Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

DI SA TẮC NGŨ PHẦN GIỚI BỔN

(BIỆT BẢN)

Hán dịch: Đời Lưu Tống, Tam tạng Phật Đà Thập, người nước Kế Tân.
Việt dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh

 

Đại đức Tăng lắng nghe! Đang là mùa Xuân, còn thiếu một đêm thì một tháng trôi qua, còn lại ba tháng có dư một đêm. Sự già chết đến rất gần, pháp Phật sắp hủy diệt. Các Đại đức vì sự đắc đạo nên phải chuyên tâm, tinh tấn. Vì sao phải như vậy? Chư Phật nhờ nhất tâm, tinh tấn, nên chứng đắc Chánh đẳng Chánh giác Vô thượng, huống chi là các pháp thiện khác.

Nay, Tăng đã hòa hợp, người chưa thọ giới Cụ túc đã ra khỏi đây, trước hết xin hỏi Tăng hòa hợp để làm việc gì? (Một người thưa để Bốtát thuyết giới). Các Đại đức! Các Tỳ-kheo không đến, có thuyết dục và thanh tịnh? (Một người thưa đã thuyết dục xong)

Cung kính chấp đôi tay
Cúng dường Đấng Thích Tôn
Tôi nay sắp nói giới
Tăng một lòng lắng nghe.
Dù là một tội nhỏ
Tâm phải lo sợ lớn
Luôn nhất tâm sám hối
Sau đừng tái phạm nữa.
Tâm ngựa chạy đường ác
Buông lung khó kìm chế
Phật giảng nói giới pháp
Cũng như cương hàm bén.
Từ miệng Phật giáo giới
Người thiện luôn tin nhận
Người này ngựa điều thuận
Phá được quân phiền não.
Nếu không tuân lời dạy
Cũng không yêu thích giới
Người này ngựa không điều
Chìm trong quân phiền não.
Là người giữ gìn giới
Như trâu mao thương đuôi
Buộc tâm không phóng dật
Như khỉ bị xiềng giữ xích.
Ngày đêm thường tinh tấn
Cầu trí tuệ chân thật
Người này trong pháp Phật
Được mạng sống thanh tịnh.

Đại đức Tăng lắng nghe! Nay là ngày mười lăm Bố-tát, Thuyết giới. Tăng một lòng chí thành Bố-tát, Thuyết giới. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp nhận nghe giới thì một lòng cùng nhau chí thành Bố-tát. Đây là lời tác bạch! Các Đại đức! Nay Bố-tát nói Ba-lađề-mộc-xoa, xin tất cả cùng lắng nghe, khéo tư duy để nghĩ đến giới. Nếu có tội thì phải phát lồ, ai không tội thì im lặng. Do im lặng nên nhận biết được toi và các Đại đức thanh tịnh. Như vị Thánh im lặng, tôi và các Đại đức cũng im lặng như vị Thánh. Hỏi các Tỳ-kheo trong chúng Ba lần như vậy, nếu nhớ mình có tội mà không phát lồ thì phạm tội cố ý vọng ngữ. Tội cố ý vọng ngữ, như lời Phật dạy là tội ngăn cách đạo pháp. Người giải bày sám hối là người được niềm vui an ổn. Không giải bày sám hối tội chồng chất thêm sâu.

Các Đại đức! Tôi đã nói tựa Giới kinh rồi, nay hỏi các Đại đức trong chúng đây thanh tịnh không? (Lần thứ hai, lần thứ ba cũng hỏi như vậy). Trong chúng này, các Đại đức thanh tịnh, nên im lặng, việc này tôi ghi nhận như vậy.

BỐN PHÁP BA LA DI

Các Đại đức! Đây là bốn pháp Ba-la-di, cứ mỗi nửa tháng đều tụng theo Giới kinh:

1. Nếu Tỳ-kheo cùng với các Tỳ-kheo đồng học giới pháp nhưng giới bị suy yếu không xả, lén lút hành dâm kể cả hành dâm với loài súc sinh, Tỳ-kheo này phạm Ba-la-di không được sống chung.

2. Nếu Tỳ-kheo, hoặc trong xóm làng hoặc chỗ hoang vắng, có tâm trộm cắp, vật không cho mà lấy. Nếu Vua hay Đại thần hành xử hoặc bắt, hoặc trói, hoặc giết, hoặc đày ải, mắng: “Ông là đồ giặc, loại tiểu nhân, loại ngu si”, Tỳ-kheo này phạm Ba-la-di không được sống chung.

3. Nếu Tỳ-kheo, đối với người hoặc giống như người, hoặc tự mình giết hoặc đưa dao, hay trao thuốc độc để giết, hoặc hướng dẫn người khác giết, hoặc chỉ cách họ tự sát, đề cao cái chết, ca ngợi sự chết: “Này người kia! Khổ sở như vậy sống mà làm gì, thà chết còn hơn sống”. Như vậy, tùy theo tâm sát hại mà sinh khởi tâm như thế để rồi tạo ra mọi nhân duyên mà giết, do vậy, người kia phải chết. Tỳ-kheo này phạm Ba-la-di, không được sống chung.

4. Nếu Tỳ-kheo, không biết, không thấy “pháp vượt hơn người” hoàn toàn đầy đủ lợi ích của bậc Thánh, lại tự xưng: Tôi biết như vậy, tôi thấy như vậy. Thời gian sau, Tỳ-kheo này, hoặc được hỏi hay không được hỏi, vì lý do muốn trừ bỏ tội để cầu thanh tịnh nên tự giải bày: Tôi không biết nói biết, tôi không thấy nói thấy, hoàn toàn dối trá, vọng ngữ, trừ tăng thượng mạn, Tỳ-kheo này phạm Ba-la-di không được sống chung.

Bạch các Đại đức! Tôi đã nói bốn pháp Ba-la-di. Tỳ-kheo nào phạm mỗi một giới thì không được sống chung với chư Tăng, giống như trước kia sống đời thế tục, sau khi phạm tội cũng như vậy. Tỳ-kheo này đã phạm tội Ba-la-di, không được sống chung với Tăng. Nay hỏi các Đại đức trong các giới này thanh tịnh không? (Lần thứ hai, lần thứ ba cũng hỏi như vậy).

Các Đại đức, trong các giới này đều thanh tịnh, do các vị im lặng nên việc này tôi ghi nhận như vậy.

13 PHÁP TĂNG GIÀ BÀ THI SA

Bạch các Đại đức! Đây là mười ba pháp Tăng-già-bà-thi-sa, cứ mỗi nửa tháng đều tụng theo Giới kinh.

1. Tỳ-kheo nào cố ý xuất bất tịnh, trừ mộng tinh, phạm Tăng-giàbà-thi-sa.

2. Tỳ-kheo nào dục tình quá mạnh làm xáo trộn tâm hồn, xúc chạm thân người nữ, hoặc nắm tay, vuốt tóc, hoặc nắm bất cứ chỗ nào nơi da thịt họ, xoa rờ, đắm say sự trơn láng mịn màng, phạm Tăng-giàbà-thi-sa.

3. Tỳ-kheo nào dục tình quá mạnh làm xáo trộn tâm hồn, nói với người nữ những lời thô bỉ, đem các điều dâm dục ra nói, phạm Tănggià-bà-thi-sa.

4. Tỳ-kheo nào dục tình quá mạnh làm cho tâm hồn bị xáo trộn, tìm đến người nữ, tự đề cao thân nói: Cô em! Hãy cúng dường cho tôi sự dâm dục, đây là sự cúng dường hạng nhất, phạm Tăng-già-bà-thi-sa.

5. Nếu Tỳ-kheo làm việc mai mối hay làm việc thông đồng giữa trai gái, đem ý muốn người nam đến nói với người nữ, đem ý muốn người nữ đến nói với người nam dẫn đến chỉ một lần họ giao hội, phạm Tăng-già-bà-thi-sa.

6. Nếu Tỳ-kheo, không có ai giúp đỡ, tự xin vật liệu làm nhà cho mình, nên phải làm đúng lượng quy định: bề dài mười hai gang tay Phật, bề rộng bảy gang tay Phật, phải đến các Tỳ-kheo xin chỗ làm thất. Các Tỳ-kheo nên chỉ nơi cất, chỗ này không có cách trở hay các nạn, phải có lối đi v.v… Nếu không đến các Tỳ-kheo xin chỉ chỗ để xây dựng hoặc làm thất quá lượng định, phạm Tăng-già-bà-thi-sa.

7. Nếu Tỳ-kheo, có thí chủ giúp đỡ làm phòng nhà cho mình, phải đến các Tỳ-kheo xin chỗ để cất. Các Tỳ-kheo nên chỉ chỗ xây dựng, nơi đây không có các nạn, có đường đi lại v.v… Nếu không đến các Tỳ-kheo xin địa điểm xây cất, phạm Tăng-già-bà-thi-sa.

8. Nếu Tỳ-kheo, tự mình sân hận, ác kiến, không đúng như pháp, đem giới Ba-la-di không căn cứ để hủy báng Tỳ-kheo không phạm Bala-di nhằm phá hoại phạm hạnh của vị kia. Thời gian sau, Tỳ-kheo này, hoặc được hỏi hay không được hỏi, bảo: Sự việc tôi nói đó là không cơ sở, không căn cứ, vì sân hận mà hủy báng thôi, phạm Tăng-già-bà-thisa.

9. Nếu Tỳ-kheo, không đúng như pháp, tự thân vì ác kiến, sân hận nên từ trong phần việc khác nhau lấy ra một phần nhỏ hay khía cạnh tương tự rồi quy hết thành tội Ba-la-di để hủy báng Tỳ-kheo không phạm Ba-la-di nhằm phá hoại phạm hạnh vị kia. Thời gian sau, Tỳkheo này, hoặc được hỏi hay không được hỏi, bảo: Sự việc tôi nói trước đây chỉ là một chi tiết nhỏ chuyện tương tợ, một khía cạnh trong phần việc khác nhau, tôi lấy ra thôi. Vì sân hận tôi nên hủy báng như thế, phạm Tăng-già-bà-thi-sa.

10. Tỳ-kheo nào phá hòa hợp Tăng, thì phương tiện cần đến là các Tỳ-kheo phải đem lời khuyên Tỳ-kheo kia: Thầy đừng làm việc phá hòa hợp Tăng, tìm phương tiện nên cùng Tăng hòa hợp. Tăng hòa hợp thì được sự hoan hỷ không tranh cãi. Một lòng cùng học một thầy, như nước, sữa hòa hợp, cùng nhau truyền bá hạnh an lạc mà đức Đạo sư đã dạy. Can gián như vậy, Tỳ-kheo kia vẫn kiên trì không từ bỏ thì nên can gián lần thứ hai, lần thứ ba. Lần thứ hai, lần thứ ba can gián, nếu từ bỏ thì tốt, nếu không bỏ, thì Tỳ-kheo kia phạm Tăng-già-bà-thi-sa.

11. Tỳ-kheo nào hỗ trợ để phá hòa hợp Tăng, hoặc hai người, hoặc ba người, hoặc số đông, nói với các Tỳ-kheo: “Điều Tỳ-kheo này nói ra, thì đấy có biết mới nói chứ chẳng phải không biết mà nói, nói đúng pháp không nói sai pháp, nói đúng luật không nói sai luật. Tâm chúng tôi vui chấp nhận bao nhiêu điều đã nói ra”. Các Tỳ-kheo khuyên Tỳkheo kia: Thầy đừng nên nói: “Vấn đề Tỳ-kheo này nói ra thì thật biết mới nói, chứ chẳng phải không biết mà nói, nói đúng pháp không nói sai pháp, nói đúng luật không nói sai luật. Tâm chúng tôi vui, chấp nhận bao nhiêu điều đã nói”. Tại sao vậy? Vì chính đây là Tỳ-kheo chẳng biết gì mà nói, không nói đúng pháp, không nói đúng luật. Thầy chớ nên thích thú hỗ trợ phá hòa hợp Tăng. Nên vui mừng hỗ trợ Tăng hòa hợp. Tăng được hòa hợp thì được hoan hỷ không tranh cãi. Một lòng, cùng học một thầy, một giới không hai, như nước, sữa hòa hợp, cùng nhau truyền bá hạnh an lạc mà Đạo sư đã dạy. Can gián như vậy, vị ấy vẫn cố chấp không từ bỏ thì nên can gián lần thứ hai, lần thứ ba. Lần thứ hai, lần thứ ba can gián nếu bỏ thì tốt, không bỏ, thì vị ấy phạm Tăng-già-bà-thi-sa.

12. Tỳ-kheo nào tánh tình hung ác, khó hòa thuận, cùng học kinh luật với các Tỳ-kheo, chuyện gây gổ, phạm tội thường thường xảy ra. Các Tỳ-kheo như pháp, như luật khuyên can sự phạm tội của vị kia. Vị ấy đáp: Đại đức! Thầy đừng nói với tôi điều gì hoặc tốt hoặc xấu. Tôi cũng không đem việc tốt, xấu nói làm gì. Các Tỳ-kheo lại bảo vị kia: Thầy đừng ngã mạn tự phụ, không thể không cùng nhau xây dựng. Thầy nên vì các Tỳ-kheo nói lời như pháp, các Tỳ-kheo cũng sẽ vì thầy nói lời như pháp. Lần lượt trao đổi chỉ vẽ cho nhau như vậy sẽ làm chuyển đổi, bỏ các tội lỗi, có thế, mới thành chúng Tăng của Như Lai. Can gián như vậy vẫn kiên trì không bỏ thì nên can gián lần thứ hai, lần thứ ba. Lần thứ hai, lần thứ ba khuyên can bỏ được thì tốt, còn không bỏ thì vị ấy phạm Tăng-già-bà-thi-sa.

13. Tỳ-kheo nào sống nương tựa vào xóm làng, hành xử xấu xa làm hoen ố tín đồ. Hành động xấu xa này ai nấy đều thấy, đều nghe, đều biết và việc làm hoen ố tín đồ, mọi người cũng thấy, nghe và biết. Các Tỳ-kheo nói với Tỳ-kheo kia: “Thầy hành xử xấu xa, làm hoen ố tín đồ. Hành động xấu xa này ai cũng đều thấy, nghe, biết và việc làm hoen ố tín đồ mọi người cũng thấy, nghe, biết. Thầy nên đi ra khỏi xóm làng này, không nên sống nơi đây nữa”. Tỳ-kheo kia nói: “Các Đại đức, các vị đã bị lệ thuộc vào cảm tính: Yêu, giận, si, sợ. Tại sao? Vì có Tỳ-

kheo cũng đồng tội như vậy song có người bị đuổi, có người không bị đuổi”. Các Tỳ-kheo lại nói: Thầy đừng cho: “Các Đại đức bị lệ thuộc vào cảm tính: yêu, giận, si, sợ, có Tỳ-kheo cùng tội như vậy song có người bị đuổi, có người không bị đuổi”. Thầy làm việc ác, làm hoen ố tín đồ. Hành động xấu xa, ai cũng thấy, nghe, biết và việc làm hoen ố tín đồ, mọi người cũng thấy, nghe, biết. Thầy đừng nói: “Bị lệ thuộc vào cảm tính: yêu, giận, si, sợ”. Thầy đi ra khỏi nơi đây, không nên sống trong xóm làng này. Can gián như vậy vẫn ngoan cố không bỏ thì nên can gián lần thứ hai, lần thứ ba. Lần thứ hai, lần thứ ba can gián mà bỏ thì tốt, còn không bỏ thì Tỳ-kheo kia phạm Tăng-già-bà-thi-sa.

Bạch chư Đại đức! Tôi đã nói xong mười ba pháp Tăng-già-bàthi-sa. Chín giới trước vừa phạm là thành tội, bốn giới tiếp theo phải qua

Ba lần khuyên bảo can gián mới kết tội. Nếu Tỳ-kheo phạm mỗi một Tăng-già-bà-thi-sa, biết rõ phạm mà cố tình che giấu thì tùy theo thời gian che giấu, Tăng buộc thi hành Ba-lợi-bà-sa (Parivàsa: cô lập sống riêng) bấy nhiêu thời gian. Sau hết thời gian cô lập sống riêng biệt, đương sự tiếp tục thi hành sáu đêm Ma-na-đỏa (Mànatta: lòng thanh thản). Xong sáu đêm thi hành “Lòng vui thanh thản” thì đến Tăng để cầu A-phù-ha-na (Abbhàna: giải tội). Tăng xem xét quá trình đương sự thi hành như pháp xong thì cho giải tội. Việc giải trừ tội Tăng-giàbà-thi-sa được thực hiện giữa hội đồng Tăng đủ số là hai mươi vị. Nếu thiếu một, không hội đủ hai mươi vị thì việc giải tội cho Tỳ-kheo kia không thành. Hội đồng Tăng không hội đủ kia, như pháp bị khiển trách. Đây là pháp ứng xử phải như vậy (Thi pháp ứng nhĩ).

Nay hỏi các Đại đức trong các giới Tăng-già-bà-thi-sa có thanh tịnh không? (Lần thứ hai, lần thứ ba cũng hỏi như vậy).

Các Đại đức trong các giới này đều thanh tịnh vì im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.

HAI PHÁP BẤT ĐỊNH

Các Đại đức! Đây là hai pháp Bất định, cứ mỗi nửa tháng đều tụng theo trong Giới kinh.

1. Nếu Tỳ-kheo cùng với một người nữ, ngồi ở nơi vắng vẻ, che khuất, chỗ có thể hành dâm, Ưu-bà-di có lòng tin thấy vậy, đối với trong ba pháp, nữ tín tâm kia nói Tỳ-kheo phạm mỗi một trong ba, hoặc phạm Ba-la-di, hoặc phạm Tăng-già-bà-thi-sa, hoặc phạm Ba-dật-đề. Tùy theo chỗ quy kết phạm của người nữ ấy và Tỳ-kheo kia công nhận, Tăng nên xét và căn cứ vào chỗ quy kết một trong ba pháp của người nữ hết lòng với đạo pháp kia mà trị phạt Tỳ-kheo đương sự. Đây là pháp Bất định thứ nhất.

2. Nếu Tỳ-kheo, cùng với một người nữ, ngồi ở chỗ trống, trao đổi ngôn ngữ thô tục, dâm dục, Ưu-bà-di có lòng tin trông thấy, đối với trong hai pháp, nữ tín tâm kia nói Tỳ-kheo phạm một trong hai, hoặc phạm Tăng-già-bà-thi-sa, hoặc phạm Ba-dật-đề. Tùy theo chỗ quy kết phạm của tín nữ và Tỳ-kheo công nhận đúng, Tăng nên xét và căn cứ vào lời nói phạm một trong hai pháp của người nữ hết lòng với đạo mà trị phạt Tỳ-kheo đương sự. Đây là pháp Bất định thứ hai.

Bạch các Đại đức! Tôi đã nói xong hai pháp Bất định. Nay hỏi các Đại đức trong hai pháp này thanh tịnh không? (Lần thứ hai, lần thứ ba cũng hỏi như vậy).

Các Đại đức, trong hai pháp này đều thanh tịnh vì im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.

30 PHÁP NI TÁT KỲ BA DẬT ĐỀ

Bạch các Đại đức! Đây là ba mươi pháp Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề, cứ mỗi nửa tháng đều tụng theo trong Giới kinh.

1. Nếu Tỳ-kheo, ba y đầy đủ, y Ca-hi-na (Kathina: y công đức) đã xả, được phép giữ y dư mười ngày. Nếu giữ quá mười ngày thì phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề.

2. Nếu Tỳ-kheo, ba y đã có đủ, y Ca-hi-na đã xả, qua một đêm được phép lìa một trong ba y để ngủ, nếu quá một đêm, trừ Tăng Yếtma cho phép, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề.

3. Nếu Tỳ-kheo, ba y đã có đủ, y Ca-hi-na đã xả, có vải ngoài thời gian cho phép, nếu cần thì nhận, nhưng nhanh chóng may thành y mà thọ trì. Nếu đủ thì tốt còn không đủ vải thì nán đợi nơi nào có, cho thêm vải đủ để may thành y. Điều này chỉ được phép kéo dài trong một tháng. Quá một tháng vẫn giữ vải phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề.

4. Nếu Tỳ-kheo nhận y từ Tỳ-kheo-ni không bà con quyến thuộc, trừ việc đổi chác, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề.

5. Nếu Tỳ-kheo sai bảo Tỳ-kheo-ni không phải bà con quyến thuộc giặt y cũ, hoặc nhuộm, hoặc đập, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề.

6. Nếu Tỳ-kheo đến xin y nơi cư sĩ hay vợ cư sĩ chẳng phải bà con thân thuộc, trừ trường hợp có lý do, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề. Lý do ấy là: y bị cướp, bị mất, bị cháy, bị nước cuốn trôi, bị hủy hoại, như vậy gọi là trường hợp có lý do.

7. Nếu Tỳ-kheo, y bị cướp, bị mất, bị cháy, bị nước cuốn trôi, bị hủy hoại, đến xin y nơi cư sĩ hay vợ cư sĩ chẳng phải bà con, thân thuộc. Nếu cư sĩ hay vợ cư sĩ có nhã ý cúng nhiều y thì Tỳ-kheo chỉ nên nhận hai y, nếu nhận quá, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề.

8. Nếu có cư sĩ hay vợ cư sĩ không phải thân quyến, họ bàn bạc với nhau: “Nên may y tương xứng với số tiền như vậy để cúng cho Tỳkheo tên như vậy”. Tỳ-kheo ấy, trước không được mời nhận cúng theo ý muốn, ấy vậy, vẫn đến nhà cư sĩ và vợ cư sĩ, hỏi: “Ông, bà sử dụng số tiền như vậy để may y như thế cúng cho tôi phải không?”. Cư sĩ thưa: “Đúng thế”. Cư sĩ, vợ cư sĩ liền nhận được lời khen của Tỳ-kheo: “Lành thay! Các cư sĩ! Vì tôi muốn y đẹp, hãy may y như vậy cúng cho tôi”. Nếu được y, Tỳ-kheo phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề.

9. Nếu có cư sĩ, vợ cư sĩ không phải bà con, họ bàn tính với nhau: “Ta nên góp chung số tiền như vậy may y tương xứng như thế để cúng cho Tỳ-kheo tên như vậy”. Tỳ-kheo ấy, trước không được thỉnh tùy ý, ấy vậy, vẫn đến nhà cư sĩ, vợ cư sĩ, hỏi: “Muốn cúng y cho tôi nên mỗi người đều góp số tiền như vậy may y như thế phải không?”. Cư sĩ thưa: “Vâng”. Cư sĩ, vợ cư sĩ liền nhận được lời tán thán của Tỳ-kheo: “Lành thay! Các cư sĩ! Muốn cho y thật hoàn hảo, nên hợp chung tiền may một y có giá trị, cúng cho tôi”. Nếu được y, Tỳ-kheo phạm Ni-tát-kỳba-dật-đề.

10. Vì muốn cúng y cho Tỳ-kheo, nên: Hoặc Vua, hoặc Đại thần, Bà-la-môn, Cư sĩ sai người mang tiền sắm y đến trú xứ Tỳ-kheo, ông ta thưa: “Thưa Đại đức! Đây là số tiền sắm y cho Đại đức của Vua…, sai tôi mang đến cúng thầy, xin Đại đức nhận cho”. Tỳ-kheo ấy nói: “Tôi không được phép nhận tiền sắm y, nếu là y thanh tịnh thì tôi mới nhận để thọ trì”. Người thừa lệnh Đại thần thưa: “Thưa Đại đức, thầy có người giúp việc không?”. “Có”, Tỳ-kheo chỉ rõ người giúp việc. Người thừa lệnh liền đến nơi người giúp việc, bảo: “Đại thần, Vua tên… sai tôi mang tiền sắm y đến cúng cho Tỳ-kheo… Ông nhận giúp số tiền này sắm y cho Đại đức rồi ông trao cho thầy tiện lợi hơn”. Sau khi trao tiền cho người chấp sự, người thừa lệnh quay trở lại chỗ Tỳ-kheo thưa: “Bạch Đại đức! Tôi đã đến chỗ người giúp việc mà thầy đã chỉ chỗ và trao cho ông ta số tiền của Đại thần tôi trao cúng. Xin báo cho Đại đức biết, lúc nào cần y, thầy có thể đến đó nhận”. Khi Tỳ-kheo cần y đến chỗ người chấp sự lần thứ hai rồi lần thứ ba, lần nào cũng bảo: “Tôi cần y, xin cho tôi nhận y”. Nếu nhận được thì tốt, không nhận được thì tiếp tục lần thứ tư, lần thứ năm và lần thứ sáu đến trước người chấp sự đứng im lặng. Nếu nhận được thì tốt, không nhận được mà đến quá sáu lần để cầu nhận được, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề. Nếu không nhận được y thì nên báo cho người nhận nhiệm vụ của Đại thần biết, hoặc đích thân hoặc nhờ người tin cậy đến báo: “Số tiền mà ông mang đến giao cho người giúp việc để sắm y cho Tỳ-kheo… rốt cuộc Tỳ-kheo ấy không nhận được y, ông nên đích thân quay lại đó lấy lại tiền đừng để mất”. Đây là việc nên làm.

11. Nếu Tỳ-kheo đích thân đi xin tơ sợi rồi thuê thợ dệt, dệt vải may thành y, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề.

12. Nếu cư sĩ, vợ cư sĩ, vì Tỳ-kheo, thuê thợ dệt, dệt làm thành y. Tỳ-kheo ấy, trước không được nhận tùy ý, ấy vậy, lại đến chỗ thợ dệt dặn dò: Này ông! Y này họ may để cúng cho tôi, ông vui lòng cũng vì tôi mà dệt cho khéo, thật sắc sảo, khổ cho rộng, đương nhiên tôi hậu tạ riêng. Sau đó, Tỳ-kheo báo ơn thợ dệt trị giá bằng một bữa ăn. Nếu đưa thêm trị giá một bữa ăn để được y thì Tỳ-kheo phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề.

13. Nếu Tỳ-kheo đem y cho Tỳ-kheo khác, sau vì giận, bất hòa, hoặc tự mình đoạt lấy lại hoặc sai người đoạt lại, nói: Trả y lại cho tôi, tôi không cho thầy, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề.

14. Nếu Tỳ-kheo biết người Đàn-việt muốn đem vật nào đó cúng cho Tăng, lại xoay về làm của riêng mình thì phạm Ni-tát-kỳ-ba-dậtđề.

15. Nếu Tỳ-kheo có bệnh, được phép uống bốn loại thuốc dễ tiêu hóa. Cứ một lần nhận được tô, dầu, đường và đường phèn thì được để uống đến bảy ngày. Nếu để quá bảy ngày thì phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề.

16. Nếu Tỳ-kheo cư trú ở A-lan-nhã, an cư ba tháng, chưa hết tháng tám. Nếu chỗ có nạn khủng bố thì cho phép gửi mỗi một y ở nhà bạch y trong cương giới. Nếu có nhân duyên ra ngoài cương giới, rời khỏi y gửi này và thời gian được phép lìa y ấy ngủ là sáu đêm. Nếu quá, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề.

17. Nếu Tỳ-kheo, mùa Xuân còn một tháng nên tìm y tắm mưa, còn nửa tháng cho sử dụng. Nếu chưa đến một tháng mà tìm và trước nửa tháng lại sử dụng, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề.

18. Nếu Tỳ-kheo, tiền an cư, hậu an cư còn mười ngày nữa mới đến ngày Tự tứ, được y cúng gấp, nếu cần thì nhận cất cho đến thời hạn của y, nếu quá, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề.

19. Nếu Tỳ-kheo, bát chưa đủ năm chỗ hàn gắn, lại xin bát mới, vì muốn có bát tốt, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề. Cái bát mới ấy phải xả ở giữa Tăng. Tăng nên lấy bát cũ xấu nhất trong chúng trao cho và nói:

Thầy dùng cái bát này cho đến vỡ. Pháp xả bát là như vậy.

20. Nếu Tỳ-kheo, được giữ cất bát dư mười ngày, nếu quá, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề.

21. Nếu Tỳ-kheo làm ngọa cụ mới bằng tơ tằm, (Kiều-xa-da) phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề.

22. Nếu Tỳ-kheo làm ngọa cụ mới toàn bằng lông dê toàn đen, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề.

23. Nếu Tỳ-kheo muốn làm ngọa cụ mới thì nên sử dụng hai phần lông dê màu đen, lông trắng bằng một phần ba lông đen và lông xấu bằng một phần tư lông trắng. Nếu quá, mà cứ làm thành, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề.

24. Nếu Tỳ-kheo, làm ngọa cụ mới thì phải dùng đủ sáu năm. Chưa đủ sáu năm hoặc bỏ hay không bỏ lại làm ngọa cụ mới, trừ Tăng yết-ma cho phép, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề.

25. Nếu Tỳ-kheo, làm Ni sư đàn mới, toàn bằng lông dê đen thì phải phá màu sắc đẹp này bằng cách lấy một miếng Ni sư đàn cũ vuông bằng một gang tay Đức Phật, may lên Ni sư đàn mới. Nếu không làm hoại sắc, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề.

26. Nếu Tỳ-kheo, có được lông dê muốn mang xách đến nơi nào đó thì tự mình đem đi, nhiều lắm là ba do-tuần. Nếu mang đi quá mức này, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề.

27. Nếu Tỳ-kheo, sai bảo Tỳ-kheo-ni không phải bà con giặt, nhuộm, chải lông dê, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề.

28. Nếu Tỳ-kheo, cầu lợi nên mua bán đổi chác, mua rẻ bán đắt các thứ, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề.

29. Nếu Tỳ-kheo, sử dụng vàng, bạc và các loại tiền để mua bán, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề.

30. Nếu Tỳ-kheo, tự mình cầm vàng, bạc và tiền hoặc khiến người cầm hay khởi tâm thọ nhận, phạm Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề.

Các Đại đức, tôi đã nói ba mươi pháp Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề. Nay xin hỏi: Các Đại đức trong các giới này thanh tịnh không? (Lần thứ hai, lần thứ ba cũng hỏi như vậy).

Các Đại đức, trong các giới này đều thanh tịnh, do im lặng, việc này tôi ghi nhận như vậy.

91 PHÁP BA DẬT ĐỀ

Các Đại đức, tiếp đây là chín mươi mốt pháp Ba-dật-đề, cứ mỗi nửa tháng đều tụng theo trong Giới kinh:

1. Nếu Tỳ-kheo, cố ý nói dối, phạm Ba-dật-đề.

2. Nếu Tỳ-kheo hủy báng Tỳ-kheo, phạm Ba-dật-đề.

3. Nếu Tỳ-kheo nói hai lưỡi gây cãi vã trong chúng Tỳ-kheo, phạm Ba-dật-đề.

4. Nếu Tỳ-kheo thuyết pháp cho người nữ thì không nói quá năm, sáu lời, trừ khi có người nam biết phân biệt lời thiện, ác, phạm Ba-dậtđề.

5. Nếu Tỳ-kheo, biết Tăng đã như pháp giải quyết dứt điểm vấn đề rồi, mà khơi lại vấn đề, phạm Ba-dật-đề.

6. Nếu Tỳ-kheo, dạy kinh cho người chưa thọ giới Cụ túc và cùng đọc tụng với họ, phạm Ba-dật-đề.

7. Nếu Tỳ-kheo, cùng ngủ với người chưa thọ giới Cụ túc, quá ba đêm, phạm Ba-dật-đề.

8. Nếu Tỳ-kheo hướng đến người chưa thọ giới Cụ túc, tự nói tôi được pháp hơn người, rằng tôi biết như vậy, tôi thấy như vậy, sự thật là vậy, phạm Ba-dật-đề.

9. Nếu Tỳ-kheo, biết Tỳ-kheo khác phạm tội nặng lại đem nói với người chưa thọ giới Cụ túc biết, trừ Tăng yết-ma sai, phạm Ba-dật-đề.

10. Nếu Tỳ-kheo chỉ trích: “Các giới vụn vặt lỉnh kỉnh ấy, nào ích gì? Khi tụng các giới ấy chỉ làm cho người ta lo, buồn thôi! Mỉa mai, xem thường giới như thế, phạm Ba-dật-đề.

11. Nếu Tỳ-kheo, tự mình hoặc sai khiến người khác chặt phá cây cối, chỗ ở của quỷ thần… phạm Ba-dật-đề.

12. Nếu Tỳ-kheo, cố ý không trả lời đúng theo câu hỏi, phạm Badật-đề.

13. Nếu Tỳ-kheo, trịch thượng, vu khống người được Tăng sai, phạm Ba-dật-đề.

14. Nếu Tỳ-kheo, nằm hoặc ngồi lên ngọa cụ của Tăng trải nơi đất trống, do mình trải, hoặc sai người khác trải hay ai đó trải, khi đi không đích thân thu dọn, không bảo ai dọn, cũng không dặn dò ai dọn hộ, hoặc trường hợp thấy Tăng ngọa cụ trải nơi đất trống mà không thu dọn, bỏ đi, phạm Ba-dật-đề.

15. Nếu Tỳ-kheo, nằm hay ngồi lên ngọa cụ của Tăng trải trong phòng Tăng, ngọa cụ do mình trải, hoặc sai người khác trải hay ai đó trải, khi đi, không đích thân dọn dẹp, không bảo ai dọn, cũng không dặn dò nhờ thu dọn, phạm Ba-dật-đề.

16. Nếu Tỳ-kheo, nóng giận, bực tức, lôi kéo Tỳ-kheo từ trong phòng ra ngoài, hoặc sai khiến người khác kéo, nặng lời: “Đi ra ngay! Đừng ở trong này nữa”, phạm Ba-dật-đề.

17. Nếu Tỳ-kheo, biết ngọa cụ ai đó đã trải sẵn, mình đến sau lại cố chiếm chỗ, đích thân trải hoặc sai người khác trải phu cụ với dụng ý: “Nếu họ không bằng lòng thì tự nhiên họ phải ra đi”, phạm Ba-dật-đề.

18. Nếu Tỳ-kheo, trên gác nhà Tăng có võng hay giường cây có chân nhọn yếu, cố sức nằm ngồi mạnh, phạm Ba-dật-đề.

19. Nếu Tỳ-kheo, làm phòng xá lớn thì lên tường theo sát mặt móng, chỗ chừa cửa song, cửa cánh cực chắc, kết cấu nhau thật kiên cố vững chải, mái lợp hai, ba lớp là vừa. Nếu lợp quá ba lớp, phạm Badật-đề.

20. Nếu Tỳ-kheo, biết nước có trùng lấy tưới lên bùn hoặc dùng vào việc ăn uống và các sinh hoạt, phạm Ba-dật-đề.

21. Nếu Tỳ-kheo, Tăng không sai mà vẫn giáo giới Tỳ-kheo-ni, phạm Ba-dật-đề.

22. Nếu Tỳ-kheo, Tăng sai giáo giới Tỳ-kheo-ni mà giáo giới cho đến chiều tối, phạm Ba-dật-đề.

23. Nếu Tỳ-kheo, Tăng không sai mà vẫn cố ý đi giáo giới để được vào trú xứ của Tỳ-kheo-ni, trừ nhân duyên ni ốm đau, phạm Badật-đề.

24. Nếu Tỳ-kheo, nói như vầy: “Các Tỳ-kheo vì lợi dưỡng được cúng dường cho nên giáo giới Tỳ-kheo-ni”, phạm Ba-dật-đề.

25. Nếu Tỳ-kheo cùng với Tỳ-kheo-ni, hoặc cùng Thức-xoa-mana hay Sa-di-ni, chỉ hai người ngồi chỗ vắng, phạm Ba-dật-đề.

26. Nếu Tỳ-kheo đem y cho Tỳ-kheo-ni không phải thân quyến, trừ đổi chác, phạm Ba-dật-đề.

27. Nếu Tỳ-kheo, may y cho Tỳ-kheo-ni không phải bà con của mình, phạm Ba-dật-đề.

28. Nếu Tỳ-kheo, hẹn trước với Tỳ-kheo-ni cùng đi chung một đường, từ xóm làng này đến xóm làng kia, trừ nhân duyên, phạm Badật-đề. Nhân duyên ấy là: Nhiều bạn bè cùng đi, gặp chỗ nghi sợ bất ổn. Đây gọi là nhân duyên.

29. Nếu Tỳ-kheo, hẹn trước với Tỳ-kheo-ni cùng đi chung chuyến thuyền, hoặc ngược dòng hoặc xuôi dòng, trừ đi đò ngang, phạm Badật-đề.

30. Nếu Tỳ-kheo, biết rõ thức ăn có được kia là do nguyên nhân Tỳ-kheo-ni khen ngợi thí chủ, mà vẫn ăn. Trừ trước đó, Đàn-việt phát tâm cúng dường, phạm Ba-dật-đề.

31. Nếu Tỳ-kheo, ăn nhiều lần, trừ nhân duyên, phạm Ba-dật-đề. Nhân duyên ấy là: Khi bệnh, khi thời của y, khi được cúng dường y. Đây gọi là nhân duyên.

32. Nếu Tỳ-kheo, nhận lời mời thí chủ, ăn riêng chúng, phạm Badật-đề, trừ nhân duyên. Nhân duyên là: Gặp lúc bệnh, lúc thuộc thời của y, lúc được cúng y, lúc may y, lúc đi dường, lúc ngồi thuyền đi, lúc đại hôi, lúc lễ hội Sa-môn. Gọi đây là nhân duyên.

33. Nếu Tỳ-kheo, nơi nào chỉ cúng một bữa ăn, không bệnh, Tỳkheo nhận ăn quá một bữa, phạm Ba-dật-đề.

34. Nếu Tỳ-kheo đến nhà bạch y, gặp nhà cúng nhiều thức ăn uống theo khất cầu, nào là bánh, bún, miến… Tỳ-kheo không dùng bữa tại nhà ấy mà cần nhận hai, ba bát. Nhận được, ra về, đem san sẻ thức ăn ấy cho các Tỳ-kheo khác cùng ăn. Nếu không bệnh mà thọ nhận quá mức và không san sẻ cho các Tỳ-kheo khác cùng ăn thì phạm Badật-đề.

35. Nếu Tỳ-kheo, ăn xong rồi, không làm pháp thực ăn dư mà ăn tiếp phạm Ba-dật-đề.

36. Nếu Tỳ-kheo biết Tỳ-kheo khác ăn xong rồi, vì muốn để cho vị này phạm tội, nên nài ép mời mọc để vị này cùng ăn lại nhưng không làm pháp ăn dư, Tỳ-kheo mời phạm Ba-dật-đề.

37. Nếu Tỳ-kheo, với tất cả các loại thức ăn không nhận lời mời trao, mà tự cho vào miệng, trừ nếm thức ăn, tăm xỉa răng và nước, phạm Ba-dật-đề.

38. Nếu Tỳ-kheo, ăn phi thời, phạm Ba-dật-đề.

39. Nếu Tỳ-kheo, ăn thức ăn để cách đêm, phạm Ba-dật-đề.

40. Nếu Tỳ-kheo, tự tay đưa thức ăn cho nam hay nữ ngoại đạo lõa hình, phạm Ba-dật-đề.

41. Nếu trong các gia đình có các thức ăn ngon như: sữa, lạc, tô, dầu, cá, thịt, Tỳ-kheo nào không bệnh, đích thân đòi hỏi các thức ăn này, nhận được thức ăn, phạm Ba-dật-đề.

42. Nếu Tỳ-kheo, trong “Nhà ăn” cùng với người nữ ngồi lâu, phạm Ba-dật-đề.

43. Nếu Tỳ-kheo cùng với người nữ, chỉ hai người ngồi nơi chỗ vắng, phạm Ba-dật-đề.

44. Nếu Tỳ-kheo, cùng với người nữ, chỉ hai người ngồi nơi chỗ đất trống, phạm Ba-dật-đề.

45. Nếu Tỳ-kheo, xem các binh chúng xuất quân ra trận, phạm Ba-dật-đề.

46. Nếu Tỳ-kheo, có lý do đến ở trong quân trận, tối đa được ngủ lại hai, ba đêm, nếu quá, phạm Ba-dật-đề.

47. Nếu Tỳ-kheo, có nhân duyên đến trong quân, ngủ lại hai, ba đêm để xem quân trận chiến đấu, phạm Ba-dật-đề.

48. Nếu Tỳ-kheo, nói như vầy: “Như tôi hiểu những điều Phật dạy giáo: Làm ngăn trở đạo nghiệp thì không có khả năng làm trở ngại đạo nghiệp”. Các Tỳ-kheo nói với Tỳ-kheo ấy: “Thầy đừng nên nói như vậy, đừng hủy báng Phật, chớ vu khống Phật. Phật dạy: Pháp làm ngăn trở đạo nghiệp thì thật sự làm cho đạo nghiệp bị ngăn trở. Thầy hãy loại bỏ kiến chấp ác tà đó”. Đem lời can gián như vậy mà vẫn ngoan cố, không bỏ thì tiếp tục can gián lần thứ hai, thứ ba. Bỏ được thì đây là việc tốt, không bỏ thì phạm Ba-dật-đề.

49. Nếu Tỳ-kheo, biết Tỳ-kheo kia không như pháp sám hối, không bỏ tà kiến ác mà cùng ngồi, cùng chuyện trò, cùng ngủ nghỉ, cùng làm việc, phạm Ba-dật-đề.

50. Nếu có Sa-di, nói: “Như tôi hiểu những điều Phật nói: Thọ hưởng năm dục lạc không hề làm ngăn trở đạo nghiệp”. Các Tỳ-kheo bảo Sa-di ấy: “Ngươi đừng nói thế, đừng phỉ báng Phật, chớ vu khống Phật như vậy! Đức Phật dạy: Năm dục lạc là chướng đạo thì thật sự làm cho đạo nghiệp bị che lấp. Này Sa-di! Hãy bỏ kiến chấp xấu xa ấy đi”. Đã dạy bảo như vậy nhưng Sa-di vẫn cứng cỏi ngoan cố không bỏ thì nên dạy bảo lần thứ hai, thứ ba. Lần thứ hai, thứ ba dạy bảo mà Sa-di từ bỏ được thì đây là việc tốt đẹp. Còn không bỏ thì các Tỳ-kheo hãy bảo: Ngươi bước ra khỏi nơi này! Từ nay ngươi đừng gọi Phật là Thầy, không được phép đi theo sau các Tỳ-kheo như các Sa-di khác. Các Sadi khác được ngủ cùng phòng với Tỳ-kheo hai đêm, ngươi cũng không được phép điều đó. Ngươi là người ngu nên đi khỏi chỗ này, đừng ở nơi đây nữa. Nếu Tỳ-kheo biết Sa-di bị đuổi đi đúng pháp mà chứa chấp, cho phép cùng ở cùng nói năng, phạm Ba-dật-đề.

51. Nếu Tỳ-kheo, cố tâm sát hại mạng sống loài vật, phạm Badật-đề.

52. Nếu Tỳ-kheo, cố tình khiến cho Tỳ-kheo khác nghi ngờ với dụng ý làm cho Tỳ-kheo kia phiền muộn chỉ trong chốc lát, phạm Badật-đề.

53. Nếu Tỳ-kheo, trong lúc Tăng đang phân xử việc, không gởi dục đứng dậy bỏ đi, phạm Ba-dật-đề.

54. Nếu Tỳ-kheo, thọc lét Tỳ-kheo khác, phạm Ba-dật-đề.

55. Nếu Tỳ-kheo, đùa giỡn trong nước, Ba-dật-đề.

56. Nếu Tỳ-kheo, cùng ngủ chung nhà có người nữ, phạm Ba-dậtđề.

57. Nếu Tỳ-kheo, uống các loại rượu phạm Ba-dật-đề.

58. Nếu Tỳ-kheo, khinh chê thầy và giới, phạm Ba-dật-đề.

59. Nếu Tỳ-kheo tự tay đào đất hoặc sai khiến người đào, bảo đào như vầy… phạm Ba-dật-đề.

60. Nếu Tỳ-kheo, theo dõi lắng nghe các Tỳ-kheo khác tranh cãi rồi nghĩ: “Những điều các Tỳ-kheo nói ta luôn ghi nhớ”, phạm Ba-dậtđề.

61. Nếu Tỳ-kheo, biết người chưa đủ hai mươi tuổi mà vẫn cho họ thọ giới Cụ túc, phạm Ba-dật-đề. Người ấy không đắc giới, các Tỳ-kheo cũng bị quở trách, như vậy là đúng pháp.

62. Nếu Tỳ-kheo, nhận thỉnh tùy ý thuốc dùng trong bốn tháng, nếu nhận quá thời gian mời, trừ: Thỉnh cầu nhận lại, tự mang thuốc đến mời, thỉnh nhận lâu dài, phạm Ba-dật-đề.

63. Nếu Tỳ-kheo, phạm tội nhiều, các Tỳ-kheo như pháp can gián, lại bảo: Tôi đâu có học giới ấy. Tôi cần phải hỏi lại các Tỳ-kheo trì pháp, trì luật khác, phạm Ba-dật-đề. Nếu Tỳ-kheo muốn tìm hiểu nên hỏi vị trí pháp, trì luật thì điều đó không phạm.

64. Nếu Tỳ-kheo, khi thuyết giới, nói như vầy: “Nay tôi mới biết pháp này rút ra từ trong Giới kinh nói ra vào mỗi nửa tháng Bố-tát”. Các Tỳ-kheo biết rõ Tỳ-kheo này đã hai, Ba lần ngồi nghe khi nói giới. Tỳ-kheo này không thể viện cớ không biết đến để được chạy tội, tùy theo chỗ phạm tội, như pháp trị. Trị rồi phải quở trách sự không biết của Tỳ-kheo này làm ảnh hưởng không tốt trong khi nói giới, không một lòng nghe giới, không khắc ghi giới vào lòng, phạm Ba-dật-đề.

65. Nếu Tỳ-kheo, Vua chưa rời của báu và chưa cất báu vật mà vào quá giới hạn cửa hậu cung, phạm Ba-dật-đề.

66. Nếu Tỳ-kheo, hẹn với giặc đi cùng một đường, từ xóm làng này đến xóm làng khác, phạm Ba-dật-đề.

67. Nếu Tỳ-kheo cùng hẹn với người nữ đi chung một đường từ xóm làng này đến xóm làng khác, phạm Ba-dật-đề.

68. Nếu Tỳ-kheo, không bệnh, đích thân đốt lửa hay sai bảo người khác đốt lửa để sưởi ấm, phạm Ba-dật-đề.

69. Nếu Tỳ-kheo, đối với châu báu hay các vật bằng châu báu, hoặc tự mình lấy hay chỉ bảo người khác lấy, trừ trong Tăng-già-lam và chỗ nghỉ qua đêm, phạm Ba-dật-đề. Nếu ở trong Tăng-già-lam và nơi nghỉ qua đêm có nhặt của báu và các vật bằng châu báu, sau có chủ xin lại thì nên hoàn trả. Đây là làm việc đúng pháp.

70. Nếu Tỳ-kheo, tắm trong vòng nửa tháng, trừ nhân duyên, phạm Ba-dật-đề. Nhân duyên là: khi có bệnh, khi làm việc, khi đi đường, khi mưa gió, khi nóng bức. Đây gọi là nhân duyên.

71. Nếu Tỳ-kheo, vì nóng giận đánh Tỳ-kheo khác, phạm Ba-dật-đề.

72. Nếu Tỳ-kheo, do nóng giận quơ tay dọa đánh Tỳ-kheo khác, phạm Ba-dật-đề.

73. Nếu Tỳ-kheo, cố tình khủng bố Tỳ-kheo khác, phạm Ba-dậtđề.

74. Nếu Tỳ-kheo, biết Tỳ-kheo khác phạm tội thô ác mà che giấu qua một đêm, phạm Ba-dật-đề.

75. Nếu Tỳ-kheo, sử dụng pháp Tăng-già-bà-thi-sa không cơ sở để phỉ báng Tỳ-kheo khác, phạm Ba-dật-đề.

76. Nếu Tỳ-kheo, bảo với Tỳ-kheo kia: “Thầy cùng tôi đến các gia đình, thầy sẽ được cúng các thức ăn uống ngon tuyệt”. Khi đến đó, đã không cho mà còn xua đuổi, nói: “Thầy đi đi! Tôi ngồi nói chuyện với thầy chẳng vui chút nào! Tôi ngồi một mình nói một mình còn vui hơn”, vì muốn làm cho vị kia buồn phiền, phạm Ba-dật-đề.

77. Nếu Tỳ-kheo, nhận được y mới may thì phải đánh dấu y bằng ba loại màu: hoặc xanh, hoặc đen, hoặc mộc lan. Nếu không dùng ba loại màu này để làm dấu y, phạm Ba-dật-đề.

78. Nếu Tỳ-kheo, vì cố ý đùa giỡn, giấu cất các vật dụng Tỳ-kheo khác như y, bát, tọa cụ, ống đựng kim… các dụng cụ sinh hoạt, hoặc sai người giấu cất, phạm Ba-dật-đề.

79. Nếu Tỳ-kheo, khi Tăng xử đoán việc đã như pháp gởi dục rồi sau đó lại chê trách, phạm Ba-dật-đề.

80. Nếu Tỳ-kheo nói như vầy: “Các Tỳ-kheo đem vật của Tăng cho người quen thân”, phạm Ba-dật-đề.

81. Nếu Tỳ-kheo, đã tịnh thí y cho Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Thứcxoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni mà đoạt lấy lại, phạm Ba-dật-đề.

82. Nếu Tỳ-kheo, đã nhận lời mời ăn của thí chủ nào đó, trước bữa ăn, hoặc sau bữa ăn đến nhà thí chủ khác, cũng không đến gần để báo cho các Tỳ-kheo khác, trừ nhân duyên, phạm Ba-dật-đề. Nhân duyên là: Thời của y. Đây là nhân duyên.

83. Nếu Tỳ-kheo, phi thời đi vào xóm làng mà không đến gần các Tỳ-kheo thanh tịnh để thưa đi, trừ nhân duyên, phạm Ba-dật-đề. Nhân duyên là: Gặp lúc có nạn. Đây là nhân duyên.

84. Nếu Tỳ-kheo dùng các loại bông thiên nhiên để dồi các dụng cụ nằm, ngồi, phạm Ba-dật-đề.

85. Nếu Tỳ-kheo, tự làm giường dây, giường cây để nằm, ngồi thì chân giường cao tám ngón tay Đức Như lai, trừ khúc vào mộng, nếu quá, phạm Ba-dật-đề.

86. Nếu Tỳ-kheo sử dụng xương, răng, sừng làm ống đựng kim, phạm Ba-dật-đề.

87. Nếu Tỳ-kheo, làm Ni sư đàn thì phải đúng kích cỡ: Dài hai gang tay, rộng một gang tay rưỡi Đức Phật rồi thêm vuông vức một gang tay. Nếu làm quá lượng này, phạm Ba-dật-đề.

88. Nếu Tỳ-kheo, may y che ghẻ thì phải làm đúng quy định: Dài bốn gang tay, rộng hai gang rưỡi tay Đức Phật. Nếu quá lượng định này, phạm Ba-dật-đề.

89. Nếu Tỳ-kheo, làm áo tắm mưa thì phải làm đúng kích cỡ: Dài năm gang tay, rộng hai gang rưỡi tay Tu-già-đà, nếu làm quá lượng định phạm Ba-dật-đề.

90. Nếu Tỳ-kheo, có may y thì may bằng cỡ y của Đức Phật, nếu quá lượng định, phạm Ba-dật-đề. Kích cỡ y của Phật là: Dài chín gang, rộng sáu gang tay. Đây là kích cỡ y Phật.

91. Nếu Tỳ-kheo, biết thí chủ có ý định đem vật cúng cho Tăng lại xoay xở để đem cúng cho người khác, phạm Ba-dật-đề.

Bạch các Đại đức! Tôi đã nói xong chín mươi mốt pháp Ba-dậtđề. Nay xin hỏi: Các Đại đức trong các pháp Ba-dật-đề này thanh tịnh không? (Lần thứ hai, lần thứ ba cũng hỏi như vậy). Các Đại đức trong các giới Ba-dật-đề đều thanh tịnh, vì im lặng, việc này tôi ghi nhận như vậy.

BỐN PHÁP BA LA ĐỀ XÁ NI

Bạch các Đại đức! Đây là bốn pháp Ba-la-đề-đề-xá-ni, cứ mỗi nửa tháng đều tụng theo trong Giới kinh.

1. Nếu Tỳ-kheo, không bệnh, trên đường khất thực, tự tay nhận lấy thức ăn từ Tỳ-kheo-ni không phải thân quyến để ăn, thì Tỳ-kheo ấy phải đến các Tỳ-kheo khác nói lên lỗi đáng quở trách: “Tôi phạm vào pháp đáng quở trách, nay hướng đến các Đại đức xin sám hối”. Đây gọi là pháp Hối quá.

2. Nếu Tỳ-kheo, được gia chủ mời ăn, có mặt Tỳ-kheo-ni, Tỳkheo-ni chỉ bảo người nhà: “Thêm đầy cơm cho Tỳ-kheo này, thêm canh cho Tỳ-kheo kia”. Các Tỳ-kheo nên nói với Tỳ-kheo-ni ấy: “Này cô! Hãy chờ một lúc, đợi các thầy ăn xong”. Nếu trong chúng không ai nói lời ấy thì các Tỳ-kheo này phải hướng đến các Tỳ-kheo khác để hối lỗi. “Tôi đã phạm vào pháp đáng quở trách, nay trước các Đại đức xin bày tỏ tội này”. Đây gọi là pháp Hối quá.

3. Nếu có các “Học gia” mà Tăng đã tác pháp Yết-ma làm “Học gia”, Tỳ-kheo nào không bệnh, trước không được thỉnh cầu thọ trai, tự tay nhận thức ăn nơi học gia ấy thì Tỳ-kheo ấy phải hướng đến các Tỳ-kheo khác mà hối lỗi: “Tôi phạm vào pháp đáng quở trách, nay đến trước các Đại đức xin bày tỏ lỗi này”. Đây gọi là pháp Hối quá.

4. Nếu Tỳ-kheo, trú ngụ nơi A-lan-nhã, vắng vẻ, có nghi ngờ, lo sợ về an ninh nhưng thiếu thăm dò, cảnh báo trước cho tín thí đến cúng dường đề phòng, không ra ngoài trú xứ để thọ nhận mà tự tay nhận thức ăn cúng dường bên trong khuôn viên của Tăng do chủ mang vào. Tỳ-kheo này phải hướng đến các Tỳ-kheo khác nói lỗi: “Tôi phạm vào pháp đáng quở trách, nay đến trước các Đại đức xin bày tỏ hối hận lỗi này”. Đây gọi là pháp Hối quá.

Bạch các Đại đức! Tôi đã nói bốn pháp Ba-la-đề-đề-xá-ni, nay xin hỏi: Các Đại đức trong các giới này thanh tịnh không? (Hỏi lần thứ hai, lần thứ ba cũng như vậy)

Các Đại đức trong bốn pháp này đều thanh tịnh, vì im lặng, việc này tôi ghi nhận như vậy.

PHÁP CHÚNG HỌC

Bạch các Đại đức! Đây là pháp Chúng học, mỗi nửa tháng đều tụng theo trong Giới kinh:

  1. Không mặc nội y cao, cần phải học.
  2. Không mặc nội y thấp, cần phải học.
  3. Không mặc nội y so le, cần phải học.
  4. Không mặc nội y giống như lá cây Đa-la, cần phải học.
  5. Không mặc nội y giống như mũi con voi, cần phải học.
  6. Không mặc nội y túm tròn ở trước, cần phải học.
  7. Không mặc nội y xếp lằn nhỏ, cần phải học.
  8. Không khoác y cao, cần phải học.
  9. Không khoác y thấp, cần phải học.
  10. Không khoác y so le, cần phải học.
  11. Vén khéo y che kín thân khi vào nhà bạch y, cần phải học.
  12. Vén khéo y che kín thân khi ngồi trong nhà bạch y, cần phải học.
  13. Không lật ngược y vắt lên vai phải khi vào nhà bạch y, cần phải học.
  14. Không lật ngược y vắt lên vai phải khi ngồi trong nhà bạch y, cần phải học.
  15. Không lật ngược y vắt lên vai trái khi vào nhà bạch y, cần phải học.
  16. Không lật ngược y vắt lên vai trái khi ngồi trong nhà bạch y, cần phải học.
  17. Không rẽ ngược y trái, phải vắt lên hai vai khi vào nhà bạch y, cần phải học.
  18. Không rẽ ngược y phải, trái vắt lên hai vai khi vào ngồi nhà bạch y, cần phải học.
  19. Không lắc thân khi vào nhà bạch y, cần phải học.
  20. Không lắc thân khi ngồi ở nhà bạch y, cần phải học.
  21. Không lắc đầu khi vào nhà bạch y, cần phải học.
  22. Không lắc đầu khi ngồi ở nhà bạch y, cần phải học.
  23. Không nhún vai khi vào nhà bạch y, cần phải học.
  24. Không nhún vai khi ngồi trong nhà bạch y, cần phải học.
  25. Không cầm tay nhau khi vào nhà bạch y, cần phải học.
  26. Không cầm tay nhau khi ngồi trong nhà bạch y, cần phải học.
  27. Không ẩn người khi vào nhà bạch y, cần phải học.
  28. Không ngồi ẩn người trong nhà bạch y, cần phải học.
  29. Không chống nạnh khi vào nhà bạch y, cần phải học.
  30. Không chống nạnh khi ngồi trong nhà bạch y, cần phải học.
  31. Không chống má khi vào nhà bạch y, cần phải học.
  32. Không chống má khi ngồi trong nhà bạch y, cần phải học.
  33. Không đưa tay đánh đàng xa khi vào nhà bạch y, cần phải học.
  34. Không đưa tay đánh đàng xa khi ngồi trong nhà bạch y, cần phải học.
  35. Không được ngẩng cao nhìn, khi vào nhà bạch y, cần phải học.
  36. Không được ngẩng cao nhìn, khi ngồi trong nhà bạch y, cần phải học.
  37. Không được nhìn ngó lung tung khi vào nhà bạch y, cần phải học.
  38. Không được nhìn ngó lung tung khi ngồi trong nhà bạch y, cần phải học.
  39. Không được xoạc chân khi vào nhà bạch y, cần phải học.
  40. Không được xoạc chân khi ngồi trong nhà bạch y, cần phải học.
  41. Không nhón chân khi đi vào nhà bạch y, cần phải học.
  42. Không ngồi nhón chân trong nhà bạch y, cần phải học.
  43. Không trùm đầu khi vào nhà bạch y, cần phải học.
  44. Không trùm đầu khi ngồi trong nhà bạch y, cần phải học.
  45. Không đùa giỡn cười cợt khi vào nhà bạch y, cần phải học.
  46. Không cười cợt đùa giỡn khi ngồi trong nhà bạch y, cần phải học.
  47. Không nói oang oang khi vào nhà bạch y, cần phải học.
  48. Không nói oang oang khi ngồi trong nhà bạch y, cần phải học.
  49. Trang nghiêm vào nhà bạch y, cần phải học.
  50. Trang nghiêm khi ngồi trong nhà bạch y, cần phải học.
  51. Tâm niệm tập trung khi nhận thức ăn, cần phải học.
  52. Khi nhận thức ăn, bát không quá đầy, cần phải học.
  53. Ăn cơm canh đều nhau, cần phải học.
  54. Không lựa thức ăn trong bát, cần phải học.
  55. Không khoét lõm giữa bát để ăn.
  56. Không lận ngón tay vét thức ăn trong bát, cần phải học.
  57. Không ngửi thức ăn khi ăn, cần phải học.
  58. Xem xét kỹ thức ăn trong bát, khi ăn, cần phải học.
  59. Không bỏ mứa cơm và thức ăn, cần phải học.
  60. Không dùng tay bốc thức ăn để cầm lấy dụng cụ sạch đựng cơm, cần phải học.
  61. Không nên húp thức ăn mà ăn, cần phải học.
  62. Không nên nhai thức ăn ra tiếng, cần phải học.
  63. Không lấy lưỡi liếm ăn, cần phải học.
  64. Không vốc thức ăn đầy tay, cần phải học.
  65. Không há miệng quá lớn để ăn, cần phải học.
  66. Không hả rộng miệng chờ thức ăn đến, cần phải học.
  67. Không hỉnh mũi lên mà ăn, cần phải học.
  68. Không ngậm thức ăn nói chuyện, cần phải học.
  69. Không để thức ăn chung búng trong má, cần phải học.
  70. Không cắn đôi thức ăn, cần phải học.
  71. Không duỗi thẳng tay lấy thức ăn, cần phải học.
  72. Không rảy cánh tay lúc ăn, cần phải học.
  73. Không le lưỡi ăn, cần phải học.
  74. Không nuốt trộng đồ ăn, cần phải học.
  75. Không vò cơm ném từ xa vào miệng, cần phải học.
  76. Không nên dùng nước rửa bát có lẫn thức ăn rưới trong nhà bạch y, cần phải học.
  77. Không lấy cơm che lấp canh để mong được thêm canh, cần phải học.
  78. Không chê bai thức ăn, cần phải học.
  79. Không đòi thức ăn thật nhiều cho mình, cần phải học.
  80. Không nên có tâm đố kỵ nhìn xem bát vị ngồi gần, cần phải học.
  81. Không đứng đại tiểu tiện, trừ bệnh, cần phải học.
  82. Không đại tiểu tiện vào nước sạch, trừ bệnh, cần phải học.
  83. Không được đại tiểu tiện lên cỏ tươi và rau xanh, trừ bệnh, cần phải học.
  84. Người mang guốc gỗ, không nên nói pháp cho họ, trừ bệnh, cần phải học.
  85. Người mang dép không nên nói pháp cho họ, trừ bệnh, cần phải học.
  86. Với người để hở ngực không nên vì họ thuyết pháp, trừ bệnh, cần phải học.
  87. Tỳ-kheo đứng, người ngồi, không nên nói pháp cho họ, trừ bệnh, cần phải học.
  88. Tỳ-kheo đứng dưới thấp, người đứng ở chỗ cao, không nên nói pháp cho họ, trừ bệnh, cần phải học.
  89. Tỳ-kheo ngồi, người nằm, không nên nói pháp cho họ, trừ bệnh, cần phải học.
  90. Người đứng ở phía trước, Tỳ-kheo ở đằng sau, không nên nói pháp cho họ, trừ bệnh, cần phải học.
  91. Tỳ-kheo đứng ngoài lề đường không nên nói pháp cho người đứng ở giữa đường, trừ bệnh, cần phải học.
  92. Không nên nói pháp cho người trùm đầu lại, trừ bệnh, cần phải học.
  93. Không nên nói pháp cho người vắt ngược y lên, trừ bệnh, cần phải học.
  94. Không nên nói pháp cho người vắt lộn ngược y về phía phải và trái, trừ bệnh, cần phải học.
  95. Không nói pháp cho người cầm dù che thân, trừ bệnh, cần phải học.
  96. Không thuyết pháp cho người đang đi xe, trừ bệnh, cần phải học.
  97. Không nói pháp cho người cầm gậy, trừ bệnh, cần phải học.
  98. Không nói pháp cho người cầm dao, trừ bệnh, cần phải học.
  99. Không nói pháp cho người cầm cung tên, trừ bệnh, cần phải học.
  100. Không được leo lên cây cao quá đầu người trừ nhân duyên, cần phải học.

Bạch các Đại đức! Tôi đã nói xong pháp Chúng học, nay xin hỏi: Các Đại đức đối với các giới này thanh tịnh không? (Hỏi lần thứ hai, lần thứ ba cũng như vậy).

Các Đại đức đối với các giới này đều thanh tịnh, vì im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.

BẢY PHÁP DIỆT TRÁNH

Bạch các Đại đức! Đây là bảy pháp Diệt tránh, mỗi nửa tháng đều tụng theo trong Giới kinh:

  1. Vấn đề nên thi hành Tỳ ni hiện tiền thì phải thi hành Tỳ ni hiện tiền.
  2. Vấn đề nên thi hành Tỳ ni ức niệm thì phải thi hành Tỳ ni ức niệm.
  3. Vấn đề nên thi hành Tỳ ni bất si thì phải thi hành Tỳ ni bất si.
  4. Vấn đề nên thi hành Bổn ngôn trị thì phải thi hành Bổn ngôn trị.
  5. Vấn đề nên thi hành Tự ngôn trị thì phải thi hành Tự ngôn trị.
  6. Vấn đề nên thi hành Đa nhân ngữ thì phải thi hành Đa nhân ngữ.
  7. Vấn đề nên thi hành Thảo bố địa thì phải thi hành Thảo bố địa.

Bạch các Đại đức! Tôi đã nói xong bảy pháp Diệt tránh, nay xin hỏi: Các Đại đức đối với bảy pháp Diệt tránh này thanh tịnh không? (Hỏi lần thứ hai, lần thứ ba cũng như vậy).

Các Đại đức đối với các pháp này đều thanh tịnh, vì im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.

Bạch các Đại đức! Tôi đã nói tựa của Giới kinh, đã nói bốn pháp Ba-la-di, đã nói mười ba pháp Tăng-già-bà-thi-sa, đã nói hai pháp Bất định, đã nói ba mươi pháp Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề, đã nói chín mươi mốt pháp Ba-dật-đề, đã nói bốn pháp Ba-la-đề-đề-xá-ni, đã nói pháp Chúng học, đã nói bảy pháp Diệt tránh. Tất cả các pháp này được đưa vào trong Giới kinh Phật, mỗi nửa tháng đều tụng Ba-la-đề-mộc-xoa, còn các giới pháp khác tùy theo việc đạo mà kết hợp. Đối với những giới pháp, các Đại đức một lòng hòa hợp hoan hỷ không tranh cãi, hạnh an lạc phải như nước hòa với sữa, điều này cần phải học.

Đức Phật Tỳ-bà-thi, Đấng Như Lai Ứng Chánh Biến Tri, vì chúng Tăng tịch tĩnh nên lược nói Giới kinh:

Nhẫn nhục: Đạo bậc nhất
Niết-bàn Phật khen ngợi
Xuất gia làm người buồn
Không gọi là Sa-môn.

Đức Phật Thi Khí, Đấng Như Lai Chánh Biến Tri, vì chúng Tăng tịch tĩnh nên lược nói Giới kinh:

Như người đôi mắt sáng
Tránh được đường nguy hiểm
Người thông minh trong đời
Thường xa lìa các ác.

Đức Phật Tỳ Diệp Bà, Đấng Như Lai Ứng Chánh Biến Tri, vì chúng Tăng tịch tĩnh nên lược nói Giới kinh:

Không buồn, không nói lỗi
Làm theo giới đã dạy
Uống ăn biết vừa đủ
An vui nơi chỗ vắng
Tâm lắng vui tinh tấn
Là lời chư Phật dạy.

Đức Phật Câu Lưu Tôn, Đấng Như Lai Ứng Chánh Biến Tri, vì chúng Tăng thanh tịnh nên lược nói Giới kinh:

Như ong hút mật hoa
Không làm hoại hương, sắc
Lấy vị ngọt rồi đi
Tỳ-kheo vào xóm làng
Không làm hỏng việc người
Không nghĩ làm, không làm
Chỉ tự quán thân mình
Quán sát thiện, không thiện.

Đức Phật Câu Na Hàm Mâu Ni, Đấng Như Lai Ứng Chánh Biến Tri, vì chúng Tăng thanh tịnh nên lược nói Giới kinh:

Muốn tâm được tốt đừng buông lung
Pháp thiện Thánh nhân phải siêng học
Nếu có trí người lắng nhất tâm
Không còn lo buồn và tai họa.

Đức Phật Ca-diếp, Đấng Như Lai Ứng Chánh Biến Tri vì chúng Tăng thanh tịnh lược nói Giới kinh:

Mọi điều ác chớ làm
Điều thiện luôn hoàn bị
Tự lắng ý chí mình
Là lời chư Phật dạy.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Đấng Như Lai Ứng Chánh Biến Tri, vì chúng Tăng thanh tịnh nên lược nói Giới kinh:

Lành thay! Hộ trì thân
Hộ trì miệng cũng thiện
Hộ trì ý, lành thay!
Hết thảy hộ trì thiện
Tỳ-kheo hộ trì thảy
Liền được xa các khổ
Tỳ-kheo giữ miệng, ý
Thân không phạm các ác
Là ba nghiệp thanh tịnh
Đắc đạo của bậc Thánh.
Nếu ai đánh mắng, không báo trả
Với người sân hận, tâm không hận
Với người sân, trong lòng bình thản
Thấy người làm ác, mình không làm.
Bảy Phật là Thế Tôn
Thường cứu giúp thế gian
Phật đã nói Giới kinh
Tôi đã nói rõ xong
Chư Phật và đệ tử
Cung kính Giới kinh này
Đã cung kính Giới kinh
Hết thảy cung kính nhau
Hổ thẹn được đầy đủ
Chứng đắc đạo Vô vi.

Bạch các Đại đức! Tôi đã nói xong Ba-la-đề-mộc-xoa, Tăng một lòng Bố-tát được viên mãn.

NGŨ PHẦN GIỚI BỔN (CŨNG GỌI LÀ DI TẮC GIỚI BẢN)

Đại đức Tăng lắng nghe! Đang là mùa Đông, thiếu một đêm thì qua một tháng, trong ba tháng tiếp có dư thêm một đêm, sự già chết đến gần, pháp Phật sắp hủy diệt. Các Đại đức hãy vì sự đắc đạo mà nên một lòng siêng cầu tinh tấn. Tại sao phải thế? Vì chư Phật một lòng siêng cầu tinh tấn nên đã chứng đắc Chánh đẳng Chánh giác Vô thượng, huống gì là các pháp thiện khác. Tăng nay đã hòa hợp, người chưa thọ giới Cụ túc đã ra khỏi đây, trước hết xin hỏi Tăng hòa hợp để làm việc gì? (Một người thưa để Bố-tát, thuyết giới). Các Đại đức! Vì các Tỳ-kheo đời vị lai mà thuyết giới, gởi dục và thanh tịnh.

Cung kính chấp đôi tay
Cúng dường Đấng Thích Tôn
Tôi nay sắp nói giới
Tăng một lòng lắng nghe.
Dù là một tội nhỏ
Tâm phải lo sợ lớn
Luôn một lòng sám hối
Sau đừng tái phạm nữa.
Tâm ngựa chạy đường ác
Buông lung khó kìm chế
Phật giảng nói giới pháp
Cũng như cương hàm bén.
Từ miệng Phật giáo giới
Người thiện luôn tin nhận
Người này “Ngựa” điều thuận
Phá được quân phiền não.
Nếu không tuân lời dạy
Cũng không yêu thích giới
Người này “Ngựa” không thuần
Chìm trong quân phiền não.
Là người hộ trì giới
Như trâu mao thương đuôi
Buộc tâm không buông lung
Như khỉ bị xiềng giữ
Ngày đêm thường tinh tấn
Cầu trí tuệ chân thật
Người này trong pháp Phật
Được mạng sống thanh tịnh.

Đại đức Tăng lắng nghe! Nay là ngày mười lăm Bố-tát thuyết giới. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp nhận nghe giới thì một lòng cùng nhau Bố-tát. Đây là lời tác bạch.

Vị nào có tội thì phải phát lồ, không tội thì im lặng. Do im lặng nên biết các Đại đức thanh tịnh. Trong chúng, nếu Tỳ-kheo biết như vậy qua Ba lần xướng hỏi, nhớ có tội mà không phát lồ thì phạm tội cố ý nói dối. Đức Phật dạy tội cố ý nói dối làm ngăn cách đạo pháp. Trong chúng, nếu Tỳ-kheo như vậy, muốn cầu pháp thanh tịnh, nhớ có tội thì phải phát lồ, phát lồ thì được an ổn. Không phát lồ tội càng thêm sâu nặng.

Các Đại đức! Tôi đã nói tựa Giới kinh xong, nay xin hỏi các Đại đức: Trong chúng này thanh tịnh không? (Ba lần hỏi như vậy). Các Đại đức trong đây thanh tịnh, do im lặng, việc này tôi ghi nhận như vậy.

BỐN PHÁP BA LA DI

Các Đại đức! Đây là bốn pháp Ba-la-di, mỗi nửa tháng đều tụng theo Giới kinh:

1. Nếu Tỳ-kheo, chúng Tăng đã hòa hợp thọ giới Cụ túc, phạm giới không hoàn giới, không ra khỏi tưởng, hành dâm kể cả hành dâm cùng với loài súc sinh, Tỳ-kheo này phạm tội Ba-la-di, không được sống chung.

2. Nếu Tỳ-kheo, vật ở trong làng xóm, hoặc nơi đất trống hoang vắng, không cho mà lấy gọi là ăn trộm vật. Nếu vật đã không cho mà cố lấy, Vua hoặc quan bắt trói hoặc giết, hoặc kết tội trộm cắp, hoặc nói “Ngươi là tiểu nhân, kẻ ngu si, là giặc”. Tỳ-kheo có các tướng trạng như vậy thì Tỳ-kheo này phạm tội Ba-la-di, không được sống chung.

3. Nếu Tỳ-kheo, đối với người hoặc giống người đích thân giết hoặc bảo người giết, tự mình cầm dao đưa, hoặc bảo người cầm dao đưa cho họ, hoặc khuyên bảo giết, hoặc ca ngợi chết, hoặc nói: “Ôi! Ngươi sống xấu ác như vậy để làm gì, chết đi còn hơn sống”. Người này do động cơ như vậy mà chết thì Tỳ-kheo này phạm tội Ba-la-di, không được sống chung.

4. Nếu Tỳ-kheo, không biết, không thấy mà nói pháp hơn người, tự xưng: Biết như vậy, thấy như vậy. Về sau, các Tỳ-kheo, hoặc hỏi, hoặc không hỏi, vì cầu thanh tịnh nên phát lồ: Không biết nói biết, không thấy nói thấy, trừ tăng thượng mạn. Tỳ-kheo này phạm tội Bala-di, không được sống chung.

Các Đại đức! Tôi đã nói bốn pháp Ba-la-di, nếu Tỳ-kheo phạm mỗi một giới trong bốn giới này là phạm Ba-la-di, không được sống chung. Như trước khi chưa thọ giới, sau khi phạm cũng vậy. Tỳ-kheo phạm Ba-la-di không được sống chung. Nay xin hỏi các Đại đức, trong bốn giới Ba-la-di này thanh tịnh không? (Hỏi Ba lần như vậy).

Các Đại đức trong các giới này đều thanh tịnh do im lặng, việc này tôi ghi nhận như vậy.

13 PHÁP TĂNG GIÀ BÀ THI SA

Các Đại đức! Đây là mười ba pháp Tăng-già-bà-thi-sa, mỗi nửa tháng tụng theo trong Giới kinh:

1. Nếu Tỳ-kheo cố làm cho ra bất tịnh, trừ trong mộng, phạm Tăng-già-bà-thi-sa.

2. Nếu Tỳ-kheo tâm dục biến loạn cùng xúc chạm với người nữ, hoặc nắm tay, tóc, cánh tay, xúc chạm trên dưới đắm vướng sự trơn láng mịn màng, phạm Tăng-già-bà-thi-sa.

3. Nếu Tỳ-kheo nói với người nữ những lời bất tịnh, phạm Tănggià-bà-thi-sa.

4. Nếu Tỳ-kheo nói với người nữ: Chúng tôi là người trì giới, phạm hạnh, tu các pháp thiện, đem việc dâm dục cúng dường chúng tôi đó là pháp cúng dường trên hết, phạm Tăng-già-bà-thi-sa.

5. Nếu Tỳ-kheo làm việc mai mối, đem ý người nam đến nói với người nữ, đem ý người nữ đến nói với người nam, hoặc để họ lấy làm vợ, hoặc làm việc tư thông, dẫn đến chỉ một lần giao hội, phạm Tănggià-bà-thi-sa.

6. Nếu Tỳ-kheo, không có thí chủ, vì mình tự xin vật liệu làm chỗ ở lớn phải hỏi các Tỳ-kheo chỗ làm không có các nạn, chẳng phải chỗ trở ngại. Nếu không hỏi các Tỳ-kheo mà làm quá mức lượng định, phạm Tăng-già-bà-thi-sa.

7. Nếu Tỳ-kheo có thí chủ, muốn làm chỗ ở lớn cho mình, phải hỏi các Tỳ-kheo chỗ làm không có nạn, chỗ không trở ngại. Nếu không hỏi mà làm, phạm Tăng-già-bà-thi-sa.

8. Nếu Tỳ-kheo giận Tỳ-kheo khác, sử dụng pháp Ba-la-di không căn cứ hủy báng nhằm phá hạnh thanh tịnh của Tỳ-kheo kia. Tỳ-kheo này hoặc được hỏi hay không được hỏi, biết đây là việc làm vô cớ, liền nói: “Tôi sân hận nên nói như vậy”, phạm Tăng-già-bà-thi-sa.

9. Nếu Tỳ-kheo giận người khác nên không vui, trong phần việc khác nhau, lấy ra một khía cạnh hoặc khía cạnh tương tợ, chẳng phải việc Tỳ-kheo phạm Ba-la-di, sử dụng làm pháp Ba-la-di hủy báng nhằm cố phá hạnh thanh tịnh của Tỳ-kheo kia. Tỳ-kheo này biết rõ đây là sự việc trong phần việc khác nhau lấy ra một chi tiết rồi thêu dệt thành chuyện, phạm Tăng-già-bà-thi-sa.

10. Nếu Tỳ-kheo, muốn phá hòa hợp Tăng, tìm mọi phương tiện để phá các việc liên hệ đến Tăng. Các Tỳ-kheo nên can gián: Đại đức phải cùng Tăng hòa hợp, đừng mượn các phương tiện phá mối liên hệ của Tăng. Phải cùng Tăng hòa hợp. Tại sao? Vì Tăng hòa hợp nên hoan hỷ, không tranh cãi, một lòng cùng học một thầy, hạnh an lạc như nước và sữa hòa hợp. Khi can gián như vậy đến lần thứ ba, bỏ việc phá hòa hợp Tăng là tốt, không bỏ, Tỳ-kheo kia phạm Tăng-già-bà-thi-sa.

11. Nếu Tỳ-kheo có cùng một ý kiến nhưng khác biệt về lời nói, hoặc một, hoặc hai lần. Tỳ-kheo này nói với các Tỳ-kheo: “Đừng nên can gián Tỳ-kheo ấy. Tại sao vậy? Vì Tỳ-kheo đó biết mới nói chứ chẳng phải không biết mà nói”. Các Tỳ-kheo phải can gián như thế này: Đại đức phải hỗ trợ Tăng hòa hợp, đừng hỗ trợ phá hòa hợp Tăng. Tại sao vậy? Vì Tăng hòa hợp nên hoan hỷ không tranh cãi, một lòng cùng học một thầy, hạnh an lạc như nước và sữa hòa hợp. Khi can gián như vậy đến lần thứ ba, bỏ thì tốt, không bỏ, Tỳ-kheo kia phạm Tănggià-bà-thi-sa.

12. Nếu Tỳ-kheo ở nơi xóm làng, thành ấp, làm những chuyện xấu ác, hoen ố tín đồ, mọi người đều thấy, nghe và biết rõ. Các Tỳkheo phải nói với Tỳ-kheo này: “Đại đức, thầy làm những chuyện xấu xa hoen ố tín đồ, ai cũng đều thấy, nghe, biết việc xấu ác của thầy. Thầy phải đi, không được sống nơi này nữa”. Tỳ-kheo này nói với các Tỳ-kheo khác: Lời nói của các thầy theo cảm tính thương, giận, si, sợ, có Tỳ-kheo tội cũng đồng như vậy, có người bị đuổi, có người lại không bị đuổi. Khi can gián như vậy đến lần thứ ba bỏ thì tốt, không bỏ, phạm Tăng-già-bà-thi-sa.

13. Nếu Tỳ-kheo tánh tình xấu xa, khó hòa thuận với ai, cùng tụng kinh, tụng luật nhưng thường tranh cãi. Các Tỳ-kheo như pháp, như luật như giới kinh khuyên Tỳ-kheo này. Tỳ-kheo này mê mờ không chấp nhận lời khuyên can, nói với các Tỳ-kheo: “Đại đức! Thầy đừng nói với tôi điều tốt, xấu, tôi cũng không nói với các thầy điều tốt, xấu”. Các Tỳ-kheo lại khuyên: “Thầy vì các Tỳ-kheo nói, chúng tôi cũng vì các Tỳ-kheo nói như pháp, như luật khiến cho chúng Như Lai được tăng trưởng”. Khi can gián như vậy, đến lần thứ ba, bỏ thì tốt, không bỏ, Tỳkheo kia thì phạm Tăng-già-bà-thi-sa.

Các Đại đức! Tôi đã nói mười ba pháp Tăng-già-bà-thi-sa. Chín giới đầu phạm thành tội, bốn giới sau can gián Ba lần mới phạm. Tỳkheo nào phạm mỗi một giới, tùy theo thời gian che giấu tội mà cho thi hành bấy nhiêu ngày sống riêng. Thi hành (Ma-na-đỏa) xong Biệt trụ tiếp đến là thi hành sáu đêm “Lòng vui thanh thản”, sau cùng đến việc Giải tội. Thực hiện đúng như vậy rồi, trong việc Giải tội phải đủ hai mươi vị. Nếu thiếu một vị, không hội đủ hai mươi thì việc xuất tội của Tỳ-kheo này không thành. Nếu tác pháp như vậy thì phải khiển trách đúng pháp. Pháp ứng xử là phải như vậy.

Nay hỏi các Đại đức trong các giới Tăng-già-bà-thi-sa thanh tịnh không? (Hỏi Ba lần như vậy) Các Đại đức trong các giới này đều thanh tịnh, vì im lặng, việc này tôi ghi nhận như vậy.

HAI PHÁP BẤT ĐỊNH

Các Đại đức! Đây là hai pháp Bất định, mỗi nửa tháng tụng theo trong Giới kinh.

1. Nếu Tỳ-kheo cùng với một người nữ, ở chỗ vắng có che khuất, chỗ có thể hành dâm, Ưu-bà-di có lòng tin thấy được hành động của Tỳkheo này rồi trong ba pháp, nói phạm mỗi một pháp: hoặc Tăng-già-bàthi-sa, hoặc Ba-la-di, hoặc Ba-dạ-đề. Tùy theo sự thấy của Ưu-bà-di có lòng tin nói phạm mà như pháp thi hành.

2. Nếu Tỳ-kheo cùng với một người nữ, ngồi chỗ không bị che chắn vắng vẻ, chỗ không thể hành dâm. Tùy theo sự thấy của Ưu-bà-di có lòng tin về hành động của Tỳ-kheo này rồi trong hai pháp nói phạm mỗi một pháp: hoặc Tăng-già-bà-thi-sa, hoặc Ba-dật-đề. Tùy theo sự thấy của Ưu-bà-di có lòng tin nói phạm mà như pháp thi hành.

Các Đại đức! Tôi đã nói xong hai pháp Bất định. Nay xin hỏi các Đại đức trong hai pháp này thanh tịnh không? (Hỏi Ba lần). Các Đại đức đối với hai pháp này đều thanh tịnh, vì im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.

30 PHÁP NI TÁT KỲ BA DẬT ĐỀ

Các Đại đức! Đây là ba mươi pháp Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề, mỗi nửa tháng đều tụng theo Giới kinh.

1. Nếu Tỳ-kheo, ba y đã có đầy đủ, y Ca-hi-na đã xả, được giữ y dư đến mười ngày, nếu quá thì phạm Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề.

2. Nếu Tỳ-kheo, ba y đã có được đầy đủ, y Ca-hi-na đã xả, trong ba y nếu rời mỗi một y ở chỗ khác để ngủ thì phạm Ni-tát-kỳ Ba-dạđề.

3. Nếu Tỳ-kheo, ba y đã có được đầy đủ, y Ca-hi-na đã xả, nhận được y phi thời thì được cất giữ đến mười ngày, nếu quá thì phạm Nitát-kỳ Ba-dạ-đề.

4. Nếu Tỳ-kheo, nhận y từ Tỳ-kheo-ni chẳng phải bà con, trừ việc đổi chác thì phạm Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề.

5. Nếu Tỳ-kheo sai bảo Tỳ-kheo-ni chẳng phải bà con giặt y cũ thì phạm Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề.

6. Nếu Tỳ-kheo, xin y nơi cư sĩ không phải bà con, trừ nhân duyên, thì phạm Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề.

7. Nếu Tỳ-kheo, y bị đoạt, y bị mất, y bị nước cuốn trôi, đến cư sĩ, vợ cư sĩ chẳng phải bà con để xin y, nên nhận y thượng, hạ. Nếu nhận quá thì phạm Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề.

8. Nếu Tỳ-kheo, có cư sĩ, vợ cư sĩ chẳng phải bà con, vì muốn sắm y giá trị cho Tỳ-kheo, nên suy nghĩ: “Đem số tiền vải như vậy mua sắm y như vậy cúng cho Tỳ-kheo tên…”, Tỳ-kheo này trước đó không được mời nhận tùy ý, vì muốn y tốt nên đến nhà cư sĩ, vợ cư sĩ nói như vầy: “Hãy vì tôi sắm y giá trị như thế”. Nếu nhận được y thì phạm Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề.

9. Nếu Tỳ-kheo, có cư sĩ, vợ cư sĩ chẳng phải bà con, vì muốn sắm y tốt cho Tỳ-kheo, nên suy nghĩ: “Lấy số tiền tương xứng vải như vậy mua sắm y như vậy cúng cho Tỳ-kheo tên…”, Tỳ-kheo này trước không được nhận mời nhận tùy ý, vì muốn y thật tốt nên đến nhà cư sĩ, vợ cư sĩ bảo: “Hãy vì tôi sắm y giá trị như vậy, các vị chung tiền lại may một y thật tốt cúng cho tôi”. Nếu nhận được y này thì phạm Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề.

10. Nếu Tỳ-kheo, hoặc Vua hay quan, Bà-la-môn, hoặc cư sĩ, cho người đến chỗ Tỳ-kheo thưa: “Đại đức biết không? Với số tiền vải y đây, được nhà Vua, quan, Bà-la-môn, cư sĩ này cho tôi mang đến cúng thầy, xin Đại đức nhận cho”. Tỳ-kheo nói: “Theo pháp Tỳ-kheo, tôi không được phép nhận tiền vải y như vậy”. Người sứ ấy hỏi Tỳ-kheo: “Thưa, có tịnh nhân giúp thầy nhận không?”. Tỳ-kheo bảo: “Là người này”. Người sứ đến chỗ tịnh nhân giúp việc nói: “Với số tiền vải y này cúng cho Tỳ-kheo tên… ông hãy nhận cho”. Tỳ-kheo này sau đó, lúc cần y, đến tịnh nhân, người chấp việc này, nói: “Tôi cần y, tôi cần y”, được sáu lần đến đứng im lặng trước người giúp sự để hỏi. Nhận được y thì tốt. Nếu đến quá để xin thì phạm Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề… bằng không nhận được tiền may y thì phải đến chỗ người đem tiền vải đến giao, hoặc đích thân, hoặc sai người nói cho họ biết. Đây là việc nên làm.

11. Nếu Tỳ-kheo may phu cụ mới bằng tơ tằm thì phạm Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề.

12. Nếu Tỳ-kheo may phu cụ toàn bằng lông dê đen thì phạm Nitát-kỳ Ba-dạ-đề.

13. Nếu Tỳ-kheo may phu cụ mới thì lượng lông dê phải hai phần đen, một phần ba trắng, một phần tư lông xấu, nếu không như vậy thì phạm Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề.

14. Nếu Tỳ-kheo may phu cụ mới phải dùng đủ sáu năm, nếu dưới sáu năm, không xả phu cụ cũ lại làm phu cụ mới, trừ Tăng Yết-ma cho phép, thì phạm Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề.

15. Nếu Tỳ-kheo may phu cụ mới thì phải lấy một miếng nơi phu cụ cũ vuông vức một gang tay Phật may lên cái mới nhằm làm hoại sắc. Không thực hiện việc này thì phạm Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề.

16. Nếu Tỳ-kheo trên lộ trình đi nhận được lông dê, mang vác đi quá ba do-tuần thì phạm Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề.

17. Nếu Tỳ-kheo sai bảo Tỳ-kheo-ni chẳng phải bà con giặt, nhuộm, đập lông dê thì phạm Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề.

18. Nếu Tỳ-kheo tự tay nhận lấy vàng bạc hoặc sai người nhận thì phạm Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề.

19. Nếu Tỳ-kheo sử dụng các loại bằng vàng thì phạm Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề.

20. Nếu Tỳ-kheo mua rẻ bán đắt, mua bán các thứ thì phạm Nitát-kỳ Ba-dạ-đề.

21. Nếu Tỳ-kheo được cất giữ bát dư đến mười ngày, nếu quá thì phạm Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề.

22. Nếu Tỳ-kheo, bát của mình cất giữ trước đây mà chưa đủ năm đường hàn gắn, vì muốn bát tốt lại cất giữ bát mới thì phạm Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề.

23. Nếu Tỳ-kheo sai thợ dệt chẳng phải bà con dệt vải thì phạm Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề.

24. Nếu Tỳ-kheo, có cư sĩ hoặc vợ cư sĩ chẳng phải bà con khiến thợ dệt dệt vải may y cho Tỳ-kheo. Tỳ-kheo này trước không được nhận mời tùy ý, vì muốn y tốt, đến nhà người thợ dệt nói: Hãy vì tôi dệt cho khéo khiến được sắc sảo, rộng, dày, đương nhiên phải thêm cho ông ít tiền. Hoặc tự ngỏ lời hoặc sai người ngỏ lời này, sau đó nhận được y này thì phạm Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề.

25. Nếu Tỳ-kheo, trước đã cho người khác vật dụng, sau vì sân hận, chiếm đoạt lại vật, thì phạm Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề.

26. Nếu Tỳ-kheo ba tháng hạ đã qua, có nhuần tháng tám chưa mãn, gởi y nhà cư sĩ, được đến sáu đêm thì phải đến chỗ y gởi này, sang sáng sớm ngày thứ bảy mới đến thì phạm Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề.

27. Nếu Tỳ-kheo, còn mười ngày nữa mới đến tuổi hạ, có y cúng gấp. Tỳ-kheo này nếu cần y thì được tự tay nhận rồi cất đến thời hạn của y. Nếu quá thì phạm Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề.

28. Nếu Tỳ-kheo, còn một tháng mới hết mùa Xuân, nên tìm áo tắm mưa, được phép cất giữ nửa tháng, nếu cất giữ quá thì phạm Ni-tátkỳ Ba-dạ-đề.

29. Nếu Tỳ-kheo, biết vật cúng cho Tăng lại tự xoay về cho mình thì phạm Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề.

30. Nếu Tỳ-kheo, Phật cho phép Tỳ-kheo bệnh uống bốn loại thuốc dễ tiêu hóa. Tô, dầu, mật, đường phèn được để đến bảy ngày để dùng. Nếu để quá thì phạm Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề.

Các Đại đức! Tôi đã nói xong ba mươi pháp Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề. Nay xin hỏi các Đại đức trong ba mươi pháp này thanh tịnh không? (Hỏi Ba lần). Các Đại đức, đối với các pháp này đều thanh tịnh vì im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.

90 PHÁP BA DẬT ĐỀ

Các Đại đức! Đây là chín mươi pháp Ba-dạ-đề, mỗi nửa tháng đều tụng theo Giới kinh:

1. Nếu Tỳ-kheo cố ý nói dối thì phạm Ba-dạ-đề.

2. Nếu Tỳ-kheo mắng, hủy báng người khác thì phạm Ba-dạ-đề.

3. Nếu Tỳ-kheo làm loạn đánh Tỳ-kheo khác thì phạm Ba-dạđề.

4. Nếu Tỳ-kheo biết Tăng đã như pháp giải quyết xong sự việc, xong lại khơi lại thì phạm Ba-dạ-đề.

5. Nếu Tỳ-kheo vì người nữ thuyết pháp, nói quá năm, sáu lời thì phạm Ba-dạ-đề, trừ có người nam hiểu biết.

6. Nếu Tỳ-kheo dùng lối kệ Xiển-đà để dạy cho người chưa thọ Cụ giới thì phạm Ba-dạ-đề.

7. Nếu Tỳ-kheo nội lực thật có pháp hơn người lại đến người chưa thọ Cụ giới để nói thì phạm Ba-dạ-đề.

8. Nếu Tỳ-kheo biết Tỳ-kheo khác phạm tội Tăng tàn, đem nói cho người chưa thọ Cụ giới biết thì phạm Ba-dạ-đề.

9. Nếu Tỳ-kheo trước cùng với Tăng hòa hợp rồi, sau nói như vầy: “Các Tỳ-kheo tùy theo chỗ bạn bè thân thuộc mà đem vật dụng của Tăng cho họ”, thì phạm Ba-dạ-đề.

10. Nếu Tỳ-kheo khi nói giới, lại nói: “Mỗi nửa tháng đều nói những giới vụn vặt, lỉnh kỉnh này làm gì! Chỉ khiến cho Tỳ-kheo khác ưu sầu không vui! Sinh tâm phản giới thôi”. Nói lên lời khinh chê giới này thì phạm Ba-dạ-đề.

11. Nếu Tỳ-kheo phá hại các loại cây cỏ thì phạm Ba-dạ-đề.

12. Nếu Tỳ-kheo mắng nhiếc hiềm hận thì phạm Ba-dạ-đề.

13. Nếu Tỳ-kheo mượn việc khác làm buồn Tỳ-kheo khác thì phạm Ba-dạ-đề.

14. Nếu Tỳ-kheo trải ngọa cụ nơi đất trống cho đến sáng, không tự thu dọn cũng không bảo ai dọn thì phạm Ba-dạ-đề.

15. Nếu Tỳ-kheo trải ngọa cụ trong phòng rồi đi ra ngoài cương giới thì phạm Ba-dạ-đề.

16. Nếu Tỳ-kheo nóng giận, cáu gắt không vui, trong phòng lôi kéo người ra ngoài thì phạm Ba-dạ-đề.

17. Nếu Tỳ-kheo biết Tỳ-kheo khác trước đó đã trải ngọa cụ ở trong phòng, sau đến chiếm chỗ trải ngọa cụ thì phạm Ba-dạ-đề.

18. Nếu Tỳ-kheo, trên nhà gác đặt giường chân nhọn lại cố sức nằm, ngồi mạnh thì phạm Ba-dạ-đề.

19. Nếu Tỳ-kheo, lợp mái nhà, phần thứ nhất phủ che kín mái, phần thứ hai lợp che giấu đầu, phần thứ Ba-là lợp đúng theo thông lệ. Lợp quá thông lệ này thì phạm Ba-dạ-đề.

20. Nếu Tỳ-kheo biết nước có trùng, lấy nước ấy tưới lên cỏ đất thì phạm Ba-dạ-đề.

21. Nếu Tỳ-kheo, Tăng không sai giáo giới Tỳ-kheo-ni mà vẫn giáo giới thì phạm Ba-dạ-đề.

22. Nếu Tỳ-kheo, Tăng tuy sai giáo giới Tỳ-kheo-ni mà giáo giới đến chiều tối thì phạm Ba-dạ-đề.

23. Nếu Tỳ-kheo nói với Tỳ-kheo khác: “Tỳ-kheo này vì tài vật cho nên giáo giới Tỳ-kheo-ni mà thôi”, thì phạm Ba-dạ-đề.

24. Nếu Tỳ-kheo cùng với Tỳ-kheo-ni đi chung đường, đến một xóm làng, thì phạm Ba-dạ-đề.

25. Nếu Tỳ-kheo cùng với Tỳ-kheo-ni đi chung một thuyền thì phạm Ba-dạ-đề, trừ nhân duyên.

26. Nếu Tỳ-kheo cùng với Tỳ-kheo-ni, chỉ hai người ngồi chỗ vắng có che chắn thì phạm Ba-dạ-đề.

27. Nếu Tỳ-kheo cho y Tỳ-kheo-ni chẳng phải bà con thì phạm Ba-dạ-đề.

28. Nếu Tỳ-kheo may y cho Tỳ-kheo-ni chẳng phải bà con thì phạm Ba-dạ-đề.

29. Nếu Tỳ-kheo cùng với người nữ, chỉ hai người ngồi nơi chỗ trống thì phạm Ba-dạ-đề.

30. Nếu Tỳ-kheo biết thức ăn có được là do sự khen ngợi của Tỳkheo-ni, mà vẫn ăn thì phạm Ba-dạ-đề.

31. Nếu Tỳ-kheo thường ăn luôn miệng thì phạm Ba-dạ-đề.

32. Nếu Tỳ-kheo, nơi nào có làm phước đức ăn quá một bữa thì phạm Ba-dạ-đề.

33. Nếu Tỳ-kheo đến nhà cư sĩ, họ lấy bún, bánh, cơm… trao cho tùy ý, được phép nhận lấy một bát, nhận quá thì phạm Ba-dạ-đề.

34. Nếu Tỳ-kheo không thọ pháp ăn dư mà ăn lại thì phạm Badạ-đề.

35. Nếu Tỳ-kheo biết Tỳ-kheo khác ăn xong, không thọ pháp thức ăn dư, vì muốn cố làm phiền vị kia, lại khuyến ép vị ấy ăn cho được thì phạm Ba-dạ-đề.

36. Nếu Tỳ-kheo ăn riêng chúng thì phạm Ba-dạ-đề, trừ nhân duyên.

37. Nếu Tỳ-kheo ăn phi thời, thì phạm Ba-dạ-đề.

38. Nếu Tỳ-kheo trao thức ăn dư cách đêm, họ ăn thì phạm Badạ-đề.

39. Nếu Tỳ-kheo không được mời nhận ăn mà bỏ đồ ăn vào trong miệng, trừ nước uống và tăm xỉa răng thì phạm Ba-dạ-đề.

40. Nếu Tỳ-kheo không bệnh, vì mình mà xin sữa, lạc, sinh tô, cá, thịt, nem thì phạm Ba-dạ-đề.

41. Nếu Tỳ-kheo biết nước có trùng mà lấy dùng thì phạm Badạ-đề.

42. Nếu Tỳ-kheo trong “Nhà ăn”, hoặc nằm, ngồi thì phạm Badạ-đề.

43. Nếu Tỳ-kheo, trong “Nhà ăn” cùng với người nữ ngồi thì phạm Ba-dạ-đề.

44. Nếu Tỳ-kheo, có ngoại đạo lõa hình xin mà tự tay trao thức ăn cho họ thì phạm Ba-dạ-đề.

45. Nếu Tỳ-kheo đi xem quân đội phát binh ra trận thì phạm Badạ-đề.

46. Nếu Tỳ-kheo đến ở trong quân đội quá hai đêm thì phạm Badạ-đề.

47. Nếu Tỳ-kheo đến xem vũ khí trong quân đội… thì phạm Badạ-đề.

48. Nếu Tỳ-kheo giận người ấy nên giơ tay lên dọa họ thì phạm Ba-dạ-đề.

49. Nếu Tỳ-kheo giận người ấy, đưa tay lên đánh thì phạm Badạ-đề.

50. Nếu Tỳ-kheo biết vị ấy phạm Ba-la-di mà che giấu tội qua một đêm thì phạm Ba-dạ-đề.

51. Nếu Tỳ-kheo nói với Tỳ-kheo khác: Đến chỗ tôi, tôi đưa thầy đến nhà ấy. Thầy được ăn ngon, hoặc vào cửa hoặc chưa vào cửa, quay lại bỏ đi về thì phạm Ba-dạ-đề.

52. Nếu Tỳ-kheo, khi Tăng giải quyết việc, đã gởi dục như pháp, sau lại hối tiếc việc này thì phạm Ba-dạ-đề.

53. Nếu Tỳ-kheo cùng với người chưa thọ Cụ giới ngủ một chỗ, quá hai đêm thì phạm Ba-dạ-đề.

54. Nếu Tỳ-kheo đốt lửa nơi đất trống thì phạm Ba-dạ-đề, trừ khi có bệnh.

55. Nếu Tỳ-kheo nói với Tỳ-kheo khác: Tôi biết nghĩa pháp Phật như vầy: “Hành dâm dục không thể ngăn che đạo”. Các Tỳ-kheo Bạchtứ-yết-ma Ba lần can gián, vẫn không xả bỏ thì phạm Ba-dạ-đề.

56. Nếu Tỳ-kheo, trong chúng đúng pháp đã dạy bảo đuổi người ấy đi, mà mình lại bảo bọc nuôi họ, rồi khiến cùng làm việc với nhau thì phạm Ba-dạ-đề.

57. Nếu Tỳ-kheo, Sa-di đã theo pháp dạy bảo đuổi đi, mình lại bảo bọc nuôi rồi khiến cùng làm việc với nhau thì phạm Ba-dạ-đề.

58. Nếu Tỳ-kheo hoặc vật báu hoặc giống vật báu, nếu tự lấy, dạy người lấy thì phạm Ba-dạ-đề.

59. Nếu Tỳ-kheo mặc y mới mà không làm hoại sắc thì phạm Badạ-đề.

60. Nếu Tỳ-kheo, nội trong vòng nửa tháng mà tắm rửa, trừ nhân duyên thì phạm Ba-dạ-đề.

61. Nếu Tỳ-kheo cố ý giết hại súc sinh thì phạm Ba-dạ-đề.

62. Nếu Tỳ-kheo gây phiền muộn cho Tỳ-kheo khác thì phạm Ba-dạ-đề.

63. Nếu Tỳ-kheo lấy ngón tay thọc lét nhau thì phạm Ba-dạ-đề.

64. Nếu Tỳ-kheo lấy tay đùa giỡn trong nước thì phạm Ba-dạ-đề.

65. Nếu Tỳ-kheo cùng với người nữ ngủ chung phòng thì phạm Ba-dạ-đề.

66. Nếu Tỳ-kheo gây hoảng hốt sợ hãi cho Tỳ-kheo khác thì phạm Ba-dạ-đề.

67. Nếu Tỳ-kheo giấu y, bát của người khác khiến họ lo sợ, hốt hoảng thì phạm Ba-dạ-đề.

68. Nếu Tỳ-kheo, trước đã cho y năm chúng rồi tự ý lấy lại dùng thì phạm Ba-dạ-đề.

69. Nếu Tỳ-kheo đem tội Tăng tàn để hủy báng Tỳ-kheo khác thì phạm Ba-dạ-đề.

70. Nếu Tỳ-kheo cùng người nữ đi chung một đường đến một xóm làng thì phạm Ba-dạ-đề.

71. Nếu Tỳ-kheo cùng với kẻ ăn trộm đi chung đến một xóm làng thì phạm Ba-dạ-đề.

72. Nếu Tỳ-kheo, người chưa đủ hai mươi tuổi mà cho thọ giới Cụ túc thì phạm Ba-dạ-đề.

73. Nếu Tỳ-kheo tự đào đất hoặc sai khiến người đào thì phạm Ba-dạ-đề.

74. Nếu Tỳ-kheo, chỗ có nhiều “phước đức” thỉnh Tăng cúng bốn tháng tất cả các dược phẩm, nếu nhận quá thời gian ấy thì phạm Badạ-đề.

75. Nếu Tỳ-kheo, đối với bốn pháp Ba-la-di, nói: Tôi không thọ pháp này, phải hỏi vị trì luật, trì luận khác, thì phạm Ba-dạ-đề.

76. Nếu Tỳ-kheo cùng với người khác tranh cãi đã kết thúc mà mình lại đến trộm lắng nghe thì phạm Ba-dạ-đề.

77. Nếu Tỳ-kheo, Tăng đang giải quyết việc, lặng lẽ đứng dậy bỏ đi, không thưa với Tỳ-kheo thanh tịnh thì phạm Ba-dạ-đề.

78. Nếu Tỳ-kheo không cung kính Thượng tọa thì phạm Ba-dạđề.

79. Nếu Tỳ-kheo uống rượu thì phạm Ba-dạ-đề.

80. Nếu Tỳ-kheo quá giữa ngày vào xóm làng thì phạm Ba-dạ-đề, trừ nhân duyên.

81. Nếu Tỳ-kheo vì người khác trông coi việc của Tăng, nếu trước ngọ, sau ngọ đến nhà khác thì phạm Ba-dạ-đề.

82. Nếu Tỳ-kheo, chỗ Vua Sát-đế-lợi, đêm chưa sáng, bảo vật chưa cất, nếu bước qua cửa cung Vua hoặc bước qua khỏi cửa hậu cung thì phạm Ba-dạ-đề, trừ nhân duyên.

83. Nếu Tỳ-kheo đối với bốn pháp Ba-la-di, nói: Tôi mới biết pháp này, mỗi nửa tháng đều thuyết, rút ra từ trong Giới kinh. Các Tỳkheo biết Tỳ-kheo này có đến hai, Ba lần trong chúng nghe nói giới. Ngồi không tôn trọng, không tập trung lắng tai nghe giới thì phạm Badạ-đề.

84. Nếu Tỳ-kheo làm ống đựng kim bằng xương, răng, sừng thì phạm Ba-dạ-đề.

85. Nếu Tỳ-kheo làm giường cây mà cao quá tám ngón tay Phật thì phạm Ba-dạ-đề.

86. Nếu Tỳ-kheo làm phu cụ bằng cỏ, hoa cây thì phạm Ba-dạđề.

87. Nếu Tỳ-kheo sắm áo tắm mưa quá kích cỡ quy định thì phạm Ba-dạ-đề.

88. Nếu Tỳ-kheo may y che thân quá kích cỡ quy định thì phạm Ba-dạ-đề.

89. Nếu Tỳ-kheo may Ni sư đàn thì dài hai gang tay Phật, rộng một gang rưỡi lại thêm mỗi bề một gang tay Phật nữa. Quá lượng này phạm Ba-dạ-đề.

90. Nếu Tỳ-kheo may y bằng kích cỡ y của Phật thì phạm Ba-dạ-đề.

Các Đại đức! Tôi đã nói xong chín mươi pháp pháp Ba-dạ-đề. Nay xin hỏi các Đại đức trong các giới Ba-dạ-đề này thanh tịnh không? (Hỏi Ba lần). Các Đại đức trong đây đều thanh tịnh vì im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.

BỐN PHÁP BA LA ĐỀ XÁ NI

Các Đại đức! Đây là bốn pháp Ba-la-đề-đề-xá-ni, mỗi nửa tháng tụng theo Giới kinh:

1. Nếu Tỳ-kheo không bệnh vào xóm làng, đến Tỳ-kheo-ni không phải bà con, tự tay nhận thức ăn của họ thì phạm Ba-la-đề-đề-xá-ni.

2. Nếu Tỳ-kheo thọ nhận thức ăn, theo sự hướng dẫn của Tỳkheo-ni mà ăn thì phạm Ba-la-đề-đề-xá-ni.

3. Nếu Tỳ-kheo có Học gia nào đó, trước không nhận lời mời của họ, sau lại đến tự tay nhận thức ăn thì phạm Ba-la-đề-đề-xá-ni.

4. Nếu Tỳ-kheo, Tăng chưa tác pháp Yết-ma, tự tay nhận thức ăn của người này ngoài phòng Tăng thì phạm Ba-la-đề-đề-xá-ni.

Các Đại đức! Tôi đã nói xong bốn pháp Ba-la-đề-đề-xá-ni. Nay xin hỏi các Đại đức trong bốn pháp này thanh tịnh không? (Hỏi Ba lần). Các Đại đức đối với bốn pháp này đều thanh tịnh, vì im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.

PHÁP CHÚNG HỌC

Các Đại đức! Đây là pháp Chúng học, mỗi nửa tháng tụng theo trong Giới kinh:

1. Không mặc nội y cao, cần phải học.

2. Không mặc nội y thấp, cần phải học.

3. Không mặc nội y so le, cần phải học.

4. Không mặc nội y như lá Đa-la, cần phải học.

5. Không mặc nội y giống như mũi voi, cần phải học.

6. Không mặc nội y túm tròn lại, cần phải học.

7. Không mặc nội y xếp nhiều nếp nhỏ, cần phải học.

8. Không mặc y cao, cần phải học.

9. Không mặc y thấp, cần phải học.

10. Không mặc y so le, cần phải học.

11. Khéo che kín thân khi vào nhà cư sĩ, cần phải học.

12. Khéo che kín thân khi ngồi nơi nhà cư sĩ, cần phải học.

13. Không liếc nhìn khi vào nhà cư sĩ, cần phải học.

14. Không liếc nhìn khi ngồi ở nhà cư sĩ, cần phải học.

15. Không lôi thôi khi vào nhà cư sĩ, cần phải học.

16. Không lôi thôi khi ngồi nơi nhà cư sĩ, cần phải học.

17. Không hít mũi khi vào nhà cư sĩ, cần phải học.

18. Không hít mũi khi ngồi nơi nhà cư sĩ, cần phải học.

19. Không quá tự cao khi vào nhà cư sĩ, cần phải học.

20. Không quá tự cao khi ngồi nơi nhà cư sĩ, cần phải học.

21. Khẽ tiếng khi vào nhà cư sĩ, cần phải học.

22. Khẽ tiếng khi ngồi ở nhà cư sĩ, cần phải học.

23. Không quỳ gối khi vào nhà cư sĩ, cần phải học.

24. Không quỳ gối khi ngồi ở nhà cư sĩ, cần phải học.

25. Không trùm đầu khi vào nhà cư sĩ, cần phải học.

26. Không trùm đầu khi ngồi ở nhà cư sĩ, cần phải học.

27. Không bịt khăn đầu khi vào nhà cư sĩ, cần phải học.

28. Không bịt khăn đầu khi ngồi ở nhà cư sĩ, cần phải học.

29. Không chống nạnh khi vào nhà cư sĩ, cần phải học.

30. Không chống nạnh khi ngồi nơi nhà cư sĩ, cần phải học.

31. Không để hở ngực khi vào nhà cư sĩ, cần phải học.

32. Không để hở ngực khi ngồi nơi nhà cư sĩ, cần phải học.

33. Không để hở nách khi vào nhà cư sĩ, cần phải học.

34. Không để hở nách khi ngồi nơi nhà cư sĩ, cần phải học.

35. Không vắt ngược y khi vào nhà cư sĩ, cần phải học.

36. Không vắt ngược y khi ngồi ở nhà cư sĩ, cần phải học.

37. Không vắt ngược y hai bên khi vào nhà cư sĩ, cần phải học.

38. Không vắt ngược y hai bên khi ngồi nơi nhà cư sĩ, cần phải học.

39. Không bỏ y nhảy khi vào nhà cư sĩ, cần phải học.

40. Không bỏ y nhảy khi ngồi ở nhà cư sĩ, cần phải học.

41. Không lắc tay khi vào nhà cư sĩ, cần phải học.

42. Không lắc tay khi ngồi nơi nhà cư sĩ, cần phải học.

43. Không lắc vai khi vào nhà cư sĩ, cần phải học.

44. Không lắc vai khi ngồi nơi nhà cư sĩ, cần phải học.

45. Không lắc đầu khi vào nhà cư sĩ, cần phải học.

46. Không lắc đầu khi ngồi nơi nhà cư sĩ, cần phải học.

47. Không lắc thân khi vào nhà cư sĩ, cần phải học.

48. Không lắc thân khi ngồi nơi nhà cư sĩ, cần phải học.

49. Không nắm tay nhau khi vào nhà cư sĩ, cần phải học.

50. Không nắm tay nhau khi ngồi nơi nhà cư sĩ, cần phải học.

51. Không đi khoèo hai chân khi vào nhà cư sĩ, cần phải học.

52. Không đi khoèo hai chân khi ngồi nơi nhà cư sĩ, cần phải học.

53. Không nhón chân khi vào nhà cư sĩ, cần phải học.

54. Không nhón chân khi ngồi nơi nhà cư sĩ, cần phải học.

55. Không chống má khi vào nhà cư sĩ, cần phải học.

56. Không chống má khi ngồi trong nhà cư sĩ, cần phải học.

57. Chú tâm nhận canh, cần phải học.

58. Chú tâm nhận cơm, cần phải học.

59. Cơm, canh ăn đều nhau, cần phải học.

60. Không nhận thức ăn đầy bát, cần phải học.

61. Không lừa thức ăn một bên, cần phải học.

62. Không chọn thức ăn ngon giữa bát, cần phải học.

63. Không vo lớn cơm thức ăn, cần phải học.

64. Vắt cơm vừa miếng ăn, cần phải học.

65. Không há miệng đợi thức ăn, cần phải học.

66. Không ngậm đồ ăn mà nói, cần phải học.

67. Không cắn phân nửa cơm, cần phải học.

68. Không nhai thức ăn thành tiếng, cần phải học.

69. Không nuốt trộng thức ăn, cần phải học.

70. Không ăn tiếp khi thức ăn chưa xuống cổ họng, cần phải học.

71. Không le lưỡi ăn, cần phải học.

72. Không ngửi thức ăn lúc ăn, cần phải học.

73. Không liếm thức ăn nơi tay, cần phải học.

74. Không lấy ngón tay vét bát ăn, cần phải học.

75. Không vứt bỏ cơm, thức ăn, cần phải học.

76. Không rảy tay để ăn, cần phải học.

77. Không lấy tay nhơ nhận bình, tách nước uống, cần phải học.

78. Tỳ-kheo không bệnh không được xin cơm canh cho mình, cần phải học.

79. Không lấy cơm phủ lấp canh mong lại được thêm, cần phải học.

80. Không được có tâm ganh tỵ xem thức ăn trong bát người ngồi cạnh, cần phải học.

81. Chú tâm ăn nhìn vào bát, cần phải học.

82. Ăn theo thứ tự, cần phải học.

83. Nước rửa bát không được đổ trong nhà cư sĩ, trừ đã nói với người chủ, cần phải học.

84. Không thuyết pháp cho người đang đi xe, trừ bệnh, cần phải học.

85. Không thuyết pháp cho người đứng trước, mình đứng sau, trừ bệnh, cần phải học.

86. Không thuyết pháp cho người đứng ở trong đường, mình đứng ở ngoài đường, cần phải học, trừ bệnh.

87. Không thuyết pháp cho người đứng ở trên cao, mình đứng dưới thấp, trừ bệnh, cần phải học.

88. Không thuyếp pháp cho người ngồi, Tỳ-kheo đứng, trừ bệnh, cần phải học.

89. Không thuyết pháp cho người nằm, Tỳ-kheo ngồi, trừ bệnh, cần phải học.

90. Không thuyết pháp cho người trùm đầu, trừ bệnh, cần phải học.

91. Không thuyết pháp cho người quấn khăn trên đầu, trừ bệnh, cần phải học.

92. Không thuyết pháp cho người đứng chống nạnh, trừ bệnh, cần phải học.

93. Không thuyết pháp cho người để hở ngực, trừ bệnh, cần phải học.

94. Không thuyết pháp cho người để hở nách, trừ bệnh, cần phải học.

95. Không thuyết pháp cho người vắt ngược y, trừ bệnh, cần phải học.

96. Không thuyết pháp cho người vắt ngược y hai bên, trừ bệnh, cần phải học.

97. Không thuyết pháp cho người bỏ y nhún nhảy, trừ bệnh, cần phải học.

98. Không thuyết pháp cho người mang guốc, trừ bệnh, cần phải học.

99. Không thuyết pháp cho người cầm dù, trừ bệnh, cần phải học.

100. Không thuyết pháp cho người cầm gậy, trừ bệnh, cần phải học.

101. Không thuyết pháp cho người nắm đao năm thước, trừ bệnh, cần phải học.

102. Không thuyết pháp cho người nắm đao nhỏ, trừ bệnh, cần phải học.

103. Không thuyết pháp cho người nắm cung tên và các loại binh khí, trừ bệnh, cần phải học.

104. Không nên đại tiểu tiện và nhổ nước miếng lên cỏ tươi, trừ bệnh, cần phải học.

105. Không nên đại tiểu tiện và nhổ nước miếng vào nước sạch để dùng, trừ bệnh, cần phải học.

106. Không nên đứng đại tiểu tiện, trừ bệnh, cần phải học.

107. Không nên leo lên cây cao quá đầu người, trừ bệnh, cần phải học.

Các Đại đức! Tôi đã nói xong pháp Chúng học. Nay xin hỏi các Đại đức trong pháp Chúng học này thanh tịnh không? (Hỏi Ba lần). Các Đại đức đối với các giới này đều thanh tịnh, vì im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.

BẢY PHÁP DIỆT TRÁNH

Các Đại đức! Đây là bảy pháp Diệt tránh, mỗi nửa tháng đều tụng theo trong Giới kinh:

1. Người nên thi hành Tỳ ni hiện tiền thì phải thi hành Tỳ ni hiện tiền.

2. Người nên thi hành Tỳ ni ức niệm thì phải thi hành Tỳ ni ức niệm.

3. Người nên thi hành Tỳ ni bất si thì phải thi hành Tỳ ni bất si.

4. Người nên thi hành Tự ngôn trì thì phải thi hành Tự ngôn trì.

5. Người nên thi hành Mích tội tướng thì phải thi hành Mích tội tướng.

6. Người nên thi hành nhiều người mích tội tướng thì phải thi hành nhiều người mích tội tướng.

7. Trong Tăng sinh ra tranh cãi, cần trừ diệt như cỏ phủ lấp đất, nên phải học.

Các Đại đức! Tôi đã nói xong bảy pháp Diệt tránh. Nay xin hỏi các Đại đức trong bảy pháp này thanh tịnh không? (Hỏi Ba lần). Các Đại đức đối với các giới này thanh tịnh, vì im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.

Các Đại đức! Tôi đã nói xong tựa Giới kinh, đã nói bốn pháp Bala-di, đã nói mười ba pháp Tăng tàn, đã nói hai pháp Bất định, đã nói ba mươi pháp Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề, đã nói chín mươi pháp Ba-dạ-đề, đã nói bốn pháp Ba-la-đề-đề-xá-ni, đã nói pháp Chúng học và bảy pháp Diệt tránh. Các giới điều này là Phật dạy đúc kết thành Giới kinh nên mỗi nửa tháng theo trong Giới kinh nói giới. Nếu còn có điều học khác thì phải một lòng học. Như sữa nước hòa hợp mới được hạnh an lạc. Cần phải học tập.

Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:

Phật Tỳ-bà-thi, Đấng Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri, vì sự tịch tĩnh của Tăng, ban đầu lược nói Ba-la-đề-mộc-xoa:

Nhẫn nhục, đạo thứ nhất
Niết-bàn, Phật khen ngợi
Xuất gia làm người buồn
Không gọi là Sa-môn.

Thứ hai, Đức Phật Thi Khí, Đấng Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri, vì sự tịch tĩnh của Tăng, ban đầu lược nói Ba-la-đề-mộc-xoa:

Như người đôi mắt sáng
Tránh được đường nguy hiểm
Người thông minh trong đời
Thường xa lìa các ác.

Thứ ba, Đức Phật Tỳ Bát Thi, Đấng Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri, vì sự tịch tĩnh của Tăng, ban đầu lược nói Ba-la-đề-mộc-xoa:

Không hủy cũng không phạm
Như giới để thực hành
Uống ăn biết vừa đủ
Thường vui nơi chỗ vắng
Tâm thường vui tinh tấn
Đây lời chư Phật dạy.

Thứ tư, Đức Phật Câu Lâu Tôn, Đấng Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri, vì sự tịch tĩnh của Tăng, ban đầu lược nói Ba-la-đề-mộc-xoa:

Như ong hút mật hoa
Không làm hoại hương sắc
Lấy vị ngọt rồi đi
Tỳ-kheo vào xóm làng
Không làm hỏng việc người
Không nghĩ làm, không làm
Chỉ tự quán thân mình
Quán xét thiện, không thiện.

Thứ năm, Đức Phật Câu Na Hàm Mâu Ni, Đấng Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri, vì sự tịch tĩnh của Tăng, ban đầu lược nói Ba-lađề-mộc-xoa:

Muốn tâm được tốt đừng buông lung
Pháp thiện Thánh nhân phải siêng học
Nếu có trí, người lắng nhất tâm
Không còn lo buồn và tai họa.

Thứ sáu, Đức Phật Ca-diếp, Đấng Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri, vì sự tịch tĩnh của Tăng, ban đầu lược nói Ba-la-đề-mộc-xoa:

Mọi điều ác chớ làm
Điều thiện luôn hoàn bị
Tự lặng ý chí mình
Là lời chư Phật dạy.

Thứ bảy, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Đấng Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri, vì sự tịch tĩnh của Tăng, ban đầu lược nói Ba-la-đềmộc-xoa:

Lành thay! Hộ trì thân
Hộ trì miệng cũng thiện
Hộ trì ý lành thay!
Hết thảy hộ trì thiện .
Tỳ-kheo hộ trì thảy
Liền được xa các khổ
Tỳ-kheo giữ miệng, ý
Các ác, thân không phạm
Là ba nghiệp thanh tịnh
Đắc đạo của bậc Thánh.
Nếu ai đánh mắng, không báo trả
Với người sân hận, tâm không hận
Với người sân, trong lòng bình thản
Thấy người làm ác, mình không làm.
Bảy Phật là Thế Tôn
Thường cứu giúp thế gian
Phật đã nói Giới kinh
Tôi đã nói rõ xong
Chư Phật và đệ tử
Cung kính Giới kinh này
Đã cung kính Giới kinh
Hết thảy cung kính nhau
Hổ thẹn được đầy đủ
Chúng đắc đạo vô vi.
Tăng một lòng bố-tát.
Tôi đã nói Giới kinh xong.

 

Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.