các Bát nhã lấy Không Tâm Bát nhã làm trên hết. Cho nên Kinh Duy Ma nói: “Do không tâm ý, không thọ hành mà xô dẹp hết thảy các ngoại đạo.” Kinh Pháp Cổ nói: “Nếu biết không tâm có thể được, pháp tức chẳng thể được, tội phước cũng chẳng thể được, sanh tử niết bàn cũng chẳng thể được, cho đến tất cả đều chẳng thể được, chẳng thể được cũng chẳng thể được. Ngài bèn nói bài tụng:

Ngày trước mê thời là có tâm,
Giờ đâu đã ngộ trọn không tâm.
Tuy rằng không tâm, hay chiếu dụng.
Không chiếu, không dụng tức vô vi.

Và tiếp:

Không tâm không chiếu cũng không dụng,
Không chiếu không dụng tức vô vi.
Chính đó Như Lai chân pháp giới,
Chẳng đồng Bồ Tát làm Bích Chi.
(Tích nhật mê thời vi hữu tâm,
Nhĩ thời ngộ bãi liễu vô tâm.
Tuy phục vô tâm năng chiếu dụng,
Vô chiếu vô dụng tứ vô vi.
Vô tâm vô chiếu diệc vô dụng,
Vô chiếu vô dụng tức vô vi.
Thử thị Như Lai chân pháp giới,
Bất đồng Bồ Tát vi Bích Chi.)
Nói không tâm đó, tức không tâm vọng tưởng.

Lại hỏi: Sao gọi là thái thượng?

Đáp: Thái là to lớn. Thượng là cao. Vì diệu lý cao tột nên nói là thái thượng.

Lại, thái là ngôi to tát thông suốt, những vị Trời trong ba cõi dù có tuổi thọ dài lâu mà phước cũng hết, thế nên cuối cùng vẫn luân hồi nơi sáu thú, chưa đủ cho là Thái. Hàng Bồ Tát Thập Trụ tuy ra khỏi sanh tử mà diệu lý chưa cùng tột, cũng chưa cho là Thái. Hàng Thập Trụ tu tâm, quên Có vào Không, lại không cả cái “Có Không” ấy, trừ hết cả hai mà chẳng quên trung đạo, cũng chưa cho là Thái. Lại quên trung đạo, ba chỗ đều dứt sạch, địa vị là Diệu Giác. Bồ Tát tuy trừ hết ba chỗ mà chẳng thể khôgn chỗ diệu kia, cũng chưa cho là Thái. Lại quên cả cái Diệu kia ắt Phật đạo rất tột, ắt không còn giữ lại điều gì, không còn giữ thì nghĩ ắt không, nghĩ lo gồm quên, tâm trí hằng dứt, giác chiếu đều sạch, lặng lẽ vô vi, đây gọi là Thái. Thái là nghĩa tột lý, thượng là nghĩa không ngang bằng, vì vậy nói là Thái Thượng, tức tên khác của Phật Như Lai.

HẾT

 

Trì Tụng Kim Cương Kinh Linh Nghiệm Công Đức Kí

Thích Chúc Hiền

 

Xưa vào thời nhà Lương có vị tăng tên là Diễm ở chùa Chiêu Đề,mới làm Sa-di, khi đó có vị thầy coi tướng nói với sư rằng:

Ngài rất thông minh trí tuệ nhưng không hiểu vì sao lại có tuổi thọ rầt ngắn. Diễm nghe vậy, liền đi đến thưa hỏi một vị đại đức để rõ về phưóc đức của mình. Ngài hỏi rằng;

Tu công đức gì để kéo dài tuổi thọ?

Đại đức bảo:

Theo lời Phật dạy nương vào pháp thọ trì Kim Cang Bát Nhã thì có công đức rất lớn,hẵn là được tuổi thọ kéo dài

Bấy giờ,vâng theo lời dạy, Diễm tức thì vào núi thọ trì kinh Bát-nhã ròng rã suốt sáu năm mới ra đoạn gặp lại thầy coi tướng hỏi rằng :

Gần đây pháp sư tu công đức gì mà chóng được tướng trưòng thọ như thế

Diễm liền nói trưóc đây bị tướng tuổi thọ ngắn bèn vào núi thọ trì kinh Kim Cang Bát Nhã nên không cò nghiệp báo nữa.

Thầy coi tưóng khen:

Thật không thể nghĩ bàn. Nhờ công đức nầy cho nên được đức lớn, tuổi thọ của pháp sư hơn trăm tuổi mới thị tịch.

 

Vào đời Lưong, ở chùa Khai Thiện,có vị tăng tên là Tạng sư vang danh giảng thuyết. Bấy giờ, có Dận sư coi tướng rất giỏi,vừa gặp Tạng sư liền nói rằng:

Thưa Tạng sư! Thầy nên dừng sự thông minh làm việc giảng thuyết lại,mà hạ bút nương vào kinh tạng soạn một quyển thì nhất định sẽ được sống lâu.

Thời gian sau, Tạng mới đưọc tìm được kinh Kim Cang Bát Nhã, nên bèn đem kinh Kim Cang Bát Nhã trì tụng suốt ba năm không ra khỏ phòng.

Sau, Dận gặp lại Tạng thì vui vẻ mà hỏi rằng:

Thầy có pháp gì mà thay đổi dung mạo như thế, điều coi tướng của đệ tử không linh nghiệm rồi

Tạng nói:

Thí chủ coi tưóng có linh nghiệm lắm.

Khi ấy bần tăng trãi qua nguy khốn nhưng nhờ vào năng lực thọ trì kinh Kim Cang Bát Nhã nên nay mới được như vầy.

Dận nói rằng:

Công đức và phưóc báo như vậy là rất lớn không thể nghĩ bàn. Nay Thầy được tướng thọ ngoài trăm tuổi.Về sau quả thật tuổi thọ cuả Tạng đúng như điều mà Dận đoán.

 

Vào đời nhà Tùy có Pháp sư Bà-la-tăng-tạng thường hay trì Kim Cang kinh cấm chú trừ nhất thiết chư ác, có tiểu tăng đến học thành tựu chú pháp trong vòng vài năm phục Ngài,rồi đến bên bờ sông,thấy có một cái miếu của thần hồ tức thì vào ngồi trong miếu,ban đêm tụng cấm chú, thần phạm đến liền chết.

Tạng nghe đệ tử chết,lòng phẫn uất tự mình đích thân đến chỗ thần,cũng ngồi ở nơi miếu tụng chú,nhân đó liền chết

Bấy giờ có vị cúng chùa hằng thọ trì kinh Kim Cang Bát Nhã nghe Tạng sư và học trò của sư đều bị thần đánh chết,bèn đến chỗ thần cũng ngồi trong miếu tụng kinh Bát Nhã, đến tối nghe có tiếng gió lưót qua rất nhanh,thoáng thấy một vật kỳ hình hoài dị tráng lệ kì đặc khả úy bội thường chủng chủng hình dung nhãn quang tự điện hình nó tráng lệ kỳ lạ đáng sợ hơn người thường gấp bội,mắt sáng tợ như điện.

Sư ngồi chánh niệm tụng kinh Kim Cang không ngớt,cũng không thấy gì sợ hãi. Thần đến phía trước gôm hết uy thế gối phải chạm đất chấp tay cung kính ,nghe tụng kinh xong, sư hỏi Thần rằng:

Đàn Việt là thần gì mà ban đầu đến thì có vẻ hung hổ nhưng sau lại lặng lẽ bất động?

Thần đáp:

Đệ tử là thần hồ ở miếu nầy,vì có tánh cứng rắn, đến thấy Sư tu tập kinh điển đại thừa không thể nghĩ bàn, do vậy lắng nghe.

Đàn Việt đã hay tin kính như thế. Trước đây có hai vị tăng tụng chú, lý do gì đánh chết?

Thần đáp:

Hai vị tăng kia không trì được kinh điển Đại Thừa. Thấy đệ tử đến thì ngảnh đầu mắn nhiếc, miệng tụng chú thuật mà lại nói lời hung ác, đệ tử không kính phục.Hai vị tăng đó thấy hình dáng của đệ tử thảy đều tự mình sợ hãi mà chết chứ cũng chẳng phải do đệ tử cố sát hại họ.

Mọi ngưòi ở xung quanh vùng biết sư vào nghỉ lại đêm ở trong miếu thần ấy,sợ sư cũng bị đánh chết như hai vị tăng trước nên đến sáng mọi người cũng nhau lũ lượt đến chỗ thần đẻ xen thì thấy sư vẫ bình an hỏi sư duyên do sự việc,sư trả lời tường tận mọi người nhân đó phát tâm thọ trì kinh Kim Cang Bát Nhã rất đông.

 

Vào năm Khai Hoàng thứ mười một Quan Thái Phủ Tự là Triệu Văn Xương qua đời, người nhà không dám tẫn liệm. Nhưng Xương bèn đến vua Diêm La.

Diem La hỏi Xương rằng:

Từ khi sanh ra đến nay ông làm phước nghiệp gì?

Xương đáp:

Không có công đức gì khác, chỉ thường trì tụng kinh Kim Cang Bát Nhã.

Vua Diêm La nghe vậy, chấp tay cung kính khen rằng:

Lành thay! Thọ trì kinh Kim Cang Bát Nhã công đức rất lớn, không thể nghĩ bàn. Liền bảo Chấp nhơn rằng:

Ngưoi tra xét lại,trong tương lai đừng để lầm lẫ nữa! Hễ còn lầm lẫn với bất kỳ người nào nữa trong tương lai thì ta không chấp nhận.

Nói xong, Vua Diêm La lien bảo với Xướng rằng:

Ngưoi có thể hướng vào trong tạng kinh lấy ra kinh Kim Cang Bát Nhã đem đến.

Rồi Diêm La sai một sai một người dẫn Xương đi xuống hưóng Tay Nam đến tạng kinh

Đến nơi,Xương thấy dãy nhà rộng lớn hơn mười gian rất tráng lệ, trong đó chứa đầy kinh đều là pho kinh gấy bằng vàng báu, và chưng bày nhiều hoa đẹp cực kỳ trang nghiêm không thể diễn tả. Xương bèn nhằm mắt nhất tâm rút ra một quyển tên là: Đại Đức Tối Vi Đệ Tử Nhất Kinh. Xương sợ hãi nói đây chẳng phải Bát Nhã cầu mong Ngài sai ngưòi xin đổi nhưng không chịu. Xương liền mở mắt xem thì đó chính là kinh Kim Cang Bát Nhã. Đem đến chỗ vua Diêm La sai chấp nhơn ở bên Tây.

Xướng đứng bên Đông tụng kinh Kim Cang Bát Nhã một biến, đều được thông lợi. Vua Diêm La tức thì thả Xướng nhưng vẫn còn điều ràng buộc là Xướng hãy thọ trì kinh nầy thật sự đừng lãng quên.Vua Diêm La bèn sai một người dẫn Xuớng tiễn ra cửa thì lại gặp Chu Vũ Đế giam cầm ở trong phòng cửa Đông gọi hỏi:

Ngươi là người nước nào? Hãy tạm đến đây cùng nói chuyện.

Xương liền đến gặp Võ Đế vái chào.

Võ Đế hỏi:

Ngươi biết ta chăng?

Xương nói:

Xưa kia,bề tôi từng đảm nhiệm Phục Sự Vệ Bệ Hạ.

Võ Đế vui vẻ nói:

Khanh chính là cựu thần của ta.Khanh có thể vì ta mà hướng trở lại nhà. Nay đế luận về các tội của ta đều xong chỉ có chuyện diệt Phật Pháp thì chưa rõ. Đưong thời, Ta bị Vệ Nguyên Tung sàm tấu nên bị giam giữ chẳng bao lâu thì điều nầy chưa rõ.

Xương nói Võ Đế:

Vệ Nguyên Tung là người ngoài ba cõi chẳng phải nằm trong sự quản nhiếp cuả Vua Diêm La. Vì thế không thể truy được, nay Đế xin ít công đức cầu cứu khổ nạn mới dám mong rõ được.

Xướng về nhà thì liền được sống lại, trãi qua năm ngày hoạn nạn từ từ giảm bớt Xướng bèn đem việc ấy tâu rõ. Văn Đế biết rõ sự việc bèn ban chiếu chỉ cho mời sư tăng ở cá chùa trong nước vì Chu Võ Đế trì trai tu đạo, tụng kinh Kim Cang Bát Nhã cũng như việc ghi chép vao sử ký trong vòng ba ngày.

 

Vào năm Trinh Quán thứ nhất, ở Toại Châu có một người chết nhưng trãi qua ba ngày thì sống lại. Khi vừa chết bị số ngưòi đồng bạn kéo đến Vua Diêm La, trong đó có một vị Tăng. Vua Diêm La thấy trưóc gọi sư đến hỏi trưóc đây đã tu công đức gì?

Sư đáp:

Chỉ tụng kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật

Vua Diêm La vừa nghe liền chấp tay khen ngợi:

Lành thay! Đã là thọ trì kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật thì đáng lẽ được lên trời,vì lỗi lầm gì mà phải đoạ vào đây. Diêm La nói chua dứt lời tức thì liền thấy y trời giáng xuống dẫn sư lên trời.

Vua Diêm La ngồi lại thừ tụ hỏi người Toại Châu các ngươi xưa kia đã làm phước báo gì?

Đáp:

Kinh điển đọc tụng một đời đến nay là ưa tập theo văn chương của Dữu Tín và các sách của chư tử. Gần đây học tụng kinh Kim Cang Bát Nhã mà vẫn chưa được.

Vua Diêm La hỏi:

Người có tội lón các ông biết không?

Đáp:

Mặc dù, đọc văn chưong của Dữu Tín nhưng thật sự không biết mặt mũi.

Vua Diêm La liền chỉ người khồ chính là con rùa lớn một mình hai đầu. Ngưòi cho đây là Dữu Tín. Rùa vừa đi khỏi Vua Diêm La nói người này học tụng kinh Kim Cang Bát Nhã lại khiến thả ra, đi đến thấy một người nói rằng:

Ta là Dữu Tín khi còn sống ở đời ưa dẫn các kinh dủng làm văn chưong hoặc sanh lòng chê bai,huỷ hoại kinh văn nay mắc phải tội báo rất lớn, trước đó thì bị đoạ làm thân rùa,do đó sống lại nói nhân duyên này.

Mọi người nghe cảm thấy bi thương, đề rõ đó là sự thực.

Đất đai của người Toại Châu phần nhiều là do người di dân sống nghề săn bắn giết hại mạng sống để làm thức ăn. Đương thời chúng tôi biết rõ sẽ bị cộng thức, để đoạn trừ nhân giết hại sinh linh,nên chúng tôi phát tâm cùng thọ trì kinh Kim Cang Bát Nhã tin nhận sự cung kính của người cúng dường.

 

Huề Ngạn Thông ở Vị Châu suốt một đời thưòng tụng kinh Kim Cang Bát Nhã. Trước kia, Lý Mật Hạ đảm nhận chức Võ Ngục Huyện, khiến bị giặc phá thành mong tìm muốn giết. Ngạn Thông sợ hãi,liền xuống phía Dông thành giêo mình xuống suối để chuốc lấy cái chết.

Dòng suối ấy nằm sâu dưới ngọn núi hơn cả trăm trượng,từ trên không mà gieo mình xuống như có người tiếp giúp thoáng chốc xuống đến đáy suối bèn ngồi an nhiên ngay ngắn trên phiến đá,hồi lâu mới đứng dậy,hoàn toàn không bị hề hấn gì.

Ngạn Thông tự lấy làm lạ vui sợ khác thường than th ở không thôi từ đó trở đi tự biết oai lực của kinh Kim Cang Bát Nhã rất lớn. Nhờ biết oai lực của kinh rất lớn, công đức không thể nghĩ bàn, càng thêm đem lòng tin kính, siêng năng thọ trì, không dám coi thường, thường được vô lượng phước báo.

 

Vị tăng Pháp Tạng ở chùa Bào Thất ở Phu Châu,giới hạnh tinh nghiêm ,tánh tình chất phát ngay thẳng. Vào năm Khai Hoàng thứ mười ba đời nhà Tùy, sư xây một nhà tăng ở thành Lâu Xuyên, Huyện Lạc Giao hơn hai mươi gian, điện Phật cổng tam quan khung sườn đều xây bằng gạch, lợp ngói màu sắc tráng lệ, nhưng trang trí bằng tranh tượng trắng cao sáu trượng, gồm có các bộ khác nhau, đều có mười một việc. Tượng Quán Thế Âm bằng đá, một tượng thân ngàn bình phong, đến năm Đại Nghiệp được nhiều chùa.

Bấy giờ, chùa tượng đều bị lịnh phải dời đến Châu Quách, già lam an trí phá hoại đều được tu bổ thành tựu, lại in chép tất cả kinh điển khoảng được hơn tám trăm quyển, tạo riêng chùa Nguyện Ái ở kinh thành, để người sao chép kinh. Tất cả đều bằng đàn hương cốt là để làm đẹp trang nghiêm.

Đến tháng tư năm Vũ Đức thứ hai,Tạng lâm bịnh suốt hai tuần mộng thấy một người áo xanh ở trên gác cao, tay cầm một quyển kinh nói rằng:

Pháp sư Tạng một đời đã tạo công đức đều rất tốt, duy chỉ có tội nhỏ là dùng đồ của Tam Bao là chưa được tiêu trừ, trong tay ta là một quyển kinh Kim Cang Bát Nhã là bộ kinh điển Đại Thừa bậc nhất do ngươi tư tạo một quyển nhờ đó mà các tội được tiêu trừ.

Tạng nghe vậy đáp rằng:

Nếu được hết bịnh thì đệ tử sẽ nhất định phát tâm tạo trăm bộ Bát Nhã. Đệ tử tự xét một đời đã qua, mặc dù tu công đức nhưng thật sự chưa chép Kim Cang Bát Nhã nay được Chư Phật, Bồ-tát khai ngộ chắc chắn không còn biến lười, đệ tử chỉ có ba y, bình bát khi bày vai bên phải đem hết phó chúc. Đại đức đệ tử đích thân biết dùng tạo Kim Cang Bát Nhã năm ba ngày có thể khỏi tâm nương vào ý nguyện liền đến nước Bà già sa Xá-vệ chép một quyển đem phân phát cho mọi người lưu truyền đọc tụng biết rõ rằng kinh Kim Cang Bát Nhã là bộ kinh điển Đại Thừa có uy lực rất lớn kỳ diệu không thể nghĩ bàn. Nếu có người nào có nhân duyên thì cùng nhau sách tấn thọ trì kinh Kim Cang Bát Nhã thì sẽ được vô lưọng công đức.

 

Vào đời Tùy có vị tăng Linh Thúc có hai người đệ tử. Một hôm Tăng chủ bỗng gọi hai vị đệ tử này đến bảo rằng Ta nghe trong núi Ngũ Đài có Bồ- tát Đại Trí Văn Thù Sư Lợi, mỗi khi có ngưòi đến lễ lạy thì Ngài hiện ra để tiếp dẫn, ba thầy trò ta hãy đến đó đảnh lễ Ngài thật là điều tốt lành cho chúng ta! Ý muốn đem hai đầu lừa một giá chở hai trăm tấm lụa sống sai hai đệ tử một đầu còn Tăng tự cỡi để đi đến Ngũ Đài. Vị tăng ấy sống ở đó một năm chỉ trì kinh Kim Cang Bát Nhã không làm gì khác.

Bấy giờ ở nơi đó trong cái tráp chỉ đem kinh Kim Cang Bát Nhã cuộc hành trình trãi qua vài tháng,nhân vì dừng lại nghỉ ngơi, thả lừa trong đầm cỏ, Tăng liền dừng chân nơi gốc cây trải dồ nằm ngủ. Hai người đệ tử bàn bạc chúng ta định giết Hòa Thượng, mỗi người lấy một trăm tấm vải và một con lừa vào kinh dạo chơi. Há chẳng phải là sung sướng một đời sao?

Tâm niệm vừa dấy khởi,một người đệ tử nắm lấy con dao,một người chận ngang hông, liền chặt xuống ba nhát đến chả máu dao thứ tư thì vừa đưa dao lên thì dao mắc trong không, lấy dao không được nhưng tay cũng không rời dao trên dao như có đôi chút thức ăn, bỗng nhiên Hòa Thượng tỉnh giấc, thấy hai người đệ tử qùy gối,hai tay cầm dao im lặng không nói.

Tăng hỏi:

Các thầy khởi ác ý gì?

Hai người đệ tử qùy song song hướng về thầy thưa hết ý nghĩ của mình, Hòa Thuợng cũng có thể bị lỗi lầm của nghiệp qủa nên liền lục trong tráp lấy ra kinh Kim Cang Bát Nhã định đọc, thì giữa hông của cái tráp có ba vết dao đều bị chặt đứt thẳng đến gấy kinh, giữa hông của vị tăng khi sai người xem thì có ba đường mảu đỏ do vì có hai ba lớp y nên nhũng nhát dao đâm không xuyên qua và không làm tổn thưong đến Ngài.

Đó há chẳng phải là nhờ thần lực của kinh Kim Cang Bát Nhã mà được như vậy sao?

 

Xưa kia, tại chùa Ôn Quốc ở Trường An có v ị tăng Linh U bỗng nhiên chết. Trãi qua bảy ngày gặp vua Bình Đẳng.

Vua hỏi:

Khi còn sanh tiền Hòa Thượng có nghiệp kinh gì?

Linh U đáp:

Trì kinh Kim Cang. Vua bằng chấp tay thỉnh niệm,thoáng chốc niệm xong.

Vua lại hỏi:

Hòa Thưọng cho biết mặc dù Hòa Thưọng tụng kinh ấy nhưng còn thiếu bài kệ nào?

Linh U tâu rằng:

Tiểu tăng chỉ nương vào bổn kinh tụng niệm,nhưng không biết bài kệ nào thiếu.

Vua nói :

Hòa Thượng thọ mạng đã hết nhưng còn sống đến mười năm nữa. Kinh ấy ở trên bia đá nằm phía Tây thành Hào Châu từ khi có chơn bản khiến thiên hạ lưu truyền.Vị tăng đó khi sống lại, kể rõ duyên do đầu đuôi sự việc.

 

Vào đời nhà Hán ở Châu Khổng có Mục Điển Trần Chiêu chết trải qua hai ngày thì sống lại kể rõ rằng vừa đến âm phủ phán quan hỏi:

Ngươi làm việc cho Lưu Thưọng Thư giết bốn mươi bảy đầu bò. Chiêu vì cớ gì lấy của ông ấy một đầu?

Chiêu tránh không nhận lấy, bỗng nhiên có một người hiện ra xưng là Giáp đưa Chiêu đầu trâu, khiến Chiêu biết là không thể nào tránh được, Chiêu bèn hỏi phán quan làm sao thoát khỏi tội này.

Phán quan hỏi:

Sanh tìền đã gieo tạo công đức gì?

Chiêu đáp:

Thường trì tụng kinh Kim Cang.

Nói chưa dứt lời thì kinh ấy từ trên không mà đến liền được thả về sống lại đến mười tám năm.

Nếu cư sĩ tích chuyên tâm trì tụng kinh Kim Cang thì hãy phát tâm.

 

Trong thôn phía Tây Bắc của huyện Tân Phồn dùng bút viết kinh Kim Cang cho chư thiên nơi ấy mỗi khi có trời mưa không ướt, ban đầu không ai biết người trong thôn thả trâu ở đó bò lại đến đó núp mưa, sau có một vị Tang người Ấn từ khi qua đó thấy vậy mới bảo với mọi người trong thôm rằng:

Đây là đàn kinh, trong không có kinh, ngày trai có hóa ra báu, mây thường xuất hiện ở đây. Đàn nầy cách thành huyện về hướng Tây Bắc khoảng ba mươi dặm, hiện nay còn thấy

Xưa kia,Vương Đà một đời giết hại vô số bèn phát tâm chuyên trì kinh Kim Cang một vạn biến nhưng tụng được năm ngàn biến bỗng một hôm vào giờ ngọ thấy mấy chục con qủy tới trưóc mặt nói rằng:

Vua có công văn truy tìm ngươi,ngưoi hãy đừng trì kinh.

Đà liền nói khiến qủy theo sau, lại có qủy khiến phi ngựa đến bảo qủy rằng:

Vua ban sắc lệnh hãy thả người trì kinh.

Vương Đà liền thoát chết. Sau đó, thọ đến chin mươi tám tuổi mới qua đời.

 

Xưa kia, Vương Xước bị Thiên Thủy Quận Ty Pháp là Tiết Cử làm loạn giết hại binh sĩ đến lượt Vương Xước thì dao liền gãy lại sai lực sĩ là Tống La cầm dao trảm Vương Xưóc nhưng dao cũng bị gãy. Tiết Cử tháy thế lấy làm lạ nói rằng:

Ngươi có pháp thuật gì?

Vương Xưóc đáp:

Thuở nhỏ tôi trì kinh Kim Cang, nên đó là thần lực của kinh.

Tiết Cử nghe vậy, liền thả Vương Xước, Vương Xước sợ hãi vào nấp trong nhà xí thầm niệm kinh Kim Cang, trong nhà xí phát sáng bị chúng giặc tìm ánh sáng đi đén nhà xí thì thấy người hỏi rằng:

Ai đó?

Người trong nhà xí đáp:

Tôi là Vương Xước bị đao hình nhưng không chết.

Giặc nói:

Ngươi không cần phải nấp, các binh sĩ đã biết hết rồi,thôi mau về nhà đi.

Từ đó, Vương Xước được thoát nạn.

 

Xưa kia có Châu Sĩ Hành do tính tình thô ác không kính tín Tam Bảo, bị Tả Bộc của nước Lưong bắn. Vợ ông thuòng ưa chuyên tâm trì kinh Kim Cang, người chồng ấy đi vắng trong lúc người vợ trì kinh Kim Cang, đến khi người chồng từ ngoài về thấy bèn đoạt cuốn kinh trong tay vợ ném vào trong lửa,cho đến khi lửa tắt nhưng kinh không bị cháy cả hai vợ chồng nhặt lấy quyển kinh, đến trước bàn Phật sám hối.

 

Xưa kia, Thôi Thiện Xung làm quan phán ở Huề Châu gặp kẻ phản bội là Thứ Thứ Sử bị giết. Thiện Xung dẫn dắt hơn hai mươi ngườitrang bị đầy đủ cung kiếm đến thành Côn Minh thì gặp lúc trời tối nên không biết đường. Thìện Xung bảo binh sĩ rằng:

Hãy hết lòng niệm Phật!

Riêng Thiện Xung thì niệm kinh Kim Cang. Tín Mã đi trước bỗng thấy một ngọn đuốc dẫn đường đì được vài dặm thì lửu tắt không còn thấy, bèn đến được thành Côn Minh đều là nhờ vào thần lực của kinh.

 

Xưa kia, Đường Yến là quan lại của huyện Tử Châu Thê, thưòng trì kinh Kim Cang do vì làm việc không cẩn thận trở về đến huyện Lộ Bổn ở Toại Châu thì bị Quan Trung sai ngưòi bắt. Yến nghe trên không có tiếng người nói rằng:

Đường Yến! ông hãy đi mau đi.

Yến bèn ngẫn đầu lên thì thấy có một vị tăng người Ấn Yến tức thì đến bên bớng cây dốc lòng niệm kinh người bắt số vài mươi người đối diên mà không thấy. Đường Yến đưọc thoát nạn.

 

Ngụy Hu là người Tần, thường trì kinh Kim Cang, thầm khiến ba lần truy tìm không được, vua mời đến báo là Trẫm tha cho ngươi.

 

Lý Diên là người quận Nam Dương làm quan úy ở huyện Đức Châu một đời trì kinh Kim Cang, mỗi khi đến giờ trì kinh thì có hào quang hiện.

 

Xưa kia, Đậu Thị ban đêm bị đau đầu bèn sai tỳ nữ vào trong bếp lấy lửa, tỳ nữ thưa không có lửa,bỗng nhiên thấy trước thềm có một ngọn đuốc sáng,bèn bước lên thềm thì sáng như ban ngày đầu phu nhân liền bớt đau, thấy thế ai nấy đều thành tâm thọ trì kinh Kim Cang.

Đó đều là thần lực nhiệm mầu của kinh Kim Cang, lại có người trì kinh Kim Cang thì đưọc linh nghiệm như thế rất nhiều vì sợ văn rườm rà nên không thể kể hết ra đây.

TRÊN ĐÂY LÀ NHỮNG ĐIỀU LINH ỨNG KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN CỦA KINH KIM CANG BÁT NHÃ BA LA MẬT.

 

Giả sử có người đem bảy báu trong ba ngàn đại thiên thế giới ra dùng làm bố thí thì không bằng lưu truyền công đức thù thắng của kinh nầy.

Nếu có người biên chép,thọ trì đọc tụng kinh Kim Cang cũng khiến cho người khác biên chép, lưu bố kinh nầy thì cũng ví như từ một ngọn đèn đem mồi ra hang trăm ngàn vạn đèn thì mọi nơi tối tăm đều được chiếu sáng không cùng.

Nếu có người sao chép kinh văn nầy trên vách chùa thì được vô lượng vô biên công đức không thể nghĩ bàn.

Khai Nguyên Hoàng Đế khen ngợi công đức kinh Kim Cang rằng:

Kim Cang một quyển nặng Tu Di
Vì thế Trẫm đây chuyên thọ trì
Tám vạn pháp môn đều thấu đạt
Mắt tuệ rạng soi chẳng ngại gì

Ví ngày vịnh hát ca khúc cũ
Lắng nghe trì niệm Kim Cang kinh
Khai Nguyên Hoàng Đế đích thân chú
Chí thành đảnh lễ chớ sanh nghi

Kinh đây trừ sạch bao đau khổ
Phát tâm thiên nhãn dự quán tri
Không bị vô minh sáu giặc dắt
Thoát ngày tăm tối lẫn chấp si

Thế Tôn Niết-bàn vô lượng kiếp
Tăng kỳ trăm ức quá khứ xưa
Quốc vương đại thần truyền thánh giáo
Trẫm nay tín kinh thế gian hi

Mỗi tháng mười trai gìn không giết
Rộng tu nghiệp thiện giúp Tăng ni
Thai sanh noãn sanh siêng niệm Phật
Tinh cần dũng mãnh lớn từ bi

Nhàm thấy ngũ dục ở trong cung
Rõ biết tướng thân là hư ảo
Ở ngôi vương vị còn giác ngộ
Huống gì phàm tục chẳng nghĩ suy

Xưa kia Đề-bà vua nước nọ
Vì cầu diệu pháp bỏ cung phi
Khổ hạnh tinh cần cầu Phật Pháp
Thân làm nô bộc sá quan gì

Nay Đế rõ xa ngàn muôn nước
Cử tâm động niệm quán không ngừng
Uy danh văn võ trùm thiên hạ
Bốn bề yên ấm muôn dân an

Ngự chú Kim Cang nghĩa diệu kỳ
Xuẩn đông hàm linh cùng thọ trì
Hộ pháp thiện thần đều khen ngợi
Chư thiên tán thán chẳng nề chi

Voi trắng giá lâm chùa Kính Thọ
Xe báu tràng phang phủ vây quanh
Minh sư thỉnh dẫn dâng hương hoa
Giá hạc tiên nhơn bay khắp chốn

Tám nạn xoay về sanh cực lạc
Năm trược hóa thành bảy báu ao
Khai Nguyên vang mãi hằng sa kiếp
Ma vương ngoại đạo thảy nương về

Muôn đời ngàn kiếp truyền thánh giáo
Tựa hồ kiếp chẳng phủi thiên y
Do bởi chúng sanh có nhiều phước
Đắc phùng chư Phật trọng khí thời

Diệu lý Kim Cang khó giảng bày
Hết thảy trong kinh Trẫm gôm đây
Vì Phật trãi vàng trùm mặt đất.
Định mua vườn cảnh của Kỳ Đà

Bát bộ quỷ thần cùng theo Phật
Tháp nhạn cung rồng hiện khắp ra
Trên cành Kỳ Thọ chim nương hót
Dưới có suối vàng để rửa chân

Việc ăn ôm bát vào Xá-vệ
Dẫn dắt muôn loài ruộng phước gieo
Bấy giờ Thế Tôn không ngã tưóng
Tu-Bồ-đề kính ngưỡng nhận kim ngôn

Bốn qủa sáu thông là thượng phẩm
Cung rồng hưởng lạc cõi chư thiên
Nơi ở Thánh Vưong là tiên giới
Võ thần Hoàng Đế cũng như nhiên

Lại nói xưa kia Ca-lợi vương
Cắt đi thân thể được sanh thiên
Thi-tì bỏ mạng nuôi cưu cáp
Làm thân La-hán qúa ba ngàn

Chúng sanh Diêm Phù vin nhà lửa
Trẫm đây dắt dẫn khiến sanh thiên
Hết thảy hữu tình như con đỏ
Chỉ là trăm họ đều lợi lanh

Chưng ngôi qủa vị Vô Thưọng Giác
Lại cùng chư Phật kết nhân duyên
Trăm kiếp ngàn đời không thối chuyển
Công đức vô lượng cũng vô biên

Không chỉ như hình nơi chùa quán
Mười phưong thế giới rạng chơn thiền
Đây là diệu nghĩa của Kim Cang
Đệ tử há đâu dám thất truyền

 

Phàm người muốn tụng niệm kinh Kim Cang trước hết cần phải khải thỉnh tên gọi của tám vị đại thần Kim Cang, tám vị Kim Cang nầy tự đến thường ủng hộ cho người trì kinh

1. Phụng thỉnh Thanh Trừ Tai Kim Cang
Có thể trừ tất cả tai ương đời trước

2. Phụng thỉnh Tích Độc Kim Cang
Có thể trừ tất cả những bức bách bịnh khổ của chúng sanh

3. Phụng thỉnh Hoàng Tùy Cầu Kim Cang.
Có thể khiến cho những điều mong ước của tất cả chúng sanh đều được thành tựu

4. Phụng thỉnh Bạch Tịnh Thủy Kim Cang
Có khiến cho khổ não bức bách của tất cả chúng sanh được tiêu trừ

5. Phụng thỉnh Xích Thanh Kim Cang
Có thể chiếu soi khiến cho tất cả chúng sanh thấy được ánh quang minh Phật

6. Phụng thỉnh Định Tai Trừ Kim Cang
Có thể trừ nỗi khổ tam tai,bát nạn cho tất cả chúng sanh

7.Phụng thỉnh Tử Hiền Kim Cang
Khiến cho tất cả chúng sanh tỏ ngộ phát tâm bồ-đề

8.Phụng thỉnh Đại Thần Kim Cang
Có thể khiến cho tất cả chúng sanh thành tựu mầm trí tuệ lực tăng trưởng

Đại thân chân ngôn:
Nam Mô Bà Già Phiệt Đế Bát La Nhưỡng Ba-la-mật-đa Duệ Úm Y Lợi Để Y Thất Lợi Du Lô Đà Tỳ Xá Da Tì Xá Da Ta Bà Ha. (3 lần)

Tùy tâm chân ngôn:
Nam Mô Bạc Ca Phiệt Đế Bát Lạt Nhạ Ba-la-mật-đa Duệ Đát Điệt Tha Úm Hô Phiệt Chiết La Miệt Lệ Ta Bà Ha. (3 lần)

Tâm trung tâm chân ngôn:
Úm Ô Luân Nê Ta Bà Ha. (3 lần)

Kim cương nhi chú:
Nam Mô Bạt Chiết Cưu Ma La Ca Nễ Độ Ám Bà. (3 lần)

Phật mẫu chú:
Nam Mô Đà Xá Nam Mô Đà Câu Nam Úm Hộ Lỗ Hộ Lỗ Tử Đà Lô Già Nễ Tát La Sa La Tha Sa Đạt Nễ Ta Bà Ha. (3 lần)

Văn-thù Bồ-tát tâm trung chân ngôn:
Ôm A Ra Ba Sa Na Đi (3 lần)

Người nào hết lòng trì tụng thần chú nầy giống như tụng một biến tạng kinh trong thiên hạ.

Tiếng Phạn nói:Vì sao ở nơi kinh nầy rốt tráo đến bờ kia?Xin Phật khai giảng diều vi diệu sâu kín vì chúng sanh mà nói rõ,vì chúng sanh mà chuyển pháp luân.

 

Nam mô A Di Đà Phật

v/v Lời Kêu Gọi Ủng Hộ, Trợ Duyên Ấn Tống Máy Nghe Pháp Âm Tịnh Độ

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!

- Kính thưa quý Phật tử, thiện hữu tri thức!

"Pháp môn Tịnh Độ chính là pháp môn đặc biệt trong giáo pháp của cả một đời đức Như Lai, thích hợp khắp ba căn, thâu nhiếp trọn vẹn lợi căn lẫn độn căn. Bậc Đẳng Giác Bồ Tát chẳng thể vượt ra ngoài; tội nhân Ngũ Nghịch Thập Ác cũng có thể dự vào trong số ấy. Chẳng đoạn Hoặc nghiệp mà được thoát khỏi luân hồi; ngay trong một đời này chắc chắn lên cõi Phật. Chúng sanh đời Mạt căn cơ kém hèn, bỏ pháp môn này làm sao yên được?"

Lời dạy trên của tổ Ấn Quang quả thật là kim chỉ nam là chỗ nương tựa cho hàng hậu học chúng ta. Ở thời buổi mạt pháp nếu không nương vào Pháp môn Niệm Phật Đới Nghiệp Vãng Sanh thì lấy gì để ra ngoài sanh tử? Trong Đại Tạng Kinh có rất nhiều Kinh Tạng và Luận Tạng đã nói về sự lợi ích của Pháp niệm Phật, là phương tiện thuyền từ qua sông sanh tử. Tuy nhiên, không phải ai ai cũng thích hợp, bởi vì sao? Vì chưa gieo trồng được thiện căn nên không những không phát lòng Tin tuyệt đối vào Pháp môn phương tiện này của Chư Phật. Nghiệp thì dầy phước mỏng hầu hết ưa chuộng theo những thứ tà thuyết sai trái, không hiểu và nhận được rõ ràng đối với Pháp môn Tịnh Độ. Dù có thực hành nhưng không hiểu cốt lỗi, tôn chỉ của pháp môn nên thực hành không đúng như lời Phật, Tổ dạy. Còn hơn thế, vì không hiểu rõ ràng để có đủ lòng tin nơi pháp môn của mình đang tu học, sanh tâm thối lui đối với phát tâm ban đầu, trước những lời bày xích ở một nhóm người.

Một pháp môn mà ngay cả từ miệng vàng của Đức Thế Tôn còn phải bảo rằng: "Ta có thể ở trong đời đủ năm món trược thực hành tu tập để thành Bậc Vô Thượng Chánh Giác còn dễ hơn là nói ra pháp môn khó tin này (nan tín chi pháp)" (trích lược ý Kinh A Di Đà).

Chúng tôi với tâm nguyện hoằng truyền những lời dạy của Phật, Tổ để lợi ích cho mọi người nên tuyển tập hết tất cả những lời dạy, khai thị, thiển giải vô vàng quý giá, thành một tập để Ấn tống trong chương trình Ấn Tống Pháp Âm Tịnh Độ trước là để gieo duyên đến với những ai chưa có đủ duyên lành biết đến pháp môn này, và khai sáng trên bước đường tu học theo tông chỉ của bổn môn qua những Kinh Tạng nói về Pháp môn Tịnh độ, đặc biệt là chúng tôi trích tất cả những lá thư gởi, trả lời của tổ Ấn Quang dạy, khai thị cho người hậu học đang trên đường tu học.

Nhận thấy những nơi vùng sâu vùng xa không hội đủ phương tiện, truyền thông, internet để có thể nghe được lời vàng của bậc tổ sư trong bổn môn, được quý thầy ở những nơi vùng sâu vùng xa khuyến tấn và số đông Phật tử ngỏ ý là nên làm gì đó tạo duyên lớn cho hàng Phật tử ở nơi đây được nghe đến những lời quý báu của bậc chân tu thạc đức, hầu vững bước trên đường tu học, nương vào đại nguyện, đủ ba thứ tư lương, Tín-Hạnh-Nguyện mà thoát vòng sanh tử triền miên. Nên chúng tôi xin tha thiết kêu gọi chư thiện hữu, Phật tử đạo hữu gần xa, những ai có tâm hoan hỷ cùng chung chí hướng lợi mình hữu ích cho người cùng chung tay trợ duyên cho việc ấn tống máy nghe Pháp Âm Tịnh Độ.

Pháp Âm Tịnh Độ gồm có những Kinh và sách về pháp môn này, và những bộ luận nói về Nhân Quả, mà nổi bật nhất là quyển Pháp Uyển Châu Lâm của pháp sư Đạo Thế, sách này được tổ Ấn Quang nhiều lần khuyên nên đọc*. Chúng tôi cũng trích ghi âm hết tất cả các Thư Gởi và Thư Đáp ** của tổ Ấn Quang để làm kim chỉ nam trong đường tu qua lời khai thị, dạy của tổ trong tông môn.

Mong quý đạo hữu hoan hỷ giúp chúng tôi tạo duyên lành, gieo trồng thiện căn với Pháp môn mà chư Phật trong ba đời khắp mười Phương đều hộ niệm, hầu lợi ích cho mỗi chúng sanh, bằng cách khuyên tấn, giải thích cho con, cháu, cha, mẹ, ông, bà, bạn bè v.v.... hoan hỷ cùng chung đóng góp vào việc làm đầy ý nghĩa này, Bằng cách đóng góp đôi chút tịnh tài, 5 hoặc 10 ngàn cũng là trân quý vô cùng. Nếu bản thân của mỗi người có thể hiểu ý nghĩa qua việc làm này phát tâm hoan hỷ, cùng chung tay lăn chuyển bánh xe Pháp với tâm không nhiễm trước, trên tinh thần lợi mình lợi người tam luân thể không (tam luân không tịch ***) thì phước báu của việc làm này không thể so sánh được.

Nguyện do công đức này, tiêu trừ túc hiện nghiệp, tăng trưởng các phước huệ, viên thành thắng thiện căn, tất cả kiếp đao binh, các nạn như đói kém, thảy đều tiêu trừ sạch, ai nấy tập lễ, nhượng. Hết thảy người nghe kẻ thấy đồng sanh tâm hoan hỷ cùng người trợ duyên mỗi người đều gieo trồng dầy thiện căn trong pháp môn Tịnh Độ, thấm nhuần chánh pháp đồng trang nghiêm cõi Phật, đồng vãng sanh Cực Lạc.

Nam mô A Di Đà Phật!

Trân trọng,

Ban biên tập Tạng Thư Phật Học
https://tangthuphathoc.net

Ngày 14 tháng 09 năm Mậu Tuất, Phật lịch 2562 (nhằm ngày 22 tháng 10 năm 2018)

https://tangthuphathoc.net/thu-van-dong-tro-duyen-an-tong-may-nghe-phap-am-tinh-do/

Thanks for signing up. You must confirm your email address before we can send you. Please check your email and follow the instructions.
Chúng tôi tôn trọng sự riêng tư của bạn. Thông tin của bạn được an toàn và sẽ không bao giờ được chia sẻ.
Nam mô A Di Đà Phật!
×
×