Đạo Nguyên Hi Huyền

Từ điển Đạo Uyển


道元希玄; J: dōgen kigen; 1200-1253, cũng được gọi là Vĩnh Bình Ðạo Nguyên (j: eihei dō-gen) vì Sư có công khai sáng Vĩnh Bình tự; Một trong những Thiền sư quan trọng nhất của Nhật Bản, người đưa dòng Thiền Tào Ðộng (j: sōtō) qua đây. Sư được Phật tử của tất cả các tông thờ phụng như một Ðại Bồ Tát. Sư thường bị hiểu lầm là một triết gia với quan điểm “thâm sâu và quái dị nhất” Nhưng những gì Sư viết không xuất phát từ những suy luận về thật tại mà từ sự trực chứng thật tại đó. Năm 1233 Sư sang Trung Quốc và được Trường Ông Như Tịnh Thiền sư ở Thiên Ðồng sơn, Minh Châu hướng dẫn đạt diệu tâm của dòng Tào Ðộng. Năm 1227 trở lại Nhật, Sư sống 10 năm ở Kinh Ðô (j: kyōto). Nhằm tránh ảnh hưởng của triều đình Nhật, Sư rút về sống viễn li trên núi. Tác phẩm chính và nổi tiếng nhất của Sư là Chính pháp nhãn tạng (j: shōbōgenzō) – được xem là một kiệt tác của Thiền tông Nhật Bản. Theo quan điểm của dòng Tào Ðộng, Ðạo Nguyên cho rằng phép im lặng Toạ thiền (Mặc chiếu thiền) rất quan trọng. Mặt khác Sư cũng không hề từ chối phép tham quán Công án được truyền dạy trong dòng Lâm Tế (j: rinzai). Bản thân Sư cũng góp nhặt khoảng 300 công án Thiền, luận giải cho từng công án đó trong tác phẩm Niêm bình tam bách tắc (j: nempyo sambyaku-soku). Các tác phẩm khác của Sư – khác với Chính pháp nhãn tạng – chỉ mang tính chất nhập môn. Môn đệ kế thừa Sư là Cô Vân Hoài Trang (j: koun ejō). Sư sinh ra trong một gia đình quý phái, thời thơ ấu đã chứng tỏ có một đầu óc xuất sắc. Lên bốn Sư đã đọc thơ Ðường và lên chín đã đọc được một bài luận về A-tì-đạt-ma. Cha mẹ mất sớm làm Sư ngộ lẽ vô thường và trở thành tăng sĩ. Mới đầu, Sư học giáo pháp của Thiên Thai tông. Năm mười lăm tuổi, Sư bị câu hỏi sau đây dày vị: “Nếu quả thật, như kinh dạy, thể tính của ta đã là Bồ-đề, thì sao Chư Phật còn phải tu học để giác ngộ?” Sư tìm học với Minh Am Vinh Tây Thiền sư, là người đã đưa dòng Thiền Lâm Tế từ Trung Quốc qua Nhật Bản. Vinh Tây trả lời câu hỏi của Sư: “Chư Phật không ai biết mình có Phật tính, chỉ có súc sinh mới biết mình có Phật tính.” Sư nghe đây có tỉnh và sau đó học đạo với Vinh Tây, nhưng quá trình tu học này không kéo dài được lâu vì Vinh Tây tịch ngay trong năm đó. Dù đã tiến xa, Sư vẫn khắc khoải và cuối cùng cất bước lên đường sang Trung Quốc bằng đường biển, một chuyến đi đầy hiểm nguy thời đó. Sư tham vấn nhiều Thiền sư, học hỏi nhiều phép tu nhưng cuối cùng, tại chùa Thiên Ðồng, Sư mới đại ngộ qua câu nói của Thiên Ðồng Như Tịnh: “Ngươi hãy xả bỏ thân tâm.” Hai năm sau ngày đại ngộ, Sư mới trở về Nhật và thành lập dòng Tào Ðộng ở đây. Trong buổi lễ khánh thành thiền viện đầu tiên tại Nhật – Hưng Thánh Pháp Lâm tự (j: kōshōhárin-ji) – Sư thượng đường với những câu sau: “Ta chẳng tu học tại nhiều thiền viện. Nhưng khi ta yết kiến Ðại sư Như Tịnh thì ta thông hiểu tường tận, trực nhận rằng: lỗ mũi đứng thẳng và hai con mắt nằm ngang. Từ bấy giờ ta chẳng còn bị ai lừa bịp. Với hai bàn tay trắng ta trở về cố hương và vì vậy ta chẳng có chút gì có thể gọi là Phật pháp cả. Ta sống theo nhịp điệu của thời gian: buổi sáng mặt trời mọc ở hướng Ðông và buổi tối trăng lặn ở phía Tây. Mây tan núi hiện, sau cơn mưa thì núi có vẻ thấp hơn bình thường – là thế nào?… Hễ bốn năm thì có một năm nhuận, gà gáy buổi sáng.” Sư đứng im một lúc rồi bước xuống. Năm 1243, Sư rời Hưng Thánh tự và đến vùng Ichizen để một năm sau đó thành lập Vĩnh Bình tự. Năm 1253, Sư viên tịch. Các tác phẩm quan trọng của Sư còn được lưu lại: 1. Phổ khuyến toạ thiền nghi (fukanzanzengi), 2. Học đạo dụng tâm tập (gakudōyōjinshū), 3. Ðiển toạ giáo huấn (tenzōkyōkun), 4. Vĩnh Bình quảng lục (eihei kōroku), cũng được gọi là Ðạo Nguyên Hoà thượng quảng lục (dōgen ōshō kōroku), 5. Chính pháp nhãn tạng tuỳ văn kí (shōbōgenzō-zuimonki), 6. Chính pháp nhãn tạng tam bách tắc (shōbōgenzō-sambyakusoku), 7. Chính pháp nhãn tạng (shōbōgenzō), 95 quyển.