ĐẠI THỪA KHỞI TÍN LUẬN TRỰC GIẢI

Đại Sư Hám Sơn

 

 

Lời của ngài Từ Vân Quán Đỉnh

Trong phần giải thích giáo nghĩa của luận Khởi Tín đã giải thích kỹ bức họa đồ về pháp tướng chân vọng sanh diệt. Xem bức họa ấy, cần đọc kỹ văn luận, nghiền ngẫm nghĩa lý để tự được ý chỉ.

Chỉ riêng một môn sanh diệt mà xét : Nếu bối giác hợp trần thì lật tịnh làm nhiễm. Nếu đoạn hoặc chứng chân thì chuyển phàm thành thánh. Chung luôn môn chân như mà xét thì : Nếu nương chân khởi vọng thì pháp tánh tùy duyên. Nếu hội duyên về thật thì vô minh thể không, tức môn sanh diệt thành môn chân như. Còn viên dung hết thảy mà xét thì nhiễm tịnh vọng chân tất cả chẳng lìa tạng tâm pháp giới vậy. Như vậy, lưu biến tam điệp thuận nghịch mà xét thì hoặc mê, hoặc ngộ, hoặc Phật hoặc chúng sanh. Nhìn lại người đương thời dụng tâm như thế nào? Há có một pháp nhất định ư? Người phát đạo tâm, nên suy nghĩ kỹ!

Hành giả nối pháp viết 
Từ Vân Quán Đỉnh

Lời của cư sĩ Dương Văn Hội [1]

Đại sĩ Mã Minh soạn luận Khởi Tín, quán thông cả Tông và Giáo, là bực thang đầu của người học Phật. Nếu chẳng hiểu nghĩa ấy thì chỗ sâu xa trong kinh không do đâu thông đạt. Quốc sư Hiền Thủ riêng vì đó tạo sớ, gởi gấm Đại thừa chung giáo, bởi dưới thì tiếp Tiểu thừa thủy giáo, trên thì thông đốn viên. Pháp sư Từ Vân Quán Đỉnh tổng hợp nghĩa của luận, tạo thành một bức họa đồ, các pháp chân vọng rạch ròi như chỉ giữa bàn tay. Cư sĩ Trường Sa Tào Hiển Tông lại đính thêm vào, khiến giáo võng mạch lạc, hào ly cũng không bỏ sót. Có thể nói, tinh tường càng cầu tinh tường, chọn lọc mà lại chọn lọc vậy. Vì thế, tôi cho khắc kèm với phần sớ luận sau để truyền bá rộng rãi.

Quang Tự năm thứ hai, mùa đông, tháng 11
Thạch Đại Dương Văn Hội ghi, tại tinh xá Tương Đô

 

LỜI CỦA ĐẠI SƯ HÁM SƠN

LUẬN ĐẠI THỪA KHỞI TÍN, Đại sư Mã Minh vì phá cái nhìn thiên lệch của Tiểu thừa và ngoại đạo, đã y cứ hàng trăm bộ kinh Đại thừa mà tạo ra, để làm phát khởi chánh tín. Ngài lập luận tông “pháp giới nhất tâm”, khai thị 2 môn chân vọng, thấu triệt cái gốc của sanh diệt, tận cùng cội nguồn của mê ngộ, chỉ ra con đường tu hành chân chánh, lập bày môn chỉ quán thần diệu, gồm hơn một vạn một ngàn chữ, lý thì không gì không tận, sự thì không gì không đủ. Vì văn ít mà nghĩa rộng sâu, khó thấu được đến cùng, nên có thể nói “Luận này là chìa khóa mở cửa của Đại giáo, là kim chỉ nam của Thiền tông”.

Bản sớ cũ của ngài Hiền Thủ, phần giải thích rất là tinh tường, phần ghi chú lại mênh mông bát ngát. Người học đụng phải cái mênh mông này thì mờ mịt chẳng thể thấu nỗi. Tôi từng theo bản sớ, lược bớt những chỗ chi tiết, đặt tên cho nó là Sớ Lược, đã cho khắc ở Song Kính. Nói chung cũng được nhiều sự tôn sùng.

Chợt nghĩ đến tình trạng pháp môn suy vi, đạo tràng giảng pháp không nhiều, người mới học đã không có bậc Long Tượng để nương tựa, mắt mình lại chẳng sáng, nếu chẳng nương vào luận này thì không nhơn đâu vào được Đại thừa sanh chánh tín. Vả lại, sợ để lâu thất truyền nên đang khi nhàn rỗi ở núi, vui thú với thiền, tôi nương bản sớ cũ của Tổ, theo ý đó mà làm trực giải. Quí ở chỗ nhất quán, chẳng phải nương vào những lời dẫn giải mênh mang mà nghĩa chân, vọng, mê, ngộ của nhất tâm đều hiện rõ ràng như thấy trắng với đen. Đủ để làm phương tiện cho người mới học. Chẳng dám khoe bày sự hiểu biết đối với bậc cao minh.

Đệ tử Siêu Dật theo học với tôi đã lâu, ông nghiền ngẫm nghĩa lý của luận rất kỹ, dường như được ý chỉ, nay đem bản thảo về đất Việt, chí muốn khắc để làm pháp thí. Tôi tuy không có địa vị gì trong Phật pháp, song kẻ hậu học có chí tham cứu đại pháp lại phải lấy chú giải này mà giải tan mối nghi. Nếu được ý quên lời, trực nhập duy tâm hiện lượng thì đó là do mắt trí của người ấy vậy.

Thời Thái Xương đổi niên hiệu
Ngày 01, trọng đông, năm Canh thân. 
Lão già ẩn dật núi Khuông Lô, Hám Sơn Thích Đức Thanh

PHÁP GIỚI DUYÊN KHỞI TÔNG HOA NGHIÊM

Trong bảy vị Tổ của tông Hoa Nghiêm, Mã Minh là Sơ Tổ. Song trong luận này chưa đề cập đến yếu chỉ VIÊN DUNG. Vì sao? Vì trước đây chưa có người biết về thuyết này, còn kẻ hậu học thì lại mù mờ chẳng thể phân biện, nên tôi hoàn toàn chẳng thêm ý nào. Lại, cổ nhân kiến lập Tông chỉ đâu cần phải nói đầy đủ rõ ràng hết với người đời. Nên nay tôi chỉ lược nói về những chỗ then chốt để người biết tông chỉ của nó.

Tông Hoa Nghiêm viên giáo lấy nhất chân pháp giới gồm thâu BỐN PHÁP GIỚI. Y bốn pháp giới lập MƯỜI HUYỀN MÔN. Tuy là bốn giới mười huyền nhưng đều nhơn LỤC TƯỚNG mà lập. Vì thế lục tướng trở thành mấu chốt của VIÊN DUNG vô ngại. Luận này nói rõ toàn bộ lục tướng là bao quát hết lý thú của bốn giới, mười huyền. Vì lục tướng là giềng mối của VIÊN DUNG nên luận này nhiếp pháp giới vô tận vậy. Vì thế, đầu tiên nêu ra nhất tâm chân như là THỂ của “Đại tổng tướng pháp môn”.

Lại, luận này y cứ hàng trăm bộ Đại thừa mà làm ra, song trăm bộ Đại thừa là do hóa thân Phật kiến lập, tức thật là quyền. Nay luận này tổng nhiếp quyền thừa qui về một cái thật, chủ ý là hiển tức quyền là thật, dẫn qui về biển quả VIÊN DUNG tột cùng. Trong luận tuy chưa hiển rõ về ý chỉ VIÊN DUNG, song tam thừa, năm tánh, đốn tiệm, tu chứng đều gom về cội nguồn biển quả nhất tâm, mà viên dung công đức đầy đủ đều là sự vi diệu của nhất tâm. Đã nói đầy đủ trong tông Hoa Nghiêm nên đây chẳng nói. Chỉ là nhiếp dẫn qui về biển tánh, nên trong luận, chỗ qui về đầu tiên là báo thân Phật, cho đến sở kiến của người đoạn hoặc cũng là báo thân Phật.

Nghĩa của luận đã nói đầy đủ nhiễm tịnh (cùng đồng một chân) là tướng dụng của nhất tâm. Bởi nhất niệm làm duyên khởi cho nhiễm tịnh nên hoàn toàn giống như trong Hoa Nghiêm lấy “pháp giới duyên khởi” làm tông, mà Thập nhị duyên sanh tức là Như Lai Phổ Quang Minh Trí. Thì biết, yếu chỉ nhập pháp giới của tông Hoa Nghiêm ắt hẳn lấy luận này làm cửa nhập pháp giới vậy.

Lục tướng

Là các tướng tổng, biệt, đồng, dị, thành, hoại.

1. TƯỚNG TỔNG : chính là nhất tâm chân như, là thể của “Pháp giới đại tổng tướng pháp môn”.

2. TƯỚNG BIỆT: là nhất tâm, 2 môn, 3 tế, 6 thô, 5 ý, 6 nhiễm, tu đoạn sai biệt.

3. TƯỚNG ĐỒNG : là thánh, phàm, nhiễm, tịnh, nhân, quả, tánh, tướng đồng một chân như. Dụ như đồ gốm cùng đồng vi trần.

4. TƯỚNG DỊ: là các pháp nhiễm tịnh, mỗi mỗi sai biệt, chẳng một chẳng khác. Dụ như các loại đồ gốm đều từ vi trần mà có, nhưng chẳng phải là một.

5. TƯỚNG THÀNH : là các pháp nhiễm tịnh, đều từ một niệm duyên khởi mà thành.

6. TƯỚNG HOẠI: là tức các pháp nhiễm tịnh, mỗi thứ đều trụ ở chỗ của nó, nhưng mỗi mỗi không tánh, không thể tự dựng lập.

Bốn pháp giới

Bốn pháp giới là lý pháp giới, sự pháp giới, lý sự vô ngại pháp giới, sự sự vô ngại pháp giới.

1. LÝ PHÁP GIỚI: là nhất tâm chân như không có pháp sai biệt, một chân lý toàn nhất.

2. SỰ PHÁP GIỚI: là tất cả thánh phàm nhiễm tịnh y nơi chánh nhân quả, các sự pháp sai biệt.

3. LÝ SỰ VÔ NGẠI PHÁP GIỚI: Do LÝ SỰ ở trên cùng thành, cộng lại có 10 môn. Vì SỰ thấu LÝ thành nên toàn LÝ thành SỰ. Bởi LÝ thành SỰ nên toàn SỰ tức LÝ. Bởi LÝ hay thành SỰ, nên SỰ chẳng ngại LÝ mà hay hiển LÝ. Vì SỰ thấu LÝ thành, nên LÝ chẳng ngại SỰ mà hay dung SỰ. LÝ hay thành SỰ nên toàn SỰ tức LÝ. SỰ hay hiển LÝ nên toàn LÝ tức SỰ. Vì LÝ SỰ tương tức nên được LÝ SỰ dung hòa vô ngại. Trong Thập Môn của Pháp Giới Quán phân biệt rất là rõ rệt, đây chỉ lược nêu yếu chỉ của nó.

4. SỰ SỰ VÔ NGẠI PHÁP GIỚI, vì LÝ SỰ vô ngại, nay toàn LÝ thành SỰ nên bất tất lại nói lý của nó. Vì toàn SỰ toàn LÝ nên sự sự dung nhiếp, không chướng không ngại. Chỉ vì LỤC TƯỚNG thâu gom tất cả sự pháp thì pháp pháp viên dung nên thành 10 tầng huyền môn. Vì hiển bày đại dụng của pháp giới nên nghĩa của luận này hội lục tướng là đã nhiếp tông sự sự vô ngại viên dung đầy đủ công đức. Nghĩa của mười huyền môn đã nói đầy đủ trong Hoa Nghiêm Huyền Đàm. Nay chỉ kể tên.

Mười huyền môn

1/ Đồng thời cụ túc tương ưng môn

2/ Quảng hiệp tự tại vô ngại môn

3/ Nhất đa tương dung bất đồng môn

4/ Chư pháp tương tức tự tại môn

5/ Ẩn mật liễu hiển câu thành môn

6/ Vi tế tương dung an lập môn

7/ Nhân đà la võng cảnh giới môn

8/ Thác sự hiển pháp sanh giải môn

9/ Thập thế cách pháp cộng thành môn

10/ Chủ bạn viên dung cụ đức môn

Nghĩa của mười huyền môn này được nói rõ trong Pháp Giới Quán và Huyền Đàm.

 

QUYỂN THƯỢNG

GIẢI THÍCH ĐỀ TỰA & KỆ MỞ ĐẦU

Đề tựa của luận là cương lĩnh chính của toàn luận.

Đại thừa khởi tín là, vì muốn làm phát khởi niềm tin chân chánh đối với Đại thừa.

Đại thừa là sở tin, chính là pháp thể.

Pháp là tâm chúng sanh. Tâm này nhiếp tất cả pháp thế gian và xuất thế gian. Có đủ 3 nghĩa lớn là thể, tướng và dụng, nên nói là Đại.

Thừa là nghĩa chuyên chở xoay vần của nhất tâm này. Vì chư Phật nương đây mà chứng bồ đề niết bàn. Bồ tát y đây mà rộng tu vạn hạnh, dưới thì giáo hóa chúng sanh, trên thì cầu quả Phật. Chúng sanh nương đây mà luân chuyển sanh tử.

Vì nhất tâm này là tổng tướng của tất cả thánh, phàm, mê, ngộ, nhân, quả nên văn dưới nói “Chính là thể của nhất pháp giới đại tổng tướng pháp môn”. Nay vì muốn khiến chúng sanh tin chắc tâm này tức là Đại thừa, hiểu đúng đắn chẳng lầm, ý cần phát khởi niềm tin chân chánh đối với Đại thừa, nên nói Đại thừa khởi tín. Như vậy, năng tín là người, Đại thừa chính là pháp sở tín. Nghĩa bao gồm cả người và pháp, vì pháp được lập ra là tùy cơ của chúng sanh mà lập. Luận này được làm trong khoảng 600 năm sau khi Phật nhập diệt. Người Tiểu thừa thì chẳng tin duy tâm, ngoài tâm thủ pháp, khởi nhiều tranh luận. Ngoại đạo thì tà chấp, phá hoại chánh pháp. Nên Luận chủ khởi lòng thương xót riêng tạo luận này. Vì vậy phần Nhân Duyên dưới nói “Vì muốn trừ nghi, bỏ tà chấp”. Vì nghi trái với tin, nên tin tâm này thì nghi tự trừ vậy.

Luận này vốn y cứ theo trăm bộ kinh Đại thừa như Lăng Già, Tư Ích v.v… mà làm ra, phát minh ý chỉ duy tâm duy thức, tóm qui về nhất tâm. Nó là cương yếu chính của hai tông tánh tướng, thâm cùng cội nguồn của mê ngộ, chỉ bày yếu chỉ thẳng tắt của việc tu hành. Đó là tổng nhiếp nghĩa lý rộng sâu mà Như Lai đã nói. Thật là cương lĩnh chính yếu của Đại giáo, ý chỉ đích thực của Thiền tông.

Luận là, quyết trạch đúng sai, phát minh chánh lý, giản trạch những thứ chẳng phải là kinh luận, dùng luận để minh chứng. Bản sớ giải của ngài Hiền Thủ tinh tường, song phần phân đoạn lại ít. Trước, tôi đã lọc bỏ lược bớt gọi là Sớ Lược, nhưng trong sớ ấy, văn nghĩa thiếu lại chẳng hay, nên nay dựa vào nghĩa của bản sớ chính, theo đó mà trực giải, để tiện cho kẻ sơ học, chẳng dám lấy ý riêng nói xằn bậy. Không gì vui mừng bằng người xem quên lời, chịu tin ở bản tâm. Đây là điều mong muốn của tôi vậy.

Bồ tát Mã Minh tạo, là người tạo luận.

Mã Minh là vị Bồ tát, khi vừa sinh ra đã cảm đến bầy ngựa, khiến chúng kêu lên bi thiết, nên lấy đó làm tên. Rồi khi ngài thuyết pháp, bầy ngựa cũng lại kêu lên bi thiết. Kinh Sớ Dẫn Ma Ha Ma Da nói “Sau khi Như Lai diệt độ 600 năm, tà kiến của các ngoại đạo hưng thịnh, hủy diệt Phật pháp. Có một tỳ kheo tên là Mã Minh, khéo thuyết pháp yếu, hàng phục hết thảy các hàng ngoại đạo”.

Tam tạng Chân Đế dịch, đây là tên người dịch. Luận có hai người dịch :

1. Sa môn Ba La Mạt Đà, người nước Ưu Thiền Ni ở Tây Ấn Độ, đây gọi là Chân Đế, vào thời vua Thừa Thánh năm thứ ba đầu nhà Lương, ở chùa Kiến Hưng, Hoành Châu, dịch thành một quyển 24 tờ.

2. Sa môn Thật Xoa Nan Đà, nước Vu Điền, đây gọi là Hỉ Học, vào thời Võ Tắc Thiên – Đại Chu, ở chùa Phật Thọ Ký, Đông Đô, dịch thành hai quyển cũng 24 tờ.

Nay lấy theo bản dịch của người trước.

Kinh Đường Tây, Chùa Thái Nguyên, Sa môn Pháp Tạng tạo sớ.

Núi Minh Khuông, chùa Pháp Vân, Sa môn Đức Thanh trực giải.

KỆ MỞ ĐẦU

Qui mạng tận mười phương
Nghiệp tối thắng biết khắp
Thân vô ngại tự tại
Đấng cứu thế đại bi

Với thể tướng thân này
Biển pháp tánh chân như
Kho vô lượng công đức
Bậc như thật tu hành
Vì muốn khiến chúng sanh
Trừ nghi bỏ tà chấp
Khởi chánh tín Đại thừa
Chủng Phật chẳng đoạn mất

Khi sắp soạn thảo luận văn, trước cần qui kính Tam Bảo thỉnh cầu gia bị. Sau mới chép rõ văn luận.

Qui mạng tận mười phương

Khi sắp tạo luận, trước cần qui mạng Tam Bảo, thỉnh cầu gia bị. Sở dĩ phải vậy, vì tạo luận dịch kinh, kinh là lời Phật nói, trí Phật thậm thâm, chẳng thể dùng tình thức mà suy lường được, nên thỉnh uy lực của Tam Bảo gia bị nhiếp thọ, khiến nghĩa của luận ấn hợp với Phật tâm, vừa chỉ bày pháp có sở tông, vì Tam Bảo là chỗ y chỉ.

Nay nói QUI MẠNG là tỏ rõ cái qui về là tâm. Muốn nhập pháp tánh trước phải quên ngã tướng. Song MẠNG thì bao gồm 6 căn. Nay lấy mạng qui thì thân tâm đều quên mới có thể qui đến.

MƯỜI PHƯƠNG là bờ mé để qui về. Ý là, chỗ mà nghĩa của luận dựa vào là chủ của mười pháp giới, nên cần qui mạng Tam bảo tận mười phương. Vì tâm không có phần hạn nên cảnh cũng không có hạn lượng. Ý là, qui về Tam bảo vô tận trong mười phương pháp giới Đế võng sát.

Nghiệp tối thắng biết khắp, thân vô ngại tự tại, đấng cứu thế đại bi.

Đây là qui Phật bảo. Phật dùng tam luân ứng vật. Nay chỗ qui về là tam luân đều rất thù thắng. Ý hiển bày, chỗ này chẳng phải là ứng hóa thân cho đến ngay cả giáp ranh giữa báo và pháp thân cũng chẳng phải.

BIẾT KHẮP, vì ý nghiệp tối thắng. Phàm phu chẳng biết, ngoại đạo biết không đúng, Nhị thừa biết thiên lệch, Bồ tát biết từng phần, chỉ có Phật là biết khắp. Bởi thật trí chứng lý, lý không gì mà không thấu suốt. Quyền trí soi cơ, cơ không gì mà không ứng hợp. Cho đến trong pháp giới, những tâm niệm ưa thích mong muốn của chúng sanh, không gì mà không biết hết, nên nói là KHẮP.

THÂN VÔ NGẠI TỰ TẠI, vì thân nghiệp tối thắng. Trong kinh Hoa Nghiêm, Phật có vô lượng tướng, tướng có vô lượng tướng tốt, căn căn viên dung, khắp giáp tự tại, mười thân rõ khắp, không hoại không tạp lẫn, nên nói VÔ NGẠI.

CỨU THẾ ĐẠI BI, vì ngữ nghiệp tối thắng. Phật dùng âm thanh luân ứng cơ mà thuyết pháp, một lời nói ra mọi loài đều hiểu, nên nói TỐI THẮNG.

THẾ là chúng sanh thế gian, tức sở cứu. ĐẠI BI là tâm năng cứu. Như Lai chỉ dùng đại bi làm lực chỉ dạy người.

Với thể tướng thân này, biển pháp tánh chân như, kho vô lượng công đức.

Đây là qui Pháp bảo.

VỚI, nghĩa là chẳng phải chỉ qui y Phật mà còn qui y Pháp nữa.

THÂN NÀY, chỉ cho thân Phật ở trên. Phật lấy Pháp làm thân, nên từ chân như, giáo pháp được lưu xuất, chính là pháp thân thường trụ. Vì trong ấy đã có toàn thân Như Lai nên ý hiển bày Pháp ấy, tức thể và tướng của Phật, vốn không hai.

PHÁP TÁNH CHÂN NHƯ, chính là chỉ cho pháp thể. Pháp tánh chân như tức là chân thể pháp thân. Pháp thân ấy tại hữu tình là Phật tánh, tại vô tình là pháp tánh, vì nó là thể tánh của tất cả pháp nhiễm tịnh. Vì tùy duyên mà bất biến, bất biến mà tùy duyên, nên dụ như BIỂN. Gặp gió khởi các sóng lớn nhỏ mà tánh ướt không hai, nên nói là TƯỚNG.

Trong Như Lai Tạng hàm nhiếp các công đức nên nói là KHO CÔNG ĐỨC.

Bậc như thật tu hành

Đây là qui y Tăng bảo. Tăng thì thông cả thánh, phàm, lớn, nhỏ. Nay nói NHƯ THẬT TU HÀNH là chỉ cho các vị Bồ tát đăng địa. Cứ Hậu diễn dịch là “Vô biên đức tạng tăng, người siêng cầu chánh giác”: Câu đầu là tán thán đức, người hay nhiếp đức gọi là “tạng”.

Phần dưới là bày tỏ ý tạo luận.

Vì muốn khiến chúng sanh, trừ nghi bỏ tà chấp, khởi chánh tín Đại thừa, chủng Phật chẳng đoạn mất.

Đây là bày tỏ ý tạo luận. Pháp chẳng phải vô cớ mà lập, nhất định có chỗ dùng. Nay có 4 ý:

1. Vì Nhị thừa chẳng tin duy tâm, nên hiển thị chánh nghĩa nhất tâm, khiến trừ nghi hoặc.

2. Vì những tà chấp của ngoại đạo mà đối trị những tà chấp ấy, khiến họ bỏ đi tà kiến.

3. Vì những người tu hành chưa khởi chánh hạnh nên phân biệt tướng phát tâm vào đạo khiến họ khởi chánh tín, lấy đó làm bản hạnh.

4. Vì để lòng tin thành tựu, nhập và trụ ở vị bất thối, có thể nhận được Phật quả, nên nói CHỦNG PHẬT CHẲNG ĐOẠN MẤT.

Vì những ý như vậy mà tạo luận.

LUẬN rằng, có pháp có thể làm phát khởi tín căn Ma-ha-diễn cho nên phải nói.

Đây là tổng hiển bày tông bổn của luận.

PHÁP là, tức là chỗ mà tông bổn của luận y chỉ, là một tâm pháp đủ 2 môn, 3 nghĩa lớn. Chính là chỉ cho sở tông.

MA HA DIỄN, đây gọi là Đại thừa. Sở tông tâm pháp tức là Đại thừa. Hay tin tâm này tức là căn bản của Đại thừa. Có những lợi ích thù thắng như thế cho nên phải nói.

Nói có 5 phần. Thế nào là năm?

1. Phần Nhân duyên
2. Phần Lập nghĩa
3. Phần Giải thích
4. Phần Tu hành tín tâm
5. Phần Lợi ích và khuyên tu

Đây là nêu lên qui chế tạo luận, là cửa mở đầu của một bài văn. Phân chương là để biết chỗ chuyên yếu của nghĩa. Nên văn của toàn luận, thứ lớp lập thành 5 phần.

Pháp chẳng tự khởi, tất có nguyên nhân, nên đầu tiên lập bày NHÂN DUYÊN.

Suy cùng nguyên nhân đã rõ rệt, tất có tông bổn, nên kế đến là LẬP NGHĨA.

Tông bổn sâu xa, chẳng giải thích tuyệt không thể hiểu, nên kế là GIẢI THÍCH.

Đã hiểu nghĩa của pháp, chẳng thực hành tuyệt không thể bước vào, nên kế là TU HÀNH TÍN TÂM.

Giải hạnh tuy đã chỉ bày, kẻ độn căn lại hay giải đãi nên kế là KHUYẾN TU.

Đây là trình tự của toàn luận. Phàm kinh có 3 phần. Nhân duyên tức là tựa. Ba phần giữa là chánh tông. Khuyên tu là phần lưu thông.

Sau đây là giải thích phần Nhân Duyên.

PHẦN NHÂN DUYÊN

Đầu tiên nói về phần Nhân Duyên

Hỏi : Do nhân duyên gì mà tạo luận này?

Đáp : Nhân duyên ấy có 8. Thế nào là tám?

1. Tổng tướng của nhân duyên. Đó là để chúng sanh lìa tất cả khổ, được cái lạc rốt ráo, chứ chẳng phải vì cầu danh lợi và sự cung kính ở thế gian.

Tổng tướng này là nguyên nhân thứ nhất trong tám nhân duyên làm phát khởi toàn luận. Vì phàm phu và ngoại đạo mê nhất tâm này đã chiêu khổ khổ, hoại khổ, hành khổ, phần đoạn sanh tử khổ. Nhị thừa và Bồ tát còn có biến dịch sanh tử vi tế khổ. Nay khai thị tâm này, khiến y đây mà tu thì chứng được bồ đề, biết được pháp lạc, cái lạc của niết bàn tịch diệt. Chỉ là cầu làm cho chúng sanh lìa khổ được lạc, chẳng phải cầu danh lợi và sự cung kính ở thế gian.

2. Vì muốn giải thích nghĩa căn bản của Như Lai để chúng sanh nhận hiểu được chân chánh không lầm.

Đây đều trong phần Lập Nghĩa và Giải Thích. “Hiển thị chánh nghĩa” và “đối trị tà chấp” là nhân duyên làm phát khởi việc tạo luận. Bởi chúng sanh không có sự nhận hiểu chân chánh, khởi nhiều tà kiến, chẳng đạt được nghĩa căn bản của Như Lai, nên nay trong phần Lập Nghĩa, nhất tâm 2 môn, 3 nghĩa đại là căn bản của Như Lai sẽ được giải thích rộng, khiến chúng sanh có cái hiểu chân chánh không lầm.

3. Vì muốn khiến chúng sanh căn lành thành thục có thể kham nhận pháp Đại thừa, chẳng thối mất niềm tin.
Đây là nhân duyên Phân Biệt Tướng Phát Tâm Vào Đạo ở dưới, vì văn đây nói “khiến người lợi căn phát niềm tin chắc chắn tiến đến đạo lớn, kham nhận và trụ nơi vị bất thối”. Đây phải là mãn tâm Thập Tín nên nói THÀNH THỤC. Nhập Thập Trụ “chánh định tụ” nên nói CHẲNG THỐI.

4. Vì muốn khiến chúng sanh có căn lành ít ỏi tu tập tín tâm.
Đây chính là phần Tu Hành Tín Tâm ở dưới. Đó là vì muốn khiến chúng sanh có căn lành ít ỏi phát 4 thứ tâm, tu 5 loại hạnh để thiện căn dần dần thành thục. Vì lòng tin chưa đầy đủ nên nói ÍT ỎI. Khiến tiến đến đầy đủ nên nói TU HÀNH TÍN TÂM.

5. Vì chỉ bày phương tiện tiêu trừ các chướng của ác nghiệp, khéo giữ tâm mình, xa lìa si mạn, ra khỏi lưới tà.
Đây là hạng căn cơ thấp kém dễ thối chuyển ở dưới. Phải nương nhờ vào nhiều phương tiện nên có 4 điều. Trong 4 điều ấy thì 3 điều trước là hạ, trung, thượng. Còn điều sau là khuyên tu.

Đây tương đương với hạ phẩm, là vì người hoặc nhiều nghiệp nặng, thiện căn khó phát mà nói đến phương tiện lễ bái sám hối để làm tiêu đi các chướng của ác nghiệp, xa lìa si mạn, ra khỏi lưới tà.

6. Vì chỉ bày tu tập Chỉ Quán, đối trị tâm sai lầm của phàm phu và Nhị thừa.
Đây ứng với trung phẩm. Trong phần tu tập môn Chỉ – Quán ở văn dưới, Chỉ – Quán cùng thông, trừ bỏ hai chấp của phàm và Tiểu, nên nói ĐỐI TRỊ.

7. Vì chỉ bày phương tiện “chuyên niệm” để sanh về trước Phật, nhất định chẳng còn thối chuyển tín tâm.
Đây ứng với thượng phẩm. Là phần “Khuyên tu Tịnh Độ” ở cuối phần Tu Tập Tín Tâm. Vì những chúng sanh căn tánh thấp yếu, sợ hậu báo duyên sai biệt mà thối lui, nên khiến họ vãng sanh Tịnh Độ để được bất thối.

8. Vì chỉ bày sự lợi ích và khuyên tu hành.
Đây là phần Lợi Ích Khuyên Tu dưới. Vì những chúng sanh giải đãi kiêu mạn nên đưa ra sự thiệt hơn khuyên nhủ khiến họ tu tập. Tóm chung thành các hạnh trước.

Vì các nhân duyên như vậy mà tạo luận.
Đây là tổng kết nhân duyên tạo luận. Bởi bản ý của Bồ tát là độ chúng sanh, nên vì chúng sanh phát khởi nhân duyên tạo luận. Trong 8 nhân duyên này, duyên đầu là nói chung, 7 biệt duyên còn lại là bao quát toàn luận. Sẽ nói lại đầy đủ ở văn dưới.

Hỏi : Tudala đã có đủ pháp ấy, sao còn lập lại?

Đáp : Trong Tudala tuy có pháp ấy, nhưng do chúng sanh căn hạnh chẳng đồng, nên nhân duyên nhận hiểu có khác. Nghĩa là, khi Như Lai còn tại thế, chúng sanh thì căn tánh lanh lợi, người thuyết thì nghiệp của thân tâm thù thắng, viên âm một khi nói ra, mọi loài khác nhau đều cùng nhận hiểu nên chẳng cần tạo luận.

Phần này hỏi để làm rõ cái ý do đâu tạo luận.

Hỏi : Chỉ ra tất cả những pháp môn trên, trong Khế Kinh Phật đã thuyết đủ, sao còn nhàn rỗi mà luận lại?

Đáp : Vì chúng sanh căn có lợi độn, duyên thọ giáo chẳng đồng nên có kinh luận khác nhau.

NGHĨA LÀ …, là giải thích căn cơ chẳng đồng, nhận hiểu đều khác, nên có kinh luận lược rộng chẳng đồng nhất. Bởi Như Lai khi còn tại thế, chúng sanh căn thì lợi, cơ thì thắng. Tự thân thấy được thân Phật, tức 3 nghiệp thù thắng. Tự thân nghe được viên âm, tức duyên thù thắng. Như đây thì một lời nói ra mọi loài đều hiểu. Vì thế còn chẳng mượn đến việc kết tập kinh, hà huống là cần đến luận ư?

Nhưng sau khi Như Lai nhập diệt, hoặc có chúng sanh lấy việc tự lực nghe nhiều mà nhận hiểu.
Đây là nói, sau khi Như Lai nhập diệt, căn cơ chúng sanh chẳng đồng nhất, nhân duyên mỗi mỗi sai biệt, nhận hiểu chẳng đồng, nên đối với kinh với luận cũng có rộng lược chẳng đồng. Lại, sau khi Như Lai diệt độ, đang còn thời chánh pháp, cách Phật chẳng xa, chúng sanh căn tánh lanh lợi, tự có trí lực, nên có thể rộng nghe nhiều kinh luận mà nhận hiểu.

Hoặc có chúng sanh cũng lấy việc tự lực, nghe ít mà hiểu nhiều.
Đây cũng là chúng sanh lợi căn, tự có trí lực, chẳng mượn nghe nhiều. Hoặc dưới một lời tâm địa khai thông. Trong một cuốn nghĩa đà sáng tỏ.

Như hai loại căn cơ trên thì chẳng cần đến luận.

Hoặc có chúng sanh không tự tâm lực, phải nhờ vào những bộ luận rộng mới nhận hiểu được.
Đây là loại cơ thấp căn độn, không tự trí lực. Đối với kinh chẳng thể hiểu nghĩa thậm thâm nên cần mượn những bộ luận rộng, nghe nhiều mà được nhận hiểu.

Cũng có chúng sanh lại thấy việc “luận rộng văn nhiều” là phiền phức, tâm muốn thâu tóm “văn ít mà nhiếp nhiều nghĩa” để có thể nhận hiểu.
Nói đơn giản đây là loại căn cơ đầy dẫy phiền não. Nên loại luận giản lược chẳng thể chẳng làm. Chính là nhân duyên của luận này.

Luận này là như vậy. Vì muốn tổng nhiếp pháp thâm sâu rộng lớn vô biên nghĩa của Như Lai nên nói luận này.
Cái kết đây là ý của việc tạo luận. Luận này trước sau hơn một vạn một ngàn chữ. Trong ấy đã tổng nhiếp hết pháp thâm sâu rộng lớn vô biên diệu nghĩa của Như Lai. Có thể nói, văn rất gọn mà nghĩa rất rộng. Nghĩa là, gom hết nghĩa sâu xa của trăm bộ Đại thừa một cách bao quát vô biên. Mở rộng pháp giới nhất tâm như nhìn thấy trái cây trong lòng bàn tay. Thật là huyền môn để nhập lý, diệu chỉ để tu hành! Người học há chẳng hết lòng ư?

Đã nói phần Nhân Duyên.
Kế nói phần Lập Nghĩa. 

PHẦN LẬP NGHĨA

Đại thừa nói tổng quát có 2 thứ. Thế nào là 2? Một là pháp, hai là nghĩa.

I. PHÁPgọi là pháp ấy, là tâm chúng sanh. Tâm này nhiếp tất cả pháp thế gian và xuất thế gian. Y nơi tâm này hiển thị nghĩa Đại thừa. Vì cớ sao? Vì tướng chân như của tâm ấy tức chỉ cái thể của Đại thừa, tướng nhân duyên sanh diệt của tâm ấy tức chỉ tự thể, tướng và dụng của Đại thừa.

Trong phần Lập Nghĩa này, đầu tiên nêu ra tông thể nhất tâm để hiển danh nghĩa Đại thừa. Nói PHÁP là, thể của “Nhất chân pháp giới đại tổng tướng pháp môn”, tức chân tâm thanh tịnh Như Lai Tạng. Tâm này, thể tuyệt thánh phàm, vốn không mê ngộ, tự tánh thanh tịnh, chẳng chút vọng nhiễm, lìa danh lìa tướng, tuyệt các đối đãi, chỉ là một cội nguồn chân thật, không có hai pháp.

Sao lại có tên Đại thừa? Kinh Lăng Già nói “Đại thừa chẳng phải thừa”. Nay nói Đại thừa, là bởi y nơi tâm chúng sanh mà lập tên ấy. Nghĩa là, tổng nhiếp pháp thế gian và xuất thế gian.

Kinh nói “Như Lai Tạng chuyển ba mươi hai tướng vào trong tất cả thân chúng sanh”. Đây là mê Như Lai Tạng mà thành thức tạng, là tâm chúng sanh. Tâm này do chẳng sanh chẳng diệt cùng sanh diệt hòa hợp mà thành, gọi là thức Alaida. Thức này thể nó nguyên là chân như, cũng gọi là bản giác, vốn không sanh diệt. Nay nhơn vô minh làm động tâm tịnh ấy mà có sanh diệt, nên thành nghiệp thức. Vì tâm này vốn là chân như nên nhiếp pháp tứ thánh xuất thế gian. Vì y nơi nghiệp thức mà có sanh tử nên nhiếp pháp lục phàm. Vì vậy ở đây nói “Tâm này NHIẾP TẤT CẢ pháp thế gian và xuất thế gian”.

“Y TÂM NÀY hiển thị nghĩa Đại thừa” là, vì pháp giới nhất tâm có đủ hai nghĩa lớn là thể, tướng và dụng. Nay y nhất tâm này, khai thị 2 môn sanh diệt và chân như.

Ước về môn CHÂN NHƯ mà nói thì, lìa tất cả tướng, danh ngôn cả hai đều dứt, chỉ hiển cái thể của nó, chẳng hiển tướng dụng, nên nói “tức chỉ cái THỂ của Đại thừa”.

Ước về môn SANH DIỆT mà nói thì, vọng nương chân mà khởi, tức hiển tướng và dụng. Vì vậy trong môn sanh diệt, hiển bày đầy đủ 3 nghĩa lớn là thể, tướng và dụng, nên gọi là ĐẠI. Nương nơi 2 pháp chân vọng này lại nói có 2 chuyển y nên gọi là THỪA. Do đó nói “y tâm chúng sanh hiển thị nghĩa Đại thừa”. Đây là nguyên nhân tổng quát sanh ra tên Đại thừa.

Trên đã chỉ ra chân vọng tâm pháp, làm rõ pháp thể Đại thừa. Dưới chỉ ra 3 nghĩa ĐẠI.

II. NGHĨA: có 3 thứ. Thế nào là 3?

1. THỂ đại: Vì là chân như bình đẳng chẳng tăng chẳng giảm của tất cả pháp.

2. TƯỚNG đại: Vì Như Lai Tạng đầy đủ vô lượng tánh công đức.

3. DỤNG đại: Vì hay sanh tất cả thiện nhân quả của thế gian và xuất thế gian.

Đây là chỗ nương gốc của tất cả chư Phật. Tất cả Bồ tát đều nương nơi pháp này mà đến đất Như Lai.

Đây là nêu bày môn NGHĨA để rõ do đâu được tên Đại thừa, là nền tảng mở rộng phần Chánh Nghĩa sau.

Nói NGHĨA là, tên y nơi nghĩa mà lập. Do nghĩa gì mà lập tên Đại thừa? Vì có 3 nghĩa lớn nên được tên là ĐẠI. Vì có hai nghĩa vận chuyển nên gọi là THỪA. Tên và nghĩa ấy vốn nhơn nơi 2 pháp chân vọng hòa hợp mà có, nên nói “Y tâm chúng sanh hiển thị nghĩa Đại thừa”.

Nếu nói THỂ của Đại thừa thì chỉ là nhất chân như, bình đẳng không hai, chẳng tăng chẳng giảm, nên chỉ gọi là THỂ. Nay y nơi Như Lai Tạng tùy duyên nhiễm tịnh : Nếu theo duyên tịnh thì đầy đủ vô lượng tự tánh công đức, thành nhân quả xuất thế gian. Nếu theo duyên nhiễm thì biến tự tánh công đức làm vô lượng phiền não, thành nhân quả thế gian. Do đây TƯỚNG và DỤNG mới hiển bày. Vì 3 cái ĐẠI này, nơi nhiễm tịnh chẳng giảm, nơi sanh diệt chẳng đổi, nên gọi là ĐẠI. Chư Phật, Bồ tát đều nương tâm này nên gọi là THỪA. Yếu chỉ của toàn luận chỉ giải thích nghĩa ấy nên lấy đó làm tông bổn.

Đã nói phần Lập Nghĩa, kế là phần Giải Thích.    

Đây là gút lại phần trước, đưa ra phần sau.

 

PHẦN GIẢI THÍCH

Giải thích có 3 phần. Thế nào là 3?

1/ Hiển thị chánh nghĩa
2/ Đối trị tà chấp
3/ Tướng phát tâm vào đạo

Đây là liệt kê tên Giải Thích.

HIỂN THỊ là, giải thích pháp nghĩa, sở y của Đại thừa (Tức y nơi Pháp và Nghĩa này mà có tên Đại thừa)

ĐỐI TRỊ là, đã tỏ rõ chánh thể, cần loại bỏ những suy tính khác.

Trên giải thích nghĩa ĐẠI.

PHÁT TÂM VÀO là thứ lớp tiến vào. Chính là làm sáng tỏ nghĩa THỪA.

Toàn phần chánh tông này có 3 phần đó, y nghĩa giải thích.

QUYỂN HẠ

PHẦN GIẢI THÍCH

I. HIỂN THỊ CHÁNH NGHĨA (2)

Đây là phần giải thích nhiễm tịnh hỗ trợ qua lại.

Lại nữa, nghĩa huân tập có 4 thứ pháp nên nhiễm pháp và tịnh pháp khởi chẳng dứt. Thế nào là 4?

1. Tịnh pháp, tên là chân như.
2. Tất cả nhân nhiễm ô, gọi là vô minh.
3. Vọng tâm, gọi là nghiệp thức.
4. Cảnh giới hư vọng, đó là 6 trần.

Phần này nêu ra 4 tên. Dưới hiển bày nghĩa huân tập.

Nghĩa HUÂN TẬP là, như ở thế gian áo quần thật không hương, nếu người dùng hương huân tập thì thật có mùi hương. Đây cũng vậy, chân như tịnh pháp thật không ô nhiễm, chỉ do vô minh huân tập mà có tướng nhiễm. Vô minh nhiễm pháp thật không có nghiệp thanh tịnh, chỉ do chân như huân tập mà có dụng thanh tịnh.

Trên đã hiển bày sanh diệt của nhiễm tịnh sanh tất cả pháp. Đây làm rõ nhiễm tịnh cùng huân để hiển tất cả tịnh pháp khởi chẳng đoạn dứt. Trước đã nói “Thức Alaida hay sanh tất cả pháp hay nhiếp tất cả pháp”, song toàn văn trên chỉ mới hiển bày qua một lần tướng sanh diệt của nhiễm tịnh, chưa làm rõ nghĩa thánh, phàm, nhân, quả tương tục chẳng dứt. Nên đây riêng nói về chân vọng cùng nhau huân tập qua lại, dẫn đến nhân quả tương tục trường kiếp chẳng dứt.

Đầu tiên liệt kê 4 tên chân, vọng, tâm, cảnh. Kế, ví dụ để làm rõ nghĩa huân tập. Pháp hợp với chân vọng cùng làm nhân duyên. Kinh nói “Như Lai Tạng là chỗ huân của ác tập”. Chân như làm nhân, bị duyên vô minh huân, biến thành kiến, tướng, tâm, cảnh trong thức Alaida. Lại, Alaida làm nhân, cảnh giới làm duyên huân trở lại tâm thể thành tướng nhiễm 6 trần. Do đây nên có sanh tử lưu chuyển chẳng dứt. Nếu lấy chân như huân vô minh, diệt các nhân nhiễm thì có dụng thanh tịnh, thành 42 vị tiến tu, được quả bồ đề niết bàn thường trụ. Lực huân biến chẳng thể nghĩ bàn này rất là lớn lao nên đây riêng chỉ bày.

Dưới, đầu tiên chỉ rõ nhiễm huân.
Vì trong môn sanh diệt nên làm rõ vô minh huân chân như trước.

Đây hỏi để rõ vấn đề. Huân tập tóm tắt có 2 nghĩa. Thứ nhất là tập huân. Thứ hai là tư huân. Căn bản vô minh huân chân như là tập huân. Nghiệp thức huân trở lại vô minh làm nó tăng hoài chẳng dứt gọi là tư huân. Lại, tâm cảnh hiện hành cùng các hoặc huân với nhau cũng gọi là tư huân.

Nghĩa là, do nương pháp chân như mà có vô minh

là nói vô minh nương chân mà khởi.

Vì có vô minh nhiễm pháp làm nhân liền huân tập chân như

là lấy chân như làm nhân, vô minh là duyên, liền huân trở lại chân như.

Do huân tập nên có vọng tâm.Vì có vọng tâm liền huân tập vô minh

Là vô minh huân chân như biến thành thức Alaida. Xảy ra với vô minh nên đây hiển bày vô minh có lực, huân chân như thành nghiệp thức. Như vậy, vô minh thì nương nghiệp thức, còn nghiệp thức thì huân tập vô minh, làm nó tăng hoài chẳng dứt nên nói:

Chẳng rõ được pháp chân như, bất giác niệm khởi

Chân như vốn tự vô niệm, vì vô minh huân chân như, huân hoài chẳng dứt nên nói “bất giác niệm khởi”. Chỗ này tương đương với Chuyển Tướng.

Hiện cảnh giới hư vọng

Đây tương đương với Hiện Tướng.

Do có cảnh giới hư vọng, nhiễm pháp làm duyên liền huân tập vọng tâm

Đầu tiên là do huân chân như thành nghiệp thức, từ đó nghiệp thức huân trở lại vô minh khiến nó tăng trưởng. Đây là vô minh và nghiệp thức hòa hợp thành một, làm nhân khởi 2 tướng Chuyển và Hiện mà có cảnh giới.Có cảnh giới, liền huân trở lại nghiệp thức, sanh khởi 6 thô nên nói cảnh giới làm duyên tăng trưởng 6 thô.

Khiến tâm ấy niệm trước

Là 4 cái thô đầu là Trí Tướng …

Tạo mọi thứ nghiệp, thọ tất cả khổ của thân lẫn tâm

Đây là 2 cái thô sau.

Đây hiển rõ, vô minh làm duyên huân tập chân như, biến khởi 3 tế, 6 thô, sanh tử nhiễm pháp chẳng dứt. Nói VÔ MINH là, chẳng rõ pháp chân như toàn nhất, hốt nhiên niệm khởi nên gọi là vô minh. Kinh nói “Vô minh này chẳng phải thật có tự thể, chỉ nương chân mà khởi”, tức lực huân tập của nhất niệm này làm ngăn chướng bản minh, thành mất chân minh ấy mà biến chân như làm nghiệp thức, nên nói là vọng tâm. Đây là chỗ khởi khó biết, tối cực vi tế, chỉ có Phật mới thấu đến được.

Đại khái là, do nhất niệm làm sanh nhân mà chân như bị huân đã biến làm nghiệp thức. Nhất niệm vô minh này là chỗ y chỉ để nghiệp thức huân trở lại vô minh, làm nó tăng hoài chẳng dứt, nên thành Chuyển và Hiện, 3 tế rõ ràng, tâm cảnh nhơn đó mà lập, nên nói “Bất giác niệm khởi hiện cảnh giới hư vọng”. Từ đó, cảnh giới tư huân biển tâm khởi bảy sóng trước mà thành 6 thô, tạo nghiệp thọ khổ. Cho nên, sanh tử chẳng dứt thật do đây vậy.

Trong 6 thô, 2 cái đầu là NIỆM, 2 cái kế là TRƯỚC. Trên đã làm rõ do vô minh huân chân như biến khởi 3 tế, 6 thô. Dưới biệt rõ, do nhất cảnh giới tư huân vọng tâm thành tướng 6 thô, nên sanh tử chẳng dứt.

Nghĩa CẢNH GIỚI HƯ VỌNG HUÂN TẬP ấy có 2 thứ. Thế nào là hai?

1. Huân tập tăng trưởng niệm.
2. Huân tập tăng trưởng thủ.

Trên đã làm rõ vô minh huân nghiệp thức nên hiện cảnh giới. Đây là từ cảnh giới tư huân nghiệp thức, khiến tăng trưởng 4 tướng trên của 6 thô.

1. TĂNG TRƯỞNG NIỆM là, từ vô minh nghiệp thức, do lực tư huân của cảnh giới làm tăng trưởng Trí Tướng và Tương Tục Tướng thuộc ý thức, là niệm phân biệt pháp chấp.

2. TĂNG TRƯỞNG THỦ là, tăng trưởng Chấp Thủ và Kế Danh Tự Tướng trong sự thức, là nhân ngã kiến ái phiền não.

A. Nghĩa VỌNG TÂM HUÂN TẬP có 2. Thế nào là hai?

1. Nghiệp thức căn bản huân tập : khiến cho A La Hán, Bích Chi Phật và tất cả Bồ tát phải chịu cái khổ sanh tử.

Đây là cái khổ của biến dịch sanh tử.

2. Tăng trưởng phân biệt sự thức huân tập : khiến cho phàm phu phải chịu cái khổ do nghiệp trói buộc.

Đây là cái khổ của phần đoạn sanh tử.

Đoạn này làm rõ vọng tâm tư huân vô minh, tạo nên 2 cái khổ sanh tử. Một là, nghiệp thức tư huân căn bản vô minh, chẳng thể ly niệm, chỗ chấp pháp tướng chẳng quên nên khiến Tam thừa chịu cái khổ của biến dịch sanh tử. Hai là, do tăng trưởng phân biệt sự thức tư huân vô minh kiến và ái. Bởi chẳng rõ cảnh giới không thật, phân biệt chấp thủ, khởi hoặc tạo nghiệp, nên khiến phàm phu chịu cái khổ của phần đoạn sanh tử thô.

B. Nghĩa VÔ MINH HUÂN TẬP có 2. Thế nào là hai?

1. Căn bản huân tập : vì hay thành tựu nghĩa nghiệp thức.
2. Khởi kiến và ái huân tập : vì hay thành tựu nghĩa phân biệt sự thức

Trước vô minh huân chân như nên có vọng tâm v.v… là ước về vô minh nương chân mà khởi thành tướng chung là 3 tế 6 thô. Còn đây, vô minh huân chân như thành nghiệp thức là ước về chỗ sai biệt. Nghiệp thức này đủ 5 ý nên căn bản vô minh huân chân như thành 5 ý. Chỗ khởi kiến và ái là chi mạt vô minh huân vọng tâm thành “phân biệt sự thức”, tức trước nói cảnh giới huân vọng tâm thành NIỆM TRƯỚC trong 6 thô. Đây là nói vô minh huân chân như nên chẳng đồng.

Trên là nhiễm huân, dưới là tịnh huân.

Là, vì có pháp chân như nên hay huân tập vô minh. 

Do lực nhân duyên huân tập, khiến vọng tâm chán sanh tử khổ, thích cầu niết bàn. 

Vì vọng tâm ấy có nhân duyên chán và cầu nên liền huân tập chân như.

Đây làm rõ chân như nội huân vô minh, phát tâm tu hành, khiến thành tịnh nghiệp, là BẢN HUÂN. Cái nhân tịnh này huân trở lại chân như tăng trưởng thế lực là MỚI HUÂN.

Tự tin tánh mình

tương đương với Thập Tín

Biết tâm vọng động, không có cảnh giới trước mắt

tương đương với Thập Giải.

Tu pháp xa lìa tương

đương với Hạnh Hướng.

Vì như thật biết không có cảnh giới trước mắt

tương đương với Sơ Địa,

Mỗi mỗi phương tiện

Nhị Địa đến Cửu Địa

Khởi hạnh tùy thuận, không thủ không niệm, cho đến lâu xa

tương đương với Thập Địa…

Bởi lực huân tập

do thứ lớp nhân hạnh ngược dòng ở trên nên vô minh diệt.

Kế sẽ làm rõ cái quả của thứ lớp tu chứng.

Do vô minh diệt nên tâm không khởi

diệt 3 cái nhiễm đầu.

Do không có khởi, cảnh giới diệt theo

diệt 3 cái nhiễm sau.

Do nhân duyên đều diệt nên tướng của tâm đều hết, gọi là đắc niết bàn thành nghiệp tự nhiên.

Đây làm rõ thứ lớp nhân quả đoạn diệt do tịnh huân. Trong phần nhân hạnh, BIẾT TÂM VỌNG ĐỘNG là giải, TU XA LÌA là hạnh. Y giải thành hạnh, tu duy thức, tầm, tứ v.v.. tỷ quán biết như thật thì đăng địa. Mỗi mỗi đều thấy lý như thật. Trải qua các vị của Thập Địa rộng tu vạn hạnh. Không thủ thì sở thủ vô tướng. Không niệm thì năng niệm chẳng sanh. LÂU XA là, trải qua ba a tăng kỳ huân tu.

Căn bản vô minh ở quả tức là 2 thức nghiệp và chuyển, nên nói TÂM KHÔNG KHỞI. Vì không có 2 cái nhiễm này làm năng huân nên cảnh giới diệt theo.

NHÂN tức là vô minh. DUYÊN tức là vọng giới. TƯỚNG CỦA TÂM tức là 6 nhiễm. Vô minh diệt tức 3 bất tương ưng nhiễm đầu hết. Cảnh giới diệt thì 3 tương ưng nhiễm sau hết. Tất cả tướng của tâm đều không ra ngoài 6 nhiễm nên nói ĐỀU HẾT. Chuyển bỏ vọng tâm vọng cảnh nên ĐẮC NIẾT BÀN, vì 6 nhiễm toàn là phiền não ngại. Chuyển bỏ vô minh thì thành nghiệp tự nhiên, vì vô minh là trí ngại.

Trên đã thông suốt nhân quả nhiễm tịnh, dưới biệt rõ hạng quán hạnh.

A. Nghĩa VỌNG TÂM HUÂN TẬP có 2. Thế nào là hai?

1. Phân biệt sự thức huân tập : Phàm phu và Nhị thừa chán cái khổ sanh tử, tùy sức tu tập, từ từ hướng về đạo vô thượng.

2. Ý huân tập : Chư vị Bồ tát phát tâm dũng mãnh. Chóng đạt niết bàn.

Đây giải thích riêng về vọng tâm bị chân như huân, thô tế hoàn tịnh ước vào người để rõ đốn tiệm.

Hỏi : Vọng tâm huân tập thì phải thành nhiễm pháp, vì sao nói ngược dòng trở thành tịnh hạnh? Vả lại, luận nêu vọng tâm huân tập mà giải thích chân huân là sao?

Đáp : Ý này cực kỳ vi tế. Xưa nay người hiểu chỉ ở khoảng bậc quán hạnh, nên cái ý vọng tâm huân tập chưa được phát minh, vì vậy chưa thấy được cái hay của tác giả mà thôi.

Chương này nêu rõ chân như huân tập mà đây lại nói vọng tâm huân là do : trên nói “Vì có pháp chân như hay huân tập vô minh, khiến vọng tâm chán cái khổ sanh tử, thích cầu niết bàn” là làm rõ bên trong lấy chân như làm nhân, tức BẢN HUÂN. Kế nói “Vọng tâm có nhân duyên chán và cầu liền huân tập chân như” là MỚI HUÂN. Đây là quán hạnh.

Trước nói chân như huân vọng tâm là thông cả 5 ý, tự có sâu cạn. Nhưng trên chỉ mới nói rõ nhân quả từ đầu chí cuối mà chưa phân đốn tiệm. Nay vì vọng tâm chịu sự huân, huân trở lại chân như thì vọng tâm năng huân này tự có 2 nghĩa thô tế để rõ đốn tiệm sai biệt. Nếu cái nhân chịu sự huân là sự thức mà phát tâm thì thành căn cơ Nhị thừa. Nếu cái nhân chịu sự huân là 5 ý mà phát tâm thì thành căn cơ Tam Hiền, Thập Thánh. Song khi nêu vọng tâm là đã nhận chân như huân vọng tâm. Nay khởi quán hạnh huân ngược trở lại chân như thì chắc rằng chẳng phải vô minh huân vọng tâm vậy. Diệu thay!

Trên đã làm rõ vọng tâm huân chân như, thô tế chẳng đồng. Dưới làm rõ chân như huân vô minh thể dụng chẳng đồng.

B. Nghĩa CHÂN NHƯ HUÂN TẬP có 2. Thế nào là hai?

1. TƯỚNG TỰ THỂ HUÂN TẬP : từ vô thủy đến nay, đầy đủ pháp vô lậu, có đủ nghiệp chẳng thể nghĩ bàn làm tánh cảnh giới. Y nơi 2 nghĩa ấy thường hằng huân tập. Bởi có lực nên hay khiến chúng sanh chán cái khổ sanh tử, thích cầu niết bàn, tự tin thân mình có pháp chân như, phát tâm tu hành.

Đây làm rõ chân như trong ngoài huân tập có 2 nghĩa thể và dụng.

THỂ là pháp tánh vô lậu (vốn đầy đủ từ vô thủy đến nay) của chúng sanh, là bản hữu chánh nhân Phật tánh, tức bản thể.

TƯỚNG là tướng của thể, là tướng đầy đủ công đức vô lậu, là vô lượng công đức xứng hợp với tánh.

CÓ ĐỦ NGHIỆP … là, thể và tướng này có đủ nghiệp dụng chẳng thể nghĩ bàn. Ngoài, thì hay cùng với tất cả vô tình làm tánh của cảnh giới gọi là pháp tánh, nên pháp pháp đều chân, đó là ngoại cảnh. Trong, chính là trí thể làm cảnh sở quán, tức Bồ tát đăng địa dùng quán hữu tướng vô tướng, đó là nội cảnh. Vì có đủ lực tác dụng chẳng thể nghĩ bàn của thể và tướng thường hằng huân tập nên hay khiến chúng sanh phát tâm, chán sanh tử, thích niết bàn. Biết bản hữu chân thật chẳng mượn ở ngoài mà cầu nên phát tâm tu hành. Ý là, nếu chẳng nhờ lực chân như sẵn có này thì chúng sanh không bao giờ có cơ hội biết phát tâm.

Hỏi : Nếu nghĩa đúng như vậy thì tất cả chúng sanh đều có chân như, đều cùng huân tập, vì sao “có tin và không tin”, trước sau vô lượng sai biệt? Đều nên đồng thời tự biết có pháp chân như, siêng tu phương tiện, cùng nhập niết bàn.

Đây đặt câu hỏi, chúng sanh cùng đầy đủ chân như nhưng phát tâm tu chứng chẳng đồng. Ý hỏi này bao hàm 2 thứ sai biệt chẳng đồng.

1. Nghi chúng sanh đã đồng sẵn một tánh chân như bình đẳng, vì sao có lợi, độn, tà, chánh, tin cùng chẳng tin v.v… vô lượng sai biệt chẳng đồng.

2. Nghi chúng sanh đồng nhờ chân như nội huân mà phát tâm thì phải đồng thời đồng tin, đồng tu, đồng chứng niết bàn, vì sao có trước, sau, mau, chậm … vô lượng sai biệt chẳng đồng?

Tuy chữ SAI BIỆT đặt ở giữa, nhưng nghĩa lại bao gồm cả câu trước lẫn câu sau. Chỗ này giải thích cần phải khéo.

Đáp: Chân như vốn một mà có vô lượng vô biên vô minh – từ xưa đến nay – tự tánh sai biệt dày mỏng chẳng đồng. Vô lượng thượng phiền não nương vô minh khởi sai biệt. Phiền não ngã kiến và ái nhiễm nương vô minh khởi sai biệt. Như vậy tất cả phiền não nương nơi vô minh mà khởi, trước sau vô lượng sai biệt. Duy chỉ có Như Lai hay biết mà thôi.

Ý đáp đây cũng có 2 thứ sai biệt chẳng đồng.

1. Chúng sanh vốn là sẵn đồng một tánh chân như nhưng vì căn bản vô minh nội huân dày mỏng chẳng đồng, nên có căn cơ lợi, độn, tà, chánh, tin cùng chẳng tin … sai biệt.

2. Tuy là cùng đồng vô minh huân tập bên trong, nhưng chỗ huân thành của nó là phiền não, thô tế chẳng đồng nên tu chứng có mau chậm sai biệt.

VÔ LƯỢNG THƯỢNG PHIỀN NÃO là sở tri chướng, tế mà khó đoạn nên thủ chứng chậm. NGÃ KIẾN ÁI NHIỄM là phiền não chướng, thô mà dễ đoạn nên thủ chứng mau. Đây là tin cùng chẳng tin, lợi, độn, chậm, mau sai biệt … là lỗi của vô minh hoặc nhiễm chẳng phải chân như có sai biệt.

Trên là tóm tắt chân như huân tập chẳng đồng. Dưới là nói về ngoại duyên chẳng đồng.

Lại pháp của chư Phật có nhân có duyên. Nhân duyên đầy đủ thì pháp mới được thành. Như tánh lửa trong cây là nhân chánh của lửa, nếu người không biết, chẳng mượn phương tiện mà cho là cây tự cháy thì không có chuyện này.

Đây nói về duyên đủ và thiếu để rõ chẳng đồng. Phật tánh có 3 : chánh nhân, duyên nhân và liễu nhân. Chân như vốn tự đầy đủ, là CHÁNH NHÂN Phật tánh. Thiện tri thức giúp khai phát là DUYÊN NHÂN. Nhân duyên đầy đủ mới được khai ngộ là LIỄU NHÂN. Như nhân duyên khoan cây lấy lửa. Lửa trong cây dụ cho chánh nhân. Nhân lực, khoan, lấy v.v… là dụ cho duyên nhân.

Lửa ra cây cháy là dụ cho đoạn chứng, tức liễu nhân.

Chúng sanh cũng vậy. Tuy có lực huân tập của chánh nhân, nếu chẳng gặp chư Phật, Bồ tát và các bậc thiện tri thức lấy đó làm duyên, mà có thể tự đoạn phiền não, nhập niết bàn thì không có việc ấy. Nếu, tuy có lực của ngoại duyên mà trong chưa có lực huân tập của tịnh pháp thì cũng chẳng đến mức có thể chán cái khổ sanh tử thích cầu niết bàn.

Chúng sanh vốn đủ Phật tánh là chánh nhân. Phật, Bồ tát, thiện tri thức thuyết về chân như, giáo pháp được lưu truyền, là ngoại duyên. Được các duyên trong ngoài này huân lẫn nhau thì việc đoạn hoặc chứng chân mới dễ. Nếu thiếu một thì chẳng thể chán sanh tử khổ, thích cầu niết bàn.

Nếu nhân duyên đầy đủ. Nghĩa là, tự có cái lực huân tập, lại được cái nguyện từ bi của chư Phật và các vị Bồ tát hộ trì thì hay khởi cái tâm chán khổ, tin có niết bàn, tu tập thiện căn.

Bởi tu thiện căn thành thục nên được gặp chư Phật và Bồ tát chỉ dạy lợi hỉ, mới có thể tiến thẳng đến đạo niết bàn.

Đây làm rõ, nhân duyên đầy đủ nên thành tựu đạo quả dễ dàng. TU HÀNH là, bên trong nhờ lực huân tập của chân như làm thắng nhân, bên ngoài có lực trợ phát của chư Phật và Bồ tát làm thắng duyên, nên khiến mau tiến đến niết bàn. CHỈ DẠY LỢI HỈ là được khai thị chỉ bảo một cách lợi ích và hoan hỉ . Đây là cái hay của trợ duyên.

Trên làm rõ cái dụng của tự tánh. Dưới làm rõ cái dụng của chân như.

2. DỤNG HUÂN TẬP: Chính là lực ngoại duyên của chúng sanh. Như vậy, ngoại duyên có vô lượng nghĩa, lược nói có 2 thứ.

Thế nào là hai? Một là duyên sai biệt, hai là duyên bình đẳng.

Hai thứ duyên này là chư Phật và Bồ tát đã chứng pháp thân, tự nhiên có nghiệp dụng chẳng thể nghĩ bàn, cảm ứng theo tâm chúng sanh mà ứng hiện. Do lực bi nguyện nên tạo mọi thứ thân hình, sự nghiệp thành tựu căn cơ chúng sanh, làm trợ duyên bên ngoài cho những chúng sanh phát tâm cầu đạo. Đây là dụng của pháp thân nên là dụng của chân như. Vì tâm thể bản giác vốn đủ của chúng sanh chính là pháp thân bình đẳng của chư Phật, thể đồng mà dụng cũng đồng, nên chúng sanh có dụng phát tâm thì cảm ứng với dụng thành tựu của chư Phật.

Nói SAI BIỆT hay BÌNH ĐẲNG là ở căn cơ phát tâm cảm ứng chẳng đồng, nên ứng hiện có sai biệt bình đẳng chẳng đồng. Nếu từ phân biệt sự thức phát tâm thì tùy loài mà hiện mọi thứ hóa thân làm duyên sai biệt. Nếu từ nghiệp thức phát tâm thì hiện báo thân làm duyên bình đẳng, tùy chỗ cảm ứng của nó mà ứng hiện.

2a. Duyên sai biệt : Người ấy, trong khoảng thời gian từ khi mới phát tâm cầu đạo cho đến khi thành Phật, đều nương nơi chư Phật và các vị Bồ tát. Trong đó, hoặc thấy, hoặc niệm, hoặc làm quyến thuộc, cha mẹ, người thân, hoặc làm người giúp việc, hoặc làm bạn hữu, hoặc làm oan gia, hoặc khởi tứ nhiếp

Đây là chỉ bày sơ lược các tướng của duyên sai biệt. Sai biệt tuy nhiều nhưng không ra ngoài việc dùng từ ái mà nhiếp thọ, ở chỗ thấp hèn để hành sự, đồng loài để mà lợi ích, oan gia để mà quay về, tứ nhiếp để mà nhiếp phục. Năm thứ mà thôi! Nên hoặc thấy thân ấy, hoặc niệm đến đức ấy cũng trong năm thứ ấy mà thôi.

… cho đến tất cả việc làm với vô lượng duyên hạnh. Bởi do lực huân tập đại bi phát khởi nên hay khiến chúng sanh tăng trưởng thiện căn, nếu thấy nếu nghe đều được lợi ích.

Đây hiển bày chư Phật và Bồ tát tạo ra ngoại duyên để thành tựu chúng sanh. Không gì ngoài lực huân tập vô tác đại bi thì chắc rằng chẳng phải hữu tâm mà làm được. Đây là nói về dụng sai biệt của hóa thân.

Duyên ấy có 2 loại. Một là duyên gần nên chóng được độ. Hai là duyên xa nên lâu xa mới được độ.

Hai duyên xa và gần này, phân biệt lại có 2 loại. Thế nào là hai? Một duyên tăng trưởng hạnh, hai là duyên thọ đạo.  

Đây là làm rõ về năng lực giáo hóa sai biệt xa và gần. Hai thứ duyên này thông từ nhân đến quả nên nói xa và gần. Như Phật là đệ tử ở thời Phật Đại Thông Trí Thắng, gieo chủng duyên nhất thừa sau mới thành thục, mỗi người đều được thọ ký, là DUYÊN XA. Rồi khi Phật còn tại thế, những căn cơ do Phật giáo hóa ở Linh Sơn, thấy Phật mới phát tâm là DUYÊN GẦN. Lại là nhân duyên theo độ ở tương lai. Đây là ước chung về thời gian mà nói.

Kinh nói Phật nói “Ta ra đời khai thị cho tất cả chúng sanh, khiến chưa tin thì tin, tin rồi thì tăng trưởng” là DUYÊN TĂNG TRƯỞNG. Lại nói “Mỗi người đều được sanh trưởng” là DUYÊN THỌ ĐẠO. Nếu ước về địa vị xa gần thì tăng trưởng của Nhị thừa và Tam Hiền là gần còn Thập Địa và thành tựu Phật quả là xa. Tổng tóm hết các ý chính thì tự mình có thể hiểu lấy.

2b. Duyên bình đẳng : Tất cả chư Phật và Bồ tát đều nguyện độ thoát hết thảy chúng sanh, tự nhiên huân tập, thường hằng chẳng bỏ. Bởi cùng lực trí thể nên tùy theo thấy nghe cảm ứng mà hiện làm các nghiệp. Nghĩa là, chúng sanh nương nơi tam muội đều bình đẳng được thấy chư Phật.

Đây làm rõ duyên bình đẳng. Chư Phật và Bồ tát đều có bản nguyện độ thoát tất cả chúng sanh, nên hằng thường huân tập đồng thể bi trí chẳng bỏ. Vì chúng sanh là chúng sanh trong tâm của chư Phật, nên niệm niệm huân tập, chưa từng một niệm tạm bỏ. Chúng sanh chỉ cần có năng lực nhập tam muội, tùy theo sự huân tập thấy nghe từ trước thì trong tam muội ấy, các ngài hiện thân thuyết pháp khiến họ được thành tựu. Như hiện thân của Phổ Hiền, tùy ứng của Quan Âm đều là duyên bình đẳng.

Thể dụng huân tập ấy, phân biệt lại có 2. Thế nào là 2?

(1+2) a. Huân chưa tương ưng : Phàm phu, Nhị thừa và các vị Bồ tát sơ phát tâm do ý, ý thức huân tập, nương nơi tín lực mà tu hành, chưa được tâm vô phân biệt cùng thể tương ưng, chưa được nghiệp tu hành tự tại cùng dụng tương ưng.

Đây làm rõ, năng huân là chân như thì thể dụng bình đẳng mà sở huân là căn cơ thì có sai biệt. Phàm phu, Nhị thừa, Bồ tát sơ phát tâm chỉ y nơi ý thức huân tập, chỗ phát tâm cạn, chỉ nhờ tín lực mà tu hành, chưa thể thâm nhập chân như tam muội nên chưa được tâm vô phân biệt cùng thể tương ưng, chưa được trí nghiệp tự tại cùng dụng tương ưng. Sự sai biệt này là tại căn cơ.

(1+2) b. Huân đã tương ưng : Pháp thân Bồ tát được tâm vô phân biệt cùng với trí dụng của chư Phật tương ưng, chỉ nương nơi pháp lực, tự nhiên tu hành, huân tập chân như, diệt trừ vô minh.

Đây làm rõ thể dụng bình đẳng, là Bồ tát đăng địa đã chứng chân như, được tâm vô phân biệt, nên được cùng thể và dụng của chân như tương ưng. Vì nương nơi pháp lực nhậm vận tiến tu nên được cùng với thể dụng của chân như tương ưng. Bởi chân trí chiếu lý nên nói PHÁP LỰC. Nhậm vận không công nên nói TỰ NHIÊN. Do trí hạnh này huân tập chân như nên diệt được vô minh hoặc mà cùng với thể dụng chư Phật tương ưng : Sơ Địa đến Thất Địa cùng thể tương ưng. Bát Địa trở về sau cùng dụng tương ưng. Nhị thừa, Tam Hiền y nơi thức thứ sáu tỷ quán nên chưa được tương ưng.

Trên, trong phần nhiễm tịnh hỗ trợ qua lại đã làm rõ nhiễm tịnh huân tập xong. Dưới, làm rõ nghĩa tận và bất tận của việc huân tập nhiễm tịnh.

Lại nữa, nhiễm pháp từ vô thủy đến nay huân tập chẳng dứt, đến khi thành Phật sau mới đoạn dứt. Tịnh pháp huân tập thì không có đoạn, tận đến vị lai. Nghĩa này thế nào? Vì pháp chân như thường hằng huân tập nên vọng tâm diệt, pháp thân hiển hiện, khởi dụng huân tập nên không có đoạn.

Đây là tổng kết nghĩa đoạn và chẳng đoạn của việc huân tập nhiễm tịnh. Nhiễm pháp không chỗ bắt đầu mà có cùng tận. Tịnh pháp thuộc chân như thì không chỗ bắt đầu cũng không chỗ cùng tận. Nhân vô minh ô nhiễm nương chân mà khởi thì chân như là cái không chỗ bắt đầu của cái không chỗ bắt đầu ấy. Đến khi chân như huân tập đoạn hết vô minh thành Phật là lúc vô minh diệt tận, pháp thân hiển hiện, có đại dụng chẳng thể nghĩ bàn, vô cùng vô tận, nên nhiễm pháp có tận mà tịnh pháp thì vô tận.

Trên, trong môn sanh diệt đã giải thích xong tướng nhân duyên sanh diệt của tâm này. Dưới giải thích 3 cái đại thể, tướng và dụng. Vì trước đã nêu ra “Tướng nhân duyên sanh diệt của tâm này hay chỉ ra tự thể, tướng và dụng của Đại thừa”, đến đây là giải thích.

Lại nữa, tướng tự thể chân như của tất cả Phàm phu, Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát, chư Phật không có tăng giảm, chẳng phải mé trước sanh, chẳng phải mé sau diệt, rốt ráo thường hằng. Từ xưa đến nay, tự tánh đầy đủ tất cả công đức.

Đây nói tướng của mười pháp giới đều lấy chân như làm tự thể chính là nói “Thể của nhất pháp giới đại tổng tướng pháp môn”. Vì là cái thánh phàm sẵn đồng, chẳng thuộc mê ngộ nên KHÔNG TĂNG GIẢM. Vốn tự chân thường, không sanh không diệt, bao hàm quảng bác, nhiễm tịnh dung thông, nên nói ĐẦY ĐỦ TẤT CẢ CÔNG ĐỨC.

Nghĩa là có:

Nghĩa đại trí tuệ quang minh

Dưới nói tánh chân công đức, thường chiếu rực rỡ, vô minh hoặc nhiễm u ám chẳng thể làm mờ, nên nói tự thể có đại trí tuệ quang minh, chính là pháp thân chân thể Tỳ Lô Giá Na.

Nghĩa chiếu khắp pháp giới

Thật trí chiếu lý, lý không gì là không triệt. Quyền trí soi vật, vật không gì là không cùng.

Nghĩa chân thật hiểu biết.

Vì viên chiếu quên duyên, lìa các căn lượng nên nói CHÂN THẬT HIỂU BIẾT.

Nghĩa tâm tự tánh thanh tịnh.

Là tánh Như Lai Tạng lìa hẳn hoặc nhiễm nên nói TỰ TÁNH THANH TỊNH.

Nghĩa thường lạc ngã tịnh.

Cùng tận ba thời mà chẳng đổi nên nói là THƯỜNG. Tại các khổ mà chẳng can hệ nên nói là LẠC. Ở trong sanh tử mà chẳng bị câu thúc nên nói là NGÃ. Trải qua 9 tướng mà chẳng nhiễm nên nói TỊNH.

Nghĩa thanh lương bất biến tự tại,

lìa hẳn nhiệt não nên nói THANH LƯƠNG. Tứ tướng chẳng đổi nên nói BẤT BIẾN. Nghiệp chẳng thể trói buộc nên nói TỰ TẠI.

Như vậy có đầy đủ vô lượng Phật pháp chẳng lìa, chẳng đoạn, chẳng khác, chẳng thể nghĩ bàn, cho đến đầy đủ không thiếu một nghĩa nào, gọi là Như Lai Tạng, cũng gọi là pháp thân Như Lai.

Vô lượng tướng công đức chẳng khác chân thể nên nói CHẲNG LÌA. Không chỗ bắt đầu mà lại tương tục nên nói CHẲNG ĐOẠN. Cùng đồng một vị nên nói CHẲNG KHÁC. Vì tánh tướng dung thông, một nhiều không chướng ngại, lý sự giao triệt, nhiễm tịnh không hai nên nói CHẲNG THỂ NGHĨ BÀN. Pháp thân vốn đủ, chỉ Phật chứng được tận cùng nên nói PHẬT PHÁP. Vì không pháp nào mà chẳng bao trùm, không một chỗ thiếu khuyết nên nói ĐẦY ĐỦ. Vì hay hàm nhiếp vô lượng tánh đức nên nói NHƯ LAI TẠNG cũng gọi là PHÁP THÂN NHƯ LAI. Trước đã nói về thể của đại tổng tướng pháp môn nên ở đây kết qui về tâm Như Lai Tạng.

Hỏi: Trên nói thể chân như bình đẳng, ly tất cả tướng. Vì sao lại nói thể có mọi thứ công đức như vậy?

Đây là cái chấp thắc mắc về thể và nạn vấn về tướng.

Đáp: Tuy thật có các nghĩa công đức ấy nhưng không có tướng sai biệt, cùng đồng một vị chân như duy nhất. Nghĩa ấy thế nào? Bởi do không phân biệt, lìa tướng phân biệt, cho nên không hai.

Đây đáp để thấy, tức thể là tướng, tướng chẳng khác thể nên KHÔNG PHÂN BIỆT. Như nước biển khơi cùng đồng một vị, vì cùng đồng chân. Có sự sai biệt là bởi tâm phân biệt. Chân như lìa hẳn năng sở phân biệt nên KHÔNG HAI vậy.

Lại do nghĩa gì mà nói sai biệt? Bởi y nơi tướng nghiệp thức sanh diệt mà nói.

Đã nói thể và tướng của chân như không hai, vậy do nghĩa gì mà nói có như vậy sai biệt? Vì nương nghiệp thức sanh diệt mà có đủ vô lượng nhiễm pháp. Nên biết, chuyển nhiễm trở thành tịnh thì có vô lượng tướng công đức thanh tịnh sai biệt.

Vì sao nói vậy? Bởi tất cả pháp vốn chỉ là tâm, thật không có niệm. Mà có vọng tâm, bất giác niệm khởi, thấy các cảnh giới, nên nói vô minh. Tâm tánh chẳng khởi tức là nghĩa đại trí tuệ quang minh. Nếu tâm khởi thấy thì có tướng chẳng thấy. Tâm tánh lìa thấy tức là nghĩa chiếu khắp pháp giới

Vì nương vô minh vọng tâm nên nhiễm pháp nghịch lại với tịnh. Vì thế mà biết chân như có nghĩa đại trí tuệ quang minh.

Nếu tâm có động thì chẳng phải là cái hiểu biết chân thật, không có tự tánh

Vì động liền vọng tưởng. Vọng tức chẳng phải chân. Vọng không có tự tánh. Động thì theo nhiễm duyên. Vì thế mà biết, bất động là hiểu biết chân thật, lìa nhiễm là chân tịnh.

Chẳng phải thường, chẳng phải lạc, chẳng phải ngã, chẳng phải tịnh, nhiệt não suy biến thì chẳng tự tại

ngược lại với nhiễm pháp thì biết là trí chân như có các nghĩa chân thường, chân lạc, chân ngã, chân tịnh.

Cho đến có đủ vô lượng nghĩa vọng nhiễm. Đối lại với nghĩa ấy là tâm tánh bất động, thì có vô lượng các tướng công đức thanh tịnh thị hiện.

Đây hỏi VÌ SAO … là để hiển thị rộng nghĩa chân như vốn tự bất động, không có tướng sai biệt. Do đâu mà biết? chỉ do đối chiếu với tâm động. Như đây thì có vô lượng tướng vọng nhiễm. Ngược với đây là bất động, thì biết có đủ vô lượng các công đức thanh tịnh.

Nếu tâm khởi, lại thấy các pháp được niệm hiện trước thì có chỗ “thiếu”. Như vậy tịnh pháp vô lượng công đức tức là nhất tâm, lại không có chỗ niệm cho nên đầy đủ, gọi là pháp thân Như Lai Tạng.

Đây làm rõ nghĩa ĐẦY ĐỦ của tịnh pháp. Nếu tâm khởi thì vô minh nhiễm pháp chưa dứt, tâm thanh tịnh chưa tròn, nên ngoài tâm còn có chỗ niệm, tức là chỗ thiếu. Nay, vì nhất tâm tròn đầy, các vọng hoàn toàn thanh tịnh thì vô lượng công đức thanh tịnh tức là nhất tâm. Ngoài tâm không có chỗ niệm, tánh tự đầy đủ. Đây gọi là pháp thân Như Lai Tạng, hàm nhiếp vô lượng công đức thanh tịnh. Vì mê mà làm thức tạng nên hàm nhiếp vô lượng nhiễm pháp. Nay phản vọng hoàn nguyên nên thành vô lượng công đức thanh tịnh vậy.

Trên giải thích 2 cái đại thể và tướng xong. Dưới giải thích đại dụng.

Lại nữa, dụng chân như là, chư Phật Như Lai khi còn ở tại nhân địa, phát đại từ bi, tu các ba la mật nhiếp hóa chúng sanh, lập đại thệ nguyện muốn độ hết thảy chúng sanh trong các cõi, chẳng giới hạn kiếp số, đến cùng tận vị lai. Bởi vì coi hết thảy chúng sanh như thân mình mà chẳng nắm giữ tướng chúng sanh.

Đây nêu đại nguyện chính là tâm độ thoát rộng lớn và tâm lâu dài, là nêu ra bi trí đại phương tiện. Như thân mình là lòng bi thâm sâu. Chẳng nắm giữ tướng là trí thâm sâu. Đủ cả hai thứ trên thì chẳng phải là tâm điên đảo.

Nghĩa ấy thế nào? Vì là, thật biết tất cả chúng sanh cùng với thân mình, chân như bình đẳng không có sai khác.

Đây là đối quả mà bày nhân để rõ gốc của đại dụng. Chư Phật khi còn tại nhân, vì thấy tất cả chúng sanh cùng mình đồng một pháp thân chân như, thương xót sự trầm mê của họ nên khởi đồng thể đại bi nguyện độ tất cả, thề độ hết chúng sanh trong các cõi, chẳng kể kiếp số. Nhơn đây tu hành lục độ lấy làm chánh hạnh, giáo hóa chúng sanh không chán mỏi. Đây là tâm quảng đại, tâm lâu dài.

Sở dĩ chẳng thối là bởi coi tất cả chúng sanh như thân mình mà lại chẳng thấy có tướng chúng sanh. Chúng sanh như thân mình là bi thâm sâu. Chẳng chấp giữ tướng là trí thâm sâu. Hai cái này chẳng phải là tâm điên đảo.

Vì sao chẳng nắm giữ tướng chúng sanh? Vì như thật biết chúng sanh và mình cùng một chân như bình đẳng. Đây là tâm bậc nhất. Nên luận nói “Quảng đại là đứng đầu, tâm ấy chẳng điên đảo”.

Đây là tâm của chư Phật khi còn tại nhân địa.

Vì có trí đại phương tiện như vậy, trừ diệt vô minh, thấy pháp thân mình mà tự nhiên có mọi thứ dụng của bất tư nghì nghiệp. Tức cùng chân như đồng khắp tất cả chỗ. Lại cũng không có tướng dụng có thể được.

Đây làm rõ, nhờ trí diệt hoặc, pháp thân hiển hiện, tự nhiên mà có nghiệp dụng chẳng thể nghĩ bàn. Đây là đại dụng mà pháp thân vốn đủ, chỉ do trước đây bị vô minh ngăn che nên chẳng hiển. Nay nhờ trí phá hoặc nên mới được hiển mà cùng chân như đồng biến khắp cả chỗ. Vì chân như lìa tướng nên dụng cũng không có tướng có thể được.

Vì sao? Vì chư Phật Như Lai chỉ là thân trí tướng pháp thân đệ nhất nghĩa đế, không có cảnh giới thế đế, lìa hành tác, chỉ là tùy sự thấy nghe của chúng sanh mà được lợi ích, nên nói là dụng.

Đây hỏi, tại sao dụng không tướng dụng? Đã không có tướng dụng, sao có thể làm lợi ích chúng sanh?

Đáp rằng, vì chư Phật Như Lai chỉ là thân trí tướng pháp thân, lìa tất cả hành tác nên không có tướng dụng. Chỉ tùy cơ cảm của chúng sanh, tùy sự thấy nghe của họ mà được lợi ích nên nói là dụng. Đây gọi là pháp thân thanh tịnh như hư không, ứng vật hiện hình như trăng dưới nước. Nước tâm của chúng sanh thanh tịnh thì bóng bồ đề hiện trong ấy, nên nói DỤNG KHÔNG TƯỚNG DỤNG. Trái lại, nếu không có cơ cảm thì chỉ là một diệu lý bản trí, hoàn toàn không có tướng thế đế sanh diệt.

Dụng ấy có 2, thế nào là hai?

1. Sở kiến của tâm phàm phu và Nhị thừa, là y nơi phân biệt sự thức, gọi là ứng thân. Vì chẳng biết là chuyển thức hiện, thấy từ ngoài đến, nhận lấy phần tề của sắc nên chẳng thể biết hết.

Đây là ngay nhân mà rõ quả để hiển tướng và dụng chẳng đồng. Phàm phu và Nhị thừa chẳng biết duy thức, hướng ngoại trần so đo là thức phân biệt thứ sáu, nên thấy thân Phật cũng từ ngoài đến. Vì chẳng biết tướng sở hiện tế của thức thứ bảy nên chỉ thấy tướng ứng thân thô, tức ứng thân 32 tướng của Phật. Đó là tướng biến ra từ sở kiến quán không, một trong 3 loại phân thân của Phật. Sở dĩ chẳng thấy được tướng tế là do chẳng biết chuyển thức hiện. Báo thân ở dưới là sở hiện của chuyển thức.

Nói “nương thức thấy Phật” là, vì chân pháp thân Phật là bản giác chân như Phật tánh của chúng sanh. Nay do lực của nhân nội huân, chúng sanh phát tâm chán khổ cầu Phật. Chịu sự huân là thức thứ sáu, thức thô thì huân cạn nên tướng Phật cũng thô. Đây thấy Phật là ước về bản huân mà nói, chẳng phải không nhân mà hiện.

Nói “tướng tế nương chuyển thức hiện” là, vô minh tuy là mê chân như mà thành nghiệp thức, song chỉ là một niệm bất giác còn chưa lìa chân. Vì chưa hòa hợp nên chưa phân năng sở. Đến Chuyển Tướng thì sanh diệt cùng chẳng sanh diệt hòa hợp, liền biến pháp thân chân trí thành cái thấy hư vọng, biến chân lý thành các tướng hư vọng, là chỗ khởi thủy của chúng sanh vọng thấy cảnh giới. Nay phản vọng về chân, từ thô đến tế, đoạn đến chuyển thức thì bản trí hiện tiền, pháp thân hiển lộ. Vì trí chiếu lý, nên tự tánh công đức trong Như Lai Tạng nhất thời hiển hiện. Sở kiến là tướng Phật thân vi tế diệu kỳ. Mới biết, đều là duy tâm sở hiện, chẳng từ ngoài đến. Đây là sở hiện từ bản huân là nghiệp thức, nên nói CHUYỂN THỨC HIỆN.

2. Sở kiến của tâm Bồ tát từ sơ phát tâm đến cứu cánh địa, y nơi nghiệp thức, gọi là báo thân.

Đây làm rõ, nương chuyển thức hiện báo thân. Bồ tát từ sơ tâm Thập Giải, lấy bản huân là nghiệp thức, hành duy thức quán, trải qua Tam Hiền, Thập Địa, cuối cùng trong tâm được tam muội thì sở kiến Phật thân là tướng tế báo thân, đúng là chỉ từ tâm mà hiện, chẳng từ ngoài đến. Mà nói dụng là, dụng của tự thể chân như bản giác, chẳng phải dụng của hiện thân Phật bên ngoài. Phật do tạo tác tùy cơ mà hiện thì chẳng phải nghĩa này, vì ý trong đây chính là ước về dụng huân biến. Suốt từ trên xuống dưới, ý văn lấy Phật tùy cơ hiện là theo đây.

Thân có vô lượng sắc, sắc có vô lượng tướng. Tướng có vô lượng tướng tốt. Chỗ trụ y nơi quả cũng có vô lượng mọi thứ trang nghiêm, tùy chỗ mà thị hiện, không có bờ mé, chẳng thể cùng tận, lìa tướng phần hạn, tùy chỗ cảm ứng, thường hay trụ trì, chẳng hủy, chẳng mất.

Đây đưa ra 2 báo là y báo và chánh báo để hiển bày toàn bộ tướng tế. Đây là Hoa Nghiêm Lô Xá Na Phật, thân độ tự tha không chướng không ngại, đẳng đồng pháp giới nên lìa phân ranh, chỉ là một báo cảnh chân thật. Nghĩa là, bị lửa lớn thiêu đốt, độ này vẫn an ổn, nên nói chẳng hủy chẳng mất.

Các công đức như thế, đều nhơn nơi các hạnh vô lậu ba la mật huân tập và sự huân tập chẳng thể nghĩ bàn mà được thành tựu, đầy đủ vô lượng tướng lạc nên nói là báo thân.

Phần kết từ nhân có quả này là giải thích do đâu được tên báo thân. Như vậy 2 báo chánh và y đều do thập độ hạnh huân cùng công nội huân chẳng thể nghĩ bàn của bản giác. Kết quả này dùng để hiển bày nghĩa nhân huân tập.

Lại sở kiến của phàm phu là sắc thô. Tùy trong lục đạo mà mỗi cái thấy chẳng đồng, mọi loài khác nhau, chẳng phải là tướng thọ lạc nên nói là ứng thân..

Đây riêng giải thích ứng thân chẳng phải một, do tùy loài nên sở kiến chẳng đồng. Vì ở lục đạo thấy Phật tùy thuộc vào nghiệp cảm nên tướng chẳng đồng. Vì thấy đồng loài nên nói CHẲNG PHẢI TƯỚNG THỌ LẠC.

Lại nữa, sở kiến của các bậc Bồ tát sơ phát tâm là do tin sâu pháp chân như nên hiểu được ít phần. Biết sắc tướng và các sự trang nghiêm này không đến không đi, lìa hẳn phần tề, chỉ y tâm hiện, chẳng lìa chân như, nhưng các vị Bồ tát ấy còn tự phân biệt, bởi chưa nhập được vị pháp thân.

Đây riêng giải thích sở kiến của Tam Hiền, chẳng đồng với Bồ tát đăng địa. Trước nói “Y nghiệp thức từ sơ phát tâm đến cứu cánh địa” là nói chung sở kiến đều là tướng báo thân. Song trong ấy cũng có cạn sâu chẳng phải là không phân đầy đủ, nên đây chú trọng làm rõ.

Đây nói Tam Hiền phát tâm muốn đoạn vô minh, tin sâu chân như, nhưng chỉ là nương thức thứ sáu phân biệt tỷ quán, chỉ là “tương tợ giác”, nên nói HIỂU ĐƯỢC ÍT PHẦN. Vì phân biệt chưa quên, chưa chứng chân như, chẳng đồng đăng địa nên nói CHƯA NHẬP PHÁP THÂN.

Nếu đạt được tâm thanh tịnh thì sở kiến vi diệu, dụng của nó trở nên thù thắng, cho đến Bồ tát địa tận thấy được cứu cánh.

Đây làm rõ báo thân là sở kiến của Bồ tát đăng địa, viên mãn từ từ đến kim cang hậu tâm thì chân cùng hoặc tận nên nói THẤY ĐƯỢC CỨU CÁNH.

Nếu lìa nghiệp thức thì không Kiến Tướng. Vì pháp thân của chư Phật không có sắc tướng đây kia đắp đổi qua lại cùng thấy.

Trên nói, y nghiệp thức mà thấy là báo thân, vẫn còn có sở kiến, vì chưa thấy pháp thân. Nay làm rõ nếu lìa nghiệp thức thì thấy được pháp thân. Vì chân thể pháp thân chỉ là nhất chân tâm, tuyệt các đối đãi, hoàn toàn không có sắc tướng năng sở nên nói “không có đây kia đắp đổi qua lại cùng thấy”. Sở kiến này tuy là vi tế diệu kỳ, nhưng do tu mà hiển, đi từ mê trở lại ngộ, nên chưa lìa năng sở sắc tướng. Chân thể pháp thân là nhất tâm chân nguyên, chẳng thuộc mê ngộ, chẳng mượn duyên sanh. Chính cái thiên chân này là chánh nhân Phật tánh, nên ý tóm kết đây là chuẩn mực để hiểu về chỗ rốt ráo vậy.

Hỏi: Nếu pháp thân của chư Phật lìa sắc tướng, vì sao hay hiện sắc tướng?

Đây hỏi để rõ, pháp thân lìa tướng mà chẳng ngại hiện tướng.

Đáp: Pháp thân ấy chính là thể của sắc nên hay hiện sắc. Nghĩa là, từ xưa đến nay, sắc và tâm chẳng phải hai. Bởi sắc tánh chính là trí nên thể của sắc không hình, gọi là trí thân. Bởi trí tánh tức là sắc nên gọi là pháp thân khắp giáp tất cả chỗ. Sắc sở hiện ấy không có phần tề, tùy tâm hay hiện mười phương thế giới, vô lượng Bồ tát, vô lượng báo thân, vô lượng trang nghiêm, mỗi mỗi sai biệt, đều không có phần tề mà chẳng ngăn ngại lẫn nhau. Đó chẳng phải là chỗ thức tâm phân biệt có thể biết, vì nó là dụng của chân như tự tại.

Ý đáp này để rõ chỗ thâm sâu của báo thân và pháp thân là một, sắc và tâm chẳng phải hai, hiển bày nhất chân pháp giới không chướng ngại, để qui về cứu cánh là cội nguồn chân thật nhất tâm. Pháp thân là tên khác của nhất tâm. Vì tâm là cội nguồn của vạn pháp nên nói là pháp thân, là thể của sắc nên hay hiện sắc. Thí như hư không chẳng phải sắc mà hay xuất sanh sắc tướng nên nói “TỪ XƯA đến nay sắc và tâm chẳng phải hai”.

Vì sự thấu lý thành, toàn không thành sắc nên nói “sắc tánh tức là trí tánh”. Vì sắc thể vốn không nên nói là TRÍ THÂN. Nghĩa là, sắc tức là không.

Vì toàn lý thành sự nên sự tức là lý. Thí như hư không trùm hết tất cả chỗ sắc và phi sắc. Nghĩa là, không tức là sắc.

Bởi lý sự chẳng hai nên sắc tùy không mà khắp cả, không có phần tề.

Bởi không hai, không phân ranh nên thân tự độ tha không chướng không ngại. Mười phương thế giới là báo thân của vô lượng Bồ tát. Các quốc độ trang nghiêm (y báo) ấy mỗi mỗi sai biệt, đều không có phần tề mà chẳng ngăn ngại lẫn nhau. Sở dĩ trong biển Hoa Nghiêm, các độ duyên khởi trùng trùng vô tận, mỗi mỗi giao kết với nhau, là do lý sự vô ngại nên được sự sự vô ngại. Đây chẳng phải là chỗ biết của thức tâm. Đều là đại dụng của chân như tự tại. Thật là, thể đồng thì dụng khắp, đều là dụng của nhất tâm chân như vậy.

Luận lấy nhất tâm làm thể của “Nhất pháp giới đại tổng tướng pháp môn” nên giải thích chánh nghĩa, kết qui về đây. Nghĩa là, không có gì mà không từ nơi pháp giới này lưu xuất, cũng không có gì mà không trở về pháp giới này. Nên trong môn sanh diệt, cuối cùng hiển bày nhất tâm là chuẩn đích tối cùng.

Như vậy, Hiển Thị Chánh Nghĩa được chia làm 2 phần. Đầu tiên, hiển động tĩnh chẳng phải một, từ nhất tâm chân như khởi thành 2 môn phân biệt đã xong. Giờ, hội tướng vào thật, hiển động tĩnh chẳng hai.

HỘI TƯỚNG VÀO THẬT- HIỂN ĐỘNG TĨNH CHẲNG HAI

Lại nữa, hiển thị từ môn sanh diệt, ngay đó mà nhập môn chân như.

Đây là dạy quán “sanh vốn vô sanh” thì ngay sanh diệt mà nhập môn chân như.

Nghĩa là, tìm cầu 5 ấm, sắc và tâm, cảnh giới 6 trần rốt ráo đều vô niệm. Vì tâm không hình tướng, tìm khắp mười phương chẳng thể được. Như người mê nên cho đông là tây mà phương hướng thật chẳng dời đổi. Chúng sanh cũng vậy. Bởi vô minh mê nên cho tâm là niệm. Tâm thật chẳng động. Nếu hay quán xét biết tâm vô niệm thì được tùy thuận vào môn chân như.

Đây chỉ bày chánh quán là đốn ngộ nhất tâm vi diệu. Đó là nhất chân pháp giới vốn không có sắc tâm, sao có 5 ấm là chúng sanh? Thật do nhất niệm tối sơ bất giác là vô minh. Vì lực của vô minh liền biến nhất tâm làm nghiệp thức. Y nơi nghiệp thức mà Kiến Tướng phân hai, sắc tâm hòa hợp nên có 5 ấm là chúng sanh. Như vậy 5 ấm của chúng sanh đều nhơn nơi nhất niệm mà có. Nay bất tất phải so đo chúng sanh là chân hay là ngụy? Chỉ cần quán chỗ khởi của nhất niệm vốn tự vô niệm, vô niệm tức vô sanh, vô sanh thì chúng sanh vốn không, lại hỏi có sắc tâm cùng các pháp ư?

Sở dĩ dạy quán thẳng vô niệm là vì quán vô niệm là đốn ngộ ngay môn chân như vậy. Một cái thuật quán vô niệm này là yếu chỉ tu hành bí truyền đích thực của Phật Tổ. Nên Tổ Đạt Ma từ Tây sang dạy Nhị Tổ “Đem tâm ra ta an cho!”. Nhị Tổ trả lời “Con tìm tâm hoàn toàn chẳng thể được”. Lục Tổ cũng nói “Xưa nay không một vật”. Các Tổ về sau không gì là không chỉ rõ cảnh giới ly niệm. Nên nay tham thiền, chẳng biết ý chỉ vô niệm, lại khởi mọi thứ tư lương huyền diệu, há là ý của Tổ Sư từ Tây sang ư?

Chẳng phải chỉ có một luận này mà ngay cả toàn bộ Đại Tạng 1700 tắc cũng đều qui về một câu vô niệm, không có pháp nào khác. Học giả nên ghi nhớ điều này.

Trên đã xong phần Hiển Thị Chánh Nghĩa.
Dưới là phần Đối Trị Tà Chấp.

II. ĐỐI TRỊ TÀ CHẤP

Tất cả mọi tà chấp đều nương vào ngã kiến. Nếu lìa ngã thì không có tà chấp. Ngã kiến này có 2 loại. Thế nào là hai? Một là nhân ngã kiến, hai là pháp ngã kiến.

NHÂN NGÃ KIẾN là, cho 5 ấm thật có chủ tể. Đây là những kẻ mới học Đại thừa trong Phật pháp mê giáo vọng chấp, theo lời chấp nghĩa, chẳng phải chỗ khởi của hàng ngoại đạo.

PHÁP NGÃ KIẾN là, cho 5 ấm v.v… tất cả pháp, mỗi cái đều có thể tánh, là chỗ khởi của Nhị thừa.

Y nơi phàm phu mà nói thì có 5 loại.

Đây làm rõ nhân ngã kiến trước. Có 2 loại:

  1. Phàm phu chấp 5 ấm lấy làm thật ngã, do đây mà vọng khởi tà chấp.
  2. Chấp lấy bản giác trong Như Lai Tạng làm năng chứng nên nói tồn tại ngã giác ngã, là chỗ chấp của Bồ tát.

Nay nói nhân ngã kiến là nói phàm phu mới học Phật pháp nghe 2 môn phân biệt trước, chẳng hiểu là lìa ngôn, lại theo lời mà khởi chấp. Nên đều căn cứ vào chỗ nghe Phật pháp ấy mà nói.

1. Nghe Tudala nói “Pháp thân Như Lai rốt ráo vắng lặng giống như hư không”. Bởi chẳng biết chỉ là phá sự dính mắc, lại cho hư không là tánh Như Lai. Làm sao đối trị? Phải rõ tướng hư không là pháp hư vọng, không có thật thể, vì đối với sắc mà có, là tướng bị thấy, khiến tâm sanh diệt. Bởi tất cả sắc pháp vốn là tâm, thật không có sắc bên ngoài. Nếu không có sắc thì không có tướng hư không. Nghĩa là, tất cả cảnh giới chỉ từ nhất tâm vọng khởi mà có. Nếu tâm lìa vọng động thì tất cả cảnh giới đều diệt, chỉ là nhất chân tâm, không chỗ nào là chẳng khắp. Đây là nghĩa rốt ráo về tánh trí quảng đại của Như Lai, chẳng phải như tướng hư không.

Đây là phá cái vọng chấp lấy cái không làm thể pháp thân. Vì chúng sanh chẳng thấu suốt được lý pháp thân là không tướng, chấp sắc thân Phật là sắc chất có chướng ngại, nên nói pháp thân giống như hư không để phá cái chấp đó. Người nghe chẳng hiểu bèn vọng lấy cái ngoan không cho là tánh Như Lai. Đây là tà chấp.

LÀM SAO ĐỐI TRỊ là lời nói phá. Hư không là vọng pháp, là vọng tình biến kế, thể của nó chẳng thật, lý thì vốn không. Vì sao? Vì hư không này là do đối với sắc mà hiển, biến kế vọng chấp là có, khiến tâm sanh diệt, chẳng phải pháp thân. Vì sao hư không là pháp hư vọng? Vì tất cả sắc pháp chỉ từ tâm hiện, sắc vốn là không. Nếu không có sắc pháp thì hư không cũng không. Vì sao không và sắc đều không? Vì tất cả cảnh giới chỉ từ tâm vọng khởi mà có. Nếu lìa vọng niệm thì tất cả cảnh giới diệt ngay, chỉ là nhất chân tâm, không chỗ nào mà chẳng khắp. Cái này gọi là tánh trí quảng đại pháp thân Như Lai, chẳng phải như tướng hư không.

2. Nghe Tudala nói “các pháp thế gian, rốt ráo thể không” cho đến “pháp niết bàn chân như cũng rốt ráo không, xưa nay tự không, lìa tất cả tướng”. Bởi chẳng biết là do phá sự dính mắc, lại cho tánh của niết bàn chân như chỉ toàn là không. Làm sao đối trị? Phải rõ pháp thân chân như, tự thể chẳng không vì đầy đủ vô lượng tánh công đức.

Đây phá cái chấp cho niết bàn chân như là cái “không” đoạn diệt. Vì có người chẳng rõ pháp thế gian và xuất thế gian giả danh không thật, cho là thật có nên nói rốt ráo thể không để phá cái lầm đó. Người nghe chẳng biết là lời nói phá, bèn chấp vào lời mà vọng nhận chân như niết bàn là cái “không” đoạn diệt. Làm sao đối trị? Phải rõ tự thể của pháp thân chân như chẳng không vì đầy đủ tánh vô lậu công đức. Trên chấp hư không làm pháp thân, đây chấp pháp thân là cái “không” đoạn diệt, đều rơi vào không kiến.

3. Nghe Tudala nói “Như Lai Tạng không có tăng giảm, thể của nó sẵn đủ tất cả pháp công đức”. Vì chẳng hiểu nên liền cho Như Lai Tạng có pháp sắc tâm, tự tướng sai biệt. Làm sao đối trị? Đó chỉ là y nơi nghĩa chân như mà nói. Nói sai biệt là y nơi sự thị hiện của nghĩa nhiễm ô sanh diệt.

Đây phá cái chấp cho tánh Như Lai đồng với sắc tâm. Nghe nói, thể tánh Như Lai Tạng đầy đủ các công đức, vì chẳng hiểu vốn không sai biệt, bèn chấp Như Lai Tạng đồng với pháp sắc tâm sai biệt. Đây là nghĩa chẳng đúng, vì chấp chân đồng với vọng. Làm sao đối trị? Tất cả pháp vốn không có sai biệt, chỉ do chân như tùy duyên mà có. Pháp pháp đều chân, chỉ là nhất chân như. Sắc và tâm chẳng phải hai, vốn không sai biệt, chỉ nhơn nơi nghĩa sanh diệt nhiễm ô mà hiện bày các sai biệt. Như vậy là đối với vọng nhiễm mà nói có sai biệt. Tự tánh chân như há đồng với sắc tâm sai biệt ư? Đây là phá cái vọng chấp Như Lai Tạng đồng với sắc tâm.

4. Nghe Tudala nói “Tất cả pháp nhiễm ô sanh tử ở thế gian đều y nơi Như Lai Tạng mà có. Tất cả pháp chẳng lìa chân như”. Vì chẳng hiểu, cho là tự thể Như Lai Tạng có đủ tất cả pháp thế gian sanh tử … Làm sao đối trị? Bởi Như Lai Tạng, từ xưa đến nay, chỉ có vô lượng các công đức thanh tịnh, chẳng lìa chẳng đoạn, chẳng khác nghĩa chân như. Còn vô lượng pháp nhiễm ô phiền não chỉ là vọng có, tánh vốn tự không, từ vô thủy đến nay chưa từng cùng Như Lai Tạng tương ưng. Nếu thể của Như Lai Tạng có pháp hư vọng mà cho rằng chứng đắc có thể dừng hẳn được vọng, ắt không có việc này.

Đây là phá cái chấp cho tánh Như Lai tạng có pháp nhiễm ô sanh diệt. Vì nghe nói, vọng nương chân mà khởi, lại chẳng hiểu nghĩa tùy duyên, bèn chấp tạng tánh có đầy đủ pháp nhiễm ô sanh tử. Đây là chấp chân có vọng nhiễm. Làm sao đối trị? Như Lai Tạng từ xưa đến nay đầy đủ vô lượng tánh công đức chẳng khác chân như. Các nhiễm pháp chỉ là vọng có, vốn không tự tánh, từ xưa đến nay chẳng cùng tạng tánh tương ưng. Nếu cho tạng tánh quả có pháp hư vọng thì việc chứng chân dừng vọng không thể có.

Đây là 2 cái chấp, chấp tạng tánh đồng với sắc tâm và có pháp sanh tử nhiễm ô. Vì chẳng hiểu nghĩa tùy duyên, vọng chấp là thật có.

5. Nghe Tudala nói “Y Như Lai Tạng nên có sanh tử. Y Như Lai Tạng nên đắc niết bàn”. Do chẳng hiểu nên nói chúng sanh có chỗ khởi đầu. Do thấy có khởi đầu nên nói niết bàn Như Lai đạt được có tận chung, trở lại làm chúng sanh. Làm sao đối trị? Bởi Như Lai Tạng không có mé trước nên tướng vô minh cũng không có khởi đầu. Nếu nói ngoài tam giới lại có chỗ khởi đầu của chúng sanh là kinh của ngoại đạo nói. Như Lai Tạng không có mé sau, niết bàn mà chư Phật đạt được tương ưng nên cũng không có mé sau.

Đây là phá cái chấp thấy sanh tử niết bàn có đầu cuối. Nghe nói, nương Như Lai Tạng có sanh tử niết bàn, vì chẳng hiểu bèn chấp chúng sanh có khởi đầu còn niết bàn có tận chung, trở lại làm chúng sanh. Đây là do nghe vọng nương chân mà khởi, bèn cho là chân trước vọng sau nên chấp chúng sanh có khởi đầu, kế là chấp niết bàn có tận chung, trở lại làm chúng sanh, nên khởi cái thấy đầu cuối. Làm sao đối trị? Chúng sanh nhơn nơi vô minh mà có, tức do mê Như Lai Tạng. Mà tạng tánh thì không có mé trước, huống vô minh là cái không chỗ khởi đầu, há có chỗ khởi đầu của chúng sanh? Nếu nói ngoài tam giới có chỗ khởi đầu của chúng sanh là trong Đại Hữu Kinh của ngoại đạo nói, không phải Thất Phật nói. Lại, Như Lai Tạng không có mé sau mà niết bàn chư Phật đạt được cũng tương ưng, há có chỗ chung tận ư?

5 cái thấy trên là của phàm phu có ngã kiến, dùng thức phân biệt nghe thuyết Phật pháp, chẳng thể lìa ngôn nhận nghĩa, vọng chấp ngôn thuyết làm khởi những cái lầm này.

Do Nhị thừa độn căn nên Như Lai vì họ mà nói nhân vô ngã. Vì chỗ nói chẳng phải là cứu cánh, thấy có pháp ngũ ấm sanh diệt, sợ hãi sanh tử, vọng thủ niết bàn. Làm sao đối trị? Vì pháp ngũ ấm, tự tánh chẳng sanh, thời không có diệt, vốn vẫn là niết bàn.

Đây phá cái thấy hư vọng của Nhị thừa, thấy có sanh tử đáng chán, có niết bàn đáng chứng, là pháp ngã kiến. Bởi chỉ nghe Như Lai thuyết ngũ ấm vô thường, chưa nghe thuyết sanh tử tức chân thường. Vì chỗ thuyết chẳng phải là cứu cánh nên vọng khởi cái so đo này. Vì sanh tử niết bàn là pháp bị cái ngã đem ra so đo nên nói là pháp ngã kiến.

Trên đã làm rõ, do đối trị mà lìa. Dưới làm rõ, do cứu cánh mà lìa.

Lại nữa, chỗ cứu cánh thì lìa vọng chấp. Phải biết nhiễm pháp tịnh pháp đều là tương đãi, không có tự tướng có thể nói. Cho nên tất cả pháp, từ xưa đến nay, chẳng phải sắc chẳng phải tâm, chẳng phải trí chẳng phải thức, chẳng phải có chẳng phải không. Tướng rốt ráo chẳng thể nói. Mà có ngôn thuyết, phải biết đó là phương tiện thiện xảo của Như Lai, mượn ngôn thuyết để dẫn đạo chúng sanh. Còn chỉ thú của ngài đều là ly niệm qui về chân như. Vì niệm tất cả pháp khiến tâm sanh diệt, chẳng nhập được thật trí.

Đây làm rõ, chỗ cứu cánh thì quên lời, tổng qui vô niệm. Diệu cách để khế hợp với chân như là bỏ toàn bộ tướng ngôn thuyết đã có. Phần trước nói nhiễm tịnh tương đãi đối phá có không v.v… là tùy bịnh cho thuốc, đều là lời nói đối đãi, chưa phải là chỗ cứu cánh ly ngôn. Nay thuốc bịnh đều bỏ, năng sở cả hai đều quên, đường ngôn ngữ đoạn, chỗ tâm hành diệt, đường tâm trí tuyệt, pháp thế và xuất thế tất cả đều phi. Bởi cảnh giới ly niệm chỉ chứng mới tương ưng. Rốt ráo thì, “tướng chẳng thể nói” mới là chỗ ly ngôn rốt ráo để hiển bày chân như vậy.

Đối với cái chẳng thể nói mà có thể nói như trên là vì phương tiện thiện xảo của Như Lai, giả mượn ngôn thuyết để dẫn đạo chúng sanh, còn chỉ thú của ngài đều là ly niệm qui về chân như. Sở dĩ cần phải ly niệm vì niệm tất cả pháp khiến tâm sanh diệt, chẳng nhập được thật trí. Trong môn chân như đã nói “Tất cả pháp chẳng thể nói, chẳng thể niệm nên gọi là chân như” lại nói “Nếu ly niệm gọi là được nhập”.

Đây giải thích 2 môn đã xong, làm rõ nhiễm tịnh tương đãi, tóm qui về chân như ly niệm, lìa bỏ toàn bộ tướng ngôn thuyết. Đây quả là ý chỉ vi diệu!

Phần đối trị tà chấp xong. Dưới là phần Phân Biệt Tướng Phát Tâm Vào Đạo.

 

III. PHÂN BIỆT TƯỚNG ĐẠO PHÁT TÂM

Đạo là chỗ mà tất cả chư Phật chứng được, tất cả Bồ tát phát tâm tu hành hướng đến.

Phần giải thích tiêu đề của chương này là nhằm để giải thích nghĩa THỪA trong phần Lập Nghĩa. Trước đã nói rõ về 2 môn sanh diệt và chân như, thu về nhất tâm. Chư Phật chứng nhất tâm này, lấy đây làm đạo quả là bồ đề niết bàn, gọi là ĐẠI. Chỗ cứu cánh mà tất cả Bồ tát phát tâm tu hành hướng đến cũng chính là tâm này, gọi là THỪA.

Trước đã khai thị cho hiểu, chẳng phải hạnh thì chẳng vào được nên nay lấy hạnh để tiến thú chỗ hiểu mà nhận lấy chỗ thực chứng, chẳng phải là cái giải rỗng không. Song phát tâm tuy như nhau mà chỗ vào của hạnh cạn sâu lại chẳng đồng, nên cần phân biệt mỗi cái có tướng của nó. Vì vậy nói “Phân biệt tướng đạo phát tâm”. Vì nương giải mà phát hạnh, hạnh khởi giải phải dứt nên nói là TƯỚNG ĐẠO.

Phát tâm lược nói có 3 thứ. Thế nào là 3?

1. Tín thành tựu phát tâm.

2. Giải hạnh phát tâm.

3. Chứng phát tâm.

Đây nêu bày phát tâm có 3 tướng. Ba tướng này thông cả 51 vị, tự có cạn sâu chẳng đồng. Đều nói PHÁT TÂM, vì đều là có phát, tuy chẳng đồng.

TÍN THÀNH TỰU phát tâm là mãn tâm Thập Tín vào Sơ Phát Tâm Trụ, là phát khởi sự phát tâm, cũng là khai phát sự phát tâm. Vì sơ tâm của Thập Trụ, tam trí ngũ căn nhất thời khai phát.

GIẢI HẠNH phát tâm là do phát hạnh mà tiến đến phát tâm. Nghĩa là đầy đủ hạnh hướng, hành theo thập độ, nhập vị Hồi Hướng.

CHỨNG phát tâm là Bồ tát đăng địa, đã phá vô minh, phát dụng chân như, là phát dụng mà phát tâm. Vì vậy mà chẳng đồng.

Y nơi hạng người nào, tu những hạnh gì được thành tựu niềm tin mà chịu phát tâm? Đó là y nơi chúng sanh bất định tụ.

Đây nêu câu hỏi để rõ hạng phát tâm. Bất định tụ có 3 tụ là chánh định, tà định và bất định. BẤT ĐỊNH TỤ nói đây là loại tin trước rồi mới phát đại tâm. Song chí chưa quyết, hoặc tiến hoặc thối, là loại “lông đạo” phàm phu (đạo tâm giống như lông trong hư không) nên nói bất định tụ. Đây là hạng thuộc Thiên Đài Ngũ Phẩm Quán Hạnh Vị.

Có lực huân tập thiện căn, tin nghiệp quả báo, hay khởi 10 điều thiện, chán cái khổ sanh tử, muốn cầu Vô Thượng Bồ Đề.

Đây là biện về nhân hạnh đầu tiên khi phát tâm. HUÂN TẬP là, vì có bản giác nội huân còn ngoài thì nghe giáo pháp lưu xuất từ chân như trợ huân, hợp với lực tu hành các thiện căn đời trước, nhân duyên tập hợp nên phát tâm chán sanh tử khổ muốn cầu niết bàn. Nhưng vì chỉ tin vào nghiệp quả, chưa nhập quán hạnh nên thuộc về cái tin trên.

Được gặp chư Phật đích thân cúng dường, tu hành tín tâm. Qua một vạn kiếp, tín tâm thành tựu nên được chư Phật, Bồ tát giáo hóa khiến họ phát tâm. Hoặc vì đại bi nên hay tự phát tâm. Hoặc do chánh pháp muốn diệt, vì nhân duyên hộ pháp nên hay tự phát tâm. Ấy là, tín tâm thành tựu mà phát tâm, nhập chánh định tụ, rốt ráo chẳng còn bị thối thất, gọi là trụ trong chủng tánh Như Lai, tương ưng với chánh nhân.

Đây làm rõ, do hạnh duyên giúp thành tựu tín tâm, trụ ở vị tu tập. ĐƯỢC GẶP CHƯ PHẬT là nhân của sự phát tâm. QUA MỘT VẠN KIẾP là thời gian tu hành. GIÁO HÓA KHIẾN … là duyên của sự phát tâm. Do nhân duyên trong ngoài này mà phát được tín tâm quyết định, nhập chánh định tụ. Do phát chánh tín là chánh nhân thành Phật nên từ đây chẳng còn thối thất nữa. Dưới làm rõ loại bất định.

Nếu có chúng sanh thiện căn ít ỏi, từ lâu xa đến nay, phiền não sâu dày, tuy cũng được gặp Phật Tổ cúng dường, nhưng lại khởi chủng tử trời người, hoặc khởi chủng tử Nhị thừa. Giả như có cầu Đại thừa thì căn tánh cũng bất định, lúc tiến lúc thối. Hoặc là cúng dường chư Phật chưa đến một vạn kiếp, trong khoảng ấy gặp duyên cũng có phát tâm, như là thấy sắc tướng của chư Phật mà phát tâm, hoặc nhơn cúng dường chúng tăng mà phát tâm, hoặc nhơn các vị Nhị thừa giáo hóa khiến phát tâm, hoặc học bên ngoài mà phát tâm v.v… Phát tâm như vậy đều là bất định. Gặp nhân duyên xấu dễ bị thối thất rơi vào Nhị thừa.

Đây là làm rõ hạng bất định tánh, nhân duyên trong ngoài quá kém nên có sự thối thất. THIỆN CĂN ÍT ỎI là lực nội huân yếu. Hoặc thì huân mà đức lại mỏng. Còn không thì đổi qua cầu phước báu trời người hay kỳ vọng vào Nhị thừa nên đối với Đại thừa tiến thối chưa quyết.

Cúng Phật chưa đến một vạn kiếp thì thời gian còn chưa đủ, lại gặp duyên chẳng tốt : vì thấy Phật, cúng dường tăng đều còn trụ ở sắc tướng. Gặp các bậc thầy hạ liệt, chẳng y cứ vào tâm mà tu … những nhân duyên như vậy đều bị thối đọa, bởi chưa nhập được tín tâm nên chẳng được quyết định.

Lại nữa, tín thành tựu phát tâm là phát những tâm nào? Lược nói có 3 thứ. Thế nào là 3?

1. Trực tâm, là pháp chánh niệm chân như.

2. Thâm tâm, là thích gom tất cả các thiện hạnh.

3. Đại bi tâm, là muốn bạt tất cả khổ cho chúng sanh.

Trên làm rõ nhân duyên phát tâm, đây làm rõ chỗ phát tâm. TRỰC TÂM là, tâm như dây thẳng căng mới có thể vào đạo, không có tướng quanh co lắc léo. Vì thế, CHÁNH NIỆM CHÂN NHƯ tức là chân như tam muội. Chân như là gốc của 2 hạnh. Vì đầy đủ công đức vô lậu nên là gốc của tự lợi. Quán chúng sanh tánh đồng nên là gốc của lợi tha. Vì biết thể tánh đủ các công đức nên thích tu tất cả thiện hạnh. Tu không có tướng tu, mỗi mỗi ứng hợp với tánh nên lấy thâm tâm làm bản hạnh tự lợi. Lấy đồng thể đại bi, bạt tất cả khổ cho muôn loài khiến chúng được bồ đề, làm bản hạnh lợi tha. Diệu hạnh tuy lớn nhưng không ra ngoài 3 tâm nên nói LƯỢC NÓI CÓ BA.

Hỏi : Trên nói pháp giới nhất tướng, thể Phật không hai. Vì sao không chỉ niệm chân như, lại mượn tìm học các thiện hạnh?

Đáp : Thí như báu mani lớn, thể tánh nó sáng sạch trong suốt mà có vết quặng làm bẩn. Nếu người tuy biết tánh của báu mà chẳng dùng phương tiện mỗi mỗi mài dũa thì rốt cuộc báu cũng không được sạch trong. Pháp chân như của chúng sanh cũng vậy, thể tánh tịnh không mà có vô lượng phiền não cấu nhiễm. Nếu người tuy niệm chân như mà chẳng dùng phương tiện mỗi mỗi huân tu thì cũng không được tịnh. Bởi cấu nhiễm nhiều vô lượng cùng khắp tất cả pháp nên tu tất cả các thiện hạnh, dùng đó để đối trị. Nếu người tu hành tất cả các thiện pháp, tự nhiên qui thuận pháp chân như.

Đây hỏi để rõ, lý thì đồng mà hoặc thì khác nên cần các thiện hạnh.

Hỏi : Trên nói thể và tánh không khác thì chỉ niệm chân như là đủ, vì sao phải mượn các thiện hạnh?

Đáp : Vì các hoặc quá nhiều nên cần các thiện hạnh. Vì xứng lý mà tu nên ngoài tịnh các vọng nhiễm thì trong thuận với chân như. PHƯƠNG TIỆN là chỉ cho quán hạnh.

Dưới làm rõ, y 3 tâm trên làm rõ về 4 loại phương tiện.

Lược nói phương tiện có 4 thứ. Thế nào là bốn?

1. Phương tiện HẠNH CĂN BẢN là, quán tất cả pháp tự tánh vô sanh nên lìa vọng kiến, chẳng trụ sanh tử. Quán tất cả pháp nhân duyên hòa hợp, nghiệp quả chẳng mất nên khởi tâm đại bi tu các phước đức nhiếp hóa chúng sanh, chẳng trụ niết bàn. Vì tùy thuận pháp tánh vô trụ.

Đây là y 3 tâm trên mà lập ra 4 phương tiện. Đầu tiên, làm rõ trực tâm chánh niệm chân như, tu hạnh vô trụ. Nương chân như khởi hạnh nên gọi là HẠNH CĂN BẢN. Vì pháp vốn vô sanh, lìa vọng kiến, nương nơi đại trí hay đoạn phiền não nên CHẲNG TRỤ SANH TỬ. Quán pháp duyên hợp, nghiệp quả chẳng mất nên nương nơi đại bi tu các phước đức nhiếp hóa chúng sanh mà chẳng trụ niết bàn. Vì “có – không” chẳng trụ, hai lợi đều tu nên gọi là hạnh VÔ TRỤ. Vì tánh vốn vô trụ nên TÙY THUẬN PHÁP TÁNH mà tu vậy.

2. Phương tiện HAY DỪNG là, tàm quí và hối lỗi thì có thể dừng tất cả các pháp ác, chẳng để tăng trưởng. Vì tùy thuận pháp tánh lìa các lỗi.

3. Phương tiện PHÁT KHỞI TĂNG TRƯỞNG THIỆN CĂN là, siêng năng cúng dường lễ bái Tam Bảo, tán thán tùy hỉ, khuyến thỉnh chư Phật. Vì tâm thuần hậu ái kính Tam Bảo nên lòng tin được tăng trưởng, mới có thể dốc lòng cầu đạo vô thượng. Lại nhơn nơi lực hộ trì của Phật, Pháp, Tăng có thể trừ bỏ nghiệp chướng, thiện căn chẳng thối thất. Vì tùy thuận pháp tánh lìa si chướng.

Hai phương tiện DỪNG và TẠO nương thâm tâm mà tu này được 2 lợi hạnh.

Nói phương tiện HAY DỪNG là, chưa tạo tác thì tàm quí mà dừng lại. Đã tạo tác thì hối lỗi, không cho nó tăng trưởng. Nên nói “Tàm, quí, hối lỗi có thể dừng tất cả pháp ác chẳng để tăng trưởng”. Vì tùy thuận pháp tánh mà tu nên lìa các hạnh xấu. Đây là trì cái hay dừng.

Ba là, phương tiện PHÁT KHỞI tăng trưởng thiện căn là, chưa tạo thiện thì khiến nó phát khởi. Đã tạo thiện thì khiến nó tăng trưởng. SIÊNG NĂNG CÚNG DƯỜNG … là thiện căn. ÁI KÍNH TAM BẢO … là để tăng trưởng lòng tin, mới có thể dốc lòng cầu đạo vô thượng. Còn nhơn nơi lực hộ trì của Tam Bảo, nghiệp chướng được tiêu trừ là để giữ vững lòng tin.

Tánh vốn ly chướng nên tùy thuận pháp tánh mà tu, xa lìa các chướng ngại. LỄ BÁI thì xa lìa chướng ngã mạn. TÁN THÁN thì lìa chướng hủy báng. TÙY HỈ thì lìa chướng tật đố … Đây là trì cái tạo.

4. Phương tiện ĐẠI NGUYỆN BÌNH ĐẲNG là, phát nguyện đến tận vị lai, hóa độ hết thảy chúng sanh, chẳng sót một ai, khiến họ đều được cứu cánh niết bàn vô dư. Vì tùy thuận pháp tánh không đoạn dứt, pháp tánh rộng lớn khắp tất cả chúng sanh, bình đẳng không hai, chẳng niệm đây kia, rốt ráo tịch diệt.

Đây là nương bi tâm tu đại nguyện phương tiện, là hạnh lợi tha. “PHÁT NGUYỆN tận đến vị lai, độ hết thảy chúng sanh” là tâm lâu dài.

CHẲNG SÓT MỘT AI là tâm quảng đại.

“ĐỀU ĐƯỢC cứu cánh niết bàn, tùy thuận pháp tánh không đoạn dứt, pháp tánh rộng lớn bình đẳng không hai, rốt ráo tịch diệt” là tâm bậc nhất.

Bồ tát phát tâm này thì thấy được lờ mờ pháp thân. Do thấy pháp thân nên tùy nguyện lực, hay hiện 8 thứ làm lợi ích chúng sanh. Đó là, rời cung trời Đâu Suất, nhập thai, trụ thai, ra khỏi thai, xuất gia, thành đạo, chuyển pháp luân và nhập niết bàn.

Đây nói về lợi ích của sự phát tâm. Vì Bồ tát Thập Trụ nương môn quán này nên thấy được lờ mờ pháp thân và được 8 thứ lợi ích. Bồ tát Sơ Trụ hay hiện 8 tướng thành đạo thì biết ở địa vị Sơ Trụ, Bồ tát đã có năng lực làm được việc này.

Nhưng Bồ tát này chưa được gọi là Pháp thân Bồ tát. Vì từ vô lượng đời quá khứ đến nay, nghiệp hữu lậu chưa thể đoạn dứt, tùy chỗ sanh còn bị cái khổ vi tế. Nhưng chẳng phải là bị nghiệp trói buộc, bởi do có lực tự tại của đại nguyện.

Đây là giản trạch rõ sự khác biệt đối với Bồ tát đăng địa, vì còn lỗi vi tế. Bồ tát Sơ Trụ, lưu hoặc nhuận sanh. Vì nghiệp quá khứ chưa từng đoạn bao giờ nên còn biến dịch và theo nghiệp phần đoạn mà chịu cái khổ vi tế. Đây chẳng phải là pháp thân. Nhờ lực đại nguyện hộ trì, có được những khoảng tự tại nên chẳng đồng với phàm phu bị nghiệp trói buộc.

Như trong Tudala có chỗ nói “thối đọa ác thú”, chẳng phải là thật thối. Chỉ vì đối với các vị Bồ tát sơ học chưa vào được chánh vị mà lại giải đãi, làm cho sợ hãi khiến họ can đảm mạnh mẽ lên.

Đây nói rõ về quyền giáo.

Hỏi : Bồ tát này đã lìa sự trói buộc của nghiệp, vì sao trong giáo nói có sự thối đọa ác thú?

Đáp : Chẳng phải là thật thối đọa, chỉ là để cảnh cáo các vị sơ học giải đãi, chẳng phải là thật thối. Trong kinh Bổn Nghiệp nói “Bồ tát Thất Trụ trở về trước gọi là thối phần. Nếu chẳng gặp thiện tri thức từ một kiếp cho đến mười kiếp thì thối bồ đề tâm. Còn gặp nhân duyên ác tri thức thì thối trở lại phàm phu, đọa trong các đường chẳng lành”. Đây là tạm dọa các vị sơ học.

Lại, các vị Bồ tát này một khi đã phát tâm thì xa lìa khiếp nhược, rốt ráo chẳng còn sợ rơi vào Nhị thừa. Nếu nghe đến vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp gian nan cần khổ tu hành mới được niết bàn, cũng chẳng khiếp nhược, vì tin và biết rằng tất cả pháp từ xưa đến nay vốn vẫn là niết bàn.

Đây là tán thán thật hạnh. Vì vị Bồ tát này đã thấy pháp thân nên biết tự tánh của tất cả pháp chính là tâm, rốt ráo bình đẳng, biết các pháp từ những kiếp lâu xa chẳng lìa nhất niệm, biết tất cả pháp xưa nay vẫn là niết bàn nên chẳng khiếp nhược. Tức hiển kinh ấy là quyền chẳng phải thật.

Phải biết đây đã chuyển thành thù thắng.

Đây là làm rõ GIẢI HẠNH PHÁT TÂM. Trước, Tín thành tựu là Tín mãn nhập Trụ. Đây thì Hạnh mãn nhập Hướng nên nói chuyển thành thù thắng. Tuy trước có tu 2 hạnh, song còn ở giai đoạn quán hạnh nhập lý. Đây là xuất chân nhập tục nên chuyển thành thù thắng. Dưới giải thích do đâu nói “chuyển thành thù thắng”.

Bởi vị Bồ tát này từ Sơ Chánh Tín đến nay, khi a tăng kỳ kiếp thứ nhất sắp hết, đối với pháp chân như đã thực thâm hiểu hiện tiền, sở tu là ly tướng.

Đây giải thích nguyên do gọi là chuyển thắng. Vị Bồ tát này, từ chánh tín đến mãn tâm Thập Hướng, trải qua vô số kiếp thứ nhất thì hơn một vạn kiếp trên. Vì tu hạnh “chân như ly tướng” thì hơn là tu thập thiện, cúng Phật, kính Tăng … là những hạnh còn chấp tướng. Vì biết tự tánh tất cả pháp chính là tâm, thành tựu huệ thân chẳng do nơi khác mà ngộ nên nói thâm hiểu, là tướng thù thắng. Do thâm hiểu pháp tánh nên thuận tánh mà tu.

Vì biết pháp tánh, thể không xan tham nên tùy thuận tu hạnh Bố thí ba la mật. Vì biết pháp tánh không nhiễm, lìa lỗi ngũ dục nên tùy thuận tu hạnh Giới ba la mật. Vì biết pháp tánh không khổ, lìa sân não nên tùy thuận tu hạnh Nhẫn nhục ba la mật. Vì biết pháp tánh không có tướng thân tâm, lìa giải đãi nên tùy thuận tu hạnh Tinh tấn ba la mật. Vì biết pháp tánh thường định, thể không loạn động nên tùy thuận tu hạnh Thiền ba la mật. Vì biết pháp tánh thể nó sáng suốt, lìa vô minh nên tùy thuận tu hạnh Bát Nhã ba la mật.

Đây làm rõ chỗ tu là hạnh ly tướng. Ba la mật là Phạn ngữ, đây nói “đáo bỉ ngạn”. Bỉ ngạn là mé cứu cánh chân thật. Trí Luận nói “Tu lục độ của nhân thiên và chỗ tu của Nhị thừa đều chưa ly tướng, vì chưa đạt được tam luân thể không, nên chỉ nói là Bố thí độ v.v… chưa nói là ba la mật. Nay ứng hợp với chỗ tu là Bát Nhã pháp tánh, mỗi mỗi đều ly tướng nên được gọi là ba la mật, mỗi mỗi đều đáo bỉ ngạn vậy.

VÌ BIẾT LÌA XAN … các tướng, là ứng hợp với tánh mà tu nên tu mà không có tướng tu. Vì vậy, trong văn hồi hướng nói “Tướng chân như …” chính là hiển cái hạnh ly tướng vậy.

Bồ tát từ Tịnh Tâm Địa đến Cứu Cánh Địa chứng cảnh giới gì? Đó là chân như. Vì y chuyển thức nói là cảnh giới mà cái chứng ấy không có cảnh giới, chỉ là trí chân như, gọi là pháp thân.

Đây nói rõ về CHỨNG PHÁT TÂM. Tam Hiền tuy nói là thuận tánh, song chỉ là tỷ quán. Vì vô minh chưa phá nên chưa thể chánh chứng. Nay nhập Sơ Địa thì 2 chướng phân biệt đã lìa, chân như hiển hiện, khai phát nhất tâm, lấy làm chánh chứng. Nên nói chứng phát tâm là phát đại dụng chân như. Chứng cảnh giới gì? Đó là chân như, là tướng chánh chứng.

“VÌ Y CHUYỂN thức nói tên cảnh giới” là, đây hiển bày bản trí duyên như, không tướng năng sở, tâm cảnh nhất như. Giản trạch chẳng phải chuyển thức hậu đắc duyên như, là biến tướng quán không, có năng sở đối đãi, nên có cảnh giới.

Chân như này lìa tướng năng sở, tồn độc một trí như nên không cảnh giới, chỉ là một trí chân như, gọi là pháp thân.

Bồ tát ấy trong khoảng một niệm có thể đến khắp mười phương thế giới không bỏ xót, cúng dường chư Phật, thỉnh chuyển pháp thân, chỉ vì khai đạo lợi ích chúng sanh, chẳng nương văn tự.

Đây trở xuống là làm rõ dụng thù thắng của chân như, đủ cả quyền và thật đức. Vì chánh chứng chân như thì mười phương pháp giới bình đẳng hiển hiện như ở trước mắt. Tướng thân tự tha như gương soi chiếu lẫn nhau, nên trong một niệm có thể đến các quốc độ trùng trùng như lưới của trời Đế Thích, thừa sự chư Phật, thỉnh chuyển pháp luân. Vì thấy tất cả chúng sanh bình đẳng không hai nên làm lợi ích cho hết thảy chúng sanh. Chỗ thuyết pháp là nhất tâm chân như nên CHẲNG NƯƠNG VĂN TỰ. Đây là chân như phát nghiệp dụng chẳng thể nghĩ bàn. Quyền và thật cùng hiển.

Dưới nói về khả năng thị hiện.

Hoặc thị hiện vượt qua các địa chóng thành chánh giác, là vì các chúng sanh khiếp nhược. Hoặc nói “Ta phải vô lượng a tăng kỳ kiếp mới thành Phật đạo” là vì các chúng sanh giải đãi và khinh mạn. Hay thị hiện như thế, vô lượng phương tiện chẳng thể nghĩ bàn. Mà thật ra, Bồ tát chủng tánh căn cơ là đồng, phát tâm là đồng, chỗ chứng cũng đồng, không có chuyện vượt qua. Vì tất cả Bồ tát đều phải trải qua ba a tăng kỳ kiếp. Chỉ vì thuận theo thế giới chúng sanh chẳng đồng, chỗ thấy chỗ nghe căn dục tánh khác nên thị hiện chỗ hành cũng có sai biệt.

Đây làm rõ, nương đức dụng của chân như mà hiển quyền và thật hạnh. Đầu tiên nói rõ về quyền hạnh.

Nói, vì chúng sanh khiếp nhược sợ Phật đạo trường viễn nên thị hiện vượt địa, tốc thành chánh giác như Long Nữ trong kinh Pháp Hoa, Quảng Ngạch trong kinh Niết Bàn, Thiện Tài trong kinh Hoa Nghiêm.

Vì phế bỏ sự giải đãi đối với các chúng sanh giữa đường sanh giải đãi và kiêu mạn nên thị hiện trải qua vô số kiếp như Thích Ca phải ba a tăng kỳ hạnh mới đầy đủ. Lại, hay thị hiện vô số phương tiện tùy căn tánh chúng sanh mà điều phục chẳng thể nghĩ bàn. Đây đều là quyền trí.

Kỳ thật, căn cứ theo thật hạnh của Bồ tát thì chủng tánh không phân cách nên căn đồng. Y nơi chân mà phát tâm nên phát tâm đồng. Chỗ chứng là chân như nên chứng cũng đồng. Vì pháp tánh bình đẳng, vốn không có pháp vượt qua, lại đều trải qua ba vô số kiếp, nên trì hoãn hay cấp bách là đồng thời. Một bản tế bình đẳng không có tướng sai biệt, chỉ tùy chúng sanh thấy nghe chẳng đồng, căn dục tánh khác nên thị hiện có sai biệt. Đây là thật đức thì chẳng khác mà ứng cơ thì có khác.

Lại, tướng phát tâm của vị Bồ tát này có 3 thứ tâm, tướng nó rất vi tế. Thế nào là ba?

1. Chân tâm không có phân biệt.

2. Phương tiện tâm, tự nhiên làm lợi ích khắp chúng sanh.

3. Nghiệp thức tâm, khởi diệt rất vi tế.

Đây là làm rõ đăng địa tuy có quyền và thật dụng, nhưng vì chưa phải là cứu cánh, nên chưa đồng với Phật.

Hỏi : Đại dụng của Bồ tát như vậy há chẳng đồng với Phật ư?

Đáp : Vì tướng của 3 thứ tâm vi tế chẳng đồng nên chẳng đồng với Phật. Một là chân tâm vô phân biệt, tức thật trí. Hai là phương tiện tâm, tức quyền trí. Ba là nghiệp thức tâm, tức tướng sanh diệt vi tế. Bồ tát này tuy có 2 trí quyền và thật nhưng dị thục chưa không, còn có sanh diệt vi tế nên chẳng đồng với Phật.

Lại vị Bồ tát này, công đức thành tựu viên mãn, nơi cõi Sắc cứu cánh thị hiện thân cao lớn hơn hết thảy thế gian. Là vì một niệm tương ưng với tuệ, vô minh lập tức hết, gọi là nhất thiết chủng trí. Tự nhiên có nghiệp dụng chẳng thể nghĩ bàn, hay hiện mười phương làm lợi ích chúng sanh.

Đây làm rõ quả đức rốt ráo, vì nhân đã tột quả đã đầy. Nơi cõi trời Sắc cứu cánh, thị hiện thành tựu chánh giác. Hiển rõ, hiện báo lợi ích thọ Phật vị, hậu báo lợi ích cho chúng sanh. Đây là nghiệp thức hết, tự nhiên có nghiệp dụng chẳng thể nghĩ bàn, thành tựu nhất thiết chủng trí. Cõi trời Sắc cứu cánh là cõi trời cao nhất sắc giới. Tại cõi trời này, Phật Phật thành đạo đều hiện thân to lớn nhất tọa ở Liên Hoa Cung, thành đẳng chánh giác, là báo thân Phật.

Hỏi : Hư không vô biên nên thế giới vô biên. Thế giới vô biên nên chúng sanh vô biên. Chúng sanh vô biên nên tâm hành sai biệt cũng vô biên. Cảnh giới như thế chẳng thể hạn định, khó biết khó hiểu. Nếu vô minh diệt thì không có tâm tưởng, làm sao có thể biết mà gọi là nhất thiết chủng trí?

Đây hỏi đáp để rõ cảnh giới ly niệm và hiển bày nhất thiết chủng trí. CHỦNG TRÍ là tất cả các loại trí. Vì có thể biết tột cùng từng loại tâm niệm của chúng sanh tận hư không giới, mỗi mỗi biết hết nên gọi là chủng trí. Lại, hư không thế giới vô biên nên chúng sanh vô biên, tâm hành sai biệt cũng vô biên. Cảnh giới như vậy khó hiểu khó biết. Vô minh đã tận, tuyệt không có tâm tưởng, vì sao mỗi mỗi hay biết mà gọi là nhất thiết chủng trí? Đây là lấy hữu tâm tư duy lường đoán cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn nên mới đặt ra câu hỏi này.

Đáp : Tất cả cảnh giới vốn là nhất tâm, lìa các niệm tưởng. Vì chúng sanh vọng thấy cảnh giới nên tâm có phần tề. Vì vọng khởi niệm tưởng chẳng ứng hợp với pháp tánh nên chẳng thể hiểu rõ. Chư Phật Như Lai lìa Kiến Tướng nên không chỗ nào mà chẳng khắp. Tâm chân thật chính là tánh các pháp. Tự thể hiển bày soi rõ hết thảy pháp hư vọng và có đại trí dụng với vô lượng phương tiện. Chúng sanh tùy chỗ cảm ứng mà tự nhận hiểu, đều hay khai thị mọi thứ pháp nghĩa nên gọi trí ấy là nhất thiết chủng trí.

Đây làm rõ cảnh giới ly niệm, chỉ chứng mới tương ưng, là chỗ mà chẳng phải tâm thức có thể biết, được gọi là chủng trí. “TẤT CẢ CẢNH giới vốn là nhất tâm” nên viên chứng tâm này thì chúng sanh hiển hiện trong nhất tâm. Tức tâm niệm của chúng sanh đều ở trong tâm tịch diệt, phân minh chiếu liễu.

Chúng sanh chỉ vì vọng niệm mà tự cách, chẳng thấy được tâm Như Lai. Chư Phật Như Lai đã cùng tâm chúng sanh bình đẳng không hai thì không năng sở, lìa Kiến Tướng nên không chỗ nào mà chẳng khắp. Vì Phật tâm chân thật không vọng thì tâm chúng sanh tức là Phật tâm. Vì tự thể hiển bày soi rõ trong tự tâm tất cả vọng pháp chúng sanh, nên từng loại tâm niệm vi tế khởi diệt cho đến mọi thứ dục, mọi thứ ức tưởng phân biệt không gì là không phân minh, như gương hiện hình tượng. Sở dĩ hay có vô lượng phương tiện tùy căn cơ mà điều phục, đều hay khai thị mọi thứ pháp nghĩa là vì có dụng của đại trí. Nên được gọi là nhất thiết chủng trí. Chắc hẳn chẳng phải là chỗ hữu tâm suy lường mà biết được.

Hỏi : Nếu chư Phật có nghiệp tự nhiên hay hiện tất cả chỗ làm lợi ích chúng sanh, còn tâát cả chúng sanh nếu thấy được thân ngài, hoặc thấy thần biến, hoặc nghe ngài nói, không gì là không được lợi ích, vì sao ở thế gian phần nhiều chẳng thể thấy?

Đáp : Chư Phật Như Lai, pháp thân bình đẳng biến khắp tất cả chỗ, không có tác ý, nên nói tự nhiên, chỉ y tâm chúng sanh mà hiện. Tâm chúng sanh giống như chiếc gương, gương nếu cấu bẩn thì sắc tượng chẳng hiện. Tâm chúng sanh cũng vậy, nếu bị cấu nhiễm thì pháp thân chẳng hiện.

Đây hỏi để rõ, đại dụng của pháp thân thì thường nhiên, chỉ vì căn cơ có sáng tối.

Hỏi : Nếu pháp thân của chư Phật tràn khắp. Đại dụng tròn khắp, vì sao thế gian phần nhiều chẳng thấy?

Đáp : Pháp thân Như Lai đại dụng thường nhiên, chiếu khắp chúng sanh. Chỉ vì tâm chúng sanh cấu nhiễm, bị vô minh che ám nên chẳng thấy vậy, chẳng phải lỗi ở Phật.

Lấy GƯƠNG là dụ cho nghĩa THẤY và CHẲNG THẤY. Kinh Hoa Nghiêm nói “Như Lai ra đời ví như ánh sáng mặt trời chiếu khắp đại địa, có mắt đều thấy, chỉ riêng người mù là chẳng thấy. Song chỉ là chẳng thấy, cũng vẫn được lợi ích”. Ý chỗ này muốn nói quan trọng là ở căn cơ, nên dụ như gương vậy.

Văn trước phân biệt tướng phát tâm vào đạo để rõ hạng nhập chánh định tụ. Y pháp tu hành là tóm kết cái ý chánh tông lấy hạnh làm chỗ hiểu. Vậy là đã rõ nghĩa ĐẠI THỪA. Văn dưới nói về phần tu hành tín tâm là riêng vì chúng sanh chưa nhập chánh định tụ, khai thị tín tâm khiến họ phát chánh hạnh, là làm rõ nghĩa KHỞI TÍN.

Đã nói về phần Giải Thích, kế nói về phần Tu Hành Tín Tâm.

Đây là ý muốn nói đến. Trên, giải thích chánh nghĩa để rõ ĐẠI THỪA. Đây, tu hành tín tâm để rõ KHỞI TÍN. Vì để làm phát khởi đối với những chúng sanh chưa nhập chánh định tụ, khiến họ sanh lòng tin chân chánh đối với Đại thừa nên có phần này.

PHẦN TU HÀNH TÍN TÂM

Phần này là y nơi chúng sanh chưa nhập chánh định tụ mà nói, nên nói tu hành tín tâm.

Đây là y nơi hạng căn tánh kém cỏi, loại phát tâm bất định trước, sợ họ rơi vào Nhị thừa nên riêng thuyết phương tiện tu hành tín tâm, khiến khởi đại tín, tiến vào chánh định tụ. Đây là kết phần trước để mở ra phần sau.

Thế nào là tín tâm? Làm sao tu hành? Lược nói tín tâm có 4 thứ.

Đây hỏi về phương tiện giúp phát khởi lòng tin. Trước đã nói về 4 thứ phương tiện để rõ con đường tu chứng. Nay lại hỏi “Thế nào là tín tâm? Làm sao tu hành?” là, với người đã phát chánh tín ở phần trước thì chỉ thuyết 3 tâm 4 hạnh vì họ đã tin chân như, không rơi vào lối rẽ khác, nên tiến liền đến việc tu hành. Nay, đối với hạng cơ kém chướng nặng tất phải mượn nhiều phương tiện, nên nói 4 tín 5 môn để làm phương tiện điều trị. Vì thế, cần lập thêm cửa này để dẫn nhiếp họ, chẳng phải là có sự trùng lắp.

Thế nào là bốn?

1. TIN BẢN CĂN, đó là thích niệm pháp chân như.

Đây nêu bày cái tin gốc, vì chân như là nền tảng của tín tâm, là gốc của vạn hạnh nên trước cần phải THÍCH NIỆM. Hạng thắng cơ trước đã tin chân như nên chỉ nói trực tâm chánh niệm. Đây, với hạng căn cơ kém, chưa phát được chánh tín thì nói THÍCH NIỆM.

2. TIN PHẬT có vô lượng công đức, thường nghĩ thân cận, cúng dường, cung kính … hầu phát khởi thiện căn và nguyện cầu tất cả trí.

3. TIN PHÁP có lợi ích lớn, thường nghĩ tu hành các ba la mật.

4. TIN TĂNG tu hành chân chánh, tự lợi lợi tha. Thường thích thân cận chúng Bồ tát, cầu học hạnh như thật.

Thích niệm chân như của cái tin trên là nội nhân thù thắng. Tin Tam Bảo này là cái tin ngoại duyên tăng thắng. Vì nhân duyên đều thắng nên thường thích thường niệm, tâm tâm chẳng quên. Vì nội ngoại giao huân nên khiến tín tâm mau được thành tựu. Thì rõ, hạng thối đọa trước là do nhân duyên đều kém. Cho nên, đời mạt pháp tu hành, nếu xả bỏ nhân và duyên này thì không thể phát khởi chánh tín được.

Tu hành có 5 môn, có thể thành tựu lòng tin ấy. Thế nào là 5? Một là môn Thí, hai là môn Giới, ba là môn Nhẫn, bốn là môn Tấn, năm là môn Chánh quán.

4 tín tâm trên, tất cả đều là nhân phát khởi. Tu thì có 5 môn, là duyên giúp thành tựu. Như thí dụ mài dũa báu mani cần có nhiều phương tiện trên, 4 tín 5 môn này bao gồm đầy đủ vạn hạnh nên đặc biệt làm rõ. Trước là xứng với tánh mà tu, đây là chuyên tu.

1. Thế nào là tu hành môn THÍ? Nếu gặp những ai đến cầu xin, mình có tài vật gì đều tùy lực giúp họ để tự xả xan tham và khiến kẻ kia hoan hỉ. Nếu thấy ách nạn khủng bố nguy bức thì tùy sức mình mà giúp họ hết sợ. Nếu có chúng sanh đến cầu pháp thì tùy sự thông hiểu của mình mà phương tiện giảng nói, chẳng nên tham cầu danh lợi cung kính mà chỉ nghĩ đến việc tự lợi, lợi tha, hồi hướng bồ đề.

Bồ tát lợi sanh theo 3 loại bố thí. Đó là tài thí, vô úy thí và pháp thí.

2. Thế nào là tu hành môn GIỚI? Là chẳng giết hại, chẳng trộm cướp, chẳng dâm dật, chẳng nói hai lưỡi, chẳng nói lời ác, chẳng nói điều hư dối, xa lìa xan tham, tật đố, giả dối, nịnh nọt, quanh co, sân nhuế, tà kiến. Nếu là người xuất gia thì nên chiết phục phiền não, xa lìa chỗ rối ren ồn náo, thường ở chỗ tịch tĩnh, tu tập hạnh ít muốn biết đủ, hạnh đầu đà v.v… cho đến một tội nhỏ, tâm cũng sanh sợ hãi, hổ thẹn, hối cải. Chẳng được khinh thường những giới cấm Như Lai đã đặt ra. Phải giữ gìn sự tỵ hiềm và chê bai, chẳng để chúng sanh vọng khởi tội lỗi.

Đây là làm rõ giới tướng. Giới có nhiều thứ. Lấy tam tụ tịnh giới để nhiếp là nhiếp luật nghi giới, nhiếp thiện pháp giới, nhiếp chúng sanh giới.

CHẲNG SÁT, chẳng trộm cắp … đoạn 3 ác nghiệp là nhiếp luật nghi giới.

ÍT MUỐN biết đủ, chiết phục phiền não là nhiếp thiện pháp giới.

TỘI NHỎ cũng sinh sợ hãi tương đương với việc giữ gìn sự tỵ hiềm và chê bai.

CHẲNG ĐỂ chúng sanh dấy khởi tội lỗi là nhiếp hóa chúng sanh.

3. Thế nào là tu hành môn NHẪN? Là phải nhẫn chịu những não hại người khác đem lại mà chẳng ôm lòng trả báo, cũng phải nhẫn chịu đối với lợi, suy, hủy, dự, xưng, cơ, khổ, lạc …

Đây là tướng nhẫn nhục. Cảnh có thuận nghịch, hết thảy đều phải nhẫn. Nhẫn chịu với những não hại mà người khác đem lại là nghịch cảnh. Lợi, suy v.v… 8 thứ này thông cả thuận nghịch. Được tài gọi là LỢI. Mất tài gọi là SUY. Chỉ trích cái xấu của người là HỦY. Bàn bạc cái tốt của mình là DƯï. Tự phô bày điều tốt của mình là XƯNG. Châm biếm chế diễu điều xấu của người là CƠ. Bức thân là KHỔ. Thích ý là LẠC. Gom cả thuận và nghịch gọi là BÁT PHONG (8 gió). Vì bị 8 thứ này buộc ràng mà biển tâm của chúng sanh khởi sóng tham, sân, phiền não. Nay nhẫn được thì chẳng động với bát phong. Song nhẫn có 3 loại là sanh nhẫn, vô sanh nhẫn, tịch diệt nhẫn. Phần này là sanh nhẫn.

4. Thế nào là tu hành môn TẤN? Là đối với các việc thiện, tâm chẳng giải đãi thối chuyển. Lập chí kiên cường, xa lìa sự khiếp nhược. Phải nhớ từ quá khứ lâu xa đến nay, ta đã hư vọng thọ nhận tất cả đại khổ của thân và tâm, không có lợi ích. Cho nên, cần phải siêng tu các công đức, lợi mình lợi người, chóng lìa các khổ.

Lại nữa, nếu có người tuy tu hành tín tâm nhưng do từ trước đến nay, tạo nhiều ác nghiệp trọng tội, bị tà ma chư quỉ làm não loạn, hoặc là bị các sự việc ở thế gian mỗi mỗi kéo lôi trói buộc, hoặc bị bịnh khổ làm bực phiền … có rất nhiều sự chướng ngại như thế thì cần phải dũng mãnh tinh cần, ngày đêm sáu thời lễ bái chư Phật, thành tâm sám hối, khuyến thỉnh, tùy hỉ, hồi hướng bồ đề thường chẳng bỏ phế để trừ các chướng, thiện căn tăng trưởng.

Đây là làm rõ tướng tinh tấn. Đầu tiên, khiến thiện tâm chẳng giải đãi, lập chí kiên cường là làm nền tảng cho sự tinh tấn. PHẢI NHỚ … để tư duy sách tấn tu thiện chẳng mệt mỏi. LẠI NỮA … là đối với hạng căn cơ chướng nặng thì chỉ ra phương tiện trừ chướng. LỄ PHẬT … là qui y tối thắng, thỉnh cầu gia hộ, là tướng trừ chướng chung. THÀNH TÂM … là tướng trừ bốn chướng:

a. SÁM HỐI, trừ chướng ác nghiệp.

b. KHUYẾN THỈNH, trừ chướng báng bổ pháp.

c. TÙY HỈ, trừ chướng tật đố.

d. HỒI HUỚNG, trừ cái chướng lạc của tam hữu.

CHẲNG BỎ PHẾ là tổng kết cái năng trị. Trừ được các chướng là tổng kết cái sở trị. Do 4 chuớng này hay khiến người tu chẳng phát thiện căn, chẳng hướng đến bồ đề nên 4 chướng trị hết thì thiện căn tăng trưởng.

Thế nào là tu hành môn CHỈ – QUÁN? Chỉ là dừng tất cả tướng cảnh giới, tùy thuận nghĩa quán Samatha. Quán là phân biệt tướng nhân duyên sanh diệt, tùy thuận nghĩa quán Tỳbátxána. Thế nào là tùy thuận? Dùng hai nghĩa ấy dần dần tu tập chẳng tách lìa nhau nên cả hai đều hiện tiền.

Đây giải thích tướng chỉ và quán. Lục độ ứng với hai môn định và tuệ. Nay nói chỉ – quán là, ở nhân thì nói là chỉ – quán, ở quả nói là định – tuệ. Nay muốn cả hai cùng song tu chính là nói ở nhân hạnh nên hợp làm một môn.

SAMATHA, nghĩa của nó tương đương với quán không. Nay tu môn chỉ mà nói tùy thuận nghĩa quán không là ý muốn hiển bày “ngay chỉ là quán”, mà ý chính là ở quán, là do từ chỉ vào quán.

Tông Thiên Thai lập ra “tam chỉ tam quán”. Một là Thể chân chỉ, tương đương với quán không, là thể hợp với chân không, các duyên tự diệt, nhất tâm sáng chiếu, vạn pháp như như, nên “ngay chỉ là quán”, tùy thuận nghĩa Samatha quán không. Môn quán chân như này thành căn bản trí.

Nói “QUÁN LÀ phân biệt … tùy thuận nghĩa quán Tỳbátxána” là Phương tiện tùy thuận chỉ, cái thứ hai trong tam chỉ, tương đương với quán giả. Dù tâm cảnh như như nhưng chẳng làm trở ngại sự quán xét nhân duyên sanh diệt của các pháp huyễn có, tuy có mà tánh thường tự không. Nên tuy quán các pháp là nhân duyên mà chẳng bỏ vạn hạnh, nhất đạo thường phân, nên “ngay quán là chỉ”. Vì vậy nói thuận nghĩa Tỳbátxána quán giả. Môn quán sanh diệt này thành hậu đắc trí.

Ba là Dừng nhị biên phân biệt chỉ, tương đương với quán trung đạo. Nghĩa là, trụ không mà chẳng bỏ vạn hạnh, tiếp có mà một đạo tịnh thanh. Nhị biên chẳng trụ thì lý sự cùng tỏ. Trung đạo nhất tâm thì sáng chiếu cùng soi. Cái dung hội “có – không” này khế hợp với nhất tâm một cách diệu kỳ nên từ tam chỉ mà thành tam quán.

Đây là nhất tâm tam quán vốn không sai biệt. Nay trong ấy chỉ và quán hợp lại song tu. Tuy chưa nói rõ về tam quán mà lý thật đầy đủ. Chỉ cần rõ 2 môn không và giả thì trung đạo nhất tâm tự hiển. Đây là yếu môn vào Đại thừa. Vì vậy trong 5 môn, 4 môn trước chỉ là phương tiện trợ thành, còn chủ ý của luận là ở môn chỉ – quán này. Nên phần dưới nói đầy đủ về tướng tu của chúng. Đại tiểu chỉ quán của tông Thiên Thai đúng lý thì có nhiều môn, song yếu chỉ tu hành của nó chỉ có luận này là nói rõ, rất giản yếu và thẳng tắt. Học giả há chẳng hết lòng ư?

Phần dưới chỉ rõ phương tiện tu chỉ và quán.

a. TU TẬP CHỈ thì, ở chỗ tĩnh lặng, ngồi ngay thẳng, chánh ý, chẳng nương hơi thở, chẳng nương hình sắc, chẳng nương nơi không, chẳng nương đất nước gió lửa … Cho đến, chẳng nương nơi thấy, nghe, hiểu, biết. Tất cả các tưởng thuộc niệm đều trừ. Cũng bỏ luôn tưởng trừ. Vì tất cả pháp vốn không có tưởng. Niệm niệm chẳng sanh. Niệm niệm chẳng diệt. Cũng chẳng được ngoài tâm niệm cảnh giới, sau lấy tâm trừ tâm. Tâm nếu tán loạn dong duổi thì phải nhiếp lại, trụ ở chánh niệm. Chánh niệm ấy là, phải biết chỉ là nhất tâm, không có cảnh giới bên ngoài. Ngay tâm ấy cũng không có tự tướng, niệm niệm bất khả đắc.

Đây nói rộng về hành tướng tu tập chỉ và quán mà phương tiện tu tâm nhập định đều nói đầy đủ ở đây.

Ở CHỖ TĨNH LẶNG là, xả các ngoại duyên, bỏ chỗ ồn náo. Tiểu chỉ – quán của tông Thiên Thai nói rõ : mới nhập định, trước phải học điều thân, tâm và hơi thở. Đây nói NGỒI NGAY THẲNG là điều thân. Chẳng cúi chẳng ngước là nói ngồi ngay thẳng. CHÁNH Ý là điều tâm. Chẳng chìm đắm chẳng trôi nổi, tỉnh và tịch cả hai cùng hiện tiền nên nói chánh ý. Vì ở đây chẳng nương hơi thở nên chẳng điều hơi thở vậy.

“CHẲNG NƯƠNG hơi thở hình sắc” là lìa thân. “CHẲNG NƯƠNG hư không tứ đại” là lìa thế giới. “CHẲNG NƯƠNG thấy nghe hiểu biết” là lìa tâm. Nên Cổ đức dạy người tham thiền, trong thì thoát thân tâm, ngoài thì quên thế giới. Chỉ cần ly tâm ý, ý thức mà tham. Con đường học đạo xuất phàm thánh, yêu cầu của nó là lìa cảnh giới vọng tưởng, nên đây đều nói CHẲNG NƯƠNG thì giải thoát.

5 câu từ “TẤT CẢ các tưởng … niệm niệm chẳng diệt” chính là phương pháp dụng tâm. Tất cả chúng sanh mê chân tâm mình, một bề chỉ nương vọng tâm mà làm việc. Nên nay tu tập, lấy việc trừ tưởng làm tối yếu. Kinh Lăng Già nói “Từ trước chư Thánh đều truyền dạy nhau một câu “vọng tưởng không tánh” làm đích yếu”.

Hỏi : Vọng tưởng không tánh, trừ thế nào?

Đáp : Tất cả các tưởng thuộc niệm đều trừ.

Gọi nhất tâm là niệm trực tâm chánh niệm chân như. Nay mới dụng tâm thì đề khởi nhất niệm này làm chủ, hoàn toàn không có hai niệm. Do lực quán chiếu của nhất niệm này, chỉ cần thấy được chỗ khởi của vọng tưởng thì nhất niệm liền chiếu phá tiêu diệt tức thì, chẳng để nó tương tục. Ngài Vĩnh Gia nói “Đoạn tâm tương tục”. Chủ yếu của việc tham thiền là chẳng để mất nhất niệm này. Đó chính là kỳ yếu.

“CŨNG BỎ luôn cả tưởng trừ” là bỏ cái niệm trừ tưởng. Mới đầu, lấy nhất niệm trừ tưởng. Vọng tưởng đã diệt thì nhất niệm này cũng không lập nên cần phải bỏ.

Hỏi : Đã nói là chánh niệm vì sao lại bỏ?

Đáp : Nhất niệm này chỉ vì trừ tưởng mà lập. Tự thể của chân tâm xưa nay ly tướng, sao lại dung niệm? Vọng tưởng không tánh nên xưa nay chẳng phải là cái có sẵn. Vọng tưởng chẳng phải có sẵn. Nếu lập nhất niệm – là cái đối đãi với vọng tưởng – thì nhất niệm này lại là cái gốc trợ cho vọng tưởng phát triển. Nên nhất niệm này cũng chẳng thể lập. Vì chỗ lập là chân nên chân vọng đều hết, năng sở cả hai đều quên, gọi là chánh niệm.

Do nhất niệm chẳng lập thì niệm niệm chẳng sanh. Nếu niệm niệm chẳng sanh thì cái sáng thường hằng hiện tiền, tịch chiếu rực sáng nên niệm niệm chẳng diệt vậy. Đây là yếu chỉ đích thực của việc tham thiền.

“CŨNG CHẲNG được ngoài tâm niệm cảnh giới, sau lấy tâm trừ tâm” là chỉ ra cái bịnh dụng tâm không đúng. Lực quán chiếu của nhất niệm chẳng thuộc vọng tưởng chuyển. Nếu theo vọng tưởng niệm cảnh giới, rồi sau mới lấy tâm trừ tâm là lấy vọng trừ vọng, tức đuổi theo sự lưu chuyển của sanh diệt. Dụng tâm như vậy rốt cuộc cũng chẳng lìa được vọng tưởng sanh diệt. Người dụng tâm vậy thật không đúng. Nên dưới nói “Nếu tâm dong duỗi tán loạn thì phải nhiếp về chánh niệm”. Nghĩa là, chỗ vọng tưởng vừa mới sanh, lập tức chiếu phá, chẳng theo cái khác chuyển tức là qui về chánh niệm, chẳng đợi theo tâm ngoại duyên rồi sau mới nhiếp. Nên tóm kết rằng “Phải biết duy tâm không có cảnh giới bên ngoài”. Không những ngoại tâm ngoại cảnh mà ngay cả tâm này cũng không có tự tướng, vì niệm niệm bất khả đắc, vì nội, ngoại, tâm, cảnh hết thảy đều tịch diệt. Niệm niệm huân tu như vậy tự nhiên thể hợp với chân như, gọi là “ngay chỉ là quán”.

Nếu khi rời chỗ ngồi, đi đứng tới lui với mọi hành tác, trong tất cả thời, thường niệm phương tiện, tùy thuận quan sát, tập lâu thành thục, tâm ấy được trụ. Do trụ được nên tâm dần dần trở nên sắêc bén, tùy thuận nhập được chân như tam muội, dẹp sâu phiền não, tín tâm tăng trưởng, chóng được bất thối. Chỉ trừ người nghi hoặc, không tin, phỉ báng, bị chướng nghiệp của trọng tội, ngã mạn, giải đãi v.v… là chẳng thể nhập.

Đây chỉ ra phương tiện tùy duyên của môn CHỈ. CHỈ chẳng phải ngồi hoài nên cần chỉ bày phương tiện tùy duyên     tu tập để tạm thế vào. Nhờ quán sát đã lâu, dần dần thuần thục, tâm ấy tự nhiên an trụ chân như tam muội, phiền não ẩn dần, tín tâm tăng trưởng, nên có thể chóng được bất thối.

Như vậy, tam muội chỉ có với những hành giả đã có được niềm tin chắc chắn, không ai là không được, chỉ trừ những người chẳng tin, chướng nặng, ngã mạn thì chẳng vào được. Đó là nói, sự trở về của những hạng mê lầm rõ ràng chỉ nhờ lòng tin mà vào được. Nên nói “Biển Phật pháp rộng lớn, tin thì có thể vào”chính là đây.

Lại nữa, nương nơi tam muội này thì biết pháp giới nhất tướng. Tất cả pháp thân chư Phật và thân chúng sanh bình đẳng không hai, gọi là nhất hạnh tam muội. Phải biết, chân như là căn bản của tam muội. Nếu người có tu hành thì dần dần hay sanh vô lượng tam muội.

Phần kết này chỉ ra sự lợi ích thù thắng của chỉ và quán. Nói “NƯƠNG NƠI tam muội này thì biết pháp giới nhất tướng” là, PHÁP GIỚI tức là mười pháp giới và các tướng thánh, phàm, nhiễm tịnh an bày bình đẳng. Chỉ nương chân như tam muội, tổng quán pháp thân chư Phật cùng thân chúng sanh bình đẳng không hai thì gọi là nhất hạnh tam muội. Vì chỉ là nhất chân như thì vô lượng pháp giới chư Phật hoàn toàn không có tướng sai biệt nên bình đẳng vậy. Vì chân như là căn bản của tam muội, có đủ đại dụng chẳng thể nghĩ bàn, nên nếu ai chịu tu hành thì dần dần hay được vô lượng tam muội.

Trên tu chỉ và quán xong. Dưới biện về ma sự.

Có chúng sanh không đủ lực thiện căn thì bị các ma ngoại đạo quỉ thần hoặc loạn. Trong khi ngồi thiền, hoặc hiện hình làm cho hoảng sợ, hoặc hiện tướng nam nữ đoan chánh v.v… Phải niệm duy tâm, cảnh giới tự diệt chẳng thể làm não loạn.

Đây làm rõ ma sự phá hoại định tâm, lược chỉ ra tướng của nó để biết mà đối trị. Kinh Lăng Nghiêm đã nói đầy đủ các ma sự trong khi thiền định y nơi ngũ ấm chưa phá mà hiện. Có 50 loại, sâu cạn chẳng đồng. Lại nói “Có khi là thiên ma, ác quỉ thần, tinh, mị, võng, lưỡng, tất cả đều đến não loạn ông. Có khi là ấm ma, tâm ma của ông tự tạo ra yêu nghiệt cho ông”. Mỗi mỗi đều chỉ ra tường tận. Ở đây chỉ lược nói đại khái.

Nói “CÁC MA ngoại đạo quỉ thần” là, vì khi còn ở nhân hạnh cũng tu thiền định, do trong đó còn chứa tà khí ác tập nên khí phần thiền định đã huân tập phát ra, hiện hình làm não loạn. “PHẢI QUÁN duy tâm cảnh giới sẽ diệt” là, tuy ngoại ma hay gây trở ngại nhưng cái chính là do tự có ác tập nhơn nơi định huân phát nên tự thức nổi nên ngoại chất ấy, biến hình làm hại. Vì vậy nói, duy tâm chẳng phải cảnh giới bên ngoài. Nếu quán duy tâm thì ma sự sẽ tự diệt vậy.

Hoặc hiện hình trời, hình Bồ tát cũng tạo ra hình Như Lai với đầy đủ tướng tốt ; Hoặc thuyết Đàlani, hoặc thuyết bố thí, trì giới, nhẫn nhục, thiền định, trí tuệ ; Hoặc thuyết bình đẳng, không, vô tướng, vô nguyện, không oán, không thân, không nhân, không quả, rốt ráo không tịch là chân như niết bàn ; Hoặc khiến người biết túc mạng và những việc đã qua, cũng biết được những việc chưa đến ; Được tha tâm thông, biện tài vô ngại hay khiến chúng sanh tham trước danh lợi thế gian.          

Đây là ma tập khí. Loại ma này là do người tu có nhiều thói quen thân thiết đối với Phật pháp, lại chấp vào những tướng ấy chưa quên được ; hoặc tu tập không quán lấy làm cứu cánh, tham cầu túc mạng tri kiến nên nay nhơn định huân phát, ở trong tam muội hiện các việc này. Do bản nhân không chánh nên khiến tham trước danh lợi thế gian. Đây chính do tâm biến hiện.

Lại khiến người chợt giận chợt mừng, tánh tình bất thường ; Hoặc nhiều thương yêu, ngủ nhiều, bịnh nhiều, tâm sinh giải đãi ; Hoặc chợt khởi tinh tấn, sau lại bỏ phế, sanh lòng chẳng tin, nhiều nghi ngờ, nghĩ ngợi, lo toan ; Hoặc bỏ những thắng hạnh của mình tu các nghiệp tạp nhạp ; Hoặc dính chặt vào mọi thứ ràng buộc lôi kéo ở thế gian ; Cũng hay khiến người được vài phần tương tự như tam muội, đều là sở đắc của ngoại đạo, chẳng phải là tam muội chân thật.

Đây là ma phiền não. Loại ma này có là do từng tu tập tam muội của ngoại đạo, chưa đoạn phiền não. Nay tuy nương Phật pháp tu hành, vì chưa vào được chánh định nên những thói quen cũ đã huân tập phát ra, hiện thành các việc này.

Có khi khiến người, hoặc một ngày, hai ngày, ba ngày … cho đến bảy ngày trụ ở trong định, tự nhiên được ăn uống các thứ thơm ngon, thân tâm vui thích, chẳng đói, chẳng khát, khiến người ái trước. Hoặc khiến người ăn không có hạn định, lúc nhiều lúc ít, nhan sắc đổi khác … Bởi các nghĩa ấy, hành giả thường nên dùng trí tuệ quán sát, chớ khiến tâm này rơi vào lưới tà. Phải chuyên cần chánh niệm, chẳng nắm giữ, chẳng dính mắc thì hay xa lìa các nghiệp chướng.

Đây là ma dục. Vì chúng sanh ở trong ngũ dục, lấy thực làm mạng nên nghiếp thọ dục thực, sanh nhiều tham trước đối với những thói quen đã sâu đậm. Từ xưa đến nay chưa từng có một niệm xả bỏ dục thực, nên nay tuy ở trong định mà dục tập huân phát. Vì thân tâm được vui thích nên sanh nhiều ái trước. Vì vậy mà dạy “Khiến thường dùng trí tuệ quán sát, chuyên cần chánh niệm, chẳng dính mắc” thì xa lìa vậy.

Nên biết TAM MUỘI CỦA NGOẠI ĐẠO đều chẳng lìa tâm kiến, ái, ngã, mạn nên tham trước danh lợi và sự cung kính ở thế gian. CHÂN NHƯ TAM MUỘI thì, chẳng trụ Kiến Tướng, chẳng trụ tướng đắc, cho đến xuất định cũng không giải đãi, kiêu mạn, phiền não đã có dần dần nhạt mỏng. Nếu các phàm phu chẳng tập pháp tam muội ấy mà tự cho là nhập chủng tánh Như Lai thì không có việc này. Vì, tu các thiền tam muội của thế gian thì khởi vị đắm trước, nương nơi ngã kiến, ràng buộc trong tam giới, chung cùng với ngoại đạo. Nếu không có sự giúp đỡ của thiện tri thức thì khởi cái kiến của ngoại đạo vậy.

Đây biện về tà chánh để chỉ ra sự tu hành chân chánh. Vì ngoại đạo nương nơi tập khí ngã ái, kiến, mạn mà tu đều thành ma nghiệp. Nên trong thì mắc vào tà kiến, ngoài thì vướng vào tà dục. Ấy là sự tu tập thác loạn. Vì chân như tam muội, nhất tâm trạm tịch, quên năng sở, diệt hình tượng, lìa giải đãi ngã mạn, diệt phiền não … nên những hành giả tu hành, chưa có ai không nhờ tam muội này mà nhập chủng tánh Như Lai. Còn thì, các thiền tam muội của thế gian đều mắc vào ngã kiến, tức chung cùng với ngoại đạo. Nếu chẳng được sự điều hộ của thiện tri thức thì rơi vào ác kiến của ngoại đạo vậy. Nên kinh Lăng Già khuyến cáo, phải xa lìa ngoại đạo mà thân cận tối thắng tri thức.

Lại nữa, tinh cần chuyên tâm tu học tam muội ấy thì hiện đời được 10 thứ lợi ích. Thế nào là mười?

1. Thường được sự hộ niệm của mười phương chư Phật và Bồ tát.

Vì chân như tam muội khéo khế hợp với Phật tâm nên được sự hộ niệm.

2. Chẳng bị các ma ác quỉ làm cho hoảng sợ.

3. Chẳng bị 95 thứ ngoại đạo quỉ thần hoặc loạn.

Nhờ lìa ác tập tà kiến nên lìa tà hoặc của thiên ma ngoại đạo.

4. Xa lìa sự phỉ báng pháp thậm thâm, trọng tội, nghiệp chướng dần dần nhạt mỏng.

5. Diệt tất cả nghi ngờ và các giác quán xấu ác.

Vì tin sâu tự tâm nên lìa phỉ báng. Tập khí trừ dần nên nghiệp chướng nhạt mỏng. Trực tâm chánh niệm nên diệt nghi, có cái nhìn chân chánh.

6. Đối với cảnh giới của chư Như Lai, lòng tin được tăng trưởng.

7. Xa lìa buồn rầu hối hận, ở trong sanh tử mà dũng mãnh, chẳng khiếp sợ.

8. Tâm được nhu hòa, xả bỏ kiêu mạn, chẳng bị người khác làm cho phiền não.

9. Tuy chưa được định, nhưng trong tất cả thời, tất cả chỗ cũng giảm bớt được phiền não, chẳng còn ưa thích thế gian.

10. Nếu được tam muội thì chẳng bị ngoại duyên và tất cả âm thanh làm cho kinh động.

Điều (6) và (7) là được lòng tin quyết định nên tin cảnh giới Phật, lìa lo âu, chẳng khiếp sợ. Điều (8) là lìa ngã quên người nên chẳng bị người não loạn. Điều (9) là phiền não giảm bớt nên chẳng ưa thích thế gian. Điều (10) là tịch lặng quên duyên nên chẳng bị bên ngoài làm động.

6 trần nhưng chỉ nói âm thanh vì lúc nhập định 5 căn đều đóng, chỉ còn nhĩ căn thông trống nên âm thanh dễ làm động. Nay nói bất động nghĩa là “nhập lưu vong sở” vậy.

Trên nói tu CHỈ đã xong, dưới là tu QUÁN.

Lại nữa, nếu người chỉ tu CHỈ thì tâm bị chìm lặng hoặc khởi giải đãi, chẳng thích các điều thiện, xa lìa đại bi cho nên tu QUÁN.

Tâm bị chìm lặng là, vì thú hướng chân như nên chuyên về tịch lặng. Tâm dễ chìm lặng thì mất hai việc :

1. Giải đãi chẳng tu, tức mất tự lợi. Nên dưới lấy Quán pháp tướng để trị, Quán tinh tấn để thành.

2. Xa lìa đại bi, tức mất lợi tha. Nên dưới dùng Quán đại bi để trị, Quán đại nguyện để thành.

B. TU TẬP QUÁN

Phải quán tất cả pháp hữu vi ở thế gian không dừng trụ được lâu, giây lát biến hoại.

Quán hạnh có 4 thứ : 1 Pháp tướng. 2 Đại bi. 3 Đại nguyện. 4 Tinh tấn. Trong Pháp tướng lại có 4 thứ. Quán đầu tiên đây là Quán vô thường.

Tất cả tâm hành, niệm niệm sanh diệt, vì vậy nên khổ.

Đây là Quán khổ.

Nên quán các pháp niệm được ở quá khứ chợt thoáng như giấc mộng. Nên quán các pháp niệm được ở hiện tại giống như ánh chớp. Nên quán các pháp niệm được ở vị lai giống như mây bất chợt mà khởi.

Đây là Quán vô ngã. Quá khứ không có tự thể, khó truy tìm. Hiện tại thì sát na chẳng dừng trụ. Vị lai vốn không tích tụ, chỉ do duyên nhóm lại thành hình, chẳng từ mười phương đến.

Nên quán ở thế gian, thứ gì có thân thảy đều bất tịnh, mọi thứ đều ô uế, không một thứ gì đáng thích.

Đây là Quán bất tịnh.

Bốn thứ trên, quán để trừ 4 cái điên đảo trước. Đây là xong phần quán Pháp tướng.

Như vậy, phải niệm tất cả chúng sanh từ vô thủy đến nay đều nhơn nơi sự huân tập vô minh khiến tâm sanh diệt, đã thọ tất cả vạn khổ của thân tâm. Hiện tại thì có vô lượng bức bách. Vị lai, cái khổ cũng không hạn định. Khó xả khó lìa mà chẳng giác biết. Chúng sanh như thế rất đáng thương xót!

Đây là Quán đại bi. Vì chẳng biết khổ nên không có tâm chán khổ. Nên khổ không có hạn định. Đây là chỗ đáng thương xót vậy! Nếu chẳng phải là lòng bi rộng lớn thì chẳng thể cứu được.

Suy nghĩ vậy rồi thì nên dũng mãnh lập đại thệ nguyện. Nguyện cho tâm tôi lìa phân biệt, trải khắp mười phương tu hành tất cả các thiện công đức. Tận đến vị lai, dùng vô lượng phương tiện cứu vớt và làm vơi đi tất cả khổ não cho chúng sanh, khiến họ được cái lạc bậc nhất của niết bàn.

Đây là Quán đại nguyện. Suy nghĩ mình và chúng sanh đồng một thể tánh nên thệ nguyện cứu vớt và bạt khổ cho chúng sanh. LÌA PHÂN BIỆT thì đồng thể. TẬN ĐẾN VỊ LAI là tâm dài lâu. “CỨU VÀ LÀM vơi đi tất cả …” là tâm quảng đại. Được niết bàn là tâm đệ nhất.

Do khởi nguyện như vậy nên trong tất cả thời, tất cả chỗ, tùy sức kham của mình mà giữ các điều thiện, chẳng bỏ việc tu học, tâm không giải đãi. Đây là Quán tinh tấn.

Chỉ trừ thời tọa thiền là chuyên niệm nơi CHỈ, còn tất cả thời còn lại đều phải QUÁN cái gì nên làm, cái gì không nên làm. Hoặc đi hoặc đứng hoặc nằm hoặc dậy đều nên cùng hành CHỈ – QUÁN. Nghĩa là, tuy niệm các pháp tự tánh chẳng sanh mà cũng chính là niệm nhân duyên hòa hợp, nghiệp thiện ác và quả báo khổ vui v.v… chẳng mất, chẳng hoại. Tuy niệm nhân duyên quả báo thiện ác mà cũng chính là niệm tánh chẳng thể nghĩ bàn.

Đây dạy CHỈ – QUÁN song hành trong 4 oai nghi.

“TUY NIỆM các pháp, tự tánh chẳng sanh” là CHỈ.

“CŨNG CHÍNH là niệm nhân duyên hòa hợp, nghiệp thiện ác và quả báo khổ vui v.v… chẳng mất, chẳng hoại” nên rộng tu các thiện hạnh nhiếp hóa chúng sanh là “ngay chỉ là quán”.

“TUY NIỆM nhân duyên nghiệp báo thiện ác” là QUÁN. “CHÍNH LÀ niệm tánh chẳng thể nghĩ bàn” là “ngay quán là chỉ”.

Do đây nên trụ KHÔNG mà chẳng bỏ vạn hạnh, tiếp CÓ mà một tánh trạm nhiên.

Đây là CHỈ – QUÁN song tu.

Tu CHỈ là để đối trị tâm đắm trước của phàm phu, xả bỏ cái thấy khiếp nhược của Nhị thừa. Tu QUÁN là để đối trị cái lỗi tâm hẹp hòi yếu kém chẳng khởi đại bi của Nhị thừa, xa lìa việc chẳng tu thiện căn của phàm phu. Do nghĩa như vậy nên 2 môn CHỈ – QUÁN nương cộng nhau mà thành, chẳng tách lìa nhau. Nếu CHỈ – QUÁN không đủ thì không thể nhập đạo bồ đề.

Đây nói rõ về phép đối trị để rõ chỉ và quán. Do phàm phu tham trước thế gian, Nhị thừa sợ hãi sanh tử nên chỉ bày “ngay quán là chỉ” khiến phàm phu biết thế gian vô thường mà chẳng vướng mắc thế gian, còn Nhị thừa biết cái chân thường của mình thì chẳng sợ sanh tử. Vì vậy nói “đối trị tâm đắm trước của phàm phu, xả bỏ cái thấy khiếp nhược của Nhị thừa”. Cái “ngay quán là chỉ” này trị được 2 lỗi đó.

Nếu tu “ngay chỉ là quán” thì trị tâm yếu kém hẹp hòi của Nhị thừa, khiến khởi đại bi. Cũng trị cái tâm lìa tham trước của phàm phu, biết thế gian vô thường, chuyên cần tu các thiện hạnh. Nên nói “đối trị cái lỗi tâm hẹp hòi yếu kém chẳng khởi đại bi của Nhị thừa, xa lìa việc chẳng tu thiện căn của phàm phu”.

“DO NGHĨA như vậy …” là tóm kết CHỈ – QUÁN cùng hành nương tựa nhau mà thành. Do phàm phu hay chán thế gian nên chuyên cần tu các thiện hạnh, Nhị thừa chẳng sợ sanh tử nên hay khởi đại bi. Đây là CHỈ – QUÁN cùng tương trợ nhau. Cho nên chẳng trụ sanh tử niết bàn mới hay trực thú bồ đề. Đây là sự ích lợi khi vận dụng được cả hai.

Lại nữa, chúng sanh mới học pháp này muốn cầu chánh tín, song tâm lại khiếp nhược – vì trú ở thế giới Ta Bà này sợ chẳng thể gặp Phật để tự thân cúng dường – tín tâm sợ khó có thể thành tựu, ý muốn thối lui thì phải biết Như Lai có nhiều phương tiện thù thắng nhiếp hộ tín tâm. Đó là dùng nhân duyên Ý CHUYÊN NIỆM PHẬT, tùy nguyện được sanh về cõi Phật ở phương kia, thường thấy chư Phật, lìa hẳn ác đạo. Như trong Tudala nói “Nếu người chuyên niệm đức A Di Đà ở thế giới cực lạc Tây phương, thiện căn tu được đều hồi hướng nguyện cầu sanh về thế giới này, liền được vãng sanh, thường thấy được Phật, rốt cuộc chẳng còn thối lui. Nếu quán pháp thân chân như của Phật, thường chuyên cần tu tập, cuối cùng sẽ được sanh ra trụ ở chánh định.

Đây là đối với hạng căn cơ kém, chỉ ra phương tiện để ngăn ngừa sự thối tâm. Chúng sanh mới tu, chưa được chánh tín, trong thì tâm yếu, ngoài thì duyên không được tốt nên sợ thối thất. Vì vậy Như Lai lập bày phương tiện thù thắng để nhiếp hộ tâm họ là ý chuyên niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ để nương nhờ sự hộ trì của chư Phật. Như niệm A Di Đà Phật được sanh Tây phương, ở địa bất thối là hạnh của hạng này.

Tịnh Độ bất thối lược có 3 hạng :

1. Như hoa sen chưa nở, tín hạnh chưa đầy đủ, chỉ là ước về nơi không có duyên thối thất mà gọi là bất thối.

2. Hoa nở thấy Phật, tương đương với tín vị đầy đủ, thấy lờ mờ pháp thân, trụ ở chánh định tụ, là hạng bất thối chân thật.

3. Mãn vị Tam Hiền, được nhập Sơ Địa, chứng pháp thân đầy khắp sanh ở vô biên Phật độ, đây tương đương với hậu vị.

Trên đã nói xong phần Tu Hành Tín Tâm, dưới là phần Lợi Ích Và Khuyên Tu.

PHẦN LỢI ÍCH & KHUYÊN TU

Đã nói về phần Tu Hành Tín Tâm, giờ nói về phần Lợi Ích Và Khuyên Tu. Như vậy tôi đã nói toàn bộ về Ma Ha Diễn, bí tàng của chư Phật.

Đây là kết phần trước mở ra phần sau. Vì luận này tổng nhiếp toàn bộ pháp quảng đại sâu mầu của Như Lai, trên đã nói đầy đủ, nên nói là NÓI TOÀN BỘ.

Nếu có chúng sanh muốn vào cảnh giới thậm thâm của Như Lai, được sanh chánh tín, xa lìa phỉ báng, bước vào con đường Đại thừa thì phải trì luận này, tư lương tu tập. Cuối cùng sẽ đạt được đạo vô thượng.

Đây trở về sau là nói rõ về sự thiệt hơn giữa lòng tin và sự phỉ báng để khuyên tu. NẾU CÓ … là hiển bày sự lợi ích của tam tuệ. TRÌ tức là văn tuệ. TƯ LƯƠNG tức là tư tuệ. TU TẬP tức là tu tuệ. Vì 3 thứ này là năng nhập – như trên đã nói “nhất tâm 2 môn” – và cảnh giới thậm thâm mà chư Phật chứng được là sở nhập. Nên cần tu tập.

Nếu người nghe pháp này mà chẳng sanh khiếp nhược thì phải biết, người này quyết định nối tiếp giòng giống Phật, tất được chư Phật thọ ký.

Đây hiển bày riêng về lợi ích của văn tuệ. Vì luận này làm rõ nhất tâm chân như là nền tảng để thành Phật, nên nếu tin thọ chẳng khiếp sợ thì nối tiếp dòng giống Phật.

Giả sử có người giáo hóa chúng sanh đầy cả tam thiên đại thiên thế giới, khiến họ hành thập thiện, chẳng bằng có người trong khoảng một bữa ăn suy nghĩ chính chắn pháp này. Công đức của người này vượt hơn người trước chẳng thể ví dụ.

Đây hiển bày riêng về lợi ích của tư tuệ. Vì thập thiện là pháp hữu lậu. PHÁP NÀY là một niệm tin tâm, là chủng thành Phật, nên CHẲNG THỂ VÍ DỤ.

Lại nữa, nếu người thọ trì luận này, quán sát tu hành trong một ngày một đêm thì có vô lượng vô biên công đức chẳng thể nói được. Giả như tất cả chư Phật ở mười phương đều tán thán công đức của người này trong vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp cũng chẳng thể hết. Vì cớ sao? Vì công đức pháp tánh thì vô tận. Công đức của người ấy cũng lại như thế, không có bờ mé.

Đây hiển bày riêng về lợi ích của tu tuệ. Y luận này mà tu, vì ứng hợp với tánh nên dù chỉ một ngày một đêm công đức cũng vô biên. Vì pháp tánh vô tận nên tán thán chẳng thể hết. Do đây mà kết luận “TÁN THÁN công đức chẳng thể hết”.

Có chúng sanh nào, đối với luận này, hủy báng chẳng tin, sẽ bị tội báo qua vô lượng kiếp, chịu vô vàn khổ não. Cho nên, chúng sanh chỉ nên kính tin, chẳng nên hủy báng. Vì chỉ tự hại cũng lại hại người, đoạn tuyệt tất cả hạt giống Tam Bảo. Bởi tất cả Như Lai đều nương pháp này mà được niết bàn. Tất cả Bồ tát nhơn đây tu hành mà được nhập Phật trí.

Đây nêu ra tội của sự hủy báng, cảnh cáo khuyên tu. “CÓ CHÚNG sanh nào …” là đưa ra tội của việc không tin để răn nhắc khuyên tu. Luận này – như đã giải thích kỹ – là tuệ mạng của chư Phật, là chủng tánh của Tam Bảo, là pháp thân của chúng sanh. Nên nếu phỉ báng mà chẳng tin thì đoạn mất chủng tánh Phật, dứt mất Tam Bảo, di hại đến pháp thân của chúng sanh nên nói hại mình hại người, tội báo vô lượng. Tất cả Như Lai y đây mà chứng niết bàn, Bồ tát nhơn đây mà thành Phật. Tất phải tin mà chớ hủy báng.

Phải biết, Bồ tát quá khứ đã y pháp này mà được thành tịnh tín. Bồ tát hiện tại cũng y pháp này mà được thành tịnh tín. Bồ tát vị lai sẽ y pháp này mà được thành tịnh tín. Cho nên, chúng sanh cần phải tu học.

PHẢI BIẾT… là dùng để tóm kết về tín tâm và khuyên tu hành. Chư Phật đã nhơn pháp này mà thành Phật. Ba đời Bồ tát đều y đây mà tu nhân, cho nên phải tin mà tu vậy.

Nghĩa lý thậm thâm quảng đại
của chư Phật

Nay tôi tùy thuận nói toàn bộ
Hồi hướng công đức
như pháp tánh này

Lợi ích khắp tất cả
cõi giới chúng sinh

Đây là phần hồi hướng tổng kết. Câu đầu là tóm kết nghĩa. Câu kế là tóm kết văn. Hai câu sau là hồi hướng.

Nói thậm thâm, thậm quảng, thậm đại là nghĩa của 3 đại thể, tướng và dụng, là “pháp giới tổng tướng pháp môn”. Nay lấy hơn một vạn một ngàn chữ, nhiếp hết không bỏ sót, nên nói NÓI TOÀN BỘ. Nghĩa là, văn ít mà thâu nhiếp nghĩa nhiều. Song tạo luận là vốn muốn cho hết thảy chúng sanh trừ nghi bỏ chấp nên nay hồi hướng cho chúng sanh đều được lợi ích. Cũng muốn khiến tất cả chúng sanh phát khởi chánh tín đối với chân như, y đó tu tập, được thành tam muội, hướng đến đạo quả Vô Thượng Bồ Đề. Đó là hồi hướng 3 chỗ.

PHÁP TÁNH là chỉ cho chân như bồ đề. LỢI ÍCH KHẮP TẤT CẢ là chỉ cho chúng sanh vậy.

Đại Thừa Khởi Tín Luận Trực Giải – Hết quyển hạ
Dịch xong ngày 26. 08. 2001

Chân Hiền Tâm

 

[1] Dương Văn Hội tự là Nhân Sơn, người huyện Thạch Lệ, tỉnh An Huy đời Thanh. Bình sinh rất ham đọc sách, thông hiểu tất cả các loại âm vận, lịch toán, Trang, Tử v.v… . Năm 27 tuổi, kiếm được một cuốn Đại Thừa Khởi Tín Luận nhưng không thể hiểu. Từ đó dốc một lòng học Phật. Ngoài việc tự tay khắc in các bản kinh, ông còn tụng kinh, niệm Phật và tĩnh tọa quán xét. Ông cho rằng thời mạt pháp này chỉ cần khắc in truyền bá lưu thông kinh điển để cứu vớt chúng sanh. Năm Giáp Ngọ, ông cùng một người Anh dịch bộ Đại Thừa Khởi Tín Luận ra tiếng Anh mong Phật giáo được truyền bá sang Tây phương. Cư sĩ hoằng dương Phật pháp hơn 40 năm, khắc in truyền bá kinh điển hơn 100 vạn quyển, tranh tượng Phật hơn 10 vạn trang và biên soạn nhiều tác phẩm có giá trị.