Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

ĐẠI THỪA A TÌ ĐẠT MA TẠP TẬP LUẬN
An Huệ Bồ-tát tập hợp
Tam tạng pháp sư Huyền Trang dịch
Nguyên Hồng dịch tiếng Việt

 

QUYỂN 10

Phẩm 1 – 5: PHẨM ĐẾ TRONG QUYẾT TRẠCH PHẦN

Lại nữa, tất cả pháp Bồ-đề phần không có sai biệt, đều được kiến lập do 5 môn, là sở duyên, tự thể, trợ bạn, tu tập, và tu quả. Như đầu tiên 4 niệm trụ có 5 môn, ngoài ra các pháp Bồ-đề phần cũng vậy.

Bốn niệm trụ sở duyên cảnh, là thân thụ tâm pháp. Lại có 4 việc, là ngã sở y sự, ngã thụ dụng sự, ngã tự thể sự, và ngã nhiễm tịnh sự. Vì sao chỉ kiến lập đây làm sở duyên cảnh? Do điên đảo giác, ngu si phàm phu, phần nhiều chấp ngã, y chỉ có căn thân, thụ dụng khổ vui v.v…, thủ liễu cảnh làm tướng, do tham v.v… nhiễm ô, do tín v.v… thanh tịnh, cho nên trước tiên để chính quán sát sự tướng chân thật nên kiến lập 4 việc này làm sở duyên cảnh.

Niệm trụ tự thể, nghĩa là tuệ và niệm, do trong kinh Phật có nói đến tuần quán trong thân và có niệm trụ, theo thứ tự.

Niệm trụ trợ bạn, nghĩa là tâm tâm pháp tương ưng với kia. Nói kia là nói 2 pháp niệm và tuệ.

Niệm trụ tu tập, nghĩa là trong nội thân v.v… tu các quán tuần thân. Giống như nội, đối với ngoại, và nội ngoại cũng vậy. Nội thân, là nội sắc xứ trong thân này. Do trong tự thân nhãn căn, nhĩ căn, tỹ căn, thiệt căn, thân căn do nội xứ thâu nhiếp. Đọa vào trong số hữu tình nên gọi là nội. Ngoại thân, là các ngoại sắc xứ bên ngoài. Do sắc thanh hương vị xúc ở ngoài. Do ngoại xứ thâu nhiếp không phải trong số hữu tình nên gọi là ngoại. Nội ngoại thân, nghĩa là tương ưng với nội xứ, có chỗ y chỉ của các căn ngoại xứ. Do ở trong thân mình, nhãn v.v…5 xứ tương ưng với chỗ y trụ của căn có sắc v.v… ngoại xứ. Đọa vào số hữu tình nên ngoại xứ thâu nhiếp gọi là nội ngoại. Lại nữa, trong thân khác có nội sắc xứ, đứng về xứ kiến lập, đứng về thân kiến lập gọi là nội ngoại.

Sao gọi là trong thân tu tuần thân quán? Nghĩa là để phân biệt thân ảnh tượng với thân bản chất bình đẳng. Quán sát khắp nơi thân cảnh, quán sát khắp thân tương tự tính, gọi là quán sát khắp thân nơi thân. Do quán sát khắp phân biệt ảnh tượng thân môn, thẩm xét quán sát kỹ bản chất thân. Nội thụ, là nhân nội thân sinh ra thụ, vì duyên nhãn v.v…các xứ làm cảnh giới. Y tự thân sinh nên gọi nội. Ngoại thụ, là nhân ngoại thân sinh ra thụ, vì duyên sắc v.v… các xứ làm cảnh giới. Y tha thân sinh nên gọi là ngoại. Nội ngoại thụ, là nhân nội ngoại thân sinh ra thụ. Vì duyên trong tự thân ngoại xứ làm cảnh, vì duyên trong tha thân nội xứ làm cảnh nên gọi là nội ngoại. Như thụ tâm pháp cũng vậy. Giống như đối với thân tu tuần thân quán, cũng vậy đối với thụ v.v…tu tuần thụ quán v.v…tùy theo thích hợp.

Lại nữa, tu tập, là dục, cần, sách, lệ, dũng mãnh, không ngừng nghỉ, chính niệm, chính tri, và không phóng dật các tu tập sai biệt. Dục tu tập là để đối trị tùy phiền não không tác ý. Cần tu tập là để đối trị tùy phiền não giải đãi. Sách tu tập là để đối trị tùy phiền não hôn trầm trạo cử. Lệ tu tập là để đối trị tùy phiền não tâm hạ liệt tính. Tâm hạ liệt tính, nghĩa là đối với công đức thắng phẩm đã chứng, do tự khinh miệt môn, tâm sinh khiếp nhược tính. Dũng mãnh tu tập là để đối trị tùy phiền não sơ lậu, mệt mỏi. Sơ lậu mệt mỏi, nghĩa là có thể dẫn đến những chỗ ruồi muỗi làm khó chịu. Không ngừng nghỉ tu tập là để đối trị tùy phiền não đối với trường hợp được chút ít thiện pháp sinh tâm vui mừng cho là đủ. Do được chút ít thiện pháp sinh vui mừng cho là đủ nên ngừng nghỉ không tiếp tục tu tập các thiện phẩm thắng tiến khác. Chính niệm tu tập là để đối trị tùy phiền não quên mất giáo pháp tôn quý. Chính tri tu tập là để đối trị tùy phiền não hủy phạm truy hối. Hủy phạm truy hối, nghĩa là đối với các việc qua lại không có chính tri mà đi, trước là vượt bậc học xứ, sau là sinh hối não. Không phóng dật tu tập là để đối trị tùy phiền não xả các thiện ách. Xả thiện ách, nghĩa là phóng dật tội lỗi, đối với thiện phẩm đã tu thắng tiến xả bỏ sự siêng năng phương tiện, không thể cứu cánh. Niệm trụ tu quả, là đoạn 4 điên đảo hướng nhập 4 đế thân v.v… ly hệ. Đó là tu quả đoạn. Bốn điên đảo là 4 niệm trụ tùy theo thứ tự có thể đoạn 4 thứ điên đảo là tịnh, lạc, thường, ngã. Tu quán bất tịnh nên hiểu rõ các thụ đều là khổ, vì thông đạt các thức, dựa vào duyên sai biệt, niệm niệm biến đổi. Quán sát nhiễm tịnh chỉ có các pháp không có tác dụng. Lại nữa 4 thứ này theo thứ tự hướng vào 4 đế cũng gọi là tu quả. Do thân niệm trụ hướng nhập khổ đế, hễ có sắc thân đều hành khổ tướng, vì thô trọng hiển lộ. Cho nên khi tu quán hành có thể trị khinh an này vì trong thân sai biệt sinh. Do thụ niệm trụ hướng nhập tập đế, vì lạc v.v… các thụ là hòa hợp ái v.v… với chỗ sở y. Do tâm niệm trụ hướng nhập diệt đế, quán lìa ngã thức phải không có sự sợ ngã đoạn môn, sợ sinh Niết-bàn, vì vĩnh viễn xa lìa. Do pháp niệm trụ hướng nhập đạo đế để đoạn pháp sở trị, để tu pháp năng trị. Lại nữa 4 thứ này theo thứ tự có thể chứng đắc quả ly hệ thân thụ tâm pháp. Do tu tập đây dần dần có thể xa lìa các thô trọng của thân v.v… Bốn chính đoạn sở duyên cảnh, là pháp đã sinh, chưa sinh, sở trị, năng trị. Trước tiên chính đoạn duyên đã sinh, pháp sở trị làm cảnh, là để đoạn pháp ác bất thiện đã sinh, sinh lạc dục. Thứ hai, chính đoạn duyên chưa sinh, pháp sở trị làm cảnh. Thứ ba, chính đoạn duyên chưa sinh, pháp năng trị làm cảnh. Như kinh nói nên phối hợp giải thích rộng.

Chính đoạn tự thể, là tinh tiến.

Chính đoạn trợ bạn, là các tâm tâm pháp tương ưng với nó.

Chính đoạn tu tập, là như kinh nói: Sinh dục sách lệ, phát khởi chính cần, sách tâm trì tâm. Trong đây các câu nói rõ tu chính cần và chỗ y chỉ. Chỗ y chỉ, là dục lạc dục, để trước phát tinh tiến. Chính cần, là sách lệ v.v…trong các tướng tác ý chỉ, cử, xả v.v… Nếu do tác ý tướng chỉ v.v… thì không cố luyến cảnh sở duyên, thuần tu tập đối trị, bấy giờ gọi là sách lệ. Vì muốn tổn giảm trầm một, trạo cử phát khởi chính cần. Sở dĩ vì sao? Vì nếu khi tùy phiền não hôn trầm phát sinh, để làm tổn giảm nó dùng tác ý tịnh diệu v.v… sách luyện cái tâm. Nếu khi tùy phiền não trạo cử sinh, thì dùng nội chứng lược nhiếp môn chế trì cái tâm, bấy giời gọi là phát khởi chính cần. Tức là làm rõ phương tiện khéo léo làm tổn giảm cái hôn trầm trạo cử này. Cho nên tiếp theo nói sách tâm trì tâm.

Chính đoạn tu quả, là xả bỏ hết tất cả sở trị, với năng đối trị hoặc được hoặc tăng, đó gọi là tu quả. Chính đoạn đầu và thứ hai là xả hết tất cả sở trị, tùy theo chỗ thích ứng. Đoạn xả tất cả ác bất thiện pháp đã sinh chưa sinh. Chính đoạn thứ ba được năng đối trị, có thể sinh các thiện pháp chưa sinh. Chính đoạn thứ tư tăng năng đối trị, thiện pháp đã sinh khiến tăng rộng thêm.

Bốn thần túc sở duyên cảnh, là đã hoàn thành đầy đủ những việc do định làm ra. Đây là thế nào? Là do đã hoàn thành viên mãn sức của Tam-ma-địa, phát khởi các thứ thần biến. Đó là sở duyên cảnh.

Tự thể của thần túc, là Tam-ma-địa.

Thần túc trợ bạn, là dục, cần, tâm, quán và các tâm tâm pháp tương ưng với chúng. Dục Tam-ma-địa, là do ân trọng phương tiện chứng tâm một cảnh tính. Ân trọng phương tiện, nghĩa là lạc dục sắc mạnh, cung kính sắc mạnh phương tiện được Tam-ma-địa. Cần Tam-ma-địa, là do vô gián phương tiện xúc tâm một cảnh tính. Cần, là thường tinh tiến không lúc nào gián đoạn. Tâm Tam-mađịa, là do trước tu định lực xúc tâm một cảnh tính. Sở dĩ vì sao? Do đời trước tu nhiều định lực khiến chủng tử kia công năng tăng trưởng. Do sức của chủng tử khiến tâm tự nhiên tùy thuận chuyển biến trong Tam-ma-địa. Do đây mau chứng tâm một cảnh tính. Lại, dục Tam-mađịa, là do sinh dục xúc tâm một cảnh tính. Quán Tam- ma-địa, là khi nghe giáo pháp khác, trong tự lựa chọn xúc tâm một cảnh tính. Lại, dục Tam-ma-địa, là do sinh dục xúc tâm một cảnh tính. Cần Tam-ma-địa, là do sách lệ phát khởi chính cần xúc tâm một cảnh tính. Tâm Tam-ma-địa, là do trì tâm xúc tâm một cảnh tính. Quán Tam-ma-địa, là do sách tâm xúc tâm một cảnh tính. Để làm rõ nhân tính phát sinh thần túc nên dẫn trong tu chính đoạn sinh dục, sách lệ v.v… các câu trì tâm, sách tâm. Đó là thứ tự này. Tâm Tam-ma-địa, là do trì tâm nên được định trì tâm. Ở trong tịch tĩnh lược nhiếp mau chứng định. Quán Tam-ma-địa, là do sách tâm nên được định, vì dựa vào pháp quán môn mà luyện tâm nên mau được định.

Thần túc tu tập, là thường tu tập nhiều 8 thứ đoạn hành. Những gì là 8? Là dục, tinh tiến, tín, an, chính niệm, chính tri, tư, xả. Như vậy 8 thứ lược lại gồm làm 4. Đó là gia hành, nhiếp thụ, kế thuộc, và đối trị. Gia hành, là dục, tinh tiến, và tín. Dục là chỗ dựa của tinh tiến. Tín là nhân của dục. Sở dĩ vì sao? Do dục cầu nên để được nghĩa này phát siêng năng tinh tiến. Như vậy dục cầu không tách rời tín thụ, vì là hữu thể v.v… Nhiếp thụ, là an. Do sự khinh an này nhiếp ích thân tâm. Kế thuộc, là chính niệm, chính tri. Vì do không quên mất sở duyên, an tâm một cảnh. Nếu có sinh phóng dật, như thật hiểu biết nên tùy theo thứ tự. Đối trị, là tư, xả. Vì 2 sức gia hành là sách tâm trì tâm đã sinh thì có thể xa lìa hôn trầm trạo cử, lại có thể dẫn phát lìa tùy phiền não chỉ v.v… các tướng.

Lại nữa dục, cần, tâm, có 2 thứ tu quán. Là gồm nhân duyên tụ tán viễn ly. Tu bất liệt bất tán, 2 thứ đó dựa vào tùy thuận tu. Trong đây hiển thị dục v.v… có thể viễn ly tụ tán, và nhân duyên v.v… 2 nghĩa của tu. Tụ nhân duyên, là viễn ly Tì-bát-xá-na, cho nên do giải đãi môn sinh ra trầm một. Tán nhân duyên, là viễn ly bất tịnh tưởng, cho nên do trạo động môn sinh ra cao cử. Tụ, là do hôn trầm thùy miên môn, bên trong bồi hồi không an. Tán, là do tùy thuận tịnh diệu tướng môn, bên ngoài giong ruổi. Bất liệt tùy thuận tu, là dựa vào quán sát tướng quán sát các pháp. Bất tán tùy thuận tu, là dựa vào bất tịnh tưởng quán sát tóc lông các việc. Hai thứ đó dựa vào tùy thuận tu, nghĩa là tu quang minh tưởng dựa vào thứ tự như vậy. Bạc-giàphạm nói: Dục lạc của ta không có hạ liệt cũng không có cao cử. Ở trong không tụ, ở ngoài không tán. Có tưởng trước sau và tưởng trên dưới, khai phát cái tâm xa lìa trói buộc. Cùng với quang minh tự tu tâm mình, khiến tâm ta không bị che tối. Thần túc tu quả, là đã khéo tu trị Tam-ma-địa cho nên tùy chỗ muốn chứng thông đạt pháp tức có thể tùy tâm thông đạt biến hiện. Lại ở những chỗ khác nhau trong pháp chứng đắc, đủ sức tác dụng tự tại, như tùy thích có thể làm các thứ thần thông v.v… lại có thể dẫn phát công đức thắng phẩm.

Năm căn sở duyên cảnh, là 4 Thánh đế, do đế hiện quán phương tiện nên làm hành này.

Năm căn tự thể, là tín, tinh tiến, niệm, định, và tuệ.

Năm căn trợ bạn, là các tâm tâm pháp tương ưng với nó.

Năm căn tu tập, là tín căn trong các đế khởi nhẫn khả thực hành tu tập. Tinh tiến căn trong các đế sinh nhẫn khả rồi, để giác ngộ nên khởi tinh tiến thực hành tu tập. Niệm căn trong các đế phát tinh tiến rồi, khởi không quên mất thực hành tu tập. Định căn trong các đế đã buộc niệm rồi, khởi tâm một cảnh tính thực hành tu tập. Tuệ căn trong các đế, tâm đã được định, khởi lựa chọn thực hành tu tập.

Năm căn tu tập quả, là có khả năng mau phát đế hiện quán. Do sức tăng thượng này, không lâu sẽ có thể sinh kiến đạo. Lại có thể tu trị noãn, đỉnh, dẫn phát nhẫn, thế đệ nhất pháp. Tức hiện thân này rồi nhập thuận quyết trạch phần vị.

Giống như 5 căn, 5 lực cũng vậy. Sai biệt, là do đây có thể tổn giảm chướng sở đối trị không thể khuất phục, nên gọi là lực. Nghĩa là sở duyên cảnh của 5 lực v.v… cũng tương tự với căn, nhưng quả thì có sai biệt. Sở dĩ vì sao? Như nói quả, là có thể tổn giảm bất tín v.v… các chướng, cho nên quá hơn trước, tuy cùng với cảnh giới sở duyên của 5 căn tự thể v.v… tương tự, nhưng về nghĩa không khuất phục thì có sai biệt, cho nên lập riêng ra có lực phần.

Bảy giác chi sở duyên cảnh, là 4 Thánh đế như thật tính. Như thật tính, tức là thắng nghĩa thanh tịnh sở duyên.

Giác chi tự thể, là niệm, trạch pháp, tinh tiến, hỷ, an, định, xả. Như vậy 7 pháp là tự thể của giác chi. Niệm, là sở y chi, do buộc niệm nên khiến các thiện pháp đều không quên mất. Trạch pháp, là tự thể chi, vì là tự tướng của giác. Tinh tiến , là xuất ly chi, vì do thế lực này có thể đến nơi đến. Hỷ, là lợi ích chi, vì do thế lực này, thân được điều hòa thích hợp. An, định, xả, là bất nhiễm ô chi, vì do đây không nhiễm ô. Dựa vào không nhiễm ô đây nên thể là không nhiễm ô. Theo như thứ tự đó do an nên không nhiễm ô. Do đây có thể trừ lỗi thô trọng. Dựa vào định nên không nhiễm ô vì y chỉ nơi định được chuyển y. Xả, là không nhiễm ô, thể vĩnh trừ tham, ưu, vì không nhiễm ô vị là tự tính.

Giác chi trợ bạn, là các tâm tâm pháp tương ưng với nó.

Giác chi tu tập, là y chỉ viễn ly, y chỉ vô dục, y chỉ tịch diệt, hồi hướng khí xả, tu niệm giác chi. Giống như niệm giác chi, cho đến xả giác chi cũng vậy. Như vậy 4 câu tùy theo thứ tự hiển thị duyên cảnh 4 đế tu tập giác chi. Sở dĩ vì sao? Nếu duyên khổ thể, là khi não khổ thì đối với cảnh giới khổ ắt cầu xa lìa, nên gọi là y chỉ viễn ly. Nếu duyên ái tướng khổ tập, là khi khổ tập thì đối với cảnh giới này ắt cầu lìa dục, nên gọi là y chỉ ly dục. Nếu duyên khổ diệt, là khi khổ diệt thì đối với cảnh giới này ắt cầu tác chứng, nên gọi là y chỉ tịch diệt. Khí xả, nghĩa là hướng đến khổ diệt hành, vì do thế lực này xả bỏ khổ. Cho nên nếu khi duyên cảnh này thì đối với cảnh giới này ắt cầu tu tập, nên gọi là hồi hướng khí xả.

Giác chi tu quả, là vĩnh đoạn các phiền não do kiến đạo đoạn, vì do 7 giác chi là tự thể của kiến đạo.

Tám thánh đạo chi sở duyên cảnh, là sau đó 4 Thánh đế như thật tính do cảnh giới sở duyên sau khi kiến đạo, là vì trước đã thấy các đế như thật tính làm thể.

Đạo chi tự thể, là chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mạng, chính tinh tiến, chính niệm, và chính định. Như vậy 8 pháp gọi là tự thể của đạo chi. Chính kiến, là phân biệt chi, vì như trước đã chứng chân thật giản trạch. Chính tư duy, là hối thị các chi khác. vì như chỗ chứng, phương tiện an lập phát ngữ ngôn. Chính ngữ, chính nghiệp, chính mạng, là khiến kia tín chi. Theo như thứ tự khiến kia nơi chỗ chứng lý quyết định tin có kiến giới chính mạng thanh tịnh tính. Sở dĩ vì sao? Do chính ngữ nên tùy chỗ mình chứng có thể giỏi vấn đáp nghị luận quyết đoán lựa chọn, do đây biết rõ có kiến thanh tịnh. Do chính nghiệp nên qua lại đi đứng đầy đủ chính hạnh, do đây biết rõ có giới thanh tịnh. Do chính mạng nên như pháp cầu xin, được Phật chấp nhận cho y bát và các thứ vật dụng., do đây biết rõ có mạng thanh tịnh. Chính tinh tiến, là tịnh phiền não chướng chi, vì do đây vĩnh đoạn tất cả kết. Chính niệm, là tịnh tùy phiền não chướng chi, vì do đây không quên mất tướng chính, chỉ, cử v.v…, vĩnh viễn không thụ các tùy phiền não hôn trầm trạo cử. Chính định, là năng tịnh tối thắng công đức chướng chi, vì do đây dẫn phát thần thông vô lượng thắng công đức v.v…

Đạo chi trợ bạn, là các tâm tâm pháp tương ưng với nó.

Đạo chi tu tập, là như giác chi nói. Nghĩa là y chỉ viễn ly, y chỉ vô dục, y chỉ tịch diệt, hồi hướng khí xả tu tập chính kiến, cho đến nói rộng. Các cú nghĩa như vậy như trước đã nói, nên tùy thuận mà biết đạo lý.

Đạo chi tu tập quả, là phân biệt hối thị người khác, khiến người tin rằng phiền não chướng được thanh tịnh, tùy phiền não chướng được thanh tịnh, tối thắng công đức chướng được thanh tịnh.

Bốn chính hành, là khổ trì thông hành, khổ tốc thông hành, lạc trì thông hành, lạc tốc thông hành. Đầu tiên là chỉ cho trường hợp độn căn chưa được căn bản tĩnh lự. Thứ hai là lợi căn chưa được căn bản tĩnh lự. Thứ ba là độn căn đã được căn bản tĩnh lự. Thứ tư là lợi căn đã được căn bản tĩnh lự. Khổ chính hành, nghĩa là y vào chưa đến và Vô sắc địa. Theo thứ tự đó Xa-ma-tha, Tì-bát-xá-na nhỏ yếu. Lạc chính hành, nghĩa là y vào tĩnh lự song đạo chuyển. Trì thông, là người độn căn y vào khổ lạc 2 địa. Tốc thông, là người lợi căn y vào khổ lạc 2 địa.

Bốn pháp tích, là không tham, không sân, chính niệm, chính định. Không tham, không sân có thể khiến tăng thượng giới học thanh tịnh, vì không nhân tham nhuế môn mà hủy phạm học xứ. Chính niệm có thể khiến tăng thượng tâm học thanh tịnh, do nơi sở duyên không quên mất, trì tâm khiến định. Chính định có thể khiến tăng thượng tuệ học thanh tịnh, do định tâm có thể biết khắp như thật. Xa-ma-tha, là bên trong nhiếp giữ tâm khiến trụ đẳng trụ, an trụ, cận trụ, điều thuận tịch tĩnh, tối cực tịch tĩnh, chuyên chú hoàn toàn, bình đẳng nhiếp trì. Như vậy 9 hành khiến tâm an trụ là Xa-ma-tha. Nói khiến trụ là nhiếp phan duyên bên ngoài, lìa tán loạn bên trong, trước tiên là buộc tâm lại. Đẳng trụ, là trước tiên trói buộc cái tâm thô động rồi tiếp tục buộc niệm đối với sở duyên., những vi tế dần dần lược bỏ. An trụ, là có khi mất chính niệm giong ruổi bên ngoài, tìm cách cột giữ lại. Cận trụ, là từ trước đến giờ để khiến tâm không tán loạn bên ngoài nên thân cận niệm trụ. Điều thuận, là từ trước đến giờ đối với nhân tán loạn, như sắc v.v… trong các pháp khởi tưởng tội lỗi sức tăng thượng điều phục cái tâm ấy khiến không lưu tán. Tịch tĩnh, là đối với tâm nhiễu động, tán loạn, ác giác trong các tùy phiền não thấy tội lỗi một cách sâu sắc, nên nhiếp phục tâm ấy khiến không lưu tán. Tối cực tịch tĩnh, là hoặc có khi mất niệm, tán loạn giác v.v… chợt khởi hiện hành liền kềm giữ khiến không khởi trở lại. Chuyên chú hoàn toàn, là tinh cần gia hành không gián đoạn không thiếu sót, liên tục an trụ thắng Tam-ma-địa. Bình đẳng nhiếp trì, là khéo tu tập, không do gia hành viễn ly công dụng, định tâm liên tục, lìa tán loạn chuyển. Tì-bát-xá-na, là lựa chọn triệt để các pháp lựa chọn, tầm tứ khắp cả, quán sát thẩm xét chu đáo vì muốn đối trị tướng kết thô trọng, vì muốn chế phục các điên đảo khiến tâm không điên đảo, được an trụ tốt. Các câu trong đây là y vào cảnh sở duyên của chính hành mà nói. Các pháp lựa chọn, là nói tất cả. Triệt để lựa chọn, là như tất cả những gì có. Tầm từ khắp cả, là do có phân biệt tác ý cùng hành tuệ kiến lập tướng các pháp. Quán sát thẩm xét chu đáo, là ủy cụ suy cầu.

Lại dựa vào Xa-ma-tha, Tì-bát-xá-na lập 4 thứ đạo. Hoặc có một loại đã được Xa-ma-tha mà không phải Tì-bát-xá-na. Loại này dựa vào Xa-ma-tha tiến tu Tì-bát- xá-na. Hoặc có một loại đã được Tì-bát-xá-na mà không phải Xa-ma-tha. Loại này dựa vào Tì-bát-xána tiến tu Xa-ma-tha. Hoặc có một loại không được Xa-ma-tha cũng không phải Tì-bát-xá-na. Loại này chuyên tâm chế phục song tu 2 đạo hôn trầm trạo cử. Hoặc có một loại đã được Xa-ma-tha và Tì-bátxá-na. Loại này Xa-ma-tha, Tì-bát-xá-na 2 đạo hòa hợp bình đẳng cùng chuyển. Trong này y nơi chỉ quán nói 4 thứ đạo. Đầu tiên đã được chỉ nên yên tọa trụ tâm cho đến bình đẳng nhiếp trì. Chưa được quán nên trở lại yên tọa dựa vào Tam-ma-địa lựa chọn các pháp cho đến quán sát thảm xét chu đáo. Thứ hai là ngược lại với đây. Thứ ba là cả hai đều chưa được, phải tu tập cả hai. Thế nào là tu tập? Nghĩa là nghe pháp, do thụ trì môn, tiến tu chính quán, lấy đây làm trước tiến tu nơi chỉ. Thứ tư là đã được 2 thứ tương ưng đều chuyển.

Ba căn là vị tri dục tri căn, dĩ tri căn, và cụ tri căn. Vị tri dục tri căn, nghĩa là các căn có trong 15 tâm sát-na nơi phương tiện đạo và nơi kiến đạo. Trong đây hiển thị thuận quyết trạch phần thâu nhiếp phương tiện đạo và các căn có trong 15 sát-na của kiến đạo là thể của vị tri dục tri căn. Nói các căn là ý căn tín v.v…5 căn. Do chưa đến đẳng địa nên sở y sai biệt. Theo như chỗ thích ứng có lạc, hỷ, ưu, xả căn tùy theo một. Ưu căn là khi phương tiện đạo, sau thuận quyết trạch, đối với thượng giải thoát lo âu muốn cầu chứng. Như vậy 10 căn trước chưa biết chân, vì muốn được biết để tu tập chuyển, gọi là vị tri dục tri căn. Dĩ tri căn, nghĩa là từ 16 kiến đạo tâm sát-na trở lên các căn trong tất cả hữu học đạo là đã biết thể của căn. Sở dĩ vì sao? Tức là 10 căn trước từ thứ 16 kiến đạo tâm sát-na cho đến Kim cương dụ định, trong hữu học đạo như vậy chưa có cảnh phải biết, từng có điều chưa biết, nên gọi là dĩ tri căn. Cụ tri căn, nghĩa là các căn trong vô học đạo. Nói các căn tức 9 căn đã nói ở trước, trừ ưu căn. Trong vô học đạo nói đó là cụ tri căn. Cụ tri, nghĩa là A-la-hán v.v… có các căn này gọi là cụ tri căn. Trong thân những bậc vô học không có ưu căn vì không lo có gì phải học nữa.

Lại nữa, nghĩa tu đặc biệt y chỉ tu đạo phần, là khi dựa vào sơ tĩnh lự địa hiện tu đạo thì cũng tu các thiện căn của Dục giới hệ vì đối với chúng được tự tại. Giống như dựa vào sơ tĩnh lự địa tu Dục giới thiện, cũng vậy dựa vào tất cả thượng địa khi hiện tu đạo đều có thể tu tập các thiện căn của hạ giới hạ địa, vì đối với chúng được tự tại. Phải biết trong đây nói nghĩa, tức y chỉ thượng địa hiện tiền khi tu tập đạo, các thiện căn của hạ giới hạ địa tuy không hiện tiền cũng đều tu tập. Bởi vì sao? Vì với chúng được tự tại. Nói tự tại, nghĩa là hiện hành chuyển tăng thắng được tự do tự tại.

Cứu cánh đạo, là y vào Kim cương dụ định, tất cả mọi thô trọng đã vĩnh viễn dứt hết, tất cả các hệ đắc vĩnh viễn đoạn hết, vĩnh viễn chứng tất cả ly hệ đắc. Từ đây tuần tự chuyển y không gián đoạn, chứng đắc tận trí và vô sinh trí 10 pháp vô học. Những gì là 10? Đó là vô học chính kiến, cho đến vô học chính định, vô học chính giải thoát, và vô học chính trí. Những pháp như vậy gọi là cứu cánh đạo.

Thế nào là tất cả thô trọng? Lược có 24 thứ, là tất cả biến hành hý luận thô trọng, lãnh thụ thô trọng, phiền não thô trọng, nghiệp thô trọng, dị thục thô trọng, phiền não chướng thô trọng, nghiệp chướng thô trọng, dị thục chướng thô trọng, cái thô trọng, tầm tứ thô trọng, ẩm thực thô trọng, giao hội thô trọng, mộng thô trọng, bệnh thô trọng, già thô trọng, chết thô trọng, cực nhọc mệt mỏi thô trọng, kiên cố thô trọng, thô thô trọng, trung thô trọng, tế thô trọng, phiền não chướng thô trọng, định chướng thô trọng, sở tri chướng thô trọng. Như vậy là 24 thứ lược gồm tất cả thô trọng.

Tất cả biến hành hý luận thô trọng, nghĩa là chấp nhãn v.v… các pháp tập khí từ vô thủy đến nay dựa vào thức A-lại-da liên tục không đoạn dứt, tức đây gọi là hý luận tập khí. Từ tập khí này, nhãn v.v… các pháp và danh ngôn chấp thường thường sinh khởi. Lãnh thụ thô trọng, nghĩa là hữu lậu các thụ tập khí. Phiền não thô trong, nghĩa là phiền não tùy miên. Nghiệp thô trọng, nghĩa là hữu lậu nghiệp tập khí. Dị thục thô trọng, nghĩa là dị thục tính không kham năng. Phiền não chướng thô trọng, nghĩa là tính phiền não sắc mạnh và dài lâu. Nghiệp chướng thô trọng, nghĩa là tính nghiệp chướng có thể chướng đạo vô gián v.v… Dị thục chướng thô trọng, nghĩa là trái với đế hiện quán. Địa ngục v.v… tự thể đắc. Cái thô trọng, nghĩa là tính quá tham dục v.v…có thể chướng ngại thiện phẩm phương tiện. Tầm tứ thô trọng, nghĩa là tính tầm tứ v.v… có thể chướng ngại sự vui thích xuất gia. Ẩm thực thô trọng, nghĩa là ăn uống quá nhiều ít đối với tính không kham nhiệm phương tiện hành. Giao hợp thô trọng, nghĩa là tính tổn hại thân tâm mệt mỏi của hai thân hình giao hợp. Mộng thô trọng, nghĩa là tính ngủ mê phát sinh. Bệnh thô trọng, nghĩa là các giới trái nhau phát sinh tính không an ổn. Già thô trọng, nghĩa là đại chủng suy thoái biến đổi, phát sinh tính không tùy chuyển. Chết thô trọng, nghĩa là tính rối loạn các căn khi lâm chung. Cực nhọc mệt mỏi thô trọng, nghĩa là đi xa v.v… làm chi thể tồi tệ. Kiên cố thô trọng, nghĩa là người không có pháp Niết-bàn. Như chỗ thích ứng có tính hý luận thô trọng v.v… Thô, trung, tế thô trọng, nghĩa là các thô trọng của Dục, Sắc, Vô sắc theo thứ tự. Phiền não chướng thô trọng, nghĩa là Thanh Văn, Độc Giác Bồ-đề sở trị. Định chướng thô trọng, nghĩa là 9 định theo thứ tự phát công đức sở trị. Sở tri chướng thô trọng, nghĩa là tất cả trí tính sở trị, tùy chỗ thích ứng tất cả thô trọng vĩnh viễn đã dứt nên gọi là cứu cánh đạo. Như nói như vậy hành giả tâm giải thoát viên mãn, tuệ giải thoát viên mãn, thân thô trọng vĩnh viễn dứt. Do thành tựu niệm làm nhân cho nên trong tối sơ môn, thiện điều, thiện hộ, thiện phòng, thiện phú cực, thiện tu trị, nghĩa là nơi nhãn nhận thức sắc cho đến nơi ý nhận thức pháp cũng vậy.

Hệ đắc, là thô trọng tích tập giả lập tính hệ đắc.

Ly hệ đắc, là các thô trọng lìa tan giả lập tính ly hệ đắc. Kim cương dụ định, là có Tam-ma-địa nơi tu đạo sau cùng đoạn kết đạo vị. Đây lược có 2 thứ, là phương tiện đạo nhiếp và vô gián đạo nhiếp. Phương tiện đạo nhiếp, nghĩa là từ đây trở đi không bị tất cả chướng làm trở ngại mà có thể phá tất cả chướng. Vô gián đạo nhiếp, nghĩa là từ đây vô gián tận trí và vô sinh trí sinh. Lại Tam-ma-địa này vô gián kiên cố hoàn toàn biến mãn. Sao Kim cương dụ định này gọi là vô gián? Nghĩa là đây liên tục trôi chảy, thế gian hành không thể làm gián khuyết. Kiên cố, là tất cả các chướng không làm hư hoại được mà có thể phá hoại tất cả chướng, vì rất cứng mạnh. Nói hoàn toàn, là không có tính phân biệt, chỉ thuần một mùi vị. Biến mãn, là vì duyên tất cả pháp chân như cộng tướng làm cảnh. Để làm rõ nghĩa này, Bạcgià-phạm nói: Như núi đá lớn không khuyết, không khe nứt, không một lỗ hang, cực kỳ hoàn hảo, 10 phương gió mạnh thổi không làm chuyển động. Vô gián chuyển y, là người đã chứng đắc vô học đạo, có 3 thứ chuyển y. Những gì là 3? Là tâm chuyển y, đạo chuyển y, và thô trọng chuyển y. Tâm chuyển y, là đã được vô học đạo, chứng đắc pháp tính tâm, tự tính thanh tịnh, vĩnh viễn lìa tất cả khách trần tùy phiền não nên gọi là chuyển y. Tức là nghĩa của chân như chuyển y. Đạo chuyển y, là xưa thế gian đạo, khi hiện quán chuyển thành xuất thế gọi là hữu học, vì ngoài ra còn chỗ sở tác. Nếu vĩnh trừ tất cả sở trị, khi vĩnh ly tam giới dục, thì tự thể của đạo này cứu cánh viên mãn lập làm chuyển y. Thô trọng chuyển y, là thức A-lại-da tất cả phiền não tùy miên vĩnh viễn xa lìa nên gọi là chuyển y.

Tận trí, là do nhân hết mà được trí, hoặc duyên hết làm cảnh. Sở dĩ vì sao? Do hữu tận mà khởi trí này nên gọi là tận trí, hoặc duyên tận làm cảnh nên gọi là tận trí. Nghĩa này ý nói ở trong vị này do vĩnh đoạn tập, khiến không còn dư sót nên được trí gọi là tận trí, hoặc duyên nhân hết làm cảnh nên gọi tận trí.

Vô sinh trí, là do quả đoạn mà được trí, hoặc duyên quả không sinh làm cảnh. Sở dĩ vì sao? Do có vô sinh, nên trí sở đắc gọi là vô sinh trí, hoặc duyên vô sinh làm cảnh gọi là vô sinh trí. Nghĩa này ý nói do có đời sau hết tất cả khổ quả không sinh pháp tính mà được trí này, tuy duyên các đế làm cảnh cũng gọi vô sinh trí, hoặc duyên khổ đế vô sinh làm cảnh nên gọi vô sinh trí.

Lại, 10 pháp vô học, phải biết là y chỉ vô học giới uẩn, định uẩn, tuệ uẩn, giải thoát uẩn, giải thoát tri kiến uẩn mà nói. Bởi vì sao? Vì vô học chính ngữ, chính nghiệp, chính mạng là vô học giới uẩn. Vô học chính niệm, chính định là vô học định uẩn. Vô học chính kiến, chính tư duy, chính tinh tiến là vô học tuệ uẩn. Vô học chính giải thoát là vô học giải thoát uẩn. Vô học chính trí là vô học giải thoát tri kiến uẩn.

Lại nữa đạo đế có 4 hành tướng, là đạo tướng, như tướng, hành tướng, và xuất tướng. Vì sao gọi là đạo tướng? Vì nhân đây tìm cầu nghĩa chân thật. Sở dĩ vì sao? Do Thánh đạo này là con đường các thánh giả chứng chân nghĩa, cho nên gọi là đạo. Vì sao gọi là như tướng? Bởi có thể đối trị các phiền não. Sở dĩ vì sao? Vì tất cả phiền não đều không như lý. Đạo có thể trừ những thứ đó, cho nên gọi là như. Vì sao gọi là hành tướng? Khéo có thể hoàn chỉnh cái tâm khiến không điên đảo. Sở dĩ vì sao? Tâm không giác ngộ đạo lý chân thật, với các pháp vô thường khởi điên đảo cho là thường. Khéo có thể tu trị cái tâm điên đảo này, khiến lìa điên đảo, giác ngộ nghĩa chân thật, cho nên gọi là hành. Vì sao gọi là xuất tướng? Vì theo dấu chân thường. Sở dĩ vì sao? Do Thánh đạo này có thể đưa đến xuất ly cứu cánh trở lại chân thường dấu xưa, cho nên gọi là xuất.

Hỏi: Ở trong các đế có 16 hành đều thông cả thế gian và xuất thế gian, vậy thế hành và xuất thế hành có gì khác biệt?

Đáp: Trong cảnh sở tri không khéo ngộ nhập và khéo ngộ nhập đó là tính khác biệt, có chướng và không chướng là tính khác biệt, có phân biệt và không phân biệt là tính khác biệt. Sở dĩ vì sao? Ở trong các đế, vô thường, khổ v.v… 16 thế gian hành đối với cảnh sở tri vì không thông đạt tính chân như, bị phiền não tùy miên, y danh ngôn môn khởi hý luận, cứ theo thứ tự như vậy nên không khéo ngộ nhập, có chướng ngại, có phân biệt. Xuất thế gian hành thì trái lại với đây nên khéo ngộ nhập, không chướng ngại, không phân biệt. Do đạo lý này thế hành và xuất thế hành có sai biệt nhau.

Làm sao xuất thế hành không có phân biệt mà khéo ngộ nhập cảnh giới sở tri?

Do các hành kia khi hiện tiền, tuy là hiện chứng thấy nghĩa vô thường nhưng không dựa vào danh ngôn hý luận môn mà thấy, đây là nghĩa của vô thường. Giống như vô thường hành đối với vô thường nghĩa, các hành khác đối với các nghĩa khác, tùy thích ứng cũng như vậy.

HẾT QUYỂN 10

Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.