TỪ-ĐIỂN THIỀN VÀ THUẬT NGỮ PHẬT GIÁO(VIỆT – ANH)

THIỆN PHÚC

– A-

 

A (skt):

  1. Vần bắt đầu của 12 mẫu vận trong Phạn ngữ—The first letter of the 12 Sanskrit Siddham alphabets.
  2. Tất cả những Phạn ngữ khác đều phát sinh từ mẫu tự “A”—All other Sanskrit letters are originated from it.
  3. “A” là tiếng khai khẩu đầu tiên của nhân loại—It is the first sound uttered by the human mouth.
  4. Chữ “A” đứng đầu một chữ có nghĩa phủ định—“A” is a negation if it stands in front of a word.
  5. Chữ “A” là biểu tượng của Vô sanh (hết thảy các pháp không sanh), vô thường, và phi vật chất—“A” symbolizes the unproduced, impermanent, and immaterial.

A Âu: Một tán thán từ của ngoại đạo hay Bà La Môn có nghĩa là không và có (“A” là “Không,” “Âu” là “Có”), đạo Phật lấy hai chữ “Như Thị” đặt ở đầu các kinh—A heretic or brahmanical exclamation. The two letters “A” and “U” fell from the corners of Brahma’s mouth when he gave the seventy-two letters of Kharosthi, and they are said to be placed at the beginning of the Brahmanical sacred books as divine letters, the Buddhists adopting “Thus” instead. A Ba Ba: Ababa or Habava (skt)—See A Ba Ba

Địa Ngục.

A Ba Ba Địa Ngục: Habava or Apapa (skt)—Địa ngục thứ tư trong bát hàn địa ngục, nơi quá lạnh nên chỉ có âm “A Ba” là nghe được—The fourth of the eight cold hells, where it is so cold that only this sound can be uttered—See Bát Hàn Địa

Ngục.

A Ba Đà Na: Avadana (skt)—See Phược Đà. A Ba Đà Na Kinh: Avadanas-sutra (skt)—Stories of memorable deeds—See Kinh Xuất Diệu. A Ba Hội Thiên: Pure heaven of utmost light— See Cực Quang Tịnh Thiên.

A Ba La: Abhasvara-vimana (skt)—Cõi trời Quang Âm Thiên—The sixth of the Brahmalokas of light and sound (abhasvara) and its devas.

A Ba Ma La: Apasmara (skt)—Nhân từ quỷ— Malevolent demons, epilepsy, and the demons who cause it.

A Ba Na Già Đê: Aparagati (skt)—Tam ác đạo, như súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục—The three evil paths, i.e. animal, hungry ghost, hell.

A Ba Tất Ma La: Apasmara (skt)—Một trong mười lăm loài quỷ thường não loạn trẻ con—One of the fifteen kinds of demons that always tries to disturb children.

A Ba Thoại: Pure heaven of utmost light—See Cực Quang Tịnh Thiên.

A Bà Bà Địa Ngục: See A Ba Ba Địa Ngục. A Bà Dựng Ca La: Abhayam-kara (skt)—Ly Bố Úy—Free from fear.

A Bà Đà Na: Avadana (skt)—A Va Đà Na— Metaphor—Simile—See Thí Dụ.

A Bà Lô Cát Đê Xá Bà La: Avalokitesvara

(skt)—Tên của Quán Thế Âm—Name of Kuan-

Yin.

A Bà Lư Cát Đê Xá Bà La: See A Bà Lô Cát Đê Xá Bà La.

A Bà Ma: Anupama (skt)—Một danh hiệu của

Đức Phật, được định nghĩa là “Vô Đẳng Đẳng”— A title of the Buddha, defined as “Unequalled

rank.”

A Bà Sa Ma La: Apasmara (skt)—Quỷ động kinh—Epileptic demons, demons of epilepsy. A Bàn Đà La: Avantara (skt)—Trung gian—

Intermediate.

A Bát Lợi Cụ Đà Ni: Aparagodana (skt)—See Tứ Châu (3).

A Bạt Da Chỉ Ly: Abhayagiri (skt)—Núi Vô Úy ở

A Nâu La Đà Bổ La, cố đô (kinh đô cổ) của nước

Tích Lan—Mount Fearless in Ceylon at

Anuradhapura.

A Bạt Đa La: Avatara (skt)—Vô thượng—

Peerless.

A Bệ Bạt Trí: Avaivartika or Avivartin, or Aparivartya (skt)—A Bề—A Duy Việt Trí—A Tỳ Bạt Trí—Bất Thối Chuyển.

A Bệ Bạt Trí Bồ Tát: Avaivarti Bodhisattva

(skt)— Bồ Tát luôn hướng về hướng toàn giác— Non-retrogressive bodhisattva—See Bất Thối Chuyển Bồ Tát.

A Bộ Đàm: Át Phù Đà địa ngục—The Arbuda hell—See Địa Ngục.

A Ca Ni Trá: See A Ca Ni Trá Thiên. A Ca Ni Trá Thiên: Akanistha (skt)—Aksanirtha (skt)—See Sắc Cứu Cánh Thiên.

A Ca Sắc: Agham or Akasa (skt)—Theo Giáo Sư Soothill trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, agham có hai nghĩa đối nghịch nhau, một là vật chất hữu hình, hai là không giới vô hình— According to Professor Soothill in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Agham has two opposite interpretations, substantial and unsubstantial.

A Ca Xa: Akasa (skt)—Hư không—The sky space—Atmosphere—The air. A Câu Lư Xá: Akrosa (skt)—Mạ lỵ—Scolding— Abusing.

A Chất: Ajatasatru (skt): Ajatasattu (p)—See A

Xà Thế

A Chất Mục Đa: Atimuttaka (p)—A-đề-mâuđa—Acacia flowers—Một loại hoa cõi trời. A Chế Đa: Ajita (skt)—A Dật Đa—See A Kỳ Đa.

A Chi La Bà Đề: Ajitavati (skt)—A Thị Da Phạt Để—A Li Da Bạt Đề—See A Thị Đa Phiệt Để.

A Chiết La: Acara (skt)—Vị A La Hán trong Vương Quốc Andhra: An arhat of the kingdom of Andhra—Người sáng lập tự viện A Chiết La: Founder of the Acara monastery.

A Chu Đà: Tên của Mục Kiền Liên khi còn là một vị Tiên—Name of Mahamaudgalyayana as a rsi.

A Chu Đà Na: See Arjuna.

A Cưu La Gia La: Akulakara (skt)—Quấy rầy (phiền hà): Disturbing, upsetting—Tên của một thứ gió: Name of a wind.

A Da Cát Lợi Bà: Hayagriva (skt)—See Mã Đầu Quan Âm.

A Da Hạ Hàm: See A Gia Hạ Hàm.

A Da Luận: See A Do Luận.

A Dạ Kiện Đa: Ayahkanda (skt)—Thiết tiễn (mũi tên sắt)—An iron arrow.

A Dật Đa: See A Dật Đa Bồ Tát.

A Dật Đa Bồ Tát: 1) Vô Năng Thắng Bồ Tát: Ajita-Bodhisattva; 2) Danh hiệu của Đức Phật Di Lặc: A title of Maitreya Buddha. A Di Đà: Amita, Amitabha, or Amitayus (skt)— Đức Phật A Di Đà—Amitabha Buddha.

A Di Đà Bà: Amitabha Buddha—A Di Đà.

A Di Đà Bổn Nguyện: Những lời cầu nguyện căn bản của Đức A Di Đà. Những lời nguyện căn bản trong tứ thập bát nguyện của Ngài—The original vows of Amitabha Buddha. A Di Đà Bổn Nguyện và Quang Minh Lực: The power of Amitabha Buddha’s original vow and his power of light.

A Di Đà Cổ Âm Thanh Vương Kinh: Amitadundubhi-svararaja-dharani-sutra (skt)—Sutra on Rolling of drums Buddha.

A Di Đà Cổ Âm Thanh Vương Đà La Ni Kinh: See A Di Đà Cổ Âm Thanh Vương Kinh.

A Di Đà Đàn Na: Amrtodana (skt)—Cam Lộ Vương, vua xứ Ma Kiệt Đà, cha của A Nậu Lâu Đà, chú của Phật Thích Ca—A king of Magadha, father of Anuruddha and Bhadrika, uncle of Sakyamuni.

A Di Đà Kinh: See Kinh A Di Đà.

A Di Đà Kinh Sớ: Commentary on the Amitabha sutra—Luận giải về kinh A Di Đà.

A Di Đà Như Lai: Amitabha Tathagata.

A Di Đà Phật: Amitabha Buddha—Amitabha là một Phạn ngữ chỉ “Vô Lượng Quang.” Đây là một vị Phật ngự tại Thiên Đường Tây Phương, cõi nước mà chúng sanh sanh vào chắc chắn sẽ đạt thành Phật quả trong một đời. Điều kiện tu tập trong cõi thiên đường này là tốt nhất cho những ai tu tập Phật pháp, y theo những lời nguyện đời trước của Đức Phật A Di Đà. Ngày vía Đức Phật A Di Đà là ngày mười lăm trong tháng—Amitabha is a Sanskrit term for “Limitless Light.” A Buddha who is said to preside over the western paradise of Sukhavati, a realm in which bengs born there are assured of attaining buddhahood in that lifetime. The conditions of the paradise are optimal for practice of Budhism, in accordance with Amitabha’s former vows. Day dedicated to His manifestation (to a Buddha’s vital spirit) is the fifteenth day of the month.

A Di Đà Sưu Tư: Amitayus—A Di Đà.

A Di Đà Tam Muội: Amida-samadhi (jap)— Amitabha-samadhi (skt)—Tam muội mà khi đạt được thì hành giả đồng nhất với đức A Di Đà. Người ta nói đức Thích Ca đã vào tam muội này trước khi thuyết giảng kinh Vô Lượng Thọ—The samadhi in which one attains unity with Amida. It is said that Sakyamuni Buddha entered this samadhi before expounding the Larger Sutra.

A Di Đà Tiểu Bổn Kinh: Sukhavati-vyuha (skt)— Smaller text of Sukhavati-vyuha—See Tiểu Bổn A Di Đà Kinh.

A Diễm Để Ha La: Tên của một loài quỷ bị cháy rụi vì lửa nó ăn vào—Name of a demon burnt up by the fire it eats.

A Do: Ayurveda (skt)—Một trong các bộ kinh Vệ Đà, nói về khoa học và trường thọ—One of the Vedas, the science of life or longevity—See Lục Luận Vệ Đà.

A Do Đa: See Ayuta.

A Do Luận: Ayur-sastra (skt)—Treatise on discussing about the art of long life—Luận trường thọ của kinh Vệ đà (Ấn giáo).

A Du Ca: Vilaksa (skt)—Tất Lạc Xoa—Tất Thích Xoa—Vô Ưu—Dưới gốc cây nầy Thái tử Tất Đạt Đa ra đời—The tree under which Siddhartha was born.

A Du Đà: Ayodhya (skt)—A du đà quốc—A Du Đồ quốc—A Thâu Đồ—A Du Đà có nghĩa là “Không có xung đột.” Kinh đô của xứ Kiều Tát La, tổng hành dinh của Phật giáo thời cổ. Nó là một thành phố quan trọng trong vương quốc Kiều Tát La, nằm về phía đông bắc Ấn Độ trong thời

Đức Phật còn tại thế, bây giờ là vùng Oudh— Ayodhya literally means “No Conflict.” The capital of Kosala, headquarters of ancient Buddhism. It was an important city in the Kingdom of the Kosalas in north-east of India in the time of the Buddha, present Oudh.

A Du Đồ: Ayodhya (skt)—See A Du Đà.

A Du Già: Asoka (skt)—See A Dục Vương.

A Du Già Thụ: See Vô Ưu Thụ.

A Dục Vương: Asoka (skt)—Vị vua thời cổ Ấn Độ, thái tổ của triều đại Maurya. Một quân vương Phật tử, đã cải sang đạo Phật từ Ấn Độ giáo sau một cuộc trường chinh—Emperor of Ancient India, founder of Maurya Dynasty. A great Buddhist ruler, who was converted to Buddhism from Hinduism after a long period of war and conquest.

A Dục Vương Kinh: See Kinh A Dục Vương. A Dục Vương Sơn: Aikuo-zan (jap)—Núi vua A Dục bên Tàu—Asoka Mountain in China.

A Dục Vương Thạch Trụ: Asoka marble pillar— Những trụ đá do vua A Dục của Ấn Độ dựng lên vào khoảng những năm 250 trước Tây Lịch trong vườn Lâm Tỳ Ni của xứ Nepal và những nơi khác, ghi dấu nơi Đức Phật đản sanh năm 624 trước Tây Lịch, những hoạt động hoằng pháp của Đức Phật, cũng như những hoạt động hộ pháp của vua A Dục—Asoka Marble Pillars, erected by Indian king of Asoka in about 250 B.C. in Lumbini garden in present-day Nepal and all over the lace in India, to show that the Buddha was born here in 624 B.C., periods when the Buddha travelled all over India to preach his doctrines, and Asoka’s support of Buddhism.

A Dục Vương Tháp: Ngôi tháp Vua A Dục hay tháp Đại Giác do vua A Dục xây dựng vào thế kỷ thứ ba trước Tây Lịch ở Bồ Đề Đạo Tràng, nơi Đức Phật chứng đạo Vô Thượng Bồ Đề cách nay hơn 2.500 năm tại miền bắc Ấn Độ, bây giờ là một phần của Nepal. Phía sau Tháp Đại Giác, có một tháp nhỏ bằng đá, nằm trong khuôn viên của Bồ Đề Đạo Tràng, với những hình tượng nổi—The stupa of King Asoka or the Maha Bodhi Temple erected by king Asoka in the third century B.C. at

Buddha Gaya where the Buddha attained enlightenment over 2,500 years ago in northern India, present-day part of Nepal. Behind the Maha Bodhi Temple at Buddha-Gaya, there is a small stupa, made of stone with the carved images of Buddhas.

A Dục Vương Truyện: Asoka-vadana-mala (skt)—Legends of King Asoka—Stories of King Asoka.

A Duy La Đề: Abhirati (skt)—A Tỳ La Đề—Cõi Tịnh Độ phương Đông của Đức Phật A Súc (Vô Nộ hay Diệu Lạc Phật)—The eastern Pure Land of Aksobhya.

A Duy Việt Trí: See A Bệ Bạt Trí.

A Đa Đa: Atata (skt)—See Bát Hàn Địa Ngục.

A Đà: Agada (skt)—See A Già Đà. A Đà La: Adara (skt)—Chấp tay chào—To salute with folded hands, palms together. A Đà Na: Adana (skt)—Chấp thủ hay duy trì nghiệp nhân thiện ác: Holding together or maintaining the karma, good or evil—Thân thể của loại hữu tình: Maintaining the sentient organism—Chủng tử hay hạt của cây cối: Maintaining the germ in the seed or plant.

A Đà Na Thức: Adana-vijnana (skt)—Alaya consciousness—Thức có tánh chấp chặt. Tên khác của A Lại Da Thức—Appropriating consciousness.

Another name for Alaya-vijnana—See A Lại Da

Thức.

A Đề Bạt Trí: See A Bệ Bạt Trí.

A Đề Mục Đa: See A Đề Mục Già.

A Đề Mục Già: Adhimukti or Atimukti (skt).

  1. Tâm giải thoát, được diễn dịch là “Thiện Tư Duy”—Entire freedom of mind, confidence, interpreted as “pious thoughtfulness,” good propensity.
  2. A Đề Mục Già là tên của một loại cây có hoa đỏ, lá màu xanh đậm, hạt ép ra dầu thơm— Atimuktaka, a plant like the “dragon-lick,” suggestive of hemp, with red flowers and bluish-green leaves; its seeds produce fragrant oil, sesame.

A Đề Phật: See A Đề Phật Đà. A Đề Phật Đà: Adi-buddha (skt)—Primordial Buddha—Đây là vị Phật bản sơ của Lạt Ma giáo. Trong cựu phái Kim Cang thừa, A Đề Phật được xem như là ngài Phổ Hiền, hóa thân của đức Phật

Thích Mâu Ni—The primal Buddha of ancient Lamaism. In old Vajrayana, Adi-Buddha was seen as Samantabhadra, a transcendant body of Sakyamuni.

A Để Lý: Atri (skt)—Kẻ nuốt sống: A devourer— Một trong những ngôi sao trong nhóm Đại Hùng: One of the stars in Ursa Major—Một trong những thị giả của Thần Hỏa trong Thai Tạng Giới: One of the assistants of Agni shown in the

Garbhadhatu—Một vị cổ Tiên: An ancient rsi. A Để Sa: Atisa (skt)—A Để Sa, vị sư Phật giáo gốc hoàng gia tại vùng Bengal, Ngài đã đặt ra phương pháp hệ thống hóa sự đại giác. Ngài là trưởng lão của xứ Ma Kiệt đà và là giảng sư rất nổi tiếng của trường Đại học Vikramsila. Ngài đến Tây tạng vào năm 1042 theo lời mời của các nhà lãnh đạo miền Tây của Tây Tạng. Ngài đã ở đấy giảng đạo trong suốt 12 năm sau cùng của cuộc đời. Tại đây ngài đã sáng lập trường phái Kadampa. Những thuyết giảng của Ngài có ảnh hưởng rất lớn đối với Phật giáo Tây Tạng sau nầy. Ngài là nhân vật hàng đầu trong thời kỳ truyền bá Phật giáo sang Tây Tạng lần thứ nhất. Sau khi đến Tây Tạng ngài đã làm việc, cải cách và phục hưng giáo thuyết và phương cách tu tập Phật giáo. Tác phẩm nổi tiếng nhất của ngài là quyển “Giác Ngộ Đạo Đăng” (đèn sáng cho con đường giác ngộ) trong đó ngài vạch ra con đường tiệm tiến đến Phật quả—A Buddhist scholar of royal family in Bengal, who particularly systematized the method for generating enlightened mind (bodhicitta). He was a patriarch of Magadha and a well-known teacher of Vikramsila University. Atisa arrived in 1042 in response to an invitation from the rulers of western Tibet. He spent the last twelve years of his life there to preach. In Tibet he founded Kadampa school. His teaching tradition had a great influence on Tibetan Buddhism later. He was the leading figure in the “second dissemination” of Buddhism to Tibet. After his arrival he worked to reform and revive Buddhist teachings and practices. His most influential work is “the lamp for the Path to Awakening,” in which he outlined a gradual path to buddhahood.

A Địa Mục Đắc Ca: Atimuktata (skt)—Acacia flowers.

A Điên Ca: See A Điên Để Ca.

A Điên Để Ca: Atyamika (skt)—Tất Cánh— Không có cứu cánh để thành Phật—Endless—At the end there is no mind for attaining Buddhahood. A Gia: Tiếng con gọi người cha—Father—Daddy.

A Gia Hạ Hàm: Xương hàm dưới của người cha (từ chuyện người con nhận bừa cái cầu yên lừa là xương hàm dưới của hài cốt cha mình đã chết nơi chiến trường. Về sau nầy từ ngữ được dùng để chỉ người ngu si, không phân biệt được chân giả)— Stupid person or a thick-headed person. A Già: Nước: Water (Arhya or Argha (skt)—Nghi thức dâng nước thơm trong các buổi lễ: Ceremonial water, e.g. offerings of scented water, or water containing fragrant flowers in ceremonies.

A Già Đà: Agada (skt)—A Yết Đà—Một thứ thuốc phòng ngừa và trị mọi thứ bệnh, mọi thứ độc—Free from disease, an antidote, a medicine that entirely rids of disease, elixir of life, universal remedy (phổ khử).

A Già Đàm: Aghana (skt)—Không rắn, không đặc—Not solid, not dense.

A Già Đàm Ma Văn Đồ: Acala-dharma-mudrasutra (skt)—Thánh Pháp Ấn Kinh—Sutra on sacred Dharma seal—Sutra on seal of the holy law—Sutra on Unmoved Dharma seal. A Già La: Aryacala-bodhisattva (skt)—Bất Động Tôn Bồ Tát—Immovable Bodhisattva—See Bất Động Minh Vương.

A Già La Già: Angaraka (skt)—Hỏa tinh—The planet Mars; a star of ill omen; a representation in the Garbhadhatu.

A Già Lâu: Aguru or Agaru (skt)—Một loại trầm hương: Fragrant aloe-wood; the incense that sinks in water—Tên của một ngọn núi: Name of a mountain.

A Già Lợi Da: Acarya (skt)—A Xà Lê—Giáo Thọ—Spiritual teacher—Master—Preceptor. A Già Ma: Agama (skt)—See A Hàm Kinh. A Già Phôi: Cái bình hay cái bát—The vase or bowl.

A Giác Nữ: Cô gái nhỏ có tóc để xòe ra thành hai góc—A young girl.

A Ha Ha: Ahaha (skt)—Âm thanh của tiếng cười—Sound of laughter.

A Hàm: Agama (skt)—A Cấp Ma—A Hàm Mộ— A Hàm là tên gọi chung của Kinh Tiểu Thừa. A Hàm có nghĩa là Pháp Quy hay muôn pháp đều quy về nơi đây mà không sót; Vô Tỷ Pháp hay diệu pháp không gì sánh bằng; và Thú Vô hay ý chỉ được nói ra cuối cùng không theo về đâu cả— A collection of doctrines, general name for the Hinayana scriptures. Agama means the home or collecting-place of the Law or Truth, the Peerless Law, and the Ultimate or absolute truth.

A Hàm Bộ: See Hinayana.

A Hàm Kinh: Agama (skt)—Nikaya (p)—A Hàm—A Già Ma—A traditional doctrine or precept—Collection of Buddha’s doctrine— Sacred work—Anything handed down and fixed by tradition—There are four Agama sutras:

  1. Trường A Hàm: Dirghagama (skt)—Tập hợp những kinh văn dài, 22 quyểnLong Treatises on cosmogony, 22 books.
  2. Trung A Hàm: Madhya-agama (skt)—Tập hợp các kinh văn không dài không ngắn, 60 quyển—Middle treatises on metaphysics, 60 books.
  3. Tạp A Hàm: Samyuktagama (skt)—Hổn hợp của 3 loại A Hàm kia, 50 quyển— Miscellaneous treatises on abstract contemplation, 50 books.
  4. Tăng Nhứt A Hàm: Ekottaragama (skt)—Sưu tập số của Pháp Môn, 51 quyển—Numerical treatises subjects treated numerically, 51 books.

A Hàm Thời: Thời Đức Thế Tôn nói về kinh A Hàm (Lộc Uyển Thời) trong khoảng 12 năm tại vườn Lâm Tỳ Ni—The period when the Buddha taught Hinayana doctrine in the Lumbini garden during the first twelve years of his ministry—See Ngũ Thời Giáo.

A Hô: Ahu (skt)—Tán thán từ—Aho! An interjection.

A Hô Địa Ngục: The hell of groaning—See Địa

Ngục (4).

A Hồng: Ahum (skt)—Hai âm “A” và “Hum” là căn bản của hết thảy mọi âm thanh và chữ viết (muôn đức như cát sông Hằng đều bao quát trong hai âm nầy). “A” là sự bắt đầu phát ra âm thanh, “Hum” là sự chấm hết của hơi thở hít vào. Chữ “A” là Đức Tỳ Lô Giá Na, “Hum” là Đức Kim Cang Tát Đỏa, chữ “A” là Bồ Đề Tâm, “Hum” là Niết Bàn, “A” là tuyệt đối hay chân đế, “Hum” là hiện tượng hay thế tục—The supposed foundation of all sounds and writing, “A” being the open and “hum” the closed sound. “A” is the seed of Vairocana, “hum” that of Vajrasattva, “A” being the bodhicitta and “hum” the nirvana, and both have other indications. “A” represents the absolute, “hum” the particular, or phenomenal.

A Kiệt Đa: Agastya (skt)—Vòm Sao Canopus: The star Canopus—Tiếng Sét: Lightning.

A Kiệt Đa Tiên: Agastya-rsi (skt)—Theo Kinh Niết Bàn, A Kiệt Đa là một vị Tiên có sức thần thông dừng nước sông Hằng trong 12 năm, bằng cách cho dòng nước ấy chảy vào một trong hai lổ tai của ông—According to the Nirvana sutra, agastya was one of the genii, who stopped the flow of the Ganges for twelve years by allowing it run into one of his ears.

A Kỳ Đa: Ajita (skt)—Ajeyya (p)—A Chế Đa—A

Dật Đa (Vô năng thắng)—Không bị chế ngự— Không bị khuất phục—Tên của Phật Di Lặc hay của một vị Phật tương lai—Invincible— Irresistible—Not conquered—Unsubdued— Unsurpassed—Name of Maitreya or a future Buddha.

A Kỳ Đa Xí Xá Khâm Bà La: Ajita-Kesakambali (skt)—Ajita Keshakambalin là một người đồng thời với Đức Phật. Một trong sáu vị sư ngoại đạo nổi tiếng, người chủ trương mọi thứ đều đoạn diệt, cuối cùng chỉ còn lại tứ đại, nên tu hành khổ hạnh, để cho mọi thứ nóng bức thiêu đốt thân thể mà giải thoát—Ajita Keshakambalin was a contemporary of the Buddha. One of the six famous leaders of heretical sects, who taught a more extreme nihilism regarding everything except the four main elements. He did not believe in utility of gifts, in sacrifice, the fruits of good and bad acts, the existence of heavenly worlds or persons possessing higher or supernatural powers. A Kỳ Nễ: Agni (skt)—A Kỳ Ni—Lửa—Fire. A Kỳ Nễ Thần: Thần Lửa—Vị Thần tối cao trong các vị thần trong thần thoại Ấn Độ—The fire-deva.

A Kỳ Ni: Agni (skt)—The gods of fire—See Hỏa

Thần.

A La Ca: Arka (skt)—A Ca—A Già—Hoa trắng—White flower.

A La Già: Raga (skt)—Tham muốn: Desire— Cảm thọ: Feeling—Xan tham: Greed—Giận dữ:

Anger.

A La Ha: Arahant (p)—See A La Hán.

A La Hán: Arhat (skt)—Arahat (p)—Arahant (p)—The perfect one—The worthy one—The perfect understanding one—A saintly man—Một trong những quả vị trên bước đường tu tập. Theo Thượng Bộ, A La Hán là một bậc hoàn thiện hoàn mỹ; nhưng theo Đại Chúng Bộ, A La Hán chưa phải là bậc hoàn mỹ, họ vẫn còn bị những nghi hoặc quấy nhiễu và vẫn còn rất nhiều điều chưa được liễu giải. Chính vì thế mà Phật Giáo Đại Thừa khuyên Phật tử không nên đề cao lý tưởng A La Hán. Thay vì vậy, nên noi gương những bậc đã hiến trọn đời mình, đã hy sinh tự ngã và không ngừng cố gắng nhằm đạt đến mục đích cứu độ chúng sanh cũng như cảnh giới của chư Phật—One of the fruitions of the path of cultivation. According to the Sthaviras, Arhats are perfect beings; but according to the Mahasanghikas, Arhats are not perfect, they are still troubled by doubts and are ignorant of many things. Thus, Mahayana Buddhism advises Buddhists not to hold up Arhats as ideals. Rather those should be emulated as ideals who during aeons of selfsacrifice and continuous struggle to save sentient beings and to attain Buddhahood. A La Hán Đạo: Arahattamagga (p)—Path of Arahantship—Con đường của bậc A La Hán. A La Hán Ha: Arhat (skt)—See A La Hán.

A La Hán Hướng: Một trong bốn hướng. Bậc Thánh của Bất Hoàn tiến lên cắt đứt mọi tàn dư phiền não mà hướng đến quả A La Hán—The direction leading to arhatship, by cutting off all illusion in the realms of form and beyond form.

A La Hán Quả: Ariyaphalam (p)—

Arahattvaphala (skt)— Arahanthood—The fruition of arahantship—The fruit of Arhat discipline—

Người đã đạt được Thánh quả vị thứ tư, không còn tái sanh. Sau khi chết người ấy vào Niết bàn. Đây là quả vị cao nhất cho các hàng Thanh văn. A La Hán là một vị Thánh đã giải thoát khỏi luân hồi sanh tử, bằng cách sống đời tịnh hạnh đúng theo lời Phật dạy. Đây là mục tiêu tối thượng của trường phái Theravada, đối lại với quả vị Bồ Tát trong trường phái Đại thừa—Who attains the fourth stage of Sainthood, and is no more reborn anywhere. After his death he attains Parinirvana. The highest rank attained by Sravakas. An Arhat is a Buddhist saint who has attained liberation from the cycle of Birth and Death, generally through living a monastic life in accordance with the Buddha’s teachings. This is the supreme goal of Theravada practice, as contrasted with Bodhisattvahood in Mahayana practice—See Tứ Thánh Quả.

A La Hán Tam Độc: Ch’ang Ch’ing’s Three Poisons, example 95 of the Pi-Yen-Lu—Thí dụ thứ 95 của Bích Nham Lục. Trường Khánh có khi nói: “Thà nói A La Hán có ba thứ độc, chẳng nói Như Lai có hai thứ lời.” Bảo Phước hỏi: “Thế nào là Như Lai nói?” Trường Khánh đáp: “Người điếc đâu được nghe.” Bảo Phước nói: “Biết rõ ông nhằm hai đầu nói.” Trường Khánh hỏi: “Thế nào là Như Lai nói?” Bảo Phước đáp: “Uống trà đi.” Theo Viên Ngộ trong Bích Nham Lục, Trường Khánh và Bảo Phước ở trong hội Tuyết Phong thường cùng nhau nhắc những công án của cổ nhân để bàn bạc. Trường Khánh nói: “Thà nói A La Hán có ba thứ độc, chẳng nói Như Lai có hai thứ lời.” Tiếng Phạn A La Hán là “Arhat”, Hán ngữ có nghĩa là “Sát tặc,” do công năng mà lập tên, hay đoạn tám mươi mốt phiền não, các lậu đã sạch, phạm hạnh đã xong, đây là bậc A La Hán vô học, Ba độc tức là: tham, sân và si là căn bản phiền não. Tám mươi mốt phẩm còn tự đoạn sạch, huống là ba độc. Trường Khánh nói, “Thà nói A La Hán có ba thứ độc, chẳng nói Như Lai có hai thứ lời.” Đại ý cần nêu lên Như Lai hẳn là nói thật. Kinh Pháp Hoa nói: “Chỉ đây một sự thật, còn hai thì chẳng chơn.” Kinh lại nói: “Chỉ có pháp nhất thừa, không hai cũng không ba.” Thế Tôn hơn ba trăm hội, xem căn cơ dạy chúng, hợp bệnh cho thuốc, thuyết pháp muôn thứ ngàn loại, cứu cánh không hai thứ lời. Ý của Ngài, các ông làm sao thấy được? Phật dùng một âm diễn nói pháp thì chẳng không. Trường Khánh vẫn còn chưa thấy lời của Như Lai. Tại sao? Giống như người nói ăn, trọn không thể no. Bảo Phước thấy Trường Khánh trên đất bằng nói pháp, liền hỏi: “Thế nào là Như Lai nói?” Trường Khánh đáp: “Người điếc đâu được nghe.” Kẻ nầy biết những lúc khác ở trong hang quỷ làm kế sống. Bảo Phước nói: “Biết rõ ông nhằm trên đầu thứ hai nói.” Quả thật đúng như lời kia, Trường Khánh lại hỏi sư huynh Bảo Phước: “Thế nào là Như Lai nói?” Bảo Phước đáp: “Uống trà đi.” Cán thương đảo ngược bị người khác cướp mất rồi. Trường Khánh mất tất cả mà còn bị tội. Xin hỏi các ông, Như Lai có mấy thứ lời? Phải biết thấy được thế ấy, mới thấy chỗ bại quyết của Trường Khánh và Bảo Phước. Kiểm điểm chính chắn về sau trọn ăn gậy. Phóng một bước nói cùng kia lý hội. Có người nói: “Bảo Phước nói đúng, Trường Khánh chẳng đúng.” Chỉ thiết theo lời sanh hiểu, nói có được có mất. Đâu chẳng biết cổ nhân như chọi đá nháng lửa, tợ làn điển chớp. Người nay chẳng đến chỗ cổ nhân chuyển, chỉ cần chạy dưới câu, nói Trường Khánh khi ấy dùng chẳng tiện, vì thế rơi vào đầu thứ hai. Bảo Phước nói uống trà đi, là đầu thứ nhất. Nếu chỉ xem thế ấy, đến đức Phật Di Lặc hạ sanh cũng chẳng thấy được ý của cổ nhân. Nếu là tác gia thì chẳng khởi loại kiến giải nầy, nhảy khỏi hang ổ ấy, hướng thượng tự có một lối đi. Nếu ông nói người điếc chẳng được nghe, có chỗ nào là không phải? Bảo Phước nói uống trà đi, có chỗ nào là chẳng phải? Càng không dính dáng. Thế nên nói: “Kia tham câu sống, chẳng tham câu chết.” Nhân duyên nầy cùng “khắp thân phải, toàn thân phải” một loại. Không có chỗ cho các ông so tính thị phi. Phải là dước chân các ông lột trần, mới thấy chỗ cổ nhân thấy nhau. Ngũ Tổ Lão Sư nói: “Giống như ngựa đá nhau, phải là mắt nhìn tay nắm.” Công án nầy nếu dùng chánh nhãn xem đó, đều không có chỗ được mất để biện được mất, không có chỗ thân sơ để biện thân sơ. Trường Khánh cũng phải lễ bái Bảo Phước mới được. Vì sao? Vì chỗ khéo này dùng rất tài, giống như điện xẹt sao băng, Bảo Phước quả là trên nanh sanh nanh, trên vuốt sanh vuốt—Ch’ang Ch’ing once said, “Rather say that saints have the three poisons, but do not say that the Tathagata has two kinds of speech. I do not say the Tathagata is speechless, just that he doesn’t have two kinds of speech.” Pao Fu said, “What is Tathagata speech?” Ch’ing said, “How could a deaf man hear?” Pao Fu said, “I knew you were talking on the secondary level.” Ch’ing said, “What is Tathagata speech?” Pao Fu said, “Go drink tea.” According to Yuan-Wu in the Pi-YenLu, Ch’ang Ch’ing and Pao Fu, while in the community of Hsueh Feng, were always reminding and awakening each other, engaging in discussion. Ch’ing said, “Rather say that saints have the three poisons, but do not say that the Tathagata has two kinds of speech. I do not say the Tathagata is speechless, just that he doesn’t have two kinds of speech.” The Sanskrit word for saint is “Arhat,” means killer of thieves; by their virtue and accomplishment they illustrate their name; they cut off the nine times nine, or eightyone kinds of passion, all their leaks are already dried up, and their pure conduct is already established, this is the state of sainthood, where there is nothing more to learn. The three poisons are greed, hatred, and ignorance, the fundamental passions. If they have themselves completely cut off the eighty-one kinds of passion, how much more so the three poisons! Ch’ang Ch’ing said, “Rather say that saints have the three poisons, but do not say that the Tathagata has two kinds of speech.” His general idea was thathe wanted to show that the Tathagata does not say anything untrue. In the Lotus Sutra, it says, “Only this one thing is true; any second besides is not real.” It also says, “There is only one vehicle of truth; there is no second or third.” The World Honored One, in over three hundred assemblies, observed potentiality to set down his teachings, giving medicine in accordance with disease: in ten thousand kinds and a thousand varieties of explanations of the Dharma, ultimately there are no two kinds of speech. His idea having gotten this far, how can you people see? The Buddha widely taught the Dharma with One Voice; this I don’t deny, but Ch’ang Ch’ing actually has never seen the Tathagata’s speech even in a dream. Why? It’s just like a man talking about food, after all that can’t satisfy his hunger. Pao Fu saw him talking about the doctrine on level ground, so he asked, “What is Tathagata speech?” Ch’ing said, “How can a deaf man hear it?” Pao Fu knew that Ch’ang Ch’ing had been making his living in a ghost cave for some time; Pao Fu said, “I knew you were speaking on the secondary level.” And after all, Ch’ang Ch’ing lived up to these words; he asked back, “Elder brother, what is Tathagata speech?” Pao Fu said, “Go drink tea.” Ch’ang Ch’ing had his spear snatched away by someone else, Ch’ang Ch’ing, supposedly so great, lost his money and incurred punishment. No I asked everyone, how many kinds of Tathagata speech are there? You should know that only when you can see in this way, then you will see the defeat of these two fellows. If you examine thoroughly, everyine should be beaten. I’ll let out a pathway, to let others comprehend. Some say that Pao Fu spoke correctly, and that Ch’ang Ch’ing spoke incorrectly; they just follow words to produce interpretations, so they say there is gain and loss. They are far from knowing that the people nowadays do not go to the Ancients’ turning point to look; they just go running to phrase and say, “Ch’ang Ch’ing didn’t immediately act; therefore he fell into the secondary level.” If you only lookat it in this way, even by the time Maitreya Buddha comes down to be born here, you still won;t see the Ancients’ meaning. If you are an adept, you will never entertain such a view; leaping out of this nest of cliché, you’ll have your own road upward. If you say, “What is wrong with ‘How could a deaf man hear?’ What is right about ‘Go drink tea’?” Then you are even further from it. For this reason, it is said, “He studies the living phrase, he doesn’t study the dead phrase.” This story is the same as the story of “It is all over the body; it is all through the body,” there is nowhere you can judge and compare right or wrong. It is necessary for you to be clean and naked right where later teacher Wu Tsu said, “It is like coming to grip on the front line.” It requires a discerning eye and a familiar hand. In this public case, if you see it with the true eye, where there is neither gain nor loss, it distinguishes gain and loss; where there is no near or far, it distinguishes near and far. Ch’ang Ch’ing still should have bowed to Pao Fu to be proper. Why? Because Pao Fu used this little bit o fskill well, like thunder rolling or a comet flying. But Pao Fu couldn;t help but produce tooth upon tooth, nail upon nail.

A La La: Arada-kalama (skt)—Alara-kalama (p)—Uất Đà Ca La La—A La La là tên vị đạo sĩ mà thái tử Sĩ Đạt Đa đã đến hỏi đạo giải thoát ngay sau khi Ngài rời hoàng cung xuất gia để trở thành nhà tu khổ hạnh. Người ta nói đạo sĩ A La La là một triết gia theo phái Số Luận và sống gần thành Tỳ Xá Ly, nay là thành phố Besarh trong quận Muzzaffapur, tiểu bang Bihar, vùng đông bắc Ấn Độ—The name of the hermit to whom Prince Siddhartha visited and asked about the enlightenment immediately after he left his royal palace and became an ascetic. Arada-kalama is said to have been a Samkhya philosopher and to have lived near the Vesali city, modern Besarh in the Muzzaffapur district of Bihar state in the northeast India.

A La La Địa Ngục: Alala(skt)—Apapa (p)—A Ba Ba Địa Ngục—Habava or Apapa—Nơi quá lạnh nên chỉ có âm “A Ba” là nghe được—Where it is so cold that only this sound can be uttered.

A La Lá: See A La La.

A La Ra Ca Lam: See A La La. A La Thuyết Bộ: Avarasaila or Aparasaila (skt)—Tây Sơn Bộ—See Tây Sơn Trụ Bộ. A Lại Da: Alaya-vijnana (skt)—See A Lại Da

Thức.

A Lại Da Duyên Khởi: Dependent origination from Alaya-vijnana—Vạn sự vạn vật hay các pháp hữu vi đều từ duyên mà khởi lên, chứ không có tự tánh—Everything arises from conditions and not being spontaneous and self-contained has no separate and independent nature. A Lại Da Ngoại Đạo: Một trong 30 loại ngoại đạo, xem A Lại Da là một chất liệu truờng tồn, sáng tạo và chứa đựng tất cả. Khi được xem như là hiện tượng, thì A Lại Da bao trùm khắp vũ trụ— The alaya heresy, one of the thirty heretical sects which considered the alaya is a sort of eternal substance or matter, creatives and containing all forms; when considered “unrolled,” or phenomenal, it fills the universe. It seems to be of the nature of materialism as opposed to the idealistic conception of the Alaya-vijnana. A Lại Da Tam Tướng: Ba tướng của thức A Lại Da—Three marks of the Alaya-vijnana—See Lại Da Tam Tướng.

A Lại Da Thức: Alaya-vijnana (skt)—A Lợi Da— A Lê Da—A Lạt Da—”Alaya-vijnana” là thuật ngữ Bắc Phạn dùng để chỉ “Tạng Thức.” Cái tâm thức biến hiện chư cảnh thành tám thức. A-Lại Da hay thức thứ tám được gọi là “Sơ Năng Biến” vì các thức khác đều từ đó mà ra. Một khái niệm về giáo thuyết đặc biệt quan trọng với trường phái Du Già. Thuật ngữ này có khi được các học giả Tây phương dịch là “Tàng Thức,” vì nó là cái kho chứa, nơi mà tất cả những hành động được sản sinh ra. Tàng thức cất giữ những gì được chứa vào nó cho đến khi có hoàn cảnh thích hợp cho chúng hiện ra. Những dịch giả Tây tạng lại dịch nó là “Căn bản của tất cả” vì nó làm nền tảng cho mọi hiện tượng trong vòng sanh tử và Niết Bàn. Qua thiền tập và tham dự vào những thiện nghiệp, người ta từ từ thay thế những chủng tử phiền não bằng những chủng tử thanh tịnh; một khi người ta thanh tịnh hóa một cách toàn diện A Lại Da, thì đó được coi như là “Tịnh Thức.” Theo Keith trong Trung Anh Phật Học Từ Điển của Giáo Sư

Soothill, A Lại Da Thức (sở tri y thức) được diễn dịch như sau: a đàn na thức (chấp trì thức), bản thức (gốc rễ của chư pháp), dị thục thức, đệ bát thức (thức cuối cùng trong tám thức), đệ nhất thức, hiện thức, hữu tình căn bản chi tâm thức, chủng tử thức, tàng thức, tâm thức, trạch thức (là nhà ở của các hạt giống), vô cấu thức, vô một thức, và Như Lai tạng—Alaya-vijnana is a Sanskrit term for “basis consciousness.” The initiator of change, or the first power of change, or mutation, i.e. the alaya-vijnana, so called because other vijnanas are derived from it. An important doctrinal concept that is particularly important in the Yogacara tradition. This term is sometimes translated by Western scholars as “storehouse consciousness,” since it acts as the repository (kho) of the predisposition (thiên về) that one’s actions produce. It stores these predispositions until the conditions are right for them to manifest themselves. The Tibetan translators rendered (hoàn lại) it as “basis of all” because it serves as the basis for all of the phenomena of cyclic existence and nirvana. Through meditative practice and engaging in meritorious actions, one gradually replaces afflicted seeds with pure ones; when one has completely purified the continuum of the alaya-vijnana, it is referred to as the “purified consciousness.” According to Keith in The Dictionary of Chinese-English Buddhist terms composed by Professor Soothill, Alaya-vijnana is interpreted as: adana-vijnana, original mind (because it is the root of all things), differently ripening consciousness, the last of the eight vijnanas, the supreme vijnana, manifested mind, the fundamental mind-consciousness, seeds mind, store consciousness, mind consciousness, abode of consciousness, unsullied consciousness, inexhaustible mind, and Tathagata-garbha. A Lại Da Thức Tam Chủng Cảnh: Ba loại cảnh của a lại da thức: chủng tử (sinh ra hạt giống của tất cả hiện hành pháp hữu lậu và vô lậu), ngũ căn, và khí giới (quả báo của tất cả chúng sanh như núi, sông, cây, cỏ, khí cụ, ăn uống, vân vân)—The three categories of the Alayavijnana: the seed or cause of all phenomena, five organs of sensation, and the material environment in which they depend.

A Lại Da Tứ Phần: Pháp Tướng Tông chia dụng của tâm vương và tâm sở của tám thức ra làm bốn phần—The Dharmalaksana school divides the function of cognition into four parts—See Tứ

Phần.

A Lam: See A La La.

A Lan Nhã: Aranya (skt)—Araa (p)—Araakanga (p)—Arinya (skt)—Chỗ tịch tịnh, thường là trong rừng—Forest—Remote place—A solitary place, usually in the forest—A Lan Nhã có nghĩa là “Rừng,” hay “Nơi hoang dã,” nhưng ở đây A Lan Nhã chỉ một khu rừng yên tịnh được dùng làm nơi tu tập cho các du tăng khất sĩ. Nơi ẩn cư hay nơi dành cho thiền tập—Aranya literally means “Forest,” or “Woods,” or “Wilderness,” but here it refers to the forest as a quiet place of cultivation for wandering monks. A hermitage or a place of retirement for meditation.

A Lan Nhã Đầu Đà: Còn gọi là Viễn Ly Xứ Đầu Đà, tức là ở nơi đồng không mông quạnh xa hẳn nơi dân cư, một trong 12 hạnh tu đầu đà nhằm giúp hành giả thanh tịnh thân tâm và giải thoát khỏi tham dục về ăn uống, áo quần, nơi ở—To dwell as a hermit, one of the twelve ascetic practices help practitioners purify the body and mind and free from the desire of food, clothing and shelter—See Thập Nhị Hạnh Đầu Đà. A Lan Nhã Pháp Bồ Đề Tràng: See Tịch Diệt Đạo Tràng.

A Lan Nhã Xứ: Aranyanatyayatanam (skt)—See A Lan Nhã.

A Lan Nhã Xứ Đầu Đà: See A Lan Nhã Đầu Đà.

A Lê Da: Arya (skt)—A Li Da—A Li Dã—A

Lược—A Di—Tôn Giả—Honourable—Sage—

Sacred—Saintly—Thánh giả, Thánh nhân hay tôn giả (người đã ra khỏi cảnh khổ)—Loyal, honourable, noble—A man who has thought on the four chief principles of Buddhism and lives according to them.

A Lê Da Đà Sa: Aryadasa (skt)—Một vị sư của trường phái Đại Chúng Bộ—A monk of the Mahasanghikah.

A Lê Da Phạt Ma: Aryavarman (skt)—See

Thánh Tào.

A Lê Da Tư Na: Aryasena (skt)—Một vị sư nổi tiếng của trường phái Đại Chúng Bộ—A famous monk of the Mahasanghikah. A Lê Nghi: Alingi (skt)—Ôm ấp: To embrace— Cái trống nhỏ: A small drum—Tên của một loại thiền Mật giáo: Name of a kind of esoteric meditation.

A Lê Thọ: See A Lê Thụ.

A Lê Thụ: Arjaka (skt)—Một loại cây có hoa thơm—A tree with white scented flowers, said to fall in seven parts, like an epidendrum. A Li Da: Arya (skt)—A Li Dã—A Lược—A Di— Tôn Giả—See A Lê Da.

A Li Da Bạt Đề: Ajitavati (skt)—A Thị Da Phạt Để—A Chi La Bà Đề—See A Thị Đa Phiệt Để.

A Lị Da Thức: See A Lợi Da Thức. A Li Sa Ke: Arsagatha(skt)—Tự Nhiên Thành Tựu Chân Ngôn—Natural fulfilment mantra.

A Lợi Da: Alaya (skt)—See A Lại Da Thức.

A Lợi Da Đa La: Arya-tara or Aryavalokitesvara (skt)—Một trong những danh hiệu của Đức Quán Âm—One of the titles of Kuan-Yin.

A Lợi Ni: Alni or Arni (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Arni là một phần của vương quốc cổ Tukhara, tọa lạc nơi nguồn của dòng Oxus—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Arni was a kingdom which formed part of ancient Tukhara, situated near to the source of the Oxus. A Lợi Sa: Arca (skt)—Có liên hệ đến Tiên nhân hay Thánh nhân; đặc biệt chân ngôn thành tựu của các bậc cổ tiên được ghi lại bằng kệ—Connected with the rsi, or holy men; especially their religious utterences in verse.

A Lợi Sa Kệ: 1) Chân ngôn thành tựu của các bậc cổ tiên Thánh hiền: The utterances of the rsi or holy ment written in verse; 2) Danh hiệu của Đức Phật: A title of a Buddha.

A Lợi Sa Trụ Xứ: Trụ xứ hay thành tựu cao nhất—Perfection or the highest position of achievement.

A Lộ Ba: Rupya (skt)—Bạc—Silver. A Lộc Lộc Địa: Nơi mà tất cả mọi thứ đều diễn biến tốt đẹp theo như ý muốn—A land where all goes smoothly along at will. A Luyện Nhã: See A Lan Nhã. A-Luyện-Nhã Tỳ Kheo: Aranya-bhiksu (skt)—A forest Bhiksu—Lâm Tăng hay Sơn Tăng, vị Tỳ Kheo sống độc cư trong rừng—A monk who lives a solitary life in the forest.

A Lư Na: Aruna (skt)—A Lưu Na—Hỏa tinh: Mars—Hướng nam: South—Lửa: Fire—Màu đỏ ửng: Ruddy—Màu ửng hồng của rạng đông:

Dawn-colour.

A Lư Na Bạt Để: Loại nhang có màu đỏ—A redcoloured incense.

A Lư Na Hoa: Aruna-kamala (skt)—Bông sen đỏ—The red lotus.

A Ma: Amba (skt)—Mẹ, một danh hiệu tôn kính—Mother, a title of respect.

A Ma Đa Đa: Mẹ cha—Mother and father.

A Ma Đề Bồ Tát: Abhetti (skt)—Vô Úy Bồ Tát— Vị Bồ Tát vô sở úy, một tên khác của Bồ Tát Quán Thế Âm—Fearless Bodhisattva, another name for Avalokitesvara.

A Ma La: Amala (skt)—Vô cấu (tinh khiết, không tì vết): Immaculate, unstained, spotless—Thanh Tịnh: Pure—Thường Hằng (không thay đổi): Permanent and unchanging.

A Ma La Quả: Amala (skt)—Một loại trái cây ở Ấn Độ thời đức Phật, có hạt như hạt cau, dùng trị cảm lạnh (quả dư-cam-tử, khi mới ăn thấy hơi đắng, nhưng khi nuốt nước vào trong cổ họng thì nghe ngọt, tên khoa học của nó là Emblicaofficinalis hay Phyllanthusemblica)—A kind of fruit in India at the time of the Buddha, which has a nut like the betel nut, used as a cure for colds (its scientific name is Emblicaofficinalis or Phyllanthusemblica).

A Ma La Quán Tự Tại Bồ Tát: Abhetti (skt)— Vô Úy Bồ Tát—See A Ma Đề Bồ Tát.

A Ma La Quốc: Ramagrama (skt)—La Ma

Quốc—Tên của một vương quốc cổ trong vùng bắc Ấn Độ—Name of an ancient kingdom in northern India.

A Ma Lặc: Amalaka (skt)—Pure—Undefiled—

Vô nhiễm.

A Ma Yết Đà: Amagadha (skt)—Phi Khả Hại— Vô Hại—Harmless.

A Mạt La: Amala (skt)—See Am Ma La. A Mạt La Thức: Amala (skt)—Consciousness of purity—Undefiled consciousness—See Vô Cấu

Thức.

A Mật Lợi Đa: Amrta (skt)—Mật Hoa—Nectar— See Cam Lộ.

A Mật Lý Đa: Amrta (skt)—Mật Hoa—Nectar— Ambrosia.

A Mật Lý Đa Quân Trà Lợi: Một trong ngũ Minh Vương—One of the five rajas. A Mục Khư: Amogha (skt)—See A Mục Khư Bạt

Chiết La.

A Mục Khư Bạt Chiết La: Amogha or

Amoghavajra (skt)—Vị Tăng tên Bất Không Kim Cang (Amoghavajra), người Bắc Ấn, đệ tử của trường phái Mật Giáo Phổ Hiền. Ngài Kim Cang Trí rất nổi tiếng và đã sáng lập ra trường phái Mật Giáo Du Già ở Trung Quốc vào khoảng những năm 719-720 sau Tây Lịch. Bất Không kế thừa lãnh đạo trường phái nầy vào năm 732— Amoghavajra, a monk from northern India, a follower of the mystic teachings of Samantabhadra. Vajramati is reputed to have founded the Yogacarya or Tantric school in China about 719-720 A.D. Amogha succeeded him in its leadership in 732.

A Na: Ana (skt)—Hít vào (thở vào)—Inhalation. A Na Ba Na: Anapana (skt)—Sổ tức quán (sự chú tâm vào hơi thở)—Awareness of breathing— Breathing meditation (exhalation and inhalation)—See Quán Sổ Tức.

A Na Bà Bạt Đa: See A Na Bà Đạt Đa.

A Na Bà Đạt Đa: Anavadatta (skt)—Vô Nhiệt Long Vương—Heatless Dragon king.

A Na Bà Đạt Đa Long Vương: Vô Nhiệt Long Vương—Heatless Dragon king. A Na Bà Lâu Cát Để Du: Avalokitesvara (skt)— See Quán Thế Âm.

A Na Già Mê: Anagamin (skt)—Bất Lai—Non- coming—Bất Hoàn—Non-returning—See A Na

Hàm.

A Na Hàm: Anagami (p & skt)—One who does not return—One exempt from transmigration— Never-returner—Non-returner—See Bất Lai.

A Na Hàm Đạo: Anagami-magga (p)—Path of Non-Returner—Bất Lai—Quả vị thứ ba “Bất Lai”—Hành giả cũng đang trong tư thế tu Đạo. Người ấy không còn trở lại sinh tử trong cõi Dục giới nữa—The position of the Way of Cultivation. He no longer has to undergo birth and death in the Desire realm.

A Na Hàm Hướng: Nguời tu hành hướng về quả vị A Na Hàm (hướng vào quả bất lai mà tu hành là hướng thứ ba trong bốn hướng)—One who is aiming at the Anagamin or the fruit of nonreturning.

A Na Hàm Quả: Quả vị bất hoàn—Stage of nonreturner—See Bất Hoàn Quả. A Na Luật: Aniruddha (skt)—See A Nậu Lâu Đà.

A Na Luật Độ: Aniruddha (skt)—See A Nậu Lâu

Đà.

A Na Luật Tôn Giả: Aniruddha (skt)—See A

Nậu Lâu Đà.

A Na Sa Đạt Đa Long Vương: Vô Nhiệt Long Vương—Heatless Dragon king. A Na Tha Tân Đồ Đà: Anathapindada (skt)—A Na Đà Tân Đồ Đà—See Cấp Cô Độc.

A Nã: Anu (skt)—Phân tử hay thành phần gồm bảy nguyên tử—Minute—Infinitesimal—The smallest aggregation of matter—A molecule consisting of seven atoms.

A Nan Bạt Đà: Ananda-bhadra(skt)—Another name for Ananda—A Nan Đà Hiền Giả, tên khác của ngài A Nan.

A Nan Bồ Đề Thụ: Còn gọi là cây Bồ Đề A Nan, vì chính ngài A Nan đã trồng nó—Ananda Bodhi Tree, so called because it was Venerable Ananda who was responsible for the planting of the tree.

A Nan Đà: Ananda (skt & p)—Hoan Hỷ—A Nan là con vua Hộc Phạn (em trai của vua Tịnh Phạn). A Nan là em ruột của Đề Bà Đạt Đa. Ông được chọn trùng tụng về Kinh điển trong lần Đại hội kết tập kinh điển đầu tiên (4 tháng sau ngày Phật nhập diệt). Người ta nói chính ngài A Nan đã đọc thuộc lòng những bài thuyết pháp của Đức Phật mà về sau được ghi lại thành Kinh Tạng. Ngài là vị Tổ thứ hai sau Đại Ca Diếp. Người ta nói ngài A Nan chứng đạo sau khi Phật đã nhập diệt và ông sống đến 120 tuổi. Phật thọ ký cho ngài sau nầy thành Phật hiệu là Sơn Hải Tự Tại Thông Vương Phật— Ananda was the son of Dronodana-raja (a younger brother of King Suddhodana). Ananda was a younger brother of Devadatta. In the second year of the Buddha’s ministry, Ananda entered the Sangha together with the other Sakya Nobles (Anuruddha, Devadatta, Bhaddiya, Bhagu, and Kimbala). When the Buddha was fifty-five years old, Venerable Ananda became his chief attendant (he was personal attendant to the Lord Buddha for more than twenty years).

A Nan Đà Bạt Đà: Ananda-bhadra(skt)— Another name for Ananda—A Nan Đà Hiền Giả, tên khác của ngài A Nan.

A Nan Đà Bổ La: Anandapura (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, A Nan Đà Bổ La nằm về hướng đông bắc của Gujerat (bây giờ là Barnagar), gần Kurree, một trong những cứ địa hùng mạnh của phái Jain (ngoại đạo)—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Budhist Terms, Anandapura was a place, northeast of Gujerat (presently Barnagar), near Kurree, which was one of the strongholds of the Jain sect (externalists).

A Nan Đà Dạ Xoa: Bạch Xỉ Dạ Xoa hay Dạ Xoa răng trắng—A yaksa, called White Teeth. A Nan Đà Kinh: Ananda-sutta (p)—Sutra to Ananda on Mindfulness Breathing.

A Nan Đà Mục Khư Ni Ha Li Đà La Ni Kinh: Ananta-mukha-nirhara-dharani-sutra (skt)—Tên của một bộ kinh trong đại tạng Trung Hoa—Name of a sutra in Chinese Pitaka.

A Nan Ta Già: Anandasagara (skt)—Name of a monk—Tên của một vị Tăng. A Nậu Đa La: Vô Thượng Sư—Bậc thầy cao tuyệt—Peerless master—Supreme master—

Unsurpassed master.

A Nâu Đạt: Anavatapta (skt)—See A Nâu Đạt Long Vương.

A Nâu Đạt Long Vương: Anavadatta-nagaraja (skt)—Anavatapta-nagaraja (skt)—Vô Nhiệt Não Long Vương—Vị vua rồng không có não nhiệt— Heatless and Without Rage Dragon king. A Nậu: Anu-raja (skt)—Dusts—Motes of dust— See Vi Trần.

A Nậu Bồ Đề: Anuttara-Samyak-Sambodhi (skt)—See A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. A Nậu Đa La: Anuttara (p)—Vô Thượng Sĩ— Unsurpassed One.

A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề: AnuttaraSamyak-Sambodhi (skt)—Giác ngộ chánh đẳng chánh giác—Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh giác, trạng thái chứng ngộ của chư Phật—Complete enlightenment—Supreme—Perfect wisdom—The truth—The state of truth—A state of enlightenment reserved only for Buddhas— Supreme correct enlightenment—Unsurpassed Perfectly Enlightened One.

A Nậu Đạt: See A Nâu Đạt Long Vương. A Nậu Đạt Trì: Anatattha (skt)—Manasarovara or Manasa-saro-vara (skt)—See Vô Nhiệt Trì. A Nậu La Đà Bổ La: Anuradhapura (skt)—Kinh đô cổ của nước Tích Lan, nằm về bắc đảo. Vùng nầy là thủ phủ của Tích Lan và là khởi điểm truyền bá của Phật giáo từ khi mới truyền vào cho mãi đến cuối thế kỷ thứ X—A northern city and the old capital of Ceylon, at which tradition says Buddhism was introduced into the island until the end of the tenth century.

A Nậu Lâu Đà: Aniruddha (skt)—Anuruddha (skt)—1) Vô Diệt, vô chỉ tức: No cessation, unceasing; 2) Tên của một vị Tăng nổi tiếng, em họ của Phật Thích Ca và cũng là một trong thập đại đệ tử của Ngài: Name of a famous monk, a cousin of Sakyamuni and one of the Buddha’s ten great disciples—See Thập Đại Đệ Tử.

A Nê Lâu Đậu: See A Nậu Lâu Đà.

A Nê Lô Đậu: See A Nậu Lâu Đà.

A Nhã Câu Lân: See A Nhã Kiều Trần Như. A Nhã Kiều Trần Như: Ashavajit (skt)—Tên của một trong năm đệ tử Phật nổi tiếng là Liễu Pháp (Ajnata-Kaundinya), là thái tử của xứ Ma Kiệt Đà, và là cậu của Phật Thích Ca Mâu Ni. Người đã từng cùng tu khổ hạnh với Thái tử Sĩ Đạt Đa trước khi Ngài thành Phật. Ông là người nghe được bài pháp đầu tiên của Đức Phật tại Vườn Lộc Uyển mà đắc được “Pháp Nhãn.” Và ông cũng tái sanh thành Phật dưới tên Samanta-Prabhasa—A famous disciple named Ajnata-Kaundinya, one of the first five disciples of the Buddha, who heard the Buddha’s first sermon at the Deer Park to attain “Dharma-eye.” He was a prince of Magadha, a maternal uncle of Sakyamuni. Ashavajit, one who used to practice asceticism with Prince Siddhartha before he became Buddha. He is to be reborn as Buddha under the name of

Samanta-Prabhasa—See Năm Đệ Tử Đầu Tiên Của Đức Phật.

A Nhĩ Ni: See Hỏa Thần. A Noa: Anu-raja (skt)—Dusts—Motes of dust—A Nậu—See Vi Trần.

A Phạ Lư Tích Đế Thấp Phạt La: See Quán Thế Âm.

A Phạt La Thế La: Avarasailah (skt)—Trường phái Đường Tháp của những người bên Tây Sơn Tự ở nước Đà Na Yết Kiệt Ca (vùng phía nam Ấn

Độ). Đây là một nhánh của trường phái Tiểu Thừa Nguyên Thủy—The school of the dwellers in the Western mountains in Dhankataka (south of India); it was a subdivision of Mahasanghika. A Phù Đà Đạt Ma: Supernatural phenomenon— See A Tỳ Đạt Ma.

A Phù Đà Địa Ngục: Arbuda (skt)—Nơi tội nhân luôn bị bỏng giộp vì lạnh—Where the cold causes blisters.

A Phù Đạt Ma Kinh: Adbhutadharma (skt)—A

Phù Đạt Ma—Kinh Vị Tằng Hữu Pháp— Collection of the description of marvellous phenomena—Rare and wonderful dharmas. A Phù Địa Ngục: Arbuda (skt)—Át Bộ Đàm— Groaning hell—Địa ngục nơi chúng sanh luôn than khóc—Hell where beings always utter deep sounds expressing pain.

A Phược La Ha Khư: Avarahakha (skt)—Một loại chú kết hợp sức mạnh của đất, nước, lửa, gió, và hư không—A spell uniting of the powers respectively of earth, water, fire, air, and space.

A Sa Ca Na Sơn: Asvakarna (skt)—Mã Nhĩ

Sơn—Tiếng Phạn âm là Ngạch Thấp Phược Yết Nô, tức núi Cửu Sơn, dáng núi hình như tai ngựa, một trong bảy vòng núi bao quanh núi Tu-Di— One of the seven concentric rings around Mount Meru.

A Sa Đà: Asadha (skt).

  1. Tháng tư của Ấn Độ, khoảng tháng sáu và tháng bảy: The fourth month of India, part of June and July—See Thập Nhị Nguyệt.
  2. Chòm sao của Ấn Độ gồm sao “Ky” và sao “Đẩu.”—Asadha, an Indian constellation in Sagittarius—See Twenty-eight constellations.
  3. Tên của một vị Tỳ Kheo Ấn Độ. Người ta nói ông A Sa Đà được độ bởi một vị Tỳ Kheo Ni—Name of an Indian monk. It is said he was converted by a nun. A Sa La: Asaru or Asara (skt)—Cây thầu dầu— The castor-oil plant.

A Sa Ma Bổ Đa: Asamapta (skt)—Không dứt— Incomplete—Unended.

A Sa Ma Sa Ma: Asamasama (skt)—Một trong những danh hiệu của Đức Phật, được định nghĩa là “Vô Đẳng Đẳng”—One of the titles of a Buddha; it is defined as “Unequalled Rank.”

A Sa Phả Na Già: Asvasa-apanaka (skt)—Quán sổ tức—Contemplation by counting the breathings—See Quán Sổ Tức. A Sa Phạ: Asava (skt)—Ba phần thống nhiếp tất cả chân ngôn của Thai tạng Giới: Chữ “A” của Mật giáo là Như Lai. Chữ “Sa” là Liên Hoa bộ. Chữ “Phạ” là Kim Cang Bộ—A formula covering the three sections of the Garbhadhatu: “A” means the Tathagata section. “Sa” means the Lotus section. And “Va” means the Diamond section. A Sai Mạt: Aksayamati (skt)—Bất Thối Chuyển: Unceasing devotion, with an unfailing mind—Tên của một vị Bồ Tát: Name of a Bodhisattva. A Súc: Aksobhya (skt)—A Súc Tỳ—A Súc Bà.

  1. Một trong năm vị Phật, ngài trụ tại cõi nước A Tỷ La Đề hay Thiện Khoái Quốc ở phương đông. Trong Kinh Pháp Hoa, ngài là Bồ Tát Trí Tích, con trai của Đại Thông Trí Thắng trước khi thành Phật—One of the five Buddhas, hia realm Abhirata, Delightful, now being in the east. He represented in the Lotus Sutra as the eldest son of Mahabhijnabhibhu, and was the Jnanakara Bodhisattva before he became Buddha.
  2. Bản chất của Ngài gồm: Bất Động, Vô Động, và Vô Nộ—His natures include Unmoved, Imperturbable, and Free from anger. A Súc Bà Phật: See A Súc Bệ Phật.

A Súc Bất Động Như Lai: See A Súc Bệ Phật.

A Súc Bệ Phật: Aksobhya-Buddha (skt)—

Akkhobha-buddha (p)—Bất Động Tôn Như Lai—

Đông Phương A Sấm Phật—Vô Nộ Phật— Aksobya Buddha in the East—Immovable Buddha—Imperturbable Buddha—Đức A Súc Bệ

Phật của thế giới Diệu Hỷ, ngự trị nơi Đông Độ. Ngài là một trong năm vị Phật Thiền Định hay Siêu Việt. Ngài luôn tỉnh lặng, thanh khiết và vô tham dục. Trong Phật giáo, thiên đường không nhằm chỉ một địa danh, mà là một trạng thái của tâm thức. Ngày vía Đức A Súc Bệ Phật là ngày mồng bốn trong tháng—The Imperturbed (Unperturbed or motionless) Buddha who is always calm, serene and absence of passion. In Buddhism, paradise is not understood as a location but rather as a state of consciousness. Day dedicated to His manifestation (to a Buddha’s vital spirit) is the fourth day of the month.

A Súc Phật Quốc Kinh: Aksobhya-tathagatasyavyuha-sutra (skt)—Sutra on Aksobhya-Buddha land—Sutra on Imperturbable Buddha realm.

A Sư: Tiếng dùng để gọi một vị Tăng—Monk.

A Tăng: Asanga (skt)—See Vô Trước.

A Tăng Già: Asanga (skt)—See Vô Trước.

A Tăng Khư: Asanga (skt)—See Vô Trước. A Tăng Kỳ: Asankhya (skt)—Vô lượng—Vô số kể—Có 47 con số “không” theo sau số “một” làm

thành một A Tăng Kỳ—Innumerable— Countless—There are 47 number “zero” after number “1” to make one asankhya. A Tăng Kỳ Kiếp: Vô lượng kiếp—Asankhyeya kalpas (skt)—Countless eons. A Tăng Kỳ Sinh:Asamkheya (skt)—Countless— Exceedingly numerous—Innumerable.

A Tha Bà Phệ Đà: Atharvaveda or Atharvana (skt)—A Đạt Ba Tỳ Đà—A Thát Ba Đà—Kinh Vệ Đà thứ tư. Kinh nầy nói về thuật chú loại bỏ tai ương (đây là giáo điển của Bà La Môn ghi chép chú văn của việc tế tự và phép cầu đảo để tránh ác quỷ hay tai họa)—The fourth Veda, dealing with sorcery or magic.

A Thát Bà Phệ Đà: Atharvaveda or Atharvana (skt)—A Đạt Ba Tỳ Đà—A Thát Ba Đà—See A Tha Bà Phệ Đà.

A Thát Bà Phệ Đà Kinh: See A Tha Bà Phệ Đà. A Thấp Bà: Asva (skt)—Con ngựa—A horse.

A Thấp Bà Củ Sa: Asvaghosa (skt)—Asvaghosa Bodhisattva—See Mã Minh Bồ Tát.

A Thấp Bà Mê Đà: Asvamedha (skt)—Tục lệ tế ngựa cổ truyền của Hoàng Gia Ấn Độ—The ancient Indian royal horse-sacrifice.

A Thấp Bà Thị Đa: Asvajit (skt)—A Thấp Phạ Phạt Đa—A Thấp Bà Thị—Chánh Ngữ Mã Sư— Mã Thắng—See A Thuyết Thị. A Thấp Ma: Asman (skt)—Hòn sỏi, cục đá—A stone—A rock.

A Thấp Ma Yết Bà: Asmagarbha (skt)—Ngọc Bích: Emerald—Mã Não: Agate. A Thấp Phạ Du Nhã: Asvayuja (skt)—See Thập Nhị Nguyệt (7).

A Thấp Phạ Phạt Đa: Asvajit (skt)—A Thấp Bà Thị Đa—A Thuyết Thị—A Thấp Bà Thị—Đoạt được ngựa trong cuộc tranh tài—Gaining horses by conquest.

A Thấp Phược Thị: Asvajit (skt)—See A Thuyết Thị.

A Thâu Kha: Em trai vua A Dục. Người ta nói Ma Thâu Kha lên ngôi được bảy ngày thì nhường ngôi cho vua A Dục—Younger brother of Asoka. He is said to have reigned for seven days and then resigned to Asoka.

A Thế Da: Asaya (skt)—Ý lạc: Pleased to (desire to, pleasure)—Chủng tử: Seed. A Thi La Bà Na: Sravana (skt)—See Thập Nhị

Nguyệt (5).

A Thỉ Tống Niệu: Đại tiện và tiểu tiện—To go to stool and to urinate.

A Thị Đa: Ajita (skt)—Name of Maitreya or a future Buddha—Không bị chế ngự—Không bị khuất phục—Tên của Phật Di Lặc hay của một vị Phật tương lai.

A Thị Đa Phạt Để: Ajiravati (skt)—A Li Da Bạt Đề—See A Thị Đa Phiệt Để.

A Thị Đa Phiệt Để: Ajitavati (skt)—Còn gọi là A Li Da Bạt Đề—A Thị Da Phạt Để—A Chi La Bà Đề—Tên sông A Li La Bạt Đề (thời Đường gọi sông nầy là Vô Thắng), chảy ngang qua thành Câu Thi Na. Chính tại bờ Tây con sông này, trong rừng Ta La Song Thọ, Đức Thế Tôn đã nhập diệt—The river Hiranyavati which runs through Kusinagara. It was on the western bank of this river in “Sala Forest” where the Buddha entered into Nirvana.

A Thuận Na: Arjuna (skt).

  1. Màu trắng bạc: White—Silvery.
  2. Một loại cây: A kind of tree—Arjuna—Một loại cây quý bên Ấn Độ. Ngài Long Thọ đản sanh dưới cội cây nầy nên mang tên Nagarjuna—A noble tree in India. Nagarjuna obtained this name because he was born under the foot of this tree.

A Thúc Ca: Vô Ưu Tử Phương Ưng—Tên của một vị vua Ấn Độ lên ngôi năm 273 trước tây lịch, xuất gia năm 261 trước tây lịch và thọ giới Tỳ

Kheo năm 259—Name of an Indian king who enthroned in 273 B.C., renounced the world (left the secular life) in 261 and received Bhiksu full precepts in 259 B.C.

A Thuyết La Bộ: Aisvarikas (skt)—Một trường phái thờ Thần ở Népal, đặt A Đề Phật lên hàng Tối Thánh—A theistic school of Nepal, which set up Adi-Buddha as a supreme divinity.

A Thuyết Tha: Asvattha (skt)—A Thấp Ba Tha— A Xá Ba Đà—A Thâu Tha—1) Cây Bồ Đề:

Bodhi-tree; 2) Vô Tội Thụ, gọi là cây vô tội vì bất cứ ai đi quanh nó ba vòng sẽ hoàn toàn rũ bỏ mọi tội lỗi: No-sin tree, because whoever goes around it three times is rid of sin.

A Thuyết Thị: Asvajit (skt)—A Thấp Phạ Phạt Đa—A Thấp Bà Thị Đa—A Thấp Bà Thị—Chánh Ngữ Mã Sư—Mã Thắng—Còn gọi là Mã Sư, âm tiếng Phạn là Ngạch Tỳ, ngài Mã Thắng có phong thái đoan chính uy nghi, như người thầy hướng dẫn cho mọi người. Ngài Xá Lợi Phất lúc bị mất thầy dạy đang đi thất thểu ngoài đường thì gặp được ông Mã Thắng với vẻ uy nghi, bèn đến gần hỏi đạo. Một lần khi Tăng đoàn đang đi vào thành khất thực, một vị trưởng lão nhìn thấy ngài Mã Thắng, liền sanh lòng hoan hỷ, bèn phát tâm dựng 60 phòng ở cho Tăng đoàn. Bồ Tát Mã Thắng là thầy của ngài Xá Lợi Phất, cũng là một trong năm vị Tỳ Kheo đệ tử đầu tiên và có cùng huyết tộc với Đức Phật—Horse-breaker or Horse-master, name of several persons. Name of one of the first five disciples and relative of Sakyamuni; teacher of Sariputra—See Năm Đệ Tử Đầu Tiên Của Đức Phật.

A Tra Bà Câu: Atavika (skt)—Vô Tỷ Lực—Lực không thể so sánh được—Incomparable power. A Tra Phạ Ca: See A Tra Bà Câu.

A Trí La Phạt Để:Aciravati (p)—A-Di-La-BàĐề—Tên của một trong năm con sông lớn tại Ấn Độ—Name of one of the five big rivers in India.

A Tu La: Asura (skt & p)—A Tu Luân—A Tô La—A Tố La—Asuras—The realm of demigods—War gods—Á thần A Tu La, người hay nổi cơn giận và bản tính thích đánh lộn. Chữ A Tu La có nghĩa là xấu xí, không thánh thiện. Đây là một trong sáu nẻo luân hồi của chúng sanh, những nẻo khác là chư thiên, nhân, súc sanh, ngạ quỷ, và địa ngục—An inverterately angry person, subject to frequent outburst of anger. A devil (unruly being) who is fond of (love to) fighting by nature. The word “Asura” means “ugly” or “ungodly.” This is one of the six destinies (gati) of sentient beings, the others being gods, humans, animals, hungry ghosts, and hell beings. A Tu La Đạo: Asura-gati (skt)—Asura path.

A Tu La Giới: Asura-loka (skt)—Cõi A-Tu-La— Titanic Demons—The realm of Asura—See A Tu

La.

A-Tu-La Pháp Giới: Pháp giới của loài A-tu-la— The Dharma Realm of Asuras.

A Tu La Ứng Thân: The body of Asuras—Theo Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Sáu, Đức Quán Thế Âm Bồ Tát đã bạch trước Phật về việc ứng thân làm A Tu La nói pháp, khiến cho chúng sanh được thành tựu—According to The Surangama Sutra, book Six, Avalokitesvara Bodhisattva vowed in front of the Buddha about his appearance as an asura before sentient beings and speak Dharma for them, enabling them to accomplish their wish—See Tam Thập Nhị Ứng

Thân.

A Tu La Vương: King of titans (Kinh Hoa Nghiêm—Phẩm 1)—Các A-Tu-La vương nầy đều đã siêng năng xô dẹp ngã mạn và những phiền não—They had all worked energetically to conquer pride and other afflictions. A Tu Vân: Asvin (skt)— Thần Hải Lộ: Sea-route spirit—Thần Y Dược: Medicine spirit. A Túc Tra: Arista(skt)—Arittha (p)—Tên của một trong một trăm vị độc giác Phật đã trú ngụ một thời gian dài trên núi Isigili—Name of one of one hundred pratyeka-buddhas who stayed a long time in Mount Isigili.

A Tư Đà: Asita (skt)—Một ẩn sĩ thông thái trong thành Ca Tỳ La Vệ, bây giờ thuộc Nepal. Khi Thái tử Sĩ Đạt Đa đản sanh, vua Tịnh Phạn đã cho mời ông đến xem tướng Thái tử. A Tư Đà nhận biết 32 tướng tốt nơi một bậc vĩ nhân của Thái tử, tiên đoán rằng Thái tử Sĩ Đạt Đa sẽ trở thành một vị Chuyển Luân Thánh Vương trong cõi thế vào tuổi 29, nhưng nếu xuất thế Ngài sẽ đạt được trí tuệ tối thượng và sẽ thành Phật—Asita, a hermit sage, or the seer, of Kapilavastu, modern Nepal. When Prince Siddhartha was born, King Shuddhodana asked Asita to come and examine the newborn child’s physiognomy. Asita, perceiving the thirty-two features of a great man, foretold that if the boy remained in the secular world, he would become a wheel-turning

(supreme) king by the age of twenty nine, but if he renounced the secular life, which was more probable, he would achieve supreme wisdom and attain Buddhahood.

A Tư Đà Đạo Sĩ: Asita (skt)—See A Tư Đà.

A Tư Tiên: Asita-rsi (skt)—A Tư Đà—A Thị Đa.

A Tỳ: Avici (skt)—See A Tỳ Địa Ngục.

A Tỳ Bạt Trí: See A Bệ Bạt Trí. A Tỳ Du Già Atiyoga (skt)—A Để Du Già—Đại Thành Tựu Pháp—Great accomplishment dharma. A Tỳ Đại Thành: Địa ngục có nhiều tường vách cao, một khi đã bị đọa vào không thể thoát ra được—The avici hell with high walls, out of which there is no escape.

A Tỳ Đàm: Abhidharma (skt)—Tạng thứ ba trong ba tạng kinh điển Phật giáo (Tam Tạng Kinh Điển), hay là Luận Tạng của trường phái Nguyên Thủy, hai tạng kia là luật tạng gồm những giới luật Phật chế ra cho tín đồ, và kinh tạng gồm những bài thuyết pháp, bài giảng hay các cuộc đối thoại của Phật. Đây là những lời luận giải về kinh điển, hay những bài thuyết giảng của Đức Phật. A Tỳ Đàm nói về triết lý và tâm lý, A Tỳ Đàm chứa đựng toàn bộ hệ thống luyện tâm, gồm những minh giải có tính chất siêu hình và trừu tượng cao độ về giáo lý Phật giáo. A Tỳ Đạt Ma được dịch sang tiếng Trung Hoa như là Đại Pháp hay Vô Tỷ Pháp (Vô Đối Pháp). Tuy nhiên, trong những tác phẩm Phật giáo Đại Thừa về sau này, người ta thường gán cho từ “A Tỳ Đạt Ma” là giáo thuyết Tiểu Thừa. Kỳ thật, đây chính là những lời giảng và phân tích về các hiện tượng tâm thần và tâm linh chứa đựng trong những thời thuyết pháp của

Phật và các đệ tử của Ngài—The third of the three baskets or Tripitaka, of Buddhist literature of the Theravadan School, the other two being the Vinaya, that is, the precepts or moral rules given by the Buddhs to his followers; and the sutras, which consists of the collection of the Buddha’s sermons, and dialogues. It contains commentaries on the sutra-pitake, or the sermons of the Buddha. Philosophically and psychologically speaking, it contains an entire system of mind training. Abhidharma was translated into Chinese as Great Dharma, or Incomparable Dharma. However, in many later Mahayana works, the term

“Abhidharma” is always referring to Hinayana teachings. As a matter of fact, Abhidharma consists of books of psychological analysis and synthesis. Earliest compilation of Buddhist philosophy and psychology, concerning psychological and spiritual phenomena contained in the discourses of the Buddha and his principal disciples are presented in a systematic order. A Tỳ Đàm Cam Lộ Vị Luận: See A Tỳ Đạt Ma Cam Lộ Vị Luận.

A Tỳ Đàm Luận Sư: See Luận Sư. A Tỳ Đàm Ngũ Pháp Hành Kinh: See A Tỳ Đạt Ma Ngũ Pháp Hành Kinh.

A Tỳ Đạt Ma: Abhidhamma (p)—Vi Diệu Pháp— Analytic doctrine of the Buddhist canon—See A Tỳ Đàm.

A Tỳ Đạt Ma Bát Kiền Độ Luận: Abhidharma stagrantha (skt)—Được ngài Ca Chiên Diên biên soạn—Written by Katyayana. A Tỳ Đạt Ma Cam Lộ Vị Luận: Abhidharma mrta-sastra (skt)—Name of a work of commentary written by Srighosaka—Tên của một bộ luận được ngài Cù Sa biên soạn.

A Tỳ Đạt Ma Cam Lộ Vị Sinh Luận:

Abhidharma mrtara-sastra (skt).

A Tỳ Đạt Ma Câu Xá: Abhidharma-Kosa (skt)— A-Pi-Ta-Mo-Ku-She-Lun—A Tỳ Đạt Ma Câu Xá (Tổng Minh Luận)—Abhidharma Storehouse Treatise or treasury of Abhidharma—Discourse on the repository of Abhi-dharma discussions. A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Hiển Tông Luận: Abhidharma-Kosa-samaya-pradipika-sastra (skt)—Do Ngài Chúng Hiền biên soạn. A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận: Abhidharma-kosasastra (skt)—Treasure Chamber of the

Abhidharma—See Câu Xá Luận.

A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận Bản Tụng: Abhidharma-kosa-karika (skt)—Name of a work of commentary.

A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận Chủ Yếu Nghĩa

Đăng: Abhidharma-kosa-marmapradipa (skt)—

Được viết bởi ngài Trần Na vào giữa thế kỷ thứ VI—Written by Dignaga in the middle of the sixth century.

A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận Thích: AbhidharmaKosa-bhasya (skt).

A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận Thực Nghĩa Sớ: Abhidharma-kosa-bhasyatika-tattva-rthanama (skt)—Được viết bởi ngài An Huệ—Written by Sthiramati—See An Huệ Bồ Tát.

A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận Tổng Minh Luận:

Abhidharma-Kosa-sastra (skt)—Kusha-ron (jap)— Treasure chamber of of the Abhidharma—Từ

Phạn ngữ có nghĩa là “Tạng Vi Diệu Pháp,” một trong những tác phẩm Phật giáo quan trọng, được Ngài Thế Thân viết trước khi Ngài chuyển qua Đại Thừa. Kho báu A Tỳ Đạt Ma, phản ảnh việc chuyển từ Tiểu Thừa (Hinayana) sang Đại Thừa (Mahayana). Ngài Thế Thân soạn bộ luận này tại

Kashmir vào khoảng thế kỷ thứ 5 sau Tây lịch— Abhidharma Storehouse Treatise or treasury of Abhidharma. A Sanskrit term for “Treasury of Higher Doctrine,” one of the most important works of Buddhist scholasticism prior to his conversion to Mahayana. Treasure chamber of the Abhidharma which reflects the transition from the Hinayana to the Mahayana, composed by Vasubandhu in

Kashmir in the fifth century A.D. A Tỳ Đạt Ma Cúng Sự Tỳ Bà Sa: Abhidharmaprakarana-pada-vibha-sastra (skt). A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận: Abhidharma mahavibhasa-sastra (skt)—A-Pi-Ta-Mo-Ta-Pi-PoSha-Lun—Bà Sa Luận—Đại Tỳ Bà Sa Luận, được viết bởi Parsva, được dịch ra Hán văn thành 200 quyển—Parsva’s Great Commentary (Mahavibhasa), translated into Chinese with 200

volumes.

A Tỳ Đạt Ma Đối Pháp Luận: Abhidharmasamuccaya-vyakhya (skt).

A Tỳ Đạt Ma Giáo Nghĩa Cương Yếu: Abhidhammattha-samgaha (skt)—Collection of the Significance of Abhidharma— An

Encyclopedia of the Abhidhamma—A Tỳ Đạt Ma Thắng Pháp Tập Yếu Luận—Một trong những bộ luận quan trọng nhất trong ngôn ngữ Nam Phạn, do một luận sư người Tích Lan tên A Nậu Lâu Đà soạn vào khoảng năm 1100 sau Tây Lịch, giới thiệu tổng quát giáo nghĩa của phái A Tỳ Đàm— One of the most important commentaries in Pali language, composed by Anuruddha, a native of Ceylon, in about 1100 AD, introduced an overview of Abhidhamma.

A Tỳ Đạt Ma Giới Thân Túc Luận: Abhidharmadhatukayapada sastra (skt)—Book of elements— Tương đương với bộ A Tỳ Đạt Ma Giới Thuyết Luận của trường phái nguyên thủy, do ngài Thế Hữu biên soạn—Saravastivada’s Abhidharma which is corresponding to Abhidharmadhathukatha of Theravada school, written by Vasumitra.

A Tỳ Đạt Ma Giới Thuyết Luận: Abhidhammathukatha (p)—Abhidhamma book of elements— Một trong bảy bộ A Tỳ Đàm của Phật giáo nguyên thủy được ngài Thế Hữu viết bằng tiếng Nam Phạn—One of seven Abhidhamma books of Theravada school written in Pali language by Vasumitra.

A Tỳ Đạt Ma Hiển Tông Luận: Abhidharmakosa-samaya-pradipika-sastra (skt)—Do Ngài Chúng Hiền biên soạn—See A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận.

A Tỳ Đạt Ma Kinh: Abhidharma sutra.

A Tỳ Đạt Ma Luận Tạng: Abhidharma-pitaka(skt)—Abhidhamma-Pitaka (p)—See Luận Tạng A Tỳ Đạt Ma.

A Tỳ Đạt Ma Ngũ Pháp Hành Kinh: Abhidharma-paca-dharma-carita-sutra sastra

(skt)—Tên của một bộ luận viết về giáo lý của

Nhất Thiết Hữu Bộ—Name of a work of commentary written on the Sarvastivada’s doctrine.

A Tỳ Đạt Ma Nhân Thi Thiết Luận: Abhidhamma-puggala-pannati (p)—Abhidhammapuggalapaati (p)—Book of individuals—Một trong bảy bộ luận của phái Thượng Tọa Bộ được viết bằng tiếng Nam Phạn—Book of Persons, one of the seven sastra books of the Theravadin, written in Pali.

A Tỳ Đạt Ma Pháp Tụ Luận: Abhidharmadharmasangani(p)—Book of Elements of existence—Một trong bảy bộ luận của phái Thượng Tọa Bộ được viết bằng tiếng Nam Phạn— One of the seven sastra books of the Theravadin, written in Pali.

A Tỳ Đạt Ma Pháp Uẩn Túc Luận: Abhidharma

Dharma Skandha Pada (skt)—Book of things—

Một trong bảy bộ luận của Nhất Thiết Hữu Bộ, do Ngài Đại Mục Kiền Liên biên soạn—One of the seven books of the Sarvastivada’s Abhidharma, composed by Maha-maudgalyayana—See Thất

Luận.

A Tỳ Đạt Ma Phát Thú Luận: Abhidhammapatthana (p)—Book of causality—Một trong bảy bộ luận của phái Thượng Tọa Bộ được viết bằng tiếng Nam Phạn—One of the seven sastra books of the Theravadin, written in Pali.

A Tỳ Đạt Ma Phát Trí Luận: Abhidharmanyanyanusara-sastra (skt)—Abhidhammanyayanusara-shastra (p)—Book of beginning of knowledge—Do Ngài Chúng Hiền (Tăng Già Bạt Đà La) biên soạn—Book of starting point of knowledge, composed by Shanghabhadra. A Tỳ Đạt Ma Phát Trí Luận: Abhidharma-jnanaprasthana-sastra (skt)—Book of Starting Point of Knowledge—Bộ luận A Tỳ Đạt Ma Phát Trí được ngài Chúng Hiền (Tăng Già Bạt Đà La) biên soạn vào khoảng thế kỷ thứ nhất sau Tây Lịch. Có thuyết nói được Tỳ kheo Ấn Độ Cà Đa Diễn Ni Tử soạn vào khoảng năm 300 sau khi Phật nhập diệt. Bộ luận được ngài Huyền Trang dịch sang Hoa ngữ vào khoảng những năm 656 và 659—Book of the Beginning of knowledge, written by Shanghabhadra in the first century A.D. Other sources said it was composed in about 300 years after the Buddha passed away by an Indian monk named Katyayanitra. The sastra was translated into Chinese by Hsuan-Tsang around 656 and 659. A Tỳ Đạt Ma Phẩm Loại Túc Luận: Abhidharma Prikarana Pada (skt)—Book of Literature Treatise, one of the seven books of the Sarvastivada’s Abhidharma, composed by Vasumitra—Do Ngài Thế Hữu biên soạn, một trong bảy bộ luận của phái Nhất Thiết Hữu Bộ.

A Tỳ Đạt Ma Phân Biệt Luận: Abhidhammavibhanga (p)—Một trong bảy bộ luận của phái Thượng Tọa Bộ được viết bằng tiếng Nam Phạn— Book of Classifications, one of the seven sastra books of the Theravadin, written in Pali.

A Tỳ Đạt Ma Song Đối Luận: Abhidhammayamaka (p)—Book of pairs—Một trong bảy bộ luận của phái Thượng Tọa Bộ được viết bằng tiếng Nam Phạn—One of the seven sastra books of the Theravadin, written in Pali. A Tỳ Đạt Ma Tạng: Abhidharma-pitaka (skt)—Vi Diệu Pháp—Hinayana Abhidharma.

A Tỳ Đạt Ma Tạng Hiển Tông Luận: Abhidharma-samya-pradipika-sastra (skt)—Tên của một bộ luận do ngài Chúng Hiền biên soạn—

Name of a work of commentary written by Sanghabhadra.

A Tỳ Đạt Ma Tạp Tập Luận: Abhidharmasamgiti-Sastra (skt)—Composed by Sariputra—Do

Ngài Xá Lợi Phất biên soạn.

A Tỳ Đạt Ma Tâm Luận: Abhidharma-hrdayasastra (skt)—Heart of the Higher Dharmas, written by Dharmasri—A Tỳ Đạt Ma Tâm Luận được viết trước hay sau cuộc kết tập kinh điển của vua Ca Sắc Nị Ca, bởi Pháp Thượng (Pháp Thắng), một cao Tăng thuộc chi phái ở Kiện Đà La. Tác phẩm nầy được dịch sang Hán văn vào năm 391 sau Tây Lịch. Một bản chú giải về tác phẩm nầy là Tạp A Tỳ Đàm Tâm Luận, do Pháp Cứu, một đồ đệ của Pháp Thượng soạn thảo. Tác phẩm nầy trở thành bản văn căn bản của chi phái Kiện Đà La và sau cùng là của phái A Tỳ Đàm Trung Hoa—The Heart of the Higher Dharma was written by Dharmamottara, either before or after the Buddhist Council of King Kaniska’s reign, by Dharmamottara, a noted monk, belonged to the Gandhara branch. It was translated into Chinese in 391 A.D. A commentary on it called Samyuktaabhidharma-hrdaya was written by Dharmatrata, a pupil of Dharmamottara. This work became the fundamental text of the Gandhara branch and subsequently of the Chinese Abhidharma School. A Tỳ Đạt Ma Tâm Luận Sớ: Abhidharmahrdaya-sastra-sutra(skt)—Sớ giải thích về A Tỳ Đạt Ma Tâm Luận, được viết bởi ngài Ưu Ba Phiên Đà—Explanation of the Heart of the Higher Dharmas, written by Upasanta.

A Tỳ Đạt Ma Tập Dị Môn Túc Luận:

Abhidharma-sangiti-paryaya-pada-sastra (skt)— Book of Recitations—See A Tỳ Đạt Ma Thập Nhị Môn Túc Luận.

A Tỳ Đạt Ma Tập Luận: Abhidharma-samuccaya (skt)—Phạn ngữ có nghĩa là “Bản trích yếu Vi Diệu Pháp.” Đây là bản luận bằng Phạn ngữ quan trọng được viết bởi Ngài Vô Trước, cố gắng dựng bộ Vi Diệu Pháp cho Phật giáo Đại Thừa. Bản trích yếu này tập trung vào những đặc tính của chư Pháp, đồng thời cũng nhấn mạnh đến tánh không và tự tánh—A Sanskrit term for “Compendium of Higher Doctrine.” This is an important Sanskrit scholastic treatise written by Asanga, which attemps to construct a Mahayana Abhidharma. It focuses particularly on the characteristics of Dharmas, the basic constituents of reality, at the same time also emphasizing their emptiness (sunyata) of inherent existence (svabhava).

A Tỳ Đạt Ma Thắng Pháp Tập Yếu Luận: Abhi- dhammattha-samgaha (skt)—An Encyclopedia of the Abhidhamma—See A Tỳ Đạt Ma Giáo Nghĩa Cương Yếu.

A Tỳ Đạt Ma Thập Nhị Môn Túc Luận:

Abhidharma-sangiti-paryaya-pada-sastra (skt)— Book of Recitations—A Tỳ Đạt Ma Tập Dị Môn

Túc Luận, một trong bảy bộ luận của trường phái Nhất Thiết Hữu Bộ—Book of Recitations of the teaching, one of the seven books of the Sarvastivada’s Abhidharma—See Thất Luận.

A Tỳ Đạt Ma Thi Thiết Túc Luận: Abhidharmaprajnaptipada-sastra (skt)—Book of

Descriptions—Một trong bảy bộ luận của phái

Thượng Tọa Bộ được viết bằng tiếng Nam Phạn— One of the seven sastra books of the Theravadin, written in Pali—See Thất Luận.

A Tỳ Đạt Ma Thuận Chánh Lý Luận: Abhidharma-samayapradipika-sastra (skt)—Book on Right methods—Written by Samghabhadra—

Được viết bởi ngài Chúng Hiền (Tăng Già Bạt Đà La).

A Tỳ Đạt Ma Thuyết Sự Luận: Abhidhammakatha-vatthu (p)—Book of Controversies—Một trong bảy bộ luận của phái Thượng Tọa Bộ được viết bằng tiếng Nam Phạn—One of the seven sastra books of the Theravadin, written in Pali— See Thất Luận.

A Tỳ Đạt Ma Thức Thân Túc Luận: Abhidharma Vijnana Kayapada-sastra (skt)—

Book of knowledge—Book of Understanding—

Một trong bảy bộ luận của phái Thượng Tọa Bộ được viết bởi Hiền Tịch (Thiên Tịch) một trăm năm sau ngày Phật nhập Niết Bàn—One of the seven sastra books of the Theravadin, written by Devaksema (Devasarman) one hundred years after the Buddha’s Nirvana—See Thất Luận.

A Tỳ Đạt Ma Tông: Abhidharma Sects—See Câu

Xá Tông.

A Tỳ Đạt Ma Tỳ Ba Sa Luận: A-Pi-Ta-Mo-TaPi-Po-Sha-Lun—Abhidharma vibhasa (skt)—Giải thích cuốn Phát Trí Luận của Cà Đa Diễn Ni Tử và được ngài Huyền Trang dịch sang Hoa ngữ vào khoảng những năm 656 và 659. Người ta tin rằng có lẽ bộ luận này được biên soạn tại Kashmir vào khoảng thế kỷ thứ nhất sau Tây Lịch. Đây là một bộ luận về triết học của trường phái Thuyết Nhứt Thiết Hữu Bộ biện luận chống lại các trường phái đương thời khác—Explained the Abhidharma Jnana Prasthana of Bhikkhu Katyayanitra (a commentary on the Fa-Chih-Lun) and was translated into Chinese by Hsuan-Tsang between 656 and 659. It is believed that this treatise was probably composed in Kashmir around the first century A.D. It is a philosophical treatise of the Kashmir Sarvastivada School which argues against the theories of various other schools at the time—See Thất Luận.

A Tỳ Địa Ngục: Avici (skt)—Avichi (p)—A tỳ (ngục vô gián)—Hells of uninterrupted sufferings—Incessant hells—Địa ngục của khổ đau không ngừng nghỉ, nơi đó tội nhân phải chịu khổ hình đau đớn cũng như chết đi sống lại nhiều lần cho đến khi trả hết nghiệp báo, mới được sanh lên cảnh giới cao hơn—Hell of uninterrupted suffering, in which suffering, death, and painful rebirth are continuous until the retribution for the sufferer’s evil karma is exhausted, at which time that being will be reborn in a higher plane of existence.

A Tỳ Già La: Abhicara (skt)—Tên của một loài ngạ quỷ—Name of a hungry ghost.

A Tỳ Già Lỗ Ca: Abhicaraka (skt)—Lò hình bát giác tượng trưng cho “Hàng Phục Pháp” hay hàng phục ác đảng, một trong năm loại Hộ Ma— Octagonal brazier meaning exorcising the evil, one of the five kinds of braziers—See Ngũ Chủng Hộ Ma.

A Tỳ Hoán Địa Ngục: Địa ngục kêu khóc không ngừng—Hell of inintermitted wailing.

A Tỳ La Hồng Khiếm: Avirahumkham (skt)—A

Ni La Hồng Khiếm—A Vị La Hồng Khiếm—

Chân ngôn của Đức Đại Nhật Như Lai thuộc thai tạng giới—The Shingon “true word” or spell of Vairocana, for subduing all maras, each sound representing one of the five elements, earth, water, fire, wind or air, and space.

  1. A: Địa đại—“A” is for the earth element.
  2. Tỳ: Thủy đại—“Tỳ” is for the water element.
  3. La: Hỏa đại—The fire element.
  4. Hồng: Phong đại—The wind element.
  5. Khiếm: Không đại—The space element. A Tỳ Lỗ Ca: Abhicaraka (skt)—Người kiểm soát ma quỷ—Exorcism—An exorciser—Controller of demons.

A Tỳ Mục Khư: Adhimukti or Abhimukham

(skt)—1) Hiện Tiền: In presence of; 2) Tiến đến gần: Towards, approaching; 3) Hiện Tiền Địa, trụ thứ sáu trong Thập Trụ: The sixth in the ten grounds or stages—See Thập Địa Phật Thừa; 4) A Mục Khư Da Bồ Tát: Abhimukham Bodhisattva.

A Tỳ Tam Phật Đà: Abhisambuddha or Abhisambodha (skt)—Hiện Đẳng Phật—Fully awake—Complete realization—Realizing or manifesting universal enlightenment. A Tỳ Tiêu Nhiệt Địa Ngục: Địa ngục thiêu đốt không ngừng—Hell of intermitted scorching. A Tỵ Đà Kiết (Yết) Thích Nã: Avidhakarna

(skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển của Giáo Sư Soothill, đây là tên của một tự viện cổ gần thành Ba La Nại—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms composed by Professor Soothill, Avidhakarna was the name of an ancient monastery near Benares (near Yodhapatipura). A Va Đà Na: Avadana (skt)—Dùng thí dụ để nói lên nghĩa lý của giáo pháp—Metaphor—Simile— See Thí Dụ.

A Vĩ Xả Pháp: Avisati (p)—Avisi (p)—Vesa

(skt)—Ngoại đạo dùng phép mời thiên thần nhập xác vào một người để trừ ma quỷ—Externalists invite angels to enter into a person to help exorcising (casting out) demons.

A Xa La: Acala (skt)—Bất Động—Immovable— See Bất Động Minh Vương and Thập Địa Phật

Thừa (8).

A Xà Lê: Acarya (skt)—Ajari (jap)—Teacher. A Xà Na Lâm: Anjanavana (skt)—Một khu rừng ở miền trung Ấn Độ, giữa hai xứ Câu Đàm Di và Xá Vệ Quốc—A place in central India between Kosambiand Savatthi.

A Xà Thế: Ajatasatru (skt): Ajatasattu (p)—Vua

A Xà Thế (oán thù ngay từ lúc chưa sanh ra)— Con trai vua Bình Sa Vương và Hoàng hậu Vi Đề Hi. A xà thế có nghĩa là “kẻ thù trước khi sanh ra.”—Ajatasattu, son of King Bimbisara and Queen Vaidehi. Ajatasatru means “Enemy before birth,” or “enemy while still unborn.” A Xà Thế Vi Đề Hy Tử: Vaidehiputra-Ajatasatru (skt)—See A Xà Thế.

A Xả Bà Thệ: Asvajit (skt)—See A Thuyết Thị.

A Xiển Đề: Atyamika (skt)—A Điên Để Ca— Không có cứu cánh để thành Phật—Endless—At the end there is no mind for attaining Buddhahood. A Xiển Đề Ca: See Đại Bi Xiển Đề.

A Xiển Để Ca: Anicchantika (skt)—Vô dục, chỉ sự không tham mong niết bàn—Without desire for nirvana—See Đại Bi Xiển Đề.

A Xoa Ma La: Aksamala (skt)—Chuỗi: A rosary—Biểu tượng của Thập Toàn: A symbol of the ten perfections.

A Yết Đa: Aghanam (skt)—A flash in the east, the lightning god; the term is defind as not solid, liquid.

Á: 1) Câm: Eda (skt)—Dumb; 2) Câm và điếc: Edamuka (skt)—Deaf and dumb, unable to express oneself; 3) Thứ yếu, hạng nhì, phụ:

Inferior; second, secondary.

Á Dương: A dumb sheep.

Á Dương Ngoại Đạo: Một loại ngoại đạo mà giáo đồ của họ tin rằng câm như dê chẳng nói một lời là phép tu thắng hành sẽ đưa họ về thượng giới— A kind of heretic sect, of which followers believe that to be as dumb as a sheep they can go to heaven.

Á Dương Tăng: Một gian đạo sĩ ngu đần như con dê câm, không biết tốt xấu, cũng không biết sám hối tội lỗi—A dumb sheep monk who is stupid and does not know good from bad, nor enough to repent of sin—See Tứ Chủng Tăng. Á Hê Xiết Đát La Quốc: Ahicchatra (skt)—Còn gọi là A Đam Xa Đa La, một kinh đô của vương quốc cổ nằm trong vùng trung Ấn—A citadel of an ancient kingdom in Central India. Á Mộng Thiền: Cảnh giới thiền ngộ chỉ tự mình biết, giống như người câm nằm mộng, không thể nói cho người khác nghe—The realm of Zen realization can only be realized by oneself, similar to that of a dumb who cannot tell his or her dreams.

Á Pháp: Pháp câm điếc, không thể tuyên lưu được—The doctrine of a deaf and dumb person, which he cannot proclaim.

Á Thánh: Bậc Thánh hàng thứ hai—Saint of second degree.

Á Tử Đắc Mộng: See Á Mộng Thiền.

À: Oh!—Trong nhà Thiền dùng để chỉ tiếng “À” khi hốt nhiên đại ngộ—A term used by a Zen practitioner after his sudden enlightenment. Ác: Agha (skt)—Bad—Evil—Mischievous act—

Vice—Wickedness—Wrong—Unwholesome—

Điều bất thiện hay điều ác: Từ thời khởi thủy, tư tưởng phật giáo đã tranh luận rằng những hành động vô luân là kết quả của vô minh, khiến cho chúng sanh tham dự vào các hành động dẫn đến những hậu quả xấu cho họ. Vì vậy điều ác trong Phật giáo chỉ là vấn đề thứ yếu, sẽ bị triệt tiêu khi khắc phục được vô minh. Vì vậy định nghĩa của tội lỗi và xấu ác theo giáo điển: những hành động xấu ác là những hành động đưa đến khổ đau và hậu quả được nhận biết như là nỗi đau đớn cho chúng sanh kinh qua—From the earliest period, Buddhist thought has argued that immoral actions are the result of ignorance (avidya), which prompts beings to engage in actions (karma) that will have negative consequences for them. Thus evil for Buddhism is a second-order problem, which is eliminated when ignorance is overcome. Thus the definition of sin and evil is pragmatic: evil actions are those that result in suffering and whose consequences are perceived as painful for beings who experience them.

Ác Báo: Punishment—Quả báo xấu (Kẻ làm việc ác phải nhận lấy ác báo)—Bad consequence— Recompense for ill—Gieo gió gặt bão—As a man sows, so shall he reap.

Ác Bệ: Asvajit (skt)—See Mã Thắng.

Ác Bình Đẳng: Bình đẳng sai lầm—Wrong equality.

Ác Cảm: Ill-feeling—Aversion—Antipathy— Apathy—Dislike.

Ác Danh: Bad (evil) repute or fame.

Ác Danh Úy: Sợ tiếng xấu hay sợ mình phải mang tiếng xấu—Fear of bad reputation—Fear of sacrificing their reputation.

Ác Dục: Những ham muốn xấu ác—Bad intention—Evil desires.

Ác Duyên: Điều kiện, hoàn cảnh, hay sự việc bên ngoài dụ dỗ hay khiến con người làm điều ác—

Evil conditions—External conditions or circumstances which stir or tempt one to do evil. Ác Đảng: Một băng hay nhóm người chuyên bóc lột kẻ khác để làm lợi dưỡng cho chính mình—A band or group of people which exploits others for their own gains or benefits.

Ác Đạo: Ác thú—Evil destinty—Realms of woe—Evil realms—Evil ways—The states of woe.

Ác Đạo Úy: Sợ mình sa vào ác đạo—Fear of falling into the Evil Realms. Ác Độc: Devil-like—Malicious—Devilish— Malice.

Ác Giả: Kẻ làm ác—Malefactor—Evil doer—Evil person—Wrong doer—Evil doer.

Ác Giả Ác Báo: Gieo gió gặt bão—Do evil, reap evil—Sow the seeds of strife and reap the tempest—Sow the seeds of discord and reap the whirlwind—As man sows, so shall he reap, i.e., law of cause and effect, or relation between cause and effect—See Nhân Quả.

Ác Giác: Những suy nghĩ hay quán tưởng ngược lại với Phật pháp—Contemplation or thought contrary to Buddhist principles. Ác Giới: Giới luật không thanh tịnh: Impure precepts—Cảnh giới ác: Evil realms. Ác Hành: Evil deeds—See Tội Hành.

Ác Hành Nghiệp: Karmic evil—Những hành động xấu ác trong quá khứ sẽ mang đến hậu quả xấu ác trong những kiếp hiện tại và tương lai— Evil acts in the past will bring about their evil effect in the present and future lives.

Ác Hạnh:

  1. Sống theo lối độc ác: Evil livelihood
  2. Tà hạnh trong cuộc sống: Evil conduct—Evil karma—Ác hạnh nơi ý, khẩu hay thân, đưa đến ác báo—Incorrect conduct in thought, word or deed, which leads to evil recompense.

Ác Hiểm: Malicious—Devil-like.

Ác Hữu: Bạn bè xấu ác—Bad or wicked friends. Ác Hữu Tri Thức: Bad advisor—Bad friend—

See Ác Tri Thức.

Ác Kế: Devilish plot.

Ác Khẩu: Pharusavaca (p)—Parusavaca (skt)— Lời nói thô lỗ cộc cằn (nói lời hung dữ): Harsh speech—Lời nói độc ác hay miệng độc ác (gây phiền não cho người): Slanderous, evil mouth, evil-speech—Người nói lời độc ác: Evil-speaking person.

Ác Kiến: Evil (heterodox, wrong or perverse) views—Ác kiến là kiến giải ác hay sự thấy hiểu xấu ác với những quan niệm sai lầm và cố chấp (sự suy lường điên đảo về tứ diệu đế làm ô nhiễm trí tuệ)—Wrong views mean seeing or understanding in a wrong or wicked and grasping manner.

Ác Kiến Phiền Não: Drishti (skt)—Phiền não gây ra bởi ác kiến hay tà kiến (do ác kiến suy nghĩ đảo điên mà thành tính, ngăn cản thiện kiến rồi hành động tà vạy gây ra ác nghiệp)—Afflictions caused by false views.

Ác Kiến Xứ: Địa ngục nơi những kẻ tội lỗi chứng kiến những tội lỗi đã làm trong đời, là một trong mười sáu địa ngục đặc biệt—The place in hades (hells) where the sinner beholds the evil done in life, one of the sixteen special hells.

Ác Lại Dã Can Tâm: Tâm địa độc ác như tâm địa của loài cầy cáo (Theo Kinh Tát Già Ni Kiền: “Nếu không trì giới thì ngay thân của loài cầy cáo ghẻ lở cũng không có được, huống là thân công đức)—A scabby pariah, a phrase describing the evil of the mind.

Ác Liệt: Fierce—Violent.

Ác Lộ: Asubha (p).

  1. Chất lỏng bất tịnh hay các loại nước không sạch sẽ toát ra từ thân người như mủ, máu, nước tiểu, v.v.—All kinds of impure water (foul discharges) discharged from human body such as pus, blood and urine, etc.
  2. Tính độc ác được biểu lộ ra: Evil revealed.

Ác Luận: Evil discussion—Worldly discussion— Đàm luận hay bàn luận theo kiểu thế gian, kiểu của những người chưa giác ngộ—Ordinary unenlightened ways of description or definition. Ác Luật Nghi: Theo Kinh Niết Bàn, ác luật nghi là những luật nghi và tập tục bất thiện—According to the Nirvana Sutra, these are bad, or evil rules and customs.

Ác Lực: Ma lực làm cản trở việc tu hành—Evil influences or evil powers which hinder cultivation.

Ác Ma: Pàpiyàn (skt)—Evil demon—Evil maras—Evil One—Evil spirit—Very wicked—

Tên gọi chung các ác thần gây trở ngại cho việc tu đạo Phật—Demon enemies of Buddhism or the Murderer Màra; because he strives to kill all goodness—See Ma.

Ác Ma Thần: Evil demons and evil spirits (yaksas—Dạ xoa).

Ác Mộng: Nightmare—Vị Tỳ Kheo hay Tỳ Kheo Ni nào gặp ác mộng thì không nên trở lại ngủ tiếp, mà nên ngồi dậy xoa bóp cho máu chảy đều, hoặc thực tập thiền hành (thiền đi) chừng mười phút trước khi trở vào ngủ lại—A Bhiksu or Bhiksuni who has a nightmare should not allow himself or herself to go back to sleep immediately, but should sit up and massage so that blood circulates evenly or practice walking meditation outside for about ten minutes before going back to sleep. Ác Mục Quỷ Vương: Evil-Eyed Ghost King.

Ác Nghiệp: Akusala-karma (skt)—Evil karma— Negative karma—Negative path—Bad actions— Bad deeds—Black path—Hành động của thân khẩu ý làm tổn hại cả mình lẫn người, sẽ đưa đến quả báo xấu—Harmful actions, or conduct in thought, word, or deed (by the body, speech, and mind) to self and others which leads to evil recompense.

Ác Nghiệp Tham, Sân, Si do Thân, Khẩu, Ý Gây: Evil karmas of greed, hatred and ignorance, all created by body, mouth and speech Ác Ngữ: Pharusavaca (p)—Parusavaca (skt)—Lời lẽ xấu xa độc ác—Evil speech—Evil words.

Ác Nhân:

  1. Kẻ làm ác: Malefactor—Evil doer—Evil person—Wrong doer.
  2. Nhân ác hay hành vi gây ra tội ác có thể dẫn tới quả ác báo: A cause of evil, or of a bad fate. An evil cause which leads to recompense for ill.

Ác Nhân Ác Quả: Evil cause-Evil consequence (fruit)—Evil fruit from evil deeds.

Ác Nhân Chính Cơ: Thân Loan (1173-1262) Tổ sư phái Chân Tông ở Nhật nhắm đến việc cứu độ người ác làm chính hay là căn bản chính đáng cho việc tu tập của người tu Tịnh Độ—Shinran the founder of Jodoshinshu aimed at saving evil people first because this is the right basis (or right foundation) for the Japanese Pure Land cultivators.

Ác Niệm: Evil thought.

Ác Niệm Tư Duy Chướng: Obstacle or obstruction of evil thoughts—Khi tu tập Thiền, ác niệm khởi lên do bởi hôn trầm, đó gọi là “Ác niệm tư duy chướng”—When practicing Zen, evil thoughts arise due to torpidity or drowsiness.

Ác Pháp Hữu Lậu: Những ác nghiệp đã lập thành trong một xác thân phải được đền bù tương xứng lại trong một thân khác (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh)—Evil deeds done in a mortal body is rewarded accordingly in the character of another body.

Ác Phụ: Wicked woman.

Ác Quả: Quả ác hay quả xấu do nhân ác gây ra— Evil fruit from evil deeds.

Ác Quỷ: Evil demons—Evil ghosts.

Ác Quỷ Ác Thần: See Ác Quỷ Thần. Ác Quỷ Lục Tặc: Evil demons (evil ghosts) and six bandits or bandits of the six sense-organs—Sáu tên giặc quỷ ác—See Lục Tặc.

Ác Quỷ Thần: Ác quỷ và ác thần (làm hại người) như Dạ Xoa, La Sát, vân vân—Evil demons and evil spirits (harmful to people), yaksas, raksasas, etc.

Ác Sát La: Aksara (skt)—Letter—Syllable—Chữ

(mẫu tự).

Ác Sinh Vương: Ill-born king—See Tỳ Lưu Ly

(2).

Ác Sư: Thầy truyền dạy những tà giáo làm hại người—An evil teacher who teaches heretic and harmful doctrine.

Ác Tà Kiến: Tà kiến dẫn đến phạm tội ác— Wrong views which lead to commit wrong deeds. Ác Tác: Kaukrtya (skt)—Ác tác pháp hay những việc làm xấu ác: Evil doings—Sự hối hận sau khi làm điều ác (tâm sám hối): To repent or to hate that which one has done.

Ác Tánh: Bad nature—Evil by nature—Bad essence.

Ác Tâm: Ill-will—Malevolence.

Ác Tập (thói quen xấu): Bad habit.

Ác Tật: Incurable disease.

Ác Thần: Evil deities.

Ác Thế Giới: An evil world.

Ác Thế Ngũ Trược: Ngũ trược ác thế—Evil world of the five turbidities.

Ác Thế Vô Đạo Vương:Kaliraja or Kalingaraja (skt)—See Đấu Tránh Vương.

Ác Thiệt: Miệng lưỡi độc ác—Evil tongue.

Ác Thô Ngữ: Pharusavaca (p)—Harsh speech— Evil language—Ngôn ngữ xấu xa độc ác—See Thô Ác Ngữ.

Ác Thú: Evil directions or incarnations—Trong đạo Phật, ác thú bao gồm địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh—In Buddhism, the evil directions or incarnations include hells, hungry ghosts and animals.

Ác Thủ Đoạn: Phương thức dữ dội của thiền sư khi tiếp dẫn người học—Fierce methods used by a Zen master when welcoming his new students.

Ác Thủ Không: Người theo Không Kiến ngoại đạo, chối bỏ luật Nhân quả (thà khởi lên ngã kiến như núi Tu Di, chứ đừng khởi lên ác thủ không, hay phủ nhận lý nhân quả, cho rằng cái nầy cái kia đều là không)—One who has evil ideas of the doctrine of voidness, to deny the doctrine of cause and effect (Luật nhân quả).

Ác Tính: Malice—Brutality—Cruelty. Ác Tri Thức: Ác Sư Hữu—Thầy tà bạn ác—A bad intimate or friend, or teacher.

Ác Tưởng: Evil thoughts.

Ác Tỳ Kheo: Wicked Bhiksus—Có bốn vị Tỳ Kheo hung ác đã vứt bỏ giáo pháp của Phật Đại Trang Nghiêm sau khi Ngài nhập Niết Bàn nhưng nhờ thanh tịnh lâu đời nên được sanh làm bốn vị Phật ở bốn hướng (A Sấm, Bảo Tướng, Vô Lượng Thọ, Vi Diệu Thanh)—There are four wicked Bhiksus who threw over the teaching of their Buddha, Ta-Chuang-Yen (Great Adornment) after his Nirvana; however, through much purgation ultimately became the Buddhas of the four points of the compass.

Ác Vô Quá: Ngoại đạo tà kiến cho rằng không có gì sai trái khi làm điều ác, hay không có quả báo gì cho cuộc sống ác độc—External heretics believe that it is not wrong to do evil; that there are no consequences attached to an evil life. Ác Xoa: Aksa (skt)—Một loại cây mà hạt dùng làm tràng chuỗi—Name of a tree (Eleocarpus ganitrus) a seed of which rosaries are made. Ác Xoa Tụ: Kim Cang Tử—Gọi là “ác xoa tụ” vì khi hạt rơi xuống đất chúng thường tụ lại một chỗ thành bộ ba, tiêu biểu cho ba tánh chất một lượt: Hoặc, Hành và Khổ—So called the Eleocarpus ganitrus tree because its seeds are said to be formed the triplets (the seeds fall in clusters, and illustrate numbers, or numerous), and illustrate the simultaneous character of: Illusion, Action, and Suffering.

Ác Xúc: Thức ăn bị bàn tay người khác sờ vào thành ra nhơ bẩn (giới luật cho rằng những thức ăn đó không tinh khiết nên cấm không được ăn)—

Evil touch; contaminated as is food by being handled or touched.

Ác Xứ: Durgati (skt)—Realm of miserable existence—Cảnh giới khốn khổ—See Ác Đạo.

Ác Ý: Patigha (p)—Evil thoughts—Hatred—Illwill—Ill intent—Malicious—Ill-affected—

Malevolence.

Ách: Yoke—To yoke someone: Buộc ai vào ách.

Ách Hại: Có hại—Harmful.

Ách Nan: Gian khổ—Khổ đau—Suffering— Sorrow—Wretched—Miserable—Hardship (n).

Ách Phược: Kiết sử—Bonds.

Ai: Tiếng ta thán—Alas!

Ai Lạc Tương Sinh: Vui và buồn tương sinh lẫn nhau. Cái nầy sinh ra cái kia; cái kia sanh ra cái nầy (buồn vui cùng sanh ra lẫn nhau, nghĩa là buồn sinh ra vui, vui sinh ra buồn. Ý khuyên chúng ta khi gặp chuyện vui không nên quá vui, mà khi gặp chuyện buồn cũng không nên quá buồn vì trong vui có buồn và trong buồn có vui)— Sorrow and joy, each producing the other, each being inherent in the other (this produces the other, and the other produces this one).

Ai Mẫn: Ai Lân—Thương xót cái khổ của người—Pity for one in misery. Ai Mẫn Lạc Ý: Compassionate intention—Ý định tốt lành.

Ai Mẫn Tâm: Thái độ hay lòng thương xót chúng sanh—Compassionate attitude.

Ai Nấy: Everybody.

Ai Nhã: Tiếng ta thán về sự đau khổ hay sự bất chợt—An exclamation of pain or surprise. Ai Niệm Phật?: Who is the one who recites the name of Buddha?—See Niệm Phật Thị Thùy? Ai Tạt: Pushing and pulling—Trong Thiền, thuật ngữ này có nghĩa là xô đẩy, luận đáp qua lại để kiểm nghiệm tri kiến siêu thoát của nhau. Như trong Bích Nham Lục, tắc 23, ngọc đem thử lửa, vàng lấy đá thử, kiếm dùng lông thử, nước dùng gậy dò, đến trong cửa Thiền Tăng, trong một lời, một câu, một cơ, một cảnh, một ra, một vào, một xô, một đẩy, cốt để thấy sâu cạn, cốt để thấy tới lui. Nhưng hãy nói xem cái gì thử, mời cử xem!— In Zen, this term means to converse and to test the transcendental knowledge of one another. As in The Pi-Yen-Lu, example 23, jewels are tested with fire, gold is tested with a stone; a sword is tested with a hair, water is tested with a pole. In the school of the patchrobed monks, in one word, one phrase, one act, one state, one exit, one encounter, one response, you must see whether someone is deep or shallow, you must see whether he is facing forwards or backwards. But tell me, what will you use to test him with? I bring this up: look!—See Bảo Phúc Diệu Phong Đỉnh. Ai Tích: Buồn thảm lúc chia ly—Sorrow of parting or be sorrowful at separation. Ai Tín: Tin buồn (thông tri về người quá vãng)— Death notice.

Ai Vãng Chi Ngôn: Lời chia sẻ nổi buồn—Words of condolence.

Ái: Kama, Ràga (skt) or Trishna (skt) Love (v)— Affection—Yêu thương—Ái Kết hay thương yêu tham ái—Có nhiều nghĩa cho chữ “Ái”. Ái có nghĩa yêu hay ham muốn xác thịt là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến khổ đau và luân hồi sanh tử. Ái có thể có nghĩa là tình thương không vị kỷ đi kèm với lòng từ, bi, hỷ, xả—There are many different meanings of “Love”. Love as craving or sexual desire is one of the major causes of sufferings and rebirth. Love can have the meaning of “selfless love” which accompanies with loving-kindness, compassion, joy, and equanimity.

Ái Biệt Ly: Separation from the beloved. Ái Biệt Ly Khổ: Prua-samparayoyga (skt)—Khổ vì phải xa lìa những người thân thương— Separation from the beloved—Suffering of (due to) separation from our loved ones. The suffering of being separated from those whom one loves. Ái Căn: Dục vọng là gốc sanh ra các phiền não— The root of desire, which produces the passions. Ái Chấp: Sự chấp trước vào luyến ái và dục vọng khó mà bỏ được—The grip of love and desire.

Ái Chủng: Hạt giống dục vọng sẽ gặt lấy khổ đau—The seed of desire, with its harvest of pain. Ai Danh: Attachment to fame—Tham luyến vào tiếng thơm hay danh vọng.

Ái Diệt: Sự chấm dứt ham muốn—Extinction of craving.

Ái Dục: Chandaraga (p)—Tanha (p)—Trsna

(skt)—Craving—Craving for non-existence— Craving for sensuality—Greed—Love and

Desire—Love of family—Luyến ái và dục vọng, hoặc tình thương yêu gia đình—Tham dục (ái dục bao gồm dục ái, hữu ái và vô hữu ái). Ái dục là Luyến ái và dục vọng, hoặc tình thương yêu gia đình. Ái dục là những khối làm hành giả vấp ngã trên bước đường tu hành. Theo Phật giáo, chừng nào bạn còn bị trói buộc bởi những đam mê say đắm của dục vọng, chừng đó bạn phải nhận chịu sự khổ đau phiền não. Tuy nhiên, nếu bạn muốn giảm thiểu hay diệt trừ nỗi khổ ấy, bạn sẽ phải chế ngự và từ bỏ lòng tham mãnh liệt về ái dục hay các thú vui dục lạc. Bạn phải đương đầu với sự lựa chọn: thụ hưởng thú vui nhục dục để nhận lãnh quả khổ đau phiền não; hoặc là từ bỏ ái dục để tìm nguồn vui trong hạnh phúc tinh thần, chứ bạn không thể nào có cả hai con đường này cùng một lúc được—Lust (tanha includes craving for sensuality, craving for existence, and craving for non-existence). Love and desire means loves that attach to desires or love of family. Love and desire are the stumbling blocks in cultivation. According to Buddhism, so long as you are caught in the iron pincers of craving, you experience pain and afflictions. However, if you wish to reduce or eliminate that pain, you will have to subdue, and even renounce, your strong craving for sensual pleasure. You are confronted with a choice: to enjoy sensual pleasure, you must be prepared to experience suffering and afflictions, or to renounce craving so as to delight in spiritual happiness. There are no two ways at the same time for you.

Ái Dục Hải: Biển dục—The ocean of desire— Dục Hải—Biển dục vọng thâm sâu và bao la, không đáy và vô bờ bến—So called because of its extent and depth.

Ái Dục Lưu Chú Sinh: Passions and illusions caused by the constant interaction—Ái dục do những tác động liên tục sinh khởi, một trong ba nguồn khởi sinh ái dục—Passions caused by the continuous stream of latent predispositions, one of three sources or causes of the rise of the passions and illusions—See Tam Chủng Sinh Ái Dục.

Ái Dục Tướng Sinh: Ái dục do thế giới khách quan bên ngoài sinh khởi, một trong ba nguồn khởi sinh ái dục—Passions and illusions caused by the objective world, one of three sources or causes of the rise of the passions and illusions—See Tam Chủng Sinh Ái Dục.

Ái Dục Tưởng Sinh: Ái dục do suy nghĩ mà sinh khởi, một trong ba nguồn khởi sinh ái dục— Passions and illusions caused by the mind or active thought, one of three sources or causes of the rise of the passions and illusions—See Tam Chủng Sinh Ái Dục.

Ái Duyên: Ái dục như là nguyên nhân phụ vào cho sự luyến ái—Love or desire as a contributory cause of attachment.

Ái Đắc: Attachment to gain—Luyến chấp khi được lợi lộc.

Ái Độc: The contamination of desire—Độc dục hay ái độc làm tổn hại cho việc tu hành Phật pháp, một trong tam độc—The poison of desire or love which harms devotion to Buddhist practices, one of the three poisons—See Tam Độc. Ái Giả: Sự hư giả hay không thực của dục vọng— The falseness or unreality of desire. Ái Giới: Dục giới—Những người đang trú ngụ trong dục giới—The realm of desire or love— Those who dwell in the realm of desire.

Ái Hà: Tình ái nhận chìm và làm chết đuối con người nên ví với dòng sông (lòng tham bám víu hay giữ chặt không rời)—The river of desire in which men are drowned.

Ái Hải: Biển dục—The ocean of desire—Biển ái—Ocean of love.

Ái Hành: Ái hành có nghĩa là hành theo sự ham muốn tà vạy. Ái hành cũng có nghĩa là tình ái dục vọng, đối lại với “kiến hành” có nghĩa là suy lý— Conduct following wrong desire or emotions. Also means emotional behavior, or the emotions of desire, as contrasted with rational behaviour. Ái Hận: Luyến ái và thù hận—Love and hate— Desire and dislike.

Ái Hệ: Sự trói buộc của ân ái hay dục vọng—The bond of love or desire.

Ái Hỏa: Lửa của luyến ái: Fire of love—Luyến ái là lửa đốt chúng sanh: Love is fire that burns living beings.

Ái Hoặc: Mê hoặc hay ảo ảnh của ái dục—The illusion of love or desire. Ái Hữu: Friendly society.

Ái Kết: Sự kết buộc của ái dục hay phiền não tham ái—The tie of love or desire. Ái Khát: Khát ái hay khao khát dục vọng, hay ham muốn sự sống—The thirst of desire, or thirstily to desire—The will to live. Ái Khuể: Attachment and aversion—Luyến ái và ghen ghét—Love and hate, desire and hate. Ái Kiến: Attachment and views—Ái nghĩa là luyến chấp vào sự. Kiến nghĩa là luyến chấp vào tà kiến. Chấp trước từ con người mà nẩy lên thứ tình yêu hay dục vọng nẩy nở khi nghĩ đến người khác. Ái kiến cũng có nghĩa là tâm chấp luyến vào hình thức, trói buộc chúng ta vào dục vọng và ham muốn trần tục—Love means attachment to things. Views mean attachment to false views. Attachment or Love growing from thinking of others. Love also means the mind of affection attached to forms, which binds us with the ties of worldly passions and desires.

Ái Kiến Đại Bi: Khi hành giả chưa chứng được lý “Thật Tướng” thì đại bi không bao giờ tự nó tách rời khỏi ái kiến—When one has not yet realized the real mark of True Suchness, great compassion never detaches itself from attachment and views. Ái Kiết Chi Quỷ: Vetala (skt)—Ái Kiết Quỷ—Tỳ Đà La—Một loại quỷ bị năng lực thần chú khống chế nên tử thi bị dựng dậy và sai đi giết người (đây là một thứ thần chú của ngoại đạo Tây Thổ)—A demon or evil being which is forced by an incantation for raising the corpse and ordered it to kill another person (this is an heretic incantation).

Ái Kim Cang: Bodhisattvas of Love—Vị đã thành tựu Phật quả và phát nguyện thương yêu chúng sanh, được đặt ở phía Tây—One who has attained the Buddhahood and vowed to love all sentient beings.

Ái Kỷ: Egoist—Selfish—Egoism—Selfishness.

Ái Lạc: Tham luyến vào những lạc thú— Attachment to pleasure—Joy of right love—Sự hoan lạc của tình yêu chân chánh, như tình yêu thiện mỹ hay tình yêu của vị Bồ Tát đối với chúng sanh—The joy of right love, i.e. the love of the good or that of a bodhisattva.

Ái Lạc Kim Cang Nữ: Vajrakamar (skt)— Vajraraga (skt)—Love and Joy Diamond. Ái Lạc Phật: Lư Chí Phật—Vị Phật có sự hoan lạc của tình yêu chân chánh, như tình yêu thiện mỹ hay tình yêu của vị Phật đối với chúng sanh— A Buddha with the joy of right love, i.e. the love of the good or that of a Buddha. Ái Luân: Bánh xe dục vọng làm chúng sanh xoay chuyển trong sáu đường sanh tử—The wheel of desire which turns men into the six paths of transmigration.

Ái Luận: Ham thích lý luận hay bàn luận về dục vọng. Do mê tâm ái trước mà đưa tới những cuộc tranh luận loạn động hay ngôn luận bất chính— Talk of love or desire, which gives rise to improper conversation.

Ái Luận Kiến Luận: Ái luận là ham thích lý luận hay bàn luận về dục vọng. Kiến luận là ham thích lý luận hay bàn luận về lý tri thức. Do mê tâm ái trước mà đưa tới những cuộc tranh luận loạn động hay ngôn luận bất chính—Talk of love or desire, and talk of perception, which give rise to improper conversation.

Ái Luyến: Love attachment.

Ái Luyến Lục Trần: Kama-tanha (p)—Craving for the world of sensual desire—Desire for pleasure of sense—Sensual craving—Dục ái—

Ham muốn dục lạc—Luyến ái trần tục.

Ái Luyến Nhân Sinh: Bhava-tanha (p)—Craving for becoming—Craving for continued existence or self-presevation—Desire for existing—Love attachment to human life—Ham muốn tiếp tục hiện hữu—Luyến ái đời sống.

Ái Luyến Tự Ngã: Attakamanipa (p)—

Attachment to self—Luyến chấp tự ngã.

Ái Luyến Vô Sanh Vibhava-tanha(p)— Vibhavatrsna (skt)—Vô hữu ái—Craving for extinction—Craving for self-annihilation—Desire for non-existing—Luyến ái trong sự vô sanh— Ham muốn tự diệt độ.

Ái Lưu: Tham ái làm mê hoặc lòng người nên ví như dòng lũ dục vọng—The flood of desire which overwhelms.

Ái Mộ: Attachment.

Ái Ngại: Worried—Uneasy.

Ái Ngập Đôi Đầu Kiến Trượng Lục Kim Thân: One sees the sixteen-foot golden body of Buddha in a heap of dust, mottled and mixed up, what is it?—Theo Bích Nham Lục, tắc 39, một vị Tăng hỏi Vân Môn: “Thế nào là Pháp thân thanh tịnh?” Vân Môn đáp: “Hoa Thược Lan.” Vị Tăng lại hỏi: “Khi ấy thì sao?” Vân Môn đáp: “Sư tử lông vàng.” Trong đống bụi bặm thấy được Phật. Thuật ngữ này biểu thị tính bình đẳng của vạn hữu kể cả Phật tính. Nói cách khác, tâm, Phật, và chúng sanh, tam vô sai biệt—According to the The Pi-Yen-Lu, example 39, a monk asked Yun-mên, “What is the Pure Body of Reality?” Yun-mên said, “A flowering hedge.” The monk asked, “What is it like when one goes on in just such a way?” Yunmên said, “A golden-haired lion.” He sees the sixteen-foot golden body of Buddha in a heap of dust, mottled and mixed up, what is it?. This term shows the equality of everything including the Buddha-nature. In other words, mind, Buddha, and all the living, these three are not different.

Ái Nghiệp: Nghiệp đi liền sau dục vọng—The karma which follows desire.

Ái Ngục: Prison of affection—Ngục tù dục vọng. Địa ngục ái ân đã giam hãm con người trong phiền trược—The prison of desire. The prison of affection, which holds men in bondage.

Ái Ngữ: Priya-vacana (skt)—Aigo (jap)— Affectionate speech—Loving speech—Lời nói yêu thương của một vị Bồ Tát, một trong tứ nhiếp pháp. Ái Ngữ Nhiếp hay tùy theo căn tánh của chúng sanh mà dùng lời lẽ tốt lành để dẫn dắt họ vào con đường đạo đức—The words of love of a bodhisattva, one of the four elements of popularity, or ways of leading human beings to emancipation. Kind words which help beings love and receive the truth—See Tứ Nhiếp Pháp. Ái Ngữ Nhiếp: Priyavacana (skt)—Affectionate speech—Kind communication—Kindly talk—Tùy theo căn tánh của chúng sanh mà dùng lời lẽ tốt lành để dẫn dắt họ vào con đường đạo đức—Kind speech, or pleasant words, or kind words which help beings love and receive the truth—See Tứ Nhiếp Pháp.

Ái Nhạo Pháp Quang Minh Tràng Thiên Vương: Banner of Delightful Light of Truth—Một trong mười Quảng Quả Thiên Vương—See Quảng Quả Thiên Vương.

Ái Nhân Như Ái Kỷ: Theo quan niệm của Khổng giáo thì mình phải thương người như thể thương thân. Người Phật tử phải cố gắng thương người hơn thể thương thân trong cuộc sống hằng ngày. Hãy nhìn đức Phật thay vì sống hưởng thụ và ra đi ở tuổi 100, ngài đã hy sinh hạnh phúc riêng mình và tịch diệt ở tuổi 80, nhờ đó Ngài đã để lại tam tạng kinh điển cho hậu thế tiếp tục phổ độ chúng sanh—According to confucianism, one must love other as much as oneself. Buddhists should try to love other more than themselves in daily life. Let’s look at the Buddha, He died at 80 instead of 100. He left 20 years of his own happiness to his disciples, and also the Tripitaka for universal salvation.

Ái Nhãn: Con mắt yêu thương của Phật—The eye of love (of Buddha).

Ái Nhiễm: Defiling attachment—The taint of desire—Luyến ái nhiễm trược hay tình cảm tham ái phàm tục như tình yêu vợ chồng, con cái, thầy bạn, vân vân—Defiling ordinary love (like that toward wife and children, teachers and elders). Ái Nhiễm Minh Vương: Ragaraja (skt)—Aizen- myo-o (jap)—The King with the affection of love—God of Love—King of Love—Thần tình yêu, một trong những Minh Vương, có vẻ mặt giận dữ với ba đầu sáu tay. Theo Phật giáo, pháp ái nhiễm lớn nhất là sắc dục nhiễm hay sự ái nhiễm của hai tính nam nữ, liên hệ tới Ái Nhiễm Minh

Vương—One of the Ragas, who has angry appearance, three faces and six arms. According to Buddhism, the great taint, or dharma of defilement, sex-attraction, associated with the god of love (Ái Nhiễm Minh Vương). Ái Nhiễm Vương: Taki (skt)—Tra Chỉ Vương— See Ái Nhiễm Minh Vương.

Ái Nhuận: The fertilizing of desire—See Nhuận

Ái.

Ái Phàm Tục: Ordinary love.

Ái Pháp: Tình yêu chân lý là tình yêu chân chánh—Love for Buddha-truth; the method of love.

Ái Quả: Hậu quả hay kết quả của dục vọng và luyến ái—Fruit of desire and attachment

(suffering).

Ái Quỷ: Quỷ dục vọng—The demon of desire.

Ái Quyên: Net of passion.

Ái Tài Như Mệnh: Thương tiền như thương chính thân mình. Phật tử thuần thành phải rất cẩn trọng với cách hành xử này—Love wealth as if it were life itself. Sincere Buddhists should be very careful with this kind of behavior. Ái Tâm: Tâm đầy dục vọng, hay tâm bị dục vọng thống trị—A mind full of desire; a mind dominated by desire; a loving heart.

Ái Tha: Altruistic.

Ái Thân Thiên: Vị Trời Ái Thân ở cõi Dục giới có hình thức tuyệt diệu—The heaven of lovely form in the desire realm which is above the devalokas

(thiện hiện).

Ái Thần: Kamadeva (skt)—Deva of love—Deity of love—Thần tình yêu.

Ái Thích: Nổi khổ đau của luyến ái đau thấu như gai đâm—The thorn of love; the suffering of attachment which pierces like a thorn. Ái Thủy: Dục vọng bón phân cho quả dữ—The passion of desire which fertilizes evil fruit.

Ái Thuyết Pháp Tỳ Kheo: Monk who loves to preach the Dhamma—Vị Tỳ kheo ưa Pháp, ái luyến nói Pháp, tự mình vô cùng hoan hỷ đối với

Thắng Pháp, Thắng Luật—Here a monk who loves the Dhamma and delights in hearing it, he is especially fond of the advanced doctrine (abhidhamma) and discipline (abhivinaye). Ái Tiếc: Luyến tiếc không rời bỏ—Love and care for; to be unwilling to give up; sparing.

Ái Tình: Love—Passion.

Ái Trước: Attachment of love—Sự chấp trước hay trói buộc mạnh mẽ vào ái dục. Từ sự ái trước nầy lại nẩy sanh ra “từ bi” là nền tảng của tình thương trong Phật giáo—The strong attachment of love; the bondage of desire. From this bond of love also arises pity, which is fundamental to Buddhism. Ái Trước Mê: Mê mờ luyến ái vào sự đổi thay và hoại diệt gọi là “ái trước mê” (tất cả mọi thứ đều do ngũ uẩn hòa hợp mà thành, không hiểu như vậy mà lại cho rằng mọi thứ là vĩnh hằng không thay đổi là ái trước mê)—The delusion of love for and attachment to the transient and perishing. Ái Trước Sinh Tử: Bị trói buộc vào sanh tử là ái trước sinh tử, tận diệt sự ái trước nầy là cần thiết cho cuộc tu giải thoát—Bondage to rebirth and mortality by love of life, and to be rid of this love is essential to deliverance. Ái Trước Tâm: Mind of sensual love—Mind attached to love.

Ái Tử Khán Hý, Tùy Nhân Thượng Hạ: Người lùn đi xem hát, chẳng trông thấy gì nhưng cũng bắt chước người khác vỗ tay tán thưởng. Người tu thiền pháp nhãn không sáng, chỉ làm theo người khác một cách máy móc. Thiền chỉ có thể được thể nghiệm chứ không thể được bắt chước—Zen can only be realized, and cannot be imitated.

Ái Tưởng: Suy nghĩ bám giữ thứ gì có tánh lôi cuốn—Thought of attachment to that which is attractive.

Ái Võng: Net of passion.

Ái Xúc: Khía cạnh cảm giác—Aspect of sensation.

Am:Ngôi nhà tranh dùng như tu viện, chỗ an cư, hay làm nơi tu tập thiền định—A thatched hut as a monastery or retreat. A thatched hut for meditation.

Am Chủ Đồng Phong: Toho Anshu (jap)—T’ungfêng An-chu—T’ungfeng Anzhu—See Đồng

Phong Am Chủ Thiền Sư.

Am Chủ Khê Thâm Thược Bính Trường: See Khê Thâm Thược Bính Trường Am Chủ. Am Hiểu: Biết rõ—To know well—Hiểu tường tận—To understand thoroughly—Hiểu từ trong ra ngoài—To know something inside out. Am La Quả Nữ: Amraskyogma (skt)—Tên của một ca nữ trong thành Tỳ Xá Ly thời đức Phật— Name of a singer in Vaisali during the time of the Buddha.

Am La Thọ Viên: Ammvana(skt)—Ammvana Garden—Vườn Am La.

Am La Thụ Viên: See Am La Thọ Viên.

Am Ma La Thức: A Ma La Thức—A Mạt La Thức—Thanh tịnh thức—Vô cấu thức—Chân Như

Thức—Pure knowledge—Knowledge of bhutatathata.

Am Một La: Amra (skt)—Am-ma-la—Xoài— Mango Garden—Am La Thọ Viên.

Am Thiền: Small pagoda.

Am Tranh: A thatched hut for meditation.

Am Trung Bất Tử Nhân: Người bất tử trong am (Phật tánh sẵn có của mọi người)—The Buddha nature that everybody has.

Am Tự: Am thất—Small temple.

Am Tường: Hiểu tường tận—To know perfectly. Ám: 1) Ám muội: Dark, obscure, gloom, dim, dull, hidden, secret; 2) Bị quỷ ám: To possess, to obsess, to be haunted, to be obsessed by the devil; 3) U ám: To darken, to blacken, to overcast.

Ám Ảnh: To haunt—To obsess Ám Chỉ: To implicit—To hint—To imply. Ám Chứng: Chỉ chuyên vào công phu tọa thiền, mà không thông hiểu nghĩa lý của kinh điển—An ignorant preceptor, only meditation without undestanding the meanings of sutras. Ám Chứng Thiền Sư: Một vị thiền sư chỉ chuyên ngồi thiền theo kiểu đui tu mù luyện, chứ không thông hiểu nghĩa lý của đạo (cách dạy cũng khác hay lập dị với thiền tông)—A charlatan who teaches intuitional meditation differently from the methods of that school; an ignorant preceptor. Ám Chướng: Ignorant preceptor—Chướng ngại của sự ngu độn (chỉ tụng mà không biết nghĩa, hay chỉ tọa thiền mà không biết tọa thiền để làm gì)— The hindrance of ignorance. A person who cares only for meditation without undestanding the meanings of sutras.

Ám Dạ Thần: Kalaratri (skt)—See Hắc Dạ Thần. Ám Đẩu: Trong bóng tối—Chỗ tối ám—In a dark place.

Ám Độn: Ám muội và ngu độn—Ignorant and dull.

Ám Độn Chướng: Chướng ngại khởi lên bởi sự ám độn ngu si—Hindrance of dullness—Ignorant and dull ideas.

Ám Hại: To harm secretly.

Ám Hiệu: Secret signal.

Ám Khảo: Hidden challenges—Hidden or silent testing conditions—Những khảo đảo thầm lặng— See Khảo Đảo Thầm Lặng.

Ám Khứ Minh Lai: Theo Kinh Thẩm Huyền Ký Hoa Nghiêm, bóng tối đi, ánh sáng lại—According to the “Kengonkyotangenki”, when the darkness is gone, the light is automatically there (ignorance gone, wisdom arrived).

Ám Lâm: Tamasavana (skt)—Khu rừng vô minh—A forest of ignorance.

Ám Lệnh: Secret order.

Ám Muội: Fishy—Suspicious—Shady—Dark— Doubtful—Underhand—Distrustful. Ám Muội Tà Gian: Mờ ám dối trá—Lack of transparency and dishonesty.

Ám Nghĩa: Ambiguity. Ám Ngục: Dark hell.

Ám Tâm: Tâm trí ám muội, ngu si, và luôn nghi hoặc—A dark, ignorant, or doubting mind. Ám Tế: Bị vô minh che mờ trở nên ám độn— Dark, ignorant.

Ám Thất: Căn phòng tối dùng để thực tập thiền— A dark room, a place for meditation.

Ám Trợ: To aid secretly.

An: Upasamayati (skt)—To pacify—To become calm or quiet—To make quiet—To tranquilize.

An Ban: See Sổ Tức Quán.

An Ban Thủ Ý: Anapanasati (p)—Anapanasmrti (skt)—Kinh An Ban Thủ Ý, kinh quán niệm hơi thở của hệ phái Nguyên Thủy. Sư An Thế Cao đã dịch bộ kinh từ Phạn ngữ sang Hán ngữ. Cũng nên lưu ý là An Thế Cao, một nhà sư nổi tiếng, người chủ trương mang Thiền vào Trung Quốc vào khoảng 150 sau Tây lịch—A Theravadan sutra on Concentration by practicing respiratory exercises. An-Shih-Kao translated it from Sanskrit into Chinese. It’s also noted that An-Shih-Kao, one of the famous monks, who first advocated of the Zen or meditation doctrine in China in around 150 A.D.

An Bần: To be happy in poverty.

An Bần Lạc Đạo: Thà nghèo mà vui với đạo—To accept poverty, but to enjoy the Way—To accept to live poverty so as to nurture one’s virtues.

An Bình: Peace—To be peaceful.

An Bình Hạnh Phúc: Tranquility and Happiness. An Ca: Angkor Wat—Một dãy những tự viện ở trung bộ Cam Bốt được xây vào thời vua Suryavarman đệ nhị. Ban đầu được xây để thờ phượng thần Visnu của Ấn Độ giáo, nhưng sau đó trở thành cơ sở Phật giáo. Sau khi các vua Khmer cải đạo và trở về quy y Phật, ngôi đền được dùng để thờ cúng theo Phật giáo. Sau khi Angkor Wat bị người Thái tàn phá vào thế kỷ thứ 15 (1431), kinh đô Khmer đã dời về Nam Vang và ngôi đền chỉ được tìm thấy lại vào thế kỷ thứ 19—A major temple complex in central Cambodia built during the reign of King Suryavarman II (1113-1150). Originally dedicated to the Hindu god Visnu, but after that it became a Buddhist establishment following the conversion of the succeeding Khmer kings to Buddhism, Angkor Wat served as a Buddhist holy place. After the destruction of the Angkor by the Thais in the fifteenth century, Khmer capital moved to Phnom Penh. It was not rediscovered until the nineteenth century.

An Cốc Bạch VânThiền Sư (1885-1973): Zen master Hakuun-Yasutani—Thiền sư Nhật Bản quan trọng hiện đại, một trong những thiền sư chân chính đầu tiên có ảnh hưởng ở Nhật cũng như ở phương Tây. Ông đi tu từ năm 11 tuổi và đã theo đuổi những thuyết giảng của nhiều thiền sư nổi tiếng. Sau mười sáu năm dạy học ở một trường trung học ở Đông Kinh, năm 1925 ông được nhận làm môn đồ của Đại Vân Tổ Nhạc Nguyên Điền (Daiun Sogaku Harada) và nhận được ấn xác nhận của thầy vào năm 1943. Từ năm 1962 đến 1969, nhiều lần ông sang Mỹ theo lời thỉnh cầu của các môn đồ thiền. Trong nhiều bài viết của ông, người Nhật biết tới ông nhiều nhất qua những quyển giải thích về công án lớn như Bích Nham Lục, Vô Môn

Quan và Thong Dong Lục—An important

Japanese Zen master of the modern period, one of the first authentic Zen masters, not only to be active in Japan, but also in the West. He was ordained as a monk at the age of eleven, he  trained in his younger years under several wellknown Zen masters. After having taught high school in Tokyo for sixteen years, he was accepted in 1925 as a student of Dauin Sogaku Harada, from whom he received the seal of confirmation in 1943. Between 1962 and 1969 he visited the United States several times at the invitation of followers. Of his writings, best known in Japan are primarily his presentations of the great koan collections, the Pi-Yen-Lu, the WuMen-Kuan, and the Ts’ung-jung-lu.

  • Ở phương Tây tiếng tăm của ông phần lớn dựa vào những bài dẫn luận về phương pháp thiền tập được Thiền sư Phillip Kapleau viết trong quyển “Ba Trụ Thiền,” được công bố vào năm 1981, chủ yếu dựa theo những lời giảng dạy của hai thiền sư Bạch Vân An Cốc và Cô Vân. Giống như thầy mình là Harada, Bạch Vân An Cốc đã kết hợp theo cách của mình phương cách Chỉ quán đả tọa, đặc trưng của truyền thống Tào Động với phương pháp công án riêng của truyền thống Lâm Tế. Thiền sư Bạch Vân An Cốc nói về thiền tọa tĩnh tâm rằng: “Chừng nào còn có một cái gì được viết, vẽ và hình dung ra trong đầu con, chừng đó con không thể đạt tới đại giác. Hãy

vất bỏ mớ bòng bong ấy đi. Tinh thần con cũng phải trống không và trong trắng như một tờ giấy trắng tinh khiết vậy!”—In the West, he became known particularly through an introduction into Zen practice edited by Zen master Phillip Kapleau, which was to a great extent based on the teachings of Zen master Yasutani and his dharma successor Zen master Koun Yamada: Three Pillars of Zen (Garden City, NY, 1980). Like his master Harada Roshi, Yasutani Roshi made use of his style of Zen training of the Shikantaza practice of the Soto tradition (mokusho Zen) as well as the koan practice of the Rinzai tradition (kanna Zen). Hakuun Ryoko Yasutani says about zazen: “As long as there is anything written, recorded, or pictured in your head or heart, you can’t find any enlightenment. Throw everything away. Your mind must be as empty and spotless as a piece of white paper!”

Một hôm Thiền sư An Cốc Bạch Vân thượng đường dạy chúng: Theo Kinh Hoa Nghiêm, vào lúc giác ngộ, đức Phật thốt lên: “Kỳ diệu, kỳ diệu thay! Tất cả mọi chúng sanh, từ bản thể, đều là Phật, với đầy đủ trí huệ và đức hạnh. Nhưng vì cái tâm vọng tưởng mê muội, con người không nhận ra điều đó.” Lời đầu tiên của Phật biểu lộ sự kính sợ và kinh ngạc. Vâng, tuyệt vời làm sao, tất cả chúng sanh, dầu trí hay dầu ngu, nam hay nữ, đẹp hay xấu, đều trọn vẹn, đầy đủ, như họ vốn dĩ như vậy. Điều đó có nghĩa là bản tánh của mỗi con người cơ bản đều không tì vết, hoàn hảo, không khác gì bản tánh của đức Phật A Di Đà hay một vị Phật nào khác. Lời tuyên bố đầu tiên đó của Phật Thích Ca Mâu Ni cũng là lời kết luận tối hậu của Phật giáo. Tuy nhiên, con người, tất bật và lo âu, sống một cuộc sống cuồng loạn bởi vì cái tâm hôn ám, đảo điên ảo tưởng vì mê hoặc. Vì vậy, chúng ta cần phải quay về với sự toàn hảo nguyên sơ của chúng ta, phải thấy xuyên thấu hình ảnh giả tạo của chúng ta là thiếu sót và tội lỗi, và đánh thức tánh thanh tịnh và trọn vẹn cố hữu nơi chúng ta. Phương pháp hiệu quả nhất để đạt đến điều đó là tọa thiền—One day Zen Master Hakuun-Yasutani entered the hall to teach the assembly: “According to the Kegon (Avatamsaka) sutra, at the moment of enlightenment the Buddha spontaneously cried out: ‘Wonder of wonders! Intrinsically all living beings are Buddhas, endowed with wisdom and virtue, but because men’s minds have become inverted through delusive thinking they fail to perceive this.’ The first pronouncement of the Buddha seems to have been one of the awe astonishment. Yes, how truly marvelous that all human beings, whether clever or stupid, male or female, ugly or beautiful, are whole and complete just as they are. That is to say, the nature of every being is inherently without a flaw. perfect, no different from that of Amida or any other Buddha. This first declaration of Shakyamuni

Buddha is also the ultimate conclusion of Buddhism. Yet man, restless and anxious, lives a half-crazed existence because his mind, heavily encrusted with delusion, is turned topsy-turvy. We need therefore to return to our original perfection, to see through the false image of ourselves as incomplete and sinful, and to wake up to our inherent purity and wholeness. The most effective means by which to accomplish this is through zazen.”

  • Hôm khác, Thiền sư An Cốc Bạch Vân thượng đường dạy chúng: “Một người mù, ngay trong cảnh mù lòa, căn bản vẫn là một người toàn vẹn và hoàn hảo. Chiếc dĩa có bị vỡ đi, mỗi mảnh vỡ vẫn giữ được tính toàn vẹn của nó. Những gì mắt trần thấy được chỉ là sắc tướng, thay đổi liên tục, vốn không phải là bản chất. Thật ra, từ ngữ ‘hoàn hảo’ là thừa thãi. Các sự vật không hoàn hảo cũng không khiếm khuyết, chúng chỉ là chúng. Mỗi vật đều có giá trị tuyệt đối của nó. Vì vậy, không thể so sánh vật này với vật kia. Một người cao lớn thì cao lớn, người lùn thì lùn, đó là tất cả những gì bạn có thể nói. Có một công án đề ra câu hỏi: ‘Phật là gì?’ Để trả lời, vị thầy nói: ‘Cây trúc lớn thì lớn, cây trúc nhỏ thì nhỏ.’ Kiến tánh (giác ngộ) chỉ là nhận thức trực tiếp được mọi điều đó trong chớp mắt.”—Another day, Zen Master Hakuun-Yasutani entered the hall to teach the assembly: “A blind man,

even while blind, is fundamentally whole and perfect. The same is true of a deaf-mute. If a deaf-mute suddenly regain his hearing, his perfection would no longer be that of a deafmute. Were this saucer on the table to be broken, each segment would be wholeness itself. What is visible to the eye is merely the form, which is ever-changing, not the substance. Actually the word ‘perfect’ is superfluous. Things are neither perfect nor imperfect, they are what they are. Everything has absolute worth, hence nothing can be compared with anything else. A tall man is tall, a short man is short, that is all you can say. There is a koan where in reply to the question ‘What is the Buddha?’ the master answers: ‘The tall bamboo is tall, the short bamboo is short.’ Enlightenment (kensho) is nothing more than directly perceiving all this

in a flash.”

  • Một lần nọ, Thiền sư An Cốc Bạch Vân thượng đường dạy chúng: “Các công án thường sử dụng những chủ đề thực tiễn, những vật thế tục như con chó, cái cây, cái mặt, ngón tay, để một mặt chỉ cho chúng ta thấy rằng mọi vật đều có giá trị tuyệt đối của nó, và mặt khác, chặn đứng khuynh hướng của trí năng chỉ khư khư bám chặt các khái niệm trừu tượng. Nhưng ý nghĩ của mọi công án đều giống nhau: Thế giới là một khối Nhất Thể tương tùy và riêng mỗi người chúng ta là khối Nhất Thể ấy. Các bậc đại sư Trung Hoa, những thiên tài thâm thúy đã sáng tạo những mấu đối thoại nghịch lý, không ngần ngại mang khoa luận lý và cái đạo thường của người đời ra để diễu cợt trong các tác phẩm của họ. Vã vờ mơn trớn để trí năng thử đưa ra những giải pháp bất khả đắc, các công án cho thấy những giới hạn cố hữu của cái tâm lý luận được dùng làm phương tiện chứng ngộ Chân lý tối hậu. Qua quá trình đó, họ giải thoát tâm thức khỏi cái bẫy của ngôn ngữ vốn đã ‘vừa khít như cái áo khoát chật cứng’, làm giảm bớt sức ép tuân thủ ngặt nghèo những giáo điều và thành kiến, gột rửa cho chúng ta khuynh hướng phân biệt thiện ác và tẩy sạch nơi chúng ta khái niệm sai lầm ‘ta và người’, để cuối cùng, một ngày nào đó, chúng ta có

thể nhận thức được rằng thế giới của toàn hảo thật ra không khác thế gian này, nơi chúng ta đang ăn uống, bài tiết, cười đùa và khóc lóc.”—On one occasion, Zen Master HakuunYasutanientered the hall to teach the assembly: “Koans take as their subjects tangible, down-to-earth objects such as a dog, a tree, a face, a finger to make us see, on the one hand, that each object has absolute value and, on the other, to arrest the tendency of the intellect to anchor itself in abstract concepts. But the import of every koan is the same: that the world is one interdependent Whole and that each separate one of us is that Whole. The Chinese Zen masters, those spiritual geniuses who created these paradoxical dialogues, did not hesitate to thumb their nose at logic and common sense in their marvelous creations. By wheedling the intellect into attempting solutions impossible for it, koans reveal to us the inherent limitations of the logical mind as an instrument for realizing ultimate Truth. In the process they liberate the mind from the snare of language, ‘which fits over experience like a strait jacket,’ pry us loose from our tightly held dogmas and prejudices, strip us of our penchant for discriminating good from bad, and empty us of the false notion of self-and-other, to the end that we may one day perceive that the world of Perfection is in fact no different from that in which we eat and excrete, laugh and weep.”

  • Lần khác, Thiền sư An Cốc Bạch Vân thượng đường dạy chúng: “Dầu bạn có biết hay không biết, khi bạn có mặt ở đây, tham dự một buổi nhiếp tâm tọa thiền, là bạn đang tạo ra thiện nghiệp. Ngồi ôm trọn ba yếu tố căn bản của Phật giáo: giới, định lực, và trí huệ giác ngộ. Điều rõ ràng là lẽ dĩ nhiên khi sự tập trung tư tưởng mạnh lên sẽ giúp cho tâm thức của chúng ta phát triển vững vàng; điều ít hiển nhiên hơn là trong cái ngồi toàn tâm, bạn nhận ra rằng dần dần con mắt trí tuệ của bạn sẽ mở lớn như thế nào khi chân tánh được gột rửa khỏi những mê hoặc và uế nhiễm. Về giới luật, rõ ràng người ta không thể sát sanh, trộm cắp hay vọng ngữ trong lúc tọa thiền. Tuy nhiên, theo ý nghĩa sâu xa hơn, sự trì giữ giới luật có nền tảng trong tọa thiền, bởi vì qua tọa thiền, từ từ bạn đoạn diệt được cái mê hoặc căn bản đưa đến phạm phải điều ác, chủ yếu là sự mê hoặc cho rằng thế giới và bạn là hai phần tách rời và khác biệt. Theo bản thể nội tại, không hề có sự phân tách như vậy. Thế giới không ở ngoài ta, thế giới là ta! Đây chính là sự chứng ngộ Phật tánh của bạn, qua sự trì giữ giới luật một cách tự nhiên và tự phát khởi lên.”—Another occasion, Zen Master Hakuun-Yasutanientered the hall to teach the assembly: “Whether you are aware of it or not, you are creating good karma all the time you are here at a sesshin. Sitting embraces the three fundamental elements of Buddhism, namely, the precepts, the power of concentration, and satori-wisdom. It is obvious, of course, how concentration is strengthened and mind stability developed; it may be less obvious to you how your eye of true wisdom is gradually being opened as your intrinsically pure nature is cleansed of its delusions and defilements in sincere and wholehearted sitting. As for the precepts, clearly one can’t kill or steal or lie during zazen. In a profounder sense, however, observance of the precepts is grounded in zazen, because through zazen you are gradually ridding yourself of the basic delusion which leads man to commit evil, namely, the delusion that the world and oneself are separate and distinct. Inherently there is no such bifurcation. The world doesn’t stand outside me, it is me! This is the realization of your Buddha-nature, out of which observance of the precepts naturally and spontaneously arises.”

An Cốt: An vị—To be in place. An Cư: Varsa or Varsavasana (skt)—To live in peace—Tranquil dwelling.

An Cư Kết Hạ: See An Cư Kiết Hạ.

An Cư Kiết Hạ: U-ango (jap)—Ge-ango (jap)—

Vassa (skt)—The end of the summer retreat—

Chấm dứt kỳ an cư kiết hạ—Cuối năm của tự viện Phật giáo cũng là sự kết thúc của kỳ an cư kiết hạ, nhằm ngày rằm tháng bảy âm lịch—The monastic end of the year is also the end of the summer retreat, the 15th of the 7th month, lunar calendar— See Kiết Hạ.

An Cư Kiền Độ: Chapter on Varsavasana— Chương qui định về An cư Kiết hạ—Chapter on Tranquil dwelling.

An Danh: Ban pháp danh cho người mới vào đạo—To give a religious name to a beginner. An Dưỡng: Annyo (jap)—Peace and provision— To rest—To take a rest.

An Dưỡng Địa: Land of peace and provision— Tên khác của cõi Tịnh Độ của Phật A Di Đà— Land of rest, another name for the Pure Land.

An Dưỡng Quốc: An Dưỡng Địa—See Cực Lạc.

An Dưỡng Sao: Sớ liên quan đến các luận đề về Tịnh Độ—Commentary of the topic (subject) of discussion on the Land of peace and provision (Pure Land).

An Dưỡng Tức Tịch Quang: An Dưỡng là thế giới cực lạc, còn Thường Tịch Quang Độ hay nơi thường trú của chư Phật—Land of peace and provision is the Pure Land, while the realm where permanent tranquility and enlightenment reign, the abode of Buddhas.

An Dưỡng Viện: Anyo-in (jap)—Rest house— Retirement house—Viện an dưỡng.

An Đà Hội: Antaravasaka (skt)—Antarivasaka (p)—Antaravasa (skt)—Y hạ trong ba bộ y của nhà sư. Trung trước y, áo lót mặc bên trong, tức là áo lót mặc sát người, y năm mảnh, Một trong ba loại y của một vị Tăng—Inner garment of a monk, the five-piece cassock. One of the three regulation garments of a monk. An Đằng Tuấn Hùng: Ando Toshio (jap)—Tên của một thiền sư Nhật Bản thuộc tông Thiên Thai vào thế kỷ XX—Name of a Japanese Zen master of the T’ien-T’ai school in the twentieth century.

An Để (Lễ) La Đại Tướng: Andira (skt)—Một trong mười hai vị thần liên hệ với đức Phật Dược Sư—One of the the twelve spirits connected with the Master of Healing Buddha.

An Định: Stable—Firm.

An Đơn: Sau một thời gian tạm trú ở tiền sảnh, vị hành cước Tăng phải tọa thiền cả một tuần lễ trong một phòng kín riêng biệt, với những điều kiện khắc nghiệt. Chỉ sau đó, anh ta mới được nhận hẳn vào cộng đồng tu viện—After a long period of temporary dwelling at the front hall, a traveling monk then must provide a further proof of his seriousness through a week of sitting in a solitary cell under the most austere conditions before he is finally accepted into the monastic community—See Hành Cước Tăng.

An Hạ: To put down.

An Hạ Xứ: A place to rest—Resting place—A place for putting things down, i.e. baggage—A place to stay.

An Hòa: 1) Tên của một vị thị giả của Phật Kim Tịch: Sotthija (skt)—Name of an attendant of the Golden Tranquility Buddha; 2) Có khả năng làm an lạc và êm dịu mọi tình huống, một trong tám đặc tính của nước—Ability to give comfort, one of eight chracteristics of water—See Bát Công Đức Thủy.

An Huệ: Settled or firm resolve on wisdom.

An Huệ Bồ Tát (475-555): Sthiramati (skt)— Settled Wisdom Bodhisattva—Name of a

Bodhisattva—Kiên Tuệ hay Kiên Huệ Bồ Tát, tên của một nhà triết học thuộc trường phái Du Già (Yogachara), một trong mười vị thầy nổi tiếng của trường phái Duy Thức Học. Ngài đã soạn ra những tác phẩm bình luận về các tác phẩm của Ngài Thế Thân và Long Thọ, mong triển khai những chỗ giống nhau giữa Yogachara và Trung Đạo. Ngài sống vào thế kỷ thứ sáu sau Tây lịch. Ngài là người tiêu biểu cho phái duy tâm ôn hòa. Những tác phẩm còn lưu lại của ngài là Luận Đại Thừa Vi Diệu Pháp và Đại Thừa Trung Quán Luận. Ngài rất nổi tiếng trong việc bác bỏ những lý thuyết của ngài Chúng Hiền qua tác phẩm Vi Diệu Pháp Câu Xá Luận và Thế Thân Tam Thập Kệ Luận. Ngài cũng chính là người đã lập ra thuyết “Tự Chứng Phần” (Svasakshatkara)— Name of a philosopher of the Yogachara, one of the ten great masters of the Consciousness-Only School. He wrote several important comments on the works of Vasubandhu and Nagarjuna, in which he attempted to develop the common ground in the teachings of Yogachara and Madhyamika. He lived around the 6th century AD, he advocated a moderate idealism. Extant works by him are the Treatise of Collection of Mahayana-Abhidharma and the Treatise on the Middle View of the Great Vehicle. He was very famous for refuting the theories of Samghabhadra through the Treatise on

Abhidharmakosa and Vasubandhu’s

Consciousness-only in thirty verses. He also established the theory of “Self Witnessing Aspect.”

An Huyền: An-hsuan—Tên của một nhà dịch kinh người Thiên Trúc, đến Lạc Dương vào thời Đông Hán—Name of an Indian sutra-translator, who came to China during the Eastern Han (206 B.C.-220 A.D.).

An Hưởng: To enjoy in peace

An Lạc: Ksema (skt)—Anraku (jap)—Tranquil— Quiet—Pacify—Thanh bình—Hòa bình—An lạc là một cái gì có thể hiện hữu trong giờ phút hiện tại. Thật là kỳ cục khi nói, “Hãy đợi cho đến khi tôi làm xong cái này rồi thì tôi thoải mái để sống trong an lạc được.” Cái ấy là cái gì? Một mảnh bằng, một công việc, một cái nhà, một chiếc xe, hay trả một món nợ? Như vậy bạn sẽ không bao giờ có an lạc. Lúc nào cũng có một cái khác sau cái này. Theo đạo Phật, nếu bạn không sống trong an lạc ngay trong giây phút này, thì bạn sẽ không bao giờ có an lạc. Nếu bạn thực sự muốn an lạc, thì bạn có thể an lạc ngay trong giờ phút này. Nếu không thì bạn chỉ có thể sống trong hy vọng được an lạc trong tương lai mà thôi—Peace can exist only in the present moment. It is ridiculous to say, “Wait until I finish this, then I will be free to live in peace.” What is “this?” A degree, a job, a house, a car, the payment of a debt? If you think that way, peace will never come. There is always another “this” that will follow the present one. According to Buddhism, if you are not living in peace at this moment, you will never be able to. If you truly want to be at peace, you must be at peace right now. Otherwise, there is only “the hope of peace some day.”

An Lạc Độ: Sugati (skt)—An Lạc Mệnh—Cảnh giới hoan lạc—Bliss—Blissing world—Happy fate—Land of peace and bliss (Pure Land). An Lạc Đường: Nhà dưỡng lão để dành cho các vị Tăng già yếu trong các chùa—A nursing home for elderly monks in a temple. An Lạc Hạnh: Peaceful and joyful practice. An Lạc Hạnh Khẩu: Pleasant practice of the mouth of a Bodhisattva—Hạnh an lạc nơi khẩu— See Khẩu An Lạc Hạnh.

An Lạc Hạnh Nguyện: Pleasant practice of the vow of a Bodhisattva—Hạnh an lạc nơi nguyện— See Nguyện An Lạc Hạnh.

An Lạc Hạnh Tâm: Pleasant practice of the mind of a Bodhisattva—Hạnh an lạc nơi tâm—See Tâm An Lạc Hạnh.

An Lạc Mệnh: Sugati (skt)—An Lạc Độ—Cảnh giới hoan lạc—Bliss—Blissing world—Happy fate.

An Lạc Pháp Môn: Anzen (jap)—See An Thiền.

An Lạc Tập: Bộ sách Tịnh Độ được viết bởi ngài Đạo Xước vào thế kỷ thứ bảy. Nội dung có những đoạn nói về nhất tướng tam muội được trích dẫn từ nhiều kinh điển khác nhau. Ý định của tác giả ở đây chứng tỏ rằng tam muội là phương tiện hữu hiệu dẫn hành giả diện kiến hết thảy chư Phật trong quá khứ, hiện tại và vị lai. Nhưng trên phương diện giải thoát, nhất là trong quan điểm của nhà Thiền, thấy chư Phật thì có lợi ích gì? Thị kiến khách quan của Phật phải phù hợp với sự thể hiện nội tâm mà trên quan điểm tâm lý học, nó là thể tài trọng yếu nhất mà hành giả cần nhận xét— Collection of Passages Concerning Birth in the Land of Peace and Bliss or Book of Peaceful and Joyful Practices, written by Tao-Ch’o in the seventh century. The content of the book includes passages bearing on the Samadhi of Oneness which are quoted from various sutras. The author’s intention here is to prove the Samadhi to be efficient means of bringing the devotee into the presence of all the Buddhas of the past, present, and future. But, from the point of view of salvation or enlightenment, especially the point of view in Zen Buddhism, what is the use of seeing the Buddhas? The seeing of the Buddha objectively must be in correspondance with the inner realization and, as far as psychology is concerned, inner realization is the more important topic of consideration for practitioners.

An Lạc Trong Niết Bàn: Nibbanic bliss.

An Lạc Sâu Xa: Profound peace.

An Lão: Anro (jap)—See An Lạc Đường.

An Lão Tự: Tên của một ngôi chùa trong tỉnh Ninh Bình, Bắc Việt—Name of a temple in Ninh Binh Province, North Vietnam.

An Lẫm (507-583): An-lin—Tên của một vị sư người Hoa vào thế kỷ thứ VI—Name of a Chinese monk in the sixth century.

An Lập: Supratisthita (skt)—Kiến Lập—To set up—To establish—Firm-standing—To stand firm.

An Lập Chân Như: Samnivesatathata (skt)—Y Chỉ Chân Như—Firm-standing Tathagata—Bất biến chân như (vạn pháp tức chân như). Tùy theo duyên vô minh mà khởi lên trong thế giới hiện tượng mà chân tính bất biến. Chân như của các nền tảng của sự tu tập—The changeless essence or substance. Suchness of the bases of practice. An Lập Hạnh: Supratichthitatcharitra (skt)— Supratisthita-caritra (skt)—Firm-standing conduct—See An Lập Hạnh Bồ Tát. An Lập Hạnh Bồ Tát: Supratichthitatcharitra (skt)—Một trong những vị Bồ Tát đã vân tập về núi Kỳ Xà Quật ủng hộ đức Phật thuyết giảng kinh Pháp Hoa—Firm-standing conduct Bodhisattva, one of the Bodhisattvas who gathered at Mount Grdhrakuta to support the Buddha to preach the Lotus Sutra.

An Lập Tam Muội: Supratisthita-samadhi (skt)— Firm-standing concentration.

An Lập Vô Lượng Thừa: Tùy theo căn tính của chúng sanh mà thành lập vô số pháp môn để cứu độ họ—Based on sentient beings’ capacities to establish numerous methods to save them. An Linh Thủ Ni: An-lin Shou Bhiksuni—Tên của một vị ni sư nổi tiếng của Trung Hoa vào thế kỷ thứ IV, đệ tử của ngài Phật Đồ Trừng—Name of a famous Chinese nun in the fourth century, who was a disciple of Fo-T’u-Ch’êng (Buddhasimha

(skt).

An Minh: See Tu Di.

An Minh Sơn: Mount Sumeru—See Tu Di.

An Na Bát Na: See Sổ Tức Quán.

An Nhẫn: See Nhẫn Nhục.

An Nhẫn Chướng Ngại: Tolerance of adversity (obstructions, difficulties, obstacles, hindrances). An Nhẫn Thành Tựu: Thành tựu an nhẫn mọi chướng ngại—An achievement of tolerance of adversity (obstructions, difficulties, obstacles, hindrances).

An Nhiên: Calm.

An Nhiên Thị Tịch: Tịch diệt một cách an nhiên—Pass away without sorrow. An Nhiên Thiền Sư: An-ren—Tên của một thiền sư Nhật Bản thuộc tông Thiên Thai hồi thế kỷ thứ IX—Name of a Japanese Zen master of the T’ienT’ai School in the ninth century.

An Nhiên Tự Tại: Inner freedom.

An Ổn: An lạc và yên ổn—Joy and stability.

An Pháp Hiền: See Pháp Hiền.

An Pháp Khâm: An-Fa-Ksing—Tên của một vị Tăng Ấn Độ, người đã đi đến Trung Hoa hồi thế kỷ thứ III sau tây lịch. Vào năm 306, ngài đến Lạc Dương để dịch một số kinh điển từ tiếng Phạn sang tiếng Hoa—Name of an Indian monk who came to China in the third century. In 306 A.D., he arrived at Luo-Yang to translate some sutras from Sanskrit into Chinese.

An Phận: To be content (satisfied) with one’s lot (destiny)—Contentment with conditions.

An Phù Đà Địa Ngục: Arbuda (skt)—Nơi tội nhân luôn bị bỏng giộp vì lạnh—Where the cold causes blisters.

An Quốc Huyền Đỉnh Thiền Sư: Zen master Ankuo Hsuan-t’ing—Thiền sư An Quốc Huyền Đỉnh là một trong những đệ tử của Thiền sư Trí Oai ở Nam Kinh. Hiện nay một trích đoạn trong những giáo pháp của ông vẫn còn. Theo Tông Cảnh Lục, một hôm, có một cư sĩ hộ trì hỏi An Quốc Huyền Đỉnh: “Ngài là một người theo Bắc tông hay Nam tông?” An Quốc Huyền Đỉnh đáp: “Ta không phải là một người theo hoặc là của Bắc tông, hoặc là của Nam tông. Tâm là tông của ta.” Ở đây, An Quốc Huyền Đỉnh đang nói về một “tông” theo cái nghĩa của một thực thể môn phái, nhưng chữ “tông” còn chỉ giáo pháp hay nguyên lý giáo pháp. Như vậy, câu hỏi là liệu ngài theo giáo pháp của người phương Bắc hay người phương Nam, và câu trả lời là giáo pháp chân chính của Phật giáo liên quan đến tâm và siêu việt bất kỳ giáo pháp nào mà chúng ta có thể bám vào—Zen master An-kuo Hsuan-t’ing was one of Zen master Chih-wei’s disciples in Nan-king. One of his excerpts his teachings is still extant. According to the Tsung Ching-lu (Records of the Mirror of Truth), one day, a lay supporter asked Zen master An-kuo Hsuan-t’ing: “Are you a follower of the Southern School or the Northern School?” An-kuo Hsuant’ing answered: “I am not a follower of either the Southern School or the Northern School. The mind is my School.” Here, An-kuo Hsuan-t’ing was talking about a schooling the sense of a sectarian entity, but the word “tsung” also indicates a teaching or doctrinal principle. The question is thus whether he follows the teachings of the Northerners or the Southerners, the answer being that the true teaching of Buddhism concerns the mind and transcends any teachings to which one might adhere.

An Quốc Tự: Ankoku-ji (jap)—Tên của một ngôi chùa ở Tokyo, Nhật Bản—Name of a temple in Japan.

An Tâm: Anjin (jap)—Mind at peace—Peace of mind—Settled mind—Tình trạng tâm thức an lạc hay an lành trong tâm. Làm cho tâm yên tỉnh hay đạt được sự yên. Thuật ngữ Phật giáo Nhật Bản “Anjin” có nghĩa là “An tâm hay trái tim an lạc.” Sự an tâm hay an lạc trong tâm, theo quan niệm Phật giáo, là trạng thái tâm thức mà chỉ có sự thể nghiệm giác ngộ mới cho phép chúng ta biết tới. Trong Thiền, cách tập tọa thiền được coi như một trong những con đường ngắn nhất giúp đạt tới sự an lạc trong tâm. Sự an tâm cũng là một trong những công án nổi tiếng trong “Vô Môn Quan,” theo thí dụ 41: “Tổ Bồ Đề Đạt Ma ngồi quay mặt vào tường. Nhị tổ đứng trong tuyết, tự cắt cánh tay mình và nói, ‘Tâm đệ tử không an. Thưa thầy, con cầu xin thầy an tâm cho con.’ Tổ Bồ Đề Đạt Ma nói, ‘Hãy mang tâm của nhà ngươi lại đây và ta sẽ an tâm cho ngươi.’ Nhị tổ (Huệ Khả) thưa: ‘Con không tìm được tâm.” Tổ Bồ Đề Đạt Ma nói: ‘Vậy là ta đã an tâm cho ngươi rồi đó—Inner peace or tranquility of mind. To quiet the heart or mind or to obtain tranquility of mind. “Anjin” is a Japanese Buddhist term for “Heart-mind in peace.” Peace of mind is a state of consciousness that according to Buddhism, is possible only through the experience of enlightenment. In Zen the practice of sitting meditation is seen as the shortest path to peace of mind. Peace of mind is also a renowned koan, the example 41 in the Wu-Men-Kuan: “Bodhidharma sat facing the wall. The second patriarch, who had been standing in the snow, cut off his own arm and said, ‘The mind of yours student still finds no peace. I entreat you, master, please give it peace.’ Bodhidharma said, ‘Bring your mind here and I’ll give it peace.’ The second patriarch said, ‘I’ve looked for the mind, but finally it can’t be found.’ Bodhidharma said, ‘Then I have given it peace thoroughly!’”

An Tâm Khởi Hạnh Tác Nghiệp: An tâm, khởi lên phong thái tu hành, rồi tạo những nghiệp thiện lành. Đây là những bước tu hành trong Tịnh Độ Tông—To settle the mind, to rise the conduct (manner of action in practicing), and to produce wholesome karma. These are steps of cultivation in the Pure Land.

An Tâm Lập Mệnh: Hết lòng vì nhân gian mà hành đạo và an tâm, không bị ngoại cảnh làm xao động—To spread the Buddha-dharma for the sake of the human world, and to tranquilize the mind immovably.

An Tâm Lập Mệnh và Phi Phú Quí Thế Tục: Contentment and unworldly riches—Đối với các thiền sư, các ngài luôn hết lòng vì nhân gian mà hành đạo và an tâm, không bị ngoại cảnh làm xao động. Thiền sư Vô Môn cũng như nhiều thiền sư khác cảm nghĩ đến cái nghèo một cách thiết thực và thơ mộng hơn; các ngài không gợi thẳng đến sự việc của thế gian. Đây là bài kệ nói về cái nghèo của ngài Vô Môn Huệ Khai:

“Hoa xuân muôn đóa, bóng trăng thu.

Hạ có gió vàng, đông tuyết rơi.

Tuyết nguyệt phong ba lòng chẳng chấp.

Mỗi mùa mỗi thú mặc tình chơi.”

Bài kệ trên đây không ngụ ý thiền sư Vô Môn ăn không ngồi rồi, không làm gì khác, hoặc không có gì để làm khác hơn là thưởng thức hoa nở vào một buổi sáng với mặt trời mùa xuân hay ánh trăng thu bàng bạc; có thể ngài đang hăng say làm việc, đang giảng dạy đệ tử, đang tụng kinh, đang quét chùa hay làm ruộng như thường lệ, nhưng tâm của ngài tràn ngập một niềm thanh tịnh và khinh an. Chúng ta có thể nói ngài đang sống Thiền vì mọi mong cầu đều xả bỏ hết, tâm không còn một vọng tưởng nào gây trở ngại, mà chỉ ứng dụng dọc ngang. Đó chính là cái tâm “Không” trong cái thân nghèo. Vì nghèo nên ngài biết thưởng thức hoa xuân, biết ngắm trăng thu. Trái lại, nếu của cải của thế gian chồng chất đầy chùa thì trái tim còn chỗ nào dành cho niềm hạnh phúc thần tiên ấy? Các thiền sư thường nói đến thái độ an tâm lập mệnh và cái giàu phi thế tục của các ngài bằng những hình ảnh cụ thể, chẳng hạn như thay vì nói chỉ có đôi tay không, thì các ngài bảo rằng muôn vật trong thiên nhiên là đầy đủ lắm rồi. Kỳ thật, theo các ngài thì sự tích trữ của cải chỉ toàn tạo nghịch duyên khó thích hợp với những lý tưởng thánh thiện, chính vì thế mà các ngài nghèo. Theo các ngài thì mục đích của nhà Thiền là buông bỏ chấp trước. Không riêng gì của cải, mà ngay cả mọi chấp trước đều là của cải, là tích trữ tài sản.

Còn Thiền thì dạy buông bỏ tất cả vật sở hữu, mục đích là làm cho con người trở nên nghèo và khiêm cung từ tốn. Trái lại, học thức khiến con người thêm giàu sang cao ngạo. Vì học tức là nắm giữ, là chấp; càng học càng có thêm, nên ‘càng biết càng lo, kiến thức càng cao thì khổ não càng lắm.’ Đối với Thiền, những thứ ấy chỉ là khổ công bắt gió mà thôi—For Zen masters, they always spread the Buddha-dharma for the sake of the human world, and to tranquilize the mind immovably. Zen master Wu-Men as well as other masters are more poetic and positive in their expression of the feeling of poverty; they do not make a direct reference to things worldly. Here is Wu-men’s verse on poverty: “Hundreds of spring flowers; the autumn moon; A refreshing summer breeze; winter snow:

Free your mind of all idle thoughts,

And for you how enjoyable every season is!”

The above verse is not to convey the idea that Wu-men is idly sitting and doing nothing particularly; or that he has nothing else to do but to enjoy the spring flowers in the the spring morning sun, or the autumn moon white and silvery; he may be in the midst of work, teaching his disciples, reading the Sutras, sweeping and farming as all the masters have done, and yet his own mind is filled with transcendental happiness and quietude. We may say he is living with Zen for all hankerings of the heart have departed, there are no idle thoughts clogging the flow of life-activity, and thus he is empty and povertystricken. As he is poverty-stricken, he knows how to enjoy the ‘spring flowers’ and the ‘autumnal moon’. When worldly riches are amassed in the temple, there is no room for such celestial happiness. Zen masters always speak positively about their contentment and unworldly riches. Instead of saying that they are empty-handed, they talk of the natural sufficiency of things about them. In fact, according to real masters, the amassing of wealth has always resulted in producing characters that do not go very well with our ideals of saintliness, thus they were always poor. The aim of Zen discipline is to attain to the state of ‘non-attainment.’ All knowledge is an acquisition and accumulation, whereas Zen proposes to deprive one of all one’s possessions.

The spirit is to make one poor and humble, thoroughly cleansed of inner impurities. On the contrary, learning makes one rich and arrogant. Because learning is earning, the more learned, the richer, and therefore ‘in much wisdom is much grief; and he that increased knowledge increased sorrow.’ It is after all, Zen emphasizes that this is only a ‘vanity and a striving after wind.’ An Tâm Pháp Môn: Anzen (jap)—An Lạc Pháp Môn—See An Thiền.

An Thế Cao: An-Shi-Kao—An Shigao—Một trong những vị cao Tăng nổi tiếng, người chủ trương mang Thiền vào Trung Quốc vào khoảng 150 sau Tây lịch. Ngài là người xứ Parthie vào thế kỷ thứ hai, là hoàng thái tử xứ Parthie, người sẽ nối ngôi vua cha; tuy nhiên, ông đã xuất gia tu hành. Ngài đã từng đến Trung quốc năm 148 sau Tây Lịch và là người đầu tiên dịch kinh điển Phật giáo ra Hán tự. Ngài là người đã lập ra trường phái Thiền Na, một trường phái sớm nhất của Phật giáo

Trung quốc—An-Shih-Kao, one of the famous monks, who first advocated of the Zen or meditation doctrine in China, about 150 A.D. He was a Parthian monk of the second century, a crown prince of Parthie and was intended to assume the throne at his father’s death; however, he entered a monastery. He went to China around 148 and was the first to translate Buddhist scriptures into Chinese. He founded the Dhyana school, an early Chinese Buddhism. An Thiền: Anzen (jap)—An Lạc Pháp Môn—An Tâm Pháp Môn—An Trụ Tọa Thiền—To enter into dhyana meditation—“An Thiền hay Thiền êm đềm.” Từ ngữ này thường được dùng để chỉ việc tu tập tốt về tọa thiền, nhờ đó mà thân tâm đạt tới sự thanh thản sáng suốt—Anzen is a Japanese Buddhist term for “Peaceful Zen.” This expression is usually used for proper practice of sitting meditation, in which body and mind come to lucidly wakeful calm.

An Thiền Na: Anjanavana (skt)—A Xà Na

Lâm—Một khu rừng ở miền trung Ấn Độ, giữa hai xứ Câu Đàm Di và Xá Vệ Quốc—A place in central India between Kosambi and Savatthi. An Thiền Lâm: Anjanavana (skt)—See A Xà Na Lâm.

An Thiền Thiền Sư: Zen Master An Thiền—

Thiền sư nổi tiếng của Việt Nam vào đầu thế kỷ thứ 19. Ngài là tác giả bộ “Tam Giáo Thông Khải” được biên soạn vào giữa thế kỷ thứ 19, có lẽ được in vào khoảng năm 1845. Hầu hết cuộc đời hoằng pháp của ngài, ngài trụ tại chùa Đại Giác ở Đồ Sơn, Bắc Ninh. Sư An Thiền đã soạn bộ “Tam Giáo Thông Khảo”. Sách được biên soạn vào giữa thế kỷ thứ 19, có lẽ được in vào khoảng năm 1845. Sách gồm ba phần—A Vietnamese famous Zen master in the early nineteenth century. He was the author of “A Thorough Study on the Three Religions” composed in the middle of the nineteenth century. Probably printed in 1845. He spent most of his life at Đại Giác Temple in Bồ Sơn, Bắc Ninh to expand Buddhism. Master An Thiền composed a book titled “A Thorough Study in the Three Religions”. The book was composed in the middle of the nineteenth century. Probably printed in 1845. The book included three divisions:

(I) Quyển thứ nhất—Phật Giáo: First volume— Buddhism.

  1. Phụng Chiếu cầu pháp: Việc du học của Thiền sư Tính Tuyền Trạm Công—The travel in seeking the Buddha Dharma of Zen Master Tính Tuyền Trạm Công.
  2. Bản Quốc Thiền Môn Kinh Bản: Các bản kinh khắc ở Việt Nam—Sutras printed in Vietnam.
  3. Đại Nam Thiền Học Sơ Khởi: Khởi thủy

Thiền học Việt Nam—The beginning of Zen in Vietnam.

  1. Đại Nam Phật Tháp: Các tháp Phật ở Việt

Nam—Buddha stupas in Vietnam.

  1. Vô Ngôn Thông Truyền Pháp: Thiền phái Vô Ngôn Thông—Wu-Yun-T’ung Zen Sect.
  2. Danh Trấn Triều Đình: Các cao Tăng nổi tiếng ở triều đình—Famous monks at the Royal Palace.
  3. Lê Triều Danh Đức: Các cao Tăng thời Tiền Lê—Famous monks during the Tiền Lê Dynasty.
  4. Lý Triều Danh Đức: Các cao Tăng thời nhà Lý—Famous monks during the Lý Dynasty.
  5. Trần Triều Danh Đức: Các cao Tăng đời Trần—Famous monks during the Trần Dynasty.
  6. Tỳ Ni Đa Lưu Chi Truyền Pháp: Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi—Vinitaruci Zen Sect.
  7. Tuyết Đậu Truyền Pháp: Thiền phái Thảo Đường—Thảo Đường Zen Sect.
  8. Những việc thần bí liên quan đến các Thiền sư Việt Nam qua các triều đại: Mystic things involving Vietnamese Zen masters throughout all dynasties.
  9. Danh từ Phật học và các thần thoại Phật Giáo ở Trung Hoa và Việt Nam: Buddhist terms and mythological stories about Buddhism in China and Vietnam.

(II) Quyển thứ hai—Khổng Giáo: Second volume—Confucianism.

(III)Quyển thứ ba—Lão Giáo: Third volume— Taoism.

An Thọ Khổ Nhẫn: Nhẫn nhục trước khổ đau— Patience under suffering.

An Thổ Địa: To tranquilize the land, or a plot of land, by freeing it from harmful influences.

An Tĩnh: Calm—Quiet—Tranquility—

Quietness—Serenity.

An Tịnh: Vupasamaya (p)—Samatha (skt)—1) Sự an tịnh: Calm and still, tranquil and pure; 2) Không có phiền não: Absence of passions.

An Tòa: An trí tượng Phật nơi chánh điện: To put

Buddha statue in the main hall—Lễ an vị tượng Phật nơi chánh điện: A ceremony to put Buddha statue in place in the Main Hall.

An Toàn: Abhayam (p)—Safety—In security. An Trí: To send someone to a concentration camp.

An Trú: Vasati (p & skt)—To abide—To stay— To dwell—To stop at a place—Phật tử nên luôn tự an trong trong các giáo lý của Đức Phật, chứ không phụ thuộc vào bất cứ ai khác—Buddhists should always abide (establish themselves) in the teachings of the Buddha, not depending upon anybody else.

An Trú Địa: A dwelling place—Residence— Abode.

An Trú Trong Phật Tâm: Staying in Buddhamind—Thiền sư Bàn Khuê Vĩnh Trác viết trong quyển ‘Tâm Bất Sinh’: “Có một lần, trong tự viện của tôi, một vị Tăng ngủ thiếp đi. Một vị Tăng khác thấy vậy, cầm gậy hất vào người vị Tăng đang ngủ. Tôi quở trách anh ta: ‘Tại sao ông lại đánh anh ta vào lúc anh ta đang đánh một giấc trưa ngon lành như thế? Ông nghĩ rằng anh ta xa lìa Phật tâm và đang long bong đâu đó trong lúc ngủ phải không? Nếu ông tỉnh thức, ông tỉnh thức. Nếu ông ngủ, ông ngủ. Khi ông ngủ, ông ngủ trong Phật tâm, chẳng khác nào khi ông thức. Khi ông thức, ông thức trong Phật tâm, chẳng khác nào khi ông ngủ. Ông ngủ trong Phật tâm khi ông ngủ và ông thức và trú trong Phật tâm khi ông thức. Như thế, ông luôn trú trong Phật tâm. Ông không hề rời xa cái Tâm ấy dầu trong khoảnh khắc.'”—In the Unborn, Zen Master Bankei wrote: “There was once a monk in my temple who had been dozing off. Another monk saw him and really laid into him with a stick. I reprimanded him: ‘Why hit him when he’s enjoying a pleasant nap? Do you think he leaves the Buddha-mind and goes somewhere else when he sleeps?… If you stay awake, you stay awake. If you sleep, you sleep. When you sleep, you sleep in the same Buddha-mind you were awake in. When you’re awake, you’re awake in the same Buddha-mind you were sleeping in. You sleep in the Buddha-mind while you sleep and are up and about in the Buddha-mind while you are up and about. That way, you always stay in the Buddha-mind. You’re never apart from it for an instant.'”

An Trụ Bồ Đề Tâm: Persist in the determination for enlightenment—Có một loại thiện tri thức giúp hành giả được an trụ Bồ đề tâm. Đây là một trong mười loại thiện hữu tri thức mà Đức Phật đã dạy trong Kinh Hoa nghiêm—There is a Spiritual friend who helps cultivators persist in the determination for enlightenment. This is one of the ten kinds of spiritual friends who help them along the path to enlightenment in the Flower Adornment Sutra—See Mười Loại Thiện Hữu Tri Thức.

An Trụ Căn: Căn an trụ, vì chẳng dứt tất cả Bồ Tát hạnh—Steadfast faculties, not stopping the practices of Enlightening Beings. An Trụ Chánh Đạo, Bất Khí Tà Đạo: Live by the right path but always appear to enter false paths—An trụ trong chánh đạo chẳng bỏ tà đạo— An trụ trong chánh đạo, chánh trí và chánh kiến, mà hay thị hiện vào tất cả tà đạo, chẳng lấy làm thiệt, chẳng chấp làm tịnh, làm cho chúng sanh đó xa rời tà pháp—They live by the right path, right knowledge, and right insight, yet they can appear to enter false paths, without taking them to be true or pure, to cause the sentient beings involved in them to abandon false principles.

An Trụ Đại Thừa: An trụ trong Đại Thừa—Dwell in the Great Vehicle.

An Trụ Hạnh Phổ Hiền: Establishment in the practice of Universal Good—An trụ trong Hạnh Phổ Hiền—Khiến an trụ trong Hạnh Phổ Hiền. Có một loại thiện tri thức khiến hành giả an trụ trong Hạnh Phổ Hiền. Đây là một trong mười loại thiện hữu tri thức mà Đức Phật đã dạy trong Kinh Hoa Nghiêm—There is a spiritual friend who helps establishing cultivators in the practice of Universal Good. This is one of the ten kinds of spiritual friends who help them along the path to enlightenment in the Flower Adornment Sutra— See Mười Loại Thiện Hữu Tri Thức. An Trụ Tâm: Tâm an trụ—A peacefully dwelling mind.

An Trụ Tịnh Tín: Rest on pure faith—Chư Bồ Tát an trụ tịnh tín kiên định và không lay chuyển—Enlightening Beings rest on pure faith, steadfast and imperturbable.

An Trụ Tối Thắng: Perfect rest in the bodhisattva nature.

An Trước: Sắp đặt—To arrange. An Tuệ: Settled or frim resolve on wisdom— Established wisdom.

An Tuệ Bồ Tát: Một trong mười luận sư nổi tiếng người Ấn vào thế kỷ thứ năm (đặc biệt về Duy Thức Học)—One of the ten famous Southern Indian exponents on Buddhist doctrine, specially of the Vijnaptimatratasiddhi sastra, in the fifth century—See An Huệ Bồ Tát. An Tử Sơn: Núi Trúc Lâm Yên Tử trong tỉnh Quảng Ninh, Bắc Việt—Mount Yen Tu in Quang Ninh Province, North Vietnam.

An Tử Sơn Trúc Lâm Thiền Tông Bổn Hạnh:

Tập thơ Nôm của Thiền sư Chân Nguyên (16471726), viết về Thiền tông từ thời đức Phật đến đời nhà Trần ở Việt Nam—A book of old-style Vietnamese language poems, written by Zen master Chan Nguyen, related the history of the Zen sect from the Sakyamuni Buddha till the Tran Dynasty in Vietnam.

An Tức: To rest.

An Tức Hương: Ansoku-Ko (jap)—Loại nhang giúp cho hơi thở được yên bình—Peaceful breath incense.

An Tường: Dáng vẻ thong dong tự tại—Calm and leisurely fashion (manner).

An Tường Tam Muội: Calm and clear state of samadhi.

An Ủi: Consolation—Comfort—Solace—Words of consolation—To console—To comfort—

Comforter—Pacifier.

An Vị: To be in place.

An Vị Phật: Lễ đặt tượng Phật—A ceremony to put Buddha statue in place. An Vị Phi An Vị Đế: Chân lý tuyệt đối tạm thời—Provisional and ultimate truths.

An Ý: Yên lòng—Yên tâm—Yên trí—Mind at peace—Peace of mind—Settled mind.

Án: 1) Bàn của phán quan: A judge’s desk; 2) Cuộc xử án của tòa: A case at law; 3) Dằn xuống: To place, to lay the hand on; 4) Lời chú mở đầu Đà La Ni Kim Cương Giới: A mystical formulae opening a dharani in Vajradhatu; 5) Từ Bắc Phạn là “Om” thường thấy khi bắt đầu trong những bài chú. Từ ngữ nầy rất đơn giản, nhưng lại là một thứ chú thiêng liêng trong Phật giáo và các tôn giáo khác ở Ấn Độ: “Om” is a Sanskrit syllable, often found at the beginning of Buddhist Mantras. The term is the most simple, yet sacred mantra in Buddhism and other Indian religions.

Án Chỉ: To make a finger-mark or sign.

Án Đạt La Phái: Andhaka (skt)—An ancient

Buddhist sect which included the Purvasailah and Avarasailah—Một tông phái Phật giáo cổ, phái này bao gồm Đông Sơn và Tây Sơn Trụ Bộ. Án Đầu: Bàn đọc kinh hay uống trà của chúng Tăng trong tự viện—Reading table or tea table for monks in a temple.

Án Hắc Đậu: Ngậm đậu đen, trong nhà Thiền chỉ người chỉ căn cứ vào văn tự mà lơ là chân ý—To hold black beans in one’s mouth. In Zen, the term is used to imply one who relies on the letter, not on the true meaning.

Án Khiếm Diện: Judgment by default.

Án Lệ: Jurisprudence.

Án Ma Ni Bát Di Hồng: Om Mani Padme Hum

(skt)—Án ma ni bát di hồng có nghĩa là ‘ngọc quí trong hoa sen’. Đây là một nghi thức trì niệm của trường phái Lạt Ma. Mỗi chữ trong sáu chữ có uy lực cứu rỗi những chúng sanh trong các đường dữ—The term means ‘precious pearl in a lotus’. This is a formula of Lamaistic branch. Each of the six syllables having its own mystic power of salvation the lower paths of transmigration.

Án Ngữ: To obstruct someone’s path—To put obstacles in someone’s way. Anh Biện (1247-1314): Ying-pien—Tên của một vị Tăng Trung Hoa thuộc tông Pháp Tướng hồi thế kỷ thứ XIII—Name of a Chinese monk of the FaHsiang-tsung in the thirteenth century.

Anh Đồng: Đứa bé—A child.

Anh Đồng Tâm:Tâm tối thượng của thế gian— Super mind of the worldly world—See Anh Đồng Vô Úy Tâm.

Anh Đồng Vô Úy Tâm: Mind of Taoism and Brahmanism—Tâm Thiên thừa—Giai đoạn chúng sanh ở cõi trời, nỗ lực cho một sức mạng siêu nhiên, như Lão giáo và Bà La Môn giáo (Thiên thừa)—The Vehicle of heavenly beings striving to have a supernatural power, the stage of Taoism and Brahmanism, one of the ten stages of spiritual development.

Anh Hùng Mạt Lộ: Anh hùng gặp lúc cùng đường—Hero in difficulty or at the end of his life. Anh Lạc: Keruva(skt)—Necklace of pearl—

Necklace of diamond—Chuỗi Anh Lạc—Ngọc hay chuỗi ngọc để đeo trên người—A necklace of precious stones—Things strung together. Anh Lạc Kinh: Keruva-sutra (skt)—Sutra of the

Necklace of pearl—Ying-Lo-Ching—See Kinh Anh Lạc.

Anh Linh: Supernatural power.

Anh Nghiem: See Anh Nghiêm Tự.

Anh Nghiêm Tự: Yeganji (jap)—Một trong những ngôi tự viện nổi tiếng ở Nhật Bản—Yeganji temple, one of the famous temples in Japan.

Anh Nham Tự: Eigan-ji (jap)—Một trong những ngôi tự viện nổi tiếng ở Nhật Bản—Yeganji temple, one of the famous temples in Japan.

Anh Nhi Hạnh:Trong kinh Niết Bàn, anh nhi hạnh là tiếng kêu không rõ ràng của trẻ con. Trong Thiền, từ ngữ nầy có nghĩa là ngôn hạnh của đức Như Lai không thiên lệch—In the Nirvana Sutra, this is the unclear sound of children. In Zen, the term means the Buddha’s words and conduct are not partial.

Anh Quỷ: Quỷ thân thể đầy mụn nhọt—Ghosts of which bodies are full of tumours.

Anh Tài: Remarkable talent.

Anh Tỉnh Tú Hùng: Sakurai Syuyu (jap)—Tên của một vị Tăng Nhật Bản hồi thế kỷ thứ XX. Sư là tác giả của bộ Thiền Học Đại Từ Điển của Nhật

Bản—Name of a Japanese monk in the twentieth century. He was the author of a Japanese Great Zen Dictionary.

Anh Tú: Elegant and clever.

Anh Tuấn: Eminent person.

Anh Vũ: Suka (skt)—Parrots—Anh Võ, một trong những danh hiệu của Đức Phật—One of the Buddha’s epithets.

Anh Vũ Thiền: Parrots’ Zen—Thiền tông dùng từ nầy để chỉ người học đạo chẳng rõ thiền ý, mà chỉ học thuộc lòng và nói như két. Đây là phương pháp buông xả hơn là thiền, hành giả tùy thuộc vào sự hướng dẫn của người khác chứ không có khả năng tự vào thiền—This kind of meditation is a mode of relaxation rather than meditation, in which cultivator depends on the leading of others, inability to enter into personal meditation. Anh Vũ Thỉnh Phật: Anh Vũ thỉnh Phật thuyết pháp và tọa thiền suốt đêm, và chính con chim đã bay vòng quanh để bảo vệ đức Phật—A parrot that invited the Buddha to lecture on the Dharma and to sit in meditation for the whole night; and the bird itself flew around to protect the Buddha. Anh Vũ Thuyết Pháp: Anh Vũ thuyết pháp (theo kinh A Di Đà)—Parrots’ lecturing on the Dharma (according to the Amitabha Sutra).

Ánh: Ray—Beam—Light.

Ánh Đạo Vàng: The Golden Light of the Dharma.

Ánh Đơn Sắc: Monochromatic light.

Ánh Hoàng Đới: Zodiacal light.

Ánh Phân Cực: Polarized light.

Ánh Sao: Starlight.

Ảnh: Chaya (skt)—Hình ảnh: Image—Picture— Photograph—Shadow—Reflection—Hint.

Ảnh Ảo: Virual image.

Ảnh Và Âm Hưởng: Shadow and echo.

Ảnh Dụ: Pratibhasa-upama (skt)—Thí dụ chỉ chư pháp giống như hình bóng—Simile on Image, that all dharmas bear a resemblance to a shadow or a reflection.

Ảnh Đường: Ảnh đường là nơi bày biện tất cả những tôn tượng thờ kính hay nơi phụng thờ di tượng của tiên nhân—A hall where are the images, or pictures, of objects of worhship. Ảnh Giả: Virual image.

Ảnh Hiện: The epiphany of the shaddow, i.e. the temporal Buddha.

Ảnh Hộ: Như bóng theo hình, không tách rời thân thể, luôn luôn đi kèm để ủng hộ thân thể—Like a shaddow guardian, always following like a shaddow the substance.

Ảnh Hướng Chúng: Reflection assembly—See Ảnh Hưởng Chúng.

Ảnh Hưởng: Influence—To affect.

Ảnh Hưởng Chúng: Reflection assembly—Còn gọi là Ảnh Hướng Chúng—Những vị đến đáp ứng lời cầu nguyện của chúng sanh như Ngài Văn Thù hay Quán Âm—The responsive group in the Lotus Sutra, who came in response to a call, e.g. Manjusri, Kuan-Yin, etc (those like Manjusri, who reflected on or drew out the Buddha’s teaching). Ảnh Lược Hổ Hiển: Lúc thuyết minh hai sự kiện có liên quan nhau, hễ sự việc này bớt đi thì sự việc kia hiển bày; sự việc kia lược bớt đi là do sự việc này thuyết minh rõ ràng—In interpretation, there are two closely related facts; if this fact decreases, the other clearly manifests; if that fact briefly decreases, this fact clearly interprets itself.

Ảnh Sự: Shadow phenomena—Hiện tượng hư ảo—Hết thảy sự vật trên thế gian đều là hư ảo như hình bóng, chứ không phải là cái chân thực— Shadow things, i.e. all things are mere shadows, not the reality.

Ảnh Tướng: Image—Reflection.

Ảnh Tượng: Patibimba (p)—Pratibimba (skt)— Statue—Image—Shaddows—Ảnh tượng không có sự hiện hữu thật sự, không có tự tánh. Theo Duy Thức Học, ảnh tượng chỉ những hình ảnh hiện lên trong tâm thức do sự phân biệt—Reflections, with no real existence or nature of their own. In Consciousness-only theory, “image” refers to the various images manifested in the mind due to discrimination.

Ảnh Tượng và Kinh Sách: Images and Sutras.

Ảnh Tượng Tâm Linh: Mental image.

Ảnh Tượng Theo Quan Điểm Đại Thừa:

Mahayana-pratibimba (skt)—See Ảnh Tượng.

Áo: Rốt ráo—Totally and completely.

Áo An Đà Hội: See An Đà Hội. Áo Bá Nạp: Bá Nạp Y—Y áo làm bằng vải bá nạp (vải mà người ta đã vứt đi)—Broken patched robe.

Áo Cà Sa: Buddhist monk’s dress (robe)—Robe of a monk.

Áo Cửu Điều: Áo cà sa có phẩm trật thấp nhất— The lowest rank of the patched robe.

Áo Đăng Bá Cách (1854-1920): Hermann

Oldenberg—Một học giả người Đức nổi tiếng về kinh Vệ Đà vào thế kỷ thứ 19, có công trong việc thu thập toàn bộ “Luật Tạng.” Ông là một học giả vĩ đại về Kinh Vệ Đà và là người đã đặt ra những tiêu chuẩn cho việc bình phẩm và giải thích Rigveda. Bài giới thiệu uyên bác của ông trong bộ Luật Tạng đã đưa Giới Luật của Phật giáo lên hàng đầu và mở ra một lãnh vực mới cho việc tìm hiểu Tăng hội Phật giáo. Luật Tạng được xuất bản trong thời gian từ năm 1879 đến 1883, và các bản dịch ra Anh ngữ của ông về các bộ Giới Bổn, Đại Phẩm, Tiểu Phẩm với sự cộng tác của Rhys Davids, đã được đưa vào các cuốn số 13, 17, và 20 của bộ Thánh Thư Phương Đông. Một cuốn sách nổi tiếng khác của ông, “Đức Phật,” đã được Hoey dịch ra tiếng Anh vào năm 1882. Đây là cuốn sách giáo khoa đầu tiên ở Âu Châu được căn cứ hoàn toàn trên các tư liệu tiếng Pali. Các công trình quan trọng khác của ông là việc xuất bản các bộ Trưởng Lão Tăng-Ni Kệ vào năm 1883, bộ “Đảo Sử,” nguyên bản dịch tiếng Anh năm 1897, và Literatur des Alten Indien. Ngoài những tác phẩm lớn này, Oldenberg còn có nhiều bài viết uyên bác về văn học Vệ Đà đã giúp ông xác lập mối quan hệ giữa văn học Pali và kinh Vệ Đà. Nhận xét xác đáng của ông cho rằng phần mở đầu kinh “Sa Môn Quả” là sự mô phỏng cuộc đối thoại giữa Yajnavalkya và Janaka trong cuốn Bhradaranyaka Upanisad, và luận điểm của ông cho rằng bộ Túc Sanh Chuyện Pali gần giống với các bài tụng Akhyana trong Thánh kinh Vệ Đà là những thí dụ—An eminent German Vedic scholar in the nineteenth century, credited for editing the entire “Vinaya Pitaka.” He was a great vedic scholar and has set the standard for the critical editions and interpretations of Rigveda. His learned introduction to the Vinaya-pitaka brought the Discipline of the Buddhist Order to the forefront and a new field was opened for Buddhist ecclesiastical studies. The Vinaya-pitaka was published during the period from 1879 to 1883 and his English translations of the Patimokkha, the Mahavagga and the Cullavagga, in collaboration with Rhys Davids, appeared in Volumes XIII, XVII, and XX of the Sacred Books of the East (1881-1885). His other celebrated work, The Buddha, was translated into English by Hoey in the year 1882. This was the first textbook in Europe based wholly on first-hand Pali sources. His other major works were the editions of the Thera-Theri-Gatha (1883), the Dipavamsa (Text and English translation, 1897), and Literatur des alten Indien. Apart from these solid works, Oldenberg has many learned articles to his credit. His erudition in Vedic literature helped him to establish the relation between Pali literature and the Vedas. His original suggestion that the introduction to the Samanna-phala-sutta is an initiation of the Yajnavalkya-Janaka dialogue in the Bhradaranyaka Upanisad, and his contention that the Pali Jatakas are akin to the Akhyana hymns of the Regveda are examples of this. Áo Đăng Bảo (1863-1934): Sergei Fyodorovich Ol’denburg—Một học giả người Đức nổi tiếng trong việc nghiên cứu kinh Phật bằng Phạn ngữ vào thế kỷ thứ 19—An eminent Russian scholar in studying the Sanskrit Sutras in the nineteenth century.

Áo Não: Harassed—Distressed—Uneasy—

Vexed.

Áo Nghĩa: Nghĩa lý huyền áo—Mysterious meanings.

Áo Nghĩa Thư: Upanisad (skt)—Kinh sách với nghĩa lý huyền áo, giáo điển Ấn giáo vào thế kỷ thứ bảy trước tây lịch—Sutras of mysterious meanings. Hindu religious texts dating from the seventh century B.C.E. The concluding portion of the Vedas.

Áo Ngũ Điều: See Áo Ngũ Thân. Áo Ngũ Thân: Ngũ điều cà sa—Áo của người xuất gia tu Phật thường được may bằng năm mảnh chấp lại—The monk’s robe of five patches, ordinarily worn in the monastery, when abroad and for general purposes.

Áo Nhật Bình: Y áo cho người xuất gia đã nhận mười giới mặc để làm công việc hằng ngày trong tự viện—Robe for every day work, for those who already received ten precepts. Áo Nhĩ Cao Đặc (1832-1907): Olcott, Col. Henry Steele—Một người Mỹ cùng với Helena Blavatsky đồng sáng lập Hội Thông Thiên Học.

Ông thọ giới quy-y tại Sri Lanka vào năm 1880 và quan hệ với một số vấn đề Phật giáo đương thời. Ông được nổi tiếng nhất là đã phát triển là cờ Phật giáo và viết bộ Giáo Lý Vấn Đáp Phật Giáo— American who co-founded the Theosophical Society with Helena Blavatsky. He took Buddhist refuge vows in Sri Lanka in 1880 and was involved in a number of contemporary Buddhist issues. He is perhaps best known for developing a “Buddhist flag” and a “Buddhist Catechism.” Áo Sa Di: Robes for a sramanera—Robes for a novice monk.

Áo Tăng Già Lê: The double robe—A large robe.

Áo Thất Điều: Y bảy mảnh—The Uttara-sanga (skt)—The outer mantle of a monk, composed of seven pieces.

Áo Tràng: Áo thường màu lam dành cho Phật tử tại gia—Dharma robe, usually in gray color and for laypeople’s use.

Áo Tỳ Kheo: Robes for a Bhiksu—Robes for a monk.

Áo Uất Đa La Tăng: See Áo Thất Điều. Ảo: Mava (skt)—Illusory—False—Illusive—

Hallucination.

Ảo Ảnh: Delusion of views—Tà kiến cho rằng những thứ bên ngoài như ăn, mặc, ngủ, vân vân là thật chứ không là những thứ giả tạm. Đây là loại ảo ảnh thô thiển bên ngoài—Wrong views for externals (clothes, food, sleep, etc), which are viewed as real rather than empty in their true nature. Delusion of views are connected with seeing and grasping at the gross level.

Ảo Cảnh: Mirage.

Ảo Cấu: Ảo ảnh và cấu trược (thân và tâm cũng là ảo ảnh và cấu trược)—Illusory and defiled (body and mind are alike illusion and unclean).

Ảo Dã: The wilderness of illusion (mortal life). Ảo Giả: The illusory—All things

Ảo Giác: Vipallasa (p)—Hallucination— Aversion—Illusion—Perversions—Perversion of perception—Perversion of thought—Perversion of views—Chư pháp trong thế giới hiện tượng là không thật như người ta thường nghĩ. Chúng vô thường, bất định, không có thực thể và luôn biến đổi. Kỳ thật, chúng là những bóng ma ảo ảnh. Vô minh lệ thuộc vào trạng thái ảo giác. Có ba loại ảo giác: tưởng ảo giác, tâm ảo giác, và kiến ảo giác—Things in the phenomenal world are not real or substantial, as ordinary people regard them to be. They are transient, momentary, indefinite, insubstantial, and subject to constant alteration. In reality, they are like phantoms or hallucinations.

Ignorance is subject to the state of hallucination. There are three kinds of hallucination: hallucination of perception, hallucination of mind, and hallucination of views.

Ảo Hóa: Illusion and transformation—Illusory transformation.

Ảo Hoặc: Illusory (a)—To delude (v).

Ảo Huyền: Unreal.

Ảo Hữu: Illusory existence.

Ảo Kiếp: Mayakalpa (skt)—Illusory eon—Ngay cả kiếp này không thật mà chỉ là huyễn giả— Even the eon is not real but an illusion. Ảo Lực: Sức lực của người mơ mộng ảo huyền— An illusionist’s powers.

Ảo Môn: The way or method of illusion, or of bodhisattva transformation. Ảo Mộng: Illusion—To ne under illusion. Ảo Nhựt Vương: Baladitya (skt)—Bà La A Điệt Đa—The morning sun king.

Ảo Pháp: Conjuring, illusion, methods of bodhisattva transformation.

Ảo Sĩ: An illusionist—A conjurer.

Ảo Sư: An illusionist.

Ảo Sư Tâm: The illusion mind (Mind is unreal)— The magician-like mind—Tâm khởi niệm phân biệt sinh ra hết thảy mọi cảnh giới. Cái tâm huyễn sư này, chỉ trong một ngày một đêm, không ngừng tạo ra chúng sanh, nhóm tụ, cõi nước, như là những cõi giả và chân, từ địa ngục cho đến Phật độ. Hành giả chính mình phải quyết định chọn lấy một đường mà tu—The mind which results in complexity and confusion. This magician-like mind, in a single day and night, is constantly creating various sentient beings. aggregates, and various lands, such as tentative and real lands from hell to that of the Buddha. The practitioner must himself decide and choose which path he should follow in order to practice. Ảo Tâm: The illusion mind (Mind is unreal)—

Vọng tâm—Mind is unreal—Tâm khởi niệm phân biệt sinh ra hết thảy mọi cảnh giới—The mind which results in complexity and confusion.

Ảo Thân: Gyu-lu (tib)—Mayakaya (skt)—Huyễn Thân—Illusory body—Ảo thân—Thân này không thật mà chỉ là huyễn giả—This body is not real but an illusion..

Ảo Thị: Optical illusion.

Ảo Thuật: Magic.

Ảo Tướng: Illusion—Illusory appearance. Ảo Tưởng: Illusion—Delusion—Tà kiến dẫn tới phân biệt sai lầm, không rõ rệt, cho sai là đúng, cho đúng là sai. Đây là loại ảo tưởng hay phiền não vi tế—Wrong views for being confused about principles and giving rise to discrimination. Thought delusions are unclear, muddled thoughts, taking what is wrong as right, and what is right as wrong. Delusions of thought are afflictions at the subtle level.

Ảo Tưởng Tâm Linh: Hallucination.

Ảo Tượng Tướng Tâm: Mirage-like appearance—Tướng giống như ảo tượng—Theo Lạt Ma Geshe Kelsang Gyatso trong Phật Giáo Truyền Thống Đại Thừa, tướng giống như ảo tượng là một trong tám tâm phát sinh trong giấc ngủ. Tướng ảo phát sinh khi luồng khí lực của địa đại tan vào bên trong. Nhưng vì hiện tại ta chưa thể xử dụng ký ức hay chánh niệm trong khi ngủ, nên ta không thể nhận ra tướng nầy rõ ràng lắm. Nếu nghiên cứu kỹ bản chất những tướng nầy, thì có thể ta sẽ nhận ra chúng được. Khi phát sinh cái tâm nhận ra được tướng ảo tượng, thì tâm này là một tâm tương đối còn thô. Trong cái tâm vi tế của giấc ngủ, có một số tâm tương đối thô, một số tương đối vi tế hơn những tâm khác—According to Lama Geshe Kelsang Gyatso in Buddhism in Mahayana Tradition, this is one of the eight levels of mind development during the sleep process. The mirage-like appearance develops when the energy wind of the earth element dissolves inwardly. But since at present we cannot use our recollection or mindfulness during sleep, we cannot recognize these signs or appearances precisely. But if we carefully study the nature of these signs, it becomes possible to recognize them. When we develop the mind which perceives the mirage-like appearance, this is a relatively gross mind. Within the subtle mind of sleep, some minds are relatively more gross and some more subtle than others.

Áp: Áp chế—To press—To squeeze—To crush— To repress.

Áp Bức: To oppress.

Áp Chế: To oppress—To bring someone to heel. Áp Dụng Phật Pháp Vào Cuộc Sống Hằng Ngày: To apply Buddhist teachings to daily life.

Áp Lực Cao: High pressure.

Áp Lực Thấp: Low pressure.

Áp Lương Vi Tiện: To degrade noble people to commoners—Làm cho dân lương thiện trở thành hạ tiện. Ép tốt thành xấu. Thiền tông dùng từ nầy để phê phán người hướng ngoại cầu Phật. Trong Vô Môn Quan, một thuở xưa, tại núi Linh Thứu, đức Thế Tôn cầm cành hoa giơ lên trước chúng hội. Bấy giờ mọi người đều im lặng, chỉ có ngài Ca Diếp mỉm cười. Đức Phật dạy: “Ta có chánh pháp nhãn tạng, diệu tâm niết bàn, tướng thực không tướng, pháp môn vi diệu, chẳng lập thành văn tự, truyền ngoài giáo pháp, nay trao lại cho ông Ca Diếp.” Về việc này, Thiền sư Vô Môn Huệ Khai đã bàn luận như sau: “Lão Cồ Đàm mặt vàng không xem ai ra chi, ‘áp lương vi tiện’ (ép tốt thành xấu), treo đầu heo bán thịt chó, coi bộ cũng đáng khen đó! Giả như lúc bấy giờ cả hội chúng đều mỉm cười thì chánh pháp nhãn tạng làm sao truyền? Lại giả như Ca Diếp không cười thì nhãn tạng chánh pháp làm sao truyền được? Nếu nói chánh pháp nhãn tạng có truyền thụ, thì lão Mặt Vàng đã lừa gạt bà con lối xóm; còn nếu bảo không truyền thụ, sao lại chỉ truyền cho Ca Diếp?”—To force something good to become bad or worse. In Zen, the term is used to criticize those who seek Buddhahood from outside. In Wu Mên Kuan, example 6, once, in ancient times, when the World-Honoured One was at Mount Grdhrakuta, he twirled a flower before his assembled disciples. All were silent, Only Mahakasyapa broke into a smile. The World-Honoured One said, “I have the eye treasury of right Dharma, the subtle mind of nirvana, the true form of no-form, and the flawless gate of the teaching. It is not established upon words and phrases. It is a special transmission outside tradition. I now entrust this to Mahakasyapa.” On this Zen master Wu-mên huikai commented, “Gold-faced Gautama insolently degrades noble people to commoners. He sells dog flesh under the sign of mutton and thinks it is quite commendable. Suppose that all the monks had smiled, how would the eye treasury have been transmitted? Or suppose Mahakasyapa had not smiled, how could he have been entrusted with it? If you say the ey treasury can be transmitted, that would be as if the gold-faced old fellow were swindling people in a loud voice at the town gate. If you say the eye treasury cannot be transmitted, then why did the Buddha say that he entrusted it to Mahakasyapa?”

Át Bộ Đàm: Arbuda (skt)—1) A Phù Địa Ngục, nơi chúng sanh luôn than khóc: Groaning hell, where beings always utter deep sounds expressing pain; 2) Thai nhi trong giai đoạn bảy ngày thứ nhì:

The human embryo during the second seven days.

Át Gia: See Hương Thang. Át Già: Arghya (skt)—Fragrant liquid—Nước thơm.

Át Già Hoa: Hoa tươi mát thơm tho, được dùng để cúng Phật—Fresh fragrant flowers, used in offerings to the Buddha.

Át Già Khí: Bình đựng hoa tươi mát thơm tho để cúng Phật—A vase of fresh fragrant flowers, used in offerings to the Buddha.

Át Già Thủy Tỉnh Hoa: Nước rưới lên hoa tươi mát thơm tho để làm phép quán đảnh—The fresh fragrant flower of the water. Át Nại: Ngăn cản, đè nén—To prevent, to oppress.

Át Nể (Lễ) La Đại Tướng: Anila (skt)—Một trong mười hai vị thần liên hệ với đức Phật Dược Sư—One of the the twelve spirits connected with the Master of Healing Buddha. Át Nễ La Thần: Truyền Thống Thần—Tradition

Spirit.

Át Phù Đà Địa Ngục: Arbuda (skt)—Hell of tumours and blains—Nghạch bộ đà (địa ngục quá lạnh nên nổi gai ốc), nơi tội nhân luôn bị bỏng giộp vì lạnh—Where the cold causes blisters— Hell of tumours and blains—See Bát Hàn Địa Ngục.

Át Thấp Phược Yết Na Sơn: Asvakarna (skt)— Assakanna (p)—See Mã Nhĩ Sơn. Ăn Chay: To be on a vegetarian diet—To abstain from meat—See Vegetarian.

Âm: Negative.

Âm Ba: Sound-wave.

Âm Cảnh: See Âm Cung.

Âm Cung: Thế giới hiện tại được ví với trạng thái của ngũ uẩn—Hells—Hades—The present world as the state of the five skandhas.

Âm Dung: Voice and countenance.

Âm Dương: Yin-yang (chi)—Negative and positive.

Âm Dương Thần Đạo: Meiyo-no-Shinto (jap)—

Con đường của các vị Thần là tôn giáo tinh thần nhân chủng Nhật Bản—Yin-yang of the Shinto or the Way of Gods is the ethnic spiritual religion of Japan.

Âm Đức: Secret virtue—Âm đức là một nét độc đáo trong tu tập Thiền. Âm đức có nghĩa là chẳng những không lãng phí mà ngược lại phải tận dụng hết thảy những nguồn tài nguyên thiên nhiên; phải quí trọng tất cả mọi thứ trước mắt về cả hai mặt kinh tế và đạo đức; âm đức còn là tự bổn tâm mình phải có lòng biết ơn và tôn kính đối với thế giới. Trong Thiền, âm đức đặc biệt có nghĩa là khi thực hành việc thiện mà không có ý tưởng muốn người khác biết đến. Một người đang bị chết đuối, mình nhảy xuống cứu, và người ấy được cứu. Việc cần làm đã làm xong, Hành giả bước đi, không bao giờ nhìn lại, không nghĩ tưởng gì về chuyện đó. Một đám mây trắng lướt qua bầu trời, bầu trời lại xanh biếc như xưa. Thiền gọi đó là “vô công dụng hạnh” và lấy chuyện gánh tuyết lấp giếng để dụ cho điều này. Hành giả tu Thiền nên luôn nhớ rằng âm đức là chuẩn mực đạo đức cho tất cả những ai muốn tu Thiền—Secret virtue is a very characteristic feature of Zen discipline. It means not to waste natural resources; it means to make full use, economic and moral, of everything that comes your way; it also means to treat yourself and the world in the most appreciative and reverential frame of mind. In Zen, it particularly means practicing goodness without any thought of recognition by others. A person is drowning; one gets into the water, and the person is saved. That is all there is to be done in the case; what is done is done. One walks away, one never looks backward, and nothing more is thought of it. A white cloud passes and the sky is as blue as ever and as broad. Zen calls it “a deed without merit”, and compares it to a man’s work who tries to fill up a well with snow. Zen practitioners should always remember that secret virtue is the guiding principles of morality for all those who want want to practice Zen.

Âm Giáo: Giáo pháp dùng âm thanh để giảng thuyết hay giáo thuyết của Đức Phật—Teaching of the dharma through listening and hearing. Vocal teaching, Buddha’s preaching. Âm Huyễn: Ngũ uẩn giống như huyễn giả trôi đi—The five skandhas like a passing illusion.

Âm Hưởng: Sonority—Echo.

Âm Hưởng Nhẫn: Ghoshanugakshanti (skt)— Kshanti in sounds—Understanding the truth we hear—Kham nhẫn chịu đựng những âm thanh mình nghe hay nhẫn vào những âm thanh tiếng vọng vì nhận thức rằng chúng không thực— Patience in hearing the sound or sound and echo perseverance, the patience which realizes that all is as unreal as sound and echo.

Âm Ma: The mara of the hell or of the underworld.

Âm Mộc: Sounding block—Một loại dụng cụ bằng gỗ để gõ khi tụng kinh, mỗi cuối câu lại đánh nhịp hay gõ phách cho ăn nhịp—Sounding board for keeping time or rhythm.

Âm Mưu: Plot—Conspiracy—Scheme.

Âm Nghĩa: Giải thích âm và nghĩa của các từ trong kinh điển: Sound and meaning, i.e. pronunciation and significance. Âm Nhập Giới: Còn gọi là Ngũ Uẩn, hay 12 cửa vào của thức, hay 18 giới—The five skandhas, the twelve entrances, or bases through which consciousness enters (Ayatana), or eighteen dhatu or elements.

Âm Tàng Tướng: Nam căn ẩn kính—Wellretracted male organ—See Tam Thập Nhị Hảo Tướng.

Âm Thanh: Vara (skt)—Sound, note, preaching— Voice.

Âm Thanh Bất Tư Nghì: Inconceivable sounds.

Âm Thanh Dục: Attraction to Voice. Âm Thanh Nhẫn: Acceptance of the voice of the Teaching.

Âm Thanh Phật Sự: Phật dùng âm thanh thuyết pháp để cứu độ chúng sanh (có khi Phật lại dùng ánh sáng kỳ diệu để cứu độ)—Buddha’s work in saving by his preaching.

Âm Thanh Thanh Tịnh: Thanh tịnh âm thanh vì rõ thấu tất cả ngữ ngôn—Purity of voice, comprehending all speech. Âm Thần: Female spirit.

Âm Tinh Dương Tinh: See Onsho-Yosho.

Âm Vọng: Ảo tưởng của ngũ uẩn, hay sự không thật của ngũ uẩn—The skandha-illusion, or the unreality of the skandhas.

Âm Vọng Nhất Niệm: Ảo tưởng của ngũ uẩn cũng tương tự như một niệm đi qua. Đây là một trong những phép quán của tông Thiên Thai—The illusion of the skandhas like a passing thought. This is one of the contemplation methods of the T’ien-T’ai School.

Ấm: See Uẩn.

Ấm Cảnh: Realm of the aggregates—Các đối tượng của các uẩn (ngũ uẩn)—Present world as the state of the five skandhas.

Ấm Ma: Maras of the aggregates—Ma của các uẩn (ngũ uẩn).

Ẩm Nhất Bôi Trà: Kissako (jap)—Thuật ngữ “Ẩm Nhất Bôi Trà” hay “hãy uống một chén trà!” là châm ngôn nhà thiền, nguyên lai của đại thiền sư Triệu Châu Tòng Thẩm. Từ nầy nói lên rằng cuộc đời do thể nghiệm thiền đem lại chẳng có gì đặc biệt cả, cũng chẳng tách rời khỏi những công việc hằng ngày—The term “drink a bowl of tea!” is a Zen saying, originally of the great Chinese Ch’an master Chao-chou Ts’ung-shen (Joshu

Jushin). It points to the fact that life based on Zen realization is not something “special” that is separated from everyday affairs. Ẩm Quang Bộ: Suvarsaka (p)—Kasyapiyah

(skt)—See Ca Diếp Di Bộ.

Ẩm Thực Thần Chủ: Thần Chủ Ăn Uống—Food and Drink spirits.

Ẩm Thực Tiết Độ: Moderation in eating—Tiết Độ Trong Ăn Uống—Theo Kinh Hữu Học trong Trung Bộ Kinh, Đức Phật đã dạy ‘Thế nào là vị Thánh đệ tử biết tiết độ trong ăn uống?’ Đức Phật xác nhận tiết độ trong ăn uống như sau: Quán sát một cách khôn ngoan khi thọ dụng các món ăn. Ăn uống không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức hay tự làm đẹp mình, mà chỉ để cho thân nầy được duy trì, được bảo dưỡng, khỏi bị gia hại, để chấp trì phạm hạnh. Vị ấy nên nghĩ rằng: “Như vậy ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới; và ta sẽ không phạm lỗi lầm, sống được an ổn.”— According to the Sekha Sutta in the Middle Length Discourses of the Buddha, the Buddha confirmed his noble disciples on moderating in eating as follows: Reflecting wisely when taking food. Eating is not for amusement, not for intoxication, not for the sake of physical beauty and attractiveness, only for the endurance and continuance of this body, for enduring discomfort, and for assisting the holy life. Considering: “Thus I shall terminate old feelings without arousing new feelings and I shall be healthy and blameless and

shall live in comfort.”

Ẩm Tửu Giới: Not drinking wine.

Ân Ái: Grace and love—Sự luyến ái của con người, một trong những nhân chính của sự tái sanh—Human affection, which is one of the causes of rebirth.

Ân Điền: Field of grace—Ân điền gồm có ân cha mẹ, thầy tổ, bậc trưởng thượng, chư Tăng Ni, để đáp lại những lợi lạc mà họ đã ban cho mình; đây là một trong ba loại phước điền—The field of grace consists of parents, teachers, elders, monks, in return for the benefits they have conferred; one of the three blessing fields.

Ân Hà: Dòng tình cảm ân huệ cứ mãi xô đẩy chúng sanh trong dòng sanh tử—The river of grace which keeps or binds men in the flow of transmigration.

Ân Hải: Biển ái ân cứ tiếp tục nhận chìm chúng sanh trong biển đời sanh tử—The sea of grace which sinks men in the ocean of transmigration.

Ân Hận: Repentance—Penitence—Remorse.

Ân Huệ: Mitra (skt)—Grace—Favor—Kindness. Ân Lân: Lòng từ bi lân mẫn—Loving-kindness and pity.

Ân Nghĩa: Kindness and affection. Ân Thiện Hữu Tri Thức: The debt to our spiritual friends.

Ân Triều: Yin Dynasty.

Ân Tùy Thiền Sư: Zen master En-Sui—Tên của một vị Thiền sư Việt Nam hồi thế kỷ thứ XVII. Theo các tài liệu còn lại của chùa Vạn Thiện ở Khánh Hoà thì Sư là người đã xây dựng ngôi chùa này—Name of a Vietnamese Zen Monk in the seventeenth century. According to the existing documents at the Wan-Shan Temple in Khanh Hoa Province, he was the founder of this temple.

Ân Viên Đức: Toàn thiện ân cứu độ chúng sanh— Perfection of Buddha’s grace in the salvation of others.

Ấn: Mudra (skt)—Chakgya (tib)—Seal—Seal of the temple—Sign—signet—Symbol—Emblem— Proof—Approve—Asurance.

Ấn Chỉ: Mảnh giấy nhỏ in hiệu chùa bằng son đỏ—Name of a temple written in red ink on a piece of paper.

Ấn Chính Thiền Sư (1617-1694): Zen master Yin-Chen—Theo Tân Tục Cao Tăng Truyện, tập 4, quyển 56, Ấn Chính là tên của một vị Thiền sư Trung Hoa thuộc tông Lâm Tế, sống vào thời nhà Thanh. Sư đến từ tỉnh Tứ Xuyên, ban đầu Sư nghe giảng và học theo kinh thuyết Lăng Nghiêm, Duy Thức. Về sau, Sư lập chí tu Thiền nên leo lên đỉnh núi Vạn Phong tham phỏng với ngài Phá Sơn Hải Minh và Tượng Nhai Tính Đình. Sau đó Sư tĩnh tọa 6 năm. Năm 1658, Sư trụ trì chùa Đông Ấn. Sư thị tịch ở đó vào năm 1694—According to the Shin-Tzu Biographies of Eminent Monks or Stories of Eminent monks (Gao Seng Zhuan), Zen master Yin-Chen belonged to the Lin-chi Zen sect, lived during the Ch’ing Dynasty (1644-1912). He came from Ch’ing-hai Province. First he studied theories of the Surangama Sutra and the MindOnly. Later, he decided to practice Zen, so he climbed to the top of Mount Thousand-Peaks to study Zen under Zen master Po-shan Hai-ming and Shiang-ai Ts’ing-t’ing. Then he practiced sitting calmly there for six years. In 1658, he dwelted at Tung-Yin Temple and passed away there in 1694.

Ấn Chuyển Pháp Luân: Dhammachakka-mudra (p)—See Mẫu Đà La Pháp Ấn.

Ấn Chứng: Seal of approval—Ấn là con dấu, chứng là chứng nhận. Ấn chứng là sự xác nhận chính thức về phần của một vị thầy rằng một đệ tử của ông đã hoàn tất đầy đủ việc tu luyện với sự hướng dẫn của chính ông, nói cách khác là đã tốt nghiệp, hay đã đạt đạo trong Phật giáo. Với các thiền sư dùng hệ thống công án, thì nó ám chỉ rằng người học trò đã xong mọi công án do ông thầy chỉ định. Các thiền sư không dùng công án thì ban ấn chứng bằng sự thỏa mãn của các vị nầy về mức độ giác ngộ hay thấu triệt giáo pháp của người học trò. Một đệ tử khi đã được ấn chứng, có thể hoặc không có thể được phép bắt đầu dạy người khác, điều nầy tùy thuộc vào mức độ giác ngộ nông sâu, sức mạnh cá tính và sự trưởng thành của người đệ tử. Nói cách khác, ấn xác nhận xác nhận người học trò đã thực chứng sâu đại giác và đã hoàn tất việc học thiền với vị thầy; tuy vậy, không phải mọi người đều có thể mở một thiền đường và trở thành thầy được. Dĩ nhiên điều nầy cũng tùy thuộc rất nhiều vào phẩm cách cá nhân của vị thầy. Nếu vị thầy tài ba đức độ và tiêu chuẩn cao, ông sẽ không dễ dàng khinh suất mà để cho đệ tử bắt đầu dạy cho người khác một cách hời hợt. Nhưng nếu là một vị thầy tầm thường, thì rất có thể môn đệ của ông, ấn chứng hay không ấn chứng, cũng sẽ là “một cái dấu vụng về của một con dấu vụng về.” Trong nhà thiền người ta thường hay nói: “Cây đắng không sanh trái ngọt.”—Formal acknowledgment on the part of the master that his disciple has fully completed his training under him, in other words, graduated, or attained enlightenment in Buddhism. With masters who use the koan system it implies the the disciple has passed all the koans prescribed by that master. The bestowal of the seal of approval by masters who do not use koans signifies their satisfaction with their disciple’s level of understanding. One who recieves the seal of approval may or may not be given permission by his master to begin teaching, for much depends on the depth of the student’s enlightenment, the strength of his character, and the maturity of his personality. In other words, the seal of confirmation confirms that the Zen student has experienced profound enlightenment and has completed Zen training under his master; however, not every student who is so confirmed reaches the point of opening a ‘zendo’ and functioning as a master. Obviously, much also depends on the personal qualities of the master himself. If he is wise, virtuous, and accomplished, with high standards, his permission to teach will not be lightly given. But if he is a mediocre, very likely his disciple, sealed or notyet-sealed, will be “a poor stamp of a poor stamp.” In zen it is often said, “The fruit can be no better than the tree that produced it.” Ấn Chứng Giác Ngộ:Seal of authentication—Sự chứng nhận giác ngộ được vị Thiền Sư trao cho đệ tử, nhằm chỉ rằng vị Thiền Sư hài lòng với sự tiến bộ của người học trò. Sự chứng nhận giác ngộ này cũng ban cho vị đệ tử quyền được dạy đệ tử, nhưng không cho biết rằng vị Thiền Sư đã đạt đến mức thông pháp cao nhất. Hệ thống này quan trọng trong nhà Thiền, trong đó nhằm tuyên bố sự nhận biết trực tiếp qua lối tâm truyền tâm chứ không bằng khái niệm tư tưởng, có từ thời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni truyền pháp cho đệ tử là ngài Ca Diếp. Ấn thực chứng được dùng như là phương cách kiểm soát phẩm chất mà các Thiền Sư có thể đoan chắc rằng giáo pháp và phương pháp tu tập đặc biệt của một người theo đúng với những gì đã được truyền thống chấp nhận—The certification of awakening (Kensho or Satori) given by a Zen Master to a student, which indicates that the master is satisfied with the student’s progress. It also confers authority to teach, but does not indicate that the student has reached the highest level of understanding. This system is important in Zen, which claims to be a mind-to-mind transmission of non-conceptual direct understanding, which began when Sakyamuni Buddha passed the dharma to his student Kasyapa. The seal of authentication serves as a quality-control device by which Zen masters can ensure that a particular person’s teachings and practices accord with those accepted in the tradition.

Ấn Chương: Hiển Thuyết, một trong những cách mà Tịnh Độ Chân Ngôn dùng để thuyết giảng Phật pháp—Preaching of Exoteric texts, one of the ways that the True Pure Land Sect (Jodo Shinshu (jap) used to preach the Buddhadharma. Ấn Đà La Bà Tha Na: Indrabhavana (skt)— Indravadana (skt)—See Ấn Trì Già La.

Ấn Độ: India—Thiên Trúc—Tây Thiên—Tín Độ—Vào thời nhà Đường, lãnh thổ Tín Độ Quốc trải dài trên một chu vi hơn 15.000 dậm. Ba phía giáp biển, phía Bắc nằm trên dãy Tuyết Sơn Hy Mã Lạp Sơn. Phía Bắc rộng, phía Nam hẹp, giống như hình bán nguyệt. Thời tiết rất nóng và ẩm. Kinh thành là Tì Tham Bà Bổ La (Vichavapura)— In the T’ang dynasty, its territory is described as extending over 15,000 miles in circuit, being bounded on three sides by the sea; north is rested on the Snow Mountain (Himalaya); wide at north, narrowing to the south, shaped like a half-moon. It eas extremely hot, well watered and damp. Its capital was Vichavapura.

Ấn Độ Giáo: Hinduism—Ấn Độ giáo, tôn giáo đã ăn sâu vào Ấn Độ mà nguồn gốc hãy còn là một huyền thoại. Tôn giáo không có giáo chủ, cũng không có giáo điển. Nó luôn đưa vào tất cả mọi mặt của chân lý. Người theo Ấn độ giáo tin tưởng vào luật của Nghiệp lực. Đây là tên gọi chung cho hệ thống xã hội, văn hóa và tôn giáo của giống Aryan ở Ấn Độ, đây là giống dân di cư vào Ấn Độ vào ngay trước thời kỳ bắt đầu có lịch sử của nước nầy—The name used in the West to designate the traditional social religious structure of the Indian people and its origin is still mystic. It has neither a founder nor a fixed canon. It incorporated for centuries all aspects of truth. Hindus believe in the law of karma. Hinduism or Brahmanism, the general name given to the social-cultural-religious system of the Indo-Aryan, who migrated into India just before the dawn of history. Ấn Độ Phật Giáo: Phật giáo Ấn Độ—Buddhism in India—Phật Giáo Ấn Độ, bắt đầu tại Ma Kiệt Đà (bây giờ là Bihar), dưới thời Phật Thích Ca, Ngài nhập Niết Bàn khoảng năm 486 trước Tây Lịch. Mặc dù Phật giáo bắt nguồn từ Ấn Độ, ngày nay truyền thống phật giáo chủ yếu phát triển mạnh mẽ tại các xứ khác. Dĩ nhiên, văn hóa phật giáo đã có cơ sở từ lâu đời tại những vùng biên địa phía Bắc của lục địa, như tại những vùng Ladakh, Sikkim, và Bhutan, và từ năm 1959 vài trăm ngàn người tỵ nạn từ Tây Tạng đã làm tăng lên một cách nhanh chóng số Phật tử tại Ấn Độ. Tuy nhiên, nhóm người đông nhất tại Ấn Độ, gồm những người trước đây thuộc giai cấp “Cùng Khổ” đã nhanh chóng theo gương của Tiến Sĩ B.R. Ambedkar, cải sang đạo Phật để thoát khỏi hệ thống giai cấp Ấn giáo. Phật giáo tại Ấn Độ bắt đầu với cuộc đời của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, người mà theo truyền thống đã sanh ra trong một gia đình hoàng tộc mà bây giờ là miền Nam Népal. Sau khi rời bỏ vương quốc của vua cha để ra đi tìm giải thoát khỏi vòng luân hồi sanh tử, người ta nói Ngài đã giác ngộ Bồ Đề, sau đó Ngài bắt đầu hoằng hóa (dạy cho người khác) con đường giải thoát mà Ngài đã khám phá ra. Ngay từ lúc bắt đầu thuyết giảng, Ngài đã thành lập Tăng Già, vài thế kỷ sau thì giáo đoàn này đã lan rộng khắp lục địa Ấn Độ cũng như các quốc gia Á Châu khác—Indian Buddhism, which began in Magadha (now Bihar), under Sakyamuni, the date of whose nirvana was around 486 B.C. Although Buddhism originated in India, today the tradition mainly flourishes in other countries. There are, of course, long-established Buddhist cultures at the northern fringes of the subcontinent, such as in Ladakh, Sikkim, and Bhutan, and since 1959 several hundred thousand Tibetan refugees have rapidly swelled the numbers of Buddhists in India. The largest group of Buddhists in India, however, consists of former Untouchables who, prompted by the example of Dr. B.R. Ambedkar, converted to Buddhism in order to escape the Hindu caste system. Indian Buddhism begins with the life of Sakyamuni Buddha, who according to tradition was born into a royal family in what is now southern Nepal. After leaving his father’s kingdom in order to find liberation from cyclic existence (samsara), he is said to have attained “awakening” (Bodhi), after which he began to teach others the path he had discovered. Early on in his teaching career, he instituted a monastic order (Samgha), which in later centuries spread all over the subcontinent, and also to other countries in Asia.

Ấn Giản Thiền Sư (1202-1257): Zen master YinJian—Theo Ngũ Đăng Hội Nguyên, tập 4, Ấn Giản là tên của một vị Thiền sư Trung Hoa thuộc tông Lâm Tế, sống vào thời nhà Nguyên. Sư đến từ tỉnh Sơn Tây. Năm 1212, Sư tham yết ngài Trung Quán Chiểu rồi xuất gia và thọ cụ túc giới. Sau khi ngài Trung Quán Chiểu thị tịch, Sư vâng lời di huấn của ngài đi đến Yên Kinh, dọc đường gặp cơn mưa lạnh, Sư bèn đánh đá lấy lửa, chợt thấy ánh sáng lóa lên Sư liền đại ngộ, và Sư tự nói: “Nay mới biết mày ngang mũi dọc.” Sư đến chùa Đại Khánh Thọ ở Bắc Kinh, yết kiến ngài Trung Hòa Chương, không bao lâu sau được ấn khả và nối pháp. Từ đó tiếng tăm lừng lẫy. Sư thị tịch năm 1257, được ban thụy hiệu “Phật Nhật Viên Minh Đại Sư”—According to Wudeng Huiyuan, volume IV, Zen master Yin-Jian belonged to the Lin-chi Zen sect, lived during the Yuan Dynasty (1280-1368). He came from ShanHsi Province, China. In 1212, he studied under master Chung-Kuan-Chiao, then he received complete precepts. After master Chung-KuanChiao passed away, he obeyed his instruction to go to Yen-Jing. On the way to Yen-Jing, he was stuck in a heavy rain. When he tried to strike two stones to get fire he was enlightened. He said to himself, “Now I know my own face with horizontal eyebrows and vertical nose.” He then came to Ta-Ch’ing Temple in Bei-jing to see Zen master Chung-He-Chang. Soon later, he received the dharma-seal and became the dharma heir of master Chung-He-Chang. He was famous since then. He passed away in 1257, received the title “The Round and Bright Buddha-Sun Great

Master” from the king.

Ấn Giáo Hóa: Vitarka-mudra (skt)—Seal of teaching and converting (conversion). Ấn Hải Thiền Sư (1927- ): Zen master Yin-Hai— Tên của một vị Thiền sư Trung Hoa vào thế kỷ thứ

XX. Vào năm 1949, Sư qua Đài Loan. Năm 1968, Sư du hành diễn thuyết khắp các xứ Đông Nam Châu Á—Name of a Chinese Zen master from Jiang-Tsu Province, China, in the twentieth century. In 1949, he came to Taiwan. In 1968, he traveled and preached Buddha-dharma in

Southeast Asian countries.

Ấn Hiệp Chưởng: Anjali-Mudra (skt)—Mẫu Đà La Pháp Ấn—Hai lòng bàn tay ép vào nhau ngang ngực. Cử chỉ nầy thường dùng để chào hỏi tại Ấn độ. Trong Phật giáo cử chỉ nầy có nghĩa là “Như thế đó.”—The palms are held together at the level of the chest. This is the customary gesture of greeting in India. In Buddhism, it expresses “Suchness.”

Ấn Khả: Inka (jap)—Sự chính thức thừa nhận của một vị thầy về sự kết thúc tu tập thiền định của một đệ tử. Đây là dấu hiệu của sự hài lòng của thầy về trình độ hiểu biết của đệ tử—The seal of

approval, a formal acknowledgement of a student’s completion of Zen training. It is a sign by the master of being satisfied with the student’s level of understanding.

Ấn Khả Chứng Minh: Inka-shomèi (jap)—Sự chứng minh của vị thầy đối với sự giác ngộ của đệ tử—Approval of enlightenment of a disciple by the master.

Ấn Khế: Ấn Tướng—Khế Ấn—Ấn tướng là biểu tượng chỉ rõ những ý nghĩa khác nhau. Có nhiều ấn khế khác nhau và nhiều ấn tướng của chư Phật và chư Bồ Tát. Mỗi ngón tay biểu tượng cho ngũ đại, đất, nước, lửa, gió và hư không, bắt đầu bằng ngón út. Cánh tay trái biểu tượng cho sự định tĩnh. Cánh tay phải biểu tượng cho sự biện biệt hay trí huệ—Manual signs indicative of various ideas. There are many other indications and various symbols of the Buddhas and Bodhisattvas. Each finger represents one of the five primary elements, earth, water, fire, air, and space, beginning with the little finger. The left hand represents “stillness” or “meditation.” The right hand represents “discernment” or “wisdom.” Ấn Phật Tác Pháp: Một phương pháp đặc biệt của trường phái Mật Tông, tìm sự trợ giúp tâm linh bằng cách in hình Phật trên giấy, hay tạo hình Phật trên cát, trong không gian, và cử hành một nghi thức lễ đặc biệt—A specially esoteric method of seeking spirit-aid by printing a Buddha on paper, or forming his image on sand, or in the air, and peforming specific rites.

Ấn Quang: Halo—Ánh sáng chiếu từ biểu tượng trên ngực của Phật hay Bồ Tát—Illumination from the symbol on a Buddha’s or Bodhisattva’s breast. Ấn Quang Đại Sư: Yin-Kuang (Great Master)— Great Master Yin-Kuang—Ngài thường khuyên đại chúng phải nên tín nguyện niệm Phật, cầu vãng sanh về chốn Tây Phương—He always advised his disciples to have faith, vow and practice Buddha Recitation to pray for rebirth in the Western Pureland.

Ấn Thiền: Dhyani-mudra (skt)—Dhyana seal—

Lưng bàn tay phải đặt lên lòng bàn tay trái, đầu hai ngón cái chạm nhẹ nhau. Đặt tư thế hai bàn tay nầy ngay trước rốn. Đây là tư thế lúc thực tập thiền định—The back of the right hand rests on the palm of the other in such a way that the tips of the thumbs lightly touch one another. Place both hands right in front of the navel. This Mudra is utilized by cultivators during practicing meditation.

Ấn Thuận: (1906-?): Master Yin-shun—Tên của một danh Tăng Trung Hoa vào thế kỷ thứ hai mươi—Master Yin-Shun, name of a famous

Chinese monk in the twentieth century.

Ấn Thuận Định: Yin-shun Ting—Định ấn nhập cảnh sở thủ không, lúc đó cái được nắm lấy hay cái được nhận thức là không—A samadhi that helps practitioners to enter a realm that nothing is perceived.

Ấn Tích: Imprint of a seal.

Ấn Tiền Khôi Khuếch: Khoảng không gian rộng lớn rỗng lặng trước con dấu, trong Phật giáo thuật ngữ này dụ cho cõi không thể nghĩ bàn được—A vast and empty space in front of the seal (mudra), in Buddhism, this term implies an inconceivable realm.

Ấn Tín: Official seal.

Ấn Tông: Inshu (jap)—Yin-Tsung—See Ấn Tông Pháp Sư.

Ấn Tối Thượng Bồ Đề: Uttara-bodhi-mudra (skt)—Supreme Enlightenment Seal. Ấn Tôn Tự: Yin-tsun Temple—Tu Dam Temple—See Từ Đàm.

Ấn Tông: Inshu (jap)—See Ấn Tông Pháp Sư. Ấn Tông Phái: Inshu(jap)—See Ấn Tông Pháp Tính Thiền Sư.

Ấn Tông Pháp Sư: Inshu (jap)—See Ấn Tông Pháp Tính Thiền Sư.

Ấn Tông Pháp Tính Thiền Sư: Zen Master YinTsung Fa Hsin—Tên của một vị Thiền sư Trung Hoa vào thế kỷ thứ bảy. Hiện nay chúng ta không có nhiều tài liệu chi tiết về Thiền sư Ấn Tông Pháp Tính; tuy nhiên, có một vài chi tiết nhỏ về vị Thiền sư này trong Truyền Đăng Lục, quyển V: Ấn Tông là một Pháp sư Trung Hoa nổi tiếng. Ban đầu ông đến Kinh sư, được bổ nhiệm trụ trì chùa Đại Kính Ái. Sau Sư đến tham yết Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn. Sau nữa, ông gặp Lục Tổ Huệ Năng khi đang giảng kinh Niết Bàn tại chùa Pháp Tính ở Quảng Châu. Ông đã thỉnh cầu Tổ Huệ Năng thuyết pháp cho mình được giác ngộ—Zen Master Yin-Tsung Fa Hsin, name of a Chinese Zen monk in the seventh century. We do not have detailed documents on this Zen Master; however, there is some brief information on him in The Records of the Transmission of the Lamp (Ch’uan-Teng-Lu), Volume V: He was a famous Dharma Master in China, when he first came to the Capital, he was appointed to stay at Tai Ching Ai Temple. Later, he came to see and study with the Fifth Patriarch Hung-Jen. Then, he met the Sixth Patriarch Hui Neng when he preached the Nirvana Sutra at Fa Hsin Temple in Kuang-Chou; he the asked Hui Neng to preach to help enlighten him.

Ấn Trì Già La: Indrabhavana (skt)—Indravadana (skt)—Ấn Đà La Bà Tha Na—Nơi cư ngụ của Trời Đế Thích—The region where Indra dwells.

Ấn Tướng: Mudra (skt)—Seal-sign—See Ấn.

Ấn Tượng: Impression.

Ẩn Cư Hỷ Lạc: Vivekaja pati sukha (p)—Hỷ lạc, hạnh phúc do sự ẩn cư đem lại, chỉ hai chi thiền thứ ba và thứ tư của tầng thiền định đầu tiên, được xem như phối hợp chung với nhau—Pleasure achieved from dwelling in seclusion or in retirement.

Ẩn Cư Kinh: Viveka-sutta (p)—Kinh Ẩn Cư, Tương Ưng Bộ IX.1—Sutra on Seclusion, Samyutta Nikaya IX.1.

Ẩn Dật: To hide—To live retired.

Ẩn Cư: To dwell in seclusion ( in retirement).

Ẩn Danh: To conceal one’s name.

Ẩn Dật: Living in isolation—Seclude oneself from society—To retire from the world—To live in seclusion.

Ẩn Dụ: Opammam (p)—Aupamya (skt)— Metaphor—Simile.

Ẩn Hiển Tứ Cú: Catushkotika (skt)—Mu-shi (tib)—Four extremes—Tồn Hoại Tứ Cú—See Tứ Cú Chấp.

Ẩn Hình Pháp: Methods of hiding (concealing) oneself.

Ẩn Không Thiền Sư: Zen master Yin-k’ung—Ẩn Không là tên của một vị Thiền sư Việt Nam sống vào thế kỷ thứ XIII—Name of a Vietnamese Zen master in the thirteenth century.

Ẩn Khuất: Hidden—Concealed.

Ẩn Lánh: To retire from sight.

Ẩn Liệt Hiển Thắng Thức: Consciousness of covering the inferior and manifesting the superior—Cấp độ thứ tư trong năm cấp độ của Duy Thức Học. Trong cấp độ này, những tâm sở xấu được che đậy và tâm vương tốt được hiển lộ

ra—The fourth of the five levels of the apprehension of the principle of consciousnessonly. In this level there is a covering of those of the distinctive mental faculty elements which are considered inferior, and a manifestation of the mind’s basic functioning.

Ẩn Lực: Hidden force—Mystic power.

Ẩn Mặt: To hide from someone.

Ẩn Mật: Esoteric—Obscure—Bổ ý ẩn náu kín đáo bên trong lời văn. Nghĩa bí mật, đối lại với hiển liễu hay lời nói văn tự có ý nghĩa phân minh rõ ràng—Esoteric meaning in contrast with exoteric, or plain meaning.

Ẩn Mật Hiển Liễu Câu Thành Môn: Theory of complementarity—Nói về thuyết tựu thành, nhờ đó mà cái ẩn mật và cái biểu hiện cùng tạo thành một toàn thể bằng hỗ tương chi trì. Nếu cái nầy ở trong thì cái kia ở ngoài hay ngược lại. Cả hai hỗ trợ lẫn nhau tạo thành một nhất thể. Đây là một trong mười nguyên tắc căn bản của Hoa Nghiêm, nhờ đó mà triết lý tổng thể của Hoa Nghiêm được giảng giải và thuyết minh khả tính của thế giới “Sự Sự Vô Ngại Pháp Giới”—The theory of complementarity by which the hidden and the manifested will make the whole by mutual supply. If one is inside, the other will be outside, or vice versa. Both complementing each other will complete one entity. This one of the ten basic principles (Ten Mysterious Gates) of Hua-yen, by means of which the Hua Yen philosophy of totality is expounded and to elucidate the possibility of the realm of Fact and fact world perfectly harmonized.”

Ẩn Mật Hộ Trì Thanh Tịnh Giới: Thanh tịnh giới ẩn mật hộ trì, vì với giới này chư Bồ Tát khéo cứu vớt chúng sanh phạm giới—The pure discipline of secret protection, skillfully drawing out undisciplined sentient beings.

Ẩn Mật Nghĩa: Esoteric meaning—Nghĩa bí mật

(ý ẩn náu kín đáo bên trong lời văn), đối lại với hiển liễu hay lời nói văn tự có ý nghĩa phân minh rõ ràng—Occult or secret meaning, in contrast with exoteric, or plain meaning.

Ẩn Mình: To hide oneself.

Ẩn Một Như Lai Tạng: Pháp thân Như Lai bị phiền não che đậy—Tathagata dharma body that covered by afflictions.

Ẩn Một Tướng: Ẩn một tướng là một trong những hình thức của Báo Thân Phật—Invisible mark, one of the forms of Recompensed Body

Sambhogakaya of a Buddha.

Ẩn Náu: To refuge—To take refuge.

Ẩn Nguyên Long Khí (1592-1673): Ingen Ryuki (jap)—Yin-Yuan-Lung-Ch’i—See Long Kỳ Ẩn Nguyên Thiền Sư.

Ẩn Nguyên Long Khí Thiền Sư: Yin-Yuan-LungCh’i—See Long Kỳ Ẩn Nguyên Thiền Sư.

Ẩn Nguyên Long Kỳ: Ingen Ryuki (jap)—YinYuan-Lung-Ch’i—See Long Kỳ Ẩn Nguyên

Thiền Sư.

Ẩn Nguyên Long Kỳ Ngữ Lục: Ingen hogo (jap)—Yinyuan-lungqi’s record of teachings. Ẩn Nhạc Tự: Yin-Yueh Temple—Tên của một ngôi chùa nổi tiếng trong tỉnh Triết Giang, Trung

Hoa, được khởi công xây dựng vào khoảng năm 345 và hoàn thành vào năm 356—name of a famous temple in Jie-jiang Province in China, which was built around 345 and completed in 356.

Ẩn Nhẫn: To suffer in silence.

Ẩn Niệm Phật: Nghi thức bí mật khởi điểm của việc tu hành niệm Phật, một trong những cách mà Tịnh Độ Chân Tông, đặc biệt là Sư Thân Loan, Tổ sư phái Chân Tông ở Nhật, dùng để phổ thông hóa pháp tu niệm Phật đến với quần chúng ở Nhật Bản—A secret ceremony of starting cultivation of Buddha Recitation, one of the ways that the True Pure Land Sect (Jodo Shinshu (jap), especially Master Shinran (1173-1262), the founder of Jodoshinshu, used to popularize method of Buddha recitation to common people in Japan.

Ẩn Phong Đảo Hóa: The koan of Zen master Teng-Yin-Feng who passed away standing on his head—Công án Thiền sư Đặng Ẩn Phong lộn ngược để thị tịch—Theo Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, quyển VIII, khi Đặng Ẩn Phong sắp thị tịch ở động Kim Cang, núi Ngũ Đài, bèn bảo: “Ta đã từng thấy các sư nằm mà chết hay ngồi mà chết. Đây có ai thấy có vị nào đứng mà chết hay chưa?” Chư Tăng thưa: “Bẩm, có nghe kể như thế.” Phong nói: “Vậy có ai chổng ngược lên mà chết không?” Chư Tăng thưa: “Dạ, chưa hề có.” Phong bèn chổng ngược lên mà chết. Y phục vẫn dính liền với thân thể. Khi người ta mang hài cốt đi để mà hỏa táng, vẫn để y nguyên tư thế đó. Xa gần đến chiêm ngưỡng và khen lạ. Đặng Ẩn Phong có một người em gái làm ni cô, có mặt giữa đám đông hiếu kỳ này. Bà đến bên hài cốt ông anh mà trách: “Khi anh còn sống không tuân giữ giới luật, nay chết còn làm trò múa rối cho mọi người xem.” Nói xong ni cô bèn lấy tay xô, và xác chết ngã xuống đất kêu cái bịch. Dầu Thiền chế diễu và không ưa những hành động làm phép lạ và thần thông; và hơn thế nữa, dẫu rằng Thiền có cái phương cách thị hiện những thần thông và cái lối diễu cợt chúng một cách trắng trợn, các thiền sư đã đắc pháp tuyệt nhiên không phải là không có khả năng làm những thứ đó. Họ có thể làm nếu họ cho là cần thiết cho một mục đích xứng đáng. Những thần thông này chỉ là cái phó sản tất nhiên của thực ngộ. Một người ngộ hoàn toàn phải có chúng nếu không cái ngộ của người ấy nhiều nhất chỉ có thể coi là mới được phần nào thôi—According to The Records of the Transmission of the Lamp (Ch’uanTeng-Lu), Volume VIII, when Feng was about to pass away at the Vajra Cave, of Wu-tai Shan, he said: “I have myself seen the masters pass away lying or sitting but not standing. Do you know any masters who passed away standing?” The monks said, “Yes, there is the record of such.” Feng asked again, “Do you then know one who passed away standing on his head?” The monks said, “No, never yet.” Whereupon Feng stood on his head and passed away. His garment remained attached to his body. When people carried his body to the crematory it kept its extraordinary position unchanged. It was an object of wonder and admiration. Feng had a sister who was a nun, and she happened to be among the interested crowd. She approached the corpse of the brother and reproached him saying, “O, brother! While still alive, you have not observed the laws, and after death you still try to play a trick on people.” She then poked the brother with her hand, and the dead body went down on the ground with a thud. Although all their mockery and dislike of wonderworking acts and supernatural powers; and furthermore, despite the Zen way of performing miracles and its cynical manner of poking fun at them, the accomplished Zen masters were by no means incapable of performing them. They could so so if they deemed it necessary for a worthwhile purpose. These miracle powers are simply the natural by-products of true Enlightenment. A perfectly enlightened being must possess them, otherwise his Enlightenment can at most be considered as only partial.

Ẩn Phong Phi Tích: The koan of Teng-Yin-Feng Zen master who threw his staff up into the sky and, riding upon it—Công án Thiền sư Đặng Ẩn Phong ném tích trượng lên hư không rồi vọt thân bay qua. Theo Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, quyển VIII, mùa đông, Đặng Ẩn Phong thường ở núi Hành Nhạc trong tỉnh Hồ Nam, mùa hè ở núi Thanh Lương tỉnh Sơn Tây. Vào thời Nguyên Hòa đời Đường, khi Sư đi đến núi Ngũ Đài (một tên khác của núi Thanh Lương) vừa đến Hoài Tây, thuộc đất của loạn quân Ngô Nguyên Tế nghịch chiếu lại triều đình. Quan quân và giặc giao tranh, chưa phân thắng bại. Sư tự nhủ: “Ta nên ra tay giải nạn cho họ vậy.” Nói rồi Sư ném tích trượng lên không phi thân mà đi. Quân tướng hai bên ngước mặt lên xem, thấy sự thể hợp với điềm mộng, liền chẳng còn lòng nào giao tranh với nhau nữa. Sau khi Sư đã thị hiện thần thông, sợ rằng như vậy sẽ làm mê hoặc lòng dân, bèn bỏ vào núi Ngũ Đài, định thị tịch trước hang Kim Cang—The

Records of the Transmission of the Lamp (Ch’uanTeng-Lu), Volume VIII, during the Yuan Ho Period of the the T’ang Dynasty, in the winter, Yin-feng was in the habit of staying at Mount Heng, in Hu-nan Province, Central South China. In the summer, he stayed at Mount Ching Liang in Shan Hsi Province, North China. One summer, a revolution broke out as he reached Huai-Ssu on his way to Mount Wu Tai (another name for Mount Ching Liang). The insurgent general, Wu Yuan Chi, and his solders were fighting the national army. The battles went on, and neither side has as yet gained the upper hand. Master Yinfeng then said to himself, “I think I’ll go to the front and try to reconcile them.” So saying, he threw his staff up into the sky and, riding upon it, quickly reached the battlefield. The soldier on both sides, awestruck at the sight of a flying man, promptly forgot about fighting. Their hatreds and ill will were thus pacified and as a result the battles came to an end. After performing this miracle Yin-feng was afraid that such a demonstration might lead people into misunderstandings, so he went to the Diamond Cave of Mount Wu, and decided to stay there until he passed away.

Ẩn Phong Thiền Sư: Impo (jap)—Teng-Yin-Feng Zen master—See Đặng Ẩn Phong Thiền Sư.

Ẩn Phong Thôi Xa: The koan of Teng-Yin-Feng Zen master who was pushing a cart, he happened to see his master Ma-Tsu stretching his legs a little too far out in the roadway—Công án Thiền sư Đặng Ẩn Phong đẩy xe cán chân ngài Mã Tổ. Theo Ngũ Đăng Hội Nguyên, quyển III, khi Đặng Ẩn Phong đang đẩy chiếc xe cút kít thấy Mã Tổ nằm bên lề đường, chân duỗi ra ngoài. Ẩn Phong nói: “Yêu cầu sư rút cẳng vô.” Mã Tổ đáp: “Đã duỗi ra không bao giờ rút lại.” Ẩn Phong nói: “Cũng vậy, đã đẩy tới không bao giờ kéo lui.” Ẩn Phong bèn thúc xe đi qua, cán chân và gây thương tích cho Mã Tổ. Sau đó Mã Tổ đến Pháp đường, tay cầm búa, nói với Tăng chúng: “Ông nào hồi nảy đẩy xe cán cẳng lão sư hãy bước ra đây mau.” Ẩn Phong tiến thẳng đến trước mặt Mã Tổ, ngửa cổ lên sẵn sàng đón nhát búa, nhưng thay vì chặt cổ Ẩn Phong, Mã đại sư lặng lẽ đặt búa xuống đất. Ẩn Phong sẵn sàng hiến mạng sống để xác định chân lý Thiền qua hành động của Sư gây thương tích cho thầy mình là Mã Tổ. Về phần Mã Tổ, vì muốn thử và muốn biết chắc chắn chỗ chứng vào chánh pháp Thiền của người đệ tử, nên sẵn sàng để cho Ẩn Phong gây thương tích cho mình. Một khi chánh pháp can dự vào là các thiền sư không ngại ngùng hy sinh bất cứ thứ gì, kể cả sinh mạng. Câu chuyện này cũng biểu lộ sống động lòng can đảm và chính trực của Thiền. Tuy nhiên, chúng ta không được coi các hành động tượng trưng và cái tinh thần táo bạo biểu thị ở đây là hành vi vô trách nhiệm hoặc phô trương. Mặc dầu chúng làm khiếp đảm nhiều người có từ tâm, chúng biểu thị sự dị biệt biết bao giữa truyền thống Thiền với tất cả các giáo lý Phật giáo khác. Câu truyện này cũng cho chúng ta thấy Đặng Ẩn Phong đã chịu được sự thử thách của thầy mình và tự chứng tỏ mình là một đệ tử xứng đáng, trong khi Mã Tổ tỏ uy tín thực sự của Thiền. Trong khi trong trường hợp Nam Tuyền, đó là một con mèo bị giết; với Ngưỡng Sơn, là chiếc gương quý bị đập tan; với Mã Tổ thà để gẫy hai chân; có một chữ tín mà một nữ cư sĩ đốt cả ngôi nhà; lại một tín nữ khác quăng con xuống sông. Trường hợp sau cùng rất hi hữu, có lẽ chỉ diễn ra một lần trong Thiền sử. Nhưng những trường hợp khác ít bi tráng hơn thì đầy dẫy, và còn được coi như rất thường tình trong phép dạy Thiền—According to Wudeng Huiyuan, volume III, when Teng Yin-feng was pushing a cart, he happened to see his master Ma-Tsu stretching his legs a little too far out in the roadway. Yin-feng said, “Will you please draw your legs in?” Ma-tsu replied, “A thing once stretched out will never be retracted.” Yin-feng said, “If so, a thing once pushed will never be retracted.” His cart went right over the master’s legs, which were thus hurt. Later Ma-tsu went up to the Preaching Hall, where he carried an axe and said to the monks gathered, “Let the one who wounded the old master’s legs a while ago come out of the congregation.” Yin-feng came forth and stretched his neck ready to receive the axe, but the master, instead of chopping the disciple’s head off, quietly set the axe down. Yin-feng was ready to give up his life to reassert the truth of his deed through which the master got hurt. As for Ma-tsu, he just wanted to try and to ascertain the genuineness of Yin-feng’s understanding of Zen, so he was willing to allow Yin-feng to hurt his legs. When the thing is at stake, the masters do not hesitate to sacrifice anything, including their lives. This story also vividly demonstrates the courage and straightforwardness of Zen. However, these symbolic acts and the daring spirit shown should not be considered irresponsible behaviour or showing off. Although they have shocked many good-hearted people, they demonstrate how distinct the Zen tradition is from all other Buddhist teaching. This story also shows that Yin-feng had passed his Master’s test and proved himself to be a worthy disciple, while Ma-tsu demonstrated true mastership of Zen. While in the case of Nanch’uan, a kitten was done away with; Yang-shan broke a mirror in pieces; a woman follower of Zen burned up a whole house; and another woman follower threw her baby into a river. This latter was an extreme case and perhaps the only one of the kind ever recorded in the history of Zen. But other less sorrowful cases are plentiful and considered almost matters of course with Zen masters.

Ẩn Phú Thọ Ký: Những người đi theo Đức Phật sẽ nhận được sự tiên đoán của Đức Phật về sự giác ngộ và thành Phật trong tương lai, nhưng để tránh cho người ấy sanh tâm tăng thượng mạn, nên đức Phật chỉ làm cho người khác biết là người ấy được thọ ký—To receive from a Buddha predestination, prophecy or giving of a record, prediction, fortelling (to become a Buddha), but to help the person avoid being thinking of high opinion of one’s self, the Buddha let other people know about the person’s predestination.

Ẩn Phú Thuyết: Phương Tiện Ngữ—Dùng lời nói phương tiện để dẫn tới chân lý—Utilization of convenient or expedient speech that is leading into Truth.

Ẩn Phủ Như Lai Tạng: Pháp thân Như Lai bị phiền não che đậy—Tathagata dharma body that covered by afflictions.

Ẩn Sắc: Invisible objects (sound, voice). Ẩn Sĩ: Hermit—Recluse.

Ẩn Sĩ A Sá Ca: Atthaka (p)—Tên của một trong mười vị cổ tiên trong đạo Bà La Môn—Name of one of the ten ancient rsis of the Brahmins. Ẩn Sĩ Bà Cửu: Bhagu (p)—Tên của một ẩn sĩ Bà la môn —Tên của một ẩn sĩ Bà la môn—Name of a brahman hermit.

Ẩn Sĩ Bà Ma Đề Bà: Vamadeva (skt)—Hermit Vamadeva—Bà la môn Bà Ma đề bà.

Ẩn Sĩ Bạt La Đà Thẩm Xa: Bharadvaja (p)— Name of one of one hundred Pratyeka-buddhas who lived a long time on Mount Isigili—Tên của một trong một trăm vị Phật độc giác đã sống một thời gian dài trên núi Isigili.

Ẩn Sĩ Cao Quý: A noble hermit—A retired scholar.

Ẩn Sở: Cầu xí—A privy.

Ẩn Sở Tác Pháp: Pháp tu của hành giả Mật Giáo ngay cả khi ở trong cầu xí (họ thường quán chữ “Lãm” trên đỉnh đầu)—Cultivation method of Tantric practitioners even in the privy.

Ẩn Tàng: Concealed—hidden—Implicit. Ẩn Thân: Tàng hình—To vanish—To become invisible.

Ẩn Tích: Mai danh ẩn tích—To live in retirement—To retire from the world—To seclude oneself from society.

Ẩn Ý: Idea at the back of one’s mind— Dissembled thought.

Âu Bát La: Utpala (skt)—Còn gọi là Ưu Bát, Ô Bát La, hay Ưu Bát Lạt—See Ưu Bát La.

Âu Đạo Huệ Thiền Sư (?-1172): Thiền sư Việt

Nam, quê ở Bắc Ninh, thuộc hệ thứ chín của phái Vô Ngôn Thông—A Vietnamese Zen master, who came from Bac Ninh Province, belonged to the ninth lineage of Vô Ngôn Thông Zen sect.

Âu Sầu: Sorrowful—Grieved—Sad. Ẩu Hầu Hầu Địa Ngục: Hahava (skt)—Ababa (skt)—Ahaha (skt)—See Hầu Hầu Địa Ngục.

Âu Hòa La Câu Xá La: Upaya-kausalya (skt)— Expedient method implies strategically correct— Skilful means—See Phương Tiện Thiện Xảo.

B

 

Ba Ba: Run hither and thither in the samsara—

Chạy vòng vòng (trong vòng luân hồi sanh tử).

Ba Ba Kiếp Kiếp: Chạy vòng mãi trong vòng luân hồi sanh tử—Rushing about forever in the Samsara.

Ba Ba La: Pippala (skt): Ficus religiosa—The real name for Bodhi-tree—Tên thiệt của cây Bồ đề. Ba Bất Tận: Three indestructibles—See Tam Bất Tận.

Ba Cân Gai: Three pounds of hemp—Theo Bích Nham Lục, một hôm, một vị Tăng hỏi Thiền sư Động Sơn Lương Giới: “Phật là gì?” Thiền sư Động Sơn trả lời: “Ba cân gai.” Nhiều người chỉ dựa vào ngôn từ để hiểu, cho rằng Thiền sư Động Sơn đang ở trong nhà kho và đang cân gai khi vị Tăng hỏi ông, vì vậy ông trả lời như thế. Một số khác cho rằng khi người ta hỏi Thiền sư Động Sơn về phương Đông, ông trả lời về phương Tây. Nhiều người khác lại nói rằng vì bạn là Phật mà bạn lại nói về Phật, Thiền sư Động Sơn chỉ trả lời vòng vo. Một số khác nữa lại nói rằng ba cân gai ấy chính là Phật. Những lý giải đó đều không dính dấp gì đến vấn đề. Nếu bạn tìm cách hiểu những câu nói của Thiền sư Động Sơn theo kiểu đó, bạn có thể tham nghiệm cho đến khi Phật Di Lặc hạ sanh, và ngay cả trong chiêm bao, bạn cũng không tìm thấy được. Tại sao vậy? Từ ngữ và lời nói là những con thuyền chở Đạo. Thay vì cố gắng tìm hiểu chủ định của cổ nhân, người ta chỉ cố gắng đi tìm trong chữ nghĩa. Họ có thể hiểu được cái gì? Thế bạn chưa bao giờ nghe thấy câu nói này của cổ nhân sao: “Nguyên thủy, Đạo vốn vô ngôn, chúng ta dùng ngôn ngữ để hiển Đạo. Một khi chứng được Đạo, ngay lập tức, bạn quên hết ngôn từ.” Và để đạt đến cảnh giới đó, trước hết, bạn phải quay lại với trạng thái nguyên thủy của bạn—According to the Blue Cliff Record, one day, a monk asked Zen Master T’sung-Shan (Tozan): “What is Buddha?” T’sung-Shan said, “Three pounds of hemp.” Many people base their understanding on the words and say that T’sungShan was in the storehouse at the time weighing out hemp when the monk questioned him, and therefore he answered this way. Some say that when T’sung-Shan is asked about the east he answers about the west. Some say that since you are Buddha and yet you still go ask about Buddha, T’sung-Shan answers this in a runabout way. And there’s yet another type of… men who say that the three pounds of hemp is itself Buddha. But these interpretations are irrelevant. If you seek from T’sung-Shan’s words this way, you can search until Maitreya Buddha is born down here and still never see it even in a dream. What is the reason? Words and speech are just vessels to convey the Path. Far from realizing the intent of the Ancients, people just search in their words; what grasp can they get on it? Haven’t you seen how an Ancient said, “Originally the Path is wordless; with words we illustrate the Path. Once you see the Path, the words are immediately forgotten.” To get to this point, you must first go back to your own original state.

Ba Cấp Độ Kiến Thức: Three degrees of knowledge—Theo ngài Long Thọ trong Trung Quán Luận, có ba cấp độ kiến thức: Huyền ảo (sự gán ghép sai lầm một ý tưởng không có thực cho một đối tượng do nhân duyên tạo ra. Đối tượng nầy chỉ hiện hữu trong trí tưởng tượng và không tương ứng với thực tại). Thường nghiệm (sự hay biết về một đối tượng do nhân duyên mà có, đây là kiến thức tương đối và dùng để phục vụ cho các mục đích của cuộc sống). Tuyệt đối (chân lý cao nhất hay chân như, chân lý tuyệt đối. Huyền ảo và thường nghiệm tương ứng với chân lý tương đối, còn tuyệt đối thì tương ứng với chân lý cao nhất của Trung Luận tông)—According to Nagarjuna in the Madhyamika-karika, there are three degrees of knowledge: Illusory knowledge (the false attribution of an imaginary idea to an object produced by its cause and conditions. It exists only in one’s imagination and does not correspond to reality). Empirical knowledge (is the knowledge of an object produced by its cause and conditions; this is relative knowledge and serves the practical purposes of life). Absolute knowledge (the highest truth or tathata, the absolute, the illusory knowledge and empirical knowledge correspond to relative truth, and the absolute knowledge to the highest truth of the Madhyamika system). Ba Cấp Độ Ngồi: Three levels of sitting for any practitioner—See Ba Thế Ngồi.

Ba Chướng:

  1. Tham, sân, si (greed, hatred, delusion)—See Tam Độc.
  2. Ba chướng ngại của người tu Phật: phiền não chướng, nghiệp chướng (đây là chướng nghiêm trọng nhất trong ba chướng), và quả

báo chướng—Three types of obstacles for any Buddhist cultivators: the obstacles of afflictions, the obstacles of karma (this is the most serious obstacles in the three), the obstacles of retribution.

Ba Chướng: Three impediments—See Tam

Chướng Ngại.

Ba Cõi: Traidhatuka (skt)—Trailokya (p)—Three spheres of existence—Ba cõi hiện hữu—See Tam

Giới.

Ba Cõi Ác: Ba đường dữ—Three evil realms—

Three realms (paths) of woe—See Tam Đồ Ác Đạo.

Ba Cửa Vào Niết Bàn: Không, Vô tướng, và Vô tác—The three gates to the city of nirvana: the emptiness (the void, immaterial), formless, and inactivity.

Ba Dật Đề: Patayantika (skt)—Shuddhaprayashchittika (skt)—90 giới ứng đối trị phải phát lồ trước tứ chúng. Những ai phạm giới luật trọng tội như ngũ nghịch, chẳng những bị trục xuất khỏi giáo đoàn, mà còn phải đọa vào a tỳ địa ngục— Ninety standards, violation of which requires public confession. Those who commit one of the five grave sins, will not only be excommunicated from the order, but will also fall into avici forever. Ba Di La: Vajra (skt)—Diamond or adamantine— See Kim Cang.

Ba Di La Đại Tướng: Pajra (skt)—Một trong mười hai vị thần liên hệ với đức Phật Dược Sư— One of the the twelve spirits connected with the Master of Healing Buddha.

Ba Diễn Na: Paryayana (skt)—Ba Nha Na—Một hành lang, sân, hay nơi có mái che để đi hành thiền trong tự viện—An ambulatory, courtyard, or a sheltered place for walking in a temple. Ba Du Bát Đa: Pasupata (skt)—See Ba Thâu Bát Đa.

Ba Đa Ca: Dhvaja (skt)—Ketu (skt)—Banner—

Flag—Streamer—Pennant—Phan—Cờ phướn—

Ba Đa Ca—Lá cờ hay phướn treo tại chùa trong các ngày lễ (vật trang nghiêm biểu tượng cho uy đức của Đức Phật).

Ba Đà La: Patali (skt)—Bát Đảm La—An ancient kingdom in India—Một vương quốc cổ ở Ấn Độ. Ba Đại A Tăng Kỳ: Three asankhyeya maha kalpas.

Ba Đan Xà Lê: Patajali (skt)—Bàn Đạt Xà Lý— Tên của một học giả người Ấn nổi tiếng vào thế kỷ thứ hai—Name of a famous Indian scholar in the second century.

Ba Đầu Ma: Pundarika (skt)—Bông sen— Lotus—See Liên Hoa.

Ba Đầu Ma Địa Ngục: Padma (skt)—Hell of Red lotus flower—Bát đặc ma—Hồng liên hoa—Phạm nhân phải chịu rét đến độ da thị đỏ lên như sen hồng—Red lotus flower, the flesh being covered with sore resembling it.

Ba Đầu Ma Liên Hoa: Pundarika (skt)—Bông sen—Lotus—See Liên Hoa. Ba Đầu Ma Thắng Như Lai: Padma Victory Thus Come One.

Ba Đầu Tử: Engo-kokugon (jap)—Viên Ngộ Khắc Cần Thiền Sư—Yuan-Wu-Ko-Chin—See

Khắc Cần Phật Quả Thiền Sư.

Ba Điều Như Lai Không Cần Gìn Giữ: Ba điều Như Lai không cần gìn giữ theo kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh). Thứ nhất là Như Lai thanh tịnh hiện hành về thân, Như Lai không có ác hạnh về thân mà Như Lai phải gìn giữ. Thứ nhì là Như Lai thanh tịnh hiện hành về miệng. Như Lai không có ác hạnh về miệng mà Như Lai phải gìn giữ. Thứ ba là Như Lai thanh tịnh hiện hành về ý. Như Lai không có ác hạnh về ý mà Như Lai phải gìn giữ—Three things a Tathagata has no need to guard against (Sangiti Sutta in the Long

Discourses. First, a Tathagata is perfectly pure in bodily conduct. There is no misdeed of the body which He must conceal lest anyone should get to hear about it. Second, a Tathagata is perfectly pure in speech. There is no misdeed of the speech. Third, a Tathagata is perfectly pure in thought. There is no misdeed of thought.

Ba Điều Phật Có Thể Làm Được: Ba thứ mà một đức Phật có thể làm được: khả năng hiểu biết vạn vật, khả năng hiểu biết bản chất thật của vạn hữu, khả năng cứu độ vô lượng chúng sanh—Three things possible to a Buddha: He can have perfect knowledge of all things; He can have perfect knowledge about the nature of all beings; He can save countless beings.

Ba Điều Phật Không Thể Làm Được: Ba điều Phật không thể làm được cho chúng sanh: không thể loại trừ quả nghiệp báo cho chúng sanh; không thể cứu rỗi vô điều kiện; không thể chấm dứt các đường dữ cho chúng sanh—Three things impossible to a Buddha: He cannot annihilate causality karma; He cannot save unconditionally; He cannot end the realm of the living.

Ba Đời: Three generations—Ba đời bao gồm quá khứ, hiện tại và vị lai—Three lifespans include past, present and future.

Ba Đức Phật: Ba Đức Phật trong Đại Hùng Bảo Điện: Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật Dược Sư, và

Phật A Di Đà—Three Buddhas in the Main Shrine: Sakyamuni Buddha, Medicine Buddha, and Amitabha Buddha.

Ba Đường Ác: Ba đường dữ—Three evil realms—Three realms (paths) of woe—See Tam

Đồ Ác Đạo.

Ba Già La: Parikara (skt)—See Ba Lợi Già La. Ba Ha Bát Nhã Thích Luận: See Đại Trí Độ Luận.

Ba Hòa Lợi: Pravara (skt)—Pravari (skt)—Theo Giáo Sư Soothill trong Trung Anh Phật Học Từ

Điển, đây là tên của một tịnh xá vùng Bắc Ấn— According to Professor Soothill in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, this the name of a monastery in northern India. Ba Hòa Ly: Tên của một người dì của Phật Di Lặc—Name of a maternal aunt of Maitreya.

Ba Hy Hòa (1878-1945): Pa-Hsi He—Paul

Pelliot—Tên của một học giả Phật giáo nổi tiếng người Pháp vào thế kỷ thứ XX. Năm 1900, ông trở thành một trng những nhà nghiên cứu chính của Pháp Quốc Viễn Đông Học Viện—Name of a famous French Buddhist scholar in the the twentieth century. In 1900, he became one of the major researchers of the French Study of the Far East Institute.

Ba Kỳ: Parasi (skt)—Ba La Tức—Ba Tư—Ba Lặc

Kỳ—Vùng đất Ba Tư ngày nay—Persian—

Persia—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển thì Ba La Tức là kinh đô của nước Surasthana, nơi mà người ta cho rằng “bát khất thực” của Phật được mang đến lưu trữ vào khoảng năm 600 sau Tây Lịch—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms composed by Professor Soothill, in its capital of Surasthana the Buddha’s almsbowl was said to be in 600 A.D.

Ba La: Pala (skt)—Bà la—Bát La—1) Người bảo hộ: Keeper, guardian, protector, warden; 2) Một đơn vị đo lường tương đương với bốn lạng: A particular measure or weight, interpreted as four ounces; 3) Hộ niệm: Supportive recitation; 4) Thịt sống: Flesh, meat.

Ba La Di: Parajika (skt)—Tám sự cư xử xấu— Tám sự cư xử xấu—Bát Ba La Di Bát Ba La Di, một trong sáu chương của Luật Tạng—Eight misbehaviors, one of the six chapters of the Vinaya-Pitaka.

Ba La Di Giới: See Ba La Di.

Ba La Di Pháp: See Ba La Di. Ba La Di Tứ Dụ: Four metaphors of breaking the vow of chasity—See Tứ Dụ (B).

Ba La Đề Mộc Xoa: Patimokkha Sila (p)—Giới luật căn bản mà một vị Tỳ Kheo phải trì giữ—The fundamental moral code, various rules which a monk is expected to observe. Ba La Đề Xá Ni: Pratidesaniya (skt)—Hướng Bỉ

Hối Tội—Bát Lặt Để Ba La Đề—Ba La Xá Ni— Đề Xá Ni—Phát Lồ—Buddhist confession of offences—Một phần trong Luật Tạng nói về tội phải sám hối trước chúng—A section of the Vianyana concerning public confession of sins.

Ba La Già: 1) Đáo bỉ ngạn: Paraka (skt)— Carrying over or saving; 2) Vị đã đáo bỉ ngạn, người đã qua bờ bên kia: Paragata (skt)—One who has reached the other shore. Ba La Già La: Prakara (skt)—Một thứ rào cản— A containing wall—Fence.

Ba La Mạt Đà: Paramartha (skt)—1) Đệ nhất nghĩa, thắng nghĩa: The highest truth, ultimate truth; 2) Chân Đế: Reality, fundamental meaning; 3) Gunarata: Kulanatha (skt)—See Chân Đế Tam Tạng (513-569).

Ba La Mật: Paramita (skt)—Parol tu chinpa (tib)—Ba La Mật Đa—Đáo bỉ ngạn—Thập Độ Ba

La Mật (bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ, trạch pháp, dũng mãnh, phương tiện, phát bồ đề tâm)—Ten Perfections (charity, moral conduct, patience, correct energy, contemplation, knowledge, investigation or choosing of the law, strength, use of expedient or porper means, and vow for Bodhicitta and helpfulness). Ba La Mật Đa: Paramita (skt)—Đáo bỉ ngạn hay vượt qua bờ sinh tử bên nầy để đến bờ bên kia, Niết Bàn. Trong Kinh Lăng Già, Đức Phật đưa ra ba loại Ba La Mật—To cross over from this shore of births and deaths to the other shore, or nirvana.

In The Lankavatara Sutra, the Buddha gave three kinds of Paramitas.

Ba La Mật Tập Khí: Tập khí của Ba La Mật— The habit energy of transcendence. Ba-La-Mật Thân: Thân Ba-La-Mật, vì đều chánh tu hành trong thân này—The body of transcendent ways, due to correctly practicing them all. Ba La Nại: Benares (skt)—Tên khác của thành Varanasi, cũng còn gọi là Kasi, thuộc vùng Bắc Ấn, một thành phố nằm về phía Bắc Ấn Độ, kinh đô của vương quốc cổ Ca Thị nằm bên bờ sông Hằng, một trong mười sáu nước của Ấn Độ trong thời Đức Phật còn tại thế. Ba La Nại là một thành phố thiêng liêng cho cả Ấn giáo và Phật giáo. Lộc Uyển cách Ba La Nại chừng bảy dậm nơi Phật thuyết giảng bài pháp đầu tiên “Kinh Chuyển Pháp Luân” cho năm vị đệ tử đầu tiên của Ngài— Another name for Varanasi, a city in northern India. Also called Kasi, a sacred city for both Hinduism and Buddhism. About seven miles from Baranasi was sarnath or the deer Park (the outskirt of Benares) where the Buddha preached his first discourse on the “Sermon on Setting in motion of the Wheel of the Law” to his first five disciples. Baranasi is also the most holy city in India and important in Buddhism.

Ba La Ni Mật Bà Xá Bạt Đề Thiên: Paranirmita- vasavartin (skt)—Tha Hóa Tự Tại Thiên—A deva who is obedient to the will of those who are transformed by others.

Ba La Phả Bà Để: Prabhavati (skt)—Name of a younger sister of Asoka—Tên của một người em gái của vua A Dục.

Ba La Phả Ca La Mật Đa La: Prabhakaramitra (skt)—Người giác ngộ—Enlightener. Ba La Phó: Prabhu (skt)—1) Nguyên thủy hay lúc bắt đầu (ban sơ): Beginning, first; 2) Mạnh mẽ: Powerful, surpassing; 3) Theo Giáo Sư Soothill trong Trung Anh Phật Học Từ Điển: a) đây là danh hiệu của Tỳ Nữu Thiên (Tỳ Ni Thiên), b) nhân cách hóa của mặt trời, Phạm Thiên hay Đế Thích—According to Professor Soothill in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms: a) This is a title of Visnu, b) Personification of the sun, Brahma, Indra, etc.

Ba La Xa: Palasa (skt)—Ba La Xa Hoa—Theo

Giáo Sư Soothill trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Palasa là tên của một loại hoa của một loại cây ở Tây Vực, lá xanh, hoa có ba sắc. Khi mặt trời chưa mọc thì màu đen, mặt trời trưa thì màu đỏ, mặt trời lặn thì màu vàng. Nước cây rất đỏ dùng làm thuốc nhuộm—According to Professor Soothill in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, palasa is the name of a blossom of a tree with green leaves and red flowers, whose sap is used to dye fabric stuff. Its flowers are said to be black before sunrise, red during the day, and yellow after sunset.

Ba Lăng Hảo Kiếm: Haryo Kokan (jap)—See Ba Lăng Hạo Giám Nhạc Châu Thiền Sư.

Ba Lăng Hạo Giám Nhạc Châu Thiền Sư: Haryo Kokan (jap)—Pa-ling Hao-chien (Wade-Giles

Chinese)—Baling Haojian (Pinyin Chinese)— Thiền sư Trung Hoa Ba Lăng Hạo Giám, đệ tử và truyền nhân nối pháp của thiền sư Vân Môn Văn Yển vào thế kỷ thứ mười. Hiện nay chúng ta không có nhiều tài liệu chi tiết về Thiền sư Ba Lăng Hạo Giám; tuy nhiên, có một vài chi tiết nhỏ về vị Thiền sư này trong quyển Bích Nham Lục (tắc thứ 13 và 100) và bộ Truyền Đăng Lục, quyển

XXII—Chinese Zen master Paling Haojian, a disciple and dharma successor of Zen master YunMen-Wen-Yen in the tenth century. We do not have detailed documents on this Zen Master; however, there is some brief information on him in the Pi-Yen-Lu (examples 13 and 100) and The Records of the Transmission of the Lamp (Ch’uan-

Teng-Lu), Volume XXII. 

 Ba Lăng ở trong chúng được hiệu là “Giám Nhiều Lời,” thường vác tọa cụ đi hành cước, nhận được đại sự dưới gót chân của Vân Môn, nên rất phi thường. Ông chỉ dùng ba chuyển ngữ dâng lên Vân Môn: 1) Thế nào là Đạo? Đó là người mắt sáng rơi giếng. 2) Thế nào là Xuy Mao Kiếm? Đó là cành cành san hô chống đến trăng. 3) Thế nào là Tông Đề Bà? Đó là Trong chén bạc đựng Tuyết. Vân Môn bảo sau nầy ngày kỵ của Lão tăng, chỉ cử ba chuyển ngữ nầy là đủ. Về sau quả nhiên không tổ chức trai kỵ, y theo lời dặn của vân Môn, chỉ cử ba chuyển ngữ nầy. Sở dĩ người ta gọi ông là ‘Kiến dài dòng’ vì cách trả lời văn hoa của ông với các môn đồ, khác với thầy mình là Vân Môn, nổi tiếng về cách nói ngắn gọn và những câu ‘một âm tiết’. Ba Lăng có hai người nối Pháp. Chúng ta gặp tên của

ông trong các thí dụ thứ 13 và 100 của Bích Nham Lục—In the community of Yun-men, Pa-ling was called Mouthy Chien. He was always travelling around with his sitting mats. He had attained deeply into the great matter upon which Yun-men tread: thus he was outstanding. He didn’t compose any document of succession to the teaching, but just took three turning words to offer up to Yun-men: “What is the Path A clear eyed man falls into a well.” “What is the sword so sharp it cuts a hair blown against it? Each branch of coral upholds the moon.” “What is the school of Kanadeva? Piling up snow in a silver bowl.” Yun-men said, “Later on, on the anniversary of my death, just recite these three turning words, and you will have repaid my kindness in full.” Thereafter, as it turned out, he did not hold ceremonial feasts on the anniversaries of his death, but followed Yun-men’s will and just brought up these turning words. He had the nickname ‘Garrulous Chien’, because, completely unlike his master Yun-men, who was known for his often literally monosyllabic style of expression, Pa-ling was fond of responding to his students in elegant poetic formulations. Pa-ling had two dharma successors, we encounter him in examples 13 and 100 of the Pi-Yen-Lu.

Vào buổi gặp gỡ đầu tiên với Thiền sư Vân Môn, Vân Môn nêu câu Tuyết Phong nói: “Mở cửa ra và Đạt Ma tới.” Nói xong Vân Môn hỏi Ba Lăng: “Ý Tuyết Phong như thế nào?” Ba Lăng nói: “Dựng ngay lỗ mũi của Hòa Thượng.” Vân Môn nói: “Vua A Tu La nổi giận, tát núi Tu Di một cái rồi nhảy tuốt lên trời Phạm Thiên báo cáo với Đế Thích. Tại sao ông lại chạy vào Nhật Bổn mà giấu thân?” Ba Lăng nói: “Tốt hơn là Hòa Thượng đừng có tâm hạnh lừa người như thế.” Vân Môn nói: “Ông nói dựng lên để làm chi?” Ba Lăng im lặng. Vân Môn nói: “Bây giờ thì lão Tăng biết ông chỉ học theo dòng chảy của văn tự mà thôi.”—At the first meeting with Yunmen, Yumen asked Pa-ling, “Master Xuefeng said, ‘Open the gate and

Bodhidharma comes.’ I ask you, what does this mean?” Pa-ling said, “Blocking the master’s nostrils.” Yunmen said, “The Spirit King of the earth unleashed his evil! A demon leaps from Mt. Sumeru up to Brahma Heaven and pinches the nostrils of the Heavenly Emperor! Why have you concealed your body in Japan?” Pa-ling said, “Better that the master not deceive people.” Yunmen said, “Pinching this old monk’s nostrils, how will you do it?” Pa-ling was silent. Yunmen said, “Now I know you’re just studying the flow of

words.”

  • Một hôm, Vân Môn nói: “Về sau này, trong ngày lễ kỵ của ta, chỉ cần nói lại ba câu chuyển ngữ này là mấy ông đã đền ơn của ta rồi vậy.” Về sau này, trong ngày lễ kỵ của Vân Môn, mọi người đều làm đúng theo lời chỉ dạy của ông. Sau khi Ba Lăng đảm nhận dạy chúng, ông đã không tạo ra kỷ yếu truyền thừa cho học trò của mình. Ông chỉ dùng ba câu chuyển ngữ của Thầy mình như là cách để đạt được yếu chỉ của tông Vân Môn—One day, Yunmen said, “In the future, on my remembrance day, just restate these three turning phrases, then you will have repaid my benevolence.” Later, when Yunmen’s memorial occured, it was in accordance with his instructions. Later, when Pa-ling took up residence as a teacher, he did not create a document of succession for his students. He only used three turning phrases as the way to attain the essence of the Yunmen school.
  • Về sau này có một vị Tăng hỏi: “Ý chỉ Thiền tông và giáo tông giống hay khác?” Ba Lăng đáp: “Gà lạnh lên cây, vịt lạnh xuống nước.” (ý nói Thiền tông và Giáo tông tuy hai phương cách khác nhau, nhưng cũng cùng một mục đích như nhau)—Later, a monk asked, “The meaning of the ancestors and the meaning of the scriptural teachings, are they the same or different?” Pa-ling said, “The cold fowl flies up in the tree. The cold duck dives into the water.”
  • Có một vị Tăng hỏi: “Ba thừa giáo nghĩa, mười hai bộ kinh, đều không có gì nghi hoặc, nhưng thế nào là Thiền tông?” Ba Lăng đáp: “Đó chẳng phải là chuyện của Thiền Tăng.” Vị Tăng lại hỏi: “Thế thì chuyện của Thiền Tăng là chuyện gì?” Ba Lăng đáp: “Khi ăn mà

ham dòm sóng trắng là mất cả đôi tay và đôi bàn tay.” (ham muốn tìm Phật bên ngoài sẽ làm mờ đi Phật tánh của chính mình)—The monk asked, “I don’t doubt the three vehicles and the twelve divisions. What is the main affair of our school?” Pa-ling said, “It’s not an affair of patch-robed monks.” The monk asked, “What is the affair of patch-robed monks?” Pa-ling said, “While eating, seeing the white waves. Losing the hands and forearms.”

  • Một hôm, Ba Lăng hỏi một vị Tăng: “Ông đến du sơn, hay đến vì Phật pháp?” Vị Tăng đáp: “Thế giới bao la thanh bình, nói chi đến Phật pháp.” Ba Lăng nói: “Đúng là một vị Thiền khách vô sự.” Vị Tăng nói: “Lúc nào cũng đa sự.” Ba Lăng hỏi: “Ông có vào hạ năm trước ở đây không?” Vị Tăng đáp: “Không.” Ba Lăng nói: “Trong trường hợp đó, ông đã đến đây nhưng chúng ta đã không gặp nhau.”—One day, Pa-ling asked a monk, “Did you come to walk on the mountain? Or did you come for the Buddhadharma?” The monk said, “In the vast, peaceful world, what Buddhadharma can be spoken?” Pa-ling said, “A good Zen guest, without affairs.” The monk said, “There have always been affairs.” Pa-ling said, “Didn’t you spend the summer here last year?” The monk said, “No.” Pa-ling said, “In that case, you’ve come here before but we didn’t meet.”
  • Khi Ba Lăng rời núi, Sư đem cây phất trần cho một vị Tăng. Vị Tăng nói: “Bổn lai thanh tịnh, dùng cây phất trần này để làm gì?” Ba Lăng nói: “Tuy biết là thanh tịnh, nhưng phải luôn luôn không được quên.”—When Pa-ling was leaving the mountain, he gave his whisk to a monk. The monk said, “Originally there is only purity. Of what use is a whisk?” Pa-ling said, “Once you have known purity, nothing

can be forgotten.”

Ba Lăng Kiếm Sắc: Pa Ling’s Blown Hair Sword, example 100 of the Pi-Yen-Lu—See Kiếm Thổi

Lông.

Ba Lăng Ngân Oản Lý Thạnh Tuyết: Pa-ling’s Snow in a Silver Bowl—Công án thứ 13 trong Bích Nham Lục như sau: “Một vị Tăng hỏi Ba Lăng: ‘Phái Đề Bà là gì?’ Ba Lăng nói: ‘Giống như tuyết chất đống lên trong một cái chén nhỏ bằng bạc vậy thôi.'” Công án thứ 13 của Bích Nham Lục cho chúng ta một ý niệm về tài năng diễn đạt quen thuộc của thầy mình. Một vị Tăng hỏi Ba Lăng về trường phái Đề Bà, ám chỉ Ca Na Đề Bà (Kenadeva), tổ thứ mười lăm của dòng thiền Ấn Độ. Ca Na Đề Bà là đệ tử và người nối pháp của tổ Long Thọ tổ thứ mười bốn của dòng thiền Ấn Độ, một trong những nhà triết học lớn nhất của truyền thống Phật giáo. Giống như thầy mình, Ca Na Đề Bà là một trong những nhà triết học xuất sắc và là người tranh luận triết học được Phật giáo xem như nổi tiếng nhất thời đó. Ông đã dùng vô ngại biện chiết phục ngoại đạo khiến cho tông Đề Bà hưng thạnh—The koan 13 in the Pi-Yen-Lu is as follows: “A monk asked Pa-ling, ‘What is the Deva school?’ Pa-ling said, ‘It is like snow heaped in a silver bowl.'” Koan 13 of the Pi-Yen-Lu gives us an impression of the master’s way of expressing himself. A monk asks him in this example about the Deva school. This is a reference to Kanadeva, the fifteenth patriarch in the Indian lineage of Zen. Kenadeva was a student and dharma successor of Nagarjuna, the fourteenth patriarch, one of the greatest philosophers in the Buddhist tradition. Like his master, Kanadeva was an outstanding philosopher and an indomitable foe in the philosophical debates so popular in the Buddhism of his time.

Ba Lăng Ngân Uyển Lý Thạnh Tuyết: Pa-ling’s Snow in a Silver Bowl—See Ba Lăng Ngân Oản Lý Thạnh Tuyết.

Ba Lăng Tam Chuyển Ngữ: The koan of Pa-ling Hao-chien’s three turning phrases—Công án “Tam chuyển ngữ” của Thiền sư Ba Lăng Hạo Giám— Theo Truyền Đăng Lục, quyển XXII, một hôm, Vân Môn nói: “Về sau này, trong ngày lễ kỵ của ta, chỉ cần nói lại ba câu chuyển ngữ này là mấy ông đã đền ơn của ta rồi vậy.” Về sau này, trong ngày lễ kỵ của Vân Môn, mọi người đều làm đúng theo lời chỉ dạy của ông. Sau khi Ba Lăng đảm nhận dạy chúng, ông đã không tạo ra kỷ yếu truyền thừa cho học trò của mình. Ông chỉ dùng ba câu chuyển ngữ của Thầy mình như là cách để đạt được yếu chỉ của tông Vân Môn—The Records of the Transmission of the Lamp (Ch’uan-Teng-Lu), Volume XXII, one day, Yunmen said, “In the future, on my remembrance day, just restate these three turning phrases, then you will have repaid my benevolence.” Later, when Yunmen’s memorial occured, it was in accordance with his instructions. Later, when Pa-ling took up residence as a teacher, he did not create a document of succession for his students. He only used three turning phrases as the way to attain the essence of the Yunmen school—See Vân Môn Tam Cú. Ba Lăng Tuyết Trung Bạc Oản: Pa-ling’s Snow in a Silver Bowl—See Ba Lăng Ngân Oản Lý Thạnh Tuyết.

Ba Lang Xuy Mao Kiếm: Pa Ling’s Blown Hair Sword, example 100 of the Pi-Yen-Lu—See Ba

Lăng Kiếm Sắc.

Ba Lật Thấp Phược: Parsva (skt)—Parshva (skt)—Parshva là người đã sống 250 năm trước thời Đức Phật—Parshva is now acknowledged to be Mahavira’s predecessor and is believed to lived 250 years before the time of the Buddha.

Ba Lâu Sa Ca: Parusaka (skt)—Một công viên trên cõi trời Đao Lợi—A park in the Trayastrimsas heaven.

Ba Li: Pali (p)—Phạn ngữ Ba Li (Nam Phạn), một trong những ngôn ngữ căn bản ghi lại những giáo điển Phật—One of the basic languages in which the Buddhist tradition is preserved.

Ba Li Tạng: Pali Tripitaka—Pali Canon—Tam tạng kinh điển Phật giáo viết bằng tiếng Pali. Đây là tạng kinh điển của trường phái Theravada—The Scriptures of the Theraveda School written in Pali. This is the Scriptures or scriptural collection of the Theraveda School written in Pali.

Ba Lị: See Ba Li.

Ba Lị Ngữ: See Ba Li.

Ba Liên Phất: Pataliputta (p)—Pataliputra (skt)—Kusumapura or Puspapura (skt)—The city of flowers, or the palace of flowers—See Hoa Thị Thành.

Ba Loại Ba La Mật: Ba loại Ba La Mật: Thế gian Ba La Mật, Xuất thế gian Ba La Mật, Xuất thế gian thượng thượng Ba La Mật—Three kinds of Paramita ideals or methods of perfection: The Paramitas of people in general relating to this world, Paramitas of Sravakas and Pratyekabuddhas relating to the future life for themselves, Paramitas of the supreme one of bodhisattvas, relating to the future life for all.

Ba Loại Giáo Thuyết: Ba thứ giáo thuyết: tạng giáo, thông giáo, và biệt giáo—Three doctrines: the tripitaka doctrine (the orthodox of Hinayana), the intermediate or interrelated doctrine (Hinayana-cum-Mahayana), and the

differentiated or separated doctrine (Early Mahayana as a cult or development, as distinct from Hinayana).

Ba Loại Người: Three kinds of people—See Tam Chủng Nhân.

Ba Loại Người Có Thể Đi Theo Con Đường Đại Thừa: Theo Kinh Thắng Man, có ba loại người có thể bước theo nẻo Đại Thừa. Những người tự mình hiểu được trí năng sâu sắc. Những người hiểu được trí năng bằng cách nghe học thuyết. Những người tuy không hiểu được trí năng cao nhất, nhưng có một niềm tin hoàn toàn vào Đấng Như Lai— According to the Shrimaladevi-Sutra, three are three types of beings who can tread the path of the Mahayana. Those who realize the most profound wisdom or Prajna. Those who realize wisdom through hearing the teaching. Those who cannot realize supreme wisdom, but have devout faith in the Tathagata.

Ba Loại Nhẫn Nhục: Three kinds of patience or forebearance—See Tam Chủng Nhẫn Nhục. Ba Loại Phiền Não: Three afflictions—See Tam Phiền Não.

Ba Loại Thanh Tịnh Của Bồ Tát: Tam chủng thanh tịnh của Bồ Tát: Thân thanh tịnh, Tướng thanh tịnh, và Tâm thanh tịnh—Three purities of a bodhisattva: a pure body, a perfectly pure and adorned appearance, and a mind free of impurity. Ba Loại Thiền:Three kinds of meditation—Ba loại thiền: Đại thừa thiền, Tiểu thừa thiền, và Tổ sư thiền—Three types of meditation: Mahayana meditation, Hinayana meditation, and Patriarchal meditation.

Ba Loại Thiện Căn: See Tam Chủng Thiện Căn. Ba Lợi Bà Sa: Parivasa (skt)—Biệt Trụ, tên của một hình phạt trong Luật Tạng. Kẻ phạm giới phải ở một mình một phòng riêng, không được ở cùng với các vị Tăng khác—Sent to a separate abode, isolation for improper conduct.

Ba Lợi Chất Đa La: Ba Lợi Chất La—Ba Nghi Chất Cấu—Ba Lợi Chất Đa La Câu Đà La—Ba Lợi Thụ—1) Cây Hương Biến, từ cành lá đến quả đều thơm, trên cõi trời Đao Lợi, tỏa ngát hương thơm cùng khắp cõi trời nầy: Paricitra (skt)—A tree in the Trayastrimsas heavens which fills the heavens with fragrance; 2) Ba Lợi Chất Đa La Câu Đà La hay Ba Lợi Thụ, một loại san hô mọc trong vườn của vua Đế Thích, một trong năm loại cây trên cõi nước Cực Lạc (khi Phật còn tại thế, Ngài đã từng lên đây ngồi dưới gốc cây Ba Lợi Chất Đa La nầy mà thuyết pháp cho chư Thiên, người đầu tiên được ngài độ chính là mẹ của ngài là Hoàng Hậu Ma Da): Parijata (skt)—A tree in Indra’s heaven, one of the five trees of the paradise, the coral tree.

Ba Lợi Chất Đa Thụ: Ba Lợi Chất La—Ba Nghi Chất Cấu—See Ba Lợi Chất Đa La (2).

Ba Lợi Già La: Parikara (skt)—Ba Già La—1) Một thứ khăn tắm: An auxiliary garment, loin cloth, towel; 2) Chiếc áo bảo vệ thân thể: A bodyguarding shirt.

Ba Lợi Nặc Phược Nam: Parinirvana (skt)— Parinibbana (p)—Complete Nirvana—Total extinction—See Tịch Tịnh Niết Bàn.

Ba Lối Hành Xử Không Đúng Đắn: Three misconducts—Ba lối hành sử không đứng đắn: thiếu trí tuệ nếu không chịu tinh chuyên hành trì; chịu trách nhiệm cho việc giao cấu với đàn bà đưa đến việc bị trục xuất khỏi giáo đoàn; chịu trách nhiệm về việc phá giới và hoàn tục—Three misconducts committed by those who live in the aranya with a false motivation: lacking in wisdom if one does not practice diligently; liable to have a sexual intercourse upon meeting a woman and thus face the penalty of expulsion from the

Sangha; liable to break the precepts and return to secular life.

Ba Lỗi: Three faults—See Tam Lỗi. Ba Ly: Bhallika (skt)—Tên của một đô thị cổ ở Ấn Độ—Name of an old city in India. Ba Lý Dạ Đát La Quốc: Pariyatra (skt)—See Ba Lý Y Đa La.

Ba Lý Do Ma Sự Phát Sanh: Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Liên Tông Thập Tam Tổ, niệm Phật cũng có ma sự vì bởi ba nguyên nhân sau đây. Thứ nhất là không thông hiểu vững chắc về giáo lý. Thứ nhì là không gặp minh sư hay thiện hữu tri thức. Thứ ba là không biết tự xét lấy mình, đây là điểm quan yếu nhất trong ba điểm trên—According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Thirteen Patriarchs of Pureland Buddhism, practicing Buddha Recitation also has the element of demonic obstructions, for the three reasons. First, not having a firm foundation and understanding of the Buddha’s teachings. Second, not encountering a good knowledgeable advisor or having virtuous friends. Third, not knowing how to practice mental reflection of one’s self, or lacking self-awareness. This is the most crucial point among the three.

Ba Lý Y Đa La: Pariyatra (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, đây là một vương quốc cổ, 800 dậm về phía tây nam của Satadru, trung tâm của các phái ngoại đạo. Bây giờ là thành phố Birat, phía tây của Mathura—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Pariyatra was an ancient kingdom, 800 miles south-west of Satadru, a center of heretical sects. The present city of Birat, west of Mathura.

Ba Mục Tiêu Của Bố Thí: Ba mục tiêu của việc bố thí: học pháp, thuyết pháp, và dẫn dắt chúng sanh đạt đến cực lạc—Three objectives with which one should practice dana: to learn Buddhadharma, to expound the Dharma, and to lead all beings to attain the supreme happiness. Ba Mục Tiêu Của Tọa Thiền: Three Aims of Meditation—Theo Roshi Philip Kapleau, tác giả của quyển Ba Trụ Thiền, có ba mục tiêu của tọa thiền. Thứ nhất là Phát Triển Định Lực. Định lực là năng lực hay sức mạnh phát sinh khi tâm được hợp nhất qua sự tập trung. Người đã phát triển định lực không còn nô lệ vào các đam mê, người ấy luôn làm chủ cả chính mình lẫn các hoàn cảnh bên ngoài, người ấy hành động với sự tự do và bình tĩnh hoàn toàn. Tâm của người ấy như trạng thái nước đã lắng trong và tĩnh lặng. Thứ nhì là Giác Ngộ. Kiến tánh ngộ đạo hay nhìn thấy tự tánh chân thật của mình và đồng thời nhìn thấy bản tánh tối thượng của vũ trụ và vạn vật. Ấy là sự hốt nhiên nhận ra rằng: “Xưa nay ta vốn đầy đủ và toàn hảo. Kỳ diệu thay, huyền diệu thay!” Nếu là thấy Phật tánh thì thực chất sẽ luôn luôn giống nhau đối với bất cứ ai kinh nghiệm nó, dẫu người ấy là Phật Thích Ca hay Phật A Di Đà hay bất cứ người nào trong các bạn. Nhưng nói thế không có nghĩa là tất cả chúng ta đều có kinh nghiệm kiến tánh ở cùng một mức độ, vì trong cái rõ, cái sâu, cái đầy đủ của kinh nghiệm có những khác biệt lớn lao. Thứ ba là Vô Thượng Đạo Chi Thể Hiện. Thể hiện đạo vô thượng trong cuộc sống hằng ngày. Lúc nầy chúng ta không còn phân biệt cứu cánh và phương tiện nữa. Giai đoạn nầy tương ứng với tối thượng thừa thiền. Khi các bạn ngồi một cách hăng say và không vị kỷ, cũng như hợp với sự dẫn đạo của một bậc chân sư, nghĩa là hợp với tâm mình, mặc dù có ý thức đầy đủ, vẫn hoàn toàn vô niệm như một tờ giấy trắng tinh không một vết bẩn, bây giờ dù các bạn đã ngộ hay chưa, Phật tánh thanh tịnh vốn có của mình vẫn khai mở. Nhưng đây phải nhấn mạnh chỉ với chân ngộ các bạn mới có thể trực nhận được chân thể tánh Phật của mình, và tối thượng thừa thiền là loại thuần khiết nhất, không khác gì loại thiền đã được chư Phật thực hành—According to Roshi Philip Kapleau, author of The Three Pillars of Zen, there are three aims of meditation. First, development of the power of concentration, which is the power or strength that arises when the mind has been unified and brought to one-pointedness in meditation concentration. One who has developed the power of concentration is no longer a slave to his passions, he is always in command of both himself and the circumstances of his life, he is able to move with perfect freedom and equanimity. His mind becomes like clear and still water. Second, awakening or seeing into your True-nature and at the same time seeing into the ultimate nature of the universe and all things. It is the sudden realization that “I have been complete and perfect from the very beginning. How wonderful, how miraculous!” If it is true awakening, its substance will always be the same for whoever experiences it, whether he be the Sakyamuni Buddha, the Amitabha Buddha, or any one of you. But this does not mean that we can all experience awakening to the same degree, for in the clarity, the depth, and the completeness of the experience there are great difference. Third, actualization of the Supreme Way in our daily lives. At this point we do not distinguish the end from the means. The highest type of Zen corresponds to this stage. When you sit earnestly and egolessly in accordance with the instructions of a competent teacher, with your mind fully conscious yet as free of thought as a pure white sheet of paper is unmarred by a blemish, there is an unfoldment of your intrinsically pure Buddhanature whether you have had awakening or not.

But what must be mephasized here is that only with true awakening do you directly apprehend the truth of your Buddha-nature and perceive that awakening, the purest type of Zen, is no different from that practiced by all Buddhas.

Ba Mươi Bảy Phẩm Trợ Đạo: Satta-timsabodhipakkhiya-dhamma (p)—Thirty Seven Aids to Enlightenment—See Tam Thập Thất Trợ Đạo Phẩm.

Ba Mươi Hai Tướng Tốt Của Phật: Dvatrimshadvara-Lakshana (skt)—Thirty-two marks of perfection—See Tam Thập Nhị Hảo

Tướng.

Ba Mươi Hai Ứng Thân: Thirty-two response bodies—See Tam Thập Nhị Ứng Thân. Ba Mươi Loại Bất Tịnh Thí: See Thirty types of impure giving.

Ba Mươi Sáu Đôi Đối Pháp: Thirty-six pairs of opposites—See Tam Thập Lục Đôi Đối Pháp. Ba Na Sa: Panasa (skt)—Bán Na Sa—The breadfruit tree—Jaka or jack-fruit—Một loại cây như cây mít.

Ba Na Sa Thụ: Panasa (skt)—See Ba Na Sa. Ba Nẻo Sáu Đường: Đức Phật so sánh chúng sanh với những khách lữ hành mù trong đêm tối và những khổ đau trong ba nẻo sáu đường—Three worlds and six realms of life—The Buddha compared sentient beings with travelers who blindly travel in the darkness and suffering of the three worlds and six realms of existence: (A) Ba nẻo: Dục giới, sắc giới, và vô sắc giới— Three worlds: the world of passions (sensuous desires), the world of Beauty (form), and the world of no Beauty (formless).

(B) Sáu đường: thiên, nhân, a tu la, ngạ quỷ, súc sanh, và địa ngục—Six realm of Heaven: the realm of human, the realm of Asura (Angry spirits), the realm of Pretas (hungry ghosts), the realm of animal, and the realm of hell. Ba Nể Ni: Panini (skt)—Theo Tây Vực Ký thì đây là tên của một vị cổ tiên Salaturiya, cũng là nhà văn và nhà văn phạm (cú pháp chữ Phạn) nổi tiếng của Ấn Độ vào thế kỷ thứ tư trước Tây Lịch. Ông còn được biết đến với tên Salaturiya— According to the Record of the Western Lands, this was the great Indian grammarian and writer of the fourth century B.C. He was also known as Salaturiya.

Ba Ngàn Oai Nghi: Three thousand demeanors—

Ba ngàn oai nghi bắt nguồn từ nơi Cụ Túc Giới Tỳ Kheo mà thành. Trong 250 giới cụ túc của Tỳ Kheo, mỗi giới đều có đầy đủ bốn oai nghi “Đi, Đứng, Nằm, Ngồi.” Như vậy 250 giới nhơn cho 4 thành 1.000. Một ngàn oai nghi nầy tương ứng với ba đời (quá khứ, hiện tại và vị lai, tức là 1.000 nhơn cho 3 thành ra 3.000 oai nghi—Three thousand demeanors originate from the Complete Bhiksu Precepts. A Bhiksu maintains 250 Pratimoksa Precepts, each precept is complete with all four demeanors of Walking, Standing, Lying Down, and Sitting. Thus taking these 250 demeanors to multiple with 4 to make 1,000. These 1,000 demeanors transcend across all three periods of Past, Present, and Future. Thus 1,000 demeanors multiply 3 to make 3,000 demeanors— See Tứ Chủng Oai Nghi. Ba Nghiệp: Trividha-dvara (skt)—Trini-karmani (skt)—The three activities—See Tam Nghiệp.

Ba Nghiệp Báo: See Tam Nghiệp.

Ba Nguyên Do Niệm Hồng Danh Phật A Di Đà Để Cầu Vãng Sanh Cực Lạc: Do sự giới thiệu khuyên dạy của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, do Đức A Di Đà Thế Tôn có 48 lời thệ rộng lớn, và do vì chúng sanh ở cõi nầy có nhân duyên lớn với Phật A Di Đà và Bồ Tát Quán Thế Âm ở cõi Cực Lạc—Three reasons for Buddhists to seek rebirth in the Land of Ultimate Bliss: because of the teachings of Sakyamuni Buddha, who exhorted us to seek rebirth in the Land of Ultimate Bliss; because Amitabha Buddha has adorned the Western Pure Land with forty-eight lofty vows, and because sentient beings in the Saha World have great affinities with Amitabha Buddha and the Bodhisattva Avalokitesvara. Ba Nguyên Nhân Phát Sanh Chướng Nghiệp: Theo Duy Thức Học, ngoài những trở ngại của ngoại duyên, còn có ba nguyên nhân phát sanh chướng nghiệp cho người tu. Thứ nhất là Sức Phản Ứng Của Chủng Tử Nghiệp. Trong tạng thức của ta có chứa lẫn lộn những nghiệp chủng lành dữ. Khi niệm Phật hay tham thiền, ta huân tập hạt giống công đức vô lậu vào, tất cả nghiệp chủng kia phải phát hiện. Ví như một khu rừng rậm nhiều thú, nếu có cư dân khai hoang, tất cả cây cối bị đốn, các loài thú đều ra. Cảnh tướng và phiền não chướng duyên do nghiệp chủng phát hiện cũng thế. Thứ nhì là Tự Gây Chướng Nạn vì không am tường giáo pháp. Có những vị tu hành chẳng am tường giáo lý, không hiểu những tướng của nội tâm và ngoại cảnh đều như huyễn, chưa phát minh thế nào là chân và vọng, nên nhận định sai lầm. Do đó đối với cảnh duyên trong ngoài sanh niệm tham chấp, vui mừng, thương lo, sợ hãi, mà tự gây chướng nạn cho mình. Thứ ba là Không Vững Lòng Bền Chí Nên Thối Lui. Lại ví như người theo họa đồ đi tìm mỏ vàng, đường xá phải trải qua non cao, vực thẳm, đồng vắng, rừng sâu, bước hành trình tất phải nhiều công phu và gian lao khổ nhọc. Nếu người ấy không vững lòng, không biết tùy sức tùy hoàn cảnh mà nhẫn nại uyển chuyển, tất phải thối lui. Hoặc có khi bỏ cuộc ghé vào một cảnh tạm nào đó, hay chết giữa đường. Lộ trình tu tập cũng thế, hành giả tuy y theo kinh giáo mà thực hành, song nếu không biết tùy sức tùy hoàn cảnh mà nhẫn nại uyển chuyển, sự lập chí không bền lâu, tất sẽ thất bại—According to The MindOnly School, apart from the obstacles caused by external factors, there are three other causes of karmic obstructions. First, the reaction of evil karmic seeds. Various evil and wholesome karmic seeds are stored randomly in our Alaya consciousness. When we recite the Buddha’s name or meditate, we accumulate the seeds of transcendental virtue, and therefore, evil karmic seeds have to emerge. For example, if a dense forest full of wild beasts is cleared for habitation, trees and shrubs are cut down, causing these beasts to flee out of the forest. The development of afflictions and obstacles from evil karmic seeds is similar. Second, creating obstacles for themselves due to lack of full understanding of the Dharma. There are cultivators who practice without fully understanding the Dharma, not realizing that the manifestations of the inner mind and the environment are illusory nor discovering what is true and what is false. They therefore have wrong views. Because of this, they develop thoughts of attachment, happiness, love, worry and fear, creating obstacles for themselves when they are faced with objects and conditions within themselves or in the outside world. Third, not flexible and patient. Take the case of a man who follows a map, hoping to find a gold mind. The path that he takes crosses high mountains, deep ravines, empty open stretches and dense forests, an itinerary naturally requiring much labor, hardship and adversity. If his mind is not steady, and he does not adapt himself to the circumstances and his own strength, he is bound to retrogress. Alternatively, he may abandon his search, stop at some temporary location, or even lose his life enroute. The path of cultivation is the same. Although the practitioner may follow the sutras, if he is not flexible and patient, ready to change according to his own strength and circumstances, and if his determination is weak, he will certainly fail. This obstacle, in the end, is created by himself alone.

Ba Nha Na: Paryayana (skt)—See Ba Diễn Na. Ba Nhĩ Cường Đa: Parjanya (skt)—Name of a God of rain—Tên của một vị thần mưa.

Ba Nhĩ Ni: Panini (skt)—See Ba Nễ Ni. Ba Nhược (562-613): Master Pa-Ruo—Tên của một vị Tăng Triều Tiên vào thế kỷ thứ VII. Sư là một trong 32 vị đắc pháp từ Thiên Thai Trí Khải Đại Sư—Name of a Korean monk in the seventh century. He was among the thirty-two monks who received dharma-transmission from Great Master T’ien-T’ai Chih-I.

Ba Ni: Pana (p & skt)—1) Huệ: Wisdom; 2) Thức uống như nước: Beverage as water; 3) Không Đụng Chạm: Untouchable.

Ba Ni Bồn: Panila (skt)—Bình chứa nước uống— A drinking vessel.

Ba Phả: Prabha-kara-mitra (skt)—Tên của Pháp Sư Tam Tạng, một vị cao Tăng Ấn Độ, đến Trung Quốc khoảng năm 626 sau Tây Lịch—Name of a famous Indian monk, who came to China around 626 A.D.

Ba Phẩm Chất Đặc Biệt Của Hoa Sen: Có ba phẩm chất của hoa sen. Thứ nhất là cánh hoa mang gương sen (trái) giống như pháp phương tiện được giảng giải để hiển bày chân lý. Thứ nhì là khi hoa sen nở, thì gương sen cũng hiện ra ngay bên trong, như chân giáo ẩn tàng trong giáo pháp phương tiện. Thứ ba là khi gương sen (trái) khô thì cũng là lúc bông rụng, ý nói khi chân giáo đã được thiết lập thì pháp phương tiện không còn cần thiết nữa—The special qualities (characteristics) of the lotus. First, the petals are made to bear the fruit, in the same manner with expedient teachings are expounded in order to reveal the true teaching.

Second, when the lotus flower opens, the fruit is seen therein, in the same manner we find the true teaching latent in the expedient teachings. Third, when the fruit is ripened, at the same time the flower also falls. In the same manner, when the true teaching is established, the expedient teachings are no longer necessary.

Ba Phép Minh: Tevijja(p)—Tisrovidya (skt)— Three awarenesses—Three insights—Three kinds of clarity—Three supernatural powers—See Tam Minh.

Ba Phương Pháp Giảng Pháp: Three methods of preaching—Trong kinh Pháp Hoa, phẩm 7, Đức Phật xác định: “Có ba phương pháp giảng giáo pháp.” Thứ nhất là phương pháp lý thuyết hay pháp thuyết. Thứ nhì là phương pháp gợi ý hay tỷ thuyết. Phương pháp này được dùng đến khi thính giả khó hiểu với phương pháp lý thuyết Thứ ba là phương pháp thuyết giảng bằng pháp nhân duyên. Nếu với hai phương pháp trên mà người nghe vẫn không nắm bắt được chân nghĩa của Phật pháp, vị giảng sư nên dùng phương pháp gọi là “nhân duyên thuyết,” tức là thuyết giảng bằng câu chuyện tiền thân của một vị Phật. Thường thì trong các kinh điển, chúng ta có thể tìm thấy cả ba phương pháp kể trên, nhằm làm dễ dàng cho mọi người với mọi căn tính có thể hiểu được giáo lý—

In the Lotus Sutra, Chapter 7, the Buddha confirmed: “There are three methods of preaching the Law. First, theoretical method or preaching by theory. Second, figurative method or preaching by parable. This method is used when it is difficult for the audience to understand the teachings with “preaching by theory.” Third, preaching by causality. If with the two above mentioned methods, the hearers are still unable to grasp the Buddha’s true meaning, preacher can use the method called “preaching by causality,” or preaching by means of the story of the life of a past Buddha. Usually, we can find in the sutras all three methods, so that people of all dispositions can understand the teachings. Ba Sắc: Three kinds of rupa—Three kinds of form—Ba loại sắc tướng—See Tam Chủng Sắc. Ba Sinh: Three lives (past, present and future). Ba Tam Muội: Trayah-samadhayah (skt)—The three samadhis or the samadhi on the three subjects—See Tam Tam Muội.

Ba Tánh: Traya-svabhavah (skt)—Ba loại tánh: tốt, xấu, không tốt không xấu—Three types of characters: good, bad, neutral (undefinable).

Ba Thành Phần Của Thế Giới: Three constituents of the world—Theo Kinh Pháp Hoa, Đức Phật dạy có ba cách suy nghĩ về xã hội. Thứ nhất là ngũ uẩn thế giới, hay thế giới trong đó một cái tâm cá nhân gây một ảnh hưởng đến những người khác, nói cách khác, hoàn cảnh chung quanh theo nghĩa hẹp. Thứ nhì là chúng sanh thế giới, hay thế giới mà các chúng sanh ở đó được coi là một thành phần, đây là xã hội hay một quốc gia. Thứ ba là quốc độ thế giới, hay thế giới bao gồm nhiều xã hội hay nhiều quốc gia. Thế giới này thường được xem là toàn bộ thế giới—According to the Lotus Sutra, the Buddha taught: “there are three ways of thinking about society.” First is the world where an individual mind exerts an influence upon others, in other words, environment in the narrow sense. Second is the world of which its living beings are regarded as a constituent, this is a society or nation. Third is a world consisting of many societies and countries. This commonly considered to be the whole world. Ba Thân: Trikaya (skt)—Three kayas—Buddha has a three-fold body—See Tam Thân Phật.

Ba Thân Phật: See Ba Thân.

Ba Thấp Phạt Na Đà: Parsvanatha (skt)—

Parshvanatha, tổ thứ XXIII của Kỳ Na Giáo, là người đã sống 250 năm trước thời Đức Phật— Parshvanatha, the twenty-third patriarch of Jainism, is now acknowledged to be Mahavira’s predecessor and is believed to lived 250 years before the time of the Buddha. Ba Thâu Bát Đa: Pasupata (skt)—Phái ngoại đạo khổ hạnh, bôi tro lên khắp thân mình—A particular sect of Sivaites who smeared their bodies with ashes.

Ba Thế Ngồi: Three positions of sitting for any practitioner—Theo thiền sư Khương Tăng Hội, một trong những thiền sư đầu tiên ở Việt Nam, có ba lối ngồi trong thiền, một là ngồi sổ tức, hai là ngồi tụng kinh, ba là ngồi vui nghe kinh. Bên cạnh đó, trong mỗi thế đều có ba cấp ngồi, thứ nhất là ngồi hiệp vị, thứ hai là ngồi an tịnh và thứ ba là ngồi không có kết. Ngồi hiệp vị là ý bám lấy hạnh không rời, ngồi an tịnh là không niệm nghĩ, và ngồi không có kết là thế ngồi dứt hẳn mọi trói buộc—According to Zen master Sanghapala, one of the first Zen masters in Vietnam, there are three ways of sitting. First, to sit and count the breathings (keep your mind on the breathings). Second, to sit and recite the sutras. Third, to sit and happily listen to the chanting of sutras. Sitting has three levels: sit in union, sit in tranquility, and sit without fetters. To sit in union means to sit with your mind becoming one with your body; to sit in tranquility means to sit without thoughts in your mind; and to sit without fetters means all fetters have been destroyed when you sit in meditation. Ba Thí Dụ Về Sự Ngộ Đạo Còn Bị Thối Thất: Ba thí dụ về sự thối thất. Thí dụ thứ nhất như dùng tảng đá đè lên cỏ dại, cỏ tuy không mọc được nhưng củ của nó chưa hư thúi; nếu gặp duyên khác tảng đá bị lật lên, cỏ vẫn mọc lại như cũ. Thí dụ thứ hai như nước lóng trong chum, bùn tuy lắng xuống nằm yên tận đáy, nhưng khi chưa gạn lọc ra được, gặp duyên khuấy động, bùn lại nổi lên. Thí dụ thứ ba như đồ gốm tuy nắn thành hình, nhưng chưa trải qua một phen nung lại cho chắc, gặp mưa xuống tất phải bị tan rã. Trạng huống ngộ đạo khi chuyển sanh dễ bị thối thất, cũng lại như thế— Three analogies of retrogression of the BodhiMind. The first analogy: when we crush prairie grass with a stone block, though the grass cannot grow, its roots are not yet rotten or destroyed. If conditions arise that cause the stone to be overturned, the grass will continue to grow as before. The second analogy: when we pour water into a jar, though the impurities are deposited at the very bottom, they are not yet filtered out. If conditions change and the water is stirred up, the impurities will rise. The third analogy: take the case of clay which is molded into earthernware would certainly disintegrate. The strong probability that those who have merely experienced an Awakening will retrogress during transmigration is similar to the above examples. Ba Thứ Tiếp Diễn: Tritantra (skt)—Triple continuum—Đây là một trong những khái niệm trung tâm của trường phái Sakyapa của Phật giáo Tây Tạng, được bọc trong ba giai đoạn chính yếu của con đường đi đến Phật quả: 1) Sự xuất hiện của các hiện tượng như là bất tịnh, chỉ cho các nhận thức của phàm phu, dựa trên những tâm thái não phiền và dẫn đến khổ đau, vì tất cả chúng sanh đều phải chịu sự chi phối của nghiệp quả; 2) Sự xuất hiện của kinh nghiệm thiền định, những vị tham dự vào tu tập Đại Thừa và huấn luyện lòng bi mẫn và thương yêu hay lục độ Ba La Mật; 3) Sự xuất hiện thanh tịnh, hay đi đến thành tựu giác ngộ Bồ Đề. Điều này cũng chỉ cho chư Phật, các bậc đã toàn thiện từ bi và trí tuệ, và do đó nhận thức tánh như thực của vạn hữu. Thanh tịnh nhãn của các ngài công nhận rằng mọi hiện tượng trong vòng sanh tử và niết bàn đều đứng trên quan điểm bất nhiễm của chân lý tối thượng rằng không hề có giải thoát để mà thành tựu, cũng không có chư Phật, mà cũng không có chúng sanh. Lamdre hay “con đường và kết quả” của trường phái Sakyapa xác nhận rằng cả ba đều như nhau trên căn bản, và sự khác biệt duy nhất là do chỗ người ta nhận biết nó như thế nào mà thôi. Chủ yếu của việc tu tập này là nhằm định tâm và quán sát—One of the central notions of the Sakyapa order of Tibetan Buddhism, which encapsulates (bao bọc trong) the three primary stages of the path to buddhahood: 1) The appearance of phenomena as impure error. This refers to the perceptions of ordinary beings, which are based on afflicted mental states and lead to suffering. because ordinary beings are subject to the operations of Karma, this is also referred as the “karmic appearance;” 2) The appearance of experience in meditation. This aspect refers to people who engage in such Mahayana practices as training in compassion (karuna) and love (maitri) or the “six perfections” (paramitas), etc; and 3) Pure appearance, or the attainment of Bodhi. This also refers to buddhas, who have perfected compassion and wisdom

(prajna), and thus perceive reality as it is. Their pure vision recognizes that all of the phenomena of cyclic existence (samsara) and nirvana are the display of primordially undefiled standpoint of ultimate reality there is really no liberation to be attained, no buddhas, and no sentient beings. The Lamdre (path of result) tradition of Sakyapa asserts that all three are fundamentally the same and that their only difference lies in how they are perceived. The central training of this level is cultivation of calming (samatha) and higher insight (vipasyana).

Ba Tiêu: Basho (jap)—Basho-Yesei (jap)—Zen Master Ba-Jiao-Hui-Qing—See Huệ Thanh Ba

Tiêu Thiền Sư.

Ba Tiêu Huệ Thanh Thiền Sư: Basho Esei

(jap)—Hui-ch’ing Pa-chiao—Huiqing-Bajiao— See Huệ Thanh Ba Tiêu Thiền Sư. Ba Tiêu Trụ Trượng: Pa-chiao’s Staff—Cây gậy của Ba Tiêu, đây là thí dụ thứ 44 trong Vô Môn Quan. Thiền sư Ba Tiêu thượng đường cầm gậy đưa lên bảo chúng: “Các ông có cây gậy thì ta cho các ông cây gậy, các ông không có cây gậy thì ta cướp cây gậy các ông.” Sư chống gậy đứng, rồi bước xuống tòa. Theo Vô Môn Huệ Khai trong Vô Môn Quan, để vịn qua khe khi cầu gãy, để tìm về xóm lúc không trăng. Nếu gọi đó là cây gậy thì vào địa ngục như tên bắn. Đây là loại công án “mặc nhiên phủ nhận”, nghĩa là, loại công án giải minh chân lý Thiền bằng lối phát biểu hư hóa hoặc phế bỏ—Pa-chiao’s Staff, example 44 of the Wu-Men-Kuan. Zen master Hui-Qing-Ba-Jiao entered hall and held up his staff and said to the monks: “If you have a staff, I give you a staff. If you don’t have a staff, then I take it away from you.” Then, using his staff for support, he got down and left the hall. According to Wu Men HuiKai in the Wu-Men-Kuan, it helps you to cross the stream when the bridge is broken down. It guides you back to the village on a moonless night. if you call it a staff, you enter hell like an arrow. This is an “implicit-negative” koan, a kind of koan that illustrates Zen-Truth through “nullifying” or abrogating expression.

Ba Tra: Nguy nan, khốn đốn—Diffifult—To be in a very bad situation.

Ba Tra Ly Quốc: Patali (skt)—Bát Đảm La—Ba Đà La—An ancient kingdom in India—Một vương quốc cổ ở Ấn Độ.

Ba Trá Lỵ Phất: Pataliputta (p)—Pataliputra (skt)—Kusumapura or Puspapura (skt)—The city of flowers, or the palace of flowers—See Hoa Thị Thành.

Ba Trá Lỵ Phất Thành: See Ba Trá Lỵ Phất.

Ba Trĩ: Bali (skt)—King of all asuras—Vua A tu la.

Ba Trụ (1918- ?): Pa-chu—Tên của một học giả

Phật giáo nổi tiếng của Trung Hoa vào thế kỷ thứ XX—Name of a famous Chinese Buddhist scholar in the the twentieth century.

Ba Trung Thủ Nguyệt: Mò trăng đáy nước—Dụ chỉ hành vi hư vọng vô ích—To prope the shadow of the moon in the bottom of a well—To run one’s head against the wall—To try to do something that is impossible—To attempt the impossibilities.

Ba Trường Hợp Có Thể Nhận Giúp Đở: Three occasions can get help—Ba trường hợp cực kỳ nguy hiểm, nhưng vẫn có cơ cho mẹ con giúp đở lẫn nhau: hỏa hoạn, lụt lội, và trộm cướp—Three occasions full of perils; however, there still exists a chance for a son or a mother to help each other: a fire, a flood, and a burglary.

Ba Trường Hợp Đáng Bị Quở Trách Của Một Vị Thượng Tọa Tỳ Kheo: Three reasons elder Bhikkhus are to be blamed—Tôn giả Xá Lợi Phất thuyết giảng về “Ba Trường Hợp Đáng Bị Quở Trách Của Một Vị Thượng Tọa Tỳ Kheo” (Ngài Xá Lợi Phất giảng và được Thế Tôn chấp thuận) trong kinh Thừa Tự Pháp trong Trung Bộ Kinh: vị đạo sư sống viễn ly, các đệ tử lại không tùy học viễn ly; những pháp nào vị đạo sư dạy nên từ bỏ, những pháp ấy họ không từ bỏ; những vị nầy sống đầy đủ, lười biếng, dẫn đầu về đọa lạc, bỏ rơi gánh nặng sống viễn ly—“The Elder Bhikkhus are to be blamed for three reasons” expounded by Venerable Sariputta in the Dhammadayada Sutta in the Middle Length Discourses of the Buddha: as disciples of a Teacher who lives secluded, they do not train in seclusion; they do not abandon what the Teacher tells them to abandon; and they are luxurious and careless, leaders in backsliding, neglectful of seclusion.

Ba Trường Hợp Đáng Bị Quở Trách Của Một Vị Trung Tọa Tỳ Kheo: Three reasons middle Bhikkhus are to be blamed—See Ba Trường Hợp

Đáng Bị Quở Trách Của Một Vị Thượng Tọa Tỳ Kheo.

Ba Trường Hợp Không Thể Nhận Giúp Đở: Three occasions cannot get help—Ba trường hợp cực kỳ hiểm nguy khi mà con không giúp được mẹ, cũng như mẹ không giúp được con. Thứ nhất là bệnh hoạn. Con có thể chăm sóc mẹ trong lúc bệnh hoạn, nhưng không làm sao cho mẹ đừng bệnh. Thứ nhì là lão hóa (già). Lần nữa, con có thể chăm sóc mẹ lúc tuổi già, nhưng không cách gì làm cho mẹ đừng già. Thứ ba là cái chết. Dù họ yêu thương và gần gủi nhau thế mấy, mẹ con không cách gì giúp nhau đừng chết khi tử thần đã đến—Three occasions when it is impossible for a son to aid his mother and a mother to help her son. First is the sickness. A son can take care of his mother during the time of sickness, but he cannot do anything to make his mother not to be sick. Second is the growing old. Again, a son can help take care of his mother when she is old but he cannot do anything to stop her growing old. Third is the death. No matter how much they may love or how intimate they may have been, neither can one help the other when the moment of death approach.

Ba Tuần: Papiyan or Papiman (skt)—1) Một thuật ngữ Phật giáo để chỉ những kẻ cố tình phạm tội: A Buddhist term for those who intentionally commit wrong doings; 2) Một kẻ cùng hung cực ác: A very wicked; 3) Ác giả: The evil one, 4) Sát giả: The murderer; 5) Ma quân, ác ma cố gắng cắt đứt thiện căn nơi con người: Mara who strives to kill all goodness in human beings; 6) Một loại ma vương đặc biệt hồi Phật còn tại thế: The evil one. He is the special Mara of the Sakyamuni period.

Ba Tư Nặc: Prasenajit(skt)—Pasenadi(p)—Hòa

Duyệt—Thắng Niên—Thắng Quang—Thắng Quân—Vua Ba Tư Nặc của xứ Kosala, về phía Bắc Ấn, cùng thời với Phật Thích Ca Mâu Ni. Ông đã trở thành Phật tử và người hộ trì Phật và Tăng đoàn một cách đắc lực. Ông cũng nổi tiếng là người tạc ra tượng Phật đầu tiên. Ông là một trong những đại thí chủ của Đức Phật trong hàng vua chúa—A king of Kosala in Northern India, who lived at the same time with Sakyamuni Buddha. He became a lay follower and supporter or devoted patron of Sakyamuni and the Buddhist order. He was also reputed as the first to make an image of the Buddha. He was one of the great patrons of the Buddha.

Ba Tư Nặc Câu Tát La: Pasenadi-Kosala (p)— See Ba Tư Nặc.

Ba Tư Nặc Vương: See Ba Tư Nặc. Ba Tự Tính: Trisvabhava (skt)—Three forms of self-nature—Three natures—See Tam Tự Tính. Ba Tướng Trạng Của Hiện Hữu: Trilaksana(skt)—Tilakkhana(p)—Three seals of the dharma—See Tam Pháp Ấn.

Ba Tỵ: Habi (jap)—Nắm chặt lỗ mũi hay xỏ mũi trâu. Trong nhà Thiền có nghĩa là xỏ mũi dắt trâu. Thuật ngữ cũng có nghĩa là sự khiêm cung và tự chế—Grasping of the nose, to lead an ox by the nose. The term refers to the ring used to lead a water-buffalo by the nose. It also means humility and self-control.

Ba Tỵ Tử: Habisu (jap)—See Ba Tỵ.

Ba Xà Ba Đề: 1) Pajapati (p): See Chúng Sanh Chủ; 2) Ma Ha Ba Xà Ba Đề, tên của bà di mẫu của Phật: Prajapati (skt)—Mahaprajapati, name of the Buddha’s aunt and nurse.

Ba Xoa: Virupaksa (skt)—Tên của vị Thiên Vương Tây Phương hay Xú Nhãn Thiên Vương, người có đôi mắt xấu xí, đây là một trong tứ Thiên

Vương—Name of the West Heaven King who has irregular eyes (Irregular-Eyed Heaven King), one of the four heaven kings.

Ba Yếu Tố Cần Thiết Cho Giác Ngộ: Three essential elements for enlightenment—Ba yếu tố cần thiết để đưa tới giác ngộ—Theo Thiền Sư Bạch Ẩn, có ba yếu tố cần thiết để đưa tới giác ngộ trong tu chứng hay trong bất cứ nỗ lực nào: đại tín, đại nghi và đại quyết định. Chẳng phải qua sách vở hay kinh kệ mà chúng ta học được ba yếu tố này, mà người ta phải học chúng bằng kinh nghiệm sống hằng ngày. Nếu người ta không bị ép buộc phải sống thực với ba yếu tố này, người ta sẽ không bao giờ có sự kiên trì để vượt qua những khó khăn trên đường tu Thiền. Yếu tố thứ nhất là đại tín. trong nhà thiền, đại tín có nghĩa là tin tưởng nơi thầy mình và nơi chân lý mà thầy của mình là biểu tượng. Nếu phân tích một cách rốt ráo, đó là niềm tin nơi năng lực vô tận của Phật tính mà chúng ta đều vốn đã có sẵn. Thứ nhì là Đại nghi có vẻ như là đối nghịch với sự tin tưởng, thực ra đại nghi khiến ta thường xuyên ý thức đến sự non kém của mình, cũng như những gì chúng hằng ôm ấp trong tâm. Từ cái lực nội tại của con người, Phật tính, đã sanh ra một truyền thống trí tuệ thật kỳ diệu, và chúng ta tin tưởng vững chắc nơi trí tuệ này. Nhưng khi tự xét đến sự non yếu của chính mình và thấy không thể chấp nhận được, chúng ta sẽ thường mang một vấn đề thắc mắc trong tâm, một sự xung đột nội tại. Thứ ba là đại quyết định. Từ đại tín và đại nghi chúng ta phải tiến tới sự quyết tâm lớn, có nghĩa là kiên trì tu tập trong sự dũng cảm—According to Zen Master Hakuin, there are three essential elements for enlighenment to the realization of practice or to any endeavor: great belief, great doubt, and great determination. It was not through books and sermons that one learned about these three elements, one must learn them in day-to-day life. If one is not forced to live out of these essential components, one could never have perserved through anything like Zen training. The first essential element is great belief. In Zen Sects, great belief is belief in your own master and the truth for which he stands. It is the final analysis, belief in the limitless power of Buddha-nature, which is by nature within yourself. The second essential element is great doubt. Great doubt may appear to be the exact opposite of belief, it actually signifies the constant awareness of our own unripeness and the consciousness of a problem that we hold always within ourselves. The innate force of humankind, Buddha-nature, has given birth to a marvelous tradition of wisdom, and we believe firmly in this wisdom. But reflecting upon our own immaturity and being unable to accept it creates a contradiction that stays with us constantly, as a problem. The third essential element is great determination. We then must proceed with great determination, which means sticking to practice with true courage. Ba Yếu Tố Khiến Cho Việc Tu Tập Thiền Được Thành Tựu: Theo Thiền Sư D.T. Suzuki trong Thiền Luận, Tập II, có ba yếu tố khiến cho việc tu tập Thiền được thành tựu. Thiếu một trong ba cũng như cái đỉnh gẩy hết một chân, nó sẽ đổ: tin lớn, chí nguyện lớn, và nghi lớn—According to Zen Master D.T. Suzuki in Essays in Zen

Buddhism, Book II, there are three factors making for success in the cultivation of Zen. When any one of the below factors is lacking it is like a caudron with a broken leg, it limps: great faith, great resolution, and great spirit of inquiry—See Đại Căn Tín, Đại Phụng Sự, and Đại Nghi. Bá Chúng Học Pháp: Siksakaraniya (skt)—See Chúng Học Pháp.

Bá Lợi Bà La Xa Ca: Parivrajaka (skt)—Phái tu theo cách quán xác chết trong nghĩa trang—A Sivaitic sect.

Bá Luận: Sataksara-sastra (skt)—Bách Tự Luận, một trong ba bộ luận chính của phái Trung Luận Tông—Treatise of one hundred words, one of the three main sastras of the Madhyamika School— See Bách Luận.

Ba Nạp Y: See Bách Nạp Y.

Bá Nạp Y Đầu Đà: Mặc áo nạp y hay phấn tảo y, thứ áo khâu lại bằng những mảnh vải mà người ta đã vứt đi, một trong 12 hạnh tu đầu đà nhằm giúp hành giả thanh tịnh thân tâm và giải thoát khỏi tham dục về ăn uống, áo quần, nơi ở—To wear garments of cast-off rags, one of the twelve ascetic practices help practitioners purify the body and mind and free from the desire of food, clothing and shelter—See Thập Nhị Hạnh Đầu

Đà.

Bá Ni: Pani (skt)—Lòng bàn tay—The palm of the hand.

Bá Tánh: The people.

Bá Vạn Niên: Mahakappa (p)—Mahakalpa (skt)—Great kalpa—See Đại Kiếp. Bá Viên (1914- ?): Master Po-Yuen—Tên của một danh Tăng Trung Hoa vào thế kỷ thứ XX— Name of a famous Chinese monk in the twentieth century.

Bà Bà Già Lợi: Papakarin (skt)—Ác giả: Evildoer—Tên của một vị thái tử: Name of a prince. Bà Bà Hòa Hòa: Anh Nhi Hạnh (trong kinh Niết Bàn)—Tiếng kêu không rõ ràng của trẻ con. Trong Thiền, từ ngữ nầy có nghĩa là ngôn hạnh của đức Như Lai không thiên lệch—The unclear sound of children. In Zen, the term means the Buddha’s words and conduct are not partial. Bà Cữu: Bhagu (p)—Tên của một ẩn sĩ Bà la môn—Name of a brahman hermit. Bà Da: Payas (skt)—Nước hay chất lỏng—Water, liquid, or fluid—Juice.

Bà Đa Ha Di Thi: Không có các căn—Without root—Without organs.

Bà Đạt La Bát Đà: Bhadrapada(skt)—1) Bạt Nại La Bà Nã, tên của tháng thứ sáu bên Ấn Độ: The sixth Indian month; 2) Hiền Hộ Bồ Tát: Bhadrapala Bodhisattva.

Bà Đề: Bhadrika (skt)—Một trong năm đệ tử đầu tiên của Đức Phật—One of the first five disciples of the Buddha—See Năm Đệ Tử Đầu Tiên Của

Đức Phật.

Bà Già Bà: Bhagava (skt)—See Thế Tôn.

Bà Già Phạm: Bhagava (skt)—Lokajyestha (skt)—Lokanatha (skt)—Sugata (skt)—See Thế

Tôn.

Bà Ha: Vaha (skt)—Mang: Carying (bearing)— Cuộc sống siêu nhiên: A supernatural life—Đấu (đong lường): A large grain-container of twenty bushels.

Bà Kỳ Xá: Vangisa (p)—Trưởng Lão Bà Kỳ Xá— Venerable Vangisa—Vangisa-samyutta.

Bà La: Viharapala (skt)—1) Người giữ chùa: Keeper of the pagoda; 2) Vị sư coi việc kiểm chúng trong tự viện: Viharapala (skt)—Warden of a monastery; 3) Người bảo hộ chùa: Pala (skt)— Guardian, warden, keeper of a monastery. Bà La Hấp Ma Bổ La: Brahmapura (skt)—Tên của một vương quốc cổ nằm về phía bắc Ấn Độ, mà những danh hiệu triều đại đều là Nữ Vương, nên còn gọi là Nữ Quốc. Người ta nói bây giờ là vùng Garhwal. Những tên khác của xứ này là Barat-pattana và Lakkhanapura. Đây là một xứ nhỏ ở vùng Bắc Ấn vẫn còn tồn tại trong thời Ngài Huyền Trang hành hương các xứ Tây Vực, khoảng năm 627 sau Tây lịch. Lúc đó có khoảng 5 tự viện nhưng có rất ít Tăng sĩ trú trì—Name of an ancient kingdom of Northern India, the dynastic title of which was entailed upon the female line exclusively. Said to be Garhwal. Its other names were Barat-pattana and Lakkhanapura. This was a small country in North India that still survived at the time when Hsuan-Tsang visited the Western countries, around 627 A.D. At that time, there were 5 monasteries but with few monks. Bà La Lưu Chi: Ajatasatru (skt)—See A Xà Thế.

Bà La Môn: 1) Một đạo giáo cổ truyền của Ấn Độ cách đây trên bốn ngàn năm, do ông Krishna sáng lập—This is an age-old religion in India, dated 4,000 years ago, and founded by Krishna. Main philosohy is based on the Vedas; 2) Một người thuộc giai cấp tu sĩ tịnh hạnh ở Ấn Độ, chuyên về lễ nghi tế tự, họ cậy vào thế lực Ấn Độ Giáo. Ấn Độ giáo (Hinduism), luôn luôn củng cố địa vị và quyền lợi ăn trên ngồi trước của họ). Họ tạo ra nhiều huyền thoại để củng cố địa vị của mình: Brahman (skt)—One who belongs to the pure clerical caste of India and observes ascetic practices. They created so many legends to strengthen and consolidate their powers. Bà La Môn Bà Tất Sá: Vasettha (skt)—Tên của một ẩn sĩ Bà La Môn—Name of a Brahman hermit.

Bà La Môn Chủng Đức: Sonadanda (p)—Tên của một vị Bà La Môn—Name of a Brahman. Bà La Môn Đạo Đề Da Sở Vấn Kinh: Toddeyamanava-puccha (p)—Tương Ưng Bộ V.9—Sutra on Toddeya’s Question, Samyutta Nikaya, Volume

9.

Bà La Môn Phí Già La Bà La: Pokkhara-smti (p)—Tên của một vị Bà La Môn thời đức Phật—

Name of a Brahman during the time of the Buddha.

Bà La Môn Quốc: Brahmanarastra (skt)—Bà La Môn giới hay nước Ấn Độ (Bà La Môn là giai cấp tôn quý lãnh đạo ở Ấn Độ, nên gọi chung nước nầy là Bà La Môn Quốc)—The realm of Brahmans, India.

Bà La Môn Sanh Lậu: Janussoni (p)—Tên của một vị Bà La Môn—Name of a Brahman. Bà La Môn Tăng: Tăng sĩ tu theo Bà La Môn giáo—Brahman monks.

Bà La Môn Thành: City of Brahmans—Thành phố của cư dân Bà La Môn, từ thành phố nầy Đức Phật trở về tịnh xá với bát khất thực trống không—A city of Brahmans from which the Buddha returned with his begging bowl empty. Bà La Môn Thường Già: Canki (p)—Name of a Brahman—Tên của một vị Bà La Môn.

Bà La Môn Ứng Thân: The body of a Brahman— Theo Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Sáu, Đức Quán Thế Âm Bồ Tát đã bạch trước Phật về ứng thân (một trong ba mươi hai ứng thân) của ngài như sau: Nếu có chúng sanh ưa thuật số, thích triết lý, tôi sẽ hiện thân Bà La Môn trước những người đó nói pháp, khiến họ được thành tựu—According to The Surangama Sutra, book Six, Avalokitesvara Bodhisattva vowed in front of the Buddha about his appearance before sentient beings (one of the thirty-two response bodies) as follow: If there are living beings who like reckoning and incantation and who wish to guard and protect themselves, I will appear before them in the body of a Brahman and speak Dharma for them, enabling them to accomplish their wish—See Tam Thập Nhị Ứng

Thân.

Bà La Môn Ương Kỳ La: Angirasa (p)—Tên của một ẩn sĩ thời đức Phật—Name of a hermit at the time of the Buddha.

Bà La Na Đà: Varanada (skt)—Một loại Dạ Xoa có tiếng rống như bò rống—A bellowing yaksa which makes the loud deep hollow sound as that of a bull.

Bà La Nại Tả: Benares (skt)—See Ba La Nại. Bà La Xa: Phalasa (skt)—Một loại cây có bông đỏ và trái có bột như bánh mì—The bread-fruit tree with red flowers.

Bà Lâu Na Long Vương: Varuna (skt)—See

Thủy Thiên.

Bà Lợi A Tu La: Vadisasura (skt)—Tên của một trong những vị vua A Tu La—Name of one of Asura kings.

Bà Lợi Ma Ni: See Bà Lợi Ma Ni Dạ Xoa.

Bà Lợi Ma Ni Dạ Xoa: Balimani(skt)—Balimani yaksa—Dạ xoa Bà lợi ma ni—Tên của một loài dạ xoa luôn cố gắng bảo hộ chúng sanh khỏi tai ách và khổ não—Name of a yaksa who always tries to protect sentient beings from calamities and afflictions.

Bà Lợi Sá: Uparittha (p)—Tên của một trong một trăm vị Phật độc giác sống một thời gian dài trên núi Isigili—Name of one of one hundred Pratyeka-buddhas who lived a long time on Mount

Isigili.

Bà Lợi Xà Đa Ca: Parijataka (skt)—Một loại hoa của chư Thiên—A deve flower. Bà Lô Chi Để Thấp Phạt La: Avalokitesvara (skt)—See Quán Thế Âm.

Bà Lưu Va: Vanena (p)—Tên của một ẩn sĩ thời đức Phật—Name of a hermit at the time of the Buddha.

Bà Ma: Vamaka (skt)—See Bà Ma Đề Bà.

Bà Ma Đề Bà: Vamadeva (skt)—Ẩn Sĩ Bà Ma Đề Bà—Hermit Vamadeva—Bà la môn Bà Ma đề bà.

Bà Phù Đà Ca Chiên Nê: Pakudha-Kaccayana (skt)—See Ca La Cưu Đà Ca Chiên Diên. Bà Sa Ba: Dasa-bala-Kasyapa (skt)—Vappa (skt)—Mahakasyapa—See Thập Lực Ca Diếp. Bà Sa Cù Đà: Vacchagotta (p & skt)—See Du

Tăng Bà Sa Cù Đà.

Bà Sa Cù Đà Bố Thí Kinh: Vacch-sutta (p)— Kinh Bố Thí giảng cho Bà Sa Cù Đà, Tăng Nhất A Hàm III.58—Sutra on generosity to Vaccha, Anguttara Nikaya III.58.

Bà Sa Cù Đà Hỏa Dụ Kinh: Vacchagotta-aggisutta(p)—Sutra on the simile on fire to Vaccha— See Bà Sa Cù Đà.

Bà Sa Cù Đà Tương Ưng Kinh: Vacchagottasamyutta (p)—Trong Tương Ưng Bộ 33—In the Samyutta Nikaya 33—See Bà Sa Cù Đà.

Bà Sa Luận: Abhidharma mahavibhasa-sastra

(skt)—A-Pi-Ta-Mo-Ta-Pi-Po-Sha-Lun—See A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận.

Bà Sa Na Bà: Vatsanabha (skt)—Một loại độc dược làm từ một loại rễ cây—A strong poison, from the root of a tree (maybe aconite).

Bà Sa Ưu Bà Sa: Upasaka-Upasika (skt)—Phật tử tại gia gồm nam và nữ cư sĩ—Lay disciples include male and female disciples dwelling at home.

Bà San Bà Diễn Để: Vasantavayanti (skt)—See Xuân Hòa Thần.

Bà Sư Ca: Vassa (p)—Varsika (skt)—Bà Lợi Sư Ca—Bà Lợi Sứ Ca La—Bà Lợi Sư Ca—Bà Sứ Ca—Bà Lợi Sử Ca La—Bà Sư Ba Lợi—Mạt Lật Sa Ca—Vũ Thời Hoa—Hoa nở lúc trời mưa, còn gọi là Mạt Lật Sa Ca, tên một loài “Vũ Thời” hoa, hay hoa nở về mùa mưa, có sắc trắng và mùi rất thơm (hoa nầy rất thơm, mọc nhiều ở Thiên Trúc, người ta thường nấu hoa lấy dầu thắp đèn trên bàn thờ Phật)—The flower, the aloe, that blooms in the rains, or during the rainy season, described as the aloe of a white colour, and very fragrant. Bà Tất Sá: Vasettha (skt)—Tên của một ẩn sĩ Bà La Môn—Name of a Brahman hermit.

Bà Tẩu: Vasu (skt)—Theo Luận Trí Độ, Bà Tẩu là tên một vị cổ tiên Ấn Độ, người đầu tiên sát sanh để tế trời nên phải đọa xuống địa ngục, nhưng sau vô lượng kiếp trở thành đệ tử Phật— According to the Maha-Prajna-Paramita-Sastra, Vasu, name of an ancient Indian rsi, who was the first to offer slain sacrifices to Heaven, to have been cast into hell, but after countless kalpas to have become a disciple of Buddha—See Thế

Thiên.

Bà Tẩu Bàn Đậu: Vasudeva (skt)—See Thế Thiên.

Bà Tẩu Thiên: Vasudeva (skt)—See Thế Thiên. Bà Tha Na Bà: Vatsanabha (skt)—Một loại độc dược làm từ một loại rễ cây—A strong poison, from the root of a tree (maybe aconite). Bà Thê Điểu: Một loại chim ưng rất hung dữ—A kind of fierce eagle.

Bà Thu Lâu Đa Kha: Bahusrutiya (skt)—See Đa

Văn Bộ.

Bà Trí Ca: Sphatika (skt)—Pha Lê—Phả Lê— Water crystal—Rock crystal—Thủy Ngọc—Đá trong như pha lê, một trong bảy của báu—Rock crystal, or a green indestructible gem, one of the seven precious things.

Bà Tu Đạt Đa: Vasudatta (skt)—Hữu Thiện Thí Hạnh—A person who posseses acts of skillful giving.

Bà Tu Mật: Vasumitra (skt)—Bà Tu Mật Đa— Phiệt Tô Mật Đát La—See Thế Hữu.

Bà Tu Mật Bồ Tát Sở Tập Luận: Aryavasumitra-bodhisattva-samcita-sastra (skt)—See Tông Bà Tu Mật Bồ Tát Sở Tập Luận. Bà Tu Mật Đa: Vasumitra (skt)—Phiệt Tô Mật Đát La—See Thế Hữu.

Bà Tu Mật Tổ Sư: Vasumitra (skt)—Phiệt Tô Mật Đát La—See Thế Hữu.

Bà Tư Tra: Vasistha (skt)—Tối Thắng—1) Tên của một vị Bà La Môn, phủ nhận sự thường hằng của Niết Bàn, còn cho rằng cây cũng có đời sống và trí thông minh: A Brahman who is said to have denied the eternity of nirvana, and maintained that plants had lives and intelligence; 2) Tên của một trong bảy vị cổ Tiên trong Kinh Niết Bàn (39): Nirvana Sutra 39. One of the seven ancient rsis of Brahamanic mythology, one of the champions in the Rgveda of the priesthood; 3) Tên một vị Bà La Môn, bà mẹ của vị nầy vì mất sáu người con mà phát điên, trần truồng chạy lang thang, nhờ gặp Đức Phật mà trở về được với bản tâm, sau đó phát tâm quy-y và trở thành đệ tử của Phật: Name of a Brahman whose mother lost her six sons, she became mad, wandered naked, met the Buddha, was restored and became a disciple. Bà Tư Trá: Ovasista (skt)—Name of an ancient rsi in India—Tên của một vị cổ tiên ở Ấn Độ— See Bà Tư Tra (2).

Bà Tử Quyến Thuộc: Công án của bà lão về cây cỏ khắp sơn hà đại địa đều là quyến thuộc—The koan of an old woman’s all plants of the world are relatives.

Bà Tử Tác Trai: The koan of an old woman treats a lunch meal to the monks—Công án của bà lão Bàng Hành Bà thiết trai. Theo Ngũ Đăng Hội Nguyên, quyển VI, một hôm Bàng Hành Bà làm lễ thiết trai. Thầy Duy Na hỏi ý Bàng Hành Bà muốn cầu điều chi, Bàng Hành Bà cầm lược chải tóc xong và nói: “Hồi hướng rồi!” Nói xong liền rời chùa—The koan of an old woman named Pang Hsing Po who wanted to treat a lunch meal to the monks. The person in charge of the pagoda asked her what she wished. Pang Hsing Po took a comb, combed her hair, then said: “I already transfered the merit!” After speaking, she left the temple. Bà Tử Thâu Duẫn: The koan of an old woman’s stealing bamboo shoots from Chao-chou—Công án của bà lão trộm măng của Triệu Châu. Theo Truyền Đăng Lục, quyển X, một hôm, Triệu Châu gặp một bà lão trên đường đi, liền hỏi: “Bà đi đâu?” Bà Lão đáp: “Đi ăn trộm măng của Triệu Châu.” Triệu Châu hỏi: “Nếu tình cờ gặp Triệu Châu thì bà làm gì?” Bà lão liền táng cho Triệu Châu một bạt tai đau điếng—The koan of an old woman’s stealing bamboo shoots from Chao-chou. According to the Records of the Transmission of the Lamp (Ch’uan-Teng-Lu), Volume X, one day Zen master Chao-chou met an old lady on the road, he asked, “Where do you go?” She replied, “I go to steal Chao-chou’s bamboo shoot.” Chaochou asked, “What would you do if you happened to meet Chao-chou?” The old lady gave Chaochou a strong slap.

Bà Tử Thiêu Am: Công án của bà lão đốt am— The koan of an old woman who burns a hermit’s hut—Theo Ngũ Đăng Hội nguyên, quyển VI, xưa có một bà lão cúng dường cho một vị am chủ suốt 20 năm. Trong thời gian ấy bà thường sai cô gái 16 tuổi mang cơm đến cúng dường hầu hạ. Một hôm, bà lão bảo cô gái ôm chặt lấy vị am chủ, và hỏi: “Ngay lúc này thì sao?” Vị am chủ đáp: “Cây khô nương đá lạnh, ba năm không hơi ấm.” Cô gái về thuật lại cho bà lão nghe. Bà lão nói: “Suốt 20 năm, ta chỉ cúng dường cho một kẻ tầm thường.” Bà liền đuổi am chủ đi rồi đốt bỏ am—According to Wudeng Huiyuan, volume VI, once, there was an old lady who had been offering a hermit (Anchu) for twenty years. During that time she always asked a young girl of sixteen years of age to bring meals and to serve the hermit. One day, the old lady instructed the girl to embrace the hermit and asked what he felt of that moment. The hermit said, “A withered tree has leaned on the mountain cliff for three years without any human warmth.” The girl went back to report to the old lady. The lady said, “I’ve been offering to a commoner.” She then drove the hermit out and burned the down the hut.

Bà Tỳ Phệ Da: Bhavaviveka (skt)—See Thanh

Biện.

Bà Tỳ Phệ Già: Bhavaviveka (skt)—See Thanh

Biện.

Bà Xa Tư Đà: See Bà Xá Tư Đa.

Bà Xá Bạt Đề: Vasavartin (skt)—Bà La Ni Mật— 1) Cõi Trời Dục Thiên, nơi trú ngụ của Ma Vương (ma tham, ma tội lỗi, và ma tử): The desireheaven, the abode of Mara (god of lust, god of sin, and god of death); 2) Tha Hóa Tự Tại Thiên: Its occupants avail themselves of the merits of others for their own pleasure; 3) Cõi của vị Hỏa Chủ Phạm Vương tên là Thi Khí: The abode of Sikhin (Brahma) as lord of fire.

Bà Xá Tư Đa: Basi-Asita or Nasasata (skt)— Baysyasita (skt)—Vasasuta (skt)—Vasiasita (skt)—Bà Xá Tư Đa—Là một cư dân của vùng Tây Ấn, hoằng hóa vùng Trung Ấn. Ông là vị tổ thứ hai mươi lăm của dòng Thiền Ấn Độ. Người ta nói ông mất khoảng năm 325 sau Tây Lịch—A native of Western India, who laboured in Central India. He was the twenty-fifth patriarch of the Indian Ch’an Sect. The date of his death is given as 325 A.D.

Bả Bản Tu Hành: Vị Thiền Tăng nương tựa vào giáo pháp mà tu hành, nên không thể vượt lên cảnh giới tự tại được—A Zen monk who depends on the Buddha-dharma to cultivate; so he cannot reach the realm in which the mind is being free from delusion.

Bả Bổng Hoán Cẩu: A staff used to call or command dogs—Cầm gậy gọi chó—Nghĩa đen là gậy điều khiển chó. Trong Thiền, thuật ngữ này ám chỉ tính cách sắc bén của một vị thiền sư khiến người người kính sợ. Nó cũng được dùng để chỉ vị thầy dùng những phương pháp dữ dội khi dẫn dắt đệ tử—The term literally means “To hold a staff in hand to call or to command a dog.” In Zen, the term implies sharp characters of a Zen master that gain awing respect from people. It is also used to express fierce methods that a Zen master uses to guide his students.

Bả Châm: May vá áo quần (trong các tùng lâm thời xưa, tăng chúng thường tự may vá áo quần và pháp phục vào những khi nhàn rỗi ngoài lúc tu tập tọa thiền)—To mend up one’s clothes during the free times.

Bả Định Phong Cương: Giữ vững biên cương quốc gia. Trong Thiền, từ ngữ nầy được dùng để chỉ cho việc lập bày một loại cơ duyên đốn ngộ, bất lập văn tự, quét sạch mọi giải tri kiến, vọng tình và tục niệm—To defend the borders of a nation. In Zen, the term is used to express a setting up of favourable circumstances or opportunities for instant (sudden) attainment of the Buddha-enlightenment through eliminating of all understanding and interpretation of the dharma and without utilizing any words.

Bả Định Phóng Hành: Hajo-Hogyo (jap)—Giữ lại và buông ra, hai thái độ căn bản trong đời sống hằng ngày—Holding back and letting go, exercising restraint and behaving freely, two fundamental attitudes in everyday life.

Bả Kế Đầu Nha: Thật ngu xuẫn—It is so foolish—Cúi đầu tạ tội. Trong Thiền, cụm từ nầy được dùng để chỉ sự ngu xuẩn của Thiền Tăng không tự biết hành động của chính mình—To bow one’s head to beg for pardon. In Zen, the term is used to express the stupidity of Zen students who do not know their own behaviors—See Dược Sơn Chủ Trung Chủ.

Bả Lãm Phóng Thuyền: Nắm chặt dây neo khi đẩy thuyền. Trong nhà Thiền, từ nầy được dùng để diễn tả sự nắm chặt giáo điều (khư khư giữ lấy giáo điều) là một trở ngại lớn lao cho sự giác ngộ—Holding the anchor while pushing the boat. In Zen, the term is used to express the stubborn attachment to the dharma is a big obstacle to the enlightenment.

Bả Mao Cái Đầu: Lấy cỏ tranh che đầu (Thiền Tăng chỉ nên ở trong thảo am mà tu hành)—To cover one’s head with thatched hut (Zen practitioners should stay in a thatched hut to cultivate).

Bả Phóng Trướng: Sổ sách ghi chép việc chi thu trong Thiền viện—Bookkepping records in a Zen monastery—Records of expenses in a Zen monastery—Uncontaminated entry—See Vô Lậu Quan.

Bả Thủ: Tay nắm tay hay tay trong tay. Trong nhà Thiền, người nào qua được cửa không là tay trong tay với lịch đại Tổ sư—Hand in hand. In Zen, when you enter the Door of Emptiness, that is the time you are hand in hand with all the patriarchs.

Bả Thủ Cánh Dữ Trượng: Đã đưa tay nâng đỡ mà còn đưa thêm cái nạng. Trong nhà Thiền, diễn tả sự khai thị không có thủ thuật xuất sắc—To support someone with both hands and crutches. In Zen, the term is used to express a clumsy method that a Zen master uses to enlighten his students. Bả Thủ Duệ Bất Nhập: There is no way to save—To refuse to enter with a helping hand (from a Zen master)—Đưa tay nắm mà không chịu vào. Không có cách nào để cứu được (tuy có dẫn dắt nhưng không thể nào vào được). Theo Hư Đường Thiền Sư Ngữ Lục, một hôm có một vị Tăng hỏi Hư Đường: “Con không biết ai có thể dẫn dắt được Nhị Lâm?” Hư Đường đáp: “Không có cách nào để cứu được.”—According to the Records of teachings of Zen Master Hsu-t’ang, one day, a monk asked Hsu-t’ang, “I don’t know who can guide brother Er-lin?” Hs-t’ang replied, “There is no way to save.”

Bả Trụ: Nắm Bắt—To hold, to grasp.

Bả Trụ Phóng Hành: Phương thức chẳng đồng khi vị Thiền sư lập bày cơ duyên cho đệ tử của mình—Different methods that a Zen master uses to set up favorable circumstances for his students. Bạ Xà Tử Tỳ Kheo: Vrjiputra-bhiksu (skt)—See Bạt Xà Tử Tỳ Kheo.

Bác Ái: Charitable—Philantropy.

Bác Bẻ: To criticize.

Bác Bỏ: To reject.

Bác Địa Phàm Phu: Ordinary people—See Phàm Phu.

Bác Sơn Tham Thiền Cảnh Ngữ: Po-shan sanch’an ching-yu—Tác phẩm được sáng tác vào cuối triều Minh. Đây là những lời cảnh tỉnh của thiền sư Bác Sơn, trong đó vấn đề nghi tình được thảo luận rất kỹ. Sau đây là phần cốt yếu được tóm lược của tác phẩm: “Trong công phu chứng Thiền, điều cần thiết là nuôi dưỡng một khát vọng mãnh liệt muốn hủy diệt cái tâm còn trong vòng sống chết. Khi khát vọng này được khơi dậy, hành giả nghe ra tuồng như mình đang bị một ngọn lửa hừng hực vây phủ. Ý muốn trốn chạy nó lại không thể được, đứng im ra đó cũng không thể được, suy nghĩ vớ vẩn cũng không thể được, mong chờ tha lực lại cũng không thể được. Để khỏi mất thời giờ hành giả phải vận hết sức bình sanh mà nhảy xổ ra, không e dè gì đến hậu quả. Một khi khát vọng ấy được nuôi dưỡng, bước kế tiếp có tính cách thủ thuật hơn, theo đó, phải khơi dậy nghi tình và giữ vững nó trong lòng, cho đến phút chót khi đi tới một giải đáp. Mối nghi này nhắm từ chỗ sinh từ đâu đến, tử đi về đâu, và luôn được nuôi dưỡng bởi khát vọng muốn vượt lên trên sinh tử. Cái đó khó lắm, trừ phi nghi tình được thuần thục và tự bùng vỡ thành một trạng thái chứng ngộ. Phương pháp làm thuần thục nghi tình cốt ở chỗ: ‘không bận lòng đến những pháp thế tục, không đắm mình trong trạng thái tịnh mặc, không dao động bởi vạn vật, luôn tự cảnh tỉnh như mèo rình chuột, tập trung tâm lực vào công án, không cố gắng giải quyết công án bằng trí năng trong khi chẳng có trình tự luận lý nào trong đó, không mổ xẻ công án, không coi công án là một trạng thái vô hành, không coi trạng thái sáng tỏ tạm thời là cứu cánh, và không đọc công án y như kiểu niệm Phật hay tụng chú.’ Khi những chỉ dẫn này được thi hành nghiêm chỉnh, hành giả chắc chắn đưa nghi tâm đến chỗ thuần thục. Nếu không, không những không khơi dậy nổi nghi tình, hành giả còn dấn bước vào những chốn lầm lạc và sẽ không bao giờ có thể vượt khỏi sự ràng buộc của sống chết, nghĩa là không chứng được đạo Thiền. Hành giả có thể rơi vào mười lầm lạc: 1) Duy Trí, ở đây nó ép buộc công án khoác những nội dung luận lý; 2) Mô dạng bi quan của tâm trí; nó khiến hành giả né tránh những hoàn cảnh không thích ý, trốn vào sự mặc nhiên tọa thị; 3) Chủ trương tịnh mặc, nó khiến hành giả trấn áp các ý tưởng và cảm giác hầu chứng trạng thái tịch tĩnh hay ngoan không; 4) Cố phân loại hay phê phán, tùy theo giải thích duy trí riêng biệt của mình, tất cả những công án do cổ nhân để lại; 5) Cái hiểu biết cho rằng chẳng có gì hết trong sắc thân giả hợp nầy, mà trí thức của nó rọi xuyên qua các quan năng; 6) Và trí thức nầy nương vào sắc thân mà tạo tác những hành vi thiện hay ác; 7) Chủ trương khổ hạnh, nó luống công bắt sắc thân chịu mọi hình thức ép xác; 8) Cái ý tưởng tích chứa phúc báo, nhờ đó hành giả mong đạt tới Phật quả hay giải thoát rốt ráo; 9) Chủ trương phóng dật, không chịu ghép mình vào đạo hạnh, luân lý; 10) Khoa trương và kiêu mạn—Po-shan’s Admonitions Regarding the Study of Zen, which belongs to late Ming, the question of an inquiring spirit is discussed in detail. The following is an abstract: “In striving to master Zen, the thing needed is to cherish a strong desire to destroy a mind subject to birth and death. When this desire is awakened, the Yogin feels as if he were enveloped in a blazing fire. He wants to escape it. He cannot just be walking about, he cannot stay quietly in it, he cannot harbor any idle thoughts, he cannot expect others to help him out. Since no moment is to be lost, all he has to do is to rush out of it to the best of his strength and without being disturbed by the thought of the consequence. Once the desire is cherished, the next step is more technical in the sense that an inquiring spirit is to be awakened and kept alive, until the final moment of solution arrives. The inquiry is concerned with whence of birth and whither of death, and to be constantly nourished by the desire to rise above them. This is impossible unless the spirit of inquiry is matured and breaks itself out to a state of enlightenment. The method of maturing consists chiefly in: ‘not caring for worldly things, not getting attached to a state of quietude, not being disturbed by pluralities of objects, being constantly watchful over oneself and behaving like a cat who is after a mouse, concentrating one’s spiritual energy on the koan, not attempting to solve it intellectually where there are no such ones in it, not trying to be merely clever about it, not taking it for a state of doing-nothingness, not taking a temporary state of transparency for finality, not reciting the koan as if it were the Buddha-recitation practice or a form of Dharani.’ When these cautions are properly followed, the Yogin is sure to bring the spirit of inquiry to a state of maturity. If not, not only the spirit refuses to be awakened, but the Yogin is liable to get into wrong ways and will never be able to rise above the bondage of birth and death, that is, to realize the truth of Zen.” There are ten wrong ways into which the Yogin may fall are: 1) Intellectualism, wherein the koan is forced to yield up its logical contents; 2) A pessimistic frame of mind whereby the Yogin shuns such environments as are unfavorable to quiet contemplation; 3) Quietism, by which he tries to suppess ideas and feelings in order to realize a state of tranquilization or perfect blankness; 4) The attempt to classify or criticize according to his own intellectualistic interpretation all the koans left by the ancient masters; 5) The understanding that there is something inside this body of the various combinations, whose

intelligence shines out through the several senseorgans; 6) And which by means of the body functions to perform deeds good or bad; 7) Asceticism, in which the body is uselessly subjected to all forms of mortification; 8) The ida of merit by the accumulation of which the Yogin desires to attain Buddhahood or final deliverance; 9) Libertinism, in which there is no regulation of conduct, moral or otherwise; 10) Grandiosity and self-conceit.

Bác Sơn Thiền Sư (1575-1630): Zen master Poshan—See Bác Sơn Thiền Sư Ngữ Lục, Bác Sơn Tham Thiền Cảnh Ngữ, and Bác Sơn Tứ Dẫn Ngộ Pháp.

Bác Sơn Thiền Sư Ngữ Lục: Po-shan yu-lu—Poshan’s Records of Teachings—Theo Bác Sơn

Thiền Sư Ngữ Lục: “Trong công phu chứng Thiền, điều đáng sợ nhất là mê đắm tĩnh cảnh làm cho hành giả vướng kẹt trong cái cô tịch và đâm ra chán ghét động cảnh. Người lâu nay ở chỗ huyên náo, một lần được hưởng tĩnh cảnh, giống như được ăn kẹo, mật, giống như người mệt lâu muốn ngủ. Làm sao những người như vậy có thể duy trì được sự tỉnh thức của họ? Khi tu tập Thiền, quí ở chỗ khởi nghi tình. Nghi tình là thế nào? Chẳng hạn như không biết mình từ đâu đến trước khi mình sanh ra, chẳng thể không nghi về cái chỗ đến. Chết chẳng biết về đâu, chẳng thể không nghi về cái chỗ về. Không hiểu thấu được cái ách yếu của sanh tử, ắt nghi tình khởi dậy. Hành giả nên dán cái ‘nghi đoàn’ này lên giữa trán cho đến khi buông bỏ cũng không được, đuổi nó cũng không đi. Bỗng nhiên phá vỡ được ‘nghi đoàn’, sanh tử hai chữ là những cái tầm thường biết bao. Hành giả tu Thiền nên luôn nhớ lời khuyên của các bậc cổ đức: ‘Nghi lớn ngộ lớn; nghi nhỏ ngộ nhỏ; không nghi không ngộ’ (Đại nghi đại ngộ, tiểu nghi tiểu ngộ, bất nghi bất ngộ). Khi tu tập Thiền, hành giả ngẩng đầu lên không thấy trời, cúi đầu xuống không thấy đất; thấy núi khôn glà núi, sông chẳng là sông; đi không biết mình đi, ngồi không biết mình ngồi. Ở giữa ngàn vạn thiên hạ mà chẳng thấy một người. Ngoài và trong thân lẫn tâm ngoài gánh nặng của khối nghi, tuyệt nhiên không có thứ gì khác tồn tại. Cảm giác này có thể được diễn tả như là sự khuấy đục thế giới. Hành giả nên nguyện chẳng bao giời ngừng công phu một khi khối nghi vẫn chưa phá được. Đây là điều thiết yếu nhất trong Thiền. Quấy đục thế giới nghĩa là gì? Nó là Chân Lý lớn từ thời vô thủy đến nay vốn cụ túc trầm tịch chưa từng được mang ra. Vì thế cho nên hành giả phải tự mình phấn chấn làm trời xoay đất chuyển sóng dậy; hành giả sẽ có lợi lạc lớn từ những con sóng dậy ấy. Trong công phu chứng Thiền, không sợ chết rồi không sống lại được, chỉ sợ sống mà không chết được! Nếu quả thực cùng với nghi tình gần gũi ở một nơi, không đợi phải đuổi động cảnh cũng tự lui, không đợi phải tĩnh vọng tâm cũng tự tĩnh. Một cách tổng quát tự nhiên, hành giả cảm thấy lục căn tự nhiên trở thành hư không trống rỗng. Khi hành giả đạt đến trạng thái này, người ấy giác ngộ chỉ trong một cái xúc chạm và đáp ứng lại một tiếng gọi mỏng manh nhất. Còn lo gì đến không thể sống lại? Khi tu tập Thiền, hành giả chỉ phải dụng tâm vào một công án, chứ không được cố hiểu và giải thích tất cả các công án. Dầu có giải thích đi nữa, rốt cuộc chỉ là kiến giải chứ nào phải là ‘ngộ’ đâu. Kinh Pháp Hoa nói: ‘Pháp này không phải là chỗ mà suy tưởng phân biệt có thể hiểu tới được’ (Thị pháp phi tư lương phân biệt chi sở năng đáo). Kinh Viên Giác nói: ‘Lấy cái tâm suy tưởng mà đo lường cảnh giới giác ngộ viên mãn của Như Lai cũng như đem lửa đom đóm mà đốt núi Tu Di, rốt cuộc chẳng bao giờ được.’ Trong công phu chứng Thiền, hành giả tu Thiền công phu thiền định như vác nặng một gánh ngàn cân; muốn buông xuống cũng không thể làm được. Thời xưa người ta cày ruộng, hái đào, hay làm bất cứ chuyện gì cũng có thể nhập định được. Vấn đề không phải là ngồi không trong những thời gian dài, đè tâm không cho móng khởi suy nghĩ mới là Thiền định. Có phải định là ngưng bặt dòng suy tưởng của hành giả hay không? Nếu như vậy là tà định, chứ không phải là định của Thiền. Trong tham Thiền, điều gây tổn hại nhất là biện minh hóa, khái niệm hóa, hay trí năng hóa, đem tâm làm những chuyện này hành giả sẽ không bao giờ tiến gần đến Đạo được. Trong công phu chứng Thiền, hành giả tu Thiền đi mà không biết mình đi, ngồi mà không biết mình ngồi. Không có thứ gì hiện diện trong tâm ngoài câu thoại đầu. Trước khi phá được nghi tình, thân tâm còn chẳng biết là có, huống là biết có đi có ngồi. Hành giả tham thiền không được đem tâm đợi Ngộ. Chuyện đợi Ngộ này không khác gì một vị khách lữ hành ngồi trên đường để đợi nhà đến với mình. Anh ta sẽ chẳng bao giờ về đến nhà bằng cách này. Muốn về đến nhà anh ta phải cất bước lên mà đi. Cũng vậy, đem tâm đợi Ngộ, hành giả chẳng bao giờ có Ngộ. Anh ta cần phải tu tập bằng chính tâm mình để có được Ngộ. Đạt được đaị ngộ cũng giống như hoa sen bừng nở, như ở trong giấc mộng lớn bỗng bừng tỉnh. Hành giả không thể nào đợi tỉnh mộng được, hết giấc ngủ tự nhiên tỉnh dậy và hết mộng. Hoa chẳng đợi nở. Thời tiết đến, tự nhiên nở. Cũng vậy, tâm chẳng đợi Ngộ, khi nào nhân duyên hội hợp đủ, tự nhiên phải Ngộ. Nói cách khác, hành giả nên để hết sức lực của mình vào câu thoại đầu, dẫn tâm tới chỗ cùng tuyệt để đạt được Ngộ. Hành giả không nên lầm hiểu lời tôi nói mà chỉ đợi ngộ. Khi Ngộ rồi như mây tan trời hiện chẳng có gì che khuất được nữa. Vào lúc đó, trời xoay đất chuyển, một cảnh giới hoàn toàn khác xuất hiện—According to Zen Master Po-shan’s Records of Teachings, “In striving to master Zen, the worst thing is to become attached to quietness, because this will unknowingly cause you to be engrossed in dead stillness. The you will develop an inordinate fondness for quietness and at the same time an aversion for activity of any kind. Once those who have lived amidst the noise and restlessness of worldly affairs experience the joy of quietness, they become captivated by its honey sweet taste, craving it like an exhausted traveller who seeks a peaceful den in which to slumber. How can people with such an attitude retain their awareness? When working at Zen, the important thing is to generate the ‘doubt-sensation’. What is this ‘doubtsensation’? For instance: Where did I come from before my birth, and where shall I go after my death? Since one does not know the answer to either question, a strong feeling of ‘doubt’ arises in the mind. Stick this ‘doubt-mass’ on your own forehead and keep it there all the time until you can neither drive it away nor put it down, even if you want to. Then suddenly you will discover that the doubt-mass has been crushed, that you have broken it into pieces. Zen practitioners should always remember the ancient virtues’ advice: ‘The greater the doubt, the greater the awakening; the smaller the doubt, the smaller the awakening; no doubt, no awakening’. When working at Zen, one does not see the sky when he lifts, nor the earth when he lowers, his head. To him a mountain is not a mountain and water is not water. While walking or sitting he is not aware of doing so. Though among a hundred thousand people, he sees no one. Without and within his body and mind nothing exists but the burden of his doubtsensation. This feeling can be described as ‘turning the whole world into a muddy vortex’. A Zen practitioner should resolutely vow that he will never stop working until this doubt-mass is broken up. This is a most critical point. What does this ‘turning the whole world into a muddy vortex’ means? It refers to the great Truth, which from the time of no-beginning has existedlatent and idle; it has never been brought forth. Therefore, a Zen practitioner should bestir himself to make the heavens spin and the earth and its waters roll; he will benefit greatly from the rolling surges and tossing waves. When working at Zen, one should not worry about not being able to revive after death; what should worry him is whether he can die out from the state of life! If he can really wrap himself up tightly in ‘doubt-sensation’, the realm of movement will be vanquished naturally without his making any specific effort to vanquish it, and his distracted thoughts will be purified spontaneously without effort to purify them. In a whole natural way, he will feel six senses become spacious and vacuous. When he reaches this state, he will awaken to a mere touch and respond to the slightest call. Why then should one worry about not being able to revive? In striving to master Zen, one should concentrate on one koan only, and not to try to understand or explain them all. Even if one were able to do so, this would be merely intellectual understanding and not true realization. The Lotus Sutra says: ‘This Dharma is not understood through thinking and intellection.’ The Total Enlightenment Sutra declares: ‘To preceive the Realm of Enlightenment of the Tathagata with the thinking mind is like attempting to burn Mount Sumeru with the light of a firefly; never will one succeed.’ In striving to master Zen, a Zen practitioner who works with absorption will feel as if he had lifted a thousand-pound load; and even if he wants to put it down, he cannot do so. In ancient times people could enter into Dhyana while tilling land, picking peaches, or doing anything. It was never a matter of sitting idly for prolonged periods, engaged in forcefully suppressing one’s thoughts. Does Dhyana mean stopping one’s thoughts? If so, this is a debased Dhyana, not the Dhyana of Zen. When working at Zen, the most harmful thing is to rationalize, conceptualize, or intellectualize the Way with one’s mind. Zen practitioner who does so will never reach the Way. In striving to master Zen, one knows not whether he is walking or sitting. Nothing is present to his mind but the ‘head phrase’. Before breaking through the doubt-mass, he loses all sensation of his body or mind, let alone of such states as walking or sitting. When working at Zen, one should not just await the coming of Enlightenment with an expectant mind. This is like a traveller who sits idly by the road and expects his home to come to him. He will never arrive home this way. He must walk to get there. Likewise, when working at Zen, one never reaches Enlightenment merely by waiting for it. One must press forward with all one’s mind to get this Enlightenment. Attainment of the great Enlightenment is like the sudden blossoming of the lotus flower or the sudden awakening of the dreamer. One cannot by waiting awaken from a dream, but one does so automatically when the time for sleep is over. Flowers cannot bloom by waiting, but blossom of themselves when the time has come. Likewise Enlightenment is not so attained, but comes on its own when conditions are ripe. In other words, one should exert all one’s strength to penetrate into the ‘head phrase’, pressing one’s mind to the utmost in order to achieve realization. Do not misunderstand what I have said and just wait for awakening to come. In the moment of awakening, the clouds vanish and the clear sky shines vast and empty; nothing can obscure it. In this moment heaven spins and the earth somersaults. An entirely different realm

appears.”

Bác Sơn Tứ Dẫn Ngộ Pháp: Po-shan’s four ways leading to Enlightenment—Theo Bác Sơn Thiền Sư Ngữ Lục, hành giả tham Thiền phải biết phải tuyệt đối buông xả và hoàn toàn tự do theo bốn điểm quan trọng này: phải khẩn, phải chính, phải miên mật, và phải dung hoát. Khẩn mà không chính, ắt phí công; chính mà không khẩn thì chẳng vào được Đạo. Một vị hành giả đạt được trạng thái “Dung Hoát” ắt bên trong chẳng thấy có thân tâm, bên ngoài chẳng có thế giới. Chỉ khi ấy mới là lúc vị hành giả bắt đầu tiến gần đến chỗ vào Đạo. Chỉ ngay trong trạng thái đó, hành giả mới thấy được “Đạo viên đồng thái hư, vô khiếm vô dư” (Đạo tròn đầy như thái hư, chẳng thiếu chẳng thừa). Nhập được Đạo rồi vẫn phải miên mật mới tương ứng với giác ngộ được. Tương ứng với giác ngộ rồi cần phải dung hoát, lúc ấy mới là đến trạng thái hóa cảnh. Đây chính là môi trường, điều kiện hay hoàn cảnh nơi Phật hóa độ chúng sanh. Cảnh giới mà chư Phật biến hóa ra hay là Tịnh Thổ của hành giả—According to Zen Master Po-shan’s Records of Teachings, when working at Zen, Zen practitioners should know these four important points: To work on it with absolute detachment and complete freedom in a painstaking, direct, continuous, and flexible-hollow way. Without directness exertion is completely wasted; and without exertion, directness is useless because it alone can never bring one to the entrance of the Way. In Zen, a practitioner who has really attained the state of flexible hollowness sees no world without and nobody or mind within. Only then can he be considered as having drawn near the entrance of the Way. Only right in that state, a Zen practitioner is able to see the Way is like the great Void, is all-inclusive. It lacks nothing and nothing remains in it. Once the entrance is reached, however, one should maintain an uninterrupted continuity in order to attain a state conforming with Enlightenment. Once this state is achieved, one should strive to be flexible-hollow. Only then can one reach the state of wonder or the transformation realm. This is the region, condition, or environment of Buddha instruction or conversion. The domain that the Buddhas are transforming or the practitioners’ Pure Land.

Bác Túc Vương: See Ban Túc Vương.

Bác Tướng: To reject of form characteristics (deny the existence of appearance)—Lý chính thật là Chân Không, Sự là phần diệu hữu. Diệu hữu tức chân không. Nếu chưa đạt được lẽ nầy thì thà rằng tu hành theo kiểu “Chấp Có,” chứ đừng cầu “Bác Tướng” hay “Chấp Không” trong khi vẫn còn có gia đình, vợ con, nhà cửa, và mong cầu khỏe mạnh. Vì làm như thế sẽ dễ bị lạc vào ngoan không hay cái “Không” sai lầm. Đây chính là hầm khổ đọa của tất cả những kẻ ỷ mình thông minh hôm nay. Bác Tướng tức là bài bác phần “Sự Tướng Hành Trì.” Kỳ thật, tất cả đều là giả tưởng. Bác tướng là chối bỏ sự tu hành theo hình tướng, thí dụ như những kẻ tu Thiền đời nay, luôn miệng nói “Nhất thiết duy tâm tạo” nên ta không “Chấp Tướng,” và do đó chê người tu theo Tịnh Độ chỉ là sự chấp trước ảo tưởng trong tâm. Tuy nhiên, điều mỉa mai là những kẻ nầy tự họ vẫn còn u mê chấp trước vào vợ, chồng, con cái, cửa nhà. Phật tử thuần thành nên luôn cẩn trọng!—Theory is truly emptiness, Practice belongs to existence.

Existence is Emptiness. If this is not yet attained, it’s better to cultivate by being attached to “existence,” or “form,” or “appearance;” but do not claim “nothing exists” or “everything is within the mind” or any such deep theoretical teachings when one is still attached to existence, i.e., family, wife, children, house, or fond of health, etc., for doing these cultivators are easily trapped in the wrong road. Thus, do not say the Pureland is only an illusion manifested within the mind. In reality, in theory, everything is an illusion. To reject of form characteristics is to reject and disregard the “Conducts of form practices.” This practice is often observable with those who cultivate Zen Buddhism in present day. They claim themselves as people who are “unattached to form characteristics” and look down on those who cultivate Pureland as being attached to form characteristics. However, most ironically, they are still ignorantly attached with every part of existence, i.e., having wife, husband, children, house, jobs, etc. Sincere Buddhists should always be careful!

Bác Vô Nhân Quả: Phủ nhận thuyết nhân quả— To reject cause and effect.

Bác Xoa Hà: Sông Bác Xoa—Đây là một trong tám con sông lớn ở Ấn Độ vào thời Đức Phật— Oxus River, one of the eight big rivers of India at the time of the Buddha.

Bạc: Kaladhatu (skt)—Silver. Bạc Ca Phạm: Bạc Già Phạm—Thế Tôn— World-honoured—See Bhagavat. Bạc Câu La: Vakkula (skt)—Vakula (skt)—Bạc Củ La—Bạc La Bà Câu La—See Bạt Câu La.

Bạc Chí Nhược Hành: Chí khí mỏng manh, hành động yếu ớt—Weak and unlikely to act. Bạc Chứng: Sự chứng đắc nông cạn—Shalow insight, weak in mystic experience. Bạc Đề: Bhaddiya (p)—See Năm Đệ Tử Đầu

Tiên Của Đức Phật.

Bạc Địa: Tanu-bhumi (skt)—Quốc độ nghèo nàn và đầy trắc trở—Poor land, i.e. the world, as full of trouble.

Bạc Già Bà: Bhargava(skt)—See Bạt Già Bà.

Bạc Già Phạm: Bhagavan or Bhagavat (skt)— Bậc Vô Thượng—Thế Tôn—Holy On—Saintly one—World-honoured—Bậc Thánh đã bước vào con đường đi đến Niết Bàn—The holy or saintly one; one who has started on the path to nirvana.

Bạc Già Thinh: See Bạc Già Phạm.

Bạc Hạnh: Bad luck—Ill luck. Bạc La: Vakkula (skt)—Vakula (skt)—Bạc Củ La—Bạc La Bà Câu La—See Bạt Câu La.

Bách: Cypress tree, or cedar, arbor-vitae. Bách Bát Ái Hành: Một trăm lẽ tám ái hành— One hundred and eight emotions of desire. Bách Bát Chung: Một trăm lẽ tám tiếng chuông chùa được dóng lên vào buổi sáng và buổi tối (để tán dương công đức của 108 tôn vị cũng như cảnh tỉnh 108 mê muội phiền não)—108 tolls or strokes of the monastery bell (temple bell) struck at dawn and dusk.

Bách Bát Kết Nghiệp: Bách Bát Phiền Não—108 karmaic bonds.

Bách Bát Ma Ni: Bách Bát Niệm Châu—Xâu chuỗi 108 hạt—String of a rosary of 108 beads. Bách Bát Mâu Ni: Bách Bát Tôn—Một trăm lẽ tám vị Mâu Ni trong Kim Cang Giới—The one hundred and eight Honourable Ones in the

Vajradhatu.

Bách Bát Niệm Châu: Bách Bát Ma Ni—Xâu chuỗi 108 hạt—108 beads on a rosary—String of 108 beads.

Bách Bát Phiền Não: Bách Bát Kết Nghiệp—108 passions and delusions.

Bách Bát Sổ Châu: Bách Bát Ma Ni—Xâu chuỗi 108 hạt—108 beads on a rosary—String of 108 beads.

Bách Bát Tôn: See Bách Bát Mâu Ni.

Bách Bất Tri: Không biết gì cả—To know or perceive nothing—Insensible to surroundings.

Bách Bổn Sớ Chủ: Lord of the hundred commentaries—Bách Bổn Luận Sư—Đại Khuy

Cơ ở chùa Từ Ân viết sớ giải cho hàng trăm bộ kinh—Title of K’uei-Chi of the Tzu-Ên monastery, because of his work as a commentator. Bách Chúng Học Pháp: Siksakaraniya (skt)—See Chúng Học Pháp.

Bách Diệp Hoa: Pundarika (skt)—White lotus in full bloom—See Phân Đà Lợi (1).

Bách Đình (1149-1241): Master Pai-t’ing—Tên của một vị Tăng Trung Hoa vào thế kỷ thứ XIII— Name of a Chinese monk from Jie-Jiang Province, China, in the thirteenth century.

Bách Giới Thiên Như: One thousand realms—

Tính nội tại hay cảnh vực của mỗi trong mười thế giới được nhân lên thành 100 thế giới. Thêm nữa, mỗi cảnh vực có mười sắc thái khác nhau (mười hiện tượng của Như là tướng, tánh, thể, lực, tác, nhân, duyên, quả, báo, và bản mạt cứu cánh). Do khám phá ra mười hiện tượng nầy trong 100 thế giới. Vì thế, tông Thiên Thai đạt đến thuyết về 1000 cõi gọi là Bách Giới Thiên Như—The emmanence of each of the ten worlds in all of them accounts for 100 worlds. Further, each of these realms has ten different features (ten features of Thusness as form, nature, substance, force, action, cause, circumstance, effct, remuneration and the ultimate state). By discovering these ten features in the 100 worlds, the T’ien-T’ai School arrives at the doctrine of 1,000 realms.

Bách Hại Phật Giáo: Buddhist persecution (574577)—See Huệ Viễn.

Bách Hạnh Hiếu Hạnh Vi Tiên: Trong tất cả các hạnh thì hiếu hạnh là hơn cả—All of virtues, filial piety is the most important.

Bách Hội: Place of centralization—Phần thượng đỉnh trên đầu nơi mà mọi thứ hội tụ về đây, mọi thứ tinh yếu đều qui vào chỗ nầy. Bách Hội còn chỉ Đức Phật là trung tâm của trí tuệ—Where all things meet, i.e. the head or the place of centralization. It is applied also to the Buddha as the center of all wisdom.

Bách Kiếp: Kalpasata (skt)—Dài như một trăm kiếp—One hundred kalpas—As long as one hundred kalpas.

Bách Liễu Thiên Đáng: Trăm rành ngàn rõ, chỉ cho trạng thái sau khi giác ngộ triệt để—The state in which everything is absolutely clear after the enlightenment.

Bách Luận: Sara-sastra (skt)—Sata-sastra (skt)— Satika-sastra (skt)—One hundred treatises—Bá Luận—Quảng Bá Luận Bổn—Một trong ba bộ luận của trường phái Trung Luận, được gọi là Bách Luận vì gồm một trăm bài kệ, mỗi kệ 32 chữ, được Ngài Đề Bà Bồ Tát soạn (Đề Bà là đệ tử của Ngài Long Thọ) bằng chữ Bắc Phạn. Mục đích của bộ luận nầy là nhằm bác bỏ những tà kiến của Bà La Môn Giáo. Ngài Thiên Thân Bồ Tát giải thích, và được Ngài Cưu Ma La Thập dịch sang Hoa ngữ, nhưng bản phiên dịch có số câu tăng giảm khác nhau. Cũng có “Quảng Bách Luận Bổn,” là bản triển khai rộng ra của Bách Luận—One of the three sastras of the

Madhyamika school, so called because of its 100 verses, each or 32 words, written in Sanskrit; attributed to Deva Bodhisattva (a pupil of Nagarjuna). This treatise is mainly a refutation of the heretical views of Brahmanism. It was written in Sanskrit and explained by Vasubandhu and translated into Chinese by Kumarajiva, but the versions differ. The is also the Catuhsatakasastrakarita (skt), and expension of the satasastra. Bách Luận Bộ: Sara-sastra (skt)—Sata-sastra (skt)—Satika-sastra (skt)—One hundred treatises—Bá Luận—See Bách Luận.

Bách Luận Sớ: Commentary of One hundred treatises—See Bách Luận.

Bách Lục Thập Tâm: Từ năm căn bản phiền não tham, sân, si, mạn nghi lần lượt hoán đổi vị trí để sinh ra 160 vọng chấp—from the five basic afflictions (the five great passions or disturbers or Klesas) of desire, anger or hatred, stupidity or ignorance, pride, and doubt, spring to 160 false tenets when they take turn to switch positions. Bách Mục: Một thứ đèn lồng bằng đất với nhiều con mắt hay lỗ trống—An earthernware lantern with many eyes or holes.

Bách Nạp Y: Y bá nạp được làm bằng cách may nối nhiều mảnh lại với nhau—A monk’s robe made of patches.

Bách Nghiệp: Karma-sataka (skt)—One hundred karmas.

Bách Nghiệp Kinh: Karma-sataka-sutra (skt)— Sutra on One hundred karmas.

Bách Nhất: Một phần trăm (mỗi một trên một trăm)—One out of a hundred or every one of a hundred.

Bách Nhị Thập Bát Phiền Não: Một trăm hai mươi tám phiền não của tà kiến và tà tư duy—The one hundred and twenty-eight delusions of views and thoughts.

Bách Niên Tam Vạn Lục Thiên Triêu, Phản Phúc Nguyên Lai Thị Giá Hán: In the thirty thousand days of one hundred years; it is you who go and return—Một hôm, Thiền sư Cao Phong

Diệu Tổ thình lình nhìn thấy hai câu cuối trong bài kệ của Thiền sư Ngũ Tổ Pháp Diễn “Trăm năm ba vạn sáu ngàn ngày; đi về nguyên lai chính là ông,” ngay lập tức Cao Phong hiểu ra cái câu “Ai kéo cái tử thi đến đây cho ông?” mà thầy ông là Thiền sư Tuyết Nham đã đặt ra cho ông. Ông cảm thấy như hồn phi phách tán, chết đi sống lại. Nó giống như ông vừa trút bỏ được gánh nặng ngàn cân! Thế là ông đã chứng ngộ Thiền—One day, Zen master Kao-fêng happened to see Wu-tsu-Fayen’s last two sentences of his stanza: “In the thirty thousand days of one hundred years; it is you who go and return,” he immediately understood the sentence “Who has dragged this corpse here for you?” For this sentence had stuck in his mind since the day Zen master Hsueh Yen had put it before him. He felt as if his spirit had been extinguished and his mind blown away and then revivied again from death itself. It was like dropping the burden of a carrying pole weighing thousand pounds! So he had achieved his realization of Zen.

Bách Pháp Câu Xá Tông: Theo Câu Xá Luận, tông Duy Thức dùng bách pháp để thuyết minh về muôn vạn hiện tượng thế gian và xuất thế gian— According to the Kosa Sastra, there are one hundred divisions of all mental qualities and their agents of the Consciousness-Only School, or five groups of ine hundred modes or things: 1-8) Tâm pháp: Tám Thức—eight perceptions or forms of consciousness.

9-59)Tâm sở: Hữu pháp—Fifty-one mental ideas—See Năm Mươi Mốt Tâm Sở.

60-70)Sắc pháp: The five physical organs (eye, ear, nose, tongue, body) and their six modes of sense (matter, sound, smell, taste, touch, things).

71-94)Bất tương ưng hành (đắc, mệnh căn, chúng đồng phận, dị sinh tính, vô tưởng định, diệt tận định, vô tưởng sự, danh thân, cú thân, văn thân, sinh, lão, trụ, vô thường, lưu chuyển, định dị, tương ứng, thế tốc, thứ đệ, phương, thời, số, hòa hợp tính, bất hòa hợp tính)— Twenty four indefinites or unconditioned elements: Twenty-four Things Not Associated with Mind (citta-viprayukta-samskara (skt): acquisition (prapti (skt), life (jivitendriya (skt), nature of sharing similar species (nikayasabhaga (skt), nature of making different species (visabhaga (skt), meditative concentration in thoughtless heaven (asamjnisamapatti (skt), meditative concentration in extinction (nirodhasamapatti (skt), facts obtained by thoughtless meditation

(asamjnika (skt), name (namakaya (skt), word (padakaya (skt), letter (vyanjanakaya (skt), birth (jati (skt), stability (sthiti (skt), age (jara (skt), impermanence (anityata (skt), becoming (pravrtti (skt), distinction (pratiniyama (skt), union (yoga (skt), speed (java (skt), succession (anukrama (skt), region (desa (skt), time (kala (skt), number (samkhya (skt), totality (samagri (skt), and differentiation (anyathatva (skt).

95-100)Vô vi: Sáu vô vi (hư không, trạch diệt, phi trạch diệt, bất động, tưởng thọ diệt, chân như)—Six inactive or metaphysical concepts. Bách Pháp Giới: Mười Pháp Giới từ địa ngục cho đến Phật, mỗi pháp giới lại có đủ mười như thị nên làm thành “Bách Pháp Giới”—The realm of the hundred qualities (phenomenal realm), the ten stages from Hades to Buddha, each has ten qualities which make up the hundred. Bách Pháp Minh Môn: Cửa vào tri thức của thế giới hiện tượng, một trong những giai đoạn đầu tiên của Bồ tát (hay Trí Tuệ Môn mà Bồ Tát tu đắc ở Sơ Địa)—The door to the knowledge of universal phenomena, one of the first stages of bodhisattva.

Bách Pháp Minh Môn Luận: Mahayana-sata-

dharma-vidyadvara-sastra (skt)—Clear understanding of the one hundred dharmas—Luận về một trăm điều chân lý, được giảng dạy bởi trường phái Duy Thức. Bộ luận về Bách Pháp Minh Môn, được Ngài Huyền Trang dịch sang Hoa ngữ (1 quyển)—Treatise on one hundred principles of truth, taught by the school of Consciousness-Only. The sastra on the Hundred Divisions of all Mental Qualities, or the door to the knowledge of universal phenomena, translated into Chinese by Hsuan-Tsang (1 book). Bách Pháp Pháp Tướng Tông: Theo tông Pháp Tướng, có một trăm pháp Đại Thừa—According to the Dharmalaksana School, there are one hundred Mahayana Dharmas.

1-8) Tám Tâm Pháp: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, mạt na thức, a lại da thức—Eight kinds of Mind (citta-dharma (skt): eye-consciousness (caksur-vijnana (skt), ear-consciousness (srotra-vijnana (skt), nose-consciousness (ghrana-vijnana (skt), tongue-consciousness (jihva-vijnana (skt), body-consciousness (kaya-vijnana (skt), conscious mind (mono-vijnana (skt), subconscious mind (manas (skt), and ideation store (alaya-vijnana (skt).

9-59)Năm mươi mốt Tâm Sở Hữu Pháp: Caitasikadharma (skt)—Fifty-one Mental Functions.

  1. Năm pháp Biến Hành: xúc, thọ, tư, tưởng, tác ý—Five general dharmas (sarvatraga (skt): touch (sparsa (skt), sensation (vedana (skt), thought (cetana (skt), idea (samjna (skt), volition (manaskara (skt).
  2. Năm Biệt Cảnh: dục, thắng giải, niệm, định, và tuệ—Five special dharmas (viniyata (skt): desire (chanda (skt), resolve (adhimoksa (skt), remembrance (smrti (skt), concentration (samadhi (skt), and wisdom (prajna (skt).
  3. Mười một Thiện Pháp: tín, tàm, quí, vô tham, vô sân, vô si, tinh tấn, khinh an, bất phóng dật, hành xả, và bất hoại—Eleven good dharmas (kusala (skt): belief (sraddha (skt), shame (hri (skt), bashfulness (apatrapya (skt), absence of covetousness (alobha (skt), absence of hatred (advesa (skt), absence of ignorance (amoha (skt), energy (virya (skt), repose of mind (prasrabdhi (skt), vigilance

(apramada (skt), equanimity (upeksa (skt), and non-injury (ahimsa (skt).

  1. Sáu Phiền Não: tham, sân, si, mạn, nghi, và tà kiến—Six Afflictions (klesa (skt): covetousness (raga (skt), hatred (pratigha (skt), ignorance (mudhi (skt), arrogance (mana (skt), doubt (vicikitsa (skt), and false view

(drsti (skt).

  1. Hai mươi Tùy Phiền Não: phẫn, hận, phú, não, tật, xan, cuống, siễm, hại, kiêu, vô tàm, vô quí, trạo cử, hôn trầm, bất tín, giải đãi, phóng dật, thất niệm, tán loạn, bất chánh tri—

Twenty Minor Evils or Minor Afflictions (upaklesa (skt): anger (krodha (skt), enmity (upanaha (skt), concealment (mraksa (skt), affliction (pradasa (skt), envy (irsya (skt), parsimony (matsarya (skt), deception (maya (skt), fraudulence (sathya (skt), injury (vihimsa (skt), pride (mada (skt), shamelessness (ahrikya (skt), non-bashfulness (anapatrapya (skt), restlessness (auddhatya (skt), low-spiritedness (styana (skt), unbelief (asraddhya (skt), sloth (kausidya (skt), negligence (pramada (skt), forgetfulness (musitasmrtita (skt), distraction (viksepa (skt), and non-discernment (asamprajnaya (skt).

  1. Bốn bất định pháp: hối, thụy miên, tầm, tứ— Four indeterminate dharmas (aniyata (skt): repentance (kaukrtya (skt), drowsiness (middha (skt), reflection (vitarka (skt), and investigation (vicara (skt).

60-70)Mười một Sắc Pháp: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, sắc, thanh, hương, vị, xúc, và pháp xứ sở nhiếp. Pháp xứ sở nhiếp sắc bao gồm cực lược sắc, cực huýnh sắc, thọ sơ dãn sắc, biến kế sở khởi sắc và định sở sanh tự sắc—Eleven form-elements (rupa-dharma (skt): eye (caksus (skt), ear (srota (skt), nose (ghrana (skt), tongue (jihva (skt), body (kaya (skt), form (rupa (skt), sound (sabda (skt), smell (gandha (skt), taste (rasa (skt), touch (sprastavya (skt), and forms. Forms included in dharma-ayatana or elements as objects of consciousness (dharmayata-nikani-rupani (skt), which include a substantial form analyzed to utmost, the smallest atom, an unsubstantial form as aerial space or color analyzed to utmost, the remotest atom, a perceptive form conceived at ordination, the innermost impression, a momentary illusive form, and a form produced by meditation.

71-94)Hai mươi bốn Tâm Bất Tương Ưng Hành Pháp: đắc, mạng căn, chúng đồng phần, di sanh pháp, vô tưởng định, diệt tận định, vô tưởng quả, danh thân, cú thân, văn thân, sanh, trụ, lão, vô thường, lưu chuyển, định dị, tương ứng, thế tốc, thứ đệ, phương, thời, số, hòa hợp tánh, bất hòa hợp tánh—Twenty-four Things Not Associated with Mind (citta-viprayuktasamskara (skt): acquisition (prapti (skt), life (jivitendriya (skt), nature of sharing similar species (nikaya-sabhaga (skt), nature of making different species (visabhaga (skt), meditative concentration in thoughtless heaven (asamjnisamapatti (skt), meditative concentration in extinction (nirodhasamapatti (skt), facts obtained by thoughtless meditation

(asamjnika (skt), name (namakaya (skt), word (padakaya (skt), letter (vyanjanakaya (skt), birth (jati (skt), stability (sthiti (skt), age (jara (skt), impermanence (anityata (skt), becoming (pravrtti (skt), distinction (pratiniyama (skt), union (yoga (skt), speed (java (skt), succession (anukrama (skt), region (desa (skt), time (kala (skt), number (samkhya (skt), totality (samagri (skt), and differentiation (anyathatva (skt).

95-100)Sáu vô vi pháp: hư không vô vi, trạch diệt vô vi, phi trạch diệt vô vi, bất động diệt vô vi, tưởng thọ diệt vô vi, chân như vô vi—Six noncreated Elements (asamskrta-dharma (skt): space (akasa (skt), extinction obtained by knowledge (pratisamkhya-nirodha (skt), extinction not by knowledge but by nature (apratisamkhya-nirodha (skt), extinction by a motionless state of heavenly meditation (aniinjya (skt), extinction by the stoppage of idea and sensation by an arhat (samjnavedayita-nirodha (skt), and true suchness

(tathata (skt).

Bách Phi: Phi Hữu Phi Không—Neither existing nor non-existing—Neither existing nor empty— Chẳng phải có mà cũng chẳng phải không. Nếu chúng ta diển tả câu trả lời, nó phải là “Vừa không phải, vừa không không phải,” nghĩa là không đề cập đến câu hỏi hay không cần phải trả lời—If we express our answer, it must be “Neither yes nor no,” i.e., having nothing to do with the question or no use answering.

Bách Phúc: Trăm phước—The hundred blessings (every kind of happiness).

Bách Quang Biến Chiếu Vương: Đức Đại Nhật Như Lai—The king of all light universally shining—Vairocana—See Đại Nhật Như Lai, Đại Uy Đức, and Đại Uy Đức Giả.

Bách Thiện Hiếu Vi Tiên: Trong trăm điều tốt, hiếu hạnh là quan trọng hơn cả—Of all virtues, filial piety is the most important. Bách Tánh: Bá tánh—The people. Bách Tạp Toái: Lúng túng—Bewildered— Embarrassed—Perplexed—Puzzled.

Bách Tắc Tụng Cổ: Một trăm bài tụng của Thiền sư Tuyết Đậu trùng Hiển (980-1052), với lời bình bằng thi kệ đi kèm của thiền sư Phật Quả Viên Ngộ (1063-1135)—One hundred koans compiled by Zen master Hsueh-Tou-Ch’ung-Hsien, with is own commentary in verse accompanying each koan, by Zen master Yuan-Wu—See Bích Nham

Lục.

Bách Tâm Thành Phật: One hundred minds for practitioners to practice to become Buddha. Bách Thảo: Hyakuso (jap)—Những hiện tượng tự nhiên tạp nhạp—Hundreds of weeds, the term means miscellaneous natural phenomena. Bách Thiên Niên Hậu: Một trăm năm sau—One hundred years later.

Bách Thủ: Hyakuto (jap)—Hàng trăm đầu, ý nói tạp sự—Hundreds of heads, the term suggests miscellaneous concrete things. Bách Tòa Hộ Ma: Một trăm lần tu tập phép Hộ

Ma (mỗi lần tu tập hộ ma được gọi là “Tòa”)— One hundred times of worshipping with fire (fire heaven).

Bách Trượng Dã Áp Tử: Pai Chang’s Wild Ducks, example 53 of the Pi-Yen-Lu—See Bách Trượng Dã Ngan.

Bách Trượng Dã Hồ: Pai-Chang and the fox— “Bách Trượng Dã Hồ” là thí dụ thứ 2 của Vô Môn Quan. Mỗi ngày Bách Trượng thượng đường dạy chúng, có một ông già theo chúng nghe pháp. Hôm nọ, chúng ra hết chỉ còn ông già không đi, sư hỏi: “Ông là người gì?” Ông già thưa: “Con chẳng phải là người. Thời quá khứ thuở Đức Phật Ca Diếp, con làm Tăng ở núi nầy, nhơn học trò hỏi: “Người đại tu hành có còn rơi vào nhơn quả chăng?” Con đáp: “Không rơi vào nhơn quả.” Do đó đến năm trăm kiếp đọa làm thân chồn. Nay thỉnh Hòa Thượng chuyển một câu cho con thoát khỏi thân chồn. Bách Trượng bảo: “Ông hỏi đi.” Ông già hỏi: “Người đại tu hành có rơi vào nhân quả hay không?” Bách Trượng đáp: “Người đại tu hành không lầm (không mê mờ) nhơn quả.” Ngay câu nói ấy, ông già đại ngộ, làm lễ thưa: “Con đã thoát thân chồn. Con ở sau núi, dám xin Hòa Thượng lấy lễ mà an táng như một vị Tăng. Sư vào trong kêu duy na đánh kiểng bảo chúng ăn cơm xong đưa đám một vị Tăng, đại chúng nhóm nhau bàn tán “Đại chúng đều mạnh, nhà dưỡng bệnh không có người nào nằm, tại sao có việc nầy?” Sau khi cơm xong, sư dẫn chúng đến hang núi phía sau, lấy gậy khơi lên thấy xác một con chồn vừa chết, bèn làm lễ thiêu như một vị Tăng. Tối đến Sư thượng đường kể chuyện lại cho mọi người nghe. Hoàng Bá bèn bước tới hỏi: “Người xưa vì đáp sai một lời mà bị đọa làm thân chồn hoang năm trăm kiếp. Giả như câu nào cũng không đáp sai thì sao?” Bách Trượng nói: “Lại gần đây ta nói cho nghe.” Hoàng Bá lại gần và tát cho sư một bạt tai. Bách Trượng vỗ tay cười nói: “Tưởng râu tên Hồ thì đỏ, lại gặp tên Hồ đỏ râu.” Hành giả tu thiền phải nên luôn nhớ lời dạy của ngài bách Trượng: “Chẳng che mờ nhân quả” (bất muội nhân quả) trên bước đường tu tập giải thoát của chính mình. Câu chuyện trên đây là một trong những phong cách của nghệ thuật Thiền mà Thiền sư Bách trượng dùng để giải minh những giáo lý Phật giáo nào đó. Theo Vô Môn Huệ Khai trong Vô Môn Quan, chẳng rơi vào nhân quả, sao lại đọa kiếp chồn hoang? Chẳng che mờ nhân quả, sao lại thoát kiếp chồn hoang? Nếu ngó thấy được chỗ đó thì hiểu được Bách Trượng xưa, lợi được năm trăm kiếp phong lưu—Pai-Chang’s Fox, example 2 of the Wu-Men-Kuan. Every day when Zen master Bai-Zhang spoke in the hall, there was an old man who would attend along with the assembly. One day when the congregation had departed, the old man remained. Bai-Zhang asked him: “Who are you?” The old man said: “I’m not a person. Formerly, during the age of Kasyapa Buddha, I was the abbot of a monastery on this mountain. At that time a student asked me: “Does a great adept fall into cause and effect?” I answered: “A great adept does not fall into cause and effect.” Thereafter, for five hundred lifetimes I’ve been reborn in the body of a fox. Now I ask that the master say a turning phrase in my behalf, so that I can shed the fox’s body. Bai-Zhang said: “Ask the question.” The old man said: “Does a great adept fall into cause and effect or not?” BaiZhang said: “A great adept is not blind to cause and effect.” Upon hearing these words, the old man experienced unsurpassed enlightenment. He then said: “Now I have shed the body of a fox. I lived behind the mountain. Please provide funeral services for a monk who has died.” Bai-Zhang then instructed the temple director to tell the monks to assemble after the next meal for funeral services. The monks were all mystified by this, because there was no one who was ill in the temple infirmary, so how could this be? After the meal, Bai-Zhang instructed the monks to assemble beneath a grotto behind the mountain. He then brought out the body of a dead fox on his staff, and proceeded to cremate it according to established ritual. That evening, Pai-Chang took the high seat before his assembly and told the monks the whole story. Huang-Po stepped forward and said: “As you say, the old man missed the turning word and was reborn as a fox five hundred times. What if he had given the right answer each time he was asked a question; what would have happened then?” Pai-Chang said: “Just step up here closer, and I will tell you.” Huang-Po went up to Pai-Chang and slapped him in the face. PaiChang clapped his hands and laughed, saying, “I thought the Barbarian had a red beard, but here is a red-bearded Barbarian.” Zen practitioners should always remember the teaching of Zen master Pai-Chang “Not evading the law of cause and effect” on the path of cultivation of emancipation. The above story is one of the manners of Zen art that Zen master Pai-Chang utilized to illustrate a certain Buddhist teaching. According to Wu Men Hui-Kai in the Wu-MenKuan, “not falling under the law of cause and effect.” Why should this prompt five hundred lives as a fox? “Not evading the law of cause and effect.” Why should this prompt a return to human life? If you have the single eye of realization, you will appreciate how old Pai-chang lived five hundred lives as a fox as lives of grace. Bách Trượng Dã Ngan: Pai Chang’s Wild Ducks, example 53 of the Pi-Yen-Lu—Thí dụ thứ 53 của Bích Nham Lục. Mã Tổ cùng Bách Trượng dạo vườn, thấy bầy vịt trời bay qua. Mã Tổ hỏi: “Là cái gì?” Bách Trượng thưa: “Bầy vịt trời.” Mã Tổ hỏi: “Đi đâu rồi?” Bách Trượng thưa: “Bay qua rồi.” Mã Tổ liền nắm lỗ mũi Bách Trượng vặn mạnh. Bách Trượng đau quá la lên. Mã Tổ bảo: “Đâu từng bay qua.” Theo Viên Ngộ trong Bích Nham Lục, chánh nhãn xem ra lại là Bách Trượng đủ chánh nhơn. Mã Tổ không gió dậy sóng. Các ông cần cùng Phật, Tổ làm thầy tham lấy Bách Trượng, cần tự cứu chẳng xong tham lấy Mã Tổ. Xem cổ nhân trong mười hai giờ chưa từng chẳng ở trong ấy. Bách Trượng xuất gia từ thuở nhỏ, học tập giới định huệ, gặp lúc Mã Tổ xiển hóa ở Nam Xương tận tâm nương đỗ, hai mươi năm làm thị giả, cho đến tái tham dưới tiếng hét mới được đại ngộ. Hiện nay có người nói: “Vốn không chỗ ngộ, làm cái cửa ngộ, dựng lập việc này.” Nếu kiến giải như thế ấy, như trùng trong thân sư tử ăn thịt sư tử. Đâu chẳng thấy cổ nhân nói: “Nguồn chẳng sâu thì dòng không dài; trí chẳng lớn thì thấy chẳng xa.” Nếu hiểu là dựng lập thì Phật pháp đâu đến ngày nay. Xem Mã Tổ cùng Bách Trượng đi dạo vườn thấy bầy vịt trời bay qua, Mã Tổ đâu không biết vịt trời, tại sao lại hỏi thế ấy? Hãy nói ý của ngài rơi tại chỗ nào? Bách Trượng chỉ biết chạy theo sau. Mã Tổ nắm lỗ mũi Bách Trượng vặn mạnh, Bách Trượng chịu đau không nổi nên la lên. Mã Tổ bảo: “Đâu từng bay qua.” Bách Trượng liền tỉnh ngộ. Ngày nay có người hiểu lầm, vừa hỏi đến liền la lên, buồn cười nhảy chẳng ra. Hàng tông sư vì người phải chỉ dạy cho thấy tột. Nếu họ chưa hiểu, chẳng nệ chạm bén đứt tay, chỉ cốt dạy họ rõ được việc này. Vì thế nói, hội thì giữa đường thọ dụng, chẳng hội thì thế đế lưu bố. Mã Tổ đương thời, nếu chẳng nắm đứng thì chỉ thành thế đế lưu bố. Phải là thấy cảnh gặp duyên xoay trở, dạy trở về chính mình, trong mười hai giờ không chỗ khiếm khuyết, gọi đó là tánh địa minh bạch. Nếu chỉ nương cỏ gá cây, nhận cái trước lừa sau ngựa, có dùng được vào chỗ nào? Xem Mã Tổ, Bách Trượng dụng thế ấy, tuy giống như sáng tỏ tinh lanh, mà chẳng ở chỗ sáng tỏ tinh lanh. Bách Trượng chịu đau không nổi la lên, nếu thấy thế ấy thì khắp cõi chẳng giấu, mỗi mỗi hiện thành. Vì thế nói, một chỗ thấu thì ngàn chỗ muôn chỗ đồng thời thấu. Hôm sau, Mã Tổ lên tòa, chúng vừa tụ họp, Bách Trượng ra cuốn chiếu. Mã Tổ xuống tòa về lại phương trượng, hỏi Bách Trượng: “Ta vừa lên tòa chưa nói pháp, vì sao ông lại cuốn chiếu?” Bách Trượng thưa: “Hôm qua bị Hòa Thượng nắm lỗ mũi đau.” Mã Tổ hỏi: “Hôm qua ông nhằm chỗ nào lưu tâm?” Bách Trượng thưa: “Ngày nay lỗ mũi lại chẳng đau.” Mã Tổ bảo: “Ông biết sâu việc ngày nay.” Bách Trượng làm lễ rồi lui về liêu thị giả khóc. Đồng sự thị giả hỏi: “Ông khóc cái gì?” Bách Trượng nói: “Huynh đến hỏi Hòa Thượng.” Thị giả đến hỏi Mã Tổ. Mã Tổ bảo: “Ông hỏi lấy y xem?” Thị giả lại về liêu hỏi Bách Trượng. Bách Trượng cười ha hả! Thị giả nói: “Ông vừa rồi khóc, giờ đây tại sao lại cười?” Bách Trượng nói: “Tôi vừa rồi khóc, giờ đây cười.” Xem Sư sau khi ngộ lăn trùng trục ngăn chặn chẳng đứng, tự nhiên linh hoạt—Once the Great Master Ma and Pai Chang were walking together they saw some wild ducks fly by. The Great Master asked, “What is that?” Pai Chang said, “Wild ducks.” The Great Master said, “Where have they gone?” Pai Chang said, “They’ve flown away.” The Great Master then twisted Pai Chang’s nose. Pai Chang cried out in pain. The Great Master said, “When have they ever flown away?” According to Yuan-Wu in the Pi-Yen-Lu, if you observe this case with the correct eye, unexpectedly it’s Pai Chang who has the correct basis, whereas Great Master Ma is creating waves where there is no wind. If all of you want to be teachers of Buddhas and Patriarchs, then study Pai Chang. If you want to be unable to save even yourselves, then study the Great Master Ma. Observe how those Ancients were never absent from Here, twenty-four hours a day. At a young age Pai Chang left behind the dusts of worldly life and became well versed in the three studies (discipline, meditation, and wisdom). When Ma Tsu known as Ta Chi was teaching at Nan Ch’ang, Pai Chang set his heart on joining him. For twenty years he served as Ma Tsu’s attendant, until the time of his second calling (on Ma Tsu), when he was finally greatly enlightened at Ma Tsu’s shout. But these days some say, “Where there is fundamentally no enlightenment, they construct the gate of ‘enlightenment’ and establish this affair.” If you view it in this way, you are like a flea on a lion’s body feeding itself on the lion’s flesh. Haven’t you seen where an Ancient said, “If the source is not deep, the stream is not long; if the wisdom is not great, the vision is not farreaching.” If you entertain the understanding that enlightenment is a construct, how could the Buddhist Teaching have come down to the present? Look: once when Great Master Ma and Pai Chang were walking together they saw some wild ducks fly by. How could the Great Master not have known they were wild ducks? Why did he nevertheless ask like this? Tell me, what does his meaning come down to? When Pai Chang merely followed up behind him, Ma Tsu then twisted his nose. Pai Chang cried out in pain and Ma Tsu said, “When have they ever flown away?” At this Pai Chang had insight. But these days some people misunderstand: as soon as they’re questioned, they immediately make a cry of pain. Fortunately they can’t leap out of it. When teachers of our school help people, they must make them penetrate through. You see that Pai Chang didn’t understand, that he didn’t avoid cutting his hand on the point. Ma Tsu just wanted to make him understand this matter. Thus it is said, “When you understand, then the conventional truth prevails.” If Ma Tsu hadn’t twisted Pai Chang’s nose at that time, the conventional truth would have prevailed. It’s also necessary when encountering circumstances and meeting conditions to turn them around and return them to oneself; to have no gaps at any time is called “the ground of nature bright and clear.” What’s the use of one who just haunts the forests and fields, accepting what’s ahead of an ass but behind a home? Observe how Ma Tsu and Pai Chang act this way; though they seem radiant and spiritual, nevertheless they don’t remain in radiance and spirituality. Pai Changcried out in pain; if you see it as such, then the whole world does not hide it, and it is perfectly manifest everywhere. Thus it is said, “Penetrate one place, and you penetrate a thousand places, ten thousand places all at once.” When Ma Tsu went up to the hall the next day, as soon as the congregation had assembled, Pai Chang came forward and rolled up the bowing mat. Ma Tsu immediately left his seat. After he had returned to his abbot’s quarters, he asked Pai Chang, “I had just gone up to the hall and had not yet preached; why did you roll up the mat right away?” Pai Chang said, “Yesterday I had my nose twisted by you, Teacher, and it hurt.” Ma Tsu said, “Where were you keeping your mind yesterday?” Pai Chang said, “Today the nose no longer hurts.” Ma Tsu said, “You have profound knowledge of Today’s affair.” Pai Chang then bowed and returned to the attendants’ quarters, crying. One of his fellow attendants asked, “Why are you crying?” Pai Chang said, “Go ask our Master.” The attendant then went to ask Ma Tsu. Tsu said, “Go ask Pai Chang.” When the attendant returned to their quarters to ask Pai Chang, Chang laughed loudly. The attendant said, “You were just crying, now why are you laughing?” Pai Chang said, “I was crying before, now I’m laughing.” Look at Pai Changafter his enlightenment; turning smoothly, he can’t be trapped. Naturally he’s sparkling clear on all sides.

Bách Trượng Duy Chánh Thiền Sư: HyakujoIsei (jap)—Hyakujo Nehan (jap)—Pai-chang-Weicheng (Wade-Giles Chinese)—Thiền sư Bách Trượng Duy Chánh, đệ tử của Thiền sư Bách

Trượng Hoài Hải—Zen master Pai-Chang-WeiCheng was a disciple of Zen master Paizhang Huaihai.

  • Có rất ít chi tiết về cuộc đời của Thiền sư Bách Trượng Duy Chánh; tuy nhiên, có một vài chi tiết nhỏ về vị Thiền sư này trong bộ Ngũ Đăng Hội Nguyên: Khởi thủy Bách Trượng Duy Chánh học kinh Niết Bàn. Người thời đó không kêu ông bằng tên, thay vào đó họ gọi ông là “Thiền Sư Niết Bàn.”—Few other details about Pai-Chang-Wei-Cheng’s life are available in the classical records; however, there is some brief information on him in the Wudeng Huiyuan. Pai-Chang-WeiCheng originally studied the Nirvana Sutra. People did not call him by his name, instead referring to him as “Zen Master Nirvana.”
  • Bách Trượng Duy Chánh là vị thiền sư có lối dạy chúng rất đặc biệt. Sư bảo Tăng chúng ra cày ruộng đi, xong Sư sẽ nói đại nghĩa của pháp Phật cho nghe. Làm xong, Tăng chúng họp lại chờ nghe Sư nói pháp. Sư chỉ dang đôi tay, không nói gì. Có phải những hành động này tiêu biểu cho cách diễn tả đại nghĩa của pháp Phật của Thiền sư Duy Chánh không? Hành động của Thiền sư Duy Chánh cho thấy đại nghĩa của pháp Phật chỉ có ý nghĩa khi cây trục của nội tâm xoay sang một thế giới khác, sâu rộng hơn. Vì một khi thế giới thâm

diệu ấy mở ra là cuộc sống hằng ngày của hành giả, cả đến những tình tiết tầm thường nhất, vẫn đượm nhuần đại nghĩa pháp Phật. Thật vậy, với Thiền, một mặt đại nghĩa của pháp Phật là cái gì tầm thường, vô nghĩa lý nhất đời; nhưng mặt khác, nhất là khi chúng ta chưa hiểu, nó kỳ bí không gì hơn. Và nói cho cùng, ngay cả cuộc sống thường ngày của chúng ta, há chẳng phải đầy những kỳ quan, bí mật và huyền bí, ngoài tầm hiểu biết của trí óc con người hay sao? Kỳ thật, Thiền sư Duy Chánh muốn cho hàng đệ tử của ngài thấy rằng Thiền sống trong chiều hướng hành động, hay nói đúng hơn, Thiền là vận dụng cái thực, là sống cái thực, thay vì chứng minh hoặc biểu thị cái thực bằng ngôn từ, nghĩa là bằng khái niệm. Theo thiền sư D.T. Suzuki trong Thiền Luận, Tập I, phương pháp trực tiếp có công dụng nắm ngay lấy cuộc sống uyển chuyển trong khi nó đang trôi chảy, chứ không phải sau khi nó đã trôi qua. Trong khi dòng đời đang trôi chảy, không ai đủ thời giờ nhớ đến ký ức, hoặc xây dựng ý tưởng. Nghĩa là không có lý luận nào có giá trị trong lúc này. Hành giả tu Thiền nên luôn nhớ rằng ngôn ngữ có thể dùng được, nhưng ngôn ngữ từ muôn thuở vốn kết hợp chặt chẽ với nét tâm tưởng suy lượng nên mất hết nội lực, không trực tiếp truyền cảm được. Nếu dùng đến ngôn ngữ chỉ diễn tả được một ý nghĩa, một luận giải, chỉ biểu lộ một cái ngoại thuộc, nên không trực tiếp liên hệ gì đến cuộc sống. Đây cũng chính là lý do tại sao nhiều khi các thiền sư tránh chuyện nói năng, tránh xác định, dầu là đối với những việc quá tỏ rõ, quá hiển nhiên cũng vậy. Hy vọng của các ngài là để cho đồ đệ tự tập trung tất cả tâm lực nắm lấy những gì người ấy mong ước, thay vì ghì bắt lấy những mối liên lạc xa xôi vòng ngoài khiến cho người đệ tử bị phân tâm—Zen master Pai-Chang-Wei-Cheng had a very special way of instructing his disciples. He said to the monks, “You open the farm for me and I will talk to you about the great principle of Zen.” When the monks finished attending the farm and came back to the master to discourse on the great principle, he merely extended his open arms and said nothing. Are these acts representing the way that Zen master Wei-cheng used to show the great principle of Buddhism? The acts of Zen master Wei-cheng just shows that the great principle of Buddhism gains meaning when there takes place this turning of the mental hinge to a wider and deeper world. For when this wide and deeper world opens, Zen practitoiners’ everyday life, even the most trivial thing of it, grow loaded with the truths of the great principle of Buddhism. With Zen, on the one hand, therefore, the great principle of Buddhism is a most prosaic and matter-offact thing, but on the other hand, when it is not understood it is something of a mystery. But after all, is not life itself filled with wonders, mysteries, and unfathomabilities, far beyond our discursive understanding? In fact, Zen master Wei-cheng wants to show his disciples that the development of Zen should be towards acting or rather living its truth instead of demonstrating or illustrating it in words; it is to say, with ideas. According to Zen master D.T. Suzuki in Essays in Zen Buddhism, First Series, the direct method is used to get hold of this fleeting life as it flees and not after it has flown. While it is fleeing, there is no time to recall memory or to build ideas. It is to say, no reasoning avails here. Language may be used, but this has been associated too long with ideation, and has lost directions or being by itself. As soon as words are used, they express meaning, reasoning; they represent something not belonging to themselves; they have no direct connection with life. This is also the reason why the masters often avoid such expressions or statements as are intelligible in any logical way. Their aim is to have the disciple’s attention concentrated in the thing itself which he wishes to grasp and not in anything that is in the remotest possible connection liable to disturb him.

Bách Trượng Độc Tọa Đại Hùng Đỉnh: PaiChang’s Sitting Alone on Ta Hsiung Mountain, example 26 of the Pi-Yen-Lu—Thí dụ thứ 26 của Bích Nham Lục. Một vị Tăng hỏi Bách Trượng: “Thế nào là việc kỳ đặc?” Bách Trượng đáp: “Ngồi một mình trên núi Đại Hùng.” Vị Tăng lễ bái. Bách Trượng liền đánh. Theo Viên Ngộ trong Bích Nham Lục, gặp cơ đủ mắt chẳng đoái nguy vong, cho nên nói chẳng vào hang cọp đâu bắt được cọp con. Bách Trượng bình thường dường như cọp chụp mồi. Vị Tăng nầy cũng chẳng sợ chết sống, dám nhổ râu cọp, nên hỏi thế nào là việc kỳ đặc? Vị Tăng nầy đã đủ con mắt sáng, nên Bách Trượng cho ông gánh vác, nói: “Ngồi riêng một mình trên núi Đại Hùng.” Ông liền lễ bái. Thiền Tăng phải biện biệt ý trước khi hỏi mới được. Vị Tăng nầy lễ bái cùng việc lễ bái hằng ngày chẳng đồng, phải là người đủ mắt sáng mới được. Chớ đem gan mật bình sanh trút cho người, biết nhau lại như chẳng biết nhau. Chỉ xem vị Tăng hỏi: “Thế nào là việc kỳ đặc?” Bách Trượng đáp: “Ngồi riêng một mình trên núi Đại Hùng.” Vị Tăng lễ bái, Bách Trượng liền đánh. Kia buông đi đồng thời đều phải thâu lại thì quét sạch dấu vết. Hãy nói vị Tăng liền lễ bái, ý chỉ thế nào? Nếu bảo là tốt, tại sao Bách Trượng lại đánh ông? Nếu bảo là chẳng tốt, ông lễ bái có chỗ nào là chẳng được? Đến trong đây phải biết hay dở, rành trắng đen, đứng trên ngàn ngọn núi mới được. Vị Tăng nầy liền lễ bái, giống như nhổ râu cọp, chỉ dành cho nhau chỗ chuyển thân. May gặp Bách Trượng có con mắt tại đỉnh môn, trong tay có thần phù chiếu thấu bốn thiên hạ, biện rõ lai phong, cho nên liền đánh. Nếu là kẻ khác thì không làm gì được y. Vị Tăng nầy lấy cơ đầu cơ, dùng ý dẹp ý, cho nên lễ bái. Như Nam Tuyền nói: “Canh ba đêm qua Văn Thù, Phổ Hiền khởi Phật kiến, pháp kiến, cho mỗi vị hai mươi gậy, đày đến hai ngọn núi Thiết Vi.” Triệu Châu ra chúng thưa: “Gậy của Hòa Thượng bảo ai ăn?” Nam Tuyền nói: “Vương lão sư có lỗi gì?” Triệu Châu liền lễ bái. Bậc Tông sư bình thường chẳng thấy chỗ thọ dụng, vừa gặp lúc đương cơ nêu ra, tự nhiên sống linh động. Ngũ Tổ tiên sư thường nói: “Giống như hai con ngựa đá nhau, ông chỉ thường tập thấy nghe thanh sắc, đồng thời ngồi dứt, nắm được đứng, làm chủ được mới thấy Bách Trượng và vị Tăng kia.”—A monk asked Pai Chang, “What’s the extraordinary affair?” Pai Chang said, “Sitting alone on Ta Hsiung Mountain.” The monk bowed; Pai Chang thereupon hit him. According to Yuan-Wu in the Pi-Yen-Lu, he has the eye to face situations and not heed danger or death. Thus it is said, “How can you catch tiger cubs without entering the tiger’s lair?” Pai Chang was ordinarily like a tiger with wings. Nor does this monk shun birth and death: he dares to grab the tiger’s whiskers and asks, “What’s the extraordinary affair?” This monk too haseyes. Pai Chang immediately took up the burden with him saying, “Sitting alone on Ta Hsiung Mountain.” The monk then bowed. Patchrobed monks must be able to discern the meaning before the question. This monk’s bowing was not the same as ordinary bowing: he had to have eyes before he could do this. he didn’t spill all his guts to others. Though they knew each other, they acted like they didn’t. As for “A monk asked Pai Chang, ‘What’s the extraordinary affair?’ Pai Chang said, ‘Sitting alone on Ta Hsiung Mountain.’ The monk bowed; then Pai Chang hit him”: observe how when they let go, they both do so at once, and when they gather back, they wipe away the tracks and obliterate the traces. But say, when the monk bowed right then, what was his meaning? If you say it was good, then why and for what did Pai Chang then hit him? If you say it was no good, what was wrong about his bowing? When you get here, you must be able to to tell right from wrong, distinguish initiate from outsider, and stand on the summits of a thousand peaks, to begin to understand. This monk’s bowing was like grabbing the tiger’s whiskers: he was just contending for a pivital position. Fortunately there’s an eye on Pai Chang’s forehead and a talisman behind his elbow, shining through the four quarters and profoundly discerning oncoming winds. Therefore he immediately hit the monk. If it had been someone else, he wouldn’t have been able to handle the monk. The monk met mind with mind, conveyed intention with intention: that is why he bowed. Nan Ch’uan said, “Last night at midnight, Manjusri and Samanthabhadra came up with views of Buddha and Dharma. I gave them each twenty blows and sentenced them to be hemmed in by twin iron mountains.” At the time Chao Chou came forward and said, “Who should take your beating, Teacher?” Nan Ch’uan said, “Where was my fault?” Chao Chou bowed. Masters of our school do not idly observe how the other takes action. The moment they are in charge of the situation and bring it into play, they are naturally leaping with life. My late teacher Wu Tsu would often say, “It’s like coming to grips in the front lines.” I’m always telling you simply to cut off seeing and hearing, form and sound, all at once, then you’ll be able to hold fast and act with mastery. Only then will you see Pai Chang and that monk.

Bách Trượng Hoài Hải Thiền Sư (720-814/or 818?): Hyakujo Ekai (jap)—Pai-chang-Huai-hai (Wade-Giles Chinese)—Baizhang Huaihai (Pinyin Chinese)—Tên của một vị Thiền sư Trung Hoa vào thế kỷ thứ chín. Ngoài việc chúng ta gặp tên ông trong các thí dụ thứ 26, 53, 70, 71, và 72 của Bích Nham Lục, có một số chi tiết lý thú về vị Thiền sư này trong Truyền Đăng Lục, quyển VI: Bách Trượng Hoài Hải sanh năm 720 sau Tây Lịch, gốc người ở Trường Lạc, Phúc Châu. Ông là một trong những đại thiền sư thời nhà Đường, môn đồ và là người nối Pháp của Mã Tổ Đạo Nhất, thầy của Quy Sơn Linh Hựu và Hoàng Bá Hy Vận—Zen Master Pai-Chang-Huai-Hai, name of a Chinese Zen master in the ninth century. Beside the fact that we encounter his name in examples 26, 53, 70, 71, and 72 of the Pi-Yen-Lu, there is some interesting information on this Zen Master in the Records of the Transmission of the Lamp (Ch’uan-Teng-Lu), Volume VI: He was born in 720 A.D., in the city of Changle in Fuzhou. He was one of the greatest Chinese Zen masters of the T’ang period; a student and dharma successor of Ma-tsu Tao-i, and the master of Kuei-shan Ling-yu and Huang-po Hsi-yun.

  • Ông là vị thiền sư đầu tiên thiết lập một cộng đồng tự viện ở Trung Quốc với những luật lệ quy củ rõ ràng và nhấn mạnh đến việc lao động chân tay trong nhà thiền bao gồm trong quyển Bách Trượng Thanh Quy. Noi theo con đường của Tứ Tổ Đạo Tín, người sáng lập ra cộng đồng độc lập đầu tiên của các thiền sư, Bách Trượng nhấn mạnh đến mối liên hệ giữa phương pháp tọa thiền và công việc hằng ngày trong tự viện hay trên các cánh đồng. Chính Bách Trượng đã đưa ra câu châm ngôn nổi tiếng: “Ngày nào không làm, ngày ấy không ăn,” mà chính ông đã theo đúng cho đến cuối đời. Khác với truyền thống khất thực của các nhà sư Ấn Độ, sống bằng đồ cúng dường của đàn na tín thí, các nhà sư Thiền gần như sống bằng sự lao động của chính mình. Tuy nhiên, truyền thống khất thực vẫn được giữ lại như một phương pháp rèn luyện trí tuệ trong khuôn khổ do Bách trượng lập ra. Ngày nay, tuy văn bản quy định các quy tắc của Bách Trượng đã mất đi, nhưng tinh thần của nó vẫn được áp dụng trong các thiền viện. Chúng ta gặp tên ông trong các thí dụ thứ 26, 53, 70, 71, và 72 của Bích Nham Lục. Các công án nầy cho chúng ta biết được tinh thần của vị đại thiền sư nầy nhiều hơn tất cả những chỉ dẫn về cuộc đời và ảnh hưởng của ông— He was an outstanding Zen master, the first to establish the Zen community in China with precise rules and regulations and the emphasis on manual labor. Following the tradition of Taohsin, the fourth patriarch of Zen who founded the first self-supporting community of Zen monks, Pai-chang stressed the importance of combining meditative practice with daily work in the monastery and in the fields. From Pai-chang comes the wellknown Zen saying: “A day without work, a day without food.” He himself lived in accordance with this principle until the end of his life. It should be noted that until this time Buddhist monks in China had lived, following the Indian monastic tradition, from offerings gathered by monks on begging rounds or brought to the monasteries by lay believers. Now the monks of the Ch’an monasteries gained their livelihoods principally through their own manual labor; however, the tradition of making begging rounds was preserved in Pai-chang’s rules as a form of spiritual training. Although the precise written form in which Pai-chang originally set forth his rules has been lost, these rules and their spirit have been preserved in the Zen tradition and are followed today in Zen monasteries. We encounter his name in examples 26, 53, 70, 71, and 72 of the Pi-Yen-Lu. We learn more about the mind of Pai-chang from these

koans than from all historical data concerning his life and significance.

  • Chẳng hạn như qua thí dụ thứ 26 của Bích Nham Lục: “Một vị Tăng hỏi Bách Trượng: ‘Có gì lạ thường ở đó không?’ Bách Trượng nói: ‘Ngồi đó, một mình, trên núi Đại Hùng (Dai Yuho).’ Vị Tăng cung kính cúi đầu chào. Bách Trượng liền đánh vị Tăng nầy.” Bách Trượng không chỉ được biết đến về những tài năng tổ chức của ông, mà còn về kinh nghiệm lớn về thiền cũng như về trí năng của ông, thể hiện biệt hiệu ‘Hoài Hải’, hay kẻ mang đại dương trong ngực của mình, do vị thầy đầu tiên là tứ tổ Đạo Tín đã đặt cho. Bách Trượng là tác giả của bộ ‘Đốn Ngộ’, trong đó ông nêu rõ rằng học thuyết của Nam Tông phù hợp với thực chất sâu sắc của các kinh điển Đại thừa—Here, for instance, in example 26 of the Pi-Yen-Lu: “A monk asked Pai-chang, ‘What is there that’s extraordinary?’ Pai-chang said, ‘Sitting alone on Mount Ta-Hsiung.’ The monk bowed respectfully. Pai-chang hit him.” Pai-chang is not known for his organizational telent alone, rather primarily for his profound Zen realization and his great wisdom, already indicated by the monastic name he received from his first master, Tao-hsin. The name ‘Huai-hai’ means who bears the ocean of wisdom in his chest. Pai-chang is the author of

‘Sudden Enlightenment’ (Tun-Wu), a fundamental Ch’an text concerning ‘sudden enlightenment’. In this work he shows that the teaching of the Southern school of Ch’an is in accord with the deepest sense of the great Mahayana sutras.

  • Một hôm sư theo hầu Mã Tổ đi dạo, thấy một bầy vịt trời bay qua, Mã Tổ hỏi: “Đó là cái gì?” Sư thưa: “Vịt trời.” Mã Tổ hỏi: “Bay đi đâu?” Sư thưa: “Bay qua.” Mã Tổ bèn nắm lỗ mũi của sư mà vặn mạnh một cái, đau quá sư la thất thanh. Mã Tổ bảo: “Lại nói bay qua đi.” Ngay câu ấy sư tỉnh ngộ. Trở về phòng thị giả. Sư khóc lóc thảm thiết, những người chung phòng nghe được bèn hỏi: Huynh nhớ cha mẹ phải không?” Sư đáp: “Không.” Bị người ta mắng chửi phải không? Sư đáp: “Không.” Vị sư hỏi: Vậy tại sao lại khóc?” Sư đáp: “Lỗ mũi tôi bị Hòa Thượng kéo đau thấu xương.” Vị thị giả kia lại hỏi: “Có nhơn duyên gì không khế hội?” Sư đáp: “Đi hỏi Hòa Thượng đi.” Vị thị giả ấy tới hỏi Hòa Thượng rằng: “Thị giả Hoài Hải có nhơn duyên gì chẳng khế hội, mà đang khóc ở trong phòng, xin Hòa Thượng vì chúng con mà nói.” Mã Tổ

bảo: “Y đã khế hội, các ngươi tự hỏi lấy y.” Vị thị giả lại trở về phòng hỏi: “Hòa Thượng nói huynh đã hội, nên bảo chúng tôi về hỏi huynh.” Sư bèn cười Hả! Hả! Các vị ấy bảo: “Vừa rồi khóc sao bây giờ lại cười.” Sư đáp: “Vừa rồi khóc bây giờ cười cũng vậy thôi.” Các vị ấy mờ mịt không hiểu gì cả. Theo Thiền sư D.T. Suzuki trong Thiền Luận, Tập I, có thể có liên hệ nào không giữa các câu chuyện rửa chén của chú tiểu, thổi tắt ngọn đèn và vặn tréo lổ mũi trên? Ta phải nói như Vân Môn Văn Yển: “Nếu không có gì hết, thì làm sao những người ấy đạt được lý Thiền? Nếu có thì mối thân thuộc ra sao? Cái ngộ ấy là gì? Cái nhãn quan mới thấy là gì? Hễ sự quan sát của ta còn bị giới hạn trong những điều kiện của trước thời mở con mắt đạo, có lẽ ta không bao giờ thấy được đâu là chỗ rốt ráo kết thành. Đó toàn là việc diễn ra hằng ngày, và nếu khách quan Thiền nằm ở chỗ thường nhật ấy thì mỗi chúng ta đều là Thiền sư hết mà không biết. Điều nầy rất đúng bởi lẽ không có cái gì giả tạo được xây dựng trong đạo Thiền, nhưng phải có cái vặn mũi, có cây đèn bị thổi tắt, thì mắt chúng ta mới lột hết vảy cá, và ta mới chú ý đến bên trong, và hướng đến sự động dụng của tâm thức; và chính tại đó tiềm ẩn mối liên hệ mật thiết giữa sự thổi tắt đèn hay cái vặn mũi cũng như vô số những việc khác dệt thành tấm màn thế sự của loài người chúng ta—One day PaiZhang accompanied Ma-Tzu on a walk. A flock of wild ducks flew past them. Ma-Tzu said: “What’s that?” Pai-Zhang said: “Wild ducks.” Ma-Tzu said: “Where’d they go?” Pai-Zhang said: “They flew away.” Ma-Tzu then twisted Pai-Zhang’s nose so hard that he cried out. Ma-Tzu said: “So you say they’ve flown away!” Upon hearing these words, PaiZhang attained enlightenment. Returning to the attendant’s room, Pai-Zhang cried out loudly. One of the other attendants asked PaiZhang: “Are you homesick?” Pai Zhang said: “No.” The attendant said: “Did someone curse at you?” Pai-Zhang said: “No.” The attendant said: “Then why are you crying?” Pai-Zhang said: “Master Ma twisted my nose so hard that the pain was unbearable.” The attendant said: “What did you do that offend him? Pai-Zhang said: “You go ask him.” The attendant went to Ma-Tzu and said: “What did the attendant Huai-Hai do to offend you? He is in his room crying. Please tell me.” The great teacher said: “He himself knows. Go ask him. The attendant returned to Pai-Zhang’s hut and said again: “The master says that you already know, so I should come here and ask you.” Thereupon Pai-Zhang laughed out loud. The attendant said: “A moment ago you were crying, so why are you laughing now?” PaiZhang said: “My crying moment ago is the same as my laughing now.” The attendant was bewildered by Pai-Zhang’s behavior. Is there any connection in any possible way between the washing of the dishes and the blowing out a candle and the twisting of the nose? We must say with Yun-Men: “If there is none, how could they all come to the realization of the truth of Zen? If there is, what inner relationship is there? What is this enlightenment? What new point of viewing things is this? So long as our observation is limited to those conditions which preceded the opening of a disciple’s eye we cannot perhaps fully comprehend where lies the ultimate issue. They are matters of everyday occurrence, and if Zen lies objectively among them, every one of us is a master before we are told of it. This is partly true inasmuch as there is nothing artificially constructed in Zen, but if the nose is to be really twisted or the candle blown out in order to take scale off the eye, our attention must be directed inwardly to the working of our minds, and it will be there where we are flying geese and the washed dishes and the blown-out candle and any other happenings that weave out infinitely variegated patterns of human life.

  • Hôm sau Mã Tổ vừa lên tòa, chúng nhóm họp xong. Sư bước ra cuốn chiếu, Mã Tổ xuống tòa, sư theo sau đến phương trượng. Mã Tổ hỏi: “Ta chưa nói câu nào, tại sao ngươi cuốn chiếu?” Sư thưa: Hôm qua bị Hòa Thượng kéo chót mũi đau.” Mã Tổ bảo: “Hôm qua ngươi để tâm chỗ nào?” Sư nói: “Chót mũi ngày nay lại chẳng đau.” Mã Tổ bảo: “Ngươi hiểu sâu

việc hôm qua.” Sư làm lễ rồi lui ra—The next day Ma-Tzu went into the hall to address the monks just when the monks had finished assembling, bai-Zhang rolled up his siting mat. Ma-Tzu got down from his chair and BaiZhang followed him to the abot’s room. MaTzu said: “Just now I hadn’t said a word. Why did you roll up your sitting mat?” Bai-Zhang said: “Yesterday the master painfully twisted my nose.” Ma-Tzu said: “Is there anything special about yesterday that you’ve noticed?” Bai-Zhang said: “Today, my nose doesn’t hurt anymore.” Ma-Tzu said: “Then you really understand what happened yesterday.” BaiZhang then bow and went out.

  • Vào một dịp khác, Sư đứng hầu Mã Tổ, thấy cây phất tử ở góc giường, Sư bèn hỏi: “Tức đây dùng, lìa đây dùng?” Mã Tổ nói: “Trong tương lai nếu ông đi đến chỗ khác thì làm sao mà dạy người?” Bách Trượng cầm cây phất trượng dựng đứng lên. Mã Tổ nói: “Tức đây dùng, lìa đây dùng?” Bách Trượng để cây phất tử lại trên giá. Bất thình lình Mã Tổ nạt một tiếng lớn đến nỗi Bách Trượng bị điếc đến ba ngày—On another occasion Pai-chang was in attendance to Master Ma-tsu. He saw the abbot’s whisk sitting on its stand and said, “If someone uses this, can they also not use it?” Ma-tsu said, “In the future if you travel to some other place, how will you help people?” Pai-chang picked up the whisk and held it upright. Ma-tsu said, “If you use it this way, what other way can it be used?” Pai-chang placed the whisk back on its stand. Ma-tsu suddenly let out and earth-shaking shout so loud that Pai-chang was deaf for three days.
  • Một hôm, sư thượng đường thuyết pháp. Nhưng sư chỉ bước tới vài bước, đứng yên, rồi mở rộng vòng tay ra, rồi trở về phương trượng. Sau đó đệ tử vào hỏi thì ngài trả lời: “Đó, đại nghĩa của pháp Phật chỉ là vậy.”—One day he entered the hall to preach the BuddhaDharma. But he merely walked forward a few steps, stood still, and opened his arms, then returned to his room. His disciples came to ask for the reason, he said: “That’s all of the great principle of Buddhism.”
  • Trong số những đại đệ tử của Bách Trượng có Hoàng Bá và Qui Sơn. Một hôm Bách Trượng bảo Tăng chúng: “Phật pháp không phải là việc nhỏ, lão Tăng xưa bị Mã Tổ nạt đến ba ngày lổ tai còn điếc.” Hoàng Bá nghe nói bất giác le lưỡi. Bách trượng bảo: “Con về sau nầy thừa kế Mã Tổ chăng?” Hoàng Bá thưa: “Không. Nay nhơn Hòa Thượng nhắc lại, con được thấy Mã Tổ đại cơ, đại dụng, nhưng vẫn không biết Mã Tổ. Nếu con thừa kế Mã Tổ, về sau mất hết con cháu của con.” Bách Trượng bảo: “Đúng thế, đúng thế, thấy bằng với thầy là kém thầy nửa đức, thấy vượt hơn thầy mới kham truyền trao. Con hẳn có cái thấy vượt hơn thầy.” Hoàng Bá liền lễ bái— Foremost among them Bai-Zhang’s students were Huang-Bo and Kui-Shan. One day BaiZhang said to the congregation: “The Buddhadharma is not a trifling matter. Formerly great Master Ma-Tzu shouted so loudly that I was deaf for three days.” When Huang-Bo heard this, he stuck out his tongue. Bai-Zhang said to him: “In the future, will you carry on Ma-Tzu’s Dharma?” Huang-Bo said: “There’s no way I could do so. Today, because of what you’ve said, I’ve seen MaTzu’s great function, but I still haven’t glimpsed Ma-Tzu. If I carry on Ma-Tzu’s teaching by half, then our descendants will be cut off.” Bai-Zhang said: “Just so! Just so! The one who is his teacher’s equal has diminished his teacher by half. Only a student who surpasses his teacher can transmit his teacher’s teaching. So how does the student surpass the teacher?” Huang-Bo then bowed.
  • Tóm lại, sự am hiểu tuyệt vời về kinh điển cho thấy rằng phái ‘Đốn Ngộ’ (đại giác bất thần hoàn toàn hay Nam Tông) không coi thường việc nghiên cứu kinh điển một cách sâu sắc, dù rằng trường phái nầy khẳng định tính ưu việt của sự thể nghiệm đại giác đối với mọi lý thuyết. Đây cũng là đoạn mở đầu trước tác của Bách Trượng, được soạn dưới hình thức đối thoại: “Hỏi: ‘Chúng ta phải làm bài tập nào để đạt tới giải thoát?’ Đáp: ‘Giải thoát chỉ có thể đạt được bằng đại giác bất thần.’ Hỏi: ‘Đại giác bất thần nghĩa là gì?’ Đáp: ‘Bất thần có nghĩa là người ta thoát khỏi

tất cả những sự mù quáng trong khoảnh khắc. Đại giác nghĩa là hiểu rằng đại giác không phải là điều mà người ta có thể đạt tới được.’ Hỏi: ‘Phải bắt đầu bài tập nầy từ đâu?’ Đáp: ‘Chính là từ gốc rễ.’ Hỏi: ‘Thế thì gốc rễ là những gì?’ Đáp: ‘Tinh thần (ý thức) là gốc rễ.'”—In short, it is evident that Pai-chang was well versed in the sutras. Thus even the school of sudden enlightenment or the Southern School, though the primacy of the enlightenment experience over any ‘theory’ was stressed, great importance was still placed on the study of the sutras. This text, composed by Pai-chang in dialogue form, begins with the following sentences: “Question: ‘What practice must we practice in order to attain liberation?’ Answer: ‘Liberation can only be realized through sudden enlightenment.’ Question: ‘What is sudden enlightenment?’ Answer: ‘Sudden means to liberate oneself in an instant from all delusive thoughts. Enlightenment means the insight that enlightenment is nothing that could be attained.’ Question: ‘Where should we begin with this practice?’ Answer: ‘At the root.’ Question: ‘And what is the root?’ Answer: ‘The mind (consciousness) is the

root.'”

  • Thiền sư Bách Trượng thị tịch ngày mười bảy tháng giêng năm 814. Sau khi thị tịch sư được vua ban hiệu “Đại Trí Thiền Sư: và tháp hiệu “Đại Bảo Thắng Luân.”—The master died on the seventeenth day of the first month in 814. He received the posthumous title “Zen Master Great Wisdom.” His stupa was named “Great Treasure Victorious Wheel.”

Bách Trượng Hoài Hải Thiền Sư Ngữ Lục: Records of the Words of Zen Master Pai-ChangHuai-Hai—See Bách Trượng Hoài Hải Thiền Sư.

Bách Trượng Niết Bàn Thiền Sư: Hyakujo (jap)—Zen master Pai-chang Nieh-pan—See

Bách Trượng Duy Chánh Thiền Sư.

Bách Trượng Sơn: Núi Bách Trượng, tọa lạc

trong tỉnh Giang Tây, Trung Hoa—Pai-chang Mountain, located in Jiang-hsi Province, China.

Bách Trượng Thanh Quy: Baizgangqinggui (chi)—Hyakujo Shingi (jap)—Tên của một tác phẩm được ngài Bách Trượng viết về quy luật (thanh quy) của Tăng chúng trong thiền viện. Quy luật chính xác mà ngài Bách Trượng đã nhấn mạnh về lao tác cho người tu tập thiền quán trong thiền viện. Tác phẩm do thiền sư Đức Huy soạn lại, trong đó ghi rõ các quy tắc được đề ra trong văn bản Bách Trượng Thanh Quy đến nay vẫn còn hiệu lực—Name of a book written by Paichang on regulations for monks in a Zen monastery. Baizhang’s precise rules and regulations and the emphasis on manual labor for Zen practitioners. It was redacted by the monk Te-hui, in which the regulations recorded in this work are considered authoritative to the present day.

Bách Trượng Vấn Vân Nham: Pai Chang Questions Yun Yen—Theo thí dụ thứ 72 của Bích Nham Lục. Bách Trượng lại hỏi Vân Nham: “Dẹp hết cổ họng môi mép làm sao nói?” Vân Nham thưa: “Hòa Thượng có hay chưa?” Bách Trượng nói: “Mất hết con cháu của ta.” Theo Viên Ngộ trong Bích Nham Lục, Vân Nham ở chỗ Bách Trượng hai mươi năm làm thị giả, sau theo Đạo Ngộ đến Dược Sơn. Dược Sơn hỏi: “Ông ở trong hội Bách Trượng làm việc gì?” Vân Nham thưa: “Vượt khỏi sanh tử.” Dược Sơn hỏi: “Lại vượt khỏi chưa?” Vân Nham nói: “Y không sanh tử.” Dược Sơn nói: “Hai mươi năm ở chỗ Bách Trượng mà tập khí chưa trừ.” Vân Nham từ giã ra đi yết kiến Nam Tuyền, sau trở lại Dược Sơn mới khế ngộ. Xem cổ nhân hai mươi năm tham cứu vẫn tự nửa xanh nửa vàng, dính da kẹt xương, không thể chóng thoát, phải ắt là phải, chỉ trước chẳng kết thôn, sau không tạo điếm. Đâu chẳng thấy nói: “Lời chẳng rời hang ổ, đâu hay thoát buộc ràng, cửa hang mây trắng phủ, biết bao người quên nguồn.” Tông Tào Động gọi là xúc phá. Cho nên nói: “Đạp toan sơn trượng lầu phụng hoàng, thời nhơn hiềm xúc thời nay hiệu.” Vì thế nói rừng gai góc phải vượt qua mới được. Nếu chẳng vượt qua trước sau đều mắc kẹt, chặt chẳng đứt. Vừa rồi nói trước chẳng kế thôn, sau không tạo điếm, Vân Nham chỉ quản đi kiểm điểm người khác. Bách

Trượng thấy Sư như thế, một lúc lôi đánh chết— According to example 72 of the Pi-Yen-Lu, Pai Chang also asked Yun Men, “With your throat, mouth, and lips shut, how will you speak?” Yun Yen said, “Teacher, do you have any way to speak or not?” Pai Chang said, “I have lost my descendants.” According to Yuan-Wu in the PiYen-Lu, Yun Yen was an attendant for twenty years at Pai Chang. Later he went along with Tao Wu to Yao Shan. Yao Shan asked him, “When you were in Pai Chang’s congregation, what was your purpose?” Yun Yen said, “To escape birth and death.” Yao Shan said, “Have you escaped yet or not?” Yun Yen said, “There’s no birth and death for this one.” Yao Shan said, “Twenty years at Pai Chang and your force of habit still hasn’t been cleared away yet.” Yun Yen took his leave and went to see Nan Ch’uan. Later he returned to Yao Shan and at last understood and was enlightened. Look how the ancient man Yun Yen studied and investigated for twenty years and still was half green and half yellow (unripe). He stuck to his skin and clung to his bones, and couldn’t break through. He was indeed this way; in fact, ahead he didn’t reach the village, behind he didn’t get to the shop. Haven’t you heard it said: “If your words do not leave the old clichés, how will you be able to get out of what covers and binds you? White clouds lie athwart the valley mouth, making so many people miss the source.” In the Ts’ao Tung tradition this is called “transgression.” Thus they say, “Throw open the well-guarded phoenix tower but avoid transgressing (the prohibition against saying) the present emperor’s name.” Hence it is said, “To attain it is first necessary to pass beyond the forest of brambles. If you do not pass beyond it, then from beginning to end you will get stuck in subtleties without being able to cut them off.” As I just said, “Ahead he didn’t reach his village, behind he didn’t get to his shop.” Yun Yen just went to test the other man’s depths. When Pai Chang saw him acting like this, he immediately held him and struck him dead.

Bách Tụng Thi Tập: Một trăm bài tụng của Ấn Giáo, của nhiều tác giả người Ấn, viết bằng tiếng Phạn, nói về luyến ái và cách xử thế ở đời—One hundred Hindu stanzas, from a variety of authors, written in Sanskrit. The content of the book is about the attachment of love and the way to behave in life.

Bách Tứ Thập Bát Bất Cộng Pháp: Một trăm bốn mươi tám pháp bất cộng của Đức Phật (gồm 32 tướng, 80 chủng hảo hay vẻ đẹp phụ, 4 tịnh, 10 lực, 4 vô úy, 3 niệm xứ, 3 bất hộ, Đại Bi, thường bất vong, đoạn phiền não tập, và 4 nhất thiết hạnh tịnh)—One hundred forty special, or uncommon, characteristics of a Buddha. Bách Tự Luận: Sataksara-sastra (skt)—Bá Luận—Treatise of one hundred words.

Bách Tức Bách Sinh: Một trăm vị niệm Phật là trăm vị được cứu độ—Of one hundred who call on the Buddha, 100 will be saved.

Bách Vạn Biến Niệm:Một triệu niệm—Repeat (v) Amitabha’s name a million times—Bách vạn biến, niệm hồng danh Phật A Di Đà một triệu lần không ngưng nghỉ trong bảy ngày để cầu vãng sanh Cực lạc—To ensure rebirth in Amitabha’s paradise; for a seven days’ unbroken repetition Paradise may be gained.

Bách Vạn Biến Niệm Phật:Một triệu niệm— Repeat (v) Amitabha’s name a million times—See Bách Vạn Biến Niệm.

Bách Văn Bất Như Nhất Kiến: Trăm nghe không bằng một thấy—Seeing is believing—One glance is worth a thousand words—Hear about a thing a hundred times is not equal a single look at it.

Bách Vị: All the good tastes or flavours. Bách Vị Ẩm Thực: All the good tastes or flavours in food.

Bạch: Avadata (skt)—Làm cho rõ ràng—To make clear.

Bạch Ẩn Huệ Hạc Thiền Sư (1686-1769): Zen master Hakuin—Bạch Ẩn Huệ Hạc sanh năm

1686. Ông là một trong những vị thiền sư nhiều tài năng và sáng chói nhất của Nhật Bản. Hồi đang học Thiền với thiền sư Chánh Thọ Lão Ông, Lão Ông đã dùng những thủ đoạn hầu như quá tàn nhẫn. Tuy nhiên, đó là cách mà người xưa dùng để biến một thiền sinh bình thường thành một Tổ Sư Thiền vĩ đại. Trong những trường hợp này, Bạch Ẩn đã đặt lòng tin tuyệt đối ở chân lý Thiền, và ở sự triệt ngộ của thầy mình. Vì Sư hiểu rằng nếu thiếu lòng tin ấy tức là thiếu luôn lòng tin ở khả năng tự tri tự giác của chính mình. Hơn thế nữa, Sư luôn nhớ rằng trong sự tu tập Thiền, sức nội quán chiếu diệu phải đi đôi với đức độ khiêm hạ sâu dày và một cái tâm nhẫn nhục cao độ. Ngày nay, Bạch Ẩn được nhìn nhận là một trong những vị thiền sư vĩ đại nhất trong lịch sử Thiền tông Nhật Bản. Theo nhiều học giả Nhật Bản, phải đến năm trăm năm mới có một nhân vật như thiền sư Bạch Ẩn xuất hiện. Hầu như chỉ với công sức của bản thân mình, thiền sư Bạch Ẩn đã làm sống lại dòng Thiền Lâm Tế ở Nhật Bản bằng cách phục hồi kỹ luật tu tập đúng theo thanh quy tự viện, tái xác lập vai trò trọng tâm của kinh nghiệm giác ngộ trong đời sống Thiền. Bạch Ẩn thường được gọi là cha đẻ của phái Lâm Tế thời bấy giờ, lý do chỉ một tay ông đã làm sống lại giáo lý Lâm Tế đã tàn lụi dần, qua sự hệ thống hóa các công án của ông. Ông đã hệ thống hóa việc đào tạo bằng công án và khẳng định lại tầm quan trọng của thiền tọa tĩnh tâm, là điều ngày càng bị xem nhẹ để nhường chỗ cho sự nghiên cứu các văn bản thiền theo lối trí tuệ. Các bản văn chính thức của Bạch Ẩn đã được tập hợp lại thành tám bộ tác phẩm đồ sộ. Trong số đó, tác phẩm nổi tiếng và được trân trọng nhất là một bài thơ súc tích được gọi là “Tọa Thiền Ca.” Bài thơ hiện nay vẫn còn được tụng thường xuyên tại các thiền viện thuộc dòng Lâm Tế tại Nhật Bản, và bây giờ âm vang của nó cũng có thể được nghe thấy tại các trung tâm Thiền ở vùng Bắc Mỹ. Trong thánh ca nổi tiếng về thiền tọa tĩnh tâm của mình, Bạch Ẩn ca ngợi ưu điểm căn bản của tọa thiền để đạt tới đại giác, mục đích của con đường Thiền—Bai-In (Hakuin Ekaku) was born in 1686. He was one of the most versatile and brilliant of the Japanese Zen masters. When Hakuin was studying Zen under Shoju, Shoju always utilized methods that seemed inhuman. However, that’s the way the ancients used to turn an ordinary student to a great Zen patriarch. Zen masters In these cases, however, Hakuin knew that there must be absolutely faith in the truth of Zen and in the master’s perfect understanding of it. He knew that the lack of this faith would also mean the same in one’s own spiritual possibilities. Furthermore, he always kept in his mind that in the study of Zen the power of an illuminating insight must go hand in hand with a deep sense of humility and meekness of mind. Hakuin Ekaku is widely regarded as one of the greatest masters in the history of Japanese Zen. As the Japanese put it, someone of Hakuin’s stature appears onle once every five hundred years. Hakuin almost singlehandedly revived Rinzai Zen in Japan by restoring disciplined monasticism and reiterating the centrality of the enlightenment experience. Hakuin is often called the father of Linn-Chih Sect (Rinzai) at that time by reason of the fact that he single-handedly revitalized the Linn-Chih’s teachings, which had been steadily declining, through his systematization of the koans. He systematized koan training and emphasized once again the importance of zazen, the practice of which had been more and more eclipsed by intellectual preoccupation with Zen writings. Hakuin’s formal Zen writings fill eight huge volumes. Yet one of his best-known and mostloved works is a pithy poem called Zazen wasan, or “Chant in Praise of Zazen.” This verse is still chanted regularly in Japanese Rinzai monasteries, and now it can be heard in North American Zen centers as well. In his famous praise of Zazen (Hakuin Zenji zazen-wasan), he extolls the importance of “sitting in meditation” for the actualization of enlightenment, which is the goal of the way of Zen.

  • Bạch Ẩn Huệ Hạc, một đại thiền sư có công phục hưng tông Thiền Lâm Tế Nhật Bản vào thế kỷ thứ 18, ông đã từng theo học thiền với nhiều bậc thầy. Tuy nhiên, chính thiền sư Đạo Cảnh là người đã mở mắt cho ông về cả chiều sâu lẫn chiều rộng của chân Thiền. Đạo Cảnh thường nói: “Thiền tông của chúng ta đã bị suy đồi từ thời nhà Tống (960-1278) và tàn lụn vào thời nhà Minh (1368-1644). Mặc dầu vài hiệu quả còn sót lại đã được truyền sang Nhật Bản, nhưng nó mờ như sao ban ngày. Trạng thái của vụ việc thật là đáng thương.” Đạo Cảnh cũng nói: “Ngày nay người học thiền chỉ là những kẻ bắt chước học theo những tấm bảng chỉ đường mà thôi, với sự chỉ dạy của những thiền sư không có cái nhìn giải thoát. Những người như vậy không mơ ngay cả việc được truyền thụ bởi những người không giác ngộ.” Về sau này, sau khi giác ngộ, Bạch Ẩn Huệ Hạc dạy chúng: “Khi ta nghe lời chỉ trích của lão Shoju, ta tự hỏi tại sao ông ta lại phẫn nộ về những trung tâm Thiền vào thời đó như vậy, với sự sản sinh của nhiều tự viện và sự trổi dậy của nhiều ông thầy nổi tiếng. Về sau này, khi ta hành cước quanh thế giới thiền và thấy một số đáng kể thiền sư, mà ta không gặp được dầu chỉ một vị thiền sư chân chính với trí huệ lớn. Chỉ đến lúc đó ta mới nhận thức được cái cách của lão sư Đạo Cảnh thật là quá cao hơn cách của nhiều trung tâm thiền khác.”—Hakuin, the great Zen master who revived the Rinzai sect in the eighteenth century, studied with many teachers. It was Shoju Rojin, however, who opened his eyes to the depth and breadth of real Zen. Shoju Rojin used to say, “This Zen school of ours declined in the Sung dynasty (960-1278) and died out in the Ming dynasty (1368-1644). Although some of the residual efficacy was transmitted to Japan, but it is as faint as stars in daytime. This state of affairs is truly lamentable.” Shoju also said, “Everything nowadays there are only lifeless imitators studying signposts, ‘Zen teachers’ without liberated vision. Such people haven’t even dreamed of what is transmitted by the enlightened.” Later on, after his own enlightenment, Hakuin would tell people, “When I heard old Shoju’s criticisms, I wondered why he was so indignant about the Zen centers of the time, with the proliferation of monasteries and the emergence of famous teachers. Later, when I traveled around the Zen world and saw a number of ‘masters,’ I did not run into a single true master with great insight. Only then did I realize how the Way of old Shoju was far superior to those of other

Zen centers.”

  • Thiền sư Bạch Ẩn thường kể một câu chuyện xảy ra vào thời Sư còn là một thiền sinh trẻ, trên đường hành cước tìm kiếm danh sư để tham cứu thiền đạo. Lúc đó Sư chuyên tâm thực hành pháp không quán, thanh lọc vọng tưởng và kiến chấp, chuẩn bị cho giai đoạn biến chuyển tâm thức. Có lần, Bạch Ẩn cùng đi hành cước với hai thiền sinh khác. Một trong số hai người yêu cầu Bạch Ẩn mang giúp hành lý cho mình vì lý do bệnh tật. Bạch Ẩn vui vẻ nhận lời, gạt bỏ gánh nặng trên lưng ra khỏi tâm trí và tập trung sâu hơn vào việc thiền quán. Thấy Bạch Ẩn là người trẻ tuổi và nhiệt tình, vị Tăng thứ hai cũng viện cớ đau yếu và nhờ Bạch Ẩn mang hộ hành lý cho mình. Với tinh thần hỷ xả của một Phật tử, Bạch Ẩn vui vẻ vác thêm một gánh nữa lên vai mình, tiếp tục bước đi và dồn hết tâm trí vào việc thiền quán. Cuối cùng, cả ba đi đến một bến đò. Lúc này Bạch Ẩn đã hoàn toàn kiệt sức, nên ngay khi vừa lên đò xong là

nằm lăn ra ngủ say. Khi thức dậy, Bạch Ẩn thật sự bất ngờ. Đò đã đến nơi và cập bến tự lúc nào không biết. Mùi tanh hôi lan khắp con đò. Bạch Ẩn nhìn quanh quất và phát hiện ra mọi người đều bị ói mửa, mặt mày tái xanh. Ai cũng nhìn Bạch Ẩn một cách ngạc nhiên. Thì ra, chuyến đò vừa gặp phải một cơn gió lớn khi ra đến giữa sông. Gió to sóng lớn đã khiến cho chiếc đò bị lắc lư dữ dội, làm cho mọi người kể cả người trạo phu đều bị say sóng nặng. Chỉ trừ một mình Bạch Ẩn, do đã ngủ quá say vì kiệt sức, không bị ảnh hưởng gì từ cơn sóng gió vừa rồi. Sau này, mỗi khi nhắc đến sự kiện ấy, thiền sư Bạch Ẩn thường vui vẻ cho rằng lần đó Sư đã nhận được một phần thưởng xứng đáng—Zen master Hakuin used to tell a story regarding the period when he was a young student, traveling around to see Zen teachers and meditating on emptiness, by which Zen followers seek to clear their minds of subjective imaginings in preparation for perception of objective truth. On one occasion, Hakuin was traveling in the company of two other Buddhist monks. One of them asked Hakuin to carry his baggage for him, pleading weakness and fatigue from illness. The young Hakuin readily assented, taking his mind off the extra load by plunging even more deeply into his contemplation of emptiness. Observing Hakuin’s youth and zeal, the other monk decided to take a load off his own shoulders as well. Claiming illness like the first, he asked Hakuin to carry his baggage too. In the spirit of Buddhist service, Hakuin took up the third load and continued on his way, immersing himself in emptiness more intently than ever. Eventually the three monks reached a point where they could go on only by boat, so they boarded a ferry at the nearest landing. Completely exhausted by now, Hakuin collapsed into a heap and fell sound asleep. When he awoke, the young seeker was momentarily disoriented. It appeared that they had just docked, but he had no memory of the trip. Noticing a foul odor, he looked around and saw that everyone was green in the face and covered with vomit. And they were looking at him very strangely.

It turned out that the ferry boat had run into a squall in the course of its passage and had been tossed about so violently that everyone, including the boatman himself, had become uncontrollably seasick. Only the young Zen student Hakuin, so exhausted from carrying the baggage of his two companions that he slept right through the storm, had not been affected at all. This, related Zen master Hakuin, was how he had first realized through his own experience that the principle that hidden virtue is manifestly rewarded is actually true.

  • Có một thương gia rất kính trọng đức độ của thiền sư Bạch Ẩn. Ông ta thường đến thăm viếng và cúng dường quà cáp, tiền bạc, phẩm vật và thực phẩm cho Bạch Ẩn. Về sau này, con gái của vị thương gia ấy có quan hệ tình dục với môt gia nhân rồi hạ sanh một đứa bé. Khi bị tra vấn, cô gái quá sợ nên đã khai là đã có thai với Bạch Ẩn. Vị thương gia nổi cơn thịnh nộ: “Nghĩ rằng ta đã cúng dường cho tên ác Tăng này trong suốt mười năm trời!” Thế rồi ông giằng lấy đứa bé, mang đến ném vào lòng của Bạch Ẩn và mắng chửi thậm tệ rồi bỏ đi. Bạch Ẩn không tranh cãi gì cả, chỉ lẳng lặng chăm sóc đứa bé ấy như thể nó là con mình vậy. Thấy thế, mọi người đều tin rằng Bạch Ẩn chính là cha ruột của đứa bé. Vào một ngày mùa đông, Bạch Ẩn bồng đứa bé ra ngoài khất thực từ nhà này qua nhà khác dưới trời đầy tuyết. Từ trong nhà, người con gái của vị thương gia nhìn thấy cảnh tượng này, cảm thấy tràn đầy hối hận trong lòng, cô chạy đến gặp cha mình khóc lóc và thú nhận tất cả sự thật. Nghe xong vị thương gia hết sức kinh ngạc. Ông chạy nhanh ra ngoài, đến phủ phục dưới chân Bạch Ẩn, cầu xin ngài tha thứ cho lỗi lầm của mình. Bạch Ẩn chỉ mỉm cười và nói: “Đứa bé có người cha khác ư?”—There was a certain merchant who was deeply impressed by the lofty virtue of Zen master Hakuin. He used to present the monk with gifts of money and goods from time to time. Later, the daughter of the merchant had a love affair with a family servant, resulting in the birth of a child. When the irate merchant demanded an explanation, his daughter said

she had been impregnated by the monk Hakuin. The merchant was furious: “To think that I gave alms to an evil monk like that for ten years!” Then, the merchant picked up the baby in his arms and took it right over to Hakuin. Laying the baby in the Zen master’s lap, the merchant gave him a tough-lashing and left in a huff. Hakuin didn’t argue. He began to take care of the baby as if it were his own. People saw him also believed he had fathered the child. One winter day, when Hakuin was out begging for alms from house to house in the falling snow, carrying the infant with him as he went, the merchant’s daughter saw them and was filled with remorse. In tears, she went to her father and confessed the truth. After hearing the truth, the merchant was totally at a loss. He rushed over to throw himself to the ground at the feet of Zen master Hakuin. begging for forgiveness. Hakuin simply smiled and said, “The child has another father?”

  • Một vị võ sĩ dưới trướng một lãnh chúa trong vùng đến tham vấn với thiền sư Bạch Ẩn. Sư hỏi: “Ông đến vì chuyện gì?” Vị võ sĩ thưa: “Từ trước đến nay, con thường nghe giảng về Phật pháp. Giờ đây, con đang mắc phải tâm bệnh cũng vì Phật pháp.” Bạch Ẩn hỏi: “Đó là tâm bệnh gì?” Võ sĩ thưa: “Mới đầu, con có duyên gặp và tham cứu với một vị thiền sư, người dạy cho con cách tham thiền và tìm hiểu về bản chất của tâm. Sau đó, con gặp một vị cao tăng khác và được học giới luật cũng như các bí pháp của Chân Ngôn tông. Có một lần, trong khi con đang hành trì quán tưởng pháp ấn, bất thình lình các cảnh a tỳ địa ngục hiện lên trong đầu con. Khi con cố gạt chúng ra khỏi tâm bằng cách quán tâm vô thường, những cảnh khủng khiếp ấy biến mất cùng với các hình tượng pháp ấn. Kể từ đó về sau, con luôn sống trong tâm trạng bất an. Đêm ngủ thường có ác mộng, thức dậy lại cảm thấy hoang mang lo sợ.” Bạch Ẩn chắc lưỡi nói: “Ông có biết nỗi sợ hãi địa ngục ấy là gì không?” Vị võ sĩ nói: “Chính là hư vô! Thăm thẳm và mờ mịt! Con đã mắc phải tâm bệnh ấy!” Bạch Ẩn bật dậy, lớn tiếng quát thẳng vô mặt của vị võ sĩ, nói: “Đồ hèn! Võ sĩ

đạo là hạng dũng sĩ trung thành với chủ nhân, không sợ cảnh dầu sôi lửa bỏng, không ngại núi giáo rừng gươm. Cớ sao ông lại sợ cảnh hư không kia chứ? Hãy đi vào các tầng địa ngục ấy ngay lập tức! Hãy căng mắt ra mà nhìn kỹ lại chúng!” Vị võ sĩ than phiền: “Ôi! Sao một vị thiền sư lại có thể xúi người khác chui vào địa ngục như vậy chứ?” Bạch Ẩn phá lên cười, nói: “Ta vẫn luôn vào đó đấy thôi! Số địa ngục mà ta rơi vào lên đến tám vạn bốn ngàn tầng. Nhìn xem chỗ nào mà ta không rơi vào?” Cuối cùng vị võ sĩ vô cùng vui mừng khi nhận ra được yếu chỉ của lời chỉ dạy này—A samurai of the provincial barony came to call on Zen master Hakuin. The master asked the samurai, “What have you done?” The samurai said, “I have always liked to listen to Buddhist teaching. I have become infected with an illness because of this.” Hakuin asked, “What is your illness like?” The samurai said, “I first met a Zen teacher and searched the principle of the essence of mind. Then I met a Shingon Discipline teacher and studied the esoteric canon. Developing doubt and confusion about these two schools, while in the midst of visualization of the letter A, there suddenly arose in my mind images of hells. When I tried to stop them by means of the principle of the essence of mind, the two visions clashed, so my mind has become disturbed. In sleep I have nightmare, and when awake, I only toil at conceptual thinking.” Hakuin clucked his tongue and said, “Do you know what it is that fears hell?” The samurai said, “The view of emptiness! I have caught this illness.” Hakuin shouted at the samurai again and again, shouting him away, saying, “You little knave! A samurai is someone who is loyal to his lord that he does not flee floods or fires, and he exposes his body to spears and swords without quivering or blinking an eye. How can you fear the view of emptiness? Right now, fall into earth of those hells, and let’s check them out!” The samurai complained, “How can a teacher have people fall into an evil state?” Hakuin laughed and said, “The hells I fall into are eighty-four thousand in number! Look, there’s nowhere I don’t fall!” Finally seeing the master’s point, the samurai was overjoyed.

  • Một trong những vị lãnh chúa ở miền Tây nước Nhật tìm đến thiền sư Bạch Ẩn để thỉnh giáo. Ngay lúc đó, có một người dân làng đến cúng dường thiền sư một dĩa bánh hạt kê, Sư bèn lấy bánh mời vị lãnh chúa. Vì đã quen với những thứ cao lương mỹ vị nên vị lãnh chúa không thể nào ăn được thứ bánh dân dã này. Thấy thế, Bạch Ẩn nói: “Ngài hãy cố mà ăn đi! Qua đó, ngài sẽ nếm được mùi vị khổ cực của dân dã. Phật pháp mà ta truyền dạy cho ngài cũng chỉ có vậy thôi!”—One of the great barons of western Japan went to visit the Zen master Hakuin and ask for some instruction. At that time, a villager had brought some millet cakes for the Zen master. Hakuin immediately took the cakes and offered them to the baron. Accustomed to the rich food, the baron had never eaten millet. He could not manage to eat the peasant woman’s simple cakes. Observing this, Hakuin scolded the baron, saying, “Force yourself to eat it; you will get to know the misery of the common folk. My teaching is nothing but this.”
  • Trong chúng của Bạch Ẩn, có một vị Tăng điên rồ, tự cho mình đã đạt được đại giác về tự tánh Phật. Ông Tăng này xé hết kinh điển để làm giấy đi cầu. Những vị Tăng khác đã khuyên lơn vị Tăng này nhưng ông không nghe, mà còn cao ngạo đáp ứng lại một cách gay gắt rằng: “Có gì sai trái khi dùng giấy trong kinh để chùi đích Phật chứ?” Có người báo cho Bạch Ẩn biết việc này. Bạch Ẩn liền đến hỏi vị Tăng: “Chúng Tăng nói ông dùng kinh điển làm giấy đi cầu, có phải vậy không?” Vị Tăng đáp, “Phải, vì chính tôi là Phật. Có cái gì sai trái trong việc lấy kinh điển làm giấy chùi đích Phật chứ?” Bạch Ẩn liền nói: “Ông sai rồi! Tại sao lại lấy giấy cũ và đã có viết chữ để chùi đích Phật chứ? Ông nên dùng giấy trắng sạch sẽ để chùi.” Vị Tăng điên rồ cảm thấy xấu hổ, bèn xin lỗi rồi bỏ đi—In Hakuin’s congregation, there was a crazy monk who thought he had realized the identity of self and Buddha. He tore up Buddhist scriptures and used the pages for toilet paper. Other monks advised him not to

do this, but he paid no attention, haughtily retorting, “What’s wrong with using Buddhist scriptures to wipe a Buddha’s ass?” Someone reported this to Master Hakuin, who asked the crazy monk, “They say you are using

Buddhist scriptures for toilet paper. Is that so?” The crazy monk said, “Yes, I myself am a Buddha. What is wrong with using Buddhist scriptures to wipe a Buddha’s ass?” Hakuin said, “You’re wrong. Since it’s a Buddha’s ass, why use old paper with writing on it? You should wipe it with clean white paper.” The crazy monk was ashamed, so he apologized and left.

  • Vào thời phong kiến Nhật Bản, việc tiêu thụ hàng hóa được qui định tùy theo giai cấp xã hội. Lúc bấy giờ, gần thiền viện của thiền sư Bạch Ẩn Huệ Hạc có một thương gia giàu có nhưng rất bảo thủ. Qui luật trong nhà của ông ta là cấm người ăn kẻ ở không được mang dù vào nhà. Kết quả là tôi tớ của ông phải gửi dù tại nhà của bạn bè để sử dụng khi cần đến mỗi khi đi ra ngoài. Ngày kia, một nữ tỳ của vị thương gia này sắm một cây dù mới và mang đến thiền viện nhờ sư Bạch Ẩn viết tên cô trên chiếc dù. Khi người nữ tỳ đến, vị phó trụ trì nhận chiếc dù và chuyển lời yêu cầu của cô gái cho thiền sư Bạch Ẩn. Vị phó trụ trì cũng giải thích cho Bạch Ẩn về gia qui của vị thương gia ấy. Nghe xong, thiền sư Bạch Ẩn cầm bút và viết lên dù: “Dầu mưa hay bão, không làm trái ý chủ nhân.” Người nữ tỳ cảm thấy thích thú khi nhận lại dù vì không biết chữ nên cô gái không đọc được thầy đã viết gì trên đó. Cô đinh ninh rằng đó là tên của cô, như cô đã yêu cầu. Một hôm người nữ tỳ có việc phải đi ra ngoài trong lúc trời mưa. Trên đường đi, cô giương cao dù và rảo bước, cô bắt đầu để ý thấy người người đều theo dõi và cười cô. Tự hỏi không biết chuyện gì đã xảy ra, khi hỏi ra mới biết nghĩa của dòng chữ được viết trên dù. Giận dữ, cô gái tìm đến Bạch Ẩn và yêu cầu sư bồi thường cho cô ta chiếc dù khác. Sư Bạch Ẩn đã mời cô gái ngồi xuống và nói cho cô nghe về cách làm việc và phục vụ chủ nhân. Sau đó Bạch Ẩn mang chiếc dù này đến gặp vị thương gia và nói: “Tôi tớ trong nhà cũng là con cái của ai đó.

Xin ông hãy biết như vậy.” Xúc động trước lòng từ bi của thiền sư Bạch Ẩn, vị thương gia đã ra lệnh bãi bỏ ngay những qui định không hợp lý trong nhà mình—In late feudal Japan, consumption of goods was regulated by detailed laws, which differed according to one’s social class. Now in Zen master Hakuin’s area there was a wealthy merchant, but very conservative, whose household rules forbade the servants to carry umbrellas. The consequences of this rule, however, was simply that his servants used to keep umbrellas at the houses of friends, then use them as necessary when going out. One day it happened that a certain maid of that merchant’s house took a new umbrella she had purchased and brought it to the Zen master Hakuin, hoping to have him write her name on it for her. When she got to the temple, and assistant agreed to take the umbrella and relay her request to the master. He also explained to Hakuin the situation in the merchant’s household. Having listened to all this, Hakuin picked up a brush and wrote on the paper umbrella, “Whether it rains or pours, I won’t disobey my employer.” The maid was delighted. being illiterate, she couldn’t read what the master had written. She assumed it was her name, as she had requested. Then one rainy day, the maid asked for some time off to run an errand. As she went on her way, holding her umbrella over her against the rain, she began to notice that people were snickering at her.

Wondering what the matter was, at length she asked someone about it, only to learn what was really written on her umbrella. Furious, the woman went to Hakuin demanding compensation for her umbrella. Instead, the Zen master invited her in to sit down and talked to her about how to work for an employer. Then Hakuin went to see the merchant himself. “A servant is someone’s child too, you know,” he said to the rich man, who was so moved by the great master’s compassion that he changed the unreasonable rules of his house.

  • Bạch Ẩn chẳng những là một thiền sư xuất chúng, mà ông còn là một nhà họa sĩ đại tài, một người viết chữ Hán như rồng bay phượng múa, và một nhà điêu khắc. Sekishu hay “tiếng vỗ của một bàn tay là cái gì?” Đây là một công án nổi tiếng do ông thiết lập. Bài “Tọa Thiền Ca” (Zazen Wasan) phổ biến của ông thường được tụng trong các chùa hay thiền viện. Bài ca bắt đầu: “Tất cả chúng sanh vốn là Phật” và kết thúc: “Chính chốn nầy là đất sen, chính thân nầy là Phật.” Ông thị tịch vào năm 1769—Not only was Hakuin an outstanding master, he was a highly accomplished painter with great talents, calligrapher, and sculptor. Sekishu, or “What is the sound of one hand?” which he devised, is the best known koan by a Japanese master. His popular Chant in Praise of Zazen, frequently recited in Zem temples, begins: “From the beginning all beings are Buddha” and ends: “This earth where we stand is the pure lotus land, and this very body, the body of Buddha.” He died in 1769 A.D.

Bạch Ẩn Thiền Pháp Dưỡng Sinh: Hakuin’s Curing Zen Sickness—Cũng như nhiều thiền Tăng khác, khi còn trẻ Bạch Ẩn Huệ Hạc đã trải qua trạng thái sơ ngộ trước khi đạt đến sự giải thoát hoàn toàn. Vì vậy ông đã dồn hết tâm lực của mình vào công phu thiền định với ước nguyện đạt được sự chứng ngộ toàn mãn. Sau một tháng chuyên tâm nỗ lực, Bạch Ẩn Huệ Hạc bước vào trạng thái quên ăn quên ngủ. Cuối cùng tâm và phổi của ông bị ảnh hưởng một cách thậm tệ, và ông thường cảm thấy ù tai và tê lạnh nơi chân. Thân thể ông trở nên yếu ớt, tâm thần bồn chồn và liên tục bị ảo giác. Bạch Ẩn Huệ Hạc tự mình cảnh giác; và ông đã tìm thầy chữa trị nhưng bệnh vẫn không hề thuyên giảm. Sau đó có người khuyên Bạch Ẩn Huệ Hạc nên tìm đến ẩn sĩ Hakuyushi, một dị nhân ẩn cư trong hang động tại vùng núi phía đông cố đô Kyoto. Người ta tin rằng Hakuyushi đã sống trên hai trăm tuổi. Ẩn cư chốn sơn lâm cùng cốc và không thích tiếp xúc với khách viếng. Khi nào có ai đó đến tìm ông, ông thường lẩn tránh. Dân địa phương xem ông như một vị phù thủy. Ông rất thông thạo về chiêm tinh và hiểu biết sâu về y thuật. Tuy nhiên, nếu có người thành tâm đến xin lời khuyên của ông, ông thường cho họ một vài ý kiến rất bổ ích. Sau đó, Bạch Ẩn Huệ Hạc tìm gặp Hakuyushi vào mùa đông năm 1710. Đi sâu vào vùng núi miền đông vùng ngoại ô của cố đô Kyoto, Bạch Ẩn dò đường từ những tiều phu. Cào bới tuyết mà đi bộ qua những vách đá lởm chởm đầy chông gai để đến được một hang động với một bức rèm rong phủ ngay cửa hang. Nhìn qua rèm, Bạch Ẩn thấy Hakuyushi đang ngồi bên trong với đôi mắt nhắm nghiền. Hakuyushi ngồi đó với mái tóc đen dài chấm tới đầu gối với nước da sáng hồng. Trên chiếc bàn đá là ba quyển sách: một cổ thư Nho giáo, một quyển Lão giáo, và một bộ kinh Phật. Không thấy có dụng cụ làm bếp hay giường chiếu gì cả. Cả không gian thanh tịnh và siêu việt thoát trần. Bạch Ẩn ngập ngừng và rụt rè nói với ẩn sĩ Hakuyushi về những triệu chứng bệnh hoạn của mình và cầu xin ông giúp cứu chữa. Thoạt tiên ẩn sĩ Hakuyushi vẫn ngồi yên làm như không nghe thấy gì và xin lỗi không làm gì được, nhưng Bạch Ẩn vẫn tiếp tục nài nỉ cho đến khi Hakuyushi đồng ý xem xét những triệu chứng bệnh hoạn của mình. Sau khi khám bệnh cho Bạch Ẩn, ẩn sĩ Hakuyushi chau mày nói: “Chính ông đã gây ra bệnh hoạn cho mình. Hành thiền quá độ đã dẫn đến những triệu chứng này. Ta sợ rằng giờ đây không ai có thể cứu được ông; các phương thức trị liệu thông thường như châm cứu, xoa bóp, và thuốc men không thể trị được căn bệnh này. Nội quán đã làm ông tàn phế. Nếu ông không gầy dựng những ảnh hưởng tốt của nội quán, không tự mình vận dụng những hiệu quả dưỡng sinh của phép nội quán, bệnh ông sẽ chẳng bao giờ được chữa lành. Đây chính là ý nghĩa của câu nói ‘Kẻ bị té ngã xuống đất chỉ có thể tự mình đứng lên từ mặt đất.'” Bạch Ẩn nói ông sẽ ngưng hành thiền để có thể chữa lành bệnh. Ẩn sĩ Hakuyushi cười nói: “Thật ra, hành thiền không phải là nguồn gốc của bệnh. Nói chung, ‘hành thiền mà không có người hành và không có việc để hành, thì đó mới đích thực là hành thiền.’ Hành thiền quá độ là sai. Ông trở nên bệnh hoạn là do bởi ông hành thiền quá độ; giờ đây ông nên trở về chỗ ‘hành thiền mà không thấy có người hành và không thấy có việc để hành’ để đối trị với tật bệnh của mình.” Nói xong, ẩn sĩ Hakuyushi đã tận tình truyền dạy các kỹ thuật và phương pháp đúng đắn của thanh tịnh thiền, với những lời viện dẫn trong kinh Phật và ngữ lục Thiền. Ẩn sĩ Hakuyushi còn nói đến một kỹ thuật thần diệu dùng để đối trị các chứng căng thẳng thần kinh và suy nhược cơ thể. Bạch Ẩn Huệ Hạc xin vị ẩn sĩ giải thích chi tiết. Ẩn sĩ Hakuyushi giải thích: “Khi cảm thấy mệt mỏi trong lúc thực tập tập trung tư tưởng, ông nên hướng tâm thực hành quán tưởng theo cách như sau. Hãy tưởng tượng một quả cầu mềm có mùi thơm nhẹ nhàng và thanh tịnh của chất bơ đang ngự trên đỉnh đầu. Hương vị của nó làm tươi mát cả cái đầu một cách thật vi tế, rồi từ từ lan xuống vai, ngực, lồng phổi, gan, dạ dày, ruột, rồi xuống tận đến xương mông. Lúc này những nghẽn tắc trong lồng ngực sẽ chảy xuống êm ả như nước qua thân thể rồi đổ thẳng xuống đôi chân rồi dừng lại ở đó. Hãy tiếp tục quán tưởng về một dòng khí ẩm từ quả cầu trên đỉnh đầu chảy dồn xuống cơ thể, tạo thành một khối dược chất thơm tho hòa lẫn vào nhau, từ đan điền tỏa khắp châu thân. Khi dụng tâm quán tưởng như vậy, tất cả chỉ là sự thể hiện của tâm, ông sẽ ngửi được một mùi hương dịu dàng và thọ nhận một cảm giác an lạc khó tả. Thân tâm ông sẽ cùng nhau hòa điệu một cách thư giản và dễ chịu. Sự nghẽn tắc sẽ không còn, khí huyết toàn thân sẽ dễ dàng lưu chuyển, da dẻ tươi nhuận và sẽ có rất nhiều khí lực cũng như nhựa sống tuôn chảy trong thân thể của ông. Nếu ông kiên trì luyện tập như vậy, sức khỏe và tinh thần của ông sẽ tăng dần. Hiệu quả của phép quán tưởng này nhanh hay chậm còn hoàn toàn tùy thuộc vào sự chuyên chú và tinh cần của chính ông. Trong quá khứ ta cũng có nhiều bệnh còn tệ hơn bệnh của ông. Tuy nhiên, nhờ dùng phép quán tưởng này mà ta có thể tự chữa bệnh cho mình chỉ trong vòng một tháng. Bây giờ, ta có thể sống trong vùng núi non mà không phải sợ là phải chịu đói lạnh nữa. Tất cả đều nhờ vào năng lực và hiệu quả của phép quán tưởng này.” Bạch Ẩn ra về sau khi nhận được những lời chỉ giáo này. Sau ba năm luyện tập, ông đã hoàn toàn bình phục. Không những hết bệnh, mà ông còn có khả năng tập trung tư tưởng vào nghi tình nữa. Cuối cùng ông đã nhiều lần nhập được vào đại định, thực chứng cảnh giới cực kỳ an lạc và có nhiều tri kiến phúc lạc kỳ diệu. Bạch Ẩn có tuổi thọ rất cao, nhờ vào những năm tháng luyện tập các pháp môn dưỡng sinh học được từ ẩn sĩ Hakuyushi—When Zen master Hakuin was a young man, like most people he attained partial insight before realizing complete liberation. He therefore determined to make an intensive effort to achieve a thorough breakthrough. After a month of strenuous exertion, Hakuin reached the point where he would forget to eat and sleep. Finally his heart and lungs were adversely affected, and he had a constant ringing in his ears and chills in his feet. Becoming enfeebled and suffering from anxiety and hallucinations, Hakuin was alarmed; he sought medical treatment, but to no avail. Later, someone told him about a man called Hakuyushi, “the Pure Hermit,” who lived in a mountain cave east of Kyoto. Hakuyushi was believed to be over two hundred years old. Outwardly he appeared to be an imbecile. Living deep in the mountains, he did not like to have visitors. Whenever anyone came looking for him, he invariably ran away. The local people considered him a wizard. He was an expert on astronomy and was also deeply versed in medical arts. However, if people sincerely sought answers from him, he would sometimes say something, which on reflection would always prove to be of great benefit. Hakuin set off for Kyoto to see Hakuyushi in the winter of 1710. Entering deeply into the mountains on the eastern outskirts of the ancient capital, he asked directions from woodcutters. Plowing through the snow, walking along the crags, after much difficulty he came to a cave with a reed blind hung at the entrance. Looking in through the gaps in the blind, Hakuin saw Hakuyushi sitting there with his eyes closed. He had dark hair reaching to his knees and a healthy ruddy complexion. On a stone desk were three books: a Confucian classic, a Taoist text, and a Buddhist scripture. There were no utensils or bedding anywhere in sight. The whole atmosphere was one of purity and transcendence, beyond the human realm. Timidly and nervously, Hakuin told the hermit about his symptoms and asked for his help. At first Hakuyushi feigned ignorance and excused himself, but on Hakuin’s earnest and insistent pleas he at length agreed to check his vital signs. After making his examination, the hermit frowned and said, “You’ve done for. Excess in meditation has produced these grave symptoms. I’m afraid no one could cure you with the usual treatments of acupuncture, massage, and medication. You have been maimed by inner contemplation. If you do not strive to build up the positive effects of inner contemplation, you will never get well. This is what is meant by the saying, ‘One who falls on the ground must get up from the ground.'” Hakuin said he would give up Zen meditation so that he might be cured of his affliction. Hakuyushi smiled and said, “In fact, Zen meditation is nothing special. In general, meditation is correct meditation when there is no ‘meditation.’ Too much meditation is wrong meditation. You became sick because of too much meditation; now you should use nonmeditation to heal yourself.” Then the hermit instructed Hakuin in genuinely correct methods of pure meditation, citing Buddhist scriptures and Zen lore. He also mentioned a marvelous technique for relief of mental stress and fatigue, which he said was found in ancient literature. Hakuin asked him about the details. Hakuyushi explained, “When you feel ill during concentration exercises, you should rouse the mind to perform the following visualization. Imagine a ball of soft, pure, fragrant butter on top of your head. Its flavor subtly refreshes the whole head, then gradually flows down to the shoulders, chest, lungs, liver, stomach, and instestines, and down the backbone to the hips. Now the congestion in your chest will flow downward like water, going down through the body, down the legs to the bottom of the feet, where it will stop. Then imagine that the penetrating moisture of the remaining flow accumulates and that all kinds of aromatic medicines are blended together in a tonic that soaks and permeates the body from the umbilical region downward. When doing this visualization, it is all just a manifestation of mind, so you will smell an exquisite fragrance and experience a subtle, soft tactile sensation in your body. Your body and mind will be harmonious and comfortable. Congestion will dissolve, your viscera will be in tune, your skin will become lustrous, and you will gain a great deal of energy and strength. If you persist in this, you will become physically well and mentally elevated. Whether the effect takes place slowly or quickly depends entirely on how diligent you are. In the past I had many illnesses, much worse than your. By using this method, however, I was able to relieve most of my chronic ailments within a month. Now I live in these mountains without fear of cold and without suffering hunger. All this is due to the power and effects of that visualization.” Hakuin left after receiving these instructions. After three years of practice, his sickness was cured. Not only was he relieved of illness, he was able to penetrate his doubt as well. Finally, he attained great ecstasy several times and had numerous blissful insights. He lived to a ripe old age, attributing his health and strength to the residual effects of the techniques he had learned from the hermit Hakuyushi.

Bạch Ẩn Thiền Tọa Tụng: Hakuin’s Zazen wasan—Tụng ca của thiền sư Bạch Ẩn—Các bản văn chính thức của Bạch Ẩn đã được tập hợp lại thành tám bộ tác phẩm đồ sộ. Trong số đó, tác phẩm nổi tiếng và được trân trọng nhất là một bài thơ súc tích được goị là “Tọa Thiền Ca.” Bài thơ hiện nay vẫn còn được tụng thường xuyên tại các thiền viện thuộc dòng Lâm Tế tại Nhật Bản, và bây giờ âm vang của nó cũng có thể được nghe thấy tại các trung tâm Thiền ở vùng Bắc Mỹ. Trong thánh ca nổi tiếng về thiền tọa tĩnh tâm của mình, Bạch Ẩn ca ngợi ưu điểm căn bản của tọa thiền để đạt tới đại giác, mục đích của con đường Thiền. Tụng ca thường bắt đầu bằng câu: “Xét tận cùng, mọi sinh linh đều là Phật” và tiếp tục tụng ca bằng cách ca ngợi thiền tĩnh tọa như phương tiện có hiệu quả nhất để thức tỉnh chân lý căn bản của Phật giáo. Bài tụng nổi tiếng này chẳng những là một lời biện minh cho giá trị của thi kệ Thiền khi khẳng định rằng một khi đã đạt ngộ, mọi lời ca điệu múa đều là Pháp âm (người ta có thể tự tại du hý cõi pháp giới), mà đây còn cho chúng ta thấy được những bút tích của vị đại Thiền sư đã góp phần xứng đáng nhất vào sự luận giải tông chỉ nhà Thiền. Dưới đây là toàn bộ nội dung của “Bạch Ẩn Tọa Thiền Ca,” theo quyển “Thiền:

Buổi Đầu Tại Tây Phương”:

“Khởi thủy chúng sanh là Phật

Tựa hồ nước cùng băng

Ngoài nước, không có băng

Ngoài chúng sinh, chẳng có Phật

Đạo gần bên chẳng biết Mãi tìm cầu xa xôi Thật đáng thương xót thay!

Như kẻ trong nước kêu khát

Như con nhà phú gia

Lại tha phương cầu thực

Ta trôi lăn sáu cõi

Bởi tự ngã mê lầm Vật vờ trong vô minh Làm sao thoát sanh tử?

Pháp môn Thiền Đại Thừa

Cao siêu chẳng thể bàn

Mọi pháp hạnh tôn quý

Bố thí, trì giới, niệm Phật

Sám hối và khổ hạnh

Và mọi công đức khác

Đều phát từ Thiền định

Nên Tọa thiền chánh định

Giải trừ mọi ác nghiệp Đâu còn lầm ác đạo Cõi Tịnh Liên kề bên.

Thành kính nghe pháp này

Ngợi ca và hoan hỷ

Hành trì theo pháp này

Núi phước huệ vô biên

Nếu tự mình nội quán

Kiến chiếu vào tự tánh

Một khi đã thực chứng

Tự tánh vốn dĩ không

Tự ngã đồng vô ngã

Vượt tự ngã xảo ngữ

Nhân quả môn mở toang

Đại Đạo chẳng hai ba Sắc tướng là vô tướng

Lui tới tất thong dong

Tâm niệm là vô niệm

Du hý cõi pháp giới

Trời tam muội bao la

Sáng ngời trăng trí tuệ

Ngoài ta là thứ gì

Bổn lai nào thiếu chi

Niết Bàn ngay trước mắt

Cõi này là Tịnh Liên

Thân này là thân Phật.”

Thiền sư Bạch Ẩn muốn nói gì trong bài Thiền Tọa Tụng này? Thuật ngữ “từ khởi thủy” có nghĩa gì trong lời khẳng định mạnh mẽ này? Phải chăng nó có nghĩa là từ vô số kiếp kiếp về trước mà con người có thể biết được, bằng cách nào đó chúng ta vẫn luôn có, hoặc vẫn luôn là Phật? Câu “Khởi thủy chúng sanh là Phật” chẳng khác gì tiếng chuông cảnh tỉnh. Cái khởi thủy ấy từ đâu? Cái khởi thủy ấy có từ khi nào? Nếu chúng ta không đưa được nó về quá khứ, cũng không đưa nó được đến tương lai, phải chăng chúng ta nên xem xét nó ở thời điểm hiện tại? Khi các triết gia đại chúng nói về cách sống trong hiện tại, “ngay ở đây và ngay lúc này,” họ đã để vuột mất điểm đích. Về cơ bản, không có chuyển động, biến đổi và hình thành: tất cả đều là thời gian. Theo Albert Low trong quyển “Thiền: Truyền Thống và Chuyển Tiếp,” hình ảnh nước và băng giống như ẩn dụ về một cái bình đất nung. Chiếc bình thể hiện cái hình thái bên ngoài và đất sét thể hiện cái bản chất của nó. Ở đây chúng ta có thể nói Phật là bản chất của tất cả chúng sanh. Tất cả mọi nhận thức và ý niệm, kể cả ý thức của chúng ta về cái bản chất ấy, cũng như tất cả mọi thứ mà chúng ta thấy, nghe, nếm, tiếp xúc, cảm giác, đều là hình thức mang cái bản chất Phật tánh ấy. “Đạo gần bên chẳng biết,” quả là như vậy! Mỗi người chúng ta từ sáng cho đến tối, là một dòng hiểu biết không ngừng tuôn chảy, một bản giao hưởng bất tận gồm vô số giai điệu trầm bổng của năng lực tri giác. Chúng ta chẳng bao giờ tách rời khỏi dòng chảy hiểu biết ấy; mọi thời đều là hiện tại. Cuộc sống là một bí ẩn lớn, mà cũng chẳng chút bí ẩn nào cả. Niềm an lạc đến từ việc thấy rằng không có an lạc mà không mâu thuẫn, nhưng niềm an lạc khi nhận thấy rằng mâu thuẫn cũng xuất phát tri kiến thực tại. Chim bay trên trời, cá lội dưới nước, con người sống trong năng lực hiểu biết. Hành giả tu Thiền hãy tự mình thức ngộ. Tất cả những gì người khác tìm thấy vốn không thuộc về mình. Hãy tự mình tìm kiếm và nắm bắt. Khi mình tọa thiền và hít vào, cái gì đang hiện hữu? Khi mình thở ra, cái gì đang hiện hữu? Tất cả những gì người khác thuyết giảng là kinh nghiệm nhận thức của họ, chẳng có quan hệ gì đến mình. Hãy thành tâm tự vấn: Cái gì đang hiện hữu? Thật đáng thương xót thay! Chúng ta, những đứa con nhà phú gia lại tha phương cầu thực. Thật vậy, chúng ta, những chúng sanh con người cũng giống như anh chàng “Cùng Tử” trong Kinh Pháp Hoa, ý nói chúng sanh trong tam giới. Theo Kinh Pháp Hoa, có một đứa con trai của một phú gia đi lạc khỏi nhà và lang thang trong nghèo đói trong nhiều năm, quên mất đi cội nguồn xuất thân của mình. Về sau, bước chân lang bạt cuối cùng đưa anh ta trở lại quê hương bản quán. Nhận ra đứa con trai của mình, vị phú gia biết rằng nếu ông ta nhận con ngay lập tức, đứa con khốn khổ ấy sẽ không khỏi hoài nghi và ngại ngùng. Vì thế, vị phú gia đã thu xếp để mướn anh ta vào giúp việc trong nhà, tạo cho anh ta điều kiện thăng tiến của mình. Từ từ vị phú gia mới kể cho người con nghe về cội nguồn của mình khi nhận ra anh ta đã sẵn sàng biết được sự thật. Câu chuyện này hàm ý nói đến tình trạng của những con người trong đời thường của chúng ta. Chúng ta vốn thừa hưởng một sản nghiệp vô tận, nhưng lúc nào cũng cảm thấy mình đang sống trong thiếu thốn. Với mẫu chuyện này, chúng ta có thể tự hỏi: “Cái gia sản vô tận bị lãng quên ấy, cái kho tàng thuộc quyền sở hữu chính đáng của chúng ta, là cái gì?” Một số người có thể trả lời là tuệ giác huyền thâm, hay suối nguồn yêu thương, hay trạng thái siêu ý thức. Còn về chuyện lăn trôi trong lục đạo, trong vũ trụ quan Phật giáo, sáu cõi luân hồi của chúng sanh (chúng sanh tạo các nghiệp khác nhau rồi bị nghiệp lực thúc đẩy, dẫn dắt đến sáu loại đầu thai, qua lại trong sáu nẻo, sanh rồi tử, tử rồi sanh, như bánh xe xoay vần, không bao giờ dừng nghỉ, hoặc vào địa ngục, hoặc làm quỷ đói, hoặc làm súc sanh, hoặc A Tu La, hoặc làm người, hoặc làm trời, Đức Phật gọi đó là luân chuyển trong lục đạo). Với môt số người, đó có thể là những thế giới khách quan, những địa điểm mà chúng sanh có thể trú ngụ. Số khác lại cho rằng đó là các cảnh giới chủ quan, xuất phát từ kinh nghiệm thức ngộ của con người. Tuy nhiên, cũng có thể sáu cõi ấy không phải là những thế giới cụ thể hay cảnh giới tâm linh nào cả, cũng có thể chúng thuộc về những vùng không gian và thời gian khác, không hẳn là khách quan hay chủ quan đối với tâm trí của chúng ta. Hành giả tu Thiền nên luôn nhớ rằng một khi chúng ta chưa nhận thức và vận dụng kho tàng giác ngộ của mình, không có cảnh giới nào tồn tại ngoài sự vô minh và đau khổ cả. Theo Thiền sư Bạch Ẩn, mê lầm tự ngã đã làm cho chúng ta tiếp tục lăn trôi trong sáu cõi. Nói cách khác, Thiền sư Bạch Ẩn nói rằng nguyên nhân của đời sống vô minh và khổ đau là vọng tưởng sai lầm về tự ngã bởi vì chúng ta đang đón nhận một thứ gì đó mà chúng ta chưa hiểu rõ về nó, từ đó chúng ta cho rằng mình đang thiếu thốn, trong khi thực ra mình vốn có một kho tàng giàu có. Ảo tưởng về tự ngã cũng là ảo tưởng về sự nghèo túng về tâm linh. Ảo tưởng rằng “tôi” là cái gì đó quan trọng hơn tất cả những gì đang hiện hữu. Tại sao lại theo đuổi một mục tiêu chưa rõ ràng để gạt bỏ đi kho báu vốn có của mình. Nếu chúng ta cứ tiếp tục lang thang hết u đồ này tới u đồ khác thì làm sao chúng ta có thể thoát ly sanh tử? Theo Thiền sư Bạch Ẩn, chỉ có Định và Tuệ mới có thể giúp đưa chúng ta đến pháp môn giải thoát (cổng của con đường đi đến tự tại). Thiền, với bản chất cũng như tên gọi của nó, đặt quá trình thực hành thiền định lên trên mọi pháp môn tu tập khác. Theo Thiền sư Bạch Ẩn, hành thiện tích phước, cứu độ chúng sanh, tuân thủ giới luật, và mọi hình thức sống đúng đều xuất phát từ tu tập thiền định. Dĩ nhiên, Sư không có ý nói rằng thiền định có thể thay thế được tất cả những pháp môn khác. Sư nói rằng chánh định có khả năng giải trừ ác nghiệp, chứ không phải chỉ một lần ngồi thiền. Có một lời dạy rằng một khi chúng ta đi theo Phật đạo, một khi chúng ta hoàn toàn dốc tâm tìm kiếm chân lý, mọi thứ đều được chu toàn. Điều này không có nghĩa là chúng ta không còn khổ đau nữa, nhưng khổ đau sẽ được chúng ta nhìn nhận với cách thức hoàn toàn khác. Nhưng chớ nên hiểu lầm lời dạy của Thiền sư Bạch Ẩn là trong cuộc tu tập hằng ngày chúng ta vẫn phải luôn trì giới, chúng ta vẫn phải làm vạn sự thiện và chúng ta phải sống đúng, tuy vậy cách duy nhất để chúng ta có thể thực hiện những việc này một cách đúng đắn là hình thành một nhận thức dựa trên nền tảng thiền định vững vàng. Thiền sư Bạch Ẩn đang nói với chúng ta rằng với chánh định, cõi Tịnh Liên kề bên. Nếu chúng ta nghe chân lý này với một cái tâm khiêm cung và biết ơn; nếu chúng ta ngợi ca và hoan hỷ, và hành trì theo pháp này, sẽ mang lại vô biên phước đức. Hãy tự mở lòng mình để đón lấy chân lý với thái độ khiêm cung và lòng biết ơn, từ đó cảm nhận ý nghĩa của nó, cảm nhận được vẻ huy hoàng của nó, đem nó vào chúng ta để hòa làm một. Bản thân chúng ta vốn hoàn hảo và toàn mãn; chúng ta không cần phải thay đổi bất cứ điều gì cả. Nhưng Thiền sư Bạch Ẩn không dừng lại ở đó. Bài tụng của ngài tiếp tục, lần này đi vào cách giải đáp của “Bát Nhã” hay sự thức ngộ: “Nếu tự mình nội quán và kiến chiếu vào tự tánh.” Chúng ta phải chứng nghiệm bản tánh, phải thấu suốt nó một cách trọn vẹn và không một chút hoài nghi. Cái thấy biết thấu suốt ấy phải được trực nhận một cách rõ ràng xác thực như người uống nước tự biết nóng lạnh. Không lợi ích gì khi người khác bảo chúng ta rằng chúng ta đã thấy được tự tánh. Thiền sư Bạch Ẩn nói tiếp: “Một khi đã thực chứng tự tánh vốn dĩ không, tự ngã đồng vô ngã.” Những dòng chữ này nắm lấy một chân lý thâm sâu. Chúng ngụ ý nói đến cái bản thể được gọi là “bản ngã.” Nhưng cái bản ngã này được diễn tả là “vô ngã” và vì thế chúng ta không còn bám víu vào bất cứ một ý niệm nào về sự thực hữu mà chúng ta tin là bản ngã. Phần kết của bài Thiền Tọa Ca của Thiền sư Bạch Ẩn là một khúc tự tình vui thú, xuất phát từ sự thâm ngộ. Cánh cửa giác ngộ mở ra; Đại Đạo chạy ngay trước mặt; Niết bàn hiển lộ trong ánh sáng trong suốt của tuệ giác; và thế giới này tự nó trở thành thiên đường. Thiền sư Bạch Ẩn nhấn mạnh rằng con đường dẫn tới tất cả những điều kỳ diệu ấy, con đường giải thoát mầu nhiệm ấy không là con đường khác hơn là pháp môn Thiền định. Rồi thì thân này chính là thân Phật—Hakuin’s formal Zen writings fill eight huge volumes. Yet one of his best-known and most-loved works is a pithy poem called Zazen wasan, or “Chant in Praise of Zazen.” This verse is still chanted regularly in Japanese Rinzai monasteries, and now it can be heard in North American Zen centers as well. In his famous praise of Zazen (Hakuin Zenji zazen-wasan), he extolls the importance of “sitting in meditation” for the actualization of enlightenment, which is the goal of the way of Zen. It begins with the words “All beings are fundamentally Buddha” and continues by praising the practice of zazen as the most effective means to awaken to this basic truth of Buddhism. This famous Zazen wasan does not only offer its own justification for poetry by declaring that once enlightenment is attained, our dancing and songs are the voice of the Dharma; but this also shows us handwritings of the great Zen master who did contribute his valuable parts on Zen teachings. Here is Hakuin’s complete “Chant in Praise of Zazen,” in “Zen: Dawn in the West” (p.182-183, Author: Philip Kapleau):

“From the beginning all beings are Buddha.

Like water and ice,

Without water no ice, Outside us no Buddha.

How near the truth

Yet how far we seek,

Like one in water crying, ‘I thirst!’

Like a child of rich birth Wandering poor on this earth, We endlessly circle the six worlds.

The cause of our sorrow is ego delusion. From dark path to dark path we’ve wandered in darkness, How can we be free from the wheel of samara? The gateway to freedom is zazen samadhi, Beyond exaltation, beyond all our praises, The pure Mahayana. Observing the precepts, repentance,

and giving, The countless good deeds, and the way of right living All come from zazen. Thus one true samadhi extinguishes evils; It purifies karma, dissolving obstructions. Then where are the dark paths to lead us astray?

The pure lotus land is not far away.

Hearing this truth, heart humble and grateful, To praise and embrace it, to practice its wisdom, Brings unending blessings, brings mountains of merit. And if we turn inward and prove our True-nature, That True-self is no-self,

Our own Self is no-self,

We go beyond ego and past clever words. Then the gate to the oneness of cause-and-effect Is thrown open. Not two and not three, straight ahead runs the Way.

Our form now being no-form, In going and returning we never leave home.

Our thought now being no-thought, Our dancing and songs are the voice of the Dharma.

How vast is the heaven of boundless samadhi! How bright and transparent the moonlight of wisdom! What is there outside us, What is there we lack?

Nirvana is openly shown to our eyes.

This earth where we stand is the pure lotus land,

And this very body the body of Buddha.”

What does Zen master Hakuin want to say in this Zazen wasan? What does “from the beginning” means in this bold assertion? Does it mean that eons and eons ago we learned all there is to know, that we have somehow carried it throught the years, and that we still have it or are it, that we are still Buddha? Zen practitioners should always remember that the term “From the beginning all beings are Buddha” is a clarion call to wake up. Where is the beginning? When is the beginning? If we cannot put it into the past, if we cannot put it into the future, are we going to say it is the present? When the pop philosophers talk about living in the “here and now,” they have already missed the mark. Fundamentally, there are no things that move and change and become: everything is time. According to Albert Low in “Zen: Tradition and Transition,” the image of water and ice is similar to the analogy of the clay jug: the jug gives the form, and the clay gives the substance. Here we can say that Buddha is the substance. All our perceptions and conceptions, our consciousness itself, all the things that we see, hear, taste, touch, or feel, these are forms this subtance takes. How near the truth indeed! Each one of us, from morning till night, is a continuous flow of knowing, and unending symphony of knowing, a rising and falling of knowing. We are never out of knowing; it is always present. It is a great mystery, and yet there is no mystery to it. The peace that comes from seeing this is not a peace without conflict, but a peace that sees that conflict too is knowing. Birds fly in the air, fish swim in the water, human beings live in knowing. Zen practitioners should always look for yourself. Never mind about all those people who have got this or that. Find for yourself. When you sit in zazen and breathe out, what is it? When you breathe in, what is it? Never mind what others have to say. What is it? How pitiful! We, children of rich birth, but wandering poor on this earth. In fact, we, human beings are like the poor son, or prodigal son, of the Lotus sutra, i.e., beings in the three realms. According to the Lotus Sutra, there is a son of a rich man strays from home and wanders in poverty for many years, forgetful of his origins. Eventually he happens to stray near home again. The father sees the boy but realizes that if he went out and simply said, “You are my son,” the boy would be suspicious and afraid. So instead the father arranges for the boy to be employed as a servant of the house. Gradually the son is promoted until the father is sure he is ready to be told the truth. The story depicts a person who is heir to infinite riches but constantly in a state of poverty. We might ask ourselves, “What is this great wealth, rightfully ours, that we are constantly overlooking?” Some would respond that it is esoteric wisdom, or tremendous reservoir of love, or superconscious state. As for the circling the six ways or conditions of sentient existence, in the traditional cosmology of Buddhism, the six miserable states (sentient beings revolve in the cycle of Birth and Death, along the six paths, life after life. These are paths of hell-dwellers, hungry ghosts, animals, titanic demons or asuras, human beings and celestials). Some say these are objective, geographic realms, places to which we can go. Others say they are subjective states that come about through psychological experience. But it may be that they are neither places nor psychological states; perhaps they belong to a kind of intermediate zone which is neither subjective nor objective. Zen practitioners should always remember that as long as our inherent birthright remains unrealized, no realm of existence grants immunity from ignorance or suffering. According to Zen master Hakuin, ego delusion causes us to continue to circle the six worlds. In other words, Zen master Hakuin says that the cause of our sorrow is ego delusion because we are taking something for granted and so we think we are poor, but we are rich. The ego delusion of spiritual poverty, the delusion that I is something very important rather than all that there is. Why settle just for something unclear and by doing that we completely lose the best treasure. If we continue to travel from dark path to dark path, how can we be free from the wheel of samsara? According to Zen master Hakuin, only Meditation and Wisdom can help us to reach the gateway to freedom. Zen, by its very name and nature, puts meditation practice above all these other kinds of practice.

For Zen master Hakuin, all good deeds, all efforts to save people, all the precepts, and all forms of porper living come out of meditation practice. Of course he is not saying that all of these things are replaced by meditation practice. Of course he is not saying that all of these things are replaced by meditation practice. He means that one true samadhi, not one single sitting, can purify karma. There is a saying that once we are on the Buddha’s path, once we are totally committed to seeking the truth, then everything is taken care of. This does not mean that we are not going to suffer any more, but rather our suffering becomes slanted in an entirely different way. But do not miss Hakuin’s true meaning on this: we must keep the precepts, we must do the countless good deeds and make sure we live rightly; yet the only way we can do these things authentically is with a firm foundation of meditation practice. Zen master Hakuin is telling us that with one true samadhi, then the pure lotus land is not far away. If we hear this truth with humble and grateful heart; if we praise and embrace it, and practice its wisdom; it will bring unending blessings and mountains of merit. Let’s open ourselves to it humbly and gratefully, getting the sense of it, feeling the glory of it, taking it into ourselves as our own. We are whole and complete just as we are; we do not need to change a thing. Yet Hakuin does not stop here. The chant goes on, this time to the response of “Prajna” or awakening: “If we turn inward and prove our True-nature.” We must prove our true nature, know it beyond any question or doubt. This knowing is as intimate as knowing whether the water we drink is hot or cold. It is no use for someone else to tell us that we have this true nature or tell us that we have seen into it. Zen master Hakuin continued, “When we turn inward and prove our True-nature, we’ll see that True-self is no-self, our own Self is no-self. We go beyond ego and past clever words.” These words hold a very deep truth. They refer to a self which is “self.” But this self is best described as “no-self” so that we do not cling to any notion of some thing that exists, believing that to be a self. The concluding section of Hakuin’s chant is a lyrical and joyous evocation of deep enlightenment. The gate opens; the Way runs straight ahead; nirvana is revealed in wisdom transparent light; and this earth becomes paradise itself. Zen master Hakuin emphasizes that the path to all these marvels, the wondrous gateway to freedom, is none other than the dharma door of meditation. Then, this very body the body of Buddha.

Bạch Bạch Nghiệp: Nghiệp thiện sắc giới— Wholesome kamma (karma) pertaining to the fine-material sphere.

Bạch Báo: Quả báo của cuộc sống thiện lành— Pure reward or the reward of a good life.

Bạch Cái: Tàng lọng trắng trên đỉnh đầu của Phật—The white umbrella or canopy over the head of Buddha—See Bạch Tản Cái Phật Đảnh. Bạch Câu Quá Khích: Ngựa trắng phi qua kẽ hở, ý nói thời gian trôi qua rất mau, vụt một cái là đã hết một đời. Hành giả nên luôn cố gắng tu tập để ít nhất nếu chưa giải thoát thì cũng có được một đời sống an lạc ngay trong kiếp nầy—The white colt passes the crack, i.e., a sunbeam passing a crack or time flies extremely fast. Practitioners should always try to cultivate, so that if we are not yet enlightened, at least we have a peaceful life in this very life.

Bạch Chân: 1) Đưa ra những tin tức xác thực: To lay a true information; 2) Tán thán công đức của Tổ Sư: To praise the virtue of the patriarchs. Bạch Chỉ: Hakushi (jap)—Blank paper—White paper—Trang giấy trắng, diễn tả trạng thái ý thức đạt được nhờ tu tập thiền tọa tĩnh tâm, và điều kiện cần thiết để thể nghiệm tỉnh thức và giác ngộ. Đó là trạng thái “trống không và đơn giản của mọi sự vật.” Để thực hiện trạng thái đó, như các thiền sư nhấn mạnh, phải làm biến mất mọi ý nghĩ, ý tưởng, hình ảnh, quan niệm, ý kiến, tín niệm, vân vân. Thiền sư Bạch Vân An Cốc nói về điều nầy rằng: “Chừng nào còn có một cái gì được viết, vẽ và hình dung ra trong đầu con, chừng đó con không thể đạt tới đại giác. Hãy vất bỏ mớ bòng bong ấy đi. Tinh thần con cũng phải trống không và trong trắng như một tờ giấy trắng tinh khiết vậy!”—White paper, an expression for the state of consciousness attained through the practice of sitting in meditation (zazen), which is a precondition for the experience of ‘awakening’ and ‘enlightenment’. It is the state of “empty and devoid of all things.” In order to realize this, as the Zen masters stress, all thoughts, ideas, images, concepts, opinions, and patterns of beliefs must disappear. The Japanese Zen master Hakuun Ryoko Yasutani says about this: “As long as there is anything written, recorded, or pictured in your head or heart, you can’t find any enlightenment. Throw everything away. Your mind must be as empty and spotless as a piece of white paper!” Bạch Chiến: Cuộc chiến không có vũ khí—A fighting without weapons.

Bạch Chiết: Giết bằng tay không—Killing with bare hands.

Bạch Chùy: Đánh kẻng (chùy)—To strike a club. Bạch Chướng: White hindrance—Trong Mật giáo, đây là một chướng ngại nhỏ làm cản trở việc quán tưởng mặt trời lặn—In Tantric Buddhism, this is a slight hindrance to successful visualization of the setting sun.

Bạch Cốt Quán: Quán xác chỉ còn lại xương trắng (Asthis (skt). Tưởng nắng chan mưa gội, thây nay chỉ còn trơ lại một bộ xương trắng. Đây là một trong Chín loại thiền quán về thân thể giúp ta thoát được luyến ái về thân—Contemplate on leftover white bones. This is one of the nine types of meditation on corpse which helps free us from attachment to the human body—See Cửu Tưởng Quán.

Bạch Diên: Pai-Yien—Tên của một vị Tăng nổi tiếng của Trung Hoa vào thế kỷ thứ III—Name of a famous Chinese monk in the third century. Bạch Đàn: Loại gỗ chiên đàn trắng—White sandal wood.

Bạch Đàn Mạn Đồ La: Mạn Đồ La được làm bằng hương bột của gỗ chiên đàn trắng—Mandala constructed with powder of white sandal wood.

Bạch Đạo: White path—Thiện đạo.

Bạch Đinh: Commoner.

Bạch Đức Thế Tôn: World Honoured One!

Bạch Giao Hương: Sarjarasa (skt)—Tát Đồ La Bà—Nhựa của cây Ta La, dùng làm dầu thơm hoặc nhang thơm—Resin of the Sal-tree, resin used as scent or incense.

Bạch Giáo Lạt Ma: Kargyupta (skt)—See Lạt Ma Giáo.

Bạch Hạ: Báo cáo hằng ngày trước đại chúng để chỉ thị và khuyến khích tấn việc tu hành của đại chúng trong mùa an cư kiết hạ—Daily reports in the summer retreat to instruct and encourage the assembly on how to advance in cultivation during the summer retreat.

Bạch Hạc: White cranes.

Bạch Hào: White curl of hair between the eyebrow—Theo kinh điển Đại Thừa, thì đây là ánh hào quang giữa đôi mày của Phật, từ nơi đó Phật phóng ra những hào quang chiếu rọi khắp các thế giới—According to the Mahayana sutras, this is the curl between Sakyamuni’s eyebrows, from where he sends out a ray of light which reveals all worlds.

Bạch Hào Chi Tứ: Như Lai để lại một phần công đức của tướng bạch hào để cúng dường các đệ tử ở thời Mạt Pháp—A gift from the White-curled One for his disciples in the Ending-Dharma Age. Bạch Hào Tướng: Appearance of the white curl of hair between the eyebrow—See Bạch Hào.

Bạch Hắc: White and dark.

Bạch Hắc Bố Tát: Light and dark uposatha—Hai kỳ bố tát vào ngày rằm và ngày cuối tháng (hắc bố tát vào ngày cuối tháng và bạch bố tát vào ngày rằm)—The observing of the waxing and the waning moon.

Bạch Hắc Nghiệp: Good and evil deeds or karma. Bạch Hắc Nhị Thử: Hai con chuột trong bài ngụ ngôn, ví với ngày và đêm, mặt trời và mặt trăng (theo Tân Đầu Tư Đột La Xà Vị Ưu Đà Diên Vương Thuyết Pháp Kinh, ngày xưa có người đi trên khu đất rộng hoang vắng gặp một con voi dữ đuổi riết theo. Người ấy cuống cuồng chạy trốn, đang khi không biết ẩn nấp vào đâu bỗng gặp một cái giếng, anh ta liền bám vào rễ cây định tụt xuống để ẩn nấp, không ngờ có đôi chuột, một trắng, một đen, đang cắn gốc cây, bốn phía bên dưới có bốn con rắn độc phóng tới định cắn anh ta. Ở dưới đáy giếng lại có con rồng đang chờ đợi, xung quanh thì sợ bốn con rắn, dưới đáy thì sợ rồng dữ, cái cây đang bám lại bị hai con chuột gặm sắp đứt. Lúc đó từ trên cây có ba giọt mật ong rơi vào miệng anh ta. Vì cây lay động đến tổ ong nên bầy ong bay ra chích tới tấp vào anh ta, bỗng chốc có lửa ở đâu ào tới đốt cháy cành cây. Khu đất rộng ví với sanh tử, người đàn ông ví với phàm phu, con voi ví với vô thường, cái giếng ví với thân người, cái cây ví với mạng người, chuột đen trắng ví với đêm ngày, gốc cây bị cắn ví với thời gian vùn vụt bay đi, bốn con rắn ví với tứ đại, mật ong ví với ngũ dục, đàn ong ví với giác quan, lửa ví với già nua, và rồng dữ ví với sự chết)—The two mice in the parable, one white, the other black, gnawing at the rope of life, i.e. day and night, or sun and moon.

Bạch Hòa: Trong Thiền, trước khi thực hiện pháp vụ cần phải triệu tập đại chúng để thông báo sự việc, khiến cho họ đều đồng thuận theo—In Zen, before starting on a Buddhist project or affair, the manager of the monastery must convene the whole assembly to announce the project and to get their agreement.

Bạch Hương Tượng Bồ Tát: Gandhakunjaranaga (skt)—The Bodhisattva White Fragrant

Elephant—White Fragrant Elephant Bodhisattva. Bạch Lạc Thiên: Pai-Yueh-T’ien—Một nhà thơ lớn đời nhà Đường. Khi làm quan, trong huyện có một thiền sư nổi tiếng với biệt danh là Ô Sào Thiền Sư, vì sư thường hay tọa thiền trên các cành cây chi chít. Thấy vậy Bạch Lạc Thiên bèn bảo vị thiền sư: “Chỗ thầy ngồi trên cây thật là nguy hiểm.” Sư đáp: “Chỗ của ông còn nguy hiểm hơn nhiều.” Bạch Lạc Thiên đáp lại: “Tôi là quan tri huyện, tôi thấy chỗ ấy có gì là nguy hiểm?” Sư đáp: Vậy là tại ông không biết đó thôi. Khi lòng dục ông bừng lên và tâm ông không vững, thì còn gì nguy hiểm hơn?” Thế rồi Bạch Lạc Thiên lại hỏi tiếp: Phật giáo dạy điều gì?” Sư tụng bốn câu kệ nổi tiếng: “Không làm các điều ác,

Làm các điều lành,

Giữ tâm ý trong sạch, Ấy lời chư Phật dạy.”

Tuy nhiên, Bạch Lạc Thiên phản đối nói rằng:

“Cái đó đứa trẻ lên ba cũng biết và nói được.” Thiền sư ngồi trên cây bèn đáp lại: “Ờ thì đứa trẻ lên ba cũng biết và nói được, nhưng ông lão tám mươi vẫn chưa làm được.”—Pai Yueh-T’ien was a great poet during the T’ang dynasty. When he was a governor in a district, there was a Zen master who was living within his jurisdiction popularily known as the “Bird’s Nest,” for he used to practice his meditation on a seat made of thickly growing branches of a tree. Seeing this Pai-Yueh-T’ien told the Zen master: “What a dangerous seat you have up in the tree!” Yours is far worse than mine, retorted the master. Pai-Yueh-T’ien responded: “I am the governor of this district and I don’t see what danger there is in it.” “Then you don’t know yourself! When your passions burn and your mind is unsteady, what is more dangerous than that?” Pai-Yueh-T’ien then asked: “What is the teaching of Buddhism?” The master recited this famous stanza:

“Not to commit evils, To practice all good, And to keep the heart pure, This the teaching of the Buddhas.

Pai-Yueh-T’ien, however, protested: “Any child three years old can know and say that.” “Yes, any child three years old may know and say it, but even an old man of eighty years finds it difficult to practice.” So concluded the Zen master up in the tree.

Bạch Liên: White Lotus.

Bạch Liên Giáo: White Lily Society—Một giáo phái (có thể là tà giáo?), được thành lập vào cuối đời nhà Nguyên, nói rằng Phật Di Lặc sẽ hạ sanh với bông sen trắng nở, và ngày cứu đời. Giáo phái nầy phát triển thành một cuộc cách mạng ảnh hưởng đến sự đánh đuổi quân Mông Cổ ra khỏi Trung Hoa và sự thiết lập Minh Triều về sau nầy. Dưới thời nhà Thanh, giáo phái nầy sống lại dưới những tên khác nhau (Thanh Thủy, Bát Quái, Vinh Hoa, Hồng Dương, Bạch Dương, Thanh Liên, Hồng Liên) và đã gây ra những cuộc nổi dậy chống Thanh Triều—The White Lily Society, set up near the end of the Yuan dynasty, announcing the coming of Maitreya, the opening of his white lily, and the day of salvation at hand. It developed into a revolution which influenced the expulsion of the Mongols and establishment of the Ming dynasty. Under the Ch’ing dynasty it was resurrected under a variety of names, and caused various uprisings.

Bạch Liên Hoa: See Phân Đà Lợi.

Bạch Liên Hoa Sa Môn: The “White-lotus” ascetic.

Bạch Liên Hội: See Bạch Liên Xã.

Bạch Liên Tông: Pai-Lien-Tsung—School of White Lotus—Một nhánh của trường phái Tịnh Độ, được ngài Mao Tử Nguyên sáng lập vào thế kỷ thứ 12—A branch of the Pure Land school, founded by Mao-Tzu-Yuan in the twelfth century. Bạch Liên Xã: White Lotus Society—Bạch Liên Chi Giao—Liên Xã—Do Pháp Sư Huệ Viễn đời nhà Tấn thành lập vào khoảng đầu thế kỷ thứ tư sau Tây Lịch tại Lô Sơn. Ông cùng 123 vị khác thề trước bàn thờ Phật để tu Tịnh Độ Tây Phương, và trồng sen trắng làm biểu tượng. Bạch Liên Xã quy tụ hơn 3.000 người, trong đó có 123 vị được tôn là bậc Hiền. Trong số 123 bậc Hiền lại có 18 bậc Thượng Thủ gọi là Đông Lâm Thập Bát Đại Hiền—A society formed early in the fourth century A.D. by Hui-Yuan at Lu Mount, who with 123 notable, literary, swore to a life of purity before the image of Amitabha, and planted white lotuses in symbol. The White Lotus Congregation composed of more than 3,000 Buddhists. Among them, 123 were honored as the Virtuous and eighteen of them were considered as the Highest Virtues. They were often referred as Đông Lâm Temple’s Eighteen Greatly Virtuous Beings.

Bạch Lộ Trì: White Heron Lake—Ao Cò Trắng trong thành Vương Xá, một cảnh nổi tiếng khi Đức Thế Tôn giảng phần thứ 16 từ quyển 593 đến quyển 600 trong Kinh Bát Nhã, nên còn gọi là Bạch Lộ Trì Kinh—The White Heron Lake in Rajagrha, the scene of sakyamuni’s reputed delivery of part of the Mahaprajnaparamita-sutra, from book 593 to book 600, the last of the 16 assemblies of this sutra, which is also called The White Heron Lake Sutra.

Bạch Ly Phất: Vijani (p)—Valavyajana (skt)— Vyajana (skt)—See Phất Trần. Bạch Mã Đàm Chiếu Thiền Sư: Pai-ma T’anchao—Tên của một vị Thiền sư Trung Hoa vào giữa thế kỷ thứ X. Hiện nay chúng ta không có nhiều tài liệu chi tiết về Thiền sư Bạch Mã Đàm Chiếu; tuy nhiên, có một chi tiết nhỏ về vị Tăng này trong Truyền Đăng Lục, quyển X: Bạch Mã Đàm Chiếu Thiền Sư sống vào khoảng cuối thời nhà Đường đầu thời nhà Tống (vào khoảng giữa thế kỷ thứ X). Sư thường nói: “Sướng thay! Sướng thay!” Đến khi gần thị tịch, Sư kêu: “Khổ thay! Khổ thay!” Hoặc có khi nói: “Diêm La vương sắp bắt ta rồi!” Một vị Tăng hỏi: “Hòa Thượng sao vậy? Trước kia ngài bị tiết độ sứ bắt liệng xuống nước, lúc ấy thần sắc không động; nay cái gì quấy phá ngài thế?” Sư cất đầu lên và nói: “Thầy nói thử lúc ấy tôi phải, hay bây giờ tôi phải?” Vị Tăng không trả lời được. Chúng ta thấy, một vị thiền sư thỉnh thoảng, nhưng rất hiếm, như trường hợp của ngài Bạch Mã Đàm Chiếu, cũng biết nghiêng mình xuống bình diện sinh hoạt nhị nguyên của chúng ta để cố gắng nói lên những gì nhằm xây dựng cho môn đồ. Tuy nhiên, đã là một bài nói pháp của đạo Thiền, hẳn phải có cái gì kỳ đặc hơn thường tình—Zen Master Pai-ma T’an-chao, name of a Chinese monk, in the middle of the tenth century. We do not have detailed documents on this monk; however, there is a brief information on him in The Records of the Transmission of the Lamp (Ch’uan-Teng-Lu), Volume X: Zen master Pai-ma T’an-chao lived between late T’ang and early Sung (around the middle of the tenth century). He used to say: “How delightful! How delightful!” When he was about to die, he cried, “How agonizing!” Or sometimes, “King Yama has come to take me along!” A monk asked: “How is it, master? When you were once arrested by the governor and thrown into the water, you were quite calm and serene; but what is the trouble with you now?” Pai-ma raised his head and said, “Tell me when I was in the right, then or now?” The monk made no reply. As we can see, for a Zen master occasionally, no quite frequently, like in the case of Pai-ma T’an-chao, comes down to the dualistic level of understanding and tries to deliver a speech for the edification of his pupils. But being a Zen sermon we naturally expect some unusual thing in it.

Bạch Mã Độn Nho Thiền Sư: Pai-ma Tuan-Ru—

Tên của một vị Thiền sư Trung Hoa vào thế kỷ thứ IX. Hiện nay chúng ta không có nhiều tài liệu chi tiết về Thiền sư Bạch Mã; tuy nhiên, có một vài chi tiết nhỏ về vị Tăng này trong Ngũ Đăng Hội Nguyên, quyển XIII, và Truyền Đăng Lục, quyển XVII—Zen Master Pai-ma Tuan-Ru, name of a Chinese Zen monk, in the ninth century. We do not have detailed documents on this monk; however, there is a brief information on him in Wudeng Huiyuan, volume XIII and The Records of the Transmission of the Lamp (Ch’uan-TengLu), Volume XVII—See Bạch Mã Pháp Thân.

Bạch Mã Nhập Lô Hoa: White horse and white reed flowers—Ngựa trắng cùng với bông lau trắng—Trong Thiền, đây là cảnh giới không còn bất cứ ý tưởng nào chấp chặt vào nhân ngã, lớn nhỏ, cao thất, tốt xấu, vân vân—In Zen, this is a realm without any idea of clinging to the ego, big or small, high or low, good or bad, and so on.

Bạch Mã Pháp Thân: Pai-ma’s Dharmakaya— Công án Bạch Mã Pháp Thân. Theo Ngũ Đăng Hội Nguyên, quyển XIII, và Truyền Đăng Lục, quyển XVII: Một hôm có một vị Tăng hỏi Thiền sư Bạch Mã Độn Nho: “Thế nào là việc hướng thượng của Pháp thân?” Bạch Mã đáp: “Ếch ngồi đáy giếng nuốt trăng!”—The koan of Zen Master Pai-ma’s Dharmakaya. According to the Wudeng Huiyuan, volume XIII and The Records of the Transmission of the Lamp (Ch’uan-Teng-Lu), Volume XVII: one day, a monk asked Pai-ma, “What is the path of the inclination to the good of the Dharmakaya?” Pai-ma said, “A frog sits in the bottom of a well to swallow the moon!” Bạch Mã Tự: Baimasi (chi)—Pai-ma-ssu—White Horse Temple—Tên của một ngôi chùa nổi tiếng và lâu đời nhất ở Lạc Dương, Trung Hoa. Đây là một trong những ngôi chùa cổ nhất ở Trung Quốc, có lẽ được xây dựng vào thế kỷ thứ nhất phỏng theo mô hình của Trúc Lâm Tịnh Xá ở Ấn Độ. Chùa Bạch Mã được vua Hán Minh Đế dựng lên và cho người sang Ấn Độ tìm hai vị sư nổi tiếng là Matanga và Gobharana về trụ trì vào khoảng năm 64 sau Tây Lịch thời Hậu Hán. Chùa tọa lạc trong thành Lạc Dương, tỉnh Hồ Nam, về phía tây của cổ thành, phía đông của thành mới bây giờ. Theo tương truyền thì vào cuối thế kỷ thứ hai sau Tây Lịch, những kinh mang về từ Ấn Độ được chở trên những xe ngựa trắng nên từ đó chùa có tên là Bạch Mã. Đây cũng là nơi mà giáo đoàn truyền giáo đầu tiên của đạo Phật lưu trú. Cũng có truyền thuyết cho rằng chùa nầy được dựng lên để tưởng nhớ hai vị A La Hán Tỳ Kheo đã đến Trung Hoa hoằng Pháp bằng ngựa trắng—Name of a famous and oldest temple in Lo-Yang, China. White Horse Monastery, one of the oldest Buddhist monasteries in China, probably has been built on the model of the Indian Jetavana retreat some time around the first century. The White Horse Temple (Monastery) recorded as given to the Indian monks, Matanga and Gobharana, who are reputed to have been fetched from India to China in 64 A.D. The temple was in Honan, in Lo-Yang, the capital; it was west of the ancient city, east of the later city in Later Han dynasty. According to tradition, originating at the end of the second century A.D., the White Horse Temple was so called because of the white horse which carried the sutras they brought back from India. Also according to tradition, the first missionaries dwelt. Some said this temple was built in memory of the two Arhat Bhikshus who came to China on ‘white horses’ to propagate the Buddha-Dharma.

Bạch Mao:Urna(skt)—Unna (p)—White hair— Tố hào—Mi Gian Bạch Hào Tướng—Chùm lông trắng ở giữa hai chân mày của Đức Phật (sợi lông mày trắng tỏa ánh hào quang, giữa chỗ giao nhau của hai lông mày Đức Phật, có sợi lông trắng dài xoắn lại thành một búi nhỏ luôn tỏa ra ánh sáng), một trong 32 tướng tốt của Đức Phật—The urna or curl between the Buddha’s eyebrows whence streams light that reveals all worlds, one of the thirty-two characteristics of a Buddha—See Tam Thập Nhị Hảo Tướng.

Bạch Mao Tướng: A white urna or curl between the eybrows—See Tam Thập Nhị Hảo Tướng. Bạch Nạp: Áo cà sa màu trắng—Áo cà sa vá của Phật Thích Ca ngày trước là một loại áo được nhuộm màu hoại sắc. Luật của nhà Phật là nhuộm sao cho áo cà sa có màu hoại sắc; nhưng ở Trung Hoa, dưới thời nhà Tống (theo Đại Tống Tăng Sử Lược), rất nhiều chư Tăng Ni không chịu mặc áo nhuộm hoại sắc, mà mặc cà sa màu trắng—The patchwork robe of Sakyamuni Buddha is always with a broken colour. A fundamental rule in Buddhism is to dye the kasaya with a secondary color; however, in the Sung dynasty, a lot of monks and nuns did not want to wear broken- coloured robe, but they wore the white robe. Bạch Nghiệp: Kusala kamma (p)—Kusala-karma

(skt)—Thiện nghiệp—Wholesome deeds— Wholesome karma—Good karma—Skillful action which will produce pleasant results. Bạch Nghiệp Hắc Nghiệp: Thiện nghiệp và ác nghiệp—Wholesome and unwholesome deeds—

See Tứ Nghiệp.

Bạch Nguyệt: Suklapaksa (skt)—Bạch Phần— Nửa tháng đầu của tháng âm lịch (khi trăng sáng dần và sáng dần). Trăng sáng, thường chỉ ánh trăng của nửa tháng đầu, đối lại với hắc phần hay ánh trăng tối của nửa tháng sau (theo Tây Vực Ký, từ ngày trăng bắt đầu mọc đến ngày 15 trong tháng, gọi là “Bạch Phần.” Bạch phần có thể là 14 hay 15 ngày tùy theo tháng thiếu hay đủ)—First fortnight of a lunar month. The bright moon, usually the moon light during the first half of the month, or the period of the waxing moon, in contrast with the krsnapaksa dark or latter half. Bạch Ngưu: A white ox—White ox revealed in the open—Theo Kinh Pháp Hoa, đại ngưu bạch xa được Phật dùng để ám chỉ Đại Thừa—According to the Lotus Sutra, the great white ox and ox-cart revealed in the open, i.e. the Mahayana. Bạch Ngưu Xa: Xe Trâu Trắng—Nhứt Thừa cứu độ chúng sanh—White bullock cart—The one universal vehicle of salvation. Bạch Ngưu Vô Giác: A hornless white ox or a white horse.

Bạch Nhãn Tương Khán: Nhìn ai một cách khinh miệt—To look upon someone with disdain. Turn the whites of the eyes upon someone. Bạch Nhất Yết Ma: Jnaptidvitiya-karmavacana

(skt).

  1. Bạch Nhất: Một lần bạch—Mỗi khi trong tự viện có pháp sự thì Tăng chúng họp lại để đệ trình đề nghị—To meet with the body (assembly) of monks to submit the proposal or work to be undertaken during a ceremony.
  2. Yết Ma: Tăng chúng họp bàn, cân nhắc và giải thích xem coi đề nghị có nên được thực hành hay không—The assembly of monks discuss, consider and explain as to how the

proposal or work would be undertaken. Bạch Nhị Yết Ma: Jnaptidvitiya-karmavacana (skt)—Trước tiên là bạch một lần (đưa lên đề nghị); sau đó là yết ma hay bàn luận, xem xét, và giải thích nên thực hiện đề nghị đưa ra như thế nào—First, to meet to submit the proposal; then to discuss, consider and explain as to how the proposal or work would be undertaken—See Bạch Nhất Yết Ma.

Bạch Nhựt: Daylight.

Bạch Niêm Tặc: Bạch Niêm—White finger robber—Trong nhà Thiền, Thiền sư dùng hảo pháp khéo léo để độ đệ tử—In Zen, the term is used to express a Zen master who uses skillful methods to save his students.

Bạch Phạn: See Tịnh Phạn Vương.

Bạch Phạn Vương: Sukkodana(skt)— Suddhodana (skt & p)—Pure Rice King—Hoàng tử con thứ hai của vua Sư Tử Giáp Vương; em trai vua Tịnh Phạn; là cha của Đế Sa, Đề Bà Đạt Đa, và Nan Đề Ca—A prince of Kapilavastu, second son of Simhahanu; younger brother of King Suddhondana (father of Siddhartha); father of Tisya, Devadatta and Nandika.

Bạch Pháp: Byakubo (jap)—Wholesome dharma—See Thanh Bạch Pháp.

Bạch Pháp Tộ: Master Pai Fa Tsu—Tên của một vị Tăng Trung Hoa ở tỉnh Hà Nam vào thế kỷ thứ III, giữa thời Ngụy và Tấn—Name of a Chinese monk from He-Nan Province, China, in the third century, between the Wei and Ch’in dynasties. Bạch Phần: Suklapaksa (skt)—First fortnight of a lunar month—See Bạch Nguyệt. Bạch Phất: Vijani (p)—Valavyajana (skt)— Vyajana (skt)—See Phất Trần. Bạch Phật: Trình lên đức Phật—To tell the Buddha.

Bạch Phổ Nhân (1870-1927): Master Pai F’u Ren—Tên của một vị Tăng Mông Cổ vào thế kỷ thứ XX—Name of a Mongolian monk in the twentieth century.

Bạch Quán Âm: Quán Thế Âm Bồ Tát—See

Bạch Thân Quán Tự Tại Bồ Tát. Bạch Quán Tự Tại Bồ Tát: Quán Thế Âm Bồ Tát—SeeBạch Thân Quán Tự Tại Bồ Tát.

Bạch Sa Ngõa: Peshawar (skt)—Thành Bạch sa ngõa.

Bạch Sắc: White colored.

Bạch Sắc Bạch Quang: White colored white light.

Bạch Sắc Biến Xứ: White Kasina.

Bạch Tán: Tán thán Đức Như Lai—To speak praises to the Buddha.

Bạch Tản Cái Phật Đảnh: Sitatapatra (skt)—

Sitatapatrobnisa (skt)—Usnisasitapattra (skt)— Tàng lọng trắng trên đỉnh đầu của Phật mang ý nghĩa tịnh đức của Phật là vị chuyển luân vương che mát tất cả chúng sanh, một trong những danh hiệu của đức Quán Thế Âm—The white umbrella or canopy over the head of Buddha, indicating him as a cakravarti, or wheel-king, one of the titles of Avalokitesvara.

Bạch Tán Cái Phật Đảnh Luận Vương: Tát Đát Đa Bát Đát La—Bạch Tản Cái Đà La Ni (đà la ni với lọng trắng), ví với tánh trong sạch không nhơ và che chở hết thảy chúng hữu tình của Như Lai Tạng—A dharani interpreted as a large white canopy indicating the purity of the Tathagata- garbha.

Bạch Tản Phật Đỉnh: Sitatapatra (skt)—Lấy lọng trắng làm hình Tam Muội Da, tượng trưng cho đức đại từ bi trong trắng truyền khắp pháp giới, một trong những danh hiệu của Quán Thế Âm Bồ Tát—With white parasol, symbol of pure mercy, one of the title of Avalokitesvara.

Bạch Tản Cái Thần Chú: Sitatapatra-dharani (skt)—Một trong nhiều loại thần chú trong Phật giáo—One of several kinds of dharanis in Buddhism.

Bạch Tặc: Cướp bằng tay không và không để lại dấu vết gì cả—Robbing with bare hands and without leaving a trace.

Bạch Tâm: Một cái tâm hay lương tâm trong sáng—A clear heart or conscience. Bạch Thánh (1904-?): Master Pai-Sheng—Tên của một vị Tăng Trung Hoa ở Hồ Bắc vào thế kỷ thứ XX. Vào năm 1948, Sư đến Đài Loan để tổ chức Hội Phật Giáo Trung Hoa tại đây—Name of a Chinese monk from Hu-bei Province, China, in the twentieth century. In 1948, he came to Taiwan to organize the Chinese Buddhist Congregation there.

Bạch Thân Bồ Tát: See Bạch Thân Quán Tự Tại Bồ Tát.

Bạch Thân Quán Tự Tại Bồ Tát: Svetabhagavati (skt)—Avalokitesvara (skt)—White-bodied (White-robed) Bodhisattva.

Bạch Thi Lê Mật Đa La: Srimitra (skt)—Bạch Thi Ly mật đa la—Thất Lợi Mật Đa La—Kiết Hữu—See Thi Lợi Mật Đa La. Bạch Thiện Sơn: Pandava(p)—White Pure Mountain—Name of a mountain.

Bạch Thủy A Di Đà Đường: Sảnh đường xây cất theo kiểu Nhật Bản, nơi người ta đến để cầu phước cho người thân (năm 1160, vợ của Bình Tắc Thông, một người Nhật Bản, vì muốn cầu phước cho chồng mà kiến lập viện A Di Đà trong khuôn viên chùa Nguyện Thành, trên huyện Phúc Đảo, Nhật Bản)—Pai-shui Amitabha Hall, a Japanese style hall where people come to seek blessing for their loved ones.

Bạch Thủy Nhân Thiền Sư: Zen master Jên of Pai-shui—Thiền sư Bạch Thủy Nhân, tên của một vị Thiền sư Trung Hoa. Hiện nay chúng ta không có nhiều tài liệu chi tiết về Thiền sư Bạch Thủy Nhân; tuy nhiên, có một cuộc đối thoại giữa Sư và đệ tử trong Ngũ Đăng Hội Nguyên. Khi Bạch Thủy Nhân lập một buổi lễ giỗ cho sư phụ của mình để tưởng niệm ngày thầy thị tịch, một vị Tăng hỏi: “Tiên Sư có đến không?” Bạch Thủy Nhân nói: “Chuẩn bị thêm một lễ nữa.” Phải chăng thiền sư xem người hỏi như một trong các ngạ quỷ? Những lời phát biểu này của các Thiền sư dường như không có vẻ sáng tỏ cho lắm từ quan điểm thế gian bình thường của chúng ta. Và vấn đề làm thế nào các ngạ quỷ lại có một chỗ trong khuôn khổ của quan niệm về thế giới của Thiền vẫn còn là một chủ đề nghiên cứu đặc biệt trong hệ thống Thiền ở Trung Hoa, Nhật Bản, Đại Hàn và Việt Nam—Zen master Jên of Pai-shui, name of a Chinese Zen master. We do not have detailed documents on this Zen Master; however, there is a dialogue between him and his disciple in the Wudeng Huiyuan (Five Records of the Torch in the Sung Era). When Jên of Pai-shui set up a feast for his late master on his death-day, a monk asked, “Will the late master come, or not?” Jên of Paishui said, “Have another offering ready.” Did the master take the questioner for one of the hungry ghosts? These statements by the masters do not seem to be very illuminating from our worldly relative point of view. And how the hungry ghosts came to find their place in the scheme of the Zen conception of the world is a subject of special research in the institutional history of Zen in China, Japan, Korea, and Vietnam. Bạch Thủy Thành: Isfijab (skt)—White-river town in Turkestan, situated on a small tributary of the Jaxartes—Thành phố nằm bên dòng Bạch Thủy, một phụ lưu của sông Jaxartes ở Turkestan. Bạch Thử Dụ: The white rat—Chuột trắng ám chỉ ngày hay là việc thiện—See Bạch Hắc Nhị Thử. Bạch Tịnh Thức: White pure consciousness—See Như Lai Tạng.

Bạch Trùy: White baton or hammer—Kiền trùy để gõ mỗi khi muốn thưa việc hay muốn giữ sự im lặng trong tự viện—The informing baton or hammer, calling attention to a plaint, or for silence to give information in a monastery. Bạch Túc: Master Pai Tsu—Tên của một vị Tăng Trung Hoa vào thế kỷ thứ IV. Vào năm 396, Sư đến giảng kinh ở Liêu Đông và Triều Tiên. Đây có lẽ là lần đầu tiên dân Cao Ly được nghe nói về Phật pháp—Name of a Chinese monk in the fourth century. In 396, he arrived in Liao-Tung and Korea to teach Buddha-dharma. This was probably the first time people in Korea heard about Buddha-dharma.

Bạch Tứ Yết Ma: Hội đồng tứ Tăng về những vấn đề nghiêm trọng (trong Tăng chúng khởi hành sự vụ hay thọ giới, trước hết báo cáo với Tăng chúng về sự việc ấy gọi là bạch; sau đó dò hỏi ba lần xem sự việc ấy nên chăng rồi mới làm gọi là tam yết ma). Trong nghi lễ thọ giới, vị sư được thọ giới sẽ trả lời ba lần mỗi câu hỏi của sư chứng minh— To consult with an assembly of four monks on matters of grave moment and obtain their complete assent. One announcement and three responses. It is the mode of ordaining monks, three responses to the one call of the abbot. Bạch Tướng Tâm: Mind of white appearance—

Tâm có tướng màu trắng—Theo Lạt Ma Geshe

Kelsang Gyatso trong Phật Giáo Truyền Thống Đại Thừa, tứớng giống như ảo tượng là một trong tám tâm phát sinh trong giấc ngủ. Lúc ấy mọi sự được tâm nhận thức là hoàn toàn trống rỗng nhưng trắng và sáng. Vào thời điểm nầy tâm vi tế của giấc ngủ phát triển, và tâm ta càng lúc càng trở nên vi tế hơn trước—According to Lama Geshe Kelsang Gyatso in Buddhism in Mahayana

Tradition, this is one of the eight levels of mind development during the sleep process. At this time everything is perceived as totally empty but white and bright. At this point the subtle mind of sleep develops and our mind becomes subtler and subtler.

Bạch Tượng: White elephant—Voi sáu ngà đã đưa Phật Thích Ca vào bụng Hoàng Hậu Ma Da từ cung trời Đâu Xuất. Tất cả chư Phật đều giáng trần bằng phương cách nầy—The six-tusked white elephan which bore the Buddha on his descent from the Tusita heaven into Maya’s womb, through her side. All Buddhas descend the world in similar fashion.

Bạch Vân: Pai Yun—White clouds.

  1. Tên của một ngôi tự viện bên Trung Hoa— Name of a temple in China.
  2. Trong Thiền, Bạch vân ám chỉ không vướng mắc những tham, sân, phiền não, luyến ái, mê vọng, si mê, ngạo mạn, nghi ngờ, tà kiến, vân vân—In Zen, white clouds imply no

attachments in greed, anger, afflictions, loveattachment, delusion, stupidity, arrogance, doubt, improper views, and so on.

  1. Master Pai Yun—Tên của một vị Tăng Trung

Hoa trong tỉnh Hà Nam vào thế kỷ thứ XX— Name of a Chinese monk from He-nan

Province, China, in the twentieth century. Bạch Vân An Cốc: Hakuun-Yasutani(18851973)—See An Cốc Bạch Vân Thiền Sư.

Bạch Vân Huệ Hiểu Thiền Sư (1223-1297): Hakuun-Egyo(jap)—Tên của một vị danh Tăng Nhật Bản vào thế kỷ thứ XIII—Name of a Japanese famous monk in the thirteenth century.

Bạch Vân Huệ Hiểu Thiền Sư Ngữ Lục:Hakuun-EgyoGoroku (jap)—Ngữ lục ghi lại các lời nói, sưu tập những châm ngôn, những giải thích và thuyết giảng của những thiền sư thuộc Thiền phái Đông Phước Tự, một trong những nhánh thiền quan trọng nhất trong trường phái Lâm Tế ở Nhật Bản. Phái này do Thiền sư Viên Nhĩ Biện Viên (1202-1280) khai sáng. Hiện nay phái này có khoảng 365 ngôi tự viện trên khắp Nhật Bản. Đông Phước Tự Ngữ Lục được Thiền sư Bạch Vân Huệ Hiểu (1223-1297) biên soạn vào hậu bán thế kỷ thứ XIII, gồm 80 tập—Records of teachings or record of words and collection of the instructions, discourses, and sayings of Zen masters of the Tofukuji branch, founded by Zen master Enni Benen. This is one of the most important branches from Lin-Chi school in Japan. Up to now, this branch has about 365 temples throughout Japan. Tofukuji-haGoroku was composed by Zen master Hakuun-Egyo in the second half of the thirteenth century, 80 volumes.

Bạch Vân Lầu Quỳnh Điện Ngọc: Pai-Yun: A jade palace—Một hôm Thiền sư Bạch Vân Thủ Đoan thượng đường thuyết pháp: “Nếu quả thực được một phen xuất hạn, liền nhằm trên một cọng cỏ hiện lầu quỳnh điện ngọc; nếu chưa quả thực được một phen xuất hạn, dù có lầu quỳnh điện ngọc lại bị một cọng cỏ che lấp mất, thế nào xuất hạn? Tự có một đôi tay khéo ấy, đâu từng xem nhẹ vũ tam đài.”—Another day Zen master PaiYun entered the hall to address the monks, saying: “If you go out and really work up a sweat, then when you see a single stalk of grass a jade palace is revealed. But if you don’t put forth this type of effort, then even if you have a jade palace, a single stalk of grass will confound you. How can you really work up a sweat like this? As long as your two hands are tired, you’ll never dance gaily in the three palaces.”—See Bạch Vân Thủ Đoan Thiền Sư

Bạch Vân Sơn Miếu: Miếu trên núi Bạch Vân, trong tỉnh Thiểm Tây, Trung Hoa—Pai Yun Mountain Temple in Hsien-hsi Province, China.

Bạch Vân Thiết Bích: Pai-Yun: An iron wall—

Công án nói về những lời dạy dỗ đệ tử của Thiền sư Bạch Vân Thủ Đoan (1025-1072). Một hôm Thiền sư Bạch Vân Thủ Đoan thượng đường thuyết pháp: “Cổ nhân để lại một lời nửa câu, khi chưa thấu sờ đến giống hệt vách sắt, bỗng nhiên một hôm sau khi nhìn được thấu, mới biết chính mình là vách sắt. Hiện nay làm sao thấu? Sư lại nói: Vách sắt! Vách sắt!”—One day Zen master Pai-Yun entered the hall and addressed the monks, saying: “The ancients have passed down a few words, and before we penetrate them they are like an iron wall. Suddenly, one day, after we see through it, we know that we ourselves are an iron wall. What can be done to see through this question?” Zen master Pai-Yun also said: “An iron wall! An iron wall!”—See Bạch Vân Thủ Đoan

Thiền Sư.

Bạch Vân Thủ Đoan Thiền Sư (1025-1072):

Hakuun Shutan (jap)—Pai-yun Shou-tuan (WadeGiles Chinese)—Baiyun Shouduan (Pinyin

Chinese)—Hiện nay chúng ta không có nhiều tài liệu chi tiết về Thiền sư Bạch Vân Thủ Đoan; tuy nhiên, có một vài chi tiết lý thú về vị Thiền sư này trong Ngũ Đăng Hội Nguyên: Thiền Sư Bạch Vân Thủ Đoan sanh năm 1025 tại Hàn Giang, thuộc tỉnh Hồ Nam. Từ thuở thiếu niên sư đã có khiếu về nghệ thuật. Năm hai mươi tuổi sư thọ cụ túc giới với Thiền sư Úc ở Trà Lăng. Về sau sư đến tham vấn với sư Dương Kỳ, một vị thầy lớn của trường phái Lâm Tế, và sư giác ngộ ở đây. Sau một thời gian dài làm thị giả cho Thiền sư Dương Kỳ, Bạch Vân hành cước du phương và dạy Thiền ở nhiều tự viện khác nhau, mọi nơi Sư đều qui tụ những nhóm lớn đệ tử. Cuối cùng Sư trụ laị dạy Thiền trên núi Bạch Vân, trong tỉnh An Huy—We do not have detailed documents on this Zen Master; however, there is some interesting information on him in The Wudeng Huiyuan: Shou-Tuan-Bai-Yun was born in 1025 in HengYang, Hunan province. As youth, he was skilled at scholarly arts. He received ordinationation at age twenty from Zen master named You in ChaLing. Later he traveled to study with Yang-Xi, the great teacher of the Lin-Chi lineage, with whom he attained enlightenment. After spending a long period as Yangqi’s attendant, Pai-Yun traveled and taught Zen at a number of different temples, everywhere gathering large crowds of students. He eventually lived and taught Zen at Pai-Yun Mountain, in Anwei Province.

 Một hôm Dương Kỳ thình lình hỏi sư: “Bổn sư ngươi là ai?” Sư thưa: “Hòa Thượng Úc ở Đồ Lăng.” Dương Kỳ bảo: “Ta nghe ông ấy qua cầu bị té mà được tỉnh ngộ, làm một bài kệ kỳ đặc, ngươi có nhớ không?” Sư bèn nói lại bài kệ:

“Ngã hữu minh châu nhất khỏa, Cửu bị trần lao quan tỏa,

Kim triệu trần tận quang sanh,

Chiếu phá sơn hà vạn đóa.”

(Ta có một viên minh châu,

Đã lâu vùi tại trần lao,

Hôm nay trần sạch sáng chiếu, Soi tột núi sông muôn thú.

Thiền Sư Thích Thanh Từ dịch).

One day Yang-Xi suddenly asked Bai-Yun: “Under what teacher were you ordained?” Bai-Yun said: “Master You in Cha-Ling.” Yang-Chi said: “I heard that he stumbled while crossing a bridge and attained enlightenment. He then composed an unusual verse. Do you remember it or not?” Bai-Yun then recited the verse:

“I possess a lustrous pearl Long locked away by dust and toil.

Now the dust is gone and a light shines

Forth,

Illuminating myriad blossoms with the mountains and rivers.”

  • Bất chợt Dương Kỳ cười rồi nhẩy tửng lên. Sư Bạch Vân ngạc nhiên suốt đêm không ngủ. Hôm sau sư đến thưa hỏi, gặp ngày cuối năm, Dương Kỳ hỏi: “Ngươi thấy mấy người hát sơn đông đêm qua chăng?” Sư thưa: “Thấy.” Dương Kỳ bảo: “Ngươi còn thua y một bậc.” Sư lấy làm lạ thưa: “Ý chỉ thế nào?” Dương Kỳ bảo: “Y thích người cười, ngươi sợ người cười.” Sư liền đại ngộ. Sư hầu Dương Kỳ thời

gian khá lâu mới giã từ đi Viên Thông. Sư được Thiền Sư Nột cử sư trụ trì chùa Thừa Thiên.Tại đây tiếng tăm của sư lừng lẫy— Yang-Xi suddenly laughed out loud and jumped up. Pai-Yun was shocked by this behavior so much that he hardly slept that night. Early the next morning Pai-Yun came to question Yang-Xi about what had happened the night before. Yang-Xi asked: “Did you witness an exorcism last night?” PaiYun said: “Yes.” Yang-Xi said: “You don’t measure up to it.” This startled Pai-Yun. He asked: “What do you mean?” Yang-Xi said: “I enjoyed someone’s laughter. You fear someone’s laughter.” Upon hearing these words, Pai-Yun experienced great

enlightenment. Pai-Yun then served as YangXi’s attendant for a long period of time. He later travelled to Yuan-T’ung temple where, at the recommendation of the abbot Zen master Yuan-T’ung Na, he then assumed the abbacy of the temple and taught at ChengT’ien temple. There his reputation became widely known.

  • Thiền sư Bạch Vân thượng đường thị chúng, nói rằng: “Ngày trước có chúng hội trên đỉnh Linh Thứu Sơn, nơi đức Thế Tôn đưa một cành hoa lên, và Ma Ha Ca Diếp mỉm cười. Đức Thế Tôn nói: ‘Ta có Chánh Pháp Nhãn Tạng. Nay Ta trao truyền lại cho Ma Ha Ca Diếp.’ Chánh pháp này được truyền xuống cho đến ngày nay. Lão Tăng nói với chúng hội này rằng nếu nó thật sự là chân Pháp nhãn, thì lão Thích Ca Mâu Ni đâu có được nó, vậy thì làm sao mà truyền lại được đây? Làm sao người ta kể lại một chuyện như vậy? Kỳ thật, mỗi người các ông đều có chân Pháp nhãn. Nhưng mỗi ngày sau khi mấy ông ra khỏi giường, lại có những thứ ‘có, có,’ và ‘không, không’ chia chẽ ‘nam’ và ‘bắc’ và những hành động phân đôi khác, tất cả những thứ đó lấy mất đi ánh sáng của chánh Pháp nhãn tạng. Khi mà mắt này được mở ra, toàn thể vũ trụ và đại địa, nhật, nguyện, tinh cầu, chòm sao, vô số hình tướng của vũ trụ, dầu tất cả đều ở ngay trước mắt của mấy ông, mà lại không hiển hiện chút hình tướng nào cả. Trước khi mắt này được mở ra, nó bị triệt tiêu trong mắt

của mọi người. Hôm nay nó đã mở ra rồi, và nó không chỉ giới hạn tại chỗ này không thôi. Nhưng ai trong mấy ông mà mắt đã mở; lão Tăng không thiếu khả năng, vì vậy lão Tăng sẽ mở nó ra để cho mấy ông thấy.” Bạch Vân bèn đưa tay lên với hai ngón dựng đứng và nói: “Nhìn! Nhìn! Nếu mấy ông thấy nó thì nó giống như lão Tăng đã nói vậy. Nếu mấy ông không thấy nó thì lão Tăng sẽ nói một bài kệ khác vậy:

“Chánh Pháp Nhãn Tạng trong mỗi người. Không tương không xứng cùng ngàn Thánh.

Dòng truyền xuống đến ngươi.

Tỏa sáng khắp Đường bang.

Tu Di sơn quá hải,

Tháng sáu trời sa sương

Dầu ta nói thế ấy

Ngôn tự không truyền tải.”

Zen master Pai-Yun entered the hall and addressed the monks, saying, “In former times there was an assembly at Vulture Peak where the World-Honored One held up a flower, and Mahakasyapa smiled. The World-Honored One said, ‘I have The Treasure of the True Dharma Eye. I pass it to Mahakasyapa.’ This was then passed on in succession down to the present day. I say to this assembly that if it was really the true Dharma eye, then old Sakyamuni didn’t have it, and so how could he have passed it on? How could it have been transmitted? How can such a thing be said? In fact, each of you possesses the treasury of the true Dharma eye. But every day after you get out of bed, there’s ‘yes, yes,’ and ‘no, no,’ dividing up ‘south’ and ‘north,’ and other acts of bifurcation, all of which taken together are the light of the treasury of the true Dharma eye. When this eye opens, the entire universe and the great earth, the sun, moon, stars, and constellations, the myriad forms of the universe, though all right before your eyes, do not manifest a single bit of form. Before the eye opens, it is extinguished in the eyes of all people. Today it has already opened, and it is not limited to this place. But as to those of you for whom the eye has not opened; I don’t lack the ability, so I’ll open it and let you see.” PaiYun then raised his hand with two fingers extended vertically and said, “Look! Look! If you can see it then it’s the same as I’ve said. If you can’t see it, then I’ll have to recite another verse:

‘The Treasury of the True Dharma Eye of

each of you,

Cannot be matched by the thousand sages, The line passes through you, Brilliantly filling the great Tang.

Mt. Sumeru walks into the sea,

In June a cold frost descends,

Though I speak of it thus,

No words can describe it.’ Monks! I’ve spoken a mouthful. So why is it that no words can describe it?” Pai-Yun then shouted and said, “Each of you has two places

to see it!”

 Bạch Vân nói: “Lão Thích Ca Mâu Ni tụng tứ đại nguyện, đó là:

‘Chúng sanh vô biên, thệ nguyện độ.

Phiền não vô tận, thệ nguyện đoạn.

Pháp môn vô lượng, thệ nguyện học.

Phật đạo vô thượng, thệ nguyện thành.’ Lão Tăng cũng có bốn đại nguyện. Chúng là:

‘Khi đói, ta ăn;

Khi lạnh, ta mặc thêm quần áo;

Khi mệt, ta nằm duỗi ra ngủ;

Khi nóng, ta tìm nơi gió mát.'”

Pai-Yun said, “Old Sakyamuni recited four great vows, which were:

‘Though the myriad beings are numberless, I vow to save them Though defilements rise endlessly,

I vow to end them;

Though Dharma gates are innumerable,

I vow to study them;

Though Buddha’s way is unsurpassed,

I vow to embody it.’

I also have four great vows. They are:

‘When I’m hungry, I eat;

When it’s cold, I put on more clothes;

When I’m tired, I stretch out and sleep;

When it gets warm,

I like to find a cool breeze.'”

  • Một ngày nọ có một vị Tăng hỏi sư: “Thế nào là Phật?” Sư đáp: “Chảo dầu không chỗ lạnh.” Tăng hỏi: “Thế nào là đại ý Phật pháp?” Sư

đáp: “Đáy nước thả trái bầu.” Tăng hỏi: “Thế nào là ý Tổ sư từ Tây sang?” Sư đáp: “Quạ bay thỏ chạy.” Tăng hỏi: “Chẳng cầu chư Thánh, chẳng trọng kỷ linh, chưa phải là việc phần trên của nạp Tăng, thế nào là phần trên của nạp Tăng?” Sư đáp: “Nước chết (ao tù) chẳng chứa rồng.” Tăng hỏi: “Khi thế ấy đi thì sao?” Sư đáp: “Lừa chết ngươi.”—A monk asked Pai-Yun: “What is Buddha?” Pai-Yun said: “A hot soup pot has no cool spot.” A monk asked: “What is the great meaning of Buddhism?” Pai-Yun said: “Push the gourd beneath the water.” A monk asked: “Why did Bodhidharma come from the west?” Pai-Yun said: “Birds fly, rabbits walk.” A monk asked: “Praying to the holy ones, believing in one’s self, there are not the concerns of a monk. What are the concerns of a monk?” Pai-Yun said: “Dead water does not conceal a dragon.” The monk asked: “And when it’s like that, then what?” Pai-Yun said: “Gain kills you.”

  • Sư thị tịch năm 1072—Zen master ShouTuan-Pai-Yun died in 1072. Bạch Vân Thủ Đoan Thiền Sư Quảng Lục: Zen master Pai-yun Shou-tuan’s Records of teachings—See Bạch Vân Thủ Đoan Thiền Sư. Bạch Vân Tông: Hakuun (jap)—Pai Yun ts’ung— White Cloud Sect—Một nhánh thứ yếu của Thiền, do thiền sư Trung Hoa tên là Mộng Sơn Sơ Thạch thành lập. Một tông phái Phật giáo được thành lập tại Am Bạch Vân thuộc tỉnh Hàng Châu vào đời nhà Tống; môn đệ của tông phái nầy được gọi là Bạch Vân Thái (vì tất cả đệ tử trong am Bạch Vân đều trường chay). Thiền phái nầy được xem như công khai đối lập với truyền thống thật sự của Pháp. Xuất hiện dưới thời Bắc Tống và tàn lụn dưới thời nhà Nguyên. Tên của tông phái nầy lấy từ tên của một tự viện nơi mà Mông Sơn đã sống—An unimportant secondary lineage of Zen founded by the Chinese Zen master Ch’ing-chueh (Shokaku). A Buddhist school formed in the White Cloud monastery during the Sung dynasty; its followers were known as the White Cloud vegetarians. This sect is regarded as splinter group deviating from the true dharma tradition of Zen. It a rose during the northern Sung Dynasty and died out during the Yuan Dynasty. Its name comes from that of the monastery where Ch’ing-chueh lived.

Bạch Viễn: Master Pai-yien—Tên của một vị Tăng Trung Hoa ở tỉnh Hà Nam vào thế kỷ thứ III—Name of a Chinese monk in He-nan Province in the third century.

Bạch Xứ Quán Âm: See Đại Bạch Y.

Bạch Y: Avadata-vasana (skt)—Hàng áo trắng (nói về Phạm thiên và những người thuộc giai cấp cao), nhưng bây giờ danh từ nầy là dành cho người thường, đặc biệt là những người Phật tử tại gia— White clothes (said to be that of Brahmans and other high-class people), but now the term is used for common people, especially laity or lay men.

Bạch Y Bái Tướng: White clothes madarin—

Người bình dân bỗng nhiên được phong tể tướng. Trong nhà Thiền, từ nầy được dùng để chỉ người thiền sinh hoát nhiên đốn ngộ trong một sát na—In Zen, the term is used to express a student who attains a sudden enlightenment in an instant. Bạch Y Đại Sĩ: Pandaravasini (skt)—Bán Nã La

Phạ Tất Ninh—Bạch Y Quán Âm trên Bạch Liên Hoa (thường mặc áo trắng ngự trên đóa sen trắng)—The white-robed form of Kuan-Yin on a white lotus—See Đại Bạch Y. Bạch Y Phái: Svetambara (skt)—Một nhánh của Kỳ Na giáo ở Ấn Độ—White clothed Sect, a branch of Jainism in India.

Bạch Y Quan Âm: Pandaravasini (skt)—Bạch Y Quán Âm là vị Quán Âm với tất cả đều một màu trắng, sen trắng, tòa trắng, vân vân—The great white-robed one, a form of Kuan-Yin, all in white, with white lotus, white throne—See Quán Thế

Âm Bồ Tát.

Bạch Y Quan Âm Bồ Tát: See Quán Thế Âm

Bồ Tát.

Bái: Lạy—To bow—To pay homage to—To pay respect with the hands.

Bái Ân: To thank for.

Bái Biệt: To say good-bye.

Bái Chào: To salute.

Bái Cụ: Phẩm vật mà Tăng lữ dùng để tặng nhau trong những kỳ lễ hội đặc biệt của Phật giáo— Articles that monks and nuns used to offer to one another in some special occasions in Buddhism.

Bái Đáp: To answer respectfully.

Bái Hỏa Giáo: Parsis (skt)—Zarathustrian—

Zaroastrianism—Tôn giáo có tục lệ lạy thần lửa ở

Ấn Độ theo truyền thống Kinh Vệ Đà—A religion that has the custom of bowing to gods of fire in India, according to the tradition of the Verdic pantheon.

Bái Khí: Những nhạc khí dùng trong thờ phượng—Implements used in worship.

Bái Kiến: To pay a visit to a superior.

Bái Nghênh: To welcome respectfully.

Bái Phật: To worship the Buddha—To pay homage to the Buddha’s image.

Bái Sám: Bowing to the Buddha to make repentance—Phương thức vừa lạy vừa sám hối— This technique consists of making bows as we make repentance.

Bái Sĩ: Chào vị thầy mới một cách tôn kính—To greet the new teacher respectfully.

Bái Sư: To greet the new teacher respectfully.

Bái Thần Giáo: See Linh Vật Bái.

Bái Tịch: Nơi vị trụ trì lễ bái Phật trong bất cứ buổi lễ nào nơi chánh điện—A spot in the main hall where the abbot making bows to the Buddha during any ceremony.

Bái Từ: To leave respectfully.

Bái Vật Giáo: See Linh Vật Bái.

Bái Yết: To visit respectfully.

Bài: Tấm bảng nhỏ dùng để thông báo sự việc cho đại chúng trong Thiền viện—A small board which is used to announce public affairs in a Zen monastery.

Bài Bá Phái: Pai-po Sect—Một phái Phật giáo Tiểu Thừa trong tỉnh Vân Nam, Trung Hoa—A branch of Hinayana Buddhism in Yun-nan

Province in China.

Bài Bác: Apavada (p&skt)—To criticize—To object—Reproach—Blaming—Phỉ Báng—Sự phỉ báng xãy ra khi bản chất bất khả hữu của một mệnh đề được đặt căn bản trên những kiến giải sai lầm không được hiểu rõ ràng. Cổ Đức dạy: “Thí như nhơn thóa thiên, hoàn tùng kỷ thân trụy.” Nghĩa là người phun nước miếng lên trời, nước miếng rơi trở xuống ngay nơi mặt chính họ. Hoặc là “Ngậm máu phun người nhơ miệng mình—A refutation takes place when the impossible nature of a proposition based on wrong views is not clear comprehended. Ancient virtues taught: “Those who spit at the sky, immediately the spit will fall back on their face.” Or To harbor blood to spit at someone, the mouth is the first to suffer from filth.

Bài Bác Nhân Quả: To denigrate the rule of “Cause and Effect.”

Bài Cú: Haiku (jap)—Một bài tụng với những câu, từ ngữ hay mệnh đề ngắn—A Buddhist verse with short sentences, phrases, or clauses.

Bài Điệp: Sắp đặt, lo liệu—To make arrangements.

Bài Giảng Về Lửa: Discourse on Fire—Bài thuyết giảng về lửa của Đức Phật—Theo Kinh Tương Ưng Bộ Kinh, quyển 35, sau khi Đức Phật gặp gỡ ba anh em Ca Diếp cùng một ngàn đồ đệ của họ, Đức Phật biết được họ là những vị khổ hạnh thờ thần lửa, nên Ngài đã thuyết giảng “Bài Giảng về Lửa” cho họ. “Như vầy tôi nghe, một thuở nọ Đức Thế Tôn đang ở tại núi Tượng Đầu Sơn với một ngàn vị tân Tỳ Kheo, nơi đó Ngài bảo các vị Tỳ Kheo: ‘Này các Tỳ Kheo, tất cả đều đang bốc cháy. Và cái gì đang thiêu đốt? Con mắt, này các Tỳ Kheo, đang bốc cháy. Sắc đang bốc cháy. Nhãn thức đang bốc cháy. Nhãn xúc đang bốc cháy: Lạc thọ, khổ thọ, hoặc không khổ không lạc phát sanh từ nhãn xúc cũng đang bốc cháy. Do nhân gì mà nó đang bốc cháy? Nó bốc cháy vì lửa tham, sân, si, sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu và não. Ta tuyên bố như vậy. Tai, mũi lưỡi, thân và ý… đều bốc cháy. Khi quán tưởng như vậy, này các Tỳ Kheo, một vị đa văn Thánh đệ tử nhàm chán mắt, hình sắc, nhãn thức, nhãn xúc, cảm thọ… Vị ấy nhàm chán tai, âm thanh, nhĩ thức, nhĩ xúc; nhàm chán lỗ mũi, mùi, tỷ thức, tỷ xúc; nhàm chán lưỡi, vị, thiệt thức, thiệt xúc; nhàm chán thân, thân thức, thân xúc; nhàm chán ý, tâm, ý thức, ý xúc và bất cứ cảm thọ nào khởi lên. Vì nhàm chán, vị ấy ly tham; vì ly tham vị ấy được giải thoát. Khi vị ấy được giải thoát, có sự hiểu biết khởi lên rằng vị ấy đã được giải thoát. Và vị ấy biết: Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái này nữa.’ Đức Thế Tôn thuyết giảng như vậy, các vị tân Tỳ Kheo hoan hỷ và tín thọ lời Ngài daỵ. Khi Ngài kết thúc bài giảng, tâm của cả ngàn vị Tỳ Kheo đều thoát khỏi mọi phiền trược, không còn chấp thủ và tất cả đều đắc quả A La Hán.”— According to the Samyutta Nikaya or the Kindred Sayings, volume 35, after the Buddha met the three brothers of Kasyapa and their one thousand followers, the Buddha found out that they belonged to the Fire-worshipping Sect, so the Blessed One expounded to them the discourse on fire. “Thus have I heard, the Blessed One was once staying at Gaya Sisa with a thousand Bhiksus. There he addressed the Bhiksus: “O Bhiksus, all is on fire. And what all is on fire? The eye, o Bhiksus, is on fire. Forms are on fire. Eyeconsciousness is on fire. Eye-contact is on fire. Feeling, which is pleasant or painful, or neither pleasant nor painful, arising from eye-contact is on fire. With what is it burning? It is burning with the fire of lust, the fire of hate, ignorance, birth, decay, death, sorrow, lamentation, pain, grief, and despair. So I declare. The ear, the nose, the tongue, the body, the mind… is on fire. Seeing thus, o Bhiksus, a well-taught Ariyan disciple gets disgusted with the eye, forms, eye-consciousness, eye-contact, feeling… He gets disgusted with the ear, sounds, ear-consciousness, ear-contact;… the nose, odours, nose-consciousness, nose-contact;… the body, tactile objects, body-consciousness, body-contact;… the mind, mental objects, mindconsciousness, mind-contact and any feeling that arises. With disgust, he gets detached; with detachment, he is liberated. When he is liberated, there is knowledge that he is liberated. And he understands thus: “Birth is destroyed, the holy life is lived, what should be done is done, there is no more of this state again.” After the Buddha expounded the “Discourse on Fire,” all the Bhiksus were pleased at his words and welcomed them. When the Buddha concluded his sermon, the hearts of the thousand Bhiksus were liberated from defilements, without attachment and they all became Arahants.

Bài Kệ: Gatha (skt)—Già Đà—Những câu phúng vịnh, tán thán nghĩa lý thâm diệu và ca tụng công đức của Phật và Tam Bảo—Verse. Bài Khiển: Ứng phó, đối phó—To cope, to face. Bài Pháp Đầu Tiên: First Sermon—Bài pháp đầu tiên ngay sau khi Phật đạt được đại giác tại Bồ đề đạo tràng. Phật đã đi vào vườn Lộc uyển tại thành Ba La Nại, để giảng bài pháp đầu tiên về Trung

Đạo, Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo—After the Buddha’s Enlightenment at Buddha Gaya, he moved slowly across India until he reached the Deer Park near Benares, where he preached to five ascetics his First Sermon. The Sermon preached about the Middle Way between all extremes, the Four Noble Truths and the Noble Eightfold Path.

Bài Phê: 1) Chuẩn bị: To prepare; 2) Sắp xếp: To arrange.

Bài Tôn Phái: Pai-tsun Sect—Một phái Phật giáo Tiểu Thừa trong tỉnh Vân Nam, Trung Hoa—A branch of Hinayana Buddhism in Yun-nan

Province in China.

Bài Trang Phái: Pai-Tsang Sect—Một phái Phật giáo Tiểu Thừa trong tỉnh Vân Nam, Trung Hoa— A branch of Hinayana Buddhism in Yun-nan

Province in China.

Bài Trừ: To get rid of.

Bài Vị: Thẻ gỗ dùng để chép tên họ người quá vãng để tiện việc cúng kiến—Ancestral tablet— Inscription board.

Bài Xích: To boycott

Bãi: Ngừng—To cease—To stop—Mark of finality.

Bãi Động: Phấn chấn tinh thần—To be in high spirit.

Bãi Giảng Trai: Thiết trai cúng dường chư Tăng sau một kỳ thiền thất—To provide a meal for monks after a Zen session.

Bãi Tham: Nghỉ việc tham thiền—To dismiss the assembly.

Bại: Failure—Subvert—Defeat—Spoiled— Ruin—Destroy.

Bại Căn: Còn gọi là Bại Chủng. Rễ mục, có nghĩa là căn hay chủng tử xấu, chỉ những kẻ không tu hành Phật quả, mà chỉ an lòng với những quả báo khổ hạnh—Spoiled roots or seed, i.e. those who do not seek Buddhahood, but are content with the rewards of asceticism.

Bại Chủng: See Bại Căn.

Bại Hoại: Corrupted—Spoiled.

Bại Hoại Bồ Tát: Bồ Tát không thành Phật mà lại sanh vào những cảnh giới thấp như vua, thái tử hay long vương—Bodhisattvas who defeat their proper end of becoming Buddha, and who are reborn in lower positions, e.g. as kings or princes, or as dragon-kings, etc.

Bại Hoại Tưởng: Quán xác bị rả ra từng phần (viksiptakas (skt) hay tưởng thây đang tan rã ra từng phần, một trong cửu tưởng quán nhằm giúp hành giả thoát ly chấp trước về thân—To contemplate on the scattered limbs of a corpse, one of the nine types of meditation on corpse which helps free us from attachment to the human body—See Cửu Tưởng Quán.

Bại Khuyết: Bị đánh bại—Defeated.

Bại Luân: Immoral—Corrupted morals. Bại Sa Môn: Vị Sa Môn không giữ giới hạnh—A monk or nun who breaks the precepts.

Bại Sự: Failed affair.

Bại Tục: Corrupted customs. Bám Víu: Attachment—Clinging—To cling to— Grasping.

Bám Víu Vào Cuộc Sống: Cling to our life. Bám Víu Vào Thân Xác: Cling to our body—To hold to

Ban: Đốm: Spotted, striped—Nhóm: Band—Thứ lớp: Class, rank.

Ban Đa Già Da Ta Xoa Đề Ổ Lâm: Quỷ Tập Lâm—Khu rừng nơi quỷ thần qui tập—A forest where ghosts and spirits gather. Ban Đồ Lô Già Pháp: Panduka (skt)—See Bát Chu Đại Tạng.

Ban Già Tuần: Panca-bhijnana (skt)—Pancabhinna (p)—Five divine knowledges—See Ngũ

Thông.

Ban Già Vu Sắc Hội: Panca-parisad (skt)—Ngũ Niên Đại Hội—Five-year Council—Nominal quinquenial Council—Đại hội bố thí cho tất cả mọi người, từ giàu đến nghèo, trên danh nghĩa năm năm một lần—A great gathering for almsgiving to everybody, rich and poor, nominal quinquenial.

Ban Na: Panna (p)—Prajna (skt)—Bát Nhã—Trí huệ—Wisdom or penetrative insight—Trí tuệ trực giác về chân lý tối thượng—See Trí Tuệ.

Ban Thác Ca: Udapanthaka (skt)—Sudapanthaka (skt)—Sudhipanthaka (skt)—Panthaka (skt)—Bán Ca—Bàn Đà Già—Bàn Đặc—Chú Đồ Bán Thác Ca—See Châu Lợi Bàn Đà Già.

Ban Thiền Lạt Ma: Chức Ban Thiền Lạt Ma là chức vị thứ hai sau Đức Đạt Lai Lạt Ma của Phật Giáo Tây Tạng. Vị Ban Thiền Lạt Ma ngự tại điện Tashilhumpo hay Luân Bố Miếu, trong thành Nhựt Cáp Tắc. Vào năm 1640 vị Đạt Lai Lạt Ma thứ năm, nhờ sự trợ lực của Mông Cổ, đã nắm trọn quyền hành chánh và tôn giáo trong nước, ngài bèn tôn vinh vị Thầy của mình chức Ban Thiền Lạt Ma, và xây dựng điện Trát Thập Luân Bố cho ngài. Khi vị Ban Thiền Lạt Ma nầy thị tịch, một vị khác (một đứa trẻ) được tìm thay thế, giống như trường hợp của chức vị Đạt Lai Lạt Ma, nhưng vị Lạt Ma tương lai sẽ không được dân chúng thừa nhận cho đến khi nào vị nầy qua được những cuộc khảo nghiệm của các ủy viên hội đồng Phật Giáo

Tây Tạng—The Tibetan Panchen-Lama ranks second only to the Dalai-Lama among the Grand Lamas of the Gelugpa School of Tibetan Buddhism. His seat is in the Tashilhumpo Monastery at Shigatse. In 1640, the fifth Dalai Lama, with the aid of the Mongols, having acquired temporal as well as spiritual control of the whole country, honoured his own tutor with the title of Panchen Lama (a learned Lama), and built the Tashilhumpo Monastery for him. On the death of the title-holder, the new Lama is found in the body of a small child, as in the case of the Dalai Lama, and no new Lama is recognized as such by the people until examined and appointed by a Tibetan commission appointed for the purpose.

Ban Thưởng: To reward—To recompense.

Ban Trị Sự: Board of directors.

Ban Túc Vương: Kamamsapada (p)—

Kalmasapada (skt)—Còn gọi là Ca Ma Sa Ba Đà hay Ca Ma Sa Đà Vương, dịch là Ban Túc Vương hay Lộc Túc Vương, là vị vua có đốm dưới chân, người ta nói ngài là tiền thân của Đức Phật—The king with the marks on his feet, Kalmasapada, said to be the name of a previous incarnation of the Buddha.

Bán: Pan (skt)—Pun (skt)—Half. Bán Ấn: Bắt ấn bằng một tay, thường thường là tay phải—To make a mudra with jus one hand, usually the right hand.

Bán Bất Nam: Impotent male for half a month— Loại Bất Nam chỉ dùng được nam căn trong nửa tháng, một trong năm loại bất nam—One of the five kinds of impotent males or eunuchs—SeeNgũ Chủng Bất Nam.

Bán Ca: See Châu Lợi Bàn Đà Già. Bán Cá Thánh Nhân: Một vị Thánh nhân hiếm có—A rare sage.

Bán Chế Đại Nhiếp Tâm: To collect the mind— To concentrate the attention—See Nhiếp Tâm.

Bán Chi Ca: See Bán Chỉ Ca.

Bán Chỉ Ca: Pancika (skt)—Panika (skt)—1) Dạ Xoa thứ ba trong Bát Đại Dạ Xoa, là hồng của Quỷ Tử Mẫu: The third of the eight great yaksas, husband of Hariti; 2) Một trong tám vị tướng của Tỳ Sa Môn Thiên Vương: One of the eight generals of Vaisravana. Bán Chỉ Ca Đại Tướng: See Bán Chỉ Ca. Bán Chỉ La: Pancika (skt)—Panika (skt)—Cưu Lan Đơn Trà Bán Chỉ La—See Bán Chỉ Ca. Bán Chung: Một loại chuông nhỏ hơn 60 phân tây—A kind of bell which is shorter than 60 centimeters.

Bán Đề: Không hoàn toàn triệt để—Not completely thorough.

Bán Già La: Pancabhijna (skt)—Bán Già La— Năm thần thông hay ngũ thông hay ngũ trí chứng—The five supernatural powers—The five mystical powers—See Ngũ Thần Thông. Bán Già La Đại Tướng: See Bán Chỉ Ca.

Bán Già Phu Tọa: Bosatsu-za (jap)—Hanka-fuza (jap)—Half-lotus posture—Half-lotus sitting—Tư thế ngồi thiền được khuyên dành cho những người nào chưa thể chịu được tư thế kiết già một thời gian dài mà không cảm thấy quá đau đớn, mặc dầu tư thế nầy kém cân bằng và vững vàng, không thuận lợi trong thiền tọa bằng tư thế kiết già. Kiểu ngồi bán già, kiểu ngồi của chư Bồ Tát, bàn chân nầy để lên đùi chân kia, hay ngược lại (chân trái để bên trên đùi phải và chân phải bên dưới đùi trái, hai đầu gối chạm chiếu dưới đất, để giúp hai đầu gối chạm đất dễ dàng chúng ta có thể đặt một cái gối mỏng bên dưới hai đầu gối), khác với kiểu ngồi kiết già của chư Phật (hai bàn chân để lên hai bắp đùi)—A ‘half lotus’ position is a meditation posture recommended to those who cannot maintain the full lotus position for a long period of time without great pain, even though half lotus position is not as balanced and stable and thus not so conducive to absorption as a so-called full lotus position. A Bodhisattva’s form of sitting, one foot on the thigh of the other or vice versa (left foot over right thigh and right foot under left thigh, both knees touching mat, to facilitate the knees resting on the mat, it may be necessary to use a thin suport cushion under the regular round one), different from the completely cross-legged form of a Buddha (with right foot over left thigh and left foot over right thigh).

Bán Già Tư Duy Tượng: Tượng Phật ngồi có vẻ tư duy trong thế bàn già—A statue of Buddha sitting in contemplation in half-lotus posture. Bán Giả Bồ Thiện Ni: Pancabhojaniya (skt)— Bán Giả Bồ Xà Ni—See Ngũ Chính Thực. Bán Giả Bồ Xà Ni: Pancabhojaniya (skt)—See Ngũ Chính Thực.

Bán Giả Kha Đản Ni: Pancakhadaniya (skt)— Bán Giả Kha Đản Ni—Bán Già Khư Đản Ni—See Ngũ Tước Thực.

Bán Giả Khư Xà Ni: Pancakhadaniya (skt)—Bán Giả Kha Đản Ni—Bán Già Khư Đản Ni—See

Ngũ Tước Thực.

Bán Hạ: Nửa mùa an cư kiết hạ—Half period of time of the summer retreat—See An Cư Kiết Hạ. Bán Kệ: Nửa phần sau của một bài kệ—Second part of a verse.

Bán Khai: Semi-civilized.

Bán Khai Bán Hợp: Nửa úp nửa mở—To be equivocal—Not be straightforward.

Bán Lộ Xuất Gia: Xuất gia vào giai đoạn tuổi trung niên—To renounce worldly life at the middle-aged period of time. Bán Mãn Nhị Giáo: Hinayana-Mahayana (skt)— Tiểu Thừa và Đại thừa—Small Vehicle and Great Vehicle.

Bán Nguyệt Đường Nghi: Cử hành lễ bố tát trong Phật điện vào ngày mồng một và ngày rằm—To conduct the semi-monthly service for recitation of precepts in the Buddha Hall on the first and the full-moon days.

Bán Nguyệt Kỳ Tụng Giới: Semi-monthly service for recitation of precepts—Tụng giới mỗi nửa tháng cho chư Tăng Ni và Tại gia Bồ Tát giới. Theo luật tạng, lễ tụng giới bằng cách công khai nhận tội và sám hối. Tuy nhiên, trên thực tế thì nghi thức nầy bị phế bỏ, và sự nhận tội cũng như sám hối thường được tổ chức riêng trước bàn thờ Phật—Semi-monthly service for recitation of precepts, for either the Bhiksu, Bhiksuni or Bodhisattva precepts. According to the Vinaya, the recitation should be preceded by a public confession of transgressions. However, in practice, this kind of service is often omitted, as confession is always done privately before the Buddha Altar. Bán Nô Ta: Punach—Tên của một vương quốc cổ, tọa lạc khoảng 120 dậm về phía đông bắc Kashmir (Ba Thấp Ca)—Name of an ancient kingdom, situated about 120 miles northwest of Kashmir.

Bán Phần Hữu Biên, Bán Phần Vô Biên: Half finite and half infinite—Một nửa hữu biên, một nửa vô biên—Người đó cùng tột cái hành ấm không, do cái chỗ sở kiến, tâm lộ tính xem xét, so sánh tất cả chúng sanh, trong một thân đều có một nửa sinh, một nửa diệt. Rõ biết mọi vật trong thế giới đều một nửa hữu biên, một nửa vô biên. Vì so đo chấp trước hữu biên, vô biên, nên đọa lạc ngoại đạo và mê lầm tính Bồ Đề—This person thoroughly investigates the formations skandha to the point that it becomes empty. Based on what he sees, in his mind he speculates that each and every living being , in its given body, is half living and half dead. From this he concludes that everything in the world is half finite and half infinite. Because of these speculations about the finite and the infinite, he will fall into externalism and become confused about the Bodhi nature— See Tứ Chủng Hữu Biên.

Bán Siêu: Một chúng sanh cõi trời bằng tinh tấn tu hành đã nhảy vọt từ cõi trời thứ nhứt qua cõi trời thứ mười ba trong mười sáu cõi trời sắc giới—A deva who by devotion advances by leaps, escaping from one to thirteen of the sixteen heavens of form.

Bán Thác Ca: Panthaka (skt)—See Châu Lợi Bàn Đà Già.

Bán Thiên Bà La Môn: Chủng loại ngạ quỷ— Half brahmans (a term for hungry ghosts).

Bán Tín Bán Nghi: To be doubtful—To be undecided.

Bán Tọa: Hanza (jap)—Half-seat—Câu chuyện đức Phật nhường nửa chỗ của mình với Ma Ha Ca Diếp—The story that the Buddha shared his seat with Master Mahakasyapa. Bán Trạch Ca: Pandaka (skt)—Hoàng Môn—See Kiện Nam.

Bán Trai: Ăn chay nửa ngày—Half a day fast. Bán Tự: Half a character, a letter of the alphabet—Half a word.

  1. Nửa chữ: Incomplete word: Half a character, a letter of the alphabet—Half a word.
  2. Trong Phật giáo, bán tự ám chỉ người chưa thọ giới tròn đầy, như Sa Di hay người tại gia chỉ giữ năm hay tám giới mà thôi—Incomplete word. In Buddhism, the term is used to indicate those who don’t receive full-

ordination, i.e. lay people or sramaneras, keep only five or eight commandments.

  1. Tiểu Thừa: Hinayana.

Bán Tự Giáo: Incomplete-word teaching—Thuyết ngôn tăng trưởng phiền não hay ác pháp— Incomplete-word teaching of which teaching causes an increase of afflictions or unwholesome deeds.

Bán Vãn: Khoảng thời gian từ giữa trưa đến 3 giờ chiều—The period of time from noon till 3 p.m. Bàn: Cái dĩa: A dish, a plate—Tảng đá lớn: A big rock.

Bàn Bạc: Xem xét kỹ lưỡng: Careful examination—Nương tựa theo một người nào để tu hành: To lean on someone to cultivate. Bàn Cốc: Master Pan-K’u—Tên của một vị Tăng Trung Hoa ở tỉnh Triết Giang vào thế kỷ thứ

XIII—Name of a Chinese monk in Jie-jiang

Province in the thirteenth century. Bàn Đà Già: Udapanthaka (skt)—Sudapanthaka (skt)—See Châu Lợi Bàn Đà Già.

Bàn Đà Vị: Vandani (skt)—Tán thán—To praise—To adore.

Bàn Đại Nhi: Bandhyaputra (skt)—See Thạch Nữ Nhi.

Bàn Đại Tử: Bandhyaputra (skt)—See Thạch Nữ Nhi.

Bàn Đàm: Pan-T’an (chi)—Tên của một vị cư sĩ

Trung Hoa ở tỉnh Giang Tô vào thế kỷ thứ XVII— Name of a Chinese lay-person in Jiang-Ssu Province in the seventeenth century. Bàn Đạt Xà Lý: Patajali (skt)—See Ba Đan Xà

Lê.

Bàn Đặc: Udapanthaka (skt)—Sudapanthaka

(skt)—See Châu Lợi Bàn Đà Già.

Bàn Già: Vac (skt)—Lời nói—Speech—Talk. Bàn Khuê: Bankei Osho (jap)—See Bàn Khuê Vĩnh Trác Thiền Sư.

Bàn Khuê Vĩnh Trác Thiền Sư (1622-1693): Bankei Eitaku (jap)—Thiền sư Nhật Bản nổi tiếng của trường phái Lâm Tế, và được biết tiếng nhất trong thời của ông. Thời niên thiếu ông lang thang khắp nước Nhật và tham học với nhiều thầy khác nhau. Rồi rút về ẩn cư trong 2 năm, chỉ chuyên việc tọa thiền chứ không làm việc gì khác. Trong thời gian này ông xem thường sức khỏe đến nỗi có nguy cơ chết vì lao phổi. Một buổi sáng, sau khi khạt ra một cục máu, ông bỗng đạt được sự thể nghiệm đầu tiên về đại giác. Về sau này ông đã theo học thiền với thiền sư Tao-Che Ch’ao-Yuan, người đã thừa nhận sự chứng ngộ của ông. Sau khi được triều đình bổ nhiệm về trụ trì tu viện Myoshin-Ji ở Kyoto vào năm 1672, ông trở thành nhân vật chủ chốt trong việc phục hưng truyền thống Lâm Tế ở Nhật Bản. Sức mạnh nơi tâm và khả năng thuyết giảng chân lý Thiền bằng ngôn ngữ dân gian một cách đơn giản và dễ hiểu đối với quảng đại quần chúng đã góp phần mạnh mẽ vào việc phục hưng trường phái Lâm Tế tại Nhật, đã từ lâu bị tắc nghẽn với hình thức bề ngoài cứng nhắt. Tuy nhiên, ông không để lại một trước tác nào và học trò của ông cũng bị cấm ghi lại những bài thuyết giảng của ông. Vì vậy mà có rất ít ngữ lục của ông được đệ tử ghi chép còn sót lại. Thiền sư Bàn Khuê Vĩnh Trác vốn là một bậc tôn sư được mọi người kính phục—A famous Japanese Zen master of the Lin-Chi school, and quite the most popular and famous of his time. In his early years, he wandered through Japan and sought out numerous Zen masters. Then for two years he retreated to a hermitage in order to do nothing but practice sitting meditation. During this time he neglected his health to such an extent that he had almost died of consumption when, one morning as he coughed up a clot of blood, he suddenly had an enlightenment experience. Later he studied under the Chinese master Tao-Che Ch’ao-Yuan, who gave him the certification of enlightenment. After being appointed by the Imperial House as abbot of Myoshin-ji Monastery in Kyoto in 1672, he was a key figure in the revival of the Lin-Chi tradition in Japan. The power of his mind and his ability to present the truth of Zen in the language of the people in a way that was simple and widely comprehensive, contributed greatly to the revival of the Lin-Chi school in Japan, which for a long time had rigidified into concern with outer forms. However, he himself left no writings behind and forbade his students to record his teachings in any form. Thus, very few number of his presentations and dialogues were written down by followers.

  • Có lần Thiền sư Bàn Khuê chuẩn bị rời một ngôi chùa tại kinh đô, nơi ngài được mời đến để thuyết pháp. Ngay lúc đó, có một viên thư lại của một vị lãnh chúa hối hả đến báo với ngài rằng chủ nhân ông ta muốn gặp mặt và tham vấn ngài vào ngày hôm sau. Viên thư lại nài nỉ ngài hãy hoản lại chuyến hành trình. Vì thế, ngài đã nhận lời và ở lại chùa. Hôm sau, viên thư lại ấy lại đến chùa một lần nữa để thông báo rằng vị lãnh chúa bận việc gấp cần phải giải quyết nên không thể gặp mặt ngài được. Thay vào đó, viên thư lại trình những vấn đề mà vị lãnh chúa cần tham vấn và ghi nhận câu trả lời của thiền sư để truyền đạt lại. Nghe xong, Bàn Khuê đáp: “Thiền pháp khó lãnh hội, ngay cả khi trực tiếp tham vấn. Làm sao có thể truyền đạt qua người trung gian?” Bàn Khuê không nói gì thêm. Viên thư lại đành phải im lặng ra về—Once when Zen master Bankei was about to leave a temple in the capital where he taught from time to time, a mandarin came to tell the master that his baron asked the master to postpone his departure because he wanted to see the Zen master in person on tomorrow regarding some Zen issues. Zen master Bankei assented and put off leaving. However, the next day, the mandarin came again to inform the master that the baron had some urgent business to take care of and could not come to see the master. The baron had asked the mandarin to relay his question to Bankei, then report the Zen master’s answer back to him. When he had heard the mandarin, Bankei said, “This matter of Zen is difficult to convey even by direct question and direct answer; it is even more difficult to convey by messenger.” Bankei said nothing more. At that time, the mandarin was speechless, he withdrew and departed.
  • Một lần, có người đến hỏi Bàn Khuê về phương pháp tọa thiền. Sư nói: “Hòa nhập vào tuệ giác minh diệu vốn có từ trước khi khởi tình thức thì gọi là Thiền; lìa khỏi mọi vướng bận trần cấu bên ngoài thì gọi là Tọa. Nếu chỉ ngồi tréo chân và nhắm nghiền mắt lại thì không phải là tọa thiền. Nếu ngồi lặng lẽ suy cứu dòng tư tưởng của mình một cách tinh tế thì mới tạm được gọi là có đôi chút công phu. Mọi phiền não đều xuất phát từ vòng ảo vọng do tâm thức xoay chuyển. Khi cơn giận nổi lên, người ta trở thành ác quỷ. Cũng như thế, dục vọng khiến con người biến thành súc sinh,

và tham lam biến con người thành quỷ đói. Khi nào còn bị phiền não và vọng tưởng trói buộc, chúng sanh vẫn còn lăn trôi trong luân hồi sanh tử, không thể nào đạt đến cảnh giới an lạc và tự tại. Nếu tự mình giải thoát khỏi sự ràng buộc của dòng tư tưởng và tình thức, hành giả sẽ cắt đứt được mối dây phiền não và vượt lên trên các hiện tượng nhân quả vô thường. Nên biết rằng nuôi dưỡng thiện ý là một nhân lành, ắt sẽ gặt được thiện quả; rằng làm việc ác độc và sai trái là một nhân xấu, ắt sẽ nhận lãnh ác báo. Tuy nhiên, tất cả đều là nghiệp quả vô thường. Lìa xa khỏi mọi phiền não vọng tưởng mới chính là con đường thoát ly sanh tử. Nghe những lời này, xin chớ rơi vào chỗ chấp không; kẻ có trí phải biết nương theo lời mà đạt ý. Nên biết rằng cảnh giới Vô Niệm cũng chẳng phải là trạng thái hư không. Cho dù ta không để tâm lắng nghe, tuệ căn tiềm ẩn bên trong mỗi người luôn tỉnh thức giúp ta có thể nghe rõ ràng. Khi chạm tay vào nước hay lửa, ta tự biết lạnh hay nóng, không ai cần phải học cách cảm nhận nóng hay lạnh cả. Hành giả nên nhớ rằng chúng ta hoàn toàn có thể sống mà không cần đến vọng tưởng. Phật tánh vốn bao trùm muôn vật, vượt lên trên mọi khái niệm đối đãi: phải trái, đúng sai, có không, vân vân, của lý luận nhị nguyên, như một tấm gương trong phản chiếu ảnh tượng của muôn vật một cách rõ ràng và vô tư. Vì thế, chúng ta cần gì phải bám víu vào vọng tưởng và tình thức? Có vọng tưởng ắt sẽ phát sinh phiền não. Đạt đến tâm viên giác, hành giả trực nhận sự vật một cách rõ ràng, không bị chi phối bởi tình thức và vọng tưởng nên không vướng bận phiền não. Bởi thế nên nói rằng Tọa với tâm viên giác, và Thiền với tuệ minh sát mới chính là công phu thiền định cao tuyệt nhất.”—Someone asked Zen master Bankei about sitting Zen. He replied: “Harmonization with the ineffable wisdom inherent in everyone before getting involved in thinking and conceptualization is called meditation; detachment from all external objects is called sitting. Just closing your eyes and sitting there is not what I call sitting meditation; only sitting meditation attuned to subtle knowledge is to be considered of value. All confusion is a matter of revolving in vicious circles of delusion because of using thoughts. When angry thoughts come out, you become a titan; craving makes you an animal; clinging to things makes you a hungry ghost. If you die without giving these up, you revolve in routines forever, taking on all sorts of forms, whirling in the flow of birth and death. if you detach from thoughts, there is no confusion, so there is no cause or effect. There being no cause or effect, there is no revolving in routines. As long as you entertain thoughts, when you cultivate good thoughts there are good causes and effects, and when you do wrong there are bad causes and effects. When you have detached from thought and tuned into subtle knowledge, there are no causes or effects of birth or death. When I speak this way, it seems like a vision of nothingness, but it is not so. The reason I say that this is not nothingness is that when I say so, each of you hears it. Even though you do not think of hearing, because of the original knowledge innate in everyone is effectively aware, you can hear distinctly. When you touch water or fire, you know it is cold or hot; yet no one learns to feel cool or heat. This is working beyond thought, so even if there is no thought, it cannot be called nothingness. This inherent subtle knowledge comprehends everything without involvement in the dualistic ideas of being and nothingness, just as a clear mirror reflects the images of things distinctly. So what discursive thought is necessary for this? Discursive thought is there because there is confusion. When you arrive at nondiscursive knowledge, you perceive and distinguish things before discursive thought, so in the end there is no confusion. That is why nondiscursive knowledge is valued. For this reason, sitting meditation with unfabricated subtle knowledge is the highest practice.”

  • Ngày nọ, có người đến gặp Thiền sư Bàn Khuê. Anh ta than rằng mình là người với bản tánh bẩm sinh, rằng mỗi lần lên cơn tức giận thì anh ta không tài nào kềm chế được bản thân mình. Bàn Khuê nói: “A! Anh được trời

phú cho một món quà khá thú vị đấy! Ngay bây giờ anh có mang theo cái bản tánh nóng nảy đó với anh không? Hãy lấy ra cho tôi xem rồi tôi sẽ giúp anh trị lành nó.” Người kia nói: “Ngay lúc này thì không có. Nó chỉ bùng lên thật bất ngờ khi một chuyện gì đó xảy đến với tôi.” Bàn Khuê nói: “Anh thấy đó, vậy thì cái được gọi là ‘bẩm tánh’ ấy chẳng phải là thiên tánh bẩm sinh của anh đâu!”—Once a man came to Zen master Bankei and confessed that, he had been born with a short temper, which he found unmanageable in spite of his attempts to control it. Bankei said, “What an interesting thing you were born with! Do you have short temper right now? If so, show me, and I’ll cure it for you.” The man said, “I don’t have it right at this moment. It comes out unexpectedly, when something happens.” Bankei said, “In that case, your short temper is not something innate in you.”

  • Thời đó có một nhóm hành khất mắc bệnh phong cùi đến đến đạo tràng xin quy y và gia nhập vào đạo tràng của ông. Ông đã vui vẻ chấp nhận họ họ vào Tăng đoàn và chính ông đã đích thân làm lễ thí phác và thọ giới cho họ. Trong khi hành lễ có một nhà quí tộc, đại diện cho một lãnh chúa người đã xây dựng ngôi thiền viện và hết lòng bảo trợ sự nghiệp hoằng pháp của thiền sư Bàn Khuê, đến tham kiến ông. Khi vừa trông thấy ông đang xuống tóc cho những người bị cùi này, nhà quí tộc vội vàng mang một chậu nước thỉnh thiền sư rửa tay. Nhưng thiền sư Bàn Khuê đã từ chối với lời nhận xét: “Thói giả dối của ông còn dơ dái hơn cái đầu lở lói của những người phong cùi này!”—Once a group of beggars afflicted with leprosy came to the assembly of Zen Master Bankei; and Bankei admitted them to his congregation, and when he initiated them, he even washed and shaved their heads with his own hands. At that time, a certain noble person, the representative of a baron who helped build Bankei’s temple, showed up. Revolted by the sight of the Zen master shaving the heads of untouchables, the noble person hurriedly brought a basin of water for Bankei to wash his hands. But the master refused, remarking, “Your disgust is filthier

than their sores.”

  • Một lần nọ, một vị lãnh chúa khác tìm gặp Sư để tham vấn về chỗ dụng tâm của nhà Thiền. Bàn Khuê quở rằng: “Tôi biết ông vừa mới trục xuất một vị học giả chỉ vì không chấp nhận đức độ và tài năng của ông ấy. Như vậy làm sao ông có thể đến đây để hỏi và lãnh hội được chỗ dụng tâm của Thiền gia?”—One time, another lord came to ask Zen master Bankei about Zen “mind art.” Instead of welcoming his inquiry, Bankei upbraided the lord, saying, “I understand you dismissed a secular scholar because you did not recognize his worthiness. How can you even ask and understand about the Zen mind art?”
  • Lại một lần khác, có một vị lãnh chúa trẻ tuổi theo thiền sư Bàn Khuê để tham học lý thiền, vị lãnh chúa này rất mê võ thuật. Có lần vị lãnh chúa cố tình thử phản xạ của thầy bằng cách xuất kỳ bất ý dùng giáo tấn công thiền sư nhân lúc ngài đang tĩnh tọa. Bàn Khuê bình thản dùng tràng hạt gạt ngọn giáo sang một bên, điềm nhiên nhận xét: “Kỹ thuật của con còn non lắm, chiêu thế chưa xuất ra mà tâm đã động rồi!”—Another time, a lord who was young and fond of martial arts, studied Zen from Bankei. One day he decided to test his master’s gut by suddenly attacking him with a lance as he sat quietly. Zen Master Bankei calmly deflected the thrust with his rosary. Then he said to the lord, “Your technique is still immature, your mind moved first.”
  • Có một lần thiền sư Bàn Khuê Vĩnh Trác nói chuyện với Tăng chúng: “Khi ta mới phát tâm tìm cầu giác ngộ, vì không tìm được một vị thầy đã giác ngộ nên ta đã tu tập đủ loại khổ hạnh, tiêu hao sinh lực. Có lúc ta đã sống ẩn cư, cắt đứt hết mọi quan hệ với thế nhân. Có lúc ta dùng những bức vách bằng giấy để dựng thiền thất cho mình để có chỗ tịnh tọa. Ta tọa thiền liên tục trong tư thế kiết già không bao giờ nằm ngả lưng xuống cho đến khi đùi ta bị lở loét để lại những vết sẹo vĩnh viễn trên thân thể. Mỗi khi nghe ở đâu đó có sự hiện diện của vị thầy, ta liền đi thẳng đến để gặp. Sau nhiều năm như vậy, ít có chỗ nào trên xứ Phù Tang mà ta chưa từng đặt chân tới. Tất cả việc này đã xảy ra như vậy là vì ta không gặp được một vị thầy giác ngộ. Cho đến một ngày tâm thức ta bừng sáng, lần đầu tiên trong đời ta nhận ra rằng tất cả những năm tháng lao nhọc và gian khổ trước đây đều là vô dụng, và kể từ đó ta đã đạt được an lạc. Giờ đây ta nói cho các ông biết cách làm thế nào để hoàn thành giải thoát ngay trong đời này mà không cần phải lao tâm hành xác, nhưng chưa chắc gì các ông hoàn toàn có đủ lòng tin tưởng vì các ông không thật sự nghiêm túc dốc hết toàn lực trên đường giải thoát của mình”—Once Zen master Bankei said to a group of people, “When I was first inspired to seek enlightenment, because I did not find an enlightened teacher I practiced all sort of austerities, wasting my body away. Sometimes I would cut off all human contact and live in isolation. Sometimes I would fashion a paper enclosure and sit inside it, or I would set up screens and sit in a dark room, sitting in the lotus position without lying down, until my thighs became ulcerated and festered, leaving permanent scars. Then when I’d hear of the existence of a teacher at suchand-such a place in such-in-such a province, I’d go there directly to meet him. After several years of this, there were few places in all of Japan that my footsteps had not reached. All this was due to the fact that I hadn’t met an enlightened teacher. After my mind opened up one day, for the first time I realized how useless my years of toil and pain had been, and I attained peace. Now I tell you all how to attain fulfillment in your present lives without straining yourselves, but you may not completely believe in it. This is because you are not really serious.”
  • Có lần, thiền sư Yui-e, một vị trưởng lão của dòng Thiền Tào Động, tâm sự với thiền sư Bàn Khuê Vĩnh Trác: “Tôi đã phát tâm tu hành vào lúc 17 hay 18 tuổi. Suốt trên ba mươi năm, tôi chuyên tâm hành thiền, hiếm khi đặt lưng xuống chiếu, tập trung nhất niệm, nhưng vẫn thấy khó khăn trong việc thanh lọc tạp niệm và vọng kiến. Mãi đến những năm gần đây, tâm trí mới được trong sáng và đạt được niềm an lạc. Về phần ông, ông đã từng dụng công như thế nào?” Thiền sư Bàn Khuê Vĩnh Trác đáp: “Khi còn trẻ tôi cũng nỗ lực thực hành thiền quán, nhưng một ngày nọ tôi mới chợt nhận ra rằng tông môn của mình là tông môn của những người với con mắt giác ngộ, và không một ai có thể dựa vào người khác để đạt đến giải thoát. Từ đó trở đi tôi vượt lên khỏi những mối quan tâm khác mà chỉ tập trung vào mục đích kiến tánh mà thôi. Vì lý do đó, tôi đã làm chủ được khả năng nhận biết mức độ chứng đắc của những thiền giả khác trên con đường giác ngộ”—Yui-e, an elder of the Soto school of Zen, came to Zen master Bankei and said, “I was inspired when I was seventeen or eighteen years old. For over thirty years I sat for long periods without lying down, concentrating single-mindedly, but found errant thoughts and false consciousness hard to erase. In recent years my mind and intellect have both become clear, and I have attained peace. How did you concentrate in the past?” Bankei replied, “I too toiled over the occurence of thoughts when I was young, but one day suddenly I realized that our school is the school of the enlightened eye, and no one can help another without clear perception. From that time on I

transcended all other concerns and 

concentrated on working solely on attainment of clear vision. For this reason, I have mastered the ability to see whether other

people have true perception.”

  • Có một thời Thiền sư Bàn Khuê Vĩnh Trác thường tìm đến khu hành quyết và tọa thiền ngay dưới cột xử tội trong suốt nhiều đêm để thử Tâm Thiền của chính mình. Sau đó, có khi Sư lại ngả lưng nằm xuống bờ đê bao quanh khu chăn ngựa của quân đội. Một hôm, khi nhìn vào khu chăn ngựa, Sư trông thấy một quân nhân đang vung roi quất ngựa. Sư đứng dậy quát lớn: “Này! Ông nghĩ ông đang làm cái gì vậy?” Người lính nghe tiếng Sư quát nhưng vẫn cứ làm ngơ, vẫn vung roi quất mạnh khi đang phóng ngựa ngang mặt Sư. Sư lại quát lớn: “Này! Ông có biết mình đang làm gì không?” Sự việc xảy ra ba lần như vậy. Cuối cùng người lính dừng lại, xuống ngựa, và tiến gần về phía Sư. Đến lúc đó người lính mới nhận ra Bàn Khuê là một vị Tăng. Người

lính lên tiếng: “Thầy đã quát tôi ba lần, chẳng hay thầy có chuyện gì muốn nói?” Bàn Khuê nói: “Thay vì đánh ngựa một cách tàn nhẫn như vậy, sao ông không nghiêm khắc với chính bản thân và điều phục tâm ý của chính mình?”—Once Zen master Bankei spent several nights sitting under a crucifix in an execution ground, testing his Zen mind. After that, sometimes, he lay down on an embankment surrounding a corral. Now it so happened that there was a warrior in the corral beating a horse. Seeing this, Bankei hollered, “Hey! What do you think you’re doing?” The warrior heard the Zen master shouting but paid no attention. Whipping his horse, he galloped past Bankei. Again the master shouted, “Hey! What do you think you’re doing?” This happened three times before the warrior stopped and got off his horse. Approaching the Zen master, he now saw that Bankei was not an ordinary man. The warrior said, “You were yelling at me. Do you have something to tell me?” Bankei said, “Rather than beat your horse for being unruly, why not chastise yourself and train your own mind right?”

Thiền sư Bàn Khuê thị tịch trong một ngôi chùa thuộc vùng thôn dã vào thập niên cuối cùng của thế kỷ thứ 17. Trước lúc ngài thị tịch, chúng Tăng xin ngài để lại một bài kệ phó chúc theo đúng truyền thống Phật giáo Thiền tông. Ngài nói: “Ta đã ở lại thế giới này suốt 73 năm, giảng dạy lý Thiền suốt 44 năm trời. Tất cả những gì ta đã làm trong ngần ấy thời gian chính là bài kệ phó chúc của ta, không cần thiết phải có một bài kệ nào khác nữa. Vì sao ta lại phải bắt chước tiền nhân để thú nhận rằng mình đang chuẩn bị cho lần ra đi kia chứ?” Nói xong, ngài ngồi thẳng người mà thị tịch—Zen master Bankei died in a country temple in the last decade of the seventeenth century. At the end, his disciples asked him for a parting verse, according to the ancient Zen tradition. The master said, “I have been in this world for seventy-three years, of which I have spent forty-four years teaching Zen to liberate others. All that I have pointed out to you in over half a lifetime is my parting verse. There is no other parting verse to compose. Why should I imitate everyone else and make a confession on my deathbed?” Having said this, the great Zen master Bankei passed away, sitting perfectly straight.

Bàn Linh: Bàn Vong—Linh Tòa—Altar of the dead.

Bàn Sơn Bảo Tích Thiền Sư (720-814): BanzanHoshaku (jap)—P’an-shan-Pao-chi (Wade-Giles Chinese)—Panshan-Baoji (Pinyin Chinese)—Tên của một vị Thiền sư Trung Hoa nổi tiếng thuộc phái Lâm Tế. Ngài là đệ tử và Pháp tử của ngài Mã Tổ Đạo Nhất. Có rất ít chi tiết về cuộc đời của Thiền sư Bàn Sơn Bảo Tích; tuy nhiên, có một vài chi tiết nhỏ về vị Thiền sư này trong bộ Truyền Đăng Lục, quyển VI: Thiền sư Bàn Sơn Bảo Tích gốc người ở cổ thành U Châu, gần thành phố Bắc Kinh ngày nay. Sau khi nhận được ấn xác nhận từ Mã Tổ, Bàn Sơn trụ lại trên một ngọn núi tên Bàn Sơn phía bắc Trung Hoa, gần biên giới với phía bắc Triều Tiên. Ngài là một trong những vị thiền sư đầu tiên hoạt động trong khu vực nầy. Tên ngài được nhắc tới trong thí dụ 37 của Bích Nham Lục—Name of a famous Chinese Zen master of the Lin-Chi Sect. He was a disciple and a dharmasuccessor of Zen master Ma-Tsu Tao-I. Few other details about P’an-Shan-Bao-Chi’s life are available in the classical records; however, there is some brief information on him in the Records of the Transmission of the Lamp (Ch’uan-Teng-Lu), Volume VI: P’anshan’s home was in ancient Youzhou, near persent-day Beijing City. After receiving the seal of confirmation from Ma-Tsu, he settled in northern China on Mount P’an shan, not far from the present-day border with North Korea. He was one of the few early Zen masters to be active in this area. His name was mentioned in example 37 of the Blue Cliff Record.

  • Câu chuyện thể nghiệm đại giác lần đầu tiên của Bàn Sơn đáng được xem xét trong WuTen Hui-Yuan: “Khi Bàn Sơn đi ngang qua chợ, ngài nghe thấy một người khách đến mua thịt heo nói với anh hàng thịt: ‘Cho tôi miếng nào ngon!’ Anh hàng thịt đặt con dao xuống, khoanh tay lại và nói: ‘Thế ông xem có miếng nào không ngon hay không?’ Nghe đến đó Bàn Sơn bỗng thấy mình trải qua một ánh chớp đại giác.”—It is noteworthy to listent to the story of his first enlightenment experience, as it is recorded in the Wu-Teng Hui-Yuan: “Once Pan shan was crossing the marketplace, he overheard a customer, who was just buying some pork, say to the butcher, ‘Cut me a piece of the good stuff.’ The butcher folded his arms and said, ‘Sir, what here is not the good stuff?’ At these words, Pan shan attained insight.”
  • Sau thể nghiệm đó, Bàn Sơn vẫn chưa được thầy mình xác nhận ngay. Ông phải đợi đến sau đó, khi đã trải qua một đại giác sâu thật rõ rệt mới được xác nhận: “Một hôm ông gặp một dàn nhạc tang và nghe bài hát này: ‘Mặt trời quả cầu đỏ được gọi về lặn ở phía tây. Nhưng còn linh hồn, nó biết đi đâu? Con trai của người chết đi theo sau quan tài khóc nức nở. Mọi thứ đều phù hợp với tập quán, nghĩa là một đám tang giống như mọi đám tang khác diễn ra trong ngày. Nhưng anh chàng Bàn Sơn trẻ tuổi bỗng động lòng vì sức mạnh của quy luật thế gian. Ông nhìn thấy một chu kỳ sống và chết, và cảm thấy trong người dâng lên một luồng ánh sáng mà chu kỳ ấy không với tới được.'”—Pan-shan was not, however, confirmed by his master after this experience. This happened only after a significant deeper realization: “One day, Panshan encountered a funeral procession, and from the chant he picked out these words: ‘For the red orb of the sun, it is a certainty to sink into the west. But the soul, whither will it go?’ Behind the coffin walked the son of the deceased, wailing plaintively. Everything was as custom demanded, one could see this almost everyday. However, it struck the youth Pan-shan with all the force of cosmic law. He saw the cycle of birth and death, and with this, the light arose in him that remains untouched

by this cycle.”

  • Một hôm sư dạy chúng: “Tam giới không pháp, chỗ nào tìm tâm? Tứ đại vốn không, Phật nương ở đâu? Ngọc tuyền chẳng động, dừng lặng không tỳ; nhìn mặt tranh nhau, lại không việc khác.” Hành giả tu thiền ngày nay cần phải xuyên thấu tận đáy của những lời dạy nầy mà chuyển thân bằng cách nói cái không thể nói, làm cái không thể làm, chứ đừng khởi tình giải là sẽ bị chết chìm ngay những lời nầy của thiền sư Bàn Sơn—One day, P’an-shan said to the community, “There is nothing in the triple world, where can mind be found? The elements are basically empty, how can a Buddha abide? The polar star does not move, quiet and still, without traces, once presented face to face, there is no longer anything else. Nowadays Zen practitioners must transform the body by penetrating all the way to the bottom of these words and say what cannot be said, do what cannot be done. On the contrary, if we try to make an intellectual interpretation of what P’an-shan said, we will just die at his words.”
  • Sau khi Bàn Sơn nhậm chức trụ trì ở U Châu, một vị Tăng hỏi: “Thế nào là đạo?” Bàn Sơn kêu thét lên: “Aaagh!” Vị Tăng nói: “Học trò chưa lãnh hội ý nghĩa của Thầy.” Bàn Sơn nói: “Đi!”—After P’an-shan assumed the position of abbot at a Zen monastery, a monk asked him, “What is the Way?” P’an-shan cried out, “Aaagh!” The monk said, “This student doesn’t understand your meaning.” P’an-shan said, “Go!”
  • Một hôm, Thiền sư Bàn Sơn thượng đường thị chúng rằng: “Tâm mà không có chuyện gì thì vạn tượng không sanh ra. Ý dứt tuyệt huyền cơ, sáu trần làm sao mà lập được? Đạo vốn vô tướng, nhân vì tướng mà lập nên. Đạo vốn không tên, nhân vì tên mà có chủng loại. Nếu mấy ông nói ‘Tâm tức Phật (tâm ấy là Phật)’, thời mấy ông chưa nhập huyền vi. Còn nếu mấy ông nói ‘không tâm, không Phật’, thì mấy ông chỉ đang trỏ vào dấu tích của cực tắc mà thôi. Con đường hướng thượng, ngàn Thánh không truyền. Kẻ học bị hình tướng vò xé, như vượn chộp lấy bóng mà thôi.”‘—One day, Zen Master P’an-shan entered the hall and addressed the congregation, saying, “When there are no affairs in the mind, the myriad things are not born. In the conceivable mysterious function, where would a speck of dust alight? The Way itself is formless, but because of form, names are established. The Way itself is nameless, but because of names, there is classification. If you say, ‘Mind is Buddha,’ then you still haven’t entered the mystery. If you say, ‘No mind no Buddha,’ then you’re just pointing at the traces of the ultimate. Even a thousand saints can’t transmit the higher road to others. You students are tormented by form. You’re like apes grabbing at shadows.”
  • Hôm khác, Bàn Sơn thượng đường thị chúng rằng: “Đại đạo không ở trung tâm, há lại có ở trước hay ở sau. Khoảng trống không vô tận, thế thì làm sao mà nói chuyện đo lường? Cái Không đã như thế, làm sao mình có thể nói bàn về Đạo?”—Another day, Zen Master P’an-shan entered the hall and addressed the monks, saying, “The great way has no center, so how could it have a front or back? Vast space is endless, so why speak of measuring it? Emptiness being thus, how can one speak of the Way?”
  • Thiền sư Bàn Sơn thượng đường thị chúng rằng: “Này, tâm như mặt trăng cô lẽ, vậy mà ánh sáng của nó nuốt cả vạn tượng. Ánh sáng không chiếu cảnh mà cảnh cũng không tồn tại. Nhưng khi cả ánh sáng và cảnh đều tan mất, thì còn là vật gì?”—Zen Master P’anshan entered the hall and addressed the monks, saying, “The moon of mind is solitary and perfect, its light swallowing the myriad forms. Its light does not illuminate realms, for realms do not exist. But when light and realms

are both gone, what is it that remains?”

  • Thiền sư Bàn Sơn thượng đường thị chúng rằng: “Bậc Thiền đức học đạo ví như đất chở núi, không hề biết núi cao chót vót, như đá ngậm ngọc, không hề biết ngọc chẳng có tì vết. Có được như vậy thì mới gọi là ‘xuất gia.’ Cho nên bậc tôn đức mới nói: ‘Pháp vốn chẳng tương ngại, tam tế quá khứ, hiện tại và vị lai cũng như thế. Người vô vi vô sự, giống như chiếc khóa vàng.’ Cho nên linh nguyên độc diệu, đạo tuyệt vô sanh. Siêu việt trí chẳng sáng. Chân không chẳng có dấu tích. Chân như phàm Thánh, đều là lời lẽ trong mộng. Phật cùng Niết Bàn chỉ là lời nói thêm thừa thãi. Cho nên chư Thiền đức phải trực tiếp quan sát lấy mình. Không ai có thể làm việc này cho mình được!”—Zen Master P’anshan entered the hall and addressed the monks, saying, “Zen worthies! To successfully practice the Way is like the earth, which while upholding the mountains is unaware of the solitary peaks. It is like jade that is concealed within stone. The stone is unaware of the jade’s flawless nature. Those who practice in this way may be said to have ‘left home.’ The ancient teachers said, ‘The great way is unimpeded and permeates past, present, and future. Persons without activity or worldly affairs, can golden manacles hold them?’ Thus, the brilliant single numinous Way is absolutely unborn. Transcendent wisdom is not clear. True emptiness leaves no trace. ‘True thusness,’ ‘mundane,’ and ‘sacred,’ are all just talk within a dream. ‘Buddha’ and ‘Nirvana’ are just extra words. Zen worthies! Directly observe for yourself! No one can do

it for you!”

  • Thiền sư Bàn Sơn thượng đường thị chúng rằng: “Ba giới không có một pháp thì cầu tâm ở đâu? Tứ đại vốn không, Phật nương đâu mà trụ? Long lanh bất động. Rỗng lặng không lời. Nếu mấy ông đến mặt đối mặt với nó (cận diện tương trình), rồi thì chẳng có chuyện gì khác. Cẩn trọng!”—Zen Master P’an-shan entered the hall and addressed the monks, saying, “In the three realms there is not a single dharma, so where will you seek mind? The foundation of the four elements is empty, so where does Buddha abide? The firmament is unmoving. It is still and speechless. If you come face to face with it, then there is nothing left to do. Take care!”
  • Khi Thiền sư Bàn Sơn sắp thị tịch, ông nói với đồ chúng rằng: “Có ai vẽ được chân dung của ta không (có ai thừa truyền chân xác giáo pháp của ta không)?” Mọi người đều cố vẽ chân dung trình cho Sư, Sư đều đánh cả. Duy có đệ tử Phổ Hóa bước ra nói: “Con đây vẽ được.” Sư nói: “Sao không trình cho lão Tăng coi.” Phổ Hóa lộn ngược đầu mà đi ra (ý Phổ Hóa muốn nói vẽ chân dung tức miêu tả thừa truyền giáo pháp là một chuyện ngược đời như trồng chuối mà đi vậy). Sư nói: “Cái gã này về sau sẽ điên điên, khùng khùng tiếp dẫn người vậy.” Sau khi nói xong những lời này thì Sư thị tịch. Sắc thụy Ngưng Tịch Đại

Sư, tên tháp là Chân Tế—When P’an-shan was near death, he said to the monks, “Is there anyone among you who can draw my likeness?” Many of the monks made drawings for P’an-shan, but none were to his liking. The monk Puhua stepped forward and said, “I can draw it.” P’an-shan said, “Why don’t you show it to me?” Puhua then turned a somersault and went out. P’an-shan said, “Someday, that fellow will teach others in a crazy manner!” Having said these words, P’an-shan passed away. He received the posthumous name “Great Teacher Crystallized Silence.” His stupa was named “Truth’s Limit.”

Bàn Sơn Tam Giới Vô Pháp: P’an Shan’s There Is

Nothing in the World, example 37 of the Pi-YenLu—Thí dụ thứ 37 của Bích Nham Lục. Một hôm sư dạy chúng: “Tam giới không pháp, chỗ nào tìm tâm? Tứ đại vốn không, Phật nương ở đâu? Ngọc tuyền chẳng động, dừng lặng không tỳ; nhìn mặt tranh nhau, lại không việc khác.” Hành giả tu thiền ngày nay cần phải xuyên thấu tận đáy của những lời dạy nầy mà chuyển thân bằng cách nói cái không thể nói, làm cái không thể làm, chứ đừng khởi tình giải là sẽ bị chết chìm ngay những lời nầy của thiền sư Bàn Sơn. Theo Viên Ngộ trong Bích Nham Lục, Hòa Thượng Bảo Tích ở Bàn Sơn , phía Bắc U Châu, là bậc tôn túc dưới Mã Tổ, sau xuất phát một Phổ Hóa. Lúc Sư sắp tịch bảo chúng: “Có người tả được hình ta chăng?” Ai nấy trong chúng đều vẽ hình trình Sư, Sư đều quở đó. Phổ Hóa bước ra nói: “Con tả được.” Sư bảo: “Sao chẳng trình cho lão Tăng?” Phổ Hóa liền nhào lộn một cái rồi đi ra. Sư bảo: “Gã này về sau như kẻ điên tiếp người.” Một hôm Sư dạy chúng: “Tam giới không pháp, chỗ nào tìm tâm; tứ đại vốn không, Phật nương ở đâu; ngọc tuyền chẳng động, dừng lặng không tỳ; nhìn mặt trình nhau, lại không việc khác.” Tuyết Đậu niêm ra hai câu tụng, hẳn là lẫn lộn vàng ngọc. Chẳng thấy nói: “Bệnh rét cách ngày, chẳng nhờ thuốc lô đà. Sơn Tăng vì sao nói hòa thinh liền đánh, chỉ vì mang gông đi cáo.” Người xưa nói: “Nghe tiếng khen ngoài câu, chớ nhằm trong ý tìm.” Hãy nói kia ý thế nào, liền được chạy nhanh vượt chóng, điện xẹt sao băng. Nếu nghĩ nghị suy lường, dù có ngàn Phật ra đời mò tìm y chẳng được. Nếu là vào sâu trong khuôn vức, tột xương tột tủy, thấy được thấu một trường bại hoại của Bàn Sơn. Nếu nương lời hiểu tông, xoay phải xoay trái thì chỉ được một cây cọc của Bàn Sơn. Nếu là dính bùn kẹt nước, xoay quanh trong khối thinh sắc thì chưa mộng thấy Bàn Sơn. Ngũ Tổ tiên sư nói: “Thấu qua bên kia mới có phần tự do.” Đâu chẳng thấy Tam Tổ nói: “Chấp đó thất độ, ắt vào tà lộ, buông đi tự nhiên, thể không đi đứng.” Nếu nhằm trong ấy nói không Phật không pháp lại là chui vào hang quỉ. Cổ nhân gọi đó là hầm sâu giải thoát, vốn là nhân lành mà chuốc quả dữ. Vì thế nói người vô vi vô sự vẫn mắc cái nạn khóa vàng. Phaỉ là tột cùng đáo để mới được. Nếu nhằm chỗ vô ngôn, chỗ nói được, hành chẳng được, mà hành được, gọi đó là chỗ chuyển thân. Câu “Tam giới không pháp, chỗ nào tìm tâm,” nếu ông khởi tình giải thì chết chìm ở dưới lời nói kia—One day, P’an-shan said to the community, “There is nothing in the triple world, where can mind be found? The elements are basically empty, how can a Buddha abide? The polar star does not move, quiet and still, without traces, once presented face to face, there is no longer anything else. Nowadays Zen practitioners must transform the body by penetrating all the way to the bottom of these words and say what cannot be said, do what cannot be done. On the contrary, if we try to make an intellectual interpretation of what P’an-shan said, we will just die at his words.” According to Yuan-Wu in the PiYen-Lu, Master Pao Chi of Mount P’an in Yu Chou in the far north was a venerable adept succeeding to Ancestor Ma. Later he produced on man, P’u Hua. When the Master was about to pass on, he said to the community, “Is there really anyone who can depict my true likeness?” The people all drew likenesses and presented them to the Master. The Master scolded everyone of them. P’u Hua came forth and said, “I can depict it.” The Master said, “Why do you not show it to me?” P’u Hua immediately turned a somersault and left. The Master said, “Later on, this guy will appear crazy to teach others.” One day, he said to the community, “There is nothing in the triple world; where can mind be found? The elements are basically empty; how can a Buddha abide? The polar star does not move, quiet and still, without traces, once presented face to face, there is no longer anything else.” Hsueh Tou takes up two phrases and eulogizes them; this here is raw gold, a rough jewel. Have you not heard it said, “Curing illness does not depend on a donkey-load of medicine.” Why do I say I would have hit him before he finished speaking? Just because he was wearing stocks, giving evidence of his crimes. An Ancient said, “When you hear mention of the phrase beyond sound, do not go seeking it in your mind.” But tell me, what was his meaning? Just like a rushing stream crossing a sword; thunder rolls, a comet flies. If you hesitate and seek it in thought, even though a thousand Buddhas appeared in the world, you would grope around without finding them. But if you are one who has deeply entered the inner sanctum, pierced the bone and pierced the marrow, seen all the way through, then P’an Shan will have suffered a loss. If you are smeared with mud dripping with water, turning about on the pile of sound and form, you have still never seen P’an Shan even in a dream. My late master Wu Tsu said, “Pass beyond the Other Side, and only then will you have any freedom.” Have you not seen how the Third Patriarch said, “Grasp it, and you lose balance and surely enter a false path. Let go naturally; there is neither going nor abiding in essence.” If here you say that there is neither Buddha nor Dharma, still you have gone into a ghost cave. The Ancient called this the Deep Pit of Liberation. Originally it was a good causal basis, but it brings on a bad result. That is why it is said that a non-doing, unconcerned man is still oppressed by golden chains. Still, you must have penetrated all the way to the bottom before you will realize it. If you can say what cannot be said, can do what cannot be done, this is called the place of turning the body. There is nothing in the triple world; where can mind be found? If you make an intellectual interpretation, you will just die at his words. Bàn Sơn Tinh Để Nhục: Công án Bàn Sơn thấy bán thịt mà tỉnh ngộ—The koan of P’an-shan’s overhearing a customer of pork meat—Câu chuyện thể nghiệm đại giác lần đầu tiên của Bàn Sơn đáng được xem xét trong Ngũ Đăng Hội Nguyên, quyển III: “Khi Bàn Sơn đi ngang qua chợ, ngài nghe thấy một người khách đến mua thịt heo nói với anh hàng thịt: ‘Cho tôi miếng nào ngon!’ Anh hàng thịt đặt con dao xuống, khoanh tay lại và nói: ‘Thế ông xem có miếng nào không ngon hay không?’ Nghe đến đó Bàn Sơn bỗng thấy mình trải qua một ánh chớp đại giác.”—It is noteworthy to listent to the story of his first enlightenment experience, as it is recorded in the Wu-Teng Hui-Yuan (Wudeng Huiyuan), volume III: “Once Pan shan was crossing the marketplace, he overheard a customer, who was just buying some pork, say to the butcher, ‘Cut me a piece of the good stuff.’ The butcher folded his arms and said, ‘Sir, what here is not the good stuff?’ At these words, Pan shan attained insight.”

Bàn Thạch Kiếp: Một kiếp rất dài, ví với ngọn núi đá lớn. Có một ngọn núi đá dài 40 dậm, cứ mỗi trăm năm lại lấy vải áo của chư Thiên (Thiên y hay áo trời) chà vào núi một lần rồi thôi, 100 năm sau mới đến chà vào một lần nữa, cứ chà như thế cho đến khi nào núi mòn hết là xong một Bàn Thạch Kiếp—The rock kalpa, a very long kalpa. Let a rock 40 miles in extent be brushed once in a hundred years by a deva garment, that’s all and then do it again exactly 100 years later. This practice is continue until the rock is completely worn down to nothing (when brushed away the kalpa is ended). A kalpa as measured by the time it would take to wear away an immense rock by rubbing it with a deva-garment (the time it takes to do this is called a ‘rock kalpa.’ Bàn Thờ Phật: Buddha shrine—The altar of the Buddha.

Bàn Thờ Tổ: Altar for the patriarchs.

Bàn Tọa: Ngồi xếp bằng—To sit with folded legs. Bàn Tu Bàn Đầu: See Thế Thân. Bàn Vong: Bàn linh—Linh Tòa—Altar of the dead.

Bàn Xà La:

  1. Pancabhijna (skt): Bàn Xà La—Năm thần thông hay ngũ thông hay ngũ trí chứng—The five supernatural powers—The five mystical powers—See Ngũ Thần Thông.
  2. Bán Già La: Pancala (skt)—Tên của một vương quốc cổ thời đức Phật—Name of an ancient kingdom at the time of the Buddha.
  3. Mật Nghiêm Dạ Xoa: One of the eight Yaksas.

Bản: Một miếng ván: A board—Miếng ván đánh để thông báo giờ cơm trong tự viện: A board struck for calling everybody to gather for meals in a monastery.

Bản Bất Sinh Tế: Prakrti-prabhasvaram (skt)— Bản Nhiên Thanh Tịnh—Tự tánh thường thanh tịnh trong bản thể của nó—Fundamental nature is pure—Self-existent pure mind—Natural purity— The nature of the original nature is always pure in its original essence.

Bản Bật (1606-1665): Master Pan-pu—Tên của một vị Tăng Trung Hoa ở tỉnh Bà Bắc vào thế kỷ thứ XVII—Name of a Chinese monk in He-bei Province in the seventeenth century. Bản Bi: Một loại bia được làm theo hình tháp mang tính đặc thù của Phật giáo—A kind of stele with the shape of a Buddhist stupa.

Bản Chất: Nature—Essence.

Bản Chất Cuộc Đời: The nature of life

Bản Chất Thưc Sự: The true nature

Bản Chất Bất Tịnh: The impurity of its own nature—Những chất đất, nước, lửa, gió tạo nên cơ thể chúng ta đều bất tịnh—Elements of earth, water, fire, air of which our bodies are formed are unclean.

Bản Chất Bất Toại: Unsatisfied nature.

Bản Chất Thường Còn: Permanent entity.

Bản Cụ: See Tánh Cụ.

Bản Đạo (1898-1987): Master Pan-Tao—Tên của một vị Tăng Trung Hoa ở tỉnh Phúc Kiến vào thế kỷ thứ XX—Name of a Chinese famous monk in Fu-Jian Province in the twentieth century. Bản Đầu: Vị trí giường nằm của chư Tăng trong thiền viện (thủ tọa bản đầu, hậu đường bản đầu, lập tăng bản đầu, tây đường bản đầu) tùy thuộc vào chức vụ của các ngài—Positions of the monks’ beds depend on their functions in the Zen monastery.

Bản Địa: See Bản Thân Năng Hiện.

Bản Địa Pháp Thân: See Bản Địa Thân. Bản Địa Thân: Thân gia trì hay dựa vào sự gia trì mà hiện khởi Phật thân, hay là Ứng Thân—The body which the Buddha depends upon for his manifestation (the nirmanakaya). Bản Địa Thùy Tích: See Bản Thân Năng Hiện.

Bản Điền Nghĩa Anh (1888-1953): Master PanTien I-ying—Tên của một vị Tăng Nhật Bản vào thế kỷ thứ XX—Name of a Japanese famous monk in the twentieth century.

Bản Đường: Điện Phật—Buddha Hall.

Bản Giác: Prakriti-buddhi (skt)—Bổn Minh— Innate enlightenement—Original Bodhi—Chứng ngộ bẩm sinh—Bản giác hay sự giác ngộ có sẳn. Tâm thể của chúng sanh tự tánh thanh tịnh, lìa mọi vọng tướng, sáng tỏ vằng vặc, chẳng phải do tu mà thành; đối lại với “thủy giác” là bản tâm từ vô thủy đến nay bị vô minh che mờ. Thủy giác chính là thể của bản giác (ngoài bản giác không có thủy giác). Có hai loại bổn giác: lý bổn giác và tướng bổn giác—Original awareness or inherent enlightenment in the form of primal intelligence), awareness, wisdom or knowledge, or the immanent mind in all things; as contrasted with initial knowledge (thủy giác). There are two kinds of knowledge: Fundamental Truth and Primal Intelligence (the immanent mind in all things or enlightenment).

Bản Giác Đạo: Bản chất tự chứng của tâm thức nguyên thủy—Intrinsically enlightened character of the original mind.

Bản Giác Huân Tập Vô Minh:

Unenlightenment—Nội Huân, ở trong cái chân như của bản giác, lặng lẽ nung đốt huân tập vọng tâm để sinh ra Bồ Đề Tâm. Còn gọi là Minh Huân. Theo Khởi Tín Luận thì “nội huân” là bản giác huân tập vô minh trong tâm chúng sanh, nhân đó mà khiến vọng tâm chán nỗi khổ sinh tử, để cầu cảnh vui sướng của Niết Bàn—Primal ignorance or unenlightenment, or fumigation within, or inner influence. According to the Awakening of faith, inner censing acts upon original intelligence causes the common uncontrolled mind to resent the miseries of mortality and to seek nirvana.

Bản Hạnh: Root of action—Nghiệp căn hay gốc của hành động—Original action—The method or motive of attainment (Deeds or doings of a Buddha or bodhisattva)—Căn bản hành động của

Phật và Bồ Tát.

Bản Hóa: Những lời giáo hóa trực tiếp với những thực hành và chứng đắc cụ thể—The Buddha’s direct teaching, his real practice, and realization.

Bản Hoài: One’s intention.

Bản Hoặc: Phiền Não Hoặc—Afflictive distress (afflictive passion, temptation, or trouble).

Bản Hữu: See Bổn Hữu.

Bản Không Trà Lam: Phật Nhật Bản Không: giỏ trà—Fo Ru Pen K’ung’s tea basket—Công án nói về cơ duyên vấn đáp giữa Thiền sư Phật Nhật Bản Không (đệ tử nối pháp của ngài Vân Cư Đạo Ưng, thuộc Tào Động tông) và Thiền sư Giáp Sơn Thiện Hội (805-881). Theo Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, quyển XV, và Ngũ Đăng Hội Nguyên, quyển XIII, một hôm, Thiền sư Phật Nhật đem trà đến chỗ làm việc, khua ấm trà phát ra tiếng, Thiền sư Giáp Sơn quay đầu lại nhìn. Phật Nhật bèn nói: “Trà đặc năm ba chén, ý ở bên cái cuốc.” Giáp Sơn nói: “Bình có thể rót trà, trong giỏ được mấy ấm?” Phật Nhật đáp: “Bình có thể rót trà, trong giỏ không một ấm.” Nói xong Phật Nhật liền rót trà—The koan about the potentiality and conditions of questions and answers between Zen master Fo Ru and Jia Shan Shan Hui. According to the Records of the Transmission of the Lamp (Ch’uan-TengLu), Volume XV, and Wudeng Huiyuan, volume XIII, one day, Zen master Fo-Ru carried with him his tea pot to the working area; he struck the pot to make a sound. Zen master Chia-shan turned around to see what happened. Fo-Ru said,

“Several cups of thick tea, thought is at the hoe.” Chia-shan said, “Tea can be poured from the pot, but how many tea pots are there in the basket?” Fo-Ru replied, “Tea can be poured from the pot, but there is nothing in the basket?” After speaking, Fo-Ru started pouring the tea from the pot.

Bản Kinh Phật: The Buddhist Canon book. Bản Lai: Câu Hữu—Cố hữu, tự nhiên—Inherent

(a).

Bản Lai Diện Mục: Horai-no-menmoku (jap)— Initial form—Original form—Former state of things—Original face or Buddha-nature—Phật Tánh—Một thuật ngữ quan trọng trong nhà Thiền, dùng để chỉ “Phật Tánh,” thực chất cơ bản đã từ lâu bị che mờ bởi luyến chấp vào khái niệm tư tưởng và ngôn ngữ. Thuật ngữ được dùng trong một trong những công án nổi tiếng nhất của nhà Thiền, đó là “Bản lai diện mục từ thời cha mẹ chưa sanh ta ra là cái gì?” Theo Thiền sư Đại Đăng trong ‘Hành Giả Nhập Môn’: “Tất cả Thiền sinh phải chuyên tâm lúc bắt đầu tọa thiền. Ngồi kiết già hay bán già, mắt nhắm hờ, thấy được bản lai diện mục trước khi cha mẹ ra đời. Tức là thấy được cảnh giới trước khi cha mẹ chúng ta sanh ra, trước khi đất và trời tách ra, trước khi mang hình hài con người. Cái gọi là bản lai diện mục sẽ hiện ra. Không màu sắc, không hình tướng. Giống như bầu trời trống không, trong sáng, không hình tướng. Bản lai diện mục vốn không tên, nhưng được chỉ định theo từ ngữ: bản lai diện mục, Thượng Đế, Phật tánh, Chân Phật. Giống như một người sinh ra không tên và sau đó được gán cho nhiều tên khác nhau. Một ngàn bảy trăm công án và đề mục mà các Thiền sinh miệt mài nghiền ngẫm chỉ nhắm giúp họ thấy được bản lai diện mục của mình. Đức Thế Tôn ngồi quán tưởng sáu năm trong tuyết giá giữa núi, thấy sao mai hiện ra và giác ngộ, và đó là thấy được bản lai diện mục của mình. Cứ mỗi lần một tư niệm khởi lên, hãy xua đi… Tư niệm giống như những đám mây. Khi mây tan, trăng sẽ hiện ra. Vầng trăng của chân lý vĩnh cửu là bản lai diện mục.” Theo quyển Ba Trụ Thiền, một hôm Thiền sư Bạt Đội Đắc Thắng thượng đường dạy chúng: “Nếu muốn tự giải thoát khỏi những đau khổ của cõi ta bà, bạn phải học con đường trực tiếp để trở thành Phật. Con đường ấy không khác gì hơn là chứng ngộ tự tâm của bạn. Bây giờ hãy nói cái Tâm là gì? Nó là chân bản tánh của mọi chúng sanh, đã có trước khi cha mẹ chúng ta ra đời, và do đó, trước khi chúng ta ra đời, và giờ đây vẫn đang hiện hữu, bất biến và thường hằng. Người ta gọi nó là Bản lai diện mục, có trước khi cha mẹ chúng ta ra đời. Cái tâm ấy từ bản chất là thanh tịnh. Lúc chúng ta ra đời, nó không mới được tạo tác, khi chúng ta qua đời nó cũng không tàn lụn theo. Cái tâm ấy không phân biệt nam hay nữ, cũng không nhuốm màu thiện hay ác. Không thể so sánh nó với bất cứ điều gì, vì vậy, nó được gọi là Phật tánh. Tuy nhiên, có vô số tư niệm khởi hiện từ cái tự tánh này, như những đợt sóng phát sinh từ đại dương, như những hình ảnh phản chiếu trong gương. Hãy tưởng tượng một đứa trẻ đang ngủ bên cạnh cha mẹ và nằm mơ bị đánh đập và bị tổn thương đau đớn. Dầu đứa nhỏ có đau khổ đến đâu, cha mẹ nó cũng không thể giúp đỡ nó được, vì không ai có thể đi vào một cái tâm đang mơ của người khác. Nếu tự nó, nó có thể tự thức giấc, nó sẽ tự động giải thoát cho chính mình. Tương tự như vậy, người ta nhận ra rằng cái tâm của chính mình là Phật, tức khắc sẽ tự mình giải thoát cho mình khỏi những khổ đau xuất phát từ cái vô minh về luật biến dịch không ngừng của sanh và tử.” Thiền sư Tokugaku đã viết về Bản lai diện mục trong ‘Thiền Thi Trung Nhật’ như sau: “Bản lai diện mục là thực tại của thực tại:

Hãy dang tay ra đến cánh chim đang bay lượn.

Mũi thẳng đứng, mắt nằm ngang, và sao nữa?

Sẽ thế nào nếu tâm thức rỗng không?”

An important term in Zen Buddhism, which refers to one’s buddha-nature (buddhata), the fundamental reality that is obscured by attachment to conceptual thoughts and language. The term is used in one of the best-known Koans, “What is your original face before your parents were born? According to Zen Master Daito (1282-1334) in A First Zen Reader: “All Zen students should devote themselves at the beginning to zazen (sitting in meditation). Sitting in either the fully locked position or the half-locked position, with the eyes half-shut, see the original face that was before father or mother was born. This means to see the state before the parents were born, before heaven and earth were parted, before you received human form. What is called the original face will appear. The original face is something without color or form, like the empty sky in whose clarity there is not form. The original face is really nameless, but it is indicated by such terms as original face, the Lord, the Buddha-nature, and the true Buddha. It is as with man, who has no name at birth, but afterwards various names are attached to him. The seventeen hundred koan or themes to which Zen students devote themselves are all only for making them see their original face. The Worldhonored One sat in meditation in the snowy mountains for six years, then saw the morning star and was enlightened, and this was seeing his original face… Every time a thought arises, throw it away… The thoughts are like clouds, when the clouds have cleared, the moon appears. The moon of eternal truth is the original face.” According to ‘The Three Pilars of Zen’, one day Zen Master Bassui Tokusho (1327-1386) entered the hall to teach the assembly: “If you would free yourself of the sufferings of samsara, you must learn the direct way to become a Buddha. This way is no other than the realization of your own Mind. Now what is this Mind? It is the true nature of all sentient beings, that which existed before our parents were born and hence before our own birth, and which presently exists, unchangeable and eternal. So it is called one’s Face before one’s parents were born. This Mind is intrinsically pure. When we are born it is not newly created, and when we died it does not perish. It has no distinction of male or female, nor has it any coloration of good or bad. it cannot be compared with anything, so it is called Buddha-nature. Yet countless thoughts issue from this Self-nature as waves arise in the ocean or as images are reflected in a mirror… Imagine a child sleeping next to its parents and dreaming it is being beaten or is painfully sick. The parents cannot help the child no matter how much it suffers, for no one can enter the dreaming mind of another. If the child could awaken itself, it could be freed of this suffering automatically. In the same way, one who realizes that his own Mind is Buddha frees himself instantly from the sufferings arising from ignorance of the law of ceaseless change of birthand-death.” Zen Master Tokugaku (fifteenth century) wrote about the original face in Zen Poems of China and Japan as follows:

“Original Face is the reality of realities:

Stretch your hand to the winging bird.

Vertical nose, horizontal eye, and then?

What if your mind is empty?”

Bản Lai Tâm: Original mind—Theo Thiền sư Linh Mộc Tuấn Long trong quyển Thiền Tâm, Sơ Tâm, đối với các Thiền sinh, điều quan trọng nhất là không được có những tư tưởng nhị nguyên. Cái “bản lai tâm” của chúng ta bao gồm đủ thứ mọi việc trong đó. Tự nó, nó luôn luôn phong phú và đầy đủ. Đứng đánh mất cái trạng thái tâm tự đầy đủ ấy. Đây không phải là một cái tâm khép kín, nhưng thực sự là một cái tâm trống rỗng và luôn luôn sẵn sàng. Nếu tâm bạn trống rỗng, nó luôn luôn sẵn sàng đón nhận bất cứ thứ gì; nó luôn luôn rộng mở với tất cả mọi thứ. Trong cái tâm của người nhập môn có rất nhiều thứ có thể; trong khi cái tâm của người có nhiều kinh nghiệm lại có ít hơn—According to Zen Master Shunryu Suzuki in Zen Mind, Beginner’s Mind, for Zen students the most important thing is not to be dualistic. Our “original mind” includes everything within itself. It is always rich and sufficient within itself. You should not lose your self-sufficient state of mind. This does not mean a closed mind, but actually an empty mind and a ready mind. If your mind is empty, it is always ready for anything; it is open to everything. In the beginner’s mind there are many possibilities; in the expert’s mind there are few. Bản Lai Thành Phật: See Bổn Lai Thành Phật.

Bản Lai Thiền Sư (1355-1422): Zen Master PanLai—Tên của một vị Thiền sư Trung Hoa ở tỉnh Giang Tây vào thế kỷ thứ XIV—Name of a Chinese famous Zen master in Jiang-hsi Province in the fourteenth century.

Bản Lai Vô Nhất Vật: From the beginning, nothing has existed—Originally not a thing existing—Before anything existed—Bổn lai vô nhất vật—Xưa nay không một vật, không lại thêm không hay đệ nhứt nghĩa không. Đây là một đề mục thiền quán—Originally not a thing existing, or before any thing existed. This is a subject for meditation—See Huệ Năng Đại Sư. Bản Lai Vô Sự:Không có tạo tác—Not doing— Passive—Inactive, physically or mentally—Noncausative—Not creating—Uncreated—Not being produced—Not becoming.

Bản Lãnh: Skill and spirit.

Bản Lãnh Tu Hành: Cultivating skill and spirit. Bản Luận Chú: Dhatukathapakarana-atthakatha (skt)—See Bổn Luận Chú. Bản Man Sanh: Katakamala (skt)—Truyện cổ Phật giáo—Book on Buddhist legends. Bản Mạng: Jati (skt)—Jiva (skt & p) or Jivitendriya (skt)—Life—See Bản Mệnh.

Bản Mạng Nguyên Thần: Tên của hai vì sao mà người phàm tin là chi phối vận mệnh con người. Trong nhà Thiền, từ nầy dùng để diễn tả bản tánh của chính mình—Name of two stars that ordinary people believe that they govern lives of people. In Zen, the term is used to express one’s own nature. Bản Mẫu Tạng: Matrka (skt)—Hành Mẫu Tạng— See Hành Mẫu.

Bản Mệnh: Jati (skt)—Jiva (skt & p) or Jivitendriya (skt)—Life—Livehood—Đời sống— Theo đạo Phật thì đời sống bao gồm hai phần tinh thần và vật chất. Phần tinh thần bao gồm một sự tổng hợp của Thọ, Tưởng, Hành và Thức. Vật chất bao gồm một tổng hợp của Đất, Nước, Lửa và Gió. Cuộc đời, theo đạo Phật là biển khổ. Cái khổ thống trị mọi kiếp sống. Nó chính là vấn đề căn bản của cuộc sống. Thế gian đầy khổ đau và phiền não, không ai thoát khỏi sự trói buộc của nỗi bất hạnh nầy, và đây là một sự thật chung mà không một người sáng suốt nào có thể phủ nhận. Tuy nhiên, việc nhìn nhận sự kiện phổ quát nầy không có nghĩa là phủ nhận hoàn toàn mọi lạc thú hay hạnh phúc ở đời. Đức phật, bậc thuyết Khổ, chưa bao giờ phủ nhận hạnh phúc cuộc sống khi Ngài đề cập đến tính chất phổ quát của Khổ— According to Buddhism, life is a combination of Mind and Matter. Mind consists of the combination of sensations, perceptions, volitional actions and consciousness. Matter consists of the combination of the four elements of Solidity, Fluidity, Heat and Motion. Life according to Buddhism is suffering; suffering dominates all life. It is the fundamental problem of life. The world is suffering and afflicted, no being is free from this bond of misery and this is a universal truth that no sensible man who sees things in their proper perspective can deny. The recognition of this universal fact, however, is not totally denial of pleasure or happiness. The Buddha, the Lord over suffering, never denied happiness in life when he spoke of the universality of suffering. Bản Năng: Instinctive tendencies—Instinct— Instintive—Instinctively.

Bản Ngã: Ourselves—Atman—Soul—Ego—Sự tin tưởng vào bản ngã dẫn tới vị kỷ và dục vọng, do đó làm cản trở việc thực chứng về tính đồng nhứt của đời sống cũng như việc đạt được đại giác—The belief in ego creates and fosters egoism and desire, thus preventing the realization of the unity of life and the attainment of enlightenment.

Bản Ngã Tương Hợp: Self-compatible.

Bản Nguyên Chân Tánh: Tánh giác sẵn có nơi mỗi người, xưa nay là Phật tánh—The nature of awareness or the intuitive nature in everyone is originally the Buddha-nature. Bản Nguyện: Purvapranidhana (skt)—Original vow—See Bổn Nguyện.

Bản Nhiên Thanh Tịnh: Prakrti-prabhasvaram (skt)—Fundamental nature is pure—See Tự Tánh Thanh Tịnh.

Bản Nhiên Tịch Diệt: Nirodhatu (skt)—Original tranquil and extinct.

Bản Như (981-1050): Master Pan-Ru—Tên của một vị Tăng Trung Hoa ở tỉnh Triết Giang vào thế kỷ thứ XI—Name of a Chinese monk in ChieJiang Province in the eleventh century. Bản Phận: See Bổn Phận.

Bản Sanh Chú Giải: SeeBổn Sanh Nghĩa Thích.

Bản Sanh Man: See Bổn Sanh Man.

Bản Sanh Ngã Chấp: The natural or instinctive cleaving to the idea of self or soul. Bản Sanh Nghĩa Thích: SeeBổn Sanh Nghĩa Thích.

Bản Sư: See Bổn Sư.

Bản Tài: Master Pan-Ts’ai—Tên của một vị Tăng thuộc tông Lâm Tế Trung Hoa ở tỉnh Phúc Kiến vào thời nhà Tống—Name of a Chinese Lin-chi monk in Fu-Jian Province during the Sung dynasty (960-1279).

Bản Tánh: Pakati (p)—Prakrti (skt)—Tự Tánh Đế—Essential original nature—Natural disposition—One’s own nature—The spirit one possesses by nature—The Buddha within—See Chân Như.

Bản Tánh Không: Prakriti-sunyata (skt)— Emptiness of primary nature—See Không Tánh. Bản Tánh Thanh Tịnh: Thanh khiết tự bản tánh—Intrinsically pure.

Bản Tánh Thường: Dharmakaya (skt)—Pháp thân thường hằng của một vị Phật—Eternal nature—See Tam Chủng Thường.

Bản Tâm: Inner self.

Bản Tế: 1) The region of reality, ultimate truth— See Chân Thực; 2) Lớp kim cương nằm sâu trong lòng đất làm nền tảng cho quả địa cầu: Foundation of Earth, the deepest layer of the earth is made of diamond and serves as its foundation; 3) Tên của một vị Tăng Trung Hoa ở tỉnh Phúc Kiến vào thế kỷ thứ VI: Master Pan-chi (562-615)—Name of a Chinese monk in Fu-Jian Province in the sixth century.

Bản Thành: See Phật Thích Ca Thành Đạo.

Bản Thân: Individual—Oneself.

Bản Thân Năng Hiện: Thật tướng pháp thân của chư Phật và chư Bồ Tát (thực thân hay thân vô tướng của Như Lai). Hóa thân sở hiện hay gọi là bản thân có khả năng hiển hiện ra bất cứ ở đâu vào bất cứ lúc nào—Real dharmakaya of Buddhas or Bodhisattvas, which is able to manifest in anywhere at anytime.

Bản Thể: Substance—See Pháp Tánh. Bản Thể Nội Tại: Intrinsic essence—See Chơn Ngã.

Bản Thệ: See Bổn Nguyện.

Bản Thiếp (1517-1570): Master Pan-T’ie—Tên của một vị Tăng Trung Hoa trong tỉnh Vân Nam vào thế kỷ thứ XVI—Name of a Chinese monk in Yun-nam Province in the sixteenth century.

Bản Thủ: See Bản Đầu.

Bản Thụy: Zen Master Pan-Shui—Tên của một vị

Thiền sư thuộc tông Lâm Tế Trung Hoa ở tỉnh

Giang Tây vào thời nhà Minh (1368-1644)— Name of a Chinese Zen master of the Lin-chi sect in Jiang-hsi Province during the Ming dynasty. Bản Thức: Gốc rễ của chư pháp—Original mind, because it is the root of all things—See A Lại Da Thức.

Bản Tích Nhị Môn: See Bổn Tích Nhị Môn.

Bản Tích Thập Diệu: Mười điều huyền diệu của Bản môn và Tích môn trong Kinh Pháp Hoa—The ten wonders or incomprehensibles of the two divisions of the Lotus Sutra into two parts—See Thập Diệu and Bổn Tích Nhị Môn. Bản Tịch Thiền Sư: Sozan Honjaku (jap)—Ts’aoshan Pen-chi—See Tào Sơn Bản Tịch Thiền Sư. Bản Tịnh Thiền Sư (667-761): Zen Master PenCh’ing—See Bổn Tịnh Tư Không Thiền Sư.

Bản Trụ Pháp Tánh: Purvadharmasthitita (skt)— Pauranasthitidharmata (skt)—Originally-abiding truth or reality—Cái chân lý vốn vẫn thường trụ. Bản Viên (1883-1945): Master Pan-Yuan—Tên của một vị Tăng Trung Hoa ở Đài Loan vào thế kỷ thứ XX—Name of a Chinese monk in Taiwan in the twentieth century.

Bản Vô: Zen Master Pan-Wu—Tên của một vị Thiền sư Trung Hoa ở Côn Minh vào thời nhà Minh (1368-1644)—Name of a Chinese Zen master in Kun-Ming during the Ming dynasty.

Bạn:

  1. Bạn bè: Friends—Companion—Associate.
  2. Bờ: A path between fields, or boundary. Bạn Chân Thang: Trà nóng mà vị trụ trì hiện tại mời khách Tăng trong ngày cúng kỵ vị thầy mà vị trụ trì nối pháp—Hot tea that the current abbot invites other monks on the dead anniversary of the previous abbot.

Bạn Cùng Tu: See Bạn Đồng Tu.

Bạn Dạ: Vãng Dạ—Đêm cuối cùng chư Tăng thức làm bạn với vị Tăng đã mất—The last night that other monks stay up late to make friend with a deceased monk.

Bạn Đạo: Dharma friends.

Bạn Điệp Bà: Vatya (skt)—Đại phong tai—A great calamitous wind.

Bạn Đồng Tu: Fellow cultivator.

Bạn Hạc Tùy Phong Đắc Tự Do: Nhàn nhã như là làm bạn với cánh hạc theo gió rong chơi. Trong nhà Thiền, từ nầy được dùng để diễn tả cảnh giới giải thoát của Thiền giả như mây hạc tự do tự tại không chướng ngại—As free as a crane that is freely flying with the winds. In Zen, the term is used to express the realm of liberation of Zen practitioners without any obstructions. Bạn Liêu: Vị Tăng được tự do ra vào các liêu xá trong tự viện, thường là vị thủ tọa hay trụ trì—A monk who can enter any rooms in the temple, usually an abbot.

Bạn Tăng: Các vị Tăng đồng tu: Associate or accompanying monks—Phụ tá vị trụ trì: Assistant to the abbot.

Bạn Thiền: Bồi Thiền—Vị Thiền Tăng phụ trách việc giúp Tăng chúng trong các buổi tọa thiền trong thiền viện, thường là vị trụ trì—A Zen monk who is responsible to assist other monks with sitting meditation sessions, usually an abbot. Bạn Thương Mai Tuyền Thiền Sư: Zen master Azegami Baisen—Tên của một Thiền sư Nhật Bản trong thời cận đại—Name of a Japanese Zen master in modern days.

Bạn Trai: Vị Tăng được mời cùng thọ trai với vị trụ trì mới trong Thiền viện—A term used to call a monk who is invited to have lunch with the new abbot.

Bạn Xuất Gia: Dharma colleagues or friends.

Bang: Minh Ngư—Ngư Bản—See Mộc Ngư.

Bang Giao: Relationship.

Bang Trợ: Attha-carya (p)—Arthacara (skt)—To aid—To help.

Báng: Phỉ báng—To speak ill of—To defame— To ridicule—To slander.

Báng Pháp: Phỉ báng giáo pháp (một trong hai loại xiển đề, còn gọi là “Đoạn Thiện Xiển Đề”)— To slander the Truth.

Báng Phật: Hủy báng đức Phật và giáo pháp của Ngài—To slander (defame) the Buddha and His teachings.

Báng Phật Kinh: Slander the Buddhist Sutras— See Hủy Báng Kinh Điển.

Báng Tam Bảo: To vilify the three treasures. Báng Tam Bảo Giới: Hủy báng tam bảo giới—To vilify the rules of the three treasures.

Bàng: Bên cạnh—Near—Adjoining—Side— Dependent—Beside.

Bàng Bảo Linh Chiếu Thiền Sư: P’ang-pao-Lingchiao—See Linh Chiếu Ni Thiền Sư. Bàng Cư Sĩ: Hokoji (jap)—See Bàng Long Uẩn Thiền Sư.

Bàng Cư Sĩ Bất Muội Bản Lai Nhân: Công án Bàng Cư Sĩ không mê lầm nghĩa bổn lai—The koan of P’ang Yun’s not being unclear of original or primary cause.

Bàng Cư Sĩ Hảo Tuyết Phiến Phiến: Công án Bàng Cư Sĩ từng mảnh tuyết rơi đẹp—The koan of P’ang Yun’s statement: “Good Snowflakes; they don’t fall in any other place”—Trong thí dụ thứ 42 của Bích Nham Lục. Cư sĩ Bàng Long Uẩn từ giã Dược Sơn, Dược Sơn sai mười vị thiền khách tiễn nhau đến cổng ngoài. Cư sĩ chỉ tuyết trong không nói: “Tuyết đẹp mảnh mảnh, chẳng rơi chỗ khác.” Thiền khách Toàn hỏi: “Rơi tại chỗ nào?” Cư sĩ đánh cho một tát, thiền khách Toàn bảo: “Cư Sĩ không được thô xuất.” Cư sĩ nói: “Ông thế ấy mà xưng là thiền khách, Diêm Vương chưa tha ông đâu.” Thiền khách Toàn hỏi: “Cư sĩ thì sao?” Cư sĩ lại đánh cho một tát nữa, nói: “Mắt thấy như mù, miệng nói như câm.” (Tuyết Đậu riêng nói: Chỗ mới hỏi, chỉ nắm một hòn tuyết, liền đánh). Theo Viên Ngộ trong Bích Nham Lục, cư sĩ họ Bàng tham vấn hai nơi Mã Tổ, Thạch Đầu đều có làm tụng. Ban đầu yết kiến Thạch Đầu hỏi: “Chẳng cùng muôn pháp làm bạn là người gì?” Chưa dứt lời bị Thạch Đầu bụm miệng, liền có tỉnh, làm tụng: “Việc hằng ngày không khác, chỉ tôi tự vui hay, vật vật không bỏ lấy, chỗ chỗ không trái bày, đỏ tía gì làm hiệu, núi xanh tuyệt điểm ai, thần thông cùng diệu dụng, gánh nước bửa củi tài.” Sau ông đến tham vấn Mã Tổ, hỏi: “Chẳng cùng muôn pháp làm bạn là người gì?” Mã Tổ đáp: “Đợi ông dùng miệng hút cạn nước Tây Giang, liến vì ông nói.” Cư sĩ bỗng nhiên đại ngộ, làm tụng: “Mười phương đồng tụ hội, mỗi mỗi học vô vi, đây là trường thi Phật, tâm không được đậu về.” Vì ông là hàng tác gia, sau này trông vào hai nơi đến đâu đều được khen ngợi. Ông qua lại Dược Sơn nhiều lần và ở lâu, từ giã ra về, Dược Sơn rất trọng nên sai mười thiền khách đi tiễn. Khi ấy gặp tuyết rơi, cư sĩ chỉ tuyết nói: “Tuyết đẹp mảnh mảnh, chẳng rơi chỗ khác.” Thiền khách Toàn hỏi: “Rơi tại chỗ nào?” Cư sĩ liền tát. Thiền khách Toàn đã không thể hành lệnh, cư sĩ hành phân nửa. Lệnh tuy hành, thiền khách Toàn đối đáp thế ấy chẳng phải không biết chỗ rơi của ông, chỉ vì mỗi người có cơ phong cuộn tung chẳng đồng. Song vẫn có chẳng đến chỗ cư sĩ, vì thế rơi dưới giá của ông, khó thoát khỏi cái lồng của ông. Cư sĩ đánh rồi lại vì nói đaọ lý: “Mắt thấy như mù, miệng nói như câm.” Tuyết Đậu riêng nói: “Chỗ mới hỏi, chỉ nắm một hòn tuyết,” liền đánh. Tuyết Đậu thế ấy cốt chẳng cô phụ lời hỏi của thiền khách Toàn, chỉ vì căn cơ chậm lụt. Tạng chủ Khánh nói: “Cơ phong của cư sĩ như điện chớp, các ông nắm hòn tuyết, hô lên liền đáp, hô lên liền đánh, mới là dứt bặt.”—In example 42 of the Pi-Yen-Lu, when layman P’ang took leave of Yao Shan, Shan ordered ten Ch’an travellers to escort him to the gate. The layman pointed to the snow in the air and said, “Good Snowflakes; they don’t fall in any other place.” At the time one of the Ch’an travellers named Ch’uan said, “Where do they fall?” The Layman slapped him once. Ch’uan said, “Even a layman shouldn’t be so coarse.” The Layman said, “Though you call yourself a Ch’an traveller this way, the King of Death still won’t let you go.” Ch’uan said, “How about you, Layman?” Again the Layman slapped him and said, “Your eyes see like a blind man, your mouth speaks like a mute.” Hsueh Tou said besides, “When P’ang first spoke I just would have made a snowball and hit him with it.” According to Yuan-Wu in the PiYen-Lu, Layman P’ang called on Ma Tsu and Shih T’ou: at both places he had verses to express his realization. When he first saw Shih Tou he asked, “What man doesn’t keep company with the myriad things?” before he stopped talking, he had his mouth covered by Shih T’ou and had an awakening. He made up a verse saying, “My everyday affairs are no different: Only I myself naturally harmonize. No place is grasped or rejected, nowhere do I go for or against. Who considers crimson and purple honorable? The green mountains have not a speck of dust. Spiritual powers and their wondrous functioning; hauling water and carrying firewood.” Later P’ang called on Ma Tsu. Again he asked, “What man doesn’t keep company with the myriad things?” Ma Tsu said, “Wait till you can swallow all the water in West River in one gulp, then I’ll tell you.” The Layman emptied out in great enlightenment. He made up a verse saying, “The ten directions, a common gathering; everyone studies not-doing. This is the place where Buddhas are chosen; mind empty, they return successful.” Since P’ang was an adept, all the various monasteries later welcomed him, and wherever he went they vied to praise him. After he had gotten to Yao Shan and stayed around there quite a while, he went to take leave of Yao Shan. Shan held him in the highest esteem, so he ordered ten Ch’an travellers to see him off. It happened to be snowing at the time: the Layman pointed to the snow and said, “Good snowflakes; they don’t fall in any other place.” When Ch’an traveller Ch’uan asked, “Where do they fall?” The Layman immediately slapped him. Since Ch’uan was unable to carry out the order, the Layman ordered him to carry out half. Although the order was put into effect, when Ch’an traveller Ch’uan responded in this way, it was not that he didn’t know what P’ang was getting at. They each had a point to their activity, but their rolling up and rolling out were not the same. Even so, in some respects he didn’t come up to the Layman. That is why he fell into his trap and found it difficult to get out of the Layman’s range. After the Layman had hit him, The Layman went on to explain the reason to him saying, “Your eyes see like a blind man, your mouth speaks like a mute.” Besides the previous words Hsueh Tou said, “When he first spoke I just would have made a snowball and hit him with it” Hsueh Tou talked this way, not wanting to turn his back on the question: it’s just that his action was tardy. Librabrian Ch’ing said, “The Layman’s mind is like lightning bolt. If we waited for you to grab a snowball, how long would it take? Only if you hit him while he’s still speaking can you cut him off completely.”

Bàng Cư Sĩ Ngữ Lục: See Bàng Uẩn Ngữ Lục.

Bàng Cư Sĩ Tuyết Đoàn Đả Tuyết Đoàn Đả:

Công án Bàng Cư Sĩ từng mảnh tuyết rơi đẹp— The koan of P’ang Yun’s statement: “Good Snowflakes; they don’t fall in any other place”— See Bàng Cư Sĩ Hảo Tuyết Phiến Phiến.

Bàng Gia Hành Cước: Hành cước Tăng—Chư

Tăng hành cước đến các Thiền viện khác để tham bái—Itinerant monk—Wandering monk.

Bàng Linh Chiếu: See Linh Chiếu Ni Thiền Sư.

Bàng Long Uẩn Thiền Sư: Hokoji (jap)—Houn (jap)—P’ang Yun—Pangyun—See Long Uẩn

Thiền Sư.

Bàng Luận: Digression—Sự lạc đề—Wandering from the main subject in talking or writing. Bàng Miết Ngữ: Lời nói thoáng qua để lộ yếu chỉ của Thiền sư đối với người học—Flashing over words that display the important meaning of Zen from the Zen master to his students.

Bàng Môn: Cửa hông—Side door. Bàng Môn Tả Đạo: Belonging to external and false cults—Heterodox paths.

Bàng Ngôn: Chuyện thị phi—Gossips.

Bàng Nhân: Bystanders.

Bàng Quan: Spectator—Looker-on—Onlooker. Bàng Sinh: Sanh làm súc vật—Be born as an animal—Sự tái sanh làm súc vật—Rebirth as an animal.

Bàng Thính: Thăm viếng và lắng nghe—To visit and listen.

Bàng Uẩn: Hokoji (jap)—Houn (jap)—P’ang Yun (Wade-Giles Chinese)—Pangyun (Pinyin

Chinese)—See Bàng Long Uẩn Thiền Sư.

Bàng Uẩn Ngữ Lục: Hokoji-goroku (jap)—P’angYun Yulu (chi)—Records of lectures of P’ang- Yun—Records of teachings of P’ang-Yun.

Bảng Trạng Bài Thị: Bảng cáo thị để thông tri tin tức cho Thiền Tăng—Notice board in a Zen monastery.

Bạng Cáp Thiền: Thiền pháp nêu rõ chân diện mục của bậc Thiền sư, giống như thấy rõ ruột gan của con sò—Methods of meditation that clearly state the original form (original face or Buddhanature) of things from the Zen master.

Bành Sở Hành (1908-1983): Master Pan-SuHsing—Tên của một vị Tăng Trung Hoa trong tỉnh Vân Nam vào thế kỷ thứ XX—Name of a Chinese monk in Yun-nan Province in the twentieth century.

Bành Thiệu Châu (1740-1796): Master PanShao-Chou—Tên của một vị Tăng Trung Hoa trong tỉnh Giang Tô vào thế kỷ thứ XVIII—Name of a Chinese monk in Jiang-Ssu Province in the eighteenth century.

Bành Trướng Tưởng: Quán xác bị phủ đầy máu mủ (vipuyakas (skt). Tưởng thây chết sình lên đầy dẫy máu mủ và sắp rã, một trong cửu tưởng quán nhằm giúp hành giả thoát ly chấp trước về thân— To contemplate on a corpse covered with pu, one of the nine types of meditation on corpse which helps free us from attachment to the human body—See Cửu Tưởng Quán.

Bao Thiền Phổ: Pao-Ch’an P’u—Name of a monk.

Báo:

(A) Nghĩa của Báo—The meanings of Recompenses:

  1. Đền bù hay Trả lại: Recompense—To give back—To acknowledge—To requite—

Punishment.

  1. Báo ân: To thank.

(B) Phân loại Báo—Có ba loại quả báo— Categories of Recompenses—There are three kinds of recompenses:

  1. Hiện báo: Quả báo hiện đời cho những việc làm trong hiện kiếp—Recompense in the present life for deeds done now.
  2. Đương báo: Quả báo trong kiếp tái sanh cho những việc làm trong hiện tại—Recompenses in the next rebirth for deeds done now.
  3. Hậu báo: Quả báo cho hậu kiếp—

Recompenses in subsequent life. Báo Ân: Báo đáp công ân—To return thanks—To render thanks—Acknowledge or requite favours. Báo Ân Điền: Một trong ba loại ruộng phước (phước điền), cha mẹ, sư trưởng, vân vân, những người có công nuôi nấng dạy dỗ chúng ta. Báo đáp được công ân nầy thì chúng ta sẽ có vô lượng công đức—One of the three sources of felicity, the field for requiting blessings received, i.e. parents, teacher, etc.—See Tam Phước. Báo Ân Huyền Tắc Thiền Sư: Hoon Gensoku

(jap)—Pao-ên Hsuan-t’se (Wade-Giles Chinese)— Bao’en Xuanze (Pinyin Chinese)—Thiền sư Báo Ân Huyền Tắc, đệ tử của Thiền sư Pháp Nhãn Văn Ích. Có rất ít chi tiết về cuộc đời của Thiền sư Báo Ân Huyền Tắc; tuy nhiên, có một vài chi tiết nhỏ về vị Thiền sư này trong bộ Truyền Đăng Lục, quyển XXV: Thiền sư Báo Ân gốc người Hoạt Châu, bây giờ là vùng phía tây bắc của Hoa Quận, thuộc tỉnh Hà Nam. Ban sơ ông tu tập thiền với Thiền sư Thanh Phong. Kế đó ông tiếp tục học Thiền với Thiền sư Pháp Nhãn Văn Ích. Sư Huyền Tắc giữ chức vụ quan trọng Thiền viện của thiền sư Pháp Nhãn (885-958) vào đầu thế kỷ thứ mười—Zen master Xuanze Bao’en was a disciple of Zen master Fayan Wenyi. Few other details about Xuanze Bao’en’s life are available in the classical records; however, there is some brief information on him in the Records of the Transmission of the Lamp (Ch’uan-Teng-Lu), Volume XXV: Zen master Bao’en came from Huazhou, now in the northwest portion of Hua County, Henan Province. He first studied under a Zen teacher named Qingfeng. He then continued his practice under Zen master Fayan Wenyi. Hsuan-t’se was one of the chief officials of the monastery under the Zen master Fa-yen, of the early tenth century.

  • Trong lần gặp gỡ Thiền sư Thanh Phong, Báo

Ân hỏi: “Thế nào là tự kỷ của người học trò?” Thanh Phong nói: “Đồng tử Bính Đinh (thần Lửa) lại đi xin lửa.” Huyền Tắc không hội nên bỏ đi. Về sau này gặp Thiền sư Pháp Nhãn và ở lại đây tu tập—Upon meeting Zen master Qingfeng, Bao’en asked, “What is the student’s own self?” Qingfeng said, “It’s the boy of fire coming to seek fire.” Bao’en didn’t understand and left. Later he met Fayan and stayed at his monastery for further practice.

  • Từ khi đến với Thiền sư Pháp Nhãn, Huyền Tắc không bao giờ tham vấn thầy nên một ngày kia Pháp Nhãn gạn hỏi duyên cớ. Huyền Tắc thưa: “Đệ tử đã liễu ngộ Thiền từ ngày còn theo học với thiền sư Thanh Phong.” Pháp Nhãn hỏi: “Ông liễu ngộ thế nào?” Huyền Tắc nói: “Con hỏi ngài Thanh Phong thế nào là Phật, ngài trả lời ‘Cậu bé Bính Đinh đến xin lửa’.” Pháp Nhãn nói: “Đáp hay đó, nhưng chắc ông đã ngộ nhận mất rồi. Ông hiểu thế nào nói ta nghe thử?” Huyền Tắc giảng: “Vâng, Bính Đinh là thần lửa; đã là thần lửa mà đi xin lửa chẳng khác nào con, bổn lai là Phật, mà lại đi hỏi thế nào là Phật. Kỳ thật, không một câu hỏi nào cần phải nêu lên, vì con vốn là Phật kia mà.” Pháp Nhãn nói: “Đó, ta nói có sai đâu, ông vọng tưởng mất rồi!” Huyền Tắc sanh lòng bất bình, giận dữ bỏ ra đi. Pháp Nhãn nói: “Nếu ông ta trở lại may ra còn cứu được, bằng không thì hỏng mất.” Huyền Tắc đi một đoạn xa mới nghĩ rằng dẫn dắt năm trăm Tăng chúng như Hòa Thượng Pháp Nhãn hẵn không thể vô cớ quở trách mình. Sư bèn quay trở về chùa và trình thầy xin khai ngộ. Pháp Nhãn bảo: “Ông hỏi đi, ta đáp cho.” Huyền Tắc hỏi: “Thế nào là Phật?” Pháp Nhãn đáp: “Đồng tử Bính Đinh đến xin lửa.” Lời đáp của Pháp Nhãn mở mắt Huyền Tắc trên chân lý Thiền khác hẳn những gì mà từ trước đến nay ông đã hiểu. Từ nay ông không còn chuyện học nhờ hiểu mượn, mà là một tâm hồn đầy sáng tạo, đầy sinh khí. Thế mới biết Thiền không phải để giải thích, mà là để sống. Bằng không thì luận giải nào cũng chỉ là khái niệm suông, không có nghĩa lý gì đối với Thiền. Pháp Nhãn đã cho Huyền Tắc một cái nhìn mới phóng vào sự vật, một cái nhìn hoàn toàn vượt ngoài phạm vi của tình thức. Đúng ra, cái nhìn mới này mở ra trong khi Huyền Tắc đi đến chỗ cùng lý tuyệt tình. Sư đã vượt ra khỏi giới hạn mà bấy lâu nay Sư luôn có cảm tưởng như bị trói buộc cơ hồ không sao thoát ra được. Thật vậy, đa số hành giả tu Thiền chúng ta đều dừng lại ở giới hạn ấy, chúng ta đã quá dễ dãi để cả quyết rằng chúng ta không thể đi xa hơn. Nhưng với sự trợ giúp của một ai đó có được một cái tâm thấy nội tâm chiếu diệu hơn phóng qua bức màn điên đảo và mâu thuẫn này, sẽ giúp chúng bất thần thấy được. Chính Pháp Nhãn đã giúp cho Huyền Tắc đập vào bức tường trong tuyệt vọng, và cuối cùng bức tường đổ xuống lúc nào không hay, và chính sự giúp đở này của Pháp Nhãn đã giúp mở ra cho Huyền Tắc một thế giới mới lạ làm sao! Những gì từ trước Huyền Tắc coi là tầm thường, giờ đây như kết hợp lại nhịp nhàng làm sao trong một trật tự mới lạ không ngờ! Thế giới giác quan cũ của Huyền Tắc mờ nhạt, và được thế vào đó một cái gì rất mực mới mẽ. Dường như rõ ràng là Huyền Tắc vẫn ở trong khung cảnh khách quan ấy, nhưng bên trong Huyền Tắc cảm thấy một cách chủ quan như mình tươi trẻ lại, như mình vừa mới tái sanh—Since the time he arrived at Fayan, Hsuan-t’se never came to the master to make inquiries about Zen, so one day the master asked him the reason why he did not come. Hsuan-t’se answered, “When I was under Ch’ing-feng

Zen master, I got an idea as to the truth of

Zen.” Fa-yen asked, “What is your understanding then?” Hsuan-t’se said, “When I asked my master who was the Buddha, he said ‘Ping-ting T’ung-tzu comes for fire’.” Fayen said, “It is a fine answer, but probably you misunderstand it. Let me see how you take the meaning of it.” Hsuan-t’se said, “Well, Ping-ting is the god of fire; when he himself comes for fire, it is like myself, who, being a Buddha from the very beginning, wants to know who the Buddha is. No questioning is then needed, as I am already the Buddha himself.” Fa-yen exclaimed, “There! Just as I thought! You are completely off.” Hsuan-t’se got highly offended because his view was not countenanced and left the monastery. Fa-yen said, “If he comes back he may be saved; if not, he is lost.” After going some distance, Hsuan-t’se reflected that a master of five hundred monks as Fa-yen would not chide him without a cause, so he returned to the old master and expressed his desire to be instructed in Zen. Fa-yen said, “You ask me and I will answer.” Hsuan-t’se asked, “Who is the Buddha?” Fa-yen answered, “Ping-ting T’ung-tzu comes for fire.” This made his eyes open to the truth of Zen quite different from what he formerly understood of it. He was now no more a second hand ‘pedant’ but a living creative soul. This shows us that Zen refuses to be explained, but that it is to be lived. Without this all talk is nothing but an idea, which is meaningless to Zen. In this case, Fa-yen did give Hsuan-t’se a new point of view of looking at things, which is altogether beyond our ordinary sphere of consciousness. Rather, this new viewpoint is gained when Hsuan-t’se reaches the ultimate limits of our understanding, within which he thinks he is always bound and unable to break through. As a matter of fact, most Zen practitioners stop at these limits and are easily persuaded that they cannot go any further. But with the help of someone whose mental vision is able to penetrate this veil of contrasts and contradictions will help us gain it abruptly. Fayen himself helps Hsuan-t’se to beat the wall in utter despair, and this help unexpectedly gives way and opens an entirely new world for Hsuan-t’se. Things hitherto Hsuan-t’se regarded as ordinary, are now arranged in quite a new order scheme. Hsuan-t’se’s old world of the senses has vanished, and something entirely new has come to take its place. It seems to be that Hsuan-t’se is clearly still in the same objective surrounds, but subjectively he is rejuvenated, he is born again.

  • Một hôm, Thiền sư Báo Ân nói với đại chúng: “Tất cả các vị Thượng Tọa ai cũng đều sở hữu một vầng nguyệt tròn đầy hằng hữu. Mỗi vị đều có trân bảo vô giá. Chỉ vì mặt trăng bị mây mù che khuất nên không chiếu sáng. Trí tuệ bị che khuất bởi mê vọng, cho nên dầu nó là chân lý đó mà không thể thực chứng được. Lão Tăng không có gì thêm để nói nữa. Mấy ông đã đứng lâu rồi!”—One day, Zen master Bao’en addressed the congregation, saying, “All of you monks fully possess an eternal perfect moon. Each of you possesses a priceless jewel. Because the moon is obscured by fog its luster does not shine forth. Your wisdom is concealed within delusion, and although it is the truth, you haven’t realized it. There’s nothing more to say. You

have been standing too long for nothing!” Một vị Tăng hỏi: “Thế nào là bất động tôn?” Báo Ân nói: “Ghềnh thác nâng lên rồi đâm sầm xuống. Nhật nguyệt bay lượn vù vù.”—A monk asked, “What is the meaning of ‘no movement’?” Bao’en said, “The river rapids heave and crash. The sun and moon swirl in orbit.”

Báo Ân Thí: Bố thí để trả ân—Almsgiving out or gratitude—Giving out of gratitude—Đây là một trong tám loại bố thí theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh. Bố thí để trả ân (vì người ấy đã cho tôi nên tôi bố thí lại). Đây là một trong tám loại bố thí theo Câu Xá Luận—One gives, thinking: “He gave me something.” . This is one of the eight bases for giving according to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha. Giving out of gratitude or giving in return for kindness received or one gives, thinking: “He gave something.” This is one of the eight causes of dana or giving according to the Kosa Sastra— See Bát Chủng Bố Thí.

Báo Ân Thiền Sư (1058-1111): Zen Master PaoEn—Tên của một vị Thiền sư Trung Hoa vào thế kỷ thứ XI, thuộc tông Tào Động. Sư đến từ tỉnh An Huy, từng làm quan trong triều. Về sau xuất gia và tham học Thiền với Thiền sư Nghĩa Thanh Đầu Tử—Name of a Chinese Zen master of the Ts’ao T’ung sect. He came from An-Hui Province. He was an official of the Chinese royal court, when he renounced the world, he studied Zen under Zen master T’ou-tzu I-ch’ing (1032-1083).

Báo Ân Xảo Phương Tiện: Cho tài vật để người khác sinh tâm cúng dường bố thí—Granting wealth to induce grateful offerings and almsgiving.

Báo Chướng: Hindrances of retribution—Những chướng gây nên những quả báo, một trong ba chướng. Màn vô minh làm ngăn ngại thiên căn hay do phiền não hoặc nghiệp mà phải đọa vào ác đạo—Hinderers caused by the retributions, one of the three hinderers. The veil of delusion which accompanies retribution.

Báo Đáp: To acknowledge and thank.

Báo Đắc Thiên Nhĩ: Một lối giải thích tương đương khác cho thiên nhĩ thông—Another equivalent interpretation for deva-ear. Báo Độ: Recompensed Land—Còn gọi là Phật độ hay Thanh Tịnh Độ là nơi chư Phật ngự trị, còn gọi là Hoa Tạng Thế Giới—The land in which a Buddha himself dwells—Land of recompense— The land of reward—The Pure Land. Also called the Pure Land of all Buddhas in their

Sambhogakaya. There are two kinds:

  1. Phật độ hành tự nhiên của đức Phật là kết quả của những công đức của ngài khi còn là một vị Bồ Tát—The Buddha’s land of activity which has been naturally produced as the result of the meritorious acts when he was a Bodhisattva.
  2. Tự Thọ Dụng Báo Độ: Một trong bốn “Báo Độ” của Phật, nơi chúng sanh có thể tự tìm cầu giải thoát lấy mình bằng các tuân thủ tu tập theo giáo pháp của Phật—Reward land of a Buddha in which all beings are able to seek salvation on their own, the third of the four Buddha-ksetra or Buddha-domains, that in which there is complete response to his teaching and powers.
  3. Tha Thọ Dụng Độ: Land of Reward—See

Tha Thọ Dụng Độ.

  1. Quốc độ của Đức Phật (chốn trụ xứ của báo thân Phật)—The land in which a Buddha himself dwells.

Báo Hóa Thân: Báo thân—Reward-body and transformation-body.

Báo Mệnh: Kiếp nầy nhận lãnh phước báo hay sự trừng phạt của những những nghiệp lực đời trước—The life of reward or punishment for former deeds.

Báo Nghĩa: To return thanks—To render thanks to someone.

Báo Nhân: The cause of retribution—Quả thục nhân—Cảm thọ cái nhân thiện ác của quả báo sướng khổ—The rewarding cause or fruit-ripening cause (pleasure or pain caused by good or evil deeds).

Báo Oán Hạnh: Requite hatred—Báo oán hạnh nghĩa là gì—Theo Tổ Bồ Đề Đạt Ma, đây là một trong bốn hạnh của Thiền giả. Người tu hành khi gặp cảnh khổ nên tự nghĩ như vầy: “Ta từ bao kiếp trước buông lung không chịu tu hành, nặng lòng thương ghét, gây tổn hại không cùng. Đời nay tuy ta không phạm lỗi, nhưng nghiệp dữ đã gieo từ trước nay kết trái chín, điều ấy nào phải do trời hoặc người tạo ra đâu, vậy ta đành nhẫn nhục chịu khổ, đừng nên oán trách chi ai. Như kinh đã nói ‘gặp khổ không buồn.’ Vì sao vậy? Vì đã thấu suốt luật nhân quả vậy. Đây gọi là hạnh trả oán để tiến bước trên đường tu tập.”—According to the first patriarch Bodhidharma, “Requite hatred” is one of the four disciplinary processes. What is meant by ‘How to requite hatred?’ Those who discipline themselves in the Path should think thus when they have to struggle with adverse conditions: “During the innumerable past eons I have wandered through multiplicity of existences, never thought of cultivation, and thus creating infinite occasions for hate, ill-will, and wrongdoing. Even though in this life I have committed no violations, the fruits of evil deeds in the past are to be gathered now. Neither gods nor men can fortell what is coming upon me. I will submit myself willingly and patiently to all the ills that befall me, and I will never bemoan or complain. In the sutra it is said not to worry over ills that may happen to you, because I thoroughly understand the law of cause and effect. This is called the conduct of making the best use of hatred and turned it into the service in one’s advance towards the Path—See Tứ Hạnh.

Báo Phật:

  1. Báo đáp Phật ân: To thank the Buddha.
  2. See Báo Thân.

Báo Phật Bồ Đề: Thập địa viên mãn, chứng niết bàn chân thường—Buddha of parinirvana.

Báo Phục: Return in kind—To retaliate—Pay someone back in his own coin—To return like for like (good for good and evil for evil). Báo Quả: Kết quả sướng khổ trong kiếp nầy do nghiệp nhân thiện ác (những nhân hay hành động thiện ác) trong quá khứ báo đáp—The rewardfruit, or consequences of past deeds. Pain or pleasure resulting in this life from the practices of a previous life.

Báo Sa: Taisa (skt)—Pausa (skt)—Tháng đầu tiên trong ba tháng mùa đông ở Ấn Độ, từ 16th tháng mười của Trung Quốc—The first of the three Indian winter months, from 16th of the 10th Chinese month (between the months of December and January).

Báo Sanh: Karmic retribution—Retribution— Result of an action—See Quả Báo. Báo Sanh Phật: Vipaka-buddha (skt)—Báo Ứng Thân Phật—Recompense Body of the Buddha. Báo Sanh Tam Muội: Mức độ của Bồ Tát Tam muội từ Bát Địa trở lên, trong đó Bồ Tát thành đạt những lực siêu việt, như người nhìn sắc tướng chứ không dùng tâm lực (hiện ra vô số hình tướng, sanh ra vô số công đức)—A degree of bodhisattva samadhi, in which transcendental powers are obtained.

Báo Tạ: To acknowledge and thank.

Báo Thân: Sambhogakaya (skt)—Hoshin (jap)— Recompensed Body Sambhogakaya—

“Sambhogakaya” là từ Bắc Phạn có nghĩa là “Báo Thân.” Một trong ba thân của đức Phật, theo Phật giáo Đại Thừa. Báo Thân là sự hưởng thụ chân lý nơi “Thiên đường Phật.” Đây cũng chính là kết quả của những hành động thiện lành trước kia. Báo Thân thường trụ nơi “Tịnh Độ” và chỉ có những hành giả thâm áo mới nhận biết được Báo Thân này mà thôi—”Sambhogakaya” is a Sanskrit term for “Enjoyment Body.” One of the three bodies of a Buddha, according to Mahayana Buddhology (Buddhist Literature). Body of

Delight, the body of buddhas who in a “BuddhaParadise” enjoy the truth that they embody. This is also the result of previous good actions. The Sambhoga-kaya is said to reside in a “pure land” and is only perceivable by advanced practitioners. Báo Thân Phật: Reward body of the Buddha— See Niệm Niệm Tự Tánh Tự Kiến.

Báo Thông: Reward of karma powers of transformation—See Nghiệp Thông.

Báo Tri: To inform.

Báo Từ Hành Ngôn Thiền Sư: Hoji Gyogon (jap)—Pao-ts’u Hsing-yen (Wade-Giles

Chinese)—Baoci Xingyan (Pinyin Chinese)—

Thiền sư Báo Từ Hành Ngôn, đệ tử của Thiền sư Pháp Nhãn Văn Ích. Ông đến từ Quảng Châu. Có rất ít chi tiết về cuộc đời của Thiền sư Hành Ngôn trong điển lục; tuy nhiên, có một vài chi tiết nhỏ về vị Thiền sư này trong Truyền Đăng Lục, quyển XXV—Zen master Baoci Xingyan was a disciple of Zen master Fayan Wenyi. He came from Quanzhou. Few other details about Baoci Xingyan’s life are available in the classical records; however, there is some brief information on him in The Records of the Transmission of the Lamp (Ch’uan-Teng-Lu), Volume XXV.

  • Thiền sư Hành Ngôn nhậm chức trụ trì chùa Bảo Từ ở vùng mà bây giờ thuộc Nam Kinh. Một hôm, Thiền sư Hành Ngôn thượng đường nói với chúng Tăng rằng: “Phàm làm hành cước Tăng, tham yết bậc thiện tri thức, tới mỗi mỗi tùng lâm, buông bình nước và bình bát xuống, có thể nói là đã thi hành đạo Bồ Tát, coi như mọi việc đã xong, hà cớ gì phải đến đây cử luận chân như, Niết Bàn, đó là câu nói không phải lúc. Người xưa có nói về việc này: ‘Giống như đãy cát tìm vàng. Cát sỏi nếu đã gạt bỏ thì vàng ròng tự nhiên hiện ra, liền gọi đó là thường trụ thế gian, cụ túc Tăng bảo.’ Lại cũng như một đám mưa rào, một cuộc đất, sanh sôi muôn vật, lớn nhỏ chẳng đồng nhau, ngọt đắng khác nhau. Mấy ông không thể nói đất quan trọng hơn hay mưa quan trọng hơn. Cho nên, khi nói một phần thì một phần hiện; và khi nói toàn phần thì toàn phần hiện. Việc

này có thể được giải thích thế nào đây? Pháp không lệch thẳng. Khi hiện ra, nó hiện ra tùy theo bất cứ cách mà mấy ông quan sát nó; đó được gọi là ‘đối hiện sắc thân.’ Mấy ông có thấy nó bằng cách này không? Nếu mà không thấy vậy thì đừng lãng phí thời gian ngồi ở đây nữa!”—Zen master Xingyan assumed the abbacy of Baci Monastery in Jiangnan, modern Nanjing. One day, Xingyan entered the hall and addressed the monks, saying, “Everywhere, there are monks on pilgrimage who practice good and perform the observances. When they reach a monastery, they put down their water jug and bowl. You can just call what they are doing ‘following the bodhisattva way.’ Why come here to hear some pointless talk? As for ‘true thusness’ and ‘nirvana’, there’s no good time to speak of them. Still, the ancients had a way of talking about it. They said it’s like spying a treasure in the sand. Clearing away the rocks and pebbles the pure gold itself shines forth. This is called ‘abiding in the world, fully possessing the monk’s treasure.’ Or it’s like having a rain shower, a patch of earth, and the growth of ten thousand things, all of various sizes and assorted sweetness and bitterness. You can’t say that the earth is more important or the rain is more important. Thus, it is said that in the part, the part is revealed, and in the totality, the totality is revealed. How can it be explained? The Dharma has no distortion or straightness. When it is revealed to you in whatever way you observe it, it is called ‘manifested in form.’ Do you see it this way?

If you don’t, then don’t waste time as you sit!”

  • Một vị Tăng hỏi: “Thế nào là chỉ ý Tổ Sư từ Tây lại?” Hành Ngôn nói: “Câu hỏi này không ứng đương (không phải lúc).”—A monk asked, “Why did the First Ancestor come from the west?” Xingyan said, “I don’t deal with

that question.”

  • Một vị Tăng hỏi: “Làm sao để ngồi thiền giống như các tiên sư đã ngồi, để không còn sai đúng nữa?” Hành Ngôn nói: “Ông ngồi thế nào vậy?”—A monk asked, “How can I sit in meditation like the ancestors did, so that there is no right or wrong?” Xingyan said, “How are

you sitting?”

  • Một hôm, Thiền sư Hành Ngôn thượng đường dạy chúng: “Hôm nay, các bậc anh tài và hiền sĩ cùng hội tụ về đây, một chúng hội thật lớn. Không có thứ gì là không cụ bị cho Phật pháp. Nếu mấy ông có thể thấy nhất thiết pháp như cái thấy của các bậc anh giám, thì không cần phải đợi đến lời lẽ. Và tuy là căn bản không có thứ gì để nói, nhưng làm sao lão Tăng tôi có thể giữ im lặng được? Sum la vạn tượng trong vũ trụ, nguồn lớn của chư Phật, hiển minh thì hải ấn tam ma địa chiếu sáng thanh tịnh. Còn nếu mờ mịt thì tình mê và tự hoặc loạn. Nếu chẳng phải là bậc Bồ Tát thông tâm, cao nhân dật cách, thì làm sao trong chư trần phát dương diệu cực, nắm buông vạn tượng, thả nắm sum la, hiển thị sanh cùng chẳng sanh, ứng diệt cùng chẳng diệt; thấu triệt sanh diệt; và nói về chân thường? Nếu ta nói giả tức hình ảnh tản ra khắp ngàn lối. Nếu ta nói thiệt tức trống không chẳng có dấu tích. Chỉ bằng cách nói này, há lão Tăng tôi có thể phơi bày được những thứ hiện hữu và không hiện hữu hay sanh diệt hay sao?”—One day, Zen master Xingyan entered the hall and addressed the crowd, saying, “Today, heroes and eminencies have gathered here, a great crowd. Nothing has been left undone for the sake of Buddhadharma. If you could see all this as mirroring Buddha’s truth, then there would be no need for a speech. And yet, although fundamentally there is nothing to speak of, how can I remain silent? The myriad forms of the universe, the expansive source of all the Buddhas, when revealed clearly, this is the ocean-seal of shining purity. Obscured, it is impassioned delusion and selfdeception. Despite the demand for edification by the distinguished guests here, and the requests of those present of high standing, how dare I, in the midst of this dusty world, presume to expound on the most sublime; roll out things and forms; lay out and gather in phenomena; reveal birth and nonbirth; set out annihilation and nonannihilation; completely penetrate birth and death; and speak about eternal truth? If I speak falsely then shadows will be cast on a thousand paths. If I speak the truth, then the content of my talk will be empty, without any traces. Only by speaking in that way can I try to expose existence and nonexistence, birth and annihilation.”

Báo Từ Văn Khâm Thiền Sư (?-928): HojiBunkin (jap)—Pao-tzu-wen-chin—Tên của một vị thiền sư Trung Hoa vào thế kỷ thứ mười. Thiền sư Báo Từ Văn Khâm thường dạy chúng: “Ngộ không phải là một tâm thái bệnh hoạn hay tâm lý bất thường. Thật ra không có cái gì bình thường hơn tâm trạng ấy. Như vậy Thiền là bình thường tâm.” Một vị Tăng liền hỏi: “Thế nào là bình thường tâm?” Sư đáp: “Cơm ăn trà uống tùy theo thế. Nước ngắm non xem, thích bấy tình!” Theo thiền sư Báo Từ Văn Khâm, thói thường, khi chúng ta uống trà hay ăn cơm chúng ta cứ tưởng chẳng có gì khác nhau trong hành động uống trà hay ăn cơm của chúng ta. Nhưng ai có thể nói được sự khác biệt giữa người này và người kia trong phong thái và tâm trạng uống trà hay ăn cơm như thế nào? Có thể trong cách uống trà của bạn không có cái gì gọi là Thiền vị hết, còn phong thái của tôi nhuốm đầy sự thích thú của Thiền vị. Lý do rất đơn giản là hành động của người này còn bị kẹt trong khuôn khổ của trí thức suy luận, còn người kia thì đã thoát ra ngoài vòng cương tỏa của suy luận bằng lý trí. Nghĩa là ở người này lý trí ngự trị, tự xác định những quy tắc cứng nhắc nên làm gì cũng bị vướng mắc; còn ở người kia là một con đường mới khai phóng ra, không biết vướng mắc là gì trong khi hành động, cuộc sống của người này không chia thành chủ khách, không phân hóa thành người làm và việc làm. Nên với người ấy, ngay lúc ấy, uống trà là tất cả, là toàn thể vũ trụ. Thiền hiện sinh. Thiền là tự do vậy, trong khi đời sống thường nhật của chúng ta là một vòng kềm tỏa; chính ngộ là bước đầu đưa chúng ta đến tự do tự tại. Theo thiền sư D.T. Suzuki trong Thiền Luận, Tập I, cánh cửa mở ra ngoài hay mở vào trong là tùy cái ngạch cửa. Nhưng hễ mở được là trong chớp mắt tất cả đổi khác hết, và bạn có Thiền, và bạn thực hiện là toàn bích, là bình thường, và mãi mãi. Mọi hoạt động tâm trí bạn giờ đây chuyển theo một chiều khác, thoải mái hơn, yên tịnh hơn, đầy vui tươi hơn bất cứ gì từ trước bạn đã nếm qua. Phong thái đời bạn cũng đổi thay. Có cái gì đó đang đổi mới trong phong thái đó. Hoa xuân như đẹp đẽ hơn, dòng suối đầu non như trong mát hơn. Cuộc cách mạng bản thân đem đến trạng thái như vậy không thể gọi là bất thường được. Khi đó cuộc sống của bạn trở nên thanh thản và vui tươi hơn, mà còn tự nó mở rộng ra bao trùm cả vũ trụ nữa, vậy thì ngộ Thiền phải là cái gì rất lành mạnh và rất đáng cho người ta nỗ lực đạt đến—Name of a Chinese monk in the tenth century. He always addressed his disciples, saying, “Enlightenment is not a morbid state of mind or an abnormal psychology. In fact, it is a perfectly normal state of mind. Thus, Zen is your everyday thought.” One day a monk asked Pao-tzu, “What was meant by everyday thought?” Pao-tzu said, “Drinking tea, eating rice. I pass my time as it comes; Looking down at the stream, looking up at the mountain, how serene and relaxed I feel indeed!” According to Zen master Pao-tzu Wen-ch’in, usually, when we sip a cup of tea or eat rice, we think the act is apparently alike. But who can tell the differences beween you and me in the way we drink and eat? In your drinking there may be no Zen at all, while mine is full of the enjoyable taste of Zen. The simple reason is, the ones moves in the logical circle and the other is out of it. That is to say, in one case rigid rules of intellection so called are asserting themselves, and the actor even when acting is unable to unfetter himself from these intellectual bonds; while in the other case the subject has struck a new path and is not at all conscious of the duality of his act; in him life is not split into objects and subjects or into acting and acted. The drinking at the moment to him means the whole fact, the whole world. Zen lives and is therefore free, whereas ‘ordinary’ life is in bondage; enlightenment is the first step to freedom. According to Zen master D.T. Suzuki in Essays in Zen Buddhism, First Series (p.265), it all depends upon the adjustment of the hinge whether the door in or out. Even in the twinkling of an eye, the whole affair is changed, and you have Zen, and you are as perfect and normal as ever. More than that, you have in the meantime acquired something altogether new. All your mental activities are now working to a different key, which is more satisfying, more peaceful, and fuller of joy than anything you ever had. The tone of your life is altered. There is something rejuvenating in it. The spring flowers look prettier, and the mountain stream runs cooler and more transparent. The subjective revolution that brings out this state of things cannot be called abnormal. At that time life become more enjoyable and more relaxed and its expanse is as broad as the universe itself, there must be something in enlightenment quite healthy and worth one’s striving after its attainment.

Báo Ứng: Báo Thân—Ứng Thân—Recompense, reward, punishment—See Tam Thân Phật.

Báo Ứng Phật: See Báo Ứng Thân Phật. Báo Ứng Thân Phật: Vipaka-buddha (skt)— Recompense Body of the Buddha.

Bào: A bubble—See Bào Ảnh.

Bào Ảnh: Bong bóng—Bubble and shadow—Ảo ảnh—Ảo tưởng—Tất cả những hiện tượng không thật như người ta tưởng. Chúng tạm bợ, vô thường và không có thực thể. Kỳ thật chúng là những bóng ma ảo ảnh—Things in the phenomenal world are not real or substantial, as ordinary people regard them to be. They are transient, momentary, indefinite, insubstantial, and subject to constant alteration. In reality, they are like phantoms or hallucinations.

Bào Hưu La Lan: Prabhutaratna-Buddha (skt)— Abundant Treasure Buddha—See Đa Bảo Như

Lai.

Bào Thường: Nivasana (skt)—Nê Hoàn Tăng— Nê Phược Ta Na—Quyết Tu La—Nội y của chư Tăng Ni—An inner garment of monks and nuns.

Bào Trù: See Hương Tích Cục. Bảo: Ratanam (p)—Châu Báu—Precious things

(stones).

Bảo Ấn: Precious seal, or symbol.

  1. Pháp Bảo trong Tam Bảo: Dharma, the second of the Triratna.
  2. Tam Pháp Ấn: The three evidences of the genuineness of a sutra—See Tam Pháp Ấn.
  3. Biểu tượng của chư Phật hay chư Bồ Tát: The symbols of Buddhas, or Bodhisattvas.
  4. Chủng tử Phật Ấn: The magical seeds of the Buddhas, i.e., germ-letters, or sounds. Bảo Ấn Bồ Tát: The Bodhisattva of Precious Mudra.

Bảo Ấn Địa Tạng: Vị hóa thân của Bồ Tát Địa

Tạng trong cõi súc sanh, duỗi tay kết bảo ấn Như Ý—Transformation body of Ti-Tsang Bodhisattva who deals with rebirth in the realm of animals.

Bảo Ấn Tam Muội: Ratnamudra samadhi (skt)— Precious seal concentration—Thực tướng của một trong 108 tam muội—The ratnamudra samadhi, one of the 108 kinds of samadhi. 1) Chư Pháp Vô Ngã: The unreality of the ego.

  1. Chư Hành Vô Thường: The impermanence of all things.
  2. Niết Bàn Tịch Diệt: Nirvana. Bảo Ấn Thủ Bồ Tát: Ratna-mudra-hasta (skt)— Precious-seal grasping Bodhisattva.

Bảo Ba La Mật Bồ Tát: Ratna-parimitabodhisattva (skt)—Precious Perfection

Bodhisattva—Bảo Ba La Mật Bồ Tát, một trong bốn vị nữ Bồ Tát thân cận của Đức Tỳ Lô Giá Na trong Kim Cang Giới, đều do Ngài lưu xuất, mỗi vị là mẹ của một trong bốn vị Phật trong tứ phương—One of the four female attendants on Vairocana in the Vajradhatu, evolved from him, each of them a mother of one of the four Buddhas of the four quarters.

Bảo Bình: Kundi ka (skt)—Bình quý (một thứ đồ dùng của Đức Phật) được dùng trong nghi thức lễ lạc: A pecious vase, vessels used in worship— Bình quán đảnh mà Mật giáo dùng để rưới tịnh thủy trên đầu khi làm lễ quán đảnh: A baptismal vase used by the esoteric sects for pouring water on the head.

Bảo Bình Ấn: Kundi ka-mudra (skt)—Ấn Bình quý (một thứ đồ dùng của Đức Phật) được dùng trong nghi thức lễ lạc—Seal of a pecious vase, vessels used in worship.

Bảo Bình Quán Đảnh: Kalabhisheka (skt)—Thủy quán đảnh—Tịnh bình quán đảnh—Bình quán đảnh mà Mật giáo dùng để rưới tịnh thủy trên đầu khi làm lễ quán đảnh—A baptismal vase used by the esoteric sects for pouring water on the head— Vase initiation—See Abhiseka.

Bảo Bộ: Phước đức nội chứng của Bảo Sinh Như Lai—Jewel Born Buddha’s merit and blessing from inner experience.

Bảo Bức Bích Chi Phật: Ratna-nimi (skt)—La Đát Đa Nễ Nhĩ—Precious Curtain Pratyekabuddha.

Bảo Cái: Ratnasikhi (skt)—Parasol—Lọng trời trang sức bằng ngọc quý, che trên chỗ ngồi của chư Phật—Banners or canopies, decorated with gems.

Bảo Cái Chiếu Không Tự Tại Lực Vương Phật:

Precious-Canopy-Shine-Space-Sovereign-PowerKing Buddha.

Bảo Cái Phật: Ratnasikhi-buddha (skt)—Bảo Đỉnh Phật—Bảo Kế Phật—Kế Na Thi Khí Phật— Thích Ca Thi Khí Phật—See Bảo Tích Phật. Bảo Cảnh: Hokyo (jap)—Gương báu—A precious mirror.

Bảo Cảnh Tam Muội: Hokyo-zanmai (jap)—Tam muội về kho báu hay tam muội soi gương. Tên của một trước tác của thiền sư Động Sơn Lương Giới, ca ngợi sự thể nghiệm về chân tính của các sự vật, về bản tính thật hay Phật tính của hành giả đang ở trong trạng thái đại giác—Samadhi of the guardian of the region or Treasure House of Mirror-like Samadhi, a written work of the Chinese Zen master Tung-shan Liang-chieh, in which he celebrates the experience of the ‘suchness’ of things, thus their true nature or Buddha-nature.

Bảo Cảnh Tướng Quân: The guardian general of the region.

Bảo Cát Tường Thiên: Candradeva (skt)— Somadeva (skt)—Chiến Đạt La—Tô Ma Đề Bà— The ruler of the moon.

Bảo Châu: Precious—Treasure—Gem—Pearl— Anything valuable.

Bảo Châu Địa Tạng: Vị hóa thân của Bồ Tát Địa Tạng trong cõi ngạ quỷ, tay cầm ngọc bảo châu. Một trong sáu vị Bồ tát hóa thân của Ngài Địa Tạng trong nhóm Địa Tạng của Thai Tạng Giới, mỗi vị kiểm soát một trong sáu đường sanh tử— Transformation body of Ti-Tsang Bodhisattva who deals with rebirth in the realm of hungry ghosts. One of the six Bodhisattvas in the Ti-Tsang group of the Garbhadhatu, each controlling one of the six ways of sentient existence—See Lục Địa Tạng. Bảo Châu Pháp: Pháp quý như ngọc như ý— Dharma as a Jewel of the thought (a Mani-gem).

Bảo Chí (418-514): Master Pao-Chih—Hoshi (jap)—Chí Công Hòa Thượng—Tên của một vị Tăng nổi tiếng của Trung Hoa dưới thời nhà Lương (502-557)—Name of a Chinese monk who lived in the Liang dynasty.

Bảo Chủ: 1) Vị vua cai trị vùng tây nam châu Diêm Phù Đề: The ruler of the region in the southwest of Jambudvipa; 2) Đài có trang hoàng các thứ quý báu—A platform, ornamented with precious things.

Bảo Chủng: Ratnapani (skt)—Precious race.

Bảo Chủng Bồ Tát: See Bảo Chưởng Bồ Tát. Bảo Chữ: Ratnadvipa (skt)—1) Một hòn đảo nhỏ chứa đầy bảo châu, đồng nghĩa với Niết Bàn: Precious islet, island of pearls or gems; synonym for perfect nirvana; 2) Tên cũ của đảo Tích Lan: An old name for Ceylon.

Bảo Chưởng (?-657): Ratnapani(skt)—Tên của một vị Thiền sư Trung Hoa gốc Ấn Độ vào thế kỷ thứ VII—Name of a Chinese Zen master who was born in India in the seventh century.

Bảo Chưởng Bồ Tát: Ratnapani (skt)—Precious race Bodhisattva—Bảo Chủng Bồ Tát—Bảo Thủ

Bồ Tát.

Bảo Dõng Bồ Tát: The Bodhisattva of Precious Boldness.

Bảo Đàm Thiền Sư (1129-1197): Zen Master Pao-T’an—Tên của một vị Thiền sư Trung Hoa trong tỉnh Tứ Xuyên vào thế kỷ thứ XII—Name of a Chinese Zen master in Si-chuan Province in the twelfth century.

Bảo Đảnh Phật: See Bảo Cái Phật.

Bảo Đao Tỳ Na Dạ Ca: Vajraiaya (skt)—Kim

Cang Điều Phục Thiên—Tối Thắng Kim Cang— Tên của một vị trời—Name of a deity. Bảo Đao Vị Lão: Đao quí chưa cùn, ý nói người lớn tuổi mà tinh thần và thân thể còn minh mẫn và tráng kiện—Precious dagger that is not yet blunt, e.g., an old man whose mind and body are still strong.

Bảo Đạt: Chuông treo trên đỉnh tháp chùa: Bells hung on pagodas—Con cá bằng gỗ tại các chùa được gõ lên để báo giờ thọ thực: Wooden fish (Precious rattle).

Bảo Địa: Pure land—Precious land—Tịnh độ. Bảo Điển: Kinh điển quý báu—The precious records, or scriptures.

Bảo Đỉnh Phật: See Bảo Cái Phật. Bảo Đức Bồ Tát: Ratnasri (skt)—Precious Virtue Bodhisattva.

Bảo Đường Tông: Pao-T’ang Zen Sect—Tên của một tông phái Thiền được Thiền sư Vô Trụ (714774) khai sáng tại Trung Hoa dưới thời nhà Đường—Name of a Zen sect founded by Zen master Wu-chu during the T’ang dynasty (618-

907).

Bảo Giác Tố Tâm Thiền Sư (1025-1100): Kaido Soshin (jap)—Shishin Goshin (jap)—Hui-t’ang Tsu-Hsin—Huitang Zuxin Huanglong—See Hối Đường Tổ Tâm Hoàng Long Thiền Sư.

Bảo Giám Thiền Sư: Zen Master Bảo Giám (?1173)—Thiền sư Việt Nam, quê ở Trung Thụy, Bắc Việt. Ngài làm quan dưới triều vua Lý Anh Tông tới chức “Cung Hậu Xá.” Năm 30 tuổi, ngài xuất gia làm đệ tử của Thiền sư Đa Vân tại chùa Bảo Phước. Ngài trở thành pháp tử đời thứ 9 dòng Thiền Vô Ngôn Thông. Tại chùa Bảo Phước ngài đã sao chép tất cả kinh điển cho chùa. Theo bộ ‘Thiền Sư Việt Nam’ của Hòa Thượng Thích Thanh Từ, Thiền sư Bảo Giám luôn nhắc nhở hành giả tu thiền rằng: “Muốn tiến đến tông thừa của Phật là phải siên năng, song thành Phật chánh giác phải nhờ trí tuệ. Ví như nhắm bắn cái đích ngoài trăm bước, mũi tên đến được là nhờ sức mạnh, song trúng được đích hay không thì không phải do sức nữa.” Khi thầy của ngài thị tịch, ngài tiếp tục trụ tại chùa Bảo Phước để hoằng pháp cho đến khi thị tịch vào năm 1173. Ngài thường dạy đệ tử: “Tu tập trí tuệ là kết quả của giới và định. Dù trí huệ quan hệ tới nhân quả. Những ai đã từng tu tập và vun trồng thiện căn trong những đời quá khứ sẽ có được trí tuệ tốt hơn. Tuy nhiên, ngay trong kiếp này, nếu muốn đoạn trừ tam độc tham lam, sân hận và si mê, không có con đường nào khác hơn là phải tu giới và định hầu đạt được trí tuệ ba la mật. Với trí huệ ba la mật, hành giả có thể tiêu diệt những tên trộm nầy và chấm dứt khổ đau phiền não. Trí tuệ là một trong ba pháp tu học quan trọng trong Phật giáo. Hai pháp kia là Giới và định. Tâm định ở mức độ cao là phương tiện để thành đạt trí tuệ. Tuệ bao gồm chánh kiến và chánh tư duy, tức là hai chi đầu trong Bát Chánh Đạo. Trí tuệ giúp chúng ta phá tan lớp mây mờ si mê bao phủ sự vật và thực chứng thực tướng của vạn pháp, thấy đời sống đúng như thật sự, nghĩa là thấy rõ sự sanh diệt của vạn hữu. Hành giả nào có huệ trí, đầy đủ sanh diệt trí, hướng đến sự quyết trạch các bậc Thánh, chơn chánh diệt trừ mọi đau khổ.” Theo ngài được thành chánh quả không cần phải ngồi sửng mãi đó mà được. Cách hay nhất là phải đạt cho bằng được trí tuệ, còn bất cứ thứ gì khác chỉ là hoài công vô ích. Vì trí huệ có thể giúp hành giả vẹt được bức màn vô minh. Tương tự như vậy, bậc giác ngộ cũng giống như ánh trăng chiếu sáng khắp các cõi đến vô tận. Ngài đã tóm lược pháp ngữ lục của mình trong những vần kệ sau đây:

“Đắc thành chánh giác hãn bằng tu, Chỉ vị lao lung, trí huệ ưu.

Nhận đắc ma ni huyền diệu lý, Chỉ như thiên thượng hiển kim ô.

Trí giả du như nguyệt chiếu thiên, Quang hàm trần sát chiếu vô biên.

Nhược nhân yếu thức tu phân biệt,

Lãnh thượng phù sơ tỏa mộ yên.” (Được thành chánh giác ít nhờ tu, ấy chỉ nhọc nhằn trí huệ ưu.

Nhận được ma ni lý huyền diệu, ví thể trên không hiện vầng hồng.

Người trí khác nào khác nào trăng rọi không, chiếu soi khắp cõi sáng khôn ngần. Nếu người cần biết, nên phân biệt, khói chiều man mác phủ non chiều).

A Vietnamese Zen master from Trung Thụy, North Vietnam. He was an official in the royal palace with the rank of “Cung Hậu Xá” during the reign of king Lý Anh Tông. When he was 30 years old, he left home and became a disciple of Zen master Đa Vân at Bảo Phước Temple. He spent time to copy all sutras for this temple. According to Zen master Thích Thanh Từ in ‘Thiền Sư Việt Nam’, Zen master Bảo Giám always reminded Zen practitioners that: “Learning the way of Buddha, we must have zeal; to become a Buddha, we need wisdom. Shooting an arrow to a target more than a hundred paces away, we must be strong; however, to hit the target, we need more than strength.” After his master passed away, he continued to stay at Bảo Phước temple to expand Buddhism until he passed away in 1173. He always taught his disciples: “Wisdom is the result from cultivating in precepts and concentration or training in wisdom. Even though wisdom involves cause and effect. Those who cultivated and planted good roots in their past lives would have a better wisdom. However, in this very life, if you want to get rid of greed, anger, and ignorance, you have no choice but cultivating discipline and samadhi so that you can obtain wisdom paramita. With wisdom paramita, you can destroy these thieves and terminate all afflictions. Wisdom is one of the three studies in Buddhism. The other two are precepts and meditation. High concentration is the means to the acquisition of wisdom or insight. Wisdom consists of right understanding and right thought, the first two factors of the path. This is called the training in wisdom. Wisdom helps us get rid of the clouded view of things, and to see life as it really is, that is to see life and things pertaining to life as arising and passing. Here a practitioner who is wise, with wise perception of arising and passing away, that Ariyan perception that leads to the complete destruction of suffering.” According to him, we do not need to sit still for long periods of time to attain the complete enlightenment. The best way is to gain wisdom; anything else is only useless effort. For wisdom can help practitioners to eliminate the curtain of ignorance. Similarly, an enlightened one is just like the moon shinning above, lightening all the realms endlessly. He summarized his teachings in the following verses: “You do not need much time for practice, to attain the complete enlightenment. Gaining wisdom is the best way; anything else, the useless effort. Having the jewel, the profound truth, is just like seeing the sun in the sky. The enlightened one is just like the moon shinning above,

Lightening all the realms endlessly.

If you need to know, just need to distinguish this: Heavy fog blankets the high mountain in the

afternoon.”

Bảo Hải Thiền Sư (474-553): Zen Master PaoHai—Tên của một vị Thiền sư Trung Hoa trong tỉnh Tứ Xuyên vào thế kỷ thứ VI—Name of a Chinese Zen master in Si-chuan Province in the sixth century.

Bảo Hành: See Dẫn Chánh Vương. Bảo Hành Vương: Satavahana (skt)—Sa Đa Bà Ha Vương—See Dẫn Chánh Vương.

Bảo Hành Vương Chánh Luận: Ratnavali-sastra (skt)—Satavahana-sastra (skt)—Name of a work of commentary composed by Nagarjuna—See Dẫn Chánh Vương.

Bảo Hành Vương Chánh Luận Sớ: Ratnavalisastra (skt)—Interpretation on the Satavahanasastra.

Bảo Hiền: Manibhadra (skt)—Ma Ni Bạt Đà La— 1) Một trong tám vị tướng trong Thai Tạng Giới:

One of the eight generals in Garbhadhatu; 2) Vua Dạ Xoa, vị bảo hộ khách lữ hành và thương nhân: A king of Yakshas, the tutelary deity of travellers and merchants.

Bảo Hiền Thiền Sư (1909-1987): Zen Master Pao-Hsien—Tên của một vị Tăng Trung Hoa trong tỉnh Sơn Đông vào thế kỷ thứ XX—Name of a Chinese monk in Shan-tung Province in the twentieth century.

Bảo Hoa: Deva flowers—Precious flowers—Hoa của các vị trời.

Bảo Hoa Du Bộ Phật: Precious-BlossomWander-Step Buddha—Precious Flower Traveling Buddha.

Bảo Hoa Đức Phật: Ratnamalasri-buddha (skt)— Jewel Flower Virtue Buddha.

Bảo Hoa Nguyện Thiền Sư: Zen master Pao-hua Yuen—Một hôm, có một vị Tăng đến và hỏi thiền sư Bảo Hoa Nguyện về ý chỉ Tây lai của Tổ Sư, Sư trả lời: “Cơn gió mang theo băng giá làm cho những lá rừng rụng xuống.” Khi vị Tăng làm lễ, có lẽ để bái tạ cách dạy không xây dựng của Sư, Sư bèn hỏi: “Ông có hiểu không?” Vị Tăng đáp: “Bẩm không.” Sư bảo: “Không hiểu là được.” Vị Tăng lại hỏi: “Như vậy, xin Hòa Thượng giải thích thế nghĩa là gì?” Sư đáp: “Khi mùa xuân đến, chúng lại nẩy chồi.” Đây là trường hợp các thiền sư trả lời câu hỏi bằng cách nêu lên một vài sáo ngữ vốn hoàn toàn không thể hiểu được bằng những lý lẽ đương nhiên. Trong khi hầu hết những phát biểu rõ ràng là vô nghĩa và không thể nào vói tới được, những câu trả lời ở đây không có quan hệ, dầu là quan hệ rất xa vời, đối với ý nghĩa của vấn đề được nêu lên ở đây. Nhưng quả tình các thiền sư hết sức tận tâm và những người nhiệt tâm cầu đạo thường được khơi dậy ý chỉ nội tại của những nhận định thoát ra từ đôi môi của các thiền sư tùy theo hoàn cảnh. Vì vậy hành giả chúng ta phải cố gắng nhìn sâu vào phía dưới những sáo ngữ vô nghĩa này—One day, a monk came and asked Pao-hua Yuen concerning the patriarchal visit to which the master’s reply was, “The frostbearing wind causes the forest leaves to fall.” When the monk made a bow, probably thanking him for the uninstructive instruction, the master asked, “Do you understand?” The monk said, “No, master.” Pao-hua Yuen said, “It is all right that you do not understand.” The monk asked again, “So, would you please explain to me the meaning of this.” The master said, “When the spring comes they bud out again.” This is the case where Zen masters answer questions with meaningless remarks which are perfectly incomprehensible to the rational mind. While most statements are apparently meaningless and unapproachable, the answers here has by no manner of means any relation whatever to the main issue, except that the uninitiated are hereby led further and further astray. But Zen masters really try their best to enlighten earnest truth-seekers in accordance with the circumstances. Thus, we, Zen practitioners, should try to look deeper inside these meaningless remarks. Bảo Hoa Phật: Bảo Hoa Đức Phật—Jewel Flower Virtue Buddha.

Bảo Hoa Thái Tử: Bảo Hoa Đức Phật—Jewel Flower Virtue Buddha.

Bảo Hỏa Phật: Precious-Fire Buddha.

Bảo Học: Cái học đã đầy đủ (không cần phải học nữa)—Replete with learning—Fed full with study. Bảo Hộ: To protect—To safeguard. Bảo Hộ Chúng Sanh: To protect other sentient beings.

Bảo Hữu Long Vương: Vasuki (skt)—Hòa Tu Cát—Vua của loài rồng hay cửu thủ long (rồng chín đầu)—Lord of nagas, name of a dragon king, with nine heads.

Bảo Khiếp: Ratna-pitaka or Ratna-karandaka (skt)—Rương đựng bảo châu—A precious box, or box of precious things.

Bảo Kế Phật: Ratnasikhi-buddha (skt)—Bảo Đỉnh Phật—Bảo Cái Phật—Kế Na Thi Khí Phật—Thích Ca Thi Khí Phật—See Bảo Tích Phật. Bảo Kệ: Jewelled gathas—Lời kệ quý báu— Precious gathas—Precious verses.

Bảo Kiếm: Ratnadatta (skt)—Precious sword. Bảo Kiếm Bồ Tát: Ratnadatta-bodhisattva (skt)— Precious sword Bodhisattva.

Bảo Kiến Bồ Tát: The Bodhisattva of Precious Insight.

Bao Kim Thiền Sư (1308-1372): Zen Master PaoJin—Tên của một vị Thiền sư Trung Hoa trong tỉnh Thiểm Tây vào thế kỷ thứ XIV—Name of a Chinese Zen master, of the Lin-chi sect, in ShienHsi Province in the fourteenth century.

Bảo Lâm: Lộ Bảo Thụ nơi cõi Tịnh Độ—The groves, or avenues of precious trees in the Pure Land.

Bảo Lâm Tự: Horin-ji (jap)—Pao-lin-ssu—Tên của một ngôi chùa được khai sơn vào năm 504 tại miền Nam Trung Quốc. Người ta nói Lục Tổ Huệ Năng có thời đã lưu lại tại nơi này. Từ đó trở đi, Bảo Lâm trở thành một trong những tự viện nổi tiếng nhất của Trung Hoa—Name of a temple which was built in 504 in the South of China. It is said that the Sixth Patriarch Hui-Neng stayed there for some time. Since that time it has been one of the best-known monasteries in China. Bảo Lâu Quán: Quán tưởng thấy các cảnh, thấy cây báu, thấy ao báu nơi thế giới Cực Lạc— Visualization of the precious trees, lakes, etc., in the Pure Land—See Thập Lục Quán. Bảo Liên Hoa Thiện Chủ Sa La Thọ Vương Phật: Precious-Lotus-Well-Dwell-in-Sala-TreeKing Buddha.

Bảo Linh Tự: Pao-lin-si—Name of a temple in China.

Bảo Lượng (444-509): Master Pao-Liang—Tên của một vị Tăng Trung Hoa trong tỉnh Sơn Đông vào thế kỷ thứ V—Name of a Chinese monk in Shan-tung Province in the fifth century.

Bảo Man Dụ Kinh: Ratnamalavadana (skt)—Tên của một bộ kinh—Name of a sutra. Bảo Mệnh: Mệnh Bảo hay sự quý báu của cuộc sống, sống để tu tập giải thoát—Precious posession of life.

Bảo Minh: Precious Clairvoyance.

Bảo Minh Đạo Thành: Pao-Ming-T’ao-Cheng (chi)—Tên một vị sư Trung Hoa—Name of a Chinese monk.

Bảo Minh Phật: Ratnavabhasa (p)—Precious Clairvoyance Buddha.

Bảo Nghiêm: Precious Adornment. Bảo Nghiêm Bồ Tát: Ratna-vyuha-bodhisattva (skt)—Precious Adornment Bodhisattva.

Bảo Nghiêm Thúc Chi Thiền Sư: Zen master P’ao-yian—Thiền sư Bảo Nghiêm Thúc Chi, tên của một vị Thiền sư Trung Hoa. Hiện nay chúng ta không có nhiều tài liệu chi tiết về Thiền sư Bảo Nghiêm; tuy nhiên, có một cuộc đối thoại giữa Sư và người đệ tử của mình trong Ngũ Đăng Hội Nguyên, quyển XV: Một hôm có một vị Tăng hỏi Thiền sư Bảo Nghiêm: “Ai là Phật?” Bảo Nghiêm nói: “Thân đất xương gỗ, được trang sức bằng vàng.” Những câu trả lời mà các vị Thiền sư đưa ra cho loại câu hỏi “Cái gì hoặc ai là Phật,” mỗi vị mỗi khác. Tại sao lại như vậy? Ít nhất có một lý do là vì các ngài muốn chúng ta vứt bỏ tất cả những rối rắm và chấp trước từ bên ngoài trói buộc chúng ta như là ngôn tự, ý tưởng, hay dục vọng, vân vân. Đây cũng là một trong những công án thuộc loại giải minh chân lý Thiền bằng những lập trường phủ nhận, hư hóa hay phế bỏ. Với loại công án này, chúng ta thường cáo buộc các Thiền sư là phủ nhận. Nhưng kỳ thật họ chẳng phủ nhận gì cả, những gì họ đã làm chỉ nhằm để vạch rõ ra các ảo tưởng của chúng ta cho vô hữu là hữu, hữu là vô hữu, vân vân. Tuy nhiên, không có loại công án xác nhận hay phủ nhận nào phải là nhất định mà cũng chẳng bất di bất dịch, và cũng không hàm ý rằng chúng hoặc hoàn toàn xác định hoặc là hoàn toàn phủ định. Vì loại công án xác định cũng hàm chứa một yếu tố phủ định; và loại công án phủ định cũng hàm chứa một yếu tố xác định. Không một công án Thiền nào tuyệt đối là loại này hay loại khác. Cái chân lý Thiền mà cả loại minh nhiên xác nhận và mặc nhiên phủ nhận cố lột tả vẫn chẳng bị biến cải hay hủy hoại, bất chấp sự dị biệt bên ngoài của cách trình bày—Zen master P’ao-yian, name of a Chinese Zen master. We do not have detailed documents on this Zen Master; however, there is a dialogue between him and his disciple in The Wudeng Huiyuan, Volume XV: One day, a monk asked Zen master P’ao-yian, “Who is the Buddha?” P’ao-yian said, “One made of clay and decorated with gold.” The answers given by Zen masters to the question of “Who or what is the Buddha?” are full of varieties; and why so? One reason at least is that they thus desire to free our minds from all entanglements and attachments such as words, ideas, desires, etc., which are put up against us from the outside. This is also one of the koans that illustrates Zen-truth through a negating approach with nullifying or abrogating expressions. With this type of koan, we usually accuse the Zen masters of being negatory. But in fact, they did not negate anything. What they have done is to point out our delusions in thinking of the non-existent as existent, and the existent as non-existent, and so on. However, neither the explicit-affirmative nor the implicitnegative type of Zen expressions is definite or irrevocable and does not imply that they are either wholly affirmative or wholly negative. For the affirmative type of koan also contains a negative element, and the negative type an affirmative one. No Zen koan is absolutely one type or the other. The Zen-Truth that both types try to convey has not been modified or mutilated, despite the outward difference of presentation.

Bảo Nguyệt: Precious Moon. Bảo Nguyệt Bồ Tát: Rathachandra (p)—Precious Moon Bodhisattva.

Bảo Nguyệt Phật: Precious-Moon Buddha. Bảo Nguyệt Quang Phật: Precious-Moon-Light Buddha.

Bảo Nhậm: Nhiệm vụ hay phận sự của hành giả sau khi ngộ thiền, còn cần phải gìn giữ và củng cố kết quả tu hành—After attaining of enlightenment, Zen practitioners should try to maintain the outcome.

Bảo Nhiệm: Task—Nhiệm vụ—Phận sự—See Bảo Nhậm.

Bảo Ninh Nhân Dũng Thiền Sư (?-1046): Honei Ninyu (jap)—Pao-ning-Jen-yung (Wade-Giles

Chinese)—Baoning Renyong (Pinyin Chinese)—

Hiện nay chúng ta không có nhiều tài liệu chi tiết về Thiền sư Bảo Ninh Nhân Dũng; tuy nhiên, có một vài chi tiết lý thú về vị Thiền sư này trong Ngũ Đăng Hội Nguyên: Sư đến từ Từ Minh, một nơi trong tỉnh Triết Giang ngày nay. Khi còn nhỏ, Sư đã có một dáng vẻ uy nghiêm và tu chất thông minh khác thường. Thiền sư Bảo Ninh Nhân Dũng vốn là môn đệ của Dương Kỳ Phương Hội. Trước khi theo Thiền, sư là một đại học giả của triết lý

Thiên Thai tông—We do not have detailed documents on this Zen Master; however, there is some interesting information on him in The Wudeng Huiyuan: He came from Siming, a place now in Zhejiang Province. As a young man he possessed a remarkably dignified appearance as well as extraordinary intelligence. Zen master Pao-Ning-Jen-Yung was a disciple of Yang-Ch’IFang-Hui. Before he became a Zen devotee he was a great scholar of T’ien-T’ai philosophy.

  • Khi sư đến tìm Tuyết Đậu, một thiền sư lỗi lạc của Vân Môn tông, được nhận ra ngay là có căn khí của thiền. Để phấn khích, Tuyết Đậu vừa kêu vừa diễu: “Này tòa chủ dềnh dàng!” Nhân Dũng vì thế mà phẩn chí, quyết

vượt qua Thiền, vượt Tuyết Đậu, rồi về sau, sư chứng ngộ như dự đoán của Tuyết Đậu— When he came to Hsueh-Tou, who was a great figure in the Yun-Men school of Zen, the master at once recognized in him a future Zen master. To stimulate him, Hsueh-Tou addressed him sarcastically, “O, you great college professor!” The remark stung JenYang to the quick, and he determined to surpass in Zen even this great master. When he finally became a master himself, as HsuehTou had expected.

  • Bảo Ninh bèn hành cước du phương cho đến khi Sư đến chùa của Dương Kỳ Phương Hội nằm trên núi Vân Cái. Người ta ghi lại rằng trong buổi gặp gỡ đầu tiên, Dương Kỳ không cử được một câu trọn vẹn trước khi Bảo Ninh đạt được “Tâm ấn viên giác.” Sau khi ở lại chỗ Dương Kỳ một lúc, thì Dương Kỳ thị tịch, và Bảo Ninh lại cùng với Pháp lữ Bạch Vân Thủ Đoan bắt đầu hành cước du phương khắp nơi. Cuối cùng Sư ổn định và dạy Thiền tại chùa Bảo Ninh trong vùng Cảnh Lâm—PaoNing traveled until he came to Yangqi Fanghui’s temple on Mount Yunkai. It is recorded that at their first meeting, Yangqi did not complete even a single sentence before Pao-Ning attained the “Mind-seal of illuminated awakening” (complete enlightement). After spending time at Mt. Yunkai, Yangqi passed away, and Pao-Ning set off to travel extensively with his Dharma brother and close friend Pai-Yun Shou-tuan. Eventually he settled and taught Zen at the Pao-Ning Temple at Jingling.
  • Một hôm, Thiền sư Bảo Ninh thượng đường dạy chúng. Thị giả đốt hương cúng Phật. Bảo Ninh chỉ vào thị giả và nói: “Thị giả đã thuyết Pháp cho mấy ông rồi!”—One day, Zen master Pao-Ning entered the hall to address the monks. The attendant lit incense to present to the Buddha. Pao-Ning pointed to the attendant and said, “The attendant has already expounded the Dharma for all of

you!”

  • Một hôm, Bảo Ninh nói: “Không có Phật Di Lặc trên cung trời Đâu Suất và cũng không có Phật Di Lặc ở thế gian. Tại sao ngay khi mấy

ông làm bùng vỡ hư không, mấy ông cũng chẳng thể tìm ra Phật Di Lặc?” Bảo Ninh bèn buông thỏng một chân xuống bên dưới tòa và nói: “Mọi người! Mọi người đang đi đâu vậy?”—One day, Pao-Ning said, “There’s no Maitreya Buddha up in the heaven and there’s no Maitreya Buddha in the earth. Why is it that even if you bust open emptiness you still can’t find him?” Pao-Ning then hung a foot down off of his seat and said, “Everyone! Where are you going?”

  • Hôm khác, Bảo Ninh nói: “Nếu mấy ông nói Phật pháp hỗ trợ chúng sanh, mấy ông không tránh cảnh rụng sạch lông mày. Nếu mấy ông nói thế gian pháp hỗ trợ chúng sanh, mấy ông xẹt thẳng vào địa ngục như một mũi tên. Nhưng ngoài hai cách nói này ra, còn cách nào hôm nay lão Tăng có thể nói ra hay không? Ba tấc lưỡi không xài được. Hai tay không không làm được một nắm tay!”— Another day, Pao-Ning said, “If you say the Buddhadharma supports all beings, you won’t avoid having your eyebrows fall out. If you say that the worldly dharmas support all beings, you shoot straight into hell like an arrow. But aside from these two ways of speaking, what can I say today? There’s no use for the three-inch tongue. The two empty

hands can’t make a fist!”

  • Trong một bài pháp, Bảo Ninh Nhân Dũng nói: “Vác một cái túi, mang một cái bát, hơn hai mươi năm tôi đã từng vân du khắp xứ và thăm hỏi hàng chục thiền sư. Nhưng đến giờ tôi chẳng được cái gì gọi là riêng của mình cả. Nếu thật vậy, tôi có thể bảo các ông rằng, tôi không hơn gì một hòn đá tuyệt không tri thức. Và những thiền sư mà tôi đã từng thăm viếng này, chính họ cũng chẳng có cái thành tựu đặc biệt nào để có thể giúp ích cho người khác. Từ bao lâu, tôi vẫn giữ cái ngu dốt dày đặc, chẳng hiểu ra cái gì hết, chẳng có tri thức để lãnh hội cái gì cả. Tuy nhiên tôi lấy thế làm đủ. Bất ngờ ngọn gió nghiệp dong ruổi tôi đến xứ Giang Nam và được chỉ lối đưa đường đến làm tọa chủ Tăng viện khiêm tốn này mà dẫn dắt kẻ khác, lăn lộn cùng với nhân gian. Nói với tư cách một người chủ tôi tiếp đón khách thập phương. Có đủ muối, tương, cơm cháo

đãi đằng họ sung túc. Bận rộn như thế, thời gian lặng lẽ trôi qua, nhưng đối với đạo lý của nhà Phật thì cả đến bóng dáng cũng chưa từng mộng thấy.” Thật tình mà nói, nếu tất cả các thiền sư đều chứng nhận cái quan điểm cao quý này của Phật giáo Thiền tông, ai có thể mãi mãi nối tiếp họ và truyền thừa bất tuyệt kinh nghiệm và giáo thuyết của họ đến hậu lai?—Pao-ning Jen-yang says in one of his sermons: “Shouldering a bag, holding a bowl, I have been pilgrimaging for more than twenty years all over the country and visited more than a dozen masters of Zen. But at present I have no special attainment to call my own . If I have, I can tell you, I am not much better than a piece of rock devoid of intelligence. Nor had those reverend masters of Zen whom I visited any special attainment which might benefit others . Ever since I remain a perfect ignoramus with no knowledge of anything, with no intelligence to understand anything. I am, however, satisfied with myself. Inadvertently carried by the wind of karma I find myself at present in the country of Chiang-nan, and have been made to preside over this humble monastery and to lead others, mixing myself with people of the world. Here thus as a host I serve all the pilgrims coming from various parts of the country. There is enough of salt, sauce, porridge, and rice with which to feed them sufficiently. My time, thus engaged, is passed quietly, but as to the truth of Buddhism there is not even a shadow of it to dream of.” As a matter of fact, if all Zen masters held themselves on to this exalted view of Zen Buddhism, who would ever be able to succeed them and uninterruptedly transmit to posterity their experience and teaching?

  • Sư thường bảo môn nhân: “Nầy, bây giờ ta đang ở trong địa ngục rút lưỡi!” Vừa nói sư vừa làm như lấy tay rút lưỡi và la: “Ớ! Ớ! Ngục nầy dành cho những tên nói dối.” Rồi sư rời đám môn nhân, không nói thêm một lời—

Pao-Ning addressed the monks, saying, “Look! Look! I’ve fallen into ‘Plucking Tongue Hell’ (a hell where people who have spoken deceptively have their tongues yanked out)!” Pao-Ning then pinched his own tongue and cried out, “Aiya! Aiya!” And without another word he came down from the pulpit.

  • Có một vị Tăng hỏi: “Thế nào là Phật?” Bảo Ninh đáp: “Ông không biết mùi thúi của cục phân của chính mình.” Một vị Tăng khác hỏi: “Thế nào là Phật?” Bảo Ninh đáp: “Thêm củi vào lửa.” Vị Tăng lại hỏi: “Thế nào là Đạo?” Bảo Ninh đáp: “Trong bùn có gai.” Vị Tăng laị hỏi: “Thế nào là người trong Đạo?” Bảo Ninh đáp: “Những ai ghét đi đến đó.”—A monk asked Pao-Ning, “What is Buddha?” Pao-Ning said, “You’re not aware of the stink of your own shit.” Another monk asked PaoNing, “What is Buddha?” Pao-Ning said, “Add wood to the fire.” The monk asked, “What is the Way?” Pao-Ning said, “There are thorns in the mud.” The monk asked, “Who are people of the Way?” Pao-Ning said, “Those

that hate walking there.”

  • Có một vị Tăng hỏi: “Cổ nhân nói: ‘Gió lạnh thổi làm héo lá, vẫn vui cổ nhân quay trở lại.’ Ai là cổ nhân?” Bảo Ninh đáp: “Hòa Thượng Dương Kỳ viên tịch đã lâu.” Vị Tăng nói: “Ngay chính lúc này và ở đây, có ai hiểu chuyện này hay không?” Bảo Ninh đáp: “Lão già không mắt trong xóm thầm gật đầu.”—A monk asked, “An old worthy said, ‘Though the cold wind withers the leaves, it is still a joy when an ancient returns.’ Who is an ancient?” Pao-Ning said, “Zen master Yangqi is long gone.” The monk said, “Right here and now, is there someone who can comprehend this?” Pao-Ning said, “The eyeless old villager secretly taps his head.”
  • Có một vị Tăng hỏi Bảo Ninh : “Thế nào là giới của Bảo Ninh?” Bảo Ninh nói: “Vua núi té xuống.” Vị Tăng lại hỏi: “Thế nào là con người trong giới của Bảo Ninh?” Bảo Ninh nói: “Con người không thể có chỉ một lỗ mũi.”—A monk asked, “What is Pao-Ning’s domain?” Pao-Ning said, “The king of the mountain falls down.” The monk asked, “What is a person in Pao-Ning’s domain?” Pao-Ning said, “One can’t have a single

nostril.”

  • Có một vị Tăng hỏi: “Thế nào là Phật?” Bảo Ninh nói: “Cái dùi sắt không lỗ.” Vị Tăng lại

hỏi: “Thế nào là đại ý Phật pháp?” Bảo Ninh nói: “Một nồi súp nóng không có chỗ lạnh.”— A monk asked Pao-Ning, “What is Buddha?” Pao-Ning said, “An iron mallet with no holes.” The monk then asked, “What is the great meaning of the Buddhadharma?” Pao-Ning said, “A hot soup pot has no cold place.”

  • Một vị Tăng hỏi: “Lăng Sơn chỉ trăng. Lục Tổ nói về trăng. Nhưng, đệ tử, vẫn chưa biết có cái gì bên dưới cổng của Bảo Ninh?” Bảo Ninh thét lên một tiếng: “AAAaaa!” Vị Tăng nói: “Có hoa vướng trên mặt Hòa Thượng.” Bảo Ninh hét lên. Vị Tăng hỏi: “Con không hỏi về chuyện lượm lá hay tìm cành. Con chỉ hỏi ‘Cái gì cắt thẳng cội nguồn gốc rễ?'” Bảo Ninh nói: “Một con muỗi đậu trên mình trâu sắt.” Vị Tăng nói: “Với những ai biết rõ chuyện cắt thẳng cội nguồn gốc rễ, làm sao Hòa Thượng chỉ ra dòng chảy?” Bảo Ninh nói: “Những dòng mồ hôi trên lưng người đá.”—A monk asked, “Lingshan pointed to the moon. The Sixth Ancestor spoke of the moon. But I, as yet, don’t know what is beneath Pao-Ning’s gate?” Pao-Ning yelled, “Ah!” The monk said, “There are flowers stuck to your face.” PaoNing shouted. The monk asked, “I don’t ask about picking leaves or seeking branches. I just ask, ‘What is it that directly cuts off the source root?'” Pao-Ning said, “A mosquito on an iron ox.” The monk said, “For those who are clear about cutting off the source, how do you point out the flow?” Pao-Ning said, “The

stone man’s back streams with sweat.” Ngài thị tịch năm 1046—He passed away in 1046.

Bảo Ninh Nhân Dũng Thiền Sư Ngữ Lục:

Records of the Words of Zen Master Jen-Yung— Records of lectures of Chinese Zen master PaoNing-Jen-Yang (?-1046)—See Bảo Ninh Nhân

Dũng.

Bảo Nữ: Kanya-ratna (skt)—Người con gái quý, một trong thất bảo của Tứ Thiên Vương—Precious maidens, one of the seven treasures of the Cakravartin.

Bảo Oai Đức Thượng Vương Phật: Ratnatedjobhyyudgatarajata-raja (skt)—Precious AweInspiring Superior king Buddha.

Bảo Phác Tử: Người ôm gỗ thô, ý nói vị thầy thiền giữ được sự giản dị—He who embraces the unhewn block, implies the master who prefers his simplicity.

Bảo Phan: Ratnadhvaja (skt)—A banner decorated with gems—Phướn quí được trang trí bằng bảo châu.

Bảo Phật Cước: Embracing the Buddha’s feet— Khi gặp trở ngại Phật tử Trung Hoa hay có tục ôm chân Phật mà cầu nguyện—When in trouble, Chinese Buddhists have a custom to embrace the Buddha’s feet.

Bảo Phiệt: A precious raft—Chiếc bè chân lý Phật pháp chuyên chở chúng sanh từ biển sanh tử đến Niết Bàn—The precious raft of Buddha-truth, which ferries over the sea of mortality to nirvana—See Phiệt Dụ.

Bảo Phong Duy Chiếu Thiền Sư: Hoho Isho (jap)—Pao-fêng Wei-chao (Wade-Giles

Chinese)—Baofeng Weizhao (Pinyin Chinese)—

Hiện nay chúng ta không có nhiều tài liệu chi tiết về Thiền sư Duy Chiếu Bảo Phong; tuy nhiên, có một vài chi tiết lý thú về vị Thiền sư này trong Ngũ Đăng Hội Nguyên: Thiền Sư Duy Chiếu Bảo Phong quê ở Giản Châu (bây giờ là Giản Dương thuộc tỉnh Tứ Xuyên). Một hôm đọc sách, ông giật mình với câu, “Tánh tương cận dã, tập tương viễn dã.” Sư nói: “Phàm Thánh vốn một thể, do tập nên sai khác, tôi biết đó rồi.” Liền đó sư đến Thành Đô làm đệ tử Sư Thanh Thới ở Lộc Uyển. Sư thọ cụ túc giới năm mười chín tuổi—We do not have detailed documents on this Zen Master; however, there is some interesting information on him in The Wudeng Huiyuan: Zen master Wei-ZhaoBao-Feng’s home town was in ancient Jian-Chou (now is Jian-Yang in Si-Chuan province). One day while reading a book, he was startled by the phrase, “One’s self-nature is near, but realizing it is remote.” He then said: “The mundane and the sacred are of one body, but because of habit and circumstances they are differentiated. I know this to be true.” He then hastened to the city of Cheng-  Tu and studied under the teacher Shing-T’ai in Lu-Yuan, receiving full ordaination at the age of nineteen.

  • Một hôm sư Thanh Thới cố dạy sư về “Đại Thừa Khởi Tín Luận,” nhưng Sư thờ ơ với ý tưởng này. Thanh Thới hỏi lý do. Sư thưa: “Đã nói chánh tín Đại Thừa, há ở lời nói mà có thể

rõ.” Sư không nhận lời này rồi cất bước ra đi, với ý định đến tham vấn thiền sư Phù Dung Đạo Giai trên núi Đại Hồng. Trên đường đến yết kiến Phù Dung, một đêm sư đang ngồi thiền bên đường, gặp gió thổi tuyết mỏng tạt vào mình, lại nghe tiếng la “ăn trộm!” Liền đó đại ngộ. Sư lập tức tiếp tục lên đường đi tìm Phù Dung. Tuy nhiên, chỗ của Phù Dung thật khó tìm. Trong khi Bảo Phong đang đi từ Tam Ngô đến Nghi Thủy thì viên trạo phu lạc mất đường đi. Lúc giận Sư cầm gậy gõ viên trạo phu thì hoát nhiên đại ngộ. Sư than: “Đất này đâu không phải Ngao Sơn ư?” Khi Sư đến Nghi Thủy, Phù Dung trông thấy vui vẻ nói: “Tông ta đã có người nối pháp! Sẽ còn nhiều thế hệ nữa tiếp tục nối pháp ta!”—One day, master Ch’ing-t’ai tried to instill in Baofeng a faith in the teaching of “the Awakening of Mahayana Faith,” but Baofeng was indifferent to this idea. When Ch’ing-t’ai questioned him about this he said, “Just proclaiming a belief in the Mahayana, how can these words have any effect?” He then dejectedly went traveling, intending to visit Zen master Furong Daokai at Mount Da Hong. On the way, one night as he sat on a road athunderous snowstorm occurred. He heard someone called out “Thief!” Thereupon experienced a realization. He immediately went on to find Furong. However, Furong’s place at Da-hong was difficult to find. While Baofeng was traveling in a cart from Sanwu to Yishui, the driver became lost. Baofeng, in anger, raised his staff to strike the driver when he suddenly experienced vast enlightenment, exclaiming, “Is the earth not a great tortoise mountain?” Upon arriving at Yishui, Furong observed him and happily exclaimed, “The heir of my Dharma! There will be many generations to follow!” Một hôm sư thượng đường thuyết pháp: “Phật xưa nói, ‘Khi ta mới thành Chánh Giác chính thấy chúng sanh trên đại địa thảy đều thành Chánh Giác.’ Sau Ngài lại nói, ‘Sâu thẳm xa xôi không người biết nổi.’ Kẻ không kiến thức, khéo đầu rồng đuôi rắn.” Sư liền xuống tòa—One day Bao-feng entered the hall and addressed the monks, saying: “An ancient Buddha said, ‘When I first gained complete awakening I personally saw that all beings of the great earth are each fully endowed with complete and perfect enlightenment.’ And later he said, ‘It’s a great mystery. No one can fathom it.’ I don’t see anyone who understands this. Just some blowhards.” He then got down from the seat.  Sư thượng đường thuyết pháp: “Chư Phật quá khứ đã nhập Niết Bàn rồi, cả thảy các ngươi không nên quá tưởng nhớ; chư Phật vị lai chưa ra đời, cả thảy các ngươi không nên vọng tưởng; chính hiện ngày nay ngươi là người gì? Hãy tự xét lấy!”—Bao-Feng entered the hall and addressed the monks, saying: “All the Buddhas of bygone have already entered nirvana. You people! Don’t be nostalgic about them. The Buddhas of the future have not yet appeared in the world. All of you, don’t be deluded! On this very day who are you? Study this!

  • Một lần khác sư thượng đường thuyết pháp: “Xưa tự chẳng sanh, nay cũng chẳng diệt, là chết chẳng được mẫu mực. Nơi đây xuất sanh chốn nầy diệt hết, là hàm sanh chịu quy củ. Bậc đại trượng phu cần phải ở trong dòng sanh tử, nằm trong rừng gai gốc, cúi ngước co duỗi tùy cơ lập bày, hay như thế đó là dùng vô lượng phương tiện trang nghiêm tam muội, cửa đại giải thoát liền mở rộng thênh thang. Nếu chưa như thế, vô lượng phiền não tất cả trần lao đứng sựng trước mặt bít lấp đường xưa.”—Another time, Bao-Feng entered the hall addressed the monks, saying: “The fundamental self is unborn, nor is it annihilated in the present. It is undying. But to be born in a certain place, and to die someplace else, is the rule of being born in a life. Great persons must position themselves in this flow of life and death. They must lie down in the thorny forest. They must be pliable and able to act according to circumstances. If they are thus, then immeasurable expedients, grand samadhis, and great liberation gates are instantly opened. But if they are not yet this way, then defilements, all toilsome dust, and mountains loom before them and block the ancient

road.”

  • Thiền Sư Duy Chiếu Bảo Phong thị tịch năm 1128. Xá lợi của sư lóng lánh như bảo châu ngọc bích. Lưỡi và răng của sư không bị lửa đốt cháy. Tháp thờ xá lợi của sư hiện vẫn còn, bên đỉnh phía tây của tự viện—Zen master Wei-Zhao-Bao-Feng died in 1128. His cremated remains were like jewels and blue pearls. His tongue and teeth were undamaged by the flames. His stupa was placed on the western peak near the temple.

Bảo Phong Khắc Vân (1025-1102): Hobokokumon (jap)—Đâu Phong Khắc Vân—Thiền sư Bảo Phong thuộc dòng Hoàng Long của thiền Lâm Tế ở Trung Hoa, môn đồ và người kế vị của Hoàng Long Huệ Nam. Ông là một trong những thiền sư nổi tiếng của Trung Hoa vào đầu thế kỷ thứ XI, thầy của thiền sư Tùng Duyệt—Chinese Zen master of the Huang-Lung Hui-Nan (Oryo) lineage or Lin-Chih Zen (Rinzai), student and dharma successor of Huang-Lung Hui-Nan. He was one of the famous Zen masters in China in the beginning of eleventh century, dharma master of Zen master Doushuai-Conggyue (Tou-shuaiTs’ung-Yueh).

Bảo Phúc Diệu Phong Đỉnh: Pao Fu’s Summit of the Mystic Peak, example 23 of the Pi-Yen-Lu— Thí dụ thứ 23 của Bích Nham Lục. Bảo Phúc và Trường Khánh dạo núi. Bảo Phúc lấy tay chỉ nói: “Chỉ trong đây là ngọn Diệu Phong.” Trường Khánh nói: “Phải thì phải, đáng tiếc thay!” Sau thuật lại cho Cảnh Thanh nghe, Cảnh Thanh nói: “Nếu chẳng phải Tôn Công, liền thấy đầu lâu đầy đất.” Theo Viên Ngộ trong Bích Nham Lục, Bảo Phúc, Trường Khánh và Cảnh Thanh đều là kế thừa Tuyết Phong. Ba người đồng đắc đồng chứng, đồng kiến đồng văn, đồng niêm đồng dụng, một ra một vào, thay nhau xô đẩy. Bởi những vị nầy đồng điệu sanh nên nói đến liền biết chỗ rơi. Ở trong hội Tuyết Phong thường vấn đáp chỉ có ba vị nầy. Cổ nhân đi đứng nằm ngồi đều lấy đạo làm chỗ niệm, do đó cử đến liền biết chỗ rơi. Một hôm dạo núi, Bảo Phúc lấy tay chỉ nói: “Chỉ trong đây là đỉnh Diệu Phong.” Nếu như thiền Tăng hôm nay hỏi đến thế ấy, miệng tợ tấm biển, cũng may là hỏi Trường Khánh. Ông nói Bảo Phúc nói thế ấy là mong làm gì? Cổ nhân như thế cốt nghiệm kia có mắt không mắt, là người ở trong nhà ấy, tự biết chỗ rơi. Nên đáp: “Phải thì phải, đáng tiếc thay!” Hãy nói Trường Khánh nói như vậy là ý chỉ làm sao? Không thể một bề thế ấy mà đi, giống thì giống, ít được thảnh thơi không một việc, may là Trường Khánh biết phá kia. Tuyết Đậu trước ngữ: “Ngày nay cùng kẻ nầy dạo núi mong làm gì?” Hãy nói rơi chỗ nào? Lại nói: “Trăm ngàn năm sau chẳng nói không, chỉ là ít.” Tuyết Đậu khéo điểm ngực, giống như Hoàng Bá nói “Chẳng nói không thiền, chỉ là không Sư.” Tuyết Đậu nói thế quả là hiểm hóc, nếu chẳng phải đồng thanh tương ứng, thì đâu thể cô nguy kỳ quái như thế. Đây gọi là trước ngữ rơi tại hai bên, tuy rơi hai bên mà chẳng trụ hai bên. Sau thuật lại cho Cảnh Thanh nghe, Cảnh Thanh nói: “Nếu chẳng phải là Tôn Công liền trông thấy đầu lâu đầy đất.” (Tôn Công là tên tục của Trường Khánh). Có vị Tăng hỏi Triệu Châu: “Thế nào là đỉnh Diệu Phong?” Triệu Châu đáp: “Lão Tăng không đáp câu hỏi nầy của ông.” Vị Tăng lại hỏi: “Tại sao không đáp câu hỏi nầy?” Triệu Châu nói: “Nếu ta đáp, e rằng ông rơi xuống đất bằng.” Kinh Hoa Nghiêm nói: “Tỳ Kheo Đức Vân ở trên đỉnh Diệu Phong từ lâu không xuống núi. Thiện Tài đến tham vấn bảy ngày không gặp, một hôm tại ngọn khác gặp nhau. Yết kiến xong, Đức Vân vì Thiện Tài nói một niệm ba đời, pháp môn tất cả chư Phật trí tuệ quang minh phổ kiến.” Đức Vân đã từ lâu không xuống núi, tại sao lại gặp nhau ở ngọn núi khác? Nếu bảo Đức Vân xuống núi, trong kinh nói Tỳ Kheo Đức Vân từ lâu không xuống núi, thường ở trên đỉnh Diệu Phong. Đến trong đây, Đức Vân, Thiện Tài quả là ở trong ấy. Về sau, Lý Thông Huyền tạo sắn bìm, tạo rất khéo, nói: “Ngọn Diệu Phong là pháp môn nhất vị bình đẳng, mỗi mỗi đều chơn, mỗi mỗi đều toàn, nhằm chỗ không được không mất, không phải không quấy, riêng bày. Vì thế Thiện Tài không thấy đến chỗ xứng tánh, như con mắt chẳng tự thấy, lỗ tai chẳng tự nghe, ngón tay chẳng tự xúc, dao chẳng tự cắt, lửa chẳng tự đốt, nước chẳng tự rửa.” Đến trong đây, chúng ta thấy trong kinh thật đại từ đại bi có chỗ vì nhau. Vì thế phóng một bước nói về nghĩa môn thứ hai, lập khách lập chủ, lập cơ lập cảnh, lập vấn lập đáp. Do đó nói: “Chư Phật chẳng ra đời, cũng không có Niết bàn, vì phương tiện độ chúng sanh, hiện việc như thế.” Hãy nói cứu cánh làm sao khỏi được Cảnh Thanh, Tuyết Đậu nói thế ấy? Khi đó, nếu không phải cung nhịp tương ưng thì hẳn là người cả quả đất thấy đầu lâu đầy đất. Cảnh Thanh chứng thế ấy tương lai, đôi ba kẻ dụng thế ấy trong tương lai. Về sau này, Tuyết Đậu làm một bài tụng rất rõ ràng:

“Diệu Phong cô đỉnh thảo ly ly Niêm đắc phân minh phó dữ thùy?

Bất thị Tôn công biện đoan đích

Độc lâu trước địa kỷ nhơn tri?”

(Diệu Phong cao vót, cỏ xanh rì Nêu được rõ ràng gởi đến ai?

Chẳng phải Tôn công bàn thấu đáo Đầu lâu khắp đất mấy người hay?).

Once when Pao Fu and Ch’ang Ch’ing were wandering in the mountains, Pao Fu pointed with his hand and said, “Right here is the summit of the mystic peak.” Ch’ing Ch’ang said, “Indeed it is. What a pity!” Hsueh T’ou added a word, saying, “Today what is the purpose of travelling the mountains together with these fellows?” He also said, “Hundreds of thousands of years hence, I don’t say there are none, just that they will be few.” Later this dialogue (between Pao Fu and Ch’ang Ch’ing) was quoted to Ching Ch’ing. Ching Ch’ing said, “If it hadn’t been Mr. Sun (Pao Fu), then you would have seen skulls covering the fields.”According to Yuan-Wu in the Pi-Yen-Lu, Pao Fu, Ch’ang Ch’ing, and Ching Ch’ing were all successors of Hsueh Feng; these three men attained alike and realized alike, saw alike and heard alike, picked up alike and use alike. With one exit and one entrance, they pressed back and forth one after the other. Since they were men born of the same lineage, as soon as one raised something the others knew where it came down. In Hsueh Feng’s congregation it was just these three who always engaged in questioning and answering. Whether walking, standing, sitting or lying down, the ancients were mindful of this path; that is why as it is brought up, they know where it comes down. One day when he was wandering in the mountains, Pao Fu pointed with his hand and said, “Right here is the summit of the mystic peak.” When Ch’an men these days are questioned this way, then they only frown; fortunately it was Ch’ang Ch’ing who was asked. Tell me, when Pao Fu spoke this way, what was his purpose? When the ancient Pao Fu acted like this, he wanted to test whether Ch’ang Ch’ing had eyes or not. Ch’ang Ch’ing was a man of his house, so naturally he knew what Pao Fu was getting at; thus he replied to him by saying, “Indeed it is. What a pity!” But tell me, when Ch’ang Ch’ing spoke this way, what was his meaning? You can’t always go on this way. Though there are those who seem so, actually there is rarely anyone at ease without the slightest concern. Fortunately Ch’ang Ch’ing understood Pao Fu completely. Hsueh Tou added a word saying, “Today, travelling the mountains with these fellows, what is the purpose?” Tell me, where does this come down? Again he said, “Hundreds of thousands of years hence, I don’t say there are none, just that they will be few.” Hsueh Tou knows how to point to himself. This is just like Huang Po’s saying, “I don’t say that there is no Ch’an, just that there are no teachers.” Hsueh Tou speaking this way is also undeniably dangerous and steep. If Hsueh Tou hadn’t answered back with the same voice, how could it have been this unique and marvelous? This is called an added comment; it comes down on both sides, but though it comes down on both sides, it doesn’t remain on either side. Later this was quoted to Ching Ch’ing, He said, “If it hadn’t been Mr. Sun, then you would have seen skulls covering the fields.” Sun is Ch’ang Ch’ing’s lay surname. Haven’t you heard how a monk asked Chao Chou, “What is the lone summit of the mystic peak?” Chao Chou said, “I won’t answer this question of yours.” The monk asked, “Why won’t you answer this question?” Chao Chou said, “I fear that if I answer you, you would fall onto the level ground.” In the teachings it says that the mendicant Meghasri always stayed on the lone summit of the peak of wonder; he never came down from the mountain. Sudhana went to call on him and searched for seven days without encountering him. But then one day they met on a separate peak. When he had seen him Meghasri explained for Sudhana that the three worlds are a moment of thought and the wisdom and illumination of all the Buddhas, the gate of Dharma that appears everywhere. Given that Meghasri never came down from the mountain, why then did they meet on a separate peak? If you say Meghasri must have come down from the mountain, yet in the teachings it says that he never did come down from the mountain, that he was always on the solitary summit of the peak of wonder. At this point, where are Meghasri and Sudhana really? Later, Zen master Hsueh-tou created some complications, and made up a verse quite well:

“The lone summit of the mystic peak

Is the teaching of one-flavor equanimity Each and every one, they’re all real; Each and every one, they’re all complete. Where there’s no gain and no loss No affirmation and no negation.

There it stands alone revealed;

Therefore Sudhana couldn’t see him.” Bảo Phước: See Bảo Phước Tòng Triển.

Bảo Phước Tòng Triển Thiền Sư (?-928):

Hofufu-Juten (jap)—Pao-fu Ts’ung-chan (WadeGiles Chinese)—Baofu Congzhan (Pinyin

Chinese)—Thiền Sư Bảo Phước Tòng Triển, tên của một vị Thiền sư Trung Hoa vào thế kỷ thứ mười. Ngoài việc tên của ông được nhắc tới trong các ví dụ 8, 23, 76, 91 và 95 của Bích Nham Lục, chúng ta còn có một số chi tiết lý thú về vị Thiền sư này trong như trong Truyền Đăng Lục, quyển XIX: Thiền sư Bảo Phước Tòng Triển đến từ cổ thành Phúc Châu. Vào tuổi mười lăm, ông trở thành đệ tử và sau đó là truyền nhân nối pháp của thiền sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn. Ông thọ cụ túc giới năm 18 tuổi tại chùa Đại Trung cũng trong vùng Phúc Châu. Sau một thời gian hành cước du phương đến những vùng khác trong xứ Trung Hoa, ông đã trở về làm thị giả cho Tuyết Phong. Bảo Phước có 25 đệ tử kế thừa Pháp—Zen Master Pao-fu Congzhan, name of a Chinese Zen master in the tenth century. Besides the fact that his name was mentioned in examples 8, 23, 76, 91 and 95 of the Blue Cliff Record, we also have some interesting information on him in the Records of the Transmission of the Lamp (Ch’uan-Teng-Lu), Volume XIX: Zen master Pao-fu Congzhan came from ancient Fuzhou. At the age of fifteen he became s student and later a dharma successor of Zen master Hsueh-feng-i-t’sun. He was ordained at the age of eighteen at Dazhong Temple in his native city. After a period of traveling to other areas in China, he returned to become Xuefeng’s attendant. Pao-fu had twenty-five dharma successors.

  • Một hôm, Tuyết Phong bỗng gọi Sư nói: “Có lãnh hội không?” Sư định bước tới gần, Tuyết Phong dùng gậy cản lại. Sư ngay đó lập tức biết chỗ về. Bảo Phước thường hỏi sư huynh của mình là Hòa Thượng Huệ Lăng Trường Khánh về giáo pháp phương tiện xưa và nay. Hoà Thượng Trường Khánh nói: “Lão tăng thà nói ba cái độc của La Hán, chứ không nói Như Lai có hai lời.” Bảo Phước nói: “Thế nào là lời của Như Lai?” Trường Khánh nói: “Kẻ điếc mà cố nghe.” Bảo Phước nói: “Hòa Thượng Khánh đã nói về đầu thứ nhì!” Trường Khánh bỗng hỏi: “Trong trường hợp đó, thế nào là lời của Như Lai?” Bảo Phước nói: “Hòa Thượng đi uống trà đi!” Về sau này, Vân Cư Tích nói: “Đâu là chỗ Trường Khánh hướng về đầu thứ nhì mà nói?”—One day Xuefeng suddenly called Bao-fu, saying, “Do you understand?” Bao-fu wanted to approach Xuefeng, but Xuefeng pushed him away with his staff. Bao-fu thereupon understood. Baofu often inquired of his Dharma brother, Changqing Huileng, concerning ancient and current expedient methods of teaching. Most Venerable Changqing said, “I’d say that an arhat has three poisons, but the Tathagata does not have two ways of speaking. I don’t say that the Tathagata doesn’t speak, just that he doesn’t have two ways of speaking.” Baofu said, “What is the speech of the Tathagata?” Changqing said, “The deaf struggle to hear it.” Baofu said, “Master Qing has spoken of the secondary!” Changqing asked, “In that case, what is the speech of the Tathagata?” Baofu said, “Go drink tea!” Later, Yunju said, “Where is the place that Changqing speaks of the secondary?”
  • Bảo Phước nói nhân cử thuật của Bàn Sơn “Khi tất cả những cảnh được chiếu sáng đều mất thì còn lại cái gì?” và thuật của Động Sơn “Khi tất cả những cảnh được chiếu sáng đều chưa tiêu mất thì còn lại cái gì?” Bảo Phước lại nói: “Theo cái được thuyết bởi hai vị tôn giả thì vẫn còn chưa được tiểu trừ sạch.” Rồi Sư lại hỏi Trường Khánh: “Hòa Thượng sẽ nói thế nào mới được trừ tuyệt?” Trường Khánh im lặng một lúc lâu. Bảo Phước nói: “Thật biết Hòa Thượng hướng về hang quỉ ở núi mà

làm hoạt kế (tìm phương cách nói).” Trường Khánh bỗng hỏi: “Vậy thì ông nói thế nào?” Bảo Phước nói: “Hai tay nâng cày, nước lên quá đầu gối.”—Baofu brought up for consideration Panshan’s statement, “When all illuminated realms are gone, what is it that remains?” and Dongshan’s statement, “When all illuminated realms are undiminished, what else is there?” Baofu then said, “According to what was expounded by these two worthies, there is something left over that isn’t annihilated.” He then asked Changqing, “What would you say now to exterminate it?” Changqing was silent for a long time. Baofu said, “You’re seeking speaking strategies in a mountain spirit’s cave.” Changqing asked, “Then what would you say?” Baofu said, “Both hands on the plough, water above the

knees.”

  • Một hôm, Bảo Phước hỏi một vị Tăng: “Ông từ đâu tới?” Vị Tăng đáp: “Từ Quan Âm Giang Tây.” Bảo Phước hỏi: “Ông có thấy Quan Âm chăng?” Vị Tăng nói: “Thấy.” Bảo Phước hỏi: “Thấy bên trái hay bên phải?” Vị Tăng đáp: “Lúc thấy con không thấy qua phải hay trái.”—One day, Baofu asked a monk, “Where have you come from?” The monk said, “From Kwan Yin in Jiangxi.” Baofu said, “Did you see Kwan Yin?” The monk said, “I saw her.” Baofu said, “Did you see her right side or her left side?” The monk said, “When I

saw her, I didn’t pass her on the right or left.”

  • Vị Tăng nói: “Con mới vào tùng lâm, thỉnh sư chỉ trọn vẹn lối ngộ nhập!” Bảo Phước nói: “Nếu như lão Tăng chỉ bày lối ngộ nhập trọn vẹn cho ông, thì lão Tăng phải lễ bái ông cái đã.”—A monk said, “I’ve just arrived at the monastery. I ask the master to reveal to me the complete entrance.” Baofu said, “If I were to show you the complete entrance, then I would just to you.”
  • Một vị Tăng hỏi Bảo Phước: “Tôi nghe nói muốn biết con đường vô sanh phải rõ ngọn nguồn. Bạch Hòa Thượng, thế nào là ngọn nguồn (như muốn đạt đến cảnh giới vô sanh thì phải nhận thức bổn nguyên, vậy thế nào là bổn nguyên)?” Sư im lặng hồi lâu rồi quay sang hỏi vị thị giả của mình: “Vị Tăng vừa hỏi

ta cái gì?” Vị Tăng lặp lại câu hỏi. Sư phát đuổi vị Tăng ra ngoài vừa hét lớn: “Bộ tôi điếc sao?” Cái “im lặng” của Bảo Phước là một trong những phương tiện thiện xảo khá thông dụng mà các thiền sư thường dùng để giúp đồ đệ của mình. Chắc hẳn chúng ta còn nhớ ngày trước khi Bồ Tát Văn Thù hỏi cư sĩ Duy Ma Cật về “pháp bất nhị”, Duy Ma Cật im lặng không nói. Người đời sau ca tụng thái độ ấy của Duy Ma Cật là sự “im lặng sấm sét” (mặc như lôi)—A monk came to Pao-fu and asked, “I am told that when one wants to know the path of the uncreate, one should know the source of it. What is the source, master? Pao-fu was quiet for some little while, and then asked his attendant, “What did the monk ask me now?” When the monk repeated the question, the master ejected him, exclaiming, “I am not deaf!” The “silence” of Pao-fu is one of the popularly skilful means that Zen masters use to help their disciples. Surely, we still remember Vimalakirti’s silence in the story of Manjusri and Vimalakirti. Vimalakirti was silent when Manjusri asked him as to the doctrine of nonduality, and his silence was later commented upon by a master as “deafening like thunder.” Bảo Phương: Ratnakala (skt)—Precious place— Bảo Xứ—Tự viện, nơi thường trụ Tam Bảo— Precious abiding, or the abode of the triratna, a monastery.

Bảo Quan: Celestial Crown—Precious Crown—A deva crown, surpassing human thought.

Bảo Quang Bồ Tát: See Bảo Xứ Bồ Tát.

Bảo Quang Phật: Precious-Light Buddha.

Bảo Quang Thiên Tử: Ratnaprabha(skt)— Precious Light heaven king’s son—Một trong Tam Quang Thiên Tử, tức Nhật Thiên Tử, gọi là Bảo Ý là ứng hiện của Đức Quán Âm—Precious light deva, the sun-prince, a manifestation of Kuan-Yin, one of the three kings of precious light.

Bảo Quí: Master Pao-Kwei—Tên của một vị Tăng Trung Hoa vào thời nhà Tùy—Name of a Chinese monk in the Sui dynasty (581-618). Bảo Quốc: Pure land—Precious country—Cõi Tịnh Độ.

Bảo Quỳnh (504-584): Tên của một vị Tăng

Trung Hoa trong tỉnh Sơn Đông vào thế kỷ thứ VI—Name of a Chinese monk in Shan-tung

Province in the sixth century.

Bảo Sa Ma Tẩy: Pausamasa (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Pausamasa là tháng thứ mười của Ấn Độ, bắt đầu từ 16th tháng chạp của Trung Hoa—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Pausamasa is the tenth Indian month, beginning on the 16th of the 12th Chinese month. Bảo Sám Kệ: Precious gathas for repentance— Precious verses for repentance.

Bảo Sanh Như Lai: See Bảo Sanh Phật.

Bảo Sanh Phật: Ratnasambhava (skt)—Bảo

Thắng—“Bảo Sanh Phật” là một trong năm vị Phật siêu việt, mà trú xứ của ngài là Nam Phương Tịnh Độ. Về Tiếu Tượng học, người ta thường phác họa Ngài có da màu vàng kim, ngồi tọa thiền vị thế kiết già, tay bắt ấn “ban phát ước nguyện.” Ở Tây Tạng ngài thường được họa đang quấn lấy Kamaki. Nam Phật còn được biết như người ban bố từ bi. Phật trần thế Kashyapa và Bồ tát siêu việt Bảo Chưởng đều phục tùng Nam Phật. Ngài thường ngồi trên lưng sư tử với cử chỉ chấp thuận những mong ước—Jewel Born Buddha is one of the five buddhas, who presides over a “pure land” in the south. Iconographically, he is generally portrayed with golden skin and sitting in the Yogic Padmasana position, making the “wish-granting” gesture (varada-mudra). In Tibet he is often portrayed embracing his consort Mamaki. Also known as the Compassionate Giver. He is associated with the earthly buddha Kashyapa and a transcendent bodhisattva Ratnapani. RatnaSambhava is always riding a lion or a horse, making the gesture of wish granting. Bảo Sát: Precious ksetra—Phật giới: Buddha realm—Tự viện: Monastery.

Bảo Sinh Phật: See Bảo Sanh Phật.

Bảo Sở: Jewel land—Jewel place—Treasure land—Bảo sở là nơi chứa những châu báu, như Niết Bàn Vô Dư—The place of precious things, i.e. the perfect Nirvana.

Bảo Sơn: Ratna-parvata (skt)—Precious mountain—Tên của đỉnh Bảo Sơn—Name of Mount Ratnaparvata.

Bảo Tác: Pasa(skt)—Sợi dây được làm bằng chỉ năm màu—A string that is made of five-colored threads.

Bảo Tàng: Ratnadhvaja (skt)—Phướn được trang hoàng bởi bảo ngọc: A banner decorated, with gems—Chư Thiên Âm Nhạc trên cõi Trời Đâu Suất: A deva in the Tusita heaven who presides over music.

Bảo Tạng: Precious treasures—Kho chứa châu báu tích lũy: The treasury of precious things— Diệu pháp của Phật có thể cứu giúp chúng sanh thoát khỏi các khổ ách: The wonderful religion of Buddha—See Diệu Trân Tài.

Bảo Tạng Luận: Bộ luận 1 quyển, được Sư Tăng

Triệu soạn vào thời Hậu Tần (384-417)— Commentaries on Precious treasures, one volume, composed by Master Seng-Chao in the Hou Ch’in dynasty.

Bảo Tạng Như Lai: Ratna-garbha (skt)—Vị Phật (Bảo Hải là con gái của Phạm Chí, xuất gia thành đạo hiệu là Bảo tạng Như Lai) mà Phật A Di Đà và Phật Thích Ca đều y vào để phát tâm thành đạo—A Buddha to whom Sakyamuni and

Amitabha are said to have owed their awakening. Bảo Tạng Thần: Jambhala (skt)—Tên của một vị trời—Name of a deity.

Bảo Tạng Thiên: Taraka (p)—Vị thần coi về phước đức cho mọi chúng sanh—A deity who rules on blessings for all beings.

Bảo Tạng Thiên Nữ: Laksmi (skt)—Sri-mahadeva (skt)—Công Đức Thiên—See Cát Tường Thiên Nữ.

Bảo Tạng Thiền Sư (1818-1872): Tên của một vị

Thiền sư Việt Nam đời thứ 40 tông Lâm Tế, quê ở Phú Yên—Name of a Vietnamese Zen master, of the fortieth Lin-chi lineage. He came from PhuYen, Central Vietnam.

Bảo Tánh: Ratnagotra (skt)—Precious nature—

Bảo Tính—Tên khác của Như Lai Tạng, ở trong chúng sanh phiền não mà chẳng hề mất tính chân như thanh tịnh—The precious nature, or Tathagatagarbha, underlying all phenomena, always pure despite phenomenal conditions—See Như Lai tạng.

Bảo Tánh Bồ Tát: Ratnagotra-bodhisattva (skt)— Precious nature Bodhisattva.

Bảo Tánh Luận: Ratnagotra-sastra (skt)— Treatise on Precious nature or Tathagatagarbha— See Như Lai tạng.

Bảo Tánh Thiền Sư: Zen Master Bảo Tánh (?1034)—Thiền sư Việt Nam, quê ở Chu Minh, Bắc Viêt. Ngài xuất gia làm đệ tử Thiền sư Định Hương lúc tuổi còn rất trẻ. Ngài trở thành Pháp tử đời thứ bảy dòng Thiền Vô Ngôn Thông. Sau khi Thầy mình thị tịch, ngài tiếp tục trụ tại chùa Cảm Ứng để hoằng pháp. Ngài cùng Thiền sư Minh Tâm cùng nhau tụng kinh Pháp Hoa trong 15 năm liền. Vào năm 1034, ngài muốn nhập hỏa quang tam muội. Khi nghe tin nầy, Vua Lý Thái Tông gửi sắc dụ triệu hồi ngài về kinh thuyết pháp cho hoàng gia lần cuối. Sau khi thuyết pháp xong, ngài bèn nhập vào hỏa quang tam muội—A Vietnamese Zen master from Chu Minh, North Vietnam. He left home and became a disciple of Định Hương when he was very young. He became the Dharma heir of the seventh generation of the Wu-Yun-T’ung Zen Sect. After the letter’s death, he stayed at Cảm Ứng Temple to expand Buddhism. He and Zen master Minh Tâm recited the Lotus Sutra for 15 years. In 1034, he wanted to self-immolate his body with the flame of samadhi to enter Nirvana. Upon hearing the news, King Lý Thái Tông sent an Imperial Order to summon him to the capital to preach the Buddha Dharma to the royal family the last time. Right after the surmon, he self-immolated his body by the flame of samadhi.

Bảo Tát Bồ Tát: Ratnakala-bodhisattva (skt)— Bảo Xứ Bồ Tát—Precious abiding Bodhisattva.

Bảo Tâm: Tâm bảo—Precious mind.

Bảo Thanh (1752-1859): Tên của một vị Thiền sư Việt Nam đời thứ 40 tông Lâm Tế, quê ở Phú Yên—Name of a Vietnamese Zen master, of the fortieth Lin-chi lineage. He came from Phu-Yen, Central Vietnam.

Bảo Thành: Thành chứa đầy bảo vật, như Phật Pháp trong Kinh Niết Bàn—The city full of precious things, in the Nirvana Sutra, i.e. the teaching of the Buddha.

Bảo Tháp: Stupa (skt)—Tháp Bảo hay tháp chứa bảo vật, tháp chứa xá lợi: Precious stupa, or fane for precious things, or relics—Tháp trang nghiêm bằng châu báu hay tháp được trang trí bằng bảo vật: A pagoda adorned with gems, or the stupa ornamented with precious things—Tháp Đa Bảo trong Kinh Pháp Hoa: The shrine of Prabhutaratna in the Lotus.

Bảo Tháp Xá Lợi: Relic chamber—Relic stupa.

Bảo Thắng: Ratnasambhava (skt)—Jewel Victoror Splendor.

Bảo Thắng Bồ Tát: Ratna-priya (skt)—The Bodhisattva Precious Conqueror—Precious

Victory Bodhisattva.

Bảo Thắng Phật: Ratna-priya-buddha (skt)— Precious Victory Buddha.

Bảo Thiên: Ratnadeva (skt)—Tên của một vị Tỳ Kheo, một trong những đệ tử của đức Phật—Name of a monk, one of the disciples of the Buddha.

Bảo Thiên Tỳ Kheo: See Bảo Thiên.

Bảo Thiền Phổ Thiền Sư: Zen master Pao-ch’an Pu—Một hôm, có một vị Tăng đến và hỏi thiền sư Bảo Thiền Phổ về ý chỉ Tây lai của Tổ Sư, Sư trả lời: “Chờ xem hoa mẫu đơn nở là mùa xuân.” Vị Tăng không thể thấu triệt ý nghĩ đó, và thiền sư giúp ông bằng cách giảng giải thêm về bông hoa: “Hoa cúc vàng thì lại nở vào tháng chín mỗi năm.” Vị Tăng có vẻ như thích thú nói: “Nếu thế, tức Hòa Thượng đang gắng sức để dạy người khác vậy.” Bảo Thiền Phổ nói lời cuối: “Ông lầm rồi!” Đây là trường hợp các thiền sư trả lời câu hỏi bằng cách nêu lên một vài sáo ngữ vốn hoàn toàn không thể hiểu được bằng những lý lẽ đương nhiên. Trong khi hầu hết những phát biểu rõ ràng là vô nghĩa và không thể nào vói tới được, những câu trả lời ở đây không có quan hệ, dầu là quan hệ rất xa vời, đối với ý nghĩa của vấn đề được nêu lên ở đây. Nhưng quả tình các thiền sư hết sức tận tâm và những người nhiệt tâm cầu đạo thường được khơi dậy ý chỉ nội tại của những nhận định thoát ra từ đôi môi của các thiền sư tùy theo hoàn cảnh. Vì vậy hành giả chúng ta phải cố gắng nhìn sâu vào phía dưới những sáo ngữ vô nghĩa này— One day, a monk came and asked Pao-ch’an Pu concerning the patriarchal visit to which the master’s reply was, “As to the tree-peony, we look for its flowers in spring.” The monk failed to get the meaning of this, and the master helped him by this further comment on botany, “As to the yellow chrysanthemum, it blooms in the auspicous ninth month of the year.” The monk who apparently likes to talk, said, “If so, you are exerting yourself for the edification of others.” Pao-ch’an Pu’s final dictum was, “Mistaken!” This is the case where Zen masters answer questions with meaningless remarks which are perfectly incomprehensible to the rational mind. While most statements are apparently meaningless and unapproachable, the answers here has by no manner of means any relation whatever to the main issue, except that the uninitiated are hereby led further and further astray. But Zen masters really try their best to enlighten earnest truth-seekers in accordance with the circumstances. Thus, we, Zen practitioners, should try to look deeper inside these meaningless remarks.

Bảo Thọ Diên Chiểu Trấn Châu Thiền Sư: Hoju Ensho (jap)—Pao-shou Yen-chao (Wade-Giles Chinese)—Baoshou Yanzhao Zhenzhou (Pinyin Chinese)—Hiện nay chúng ta không có nhiều tài liệu chi tiết về Thiền sư Bảo Thọ; tuy nhiên, có một vài chi tiết lý thú về vị Thiền sư này trong Truyền Đăng Lục, quyển XII: Thiền sư Bảo Thọ Diên Chiểu là đệ tử của Thiền Sư Lâm tế Nghĩa Huyền. Ông sống và dạy Thiền ở chùa Bảo Thọ trong cổ thành Trấn Châu—We do not have detailed documents on Zen Master Baoshou Yanzhao; however, there is some interesting information on him in The Records of the Transmission of the Lamp (Ch’uan-Teng-Lu), Volume XII: Zen Master Baoshou Yanzhao was a disciple of Zen master Linji I-hsuan. He lived and taught Zen at Baoshou Temple in ancient Zhenzhou.

  • Một vị Tăng hỏi Bảo Thọ: “Muôn cảnh đến tràn ngập mình, thì làm sao?” Bảo Thọ nói: “Đừng kiểm soát nó.” Vị Tăng lễ bái. Bảo Thọ nói: “Đừng vọng tưởng. Ông mà vọng tưởng thì sẽ bị đánh gãy ngang lưng.”—A monk asked Baoshou, “When all realms come forward and overwhelm you, then what?” Baoshou answered, “Don’t control it.” The monk bowed. Baoshou then said, “Don’t move. If you move it will break you in two at

the waist.”

  • Một hôm, Triệu Châu đến viếng tự viện. Bảo Thọ ngồi trong thiền đường, mặt xoay đi hướng khác. Triệu Châu trải tọa cụ và lễ bái. Bảo Thọ đứng dậy và đi vào phương trượng. Triệu Châu xếp tọa cụ và đi ra—One day, Zhaozhou came to visit the monastery. In the meditation hall Baoshou sat down facing away from him. Zhaozhou spread out his sitting cushion and bowed. Baoshou got up and went into the abbot’s quarters. Zhaozhou picked up his meditation cushion and went

out.

  • Bảo Thọ hỏi một vị Tăng: “Ông từ đâu tới?” Vị Tăng nói: “Từ Tây Sơn lại.” Bảo Thọ nói: “Ông có gặp khỉ không?” Vị Tăng nói: “Có thấy.” Bảo Thọ nói: “Chúng khôn lanh thế nào?” Vị Tăng đáp: “Thấy con đây, một chút khôn lanh cũng chẳng có.” Bảo Thọ liền đánh vị Tăng—Baoshou asked a monk, “Where did you come from?” The monk said, “From West Mountain.” Baoshou said, “Did you see the monkey?” The monk said, “I saw it.” Baoshou said, “How clever was it?” The monk said, “I saw that I’m not the least bit clever.” Baoshou hit him.
  • Một hôm, một người nổi tiếng tên Hồ Đinh Giảo đến tham yết Bảo Thọ. Bảo Thọ hỏi: “Có phải ông là Hồ Đinh Giảo không?” Hồ lịch sự nói: “Dạ, không dám.” Bảo Thọ hỏi: “Thử xem ông có thể đóng đinh trên hư không chăng?” Hồ nói: “Thỉnh Hòa Thượng nhổ ra thì con đây sẽ đóng.” Bảo Thọ dùng gậy đánh Hồ. Hồ nói: “Thầy đánh con là đúng đó!” Bảo Thọ nói: “Sau này sẽ có nhiều thầy đả phá ông đấy!” Về sau này, Hồ Đinh Giảo tham yết Triệu Châu và nói lại cho ông ta nghe về cuộc đối thoại giữa mình và Bảo Thọ. Triệu Châu nói: “Ông đã làm gì cho ông ấy đánh ông vậy?” Hồ nói: “Con không biết mình phạm lỗi gì.” Triệu Châu nói: “Giống như chỗ chia mối nối mà Thầy Bảo Thọ không thể nào bỏ qua được!” Ngay những lời này Hồ đại ngộ. Triệu Châu nói: “Chỉ cần đóng lên ngay cái mối viền này.”—One day, a well-known person named Hu Dingjiao (Door-nail Hu) came to visit Baoshou. Baoshou said, “Aren’t you Hu Dingjiao?” Hu said politely, “I dare not say so.” Baoshou said, “Let’s see if you can nail down emptiness!” Hu said, “Please pull the nail out from the emptiness, so I’ll nail it down.” Baoshou then hit him. Hu said, “The master is right to hit me.” Baoshou said, “In the future, a lot of teachers are going to hit you.” Later, Hu visited Zhaozhou and told him of his dialogue with Baoshou. Zhaozhou said, “What did you do to make him hit you?” Hu said, “I don’t know what my error was.” Zhaozhou said, “It was just this split seam that Master Baoshou couldn’t tolerate!” At these words Hu had an insight. Zhaozhou said, “Just

nail up this seam.”

  • Một hôm, có một vị Tăng hỏi: “Muôn dặm không một áng mây thì thế nào?” Bảo Thọ nói: “Trời xanh cũng phải ăn gậy.” Vị Tăng nói: “Con không hiểu tại sao trời xanh lại có lỗi gì.” Bảo Thọ dùng gậy đánh vị Tăng—One day, a monk asked, “When there’s not a single cloud for ten thousand miles, then what?” Baoshou said, “The clear sky also gets the staff!” The monk said, “I don’t understand why the clear sky has an error.” Baoshou hit him.
  • Khi Thiền sư Bảo Thọ đang phỏng vấn một vị Tăng trong phòng phương trượng, Sư đáp lại một câu hỏi: “Trăm ngàn Thánh không ở ngoài căn phòng này.” Vị Tăng nói: “Nghe giống như lời nói của cổ đức ‘vô số thế giới cũng giống như những bong bóng nước trong một đợt sóng biển vậy.’ Con không hiểu nơi mà trăm ngàn Thánh được lộ ra trong căn phòng này.” Bảo Thọ nói: “Các ngài hiển hiện ngay đây.” Vị Tăng nói: “Ai có thể biểu tỏ việc này?” Bảo Thọ ném cây phất tử xuống. Vị Tăng đi từ cánh tây sang cánh đông của căn phòng, rồi đứng ở đó. Bảo Thọ đánh vị Tăng. Vị Tăng nói: “Không tu tập Thiền một lúc lâu, làm sao người ta có thể thực chứng giáo pháp tối thượng được đây?” Bảo Thọ nói: “Ba mươi năm sau, những lời này sẽ nổi tiếng đấy!”—When Baoshou was interviewing a monk in the abbot’s room, he responded to a question by saying, “The hundred thousand saints are not outside of this room.” The monk said, “That sounds like the ancient saying that ‘the innumerable worlds are like the bubbles in an ocean wave.’ I don’t understand where the hundred thousand saints are revealed in this room.” Baoshou said, “They’re manifested right here.” The monk said, “Who can demonstrate this?” Baoshou drew down his whisk. The monk walked from the west side of the room to the east side, and then stood there. Baoshou hit him. The monk said, “Without practicing Zen for a long time, how can someone realize its ultimate teaching?” Baoshou said, “Thirty years from now, these words will be well known!”
  • Một hôm, có một vị Tăng tên Tây Viện Từ Minh đến học Thiền với Thiền sư Bảo Thọ. Tây Viện hỏi: “Khi ‘huyễn thành’ bị phá sập, rồi thì cái gì nữa?” Bảo Thọ nói: “Đừng giết người bằng cách chặt họ ra làm hai.” Tây Viện nói: “Cứ chặt.” Bảo Thọ đánh Tây Viện. Tây Viện vẫn tiếp tục nói: “Cứ chặt! Cứ chặt!” và cứ mỗi lần ông nói là mỗi lần Bảo Thọ đánh ông. Đoạn Bảo Thọ trở về phòng phương trượng và nói: “Ông Tăng mới vừa đến đấy! Lão Tăng đã đánh hắn cho tới đỏ cả thân. Quả là một kẻ báng bổ!”—One day, a monk named Ziyuan Siming came to study with Zen master Baoshou. Xiyuan asked him, “When the ‘illusion city’ is knocked down, then what?” Baoshou said, “Don’t kill people by chopping them in two.” Xiyuan said, “Chop.” Baoshou hit him. Xiyuan continued saying, “Chop! Chop!” and Baoshou struck him each time he spoke. Baoshou then went back to his abbot’s quarters and said, “That monk who just arrived! I beat him until he was red. What a blasphemy!” Bảo Thủ: Khư khư giữ lấy những gì mình có: To conserve—Tay quý, tay làm ra của cải quý báu: Precious hand, the hand which gives alms and precious things.

Bảo Thủ Bồ Tát: Ratnapani (skt)—Precious race Bodhisattva—Bảo Chủng Bồ Tát—Bảo Chưởng Bồ Tát—The Bodhisattva of Precious Hands. Bảo Thủ Hán: The treasure guard—Hành giả tham Thiền mà khởi được nghi tình, tương ứng với lý của Pháp Thân, quấy đục thế giới một mạch được thọ dụng như sóng dâng lên cuồn cuộn, hành giả tận hưởng chỗ thọ dụng này. Tuy nhiên, khi hành giả đến giai đoạn này, anh ta trở nên vướng mắc và hoàn toàn chìm đắm vào kinh nghiện kỳ diệu này. Do vậy, anh ta sẽ không tiến xa được, dầu có đẩy cũng không tiến tới, có kéo lại cũng chẳng thối lui. Kết quả là anh ta không thể nào để hết thân tâm mình vào công phu Thiền tập này được. Anh ta giống như một tên du thủ du thực khám phá được núi vàng. Trong khi biết rõ đó là vàng, tuy nhiên, anh ta không thể nào lấy nó đi và thọ dụng theo ý mình được. Việc này cổ nhân gọi là “Thủ bảo hán”. Theo Thiền sư Bác Sơn trong Bác Sơn Thiền Sư Ngữ Lục, người ấy toàn thân là bệnh, chứ chẳng phải là Thiền—A practitioner who can bring forth the “doubt-sensation” then conforms with the principle of the Dharmakaya, and the whole world turns into a vortex. Immersed in the tossing waves and surging billows, he will enjoy himself greatly. However, when the Zen practitioner reaches this state, he is apt to become attached to this wonderful experience which so fully absorbs him. Thus he will not progress farther, even if pushed; nor will he turn back, even if he is pulled down. Consequently, he cannot put all his body and mind into the Work. He is like a tramp (beggar) who has discovered a hill of gold. While knowing it clearly to be gold, he nevertheless cannot take it away with him and enjoy it at will. This is what the old Masters called “the treasure guard”. According to Zen Master Poshan in Zen Master Po-shan’s Records of

Teachings, such a man is sick through and through. This is not Zen.

Bảo Thủ Tỳ Kheo: Hiranyapani (skt)—Tên của một vị Tỳ Kheo ở Thiên Trúc, một trong những đệ tử của đức Phật—Name of a bhiksu in India, one of the disciples of the Buddha. Bảo Thụ: Jewel-tree—Cây quý nơi cõi Tịnh Độ— The jewel-trees of the Pure Land. Bảo Thụ Quán: Quán tưởng thấy cây báu, phép quán thứ tư trong thập lục quán—Visualization of precious trees, the fourth in the sixteen kinds of visualizations—See Thập Lục Quán. Bảo Thừa: Precious vehicle—The Mahayana—

Đại Thừa.

Bảo Thừa Pháp Hoa Kinh: The precious vehicle of the Lotus Sutra.

Bảo Tích: Ratna-rasi or Ratna-kuta (skt)—Kontsegs (tib)—Jewelled-accumulation. Bảo Tích Bàn Sơn Thiền Sư (720-814): P’anshan-Pao-chi—See Bàn Sơn Bảo Tích Thiền Sư. Bảo Tích Bồ Tát: Ratnakara-bodhisattva(skt)— The Bodhisattva Store of Treasures—Jewelledaccumulation Bodhisattva.

Bảo Tích Kinh: Ratna-kuta-sutra (skt)—Kinh Đại Bảo Tích—Gem-heap Sutra—See Kinh Đại Bửu Tích.

Bao Tích Phật: Ratnakara-buddha (skt)— Jewelled-accumulation Buddha—Vị Phật tụ tập các pháp bảo trang nghiêm như vô lậu căn lực— Buddha adorned with heaps of treasures, i.e. powers, truths.

Bảo Tích Trưởng Giả Tử: Son of the elders of Vaisali—Con của một vị trưởng giả trong thành Vaisali, người đã dâng tràng phan thất bảo lên Phật Thích Ca, rồi tán thán Đức Phật—The son of the elders of Vaisali, who are said to have offered canopies of the seven precious things to

Sakyamuni in praise of his teaching. Bảo Tinh Phật: Ratnaketu (skt)—See Bảo Tràng Như Lai.

Bảo Tính:

  1. Tên khác của Như Lai Tạng, ở trong chúng sanh phiền não mà chẳng hề mất tính chân như thanh tịnh—The precious nature, or Tathagatagarbha, underlying all phenomena, always pure despite phenomenal conditions.
  2. (?-1034): Tên của một vị Thiền sư Việt Nam đời thứ bảy tông Vô Ngôn Thông, quê ở Châu Minh, Bắc Việt—Name of a Vietnamese Zen master, of the seventh Wu-Yuan-T’ung lineage. He came from Chou-Ming, North Vietnam.

Bảo Tịnh (1899-1940): Master Pao-Ching—Tên của một vị Tăng Trung Hoa ở tỉnh Triết Giang vào thế kỷ thứ XX—Name of a Chinese monk in ChieJiang Province in the twentieth century.

Bảo Tòa: Precious throne.

Bảo Tồn: Maintenance—Preservation—

Conservation.

Bảo Tràng: Precious or Dharma banner

(curtain)—Torch of Truth.

Bảo Tràng Như Lai: Ratnaketu (skt)—Bảo Tinh Phật—Nam Phương Bảo Tướng Phật, một trong bảy vị Như Lai (hay bố thí cho ngạ quỷ, ngài trụ tại phương nam)—Ratnaketu Buddha in the South, one of the seven Tathagatas. Bảo Tràng Phật: See Bảo Tràng Như Lai.

Bảo Trì: Gìn giữ: To maintain—Ao Bát Công Đức Thủy nơi cõi Tịnh Độ: The precious lake of the eight virtuous characteristics in the Pure Land.

Bảo Trì Quán: Quán tưởng thấy bát công đức thủy, hay nước tám công đức (see Bát Công Đức Thủy)—Visualization of eight waters of merit and virtue—See Thập Lục Quán. Bảo Triệt Ma Cốc Cầm Gậy Nhiễu Giường: Ma Ku Carrying his Ring Staff—See Ma Cốc Trụ Trượng.

Bảo Triệt Ma Cốc Thiền Sư: Ma-yu-Pao-ch’ê— Mayu Baoche—See Ma Cốc Bảo Triệt Thiền Sư.

Bảo Triệt Ma Cốc Trụ Trượng: Bảo Triệt Ma Cốc Cầm Gậy Nhiễu Giường—Ma Ku Carrying his Ring Staff—See Ma Cốc Trụ Trượng.

Bảo Trụ Địa Ngục: Hell of Embracing Pillar.

Bảo Trượng: Ratnadandin (skt)—Precious staff.

Bảo Trượng Bồ Tát: Ratnadandin-bodhisattva (skt)—Precious staff Bodhisattva (the Bodhisattva of Precious Staff).

Bảo Tụ: Đạo Phật là tôn giáo tích tụ những gì quý báu nên gọi là Bảo Tụ—Jewel-collection; a collection of precious things, e.g. the Buddhist religion.

Bảo Tụ Tam Muội: Một trong 108 tam muội. Vào tam muội này hành giả thất tất cả cảnh giới đều làm bằng những gì quý báu nên gọi là Bảo Tụ— Jewel-collection samadhi, one of 108 kinds of samadhis. When practitioners enter this samdhi, they will see all realms are made of precious things.

Bảo Tùng (1892-1967): Master Pao-Ts’ung—Tên của một vị Tăng Trung Hoa ở tỉnh Phúc Kiến vào thế kỷ thứ XX—Name of a Chinese monk in FuJian Province in the twentieth century.

Bảo Tư Duy: Ratna-cinta (skt)—Precious reflection—Precious thought.

Bảo Tướng: Tượng Phật trang nghiêm—The precious likeness, or image of Buddha. Bảo Tướng Như Lai: See Bảo Tướng Phật. Bảo Tướng Phật: Maharatnaketou (skt)—Ratnaketu-raja (skt)—Jewel Appearance Buddha—1)

Một trong bảy Như Lai: One of the seven

Tathagatas; 2) Tên của vị Phật mà ngài A Nan sẽ thành trong tương lai: A name of Ananda as a future Buddha; 3) Tên Phật mà 2000 vị đệ tử của Phật sẽ thành sau nầy: The name under which 2,000 of sakyamuni’s disciples are to be reborn as Buddhas.

Bảo Tượng: Tượng Phật làm bằng trân bảo— Buddha statue or the statue of Buddha, made of precious jewels.

Bảo Uyên (466-526): Master Pao-juan—Tên của một vị Tăng Trung Hoa trong tỉnh Tứ Xuyên vào giữa thế kỷ thứ V và VI—Name of a Chinese monk in Si-chuan Province in the fifth and the sixth centuries.

Bảo Ứng Huệ Ngung: Bao-Ying-Hui-Yung (chi)—See Nam Viện Huệ Ngung Thiền Sư.

Bảo Vân (376-449): Ratnamegha (skt)—Jewel Cloud—Precious clouds—Bảo Vân là tên của một nhà sư Trung Quốc vào thời nhà Đông Tấn (317420), quê ở Lương Châu, đã du hành sang Ấn Độ vào khoảng năm 397 sau Tây Lịch, trở về Trường An, thị tịch năm 449, ở tuổi 74—Pao-Yun, a monk of Liang-Chou in the Eastern Chin dynasty, who travelled to India around 397 A.D., returned to Ch’ang-An, and died in 449, at the age of 74. Bảo Vân Kinh: Ratnamegha-sutra (skt)—Sutra on Precious clouds.

Bảo Vân Lỗ Tổ Thiền Sư: Lu-tsu Pao-yun—See Lỗ Tổ Bảo Vân Trì Châu Thiền Sư.

Bảo Võng: Indra-jala (skt)—Ratna-jala (skt)— Jewel Net of Indra—Còn gọi là Đế Võng hay Đế Thích Võng. Lưới bảo châu của trời Đế Thích hay chiếc màn lưới báu treo ở cung Đế Thích, là nơi khởi sanh chư pháp (các vị sư tông Hoa Nghiêm ví nó với duyên khởi trùng trùng vô tận của chư pháp). Còn là tên lời chú của các nhà ảo thuật Thiên Trúc, vì cùng lời chú nầy mà tất cả sự việc hiện ra. Hình ảnh nổi tiếng nầy được dùng để hiển thị sự sư vô ngại trùng trùng duyên khởi trong kinh Hoa Nghiêm—The net of Indra, or Indra’s net of gems, hanging in Indra’s hall, out of which all things can be produced; also the name of an incantation of Indian magicians considered allpowerful. This famous image is meant to describe the unimpeded interpenetration of all and everything in the Flower Adornment Sutra. Bảo Võng Bồ Tát: Indra-jala (skt)—Ratna-jala (skt)—Jewel Net of Indra.

Bảo Vực: Precious region—Trân Vực—Khu Vực quý báu, hay cõi Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà—The Pure Land of Amitabha.

Bảo Vương: Vua của Kho Báu: The precious King or King of Treasures—Một danh hiệu của Đức Phật: A title of Buddha—Vị Từ Tôn ngự trị trên lục địa về phía tây của núi Tu Di: The ruler of the continent west of Sumeru—Bảo Chủ: Jewel-lord, or Lord of jewels.

Bảo Vương Tam Muội: Buddha recollection samadhi—Đạt tới Bảo Vương Tam Muội do việc niệm Phật Tam Muội—The King of Treasures samadhi, achieved by fixing the mind on Buddha.

Bảo Xa: Xe quý (trâu trắng) mà Đức Phật đã nói đến trong Kinh Pháp Hoa, được ví với Nhất Thừa hay Đại Thừa—The precious cart (in the Lotus sutra), i.e. the one vehicle, the Mahayana. Bảo Xa Tam Muội: Ecstatic trance or samadhi of Sakyamuni—Samadhi of the precious place, the samadhi by which the Buddha dispensed His powers and riches to all beings. Bảo Xứ: Ratnakala (skt)—Precious abiding— Precious place—SeeBảo Phương.

Bảo Xứ Bồ Tát: Ratnakala-bodhisattva (skt)— Bảo Quang Bồ Tát—Bảo Tát Bồ Tát—Precious abiding Bodhisattva.

Bảo Xứ Tam Muội: Ratnakala-samadhi (skt)— Precious abiding concentration—Tam muội của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Đức Thế Tôn trụ vào tam muội nầy và từ đó Ngài bố thí tiền tài công đức cho chúng sanh—The samadhi of the precious place, the ecstatic trance of sakyamuni by which he dispensed powers and riches to all beings. Bảo Xướng: Master Pao-Siang—Tên của một vị Tăng Trung Hoa ở Giang Tô vào thời nhà

Lương—Name of a Chinese monk in Jiang-Ssu Province in the Liang dynasty (502-557).

Bảo Y: See Bảo Ý.

Bảo Ý: Ratnamati (skt)—Lặc Na Ma Đề—Còn gọi là Lặc Na Bà Đề, dịch là Bảo Ý, một vị Tăng người miền trung nước Thiên Trúc, vào khoảng năm 500 sau Tây Lịch, người đã dịch ba bộ kinh— A monk from Central India, around 500 A.D., who translated three works.

Bảo Hương: Circle-running exercise—Theo Thiền sư Hư Vân, tu “bảo hương” có nghĩa là chạy sau mỗi thời tọa thiền, chứ không đi giống như thiền hành. Khi có tiếng gõ bảng thình lình vang lên làm hiệu ngừng là mọi người phải dừng lại và đứng yên giống như những cây cột chết! Hành giả tu Thiền, hãy tưởng tượng mà xem, trong những tình huống như vậy còn có vọng tưởng hôn trầm nào có thể khởi lên được nữa?—According to Zan master Hsu-yun, to perform “circle-running exercise” means to run after each session of sitting meditation, not to walk like in walking meditation. When the warning board suddenly sounded its stopping signal, everybody must stop and stand still like so many dead poles! Zen practitioners, imagine, under these circumstances how can any drowsiness or distracting thoughts possibly arise? During the “circle-running exercise” you should hold your neck straight so that it touches the back of your collar, and follow the person ahead of you closely. Keep your mind calm and smooth. Do not turn your head to look around, but concentrate your mind on the head-phrase (hua-tou). Bão Kiều Trụ Tháo Tẩy: Hai tay ôm chặt cột cầu mà cùng lúc cũng muốn cọ rửa thân mình, không thể nào có được. Trong Thiền, từ nầy được dùng để chỉ người muốn lãnh ngộ tự thân mà cứ chấp chặt vào giáo điều—Two hands embrace the bridge pillar, but desiring to rub the body at the same time, the impossibilities. In Zen, the term is used to express someone who wants to achieve enlightenment, but at the same time, does not want to release the dogma. Bão Tang Khiếu Khuất: Tay ôm tang vật mà miệng kêu oan. Trong nhà Thiền, từ nầy để diễn tả sự biện giải vụng về—Claiming innocence with proof of fraud in hands. In Zen, the term is used to indicate an awkward reasoning.

Bão Tùng Lâm: Cửu Tham—Cựu Tham—Lão Tham—Người tham thiền học đạo lâu năm—A long-standing Zen practitioner.

Bạo Ác: Evil and brutal.

Bạo Bịnh Bạo Tử: Grave illness and sudden death.

Bạo Tử: Sudden death.

Bát: Attha (p)—Asta (skt)—Hatsu (jap)—Eight.

Bát Ác Giác: Tám loại ác giác: dục giác, sân giác, não giác, thân lý giác (nhớ nhà), quốc độ giác (ái quốc hay nghĩ đến sự lợi ích của quốc gia), bất tử giác (không thích cái chết), tộc tính giác (vì cao vọng cho dòng họ), khinh vụ giác (khi dễ hay thô lỗ với người khác)—Eight wrong perceptions of thought: desire, hatred, vexation with others, home-sickness, patriotism or thoughts of the country’s welfare, dislike of death, ambition for one’s clan or family, and slighting or being rude to others.

Bát Âm: Tám âm thanh của Phật: cực hảo âm, nhu nhuyễn âm, hòa thích âm, tôn huệ âm, bất nữ âm, bất ngộ âm, thâm viễn âm, và bất kiệt âm— Eight qualities of tones, or the eight tones of a Buddha’s voice: beautiful voice, flexible voice, harmonious voice, respect-producing voice, not effaminate voice, unerring voice, deep voice, and resonant voice.

Bát Ba La Di: Parajika (skt)—Eight misbehaviors—Eight grave prohibitions or sins— Bát Đọa—Bát Cực Trọng Cảm Đọa Tội: sát sanh, trộm cắp, ta dâm, vọng ngữ, phế bỏ chánh pháp, phế bỏ bồ đề tâm, ích kỷ trong việc hoằng pháp, và làm tổn hại chúng sanh. Bên cạnh đó, vị tỳ kheo ni bị cấm rờ rẩm, đẩy kéo một người đàn ông; cấm đến gần, nói chuyện, hoặc hẹn hò với một người đàn ông; cấm dấu tội nặng của một ni cô khác; cấm a tòng theo một ni cô khác phạm đại giới—Eight serious sins: killing, stealing, sexual misconduct, lying, discarding the truth, discarding the Bodhi-mind, being mean or selfish in regard to the supreme law, and injuring the living. Besides, a nun should not engage in the action of rubbing, touching, and pressing against a male person; should not approach a man, standing near him, holding a talk with him, or suggesting to go a rendez-vous (date) with him; should not conceal (hide) parajika offences of some other nuns; and should not join in (following) another Bhikhuni who has committed a parajika offence.

Bát Bảo Vô Giá: Eight priceless things.

Bát Bất Chánh Kiến: The eight incorrect views—Bát Tà Kiến.

Bát Bất Định: Eight changeable mental factors— Tám yếu tố khiến tâm bất định. Bát Bất Hiển Thực: The eight negations of the Madhyamika Doctrine—See Bát Bất Trung Đạo. Bát Bất Khả Việt: Tám điều không thể vượt qua được—Eight untranscendables. Bát Bất Nhàn: Eight kinds of no rest—Tám loại náo loạn.

Bát Bất Sinh Pháp: Anutpattikadharma (skt)— Theo Kinh Lăng Già, có tám cách mà quan niệm vô sinh được thiết lập. Khi tám ý niệm về vô sinh nầy được thể chứng thì người ta đạt tới cái nhận biết về sự vô sanh của vạn hữu. Thứ nhất, chư pháp hay các sự vật chưa từng được sinh ra vì ý niệm sinh và diệt không tồn tại trong thực tính. Thứ nhì, từ cái đi trước mà có cái sau, và không có phân biệt nào giữa những cái trước và những cái sau, cũng như không có sự khởi đầu tuyệt đối nào có thể được quy cho sự vật. Thứ ba, nếu bất cứ sự vật nào đã hiện hữu ở đây, thì không có cái gì có thể thay thế nó được trừ phi chúng ta tự cho rằng có sự phát nguồn độc lập, điều nầy không thể xãy ra được (theo 12 nhân duyên thì không có cái gì được gọi là sự phát nguồn độc lập cả). Thứ tư, ý niệm về tự tính phát xuất từ sự tưởng tượng, là thứ không được đặt căn bản trên thực tính. Thứ năm, do bởi sự tùy thuộc tương đối hay y tha khởi hay duyên khởi tính (paratantra) mà chúng ta tin là nguồn gốc tự nhiên, nhưng thực ra không có cái gì có thể được gọi là tự tính. Thứ sáu, sự nhất tính tuyệt đối của trí tuệ toàn hảo hay trí viên thành (parinishpanna) loại trừ cái ý niệm về dị biệt. Thứ bảy, khi cái trí của sự đoạn diệt hoàn toàn (kshayajnana) được thể chứng thì sẽ không bao giờ còn sự xác định về các phiền não nữa. Thứ tám, trong Pháp thân của tất cả chư Phật có cái nhất thể toàn hảo và không có sự cá biệt nào phân khác cả—According to Lankavatara Sutra, there are eight ways in which the conception of no-birth is established. When this eightfold notion of nobirth is realized, one attains the recognition of the birthlessness of all things. First, things have never born because the idea of birth-and-death does not obtain in reality. Second, from that which precedes there is that which follows, and there is no difference between antecedents and consequents, and no absolute beginning can be assigned to anything. Third, if anything is already here, nothing else can take its place unless we assume an independent origin, which is impossible. Fourth, the notion of self-substance which is not based on reality. Fifth, because of relative dependence or paratantra, we assume natural origin, but in reality there is nothing that can be called self-substance. Sixth, the absolute oneness of perfect knowledge or parinishpanna excludes the idea of otherness. Seventh, when the knowledge of complete destruction or kshayajnana is realized, there is never again the assertion of evil passions. Eighth, in the Dharmakaya of all Buddhas there is perfect unity, and no differentiating individuation.

Bát Bất Tịnh: Eight unclean things—Eight impure things—See Tám Điều Bất Tịnh Cho Kẻ Xuất Gia.

Bát Bất Trung Đạo: Eight mental complications.

  1. Tổng quan về Bát Bất Trung Đạo—An overview of Eight mental fabrications: Tám phủ định của Ngài Long Thọ, người sáng lập ra Tam Luận Tông. Bát Bất Trung Đạo phủ nhận tất cả những sắc thái hiện hữu. Sự thực Bát Bất Trung Đạo không có một mục đích nào cả. Chúng ta có thể xem nó như một móc tréo càn quét tất cả tám thứ sai lầm gắn liền với thế giới hiện thể, hay sự đào thải hỗ tương của bốn cặp thiên kiến, hay một chuỗi dài

biện luận nhằm gạt bỏ từ sai lầm nầy đến sai lầm khác. Theo cách nầy tất cả những biện biệt về ‘tự’ hay ‘tha,’ về ‘bỉ’ hay ‘thử’ đều đều bị tuyệt diệt—Middle School (the same as ten negations except the last pair). In the Eight Negations, all specific features of becoming are denied. The fact that there are just eight negations has no specific purport; this is meant to be a whole negation. It may be taken as a crosswise sweeping away of all eight errors attached to the world of becoming, or a reciprocal rejection of the four pairs of one-sided views, or a lengthwise general thrusting aside of the errors one after the other. In this way, all discriminations of oneself and another or this and that are done away with.

  1. Cách giải thích thứ nhất: Thứ nhất và thứ nhì, Bất Sanh Bất Diệt (2). Bất sanh diệc bất diệt (không sanh không diệt), nghĩa là không có khởi cũng không có diệt; phá hủy ý niệm khởi bằng ý niệm diệt. Thứ ba và thứ tư, Bất Đoạn Bất Thường (2). Bất đoạn diệc bất thường (không đoạn không thường), nghĩa là không có trường cửu cũng không có bất trường cửu; phá hủy ý niệm về ‘thường’ bằng ‘đoạn.’ Thứ năm và thứ sáu, Bất Nhất Bất Dị (2). Bất nhất diệc bất dị (không giống không khác), nghĩa là không có thống nhất cũng không có phân ly; phá hủy ý niệm về ‘nhất’ bằng ‘dị.’ Thứ bảy và thứ tám, Bất Lai Bất Khứ (2). Bất lai diệc bất khứ (không đến không đi), phá hủy ý niệm về diệt bằng ý niệm ‘đến,’ nghĩa là không có đến mà cũng không có đi; phá hủy ý niệm ‘đến’ bằng ý niệm ‘đi.’—The first explanations: First and second, neither birth nor death. There nothing appears, nothing disappears, meaning there is neither origination nor cessation; refuting the idea of appearing or birth by the idea of disappearance. Third and fourth, neither end nor permanence. There nothing has an end, nothing is eternal, meaning neither permanence nor impermanence; refuting the idea of ‘permanence’ by the idea of

‘destruction.’ Fifth and sixth, Neither identity nor difference. Nothing is identical with itself, nor is there anything differentiated, meaning neither unity nor diversity; refuting the idea of ‘unity’ by the idea of ‘diversity.’ Seventh and eighth, neither coming nor going. Nothing comes, nothing goes, refuting the idea of ‘disappearance’ by the idea of ‘come,’ meaning neither coming-in nor going-out;

refuting the idea of ‘come’ by the idea of

‘go.’

  1. Cách giải thích thứ nhì của bát bất trung đạo: không thủ tiêu, không sinh, không diệt, không vĩnh hằng, không thống nhất, không đa dạng, không đến, không đi—The second explanations of Eight mental complications: no elimination (nirodha), no produce, no destruction, no eternity, no unity (not one), no manifoldness (not many), no arriving(not coming), and no departure (not going).
  2. Tám thứ phức tạp của tâm: bất thủy, bất chung, bất đoạn, bất thường, bất khứ, bất lai, bất phân ly, bất bất phân ly—Eight mental fabrications: without a beginning, without a cessation, without nihilism, without eternalism, without going, without coming, not being separate, not being non-separate. Bát Bất Trung Đạo Quán: Thiền quán về tám phủ định—Meditation on the eight negations— See Bát Bất Trung Đạo.

Bát Bất Tư Nghì: The eight inexpressibles or things surpassing thought—See Bát Kính Giới.

Bát Bất Văn Thời Tiết: Nói tám lần mà người ta vẫn không nghe—Eight times when one doesn’t hear.

Bát Biến Hóa: Tám loại biến hóa hay tám thần thông biến hóa của chư Phật: Thứ nhất là năng tiểu (Animan (skt), có khả năng làm cho nhỏ lại được. Thứ nhì là năng đại (Mahiman (skt), có khả năng làm cho lớn ra được. Thứ ba là năng khinh (Laghiman (skt), có khả năng làm cho nhẹ đi được. Thứ tư là năng tự tại (Vasitva (skt), có khả năng làm cho tự tại được. Thứ năm là năng hữu chủ (Isitva (skt), có khả năng làm cho có quyền vô hạn ở khắp mọi nơi và trên mọi vật. Thứ sáu là năng viễn chí (Prapti (skt), có khả năng đến nơi xa được hay như ý thân. Thứ bảy là năng động, có khả năng làm cho động được. Thứ tám là tùy ý (Prakamya (skt), có khả năng làm tùy theo ý mình—Eight supernatural powers of transformation, characteristics of every Buddha:

First, to shrink self or others (to make self or others smaller), or the world and all things to an atom. Second, to enlarge self or others (to make self or others larger than anything in the world), or the world and all things to fill all space. Third, to make self or others, or the world and all things light as a feather (to make self or others lighter). Fourth, to make self or others any size or anywhere at will. To make everything depends upon oneself, all at will. Fifth, to make everywhere and everthing to be omnipotent. To be able to control all natural laws. Sixth, to be anywhere at will, either by self-transportation or by bringing the destination to himself. To reach any place at will. Seventh, the be able to shake all things. Eighth, to be one or many and at will pass through the solid or through space, or through fire or water, or tranform the four elements at will, i.e. turn earth into water (to be able to assume any shape).

Bát Biện: Tám tài hùng biện của Đức Như Lai— Tám đặc tính của Phật trong lúc nói: bất tê hát biện (không la ó hò hét), bất mê loạn biện (không mê mờ loạn động), bất bố biện (biện luận không tỏ vẻ khiếp sợ), bất kiêu mạn biện (biện luận không tỏ vẻ kiêu mạn), nghĩa cụ túc biện (biện luận với đầy đủ ý nghĩa), vị cụ túc biện (biện luận với đầy đủ hương vị ý vị), bất chuyết sáp biện (biện luận lưu loát, chẳng vụng về cứng nhắt), và ứng thì phân biệt (biện luận đúng lúc đúng thời)— Eight characteristics of a Buddha’s speaking: never hectoring, never misleading or confused, fearless, never haughty, perfect in meaning, perfect in flavor, free from harshness, and seasonable or suited to the occasion. Bát Bố Thí: Eight kinds of charity (dana)—Eight kinds of almsgiving—See Bát Chủng Bố Thí. Bát Bộ: The eight groups of demon—See Thiên Long Bát Bộ.

Bát Bộ Kim Cang: Eight classes of supernatural beings in the Lotus Sutra—Tám chúng sanh siêu nhân trong Kinh Liên Hoa: thiên, long, dạ xoa, càn thát bà, a tu la, ca lâu la, khẩn na la, ma hầu la già—The Eight Vajra Deities: deva, naga, yaksa, gandharva, asura, gadura, kinnara, mahoraga. Bát Bộ Lực Sĩ: Samkara (skt)—Sankara (p)— Thương Yết La—Còn gọi là Cốt Tỏa Thiên, hóa thân của Tự Tại Thiên—The bone-chain deva— See Cốt Tỏa Thiên.

Bát Bộ Quỷ Chúng: See Thiên Long Bát Bộ. Bát Bối Xả: Tám bậc giải thoát—Eight stages of release.

Bát Bối Xả Quán: See Bát Giải Thoát Tam Muội.

Bát Bổng: Tám loại gậy—Eight kinds of staff— Giải lệnh chỉ huyền bổng (gậy phạt), tiếp cơ tùng chính bổng (gậy đáng đánh thì đánh), khảo huyền thương chính bổng (gậy phạt người ưa việc lạ lùng làm tổn thương chánh lý), ấn thuận tông chỉ bổng (gậy thưởng người học tương ưng với tông chỉ của Thầy), thử nghiệm hư thực bổng (gậy không thưởng không phạt, vừa thấy liền đánh để thử sức tu hành của đệ tử), manh gia hạt bổng (gậy đánh bậy vì không sáng mắt), khổ trách ngu si bổng (gậy trách mắng người học ngu si), và tảo trừ phàm thánh bổng (gậy đánh để quét sạch phàm thánh).

Bát Cát Đế: Prakrti (skt)—1) Đàn bà: Woman; 2)

Tên nàng Bát Cát Đế tại giếng nước đã dụ dỗ ngài

A Nan, nhưng sau nầy trở thành một Ni Sư: Prakrti, name of the woman at the well who supplied water to Ananda, seduced him, but later became a nun.

Bát Cát Tường: Astamangala (skt)—Eight auspicious things—Eight great fortunes—Eight auspicious symbols—Tám biểu tượng cát tường— Tám biểu tượng tốt đẹp—Bát Kiết Tường: dù (cao thượng), song ngư (chuyển luân vương), tù và (chiến thắng), hoa sen (thanh khiết), bình thánh thủy (bất tử), cờ chiến thắng (kiểm soát tâm), nút vô tận, pháp luân—Eight good symbols: parasol, two fish, conch shell, lotus blossom, vase of sacred water, banner of victory, knot of eternity, wheel of teaching.

Bát Câu Nghĩa: Tám nguyên tắc căn bản, của trực giác hay liên hệ trực tiếp với tâm linh của trường phái Thiền Tông: Chánh Pháp Nhãn Tạng, Niết Bàn Diệu Tâm, Thực Tướng Vô Tướng, Vi Diệu Pháp Môn, Bất Lập Văn Tự, Giáo Ngoại Biệt Truyền, Trực Chỉ Nhân Tâm, Kiến Tánh Thành Phật. Nancy Wilson Ross viết trong quyển ‘Thế Giới Thiền’: “Mặc dầu Thiền được các môn đồ xem như là một tôn giáo, trong Thiền không hề có những kinh điển thiêng liêng làm luật, không có sách thánh truyền, không có giáo điều cứng nhắc, không có đấng Cứu Thế, không có đấng Thiêng Liêng có thể gia ân và ban cho chúng ta sự cứu rỗi. Không có những nét biểu trưng rất phổ biến ở các hệ thống tôn giáo khác. Thiền có phong vị tự do, và được một số lớn người đương thời cảm thụ. Hơn nữa, với mục tiêu đã được nhắm là dùng những phương pháp đặc biệt để mang lại sự tự hiểu biết sâu sắc về bản thân của mỗi người để mang lại bình an cho tâm thức, Thiền đã lôi cuốn được sự chú ý của nhiều nhà tâm lý học phương Tây. Khó khăn lớn nhất của Tây phương khi thảo luận về ý nghĩa của Thiền là làm sao giải thích ‘Thiền vận hành như thế nào.’ Thiền đặc biệt nhấn mạnh đến việc giáo huấn Thiền nằm ngoài ngôn từ:

‘Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự.

Trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật.’

Để biết rõ về Thiền, và ngay cả để bắt đầu hiểu

Thiền, cần phải tu tập ngay.”—The eight fundamental principles, intuitional or relating to direct mental vision of the Zen School: Correct Law Eye-Treasury; Nirvana of Wonderful and Profound Mind (see Diệu Tâm); Reality is nullity; the Door of Abhidharma; it is not relying on books, or not established on words; it is a special transmission outside the teachings; it points directly to the human mind; through it one sees one’s own nature and becomes a Buddha. Nancy Wilson Ross wrote in The World of Zen: “Zen, although considered a religion by its followers, has no sacred scriptures whose words are law; no fixed canon; no rigid dogma; no Savior or Divine Being through whose favor or intercession one’s eventual Salvation is assured. The absence of attributes common to all other religious systems lends Zen a certain air of freedom to which many modern people respond. Furthermore, Zen’s stated aim of bringing about, through the employment of its special methods, a high degree of knowledge with a resultant gain of peace of mind has caught the attention of certain Western psychologists… The gravest obstacle in discussing Zen’s possible meaning for the West os the difficulty of explaining ‘How it works.’ In its own four statements, Zen emphasizes particularly that its teaching lies beyond and outside words:

‘A special transmission outside the Scriptures;

No dependence upon words and letters;

Direct pointing to the soul of man;

Seeing into one’s nature and the attainment of Buddhahood.’

To know Zen, even to begin to understand it, it is

necessary to practice it.”

Bát Chánh: Sammatta (p)—Eight right factors— See Bát Chánh Đạo.

Bát Chánh Đạo: Astangika-marga (skt)— Ashtangika-Magga (p)—The noble Eightfold Path—Eight sagely way shares—Bát Đạo Phần Thánh Thiện—Bát Thánh Đạo—Bát Thánh Đạo Phần—Tám con đường đúng.

  1. Bát Chánh Đạo, con đường dẫn tới sự chấm dứt đau khổ, mục đích của diệu đế thứ ba trong tứ diệu đế (Đạo đế). Bát Chánh Đạo là tám nẻo trong 37 nẻo bồ đề. Thứ nhất là Chánh Kiến hay hiểu đúng (Samyag-drsti (skt)—Samma-ditthi (p). Chánh kiến là nhận thấy một cách khách quan ngay thẳng; thấy thế nào thì ghi đúng thế ấy, không bị thành kiến hoặc tình cảm ảnh hưởng mà làm cho sự nhận xét bị sai lệch; biết phân biệt cái thật cái giả; nhận thức đạo lý chân chánh để tiến tới tu hành giải thoát. Thứ nhì là Chánh Tư Duy hay nghĩ đúng (Samyag-samkalpa (skt)—Sammsakappa (p). Chánh tư duy là suy nghĩ đúng với lẽ phải, có lợi cho mình, và có lợi cho người khác. Suy nghĩ những hành vi lầm lỗi, những tâm niệm xấu xa cần phải cải sửa. Suy nghĩ giới định tuệ để tu tập giải thoát. Suy xét vô minh là nguyên nhân của mọi sự đau khổ, là nguồn gốc của mọi tội ác; suy nghĩ tìm phương pháp đúng để tu hành giải thoát cho mình và cho người. Thứ ba là Chánh Ngữ hay nói đúng (Samyag-vac (skt)—Samma-vaca

(p). Chánh ngữ là nói lời thành thật và sáng suốt, nói hợp lý, nói không thiên vị, nói thẳng chứ không nói xéo hay xuyên tạc, nói lời thận trọng và hòa nhã; nói lời không tổn hại và có lợi ích chung. Thứ tư là Chánh Nghiệp hay làm đúng (Samyag-karmanta (skt)—Sammkammanta (p). Chánh nghiệp là hành động chân chánh, đúng với lẽ phải, có ích lợi chung. Luôn luôn hành động trong sự tôn trọng hạnh phúc chung; tôn trọng lương tâm nghề nghiệp của mình; không làm tổn hại đến quyền lợi, nghề nghiệp, địa vị, danh dự, và tính mạng của người khác; giữ gìn thân khẩu ý bằng cách luôn tu tập mười nghiệp lành và nhổ dứt mười nghiệp dữ. Thứ năm là Chánh Mạng hay mưu sinh đúng (Samyag-ajiva (skt)—Samma-ajiva (p). Chánh mạng có nghĩa là sinh sống chân chính và lương thiện; không làm giàu trên mồ hôi nước mắt của người khác; không đối xử tệ bạc với người khác; không sống bám vào người khác; không mê tín dị đoan; không sống bằng miệng lưỡi mối lái để kiếm lợi. Thứ sáu là Chánh Tinh Tấn hay nỗ lực đúng (Samyag-vyayama (skt)—Samma-vayama (p). Chánh tinh tấn có nghĩa là chuyên cần siêng năng làm lợi mình và lợi người; không làm những việc bất chính như sát hại, gian xảo, đàng điếm, cờ bạc, ác độc và bỉ ổi, vân vân; ngược lại phải chú tâm làm những việc lành, tạo phước nghiệp. Thứ bảy là Chánh Niệm hay chú tâm đúng (Samyag-smrti (skt)—Samma-sati (p). Chánh niệm là nhớ đến những điều hay lẽ phải, những điều lợi lạc cho mình và cho người. Thứ tám là Chánh Định hay tập trung tư tưởng

đúng (Samyag-samadhi (skt)—Sammasamadhi (p). Chánh định là tập trung tư tưởng đúng là tập trung vào việc từ bỏ những điều bất thiện và tập trung tinh thần được hoàn tất trong bốn giai đoạn thiền định. Tu tập Bát Chánh Đạo sẽ đưa đến những lợi ích thực sự như tự cải tạo tự thân, vì tu bát chánh đạo là sửa đổi mọi bất chính, sửa đổi mọi tội lỗi trong đời sống hiện tại, đồng thời còn tạo cho thân mình có một đời sống chân chánh, lợi ích và thiện mỹ; cải tạo hoàn cảnh vì nếu ai cũng tu bát chánh đạo thì cảnh thế gian sẽ an lành tịnh lạc, không còn cảnh khổ đau bất hạnh gây nên bởi hận thù, tranh chấp hay chiến tranh giữa người với người, giữa nước nầy với nước kia, hay chủng tộc nầy với chủng tộc khác, ngược lại lúc đó thanh bình sẽ vĩnh viễn ngự trị trên quả đất nầy; tu bát chánh đạo còn là căn bản đầu tiên cho sự giác ngộ, là nền tảng chánh giác, là căn bản giải thoát, ngày nay tu bát chánh đạo là gieo trồng cho mình những hạt giống Bồ Đề để ngày sau gặt hái quả Niết Bàn Vô Thượng—The eight right (correct) ways. The path leading to release from suffering, the goal of the third in the four noble truths. These are eight in the 37 bodhi ways to enlightenment: First, right view is viewing things objectively; seeing them and reporting them exactly as they are without being influenced by prejudice or emotion. Right view helps differentiate the true from the false, and determines the true religious path for attaining liberation. Second, right thought means that our reflection must be consistent with common sense, useful both to others and ourselves. We must strive to correct our faults, or change our wicked opinions. While meditating on the noble formula of “Precept, Concentration, and Wisdom,” we must realize that ‘ignorance’ is the main cause of suffering, the root of all wicked acts; therefore, we must look for a way to get rid of suffering for us and for others. Third, correct or right speech or perfect speech. Right speech implies sincere, sound, impartial, direct, not distorting, cautious, affable, harmless, useful words and discourses. Fourth, right action involves action beneficial to both others and ourselves. We must always act for the happiness of the community, conforming to our sense of duty, without any ulterior motive for damaging others’ interests, occupations, positions, honors, or lives. We must also keep strict control of our “action, speech, and mind,” carrying out ten meritorious actions and avoiding ten evil ones. Fifth, right livelihood means to lead a decent and honest life. We must keep from exploiting or mistreating others or sponging on them. Do not be superstitious; do not act as a go-between to take profit. Sixth, right effort means we must be always hard-working, helpful to others and ourselves. Do not kill, cheat, or lead a wanton, gamble life. On the contrary, always try to perform good deeds for having good karma. Seventh, right mindfulness means to give heed to good deed for our own benefit and that of others. Eighth, correct (right or perfect) meditation or correct concentration. Detached from sensual objects, detached from unwholesome things, and enters into the first, second, third and fourth absorption. Practicing the Noble Eight-fold Path can bring about real advantages such as improvement of personal conditions. It is due to the elimination of all evil thoughts, words, and actions that we may commit in our daily life, and to the continuing practice of charitable work; improvement of living conditions. If everyone practiced this noble path, the world we are living now would be devoid of all miseries and sufferings caused by hatred, struggle, and war between men and men, countries and countries, or peoples and peoples. Peace would reign forever on earth; attainment of enlightenment or Bodhi Awareness. The Noble Eigh-fold Path is the first basic condition for attaining Bodhi Consciousness that is untarnished while Alaya Consciousness is still defiled

  1. Bát Chánh Đạo và hành giả tu thiền—The noble Eightfold Path and Zen practitioners: Hành giả tu thiền nên luôn nhớ một cách đơn giản rằng Bát Thánh Đạo chính là thấy đúng, suy nghĩ đúng, nói năng đúng, hành động đúng, sống đúng, nỗ lực đúng, ghi nhớ đúng, và thiền định đúng. Chánh kiến là từ bỏ cách nhìn hướng về cái ngã của các sự vật và có cái thấy như thật của Đức Phật, nghĩa là vạn sự vạn vật không có tự tánh, không độc lập, mà hiện hữu do sự tổng hợp của nhau, cái này có thì cái kia có, cái này không thì cái kia không. Chánh tư duy là không thiên về thái độ quy ngã đối với sự vật, mà suy nghĩ về sự vật một cách đúng đắn. Chánh tư duy dạy chúng ta từ bỏ ba cái xấu để có được cái tâm độ lượng như tâm Phật: không tham muốn hay chỉ nghĩ đến sự thủ đắc cho riêng mình; không giận ghét hay không ưa thích khi sự việc xảy ra không như ý mình muốn; và không ác độc hay muốn được theo ý mình trong mọi sự. Chánh ngữ dạy chúng ta sử dụng ngôn từ đúng đắn trong đời sống hằng ngày và tránh bốn thứ xấu ác về miệng như nói dối, nói lưỡi hai chiều, nói lời vu khống và nói lời không cẩn thận. Chánh nghiệp là sự ứng xử hằng ngày phù hợp với giới luật của Đức Phật, nghĩa là phải kềm chế ba điều xấu nơi thân, làm trở ngại cho những hành động đúng như sát hại không cần thiết, trộm cắp, và tà dâm. Chánh mạng là thu hoạch thức ăn, quần áo, nhà cửa và các nhu cầu khác trong cuộc sống một cách đúng đắn. Chánh mạng dạy chúng ta kiếm sống bằng công việc không phiền khổ

cho người khác hay những nghề vô ích cho xã hội, mà phải sống bằng sự thu nhập chính đáng bằng nghề nghiệp chính đáng và có ích cho người khác. Chánh tinh tấn là luôn hành sử đúng đắn, không lười biếng hay đi lệnh khỏi con đường chân chánh, tránh những sai lầm như ba điều xấu về ý, bốn điều xấu về miệng và ba điều xấu về thân. Chánh niệm là tu tập bằng cái tâm đúng đắn như Đức Phật đã tu tập, nghĩa là chúng ta phải chú tâm vào vạn sự vạn vật trong vũ trụ bằng cái tâm thanh tịnh và chính đáng. Cuối cùng là chánh định, nghĩa là luôn luôn không bị dao động vì những thay đổi của hoàn cảnh bên ngoài— Zen practitioners should always remember that the eightfold noble path consists in right view, right thinking, right speech, right action, right living, right endeavor, right memory, and right meditation. Right view means to abandon a self-centered way of looking at things and to have a right view of the Buddha, that is “Nothing has its own self; everything exists due to temporary combination. If this exists, the other exists; if this ceases to exist, the other is in no way to be able to exist.” Right thinking means not to include toward a self-centered attitude toward things but to think of things rightly. Right view teaches us to abandon the three evils of the mind such as coveteousness, resentment, and evilmindedness; and to think of things rightly, with as generous a mind as the Buddha: not to have greedy mind (coveteousness) or not to think only of one’s own gain; not to have the angry mind (resentment) or not to get angry when things do not turn out as one wishes; not to have the evil mind (evil-mindedness). Right speech teaches us to use right words in our daily lives and to avoid the four evils of the mouth such as not to lie (to use false language), not to speak with a double tongue, not to commit ill-speaking, and not to use improper language (careless language). Right action means daily conduct in accordance with the precepts of the Buddha. It is to say one must refrain from the three evils of the body that hinder right action such as needless killing, stealing, and committing adultery or other sexual misconduct. Right living means to gain food, clothing, shelter, and other necessities of life in a right way. Right living teaches us not to earn our livelihood through work that makes trouble for others or through a career useless to society, but to live on a justifiable income that we can obtain through right work and a vocation useful to others. Right endeavor means to engage constantly in right conduct without being idle or deviating from the right way, avoid such wrongs as the three evils of the mind, the evils of the mouth, and the three evils of the body. Right memory means to practice with a right mind as the Buddha did, that is, we must address ourselves to all things in the universe with a fair and right mind. And finally, right meditation means not to be agitated by any change of external circumstances.

Bát Chi: Eight stems—Tám tông phái.

Bát Chi Trai: See Bát Quan Trai.

Bát Chỉ Đầu Đà (1851-1912): Tên của một vị

Tăng Trung Hoa ở Hồ Nam vào thời nhà Thanh— Name of a Chinese monk in Hu-nan Province in the Ch’ing dynasty (1644-1912). Bát Chu: Pratyutpanna (skt)—Hiện tiền (chư Phật hiện tiền)—Present.

Bát Chu Đại Tạng: Panduka(skt)—Một trong bốn đại tạng của xứ Tỳ Đề Ha (tên gọi khác của thành Tỳ Xá Lê và vùng phụ cận Mathava bây giờ)—One of the four great tripitakas of Videha (another name for Vaisali and the region near Mathava).

Bát Chu Tam Muội: Pratyutpanna Samadhi (skt)—Constantly Walking Samadhi—Bát Chu có nghĩa là “Phật lập.” Hành trì môn tam muội nầy có ba oai lực phù trợ: Oai lực của Phật, oai lực của pháp tam muội, và oai lực công đức của người tu. Khi thực hành Bát Chu Tam Muội, phải lấy chín mươi ngày làm một định kỳ. Trong thời gian ấy, ngày đêm hành giả chỉ đứng hoặc đi, tưởng Đức Phật A Di Đà hiện thân đứng trên đảnh mình đủ ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp; hay miệng thường niệm danh hiệu Phật, tâm thường tưởng Phật không xen hở. Khi công thành trong tam muội hành giả thấy Đức Phật A Di Đà và chư Phật mười phương hiện ra đứng trước mình khuyến tấn khen ngợi. Bát Chu Tam Muội cũng gọi là “Thường Hành Đạo.” Người tu khi đi, mỗi bước mỗi tiếng đều không rời danh hiệu Phật, ba nghiệp hành trì không gián đoạn như dòng nước chảy. Pháp nầy công đức rất cao, song chỉ bậc thượng căn mới kham tu trì, hạng người trung hạ và tinh lực yếu kém không thể thực hành nổi—When practicing this samadhi, the cultivator has three powers to assist him: the power of Amitabha Buddha, the power of the samadhi and the power of his own virtues. The unit of practice of this samadhi should be ninety days. In that span of time, day and night the practitioner just stands or walks around, visualizing Amitabha Buddha appearing as a body standing on the practitioner’s crown, replete with the thirty-two auspicious marks and the eighty beautiful characteristics. He may also recite Amitabha Buddha’s name continuously, while constantly visualizing Him. When practice is perfected, the cultivator, in samadhi, can see Amitabh Buddha and the

Buddhas of the ten directions standing in front of him, praising and encouraging him. Pratyupanna is also called the “Constantly Walking Samadhi.” As the practitioner walks, each step, each word is inseparable from the name of Amitabha Buddha. His body, speech and mind are always practicing Buddha Recitation without interruption, like a continuous flow of water. This method brings very lofty benefits, but only those of high capacity have the endurance to practice it. Those of limited or moderate capacities or lacking in energy cannot pursue this difficult practice.

Bát Chu Tam Muội Kinh:

Pratyutpannabuddhasammukha-VasthitasamadhiSutra—Sutra on the samadhi of all Buddhas’ Appearance—See Kinh Bát Châu Tam Muội.

Bát Chu Tán: Hymns on the pratyutpannasamadhi—Bài tụng được ngài Thiện Đạo biên soạn để tán thán công đức của đức Phật A Di Đà, và giải thích những thứ khác như sự thọ hình ở địa ngục, sự an lạc ở Tây phương Cực lạc và làm cách nào để được sanh về cõi này—The hymns composed by Shan Tao which eulogize Amitabha’s virtue and explain, among other things, torment in hells, pleasure in Western Pure Land, and the method of attaining birth there— See Bát Chu Tam Muội.

Bát Chúng: Eight assemblies—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có tám chúng: sát đế lợi, bà la môn, gia chủ, sa môn, tứ đại thiên vương, tam thập tam thiên, thiên ma, và phạm thiên— According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are eight assemblies: khattiyas, brahmains, householders, ascetics, devas of the realm of the four great kings, the thirty-three gods, maras, and Brahmas. Bát Chủng Bất Tịnh Chi Vật: Eight kinds of impure things—Tám thứ không thanh khiết—See Tám Điều Bất Tịnh Cho Kẻ Xuất Gia.

Bát Chủng Bố Thí:

  1. Theo Câu Xá Luận, có tám loại bố thí: tùy chí thí (chỉ bố thí được sự tiện ích ở chỗ gần, có người đến nên bố thí), bố úy thí (vì sợ mà bố thí, vì sợ tai ách mà bố thí), báo ân thí (bố thí để trả ân hay vì người ấy đã cho tôi nên tôi bố thí lại), cầu báo thí (bố thí với ý mong cầu được báo đáp về sau nầy), tập tục thí (bố thí vì thể theo tập tục của tổ tiên cha ông hay vì nghĩ rằng bố thí là tốt), hỷ Thiên thí (vì mong được sanh lên cõi trời mà bố thí), yếu danh thí (vì danh tiếng mà bố thí (nghĩ rằng bố thí sẽ có tiếng đồn tốt), công đức thí (bố thí để giúp cho tâm được trang nghiêm, tập hạnh buông xả và dọn đường cho công cuộc tu hành giải thoát)—According to the Kosa Sastra, there are eight causes of dana or giving: giving of convenience or to those who come for aid (one gives as occasion offers), giving out of fear (giving for fear of evil, one gives from fear), giving out of gratitude (giving in return for kindness received, one gives, thinking: “He gave something.”), seeking-reward (giving or anticipating gifts in return, one gives, thinking: “I give him something now, he will give me back something in the future.”), giving because of tradition or custom (continuing the parental example of giving; one gives, thinking: “It is good to give.”), giving because of hoping to be reborn in a particular heaven, giving for gaining name and fame (giving in hope of an honoured name, one gives, thinking: “If I make this gift I shall acquire a good reputation), giving for personal virtue or for the adornment of the heart and life.
  2. Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có tám loại bố thí: tùy chí thí, bố úy thí, báo ân thí, cầu báo thí, bố thí vì nghĩ rằng bố thí là tốt, bố thí vì nghĩ rằng: “ta nấu, họ không nấu. Thật không phải, nếu ta nấu mà ta đem bố thí cho kẻ không nấu”, yếu danh thí, và bố thí vì muốn trang nghiêm và tư trợ tâm—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are eight bases for giving: one gives as occasion offer, one gives from fear, one gives, thinking: “He gave me something”, one gives, thinking: “He will give me something”, one gives, thinking: “It is good to give”, one gives, thinking: “I am cooking something, they are not. It would not be right not to give something to those who are not cooking”, one gives and thinks: “If I make this gift I shall acquire a good reputation, one gives, thinking to adorn and prepare one’s heart. Bát Chủng Chúc: Eight kinds of gruel—Tám loại cháo—Eight kinds of congee—Tám loại cháo mà người ta có thể cúng dường cho Phật và giáo đoàn khi các ngài đang an cưu kiết hạ trong tịnh xá Trúc Lâm: bơ, mỡ, hạt gai, sữa, đậu non, đậu hạt khô, hạt mè, và cháo trắng—Eight kinds of gruel served by the citizens to the Buddha and his disciples when in retreat in the bamboo grove of Kasi: butter, fat, hempseed, milk, peas, beans, sesame, and plain gruel.

Bát Chủng Dụ: Tám loại thí dụ—Eight kinds of example.

Bát Chủng Giáo: Eight Teaching classifications—Tám loại giáo pháp. Bát Chủng Khổ: Eight kinds of sufferings—Bát Khổ.

Bát Chủng Thanh Phong: Asta-vimoksa (skt)—

Eight kinds of fresh winds—Eight liberations— Tám ngọn gió mát (tám pháp giải thoát)—Tám Giải Thoát—Những bài tập thiền định về tám giai đoạn tập trung tư tưởng liên tiếp nhằm mục đích giải thoát khỏi mọi vướng mắc của vật thể hay phi vật thể—Meditation exercices that move through eight stages of concentration as an aid to overcoming all clinging to corporeal and noncorporeal factors.

Bát Chủng Thắng Pháp: See Bát Thắng Xứ.

Bát Chủng Thọ Ký: Tám thứ thọ ký (lời tiên đoán của đức Phật): chỉ mình biết, người khác không biết; mọi người đều biết, chỉ mình không biết; mọi người và mình đều biết; mình và mọi người đều chưa biết; gần thì biết, xa không biết; xa biết nhưng gần không biết; gần xa đều biết; gần xa đều không biết—Eight kinds of prediction: made known to self, not to others; made known to others, not to self; made known to self and others; unknown to self or others; the near made known, but the remote not; the remote made known, but not the intermediate; near and remote both made known; near and remote both not made known. Bát Chủng Tùy Hảo: Tám ấn chứng nhỏ—Eight kinds of minor marks.

Bát Chuyển Thanh: Eight cases of nouns in Sanskrit—Tám chuyển thanh trong Phạn ngữ (subanta): thể thanh (chủ cách nói chung về vật thể), nghiệp thanh (mục đích cách) cụ thanh (từ biểu thị công cụ của cái năng tác), sở vi thanh (từ biểu thị sở đối với cái năng tác), sở tòng thanh (từ biểu thị vật đó từ đâu tới), sở thuộc thanh (từ biểu thị vật chủ cách), sở y thanh (từ biểu thị chỗ sở y của vật), và hô thanh (từ biểu thị cách gọi vật thể)—Eight classes of nouns in Sanskrit: nirdesa, upadesana, kartrkarana, sampradana, apadana, svamivacana, samnidhanartha, and amantrana.

Bát Cổ Văn Chương: 1) Bài văn tám vế: An eight-legged essay; 2) Bài văn chỉ có chữ mà không có chất liệu, dụ cho thiền nói chứ không có thực hành: A piece of writing without much substance, i.e., talkative zen without practicing. Bát Công Đức Âm: Eight qualities of the Buddha’s tones—See Bát Phạm Âm. Bát Công Đức Hạnh: Attha-cariya (p)—Eight kinds of beneficial conduct.

Bát Công Đức Thủy: Eight excellent qualities of the water—Eight kinds of water of virtues, or eight virtues—Water of eight merits—Water of eight excellent qualities—Còn gọi là Bát Công Đức Trì, hay Bát Vị Thủy, tức là nước tám công đức. Người ta nói đây là tánh đặc thù của nước trong những ao hồ nơi cõi Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà: trừng tịnh (trong sạch hay lắng sạch), thanh lãnh (trong trẻo và mát mẻ), cam mỹ (ngọt ngào), khinh nhuyễn (nhẹ dịu), nhuận trạch (uy lực rưới mát mọi vật), an hòa (có khả năng làm an lạc và êm dịu mọi tình huống), có khả năng làm dịu những khao khát, và có khả năng cải tiến sự khang kiện và bổ khỏe các căn—Eight waters of merit and virtue. It is said that these are characteristics of water in the lakes and ponds in the Pure Land of Amitabha Buddha: clarity and cleanliness (pure), coolness, sweetness, lightness (smooth), moisturing power (moistening), ability to give comfort (comforting), ablity to quench thirst (thirst-quenching), and ability to improve health and nourishing all roots (nourishing). Bát Cực Trọng Cảm Đọa Tội: Parajika (skt)— Eight misbehaviors—Eight grave prohibitions or sins—Bát Đọa—See Bát Ba La Di. Bát Diện Chu Toàn: Mọi phương tiện đều hoàn tất—All complete.

Bát Diện Linh Lung: Phương tiện thiện xảo— Thủ thuật khéo léo—Skilful means—Skilful methods—Skilful operation.

Bát Diệp Ấn: Ấn hoa sen tám cánh—The eightpetal lotus seal.

Bát Diệp Chi Trung Tôn: Eight Bodhisattvas in the Garbhadhatu—Thai Tạng pháp giới có hình như hoa sen tám cánh, với Đức Tỳ Lô Giá Na ở giữa (trung thai), còn trên mỗi cánh đều có một vị Bồ Tát—The Garbhadhatu (womb treasury) has the shape of an eight-petal lotus with Vairocana in the centre and eight bodhisattvas on each petal. Bát Diệp Liên Đài: Eight leaf lotus meditation— Đài sen tám cánh, tên theo mật giáo để chỉ nhục tâm của chúng ta có hình giống như đóa sen tám cánh—An esoteric name for the heart is the eightpetal fleshly heart, and being the seat of meditation.

Bát Diệp Liên Hoa Quán: Quán tưởng thành hình hoa sen tám cánh, khiến nó từ búp nở xòe ra—To contemplate that we become an eight-petal lotus from bud to blossoming.

Bát Diệp Viện: Central court of the Womb Treasury—Bát diệp trung đài của Thai Tạng giới với Phật Tỳ Lô Giá Na là nhân vật chính—The central court of the Womb Treasury

(Garbhadhatu) with Vairocana as its central figure. Bát Đa La: Patra (skt)—Ứng Lượng Khí—Bát là một loại vật dụng dùng đựng thức ăn cho chư Tăng Ni. Đây là cái bát sắt của Tỳ Kheo dùng đựng thức ăn khi đi khất thực. Bát đựng đủ một phần ăn cho một vị Tăng hay Ni. Người ta nói Tổ Bồ Đề Đạt Ma đã đem chiếc bát của Phật đến Trung Quốc vào khoảng năm 520 sau Tây Lịch—A bowl

(a vessel, receptacle, an almsbowl). Begging bowl, the utensil corresponding to the dharma, the utensil which responds to the respectful gifts of others; the vessel which corresponds with one’s needs. The almsbowl of the Buddha is said to have been brought by Bodhidharma to China in 520

A.D.

Bát Đạc Thương Na: Badaksan (skt)—Bạt Sáng Na—Một vùng núi thuộc Tukhara. Tên của một xứ nhỏ ở vùng Bắc Ấn trong thời Ngài Huyền Trang hành hương các xứ Tây Vực, khoảng năm 627 sau Tây lịch—A mountain district of Tukhara. Name of a small country in North India at the time when Hsuan-Tsang visited the Western countries, around 627 A.D.

Bát Đại Bộ Chúng: Eight great assemblies—Tám bậc đại chúng sanh sanh (chúng sanh siêu nhiên)—Eight classes of supernatural beings— See Bát Chúng.

Bát Đại Khổ: See Bát Khổ.

Bát Đại Linh Tháp: Asta-maha-sri-caityasamskrta-stotra (skt)—Tám ngôi tháp linh thiêng của Phật giáo: thành Ca Tỳ La vệ, nơi Đức Phật đản sanh; Ma Kiệt Đà, nơi đầu tiên Đức Phật giác ngộ; vườn Lộc Uyển nơi Đức Phật thuyết pháp lần đầu tiên; tịnh xá Kỳ Đà, nơi Đức Phật lộ phép thần thông; Kanyakubja, nơi Phật xuống từ cung trời Đại Phạm; thành Vương Xá, nơi kết liễu của Đề Bà Đạt Đa, và nơi mà Tăng đoàn được thanh tịnh; Tỳ Xá Ly, nơi Phật tuyên bố sẽ nhập Niết bàn; Câu Thi Na, nơi Đức Phật nhập Niết bàn— Eight great spiritual or sacred stupas of Buddhism:

Lumbini Garden, Buddha’s birthplace in Kapilavastu; Magadha, where he was first enlightened; the Deer Park Benares, where he first preached; Jetavana, where he revealed his supernatural powers; Kanyakubja (Kanaui), where he descended from Indra’s heaven; Rajagrha, where Devadatta was destroyed and the sangha purified; Vaisali, where he announced his speedy nirvana; Kusinagara, where he entered nirvana. Bát Đại Linh Tháp Phạn Tán: Treatise on the Eight great spiritual or sacred stupas of Buddhism.

Bát Đại Minh Vương: Eight diamond-kings— Tám Kim Cang vương hay Kim Cang Hộ Bồ tát cho Phật Tỳ Lô Giá Na: Kim Cang Thủ Bồ Tát, hiện làm Giáng Tam Thế (Vajrapani (skt), Diệu Kiết Tường Bồ Tát (hiện làm Đại Uy Đức Kim Cương), Hư Không Tạng Bồ Tát (hiện làm Đại Tiếu Kim Cương), Từ Thị Bồ Tát (hiện làm Đại Luân Kim Cương), Quán Tự Tại Bồ Tát (hiện làm Mã Đầu Kim Cương), Địa Tạng Bồ Tát (hiện làm Vô Năng Thắng Minh Vương), Trừ Cái chướng Bồ Tát (hiện làm Bất Động Tôn Minh Vương), và Phổ Hiền Bồ Tát (hiện làm Bộ Trịch Kim Cương Minh

Vương)—The eight diamond-kings, or bodhisattvas as guardians of Vairocana (Đại Nhựt Như Lai): Holder or protector of a vajra, Wonderful and auspicious, Akasagarbha (skt), Maitreya (skt), Avalokitesvara (skt), Tsitigarbha (skt), Aryacalanatha (skt), and Samantabhadra

(skt).

Bát Đại Nhân Giác: Eight Awakenings of Great People—Phật tử nên ngày đêm hết lòng đọc tụng và thiền quán về tám điều giác ngộ lớn mà chư Đại Bồ Tát đã khám phá. Kinh do Sa Môn An Thế Cao dịch sang Hán văn khoảng năm 150 sau Tây Lịch, và Hòa Thượng Thích Thanh Từ dịch sang Việt ngữ vào khoảng thập niên 70. Điều Giác Ngộ Thứ Nhất, giác ngộ rằng cõi thế gian là vô thường, đất nước nguy ngập, bốn đại khổ không, năm ấm không phải ta, luôn sinh luôn diệt thay đổi, hư ngụy vô chủ, tâm là nguồn ác, hình là rừng tội bất tịnh, hãy quán sát như thế mà lìa dần sanh tử. Điều Giác Ngộ Thứ Hai, giác ngộ rằng ham muốn nhiều là khổ nhiều. Tất cả những khổ nhọc trên đời đều do ham muốn mà ra. Những ai có ít ham muốn thì thân tâm được giải thoát tự tại. Điều Giác Ngộ Thứ Ba, giác ngộ rằng tâm chúng sanh không bao giờ biết đủ, chỉ tham cầu nhiều nên tội ác luôn tăng. Bậc Bồ Tát không thế, mà ngược lại tâm luôn biết đủ, luôn thanh bần lạc đạo, luôn lấy trí huệ làm sự nghiệp tu hành. Điều Giác Ngộ Thứ Tư, giác ngộ rằng biếng lười là đọa lạc, nên thường phải tu hành tinh tấn để dẹp tắt tứ ma mà thoát ra ngục ngũ ấm và tam giới. Điều Giác Ngộ Thứ Năm, giác ngộ rằng vì si mê nên phải sinh tử tử sinh không dứt. Vì thế Bồ Tát luôn học nhiều, nghe nhiều để phát triển trí huệ, thành tựu biện tài. Nhờ vậy mà có thể giáo hóa hết thảy chúng sanh vào cảnh giới hỷ lạc. Điều Giác Ngộ Thứ Sáu, giác ngộ rằng nghèo khổ sinh nhiều oán hận giận hờn, từ đó mà ác duyên kết tụ. Bồ Tát bình đẳng bố thí, không phân biệt kẻ oán người thân, chẳng nghĩ đến lỗi xưa, cũng không ghét người đương thời làm ác. Điều Giác Ngộ Thứ Bảy, giác ngộ rằng ngũ dục dẫn đến lỗi vạ. Dù cùng người tục sinh sống mà không nhiễm thói trần tục. Như vị Tỳ Kheo xuất gia, thường chỉ tam y nhất bát, sống thanh bần lạc đạo, giới hạnh thanh cao, bình đẳng và từ bi với tất cả chúng sanh mọi loại. Điều Giác Ngộ Thứ Tám, giác ngộ lửa dữ sanh tử gây ra vô lượng khổ não khắp nơi. Bồ tát phát đại nguyện cứu giúp tất cả chúng sanh mọi loài, cùng chịu khổ với chúng sanh mọi loài, và dẫn dắt chúng sanh đến cảnh giới an lạc—A disciple of the Buddha, day and night, should wholeheartedly recite and meditate on the eight awakenings discovered by the great beings. The sutra was translated from Sanskrit into Chinese by An-ShiKao in about 150 A.D., and Most Venerable Thích Thanh Từ translated into Vietnamese in 70s. The first awakening, the awareness that the world is impermanent. All regimes are subject to fall; all things composed of the four elements that are empty and contain the seeds of suffering. Human beings are composed of five aggregates, and are without a separate self. They are always in the process of change, constantly being born and constantly dying. They are empty of self, without sovereignty. The mind is the source of all unwholesome deeds and confusion, and the body is the forest of all impure actions. If we meditate on these facts, we can gradually be released from the cycle of birth and death (see Tứ Niệm Xứ). The second awakening, the awareness that more desire brings more suffering. All hardships in daily life arise from greed and desire. Those with little desire and ambition are able to relax, their bodies and minds are free from entanglement. The third awakening, the awareness that the human mind is always searching for possessions and never feels fulfilled. This causes impure actions to ever increase. Bodhisattvas, however, always remember the principle of having few desires. They live a simple life in peace in order to practice the Way, and consider the realization of perfect undestanding as their only career. The fourth awakening, the awareness of the extent to which laziness is an obstacle to practice. For this reason, we must practice diligently to destroy the unwholesome mental factors which bind us, and to conquer the four kinds of Mara, in order to free ourselves from the prison of the five aggregates and the three worlds. The fifth awakening, the awareness that ignorance is the cause of the endless cycle of birth and death. Therefore, bodhisattvas always listen and learn in order to develop their understanding and eloquence. This enables them to educate living beings and bring them to the realm of great joy. The sixth awakening, the awareness that poverty creates hatred and anger, which creates a vicious cycle of negative thoughts and activity. When practicing generosity, bodhiattvas consider everyone, friends and enemies alike, as equal. They do not condemn anyone’s past wrongdoings, nor do they hate those who are presently causing harm. The seventh awakening, the awareness that the five categories of desire lead to difficulties. Although we are in the world, we should try not to be caught up in worldly matters. A monk, for example, has in his possession only three robes and one bowl. He lives simply in order to pratice the Way. His precepts keep him free of attachment to worldly things, and he treats everyone equally and with compassion. The eighth awakening, the awareness that the fire of birth and death is raging, causing endless suffering everywhere. Bodhisattvas should take the Great Vow to help everyone, to suffer with everyone, and to guide all beings to the realm of great joy.

Bát Đại Nhiệt Địa Ngục: Eight great narakas— Tám địa ngục nóng: đẳng hoạt (sau khi bị hình phạt thì trở lại như cũ), hắc thằng (kẻ phạm tội bị căng dây thừng đen trước khi hành hình), chúng hợp (phạm nhân cấu xé lẫn nhau thành một khối giữa hai núi rồi cùng rớt xuống vực với nhau), hiệu kiếu (phạm nhân bị hành hình kêu la thảm thiết), đại hiệu kiếu (nơi tiếng kêu khóc càng to hơn khi bị hành hình), đàn nhiệt (phạm nhân bị đốt cháy khi bị hành hình), đại nhiệt (nơi đây sức nóng tăng lên gấp bội), và vô gián (kẻ phạm tội bị hành hình chết đi sống lại không ngừng)—Eight great hot hells: hell of rebirth, hell of black cords or chains, hell in which all are squeezed into a mass between two mountains falling together, hell of crying and wailing, hell of great crying, hell of burning, hell of fierce heat, and unintermitted rebirth into its sufferings with no respite.

Bát Đại Sơn Nhân (1626-1705): Tên của một vị Tăng Trung Hoa ở Giang Tây vào cuối thời nhà Minh—Name of a Chinese monk in Jiang-Hsi Province in the end of the Ming dynasty (13681644).

Bát Đại Sư: Eight great teachers—Eight ornaments—Tám đại sư trong Đaị Thừa: Long Thọ, Thánh Thiên, Vô Trước, Thế Thân, Cầu Na

Ba La Phả, Thích Ca Ba La Phả, và Pháp Xứng— In Mahayana, ther are eight great teachers: Nagarjuna, Aryadeva, Asanga, Vasubandhu, Gunaprabha, Sakyaprabha, Dignaga, and

Dharmakirti.

Bát Đại Tân Khổ: Tám điều khổ lớn—Eight kinds of great bitter suffering—See Bát Khổ. Bát Đại Tử: Bandhyaputra (skt)—Bàn Đại Tử— See Thạch Nữ Nhi.

Bát Đại Tự Tại Ngã: Tám cái ngã tự tại lớn: Thứ nhất là năng thị hiện một thân làm nhiều thân. Thứ nhì là năng thị hiện một trần thân đầy cả đại thiên thế giới. Thứ ba là năng cất thân nhẹ nhàng tới khắp mọi nơi. Thứ tư là thường ở một cõi năng hiện vô lượng loại. Thứ năm là năng dùng các căn thay cho nhau. Thứ sáu là được mọi pháp mà tưởng chừng như không có pháp. Thứ bảy là thuyết nghĩa một bài kệ trải qua vô lượng kiếp. Thứ tám là thân khắp mọi chốn giống như cõi hư không— The eight great powers of personality or sovereign independence: First, powers of self-manifolding. Second, powers of infinite expansion. Third, powers of levitation and transportation. Fourth, powers of manifesting countless forms permanently in one and the same place. Fifth, powers of use of one physical organ in place of another. : Sixth, obtaining all things as if nothing. Seventh, expounding a stanza through countless kalpas. Eighth, ability to traverse the solid as space.

Bát Đàm Ma: Padma (skt)—Raktapadma (skt)— Bát Đặc Ma—Ba Đầu Ma—See Bát Đặc Ma Địa

Ngục.

Bát Đảo: Tám điên đảo—The eight upside-down views—See Bát Điên Đảo. Bát Đạo: The eightfold path—See Bát Chánh

Đạo.

Bát Đạo Phần Thánh Thiện: Astangika-marga (skt)—Ashtangika-Magga (p)—The noble Eightfold Path—Eight sagely way shares—Bát Thánh Đạo—Bát Thánh Đạo Phần—Tám con đường đúng—See Bát Chánh Đạo. Bát Đặc Ma: Padma or Raktapadma (skt)—Ba Đầu Ma—Bát Đàm Ma—Hồng Liên Hoa, một trong những biểu tượng của chân Phật: The red lotus; one of the sign of the foot of a Buddha. Bát Đặc Ma Địa Ngục: Padmanaraka (skt)—Red lotus hell—Hồng liên địa ngục—Địa ngục được gọi theo tên “hồng liên,” là địa ngục thứ bảy trong bát hàn địa ngục, nơi mà da thịt của tội nhân vì quá lạnh mà nở toét ra như những cánh sen đỏ— The hell called after the name of the Padma (red lotus), the seventh of the eight cold hells, where flesh of the sufferers bursts open like red lotuses. Bát Đầu Ma: Padma (skt)—See Kinh Diệu Pháp Liên Hoa.

Bát Đẩu Chi Tài: Tài đức lớn—A great talent. Bát Đế: Satya (skt)—The eight truths (postulates or judgments):

  1. Bốn sự thật thứ nhất: thế gian thế tục đế (vô thật đế), đạo lý thế tục đế (tùy sự sai biệt đế), chứng đắc thế tục đế (phương tiện an lập đế), và thắng nghĩa thế tục đế (giả danh phi an lập đế)—The first four abstract or philosophical: common postulates on reality, considering the nominal as real, common doctrinal postulates (the five skandhas), abstract postulates (the four Noble Truths), and temporal postulates in regard to the spiritual in the material.
  2. Bốn sự thật thứ nhì: thế gian thắng nghĩa đế (thể dụng hiển hiện đế), đạo lý thắng nghĩa đế (nhơn quả sai biệt đế), chứng đắc thắng nghĩa đế (y môn hiển thật đế), và thắng nghĩa thắng nghĩa đế (phế thuyên đàm chỉ)—The second abstract or philosophical four: postulates on constitution and function of the five skandhas, postulates on cause and effect, postulates or the void or the immaterial, and postulates on the pure inexpressible ultimate or absolute.

Bát Địa: Astamaka-bhumi (skt)—Bát Nhân Địa— See Đệ Bát Địa.

Bát Điên Đảo: Tám điên đảo—The eight upsidedown views:

  1. Phàm phu Tứ Điên Đảo: thường điên đảo, lạc điên đảo, ngã điên đảo, tịnh điên đảo—Four upside-down views for ordinary people: heretics believe in permanence, heretics believe in pleasure, heretics believe in personality, and heretics believe in purity.
  2. Nhị Thừa Tứ Điên Đảo: vô thường điên đảo, vô lạc điên đảo (Niết bàn là nơi của an lạc; tuy nhiên tà đạo lại cho rằng mọi nơi kể cả Niết bàn đều khổ chứ không vui), vô ngã điên đảo, vô tịnh điên đảo—Four upside-down views for both Hinayana and Mahayana: heretics believe that nirvana is impermanent (see Vô thường điên đảo); nirvana is a permanent place of bliss, however, heretics believe that everywhere including nirvana as no pleasure, but suffering; heretics believe that nirvana has no pleasure (see Vô ngã điên đảo); and heretics believe that nirvana is also impure (see Vô tịnh điên đảo).

Bát Định: Eight trances—Tám loại nhập định— Tám mức độ trừu tượng cố định, bốn thiền na tương ứng với “tứ thiền thiên;” bốn mức độ trừu tượng cố định tuyệt đối tương ứng với “tứ không xứ”—The eight degrees of fixed abstraction, four dhyanas corresponding to the four divisions in the heavens of form (Tứ Thiền thiên); four degrees of absolute fixed abstraction on the immaterial corresponding to the arupadhatu in the heavens of formless (Tứ Không xứ).

Bát Đọa: Parajika (skt)—Eight falls—Tám sự sa đọa—Bát Cực Trọng Cảm Đọa Tội—Eight misbehaviors—Eight grave prohibitions or sins— See Bát Ba La Di.

Bát Đức: Tám công đức làm cho Phật có khả năng ban phước hạnh cho con người: Thứ nhất là khả năng làm lợi ích và hạnh phúc cho chúng sanh qua thực hành giáo pháp của Ngài. Thứ nhì là khả năng phán đoán một cách chính xác thiện ác chánh tà. Thứ ba là khả năng giáo đạo chính đạo khiến chúng sanh giác ngộ. Thứ tư là khả năng dẫn đạo khiến chúng sanh nhập chánh đạo. Thứ năm là khả năng tránh tâm kiêu mạn. Thứ sáu là khả năng y ngôn thực hành (nói làm như nhứt). Thứ bảy là khả năng hướng dẫn chúng sanh một cách bình đẳng. Thứ tám là khả năng hoàn thành mãn túc chư nguyện—Eight virtues that enable Buddha to bestow blessings and happiness upon the people: First, ability to bring immediate benefits and happiness in the world through practice of His teaching. Second, ability to judge correctly between good and bad, right and wrong. Third, ability to lead people to enlightenment by teach his right way. Fourth, ability to lead and guide people to convert to the right way. Fifth, ability to avoid pride and boasting. Sixth, ability to do what He has spoken. Seventh, ability to lead all people by an equal way. Eighth, ability to fulfill the vows of his compassionate heart.

Bát Giác: Tám loại ác giác: dục giác, sân giác, não giác, thân lý giác (nhớ nhà), quốc độ giác (ái quốc hay nghĩ đến sự lợi ích của quốc gia), bất tử giác (không thích cái chết), tộc tính giác (vì cao vọng cho dòng họ), khinh vụ giác (khi dễ hay thô lỗ với người khác)—The eight wrong perceptions of thought: desire, hatred, vexation with others, home-sickness, patriotism or thoughts of the country’s welfare, dislike of death, ambition for one’s clan or family, and slighting or being rude to others.

Bát Giải Đãi Sự: Kusita-vatthuni (p)—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có tám sự giải đãi. Cơ hội giải đãi thứ nhất: Ở đây có việc vị Tỳ Kheo phải làm. Vị nầy nghĩ: “Có công việc ta sẽ phải làm. Nếu ta làm việc, thời thân ta sẽ mệt mỏi. Vậy ta nên nằm xuống.” Vị ấy bèn nằm xuống, không tinh tấn để đạt được điều chưa đạt được, để thành tựu điều chưa thành tựu, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ. Cơ hội giải đãi thứ hai: Ở đây một việc đã được vị Tỳ Kheo làm. Vị nầy nghĩ: “Ta đã làm một công việc. Do ta làm một công việc nên thân ta mệt mỏi. Vậy ta nên nằm xuống.” Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn đạt được điều chưa đạt được, thành tựu điều chưa thành tựu và chứng ngộ điều chưa chứng ngộ. Cơ hội giải đãi thứ ba: Ở đây có con đường mà vị Tỳ Kheo phải đi. Vị nầy nghĩ: “Đây là con đường mà ta sẽ phải đi. Khi ta đi con đường ấy, thân ta sẽ mệt mỏi. Vậy ta nên nằm xuống.” Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn để đạt được điều chưa đạt, thành tựu điều chưa thành tựu và chứng ngộ điều chưa chứng ngộ. Cơ hội giải đãi thứ tư: Ở đây con đường vị Tỳ Kheo đã đi. Vị nầy nghĩ: “Ta đã đi con đường, do ta đã đi con đường nên thân ta mệt mỏi. Vậy ta nên nằm xuống.” Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn đạt được điều chưa đạt, thành tựu điều chưa thành tựu và chứng ngộ điều chưa chứng ngộ. Cơ hội giải đãi thứ năm: Ở đây vị Tỳ Kheo đi khất thực trong làng hay tại đô thị, không nhận được các đồ ăn loại cứng hay loại mềm, đầy đủ như ý muốn. Vị ấy nghĩ: “Ta đi khất thực ở làng hay đô thị, không nhận được đồ ăn loại cứng hay loại mềm đầy đủ như ý muốn. Thân nầy của ta bị mệt mỏi, không lợi ích gì. Vậy ta nên nằm xuống.” Vị ấy nằm xuống, không tinh tấn đạt được điều chưa đạt, thành tựu điều chưa thành tựu và chứng ngộ điều chưa chứng ngộ. Cơ hội giải đãi thứ sáu: Ở đây vị Tỳ Kheo đi khất thực tại làng hay thị xã, nhận được các đồ ăn loại cứng và loại mềm đầy đủ như ý muốn. Vị ấy nghĩ: “Ta đi khất thực tại làng hay tại thị xã, nhận được các thức ăn, loại cứng và loại mềm, đầy đủ như ý muốn. Thân ta nặng nề như thể đang mang bầu, không thể làm gì được. Vậy ta nên nằm xuống.” Vị ấy nằm xuống, không tinh tấn. Cơ hội giải đãi thứ bảy: Ở đây vị Tỳ Kheo bị bệnh nhẹ. Vị nầy nghĩ: “Nay ta đau bệnh nhẹ, cần phải nằm nghỉ. Vậy ta nên nằm xuống.” Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn để đạt được điều chưa đạt, thành tựu điều chưa thành tựu, và chứng ngộ điều chưa chứng ngộ. Cơ hội giải đãi thứ tám: Ở đây vị Tỳ Kheo mới khỏi bệnh không bao lâu. Vị ấy nghĩ: “Ta mới khỏi bệnh không bao lâu. Thân nầy của ta yếu đuối, không làm được việc gì, vậy ta hãy nằm xuống. Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn để đạt được điều chưa đạt, để thành tựu điều chưa thành tựu được, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ được—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are eight occasions of indolence. The first occasion of indolence: Here a monk has a job to do. He thinks: “I’ve got this job to do, but it will make me tired. I’ll have a rest.” So he lies down and does not stir up enough energy to complete the uncompleted, to accomplish the unaccomplished, to realise the unrealised. The second occasion of indolence: Here, a monk who has done some work, and thinks: “I’ve done this work, now I’m tired. I’ll have a rest.” So he lies down and does not stir up energy to complete the uncompleted, to accomplish the unaccomplished, and to realise the unrealised. The third occasion of indolence: Here a monk who has to go on a journey, and thinks: “I have to go on this journey. It will make me tired. I’ll have a rest.” So he lies down and does not stir up energy to complete the uncompleted, to accomplish the unaccomplished, and to realise the unrealised. The fourth occasion of indolence: Here a monk who has been on a journey, and thinks: “I’ve been on this journey. Now I’m tired. I’ll have a rest.” So he lies down and does not stir up energy to complete the uncompleted, to accomplish the unaccomplish, and to realise the unrealised. The fifth occasion of indolence: Here a monk who goes on the alms-round in a village or town and does not get his fill of food, whether coarse or fine, and he thinks: “I’ve gone for almsround in the village or town and don’t get my fill of food, whether coarse or fine. Now I’m tired. I’ll have a rest.” So he lies down and does not stir up energy to complete the uncompleted, to accomplish the unaccomlished, and to realise the unrealised. The sixth occasion of indolence: Here a monk who goes on alms-round in a village or town and gets his fill of food, whether coarse or fine, and he thinks: “I’ve gone for alms-round in a village or town and get my fill of food, whether coarse or fine, and my body is heavy and useless as if I were pregnant. I’ll have a rest.” So he lies down and does not stir up energy to complete the uncompleted, to accomplish the unaccomplished, to realise the unrealised. The seventh occasion of indolence: Here a monk who has developed some light indisposition, and he thinks: “I’d better have a rest.” So he lies down and does not stir up energy to complete the uncompleted, to accomplish the unaccomplished, to realise the unrealised. The eighth occasion of indolence: Here a monk who is recuperating, having not long recovered from an illness, and he thinks: “My body is weak and useless. I’ll have a rest.” So he lies down and does not stir up energy to complete the uncompleted, to accomplish the unaccomplished, to realise the unrealised.

Bát Giải Thoát: Tel wa gye (tib)—Eight forms of liberation—Eight freedoms—Eight samadhis of emancipation—See Bát Giải Thoát Tam Muội. Bát Giải Thoát Tam Muội: Attha-vimokkha

(p)—Asta-vimoksa (skt)—Eightfold liberation— Eight liberations—Tám giải thoát, hay tám phép thiền định giải thoát khỏi sắc dục. Thứ nhất là nội hữu sắc tưởng, ngoại quán sắc giải thoát Tam muội. Tự mình có sắc, thấy có sắc. Trong giai đoạn nầy hành giả tự mình quán thân bất tịnh. Thứ nhì là nội vô sắc tưởng, ngoại quán sắc giải thoát Tam muội. Quán tưởng nội sắc là vô sắc, thấy các ngoại sắc bất tịnh. Thứ ba là tịnh thân tác chứng cụ túc trụ giải thoát hay tịnh giải thoát thân chứng Tam muội. Quán tưởng sắc là tịnh, chú tâm trên suy tưởng ấy để đoạn diệt dục vọng. Thứ tư là không vô biên xứ giải thoát (Không xứ giải thoát Tam muội). Vượt khỏi hoàn toàn sắc tưởng, diệt trừ các tưởng hữu đối, không suy tư đến những tưởng khác biệt, với suy tư: “Hư không là vô biên: chứng và trú Không Vô Biên Xứ, nơi mọi luyến chấp vào vật chất đều bị tận diệt bằng thiền quán. Thứ năm là thức vô biên xứ giải thoát (Thức xứ giải thoát Tam muội). Vượt khỏi hoàn toàn Hư Không vô biên xứ, với suy tư “Thức là vô biên” chứng và trú Thức vô biên xứ, nơi mọi luyến chấp vào “không” đều bị tận diệt bằng thiền định. Thứ sáu là vô sở hữu xứ giải thoát Tam muội. Vượt khỏi hoàn toàn Thức vô biên xứ, với suy tư “không có vật gì” chứng và trú Vô sở hữu xứ, nơi mọi luyến chấp vào thức hoàn toàn bị tận diệt bằng thiền định. Thứ bảy là phi tưởng phi phi tưởng xứ giải thoát Tam muội. Vượt khỏi hoàn toàn Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Nơi đây mọi luyến chấp vào hữu đối hoàn toàn bị đoạn tận bằng thiền định. Thứ tám là diệt thọ tưởng định giải thoát (Diệt tận định xứ giải thóat Tam muội). Vượt khỏi hoàn toàn Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và trú Diệt thọ tưởng. Đây là giai

đoạn hoàn toàn tịch diệt hay Niết Bàn— Liberation, deliverance, freedom, emancipation, escape, release in eight forms. The eight types of meditation for removing various attachments to forms and desires. First, possessing form, one sees forms. Liberation when subjective desire arises, by examination of the object, or of all things and realization of their filthiness. In this stage, cultivators remove passions by meditation on the impurity of one’s own body. Second, not perceiving material forms in oneself, one sees them outside. Liberation when no subjective desire arises by still meditating or contemplating of the object or of all things. First contemplating on impurity of external objects, then on purity. Third, thinking “It is pure,” one becomes intent on it, one enters. Liberation by concentration on the pure to remove passions, or to realize a permanent state of freedom from all desires. Fourth, by completely transcending all perception of matter, by the vanishing of the perception of sensereactions and by non-attention to the perception of variety, thinking: “Space is infinite,” one enters and abides in the Sphere of Infinite Space, where all attachments to material objects have been completely extinguished by meditation on boundless consciousness. Liberation on realization of the Sphere of Infinity of Space, or the immaterial. Fifth, by transcending the Sphere of Infinite Space, thinking: “Consciousness is infinite,” one enters and abides in the Sphere of Infinite of Consciousness, where all attachments to void have been completely removed by meditation. Liberation in realization of infinite knowledge or the Sphere of Infinite

Consciousness. Sixth, by transcending the Sphere of Infinite Consciousness, thinking: “There is nothing,” one enters and abides in the Sphere of No-Thingness, where all attachments to consciousness have been completely removed by meditation. Liberation in realization of the Sphere of Nothingness, or nowhereness. Seventh, by transcending the Sphere of No-Thingness, one reaches and abides in the Sphere of NeitherPerception-Nor-Non-Perception (neither thought nor non-thought) where all attachments to nonexistence have been completely extinguished by meditation. Liberation in the state of mind where there is neither thought nor absence of thought (the Sphere of Neither-Perception-Nor-NonPerception). Eighth, by transcending the Sphere of Neither-Perception-Nor-Non-Perception, one enters and abides in the Cessation or extinguishing all thoughts (perceptions) and feelings. Liberation by means of a state of mind in which there is final or total extinction, nirvana.

Bát Giao Đạo: Eight roads in eight directions— Tám con đường trong tám hướng, giao nhau bằng những viền vàng đã được nói đến trong Kinh Pháp Hoa—The eight roads that bounded with golden cords, mentioned in the Lotus Sutra as in certain Buddha-realms.

Bát Giáo: Tám giáo pháp do trường phái Thiên

Thai đặt ra từ những lời giáo huấn của Phật từ lúc Ngài giảng Kinh Hoa Nghiêm, đến Pháp Hoa và Niết Bàn—The eight T’ien-T’ai classifications of Sakyamuni’s teaching, from the Avatamsaka to the Lotus and Nirvana Sutras.

  1. Hóa Pháp Tứ Giáo hay bốn giáo hóa pháp chứa đựng chân lý thích ứng tùy từng khả năng của đệ tử: Thứ nhất là Tam Tạng Giáo. Tam Tạng kinh điển cho Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát. Thứ nhì là Thông Giáo hay Đốn giáo chứa đựng trong các kinh điển Tiểu và Đại thừa dành cho các hàng Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát được ghi lại trong Du Già Luận của trường phái Trung Đạo. Thứ ba là Biệt Giáo, dành riêng cho Bồ Tát của trường phái Đại thừa. Thứ tư là Viên Giáo, giáo lý phổ cập và hoàn chỉnh cho hàng Bồ Tát được thuyết giảng trong các Kinh Pháp Hoa và Niết Bàn—The four kinds of teaching of the content of the Truth accommodated to the capacity of his disciples: First, the Tripitaka or Hinayana teaching for Sravakas and Pratyekabuddhas, the Bodhisattva doctrine being subordinate; it also included the primitive sunya doctrine as developed in the Satyasiddhi sastra. Second, the Buddha’s later “Immediate” teaching which contained Hinayan and Mahayana doctrine for

Sravakas, Pratyekabuddhas, and bodhisattvas, to which are attributed the doctrine of

Dharmalaksana or Yogacara and

Madhyamika schools. Third, the Buddha’s differential or separated, bodhisattva teaching, definitely Mahayana. Fourth, The Buddha’s final, perfect, bodhisattva, universal teaching as preached, i.e., the Lotus and Nirvana Sutras.

  1. Hóa Nghi Tứ Pháp: Bốn giáo hóa nghi của Đức Phật: Thứ sáu là Tiệm Giáo, như giáo lý trong Kinh A Hàm, Phương Dẳng và Niết Bàn. Thứ bảy là Bí Thứ năm là Đốn Giáo, giáo lý trực tiếp giảng hết về chân lý như trong Kinh Hoa Nghiêm. Mật Giáo, những lời dạy bí mật mà chỉ có một vài vị đặc biệt mới hiểu được. Thứ tám là Bất Định Giáo, giáo lý chung, từ đó người nghe tùy theo khả năng của mình mà lãnh hội—The Buddha’s four modes of instruction: Fifth, direct teaching without reserve of the whole truth, i.e., the Avatamsaka Sutra. Sixth, gradual or or graded teaching, i.e., Agama and Nirvana Sutras. Seventh, esoteric teaching, only understood by special members of the assembly. Eighth, general or Indeterminate teaching, from which each hearer would derive benefit according to his interpretation.

Bát Giới: Asthanga-sila (skt)—Atthanga-sila (p)— Eight abstinences—See Bát Quan Trai.

Bát Giới Hối Quá: Patidesanniya (skt)—Tám giới Ba La Đề Xá Ni là những vi phạm mà hình phạt phải được Giáo Hội quyết định: Thứ nhất, cấm nếu không đau, không được xin sữa hay đậu. Thứ nhì, cấm nếu không đau, không được xin dầu. Thứ ba, cấm nếu không đau, không được xin mật hoa. Thứ tư, cấm nếu không đau, không được xin đường. Thứ năm, cấm nếu không đau, không được xin bột. Thứ sáu, cấm nếu không đau, không được xin cháo. Thứ bảy, cấm nếu không đau, không được xin đồ ngon. Thứ tám, cấm nếu không đau, không được xin đồ quí (thường là thuốc men để trị bệnh)—Eight rules must be confessed for a Nun: First, it is not proper for a nun who is not ill to ask for milk or beans (curd). Second, it has been stated that it is not proper for a nun who is not ill to ask for oil. Third, it is not proper for a nun who is not ill to ask for honey. Fourth, it is not proper for a nun who is not ill to ask for sugar. Fifth, it is not proper for a nun who is not ill to ask for flour. Sixth, it is not proper for a nun who is not ill to ask for ghee (rice soup). Seventh, it is not proper for a nun who is not ill to as for delicious food (for curing the illness). Eighth, it is not proper for a nun who is not ill to ask for precious things (usually medications for healing the illness).

Bát Giới Trai: See Bát Quan Trai.

Bát Hà: Tám sông lớn ở Ấn Độ vào thời Đức Phật: sông Hằng, sông Diệm Ma La, sông Tát La, sông Di La Bạt Đề, sông Ma Hà, sông Tân Đầu hay Ấn Hà, sông Bác Xoa, và sông tất Đà—Eight big rivers of India at the time of the Buddha: Ganges, Jumna, Sarasvati, Hiranyavati or

Ajiravati, Mahi, Indus, Oxus, and Sita.

Bát Hàn Địa Ngục: Eight cold hells—Tám địa ngục lạnh: Át Phù Đà (ngục quá lạnh nên nổi gai ốc), Ni La Phù Đà (địa ngục lạnh quá làm nứt vỡ da thịt), A Đa Đa (tiếng kêu rên do quá lạnh rét), A Bà Bà (Hoắc hoắc bà, tiếng kêu rít lên vì lạnh), Ẩu Hầu Hầu (Hổ hổ bà, tiếng kêu rên hừ hừ từ trong cổ họng), Ưu Bát La (Ổn bát ma, thanh liên hoa, nơi quá lạnh nên da nứt nở ra như hình cọng sen), Ba Đầu Ma (Bát đặc ma, hồng liên hoa, nơi phạm nhân phải chịu rét đến độ da thịt đỏ lên như sen hồng), và Phân Đà Lợi (Đại hồng liên hoa, nơi phạm nhân bị lạnh đến độ da thịt đau đớn và có hình như những cánh sen lớn)—Eight cold narakas: hell of tumours and blains (arbuda), enlarged arbuda hell, hell of chattering teeth, hell of the only sound to possible to frozen tongues, hell of the only sound to frozen throats, hell where the flesh being covered with sore resmebling it, hell of Red lotus flower (where the flesh being covered with sore resembling it), hell of the great lotus flower (where the flesh being covered with sore resembling it).

Bát Hòa La: Pravarana (skt)—Bạt Hòa La—Bát Hòa Lan—Bát Lạt Bà Lạt Nã—Lễ Tự Tứ—Đồ ăn cúng dường Tam Bảo trong ngày cuối cùng của mùa An Cư Kiết Hạ. Ngày phát lồ sám hối trước chúng của chư Tăng Ni (ngày kiểm điểm lại lỗi lầm hay thiếu sót)—A freewill offering made, or the rejoicings on the last day of the summer retreat. The day of mutual confession. Bát Hòa Lan: Pravarana (skt)—See Bát Hòa La. Bát Hỏa Địa Ngục: Eight burning hells—Tám địa ngục nóng—See Bát Đại Nhiệt Địa Ngục. Bát Hỏa Mích Phù Âu: Bươi trong than hồng tìm bọt nước. Trong Thiền, dụ cho việc điên đảo hoang đường—To search for spumes in live coals (wood-embers). In Zen, this implies fabulous inversions.

Bát Hương: Incense-burner—Incense bowl.

Bát Khất Thực: Beggar-bowl—Begging bowl—

Chiếc bát mà các vị Tỳ kheo thường ôm đi quanh xóm để khất thực cho đến khi đầy bát thì quay trở về tịnh xá độ ngọ. Theo Thiền sư D.T. Suzuki trong quyển “Sự Huấn Luyện của một Thiền Tăng Phật Giáo,” bình bát mà các vị Tăng mang theo có một ý nghĩa sâu sắc trong lịch sử Thiền tông. Cùng với chiếc “y” (cà sa) nó tượng trưng cho uy quyền của người tu sĩ. Theo truyền thuyết thì khi Lục Tổ Huệ Năng đã chứng ngộ chân lý Thiền, thầy của ông, Hoằng Nhẫn đã trao y bát cho ông để xác chứng rằng đệ tử của thầy có đầy đủ tư cách để trở thành một Thiền sư. Sau đó, một đệ tử khác của Hoằng Nhẫn là Huệ Minh đuổi theo muốn giành lại ý bát. Huệ Năng không hề cố gắng ngăn chận Huệ Minh, ông trải y bát lên trên một hòn đá và yêu cầu Huệ Minh cứ tự nhiên đến lấy mang đi, nhưng vì một lý do huyền bí nào đó mà Huệ Minh không sao nhấc cái bát lên được. Về sau hoàng đế Tống Thái Tông giơ một bình bát lên hỏi tể tướng Vương Thôi: “Hồi xưa ở Đại Dũ Lĩnh bình bát không nhấc lên được, thế sao bây giờ lại nằm gọn trong tay ta?” Vị tể tướng không trả lời được câu hỏi của nhà vua. Khi Nam Tuyền thấy một đệ tử của mình đang rửa bát, Sư giật lấy bình bát. Vị Tăng kia đứng đó với đôi tay không. Thấy thế Nam Tuyền nói: “Bình bát trong tay lão Tăng rồi, nói lắm về nó để làm gì?”—A bowl that Bhikhus hold in by both hands and go around the neighborhood getting their bowls filled with food and return to the monastery to eat before noon. According to Zen master Daisetz Teitaro Suzuki in “The Training of the Zen Buddhist Monk,” the bowl the monks carry has figured very much in history of Zen. Together with the “robe” it symbolizes priestly authority. When Hui-neng had an insight into the truth of Zen, his master, Hungjen is said to have handed his own robe and bowl over to Hui-neng in order to testify that his disciple had the correct understanding of Zen. Later, one of Hung-jen’s disciples wanted to carry the bowl away from Hui-neng. Hui-neng made no special efforts to resist the intruder, but for some mysterious reason the latter could not lift the bowl. Later the Emperor Tai-tsung of Sung held up a monk’s bowl in his hands, and asked Wang Sui, his minister: “Once at Tai-yu Ling the bowl was not to be lifted up, and how that it is now securely in my hands?” The minister failed to answer the Imperial question. When Nan-ch’uan saw one of his disciples washing a bowl, he took it away from him. The monk stood there emptyhanded. Thereupon Nan-ch’uan remarked: “The bowl is in my hands, and what is the use of making so much talk about it?”

Bát Khí: Eight renunciations—Tám sự từ bỏ.

Bát Khổ: Chúng sanh có vô số nỗi khổ. Tuy nhiên, trong “Khổ Đế” của Đức Thế Tôn có tám điều đau khổ căn bản. Thứ nhất là Sanh Khổ. Ngay khi còn trong bụng mẹ, con người đã có ý thức và cảm thọ. Thai nhi cũng cảm thấy sung sướng và đau khổ. Khi mẹ ăn đồ lạnh thì thai nhi cảm như đang bị đóng băng. Khi mẹ ăn đồ nóng, thai nhi cảm như đang bị thiêu đốt, vân vân. Thai nhi sống trong chỗ chật hẹp tối tăm nhơ nhớp, vừa lọt lòng đã kêu khóc oa oa. Rồi từ đó khi lạnh, nóng, đói, khát, côn trùng cắn đốt, chỉ biết kêu khóc mà thôi. Huệ nhãn của Phật thấy rõ những chi tiết ấy, nên ngài xác nhận sanh đã là khổ. Chính vì thế cổ đức có nói: “Vừa khỏi bào thai lại nhập thai, Thánh nhân trông thấy động bi ai! Huyễn thân xét rõ toàn nhơ nhớp. Thoát phá mau về tánh bản lai.” (Niệm Phật Thập Yếu—Hòa Thượng Thích Thiền Tâm). Thứ nhì là Già Khổ. Chúng ta khổ đau khi chúng ta đến tuổi già, đó là điều tự nhiên. Khi đến tuổi già, cảm quan con người thường hết nhạy bén; mắt không còn trông rõ nữa, tai không còn thính nữa, lưng đau, chân run, ăn không ngon, trí nhớ không còn linh mẫn, da mồi, tóc bạc, răng long. Dù cho bực thanh niên tuấn nhã, hay trang thiếu nữ tiên dung, khi đến tuổi nầy âu cũng: “Bao vẻ hào hoa đâu thấy nữa. Một thân khô kiệt nghĩ buồn tênh!” Lắm kẻ tuổi già lú lẩn, khi ăn mặc, lúc đại tiểu tiện đều nhơ nhớp, con cháu dù thân, cũng sanh nhàm chán. Kiếp người dường như kiếp hoa, luật vô thường chuyển biến khi đã đem đến cho hương sắc, nó cũng đem đến cho vẻ phai tàn. Xét ra cái già thật không vui chút nào, thân người thật không đáng luyến tiếc chút nào! Vì thế nên Đức Phật bảo già là khổ và Ngài khuyên Phật tử nên tu tập để có khả năng bình thản chịu đựng cái đau khổ của tuổi già. Thứ ba là Bệnh Khổ. Có thân là có bịnh vì thân nầy mở cửa cho mọi thứ bịnh tật. Vì vậy bịnh khổ là không tránh khỏi. Có những bệnh nhẹ thuộc ngoại cảm, đến các chứng bệnh nặng của nội thương. Có người vướng phải bệnh nan y như lao, cùi, ung thư, bại xụi. Trong cảnh ấy, tự thân đã đau đớn, lại tốn kém, hoặc không có tiền thuốc thang, chính mình bị khổ lụy, lại gây thêm khổ lụy cho quyến thuộc. Cái khổ về bệnh tật nầy nó đau đớn hơn cái đau khổ do tuổi già gây ra rất nhiều. Hãy suy gẫm, chỉ cần đau răng hay nhức đầu nhẹ thôi mà đôi khi cũng không chịu đựng nổi. Tuy nhiên, dù muốn hay không muốn, chúng ta cũng phải chịu đựng cái bệnh khổ nầy. Thậm chí Đức Phật là một bậc toàn hảo, người đã loại bỏ được tất cả mọi ô trược, mà Ngài vẫn phải chịu đựng khổ đau vật chất gây ra bởi bệnh tật. Đức Phật lu