Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

DU GIÀ LUẬN KÝ
Thích Đôn Luân gom góp Biên Soạn
Việt dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh
Hội Văn Hóa Giáo Dục Linh Sơn Đài Bắc Xuất Bản

 

QUYỂN 8

(Phần Đầu)

BẢN LUẬN QUYỂN 33

Thứ tư, trong văn xứ Du-già, trước có hai bài tụng nêu hai môn ấy. Sau, dựa vào môn để nói.

Nói hai môn:

  1. Thu hướng thế gian.
  2. Thu hướng xuất thế gian.

Thế gian, tức là chế phục “hoặc” được định, tu công đức hữu lậu của năm thông thế gian v.v…

Xuất thế, tức là mười sáu hạnh Thánh, cho đến được quả công đức vô lậu.

Nay, nói tu tập hai công đức này, tức là Thể của Du-già thứ tư. Pháp sư Cảnh nói: “Bài tụng trước nêu Du-già thế gian. Bài tụng sau, nói về Du-già xuất thế gian.

Y cứ Du-già đầu tiên, gồm có sáu môn:

1/ Nói về bảy thứ tác ý chế phục “hoặc”.

2/ Biện biệt rộng về tám Định.

3/ Nói về vô tưởng, Diệt Định.

4/ Biện biệt về năm thông.

5/ Nói về đời đời khác nhau của công đức hữu lậu.

6/ Nói về tướng của người lìa Dục.

Trong phần nói về hạnh xuất thế của bài tụng sau biện biệt, quán sát các Đế tức Kiến đạo trở xuống, là vẫn còn khởi tác ý Thắng giải của tướng liễu. Tác ý tướng liễu ở Niệm Xứ chung, riêng của năm pháp quán tâm. Tác ý Thắng giải ở bốn thiện căn, đều quán bốn Đế.

Như thật mà thông suốt, tức ở Kiến đạo xa lìa tác ý, thấu suốt chân như của bốn Đế, dứt trừ hẳn kiến hoặc.

Phân biệt rộng về người tu, tức là tác ý quán sát, quán sát hai “hoặc” mà kiến, tu dứt trừ, lại khởi gồm thâu tác ý ưa thích, tiến tới dứt hai quả trong “tu hoặc”, cho đến tiến tới dứt tám phẩm của Phi tưởng xong, trở lại “tu hoặc”.

Lại nữa, khởi tác ý gia hạnh rốt ráo, tức là định Kim Cương dụ của đạo Vô gián thứ chín của Phi tưởng.

Rốt ráo là sau kia, tức là quả vị rốt ráo của gia hạnh, ở vô học, tận trí vô sinh. Pháp sư Khuy Cơ nói: 1- Một bài tụng nói về một Trì có bảy Môn. 2- Một Hạnh nói về bảy tác ý trong môn đầu, trước nói về bảy môn:

  1. Tác ý.
  2. Lìa dục.
  3. Nói rộng các Định.
  4. Hai Định.
  5. Năm thông.
  6. Sinh ra khác nhau.
  7. Các tướng ra khỏi, Trì thứ tư, lấy đây làm thể.

Trong quyển ba mươi mốt, ba mươi hai ở trước đã nói chướng tịnh thứ tư. Nay, giải thích tu tác ý thứ năm, tức đại văn trong quyển ba mươi. Nay dựa vào phán quyết ở trước, nói theo môn thì: 1/ Giải thích sơ lược hai môn. 2/ Hỏi: “Trong đây có bao nhiêu thứ v.v… ” trở xuống, là nói rộng.

Trong phần trước, đã được tác ý, các sư Du-già đã hội nhập phần ít ưa đoạn như thế. Đây tức là kết phần đã nói ở trước. Người mới tu nghiệp đã được phần ít bảy tác ý thuộc về Địa Định, ưa dứt phiền não, ưa chứng Niết-bàn. Từ đây về sau, người mới tu nghiệp chỉ có hai thu hướng.

Trong phần nói rộng, đại văn chia làm hai:

1/ Đầu quyển này, nói về thú hướng thế gian.

2/ Giữa quyển nói về thu hướng xuất thế gian.

Trong phần ở trước:

  1. Nói lược sáu môn.
  2. Nói rộng sáu môn.

Trong phần trước, đại khái có bốn thứ hướng đến thế gian, phát khởi gia hạnh. Người thứ tư kia, nghĩa là tất cả Bồ-tát ưa chứng Đại Bồ-đề ở đời đương lai, chẳng phải hiện pháp. Pháp sư Cơ nói: “Đại ý ở đây nói quả Phật đương lai của Bồ-tát, chẳng phải pháp hiện tại. Đạo thế gian có thể hiện pháp gia hạnh, chỉ ở ngay trong sinh tử thành tựu chúng sinh nơi đạo gia hạnh của thế gian. Người nữ nếu tâm hướng đến quả vị Phật ở tương lai, thì hãy phát gia hạnh ngay đạo xuất thế. Nay, nghĩa trước, lại có hai thứ:

1/ Còn trói buộc: là các phàm phu.

2/ Không còn trói buộc là các vị Hữu học.”

Hỏi: “Thế nào là Hữu học ưa thu hướng thế gian, phát khởi gia hạnh ư?”

Giải thích: “Thứ hai, thứ tư trong bốn người, phát tâm trở lên đều gọi là Học. Từng phần điều-phục “Tu hoặc”, gọi là không còn trói buộc, nghĩa là ở trước đối với Cõi Dục, quán là tánh v.v… thô, tức là lược phân tích bảy tác-ý lìa dục và các định. “Lại nương tựa Tĩnh lự v.v…” Trở xuống, là phân tích sơ lược về bốn môn sau. Pháp sư Thái nói: “Có bốn hạng người khởi sáu công hạnh điều-phục “hoặc”:

1/ Các ngoại đạo.

2/ Người tu hành định lâu trong nội pháp, chỉ dùng sáu hạnh để điều-phục các triền hiện-tại.

3/ Dù bản tánh Noãn v.v… nhạy bén, nhưng Noãn v.v… không nóng, vì không thành tựu, nên không thể khởi quán Đế, lìa dục, lại khởi sáu hạnh, điều-phục “hoặc”, khởi định, hoặc sinh lên Địa trên.

4/ Đại Bồ-tát để lại “hoặc”, vì chưa diệt hết, nên khởi sáu hạnh. Điều-phục các phiền-não mà phát thần-thông. Lại, nói rằng, “Hữu-học đã dứt bốn địa “hoặc”, vì có thể khởi Diệt Định, nên người Bất Hoàn cũng khởi sáu hạnh.” Đây là ngài Luận-Chủ nêu định vô tâm đáp lại câu hỏi trước: “Làm sao các quả sơ, nhị Hữu học lại không thể điềuphục “hoặc” để được định căn bản ? Nếu được định căn bản, thì ra được Diệt định? Dù đưa ra cách giải-thích này, vẫn không thuận với cách hành văn. Vì lẽ, trong đây dù nói về pháp hạnh của Thinh-văn, nhưng tổng kết hiện pháp lạc trụ, thế gian khởi gia hạnh, nên biện minh Đại Bồ-tát vì lìa dục cõi Dục trở xuống, là thứ hai, nói rộng sáu môn, tức là sáu đoạn. Đầu tiên, giải thích bảy tác-ý lìa dục có hai:

1/ Nói về bảy tác-ý lìa dục cõi Dục.

2/ Nói bảy thứ tác-ý lìa sơ Tĩnh-lự trở lên, cho đến dục của Vô Sở Hữu Xứ.

Trong phần trước, trước là nêu, chung, sau là giải thích riêng, trong đó có bốn:

1/ Theo thứ lớp, giải thích riêng bảy tác-ý.

2/ Nói khi tác-ý chuyễn biến, sự mừng vui tăng dần, cho đến đầy đủ trụ đối-trị tu quả.

3/ Giải-thích lại tác-dụng sai khác của tác-ý.

4/ Nói cung bốn tác-ý gồm thâu nhau.

Y theo đoạn đầu, trước là giải thích về tác-ý nghĩa là liễu tướng , hiểu rõ tướng thô cõi Dục, tướng tĩnh lặng của Sơ tĩnh lự.

Pháp sư Khuy Cơ nói: “Trong Tiểu thừa, giải thích sáu hạnh đều phải tác-ý. Nay, Đại-thừa chỉ một hạnh là được ngay, không cần đủ sáu hạnh, tác-ý bất cứ một thứ nào trong sáu hạnh, thuận với chỗ Tạc-thọ, thì chỗ tham-dục nương tựa, là chỗ tưởng, tâm đảo nương tựa. Pháp sư Cảnh nói: “Đại thừa y cứ ở nghĩa tham để nói tưởng đảo, kể cả tâmđảo, nên chỗ tham nương tựa tức là tưởng đảo, chỗ tâm đảo nương tựa. Thuận với chỗ không khổ, lãc thọ là chỗ ngu si nương tựa. Cho đến là chỗ Kiến đảo nương tựa. Nhân si khởi kiến, nên chỗ si nương tựa, tức là chỗ kiến đảo nương tựa. Trong đây, chủ-thể duyên, gọi là dục phiền não; đối tượng duyên, gọi là dục sự”.

Trong cộng tướng của Dục tầm, Từ nói rằng, tất cả dục, nghĩa là khổ sinh v.v… cho đến khổ cầu mong không được, không nói hành khổ thứ tám. Pháp sư Cơ nói: “Trong đây, y cứ vào thế gian đều biết mà nói, không y cứ ở khổ thắng-nghĩa để nói khổ thắng-nghĩa này, là tất cả dục và các sự đều có, nhưng khó biết, cho nên không nói.”

Nay, giải thích bỏ cái chung, y cứ riêng, nên lược qua không nói. Trong phẩm thô của các dục Tầm, tư nói rằng: “Cũng như bộ xương, cho đến như quả thọ đoan, đây là y cứ ở tám dụ để nói về lỗi.” Luận sư Thái Cơ cùng cho là trong đây, như bộ xương có thể xấu ác, như máu đọng lại, thịt không chắc, có thể xấu; như đuốc cỏ tắt trong phút chốc; như một phần lửa tro có thể đốt cháy núi, đầm; Một chút dục có thể tiêu diệt rất nhiều gốc lành. Pháp khác, như trước đã nói.

Lại, giải thích: “Dùng thân xúc chạm lửa, bèn trở thành bệnh nặng; trong không xúc chạm phải lửa, lại trở thành niềm vui kia. Dục cũng như thế”. Lại, nói “Như một phần tro có lửa, một phần không có lửa, có thể chán ghét”. Nghĩa này không đúng. Vì trong lý thô của Dục Tầm, Tư. Pháp sư Cảnh “Nói: Do tư tưởng lớn, theo đuổi, cầu mong v.v… lớn là đạo lý quán đãi. “Ăn có công năng đối trị khổ đói khát v.v…” trở xuống là nói về đạo lý tác dụng. Lại, các dục kia có hiện lượng, tỉ lượng của lượng Chí giáo, minh chứng thành đạo lý”. Lại, các dục đó từ vô thỉ đến nay v.v… ” trở xuống, là nói về đạo lý “pháp nhĩ”. Nay, phán xét đạo lý tác dụng thứ hai, từ “Lại, các dục kia dù khéo sinh khởi, dù khéo tăng trưởng, cho đến vì trừ bệnh, nên uống thuốc tạp nhạp dơ bẩn, là văn này. Còn lại như sắp xếp ở trước”.

Pháp sư Thái nói: “Nội Xứ cõi Dục có sắc căn, thân thô nặng không đồng với cõi Sắc, tế, nhẹ. Nuôi nấng thì dùng đoạn thực, mặc, thì dùng xiêm y. hoặc bị người khác phá hoại, cắt đứt; hoặc là chết mất, pháp tánh tự nhiên lìa tan, tiêu diệt. Hoặc là thân mình, tùy theo đối tượng sinh khởi các thứ khổ não, thường phải đối trị.

Giải thích về tác ý xa lìa rằng: “Sinh khởi dứt đạo phiền não. Pháp sư Cơ giải thích: “Hai tác ý trước không nói dứt trừ “hoặc”, tác ý viển ly thứ ba, dứt trừ được phiền não, nên nói trước hết sinh đạo đoạn.

Hỏi: “Như chiếc cân hai đầu thấp, lúc ngang thì đồng nhau. Vì sao được tướng liễu, mà tâm cõi Sắc vẫn còn có “hoặc” của cõi Dục chưa dứt hết?

Thuật rằng: “Hiểu rõ tướng trở xuống là nghe, tư duy cõi Dục dù cho nhàm chán dục nhưng chưa thể thuận theo dứt “hoặc” cõi dưới. Liễu tướng thắng giải kia có thể thuận với xa lìa, dứt cõi Dục dưới, nên, hiểu rõ tướng thắng giải dù không dứt “hoặc” mà “hoặc” bất sinh, như người sơ quả chưa lìa dục tu mà được Vị Chí. Nay liễu tướng cũng thế. Chưa lìa “hoặc” v.v… của phẩm dưới, thì được tướng liễu. Khi tướng liễu khởi, tùy “hoặc” bất sinh, như lúc tâm thiện sinh, tâm ác không khởi, vì chẳng phải dứt, nên không khởi, vì tác ý xa lìa đã dứt, nên không khởi, vì tác ý sơ, nhị vẫn còn nên chưa dứt đối với địa vị Sơ, Nhị.

Nếu có gián đoạn khởi dục ác thì trong giải thích hai tác ý sau, Pháp sư Khuy Cơ lại giải thích rằng: “Giải thích về tác ý rốt ráo gia hạnh nói: “Do nhân duyên này, từ hệ thuộc cõi Dục, cho đến gọi là tác ý rốt ráo gia hạnh, nghĩa là trong đây giải thích về sáu hạnh điều phục “hoặc” không được chứng đạo Vô gián ở trên, cho nên nói tạm thời phục đoạn. Phục đoạnnày, nghĩa là hoặc điều phục tâm phẩm trên, hoặc điều phục hạt giống, cả hai đều phải điều phục. Làm sao biết được? Trong giải thích về tác ý sơ, nhị nói: “Tác ý thứ hai không bị nghe, tư duy xen lẫn. Dù “hoặc” bất sinh, vì chưa điều phục tâm trên, nên chưa được gọi là đạo Vô gián. Đến điều phục hạt giống trong tác ý thứ ba, công năng của quả hiện hành sinh trên, mới gọi là đạo Vô gián, đây gọi là hạnh hữu lậu. Nếu là hạnh vô lậu thì phải dứt hạt giống, mới gọi là đạo Vô gián, dù tâm phẩm thượng không sinh vẫn là đạo Phương tiện. Nay, ở đây cũng thế, điều phục tâm phẩm thượng là đạo Phương tiện, điều phục hạt giống là đạo Vô gián.

Tác ý thứ bảy từ đạo Vô gián này, do nhân duyên này chứng nhập Định v.v… của sơ tĩnh lự căn bản. Trong đây, ý của luận nói là đạo giải thoát thứ chín ở tĩnh lự căn bản; chín đạo Vô gián trước và tám đạo giải thoát đều ở trong định cận phần. Trong vấn đề này, có hai cách giải thích:

1/ Bắt đầu từ Sơ tĩnh lự cho đến đệ Tam thiền, chín Vô gián, chín giải thoát, hoặc ở giải thoát thứ chín trong cận phần; hoặc ở trong định căn bản. Nếu Bốn thiền trở lên, thì đạo giải thoát thứ chín nhất định ở trong định căn bản . Tám giải thoát trước, chín Vô gián trong cận phần. Vì sao? Vì ba tĩnh lự trở xuống, là căn bản có Hỷ, Lạc, nên trong Địa cận phần có Xả. Trong Địa cănbản, hoặc đi vào quán, hoặc dứt trừ “hoặc”, đều không có Xả thọ, do pháp tối tăm, nên quyết định không có, vì hỷ, Lạc sáng suốt, nhạy bén, nên có. Trong cận phần của địa kia, hoặc dứt trừ “hoặc”, hoặc đi vào quán, đều có Xả, chỉ đi vào quán được có Hỷ, Lạc. Hỷ, Lạc chẳng có khi nào dứt “hoặc”.

Ba tĩnh lự trở xuống, là có hai người lợi, độn khởi đạo giải thoát Vô gián. Nếu là người lợi căn, thì đạo Vô gián thứ chín ở cận phần tương ưng với xả. Đạo giải thoát thứ chín ở định căn bản, tương ưng với hỷ lạc. Nếu người độn căn, thì đạo Vô gián thứ chín sẽ ở Cận phần, tương ưng với xả, vì tâm chậm lụt, không thể nhanh chóng nhập định căn bản tương ưng với hỷ lạc. Đạo giải thoát thứ chín kia, tức ở định cận phần, tương ưng với xả.

Nay nói tác ý thứ bảy nhập định căn bản, tức y cứ ở người lợi căn, nhanh chóng có thể nhập căn bản, tương ưng với Lạc v.v… Tác ý thứ bảy này lấy ba tĩnh lự. Nếu ở Cận phần là đạo Giải thoát, tức tương ưng với Xả thọ. Nếu có định căn bản, là đạo Giải thoát sẽ tương ưng với Lạc v.v… Tĩnh lự thứ tư kia trở lên, tám giải thoát trước, chín Vô gián đều ở trong Cận phần. Nếu trong giải thoát thứ chín, tất nhiến, ở trong định căn bản, chứ chẳng phải ở Cận phần, đây là thắng nghĩa.

2/ Lại, nói rằng: “Nếu không phân biệt như thế, thì chín đạo Vô gián trước, tám giải thoát ở trong Cận Phần, đạo Giải thoát thứ chín ở trong định căn bản, bắt đầu từ sơ tĩnh lự cho đến Phi tưởng cũng thế. Vậy thì, nghĩa trước lấy gì làm chứng? Nếu giải thích chung về chỗ không phân biệt sáu tác ý trước là cận phần thì thứ bảy là căn bản, chỉ nói rằng, lấy chỗ đạo giải thoát Vô gián làm chứng. Chưa thấy văn nào lấy sự phân biệt làm mầu nhiệm, nên nghĩa sau, chính là lấy văn này làm chứng. Chỗ trước hội nhập văn này, như trước đây đã giải thích về người lợi, độn. (Đến trong Không xứ dưới đây sẽ giải thích rộng.”

“Lại, đối với xa lìa gồm thâu tác ý lạc lúc chuyễn biến hiện tại v.v… ” trở xuống, là thứ hai, thuyết-minh khi bốn tác-ý chuyễn biến, Hỷ, Lạc đầy đủ, trụ ở quả đối-trị.

Hỏi: “Vì sao trong bảy tác-ý chỉ thuyết-minh bốn tác-ý này là có sự thích hợp vui vẻ kia?”

Giải thích: “Xa lìa, gồm thâu rốt ráo gia hạnh lạc, ba thứ tác-ý này là đạo vô-gián, vì trực tiếp bỏ đi sự thô, nặng, nên thêm thích hợp vui vẻ. tác-ý của quả rốt ráo gia-hạnh dù chẳng phải đạo Vô-gián, nhưng chính có công năng dứt “hoặc”, mà là giải thoát, vì đầu tiên lìa dục rốt ráo, thêm thích hợp, vui vẻ nhiều, cho nên, nói riêng. Hai tác-ý trước trong ba tác-ý khác là đạo gia hạnh. tác-ý quán sát là đạo Thắng-Tấn, không đồng với bốn tác-ý ở trước, cho nên không nói.

Lại, “tác-ý liễu tướng đối với chỗ nên dứt bỏ,” trở xuống, là thứ ba, giải thích lại tác dụng khác nhau của tác-ý. tác-ý liễu tướng biết rõ về dục ác nên dứt trừ; lẽ ra Tĩnh lự được. tác-ý quán sát về giới hạn hiểu biết, lìa tăng-thượng-mạn. Năm tác-ý còn lại như văn.

Pháp sư Thái nói Tiểu-thừa thừa nhận chung về định Vị-chí không có Hỷ, Lạc thọ. Nay, theo luận này nói về Hỷ, lạc thọ: Xa lìa gồm thâu lạc, dứt phẩm Sơ và Nhị, ở định Vị-chí, Hỷ, Lạc đều hiện hành, nhưng vì Xả đã gián đoạn, nên thường khởi gia hạnh rốt ráo đều hiện hành Hỷ, Lạc, chưa khắp thân phần , cũng ngăn cách với Xả. Lúc kết quả, Hỷ, Lạc thường nối tiếp nhau khởi, nên không nói là luôn luôn. Pháp sư Cơ nói: “Hai tác-ý trước đều là đạo gia hạnh. Nay, ở đây chỉ lấy Thắng-giải làm chánh gia hạnh, nghĩa là nay, y cứ ở Xứ trên vượt hơn và tiếp cận chỗ của đạo Vô gián và không bị chỗ gián đoạn của nghe, tư duy, để nói, cho nên chỉ nói thắng-giải là chánh gia-hạnh. Quyển 28 ở trước y cứ ở sự thật để nói. Hiểu rõ tướng cũng là gia hạnh.

Lại giải-thích đây là chính thức phát gia-hạnh, chưa hẳn phân biệt rõ tướng chẳng phải đạo Gia hạnh, vì thắng-giải vượt hơn cận phần, nên nói định chính phát gia hạnh. Vả lại, nói thắng-giải là chánh gia hạnh, không ngăn ngừa sự hiểu rõ tướng, y cứ sự thật, nên không trái. Lại, vì sao dứt phẩm thượng nói là không nói lìa tăng thượng mạn? Lại, không dứt phẩm thứ ba, về sau, nói là lìa tăng thượng mạn? Mà dứt ở phẩm trung, hạ, về sau, nói là lìa tăng thượng mạn?

Có nghĩa là Sáu phẩm “hoặc” trước thô, dễ biết; ba phẩm “hoặc” sau tế khó hiểu. Dứt “Hoặc” của phẩm trung, thượng ở trước xong, không biết “hoặc” phẩm hạ khác vẫn tồn tại, bèn khởi Tăng-ThượngMạn cho rằng, chín phẩm đều dứt “Hoặc” hết, đã tu chứng, được cănbản định. Nay, lìa mạn này, nêu sau phẩm “Hoặc” trong đoạn, nói là lìa Tăng-thượng-mạn, chẳng phải sau phẩm thượng, nói là lìa. Lại, “Nếu tác-ý liễu tướng” trở xuống, là thứ tư, đem sáu tác-ý với bốn tác-ý và hai trị nhàm, đoạn nhiếp thuộc nhau. Pháp sư Khuy Cơ giải thích, nay trong đây ý nói thuộc về bốn mươi tác-ý và bốn thuộc về đối trị . Về bốn mươi tác-ý như quyển mười một ở trước đã giải thích. Nay, nói rằng, tác-ý liễu tướng, hoặc tác-ý thắng-giải, đều gọi là tác-ý Tùy-thuận đốitrị nhàm chán, hư hoại đều hiện hành, HAI tác-ý trước là Tùy-thuận. Lại, nếu tác-ý xa lìa, tác-ý rốt ráo gia hạnh, gọi là tác-ý đối-trị và đoạn đối trị đều hiện hành thì tác-ý đối-trị phải là hai mươi sáu. tác-ý đối-trị, nghĩa là do đối-trị này, nên chính Xả các“hoặc”, là hai đạo Vô-gián này; cho nên gồm thâu tác-ý đối-trị.

Lại, thâu về tác-ý lạc gọi là tác-ý đối-trị và tác-ý thuận thanhtịnh, về tác ý thuận thanh tịnh phải là 27 tác-ý thuận thanh tịnh, nghĩa là tu sáu Tùy-niệm, tức Niệm Phật v.v… Hoặc gồm thâu tác-ý Lạc đoạn “hoặc” phẩm trung, nên gọi là tác-ý đối-trị, để nói về “duyên” sáu Niệm, tu lạc riêng, quán Niết-bàn Thanh-tịnh, Phật v.v… cũng gọi là thanh-tịnh. Vì “duyên” riêng ở đây, nên không cùng viễn ly đồng một chỗ mà nói. Lại, xa lìa ở trước v.v… vì không gồm thâu tác-ý thuận thanh-tịnh, nên hai tác-ý này đồng gồm thâu.

“Vì sao trong đây không gồm thâu bốn đối trị?”

Nghĩa là: “Vì ảnh hưởng, ở đây nói đoạn “hoặc”, chỉ xa lìa, nên biết là đối-trị.”

“Nếu vậy, thì vì sao không nói là “Câu hành”?”

Nghĩa là: “Đối trị là tuệ; tác-ý là Ý. Văn trước lại gồm thâu đốitrị. Ý và tuệ đều vận hành, nên gọi là “câu hành”.

Nay, trong đây chỉ nói tác-ý không nói đối trị, vì không có tuệ nên không nói câu hành. Lại nếu tác ý quán sát gọi là tác ý thuận Quánsát, phải biết là 28 tác-ý thuận Quán-sát, nghĩa là quán các phiền não đoạn, và quán “hoặc” chưa dứt trừ, đạo lý các pháp đã chứng ở trước, đối-trị này so với trước, cũng là đối-trị viễn phần trì. Nay, vì lược qua nên không nói. Đối với xa lìa ở trước, vì là kia tiến đạo nên gọi là đối trị phần xa. Đối với gồm thâu tác-ý Lạc, là vì đạo giải-thoát, nên là đối-trị trì. Nay vì từ sau gồm thâu lạc mới nói, nên không nói đối trị gồm thâu nhau.

Vì ở trước đã không gồm thâu nhau, nên lại nói rằng: “Như thế, bốn thứ tác ý, còn lại phải biết là xếp vào sáu tác ý, nghĩa là tác ý tùy thuận v.v…

Nghĩa là: “Bốn tác ý là ngoài bảy tác ý, nên gọi là “khác”. Bốn tác ý này là tác ý trong bốn mươi tác ý. Nay, xếp vào sáu trong bảy tác ý, nên nói xếp vào sáu tác ý, cho nên nói xếp vào sáu tác ý.”

Hỏi: “Vì sao trong đây không nói về tác ý thứ bảy gồm thâu nhau?”.

Đáp: Vì tác ý thứ bảy là quả, còn bốn tác ý này và sáu tác ý trước đều là nhân. Nhân có thể nhiếp thọ nhau, chứ chẳng phải quả, nên không gồm thân tác ý thứ bảy. Trong đây lấy bảy nhiếp bốn mươi, nên chỉ nhiếp thọ bốn. Tác ý thứ mười một kia, văn dưới đây sẽ dùng bốn mươi nhiếp bảy, tức có bốn mươi tác ý trong bảy gồm thâu hết nghĩa. Nay dùng bảy gồmthâu bốn mươi, chư chẳng phải bốn mươi gồm thâu bảy, nên có không hết, không gồm thâu khác nhau, cần phải xem xét.

Từ đây trở xuống, là thứ hai, nói về bảy tác ý, lìa dục sơ tĩnh lự trở lên, cho đến Vô sở hữu xứ, trong đó chia làm ba:

1/ Nêu Sơ định, so sánh chung địc trên đều có bảy tác ý.

2/ “Nếu đối với có Tầm, có Từ v.v… ” trở xuống, là dựa vào Định trên, lìa Định dưới, có bảy tác ý.

3/ Lại, tướng thô kia. Trở xuống là nói dựa vào hai thứ tướng thô Tầm, Từ của sáu sự, y cứ trong giải thích riêng, người đã chứng nhập, đã được, vấn đề này có hai giải thích:

1- Thân ở cõi Dục, vì nhập Sơ định, nên gọi là đã chứng nhập; vì sinh lên Địa kia, nên gọi là đã được.

2- Vì chính thức ở Định, nên gọi là chứng nhập, dù không nhập vào được, nên gọi là đã được. Nếu ở Địa Định, cho đến đây gọi là Từ. Pháp sư Cảnh nói: “Hạnh Tầm, Từ này vì đã có thô, tế nên không được cùng sinh. Chánh tư duy trong tám chánh đạo là Tầm. Tầm lấy Tư và tuệ làm tánh. Chánh kiến cũng là tuệ. Không có hai tuệ trong một niệm, đều là nghĩa chỉ có thể nói là hai, cũng có thể chánh tư duy lấy Tư làm tánh; chánh kiến dùng tuệ làm Tánh, với thể riêng đều sinh.

Pháp sư Thái nói: “Danh ngôn có công năng giải thích pháp, ý có công năng phân biệt pháp. Tầm đều có ý thô, cũng có công năng phân biệt pháp. Phân biệt nghĩa pháp giống như danh ngôn, nên gọi là ý ngôn.”

Lại giải thích “Ngôn là ngôn tư duy, chứ chẳng phải ngôn ngữ. Ý và tánh của tư, gọi là ngôn “câu hành”, gọi là ý ngôn.”

Pháp sư Khuy Cơ nói: “Danh, Tự nói thể của Danh là thô. Ý Tầm hay tư duy các pháp giống như danh ngôn, nên nói là tánh của ý ngôn. Lại, ngôn thuyết gọi là ngôn danh; tư duy gọi là ý danh; Tầm là Tư duy danh, nên gọi là ý ngôn. Tầm, Từ của Tiểu thừa tương ưng với căn bản.”

Có người nói: “Nay, Đại thừa không như thế, Tầm, Từ chỉ ở phương tiện”, là không đúng. Chỗ khác lại nói rằng: “Trong định không có Tầm, Từ, không phát ngôn ngữ tầm tư chứ chẳng phải không có Tầm,Từ tế. Lại, phân biệt không có năm chi tĩnh lự căn bản lập chi. Lại, chính rõ biết Tầm, Từ như thế là pháp tánh bình đẳng của tâm. Nghĩa là chỉ hiều Tầm, Từ là tánh của tâm sở cùng sinh với tâm , không hiểu Tầm, Từ tự được tương ưng, nương tựa vào trong mà sinh, thể là pháp trần, thuộc về xứ ngoài.

Lại, chính thức biết rõ Tầm, Từ như thế thuộc về ba đời. Từ nhân duyên sinh cho đến theo đuổi các dục v.v… Nghĩa là quán Tầm, từ của sơ tĩnh lự tán, động, không tĩnh, theo đuổi các Dục và thuộc về phần ít ly sinh, hỷ lạc.

Thứ ba trong văn nêu: “khổ trụ tăng thượng.” Pháp sư Thái nói: “Hữu tình của địa dưới đã trụ năm uẩn, kể cả bốn uẩn, vì khô tăng thượng nên gọi là khổ trụ”.

Pháp sư Khuy Cơ nói: “ Nghĩa là địa dưới dừng lại ở khổ tăng thượng.”

“Lại nữa, người lìa dục trong đây..” Trở xuống, là thứ hai, nói rộng về tám định, sau, y cứ ở tĩnh lự và Vô Sắc đối nhau nói khác.

Trong phần trước, đầu tiên, là giải thích về lìa dục trong sơ tĩnh lự, pháp ác bất thiện có tầm, có từ, ly sinh hỷ, lạc, nhập tĩnh lự, an trụ đầy đủ.

Hai dục, hai ly… Nghĩa là tham gọi là dục phiền não; năm trần gọi là sự dục, lúc đối trị khởi với không tham, đều gọi là với tướng ưng với lìa nhàm trái với năm trần, gọi là lìa cảnh giới.

Nói ly, nghĩa là vì đã đạt được tác ý rốt ráo gia hạnh, vì được Vô gián thứ chín, nên lìa được các pháp bất thiện, nên gọi là lìa.

Nói sinh, là do sinh này làm nhân duyên Vô gián mà sinh, nên nói lý sinh, nghĩa là vì đã được đạo Vô gián thứ chín lìa hết dục ác. Từ Vô gián này được tác ý của quả rốt ráo gia hạnh đều cùng lúc có hỷ, lạc sinh. Nói hỷ, lạc, nghĩa là vì đã đạt được nghĩa đã mong cầu, nên ngang bằng.

Pháp sư Cảnh nói: “Lạc là hỷ thọ, chẳng phải số ỷ (khinh an). Nghĩa là Hỷ thọ này làm cho thân thích hợp, vui vẻ gọi là lạc.”

Pháp sư Khuy Cơ nói: “ Đây là y cứ đạo giải thoát thứ chín của lợi căn người nhập căn bản tĩnh lự, nên nói là sinh hỷ lạc. Nếu đạo giải thoát thứ chín của người độn căn thì ở định Cận phần về sau, mới nhập được căn bản, khởi sinh hỷ lạc, cho đến bảy ngày bảy đêm, có thể chính an trụ.”

Pháp sư Khuy Cơ nói: “ Nói về nhập định, có thể đến bảy ngày, đêm mới an trụ. Vì sao không nói nhiều thời gian, mà chỉ nói bảy ngày?

Vì rằng đoạn thục trong cõi Dục trải qua bảy ngày. Nếu quá bảy ngày xuất định, thân người kia liền hư hoại; Vì thế, không được trải qua thời gian lâu. Vả lại, được ngần ấy thời gian mới nhập diệt định, không bỏ nhiều năm, tháng. Nếu quá bảy ngày rồi xuất định, thì thân người kia sẽ bị hư hoại. Nếu xuất định trong bảy ngày thì thân thọ sẽ không hư hoại.

Nay, y cứ vào thời gian không hư hoại để nói, chỉ nói bảy ngày.

Hỏi: “ Quá bảy ngày rồi nhập diệt định. Nếu vậy, khi xuất định, lẽ ra sẽ chết? “

Nghĩa rằng: “ không đúng! Nhập trong nhiều giờ, vì nhờ sức định giữ gìn nên không chết. Nay, cũng xuất định, tức vì nhập định hữu tâm, nên cũng sẽ không chết”.

Hỏi: “ Cũng xuất diệt định, vì diệt định không giữ lấy thân, nên thân sẽ bị hư hoại hay không hư hoại ư?

Đáp: Hư hoại!

Kế là, giải thích về nội đẳng tịnh trong tĩnh lự thứ hai. Luận Tiểu thừa cho là tín. Lúc được định thứ hai, tìn biết cả phiền não của Địa định đều có thể lìa, nên tín được nói rõ ràng. Nay, trong Đại thừa dùng xả niệm, chánh tri, lìa đoạn tầm, từ, gọi là Nội đẳng tịnh. Lại do tâm hỷ dao động, phấn khởi, không yên tĩnh, nên không được gọi là xả niệm, chánh tri.

Trong quyển hai mươi bảy có văn nói về định sanh: Định sinh này khác với sơ tĩnh lự. Sơ tĩnh lự kia gọi là Ly sinh; Đây gọi là Định sinh. Sơ tĩnh lự kia được đầu tiên lìa cõi Dục, gọi là ly sinh. Đây là y cứ ở trước đã được định, nên nói là định sinh.

Nói hỷ lạc nghĩa là đã đạt được nghĩa mong cầu, v.v… định lạc Sơ, Nhị ở trước đều là Hỷ thọ, nghĩa chia làm hai: Nếu để cho bên thích hợp vui vẻ của A-lại-da thì gọi là lạc; còn khiến biên ý thức thích hợp, vui vẻ, thì gọi là hỷ. Ơ trước, mong cầu hỷ, lạc, tu định thứ hai. Giờ đây, đạt được nghĩa mong cầu. Pháp sư Thái nói: “ Hiểu tường tận chỉ thú của luận này, thì tầm, từ chỉ ở định Vị Chí gián đoạn khởi. Nay, khi được định phương tiện thứ hai cũng không có tầm, từ nên nói vượt qua. Từ sơ định căn bản Vô gián mà sinh hai định phương tiện, nên gọi là định sinh.

Trong giải thích tĩnh lự thứ ba, xả niệm, chánh tri đều đối trị hỷ, không đồng với chánh tri của luận Tiểu thừa, bảo vệ niềm vui của đương địa.

Pháp sư Thái nói: “Trong hai định đầu, đều không có lìa hỷ, lạc và khiến cho ý thức nhóm không có phân biệt lạc. Tuy có xả thọ, nhưng với tầm, từ, hỷ gián đoạn khởi, chứ chẳng phải Vô gián xả.

Pháp sư Khuy Cơ nói: “Tĩnh lự thứ ba trở xuống, là không có niềm vui như thế và Vô gián xả, nghĩa là trở xuống có thể của lạc là hỷ, thân, tâm thích hợp, vui vẻ là khác nhau. Nay, tâm thích hợp vui vẻ trong tĩnh lự thứ ba cũng gọi là lạc, vì niềm vui cùng cực, nên nói là địa dưới không có niềm vui này. Trong địa dưới dù có xả, nhưng không phân biệt rõ danh. Lại, vì có gián đoạn, chẳng phải Vô gián xả, nên nói không có. Chẳng phải xả có gián đoạn cũng không có gọi là không có xả.”

Trong giải thích tĩnh lự thứ tư nói: “ Lại nữa, vì thế của chủng loại đối trị trong đây giống nhau, nên cho khiến không xuất ly lạc v.v… vượt hơn trong địa tĩnh lự thứ ba, đây là giải thích cách giải thích trong kinh về ba tĩnh lự dưới đều có phân biệt chi của chủ thể đối trị. Đối với địa tĩnh lự thứ tư kia chỉ giải thích về tác dụng đối trị năng lìa khổ, vui không ngoài thể đối trị, do thế của chủng loại đối trị tịnh thứ ba giống nhau, nên lược qua không nói.

Dưới đây, phát ra tướng đối trị giống nhau cái gọi là xả niệm, chánh tri. Đây là xả niệm trong phần thắng tấn của địa tĩnh lự thứ ba nhàm chán niềm vui của địa mình, mong cầu định không khổ, không vui, thứ tư. Cho nên, có chung xả niệm, chánh tri. Nếu chính thức phát ra thể đối trị trong định thứ tư kia, thì chỉ là niệm chánh tri, vì bỏ đi niềm vui của địa dưới, nên nói rằng, thế của đối trị trong đây là giống nhau, nên lược qua không nói về niềm vui đoạn đối trị, mà chỉ nói là đối trị đã tạo nên sự ưa đoạn v.v…

Pháp sư Thái nói: “ Những gì gọi là chủng loại đối trị của định thứ tư này? Nghĩa là xả niệm chánh tri trong định thứ ba, vì chính trong định thứ ba này thường tu tập, nên nhập định thứ tư, tức là hay bỏ niềm vui vượt hơn trong định thứ ba. Niềm vui trong định thứ ba có thể khiến hành giả không xuất định thứ ba, vì trong bỏ phương tiện kia, chỉ nói đối tượng trị, không nói chủ thể trị. Do nghĩa này nên trong khế kinh nói rằng: “ Do ưa đoạn, nên tu định thứ tư, lúc bấy giờ đã có khổ, vui đều được tiêu diệt. Do niềm vui của định thứ tư vì quyết định nhân duyên ưa đoạn. Hoặc nổi khổ của hai định ở trước đoạn; hoặc niềm vui của bốn định hôm nay đoạn, nói chung, khi định thứ tư vui đoạn, khổ đoạn lo mừng ở trước mất. Chữ “tiên” (trước) trong kinh ấy là hướng lên địa trên, hướng xuống địa dưới. Hướng lên địa trên mà nói là khổ đoạn; hướng xuống địa dưới mà nói ưu, hỷ mất.”

Pháp sư Khuy Cơ nói “Xả niệm, chánh tri trong đây, gọi là chủ thể đối trị. Niềm vui của thiền thứ ba, gọi là đối tượng đối trị. Trong kinh chỉ nói niềm vui bị dứt trừ, không nói là người năng đoạn Xả chánh tri, là vì thiền thứ ba đã nói về pháp hay đối trị Cã niệm v.v… với pháp hay đối trị của đệ Tứ thiền này giống nhau, nên gọi là chủng loại, vì danh thể giống nhau, nên nói là chủng loại. Vì đều là hai xứ dứt “hoặc” giống nhau, nên nói là thể giống nhau, vì lược qua nên không nói”.

Trong giải thích kinh này không nói về lý do của chủ thể trị thứ tư.

Nói là do, tức ở đây vì trường hợp tu tập nên tức là hay loại bỏ, khiến cho không xuất ly Tĩnh lự thứ ba. Vì niềm vui vượt hơn trong Địa tĩnh lự thứ ba, cho nên nói là do vì niềm vui dứt.

Trong đây, niềm vui trói buộc Tĩnh lự thứ ba, buộc ràng hành giải, làm cho không xuất ly Tĩnh lự thứ ba, không thể được định thứ tư trung thượng kia. Nay, thường tu tập xả niệm v.v… có thể loại bỏ niềm vui của Định này.

Nói: “Do nhân duyên này, hoặc ở trước đã dứt, hoặc nay đang dứt, nói chung là vui dứt khổ dứt, lo mừng ở trước mất. Nghĩa là vui dứt, gọi là nay dứt; thọ căn khác, gọi là ở trước đã dứt, nên trị hạ, trung phú nói: “Cho đến khi nhập sơ Tĩnh lự, ưu thọ mất”.

Trong đây, như quyển mười một trước nói: “Vì sao khổ căn trong sơ Tĩnh lự, nói là chưa dứt ư?”

Vì sự thô nặng của Phẩm kia vẫn còn chưa dứt.

Nếu thân ở cõi dưới thì có thể như thế. Vì sao người ở Sơ Tĩnh lự, khổ căn chưa dứt mà chưa hiện hạnh? Vì giúp đỡ kia, các khổ thuộc ưu căn đối nhau, người kia đã dứt, nên chỉ sự thô nặng kia mà chưa thể dứt. Nếu khổ căn trong Sơ thiền dứt, thì đây là hành giả nhập Tĩnh lự Sơ, Nhị, thọ địa vị sai khác sở tác, đối tượng tạo tác nên không có. Do cả hai đều cùng có Hỷ, Lạc, nên không có khác nhau, chỉ vì thô nặng mà chưa dứt, nên nói là có khác nhau. Nhưng trong kinh nói: “Do phát ra các Định thọ có khác nhau.”

Hỏi: “Chỉ do Tầm, Từ dứt không dứt, đâu không được khác nhau? Vì sao cần phải dứt khổ căn, mà nói là có khác nhau?”

Nghĩa là: “Tầm, Từ đối với hỷ, lạc vì chẳng che lấp nhau, nên không được vì dứt Tầm, Từ mà nói là hỷ khác nhau. Hỷ của Sơ thiền kia vì có khổ căn, nên chưa nói là thắng lợi. Hỷ của đệ Nhị thiền vì đã dứt khổ, nên hỷ đó tịnh vượt hơn. Nếu vì “có” “không” Tầm, Từ mà nói là khác nhau thì pháp “có”, “không có” vô lượng không đồng, thiền kia đâu khác nhau. Nay vấn nạn trái lại, rằng lạc, hỷ thọ lẻ ra không khác nhau? Vì gốc khổ đồng với hỷ, lạc v.v… vì thọ nên che lấp nhau? Nếu không lấy dứt gốc khổ làm hỷ của thiền Sơ, Nhị, thì hỷ, lạc v.v… của thiền Sơ, Nhị sẽ khác nhau.

Trước kia khi Sơ thiền đã dứt khổ, nên đoạn thô nặng này, còn hạt giống kia không nói rằng: “Do đối với hư không khởi thắng giải, nên lỗi đầu tiên là nhãn thức như xanh, vàng v.v… tương ưng với tưởng. Kế là là nhĩ thức, thân thức và tưởng có đối của ý thức v.v… “duyên” năm căn; ba của lỗi của tĩnh lự thứ tư trở xuống, là “duyên” các thứ tướng của thức uống, ăn, bình, y v.v… cho đến dưới đây nói: “Phải biết rằng, trong đây dựa vào định cận phần chưa nhập căn bản, chỉ “duyên” hư không v.v…” Đoạn văn này nói Định không xứ nhất định có tên từ phương tiện. Lại, trong cận phần cũng “duyên” tất cả các uẩn Địa dưới: Nghĩa là dưới đây, “duyên” Hiển sắc trong tĩnh lự thứ tư v.v… cũng tạo nên quán xanh, vàng v.v… Vì dựa vào quán này, nên có sắc tự tại của định. Pháp sư Thái nói “Y cứ ở Hiển sắc để phân biệt về sự xuất ly siêu việt; y cứ ở sắc hiện tại để nói về tưởng có đối; y cứ vào tụ hình khác nhau để nói các thứ tưởng. Pháp sư Khuy Cơ nói: “Trong các thứ lớp đó, cho đến không tác ý chuyễn v.v… đây là y cứ thân ở địa dưới, dựa vào xứ hư không khi loại trừ tưởng sắc, đối với cảnh sắc cõi Dục cũng dứt trừ, nên nói là nhà vườn v.v… chẳng phải thân sinh ra dục cõi Sắc, nhập hư không mà có sự dứt trừ này. Phải biết rằng, văn dưới trong đây, nghĩa là thuật lại rằng: “Tĩnh lự thứ tư trở lên, trong đó, tác ý thứ bảy của chín đạo giải thoát chỉ ở trong định căn bản. Người mới được đạo giải thoát kia, vào thời gian một sát-na này, chỉ “duyên” các uẩn của Địa mình. Người với tâm sát-na thứ hai, được “duyên” uẩn của địa trên, địa dưới. Nay, vì y cứ ở đạo giải thoát của sát-na trước nhất để nói, nên nói là “cũng duyên” các uẩn của Địa mình. Nếu chín đạo Vô gián trước của Định cận phần thì chỉ “duyên” Địa dưới, vì sinh nhàm chán nên nói: “ cũng “duyên” các uẩn mà Địa dưới đã có. Tám đạo giải thoát ở trước cũng “duyên” các uẩn của Địa trên, địa dưới. Nay, vì nói theo đạo Vô Gián, nên nói: “Cũng “duyên” các uẩn của Địa dưới, mà chỉ không ngăn ngại Định cận phần và căn bản, chỉ “duyên’ các uẩn của Địa trên, dưới và Địa mình. Đối với tám đạo giải thoát của Định Cận phần không nói là biện luận về chín Vô gián, nên nói “duyên” uẩn của Địa dưới. Đối với định căn bản, nói là một sát-na ban đầu tiềm ẩn sát-na thứ hai, vì dứt trừ nên nói: “ Cũng “duyên’ uẩn của Địa mình, cho nên, trong văn luận không nói, chỉ “duyên’ uẩn v.v… của Địa mình, mà nói cũng “duyên”. Đạo giải thoát Vô gián này, như đã giải thích trong Sơ thiền ở trước. Nếu so quyển thứ hai của Đối Pháp với luận Hiển Dương thì trái nhau. Như với luận Hiển Dương kia có Đại sư giải thích: “Luận sư Bị thuật lại cách giải thích của Ngài Tam Tạng: “Người khởi Không Định, có ba hạng:

1/ Bậc thánh được nhập định căn bản, “duyên” chung từ Địa trên, kể cả hư không.

2/ Nội Phàm phu, khi nhập định căn bản, nhờ sức huân tập nghe ở trước, nên “duyên” Địa trên và hư không.

3/ Ngoại đạo nhập bản định kia, dù “duyên” bốn uẩn của mình, và người, không “duyên” Địa trên chấp hư không định là quả cùng tột. Nay vì y cứ ngoại đạo, nên nói thế này: “Luận chủ của Đối Pháp cũng tạo nên cách giải thích này: Trong giải thích về Thức xứ quán Không xứ, nghĩa là muốn thực hiện quán thức Vô biên, trước hết phải nương tựa định Cận Phần của Thức xứ, quán nơi Không xứ. Vì đối tượng quán hư không đã vô biên, nên chủ thể “duyên” Không thức cũng vô biên. Nhân đây, tức quán thức Thức đương địa cũng vô biên. Nếu nhập Thức xứ căn bản thì tức là quán chung bốn uẩn của đương địa và bốn thức v.v…

Trong giải thích về Vô sở hữu xứ, nghĩa là Vô sở hữu xứ thật sự có bốn uẩn và sắc của định tự tại v.v… mà đã tạo bốn uẩn kia đều không có thắng giải của cảnh khác, nên có tác ý giả tưởng, lìa thức, lại không có một ít ngần ấy cảnh giới, nên nói rằng không có một ít sở hữu. Pháp sư Thái nói: “Vì tạo ra không có cảnh giới, nên có Vô Tướng đương tâm hiện rõ, dựa vào cái khác khởi gồm thâu. Luận Phật Địa chép: “Về lý chân thật, không có gồm thâu Viên Thành Thật; đối tượng mà tâm hiện, không có gồm thâu tánh y tha .”

Trong giải thích Hữu đảnh. Theo Pháp sư Cảnh giải thích vượt qua hai tưởng, gọi là phi hữu tưởng:

1/ Có tưởng sở hữu.

2/ Không có tưởng sở hữu.

Vượt qua Thức xứ trở xuống, là vì có tưởng sở hữu, nên nói rằng: “hoặc có tưởng sở hữu”. Lại, vì vượt qua tưởng của Vô Sở hữu xứ, nên nói rằng: “hoặc không có tưởng sở hữu.” Không có hai tưởng kia, gọi là phi hữu tưởng. Vì có tưởng tế, chẳng phải như các tưởng của hai định vô tâm đều không có, gọi là phi vô tưởng.

Nói “duyên” cảnh vô tưởng chuyễn. Nghĩa là cảnh giới sở duyên của tâm phi tưởng không có tướng mạo thô, gọi là “duyên” vô tướng, chẳng phải cho rằng chỉ “duyên” Diệt Đế, gọi là “duyên” vô tướng.

Pháp sư Khuy Cơ giải thích trong đây có ba:

1/ Chính nói muốn khởi định trên, nhàm chán Vô Sở hữu xứ mà là tướng thô, tức bắt đầu từ “Lại, chẳng đến bèn có thể từ bỏ tưởng Vô sở hữu đến nay.”

2/ Giải thích danh từ Phi tưởng, Phi phi tưởng, trong đó có hai. a) Giải thích Phi hữu tưởng. b) Giải thích Phi Vô tưởng.

Bắt đầu từ “Do nhân duyên này trước khi nhập định Vô Sở hữu xứ trở xuống, là đến cho rằng: “hoặc có tưởng sở hữu, hoặc không có tưởng sở hữu đến nay”, là nói Phi hữu tưởng; Thức xứ trở xuống, là có tưởng sở hữu. Vô Sở hữu xứ là không có tưởng sở hữu, cho nên nói rằng: “Phi hữu tưởng, tức chẳng phải có tưởng sở hữu và không có tưởng sở hữu, nay, chẳng phải có hai tưởng trước trong Hữu đảnh.

Trong Phi hữu tưởng có hai hữu tưởng xong. Nay, cũng chẳng phải hai vô tưởng trong Phi vô tưởng, cho nên y cứ phần thứ hai trong đoạn lớn thứ hai, kế là nói về Phi vô tưởng.

Vô tưởng có hai:

1/ Định vô tưởng.

2/ Diệt tận định.

Hai tâm định này đều diệt tận. Nay vì Hữu đảnh không như vậy, nên nói là phi vô tưởng, tức chẳng phải hai tưởng định.

Trong Hữu Đảnh kia có tưởng vi tế. Thứ ba, là nói về thời gian của Hữu đảnh kia vượt qua Vô Sở hữu xứ v.v… cõi dưới, và Cận phần của xứ mình mà nhập căn bản. Nghĩa là tức ở xứ này lúc khởi thắng giải trở xuống.

Thứ ba trong giải thích hai định vô tâm. Pháp sư Cảnh, giải thích: “Đầu tiên thuộc tướng hai người nhập hai định khác nhau, nghĩa là định vô tưởng chỉ nhàm chán về tưởng, tạo nên tưởng xuất ly, tu đoạn dần theo thứ lớp có thể nhập. Nếu định diệt tận từ tâm Phi Tưởng cầu tiến lên. Lúc tâm tiến lên, cầu đối tượng duyên cõi trên, rốt ráo không có sở đắc. Vì không có sở đắc, nên tức là tạm thời thôi dứt tác ý thọ, tưởng, tư duy từ thô đến tế, chín phẩm diệt dần, diệt mà không chuyễn.

Định Diệt tận trong hai định này, nghĩa là mới khởi trong thân cõi Dục. Do cõi Dục có giới pháp, nương tựa giáo pháp tu hành, nên được khởi đầu tiên . Về sau, dừng lại ở bốn định và sinh ở bốn không, đều được khởi sau.

Định vô tưởng. Quyển sáu mươi ba nói: “Trước kia ở định vô tưởng này khởi, về sau, ở cõi Sắc khởi lại hiện ở trước”. Câu-xá chép: “Hai cõi, đầu tiên, khởi diệt định, chung với nghiệp định, bất định sinh ở sau.” Môn nghiệp của Đại thừa nói về nghiệp ba thời và nghiệp bất tịnh đều thông suốt định và bất định.” Theo văn của Quyết Trạch, tất cả La-hán khi sắp vào vô dư, thì phải nhập diệt tận định. Diệt sáu thức tâm, chỉ dừng lại ở Lại-da mà qua đời.”

Pháp sư Khuy Cơ nói: “ Hữu học như thế, đã lìa tham Vô Sở hữu xứ, đây là y cứ ở dứt “ hoặc đắc chứng.” Văn chỗ khác nói: “ chỉ người mới khởi diệt định của cõi Dục, đây là y cứ ở “duyên” giáo. Nếu khi sơ học, tất nhiên phải nương tựa cõi Dục. Về sau, lúc mới khởi, ở cõi Sắc cũng được. Như người chứng quả thứ ba, lúc ở cõi Dục ở trước chưa được định này, khi sanh về cõi Sắc rồi mới được định này. Nhưng do do ở trước ở cõi Dục, đầu tiên nghe giáo này, về sau, ở cõi Sắc mới sinh”.

Thứ tư, nói trong năm thông, đầu tiên nói lược, trước phải được tĩnh lự căn bản . Về sau, dựa vào tu thông suốt chánh pháp, lắng nghe, thọ trì. Đầu tiên, dựa vào tác ý văn tư, mà tư duy; kế là, nương tựa vào tác ý của địa định, biét rõ pháp nghĩa. Do biết rõ pháp nghĩa , tu trị tâm mình, phát sinh tu quả, Pháp sư Thái nói:” Có thời, có phần, nghĩa là phần ít thời gian, nên nói rằng có phát sinh tu quảtrong phần vị thời gian.”

“Lại, tức biết rõ như thế về nghĩa về pháp” trở xuống, là thứ hai, giải thích rộng, trong đó, trước là nêu chung mười hai tưởng; kế là, giải thích riêng; sau tổng kết tu tưởng dẫn phát năm thông v.v…

Y cứ trong giải thích riêng, chia mười hai tưởng thành năm loại. Dựa vào năm tưởng ban đầu, tu Thần, Cảnh, Thông; Dựa vào tưởng thứ sáu, tu Túc trụ thông, dựa vào tưởng thứ bảy, tu Thiên nhĩ thông, dựa vào tưởng ánh sáng, tu sinh, tử trí thông; dựa vào tưởng thứ chín, tu tâm sai khác thông; dựa vào ba tưởng giải thoát Thắng xứ, biến xứ sau, tu chủ thể dẫn các Thánh thần thông và chủ thể dẫn phát các thứ công đức bốn Vô ngại giải của Vô chánh nguyện Trí. Như Đố-la-miên, nghĩa là chiếc kén của giả tầm, gọi là Đố-la-miên. Lại, theo phương pháp của phương Tây, phần nhiều trải cỏ trênmặt đất để ngồi, hoặc như nung luyện thành thục, nghĩa là khi muốn có bộ lông thích hợp, tướng luyện lông, gọi là như luyện thành thục.

Thân tâm thuận hợp. Pháp sư Cơ nói “Tức thân đều có thể biến hóa. Nếu biến tức thân nghiệp; nếu hóa tức tâm biến hóa.

Tưởng Thắng giải, nghĩa là tức thuận về luận Tiểu thừa, với ý hiểu xa, làm thành hiểu gần v.v… Pháp sư Cơ nói: “Xa làm nên hiểu gần, nghĩa là nắm lấy dài làm ngắn. Gần, tạo ra hiểu xa, nghĩa là kéo ngắn làm cho dài ra, hiểu về tướng thô, tế là biến hình chất, tướng dất, nước, tạo ra là biến bốn đại. Trong đây chỉ nói hai biến hóa là sắc, thinh, không nói trần khác, như luận Phật Địa giải thích rộng. Hoặc do một thân thị hiện nhiều thân, nghĩa là do tưởng thắng giải hiện hóa, vốn chỉ một thân, lại từ tâm hóa, hóa hiện nhiều thân. Hóa tâm thông là thuộc Thần cảnh thông.

Hoặc từ nhiều thân thị hiện một thân, nghĩa là vì thắng giải của ẩn hóa. Ngày trước hóa hiện nhiều thân, nay do thắng giải ẩn hóa, ẩn nhiều thân, chỉ để lại một hóa thân. Hai thân này do tưởng thắng giải mà thành. Hoặc vì hân kia xuyên thẳng qua các tường vách không có trở ngại, thậm chí như đi trên đất liền. Đây là do tưởng không giới mà thành. Hoặc như chim bay v.v… Đây là do tưởng nhu nhuyến cất lên nhẹ nhàng mà thành.

Đối với Phạm Thế, một phần tạo sắc của các bốn đại-chủng tự tại hồi chuyễn. Cảnh pháp-sư nói: “Sắc tạo có cả mười. Nay, chỉ thay đổi sắc trần , hoặc đồng với loại kia, hoặc không đồng loại, cho nên nói rằng: “Một phần sắc tạo.”

Thới Pháp-sư nói: “Hai thứ hồi chuyển:

1/ Người có thần-thông, thân qua lại tự tại.

2/ Chủ thể chuyễn biến một phần sắc tạo của Phạm-thế, hoặc xanh, hoặc vàng; tự tại hồi chuyễn, chứ chẳng phải chuyễn đổi một phần của tất cả lời nói.”

Pháp sư Khuy Cơ nói: “Một phần sắc tạo, nghĩa là hai thứ sắc, mà thinh, nên nói là một phần; không hồi chuyễn xúc và năm căn v.v… vì chỉ cảnh ngoài, nên nói một phần. Lại, tùy theo đối tượng biến của định, chỉ có hai, biến một phần, không thể chuyễn biến tất cả Phạm-thế, nên nói một phần.”

Trong tưởng thứ sáu nói: “Nghĩa là do tưởng này từ phần-vị đồng tử cho đến nay, tùy theo sự nhớ nghĩ cguyển biến, như Luận Tiểu thừa nói là lúc túc trụ thông, trước, từ hiện thân già, tìm lùi về trung, niên, thiếu-niên, đồng tử, trẻ con, cho đến thân trước chết, có Túc-trụ thành. Nay, ở đây vừa nói rằng từ phần-vị đồng-tử đến nay, nghĩa là vì y cứ ở phương xa, nên nói như thế. Nếu niệm sau hình thành, thì sẽ xuất phát từ hiện thân hướng về trước tìm kiếm dần, cho đến biết được Túc-trụ của tử Uẩn mới thành, cho đến đối-tượng thọ hành ở trước theo thứ lớp không có vượt qua sự nhớ nghĩ biết rõ, nghĩa là y cứ vào lúc mới tu, cần phải theo thứ lớp từ sau tới trước. Nếu biết lại, hoặc theo thứ lớp, hoặc vượt qua tất cả đều biết.

Môn phải kỳ hạn trong tưởng thứ bảy, mọi thứ đều thành chỗ đã

cố gắng được gọi là chúng nghĩa ấp, hoặc chỗ rộng, dài. Pháp sư Thái nói Người phương Tây có hai thuyết:

1/ Chỗ chợ mua bán.

2/ Chỗ trẻ con nô đùa. Pháp sư Cơ cũng đồng với thuyết này.

Lại giải thích: “Lại, vì chỗ rộng, dài, lớn, mọi thứ cũng vô lượng, với ý lấy số nhiều.”

Trong tưởng thứ tám, Nghĩa là hoặc vách, núi che khuất, hoặc chỗ quá xa xôi, tạo ra tưởng ánh sáng soi rọi chỗ sở-tri, tưởng, thấy rõ ràng. Lại, lấy thiện, ác được khổ, vui, dẫn tu sinh tử trí thông, thấy phươngtiện kia kia của sinh tử, chỗ kia kia của hữu tình kia, từ cảnh mà đặt tên.

Trong tưởng thứ chín, nghĩa là hiểu rõ sắc-tướng của hữu-tình như hữu tham v.v… đổi thay khác. Ở đây, vì phần nhiều tu tập, nên phát sinh trí khác nhau của tâm tu quả từ cảnh đặt tên, cũng là công năng đặt tên. Pháp sư Thái nói: “Về lý, Nghĩa, sự của chúng sinh đều có tối tăm, nên nói rằng sự Nghĩa tối tăm. Lời nói được phát ra từ miệng, chẳng được thế gian ưa chuộng, vì thường đặt ra lời nói xấu xa mà không có gì để kế thừa, nên gọi là quê mùa.

Trong ba tưởng sau, văn chia làm hai:

1/ Nói tu ba tưởng, nên dẫn phát thần thông của bậc Thánh v.v…

2/ Nói thần thông của bậc Thánh, phi Thánh khác nhau.

Trong phần trước, tưởng giải thoát Thắng xứ, Biến xứ, nghĩa là trong có tưởng sắc, quán sắc ngoài, trong không có tưởng sắc, quán sắc tịnh xanh, vàng v.v… Hoặc trong Thắng xứ, quán bên trong không có tưởng sắc, quán một ít v.v… sắc ngoài. Hoặc trong Biến xứ, quán tưởng đầy khắp xanh, vàng v.v… vì đối với tưởng này, gần gũi tu tập, phần nhiều tu tập, nên có thể dứt trừ mọi bít lấp đã gây chướng ngại cho thần thông, có thể dẫn phát hơn hết thần thông của các bậc Thánh. Hoặc biến sự thông; hoặc Thắng giải thông. Biến là thể của thông; hóa là quả của Thông, cũng gọi là thần thông.

Thắng giải thông: nghĩa là xa tạo ra hiểu gần, trong khoảnh khắc duỗi cánh tay là đến Sắc Rốt ráo. Và tưởng đất thành nước v.v… gọi là Thắng giải. Bốn vô ngại giải của Vô tránh nguyện trí cũng nhân tu tập giải thoát v.v… trừ ngu cảnh giới mới có thể thành xong, cũng có thể có tướng trạng chuyễn biến của vật thể, gọi là biến; không bỗng nhiên mà có, gọi là hóa, thắng giải, như trước đã giải thích.

Dưới đây, giải thích khác nhau, Luận Trí Độ cũng thế. Hoặc có nghĩa riêng, thông thường sự hóa không quá bảy ngày; Bậc thánh lại quá, có thể dẫn chứng Luận Trí Độ kia.

Từ đây trở xuống, là tổng kết, y cứ quyết trạch nói về năm thông đều là thế trí, cũng có thể điều mà người học được là hữu lậu, vì chưa hết lậu. Vô học vì lìa cái được trong thân lậu, nên cũng gọi là vô lậu.

Thứ năm nói về tu Định tịnh thế gian, sinh trong chỗ khác nhau. Pháp sư Cảnh nói: “Giải thích rằng: Ba tầng trời của Sơ định, từ lìa nhiễm cõi Dục làm tên, đều gọi là Phạm. Trời thứ hai, thứ ba từ ánh sáng của thân mạnh, yếu mà đặt tên;Trời thứ ba từ tịnh, lạc đã được khắp thân. Không khắp thân đặt tên. Tĩnh lự thứ tư, Thiên tinh liệt cư đều là Địa Vô Vân, đầu tiên được mang tên ấy, gọi là trời Vô Vân.

Trời thứ hai được mang tên từ ruộng phước hơn hết. Trời thứ ba, từ quả đã được mà đặt tên.

Kế là, Năm tầng trời Tịnh cư, do huân tu tạp nhạp nghiệp hữu lậu, vô lậu, sinh năm tịnh xứ, Không xứ định tùy theo ba người tu riêng thiện hạ, trung, thượng, sẽ sinh không xứ, thọ ba quả khác nhau, cho đến Phi tưởng cũng thế.

Trời kia gọi là trời Tùy hành, nghĩa là do các trời kia không có hình sắc, cũng không có nơi chốn. Nhưng chỗ cư trú có khác nhau: Bốn định được báo tuy theo phẩm hạ trung thượng đã tu hành mà sinh lên tầng trời kia, được quả báo hơn, kém, gọi là trời Tùy hành.”

Pháp sư Khuy Cơ nói: “Trời Sơ thiền gọi là Phạm, phạm là thanh tịnh. Vì đầu tiên lìa dục, nên được tên Tịnh, nghĩa là do được niềm vui vượt hơn, nên vui vượt hơn được gọi là Tịnh.

Thiền thứ tư, là ba tầng Trời Phàm Thánh ở chung . Đầu tiên được mang trời Vô Vân tên, các trời khác, tùy theo phước tăng mà đặt tên, tên của năm tầng trời Na-hàm.

Trong giải thích cõi Vô Sắc nói rằng, trong chúng đồng phần của Trời Tùy Hành, nghĩa là các tầng trời của cõi Vô Sắc không có chỗ thọ báo riêng, vì ba phẩm Tùy hành thì thọ báo này, nên nói là trời Tùy hành. Nhưng ở đối tượng tạo tác có khác nhau, nghĩa là nghiệp của ba phẩm tạo nên có khác nhau.

Nay, Cách hành văn này lại đồng với văn luận Tỳ-bà-sa: Bốn không của sơ Định tu nghiệp ba phẩm, thọ quả không khác nhau. Ba tĩnh lự sau, tùy theo tu nghiệp ba phẩm, thọ quả có khác nhau.

BẢN LUẬN QUYỂN 34

Từ đây trở xuống, là phần thứ hainói về thú hướng xuất thế gian, ở đây, trước là kết, sau là sinh, kế nói về bảy tác ý. Sau tổng kết.

Trong phần trước nói lần lược sinh khởi bảy thứ tác ý, cho đến chứng được quả A-la-hán. Ba phương tiện tu tác ý liễu tướng, tự hiểu rõ các tướng trạng mười sáu hạnh v.v… của bốn đế . Tu tác ý thắng giải trong bốn căn lành, do kiến tạo gần với công hạnh tu đế trong tâm thắng giải, tu tác ý xa lìa, trong kiến đạo, co thế thấy hết “ hoặc” của cõi Sắc, Vô Sắc, cho đến tám Vô gián vị lai Phi tưởng là gồm thâu phần vị đã tác động của tác ý lạc. Tác ý quán sát đối với xứ đã dứt, chưa dứt trong phần vị tu, có thể quán sát biết, dứt“ hoặc” Phi Tưởng, định kim Cương dụ của đạo Vô gián thứ chín là tác ý rốt ráo gia hạnh. Tận vô sanh trí là quả vị rốt ráo gia hạnh.

Mượn tướng trong văn để làm phân biệt, luận thật ở mỗi chỗ đều có bảy tác ý.

Y cứ ở phần thứ hai, trong phần nói về bảy tác ý dấy khởi sự tu tập theo thứ lớp, nếu dưa vào bốn câu trong bài tụng đề sắp xếp, thì nên chia làm bốn. Nay, y cứ vào văn này nhằm nói về thứ lớp của bảy tác ý nhằm tu khởi, tức thành bảy đoạn.

1/ Giải thích về tác ý liễu tướng ở đây có hai.

a- Lược nói dựa vào giáo pháp để Tu Tập, dùng mười sáu hạnh để rõ tướng bốn đế, gọi là liễu tướng. b) Nói rộng về mười sáu hạnh nhằm hiểu rõ tướng bốn đế.

Trong phần trước, đế lý riêng, mỗi đế đều có thích biểu riêng, thích biểu đầy đủ, gọi là khéo nói.

Lại giải thích về pháp luân bốn đế trong ba pháp luân, gọi là biểu giản lược.

2/ Thứ hai, lấy bỏ danh làm nói rộng. Nói “hoặc” đã khéo tu tập về tác ý v.v… nghĩa là tác ý trong định Vị Chí đã khéo tu tập, hoặc được tĩnh lự căn bản Vô Sắc.

Y cứ ở nói rộng thứ hai, chia làm hai:

  1. Giải thích riêng mười sáu hạnh, hiểu rõ tướng bốn đế.
  2. Bày rõ về địa vị.

– Trong phần trước gồm có ba:

  1. Nói về quán sát bốn đế cõi Dục
  2. Nói về bốn quán đế của cõi trên.
  3. “Phải biết rằng trong đây”.

Trở xuống, là tổng kết hai trí, tức là chủ thể sinh chỗ nương của pháp loại trí chủng.

Trong phần đầu trước là giải thích; sau là tổng trong phần trước, chia làm bốn:

  1. Giải thích rõ về khổ đế, chia làm ba:
  2. Nêu mười hạnh, ngộ nhập bốn hạnh.
  3. Giải thích riêng mười hạnh nhập bốn hạnh.
  4. Tổng kết mười hạnh thuộc về bốn hạnh.

3/ Trong phần giải thích riêng, đầu tiên tổng kết mười hạnh dựa vào ba lượng để quán, sau đó giải thích riêng.

Trong giải thích được chia làm bốn:

  1. Năm hạnh đầu ngộ nhập hạnh vô thường.
  2. Ba hạnh kế là hành của ba khổ: Lạc khổ, khổ thọ, và xả thọ, ngộ nhập hành khổ.
  3. Hạnh vô sở đắc ngộ nhập “ không hạnh”.
  4. Hạnh tụ tại, ngộ nhập vô ngã.

4/ Trong phần đầu, dùng ba lượng để quán tánh chất vô thường.

Y cứ phần đầu, nói dựa vào chí giáo nói rằng: “Như trải qua bảy ngày là nói rộng, tức trải qua kiếp. Vì nói việc của bảy ngày, nên gọi là trải qua bảy ngày. Kế là, nói về hiện lượng dựa vào giáo pháp sinh kính tin. Về hạnh vô thường được quyết định.

Do năng lực tăng thượng của tâm kính tin như thế nên thường tầm, từ, quán sát tất cả, hiện thấy không trái với tánh chất vô thường, nghĩa là ở trước an lập hai sự trong, ngoài: Trong là sáu xứ v.v… ; sự ngoài có mười sáu, thứ như văn đã nêu. Sự trong ở đây có mười lăm thứ đối tượng tác động đổi khác, cũng như văn nêu. Lại có tám thứ nhân duyên đổi khác, cũng như văn đã nêu.

5/ Trong giải thích dưới đây, từ sau tới trước, giải thích về tám thứ nhân duyên đổi thay khác. Kế là giải thích mười lăm sự đổi khác của sự trong: sau, giải thích mười sáu thứ đổi khác của sự ngoài.

6/ Trong giải thích tám nhân duyên đổi khác rằng: Gió bị người vổ trống vội vã, nghĩa là gió to nổi lên, quạt áo ướt v.v… nghĩa là có áo ướt, đôi khi đất ướt. Hoặc lúa mạ v.v… bị gió to quạt, làm cho khô héo, như người đời nói lúa mạ này quá khô.

Dưới đây là phần kết: Tất cả các pháp trong ngoài, sắc, Vô Sắc đổi thay khác nhau đều do tám nhân duyên như thế.

7/ Giải thích mười lăm việc trong rằng: “lời nói thô”. Pháp sư Thái, Pháp sư Cơ đồng nói “vì nóng, nên khô khan khi nói năng. Như người đời nói: Lời lẽ khô khan nụ cười ướt át.

Loanh quoanh co quắp, nghĩa là do xúc đối với thuận lạc thọ; xúc nhận lãnh lạc; khi xúc “duyên” đối tượng sinh ra lạc, tự nó có thể phân biệt rõ phần vị của lạc thọ.

Pháp sư Cơ nói rằng: “Nay, vì mới nêu lạc, xúc, chưa nói về khổ v.v… nên nói là do xúc đối với lạc thọ xúc, tức là phân biệt với khổ thọ. Nhận lãnh lạc xúc khi “duyên” sinh ra lạc. “Duyên” lạc, xúc tức là cảnh, chủ thể sinh ra xúc lạc. Nay ý nói nhận lãnh thuận với cảnh xúc lạc lúc sinh ra niềm vui, có thể tự biết rõ là phần vị lạc thọ.

Trong 16 việc ngoài, Pháp sư Cảnh nói: “Sàu thứ trước là thuộc về sự thọ; Mười thứ sau, là sự dụng cụ mà thân nhờ vả. Sáu thứ thuộc về sự của thọ, là:

  1. Sự của Địa.
  2. Sự của vườn tược.
  3. Sự của núi non.
  4. Sự của nước.
  5. Sự nghiệp.
  6. Sự của kho lẫm Mười vật giúp thân là:

1/ Thức uống, 2/ Thức ăn, 3/ Xe cộ. 4/ Quần áo. 5/ vật trang nghiêm. 6/ Sự ca múa, nhạc v.v… 7/ Sự đeo tràng hoa thơm. 8/ Sự dụng-cụ nuôi dưỡng. 9/ Sự sáng, tối. 10/ Sự nam, nữ.

Nếu y theo danh đã nêu ở trước, thì thức uống, ăn đều là một sự. Nay, trong giải thích, thức uống ăn hợp thành một giải thích.

Thứ ba, trong lấy tỉ-lượng quán vô-thường. Rằng, tức do sức tác-ý tăng thượng hiện không thấy như thế nên quán sát tánh chất vô thường của sự đổi khác. Đây là nhắc lại kết ở trước, cho đến “nên chính so sánh, v.v… đến nay, là nói về pháp của các sắc v.v… phần lớn diệt, hoại dễ biết, sát-na sinh diệt khó biết, vì vi tế.

Nay, muốn phân tích trước về phát ra đầu mối của Luân. “Thế nào là so sánh, suy lường” trở xuống, là chính thức nói về vô-thường tế, ở đây có hai:

1/ Lấy thô sánh với tế.

2/ Lấy quả hiện đã thọ lãnh để so sánh với nhân không hiện thấy trong quá-khứ.

Trong phần trước, dựa theo Pháp sư Khuy Cơ giải thích, cho đến: “Thế nên, các hành nhất định phải có sát-na sinh diệt đến nay”, là nói do đó có sinh diệt tiểu vi-tế, nên được có sinh, diệt biến đổi, chứ chẳng phải do pháp dừng trụ mà có sự biến đổi, chẳng phải do thấy sự sinh, diệt v.v… nhỏ bé mà biết có nghĩa sinh, diệt rộng lớn.

Từ “Các duyên kia kia vì hòa hợp có trở xuống, cho đến sinh xong, không đợi nhân duyên diệt hoại, tự nhiên diệt, hoại đến nay”, là giải thích vấn nạn điều phục rằng: “Diệt có nhân-duyên, nghĩa là vấn nạn điều phục rằng: “không biết sinh, diệt dều có nhân duyên phải không?” Nay, nói chung Pháp này do các duyên hòa hợp nên có sinh, sinh thì có nhân duyên, không đợi nhân duyên mà tự nhiên diệt hoại, tức pháp diệt không có nhân duyên.

Từ “Như thế, đã có nhân duyên đổi khác, cho đến hoàn toàn không sinh khởi đến nay, là nói về giải thích vấn-nạn điều-phục rằng: “Như thế, mặt trời chiếu lá xanh, làm cho nó vàng, là xanh này há không do mặt trời nên khiển màu xanh không biểu hiện, tức mặt trời là duyên màu xanh hư hoại?”

Nay, giải thích rằng mặt trời, có thể đổi thay màu xanh thành màu vàng úa. Như thế, sao ông nói mặt trời là nhân-duyên của sự thay đổi khác? Vì mặt trời này chính là nhân-duyên của màu xanh vàng úa sau, chứ chẳng phải nhân duyên của màu xanh hư hoại ở trước. Vì sao? Vì người đời hiện thấy màu xanh ở trước diệt mất rồi, hiện đang thấy màu vàng úa sinh sau. Màu vàng úa này không giống với màu xanh, có thể được màu vàng này sinh là màu xanh, nên biết được mặt trời làm duyên cho màu vàng úa sinh, chứ chẳng phải màu xanh diệt làm duyên. Nếu mặt trời chiếu màu xanh hoại rồi, về sau, màu vàng bất sinh, thì có thể mặt trời làm duyên cho màu xanh. Sự tắt mất có duyên sinh màu vàng úa sau, tức có sinh, chứng tỏ rằng mặt trời làm duyên cho màu vàng sau sinh, chứ chẳng phải màu xanh hoại làm duyên, chẳng phải tất cả Pháp kia hoàn toàn không thể được. Nếu màu xanh mất rồi, tất cả Pháp sau hoàn toàn không thật có, tức mặt trời làm “duyên” cho màu xanh hoại” Dưới đây giải thích ngược lại: “Hoặc có các hành đã diệt hoại rồi, cho đến cũng không thể được đến nay”, là vấn nạn của ngoại đạo. Nếu diệt này đã có pháp khác sinh, có thể giải thích như trước. Nếu pháp này diệt rồi, không có pháp khác sinh, thì làm sao nấu nước, làm “duyên” cho nước cạn hết, cho nên biết pháp diệt được có nhân duyên.

Nói “Pháp kia cũng là nhân-duyên sau sau, lần lượt cho đến tác động sự như thế đến nay”, Luận-Chủ giải thích: “Ở đây đồng với giảithích trước: nấu nước, nước, lửa đều có làm “duyên” cho pháp sinh sau, sau. Sau cùng, lúc không có nước, không do lửa làm cho không có nước. Thế nước tự nó không có khiến cho lửa không có “duyên” Pháp sinh sau, cho nên, giờ đây, pháp diệt cũng không có nhân-duyên.”

Pháp sư Cảnh nói do sức lửa nên giúp cho nước tăng trước trước, sinh nước giảm sau sau, cho nên, lửa là nước tăng trước so với nước giảm sau, để làm nhân cho sinh . Nước tăng trước trước sinh rồi, tự diệt, lại không đợi nhân, cho đến niệm sau cùng, nước không thể làm nhân lại sinh ra nước sau tự nhiên diệt mất. Cho nên, nước sau lẽ ra bất sinh, gọi là nước tiêu hết, chậu đựng nước vỡ nát cũng thế. Đại ý đồng với cách giải thích của Pháp sư Cơ. Pháp sư Cơ lại giúp cho vấn nạn: “Tức mặt trời làm “duyên” cho màu vàng sau sinh, cũng làm “duyên” cho màu xanh trước diệt, há không được ư?”

Đáp: “Không đúng!Vì nếu một nhân-duyên có thể sinh, diệt thì sự sinh, diệt sẽ trái nhau, duyên đã trái nhau, làm sao là một được? Nếu duyên năng sinh là một, thì pháp được sinh lẽ ra không trái nhau, lẽ ra cũng là một? Lại, nếu Pháp diệt có nhân-duyên, thì nhân-duyên có thể có pháp sở hữu tức là diệt. Diệt là nhân duyên, có nhân-duyên tức là chủ-thể sinh, đây là nhân duyên sinh sinh, đâu có quan hệ với sinh, diệt. Cho nên, biết pháp diệt tự nhiên diệt.

Thứ hai là dùng quả đã thọ trong hiện tại để so sánh biết ở quá- khứ không hiện thấy trong nhân. Rằng, nếu chỉ dùng tự-tại kia làm “duyên” thì các hành này và tự-tạikia lẽ ra đều cũng vốn có, đâu cần người sinh? Ý vấn nạn này, nếu tự-tại là vốn có, thì cũng có lúc tự-tại, thì có các hành. Các hành đã đồng thời với tự-tại, nên biết các hành cũng là vốn có. Nếu là vốn có, tức là thường trú, không nên gọi là “hành”, vì “hành” trong nghĩa kia chẳng phải vốn có.

Người khác đã thấy vấn nạn này rồi, bèn lại lập luận: “Tự tại là tự vốn có, còn các hành thì mới sinh ở sau”, nên kế nói rằng: “Nếu nói ở trước có tự-tại v.v…”. Thấy họ thay đổi lập-trường, Luận-chủ lập tức vấn nạn liên tiếp: “Nếu hành tự tại về sau mới sinh, thì đây là các hành chứ chẳng phải chỉ tự-tại sinh. Lại, vì dùng duyên riêng, nên kế luận rằng: “Đây là các hành không chỉ tự-tại làm duyên sinh khởi. Nếu dùng tự-tại làm “duyên”, thì vì khi tự-tại có, sẽ có các hành, nên tức lẽ ra đều cùng vốn có. Nếu các hành mới sinh, thì đây là do kỳ nguyện, nên kế là cáchành sau mới phát. Nếu các hành dùng dục để kỳ nguyện làm nhân, thì vì sao chỉ nói tự-tại làm nhân? Cho nên, kế nói rằng: “Nếu nói tự-tại tùy theo công dụng kỳ nguyện v.v… mà người ta đã muốn, đã tha hồ lấy dục làm nhân, thì càng phải gạn phá”, nên kế nói rằng: “Nếu vậy, thì sự ham muốn này có nhân chăng? Giả thuyết “dục” có nhân, tức dùng tự-tại làm nhân, thì vì tự-tại vốn có, nên “dục” lẽ ra cũng vốn có. Khi có tự-tại, tức là có dục, như đã phá các hành ở trước, nên kế nói rằng: “Nếu nói có nhân, thì dùng tự tại v.v… Muốn dùng tự tại làm nhân, đã phá rồi, sau, lại còn có nhân khác chẳng phải dùng tự-tại làm nhân”. Nếu vậy, muốn có nhân riêng , như các hành ở trước, dùng công dụng riêng của dục để cầu nguyện làm nhân. Nay, nói: “Lại, dùng công dụng của dục để cầu nguyện pháp riêng ngoài tự-tại làm nhân, đây là các hành có riêng sinh nhân , đâu nêu vọng chấp không có dùng tự-tại”, cho nên kế là nói: “Nếu nói dục này còn có nhân v.v… khác, như thế, đại khác do ba năng lực tác-ý tăng thượng, cho nên đồng, nghĩa là kết tác ý của ba lượng trên.”

Kế là, nói trong hạnh lìa riêng, đầu tiên là nhắc trước, để khởi sau, kế là, giải thích; sau, là kết.

Trong phần trước nói rằng: “Năm hạnh v.v… đã nêu ở trước: quyển đầu nói: “Do mười thứ ngộ nhập Khổ Đế trong bốn hành khổ phẩm hạ, ngộ nhập vô thường trong năm thứ hành ở trước, hành thay đổi khác trong năm hành này, tức ở trước đã nói về tám nhân duyên, mười lăm thứ, mười sáu thứ v.v… thay đổi khác”.

Thứ hai, là Hành diệt hoại, tức trước đây đã nói về sự so sánh, so lường có sát-na sinh, diệt v.v… là hành diệt, nên nói: “Đã nói về hai hành”. Nay, thứ ba, “Sao lại do lìa riêng hành, nên quán tánh chất vô thường?

Trong giải thích nói: “Phi ái” là oán và của cải v.v… chung, nghĩa là đồng tài, hoặc do hạnh ác gia hạnhmất mát hư hoại, nghĩa là vì tạo ra mất lợi, gọi là ác tác.

Trong pháp tánh hạnh nói: “Nghĩa là tức sở hữu đổi thay khác vô thường v.v… Ở đây ý nói như lạc thọ hiện tại, chính khi thức thọ niềm vui chưa đổi thay vô thường, dùng ba thứ hành vô thường đổi thay ở trước để quán lạc thọ hôm nay đối với đời sau, tất nhiên, sẽ vô thường.

Như thế, thông suốt qua lạc thọ như thế, đến đời sau, chắc chắn sẽ vô thường, nên gọi là tánh pháp vô thường.

Hành hợp hội, nên quán vô thường: tức dùng ba thứ vô thường ở trước để quán pháp hiện tại. Vì kết hợp, hội tụ với ba thứ vô thường này, nên gọi là hợp hội vô thường, tức lạc thọ ở trước truyền vào ba vô thường này trong đời hiện tại.

Thứ hai, là nói về ba hành ngộ nhập trong Hành khổ, rằng: “Như thế, do đạo lý chứng thành và vì tu tăng thượng cho đến thu nhập Hành khổ”, là kết trước, khởi sau, nghĩa là trước đã nói về lượng Chí giáo, và hiện thấy và so sánh so lường. Ba thứ này chính là đạo lý chứng thành trong đây. Và vì tu tăng thượng, tức hiểu đạo lý của Chí giáo”. Kế dưới đây nói: “Nương tựa giáo hạnh: sức tác ý tăng thượng đức tin tịnh, hoặc do sức tăng thượng hiện thấy; hoặc do như thế là vì sức tăng thượng so sánh suy lường, là trong đây và vì tu tăng thượng.

Hiểu lượng Chí giáo v.v… kia trở xuống, là mỗi pháp quan riêng, tác ý này tức tu tăng thượng.

Kế là, giải thích, sau là kết. Giải thích cách giải thích thứ hai, trước hạnh không đáng yêu, kế giải thích thứ nhất, do hạnh kiết phược với thứ lớp trong nêu danh không đồng.

Thứ ba, là giải thích hạnh không yên ổn, trong phần đầu “Thực hiện tư duy này, các hành như thế đều là vô thường”, cho đến “Như thế do hạnh không đáng yêu thu nhập hành khổ v.v… ”, Pháp sư Khuy Cơ giải thích: “Theo văn dưới nói: “Về chủ thể thuận theo các hành khổ thọ và trong khổ thọ, ái hạnh không đáng yêu thu nhập khổ khổ, tức dùng hạnh này thu nhập khổ khổ trong ba. Bảy khổ trước thuộc về hành không đáng yêu này, bảy khổ đều là khổ khổ. Nếu theo luận Đối Pháp và văn ở chỗ khác thì năm khổ trước trong bảy khổ là khổ khổ; hai khổ sau là khổ hoại , trái với văn này”. Lại giải thích: “Bảy khổ trước đều là ái hạnh không đáng yêu. Trong bảy hạnh không đáng yêu thì năm hạnh trước là khổ khổ, nay hạnh không đáng yêu là hạnh kiết phược, hành không yên ổn. Ba hành này và ba tướng của ba khổ, vì từ gồm thâu, tức tướng từ gồm thâu trong không đáng yêu, dù chỉ có hai khổ, nhưng đều thuộc về hành khổ khổ. Vì ít theo nhiều, nên cả hai khổ đều là hạnh khổ khổ. Vì ít theo nhiều nên hai khổ đều là khổ khổ. Lại vì khổ này thuận với sinh khổ thọ v.v… Nên dù có bảy mà đều là khổ khổ. Vì sao? Vì kế là thứ hai, nói trong hành kiết, phược do hành kiết, phược thú nhập hoại khổ, tức ở chỗ kiết, phược tham ái, lại sinh ra tham ái v.v… chiêu cảm (gây nên) uẩn khổ lớn thuần túy sinh, già, bệnh, chết v.v… tức bảy khổ thuận sinh lạc thọ là khổ Hoại. Cho nên, biết thuận sinh khổ thọ là khổ khổ, vì thuận với phi khổ, lạc thọ, sinh Xả thọ là hành khổ. Dưới đây là phần kết thu nhập ba khổ. Văn luận trước, sau không đồng là dùng tánh, tướng để tìm kiếm nghĩa “Tùy” là hiểu rõ. Lại, gồm thâu môn nghĩa khác nhau. Luận Đối Pháp kia y cứ ba khổ, gồm thâu tám khổ, nên biết năm khổ là khổ khổ. Luận này lấy ba hành gồm thâu tám khổ, nên hành không đáng yêu là bảy khổ trước. Nay vì ba khổ gồm thâu ba hành, nên khổ khổ gồm thâu hành không đáng yêu là khổ khổ, không lấy khổ khổ gồm thâu hành không đáng yêu thuộc về bảy khổ làm khổ khổ. Vì thế không trái nhau.

Môn nghĩa gồm thâu riêng, nói về hữu lậu, “hữu thủ”. Pháp sư Cảnh nói: “Lậu là phiền não, Thủ chỉ là ái. Trừ diệt các khổ, tập khác của ngoại đạo, đều là chủ thể sinh ra lậu. Lại, từ duyên sinh, gọi là hữu lậu. Từ “Thủ” mà sinh, lại vì kiết sinh “thủ”, nên gọi là “hữu thủ”. Do hành không yên ổn thuận theo trong uẩn phi khổ, lạc, thu nhâp hành khổ, nói chung là thể của hành, tức lấy tất cả thuận với các uẩn hữu lậu của ba thọ. Trong văn vì phân biệt thuận với các uẩn khổ khổ, khổ hoại , cho nên, chỉ nói là thuận với các uẩn hữu lậu phi khổ, lạc, dùng làm hành khổ. Trong đây do nói Lại-da, gọi là thuận với “uẩn xả”, do có hạt giống khổ, lạc theo đuổi nhưng trong văn nói thuận với tất cả hạt giống khổ lạc đã theo đuổi các uẩn không chỉ lấy Lại-da kia, nên biết ở đây y cứ ở chỗ chưa lập Lại-da để nói cho nên nói chung, các uẩn khổ, lạc hạt giống tùy theo.

Như thế, do hành kiết, phược, kể cả các thọ sở hữu đều là khổ, nghĩa là đem khổ này để nói về ba hành hội tụ với ba thọ mà trong kinh đã nói, đều là ý khổ.”

Nói về hạnh vô sở đắc, thú nhập không hạnh. Pháp sư Cảnh nói: “Quán tâm nối tiếp nhau, lìa pháp thứ hai chỉ có tâm mình vì ngoài tâm không có ngã, nên gọi là “không”, tức uẩn, ngã là không gọi là vô ngã.

Nói về hành không tự tại, nhập hạnh vô ngã . Pháp sư Khuy Cơ nói: “hai hạnh không, vô ngã đâu có khác nhau. “Không”, nghĩa là nhất định ở thể; vô ngả nhất định ở dụng, tức chấp có tự thể, gọi là “hữu”, lấy “không”để dứt bỏ, chấp có dụng; gọi là ngã, dùng vô ngã để dứt bỏ.

Trong giải thích tập đế có ba lần “Lại nữa”.

Trong “lại nữa” ban đầu, giải thích nhân, tập khởi, duyên rằng: “nghĩa là biết rõ ái, vì chủ thể, dẩn sinh khổ, nên gọi là nhân”. Pháp sư Cảnh nói: “Chỉ có ái kia, hẳn có công năng dẫn sinh khổ, nên ái đối với khổ, nói chung là nhân”.

Pháp sư Khuy Cơ nói “Nếu ở hiện tại gặp phải một cảnh lạc thọ, qua đó khởi ái thì phải biệt rằng, huân xông ái trở thành hạt giống. Khi ái này đã thành hạt giống, lại giúp cho hạt giống sinh v.v… ở đời sau sẽ được tăng trưởng trong đó. Áii này đối với hạt giống sinh v.v… này, có thể dẫn sinh, nên gọi là Nhân. Đã dẫn sinhkhổ rồi, lại chiêu cảm, nhóm hợp, làm cho nghiệp kia sinh, nên nói là Tập”.

Pháp sư Cảnh nói: “Ái dẫn khổ xong, lại chiêu cảm nhóm họp nghiệp để cho khổ đương lai sinh, gọi là Tập.”

Pháp sư Khuy Cơ nói: “Tức ái ở trước, chủ thể thấm nhuần chi hành đều thành hữu tập sinh ra quả đương lai. Ái này có thể gom góp nghĩa khác, gọi là tập. Đã sinh khổ rồi, còn khiến cho khổ ấy khởi, nên gọi là khởi”.

Pháp sư Cảnh nói: “Đã gom góp khổ đương lai của nghiệp kia sinh rồi, nay, lại giúp cho khổ khởi, nên gọi là ái là khởi”.

Pháp sư Khuy Cơ nói: “Tức ái đã huân tập hạt giống rồi, hay khiến cho hạt giống khổ sinh ra hiện hành khổ sinh v.v… Vì ái, haylàm cho hạt giống sinh v.v… khởi hiện hạnh, nên gọi là khởi. Lại nữa, đối với hạt giống các khổ ở đương lai, vì có công năng nhiếp thọ, nên theo thứ lớp chiêu cảm dẫn sinh các khổ, tập, nên gọi là “Duyên”.

Pháp sư Cảnh nói: “Ái này chẳng những trực tiếp dẫn sinh khổ hiện khởi va nổi khổ sẽ khởi, mà còn có thể chiêu cảm dẫn sinh hạt giống khổ của thức v.v… ở đương lai, giúp nó càng tăng trưởng, nên nói là “Duyên”.

Pháp sư Khuy Cơ nói: “Chính ái đã có thể nhiếp thọ, huân tập tăng trưởng hạt giống khổ ở đương lai, chủ thể làm cho khổ sinh v.v… ở vị lai theo thứ lớp sinh khởi các sự sinh khổ, tập, được gọi là “Duyên”.

“Lại nữa” đầu tiên này hơi đồng với Luận Đối Pháp quyển sáu, nên cứu xét kỹ. Lại, y cứ về mặt chung, riêng không đồng. Về nghĩa của nhân kia, nghĩa là các ái, chủ thể yêu tự thể ở vi lai, gọi là dẫn khổ là chung, ba thứ còn lại là riêng. Đã dẫn sinh khổ rồi, do ái, chủ thể khiến cho quả của năm đường ba cõi hiện ở trước, vì quả vị lai nhóm họp, nên gọi là tập. Đã dẫn sinh quả năm đường rồi, ái có thể tùy theo khiến cho sinh của một đường người v.v… hiện ở trước gọi là sinh. Đã sinh một đường người hiện ở trước xong, ái còn có thể khiến các phần vị sinh v.v… trong thân người này theo thứ lớp sinh hiện ở trước, gọi là “duyên”. Ba thứ này là thứ lớp sinh riêng. Xét Luận Đối Pháp quyển sáu kia đồng với luận này”.

Đại ý lần “Lại nữa thứ hai, tức chi ái làm nhân cho chi thủ; chi ái đối với chi Hữu là tập, chủ thể nhóm họp các nghiệp, tức chi Ái khiến chi Sinh hiện ở trước, gọi là khởi, tức Chi Ái, chủ thể theo đuổi dẫn phát chi Già chết hiện ở trước, gọi là duyên xa.

Pháp sư Cảnh giải thích về “lần lại nữa” thứ hai: “Biết Ái trong mười hai chi là nhân của Thủ, nên gọi là nhân. Ái này chẳng những trực tiếp là nhân của thủ kia, mà còn là chủ thể chiêu cảm gom góp “Hữu” mà Thủ đã sinh. Vì e rằng sẽ lẫn lộn với ba Hữu, nên ở đây nêu Thủ làm nhân cho Hữu, nên nói: “Tức lấy Thủ kia làm Nhân cho Hữu”. Lại, vì dẫn phát già, bệnh, chết v.v… nên gọi là “Duyên”. Ý nêu sinh làm “duyên” là đối với già, bệnh, chết đã sinh dùng làm nghĩa “Duyên”.

Trong lần “Lại nữa” thứ ba, Pháp sư Cảnh nói: “Nghĩa là chính biết rõ đến nhân sinh hữu sau, là tác ý liễu tướng. Lại chính thức biết rõ tùy miên ái của Lại-da y là nhân của Hữu sau. Và chính biết rõ tùy miên ái kia đã sinh ra triền, tùy theo những gì thích ứng với nó là duyên tập khởi, nghĩa là giải thích chung tùy miên đã sinh khởi Triền là “duyên” nhóm họp khởi. Dưới đây giải thích riêng, nghĩa là tìm kiếm Ái của Hữu sau, chiêu cảm, nhóm họp Hữu sau, gọi là Tập. Ái của Hữu sau này lại là chủ thể phát ra Hỷ, tham tự thân ở hiện tại, vì đều hiện hành ái, nên gọi là “khởi”, Hỷ Tham đều vận hành Ái, lại làm duyên cho Hỷ Ái kia kia với nhiều thứ của cải, dụng cụ, tức là “Duyên”.

Pháp sư Khuy Cơ nói: “Ý giải thích lần “Lại nữa” thứ ba, là biết rõ hạt giống các “hoặc” phụ thuộc, đã nương tựa bản thức; biết tùy miên ái v.v… nhân sinh ra Hữu sau ở đời đương lai, gọi là nhân, tức biết nghĩa hạt giống của ái: sinh ra quả đương lai, gọi là biết nhân. Một thứ hạt giống hiện hành ở ba thứ sau, gọi là ái. Ái lại chiêu cảm nhóm họp hũu sau, nên gọi là Tập. Ái của Hữu sau này làm “Duyên” lại là chủ thể phát khởi cảnh ở hiện tại, khởi, hỷ, tham “ái câu hành”, gọi là “khởi”, tức lấy ái “câu hành” này làm “Duyên’ cho cảnh ở vị lai khởi lên Hỷ lạc, ái kia kia gọi là “Duyên”. Trong đây không nói bốn thứ ái , ái này yêu đắm tự thân. Lại, ái này tức bốn ái: Thứ nhất gọi riêng là ái, ái này là ái chung, với tướng trạng của nó khó biết. Nay, dùng hạt giống để gọi là, thật ra chung cho cả hiện hành. Văn luận dù nói là phiền não chung, nhưng đại ý lấy ở ái. Ái này có công năng dẫn sinh quả vị lai, ba thứ còn lại là ba ái.

Nói ái của hữu sau này lại có thể phát khởi hỷ tham” ái câu hành” Hỷ tham, ái câu hành, là “duyên” hiện cảnh mà khởi, đều cùng do này “duyên” tự thể ở vị lai, vì yêu thân vị lai. Đối với cảnh hiện tại, vì cũng sinh ra ái, nên gọi là “ái câu hành” do ái của hữu sau làm nhân. Lại do hiện tại tương ưng với cảnh mầu nhiệm, vì khởi ái, nên đối với cảnh nhiệm mầu ở vị lai, cũng khởi hỷ, ái kia kia, cho nên, hỷ, ái kia kia cũng do “ái câu hành” làm duyên.

Trong giải thích rõ tập đế thuộc bốn hành của diệt đế không có thừa, gọi là diệt, khổ đế không có thừa gọi là Tĩnh, tức hai thứ trước. Đệ nhất tối thắng vô thượng, gọi là diệu tức hai thứ trước. Thường trú xuất ly gọi là lìa.

Trong giải thích về bốn hạnh của đạo, đối với cảnh diệt sở tri, có thể là con đường hành đạo, nghĩa tìm kiếm chung, gọi là đạo. Vì đường đạo đi suốt qua pháp đã tìm kiếm. Đối tượng tìm kiếm có cả luống dối và chân thật; đối tượng tìm kiếm chung này là chân thật, chứ chẳng phải hư vọng, gọi là Như. Vì phân biệt với luống dối, nên chẳng phải chỉ có thể tìm kiếm chân thật đối với diệt đế, mà cũng rất dễ hiểu như thật về môn bốn đế, đều có tùy chuyễn gọi là hành. vì trải qua bốn đế, nên hành trải qua dục của bốn đế, là gì? Là xuất ly sinh tử hoàn toàn, vì nghĩa thú hướng Niết-bàn, nên gọi là ra khỏi, ra khỏi các trần lao.

Trong nói về quán bốn đế của cõi trên, đầu tiên, trước kết, sau sinh. Thứ hai, chính giải thích, nghĩa là sở hữu kia, cho đến đều có tánh như thế v.v…

Pháp sư Cảnh nói: “Đây là nói về thể của khổ đế hữu lậu, hữu vi của hai cõi trên, khắp tất cả chỗ sinh của cõi trên. Thể của Tập như ái v.v… khắp hạt giống của năm môn. Ở khắp ba đời, đều có khổ, tập như thế, có pháp đều tùy theo đạo lý của tập đế như thế”. Đều có tánh của khổ đế như thế.

Dưới đây, là nói về diệt, đạo của cõi trên rất dễ hiểu.

Pháp sư Khuy Cơ nói: “ Đại ý trong đây nói, dùng bốn đế lý để quán hiện cõi này đã thấy các uẩn có vô thường v.v… xong, đối với cõi khác không đồng phần giới, không hiện thấy uẩn, đều có thể dùng lý để so sánh, so lường, quán sát, nghĩa là cõi của phương khác kia v.v… tất cả hữu vi, hữu lậu khắp xứ của ba cõi v.v… Đối với tất cả hạt giống các uẩn trong tất cả ba đời, đều có nhóm họp như thế, có sinh ra pháp quả, pháp hòa hợp khổ nạn, khổ đế sinh, già v.v… đều tùy theo các pháp của lý khổ, vô thường như thế. Nghiệp phiền não v.v… do tập đé đều có nhân, tập sinh ra tánh “duyên”. Nếu các hành này có pháp diệt, vắng lặng yên vui là diệt đế. Đạo mà người kia có có công năng trừ các “hoặc” rốt ráo ra khỏi sinh, tử, là đạo lý.

Đại ý đoạn văn này nói về hạnh quán, nghĩa là lấy uẩn mà xứ này hiện thấy đem so sánh với uẩn v.v… mà xứ khác không hiện thấy.

Từ đây trở xuống, là thứ ba, tổng kết hai trí, tức là trí có thể sinh ra chỗ nương tựa của hạt giống pháp, loại trí.

Pháp sư Cảnh noí: “Từ trên đến đây, đã nói về ba phương tiện trước dựa vào định Vị Chí để tu, khởi tác ý liễu tướng, quán đế lý trên, dưới, tức chủ thể huân tập, phát tướng bản hữu hạt giống của pháp trí, loại trí trong kiến đế, khiến chúng được tăng trưởng, gọi là dùng làm chỗ nương tựa cho hạt giống”.

Pháp sư Thái nói: “Từ trước khi kiến đạo, pháp trí, loại trí quán về đạo. Sau, chân pháp, loại quán thành hạt giống nương tựa, lại đồng với hạt giống giải thoát của định ly tâm.

Pháp sư Khuy Cơ nói: “Ý trong đây nói, do niệm xứ chung, riêng của năm pháp quán dừng tâm , tác động hạnh bốn đế này, tức là chỗ nương tựa của hạt giống loại trí vô lậu sau: 1) hữu lậu làm “duyên” vì dẫn sinh vô lậu, nên gọi là chỗ nương tựa của hạt giống, tức nghĩa mới huân tập (hun đúc). 2) Thời gian của năm pháp quán dừng tâm, cũng hay huân tập, tăng trưởng cho hạt giống vô lậu từ vô thỉ. Hạt giống này ở trong phần vị của năm pháp quán dừng tâm, cũng gọi là phần vị gồm thâu của tác ý liễu tướng, chủ thể phân biệt về khể, sinh ra pháp trí, loại trí của kiến đạo ban đầu, gọi là chỗ nương tựa của hạt giống pháp, loại trí. Dưới đây, sẽ nói rõ về địa vị. Nghĩa là trên đã nói về tác ý liễu tướng của mười sáu hạnh, cũng vì phần vị xen lẫn của nghe, tư duy của cõi Dục ở Niệm xứ chung, riêng của năm pháp quán dừng tâm.

Trong giải thích về tác ý thắng giải, 1/ Kết, nêu tóm tắt giải thích trước. 2/ Giải thích rộng.

Trong phần trước, nghĩa là từ tác-ý liễu tướng, kế là, khởi tác-ý thắng giải. Lại đối với pháp của sự khác nhau của bốn đế, tận cùng tánh sở-hữu, phát khởi thắng giải. Bốn đế bình đẳng, một tánh Chân-như, như tánh sẳn có, phát khởi thắng giải ở bốn giai vị căn lành Noãn v.v…

Y cứ trong phần giải thích rộng, nói về bốn căn lành, tức là bốn đoạn: Đầu tiên, giải thích về pháp Noãn. Văn chia làm hai:

1. Nói về “duyên” Đế, tận cùng tánh sở-hữu, tu tướng tác-ý.

2. “Như thế, hành giả siêng tu hạnh Du-già” trở xuống, là nói về “duyên” như tánh sở-hữu, tạo ra hiện quán bốn Đế.

Trong phần trước, tác-ý như thế, chỉ “duyên” cảnh Đế hoàn toàn ở định. Pháp sư Cơ nói trong tác-ý này, muốn dứt trừ chỗ ngã-mạn, văn ở dưới nói: “Ngã-mạn của phẩm thô, gián, Vô gián chuyễn. tác-ý thắng-giải này cũng ngã-mạn gián, Vô gián chuyễn, vì sao chỉ nói hoàn toàn ở định, há không trái nhau ư?”

Giải nghĩa: “Ở trước đã nói về một tâm thiện của tác-ý liễu tướng

khi “duyên” một cảnh, vì nghe, tư-duy xen lẫn đồng “duyên”. Nay, khi thắng giải khởi hoàn toàn là thiện, lúc “duyên” mỗi cảnh, không bị xen lẫn bởi nghe, tư-duy, hoàn toàn ở trong định. Vì phân biệt với liễu tướng kia, nên nói một bề (hoàn toàn).

Y cứ vào nhiều thời gian ở một ngữ quán của tâm thiện, chứ chẳng phải không có xuất quán khởi lên ngã-mạn và lui sụt sinh “hoặc” khác v.v… Không muốn nói về điều phục ngã-mạn, mà nói thật được ngãmạn, nên nói “gián, Vô gián chuyễn”.

Nay, do thắng-giải phân biệt với liễu tướng, nên y cứ vào thời gian dài ở quán, chứ chẳng phải như hiểu rõ tướng vì nghe, tư-duy gián đoạn, không được nhập quán trong thời gian dài, nên nói hoàn toàn, chẳng trái nhau. “ Rằng sinh tử trôi lăn, các pháp như thế vô biên v.v… Nghĩa là một đoạn này nói đủ bốn đế vô biên. Tư duy Văn , y cứ theo đây mà biết.

Pháp sư Thái nói: “Các pháp sinh, tử không có nương tựa, không có gìn giữ, không thể cho là đối tượng nương tựa, cho nên khởi không có dựa vào hạnh, đều không có gì hy vọng, vì chỉ có tại họa lỗi lầm. Nên khởi công hạnh vô “ nguyện”.

Pháp sư Cảnh nói: “Dù chán khổ, tập ưa thích Niết-bàn, nhưng vẫn chưa thể với tâm sâu sắc thu nhập. Vì sao? Vì người kia vẩn cón ngã mạn của phẩm thô, làm che lấp hiện quán.”

Tác ý tùy nhập gián, Vô gián chuyển: lúc tư duy về sinh tử trôi lăn, tâm kèm theo “ngã giải”, gọi là ngã mạn, nói là mang tâm của ngã, gọi là ngã mạn thô, tác ý tùy nhập với tác ý thắng giải, tâm quán bốn đế gián, Vô gián chuyễn, tác động tư duy này, cho đến các pháp ấy là sở hữu của ngã v.v… Xuất ly ngã mạn của phẩm thô, người kia đã biết ngã mạn như thế là chướng ngại, cho đến tùy theo công hạnh của tác ý, siêng năng tinh tấn, không có gián đoạn v.v… e rằng, lại khởi ngãn mạn kia làm che lấp nữa. Tác ý chế phục cảnh sở tri, thu nhập Niết-bàn, chuyên chú ròng rã không có gián đoạn. Lúc tâm sau khởi, quán sát tâm trước là tà hay chánh? Siêng năng tinh tấn, giữ gìn không gián đoạn, làm cho ngã mạn kia không chấp nhận được sinh”.

Pháp sư Thái nói: “Người tu hành kia không thu nhập, chỉ khởi tu tác ý nhậm vận (tự nhiên). Người kia đã biết ngã mạn che lấp xong, bè có thể nhanh chóng siêng năng tinh tấn không có đứt quãng, xả tác ý tự nhiên mà mình đã tu ở trước. Như thế, mãi cho đến dùng tâm quán sau để “ duyên” tâm quán trước, nên lìa bỏ tướng sở duyên, (đối tượng duyên).

Pháp sư Khuy Cơ nói: “Người tu hành kia đã nhận biết rõ ràng, cho đến tác ý thu nhập, nghĩa là tác ý tùy chuyễn này tức ngã mạn ở trước, do nội ngã này tùy theo pháp có thể nhập, gọi là tác ý tùy nhập.”

Tác ý thu nhập. Nghĩa là tức ở ngay sinh tử, đã từng trôi lăn từ lâu, sẽ còn trôi lăn nữa, cho đến vô tướng chân như. Vô tướng này “duyên” cảnh ngoài mà sinh, gọi là tác ý thú nhập. Người tu hành kia tùy theo tác ý này, mà chuyên tinh không gián đoạn, quán sát chân lý của bậc Thánh. Tâm quán sát-này đã có lúc diệt, tâm sau không gián đoạn, quán sát phương tiện trôi chảy. Tâm quát sát trước mất, tâm quán sát sau sinh. Dùng tâm sau, “ duyên” tâm trước, siêng năng tinh tấn không thôi. Do nghĩa này, nên ngã mạn của phẩm thô không chấp nhận được sinh, là ý văn trong đây.

Từ đây trở xuống, là thứ hai, nói về duyên; như tánh sở hữu tạo ra quán bốn đế . Như thế, hành giả quán tâm nối nhau, xoay vần riêng, khác mới mới mà sinh, hoặc tăng, hoặc giảm v.v… Pháp sư Khuy Cơ noí: “lúc hành giả tạo ra hành quán, niệm niệm càng thêm vượt hơn, gọi là hoặc tăng. Nếu không vượt hơn thêm, gọi là hoặc giảm. Tạm thời có “ suất nhĩ” một (niệm sát-na) sinh trước, sau. Đã có tăng, giảm, đổi thay, biết rõ là vô thường, tức tâm quán này đã nhập thủ uẩn, biết rõ là khổ. Không như thật, chấp là thật pháp, chỉ là pháp khổ, gọi là tâm quán tánh không là khổ, thật pháp bị chấp là khổ. Vì quán lìa pháp thứ hai, nên không có thật. Thứ hai, là chấp luống dối có thật, gọi là “không”, không có dụng tự. Tại, gọi là hạnh vô ngã; là ý trong đây tức “duyên” đạo đế là vô thường v.v… Vì y cứ giống như tâm thật quán là khổ đế, vì là hưũ lậu.

Nay, y cứ thuận với nghĩa xuất thế. Lại vì nghĩa hữu lậu, vô lậu trong địa vị này, nên nói là Đạo đế. Nếu y cứ ở nghĩa này cũng “duyên”. Đạo đế là vô thường v.v… Nay vì y cứ ở nghĩa thật, nên là khổ đế”.

Pháp sư Cảnh nói: “Biết chỉ có tâm, không có ngã pháp thứ hai, gọi là “không”. Khổ, tập, diệt, đạo đế, chính ngộ nhập, nghĩa là chuyễn gần với kiến đạo. Hạnh quán dần sáng, gọi là chánh ngộ nhập. Chẳng phải hiện quán này gọi là ngộ nhập. Hạnh quán tăng dần, lìa sự phân biệt, nên nói: “Năng duyên” “sở duyên” (chủ thể duyên, đối tượng duyên) bình đẳng, bình đẳng chánh trí được sinh.” Kế là, nói về Đảnh và Nhẫn.

Pháp sư Cảnh nói: “Bốn căn lành kia yên ổn thọ đế lý, đều gọi là nhẫn, chỉ dùng ba phẩm để lập Noãn, Đãnh và Nhẫn.

Pháp sư Thái nói: “Học làm nhân không vì quán vô ngã, nên bình đẳng, bình đẳng cũng ấn đế lý, nên đều gọi là Nhẫn.

Thứ tư, trong giải thích về pháp thế đệ nhất, hành giả kia đã như thế, cho đến trụ ở không có gia hạnh, không có tâm phân biệt.

Nghĩa là hành giả kia từ trên đến đây đã tu tập nhiều, nên đã lìa gia hạnh, trụ ở tâm vô phân biệt; giống như không có đối tượng duyên, mà chẳng phãi không có duyên.

Pháp sư Khuy Cơ nói: “ Trí vô phân biệt vắng lặng, sâu kín, gọi là đó là Diệt. Nay, trí này giống như trí kia, gọi là dường như diệt. Lại, trí vô phân biệt diệt tâm quán phân biệt, gọi là “diệt”. Lại diệt, định, gọi là diệt. Vì tâm vi tế giống với diệt định kia, nên gọi là dường như “ diệt”. Trí vô phân biệt không có đối tượng duyên (sở duyên) của ảnh tượng. Nay, không có tướng trạng này giống với trí kia mà vì có ảnh tượng, nên nói giống như không có đối tượng duyên. Lại, cảnh sở hữu này vì biểu hiện ở trước, nên chẳng phải không có đối tượng duyên. Tâm sâu kín dường như không có “duyên” mà chẳng phải vô duyên.

Lại, trí vô phân biệt lìa có phân biệt; xa lìa các tướng; và xa lìa các “hoặc”. Nay, vì trí này dường như trí kia, nên nói dù giống xa lìa mà chẳng phải thật xa lìa”.

Pháp sư Cảnh nói: “Dù dường như xa lìa, mà không xa lìa, nghĩa là các thiện căn như Noãn v.v… tùy từng phần vắng lặng, giống như tâm Chân Vô lậu xa lìa thể là hữu lậu mà chẳng phải xa lìa.”

Pháp sư Thái nói: “Không có tâm, gọi là xa lìa. Lại, lúc bấy giờ, không bị che lấp bởi thùy-miên tốt, đến đây không như thế.”

Pháp sư Cảnh lại giải thích: “Ở đây nói là nêu lên, chứ chẳng phải chỉ thị rõ trụ này không có tướng như thế trong Noãn v.v… Nay, giải thích trụ ở pháp Thế đệ nhất không có tướng như thế, tức đối với tâm vắng lặng như thế, trụ cùng cực, gọi là pháp thế đệ nhất, nghĩa là tâm vắng lặng đối với bốn thiện căn, trụ một niệm sau cùng đối với các đế lý, khởi tác-ý nội, gọi là pháp thế Đệ Nhất. Ở đây có hai giải thích:

1) “Dùng văn này để chứng minh pháp thế đệ nhất, “duyên” chung bốn đế, tạo ra quán vô ngã . Luận đã nói: “Vì các đế lý thánh, nên biết chẳng phải một đế. Văn này thuận với kinh Niết-bàn nói là pháp thế đệ nhất cũng “duyên” bốn Đế, không đồng với luận Tiểu Thừa chỉ “duyên” “Khổ đế.”

2/ “Pháp Thế đệ nhất chỉ “duyên” một đế, đồng với luận Tiểu thừa nói. Nay, cách hành văn này nêu chung, lấy riêng, nghĩa là đối với đối tượng quán như Noãn v.v… ở trước, một khởi tác-ý nội tại trong các đế lý của bậc thánh. Như kinh Niết-bàn nói là “duyên” bốn đế. Ngài Viễn-công giải thích: “Quán đế có hai thứ:

1/ Đắc tu, hiện-tại sanh khởi.

2/ Đắc tu, vị lai sẽ thành.

Pháp Thế Đệ Nhất hiện tại đã tu, dù quán một Đế, một hạnh. Vị lai đối với bốn Đế tăng rõ ràng. Nay, y cứ ở đắc tu, gọi là “duyên” bốn đế. Nay, giải thích kinh Niết-Bàn kia cũng nêu chung, lấy riêng, vì dù nêu chung bốn Đế mà ý thì lấy khổ đế.”

Trong giải thích về tác-ý xa lìa, từ vô-gián này cho đến hiện thấy trí sinh v.v… Pháp sư Cảnh nói từ vô-gián của pháp Thế đệ. Nhất này các đế lý thánh, đến pháp Thế đệ nhất về trước đã quán các đế-lý của bậc thánh, khởi tác-ý nội. tác-ý Vô gián tùy theo các đế đã được quán theo thứ lớp ở trước. Hoặc bốn đế cõi Dục là hiện thấy; hoặc bốn đế của hai cõi trên, gọi là chẳng phải hiện thấy. Như thứ lớp của pháp Thế đệ nhất kia, có trí quyết định vô phân biệt của Kiến đạo hiện thấy trí sinh. Do trí sinh này nên tất cả thô nặng kiến hoặc của ba cõi, đều dứt trừ hẳn”.

Pháp sư Thái nói: “Từ chân Kiến đạo Vô gián này, về sau, ở trong tướng Kiến đạo, quán lại các đế đã nói ở trước.

Trên đây luận rằng: “Tâm xuất thế sinh, tức là chân kiến”.

Pháp sư Bị thuật lại hai nghĩa, nói là phân biệt về tiền phương tiện của tướng kiến đạo đã có pháp trí, loại trí, ở trong chân quán, nên biết cũng có. Nhưng pháp loại trí dù có nhiều thứ, nhưng quán sát ý văn này là muốn nói về pháp, quán danh loại trên”.

Lại giải thích: “Y cứ chân Kiến đạo, chỉ khi một niệm tùy phương tiện chia ra bốn Đế Trí, cho nên nói: “Như thứ lớp”. Với người độn căn kia, quán riêng bốn Đế, nên nói “Như thứ lớp”, cách giải thích trước hay hơn.

Pháp sư Khuy Cơ nói: “Từ Pháp thế Đệ Nhất Vô gián ở trước, từ pháp Đệ nhất trước đã quán các Đế Lý của bậc Thánh, nay, đối với chân Kiến đạo Vô gián, khởi tác ý nội. Tác ý Vô gián của chân kiến đạo này tùy theo các Đế đã quán khi pháp Thế đệ nhất ở trước trong tướng Kiến đạo. Hoặc ở đây cũng hiện thấy, ở nơi khác không đồng phần của phương khác, không hiện thấy trong Đế lý các bậc Thánh. Như thứ lớp khổ, tập v.v… hữu lậu, vô lậu, không có phân biệt quyết định. Không do người khác dẫn, tự sinh nghi, trí hiện ở trước, do hiện lượng chứng trí sinh, chứ chẳng phải như kiến đạo ở trước, tức có phân biệt nghi, có thể so sánh suy lường mà sinh, là ý trong đây. Lại, chứng từ pháp Thế đệ nhất Vô gián trước, gọi là từ Vô gián này; nay, ý muốn giải thích chân kiến đạo khó biết, vượt qua nói là tướng kiến đạo, bèn giải thích đã từ nơi chốn Vô gián, tức pháp Thế đệ nhất. Nay bèn thành trước nghĩa là ở trước đã quán đế lý các thánh, khởi tác ý nội, tức là thời gian của pháp thế đệ nhất. Vô gián tác ý này tùy theo các đế đã quán theo thứ lớp trước kia trong tướng kiến đạo, hoặc hiện thấy, không hiện thấy, trí quyết định hiện thấy trí sinh, cũng là ý trong đây.

Nói về sự dứt trừ hẳn này, nếu người trước đã lìa tham cõi Dục, cho đến không còn sinh trở lại thế gian này nữa. Trong đây, y cứ ở trước đã dùng đạo thế gian để chế phục dục ở cõi Dục. Nay khi nhập kiến đạo chứng quả Bất Hoàn, tức là siêu việt người Bất Hoàn. Nay lại y cứ ở lìa Bất Hoàn của cõi Dục, không biện luận (bất luận) cho đến người ở trước đã lìa Vô Sở hữu xứ.

Cuối quyển trước nói về người thế gian lìa dục, với tướng oai nghi vắng lặng, nói năng thuần hậu, nghiêm túc, mà không có cử chỉ vội vàng, giao động v.v… Nay người này giống với người kia, nên nói: “Phải biết không khác v.v… Lại, dù giống nhau nhưng vẫn có một vài điểm khác nhau, nghĩa là người Bất Hoàn không sinh trở lại cõi Dục, tức ở nơi kia nhập Niết-bàn. người thế gian lìa dục thì không như thế, nên có khác nhau.

Do trí “Năng tri” hòa hợp với cảnh “sở tri” không trái. Vì quán sát hiện ở trước, nên gọi là hiện quán, cho đến Bà-la-môn v.v… phải biết cũng thế, nghĩa là lúc nhập kiến đạo, chứng như vì cảnh như vô tướng, nên trí kia cũng vô tướng. Hai vô tướng hòa hợp, chủ thể duyên, đối tượng duyên (năng duyên, sở duyên) không trái nhau. Vì quán sát hiện ở trước, nên gọi là hiện quán.

Giải thích về danh nghĩa hiện quán, như một người sát-đế-lợi với sát-đế-lợi hòa hợp một chỗ, không có ý trái nhau, do chủng tánh đồng, mà là một loại, cũng gọi là hiện quán. Bà-la-môn v.v… phải biết cũng thế. Ở đây cũng thành tựu rất nhiều tướng trạng v.v… Nghĩa là nói về người nhập kiến đạo có mười hai tướng trạng.

1- Chứng lý quán, đạt được bốn trí:

2- Chỉ pháp trí, nghĩa là lúc ở phàm phu, chấp vọng chấp là thật ngã. Nay, nhập kiến đạo, bác bỏ thật ngã, chỉ có ở pháp.

3- Trí chẳng phải đoạn.

4- Trí phi học, nghĩa là lúc ở phàm phu, vọng chấp đoạn, thường. Nay, nhập kiến đạo, lìa chấp đoạn thường tức trí chẳng phải đoạn, trí chẳng phải thường. Ở đây, y cứ phân biệt đoạn kiến, không biện luận về tu đoạn kiến.

5- Trí duyên sinh, như sự huyễn. Nghĩa là khi ở phàm phu, vọng khởi tà kiến, kiến thủ, giới thủ. Nay, nhập kiến đạo, vì khéo tìm kiếm; mong cầu, nên quán thấy các pháp. Ở đây do như sự huyễn, không như đối tượng chấp của ba kiến kia v.v… đây là tướng trạng thứ nhất.

6- Đối với cảnh giới, quên mất, khởi sự trói buộc mạnh mẽ, nhạy bén, tác ý thì bỏ ngay.

7- Rốt ráo không rơi vào đường ác vì đường ác cũng có đạo đối trị.

8- Không cố tư duy phạm giới.

9- Không lui sụt, bỏ dở điều mình đã học.

Pháp sư Cảnh nói: “Vì đã dứt trừ hạt giống “Hoặc”, nên không có lui sụt, bỏ giở quả vị tu học”. Pháp sư Cơ nói: “Được trí quyết định, nên đối với pháp đã học, tất nhiên, sẽ không lùi bước, đổi thay, bỏ giở điều mình đã đạt được.”

10- Không tạo nghiệp năm Vô gián.

11- Nhất định biết khổ, vui chẳng phải tự làm v.v… Pháp sư Cảnh nói: “ Nhất định biết niềm vui chẳng phải do thần ngã làm ra; cũng chẳng phải trời Tự tại kia đem đến; cũng chẳng phải hai vị đó chung tạo ra cũng chẳng phải không có giả danh kia, mình người tạo ra và không có nhân tạo ra.”

Pháp sư Khuy Cơ nói: “Vì tỏ ngộ các pháp duyên sinh, nên dứt bỏ chấp tự tác v.v… trong nhân.

12- Chung qui không mời thỉnh ngoại đạo làm thầy, khởi tưởng ruộng phước.

13- Chung qui không ngắm xem miệng và dung nhan diện mạo của các Sa-môn. Bà-la-môn v.v… khác, cho đến đạt được dứt mọi sự sợ hãi, có nghĩa là không tin đạo khác, xuất gia, thọ học; chỉ dùng pháp trí, thấy pháp trí loại trí, được pháp từ giáo huấn của đấng Đại sư, sinh niềm tin quyết định. Cho nên được không có sự sợ hải đối với các pháp. (Việc này như trong pho thứ chín dưới đây có giải thích rộng). Đối pháp quyển chín cũng có giải thích.

14- Cuối cùng không chấp giả dối những điềm tốt lành của thế gian, cho là thanh tịnh. Nghĩa là chỉ biết Đức Phật là bậc thanh tịnh.

Điềm lành của thế gian, nghĩa là người đời chấp giả dối điềm lành của thế gian. Chẳng hạn như khi sắp ra đi, nhìn thấy nước sạch, hương hoa, là tướng điềm lành khi đi.

1. Cuối cùng không còn sinh hữu thứ tám, chỉ bảy lần sinh v.v…

2. Chứng đắc bốn bất hoại tịnh.

Trong giải thích về tác ý quán sát, đầu tiên, là phân tích sơ lược, sau, giải thích rộng.

Trong phần trước lại có hai:

1. Nói về dứt “ tu hoặc” được tướng của hai quả.

2. Nói về quán sát trong xả. Đầu tiên “Lại từ đây về sau” cho đến “Phải biết cũng thế”, nghĩa là có mười hai tướng đồng với sơ quả.

“ Nhưng một ít sai khác, cho đến nhanh chóng dứt trừ”, nghĩa là với tướng riêng thứ hai của người chứng Sơ quả, chỉ một lần sinh trở lại thế gian này. Đây là sự khác nhau của tướng thứ mười một với người Sơ quả. Kết hợp hai quả đầu có hai tướng khác nhau được quả Bất Hoàn. Như tướng Bất Hoàn lúc siêu việt nhập Niết-bàn.

“Phân biệt quán sát rằng: “phải biết cùng cực trong đây mà chính thức tu tập, nghĩa là tác ý quán sát đi suốt qua chủ thể quán sát” tu hoặc” của ba cõi đã dứt, chưa dứt là đạo thắng tấn (tinh tấn vượt hơn). Nhưng đối với đạo Vô gián chánh đoạn của tu đạo là tác ý lạc từ dứt chín phẩm cõi Dục, cho đến tám đạo Vô gián của Phi tưởng là tác ý rốt ráo gia hạnh. Trong đây chỉ nêu đã dứt “tu hoặc” của cõi Dục, được hai quả giữa, không nói chủ thể trị gồm thâu tác ý lạc. (Việc gồm thâu tác ý lạc, văn sau sẽ nói).

Trong giải thích rộng thứ hai, lại chia làm hai:

1. Hỏi đáp để nói rộng về phẩm loại khác nhau của thể dụng tu đạo.

2. “Như thế, đối với tu v.v…” trở xuống, là nói về quán sát ở giữa. Trong phần trước nói: “Nghĩa là do tác ý của Địa định, chung cho hai pháp định, tuệ của Thế gian, xuất thế gian. Vô gián ân cần trân trọng hai tu tự tánh định.

Pháp sư Thái nói: “Tác ý của Địa định là tu tự tánh. Do hai tu, nên chứng tự tánh của định kia. Lại, có thể hội nhập cảnh đã chứng.

Trong tám thứ tu nghiệp, Pháp sư Cơ v.v… giải thích: Do tu nên được, nghĩa là “đắc tu”, do tu nên tập, tức “tập tu”. Nếu ở trước đã được, chưa khiến hiện ở trước, chỉ do tu tập pháp chủng loại kia, sẽ khiến hiện ở trước, khiến chuyễn thanh tịnh, tươi tắn sinh khởi, gọi là tu, nên tịnh, đây tức ở vào thời gian Pháp Trí, hạt giống của loại trí kia cũng thành tựu, nên gọi là ở trước đã được. Do khi tu tập hạt giống của Pháp trí kia, tức giúp cho hạt giống của loại trí. Đến thời gian Loại Trí, hạt giống này sinh ra Loại Trí, khiến chuyển thành thanh tịnh, tươi tắn sinh khởi, gọi là tu nên tịnh, tức khi Pháp trí tu hạt giống của Loại Trí, làm cho thanh tịnh, lại là lý do sinh loại trí.

Lại, như Kiến đạo trước đã huân tập tăng trưởng hạt giống vô lậu, nhập Kiến đạo, sinh pháp trí v.v… Lại, sở dĩ hạt giống được thành tựu là do tu, nên được. hiện hành thành thục, gọi là do tu nên tập. Tư tại thành tựu, gọi là do tu nên tịnh, là ba thành thục. Nếu đã sinh “hoặc”, có thể diệt đoạn, thì gọi là do tu nên dứt trừ. Các “hoặc” chưa sinh , thì khiến chúng không sinh, biết rõ như bệnh v.v… gọi là do tu nên biết. Dưới đây nói về tu phẩm loại có mười một thứ. Pháp sư Khuy Cơ nói: “Ở đây giải thích đạo Vô gián, chủ thể đoạn, không nói đạo gia hạnh, là vì Đối pháp nói định Kim Cương dụ đều lấy đạo gia hạnh, chẳng phải nghĩa chân thật. Nếu dứt hạt giống chỉ có đạo Vô gián, nếu chế phục hạt giống thì đạo gia hạnh cũng có nghĩa này. Luận Đối Pháp kia vì y cứ ở nghĩa chế phục hạt giống, nên định Kim Cương dụ cũng lấy đạo Gia hạnh. Luận này vì y cứ ở dứt hạt giống khó, nên chỉ đạo Vô gián. Người tu đạo Thắng Tấn, nói là do đạo này nên mới cùng cực, hoặc chưa khởi sự thu hướng địa vị rốt ráo. Pháp sư Thái nói: “Thắng Tấn có hai:

1/ Chưa khởi sự thu hướng Gia hạnh của Địa sau đến nay, đều gọi là đạo Thắng Tấn. Luận nói: “cho đến” là ý ở đây.

2/ Y cứ ở dứt “hoặc”, phẩm thứ tám chưa hết, tâm của đạo hạnh thứ chín hướng đến địa vị Vô học, đều gọi là Thắng Tấn. Pháp sư Khuy Cơ nói: “Đây là y cứ sau khi chưa khởi gia hạnh đối trị phiền não phẩm hạ đến nay, các sở hữu quán dần, tu tập phát tâm v.v… là đạo Thắng Tấn của đạo Đối trị ở trước. Lại được Sơ quả về sau hướng đến cầu quả thứ hai, thứ ba chưa thu nhập địa vị rốt ráo Vô học mà có thể phát tâm tu hành v.v… là đạo Thắng Tấn ở trước.”

Hỏi: “Khởi gia hạnh phẩm sau, vì sao không là đạo Thắng Tấn ở trước?”

Nghĩa là: “Nay, tác pháp riêng, gia hạnh sau “duyên” phẩm sau, vì tùy theo nghĩa này, nên không lấy, thật ra cũng là nghĩa này. Không lấy, thật ra cũng là nghĩa này. Lại, đã dứt “hoặc” của phẩm thứ tám của Phi tưởng đến nay, chưa dứt “hoặc” của phẩm thứ chín, thành tựu sở hữu cđường ác của địa vị rốt ráo, là đạo thắng. Tấn của đạo đối-trị phẩm đầu cõi Dục. Lại là đạo thắng-tấn của người chứng quả thứ ba dứt “hoặc” cõi Dục. Hoặc đến đạo Vô-gián thứ chín của Phi tưởng, cũng là đạo Thắng-tấn. Nếu là đạo giải thoát thứ chín. Vả, không gọi là thắng tấn, do được quả giải thoát là giải thoát thêm vượt hơn, gọi là đạo giải thoát. Nay, với nghĩa “đều được” trong đây chẳng phải tác Phác-pháp đủ.

Trong mọi lúc, đối với pháp đáng nhàm chán, cho đến gọi là pháp gồm thâu tác-ý lạc, đây là phần thứ năm, giải thích về sự gồm thâu tácý lạc. Quyển trước nói gồm thâu lạc. Về sau, nói về quán-sát. Quyển này, trước nói về quán sát, sau, nói về gồm thâu lạc, Nghĩa là trước đây, y cứ ở đạo thế tục lìa dục cõi Dục, hội nhập bảy thứ tác-ý của Sơ Tĩnh-lự, là nói thuận theo thứ lớp. Nay, ở đây, y cứ chung, lìa “tu hoặc”, chứng hai quả giữa, nhằm nói về quán-sát kia dứt và chưa dứt, sau đó, nói lược về gồm thâu lạc, chung cho cả bốn đạo.

“Kia tức ở đây” trở xuống, là thứ sáu, giải-thích gia hạnh rốt ráo, nghĩa là từ dứt “tu hoặc” của cõi Dục, cho đến tám Vô-gián chưa hết của Phi-tưởng, là sức của tác-ý gồm thâu lạc. Nếu người còn bị ràng buộc đủ tu được định này, thì có thể dứt trừ hẳn tất cả phiền não. Nhưng chủ yếu do dứt tám phẩm “tu hoặc” của Phi-tưởng, mới được định này. Khi được định này rồi, thì dứt hết “tu hoặc”.

“Từ Tam-ma-địa vô-gián của định Kim-cương dụ này trở xuống, là thứ bảy, nói về quả rốt ráo, trong đó có ba:

1/ Nói về thể của quả hữu vi, vô vi, để nêu giai vị kia.

2/ “Lại, lúc bấy giờ đến cùng cực rốt ráo v.v… ” trở xuống, là nói lại đức tốt của La-hán.

3/ “Phải biết rằng tác-ý thuộc định Kim-cương dụ trong đây v.v… ” trở xuống, là đối nhân lập quả.

Trong phần trước nói: “ Các lậu đã hết, nghĩa là do ba lậu hết, nên sự sống cũng đã hết, tức là sự sanh tử của ta đã hết; việc làm đã xong, không còn làm nữa, nghĩa là trí của việc làm đã xong.

Chứng đắc nghĩa của mình, nghĩa là do tu rốt ráo thánh đạo, nên chứng nghĩa lợi của quả mình, tức là trí của Phạm-hạnh đã lập.

Hết sạch các kiết “hữu”, nghĩa là kiết “hữu” hết, nên không thọ “hữu”, tức trí không thọ “hữu” sau.

Trong ba trụ. Pháp sư Cơ giải thích: “ Thánh trụ, nghĩa là không, vô nguyện, vô-tướng, diệt định. Trong các luận, chỉ có ba môn giải thoát là Thánh-trụ. Nay, lấy diệt định, vì vô-tướng nên tức nhiều trụ cũng ở trong trụ. Các Luận y cứ ở Tác-pháp của ba giải thoát. Ở đây thông suốt qua sự thật để luận nên không trái. Lại, hội Chánh làThánh. Chủ thể chứng Chánh-pháp của Thánh, gọi là Thánh trụ, tức chỉ có ba môn giải thoát, nếu đối với bậc Thánh thành tựu thì gọi là Thánh trụ, tức là Diệt-định cũng phải. Bốn Thánh còn lại v.v… không lìa Đạo đế, có tâm hội chánh nghĩa là trụ. Nay diệt định vô tâm, không hội nghĩa chánh, nên các luận không có. Luận này vì y cứ ở thành tựu nên có.

Trong Thiên-trụ, các luận chỉ nói bốn tĩnh-lự. Nay, luận này chung cho cõi Vô-Sắc, là lấy nghĩa định, tuệ đồng đều, y cứ ở tiêu-biểu tên trời, nghĩa là chỉ nói bốn thiền, tức các luận, như đối-pháp quyển mười nói nếu nghĩa hữu, vô lậu, lại “hữu” cũng gọi là trời, thì Vô-Sắc cũng đúng, nên trong đây thông qua không trái Vô-Sắc . Lại vì y cứ ở có định trong sáng, nên gọi là trời, Vô Sắc cũng có định Quang Tịnh nên gọi là Trời, tức cũng là Thiên trụ. Như tác Pháp chân thật của văn này.

Kia y cứ một nghĩa, thứ hai lại nói trong thắng đức có ba mươi hai pháp, cho đến rốt ráo cùng cực, nghĩa là do đến quả Vô-học, nên quả này là bậc nhất.

Rốt ráo Vô-cấu, là thứ hai, La-hán dứt hết “hoặc” của ba cõi.

Rốt ráo chứng được bờ mé của phạm hạnh, là thứ ba, nghĩa là người vượt qua phạm-hạnh của hạnh hữu học, vẫn chưa đạt đến cùng cực. Nay, Vô-học đã đạt đến bờ mé.

Tánh lìa các then chốt. Nghĩa là phiền não của ba cõi bám trụ hữu tình, không cho thoát ra khỏi, cũng như ổ khóa cửa. Bậc Vô-Học đã dứt lìa khóa đó, tức thú tư.

Đã ra khỏi hầm sâu, tức thứ năm, lìa bốn bộc lưu dòng thác đã vượt qua hào sâu, tức thứ sáu, lìa bốn ách. Đã bẻ gãy, chế phục Y-sưca kia, đây là bậc Thánh chân thật, tức thứ bảy. Ở phương Tây có ngọn núi tên là Y-sư-ca, cao chót vót. “Pháp sư Cảnh nói Đỉnh núi cao này là dụ cho ngã-mạn, tự đề cao mình lên”. Pháp sư Khuy Cơ nói: Ví như phiền-não của Hữu đảnh cũng cao hơn hết. Bậc Vô-học lìa “Hoặc” Hữu đảnh, như bẻ gãy Y-sư-ca.

Diệt hết Cờ Cao. Pháp sư Cơ nói: Diệt hết ngã-mạn, là thứ tám.

Đã dứt bỏ năm chi, tức là thứ chín. Pháp sư Cơ nói: “Đã dứt trừ năm kiết phần trên va năm kiết phần dưới.” Pháp sư Cảnh nói: “Chỉ dứt năm kiết phần trên, thành tựu sáu chi, tức là thứ mười”. Pháp sư Cảnh nói: Thành sáu chi thường trú, Pháp sư Cảnh nói: Thành-tựu sáu niệm, lại thành sáu chi phép tắc đã thực hành v.v…

Nay, nếu dựa vào kinh A-hàm để giải thích văn này thì nên nói: “Đã dứt năm cái, được sáu hằng trụ. Cho nên, kinh A-hàm nói về quả La-hán: “Diệt hết năm cái, che chở sáu trụ, diệt hết một thân, niệm hàng phục ma”, chỉ văn dưới đây nói: “Thành sáu Hằng trụ”, thì cần gì phải nói lại?

Một bề giữ gìn che chở bốn đối tượng nương tựa thứ mười một. Gìn giữ che chở bốn y như, y pháp, không y nhân v.v… Lại bốn Y chỉ như thường khất thực, mặc y phẩn tảo v.v… Lại thủ hộ bốn niệm trụ, gọi là bốn y chỉ, rất xa lìa, tức là thứ mười hai, hữu học đã lìa các đường ác v.v… Nay Vô học vượt hơn hữu học kia, gọi là rất xa lìa, hoặc lìa tà hạnh (hạnh bất chánh); hoặc lìa sát sinh v.v… vượt hơn Hữu học, riêng một Đế thật, tức là mười, ba, nói không lừa dối. Lại, lìa nói dối, gọi là Đế thật.

Buông bỏ sự mong cầu tức là mười bốn, vì địa vị vùng cực, lại không có mong cầu. Lại không có không cho mà lấy, nên gọi là không mong cầu.

Không có tư duy vẩn đục, là mười lăm, chỉ tư duy thiện, vô ký vì không có nhiễm ô bất thiện, tư duy vẩn đục, lại, vì không có tư duy vẩn đục về tà hạnh. Lại không có tư duy vẩn đục về sát sinh.

Bốn thứ trên đây, là bốn thứ trước trong mười nghiệp đạo ác, cũng được.

Hành động của thân nhẹ nhàng, là mười sáu. Ở địa vị Hữu học, thân có cứng, nhám. Nay, ở địa vị Vô học thường được khinh an, nên hành động ncủa thân nhẹ nhàng. Ỷ tức ỷ lạc. Tâm khéo giải thoát, tuệ khéo giải thoát, tức là mười bảy. Được câu giải thoát, hoặc chỉ tuệ giải thoát.

Riêng một mình làm bạn, nghĩa là vì hơn hết. Nên gọi là riêng một mình (độc nhất), chứ chẳng phải bạn hữu học v.v… khác, gọi là không có bạn, tức mười tám.

Chánh hạnh đã lập, tức mười chín. Nghĩa là hạnh nhập niết-bàn đã lập. Về danh đã gần gũi đấng Trượng. Phu vô thượng, là hai mươi. Nói là đồng với Phật, chứng “nhân không”. Gần gũi với Phật. Phật là đấng trượng phu vô thượng .

Thành tựu đầy đủ sáu pháp hằng trụ, cho đến ý chánh niệm, chánh tri, là hai mươi mốt.

Nói về thường trú nơi sáu hằng trụ. Sáu pháp hằng trụ lấy ba pháp: Xả, Niệm và chánh tri làm thể.

Người tu hành kia, bấy giờ nhận lãnh tham dục v.v… cho đến ngu si không có thừa, mãi mãi dứt hẳn là thứ hai mươi hai.

Lìa căn bất thiện của ba cõi. Vì tham, sân, si kia đều hết hẳn nên không tạo ra các thói quen xấu ác, gần gủi các người thiện là hai mươi ba.

Sáng suốt dứt ác, tu thiện. Tâm người tu hành kia như hư không, nước trong sạch, là hai mươi bốn. Tâm kia như hư không chẳng có ô nhiễm; như nước sạch không có vẩn đục. Lại, như hư không chẳng có ngăn ngại, như nước sáng sạch, như nước không có bụi bám, như hương Chiên đàn mầu nhiệm, khắp vì tất cả Thiên-Đế, Thiên vương, cung kính, cúng dường, tức là thứ hai mươi lăm.

Pháp sư Cảnh nói: “Như gỗ Chiên đàn thơm trên hết trong thế gian. Hương, được Thiên Đế, thiên vương kính trọng. Pháp sư Khuy Cơ nói: Như ở cung Thiên-đế có cây Chiên-đàn diệu hương được Thiênđế, Thiên vương thường sanh cung kính. Lại, thân La-hán, như gổ Đàn hương, nói là không có “hoặc”, vì tự tại, nên thường được Thiên-Đế v.v… cung kính, trụ Niết-bàn hữu dư y , là hai mươi sáu.

Nói về được Niết-bàn hữu dư , vượt qua biển sinh, tử, cho đến cũng gọi là nhậm trì thân hậu hữu là công đức hai mươi bảy.

Nói về thân này được Niết-bàn, chỉ gìn giữ một thân. Nghiệp phiền não trước đây đã dẫn sinh các uẩn, cho đến diệt hẳn, nhập Niếtbàn, là hai mươi tám.

Nói được Niết-bàn vô dư; phải biết, trong đây có tướng như thế, cho đến thứ năm là không cất chứa, thọ dụng tư cụ các dục, là hai mươi chín.

Nói về không tập gần, gồm năm nơi chốn. Như thế, không thể vọng chấp khổ, vui v.v… cho đến không có nhân mà sinh, là thứ ba mươi.

Nói về biết các pháp từ duyên mà sinh, không sinh chấp luống dối. Lại cũng không hay sợ hãi tất cả, sự không nên ghi nhận, là ba mươi mốt.

Nói vì đã biết pháp Phật, nên người khác hỏi, đều rất dễ hiểu.

Không sinh sợ hải trong mười bốn việc không nên ghi nhận. Cũng lại, không thể ở trên mây v.v… là ba mươi hai. Vì nói vô ngã nên không sợ hãi.

Trên đây là ba mươi hai công đức của A-la-hán “tất cả như thế gọi là Địa Thanh văn v.v…” trở xuống là văn, tổng kết một địa, vì văn ít, nên gữi trong xứ Du-già xứ thứ tư.

Nói cũng như tất cả danh, cú, văn, thân là căn bản đã tạo ra văn chương; chú thuật, luận căn bản khác lạ. Pháp sư Cơ nói: “Văn chương, luận khác lạ, phải dựa vào danh, cú v.v… mới thành. Nay, hạnh Thanh văn phải nương vào giáo pháp tương ưng này. Giáo pháp là căn bản của hạnh kia, như danh, cú v.v…

Nay giải thích: “Đây là nói lược về Địa Thanh văn, vì Thanh văn kia tương ưng với căn bản giáo rộng.

Địa Độc giác, nếu theo tiếng Phạm, thì gọi là Bát-Lặc-Ế-Ca-PhậtĐà, xưa dịch Bích-chi là lầm. Hán dịch là Độc giác. Khi mới phát tâm, cũng gặp Phật, tư duy pháp thế gian. Về sau, được đạo, thân ra đời không có Phật. Tánh ưa vắng lặng, không muốn cư trú ở chốn tạp nhạp, tu gia hạnh viên mãn, không có thầy, bạn, giáo pháp, tự nhiên giác ngộ riêng mình, ra khỏi quả trong hành ở thế gian, nên gọi là Độc giác. Hoặc quán “duyên” đối đải mà giác ngộ quả Thánh, cũng gọi là duyên Giác .

Như thế, chủng tánh Độc giác, phát tâm tu hành được quả. Tất cả, nói chung là Địa Độc giác.

Trong văn, 1/ Trước hết, sau triển khai. 2/ Chia ra năm môn để giải thích.

Trong giải thích chủng tánh, Pháp sư Cảnh nói: “Ba loại Độc giác: phiền não nhẹ nhàng kín đáo, gọi là Bạc trần. Đối với các hữu tình, từ bi, kém, mỏng, gọi là Bạc bi. Cầu giác ngộ một mình, được xuất ly, không có thầy, vô địch trong thế gian, gọi là Mạn hành loại. Pháp sư Thái nói: “Tánh chất của Bạc trần ở trước, vì phiền não mỏng, nên dứt trừ dể dàng. “Hoặc” mạn trong phiền não rất mỏng và ít năng nề. Do tánh chất của mạn này nên mong muốn không có thầy”.

Pháp sư Khuy Cơ nói: “Về chủng tánh, có ba hạng người. hoặc một người có đủ ba chủng tánh, một người có đủ tánh tùy tăng trong ba, nên nói có ba thứ; hoặc một người vì y cứ ba nghĩa nên nói trong ba thứ đạo”.

Pháp sư Cảnh nói: “Ở đây chính là nói về tu tập, nhập Thánh. Người đầu tiên trong đạo phương tiện ở trước, phải mất một trăm kiếp tu các thiện xảo như uẩn v.v… khi đủ một trăm kiếp rồi, đến thân sau cùng, điều phục Vô sở hữu để trở lại “tu hoặc”. Dựa vào Tĩnh lự thứ tư, khởi quán bất tịnh, cho đến rốt ráo. Người này lấy hai quả sau. Người thứ hai cũng là bản tánh Độc giác, gặp Phật, phát tâm tu đạo trong nhiều đời, cho đến nhân chỉ thủ của thừa, hay khởi ba căn lành, không thể nhập thánh chỉ tu các thiện xảo như uẩn v.v… bèn qua đời. Đến thân sau cùng, chế phục Vô sở hữu, để trở lại tu dứt phiền não, tùy nương địa nào trong năm địa, nhập hiện quán đế, vượt qua chứng Na-hàm, dứt trừ phiền não, mới chứng quả La-hán. Đôi khi người này trụ ba căn lành ở trước rồi qua đời, thọ thân. Ở thân sau, lại khởi hiện quán đế nhân như nhẫn v.v… được Sơ quả rồi dứt chung “tu hoặc” của chín địa, vượt lên chứng La-hán.

Người thứ ba cũng là Độc giác bản tánh. Gặp Phật, phát tâm tu đạo phương tiện, cho đến nhập thánh chứng pháp hiện quán , được quả sơ học, hoặc chứng quả thứ hai, chưa dứt hết lậu mà qua đời. Hoặc bảy lần sinh; hoặc thành Nhất Lai, sẽ không có Phật ra đời, thân nương tựa hai quả, không chứng Na-hàm, vượt lên chứng La-hán. Hai người sau này đều là bộ hành ít nhất, không dưới bốn đời nhiều nhất không đầy một trăm kiếp, vì không bằng người đầu tiên.

Đại ý của thân thứ hai này nói về ba loại Độc giác, loại mới phát tâm tu đạo phương tiện. Pháp sư Khuy Cơ nói: “Loại thứ nhất, khi mới phát tâm, gặp Phật, tu một trăm kiếp, đã thành quả Lân giác . Luận này nói riêng, trải qua một trăm kiếp, đã gặp Phật đời. Lại giải thích trong một trăm kiếp, du đã tu hành hay đã chưa tu hành thiện xảo như uẩn v.v… trải quả một trăm kiếp đã gặp Phật ra đời, mơí tu các thiện xảo như uẩn, ở thân sau mới thành đạo Lân giác. Đạo thứ hai, trước gặp Phật được Phật nói pháp cho nghe, tu không đầy một trăm kiếp; hoặc chín mươi kiếp; thậm chí tu tập một kiép xong, tu tập các thiện xảo như uẩn v.v… trong địa vị Noãn v.v… Với thân này không thể chứng quả cùng tột, hoặc chứng Sơ quả; hoặc bảy lần sinh gia gia, một lần qua lại Nhất gian v.v… Đến thân sau, được quả Độc giác.

Đạo thứ ba, gặp Phật, tu tập xong, với thân này được Sơ quả, hoặc bảy lần sinh “Gia gia”, Nhất gian, quả của một lần qua lại v.v… Lại tu các thiện xảo như uẩn v.v… đến đời đương lai sẽ chứng quả Vô học Độc giác. Nếu theo luận Trí Độ quyển hai mươi nói: “Bích-Chi-Phật có hai nghĩa:

  1. Độc giác.
  2. Nhân duyên Giác.

Như trên nói Độc giác: là người mới Thành đạo trong đời này, tự giác ngộ, không từ người khác nghe (không học hỏi với người khác) là gọi là Độc giác Bích-Chi-Ca-Phật. Độc giác-Bích-Chi-Ca Phật có hai loại:

1. Vốn là người khác, sinh trong người Học, là ở vào thời kỳ không có Phật, pháp Phật diệt, là Tu-đà-hoàn đã mãn bảy lần sinh, không nên sinh lần thứ tám, tự được thành đạo, là con người, không gọi là Phật, không gọi là A-la-hán, mà gọi là Tiểu Bích-Chi-Ca-Phật, không khác với A-la-hán.

2. Hoặc có người không phải là Đại A-la-hán như Đại La-hán XáLợi-phất v.v… Đại Bích-Chi-Phật tạo nên công đức trí tuệ tăng trưởng trong một trăm kiếp, được ba mươi hai tướng phần; hoặc ba mươi một tướng; hoặc mười chín tướng trong ba mươi hai, cho đến một tướng trí tuệ thù tháng nhạy bén tong chín loại A-la-hán. Đối với tướng chung, tướng riêng trong các pháp sâu sác, có thể nhập thu nhập tu tập định lâu, thường ưa ở một mình, với tướng như thế, gọi là Đại Bích-Chi-Ca-Phật.

Lại nếu theo luận Thập địa, lấy một hạnh, một quả để làm thuyết vượt hơn.

Trong tập, Ngài Tam Tạng noí: “Thân của người thứ hai ở trước đủ hai loại Thanh văn, Độc giác, nên đã gieo trồng phần thiện giải thoát của Thanh văn xong. Trải qua ba lần thọ sinh, lại gặp Phật ra đời, chuyễn căn được thành chủng tánh Độc giác, có thể dẩn sinh phần thiện quyết định lựa chọn của Độc giác, để cho được hiện khởi. Ba quả đầu của người thứ ba kia, gặp Phật ra đời, chuyễn thành Độc giác, chẳng phải phàm phu, cho nên quả Bất Hoàn được gọi là chỗ chí cực.

Pháp sư Cảnh nói: “Đạo phương tiện thành, lại tu tập, nhập quán đế, tu tập môn trước của ba tướng đã xong, chỉ biết Độc giác thứ ba phát tâm chứng quả Thánh, không thể dứt hết lậu, mà còn phải trải qua thọ sinh nữa, hai quả ban đầu này chẳng phải Bất hoàn. Nếu là Bất hoàn, thì không thể hết lậu,trụ quả; Nếu qua đời thì sinh lên cõi trên. Vì không có Độc giác sinh lên cõi trên, nên biết Độc giác thứ ba gặp Phật, phát tâm tu đạo chứng quả thánh.

Không thể hết lậu mà qua đời, nghĩa là hai quả đầu tiên này. Kế là, văn tự phán quyết, người đầu tiên gọi là Lân giác, hai người sau gọi là bộ hành.

Pháp sư Khuy Cơ nói: “Tập có ba thứ:

  1. Như văn.
  2. Tức sử dụng đạo trước có hai, nên tập cũng có hai, giải thích về trụ, như văn.

Trong Hành nêu chung tất cả, nói về hành tướng, chỉ hiện thần thông, không nói pháp, v.v… cho đến xưa nay, một bề hướng về vắng lặng.

Pháp sư Cảnh nói: “Theo đối pháp quyển mười ba nói”.

Bổ-đặc-già-la Độc giác thừa. Nghĩa là thực hành pháp tánh của Độc giác, hoặc nhất định, không nhất định là tánh bậc trung. Tự cầu giải thoát, phát chánh nguyện rộng, tu nhàm chán lìa tham, giải thoát ý lạc, một mình tu chứng Bồ-đề, tức Tạng Thanh văn là cảnh sở duyên, tinh tần tu hành pháp tùy pháp hạnh. Hoặc ở trước chưa khởi, thuận với phần quyết trạch, hoặc ở trước đã khởi thuận phần quyết trạch hoặc ở trước chưa được quả, hoặc ở trước đã được quả, ra đời không gặp Phật, chỉ tư duy nội tại, Thánh đạo hiện ở trước. Hoặc như Lân giác, Độc giác trụ, hoặc lại Bộ hành một mình vượt hơn, được dứt hết mé khổ. Nếu ở trước chưa khởi thuận với quyết trạch phần thì là người đầu tiên của Du-già. Hoặc ở trước đã khởi thuận với phần Quyết trạch, thì sẽ là hai người sau của Du-già. Hoặc trước đó đã được quả, thì sẽ là người thứ ba của Du-già. Người đầu tiên thành Lân giác, hai người sau thành Bộ Hành, cũng đồng với của Du-già.

Nói nếu nhất định, không nhất định. Nghĩa là người đầu tiên tu giải thoát trong một trăm kiếp, đến thân sau cùng, mới khởi Noãn v.v…, thì được hết lậu, khác với Thanh văn, gọi là nhất định. Người thứ hai, thứ ba gặp Phật, phát tâm, hoặc chỉ khởi Noãn v.v… hoặc cũng được nhập Thánh, chứng quả Dự lưu, đồng với Thanh Văn, gọi là Bất Định. Cũng có thể trong Thừa Độc giác, nếu chỉ thành thục chủng tánh Độc giác, thì đây gọi là nhất định. Nếu đều thành thục chủng tánh của Thừa khác thì gọi là Bất định. Cách giải thích trong văn, đồng với Du-già kia, chỉ nêu nhất định, nghĩa là đại khái không phân biệt Độc giác bất định.

Đối Pháp lại nói: “Như nói người Dự Lưu có hai loại:

1/ Xuất ly dần, như thuyết trước nói.

2/ Xuất ly ngay, nghĩa là nhập hiện quán Đế xong, nương tựa Định Vị Chí, phát đạo xuất thế gian, dứt trừ ngay tất cả phiền não của ba cõi. Mỗi phẩm đều dứt riêng, chỉ lập hai quả, đó là quả Dự Lưu và quả Ala-hán. Do hai quả này, như thứ lớp kia, dứt trừ hẳn kiến tu phiền não của ba cõi, vì vô dư đã hiển bày, nên không lập hai quả trung gian. Vì chỉ dứt “tu hoặc” của cõi Dục, vì hữu dư, vô dư đã rõ ràng, nên lại dựa vào người xuất ly ngay như thế. Trong kinh nói Dự lưu Vô gián, tức lập La-hán, là người ở hiện pháp, hoặc lúc qua đời khéo nói ý chỉ của bậc Thánh. Dù không thể nói, do sức nguyện, nên sinh trở lại cõi Dục, ra đời không có Phật, thành quả Độc Thắng. Dù cho người không phân biệt được, vì chưa thể lìa các dục không có thừa, tức do sức nguyện sinh cõi Dục, người đó có thể sớm chứng bát Niết-bàn.

Đoạn văn sau này là nói bản tánh là Thanh Văn bất định. Được Dự lưu xong, muốn vượt lên chứng La-hán mà không thể phân biệt, tức do sức mong muốn ra đời không có Phật, để thành tựu quả Độc Thắng. Do nguyện này nên quay về cầu Độc giác, liền trụ Sơ quả, hoặc bảy lần sinh rồi, đến thân sau cùng, dứt hết kiết còn lại, chứng Độc giác. Đây gọi là Độc giác Thanh văn.

Nói: “Tất cả xưa nay hoàn toàn hướng về vắng lặng, nghĩa là vì tánh ưa vắng lặng, nên gọi là hướng về vắng lặng, chư chẳng phải cho rằng đều là tánh quyết định thú hướng vắng lặng.

 

 (Phần Cuối)

BẢN LUẬN QUYỂN 35

Ở địa Bồ-tát mong cầu Đại giác thương xót hữu tình. Hoặc cầu Bồ-đề chí nguyện bền chắc mạnh mẽ, suốt trong thời gian dài tu chứng, ra khỏi thế gian. Vì hạnh lớn, quả lớn nên gọi là Bồ-tát.

Chủng tánh Bồ-tát như thế, phát tâm tu hành được quả, tất cả nói chung là địa Bồ-tát, trong đó có bốn xứ Du-già, luận Địa Trì bản cựu dịch là phương tiện xứ, nay dịch là Du-già, dịch đúng là Tương ưng. Về nghĩa Du-già như trước đã nói.

Nói bốn Du-già:

1/ Trì Du-già, phát ra pháp mà Bồ-tát kia đã giác ngộ, hoặc nhân hoặc quả, gọi là chung là Trì Du-già xứ bậc nhất.

2/ Trì Tùy Pháp Du-già, nghĩa là tùy theo pháp ở trước mà khởi sự tu, nên gọi là Tùy Pháp.

3/ Trì Rốt ráo Du-già, do tu thành tựu viên mãn, nên gọi là rốt ráo.

4/ Trì Thứ Đệ Du-già, nói lại nghĩa trước, nghĩa là vì thứ lớp của Phẩm, nên nói là thứ đệ. Đều nói Trì. Nghĩa là Nhậm Trì. Nhậm Trì này có ba nghĩa:

a) Dùng nhân giữ quả.

b) Pháp sư Cảnh nói: “Nhậm Trì tự thể.” Pháp sư Khuy Cơ nói: “Kham nhậm gọi là Trì. Có chủng tánh, nghĩa là có Kham nhậm”.

c) Trước có thể giữ sau, như đầu tiên Du-già, sau có ba Trì:

  1. Chủng tánh Trì.
  2. Trì đối với phát tâm Trì.
  3. Hành phương tiện Trì.

Phát tâm trì, Hành Phương tiện trì sinh quả Phật. Pháp sư Trắc nói rằng: “Trì có ba nghĩa: Lấy nhân giữ quả; lấy chung giữ riêng và dùng văn để giữ lấy nghĩa, nen gọi là Trì. Nói chung, hợp với ban đầu có mười tám Phẩm, chủng tánh đứng đầu, nên nói là thứ nhất. Nếu dựa theo bản chử Phạn thì chử “sơ” đặt ở dưới. Nay, vì thuận với xứ này, chử “Sơ” đặt ở trên, nên nói Sơ Trì Du-già cho đến thứ nhất.

Hỏi: “Ba thứ trì trước nói về các muôn hạnh, ba xứ nói có gì khác nhau? Dùng ba vòng để nói chăng?”

Ghi chép: “Như nhà chú-thích Du-già, Tối-Thắng-Tử, giải thích về Trì đầu tiên nói mười hai trụ, chỉ pháp hạnh của “Sở hành”

Thứ hai, Tùy-pháp, nói về mười ba trụ, gồm giải thích về Như lai trụ, nói về pháp “năng hành”

Thứ ba, Rốt ráo kết hợp với mười ba trụ làm thành bảy địa kia. Bảy địa là gì? Bắt đầu, từ Chủng tánh cho đến cứu cánh. Trì này nói về học thành-tựu viên mãn, nói lại nhân-quả, dù ba vòng nói về nghĩa, nhưng ý của ba vòng đó không đồng.

Theo văn của địa này, chia chung làm hai:

1/ Trước kết, sau sinh.

2/ Chính giải thích.

Pháp sư Thái nói Theo bản kinh của các nước Phương Tây, đầu tiên, tôn trọng người chép kinh, hoặc trước, quy-y Tam-bảo; hoăc trước, quy-y trời Đại Tự-Tại. Nhưng theo phiên-dịch xưa đặt để lầm kinh-chủ quy-y Phật ba đời trước rồi mới soạn luận, thì lẽ ra phải nói là quy-y trước địa năm thức thân đầu tiên ở luận. Lại, y theo bản phạm, đầu tiên của các địa đều có trước kết, sau sinh, kể cả bài tụng chung, sao đối với địa Bồ-tát không so sánh ở trước thiếu không có bài tụng này ư? Là biết được chính là Kinh-chủ đã quy-y Chư Phật ba đời, chứ chẳng phải Luận chủ.

Trong chính giải-thích, trước giải-thích hai mươi bảy phẩm của ba Du-già ở trước, tức là giải thích mười pháp của ba Trì. 2/ Giải thích Du-già thứ tư, tức nêu thứ lớp trước, sau của hai mươi bảy phẩm.

Phần Trì thứ tư này luận bản dịch xưa không có Văn, Ở phần trước lại có ba:

1/ Nêu mười pháp, lược nêu cương yếu.

2/ Dựa vào môn để nói rộng.

3/ Giải thích xong, tổng kết.

Trong phần trước, trước là nêu một bài tụng, trình-bày tên của mười pháp. Thứ hai, đương thuộc về văn xuôi, có mười pháp gồm thâu đủ đạo Đại thừa Bồ-tát và quả v.v… nghĩa là theo ngữ của bản Phạm, dứt xa kế thừa Đạt-Mma. Đời đường nói: “Có mười pháp Tát-phá-la và quả Tát-đỏa (hữu tình), Mạt-già; (đạo) Bồ-đề; (giác), Ma-ha (Đại); Bát-Nna (thừa); Tăng-Già-la-ha (nhiếp); Tam Thế Thích thả yết (năng cụ). Nhưng, nay tùy theo ngữ này, chỉ bày rõ mười pháp này gồm thâu đủ pháp nhân, quả của Đại-Thừa một cách cùng tận rằng: “Gồm thâu đủ Đại thừa. Đại thừa là gì? Nghĩa là Đạo và Quả. Xưa là Mãn Tát-phála, nên không nói và có trở lại trong quả giải thoát. Lại, y cứ bản Phạm có bảy tiếng chuyễn. Có mười pháp gồm thâu đủ tiếng chuyễn ban đầu, tức là chủ thể gồm thâu đạo Bồ-tát Đại thừa và đạo quả. Vì tiếng thứ sáu, nên là đối tượng gồm thâu. Nhưng nhà phiên-dịch xưa không giải thích rõ về tiếng chuyễn, nên Đại thừa là chủ thể gồm thâu; mười Pháp là đối tượng gồm thâu, điều này cũng sai lầm. Kế là, nêu mười pháp

1/ Trì, tức ba thứ Trì.

2/ Tướng, tức năm tướng của Bồ-tát.

Ba phần, tiếng Phạm nói là Trì-Ngật. Lại, Hán dịch là Phẩm. Lại, phần, hoặc giúp cho.

3/ Trong ba mươi bảy pháp cũng có tên gọi này, nên cũng dịch là Phần. Lại dịch là Phẩm, xưa dịch là Dực ngoa, trong đây không nói nghĩa phần nhiều giúp cho, chỉ nói hai phẩm tại gia, xuất gia không đồng, nên xưa dịch là phẩm. Nếu vậy, lúc nêu tên phẩm, tức gọi là phẩm phẩm. Vì có sự trở ngại nhau này, nên nói là Phần.

4/ Tiếng Phạm nói: “Địa nào (tăng thượng). A-thế-da (ý lạc (tức mười lăm ý-lạc).

Tiếng Phạm là Chất đa. Hán dịch là Tịnh tâm. Trong mười Pháp của bản Tiếng Phạm cũng không có “ngữ” này.

5/ Trụ tức mười ba trụ.

6/ Sinh, tức năm sinh giáo hóa chúng sinh của Bồ-tát .

7/ Nhiếp-thọ, tiếng Phạm: “Đâu như trong mười pháp gốc của Cala-ha, cũng không có tên gọi này.

8/ Địa, tức sáu Địa.

9/ Hạnh, tức bốn thứ hạnh của Bồ-tát.

10/ Kiến-lập, tiếng Phạm nói Bát-Lạt-Để-Phong-Sá, kiến-lập một trăm bốn mươi đức của Như lai. Lại nói là Tỳ-Ba-la-địa, Hán dịch là An lập; trong bản Phạm không có. Mười Pháp như thế, tùy theo nghĩa, có chia ra sáu môn:

1- Chung, riêng, Xưa nói Sơ Trì là chung; chín Pháp còn lại là riêng. Nay, Ngài Tam-Tạng nói: “Luận này dùng mười pháp làm ThểPháp gồm thâu hết trong mười Pháp, gọi là chung; gồm thâu không hết, gọi là riêng Trụ và Địa gồm thâu khắp Nhân, Quả, nên gọi là chung tám thứ còn lại vì không khắp Nhân, Quả nên gọi là riêng.

2- Phân biệt Nhân-quả người xưa giải thích các thứ chương nghĩa. Nay, giải-thích: Đầu tiên giữ một thứ chỉ có Nhân, chẳng phải quả. Thứ mười một, chỉ có quả, chẳng có nhân. Địa với Trụ thông suốt qua nhân và quả. Sáu thứ còn lại hoặc y cứ ở tướng-văn mà nói là chỉ có nhân chẳng có quả. Y cứ sự thật mà nói thì đều chung cho cả Nhân-quả.

3- Phân-biệt sự khác nhau của phần vị hành: Nghĩa là Trì, Trụ, Địa, Kiến-lập, bốn thứ này là Vị; sáu thứ còn lại là hành. Nếu nói chung, thì đều thông suốt quả cả Hành và Vị.

4- Lợi mình, lợi người: Xưa nói: “Năm thứ đầu là lợi mình; ba thứ kế là lợi người; hai thứ sau là lợi mình, người. Nếu nói chung, thì tu mười pháp đều gọi là lợi mình; mười thứ giúp ích chúng sinh, đều gọi là lợi người.

Nay, theo Tướng-văn luận dưới đây, năm thứ đầu là lợi mình; ba thứ kế là là cả mình, người, hai thứ sau chỉ lợi người.

5- Phần mình, thắng Tấn: Xưa giải thích: “Tám thứ trước là phần mình; hai thứ sau là Thắng tấn. Nếu chung cả mười pháp thành tựu thì đều là phần mình; chỉ tập; đều là Thắng Tấn”. Nay, giải thích không đúng, vì văn luận không có tướng mạo. Một chủng tánh ban đầu chỉ có phần mình; chín chủng tánh còn lại, chung cho cả phần mình và Thắng Tấn. So với trước là Thắng Tấn, so với sau là phần mình.

6- Phân biệt ba Trì: Ba Trì có hai thứ:

A) Đầu, kế là rốt ráo ba Trì. Nếu theo tân luận thì có đủ bốn Trì. Nay, lại trừ Trì thứ lớp thứ tư, y cứ sự thật để nói, thì ba thứ Trì này, gồm cả mười pháp. Nhưng mười tám phẩm đầu trong mười pháp, do sức tu hành kém, nên đầu tiênkhởi học, gọi là sơ Trì. Bốn phẩm như Tướng v.v… của Tùy Pháp Du-già trở đi, tạo dựng nên công sức tu mạnh mẽ, công dụng vượt hơn dần, gọi là Thứ Trì. Năm phẩm sinh v.v… của Rốt ráo Du-già trở đi, tu hành viên mãn dần, gọi là rốt ráo Trì. Pháp sư Viễn cho giải thích này là đúng: Hai chủng tánh: Phát tâm và Gia hạnh.

Phân biệt ba Trì:

1/ Một Trì Pháp: về nghĩa ngang với chủng tánh.

2/ Bốn nghĩa như tướng v.v… thích hợp với phát tâm.

3/ Năm nghĩa sinh v.v… thích hợp với gia hạnh Trì.

Nếu căn cứ nói chung, thì mười pháp đều đi suốt qua ba Trì; như nghĩa của Trì trụ trong chủng tánh, được gọi là Trì, về nghĩa biểu lộ, tức gọi là Tướng; nghĩa thu hướng, tức phẩm pháp giúp đỡ này. Phần chứng lìa nhiễm tức gọi là tịnh tâm. Y cứ đức thành tựu địa vị, cũng tức là Trụ.

Gá vào báo, tùy theo chúng sinh, gọi là Sinh. Nhiếp hóa chúng sinh, tức là pháp nhiếp Địa vị đem lại lợi ích cho chúng sinh được hoàn thành, nói là Địa. Tu vượt hơn, tiến lên trên gọi là Hạnh. Tùy theo văn, giác biết sự thật, gọi là an lập.

Chủng tánh đã như thế, loại phương tiện phát tâm giải thích đều như thế.

B) Từ trên đến đây, đã giải thích về nêu chung cương yếu. Từ đây trở xuống là thứ hai dựa vào môn để nói rộng. Về văn có chia làm ba:

1/ Giải thích về nghĩa Trì thứ nhất, trong đó triển khai rộng thành mười tám Phẩm là sơ Du-già.

2/ Giải thích ý lạc tăng thượng của phần tướng và trụ bốn pháp, tức là bốn phẩm, là tùy pháp Du-già thứ hai.

3/ Giải thích sinh, nhiếp, Địa, hành và kiến lập, đây là năm phẩm, chính là rốt ráo Du-già thứ ba kia. Ba Du-già này tức là sở trì; thứ trìvà tất cánh trì. Du-già thứ tư lại không có pháp riêng.

Hỏi: “ Vì sao trong trì này, đầu tiên được gọi là Trì? Vì trong trì này nói ba .

  1. Chủng tánh
  2. Kham nhậm.
  3. Pháp phần Bồ-đề. Đủ ba nghĩa này gọi là Trì. Vì giải thích rộng như thế, nên được gọi là trì. Tuy nhiên, ba trì này đại khái dùng ba môn để phân biệt:

1/ Nói về thể. Nghĩa là chủng tánh ban đầu giữ lấy hai thứ thứ tánh làm thể. Phát tâm trì lấy nguyện lớn làm thể. Nguyện là mong cầu, thì lấy thắng giải, dục, tín và tư, đều có mong cầu mà Nhiếp Luận nói: “ Bốn Ba-La-Mật sau là Hậu trí, Nghĩa là y cứ Trí dẫn dắt chung, xếp chung vào trí, đâu không có tự thể riêng, như nói sáu độ trước thuộc về trí vô phân biệt , đâu thể không có tự thể riêng của thí, giới v.v…? Bồđề phân biệt pháp trí, dùng sáu độ ba mươi bảy, pháp phần Bồ-đề làm thể? “

2/ Nói về danh. Đắc có chung, có riêng. Chung, gọi là ba trì: ba là danh số; trì là danh nghĩa, như trên đã giải thích.

Tên riêng. Nghiã là hai chủng tánh làm chủng tánh, cho đến dùng pháp Bồ-đề phần làm trì thứ ba. Thế nên đều ngay nơi, thể mà được tên, hoặc có thể đều từ công dụng của nghĩa mà được tên.

3/ Nói về địa vị sai khác Pháp sư trắc noí: có hai nghĩa:

1- Ghi sự thật để luận. Mười tín trở xuống chỉ có chủng tánh. Mười tín trở lên, cho đến Kim Cương đều đủ ba thứ trì.

2- Ký thác địa vị để luận có ba:

1/ Các nước phương Tây có ba thuyết không đồng:

2/ Giải thích về mười tín trở xuống, gọi là chủng tánh Trì. Mười tín là phát tâm Trì. Mười Giải trở lên là Bồ-đề phần pháp trì.”

3/ “Từ vô thỉ đến nay, cho đến Thập Tín là chủng tánh Trì. Vì sao? Vì hai thứ tánh, tập là chủng tánh Trì. Thập giải trở lên, cho đến Hồi hướng là Phát Tâm Trì. Sơ Địa trở lên, cho đến Kim Cương là Bồ-đề phần Pháp Trì.”

1/ “Chia ra ba kiếp tức ba Trì, nghĩa là mười Tín trở lên, sơ tăng kỳ là sơ trì, Sơ địa trở lên, cho đến thất địa là Trì thứ hai. Bát địa trở lên,

Tăng-kỳ thứ ba là trì thứ ba.”

Pháp sư Khuy Cơ nói: “Phương Tây (Ấn Độ) có hai thuyết:

– Chủng tánh Trì, như Bồ-tát Hộ Nguyệt lấy hạt giống “Pháp Nhĩ” từ vô thỉ, tức mười Tín ở trước.

– Phát tâm trì tức Pháp mà Thập Trụ trở lên đã phát tâm Bồ-đề phần pháp trì là pháp thực hành của Bồ tát Thập Trụ trở lên. Về thế nghĩa của Bồ-tát Hộ Pháp thì đồng với nghĩa của Bồ-tát Hộ Nguyệt, có khác chút ít trong nghĩa của Thắng Quân Luận sư.

Khác chút ít là sao? Nghĩa là chủng tánh. Trì tức có tánh chướng Sở tri từ vô thỉ đến nay, là nghĩa biên có thể dứt, nói là chủng tánh, tức là chỗ có thể dứt hạt giống hữu lậu, vô lậu.

Khi Phát tâm Trì lấy thập Tín hữu lậu văn, Tư tuệ v.v… Về nghĩa của Bồ-đề phần pháp đồng với trước. Lại, có thuyết khác, nói là chủng tánh Trì tức chủng tánh “pháp nhĩ”, nghĩa là thập tín trước.

2/ Phát tâm Trì, tức Thập tín trở lên.

3/ Bồ-đề phần pháp Trì, tức Thập giải trở lên, lại, nói: “Chủng tánh Trì, nghĩa là tâm Thập Tín; Phát Bồ-đề tâm Trì, nghĩa là địa vị Thập Giải. Bồ-đề phần pháp Trì, nghĩa là địa vị Thập Hạnh.

Dù có giải thích này, nhưng chưa dừng lại, sách vặn hỏi, không sáng tỏ, Làm sao y cứ? Lại chủng tánh Trì, nghĩa là chủng tánh “pháp nhĩ”. Phát tâm Trì, Thập Tín trước, thập lực, trong muôn kiếp, mới phát tâm cũng được. Lấy Sơ Địa chân phát tâm Bồ-đề cũng được.

Trong đây nếu chia theo hệ thống chung, thì mười bảy phẩm đầu của văn sơ Du-già, chính là giải thích tướng của địa Bồ-tát; một phẩm sau cuối, nêu thọ trì nhớ giữ công đức. khuyên người tu học. Không như thế, thì phán quyêt ngay có ba Trì kia trong sơ Du-già.

Giải thích ba trì này, văn có hai:

1/ Nói lược về ba Trì.

2/ “Thế nào là chủng tánh v.v… ” trở xuống là nói rộng.

Trong phần trước thề nào gọi là Trì v.v…? Đây là đại khái hỏi đáp, nêu ra thể của ba Trì, nghĩa là chủng tánh tự thừa của các Bồ-tát, đó là chủng tánh Trì. Vì phân biệt nhị thừa nên nói là Bồ-tát. Người Bồtát cũng có vị thành tựu hạt giống của nhị thừa, chỉ lấy hạt giống Đại thừa để làm chủng tánh Trì, nên nói là “tự thừa”.

Người phát tâm đầu tiên, tức phát tâm Trì thứ hai, nhưng dù biết phát tâm suốt cả từ đầu tới cuối, nhưng nay, vì y cứ ở phần vượt hơn, nên nói là “tối sơ” (trước hết).

Nói: “và tất cả pháp Bồ-đề phần” tức là Hành phương tiện trì thứ ba.

Từ câu “vì sao v.v… ” trở xuống, là phân biệt về nghĩa Trì kia. Do các hạt giống tự thừa của Bồ-tát: Vì làm đối tượng nương tựa nên được Kiến lập; vì có chỗ kham năng, nên có thế lực lớn v.v… Pháp sư Cảnh nói: “Nói về hai hạt giống làm y chỉ v.v… có thể được Bồ-đề. Do làm y chỉ, nên có thể kiến lập; do kiến lập nên có chỗ kham năng; dokhamnăng nên có thế lực lớn. Vì hội đủ các yếu tố như thế, nên được Bồ-đề”. Cũng có thể có chỗ kham nhận, là giải thích rõ về y chỉ ở trước; có thế lực lớn là giải thích về kiến lập ở trước. Pháp sư Khuy Cơ nói: “Nay, giải thích văn này chia làm hai thuyết.

1/ Vì y chỉ chủng tánh, nên có thế lực kham nhận, được thành tựu Bồ-đề, tức do chủng tánh có thế lực chịu đựng, có khả năng kiến lập Đại Bồ-đề.

2/ Vì lấy chủng tánh của tự thừa để làm y chỉ, nên có sự kham nhận thành Chánh Đẳng giác. Vì chủng tánh tự thừa là chủ thể kiến lập, nên có thế lực lớn chứng Đại Bồ-đề. Chủng tánh là hai cách giải thích này. Dưới đây, trong giải thích phát tâm Bồ-đề phần pháp cũng là hai thuyết này.

Nói: “Do các Bồ-tát, cho đến “là bực đã viên mãn Đại Bồ-đề Trì”. Pháp sư Cảnh nói: “Nếu viên mãn thuộc về nhân, tức chủ thể viên mãn, còn viên mãn thuộc về quả, tức đối tượng viên mãn (được viên mãn). Đã nói là được viên mãn, phải biết thuộc về quả”.

Hỏi: “Ba thứ như chủng tánh v.v… : Một thứ là Trì, vì sao chủng tánh tức Trì xa quả Phật? Phát tâm tức Trì hành phương tiện, hành phương tiện là giữ lấy quả Phật chăng?”

Giải thích: “Đây là ảnh lược. Muốn dùng các thứ văn nhằm làm dồi dào cho nghĩa thì dể hiểu. Như chủng tánh kia Trì xa quả vị Phật, phải biết rằng, chủng tánh cũng Trì kế là sau phát tâm Trì. Hành phương tiện Trì, Trì ở quả Phật, thế nghĩa tiếp cận, không nhọc công phân biệt.”

Hỏi: “Một thứ ảnh lược, vì sao không nói phát tâm trì ở quả Phật, mà chủng tánh Trì phát tâm ư?

Giải thích: “Đã nhất định có người vấn nạn, thì chẳng cần giải thích, tất nhiên, người cần thông suốt qua, cũng có đạo lý, do chủng tánh nên hạt giống vô lậu . Là nhân chính, cho nên, so sánh với quả vị Phật, phát tâm đầu tiên khởi, trải qua một tăng kỳ là hữu lậu kia. Nhập địa trở lên nói là vô lậu. Do chẳng phải hạt giống, nên không so với quả Phật. So sánh gần gia hạnh có nghĩa tương sinh, để nói về Trì.

Pháp sư Thái nói: “chủng tánh đầu tiên là đối tượng nương tựa của tâm Bồ-đề. Chủng tánh kia kiến tập tâm Bồ-đề, tánh chủng tánh là vì chỗ nương tựa, nên có kham nhận. Do tập chủng tánh là kiến lập nên có thế lực lớn, cho nên là chủng tánh trì. Vì tâm Bồ-đề có thể được Bồ-đề, nên có tánh kham nhậm. Hai thứ chủng tánh có thể là tánh kham nhận Bồ-đề, cho nên, từ quả được tên, gọi là tánh kham nhậm.

Phát tâm thứ hai do hai tánh khởi từ nghĩa chủng tánh sinh đối với hành phương tiện là đối tượng nương tựa. Từ nghĩa tập chủng tánh, đói với hành phương tiện là nhân Kiến lập, nhưng Thí, giới v.v… ở Thập Tín trước, gọi là thí v.v… ở trên Thập Tín, gọi là Ba-la-mật. Sơ địa trở lên, gọi là hai tư lương. Tứ địa trở lên, gọi là Bồ-đề phần. Do nghĩa này, nên Luận Chủ mới nêu lại. Cũng có thể y cứ ở nghĩa đồng thời để nói tên riêng, vì đối trị gần sáu thứ che lấp; vì muốn trèo lên bờ bên kia; vì nuôi lớn phước, trí và vì dẫn sinh Bồ-đề.

Gia hạnh thứ ba, từ nghĩa chủng tánh sinh, đối với Đại Bồ-đề là đối tượng nương tựa. Từ nghĩa tập chủng sinh, đối với Đại Bồ-đề là nhân kiến lập. Nên có thể viên mãn Vô thượng Đại giác. Nhưng pháp Bồ-đề phần, đối tượng nương tựa kia, là chủ thể Trì Bồ-đề, nên từ quả đặt tên. Đã viên mãn Bồ-đề Trì, nhậm vận không có chủng tánh Bổđặc-già-la, cho đến quyết định không kham nhậm viên mãn Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề v.v… Nghĩa là nêu lên kém, để so sánh với hơn.”

Pháp sư Cảnh hỏi: “Đã không có chủng tánh, làm sao phát tâm thực hành gia hạnh v.v…? Có ba giải thích:

1/ Đây là giả thiết nói. Người không có chủng tánh, dù cho gặp bạn lành, phát tâm tu hành, cũng không thể chứng Vô thượng Bồ-đề, huống chi không phát tâm tu hành v.v…

2/ Người không có chủng tánh dù cho từ hạt giống lành phước phần phát tâm tu hành nhưng vì là hữu lậu nên cuối cùng cũng không được Vô thượng Bồ-đề.

3/ Giải thích: “Đây là y cứ Nhị thừa, không có chủng tánh Đại thừa. Dù cho từ chủng tánh vô lậu của nhị thừa, phát tâm nhị thừa siêng năng tu gia hạnh của Nhị thừa chăng nữa, chung quy vẫn không được Vô thượng Bồ-đề.”

Pháp sư Thái nói: “ Y cứ ở người không có chủng tánh Đại thừa và tánh quyết định của Nhị thừa mà nói.”

Pháp sư Khuy Cơ nói: “có ba giải thích: Giả thiết để luận là thuyết thứ nhất. Quyết định chủng tánh của Nhị thừa cũng gọi là không có chủng tánh Đại thừa. Dù rằng thuận theo phát tâm Bồ-đề, cũng không thể gánh vác, nên nói “dù phát tâm v.v… là giải thích thứ hai.

Tức người không có tánh pháp nhĩ (tự nhiên) thật sự, dù phát tâm rốt ráo, thối lui, vẫn không thể được vô thượng Bồ-đề kia, đây là thuyết thứ ba”.

Hỏi: Phát tâm Bồ-đề chẳng vì mong cầu quả của thế gian. Tâm hiện hạnh này từ hạt giống nào sinh?”

Giải thích: “Từ chủng tánh thiện của phần phước sinh, chẳng phải không có chủng tánh vô lậu, vì không có phương tiện vô lậu tuệ, nên luận nói: “Chỉ do gốc lành của người, trời mà thành tựu chủng tánh v.v… ”. Lại, chủng tánh này đã gọi là Trì v.v… nghĩa là cũng gọi là chủng tánh, phát tâm; giúp cho gia hạnh, cho đến nhà cửa chủng tánh, nhà cửa phát tâm, nhà cửa gia hạnh”.

Pháp sư Thái nói: Theo Thích Luận, có hai giải thích;

1/ Giải thích về sát tên gọi như giúp, v.v… đều là tên khác của Trì, không còn tên nào khác.

2/ Giải thích về nghĩa cũng có khác. Vì quả “năng trì”, nên gọi là trì, vì giúp cho quả nối tiếp dừng lại, nên gọi là giúp. Vì chủ thể sinh quả, nên gọi là nhân. Vì làm chỗ nương tựa cho quả, nên gọi là y. Vì quả tùy theo trì, nên gọi là giai cấp. Vì hạnh ở trước quả, nên gọi là tiền đạo. Vì chỗ ở của quả, nên gọi là nhà cửa.”

Pháp sư Khuy Cơ nói: “Vì giúp cho thành quả; vì chủ thể sinh quả; vì nương tựa mà được quả, vì tùy theo từ địa vị; vì dẫn dắt sinh trí, vì gồm thâu, chứa giữ quả. Như thứ lớp đó, phối hợp giúp đỡ Nhân v.v…”

Hỏi: “Sở hành và gia hạnh khác nhau thế nào?”

Nói về pháp tâm trì gọi là gia hạnh. Nay, ở đây lại gọi là “sở hành” gia hạnh, giải thích: “Sở hành”, năng hành (đối tượng hành, chủ thể hành) đều khác nhau. Hành của đối tượng hành, là pháp Bồ-đề phần. Hành của chủ thể hành, là phát tâm của người kia. Vì thế, nên, ở trước phát tâm gọi là Gia hạnh. Nay ở đây y cứ ở phần pháp Bồ-đề trong 20 văn, là hai thứ “sở hành, gia hạnh khác nhau.”

Từ trên đến đây, nói lược về ba Trì xong, từ đây trở xuống, là nói rộng:

Như thế đứng đầu của Phẩm chủng tánh, phẩm Chủng Tánh trong đây, tức giải thích là chủng tánh Trì. Phẩm phát tâm thứ hai, giải thích là phẩm tâm Trì. Ba phẩm sau, về sau, có mười sáu phẩm, đều là Hành phương tiện Trì.

Trong phẩm Chủng tánh có hai:

1/ Chính nói về tướng của chủng tánh.

2/ Từ chủng tánh Bồ-tát, cho đến chưa vì tự pháp trái nhau.

“Bốn Tùy phiền não” trở xuống, là tùy theo nghĩa phân biệt.

Theo hệ thống xưa, văn này đầu tiên là tự phần; sau là Thắng Tấn.

Trong phần trước lại có ba:

1/ Nói về thể của chủng tánh.

2/ Nói về tướng của chủng tánh.

3/ “Do chủng tánh mà các Bồ-tát đã có, tương ưng với công đức như thế v.v… trở xuống, là tổng kết về tánh tướng.

Trong phần trước lại có bốn:

  1. Nói về thể của hai thứ chủng tánh.
  2. Giải thích tên gọi.
  3. Đối quả nói về thô, tế.
  4. Phân tích về Thắng tấn vượt hơn kém.

Lược nói về hai nghĩa của chủng tánh có năm môn:

1- Nói về Thể. Phương Tây có ba thuyết. Nếu theo thuyết của thắng Quân nói, thì không có thể của chủng tánh riêng, chỉ hai thứ chướng trong thân người kia có nghĩa có thể dứt, nói là lập bản tánh. Thời gian sau, gặp thiện tri thức, nghe pháp phát tâm cầu Bồ-đề v.v…

Địa trước huân tập thành có bốn văn huân: trước là từ thiện hữu lậu của phần trước, tu dần thành phần đạo. Phần đạo tu dần, Tăng trưởng hun đúc thành hạt giống vô lậu, gọi là tập chủng tánh, tức sinh trí vô phân biệt v.v… Nếu theo ngài Hộ Nguyệt lập thì có hạt giống vô lậu pháp nhĩ bản hữu làm tánh chủng tánh. Về sau, đối với thập tín, nghe pháp, phát tâm, từ sự giúp phát của tâm hiện hành, khiến hạt giống gốc, càng them vượt hơn, tức gọi là tập chủng tánh. Y cứ nghĩa bản hữu, gọi là tánh chủng tánh. Do tu tập tăng trưởng, gọi là chủng tánh tập.

Nói về thời gian sau, lại không mới huân tập thành hạt giống. Theo xưa về nghĩa một thể của hạt giống, nói là Địa tiền thì có hai thứ

chủng tánh, “Nếu theo ngài Hộ pháp thì Địa tiền dù hạt giống gốc giúp dẫn dắt, nghe huân tập hữu lậu kia thêm nhiều như thể chất của mầm gừng v.v… là chủng loại bản hữu thuộc về bản tánh trụ chủng tánh. Đây là Địa tiền không có tự thể của chủng tánh vô lậu, chỉ từ chủng tánh của tánh sinh. Ở sơ địa, niệm đầu tiên là trí vô phân biệt . Trí nầy khởi xong, liền huân tập thành hạt giống, mới là thể của tập chủng tánh vô lậu.

Nếu nói về chủng tánh hữu lậu, thì Địa tiền đã có.

2/ Được tên gọi là xưa gọi là tánh chủng tánh nay gọi là bản tánh trụ chủng tánh. Xưa gọi là tập chủng tánh, nay chủng tánh do tập thành(Tập sở thành chủng tánh). Trong đây gọi là chung hai thứ chủng tánh, nghĩa là từ số đến nghĩa là danh, gọi là riêng tập tánh, nghĩa là chủng tánh đương thể được tên. Tập chủng tánh từ phương tiện được tên.

3/ Y theo địa vị trước, sau v.v… Pháp sư Cảnh nói: “Nếu theo Hộ Nguyệt, thì nghĩa chủng tánh vốn có , tức ở sơ tâm của Thập tín ở trước. Giúp huân tập chủng tánh, để cho nó càng tăng trưởng, tức gọi là tập chủng. Không có tự thể của tập riêng. Từ Thập Tín trở lên, hai tánh thường có. Dù cho nhập Sơ địa trở lên, cũng không huân tập chủng tánh; luận nói: “Huân, nghĩa là chỉ huân phát chủng tánh xưa, gọi là huân chủng”. Nếu theo ngài Hộ Pháp nói: “Bắt đầu từ thập tín trở xuống và ở địa vị bốn mươi tâm của Địa tiền, là chủng tánh. Lúc ở Địa tiền, dù nghe hữu lậu, huân tập tư chất, phát công năng của chủng tánh gốc tăng trưởng, cũng là chủng loại của bản hữu. Thế nên, được xếp vào chủng tánh. Do trải qua địa trước chưa có hiện hạnh vô lậu huân tập riêng thành hạt giống, nên không có tập chủng tánh ở trước chỉ có nghe hữu lậu huân tập hạt giống, gọi là tập chủng tánh. Nhập địa trở, vô lậu hiện hạnh, huân tập thành hạt giống, tức tự thể của tập tánh vô lậu, về nghĩa ở sau. Pháp sư Cơ giải thích khác. Văn nhập sẽ thuật.

Pháp sư Trắc giải thích có ba nghĩa:

1. Dùng gốc ngọn để luận tánh chủng tánh là trước: Tập chủng tánh là sau.

2. Giúp thành phân biệt, lại giúp lẫn nhau, nên trước, sau không nhất định, nghĩa là do pháp nhĩ, nên có tánh tập; do tánh tập, nên được tăng trưởng.

3. Y cứ vào thật để luận thì không có trước sau, nghĩa là Thập tín trở lên, cho đến ngang Kim Cương đều có hai tánh.

Vì “duyên” thông bít v.v… Bồ-tát Hộ pháp nói: “Hai tánh đối nhau chỉ có duyên tăng thượng ”. vì không đồng tánh nên không có 22 nhân duyên. Vì pháp hạt giống không “duyên” cảnh, nên không có “duyên duyên”. Vì là hạt giống, nên tánh đối với Sơ địa, đầu tiên sinh trí vô phân biệt , có nhân duyên; duyên tăng thượng ; không có duyên sở duyên và duyên thứ đệ.

Hai tánh đối với trí hậu đắc có ba duyên, không có duyên thứ đệ . Do hai tánh đối với quả Phật hiện hành đủ ba duyên, trừ thứ đệ “duyên”.

Luận sư Hộ Nguyệt nói: “Hai tánh đối nhau vì đồng thể nên không có bốn duyên. Tánh chủng tánh đối với chánh thể trí của sơ địa có hai duyên; đối với trí hậu đắc có ba duyên; rất dễ hiểu”.

Thắng Quân nói: “Tánh chủng tánh không có tự thể, cho nên không nói. Tập chủng đối với trí vô phân biệt của Sơ địa, có hai giải thích:

1. “Có nhân duyên. Vì sao? Vì đồng là đạo đế.

2. “Chỉ có duyên tăng thượng , như khổ nhẩn của Tiểu thừa không có nhân tự phần.

Phân biệt đối quả vi Phật. Dựa theo nghĩa của ngài Hộ Pháp, tánh chủng tánh đối với chánh nhân duyên của thân thọ dụng. Đối với hai thân còn lại, chẳng phải chánh nhân duyên. Nếu đối với bốn trí là chánh nhân duyên. Tập chủng tánh đối với ba thân có đủ hai “duyên”, đó là nhân duyên, và duyên tăng thượng .

Đối với tám thức, bốn trí, có hai giải thích:

1. Rằng: “Sơ địa trở lên, có trí bình đẳng tánh và trí Diệu quán sát, vì hun đúc thành tập chủng, nên sinh quả Phật. Đối với hai trí, đối với thức thứ sáu, thứ bảy, được làm ba duyên, trừ duyên thứ đệ . Đối với trí đại viện cảnh và trí thành sở tác , chỉ có hai duyên, đó là duyên sở duyên và duyên tăng thượng.

2. Trí bình đẳng tánh và trí Diệu quan sát, hạt giống đối với bốn trí, tám thức, có đủ ba duyên, trừ duyên thứ đệ .”

Luận sư Hộ Nguyệt noí: “Nghĩa hai tánh đồng thể do đối vơí bốn trí, tám thức của thân thọ dụng, đều có đủ ba duyên, trừ thứ duyên đệ.”

Luận sư Thắng Quân nói: “trí Bình đẳng tánh, trí Diệu quán sát và huân tập thành hạt giống, nên có thể sinh bốn trí, tám thức của quả Phật”.

Văn nói: “Nghĩa là sáu xứ thù thắng của các Bồ-tát đều có tướng như thế từ đời vô thỉ, lần lượt truyền đến sở đắc v.v… pháp nhĩ.”

Pháp sư Cảnh nói các Bồ-tát nghĩa là nêu người có chủng tánh

Đại thừa.

Sáu chỗ thù-thắng, nghĩa là nếu dựa theo giải thích xưa, nghĩa là tự tánh trụ Phật tánh, tức Như-lai-tạng, có công đức nhiều hơn số các sông Hằng không thể tư duy, bàn Luận, không lìa, không thoát, không khát. Thời nay, vẫn đủ sáu nhập công-đức, nên nói sáu nhập thù thắng. Nay, thì không đúng! Sáu xứ, lại là sáu xứ như nhãn này v.v… Nói thù thắng, nghĩa là Thức A-lại-da là ý-xứ kia, thật là thù thắng trong sáu xứ. Ý-xứ thù-thắng là đối tượng nương tựa của Tánh chủng tánh.

Nói “Có tướng như thế”, nghĩa là phát ra thể của chủng tánh “ năng y”. Vì Chủng-tánh Đại-thừa này xưa nay là có, nên nói “từ đời vô thỉ”. Thể là hữu-vi, nương tựa vào A-lại-da, tiếp nối nhau đến nay, nên nói: “xoay vần truyền đến”. Vì không do huân tập thành, nên nói “Pháp nhĩ” đạt được.

Lại giải-thích: “Thể của Tánh chủng-tánh nương tựa chung sáu xứ thân trong của Bồ-tát, nên nói “Sáu xứ”. Dù vậy, cũng dựa vào sáu xứ thân ngoài, nhưng chẳng phải hữu-tình, vì thị, phi không nhất định, chỉ nói sáu xứ trong.

Nói thù thắng, nghĩa là chính ra Thể của chủng-tánh. “Có tướng như thế v.v… ” Trở xuống, là phân-biệt lại, phân biệt như trước. Ở đây, dựa theo ngài Tam-Tạng tạo nên hai giải thích này”.

Lại có người giải thích: “Dù lại nương tựa chung sáu xứ trong, ngoài, nhưng vì không quá sáu, nên chỉ nói sáu xứ. Về nghĩa còn lại, như trước đã nói.

Tập chủng-tánh, nghĩa là nếu theo giải thích của ngài ThắngQuân, thì đầu tiên, từ căn lành của phần phước tu-tập dần dần, thànhtựu phần đạo, lần lượt tu căn lành cho đến huân, tập thành chủng-tử vô-lậu, gọi là Tập chủng-tánh”. Nếu dựa theo giải-thích của Luận-sư Hộ Nguyệt, thì chủng tánh vốn có. Về sau, nhập Thập Tín, nghe pháp, phát tâm, giúp huân-tập tánh vốn có để cho nó càng tăng-trưởng, gọi là Tập chủng-tánh.”

Nếu theo ngài Hộ-Pháp thì chủng-tánh, loại tư-chất truyền đi kia ngày càng thêm nhiều; chỉ gọi là chủng tánh. Hiện hạnh vô lậu vì huântập riêng thành chủng-tánh, nên gọi là Tập chủng.

Đạo, nghĩa là gốc lành của Tập quán ở trước đãđược.

Pháp-Sư Thới nói: “Sáu xứ thù-thắng, là nói lại sáu thuyết của phương Tây:

1/ “Công năng thù-thắng của chủng-tử hữu, vô lậu bám vào sáu xứ, là vì thuộc về sáu xứ.

2/ “Chủng-tử của hai chướng bám ở sáu xứ, là thuộc về sáu xứ. Chủng-tử của hai chướng này, tất nhiên là có thể dứt nên gọi là Thù thắng.

Hai thuyết trên đây dựa vào môn Tùy-chuyển lý. Nếu y cứ môn chân thật lý , thì chỉ chủng-tử hữu lậu, vô lậu trong xứ thứ sáu, hoặc là nghĩa có thể dứt của hai chướng. Y cứ ở số lớn để nói, nói chung là sáu xứ.

3/ “Trong sáu xứ có xứ thù-thắng, cái gọi là Ý-xứ, thù thắng trong Ý-xứ, nghĩa là ý thứ sáu, thù thắng trong ý thứ sáu. Là chủng tử vô lậu; hoặc hạt giống của hai chướng có thể dứt. Đây là nêu thể lấy dụng.”

4/ “Thức thứ tám có tướng phần, kiết phần. Năm xứ như nhãn v.v… là tướng phần, kiến phần của A-lại-da là tương sáu ở giữa. Sáu xứ này đều là tưởng phần kiến. Phần của bản thức.”

Trong phần tự thể sở y của tướng, phần kiến phần này này có công năng thù thắng của hạt giống vô lậu. Hoặc công năng của hạt giống có thể dứt hai chướng. Trong phần nêu tướng làm rõ thể này đã đã có công năng cao siêu. Hoặc hạt giống của hai chướng có thể dứt công năng, đây là nêu tất cả công năng thù thắng trong thể hiển bày nhau.”

5/ “Trong thức thứ tám, có công năng thù thắng của hạt giống sáu xứ vô lậu nhãn v.v… cũng có hạt giống vô lậu của sáu xứ như sắc v.v… Đây là y cứ ở mặt mạnh mẽ mà nói, nên chỉ nói sáu xứ, không nói mười hai xứ.”

6/ “Thật có hạt giống của mười hai xứ vô lậu, vì không quá sáu, nên chỉ nói là sáu, như cây bảy lá. Các Luận sư phương Tây đốt nhiều, vẫn còn khác. Vốn có hạt giống vô lậu là thù thắng.

Pháp sư Khuy Cơ nói: “Tập chủng tánh của chủng tánh bản hữu, như ba nghĩa mới, cũ, tùy theo sự thích ứng mà lập.”

Có người nói: “Bồ-tát Hộ Pháp lấy Địa trên gọi tập là không đúng. Vì thập Tín của Địa trước tức sinh hạt giống vô lậu. Khi sinh hạt giống đó, được gọi là Tập chủng tánh, tùy tăng nói là sinh.” Khác với nghĩa của Luận sư Hộ Nguyệt, chỉ chủng tánh gốc của Luận sư Thắng Quân, dùng nghĩa có thể dứt chướng sở tri để lập, tức khi Thập Tín lấy hạt giống của văn, tư v.v… hữu lậu”. Hỏi: “Sinh kiến đạo là gì?” Giải thích có hai nghĩa:

1/ Pháp thế Đệ nhất làm duyên tăng thượng cho khổ, pháp trí nhẫn, sinh ra khổ, pháp trí nhẫn. Trong hữu vi chỉ có một vô lậu này không từ nhân duyên sinh.

2/ Hoặc dùng Pháp Thế đệ nhất làm nhân duyên sinh, quán tập nhiều thời gian, chướng sở tri có thể dứt.

Thiện hữu lậu hơn hết. Vì nghĩa hơn hết, nên được làm nhân duyên phát sinh, khổ, pháp nhẫn. Đây là ý của Luận sư dùng làm nhân duyên, tức như giải thích ở sau.

Luận sư ở trước đã lập nghĩa duyên tăng thượng sinh, tức vì xưa đã truyền lại. Vì muốn phân biệt một nghĩa, nên tạo ra lập này. Trên ý muốn ấy, chỉ có nghĩa của Bồ-tát Hộ Pháp”.

Có người nói: “Bồ-tát Hô Pháp nói thời gian Thập Tín chưa có hạt giống riêng là không đúng! Vì, như kinh Nhân Vương nói có khác nhau: Địa tiền có ba tâm:

  1. Tín tâm.
  2. Trụ tâm.
  3. Kiên tâm.

Trong địa vị Tín, gọi là tập chủng tánh. Trụ: tức hai mươi tâm là Thập giải, Thập hạnh hợp Hành Trụ tâm, Kiên tâm, tức Thập hồi hướng tâm.

Phương Tây đã tìm hỏi kinh kia, chưa nghe có bản nào. Dù vậy, nay vẫn hội nhập Như ý của kinh kia nói chung chủng tánh là rất nhiều tánh, tức kinh kia nói: “Tập chủng tánh”, nghĩa là ở Tín tâm, tức địa vị Thập tín.

Tánh chủng tánh, nghĩa là ở Trụ tâm. Trụ tâm kinh ấy nói tức là Thập giải, Thập hạnh. Thập giải, Thập hạnh, gọi là tánh chủng tánh”.

Hỏi: “Vì sao kinh ấy trước nói về chủng tánh, sau, nói về bản tánh.

Giải thích: “Khi mới tu tập, gọi là Tánh tập. Về sau, tập đã thành tánh, gọi là tánh chủng tánh. Chính vì thế, nên nói trước, sau ở đây, chẳng phải như nghĩa của luận này”.

Hỏi: “Vì sao kinh Nhân Vương kia kết hợp hai mươi tâm thành Thập trụ? Trong khi Hoa Nghiêm v.v… thì chia ra hai mươi tâm ư?

Giải thích: “Vì phân biệt trước, sau. Vì ở trước mới phát sinh Tín tăng Thượng, nên phân biệt khác vói trước. Vì đã không gần gủi (tiếp cận). Kiến đạo ban đầu, nên hợp hai mươi tâm, chỉ gọi là một trụ. Đó là lý do kinh ấy nói Thập Hồi Hướng là Địa chủng tánh. Gần gủi Kiến đạo, là đạo vô lậu. Từ kiến đạo trở đi, gọi là hạnh chủng tánh, đó là ý của kinh kia. Nay ý của luận này, về mặt lý, tất nhiên không thích hợp, vì tánh đều khác nhau.

Hai thứ ý nghĩa trong đây đều lấy. Nghĩa là nếu theo luận Địa Trì bản cựu dịch thì sẽ không có văn này. Nay, Ngài Tam Tạng dựa theo bản Phạm nói đủ văn này. Ở đây gồm thâu chung hai tánh làm chủng tánh Trì, cho nên nói “hai thứ đều lấy”.

Trong giải thích tên khác, có hai thứ chủng tánh, vì chủ thể (khả năng) sinh quả, nên gọi là chủng tử; vì chủ thể (công năng) giữ chắc quả, nên gọi là giới chủng loại của tánh công đức nhiều như số cát sông Hằng, nên gọi là tánh.

Trong phần nói về thô, tế, Luận Địa Trì bản cựu dịch nói: “Lại nữa, không tập, nghĩa là quả tế, quả xa; còn tập thì quả thô, quả gần”.

Người xưa có nói: “Chủng tánh vô vi, chẳng phải là pháp tu tập, nên nói “không tập”. Lìa danh bặt tướng, nên nói “quả tế”; chẳng phải gần với ý suy lường, nên nói quả xa. “Vì tập chủng hữu vi là pháp đáng tu, nên gọi là Tập. Vì có danh, có tướng, nên đạo quả thô. Vì tình ý có thể phỏng theo, nên nói quả gần.”

Có thuyết nói: “Ở trước có tập chủng, chủ thể chứng, gọi là thô, gọi là gần. Về sau, có chủng tánh, đối tượng chứng, gọi là tế, gọi là xa. Nay đối tượng phiên dịch hoàn toàn khác với xưa. Ý văn chỉ y cứ ở tánh chủng tánh để giải thích.”

Ngài Tam Tạng nói: “Lại, chủng tánh này khi chưa thành lập quả, gọi là Tế. Nghĩa là quả của chủng tánh chưa tập, gọi là Tế. Nếu quả đó đã thành tập chủng tánh, thì tức là thô. Vì sao?

Vì từ khi phát tâm trở lên, do tập chủng tánh, nên ngày càng tăng dần, vì chuyễn biến rõ ràng, nên gọi là thô”.

Pháp sư Khuy Cơ nói: “Ngài Thắng Quân v.v… giải thích: “Chưa phát tâm Bồ-đề, chưa tập quả của chủng tánh, gọi là tế, vì chưa có quả tập chủng tánh, nên khi phát tâm trở lên đã có quả của tập, vì đều hoạt động với quả của tập chủng tánh, nên gọi là Thô,”

Trong nghĩa của Luận sư Hộ Nguyệt cũng có hai thuyết:

1/ Giải thích: “chủng tánh của bản-tánh chưa có Tập thành, Địa tiền hữu lậu khi hiện hành quả, gọi là tế; lúc thành tựu quả hữu lậu, gọi là thô. Vì đều có với tâm hiện tại, nên là tức duyên Tăng thượng vô-lậu của bản hữu, nên là quả của Phát tâm Bồ-đề.

2/ Hai thứ Tánh, tập của Địa tiền chưa có tập thành. Dăng Địa trở lên là quả của tâm vô-lậu, gọi là Tế. Nếu thành Tâm vô lậu, mới gọi là Thô, vì đều có với tâm vô lậu”.

Về nghĩa của Ngài Hộ Pháp cũng có hai thuyết:

1/ Nói: “Tập chủng-tánh chưa Tập thành, khi sinh quả của hạt giống, gọi là tế. Nếu khi đã Tập thành quả của hạt giống mới, thì gọi là thô, vì đều cùng có với quả của hạt giống mới”.

2/ Giải Thích: “Về nghĩa, đồng với Luận-sư Hộ-Nguyệt, ở sau, sẽ giải thích.

Pháp sư Khuy Cơ nói ở đây lấy Thập tín, đầu tiên huân-tập hạt giống vô lậu, vì tăng gấp bội, nên nói là Thô, tế, chẳng phải là địa vị khác, thì sao gọi là đều có?”

Như nghĩa của Bồ-tát Hộ Pháp, lại thành chủng tử riêng : Chủng tử mới sinh và chủng tử cũ, đều có thể giải thích như ở đây. Như nghĩa của Luận sư Hộ-Nguyệt, chỉ giúp cho chủng tử cũ Tăng, tức nghĩa chủng tử mới tăng trong đương niệm. Nghĩa của chủng-tử từ xưa đến nay, được nói là Nhân, nên nói “Câu” (đều có).

Lại, niệm trước so với niệm sau, nhân diệt, quả sinh khác sát-na, nhưng chính vì nhân có, nên sinh ra quả kia, nên nói là “Câu”. Như nghĩa của Luận-sư Thắng-Quân: Hạt giống của pháp thiện hữu từ vô thỉ, gọi là Nhân. Lúc đầu tiên, Thập tín nhờ “Duyên” với giáo pháp vô lậu, huân Tập thành Hạt giống mới, hạt giống này là quả, hạt giống vô thỉ là Nhân. Vì Nhân, quả đồng thời nên nói là “Câu”.

Trong phần nói về hơn, vượt qua kém thì trước hẹp, sau rộng.

Nói: “Nếu các Bồ-tát cho đến Người vô-thượng hơn hết”:Pháp sư Cảnh nói chỉ thành Nhân của chủng-tánh Đại thừa, là đã vượt qua quả của Nhị thừa, huống chi tất cả hữu tình không có chủng-tánh. Nếu dựa vào thuyết của sư Luận Khởi Tín nói: “Tất cả chúng sinh khi khởi phiền não, thì kèm theo tánh vô-lậu giải, tất cả huân-Tập thành chủng-Tánh của Đại-thừa thì sẽ không có sự hơn, kém của Ba thừa, cũng sẽ không có sự khác nhau giữa “có tánh”, và “Không có tánh”, làm sao được thuận với văn này? Trước khi phát tâm, chỉ thành chủng tánh mà còn vượt qua Nhị thừa, huống chi tất cả người không có chủng tánh khác”.

Pháp sư Khuy Cơ nói: “Thập Tín trở xuống, thành tựu tánh Bồtát, còn vượt qua bậc Hữu học, Vô-Học của Nhị Thừa, huống chi tất cả Phàm-phu khác kia. Vì sao? Vì tất Cả hữu tình đều có hai chướng. Nhưng, từ vô thỉ đến nay, bảy phương tiện trước thành-tựu hạt giống của Nhị thừa, vì còn có chướng phiền não có thể dứt trừ, chỉ có thể chứng phiền não chướng Sở-Tri chướng thanh tịnh xong, vì không thể dứt trừ, nên không được Chướng Sở tri thanh tịnh . Nhưng, phiền não chướng có nặng, có nhẹ, vì căn có lợi, độn, cho nên Nhị Thừa có khác. Nếu Thànhtựu chủng-tử của Bồ-tát, thì từ Vô-thủy đến nay, Thập-tín trở xuống, với hai chướng vì quyết-định sẽ có thể dứt trừ, nên so với bốn thứ kia, là vô-thượng hơn hết, tức vì có chướng, không có chướng trong cảnh Chân-như của Quyết-trạch phần, nên lập nghĩa của năm chủng-tánh không có khác nhau. (Như Luận kia sẽ giải thích).

Nay, giải thích: Về điều mà Pháp -Sư Cảnh nghi ngờ: Luận Khởi Tín y cứ vào sự Huân tập không tư duy bàn luận về nghĩa Chân-như thọ (Tiếp nhận) Huân tập. Du-già thì y cứ ở sự huân-tập có thể nghĩ bàn về nghĩa thọ Huân tập của A-lại-da. (Nghĩa thọ huân A-lại-da của sự huântập không thể tư duy bàn luận), Vì mỗi pháp-môn đều khác, không thể một y cứ.

“Vì sao v.v…” trở xuống, là hỏi đáp nói rộng. Đại ý hỏi: “Cả ba thừa đồng ngồi giường giải thoát. Vì sao chủng tánh Bồ-tát ở phàm phu lại vượt hơn nhị thừa? Trong phần đáp có hai:

1/ Y cứ ở hai chướng đều hết, để nói vượt qua Tiểu thừa.

2/ Dựa vào bốn việc để nói vượt hơn Tiểu thừa.

Hai chướng: nói lược về Thể của hai chướng kia có bốn lớp:

1. Y cứ năm lớp để nói về thể, cũng bốn trụ Địa là chướng phiền não ; vô minh trụ Địa là chướng sở tri .

2. Y cứ hai chấp Nhân, Pháp. Ngài Tam Tạng nói: “Chỉ lấy chấp ngã làm Nhân chấp, bởi vì ngoài các “hoặc” đều chẳng phải nhân chấp. Nếu vì giống với “Nhân chấp”, nên gọi là chung “Nhân chấp”, thì về nghĩa cũng không có sai sót. Nếu lấy “Pháp chấp” so với chướng sở tri, sẽ có hai cách giải thích:

3. “Chướng Sở tri rộng; pháp chấp hẹp, vì sao? Vì không có biết trong sự, chẳng phải pháp chấp.

4. “Pháp chấp ngang bằng với Chướng Sở tri, không có rộng, hẹp. Ý Ngài Tam Tạng cho cách giải thích sau là hơn.

3/ Y cứ bảy thức để phân biệt: Năm thức chỉ khởi chướng phiền não, là vì hiện tượng, nên chẳng phải chướng Sở tri . Ý thức đều cùng khởi hai chướng. Mạt-na thì không nhất định. Một cách giải thích khác nói: Mạt-na chỉ có “hoặc chướng”.

Ngài Tam Tạng nói: “Nếu Mạt-na không có pháp chấp Chướng Sở tri thì phần lớn sẽ có trở ngại khó khăn. Như Du-già nói là Lại-da rất ít, tất nhiên, đều hiện hạnh vói một thức. Như người hữu học, Vô học của Nhị thừa kia nhap Diệt Định không có Mạt-na, nghĩa là một thời gian, Lại-da chỉ riêng một thức không được nói là rất ít mà là hai thức đều hiện hành.

Lại, quyển bảy mươi tám chép: “Tám Địa trở đi, tất cả phiền não đều không hiện hành, chỉ có chướng Sở tri là chỗ nương tựa. Bát Địa trở lên, khi ý thức nhập Nhân không quán, Mạt-na liền khởi Pháp chấp, gọi là có chướng Sở tri, cho nên, hai thức thứ sáu, bảy đều khởi hai chướng.

4/ Y cứ ở ba tánh để phân biệt, chướng phiền não, nghĩa là chỉ có bất thiện và ẩn một vô ký. Chướng Sở tri, nghĩa là phương Tây có ba giải thích không đồng.

  1. “Chỉ ô nhiễm”.
  2. “Có cả hai tánh”.
  3. Có cả ba tánh’.

Ý Ngài Tam Tạng là hai tánh, trừ thiện. Luận Phật Địa nói: “Phần nhiều còn pháp chấp, là tánh vô ký. Duy Thức quyển chín nói có cả hai tánh. Kế là nói trong trị đoạn chướng phiền não. Nếu kiến đoạn, là dứt trong Sơ địa. Tu sở đoạn, nghĩa là có ba phẩm kia. Hai phẩm thượng, trung, thì sơ địa đã chế phục, rốt ráo không hiện hành. Phiền não phẩm hạ, thất địa trở xuống vẫn còn khởi.

Luận Phật Địa chép: “Nếu Ngũ, Lục, Thất Địa không có thức Mạt-na , lẽ ra không được khởi phiền não cuả sáu thức. Bát Địa trở lên, phẩm hạ cũng chế phục. Phẩm trụ ở dưới nói: “Lỗi của ba xứ hai chướng:

1/ Phiền não ở đường ác thô nặng, ở Sơ địa dứt.

2/ Phiền não thô nặng, một bề chướng Vô sinh pháp nhẫn, địa thứ tám dứt.

3/ Tất cả phiền não, tập khí, Tùy miên, thô nặng, thì địa thứ mười dứt, nghĩa là đạo lý tu dứt phiền não, đến tâm Kim Cương, nhất thời dứt ngay, mà nói bát địa dứt, là y cứ bát Địa, chế phục hẳn không hiện hành. Nói chế phục là trong dứt chướng Sở tri. Nếu Kiến đoạn là sơ địa đoạn. Nếu tu đoạn thì Nhị địa trở lên, niệm niêm dứt dần, đến Kim Cương mới hết. Nhưng trong phẩm Trụ, nói lỗi thứ ba của chướng phiền não , nghĩa là tối thượng thành tựu viên mãn. Trụ đoạn của Bồ-tát, là y cứ đạo Vô gián để nói.

Lỗi thứ ba trong chướng Sở tri. Nghĩa là Như lai trụ mới dứt, là y theo đạo Giải thoát để nói, tức pháp môn ảnh lược.

Nói tất cả chủng tánh của Thanh văn, Độc giác đều chỉ có thể chứng, phiền não chướng, thanh tịnh v.v…”

Hỏi: “Vì sao trong lập Tông trước nói rằng: “Chủng tánh của Bồtát còn vượt hơn tất cả Thanh văn, Độc giác v.v… ?”

Trong phần giải thích dưới đây nói: “Chủng tánh Thanh văn v.v… chỉ chứng, chướng phiền não, tịnh. Chủng tánh Bồ-tát sẽ chứng, thanh tịnh hai chướng. Văn này thì nói là vượt qua nhân Nhị thừa, vì sao trước, sau trái nhau?”

Giải thích: “Vì đây là ảnh lược làm rõ lẫn nhau, cũng không ngăn ngại: Cũng có thể nêu chủng tánh để nói về quả, vì không muốn nói về chủng tánh.

Hạnh vượt hơn trong bốn sự vượt hơn, nghĩa là Bồ-tát có hai hạnh lợi ích khác nhau để cho được nhân thiện của thế gian, gọi là lợi ích, khiến được quả thiện thế gian, gọi là an lạc. Nhiếp luận chép: khiến cho được vui xuất thế gọi là lợi ích, khiến được vui thế gian, gọi là an lạc.

Nay, ở đây nói chung về lợi lạc thế gian, đây là chung cho cả năm đường.

Thương xót trở xuống, là khiến cho người, trời kia dứt được nghĩa v.v… thù thắng. Nghĩa là vì đạo khí của người, trời có thể thọ thắng nghĩa vô lậu xuất thế gian.

Trong thiện xảo vượt hơn, ở đây chỉ nói năm thứ, ở chỗ khác “”hoặc” cũng thêm Đế, hoặc xứ, nói về bảy gia căn v.v… Nhị thừa chỉ phân biệt thiện xảo trong duyên khởi xứ, phi xứ, đối với uẩn, giới, xứ. Không thể thông suốt thiện xảo như năm minh xứ v.v… Bồ-tát thì không như thế, mà đối với tất cả xứ đều được thiện xảo, vì vượt hơn trong thiện xảo đối với nhị thừa.

Thứ hai, trong phần nói về tướng của chủng tánh, Văn chia làm ba:

  1. Nêu tóm tắt cương yếu.
  2. Tùy giải thích riêng.
  3. Tổng kết.

Trong phần trước Pháp sư Cảnh nói: “Pháp nhĩ vốn có hạt giống vô lậu, là thể của chủng tánh. Nương vào hạt giống này để tu hành sáu Độ, nói lên Bồ-tát có Thể của chủng tánh, gọi là tướng của chủng tánh.

Thể tánh của sáu độ: Nghĩa là pháp thí, tài thí thì dùng thiện căn Vô tham tương ưng với nghiệp Tư và phát ra thân, ngữ khởi chung năm uẩn làm Thể.

Vô úy thí. Tức là dùng thiện căn vô sân tương ưng với năm uẩn như Tư v.v… làm thể. Nếu y cứ ở nghĩa Đàn gồm thâu sáu, thì dùng ba thiện căn để phát ra tất cả pháp lành của ba nghiệp để làm Thể.

Thí, Giới có ba nhóm thì dùng tất cả pháp lành làm thể, trong nhẫn, nhẫn người khác không lợi ích, nhẫn dùng vô sân làm thể.

An thọ khổ nhẫn. Ngài Tam Tạng nói: “Tinh tấn làm tánh, cũng có thể dùng Trí để suy ra nghiệp, nên có thể an nhẫn, tức lấy trí làm tánh.

Pháp nhẫn, tư duy giải nhẫn, trí tuệ làm tánh, đồng thời khởi chung, cũng lấy năm uẩn làm thể. Nếu lấy ba nghiệp “câu sinh” thì năm uẩn này đều là tinh tấn. Tĩnh lự dùng số định trong Biệt cảnh làm Thể. Nhân định mà sinh pháp môn công đức, đều gọi là tĩnh lự, tuệ, dùng số tuệ trong Biệt cảnh làm thể.

Bốn độ sau trong mười Ba-la-mật là trí “duyên” tục . Bát nhã thứ sáu là trí “duyên” lý. Nếu chỉ lập sáu độ, thì trong độ thứ sáu có cả chân tục.”

Pháp sư Thái nói: “Từ Vô thỉ đến nay, đã thực hành thí v.v… dù chẳng phải Mật-đa, mà là tướng Mật-đa. Do tướng này nên khiến cho người khác so sánh biết được trong thân thật sự có chủng tánh Bồ-tát.

Tuy theo văn trong giải thích riêng tức là sáu. Căn cứ trong phần nói về Thí có ba:

  1. Gạn hỏi phát khởi.
  2. Chính giải thích.
  3. Tổng kết.

Trong văn chánh giải thích, gồm có hai:

  1. Nói về ba thí.
  2. Chia ra sáu câu.

– Trong phần trước lại có hai:

  1. Nói về bản tánh ưa thí của Bồ-tát.
  2. Đối với Cảnh có khả năng thực hành.

Năng thực hành lại có ba:

  1. Nói về tài thí.
  2. Nói về pháp thí.
  3. Vô úy thí.

Trong văn Tài thí, trước, nói về ruộng Bi thực hành thí; sau, nói về ruộng Kính thực hành thí.

Trong Bi thí, trước nói về hữu tài thí, sau, nói về vô tài thí.

Trong hữu Tài, trước là nói về đa tài thí.

“Của vật dù ít v.v… ” trở xuống, là nói về ít tài thí. Có ba thời tâm tịnh trong đa Tài thí. Trước khi thí tâm vui ; lúc đang thí tâm vui; sau khi thí không hối tiếc, Vật nhiều cho ơn khắp, vật ít giúp cho kẻ nghèo.

Nói không có đối tượng tuệ thí, ôm lòng xấu hổ sâu sắc, vì người khác khen thí v.v… là không có tài thí. Về ruộng kính rất dễ hiểu.

Kế là, nói về pháp thí. Đối với những người kia ở đời này, đời khác v.v… nghĩa là lìa hạnh ác trong ba đời kia, làm người bạn không cầu thỉnh trong việc thiện, với lòng từ thường nói pháp v.v…” trở xuống, là nói về Vô úy thí (Thí cho không sợ). Nếu các hữu tình sợ hải về vương tặc, tai nạn hữu tình; nước, lửa v.v… là tai nạn vô tình.”

Từ đây trở xuống, là sáu câu phân biệt thọ lãnh vật của người, chưa hề sai trái v.v… thứ nhất có niềm tin.

“Đối với của cải chung” trở xuống, là thứ hai, có nghĩa.

“Đối với các thứ Mạt-ni v.v…” trở xuống, là thứ ba, nói về sự ngay thẳng.

Văn luận Địa Trì bản dịch xưa nói về không tham, cách hành văn hoàn toàn khác nhau.”

Pháp sư Khuy Cơ nói: “Ý trong đây nói rằng, con người có các thứ của báu, tâm họ mê muội, trái ngược, nên không thể thu thập, không thể che chở, giữ gìn trước là đem gởi nhờ người khác, vì tâm mê mờ trái ngược, nên không thể ghi nhớ. Bồ-tát có khả năng khai ngộ, chưa hề khiến cho người này xem thường người kia, huống chi chính mình làm.

“Tánh người kia ưa thích của cải, địa vị rộng lớn v.v… ” trở xuống, là thứ tư, nói về tánh rộng lớn. Pháp sư Khuy Cơ nói: tâm Bồ-tát rộng lớn, tâm ưa thọ dụng. Chẳng phải ít tài vị, tánh ưa thích tải vị rộng lớn. Do sự nghiệp rộng lớn mà chẳng phải vì nhỏ hẹp. Lại, ở trước đã nói về vật thí cho dù ít mà có thể đều khắp, tuệ thí rộng lớn mà chẳng phải nhỏ hẹp. Nói về tánh ưa thích của cải, địa vị cao cả, có thể đều khắp, sự nghiệp rộng lớn mà chẳng phải hẹp nhỏ, tức khác với văn trước là ưa thích vật, nhiều vật.

“Đối với các thứ rượu, sắc dục của thế gian..” Trở xuống thứ năm, nói đối với năm dục, có thể nhanh chóng nhàm bỏ.

“Được tài bảo rộng lớn v.v… ” Trở xuống, là thứ sáu, nói không tham, chấp.

Trong phần nói về giới, đầu tiên, hỏi; kế là, giải thích; sau là kết.

Trong phần giải thích Pháp sư Cảnh nói chia làm hai:

1. Nói về người có chủng tánh, dù cho khởi nghiệp ác, chỉ thành phẩm nhuyến chứ không bạo ác.

2. Nói đối với duyên giới hạnh. Giới có ba nhóm. Trong văn, nói lược về ba nhóm. Đầu tiên là nói mười nghiệp đạo thiện, là giới luật nghi . Kế là, nói về bốn nhiếp là giới nhiếp chúng sinh .”

Luận sư Trắc nói: “Đây là nói về giới nhiếp thiện pháp , trong đó có hai:

  1. Nói về giới tánh.
  2. “Hoặc thấy, hoặc nghe v.v…” trở xuống, là hiện hành tốt.

Trong phần trước có hai:

  1. Hạt giống thành.
  2. “Đối với người khác v.v… ” trở xuống, là nêu người khác để so sánh với mình.

Nay giải thích. Thế của đoạn văn lớn dựa vào Như. Cảnh Luận sư Nhưng trong đó cũng nói giới Nhiếp thiện pháp , tức tu tất cả pháp lành của mười thiện, bốn nhiếp v.v… gọi là giới Nhiếp thiện pháp, cho nên nói: “Đối với các hữu tình, không làm tổn não, cho đến không sinh vui mừng, là lìa quả kia trong nghiệp sát, cũng gọi là tự tánh lìa.

Nói: Tay không dùng dao, gậy, cục đất làm não hại hữu tình là lìa nhân ấy. Kinh Thập Địa chép: “Không dùng tâm sát, mà trao dao, gậy cho súc sanh.”

Nói: “Đối với các chúng sinh, tánh thường từ, ái”. Đây là đối trị với lìa từ, chủ thể trị ái.

Từ trên đến đây, ba câu là nghiệp bất sát.

Đối với đối tượng nên cung kính, đặc biệt khởi tâm cung kính, cho đến chẳng phải vì người ngu đần, là người kia không trộm. Do kính trọng bậc tôn trưởng, cho đến tu nghiệp hòa kính, nên lìa trộm cắp, đây là lìa quả.”

Pháp sư Cảnh nói: “Văn này tóm tắt không lìa tà dâm trong ba nghiệp của thân, nay giải thích: “Do kính trọng bậc tôn trưởng, tu nghiệp hòa kính, nên lìa trộm cắp và tà dâm.

Nói: “Khéo thuận theo tâm người, cho đến trước nó lời thăm hỏi”, đều là lìa bốn lỗi của miệng, tức bốn ngữ thiện.

Nói: “Đối với ơn hữu tình v.v…” trở xuống, là nói về nghiệp không tham.

1/ Báo ơn thí.

2/ “Đối với người đến cầu xin v.v… trở xuống, là thí cho người đến cầu xin, cho đến “Như pháp cầu xin tài vật, không dùng phi pháp, đều là nghiệp đạo không tham. Không dùng sự bạo ngược, nghĩa là nghiệp đạo không sân.

“Tánh thường ưa thích tu các nghiệp phước v.v… ” trở xuống, là nói về nghiệp đạo chánh kiến.

“Hoặc thấy, hoặc nghe, cho đến còn hơn tự thọ, là tánh nhân từ, tôn trọng đối với pháp mình đã thọ, tức bốn pháp thọ, nói về sợ nhân ác hiện tại và coi trọng đời sau, là nói về sợ khổ đương lai.

Bốn pháp thọ. Thọ, nghĩa là thọ báo khổ, vui. Vì thọ tức là pháp, nên nói là pháp thọ. Như văn dưới nói: “Như người giàu sang, gây ra nhiều điều ác, thì hiện vui, sau sẽ khổ. Như người nghèo hèn giữ giới, hiện khổ, sau sẽ vui. Người giàu sang tu thí, giới v.v… thì hiện tại vui, sau cũng vui. Người nghèo khổ mà phá giới, v.v… thì hiện tại khổ, đời sau cũng khổ. Dù có nhiều trường hợp, nhưng đều nói chung về Chánh kiến.

Kế là, nói về giới nhiếp chúng sinh: Pháp sư Cảnh nói: “Nói đối với các việc nên làm là nói về đồng sự, trong đó, việc đúng pháp thì Bồ-tát đồng, việc không đúng pháp, thì Bồ-tát không đồng.

“Khéo ngăn dứt, v.v… ” trở xuống, là cho đến tùy sinh, tùy xả, là nói về công hạnh lợi tha kia. Dưới đây, là nói về Ái ngữ, chung cho cả bốn nghiệp lành.

“Khởi tâm hiền, thiện, tôn trọng lời nói thật” trở xuống, là nói về không nói dối. Không lìa tâm khác, là nói không nói hai lưỡi. “Cũng không ưa thích v.v… ” trở xuống, là nói không nói lời thêu dệt. Lời nói thường mềm mỏng, là nói về không nói lời hung dữ. Văn còn lại rất dễ hiểu.

Luận sư Trắc nói: “Phẩm Thí ở sau nói: “không được làm việc mai mối”. Do đây y cứ ở kia. Nay, ở đây, vì ý gì cầu hôn như pháp? Phẩm Thí kia y cứ ở xuất gia, còn ở đây y cứ người ở tại gia. Nay giải thích:

Đây là lược qua không nói về bố thí nhiếp: Trong phần nói về thí độ ở trước đã chỉ bày rõ.

Trong nhẫn chỉ có nhẫn nại sự thù oán, hãm hại.

Trong tinh tấn, trước hỏi, kế là, giải thích; sau kết.

Trong phần giải thích, Pháp sư Cảnh nói”

Trước nói về tánh tự, siêng năng; sau, nói về đối “duyên” hành tinh tấn, trong đó:

1/ Nói về việc tục thì làm vững chắc.

2/ Đối với chân lý, thì tâm không yếu hèn. Tong phần trước có hai:

  1. Nói về phương tiện làm việc.
  2. “Việc đã làm v.v…” trở xuống là nói nghiệp căn bản.

“Đối với các việc rộng lớn” trở xuống, là thứ hai, trong đối với chân lý không yếu hèn, gồm có ba:

1. Nói về lý, quán không có yếu hèn..

2. “hoặc nhập chúng v.v…” trở xuống, là nói về những chuyện kích bác, bàn bạc v.v… tâm không sợ sệt, do tinh tấn mà thành.

3. “Có thể dẫn v.v…” trở xuống, là nói lấy việc lớn để so sánh với việc nhỏ.”

Pháp sư Khuy Cơ nói: “Ở đây nói đủ ba thứ:

1. Từ “các Bồ-tát v.v…” trở xuống, cho đến “phương tiện tư duy, lựa chọn, phải khiến cho rốt ráo” là nói về gia hạnh tinh tấn.

2. “Những việc đã làm v.v… ” trở xuống, cho đến “lười biếng, bỏ dở, thối lui, chịu khuất” là nói về mặc giáp tinh tấn.

3. “Đối vói các sự nghiệp rộng lớn”, cho đến “Huống chi việc nhỏ, là nói tinh tấn, không yếu hèn.

Trong tĩnh lự, Pháp sư Cảnh nói: “Trước là tánh xem xét tường tận, không thường tán loạn. Kế là, nói về khả năng tu thiền định, trong đó có hai: Trước, nói về tu thiền, sau nói nương tựa thiền, khởi quả phước, tuệ”.

Trong phần trước lại có hai:

  1. Có ba câu nói về phương tiện tu thiền.
  2. Một câu sau, chính là nói về phương tiện đắc thiền.

Trong ba câu, câu đầu, nói về chỗ thấy, nghe, tu thiện vượt hơn, nghĩa là nơi núi non, rừng rậm, cho đến thuận theo im lặng. Câu thứ hai “liền nghĩ rằng ” trở xuống, là nói tâm dục từ đó sinh rất luyến mến.

Câu thứ ba “Tánh phiền não mỏng v.v… ” trở xuống, là chính ở núi non, đến chỗ xa lìa.

Từ đây trở xuống, là nói về sự chứng đắc thiền. Cái gọi là nghĩa mục tư lương. Tâm không bị nhiều Tầm, Tư khuấy nhiễu. Dưới đây, nói về quả thiền định: Trước nói về quả phước, nghĩa là tu từ bi, tức Bốn vô lượng. Sau nói về quả Trí. “Đối với Phẩm oán kia v.v… ” là từ. “Hoặc thấy, nghe v.v…” trở xuống là tu bi”

Hỏi: “Đại thừa đã nói Bồ-tát tu bi, một bề gọi là đại, là cũng có Bi mà chẳng phải Đại ư?”

Giải thích: “Như trong phần nói về công đức nói: “Bi, tức là chung, đại bi, thì không chung, tức biết hai thứ Bi và đại bi đều có đủ.”

Nếu vậy, thì lẽ ra ngoài bốn vô lượng, nên có riêng đại bi. Vì sao văn dưới đây, trong tu bốn vô lượng lại nói: “Nếu hỏi ai là Bồ-tát, thì chính nên đáp rằng: “Là người trụ Đại bi”.

Giải-thích: “Bồ-tát Sơ học là người chấm dứt phiền não, mượn Tướng để tu, chỉ gọi là Từ, Bi, Hỷ, Xả, không được gọi là Đại. Nếu tu thành tựu, cứu giúp chúng sinh, thì mới được gọi là Đại, đó là Đại Từ; Đại bi; Đại hỷ; Đại xả”.

“Đối với chúng sinh kia, tùy khả năng”.Trở xuống, là nói lại về tu Bi.

Đối với các chúng sinh, tánh tự ưa thí lợi ích, yên vui: là nói lại về tu từ.

Từ trên đến đây, đã nói về quả của phước. Dưới đây, nói về quả của tuệ. Nghĩa là thân thuộc suy yếu, mất mát, cho đến tư-duy có thể an nhẫn v.v… là do tuệ kia. Tánh của tuệ kia thông minh, đối với pháp có khả năng lãnh thọ, nghĩa là nghe, giữ có khả năng gìn giữ, tư-duy nghĩa là Trì. Thành tựu sức niệm, đối với việc đã làm từ lâu, tự nhớ lại, cũng khiến người khác nhớ lại v.v… đó là Túc Niệm thông.

Do Bồ-tát che chở, bảo cho người khác ghi nhớ, người khác đã có thể ghi nhớ, lại bảo cho người khác lần lượt ghi nhớ, do thế-lực xưa nên được như thế”.

Pháp sư Khuy Cơ nói Ba thứ này bắt đầu từ “Nghĩ rằng, các Bồ-tát v.v… cho đến” và xa lìa đối-tượng sinh sự kính mến sâu rộng”, là nói về phương tiện Tĩnh lự.

“Tánh phiền não mỏng..” trở xuống cho đến “huống chi đối với phẩm thân và phẩm trung dung”, nói về tĩnh lự lợi ích hữu tình.

“Hoặc thấy, hoặc nghe v.v… ” Trở xuống là nói về đẫn phát tĩnh lự thần thông.

Đây là giải thích theo Trung luận quyển ba rằng: “Đối với pháp, năng thọ, năng trì, năng tư duy v.v… như luận Thập Địa nói: “Ngài Thế Thân giải thích: “ Dùng ba tuệ văn, tư tu, để phối hợp. Văn nghỉa là thọ trì, ghi nhớ tư duy không quên, gọi là tư, tức tư này, năng sinh ra tu, là từ nhân được tên. Tu tuệ, gọi là tư. Đây là ý riêng, lại xét trong tuệ của luận Thập Địa, Pháp sư Cảnh nói: “nói thành “Câu sinh tuệ” nghĩa là sinh đắc tuệ, năng nhập tất cả mình xứ ” trở xuống, là nói quán sát thông suốt về cảnh. Thông suốt đầu tiên nói về v.v… sự cảnh xứ v.v…

“Khắp nơi kia kia v.v…” Trở xuống là nói chủ thể thấu suốt lý. Pháp sư Khuy Cơ nói: “Xem ý trong đây không có nói riêng, mà là dùng cả ba thứ để phối hợp: Tánh không ngang bướng ngu độn; tánh không mê muội và tánh không ngu si.

Ba câu này, được thứ lớp phối hợp với ba tuệ. Các câu trên nói Bồ-tát: “Chỉ có thể thành tựu “câu sinh tuệ”, tức sinh đắc thiện. Cũng có thể nhập tất cả cảnh giới minh Xứ, tức Phương tiện thiện ý của hai câu này là chung. Phối hợp với ba tuệ dưới đây, văn cũng nói chung: Ba tuệ lìa lỗi, có sức Tư-duy, lựa chọn. Lại, tánh không ngu si, thích ứng với tuệ gia hạnh. Tuệ này có thể nhập tất cả cảnh giới minh xứ, lại thành tựu sinh đắc thiện. tuệ hậu đắc kia, vì khởi ngôn thuyết nên khắp các cảnh giới kia, lìa xứ buông lung, có sức tư-duy, lựa chọn.

Tuệ Vô phân biệt kia, vì khác với trước, sau, nên trong đây không nói lại.

Lại giải thích: Ở đây, nói chung về tuệ của Bồ-tát, chưa hẳn nói riêng về ba tuệ.

Kết rằng nên biết sinh này có thể so sánh đồng với tướng thô của tánh Bồ-tát. Pháp sư Thái nói Ngài Di-lặc tự nói: “Ta là Bồ-tát. Chỉ có thể dùng sự này, so với tướng thô của sự việc mà biết được chủng tánh trong thân hữu tình, còn như quyết định chứng biết, thì chỉ có Phật, Thế tôn rốt ráo hiện thấy, Từ thị ta không thể hiện thấy”.

Pháp sư Khuy Cơ nói do tướng của chủng tánh Tế của Bồ-tát khó biết. Nay, do công hạnh so sánh biết được chủng tánh, nên nói là có thể so với tướng thô của chủng tánh Bồ-tát.

Văn ban đầu của đoạn này nói: Do tướng này, nên khiến người khác biết rõ thật là Bồ-tát. Tướng tế kia quyết định nghĩa thật, chỉ có Phật mới biết được. Trong đây, lại suy tìm Đức Phật không nói “Ta cũng không biết”. Người xưa nói: “Ngài Di-lặc không biết là sai lầm! Bởi vì kinh Thiện Giới nói về tướng thô của chủng tánh, ta đã nói tóm tắt. Các nghĩa thật khác, chỉ có Phật mới biết, nghĩa là Thích ca đương lai cũng không biết”. Vả chăng biết tìm kiếm Phật, chẳng phải Ngài DiLặc không biết, chỉ nói: “Phật biết rốt ráo biết, ta biết không rốt ráo”.

“Do các Bồ-tát, cho đến còn lại không hợp lý, là thứ ba, tổng kết Tánh tướng.

Pháp sư Cảnh nói do chủng tánh mà các Bồ-tát đã có, nghĩa là thể của chủng tánh.

Tương ưng với công đức như thế, nghĩa là tương ứng với tướng của chủng tánh.

Thành tựu các Pháp bạch tịnh của bậc Hiền, Thiện, nghĩa là tổng kết tướng tánh, gọi là Pháp bạch, tịnh.

Ngài Tam-tạng giải thích: “Do chủng tánh mà các Bồ-tát có tương ứng với công đức như thế, đều là thể của chủng tánh. Trong chủng tánh có hạt giống công đức vượt hơn số cát sông Hằng. Vì sự góp nhóm của Tánh loại, nên nói là tương ưng”.

Nói “Thành tựu các Pháp bạch, tịnh của bậc Hiền, Thiện: nghĩa là tướng của chủng tánh. Chỉ kế là văn dưới đây là thuận với giải thích của ngài Tam-Tạng”.

Có người lại nói cái có chủng tánh, dù nêu chủng tánh mà chưa lấy tánh với công đức như thế, tương ưng với tướng của chủng tánh”.

Thành tựu các pháp bạch, tịnh của bậc Hiền, Thiện, nghĩa là thể của các chủng tánh.

“Cho nên, có thể ngang bằng với”, là kết thành trì nghiệp. Kết hai thứ tánh là nhân của quả Phật, nhân là nghĩa trì.

Sư luận Địa Trì bản cựu dịch nói: “Văn này khen chủng tánh kia hơn hết không thể nghĩ bàn v.v… ấy là không đúng. Nay, nêu chủng tánh đã sinh quả Phật gọi là tối thắng v.v…

Pháp sư Thái cho rằng chủng tánh vi-tế với tướng của sáu Độ thô, vì nhân cực-vi, nên có thể cho quả của năm mạng khó được v.v… là nhân chứng đắc, thích hợp với chánh đạo lý. Nếu nói hạt giống của Bồ-tát làm nhân chứng cho quả của Nhị thừa khác là không hợp với Chánh lý”.

Từ đây trở xuống, là thứ hai, tùy theo nghĩa phân biệt, trong đó có bốn:

1/ Nói về tướng, xứ của chủng tánh lúc đã có pháp bạch khởi không nhất định.

2/ Nói về Bồ-tát chủng-tánh thọ sinh, không nhất định.

3/ Phân tích pháp bạch trái với bốn tùy-phiền não.

4/ Nói về chứng Bồ-đề có thời gian chậm, mau.

Đầu tiên nói rằng: “Chủng tánh Bồ-tát, cho đến tánh tương ứng với Pháp bạch như thế”. Pháp sư Cảng nói Thập Tín trở xuống, Bồ-tát chủng-tánh nếu không khởi bốn tùy phiền não, thì sẽ khởi ở công hạnh thí, giới v.v… hữu lậu, gọi là pháp bạch. Cũng có thể đã nhập Bồ-tát tập chủng của Thập-Tín. Pháp bạch như thế, hoặc khởi, không khởi”.

Pháp sư Thái nói người vốn có chủng-tánh từ vô thỉ đến nay, cho đến chưa bị tùy phiền não mê hoặc, không bị nhiễm ô đủ bốn, khả dĩ biểu tướng đều có với pháp bạch. Nếu bị nhiễm ô, thì pháp bạch sẽ không hiển lộ, tức không thể lấy thô để biết có chủng tánh tế”.

Pháp sư Khuy Cơ nói: Pháp bạch trong đây, nghĩa là sáu độ trước, bốn tùy phiền não, như thứ lớp dưới đây, tự phô bày.

Với chủng tánh vô thỉ kia, Bồ-tát chưa bị bốn thứ mê hoặc, không đủ bốn thứ nhiễm ô với chủng tánh tương ứng với sáu độ như thế, hoặc vì bị nhiễm ô bởi bốn tùy, nên pháp bạch không hiện. Trong thọ sinh không nhất định, cái gọi là Bồ-tát chủng-tánh của thập tín trở xuống, gặp duyên tạo ra điều ác, đọa vào đường ác. Dù đọa vào đường ác, nhưng với Nhị thừa khác và người không có chủng tánh đọa vào đường ác, vẫn có nhiều khác nhau, nghĩa là có ba khác nhau: 1/ Tạm thời sinh ra giải thoát nhanh chóng.

2/ Không nhất định khổ thọ mạnh mẽ, nhạy bén.

3/ Xúc chạm khổ vi-tế, tăng thượng chán lìa, xót thương nỗi khổ khác, trong đây, đã nói chỗ lâu là giai đoạn sắp biết địa vị của chúngtánh ở Thập tín trở xuống.

Hỏi Bồ-tát Thập tín trở xuống, có khi gặp phải bạn ác, đã gây ra năm tội nghịch, chịu khổ trong năm kiếp, thì sao lại được nói là tạm thời sinh, xa lìa nhanh chóng?”

Ngài Tam Tạng giải thích: “Nếu có chủng tánh Đại thừa, bản tánh Hiền, Thiện đối với cha, mẹ, sinh tâm yêu mến sâu sắc, không gây ra năm tội nghịch. Do nghiệp ác khác, đọa vào địa ngục, do năng lực chủng tánh, có thể giải thoát nhanh chóng. Cũng có khi nghiệp mới đọa vào địa ngục kia, không đồng nói rằng nghiệp củ của vi Trần xưa, cũng có thể ở đây y cứ Thập Tín trở lên, Sơ địa trở xuống, Bồ-tát Tập chủng không gây ra năm tội nghịch. Do nghiệp ác khác đọa vào đường dữ, có thể giải thoát nhanh chóng. Nếu Thập Tín trở xuống, thì dù có chủng tánh, cũng không bỏ gặp duyên gây ra năm tội nghịch, chịu khổ trong nhiều thời gian.

Nói: “Những việc như thế v.v… đều do chủng tánh đã huân phát nhân đại bi của Phật. Do trong thân Bồ-tát kia có sức huân phát hạt giống Đại bi sẽ thành Phật, nên dù đọa vào đường dữ, vẫn khác nhau với người khác.”

Pháp sư Thái nói: “Người có hạt giống Bồ-tát từ vô thỉ đến nay, do gây ra nghiệp ác, nên đọa vào đường dữ, so với người có tánh quyết định của Nhị thừa khác và người không có tánh vẫn có nhiều khác nhau.

Sự khác nhau dù nhiều, nhưng ở đây, tóm tắt bốn việc để chứng tỏ không đồng: Hai nhân đã nói ở trước; thứ ba, là tánh thọ, sinh nhàm chán thứ tư, xót thương khổ thọ còn lại.

Bốn sự của văn này đều do vô thỉ mà có sức chủng tánh của Bồtát đã làm xong.

Trong bốn tùy phiền não, luận này phần nhiều nói mười thứ phiền não, gọi là căn bản; Triền cấu, gọi là Tùy. Luận Đối Pháp nói: “Tất cả phiền não đều gọi là Tùy, do chúng xoay vần nhân nhau mà sinh, đều gọi là “Tùy”. Nay ở đây đã nói nghiệp và báo nhân phiền não khởi, đều gọi là Tùy phiền não.

Thứ nhất, chỉ là Thể tánh phiền não.

Thứ hai, chung cho có nghiệp, “hoặc”, gọi là Tùy phiền não, do gần gũi ngoại đạo, khởi các tà hạnh.

Thứ ba, do thân lệ thuộc chồng, vương tặc, không thể tự tại tu đạo.

Ở đây tức nói báo, gọi là tùy phiền não.

Thứ tư, là tiền của, dụng cụ, nghèo thiếu, đoái hoài, luyến tiếc thân mạng. Nghèo và báo, gọi là Tùy phiền não.

Nói trong chứng Bồ-đề, có mau, chậm chia làm hai:

  1. Nói về người chủng tánh chứng có chậm, mau.
  2. Nói về người không có chủng tánh, quyết định sẽ không chứng.

Trong phần trước do bốn nhân duyên, không thể chứng nhanh chóng:

1. Chưa gặp Phật nói đạo không điên đảo, ở đây chưa phát tâm

2. Dù nghe nói phát tâm điên đảo tu học.

3. Dù nói không có điên đảo, mà phương tiện thông thả, chậm chạp. Ba nhân duyên này đều ở Thập tín trở xuống.

4. Bốn vị Địa tiền, căn lành chưa thành thục. Tư lương của Sơ Địa chưa được viên mãn. Vì nhân duyên thiếu, nên không thể chứng nhanh chóng Bồ-đề của Sơ địa. Như hạt giống trung, hạ của Tiểu thừa thành tựu. Nếu thành tựu, thì sẽ nhập kiến đạo. Trong đây cũng thế. Đã nói căn lành chưa thành thục, phải biết rằng người này chưa nhập Sơ Địa. Nếu người nào không có chủng tánh Đại thừa thì cho dù họ có tất cả. Nhất thiết chủng đi nữa, phải biết rằng quyết định không chứng Bồđề.

Pháp sư Cảnh nói: Nhị thừa định tánh và người không có chủng tánh Ba thừa, dù có duyên ban đầu gặp tất cả Phật. Thứ hai, dù nghe pháp, tu tập tất cả hạnh không điên đảo. Thứ ba, tất cả siêng năng tu phương tiện mà không có chậm trễ, thong thả.

Do không có chủng tánh, tất định không chứng Bồ-đề của Sơ địa.

Nếu trái với bốn thứ này, thì nên nói là:

1. Gặp tất cả Phật nghe pháp phát tâm.

2. Nhờ phát tâm nên tu học không có trái ngược.

3. Tinh tấn mạnh mẽ.

4. Căn lành thành tựu, tư lương viên mãn, sẽ nhập Sơ địa.” Pháp sư Khuy Cơ nói: “Nhất thiết có ba thứ”:

  1. Nhất thiết nghĩa là Phật.
  2. Nhất thiết nghĩa là học hạnh.
  3. Nhất thiết nghĩa là ba đời.

Nói: “Người không có chủng tánh Đại thừa, dù có Phật và đã học, hạnh, nhưng trong ba đời, quyết định sẽ không chứng Bồ-đề.

Lại, giải thích:

  1. Nhất thiết nghĩa là Phật.
  2. Nhất thiết nghĩa là đối với pháp mình đã học, không chấp điên đảo.
  3. Nhất thiết nghĩa là phương tiện cấp tốc.

Trái với ba nhân duyên trước, chỉ trừ người căn cơ chưa thành thục, không có chủng tánh, cũng được gặp Phật, học hạnh, mau chóng phát nguyện v.v….

Không có căn thành thục thứ tư, phải biết rằng quyết định sẽ không chứng Bồ-đề.”

Pháp sư Thái nói: “Từ vô thỉ đến nay, dù có chủng tánh, nhưng vì thiếu bốn duyên, nên cũng không thể chứng nhanh chóng. Nếu đủ bốn duyên, thì chỉ trải qua ba kiếp, thì sẽ chứng nhanh chóng Tư lương viên mãn, tức ở kiếp đầu, nhất định thành Phật.

Vì thế, nên người không có chủng tánh, tất nhiên thiếu duyên thứ tư, ba duyên trước được có.

PHẨM PHÁT TÂM

Từ trên đến đây, đã xét về chủng tánh trì. vì nhân chủng tánh, tức là có thể phát tâm nguyện cầu quả Phật và sự nghiệp lợi tha. Cho nên, phát tâm lấy nguyên làm tánh. Như Sơ Địa kia, chân chứng phát tâm, chân nguyện làm thể. Nay phát tâm này cũng lấy nguyện làm thể”.

Hỏi: Đã biết phát tâm lấy nguyện làm Thể, chẳng hay nguyện này lấy gì làm Thể.

Đáp: “Tát-bà-da, có chỗ nói: “Pháp giới có hai, đó la tương ưng, bất tương ưng. Tương ưng nghĩa là Tư, Nguyện v.v…; Bất tương ưng nghĩa là Đắc v.v… cho nên, biết được lấy Tư làm nguyên.”

Chỗ khác nói: “Mong cầu. Sự mong cầu và nguyện thuận nhau, nên biết là Dục.”

Chỗ khác nói: “Ái có hai thứ:

  1. Ái nhiễm là tham.
  2. Không nhiễm ái là Tín. Nghĩa là yêu Phật, Bồ-đề v.v… nên biết là Tín.”

Luận Thành Thật nói: “Nguyện, là tư nguyện. Theo luận Vô Tướng trong Đại thừa, thì Tư, Dục là Thể; Trí là giúp đỡ.”

Du-già quyển bốn mươi chín giải thích về độ nguyện: “Mong cầu tánh thù thắng của hậu trí, phải biết là nguyện Ba la mật đa”.

Văn này nói dục là nguyện. Duy thức quyển chín có hai thuyết:

1/ Trạch pháp làm tánh.

2/ Có hai nghĩa: Lấy Dục, Thắng giải và Tín làm tánh.

Pháp sư Cảnh nói: “Đạo lý phát tâm cầu Bồ-đề kia và sự nghiệp lợi tha, đồng thời với nhóm tâm, tất cả đều do ba thứ như Tư v.v… hơn hết mà riêng làm thể của Nguyện. Cho nên phát nguyện tức là phát tâm. Phát tâm Bất thối, nhập Tăng kỳ, là bắt đầu ở Sơ Thập Tín.”

Trong Luận y cứ Trí làm tiền đạo, nên nói bốn phương tiện v.v…lấy hậu trí làm Thể. Sáu thứ như Thí, Giới v.v… dùng Trí vô phân biệt làm Thể. Dù Nhiếp luận v.v… nói nguyện trong mười độ là Hậu Trí, nhưng không nên dùng tuệ làm thể? Vì là Thể chung, do Đối Pháp nói: “ Tất cả công đức đều lấy Định, tuệ làm thể, đây là Thể chung, không thể lại dựa theo văn luận kia rồi nói Từ, Bi, Hỷ, Xả v.v… lấy tuệ làm Thể. Nguyện ở đây cũng như thế.”

Pháp sư Khuy Cơ nói: “Nếu là Pháp chế phục, tức lấy dục, tín làm Thể. Phát tâm này tức phát tâm Trì. chất văn trong phẩm này có ba:

1/ Có năm câu giải thích thể của phát tâm.

2/ Có bốn câu giải thích tên khác của phát tâm.

3/ Tùy nghĩa phân biệt.

Trong phần trước, trước giải thích riêng, sau tổng kết.

Giải thích có năm:

1/ Nói về tự tánh. Xưa, Tổ Tuệ Viễn nói: “Nguyện và phát tâm có khác gì nhau chăng?” Giải thích: “ Chủ yếu là tự thuộc về quả Bồ-đề, gọi là nguyện. Tác ý hướng về gọi là Phát tâm. Nếu giải thích như thế thì hai pháp nguyện và phát tâm sẽ riêng, trái với luận này nói: “Mới phát tâm lấy nguyện làm Thể”. Lại nữa, kinh luận khác đều nói: “Phát bốn nguyện rộng, gọi là phát tâm.

2/ Nói về hành tướng, mong cầu Bồ-đề.

3/ Nói về sở duyên, tức “duyên” Bồ-đề kia và sự lợi sinh.

4/ Nói về công đức.

Pháp sư Cảnh nói: “Thiện, bất Thiện, tức thân nghiệp. Hiền, tức ngữ nghiệp. Diệu (mầu nhiệm) tức ý nghiệp.”

Pháp sư Thái nói hai giải thích: Vì có thể được quả ái, nên thiện, rất thiện. Vì chế phục triền hiện tại, nên là hiền; dứt trừ Tùy miên, nên là Diệu.

5/ Nói về hơn hết: Dưới Bồ-tát làm Luân vương v.v… biến hóa thân sanh, tử của người khác, cũng là bậc nhất. Đối với pháp xuất thế, nguyện thành quả Phật là vượt hơn Nhị thừa kia, cũng là bậc nhất.

Hỏi: “Thứ hai mong cầu Bồ-đề và sự nghiệp lợi tha, dùng làm hành tướng. Hành tướng tức là tướng phần của tâm, là cảnh sở duyên, có khác gì với cảnh sở duyên thứ ba?”

Giải thích: “Sở duyên” (Đối tượng duyên) thứ ba, tức y cứ ở bản chất; còn hành tướng thứ hai là ảnh tượng của bản chất kia.”

Hỏi: “Trong văn đã cầu Bồ-đề, lại còn vì hữu tình mà phát tâm, vì sao chỉ gọi là phát tâm Bồ-đề mà không nói là phát tâm Tát đỏa ư?”

Giải thích: “Vốn vì cứu giúp người khác mà cầu Bồ-đề, chỉ nói phát tâm Bồ-đề, tức là phát tâm Tát đỏa cứu giúp. Hơn nữa phát tâm sao cho chúng sinh đồng với ta, đều chứng Bồ-đề. Chính vì lẽ đó, nên chỉ nói là tâm Bồ-đề, không được nói là phát tâm Tát đỏa.”

Pháp sư Khuy Cơ nói: “Đầu tiên nói: “Mới phát tâm cho đến khắp nhiếp thọ chánh nguyện khác kia”, văn dưới lại nói: “Phát tâm đầu tiên, có thể thu nhiếp tất cả căn lành thù thắng của pháp Bồ-đề phàm làm hàng đầu nên ngang đồng. Trong đây lấy phát tâm chánh nguyện trước hết, vì đều mạnh mẽ, nhạy bén, có thể gồm thâu tâm nguyện khác. Lại tâm nguyện ban đầu này là đứng đầu khởi trước, các tâm nguyện khác, đều là chủng loại này. Cho nên, gồm thâu tâm nguyện ban đầu. Phần thứ hai, trong giải thích tên khác, trước giải thích, sau là kết.

Trong phần giải thích có bốn câu. Đầu tiên gọi là thú nhập. Ngài Tam Tạng nói; “Chân chứng phát tâm, cái gọi là Sơ địa. Phát tâm như thế, thì gọi là thú nhập vô thượng Bồ-đề.”

Số Bồ-tát v.v… Đây là y cứ thế tục, nói là được lý, phát tâm này cũng gọi là thu nhập. Đồng với ý giải thích của Pháp sư Khuy Cơ.

Pháp sư Thái nói: “Đăng Địa trở lên, được trí vô lậu chân pháp không, nên là số của thắng nghĩa đế Đại Bồ-đề. Bồ-tát Địa tiền chỉ phát tâm câu, chưa được pháp không, nên dựa vào thế-tục, giả gọi là số của Đại Bồ-đề. Về ý đại khái cũng nhau.”

Câu thứ ba nói: “Đẳng lưu Đại bi”. Pháp sư Thái nói: “Do đại bi là quả Phát Khởi của tâm Bồ-đề, nên tâm Bồ-đề là quả đẳng lưu của Bi, Bi là nhân đồng loại của tâm Bồ-đề”.

Phần thứ ba, tùy theo nghĩa phân biệt có bốn:

1/ Nói về phát tâm có thối, bất thối.

2/ Nói về nhân duyên phát tâm.

3/ Y cứ ở sức nhân duyên, đồmg phân biệt có thối, bất thối.

4/ Trước hết, Bồ-tát sơ phát tâm vững chắc” trở xuống là nói Bồtát bất thối nhiếp thiện, lìa lỗi mà được thắng lợi.

Trong phần đầu có hai: Trước nói về thối, bất thối, sau, cũng khắp y cứ ở thối, nhằm nói về rốt ráo, không rốt ráo.

Trong phần trước, Pháp sư Thái nói đã nhập định của Thập Tín rồi, không có lùi sụt, còn chưa chứng Thập Tín phát mà lui sụt thì như kinh Bản-nghiệp kia nói: “Phát tâm bất thối sau 10.000 kiếp”. Luận khởi tín nói: “Một muôn kiếp trước, phát tâm có thối lui.”

Trong phần nói về rốt ráo, không rốt ráo, Pháp sư Cảnh nói: “Giải thích xưa y cứ ở hôm nay, vì một thân không phát, nên gọi là rốt ráo; thân sau, lại có nghĩa phát”.

Nay giải thích: “Đây là y cứ ở người không có chủng tánh của Đại-thừa, dù gặp được duyên tốt dường như phát tâm. Một khi đã thối lui rồi, về sau, rốt ráo không huân phát nữa. Thối lui rồi huân phát, nghĩa là người tánh không nhất định, vì gặp phải duyên xấu ác, nên thối lui, do có chủng tánh, nên huân phát”.

Pháp sư Thái nói: “Chủng tánh Bồ-tát và người bất định dù có thối lui, nhưng không bao lâu, lại sẽ phát tâm Bồ-đề, cho nên, không rốt ráo”.

Từ đây trở xuống, là thứ hai, nói về nhân duyên phát tâm:

Pháp sư Cảnh nói: “Bốn duyên là xa; bốn nhân là gần, tức nhân duyên này hòa hợp, vì có tác-dụng thế lực, nên gọi là bốn lực”.

Pháp sư Khuy Cơ lại nói “Duyên xa, sức nhân gần làm giúp đỡ. Vì nói chung hai thứ nhân, duyên, nên có ba thứ khác nhau.”

Trong bốn duyên, duyên đầu là do trông thấy thần thông biến hóa của Phật, Tăng ngày càng thêm hưng thịnh, cho nên phát tâm, trong đó có bốn:

1/ Thấy, nghe Phật, Tăng với thần thông biến hóa ít có.

2/ Do thấy, nghe, nên liền khởi niệm.

3/ Sinh tín hiểu sâu sắc đối với Đại Bồ-đề.

4/ Do tín, hiểu cho nên phát tâm.

Nói an trụ, tức là Đức Phật kia: Tu hành: là các Bồ-tát.

Duyên thứ hai, do nghe nương tựa Bồ-đề, nên tin sâu sắc vào chánh pháp do Phật đã nói mà phát tâm, tức lại có bốn:

1/ Nghe chánh pháp.

2/ Nghe xong, sinh niềm tin đối với giáo pháp.

3/ Do hai duyên trước, nên sinh tín hiểu thật sâu sắc đối với trí tuệ Phật.

4/ Vì được trí Phật, nên phát tâm.

Duyên thứ ba, do thấy chánh Pháp sắp diệt, cho nên phát tâm, tức lại có bốn:

1/ Thấy pháp tạng của Bồ-tát sắp diệt.

2/ Do thấy, khởi lên ý nghĩ phát tâm hộ trì chánh pháp.

3/ Đối với trí Phật , sinh tin, hiểu sâu sắc.

4/ Vì được trí Phật, cho nên phát tâm.

Duyên thú tư, do nhận thấy chúng sinh bị năm trược ép ngặt, ở trong đó dẫn đường, khiến người khác học với ta, sở dĩ phát tâm, tức lại có bốn:

1/ Nói về thời kỳ kiếp cuối cùng, thấy các chúng-sinh bị triền phiền-não ép ngặt.

2/ Nhân sự việc, khởi ý niệm, phát tâm dẫn đường.

3/ Sinh tín hiểu sâu sắc đối với Bồ-đề.

4/ Nhân Tín, hiểu cho nên phát tâm.

Mười tùy phiền não. Nghĩa là chử “Đa” của mười thứ dưới đây.

Nếu theo luận xưa thì thứ tư, gọi là khổ não, thứ năm gọi là uế hạnh, tám thứ còn lại, gọi là mới, cũ không khác nhau. Trong đó, tùy phiền não thứ nhất là vô minh, thứ tư là thọ; thứ năm Pháp sư Cảnh nói

“Chỉ có tánh không điều hòa, nhu thuận, không có kham năng.”

Luận sư Trắc nói: “Dựa theo văn trên, dưới của Luận Du-già này, phần nhiều lấy hạt giống phiền não làm Thể. Hoặc có thể là các “hoặc” từ trên đến đây, đều có nghĩa không có tánh kham nhận, tức thô nặng.”

Nghiệp ác thứ bảy, sáu thứ còn lại là phiền não. Chín thứ còn lại kia là phiền não căn bản , tùy phiền não khác đều thuộc trong đa số các phiền não.”

Pháp sư Khuy Cơ nói: “Ác hạnh Ưu khổ v.v… là tùy phiền não, nghĩa là vì theo phiền não khác sinh, nên gọi là Tùy phiền não, chứ chẳng phải Thể là phiền não. Lại, từ số nhiều đặt tên, gọi là Tùy phiền não, thể chẳng phải thế, mà vì gồm thâu ở môn Tùy phiền não, nên gọi là Tùy phiền não.

Kế là, nói về bốn nhân: Đầu tiên là hỏi; kế là đáp, trong đó, trước là nêu, sau giải thích.

Trong phần trước gồm có:

1/ Chủng tánh đầy đủ.

2/ Nhờ bạn nhiếp thọ.

3/ Phần nhiều khởi tâm bi.

Trên nói phát tâm là Đẳng lưu Bi.

Thứ tư, đối với khổ không yếu hèn.”

Hỏi: “Thứ nhất trong bốn duyên trước là thấy Phật, Bồ-tát vận thần thông biến hóa là “duyên”. Nay nói về duyên thứ hai, là nhờ bạn nhiếp thọ, tức nói là nhân, khác nhau ở chỗ nào?”

Pháp sư Cảnh giải thích “Ở trước là xem trực tiếp thần thông biến hóa, cho nên là “duyên”. Nay, được Phật nhiếp thọ, phát sinh văn tuệ, là nhân phát tâm”.

Pháp sư Khuy Cơ nói “Trong “duyên” kia, chỉ thấy hiện thần thông, chứ chưa nhiếp thọ dạy răn. Nay, dạy răn là gần, nên là nhân. Thấy thực hiện thần thông biến hóa là xa, vì không dạy răn, cho nên là “duyên”, thế nên hai nhân, duyên có khác nhau.”

Lại cho rằng: “Thứ ba trong nhân, đối với các chúng sinh, phần nhiều khởi tâm Bi, với sự cứu độ chúng sinh, ở vào thời kiếp mạt thứ tư trong duyên, đâu có khác? Trong “duyên”, chỉ tự sáng lập phát tâm, bảo người khác phát tâm. Trong nhân, thay người khác chịu khổ v.v… vì là gần, nên là nhân.

Trong phần giải thích, có giải thích nhân đầu rằng: “Sáu xứ thù thắng v.v… ”, như trước có giải thích.

Giải thích nhân thứ hai, do chi thiện của bốn tướng đầy đủ, trong đó buông lung thứ hai, buông thả trong cảnh năm dục, không cần hành động về sát v.v…

Ác hạnh thứ ba, nói về sát v.v… Thứ nhất, thứ tư, có thể giải thích.

Thứ ba, nhiều tâm Bi cũng có bốn nhân. Dựa vào bốn cảnh xứ, dù không do tập quán, nhưng vẫn có thể phát khởi Bi hạ, trung, thượng không có dứt mất. Pháp sư Cảnh nói “Chỉ lấy ba trong bốn cảnh, tự trừ, vì chẳng phải cảnh Bi.”

Pháp sư Khuy Cơ nói “Bốn cảnh nghĩa là trước nêu với người, mình chịu khổ v.v… Hoặc thấy mình, hoặc thấy người, tùy theo gặp phải một nỗi khổ, khởi bi phẩm hạ. Hoặc thấy mình người, tùy theo gặp phải một nổi khổ, khởi bi phẩm trung. Hoặc thấy mình người khác cam chịu khổ lớn Vô gián, khởi bi phẩm thượng cứu giúp. Lại, hoặc đối với bốn cảnh, mỗi cảnh đều có thể khởi bi thượng, trung, hạ.”

Luận sư Trắc nói: “Theo văn này để nói, đã nói rằng, dù chưa tập quán, nên biết từ Sơ địa trở lên, được gọi là phát tâm Trì, ở đây chẳng phân biệt thế gian.”

Giải thích thứ tư, đối với nổi khổ không yếu hèn cũng có bốn nhân:

Có năng lực tư duy lực chọn rất dễ hiểu được rằng, từ xưa đến nay, ta không có lợi ích. Với nổi khổ còn có thể chịu đựng, huống chi hôm nay có ích. Nếu có khổ thì nào sợ gì? Dưới đây sẽ nói về bốn lực:

1/ Tự lực. Thế lực của mình thì nhiều, nhờ “duyên” bên ngoài thì ít.

2/ Tha lực. Phần nhiều nhờ “duyên” ngoài, tự lực rất ít, hai thứ này do sức hiện tại, chưa hề tập ở đời trước.

3/ Nhân lực. Đời trước, tu tập pháp lành của Đại thừa: nhờ sức tu tập đời trước, tạm thời thấy Phật v.v… Liền phát tâm ngay, gọi là sức nhân.

4/ Do đối với hiện pháp, trong thời gian dài, tu tập các pháp lành, phát tâm Bồ-đề, gọi là sức gia hạnh.

Phần thứ ba, y cứ vào sức nhân duyên v.v… trước kia, nói về thối, bất thối, trong đó có hai:

  1. “Duyên” vào sức nhân, để nói về thối, bất thối.
  2. Y cứ bốn nhân làm cho thối lui.

Nói: “Nếu các Bồ-tát dựa vào bốn duyên, bốn nhân v.v… chung, riêng ở trên”, cho đến “cũng chẳng phải không có lay động”. Pháp sư Khuy Cơ giải thích: “Ý trong đây nói hoặc trong bốn nhân, bốn duyên trước; hoặc nương riêng một nhân, một duyên; hoặc đều do bốn nhân duyên mà phát tâm, nghĩa là trong bốn sức, chỉ dựa vào hai sức là sức tự nhân. Trong hai sức này, hoặc dựa vào riêng một sức; hoặc đều dựa vào cả hai sức này mà phát tâm, đây đều là vững chắc không nghiêng động. Nếu nương tựa riêng sức người khác và gia hạnh, hoặc dựa chung hai sức mà phát tâm, thì đây đều vững chắc bất động. Nếu sức y tha riêng và gia hạnh hoặc gồm hai năng lực mà phát tâm. Ở đây không vững chắc, cũng chẳng nghiêng động.”

Nếu xét trong bốn duyên, “duyên” ban đầu là gặp Phật, Bồ-tát v.v… Nay, văn này lại dựa vào chung và riêng đều vững chắc không nghiêng động. Tha lực cũng cho là Phật, Bồ-tát. Tha tức là không bền chắc, chẳng thuộc về bất động, ở đây đâu trái nhau. Thuật rằng: không đúng. Tha lực nghĩa là vua và người có sức mạnh bắt buộc phải phát tâm, chẳng phải như thấy Phật, Bồ tát. Thấy Phật, Bồ-tát là tự phát tâm, tự phát tâm này gồm thâu ở trong “duyên”, nên không lay động. Bị người khác bắt buộc phát tâm là vì tha lực, nên thuộc về động, lại, sức gia hạnh là không vững chắc, chẳng thuộc về bất động. Như nhân thứ hai, bạn lành nhiếp thọ trong nhân là gồm thâu kiên cố không lay động. Đây là ý gì?”

Thuật rằng “không đúng! Vì bạn lành nhiếp thọ là thấy công hạnh giáo hóa của Bồ-tát, được gặp duyên tốt tu hành v.v…

Trong giải thích gia hạnh, dù gặp bạn là bực thiện sĩ của thế gian, vì chẳng phải như Bồ-tát, nên có khác nhau. Lại, về nghĩa, lại, y cứ một nghĩa trong đây, xếp vào vững chắc, không lay động v.v…

Như thật, nghĩa là duyên có lay động, không vững chắc trong nhân. Trong gia hạnh khác có bất động v.v… nghĩa là nếu y cứ ở một nghĩa thì khác với luận này.

Kế là, nói về bốn nhân duyên có thể làm cho thối lui tâm Bồ-đề, trái với bốn nhân ở trước. Xét trái lại tức bốn nhân duyên đó. Phần thứ tư nói trong Bồ tát bất thối thắng lợi. Bất thối. Gồm có tám cặp mười sáu lợi, nhưng Pháp sư Cảnh nói: “Có hai trong sáu thứ, vì thể của tạng nhóm pháp môn, là một, nên hợp thành một. Nay vì nghĩa khác nhau, nên chia ra thành ba. Hoặc khai, hoặc hợp, về nghĩa không có tổn hại.

Thứ hai trong cặp thứ nhất, gồm thâu lỗi của quyến thuộc không thể nhiễm. Lỗi có hai thứ: đó là nhiêu ích; tổn giảm, nhiễm ô; trái thuận v.v… đối với quyến thuộc. Luận sư Cơ nói: Đối với trái, khởi tổn, giảm, nhiễm ô, đối với thuận, khởi tăng ích nhiễm ô, nên gọi là hai việc. Nay giải thích: “vì tâm nhiễm ô thuận với lợi ích cho mình, trái với tổn giảm mình.”

Trong cặp thứ hai Pháp sư Cảnh nói: “Lợi ích, nghĩa là nhân lợi cho người, Yên vui, nghĩa là cho người khác quả vui.

Thế, xuất thế, cũng có hai thứ khác nhau. Nay giải thích: “Lợi ích nghĩa là cứu vớt nỗi khổ; yên vui, nghĩa là cho vui.

Thứ ba, có hai gia hạnh:

1/ Gia hạnh ý lạc, tức là ý lạc của phương tiện lợi mình, lợi người., phương tiện ý lạc.

2/ Gia hạnh, chánh hạnh, nghĩa là nghiệp gia hạnh của hai lợi chánh hạnh.

Một đầu trong cặp thứ tám, do phát tâm thú cầu Bồ-đề, tức là ruộng phước mà thế gian tôn trọng. Do sinh, dưỡng pháp thân chúng sinh, nên là cha, mẹ của chúng sinh.

Phần thứ hai không có hại trong lợi, đầu tiên, là giải thích về chín câu, sau là tổng kết.

Trong phần trước, đầu tiên nói về hiện thân được, chẳng phải bị người quấy nhiễu. Pháp sư Cảnh nói: “Nếu là một vị Luân vương, thì có năm trăm quỷ áo xanh bảo vệ. Bồ-tát phát tâm vì không có phiền não ép ngặt, nên được hộ vệ gấp đôi so với Luân vương, tức có một ngàn quỷ theo bảo vệ.”

Luận sư Trắc cho rằng Cựu luận nói: “1/ Thành tựu phước thanh tịnh. 2/ Vua Chuyển Luân được phước, đức che chở. Có hai giải thích:

1. “Phước thù thắng vững chắc: Công đức của Bồ-tát địch lại hai Luân vương, nên gọi là hai, nghĩa là xưa nói ý nghĩa hai Luân vương giống nhau, chấp nhận hộ trì hai Luân vương. Binh chúng và quỷ thần v.v… bảo vệ Bồ-tát phát tâm này”.

2. Lại, giải thích: “Phước, đức của Bồ-tát thù thắng, chẳng phải Luân vương gấp bội kia có thể địch lại, chỉ vì phước xuất thế kia vượt hơn phước thế gian, nên nói là phước, đức của hai Luân vương che chở.

Một Luân vương được một ngàn việc phước thiện, hộ vệ; Bồ-tát phát tâm có hai ngàn, nên nói là hai hộ vệ.

Phần thứ hai, chuyễn thọ sinh thân khác, không bị bệnh nặng. Pháp sư Cảnh nói: “Thông thường phân biệt về thọ sinh có ba:

1. Nghiệp trói buộc ba cõi, nghĩa là Thập Tín trở xuống thọ sinh ba cõi là bị nghiệp trói buộc, thọ mạng dài, ngắn không được tự tại.

2. Nghiệp không trói buộc ba cõi, nghĩa là Bồ-tát Thập Tín trở lên, ngộ tức khắc, đến Thất địa trở xuống thọ phần đoạn, lấy, bỏ tự tại, gọi là nghiệp không trói buộc.

3. Biến hóa ba cõi. Nếu Bồ-tát ngộ tức khắc, dùng trí vô lậu làm “duyên”, nguyện lưu lại thân này suốt trong ba kỳ không diệt, gọi là thân biến dịch.

Bồ-tát giác ngộ dần, như La-hán hồi tâm nhập Đại thừa. Từ Thập Tín trở lên, cho đến Thập địa, chỉ thọ biến dịch. Nếu muốn hóa sinh, chỉ khởi hóa vật đồng loại với Hóa thân.

Phần thứ ba, thực hành lợi tha không có mõi mệt.

Phần thứ tư, chuyễn biến thân, tâm thô nặng trở nên nhẹ nhàng.

Thứ năm, đã sử dụng minh chú đều có linh nghiệm. Pháp sư Cảnh nói: “bài Tụng chú rộng khắp, lời, câu rõ ràng, tức gọi là Minh cú.”

Pháp sư Khuy Cơ nói: “bài Tụng câu chú rộng khắp, minh cú, tức chú có phân biệt sáng tỏ. Hoặc chú này có sức sáng; oai thần lớn, gọi là Minh cú.

Thứ sáu, nhu hoà nhẫn nhục.

Thứ bảy, diệt trừ các phiền não.

Thứ tám, hễ ở chỗ nào tai họa ngang trái đều không khởi.

Thứ chín, hoặc đọa vào đường ác, nhanh chóng thoát khỏi, xót thương người khác. Pháp sư Cơ giải thích: Do Bồ-tát này cho đến được người thủ hộ gấp bội số người hộ vệ vua Chuyển luân, nghĩa là giống như phước của Luân vương v.v… nghĩa là phước các vọng lượng ác không thể gần. Phước không bị bệnh của thân khác; phước mạnh mẽ làm việc nghĩa lợi; phước nói pháp không mỏi mệt; phước thô nặng chuyển thành nhẹ; phước sử dụng chú phần nhiều linh nghiệm, phước hữu tình buồn rầu được như hòa, nhẫn nhục; phước “hoặc” nhẹ mỏng; phước cư trú trong nước không có sợ hãi; phước nhanh chóng thoát khỏi đường ác và phước nhàm chán các nỗi khổ.

Dưới đây là văn kết:

Tất cả như thế, v.v… là kết riêng chín câu đã nói trên. “Phát tâm đầu tiên trở xuống, là két chung chín câu và thắng lợi khác, đều nhân phước nhiếp thọ không có sự não hại mà được.

PHẨM LỢI MÌNH, LỢI NGƯỜI

Từ đây trở xuống, là xong phẩm công đức có mười sáu phẩm, đều là hành phương tiện Trì thứ ba, trong đó: 1- Trước kết, sau hỏi; 2- Giải thích câu hỏi. Giải thích có hai:

  1. Chia ra ba chương.
  2. Dựa vào chương, nói rộng.

Theo giải thích cũ của Pháp sư viễn : “Từ đây trở xuống phương tiện trì có hai:

  1. Năm phẩm đầu, nói về pháp đã học.
  2. Mười một phẩm kế là, nói về học hạnh kia.

Ở đây nói là không đúng, vì theo luận này nói rằng: “Có ba thứ xứ đã học, tức xứ đã học của năm phẩm trước. Một phẩm thứ sáu nói về học như thế chỉ pháp học. Ngoài ra, còn có mười phẩm nói về hạnh của người học, nên nói “nói lược là Bồ-tát”, hoặc xứ đã học; hoặc học như thế; hoặc năng tu học.

Theo phần nói rộng, trước là giải thích năm phẩm; bảy pháp để làm sở học (đối tượng học), trong đó có hai:

  1. Chia chung, và nêu năm phẩm, bảy pháp.
  2. Thế nào là lợi mình, lợi người?” trở xuống, là tùy theo giải thích riêng.

Trong phần trước, gồm có ba:

  1. Hỏi đáp, phát khởi.
  2. Nêu bài kệ tụng .
  3. Văn xuôi sẽ chia năm thành bảy. Lợi mình, lợi người tức chia làm hai. Phẩm thành tựu cũng chia làm hai: a. Thành tựu hữu tình. b. Thành tựu Phật pháp.

Ba phần trên đây đều dựa vào văn xưa.

Từ đây trở xuống trong phần giải thích, lại gom bảy xứ để làm năm phẩm. Lợi mình, lợi người kết hợp giải thích ở đây, chỉ vì ở trước tiêu biểu chung về cương yếu, không có nhiều văn luận, nên đem mục phẩm để xuyên suốt ở đầu đề.

Pháp sư Khuy Cơ nói: “Ở đây chia ra bảy pháp, nên nêu chỗ riêng. Nay, sở dĩ đối với phẩm lợi mình, người được chia ra trước tiên là vì từ phẩm Bồ-đề phần pháp trì nêu ra đầu tiên. Bồ-đề phần pháp trì từ phẩm Trì sau cùng được gọi tên.”

Trắc Luận sư nói: “Bảy pháp theo thứ lớp sinh nhau. Quán hạnh của Bồ-tát lấy việc lợi mình, lợi người làm gốc, cho nên trước nói về lợi mình, lợi người. Vì chính mình không trụ ở điều thiện mà bảo người khác tu là không có việc đó, nên trước mình sau người, vì hạnh phải dựa vào lý, nên sau phẩm tự tha, nói về nghĩa chân thật. Dựa vào chứng ngộ khởi thần thông, khiến chúng sinh sinh sanh niềm tin, nên sau thật nghĩa, thì nói về phẩm Oai Lực. Công dụng của lực đã thành, lý cần phải có đã thành tựu, cho nên, sau oai lực, nói về phẩm Thành tựu. Bồ-tát khởi công hạnh, lấy việc lợi người làm trước, nên trước nói về lợi người, sau mới nói về mình.

Y cứ ở đạo Thắng Tấn, nhân viên mãn sẽ được quả. Đó là lẻ tất nhiên, cho nên sau phẩm thành tựu, sẽ nói về phẩm Vô thượng Bồ-đề.

Trong phần giải thích phẩm đầu, trước chia ra mười môn; kế là, dựa vào môn để biện biệt; sau kết khuyên tu học.

Trong mười môn, Pháp sư Tuệ Viễn gom thành năm cặp:

  1. Một cặp hai, sự khác nhau của đối tượng lợi.
  2. Một cặp hai, thể của lợi không đồng.
  3. Một cặp hai, nói về thời tiết của lợi: Lợi của nhân hiện tại; lợi của quả ở vị lai.
  4. Một cặp hai, đời này, đời khác giao tiếp (quan hệ) nhau xa có khác.
  5. Một cặp sau cùng là Chân, vọng khác nhau.

Trong dựa vào môn để nói, lại có năm đoạn:

1- Giải thích thuần túy và chung, gồm có trước hỏi chung; sau giải thích riêng.

Trong giải thích, trước thuần, sau chung

Trong thuần, đầu tiên, trong giải thích chia ra hai tức là bốn.

Nói hai chương:

  1. Nói thuần lợi mình, lợi người có lỗi nên dứt trừ.
  2. Không có lỗi, nên tu.

Trong giải thích, chia ra hai thành bốn:

I. Nói thuần về lợi mình: Trong đó, Pháp sư Cảnh nói là có mười câu:

1- Vì ưa thích cầu tài. 2- Vì mong cầu pháp. 3- Vì sinh lên cõi trời, thích tu giới, tấn, định, tuệ. Giới, sinh, cõi Dục, định, tuệ sinh lên hai cõi trên. Tinh tấn sinh cả ba cõi, trừ bảy câu rất dễ hiểu.”

Pháp sư Khuy Cơ nói: “Có tám, tùy theo nghĩa, nên biết.

II. Nói về lợi mình cả với người khác: Pháp sư Cảnh nói từ trên đến đây, thứ nhất, giải thích thuần lợi mình. Kế là, kết hợp giải thich về hạnh thuần lợi người . Vì nương theo hạnh lợi mình ở trước, nên tức công hạnh lợi mình chung với người trong phần nói chung. Có hai lượt giải thích. Lượt thứ hai nói: “Lại, trừ các tướng v.v… đã nói như thế, nghĩa là trừ Thí, Nhẫn đã nói ở trước. Ngoài ra, các hạnh giới, Tấn, Định, tuệ v.v… phải biết rằng, đều gọi là lợi mình chung với người.

Pháp sư Khuy Cơ nói ý trong câu nói do khởi trí tuệ, định làm lợi cho người khác, nên cầu Bồ-đề. Vì lợi người nên sinh lên cõi trời, cũng lợi vật, giáo hóa chúng sinh, chứ chẳng phải chấp trời là nguồn vui vượt hơn, cầu sinh lên cõi trời trong nên đoạn như trước. Nay, sinh tức lấy Bi àm hàng đầu, nên tu Thế, Nhẫn v.v… nhằm cầu Bồ-đề, ưa sinh lên cõi trời. Vì đều ưa lợi cho người, nên gọi là lợi mình gồm lợi cho người”.

Nói: “Lại, trừ các tướng đã nói như ở trước, ngoài ra, tất cả v.v… cho đến Bồ-tát ở đây nên siêng tu học về sau”.

Trong đây, trái với chướng lợi mình ở trước, nên chỉ gọi là tự lợi. Nay, luận rằng: “Trái với trước, gọi là lợi mình chung với người, nghĩa là nếu riêng trái với chướng lợi mình, chỉ thực hành hạnh lợi mình thì lẽ ra chỉ là tự lợi, vì tự lợi là chướng, Bồ-tát không làm. Nay, vì nói vì hoài bảo gồm chúng sinh, nên dù trái với lợi mình, cũng có nghĩa lợi người. Trong chướng cũng thế. Nếu chỉ đối với hạnh lợi mình, tức chỉ che lấp lợi mình. Nếu ý muốn gồm chúng sinh, thì cũng có che lấp lợi người, cho nên trong lời người chung với mình được giải thích dưới đây nói rằng: “Lại, trừ các tướng đã nói như trước. Ngoài ra, tất cả có lợi người trái với lợi mình kia, phải biết rằng, các hạnh Bồ-tát đều gọi là lời người chung với mình, tức trái với dùng tà-kiến ở trước để tu bố-thế. Do không có nhân, quả, thấy phạm giới, lìa chánh hạnh, nói pháp cho người nghe.

Hai pháp chỉ che lấp lợi người, vì lợi người gồm mình. Điều này lẽ ra cũng trái với che lấp thuần lợi người, là hạnh thuần lợi.

Nay giải thích: “ý nói có nghĩa gồm chúng sinh, nên dù trái với che lấp hạnh chung cho cả lợi mình, lợi người.

Hai văn trên, dưới giống nhau: Bồ-tát lấy việc lợi người làm gốc, nên chỉ lợi người và lợi chung cho mình, người, chẳng phải che lấp. Nếu lợi mình là che lấp.

III. Nói về thuần lợi người: Trong đó có hai câu có lỗi nên dứt:

1/ Tài kiến tài thí.

2/ Không tin nhân, quả, hủy giới pháp thí. Về sau, có ba câu không có lỗi, nên tu:

1. Các vị Bồ-tát đã vượt qua cõi Dục, do sức bi, nguyện, vì lợi người nên bỏ các Tĩnh lự, trở lai sinh cõi Dục.

2. Các Bồ-tát đã được tự tại, khởi biến hóa, làm lợi cho chúng sinh trong mười phương.

3. Chư Phật đối với công việc của mình đã viên mãn, dựa vào năng lực, vô-úy nhằm thực hành sự nghiệp lợi người trong khắp các thế giới ở mười phương.

Đã nói như thế, trở xuống, là phân biệt với tướng phải quấy nên dứt, nên tu, rất dễ biết. Hai thứ tức hai câu đầu.

IV. Nói về lợi người chung với mình: Rằng: “Lại trừ các tướng v.v… đã nói như trước. Pháp sư Cảnh nói: Trừ ba câu vị tha, xả các tĩnh lự, sinh lại cõi Dục ở trước v.v… lại có ngoài ra lợi người chung với mình, khuyên các Bồ-tát nên siêng năng tu học.

Y theo lời của Pháp sư Khuy Cơ trừ hai pháp tà-kiến tu thí v.v…chỉ chướng ngại lợi người; pháp khác trái với tà-kiến kia là hạnh lợi người gọi là lợi người chung với mình.

Trong giải thích lợi ích, yên vui, lại chia làm ba:

Trước, giải-thích riêng hai tướng lợi lạc, Kế là, y cứ chung hai thứ để nói cho, và không cho. Sau, tổng kết.

Trong phần trước, trước là giải thích về tướng lợi-ích. Pháp sư Cơ nói chủng-loại lợi-ích cho mình, người, nghĩa là một pháp tự làm, khiến người khác làm; vì một chủng loại của mình, người thực hành một pháp, gọi là chủng loại.

Bốn pháp thọ, nghĩa là đời này, đời khác, vui, khổ, chung thành bốn câu, gọi là pháp thọ.

Như quyết trạch dưới đây, y cứ vào sự giàu sang, nghèo hèn, giữ giới, hủy giới để nói bốn câu.

Hỏi: “Trong đây nói về chủng-loại lợi mình, lợi người, vì sao pháp thọ thứ tư ở đời này, đời khác, đều chẳng phải lợi ích, đều là khổ-thọ đã nói trong đây ư?”.

Pháp sư Khuy Cơ nói Bồ-tát không dùng pháp thọ thứ tư để đem lại lợi ích cho mình, người. Hoặc vì việc làm này không có lợi ích thiết thực cho mình và người, nên Bồ-tát có ý không làm. Lại dùng bốn pháp thọ tin là lợi mình, vì biết có thể thực hành, không thể thực hành, nên cũng trao cho người cũng biết có thể thực hành, không thể thực hành. Mình và người đều biết có thể thực hành, không thực hành, cho nên, đều cùng vì lợi ích.

Tất cả Niết-bàn trong tướng thứ năm và được Niết-bàn thế gian, xuất thế gian v.v… nghĩa là tức đạo thế xuất thế lấy Niết-bàn và chứng đắc Niết-bàn, đều gọi là vắng lặng”.

Pháp sư Khuy Cơ nói Đây là nêu việc thứ hai, thứ ba ở trước, chính là nói rộng về ý không lấy việc thứ nhất, thứ tư”.

Luận sư Trắc nói: Ba nghiệp lợi mình, lợi người không có tội trong năm tướng này lấy mười điều thiện làm thể. Nhiếp-thọ lấy niềm vui của Dị-thục vô-ký v.v… thuộc có nhiễm-ô và ba thọ: Hỷ, Lạc, Xả làm Thể.

Làm sao được biết Xả-thọ không có tội, gọi là lạc? Văn dưới đây nói rằng, Lạc thọ hữu lậu chung cho trói buộc ba cõi, cho nên biết được Xả-thọ cũng gọi là lạc. Hoặc năm trần thuộc về chúng cụ và các định, Hỷ, Lạc, Xả thọ.

Nói “Niềm vui của đời này, đời khác. Nghĩa là bốn pháp, trong văn bốn pháp một phần đời nay khổ đời sau vui hoàn toàn lấy niền vui của hai đời.

Hai câu là thể của hai nghiệp, vì sao không lấy niềm vui của đời này và nỗi khổ của đời sau? Lấy nhân khổ đời sau trong niềm vui của đời này tức là bất thiện, cho nên không lấy. Hoặc có thể nói rộng về niềm vui của đời này, nghĩa là trong đó cũng có niềm vui của thiện, VôKý, cho nên, cũng lấy một phần nhỏ.

Niềm vui vắng lặng, nghĩa là dùng Niết-bàn và chủ thể được năm thư đạo như tư-lương Niết-bàn v.v… ”.

Hỏi: “Niềm vui không có tội phải chăng chính là niềm vui của nhiếp thọ?”

Giải thích: “chia ra làm bốn trường hợp:

1/ Hoặc có tội, không tội chẳng phải nhiếp thọ, nghĩa là ưu khổ tương ứng với điều thiện.

2/ Hoặc có nhiếp thọ chẳng phải không có tội, nghĩa là niềm vui v.v… không có nhiễm ô thuộc về tội vô-ký.

3/ Hoặc có đủ hai trường hợp, rất dễ biết.

4/ hoặc chẳng phải hai niềm vui, trừ ngần ấy việc như trên. Đối với các trường hợp khác, so với hai quan điểm này rất dễ hiểu.

Kế là, giải thích về tướng yên vui, đại khái phát ra thể tánh của năm thứ yên vui:

1/ Nhân vui. Pháp sư Cơ nói: “Lấy ba pháp làm thể, nghĩa là thuận với nghiệp quả vui và hai pháp căn trần, chủ thể sinh thuận với xúc, lạc, thọ. Ba thứ này là thể của nhân, quả tức chung cả tánh của năm uẩn. Do lấy chung thuận với nghiệp quả vui tương ưng chung, đều Nhân thể của niềm vui chung cho cả năm uẩn làm thể.”

Luận sư Trắc nói: “Thể của Nhân, quả do thuận với năm căn, sáu trần, sáu xúc của Lạc thọ và cảm nghiệp quả đáng yêu của hai đời hiện pháp, đương lai.”

Lại, giải thích:

1/ “Hiện, Đương là nêu nhân.

2/ Thọ lạc. Pháp sư Khuy Cơ nói: “Tức hỷ, lạc thọ chung cho hữu lậu, vô lậu là thể của thọ.”

Luận sư Trắc nói: “Tự tánh của ba thọ là thể, nghĩa là Hỷ, lạc, xả. Vì lẻ gi được biết? Vì văn dưới đây nói là trói buộc ba cõi, nên biết được cũng lấy xả, hỷ làm thể.

3/ Khổ đối trị với lạc. Pháp sư Khuy Cơ nói: “Như văn, nghĩa là nổi khổ lạnh, nóng v.v… thôi dứt mà sinh khởi giác lạc, tức lấy tuệ làm thể của lạc đối trị với khổ. Lại, vì nghĩa xứ của khổ là không, nên nói là lạc này, chứ chẳng phải thật sự có thể. Trong văn trở xuống, là tự sẽ lựa chọn, tức tùy đối tượng thích hợp, hoặc chung cho cả năm uẩn là thể của thọ này.”

Luận sư Trắc nói: “Xưa nói: “Lấy ỷ lạc làm thể”, cho nên, luận nói: “Tức với nổi khổ như thế khi dứt diệt, sinh khởi giác lạc, đây gọi là lạc đối trị khổ. Mặt khác nói do chủ thể dứt khổ, các vật như áo cơm v.v… làm Thể tánh.”

Ý Ngài Tam Tạng sẽ còn giải thích sau.

4/ Thọ Đoạn Lạc. Pháp sư Cơ nói: “Tức lấy Tưởng, thọ diệt Định làm Thể của Lạc, tức là lập diệt định trên hạt giống của tâm nhàm chán, đều là Thể của lạc này.”

Luận nói: “Lấy định làm thể của lạc”

5/ Niềm vui không có não hại, có bốn thứ:

a) Niềm vui xuất ly. Pháp sư Cảnh nói: “Xuất gia lấy tín, giới làm thể”

Pháp sư Cơ nói: “Tức người xuất gia, văn kết dưới đây nói: “Vì vì năng thuận theo, tức thuận theo niềm vui Bồ-đề.

3/ Niềm vui Xa lìa, nghĩa là được ly sinh hỷ, lạc trong Sơ thiền. Pháp sư Cảnh nói: “Năm chi đều đúng”. Pháp sư Cơ nói: “Tức lấy số thọ làm thể”

Niềm vui vắng lặng. Văn nói: “Nhị thiền trở lên, các Tầm, Từ thôi dứt, gọi là niềm vui vắng lặng. Pháp sư Cảnh nói: “Bốn chi, năm chi đều đúng”.

Pháp sư Cơ nói: “Tức do đệ Nhị thiền trở lên, Định là thể của niềm vui này, vì loại trừ Tầm, Từ nên cũng lấy tuệ làm thể cho niềm vui.

4/ Niềm vui của ba Bồ-đề. Pháp sư Cơ nói: “Tức chánh giác, nghĩa là niềm vui của trí vô phân biệt; hoặc lấy chung trí Hậu đắc làm thể của niềm vui này, do dứt “hoặc” mà được trí này. Đã được vui Niết-bàn vô vi, là gồm thâu niềm vui này. Vì chứng vắng lặng nên nói là tịch diệt. Từ gồm thâu tâm, tâm sở là thể tánh của năm thứ lạc. Lại năm thứ lạc này đều là hữu vi, không nói vô vi, nên không lấy niềm vui vắng lặng của Niết-bàn.”

Luận sư Trắc nói: “Trong niềm vui không não hại có bốn thứ:

Một thứ đầu lấy giới làm Thể; Hai thứ kế là là Định; một thứ sau, là tuệ và đoạn. Vì thế, nên Nhiếp luận và Luận này nói: “Hai đoạn, hai trí, gọi là Bồ-đề.

Trong đây, nếu y cứ ở nhân quả để phân biệt, thì Luận sư Trắc nói: “Dùng tướng thô để phân biệt khổ đối trị vui, chỉ nhân, chẳng phải quả, bốn thứ vui còn lại, đều chung cho cả nhân quả. Ba thứ trước trong bốn thứ vui không não hại của quả kia, đều là nhân, một thứ vui sau là quả. Y cứ ở tướng tế để phân biệt khổ đối trị vui, cũng chung cho cả nhân quả. Chẳng hạn, dùng hoá thân để thọ thân cá to v.v… dứt nổi khổ não đói khát của chúng sinh, tức là đối trị v.v… nên chung cho quả Phật.

Ba thứ vui không có não hại ở trước, thật sự cũng có cả nhân, quả. Lại, nếu y cứ ở hữu lậu, vô lậu để phân biệt, thì dùng tướng thô để phân biệt khổ đối trị vui, hoàn toàn hữu lậu. Thọ dứt niềm vui hoàn toàn vô lậu, ba thứ khác chung cho cả hữu lậu, vô lậu. Nếu y cứ tế để phân biệt, thì khổ đối trị với vui, cũng chung cho cả vô lậu, vì chung cả quả vị Phật.

Trong văn nói nhân niềm vui, nghĩa là phẩm nhị lạc v.v… Luận sư Cảnh nói: “Có hai nghĩa vô lậu: hoặc hai niềm vui của thân, tâm, dưới đây nêu ra nhân của niềm vui. Cảnh giới của các căn, nếu lấy nhân này làm nhân, thuận với xúc, lạc, thọ và bốn pháp của nghiệp quả của niềm vui đáng yêu làm nhân.”

Pháp sư Cơ nói: “Ở đây nói nhân niềm vui, là cho vui làm nhân, tức là nhân niềm vui. Nghĩa là hai pháp căn, cảnh năng sanh ra lạc thọ, nên gọi là hai pháp, là nhân của niềm vui. Lại, căn, cảnh cũng có thể sinh thuận với xúc khổ thọ. Nay, lấy sinh thuận với căn cảnh của xúc lạc”.

Vì căn cảnh ở trong phần vị lạc thọ, nên có phẩm nói: “Lại giải thích về phẩm Nhị lạc, tức trong tự tánh lạc, niềm vui hữu lậu, vô lậu là hai, lại, niềm vui của thân, tâm là hai.”

Nay trong văn nói căn, cảnh là nhân, chủ thể sinh hai thứ vui của thân, tâm hữu lậu, vô lậu, không cho căn cảnh làm hai, chỉ dùng làm nhân, ý nói quả đã sinh, nghĩa là niềm vui hữu lậu, vô lậu lấy nhân “năng sinh”; căn, cảnh là nhân của niềm vui.

Lại, phẩm Nhị lạc lấy quả của thân, tâm hữu lậu, vô lậu ở trước, cả hai đều lấy việc nhân hai căn cảnh để làm phẩm Nhị lạc. Dù nêu quả vui, nhưng ý lấy nhân vui.

Nói thọ Niềm vui, nghĩa là đối với khổ dứt, do ba nhân duyên thuộc về nhân niềm vui đã nói trước đây, cho nên ngang đồng. Pháp sư Cơ nói: Ba nhân-duyên, tức hai căn cảnh và thuận với nghiệp quả vui là ba.

Lại, giải thích riêng, lấy nghĩa riêng như trước. Luận phân biệt các niềm vui là trong tự tánh phi tự tánh. Luận sư Cảnh nói: “Quan hệ của ba cõi, nghĩa là Hỷ, Lạc của cõi Dục đều gọi là niềm vui. Bốn chi của Sơ, Nhị Tĩnh lự trong năm chi có chung hỷ, lạc, nghĩa là đồng là Hỷ thọ. Y cứ chỗ khiến cho biên vui vẻ, thích hợp của ý-thức, làm cho A-lại-da vừa ý vui vẻ; hoặc khiến năm căn sở y thích hợp vui vẻ, gọi là lạc.

Nay, nói Lạc, Thọ, Hỷ cũng gọi là lạc. Lại, Sơ-Tĩnh lự có niềm vui của ba thức thân. Tĩnh lự thứ ba, có niềm vui của ý thức. Định thứ tư trở lên, chỉ xả không có lạc, mà nói là niềm vui trói buộc ba cõi Dục, Sắc, Vô Sắc ấy là vì Xả-thọ kia nhiếp ích thân, tâm, gọi là chung là lạc.

Khổ đối trị lạc, cho đến tức đối với nỗi khổ về lạnh, nóng, đói, khát như thế, khi dứt diệt, sẽ sinh khởi giác biết niềm vui. Luận sư Cảnh nói rằng: “Như lạnh gặp lửa, như đói được ăn, uống nước, gọi là đối trị khổ, là sẽ lấy lửa và thức uống ăn v.v… gọi là lạc đối trị khổ hay là sẽ lấy lửa kia v.v… mà sinh lạc thọ, gọi là khổ đối trị lạc? Nếu lấy lửa v.v… thì sẽ chẳng khác với nhân vui ở trước. Nghĩa là căn, trần v.v… năng sinh ra Lạc-thọ, gọi là nhân vui. Nếu lấy lửa v.v… đã sinh lạc-thọ làm thể, thì chẳng khác gì thọ niềm vui?.

Trong đoạn kết dưới đây nói: “Khổ đối trị vui, dứt khổ, gọi là vui, chứ chẳng phải vì nhân của niềm vui, nên chẳng phải tự tánh của lạc?”

Đáp: “Tức lấy lửa v.v… đã sinh lạc thọ đồng thời vói tuệ thường giác biết khổ diệt, gọi là đối trị khổ? Cũng có thể như lúc bị nổi khổ đói, khát quá ép ngặt, khổ não, được thức ăn uống dỡ thì trừ nỗi khổ đói khát cũng se không thấy được vui, mà chỉ sinh xả thọ. Xả thọ tương ưng với tuệ, thường giác biết không có nổi khổ đói, khát v.v… gọi là khổ đối trị vui.

Định diệt tưởng thọ, nhất định gọi là thọ đoạn vui. Pháp sư Cảnh nói: “Do dựa vào đạo lý của hành khổ thắng nghĩa, ý thức xả thọ là Hành khổ Thắng nghĩa. Khi trụ diệt định, hành khổ thắng nghĩa này vì tạm thời vắng lặng, nên gọi là lạc, thật ra không có ý thức giác biết thọ dứt niềm vui.”

Hỏi: “Diệt phi tưởng, đi qua quán vô lậu, nhập Diệt Định, Diệt Định Vô lậu, đây chỉ là diệt thể của thọ vô lậu. Dù còn sinh diệt, nhưng chẳng phải hành khổ, sao lại nói khi trụ diệt định là khổ thắng nghĩa?”

Giải thích: “Khi trụ diệt định là sắp diệt tâm vô lậu và tâm sở; diệt xa xả thọ hữu lậu của Phi tưởng. Nay, y cứ ở diệt xa, gọi là diệt hữu lậu. Dùng tưởng Bi để Xả thọ vi tế, chủ yếu là khi ở trong quán, quán khổ đế mới nhận biết được Xả thọ của Phi tưởng chính là hành khổ kia, gọi là khổ thắng nghĩa. Lại nói: “Như vô vi kia, thật ra là đạo Vô gián đã được tưởng thọ diệt vô vi, mãi cho đến thời gian sau mới được định kia. Khi được định rồi, vì phải ngay thời gian của đạo Vô gián trước mà được, nên gọi là tưởng thọ vô vi.

Nay, ở đây cũng thế. Định là gia hạnh vô lậu, chứ chẳng phải hữu lậu. Vì từ xa nhàm chán mà được gọi tên, nên gọi là nhàm chán khổ. Dù tâm xa, nhưng cũng là thiện hữu lậu, do lý thắng nghĩa, nên cũng là khổ. Hầu hết những niềm vui không có não hại có được khác, nghĩa là niềm vui xuất ly; niềm vui xa lìa và vui vắng lặng đều là thuận theo niềm vui Bồ-đề. Vì là niềm vui Bồ-đề, và vì dẫn sinh niềm vui của Bồ-đề, nên gọi là niềm vui không có não hại.

Từ đây trở xuống, là thứ hai, y cứ tổng quát hai thứ nói cho, và không cho, trong đó có hai:

1/ Nói về nghĩa đến cho chúng sinh niềm vui có lợi ích, không cho chúng sinh niềm vui không có lợi ích.

2/ Nói về Bồ-tát cũng tự tùy sức thọ học tu hành.

Trong phần trước lại có hai: Trước chung, sau riêng. Trong phần riêng lại có hai:

1. Nói về nổi khổ, niềm vui, tùy theo thứ nào có ích, sẽ trao cho, không tùy theo sự ưa thích.

2. Y cứ vào năm thứ vui, nói về cho, không cho.

Trong phần trước lại có ba:

1/ Nói Bồ-tát dùng tuệ để biết rõ, khuyên chúng sinh nên bỏ thú vui vô ích.

2/ Nói về những niềm vui nào đem lại lợi ích chung, dù không có ưa thích, nhưng vẫn nên xả cho họ.

3/ Nói có thứ vui vô ích, nên tước đoạt.

“Vì sao?” trở xuống, là giải thích lại về nghĩa cho đoạt, cho nên, Bồ-tát đối với các chúng sinh, nếu thứ vui lợi ích, phải biết ỳ nghĩa, tức ưa yên vui. Ưa là ưa muốn, ưa muốn cho người khác lợi ích, tức kèm ưa muốn cho người khác sự yên vui. Đây là tâm phương tiện trước cho người khác lợi lạc.

Nói: “Đối với chúng sinh, nếu cho lợi ích, phải biết ý nghĩa, tức cho sự yên vui” trở xuống, là chính nói về việc cho lợi ích yên vui.

Dưới đây, sẽ y cứ ở năm thứ vui, mà nói về cho, không cho. Phải biết rằng tất cả hiện pháp nhân vui thuộc về quả đáng yêu ở đương lai, cho đến thứ vui được thích nghi thì nên trao cho các chúng sinh.”

Pháp sư Cảnh nói: “Một phần trong ba thứ vui, toàn phần trao cho, vì không có tội. Đối với chúng sinh kia tiếp nhận niềm vui và niềm vui nhân, quả thuộc về căn, trần, xúc, hoặc không cho, như văn rất dễ hiểu.”

Pháp sư Khuy Cơ nói: Trong đây giải thích năm thứ vui ở trước, nên tư duy, lựa chọn nghĩa có thể cho, không thể cho chúng sinh. Nếu lấy nghiệp thuận với niềm vui trong thứ vui của nhân thứ nhất, thì niềm vui thứ ba, thứ tư, thứ năm nên hoàn cho hết chúng sinh, không nên tư duy, lựa chọn. Hai phẩm căn, cảnh trong nhân vui của người kia và tiếp nhận niềm vui thứ hai, nên quán có thể cho, không thể cho mới cho chúng sinh. Trong đây có trở ngại, như khổ thứ ba dứt trừ niềm vui. Có một chúng sinh ở trước vì nghèo khổ, không thể gây ra tội. Bồ-tát vì dứt trừ khổ, trao cho họ của báu. Đã được của báu họ bèn buông lung gây ra các tội v.v… há lúc không trao cho họ niềm vui này, có thể sinh các tội, sinh các thứ nhiễm. Lại, niềm vui, vui vắng lặng trong niềm vui không có não hại là định của cõi Sắc, cũng chung cho hữu lậu là pháp hữu vi. Nếu trao cho chúng sinh, chúng sinh được niềm vui không bỏ. Dù sinh lên cõi Sắc, khởi tham vị định, không học pháp nội, chấp là Niết-bàn. Về sau lại đọa vào đường ác; chúng sinh được niềm vui, chẳng phải không có tội, chẳng phải không có nhiễm. Vì sao không đồng nhận niềm vui, quán chúng sinh kia có thể cho, không thể cho mà nói là đối với chúng sinh hoàn toàn trao cho ư?”

Lại, chung cho hữu lậu, vô lậu trong tự tánh của Lạc thọ, vì sao không nói hữu lậu? Vì phân biệt lựa chọn tư duy vô lậu, thì hoàn toàn trao cho. Như chúng sinh kia nhân niềm vui, thuận với nghiệp quả vui, thì hoàn toàn trao cho, còn căn trần nhận niềm vui, thì không trao cho chúng sinh kia nhân niềm vui có hai thứ: có cho, không cho. Tiếp nhận niềm vui đã có hai thứ, cũng nên cho, không cho. Đại sư Tuệ Viễn nói: “Thuận với nghiệp vui, gồm thâu quyết định kia, lẽ ra nên cho, nên nói là quyết định lợi ích, tức có chúng sinh khởi thuận với nghiệp khổ, Bồtát không trao cho. Ngược lại, nếu khởi thuận với nghiệp vui, thì quyết định nên cho. Thế nên thọ vô lậu trong thọ lạc kia, là gồm thâu quyết định nên đem lại lợi ích cho chúng sinh, vì không thể hết; không được nói riêng, vì đối tượng giáo hóa vô lượng. Như bốn thiền, quyết định nên cho, cho thọ vô lậu thì không đúng.”

Hỏi: “Nếu có căn thành thục, muốn nhập Kiến Đế có thể cho vô lậu, cũng là quyết định, vì sao không cho? Theo cách giải thích trước đây thì không đúng”

Nghĩa là “Nếu y theo ở thật lý thì trong tự tánh của Thọ, cũng được như nhân niềm vui phân biệt, chỉ vì có tánh, không có tánh khác nhau, nên thọ vô lậu không nên hoàn toàn cho. Lại, vì có thể nhập Địa, không thể nhập Địa khác nhau cho nên không nên hoàn toàn quyết định trao cho. Dù khiến người nhập Địa hoàn toàn nên trao cho, vì cho không khiến nhập tương đối, nên nói là không được so sánh.”

Nếu vậy, niềm vui dứt thọ với niềm vui không có não hại làm sao thông suốt?”

Đáp: “Tư duy hữu lậu, vô lậu, vì có tánh thọ riêng, nên không đồng, vì thể của niềm vui có ba thứ được phân biệt. Lại, dứt thọ lạc v.v… hoàn toàn trao cho, chỉ y cứ khiến được nhập, tức biết đã chỉ bày rõ thọ vô lậu cũng kết hợp trao cho, vì văn ảnh hiển bày nên không nói là thọ lạc.

 

Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.