Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

ĐẠI PHƯƠNG QUẢNG PHẬT
HOA NGHIÊM KINH TÙY SỚ DIỄN NGHĨA SAO

QUYỂN 29

Đời Đường, Đại sư Trừng Quán

-Sớ từ câu: “Lại cứu xét về bốn đế này” tiếp xuống: Là bàn về Tứ đế thứ tư là Vô tác Tứ đế. Văn nơi bản Sớ giải cũng gồm ba phần:

Một: biện minh chung. Nói : “Chẳng phải chỉ riêng mỗi không”: Là phân biệt với Vô sinh Tứ đế ở trên chỉ hiển bày về nghĩa không. “Cho nên là chân thật” đúng là chỗ tông chỉ nhằm đạt tới.

Hai: Từ câu: “Nay thấu tỏ” tiếp xuống: Là nêu ra riêng về bốn Tướng. Câu: “Ấm, Nhập đều là Như”: Trước thì nói “Tức Không”. Nay thì cho “Tức Như” thì rõ Lý đã khác nhau.

Lại nói: “Không khổ có thể bỏ” chẳng phải là không nên không có đều có thể bỏ. Nay Thể tức là Như, ngoài Như không có khổ thì chỗ nào lìa bỏ? Câu này nói Như còn giống như là “Không”.

Nói: Tập tức “Vô minh phiền não đều tức là Bồ đề” thì há đồng với không, khổ nêu trước? Ngoài Thể của Bồ đề không có cái riêng để đoạn trừ, chẳng giống với không của vô sinh, không thể đoạn trừ. Trước thì trong không chẳng có Hoa, làm sao có thể chọn lấy ? Nay thì sóng tức là nước nên chẳng thể trừ sóng. Hai đế sau (diệt, đạo) cũng giống như thế.

Câu: “Sanh tử tức Niết-Bàn”: Chẳng phải là cái Không của Thể không sinh diệt. Câu: “Biên kiến, tà kiến đều là Trung, Chánh” tức chẳng phải là lìa bỏ Biên kiến, ngoài ra có riêng Trung đạo, chẳng phải lìa bỏ tà kiến, ngoài ra có riêng Chánh đạo. Cũng chẳng phải không Biên kiến, không tà kiến, không thể tu tập. Suy xét kỹ thì có thể nhận thấy, chớ lẫn lộn với Vô sinh. Kinh Đại Bát Niết-Bàn, Phẩm Tứ đế viết: “Như-Lai biết rõ Như-Lai thường trụ, gọi là tu tập về Khổ. Như biết rõ pháp thường trụ thì đó là tu tập về Tập. Như tu tập về diệt, nếu phần nhiều tu Không thì gọi là bất thiện. Vì sao? Vì đã diệt, hoại tất cả pháp, hủy hoại đối với chân pháp tạng của Như-Lai, nên giống với ngoại đạo.

Như có chỗ nói, có Như-Lai tạng, tuy không thể thấy nhưng nếu diệt trừ phiền não thì mới có thể được hội nhập. Nếu phát tâm ấy, nhân-duyên một niệm, ở trong chỗ chứng đắc mà được tự tại?” Phần kết nối: “Tạng bí mật của Như-Lai tức là Diệt đế. Đạo Thánh đế đó là Phật Pháp Tăng bảo cùng sự giải thoát chân chính. Như có thể nơi một niệm phát tâm thấy được Như-Lai thường trụ, không biến đổi, Pháp, Tăng giải thoát cũng lại như thế, gọi là tu tập về Đạo”. Trên đây là ý nói về Vô tác Tứ đế.

-Sớ từ câu: “Không khổ, không tập” tiếp xuống: Là phần thứ ba, thâu gọn để qui về một Đế. Nghĩa về một Thật đế cũng làvăn nơi Kinh Đại Niết-Bàn quyển thứ mười ba. Bồ tát Văn Thù hỏi Phật: “Thế Tôn! Trong Đệ nhứt nghĩa có Thế-đế chăng? Trong Thế-đế có Đệ nhứt nghĩa chăng? Nếu như có thì chỉ là một đế. Còn nếu là không thì phải chăng điều Như-Lai noí là hư vọng?” Phật đáp: “Thiện nam! Thế-đế tức là Đệ nhứt nghĩa đế”.

Hỏi: “Thế Tôn ! Nếu như vậy thì không có hai đế.”

Đáp: “Thiện nam! Có phương tiện thiện xảo, thuận theo chúngsanh nên nói về hai đế v.v… tức đều là nghĩa về một đế.” Phần tiếp dưới, cũng là Bồ tát Văn Thù hỏi: “Chỗ gọi là Thật đế, nghĩa ấy là như thế nào?” Đáp: “Thật đế gọi là pháp chân thật. Nếu pháp chẳng phải là chân thật thì chẳng gọi là Thật đế. Lại gọi là không điên đảo. Lại không có hư vọng, gọi là Đại-thừa, là do Phật giảng nói, chẳng phải là do Ma nói.” Lại nói: “Thiện nam! Thật đế là đạo thanh tịnh duy nhất, không có hai. Thiện nam! Có thường, có lạc, có ngã, có tịng, thì đấy gọi là nghĩa của Thật đế.”

-Sớ từ câu: “Cho nên ở một phẩm này.” Tiếp xuống: Là phần lớn thứ hai. Tóm kết, chỉ rõ về kinh. (Phần thứ nhất là biện giải về Tánh tướng của Tứ đế , nói đến bốn thứ Tứ đế).

Trong đoạn thứ ba nêu trên, đã nói: “Kinh này chính là đồng với Vô lượng Tứ đế”, vả chăng là chỉ theo một nghĩa. Nay thì nêu bày tóm kết chung gồm đủ bốn thứ Tứ đế. Cho nên phần Sớ giải trên nói: “Mà văn nghĩa bao quát rộng khắp, ngôn từ gồm cả Tánh tướng.” Tướng tức Sinh diệt Tứ đế cùng Vô lượng Tứ đế. Tánh tức Vô sinh cùng Vô tác Tứ đế. Tướng do có rộng hẹp thành hai thứ Tứ đế. Tánh lấy Không, Thật làm thành hai thứ Tứ đế. Tông chỉ của kinh phải dung thông nên nêu lên một thì gồm thâu cả bốn, mới là diệu chỉ của kinh. Do ý nghĩa của bốn thứ Tứ đế dẫn ra kiến giải của các Sư, nên văn nơi bản Sớ giải sử dụng ngầm khiến hợp với văn của kinh, không nêu danh mục. Tóm kết, quy về hai đôi thuận với chỗ thường gặp nơi Kinh, Luận, hoặc gọi là “Hữu tác, Vô tác”, hoặc gọi là “Hữu lượng, Vô lượng”. Nay ý của chỗ tóm kết thì Hữu tác là Sinh diệt, Hữu lượng thì đồng với Vô sinh, tức ở trên Hữu lượng đã nói về Vô sinh vậy. Hai thứ còn lại tên đồng với mười lớp của năm địa, đến văn tự thấy rõ, nay chỉ lược nêu ra tên gọi:

Một: Thiện tri Tục đế

Hai: Thiện tri Đệ nhứt nghĩa đế

Ba: Tướng đế

Bốn: Sai biệt đế

Năm: Thành lập đế

Sáu: Sự đế

Bảy: Sinh đế

Tám: Tận vô sinh đế

Chín: Nhập đạo trí đế

Mười: Khéo nhận biết về tất cả địa của Bồ tát, lần lượt thành tựu đế cho đến Thiện tri Như-Lai Trí thành tựu đế.

-Sớ từ câu: “Đáp lại, về danh tuy ở nơi Tiểu” tiếp xuống: Là thông tỏ một câu hỏi này, có hai ý:

Một: Bốn đế có tính chất bao hàm.

Hai: Chia, mở Quyền để hiển bày Thật.

Một: Câu: “Tên gọi tuy ở nơi Tiểu”: Trong kinh phần nhiều nói, vì cầu Thanh văn nên giảng nói về Tứ đế. “Nghĩa chung cả Đại, Tiểu”: Tức Sinh diệt, Vô sinh Tứ đế.

Nói: “Sự, Lý gồm đủ”: Như mười hai duyên chỉ là Sự mà không có Lý. Nay Diệt đế là Lý, mười hai nhân-duyên thì danh rộng mà sự tóm lược, Sự cũng chẳng đủ, chỉ có Khổ, Tập mà không có Đạo đế. Sáu Ba-la-mật thì chỉ hiển bày nẻo xuất thế-gian ấy, không có nẻo thế-gian, chỉ có Đạo, Diệt mà không có Khổ, Tập đế.

Từ câu: “Nghĩa là hai đế Khổ, Tập” tiếp xuống: Là nêu đầy đủ về Tướng.

Nói: “Thế giới có biến dị nhưng riêng ở đây không đổi” : chư Phật ở mười phương, xuất hiện ở đời giáo hóa chúng-sanh đều khiến họ lìa bỏ mọi hệ lụy thế-gian, chứng đắc Niết-Bàn, ba đời cùng như thế. Cho nên kinh Niết-Bàn nói: “Như-Lai xưa cùng với các ông chẳng rõ về bốn chân đế nên mãi bị lưu chuyển trong biển khổ lớn sinh tử.”

Từ câu: “Huống hồ là Vô lượng vô tác” tiếp xuống: Là gồm thâu hai lớp sau. Chỉ dùng hai lớp trước về Tánh Tướng gồm đủ, bao hàm cả Đại, Tiểu, huống hồ là còn thêm hai loại ấy nữa, thì diệu chỉ của cái Thật duy nhất chính là ở đấy.

-Sớ từ câu: “Lại vì nhằm phá trừ vọng chấp, dẫn dắt căn cơ” tiếp xuống: Là phần thứ hai, mở Quyền để hiển bày Thật.

Do các kinh phần nhiều nói bốn đế là Tiểu-thừa, nay mở ra chỗ giới hạn ấy, gọi là hiện hữu khắp Pháp giới, trừ bỏ chỗ chấp về Tướng tức hội nhập nẻo Vô sinh, dẫn vào Nhất thừa tức gặp nẻo chân thật. Huống chi là sáu độ v.v. mà chẳng hiện hữu khắp sao?

Phần thứ năm là chính thức giải-thích văn. Sớ: “Như đem sợi lông mi đặt trong lòng bàn tay thì chẳng biết”: Hoàn toàn là nơi Luận Câu Xá. Phần Tụng có đoạn:

“Cho nên đem sợi lông mi

Đặt lòng tay chẳng biết

Nếu chạm nơi con ngươi

Tất khổ cực chẳng an

Phàm phu như bàn tay

Chẳng rõ Hành khổ nhỏ

Kẻ trí như con ngươi

Duyên cực sinh chán sợ.”

Câu: “Mà lại dùng khổ để dứt bỏ khổ”: Tức nơi Kinh Pháp Hoa, quyển thứ nhất. Kệ của kinh có câu:

“Chẳng cầu thế lớn Phật

Cùng pháp đoạn trừ khổ

Vào sâu nẻo tà kiến

Dùng khổ để bỏ khổ

Vì những chúng-sanh ấy

Mà khởi tâm đại bi…”

-Sớ: “Nghĩa là có Hoặc Nghiệp trói buộc nơi ba cõi”: Rõ ràng là nơi ba thứ tạp nhiễm thì Hoặc Nghiệp là nguyên nhân, có riêng nhiều thứ nhưng chung qui không ra ngoài hai loại.

-Sớ: “Phiền não gọi là tranh cãi”: Tức nơi Luận Câu Xá. Luận viết: “Phiền não gọi là tranh tụng, làm loạn động phẩm thiện. Nay diệt trừ phiền não, nên gọi là không tranh cãi.”

-Sớ: “Chẳng phải chỉ diệt trừ Hoặc mà thôi”: Như Luận Thành Thật cũng nói về diệt. Ví như đèn diệt thì dầu và ánh sáng cùng hết, không có riêng một sự thật ở nơi chốn diệt tận ấy. Đại sư Tăng Triệu cũng dùng câu này: “Thật tức diệt trừ Hoặc thì Pháp thân thường trụ hiển bày có Thật thể.” Kinh Đại Bát Niết-Bàn, quyển thứ tư Ngài Ca diếp nêu câu hỏi: “Như chỗ Phật đã giảng nói, giống như ngọn đèn diệt thì không còn có phương hướng, nơi chốn. Như-Lai cũng thế, đã diệt độ rồi thì cũng không có phương hướng nơi chốn”. Phật bảo Ca diếp: “Thiện nam! Như người lúc đốt đèn thì bình đèn dù lớn hay nhỏ, ắt đổ đầy dầu vào trong bình ấy. Tùy nơi dầu mà đèn cháy, ánh sáng vẫn còn. Nếu dầu hết thì ánh sáng của đèn cũng dứt. Về ánh sáng của đèn dứt là dụ cho phiền não được diệt trừ sạch. Ánh sáng của đèn tuy dứt hẳn nhưng bình đèn thì vẫn còn. Như-Lai cũng như thế. Phiền não tuy dứt mà Pháp thân thường trụ.”

Phần văn tiếp theo sau lại nói: “Như ngọn đèn không còn cháy sáng nữa là Niết-Bàn của A-la-hán.” Phẩm Tứ đế (kinh đại Bát NiếtBàn) có câu : “Như nói tu tập về pháp Không thì đó là bất thiện, tức hủy hoại tất cả pháp tạng chân thật của Như-Lai, đồng với ngoại đạo. Cho nên biết, thể của diệt pháp ấy là chân thật.”

Câu: “Tiếp theo nói: Tự tánh an trụ” là làm rõ nghĩa chân thật của Thể nơi văn nêu trên. Tức Thể chân thật thì phân biệt chẳng phải là hư vọng và chẳng phải là rỗng không, không có. Nói: “Tự tánh an trụ”, tức là Pháp trụ, là chỗ đứng đúng của Pháp. “Xưa nay tịch diệt” tức là xác nhận nghĩa “Tự tánh an trụ” nơi văn dẫn trên.

-Sớ: “Trong Tập là ngọn nguồn của bệnh, nghĩa là có sự vin, dựa duyên kết.” Tức nơi Kinh Tịnh Danh, quyển thứ hai. Kinh viết: “Thế nào là gốc của bệnh ? Là do có vin dựa duyên kết. Từ chỗ có vin dựa, duyên kết, tức là gốc của bệnh.” Phần văn tiếp theo nói: “Làm thế nào đoạn trừ sự vin dựa, duyên kết? Là không thủ đắc. Nếu không thủ đắc thì không còn sự vin dựa, duyên kết.”

Giải-thích: chính là nêu ra gốc của bệnh, không thủ đắc là nhân thuận hợp.

-Sớ: “Hoặc do vọng khởi, số phần nhiều như cát bụi”: Tức nơi Kinh Đại Bát-nhã: “Bát-nhã Ba-la-mật-đa thanh tịnh, hoặc sắc thanh tịnh, hoặc Trí Nhất thiết trí thanh tịnh, không hai, không hai phần, không sai biệt, không đoạn diệt.” Không hai phần tức là một phần. Do vậy mà đại sư Đạo Sinh nói: “Muôn thiện lý đồng mà cùng bao gồm. Mất đi sự dị biệt mà biên vực dứt tuyệt. Khéo nhân ấy mà chế ngự Hoặc thành riêng, nên có tám vạn tên gọi của Hành. Hành tuy lắm vẻ nhưng cùng đạt quả là Bồ đề. Chung do một Lý dùng để thâu tóm thì đâu có hai phần? Lý chẳng thể phân vì như hư không.”

-Sớ: “Chốn đó ở nơi diệt.” Diệt là tối thượng, tức là sự đạt đến. Đạo có khả năng chứng đắc diệt nên là con đường đi hơn hết (Thượng hành). Chữ “Thượng hành” là ở nơi sách Chu Dịch. Quẻ Khiêm có câu: “Đường đất thấp mà là con đường đi hơn hết.” Phần Thoán từ của quẻ Phệ Hạp nói: “Mềm dịu thì được trung chính mà là con đường đi hơn hết.”

Chú thích: Thương hành (con đường đi hơn hết) nghĩa là ở chỗ tiến tới. Phàm nói: “Thượng hành” tức ở chỗ tôn quý. Nay mượn từ ấy để tạo thế cho câu văn.

-Sớ: “Nói quán phương nghĩa là quán về bốn đế”: Tức nơi kinh Đại Bát Niết-Bàn, quyển thứ ba mươi sáu, Phẩm Ca Diếp. Kinh viết:

“Như nơi bờ sông Hằng có bảy loại chúng-sanh:

Một: Loại luôn chìm Ẩn trong nước

Hai: Loại chìm rồi trở lại ra khỏi, ra khỏi rồi lại chìm

Ba: Loại chìm rồi nhưng lại ra khỏi, đã ra khỏi thì không chìm nữa.

Bốn: Là loại đã ra khỏi nước thì xem xét phương hướng.

Năm: Là hạng xem xét phương hướng xong rồi đi.

Sáu: Là hạng đi ra tới chỗ cạn thì đứng lại.

Bảy: Là hạng đi tới bờ bên kia.”

Văn nêu dẫn có lược bớt. Nay chỉ chọn lấy một nghĩa thứ tư là xem xét phương hướng. Kinh nêu : “Đó gọi là loại thứ tư quan sát khắp bốn phương. Bốn phương tức là bốn đế.”

Giải-thích: có thể quán bốn đế tức là đạo đế. Đạo gọi là xem xét phương hướng.

-Sớ: “Lại có bốn phương như Phẩm Thập Định”: Tức nơi Kinh Hoa Nghiêm, quyển thứ bốn mươi hai, trong phần dụ về ao A-nậu-đạt kết hợp với ao bốn phương. Kinh viết: “Phật tử! Những gì gọi là Bồ tát bốn phương? Đó là thấy tất cả Phật mà được mở bày, tỏ ngộ; Nghe hết thảy pháp, thọ trì chẳng quên; thực hiện viên mãn tất cả Hạnh Ba-lamật; Tâm đại bi thuyết pháp đầy đủ cho chúng-sanh.”

Giải-thích: Nếu quán về bốn thứ kể trên chính là con đường tu tập, hành hóa của Bồ tát.

-Sớ: “Sinh lão bệnh tử cũng như bốn núi đến hại người”: Là Kinh Đại Bát Niết-Bàn, quyển thứ hai mươi chín, trong phần giải-thích về tám dụ, chẳng phải là dụ có đoạn: “Thế nào là chẳng phải dụ? Như trước kia có lần Như-Lai nói với vua Ba Tư Nặc: Đại vương có người thân tín từ bốn phương đến đều nói với nhà vua: Đại vương! Có bốn ngọn núi lớn từ bốn phương lại muốn hại muôn dân. Nếu nghe như vậy thì đại vương sẽ lập kế gì? Vua đáp: Thế Tôn! Nếu quả như thế thì không còn có chỗ trốn tránh, chỉ nơi chuyên tâm trì giới, bố thí. Như-Lai khen ngợi: Lành thay! Đại vương! Như-Lai nói bốn ngọn núi tức là sanh lão bệnh tử của chúng-sanh. Bốn sự khổ ấy luôn đến để bứt hại muôn người tại sao đại vương chẳng tu tập bố thí, giữ giới?” tức là sự việc này. Cho nên người hiền cùng với kẻ không ra gì, khỏe mạnh, giỏi giang, ốm yếu, hèn kém cùng bị bốn khổ kia làm cho dời đổi. Toàn bộ không ai có thể thoát khỏi. Phạm vương, Đế thích, kẻ bần cùng, hạ tiện; Thuấn Nghiêu, Kiệt Trụ, tam miêu tứ hung… cùng qui về tro đất, đều là chỗ nương dựa của khổ.

-Sớ: “Từ Hoặc sinh Hoặc là nghiệp”: Tức nơi Luận Câu Xá. Phần Tụng đầy đủ là:

“Từ Hoặc sinh Hoặc, Nghiệp

Từ Nghiệp sinh nơi sự

Theo sự sự Hoặc sinh

Có phân lý ở đấy.”

Kệ này đến phần bàn về sáu địa sẽ giải-thích. Nay chỉ nhằm giải-thích ý nghĩa của câu: Từ “Hoặc sinh Hoặc” tức là từ Ái sinh ra Thủ. Nói “Từ Hoặc sinh Nghiệp” tức từ Thủ sinh Hữu, cùng Vô minh sinh Hành. Sự tức là khổ. Nay chỉ nói về Tập nên chỉ nêu lên Hoặc, Nghiệp.

-Sớ: “Như ấn sáp in vào đất sét”: Tức nơi kinh Đại Niết-Bàn quyển thứ hai mươi chín, phần tiếp sau sẽ giải-thích rộng. Văn nơi bản Sớ giải của phần tiếp theo tức là văn của kinh ấy. Nay sẽ lược dẫn. Kinh nói: “Thiện nam! Như mặt trời sắp lặn thì bóng của núi đồi gò đống ngã về hướng đông, lý không trở về phía tây.Quả báo của chúng-sanh cũng lại như thế. Lúc thân năm ấm này diệt thì thân năm ấm kia nối tiếp sinh ra. Như đèn cháy thì bóng tối mất, đèn tắt thì bóng tối hiện ra. Này Thiện nam! Như ấn sáp in vào đất sét, ấn cùng đất sét hợp, tan rã thì chữ nổi lên. Mà ấn sáp này chẳng biến nơi đất sét, nét chữ chẳng phải từ đất sét sinh ra, cũng không từ nơi khác tới, do ấn làm nhân-duyên mà sinh ra nét chữ ấy. Năm ấm hiện tại diệt, thân trung ấm liền sinh. Năm ấm hiện tại trọn chẳng biến làm thân Trung ấm. Thân Trung ấm cũng chẳng phải tự sinh, cũng chẳng từ nơi khác đến. Nhân nơi thân hiện tại mà sinh thân trung ấm. Như ấn sáp in nơi đất sét, ấn rã thì nét chữ thành hình. Tên gọi tuy không sai biệt mà thời tiết thì có riêng khác.”

Giải-thích: Nghĩa thì đến phần dưới sẽ giải-thích. Nay ý là ở chỗ “Phá trừ ấn kia”. Ấm tức là khổ. Nếu chứng đắc Lý của diệt thì Am của hiện tại chẳng còn là nhân của ấm sau. Ấm sau không sinh tức là “Phá trừ ấn” vậy.

-Sớ: “Soi chiếu Thật thì sanh tử có thể tận cùng.” Đây là chình thức xác lập Lý.

Từ câu: “Cho nên Trung Luận có câu” tiếp xuống: Là dẫn chứng.

Trước hết nêu văn nơi kệ tức Phẩm quánTà kiến. Kệ viết: “Nếu thế-gian hữu biên Vì sao không đời sau?

Nếu thế-gian vô biên

Vì sao có đời sau?”

Trên là giải-thích theo lối đảo ngược vấn đề. Phần tiếp theo nói:

“Năm ấm luôn nối tiếp

Cũng như đèn tỏa sáng Do vậy nơi thế-gian Chẳng hữu biên, vô biên”.

Giải-thích: Do duyên sinh nên Tánh không, chẳng thuộc hữu biên, vô biên. Lại viết:

“Pháp thật cùng người thuyết Người nghe khó đạt được”

Đây là căn cứ nơi Tướng mà nói. Không kết hợp với nhân duyên thì sinh tử là vô biên, kết hợp thì hữu biên. Ở đây có ba sự:

Một: Pháp chân thật như thuốc hay Hai: Người thuyết giảng như thuốc hay Ba: Người nghe như bệnh có thể trị được.

Như hội đủ ba sự ấy thì bệnh phiền não sẽ khỏi. Sinh tử có thể dứt tận. Dứt tận tức là Hữu biên. Chẳng hội đủ ba sự ấy thì phiền não lan tràn, sinh tử không bờ. Đây tức là vô biên. Cho nên kết luận nói: “Chẳng phải là Hữu biên, chẳng phải là Vô biên.”

-Sớ từ câu: “Nghĩa là ba sự khó được” tiếp xuống: Là văn nơi bản Sớ giải giải-thích câu kệ trên, tức ý của đại sư Ảnh (Đàm Ảnh). Đại sư giải-thích cho rằng: “Khó đạt được nên chẳng phải là Hữu biên. Khó đạt được nên chẳng phải là Vô biên.” Câu nói hầu như khó nhận thức nên nắm lấy ý để giải-thích. Nói “khó đạt được” chẳng phải là hoàn toàn không đạt được. Nếu hoàn toàn không đạt được thì toàn bộ là Vô biên. Nay có đạt được thì đạt được tức Hữu biên. Do “khó đạt được” nên là Vô biên… Đây cũng như căn cứ vào một người mà nói, nếu đối chiếu chung thì khó có biên vực.

-Sớ: “Nghiệp nương nơi Tập”: Tức giả như tu tập nghiệp thiện, tâm tu là Hữu lậu thì nương nơi Tập đế, nhân dứt báo cũng hết, nên gọi là “Trở lại là không”. Tâm tu là vô lậu thì nương nơi đạo, đạo khế hợp với Lý nên hướng thẳng tới Bồ đề.

-Sớ: “Hai mươi lăm cõi đều là một phần”: Tụng viết :

“Bốn châu, bốn cõi ác

Phạm vương, trời Lục dục

Vô tưởng, năm A-Hàm

Bốn không cùng bốn Thiền.”

Nói rộng như nơi Kinh Đại Bát Niết-Bàn quyển thứ mười bốn.

-Sớ: “Số Thể tức là Tập”: Pháp hữu vi gọi chung là Số. Cũng là Số của Tâm. Nay trong phần chung chọn lấy cái riêng, nên gọi: “Tức là Tập.”

-Sớ: “Không có một Lý để xâu lại thì Nghiệp Hoặc có muôn thứ sai biệt”: Đại sư Đạo Sinh nói: “Phàn thuận nơi Lý, tâm sinh gọi là Thiện, trái ngược lại là ác. Muôn thiện lý đồng mà tướng cùng mất, dị biệt mà biên vực dứt tuyệt.” Tức là nghĩa này.

-Sớ: “Chưa hội nhập nơi Nhẫn lại luôn có tánh đọa”: Tức nơi

Luận Câu Xá. Luận viết: 

“Noãn ắt đến Niết-Bàn

Đảnh trọn chẳng dứt thiện

Nhẫn chẳng đọa cõi ác

Nhập ly sinh đệ nhất”

Trong bốn thiện căn thì thiện căn thứ ba mới khỏi bị đoạ nơi địa ngục. Cho nên biết thân của khổ nương dựa là Tánh địa ngục.

-Sớ: “Đồng với Kinh Tịnh Danh, năm thọ ấm rỗng suốt không…”: Tức kinh Tịnh Danh, chương Ca-chiên-diên (Phật bảo Tôn giả Ca-chiêndiên đến thăm bệnh Trưởng giả duy Ma). Kinh viết : “Chẳng sinh chẳng diệt là nghĩa vô thường. Năm thọ ấm rỗng suốt không không hề dấy khởi là nghĩa khổ. Các Pháp hoàn toàn không thật có là nghĩa Không. Ở nơi ngã, vô ngã mà bất nhị là nghĩa vô ngã. Pháp vốn chẳng sinh nhưng nay thì chẳng diệt là nghĩa tịch diệt.” Nay chính là nhấn mạnh ở câu thứ nhất. Đến Hội thứ ba sẽ rộng, phân biệt. Đại sư Đạo Sinh nói: “Khổ là sự việc kết hợp đã thành tựu, há có thể có chăng?” Do vậy mà nói “Năm thọ Ấm không là nghĩa của khổ.” Năm thọ ấm là chủ của khổ. Vô thường khước từ sinh cùng diệt, sự việc chẳng ở nơi một, lại chung cả hữu lậu, vô lậu nên nói các pháp khổ. Do tức Thể là không có nghĩa dấy khởi nơi bên trong, lại đạt được vô lậu, chẳng do mất thọ dẫn đến khổ, nên chỉ nói thọ ấm mà thôi.

“Rỗng suốt” là Khổ lấy Không làm Thể. “Rỗng suốt” không có gì dấy khởi, là giả kết hợp với pháp thích nghi phối hợp dấy khởi.

-Sớ: “Ái kiến v.v…”: Ái kiến La sát phần trước đã giải-thích xong. Hai địa nơi kinh viết: “Thân kiến La sát ở trong ấy chấp giữ. Đem chỗ ấy vĩnh viễn đi vào rừng rậm aí dục.”

Nói là vọng thể vốn rỗng không nên không thể giữ lấy.” : Là do hai nghĩa:

Một: Đoạn trước gọi là “Chấp giữ”, đoạn sau gọi là “không có gì để giữ lấy” (vô sở thủ) nghĩa giống như là trái ngược nhau. Cho nên văn nơi bản Sớ giải nhắc lại chỗ giải-thích, tiếp theo dưới là nêu dẫn Trung luận để giải-thích “Vô sở thủ”, tức là Phẩm Hành. Hành tức là Ấm. Nghĩa là người Tiểu-thừa cho Bồ tát lập luận có lỗi, nói: “Nếu tất cả pháp Không thì do đâu Phật thuyết giảng là đã hư dối vọng giữ lấy?

Nếu có vọng chấp giữ nơi pháp thì chẳng phải không.” Kệ viết:

“Như Phật dạy nơi kinh

Hư vọng chấp giữ tướng

Các pháp vọng chấp giữ

Đó gọi là hư dối.”

Nên Luận chủ nêu kệ để đáp, tức như văn nơi bản Sớ giải đã dẫn kệ (kẻ vọng chấp, hư dối; trong ấy chỗ chấp gì?). Ở đây phần đáp lại ý nói: Do chẳng thấu rõ về không, trong đó không có gì để chấp giữ mà sinh chấp giữ, vướng mắc nên gọi là vọng chấp. Nếu có cái gì để có thể chấp giữ thì chẳng gọi là vọng chấp. Cho nên biết: Nói rõ về vọng chấp chính là thuyết giảng về Không. Như trách người mắt bị nhậm vọng chấp về hoa đốm nơi hư không cũng chính là hiển bày hoa ấy là không thật có.

-Sớ: “Tánh của diệt là lìa ngôn từ”: Tức là tướng của các pháp là vắng lặng chẳng thể dùng ngôn từ để diễn nói.

Câu: “Đạo thì khiến ngôn lìa”: Tức Tâm bặt là chỗ tận cùng của Thể lìa ngôn từ, khế hợp với sự vắng lặng.

-Sớ: “Vô vi, không nhân mà Thể là quả”: Tức nơi Kinh Đại Bát Niết-Bàn, Phẩm Sư Tử Hống. Kinh viết: “Niết-Bàn không nhân mà Thể là quả. Nếu Niết-Bàn có Nhân thì chẳng được gọi là Bát Niết-Bàn. Nghĩa là Thể của Niết-Bàn hoàn toàn là không nhân, như không ngã, không ngã sở. Cũng như Luận Câu Xá nói: “Vô vi, không nhân quả.” Tức là nơi sáu nhân không có năm, chỉ có chủ thể tạo tác, nên gọi lìa bỏ nhân mà Thể là quả chính là quả ly hệ (lìa trói buộc).”

Câu: “Đạo của Bồ đề, đối chiếu với đây cũng là nhân” : chính đạt được Bồ đề là chứng đắc Niết-Bàn, nên Bồ đề ấy cũng gọi là Nhân, là nhân trong quả. Lý diệt nơi Niết-Bàn cũng là quả của nơi chốn nhân. Lại nữa, Bồ đề ấy là quả của nơi chốn quả.

-Sớ: “Chẳng phải tập đạo học nổi chìm mà chẳng dứt”: cũng là nơi Kinh Đại Bát Niết-Bàn, quyển thứ ba mươi hai, Phẩm Sư Tử Hống. Ý của bảy người nơi sông Hằng. Tập đạo là pháp học. Bơi nổi là dụ. Trong Kinh, nhân Bồ tát Sư Tử Hống hỏi: “Nếu tất cả chúng-sanh cho đến hạng Xiển đề khẳng định là có Phật tánh, tức quyết định sẽ đạt tới vô thượng Bồ đề. Thế thường do đâu tất cả chúng-sanh chẳng được Niết-Bàn? Nếu có diệu lực của Phật tánh thì đâu cần phải tu tập Bát chánh đạo v.v.?” Phật liền khen ngợi, nhân đấy nêu lên dụ kia. Phật nói: “Lành thay! Lành thay! Này Thiện nam! Như bên sông Hằng có bảy hạng người, hoặc vì tắm rửa, hoặc sợ giặc cướp, hoặc để hái hoa mà vào trong sông :

Người thứ nhất: Vào trong nước thì chìm. Vì sao? Là vì yếu đuối lại không biết bơi lội.

Người thứ hai, tuy bị chìm nhưng lại nổi, nổi rồi lại chìm. Vì sao? Vì có sức mạnh nên nổi lên, do chẳng biết bơi nên lại bị chìm.

Người thứ ba: bị chìm rồi liền nổi lên, nổi lên rồi thì không bị chìm, do có sức mạnh nên nổi lên, và vì biết bơi nên không bị chìm nữa.

Người thứ tư: Vào nước liền chìm, chìm rồi lại nổi, nổi rồi thì chẳng bị chìm nữa mà nhìn xem khắp bốn phương. Vì sao? Vì thân nặng nên chìm, nhờ có sức mạnh nên lại nổi lên. Vì biết bơi lội nên không bị chìm nữa, do không biết tiến phía nào nên nhìn xem khắp bốn phương.

Người thứ năm: Vào nước liền chìm, chìm rồi lại nổi, nổi rồi thì chẳng bị chìm nữa, nhìn xem phương hướng rồi bơi đi. Vì sao? Vì có sự sợ sệt.

Người thứ sáu: Vào nước thì bơi đi, tới chỗ cạn thì đứng lại. Vì sao? Vì để xem giặc cướp ở gần hay xa.

Người thứ bảy đã qua đến bờ bên kia, leo lên núi lớn, không còn sợ hãi, đã thoát khỏi giặc cướp, lòng rất vui sướng.

Này Thiện nam! Sông lớn sinh tử cũng lại như thế! Có bảy hạng người vì sợ giặc phiền não nên dốc tâm muốn lội qua sông ấy.” Từ đây… trở xuống thì dùng nghĩa để tóm dẫn kinh văn.

Hạng người thứ nhất, tức chỉ cho người xuất gia mặc pháp phục, nhưng lại gắn bó với bạn xấu ác, nghe theo lời họ mà nhận pháp tà, bài bác nhân quả, là hạng Nhất xiển đề, bị chìm đắm trong sông sinh tử không thể ra khỏi được .

Hạng người thứ hai, muốn vượt qua sông sinh tử vì dứt mất thiện căn nên bị chìm đắm không thoát được. Nhờ gần gũi với bạn lành có được tín tâm nên nổi lên. Nhưng lại gặp bạn ác, nên lại mất thiện căn, do đấy lại bị chìm.

Hạng người thứ ba, do dứt mất thiện căn nên bị chìm đắm. Nhờ gần gũi với bạn lành, có được tín tâm nên nổi lên. Tín tâm là tin NhưLai thường trụ, tu tập giới tịnh, đọc tụng biên chép mười hai bộ kinh, trụ vững nơi bố thí, trí tuệ, nên gọi là chẳng bị chìm. Tu tập về giới, bố thí, trí tuệ tức là tập bơi lội.

Hạng người thứ tư, không bị chìm nữa cùng an trụ, đều giống với người thứ ba, chỉ hợp với việc nhìn xem khắp bốn phương. Gọi là xem khắp bốn phương tức bốn quả Sa môn.

Hạng người thứ năm, các nghĩa khác đều giống như trước, chỉ có phần “rồi bơi đi” tức tâm không thối chuyển, đã trụ nơi không thối chuyển rồi thì đi tới phía trước. “Đi tới thẳng phía trước” là chỉ cho Bích chi Phật.

Hạng người thứ sáu: Nơi phần dụ nêu trước chỉ nói: Vào nước rồi liền bơi đi, cùng đến chỗ cạn, trong chỗ hợp cũng giống với người thứ năm, đều có: chìm xuống, nổi lên, đứng yên, bơi đi. Đi tới chỗ cạn liền trụ ở đấy, nghĩa là chư vị Bồ tát muốn cứu độ chúng-sanh, nên trụ lại để quan sát về phiền não.

Kinh viết: “Người thứ bảy dốc ý muốn vượt qua sông lớn sinh tử, do mất thiện căn nên bị chìm đắm trong ấy. Nhờ gần gũi với bạn lành, đạt được tín tâm. Được tín tâm rồi thì gọi là nổi lên. Do có tín tâm nên đã thọ trì, đọc tụng, biên chép, giảng giải mười hai bộ kinh, vì chúngsanh mà nêu giảng rộng, phát huy, lưu hành, ưa thích bố thí, tu tập trí tuệ, nhờ căn trí lanh lợi nên trụ vững nơi tín tuệ, tâm không thối chuyển. Tâm không thối chuyển rồi tức liền đi tới phía trước, thẳng đến bờ kia, leo lên núi cao lớn, lìa khỏi mọi sợ hãi, thọ nhận nhiều an lạc.”

Này Thiện nam! Núi nơi bờ kia là dụ cho Như-Lai. Nhận được sự an lạc là dụ cho Phật thường trụ. Núi cao lớn là dụ cho Đại Niết-Bàn. Này Thiện nam! Những người ở bên sông Hằng ấy đều có đầy đủ chân tay mà không thể qua sông được. Tất cả chúng-sanh cũng lại như vậy. Thật sự là có Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo, Như-Lai luôn giảng nói về ý nghĩa của các pháp căn bản như tám Thánh đạo, Đại Bát Niết-Bàn, nhưng các chúng-sanh đều chẳng thể đạt được! Đây chẳng phải là lỗi của Như-Lai, cũng chẳng phải là lỗi của Thánh đạo, của chúng-sanh.

Cho nên biết thảy là lỗi ác của phiền não, do vậy mà hết thảy chúngsanh chẳng đạt được Niết-Bàn.”

Giải-thích: Đã rõ chúng-sanh tuy có Phật tánh nhưng cần phải tu tập theo chánh đạo thì mới đạt đến bờ giải thoát.

-Sớ: “Thân cùng với phiền não hỗ tương nương dựa, diễn tiến đến vô cùng.”: Tức cũng nơi Kinh Đại Bát Niết-Bàn quyển thứ bốn mươi, Phạm-chí Nạp Y nêu câu hỏi: “Như lời Cù Đàm giảng nói, trong vô lượng đời làm điều lành, điều chẳng lành, đời vị lai trở lại được thân lành, chẳng lành, nghĩa ấy chẳng phải như thế. Vì sao? Vì như Cù đàm đã nói, nhân nơi phiền não nên có được thân này. Nếu nhân nơi phiền não mà có được thân này thì thân có trước hay phiền não có trước? Nếu phiền não có trước thì ai tạo ra và ở tại nơi nào? Nếu thân có trước thì sao lại nói là nhân nơi phiền não mà có thân? Do đó nếu nói phiền não có trước hay thân có trước đều không được. Nếu nói cùng thời thì cũng chẳng được. Vậy là trước, sau, đồng thời, nghĩa đều chẳng được. Vì thế, tôi nói tất cả các pháp đều có tự tánh, chẳng phải từ nơi nhân-duyên.”

Phần kinh tiếp dưới đáp lại nói: “Thiện nam! Ông hỏi thân là có trước hay phiền não có trước, nghĩa này không đúng. Vì sao? Vì nếu ta nói thân có trước thì ông mới nêu vấn nạn. Ông cũng đồng với ta cho thân chẳng có trước, cớ sao lại nêu vấn nạn như vậy?

Này Thiện nam! Tất cả chúng-sanh thân cùng với phiền não không có trước sau, chỉ đồng một thời mà có, tuy là một thời mà có, nhưng phải nhân nơi phiền não mà có được thân, trọn chẳng nhân nơi thân mà có phiền não.”

Giải-thích: ở trên có ba sự quan hệ: Trước, sau, một thời. Phật bỏ trước, sau, chỉ dùng một thời. Nhưng sợ còn nêu vấn nạn về một thời nên Phật tự ngăn chận:

Theo ý của ông cho rằng, như đôi mắt của con người đồng thời mà có, chẳng cùng nhờ vào nhau, mắt bên trái chẳng nhờ nơi mắt bên phải, mắt bên phải chẳng nhờ nơi mắt bên trái, phiền não và thân cũng lại như vậy. Nghĩa này chẳng đúng. Vì sao? Vì trong đời, con mắt trông thấy ngọn đèn cùng với ánh sáng tuy lại đồng một thời, nhưng ánh sáng phải nhân nơi ngọn đèn, chẳng phải là nhân nơi ánh sáng mà có ngọn đèn.”

Giải-thích: ở đây Phật đã đáp rõ: Một thời, nhân-duyên hai nghĩa cùng thành. Cho nên nay văn nơi bản Sớ giải viết: “Thân cùng với phiền não hỗ tương nương dựa. Nói “Hỗ tương nương dựa”, tức là nghĩa cùng thời. Chẳng phải là nhân nơi thân mới có phiền não nhưng là nhân nơi phiền não mà có được thân. Phiền não là chủ thể phát sinh. Lại dựa nơi thân để trụ, vậy cũng chẳng nên nêu vấn nạn: “Lúc chưa có thân thì phiền não dựa vào cái gì?” Do đấy nói là: “Cùng nương dựa”. Cả hai cùng nhân chỗ nương dựa mà diễn tiến đến vô tận. Nếu chứng đắc Lý của diệt thì nhân là Hoặc (phiền não) chẳng sinh. Hoặc đã chẳng sinh thì thân từ đâu mà có được? Chẳng những chỉ thân tịch diệt chứng đắc nơi chẳng sinh mà nhận thức về sự diễn tiến cũng đều vắng lặng.”

-Sớ: “Đạo gọi là tánh rộng lớn, không nơi nào là không hiện hữu”: Câu: “Đạo không nơi nào là không hiện hữu” là nơi sách Nam Hoa Kinh của Trang Tử. “Đông Quách Tử hỏi Trang Tử: Đạo ở nơi đâu ? Đáp: Không nơi nào là không có nó. Hỏi: xin chỉ ra mới được. Đáp: Đạo ở nơi gạch ngói. Hỏi : Thấp hơn nữa. Đáp: ở nơi cục phân. Hỏi: Rất thấp hơn nữa. Đáp: Đạo không nơi nào là không hiện hữu.” Quan điểm này cho Hư vô, tự nhiên là đạo. Không pháp nào không là hư vô, tự nhiên, nên không đâu là không có mặt. Nay chỉ dùng chỗ cùng loại kia, tức Chân như tịch diệt thì không nơi cốn nào là không hiện hữu. Đạo phù hợp nơi diệt nên chỗ nào mà chẳng có mặt.

-Sớ: “Tức biết thế giới Mật Huấn cùng với Hư không là chủ, thâu tóm bạn cũng thế.” Ở đây có hai lớp:

Một: Nghĩa là đức Thich Ca ở cõi này là chủ, thâu tóm thế giới Mật Huấn v.v… là bạn. Tức tại thế giới Mật Huấn là chủ, thâu tóm thế giới Ta Bà v.v… là bạn cũng thế. Mới là đế của một Phật.

Hai: Như Phật ở đây gọi về đế, đã là chủ bạn vô tận, tức thế giới Mật Huấn cùng với Phật ở đấy là chủ thì gọi về đế cũng vậy.

Phẩm 9: QUANG MINH GIÁC

-Sớ: “Trước chỉ gọi là đế, là biến hiện riêng v.v…”: Như nơi Phẩm Danh hiệu, Như-Lai ở đấy gọi là Tất-đạt-đa v.v… Tại Thế giới Mật Huấn v.v… tên gọi thì chẳng đồng. Mười phương cũng giống như vậy. Tên gọi về đế cũng thế. Đây là một lớp biến hiện riêng.

Hai, gọi là biến hiện khắp mà chẳng phải là sự biến hiện của đế. Đế biến hiện mà chẳng được gọi là biến hiện khắp. Cho nên viết: “Gọi là đế biến hiện riêng.”

Nói: “Nay một Hội này tức biến hiện khắp pháp giới”: Kinh viết: “Như ở nơi đây thấy Phật Thế Tôn, an tọa nơi tòa Sư Tử của Liên Hoa Tạng, còn kia là tận cùng hư không, khắp pháp giới, trong cõi Diêm-phù-đề của tất cả thế giới cũng thấy Phật an toạ như thế.” Đây là tướng biến hiện chung. Đối hợp với hai cái riêng ở trên cũng có hai cái chung.

Một là Biến hiện chung các nơi.

Hai là Chủ, bạn, thời, xứ cùng đều biến hiện khắp.

Nói: “Đồng thời” tức là không có trước sau.

Nói: “Đồng xứ”: ở đây có hai xứ:

Thứ nhất : căn cứ nơi chủ, đồng tại điện Phổ Quang Minh.

Thứ hai, căn cứ nơi bạn, cùng ở nơi thế giới Kim Sắc v.v…

Nói: “Đồng chúng”: cũng có hai chúng.

Một: căn cứ nơi Phật chủ, với số Bồ tát nhiều như số vi trần nơi mười cõi vây quanh.

Hai: Căn cứ theo chúng là bạn, tức là Văn Thù v.v… chư vị Bồ tát vân tập đến, mỗi vị đều dẫn theo số Bồ tát nhiều như số vi trần nơi mười cõi Phật.

Nói: “Đồng thuyết giảng”: Tức tất cả xứ, Văn Thù đồng thời phát ra âm thanh nói kệ, cả pháp giới đều cùng thuyết giảng về mười Tín.

Nói: “Đồng biến hiện khắp”: Tức là tóm kết các phần đồng nêu trên, nghĩa là Chủ, Bạn, Thời, Xứ thảy đều biến hiện khắp.

-Sớ: “Bảy là biến hiện viên dung.”

Hỏi: Đây với phần sáu có gì khác nhau? Phần thứ sáu cũng gọi là sự biến hiện riêng của đế. Nay cũng nói: sai biệt mới có thể biến hiện. Phần thứ sáu cho rằng: Một Hội tức biến hiện. Nay cũng bảo: Không sai biệt, tất cả biến hiện. Hai tướng khó phân.”

Đáp: Suy xét kỹ mới thấy rõ. Trước là Tổng, Biệt (chung, riêng) đối nhau. Còn đây là Viên, Biệt (Viên dung, riêng biệt) dối nhau.

Hai chốn Biệt thì phần lớn là đồng, nhưng về Viên, Tổng thì khác với trước.

Nói: “Tổng, Biệt”: Biệt thì cõi này cõi khác mỗi mỗi đều chẳng đồng. Tổng thì chốn chốn đều đồng với một cõi ở đây. Nay nói Viên, Biệt”: Biệt tức phải có sai biệt mới có thể biến hiện. Nếu chẳng sai biệt thì chẳng thể biến hiện. Còn Viên thì chẳng cần phải sai biệt mà vẫn có thể biến hiện khắp chốn. Pháp của chủ thể biến hiện khắp chốn mỗi mỗi đều viên dung, nên gọi là “Không sai biệt”. Một biệt, tất cả biệt tức là biến hiện viên dung tất cả. Chữ tất cả ở trên là Chủ, Bạn, Xứ, Chúng, là tất cả của chủ thể biến hiện. Chữ tất cả ở dưới chính là tất cả xứ của đối-tượng được biến hiện.

Nhưng nói “Viên dung”: Một Hội tức là tất cả Hội kia, cũng chẳng phải là chốn chốn đến Hội này. Túc đây, tức kia, tức một, tức nhiều nên gọi là viên dung. Lại nữa, phần thứ sáu căn cứ nơi xứ của đối-tượng được biến hiện để luận về Tổng Biệt. Tên gọi của Đông chẳng phải là tên gọi của Tây, là cái riêng (Biệt) của đối-tượng được biến hiện.

Hội này tức Hội kia, là cái chung (Tổng) nơi xứ của đối-tượng được biến hiện. Phần thứ bảy thì căn cứ nơi chủ thể biến hiện để bàn về Viên, Biệt, nên cần có pháp của sự sai biệt thì mơí có thể biến hiện khắp. Thân ấy gọi là sai biệt. Nay thì viên dung, pháp không sai biệt, tức chủ thể biến hiện nên gọi là Viên. Cái Biệt của trước như tinh tú hiện ra khắp nơi chín phương Trời. Còn cái Biệt ở đây thì như một mặt trăng hiện có nơi trăm dòng sông. Cho nên trước gọi: “Biệt thì hai xứ phần lớn đồng nhau.” Phần lớn đồng tức có “Tiểu dị”, nên cái Tổng của trước như một đám mây có mặt khắp vũ trụ. Còn cái Viên ở đây thì như mùi hương hòa hợp biến khắp một nhà. Cho nên viết là “Tổng, Viên thực sự là có khác nhau.”

-Sớ: “Phần thứ hai là giải-thích tên gọi của Phẩm.” Văn nơi bản Sớ giải gồm hai phần:

Một: Nêu đúng tên gọi.

Hai: Từ câu: “Như từ chia ra…” tiếp xuống: Là giải-thích tên gọi.

Trong phần một, trước là chia ra, chính thức có ba lớp nghĩa bao hàm bốn cặp:

Một: Hai Quang (Thân quang, Trí quang).

Hai: Hai Giác (Giác tri, Giác ngộ).

Ba: chủ thể, đối-tượng.

Nơi nghĩa của chủ thể đối-tượng phân ra làm hai :

Thứ nhất: chủ thể, đối-tượng của hai Quang ở trên Thứ hai: chủ thể đối-tượng của hai Giác ở dưới.

Từ câu: “Như-Lai phóng hào quang nơi Thân” tiếp xuống là phần hai, chỉ rõ riêng về Tướng của bốn đối nêu trên. Nghĩa là phân ra hai Quang đều thuộc Văn Thù cùng Phật với hai Giác phối hợp riêng với hai Quang của Thân, Trí. Nhưng trong hai Quang đều có hai lớp chủ thể đối-tượng. Tức Như-Lai phóng thân Quang là chủ thể soi chiếu. Soi chiếu sự pháp giới là đối-tượng được soi chiếu. Khiến cho Bồ tát giác tri tức là Chủ thể Giác. Nhận thức về sự không bị ngăn ngại là đối-tượng được Giác. Đối-tượng được Giác tức do soi chiếu mà được tăng trưởng thành tựu. Ở trên là Sự nơi phần văn xuôi.

Hai là Văn Thù dùng Trí quang tức chủ thể soi chiếu. Cùng soi chiếu cả Sự, Lý tức đối-tượng được soi chiếu. Khiến cho đại chúng Giác ngộ tức là Chủ thể giác. Tánh, tướng của pháp tức đối-tượng được giác. Đối-tượng được giác tức do soi chiếu mà được thành tựu, tăng trưởng, là ý của phần kệ Tụng.

-Sớ từ câu: “Hai là hợp lại” tiếp xuống: Là hợp bốn đối nêu trên, nghĩa có năm lớp, văn có sáu chi tiết:

Tiết Thứ nhất:

Một: Hợp hai cảnh. Tức đối-tượng được soi chiếu ở trước. Nếu Sự, Lý không dung thông thì những cái khác đều chẳng hợp được nên trước cần nêu rõ.

Nói: “Cho nên được một Sự, tức biến hiện vô biên mà không hủy hoại tướng gốc” tức đối-tượng được giác nêu trước, nhận thức về sự không ngăn ngại.

Hai: Câu: “Thân, Trí không hai”: Là chi tiết hai, hợp hai Quang. Nêu dẫn kinh Đại Bát Niết-Bàn để làm rõ: Bồ tát Lưu Ly Quang phóng ánh sáng từ thân, đại sĩ Văn Thù bèn nói: Ánh sáng gọi là Trí tuệ. Cho nên biết hai Quang là không tách biệt. Đây là quyển thứ hai mươi mốt, kinh Đại Bát Niết-Bàn.

Ba: Từ câu: “Tri, Ngộ chẳng khác”: Tiếp xuống: Là hợp hai Giác. Tức là ở trước nói Thân quang tỏa chiếu. Văn Thù v.v… giác tri hào quang của Như-Lai tỏa chiếu nơi cõi của mình. Nhưng Văn Thù v.v… giác tri là cái Tri của không Tri, nên gọi là cái tri của Tâm ngộ. Tri sự tức là Lý là hợp hai giác (Giác tri, Giác ngộ). Chẳng giống như hàng phàm phu v.v… chấp giữ nơi Tướng của Sự, Lý.

Bốn: Câu: “Lại, hai Quang này không khác với Cảnh của Giác”: Tức là hợp chủ thể , đối-tượng. Hai thứ chủ thể đối-tượng trong một lúc cùng hợp nhau, tức chủ thể soi chiếu, đối-tượng được soi chiếu, chủ thể giác, đối-tượng được giác, đều là Tánh dung thông, nên nêu lên một là gồm thâu hoàn toàn.

Năm: Câu: “Ba thứ viên dung ấy chính là pháp giới vô ngại” là dung hợp chung cả ba điều nêu trên. Ở trên tuy bốn đối mà Thể chỉ có ba. Tức là Quang của chủ thể Giác, Cảnh của đối-tượng được soi chiếu, Giác của đối-tượng được thành tựu, sáu pháp của ba đối nêu lên một thì gồm thâu hoàn toàn là một Pháp giới.

Trên đây là năm lớp đã hợp xong.

Sáu: Từ câu: “Tuy bình đẳng, dứt tuyệt Tướng” tiếp xuống: Là tóm kết, xác nhận về tên gọi của Phẩm. Ở trên chia ra nhiều là căn cứ nơi Tướng, hợp lại nhiều là căn cứ nơi Tánh. Tức chia ra, tức hợp lại, không hủy hoại Tánh tướng, nên gọi là Quang Minh Giác.

-Sớ: “Lại, giải-thích tên gọi cùng là nêu tông chỉ của Phẩm.”: Là xác lập tên gọi theo chỗ nơi tông chỉ. Là ý nối tiếp biện giải chỗ sâu xa của ý. Cho nên đại sư Hiền Thủ đã cho chỗ giải-thích tên gọi này là tông chỉ của Phẩm, cho phần ý nối tiếp ấy là chỗ sâu xa của ý.

-Sớ: “Thứ tư là giải chỗ nghi cho vấn nạn”: Văn có ba lớp:

Một: Nêu ra chỗ nghi do vấn nạn. Quang lúc nào thì phóng ra, dừng lại? Từ câu: “Nếu nêu giảng gọi là đế” tiếp xuống: Là dựa theo dấu vết để bàn rộng về vấn nạn. Trong phần đáp lại thì đầu tiên là chỉ rõ sự quyết đoán ở trước đối với chỗ nghi.

Từ câu: “Chính hai Phẩm trước” tiếp xuống: Là phần hai, vì đấy mà giải-thích chỗ vấn nạn. Nghĩa là hai Phẩm trước chưa cần phóng hào quang, nên trước chẳng nêu rõ. Trong phần này là khởi đầu cần thiết nên mới nêu bày. Bồ tát ở đây là nhắc lại phần trước, nên mười phương ở trước mỗi mỗi đều thuyết giảng riêng, còn ở đây thì cùng nhắc lại.

Hai: Từ câu: “Quang chiếu trăm ức” tiếp xuống: Là chỉ nêu vấn nạn mà không nghi.

Ba: Câu: “Lại nghi rằng: Phần ánh sáng tiếp sau đã tận cùng Pháp giới”: Là chỉ nghi mà không nêu vấn nạn. Chỉ nghi là thế giới Kim Sắc ở chốn nào, nên cho là chẳng quyết đoán. Ý nghi cho rằng: “Cõi này phóng quang mà cõi Kim Sắc v.v… cách cõi đây đều mười cõi Phật. Nay nếu Phật chủ phóng quang tỏa chiếu đến phương Đông nơi mười cõi Phật tức là cõi của Bồ tát Văn Thù với số Bồ tát cùng đi theo từ cõi ấy. Nếu hào quang lại tỏa tới mười cõi nơi phương Đông, thì thế giới Kim Sắc chính ở tại phương Tây của chốn phóng quang. Chín phương cũng giống như thế. Cho nên nói: “Thế giới Kim Sắc lại ở nơi nào?”

Chỉ nêu lên phương thứ nhất để đối chiếu chín sắc cũng giống như vậy.”

Từ câu: “Cõi hiện tại” tiếp xuống: Là phần đáp lại. Ý của phần đáp cho rằng: “Cõi chủ phóng quang hướng về phương Đông, thì mười cõi khác kia trong một lúc cùng hướng tới phương Đông. Cõi chủ như là bầu giữa các bánh xe. mười phương như thế giới Kim Sắc v.v… thì giống như tâm xe và vành bánh xe. Bầu giữa của bánh xe quay, di động thì tâm và vành xe cũng chuyển động theo.” Nên phần tiếp sau của Kinh Hoa Nghiêm có đoạn: “Tận cùng cõi hư không của Pháp giới, tất cả thế giới đều có trăm ức cõi Diêm-phù-đề với tất cả Như-Lai cũng an tọa như thế. Đều do thần lực của Phật nên mười phương đều có một vị đại Bồ tát với số Bồ tát cùng đi theo từ cõi ấy như thế giới Kim Sắc v.v… Như hướng về phương Đông đã vậy, biến hiện nơi chín phương còn lại cũng thế. Cho nên chủ cùng với bạn trong một lúc cùng biến hiện. Đã biến hiện khắp pháp giới thì phần chung là thế giới Sa-bà. Biến hiện khắp pháp giới đều là thế giới Kim Sắc. Cũng biến hiện khắp pháp giới đều là thế giới diệu sắc, tức mười sắc đều biến hiện. Vả như dựa nơi Hội này thì các Hội còn lại cũng biến hiện. Như đã bàn trong phần

Huyền đàm.”

Phần thứ năm là giải-thích văn:

-Sớ: “Trí luận quyển thứ chín nói: Từ nơi mặt dưới bàn chân phóng quang”: Thân có được nơi chốn an trụ nên gọi là ở chỗ bàn chân. Tức Luận ấy quyển thứ chín giải-thích Kinh: “Từ nơi Tướng bánh xe có ngàn tăm nơi mặt dưới bàn chân phóng ra sáu trăm vạn ức hào quang, biểu thị cho việc giảng nói về sáu độ.” Nghĩa có hai ý: Đây là ý thứ nhất, ý thứ hai cho rằng: “Lại nữa, trong một thân tuy đầu là quý mà chân thì thấp kém. Phật chẳng tự quý, hào quang chẳng vì sự lợi dưỡng. Do đó ở nơi chỗ thấp kém phóng quang.” Ý kinh này đã căn cứ nơi giáo tướng nên nêu ra sự giải-thích ấy. Nay văn căn cứ chỗ biểu hiện, nên chẳng chính thức sử dụng. Tức là nghĩa thứ hai: Hết sức thấp kém, nhỏ nhặt, nên đã thâu tóm.

-Sớ: “Thứ hai là ánh sáng đi đến chỗ sai biệt, giới hạn.” Văn nơi bản Sớ giải gồm có ba phần:

Một: biện minh ánh sáng đi đến chi tiết, số lượng.

Hai: Từ câu: “Nhưng chẳng phải nhiều” tiếp xuống: Là phân biệt rõ chẳng phải là ba, mà chỉ là một.

Ba: Hiển bày chỗ chính. Phần này gồm ba:

Thứ nhất: chính thức làm rõ hào quang duy nhất tức thì tỏa chiếu.

Thứ hai: Từ câu: “Tùy theo căn cơ, tâm hiện” tiếp xuống: Là thông tỏ chỗ vấn nạn. Vấn nạn nêu: “Đã một lúc tức thì tỏa chiếu, thì sao có hai mươi sáu chi tiết?”

Giải-thích: Tùy theo căn cơ mà nhận thấy.

Thứ ba: Từ câu: “Ở nơi Phật, Văn Thù” tiếp xuống: Là nhận định, phân biệt để tránh sự lẫn lộn. Lẫn lộn như thế nào? Trong phần trên, giải-thích chỗ vướng mắc, văn có ba đoạn :

Một: Tùy căn cơ, với phương tiện, theo thứ lớp nhận thấy. Hai: ánh sáng theo thứ lớp tỏa chiếu Ba: Văn Thù theo thứ lớp đi đến.

Như nơi đoạn thứ nhất, căn cơ trong một trăm ức, tức chẳng phải căn cơ trong một trăm thế giới. Căn cơ trong trăm thế giới thì chẳng phải là căn cơ trong một trăm thế giới. Tức Văn Thù, Như-Lai ứng hiện trong đoạn thứ nhất chẳng phải là Văn Thù, Như-Lai trong đoạn thứ hai.

Nay giải-thích cho rằng: chính căn cơ trong đoạn thứ nhất theo thứ lớp lãnh hội, cùng chẳng phải là sau đấy, cả hai theo thứ lớp đều biến hiện. Như thứ nhất, Phật phóng quang khắp tam thiên, tức là lần thứ hai, cho đến hào quang biến hiện khắp pháp giới. Văn Thù cũng thế. Chính là biến hiện nơi đoạn thứ nhất. Văn Thù thì biến hiện khắp pháp giới.

Nói: “Mà theo thứ tự lớp nhận thấy”: chính là do cơ cảm, nên nói: “Trăm dòng sông đều thấy”. Căn cơ lại có sai biệt. Nếu chưa hội nhập với pháp giới thì theo thứ lớp chẳng giống nhau. Đã hội nhập nơi pháp giới thì đều như Văn Thù với các chi tiết tức thì nhận thấy.

-Sớ: “Luận Câu Xá nói: bốn châu lớn, mặt trời, mặt trăng v.v…”: Văn đoạn này dễ lãnh hội, thì đều dụ để làm rõ. Một Tiểu thiên thế giới như một ngàn đồng tiền. Một Trung thiên thế giới như một ngàn xâu tiền (gồm một ngàn đồng tiền). Đại thiên thế giới như một ngàn lần một ngàn xâu tiền. Nhưng chỉ chọn nơi cõi Sơ Thiền để tính, từ cõi đấy trở lên thì không nói. Nếu nêu từ cõi Nhị Thiền trở lên thì chẳng giống với “Một thành hoại”. Chỗ bị hủy hoại bởi Hỏa tai chỉ ở nơi cõi Sơ Thiền. Cho nên Luận Chánh Lý quyển thứ ba mươi nói: Các cõi Trời như Tiểu Quang v.v… chẳng phải là chỗ thâu tóm của Tiểu thiên thế giới. Tập hợp Tiểu Thiên là Trung Thiên. Tập hợp Trung thiên là Đại thiên, cũng không thâu tóm cõi kia.

-Sớ từ câu: “Kinh Trường A-hàm quyển thứ mười tám, Tạp Ahàm quyển mười sáu” tiếp xuống: Là phần hai, so sánh chỗ đồng nơi phần văn còn lại. Tiếp sau là dẫn hai kinh (Trường A-hàm, Tạp A-hàm) và bốn Luận. Đều giống với Luận Câu Xá đã nêu. Luận Câu Xá là quyển thứ mười một. Luận Du Già là quyển hai, Trí luận là quyển thứ mười một. Luận Tạp tập là quyển sáu, Luận Hiển Dương là quyển thứ nhất.

-Sớ: “Nhưng Luận Hiển Dương, quyển thứ nhất nêu rõ chỗ hủy hoại của ba tai họa lớn nơi Tam thiên thế giới”: Tức là ý của tác giả sách San Định Ký (đại sư Tuệ Uyển). Câu trên là văn của Luận, nên theo như Luận giải-thích về tam thiên thế giới. Ý nói: chỗ hủy hoại của ba tai họa lớn nơi Tam thiên như thế, đó là tai hỏa do nước, lửa và gió.

Từ câu: “Cho nên biết từ cõi Sơ Thiền”… trở xuống: Tức tác giả sách San Định Ký dùng ý mình để giải-thích. Nghĩa là cho tai họa do lửa hủy hoại cõi Sơ Thiền. Tai họa do nước hủy hoại cõi Nhị Thiền. Tai họa do gió hủy hoại cõi Tam Thiền. Cho nên biết rõ, nói Tiểu thiên là chỉ kể đến Sơ Thiền. Nếu nói về Trung Thiên tức kể ra cõi Nhị thiền, do Nhị Thiền dung lượng bằng Trung thiên. Nếu kể về Đại thiên tức tính cho Tam Thiền, vì Tam Thiền dung lượng như Đại Thiên. Tức rõ có trăm ức cõi Sơ Thiền, có trăm vạn cõi Nhị Thiền, một ngàn cõi tam thiền, chỉ một cõi Tứ Thiền. Nhưng nếu nói về lượng tức là ức đoán, chỗ nêu dẫn văn để chứng minh cho nghĩa thì chẳng thành. Do nói Tam Thiên đều thuận hợp với sự hủy hoại của ba tai họa. Như Trung thiên cho là thuộc nơi Nhị Thiền, nhưng Nhị Thiền thì tai họa của lửa không hủy hoại. Do đấy nghĩa chính như trước đã dẫn Luận Câu Xá, Luận

Chánh Lý để giải-thích.

-Sớ: “Như Kinh Kim Quang Minh nói rõ về cõi Phi Tưởng”: Kinh viết: “Các vị Nhân vương ấy lúc tay bưng lò hương giơ cao lên để cúng dường kinh, hương này tỏa khắp, trong khoảng một niệm, biến hiện đến cả Tam thiên đại thiên thế giới với trăm ức mặt trời mặt trăng, cho đến trăm ức cõi Trời Phi Phi Tưởng.”

Nói: “Nay dựa nơi hai kinh”: Tức Kinh Kim Quang Minh cùng với văn của kinh này (Kinh Hoa Nghiêm). “Căn cứ theo chỗ có xứ sở” thì chỉ đến tận cùng cõi Sắc. Nếu căn cứ nơi cõi tổng quát thì pháp biến hiện khắp bốn cõi Không. Bốn cõi Không không xứ nên theo xứ mà được quả. Như tại cõi dục đạt được “Định Vô sắc”, tức ở nơi cõi Dục mà thọ nhận quả báo, không có xứ riêng thâu tóm ở hai cõi, nhưng đều thông hợp với hai mươi tám cõi Trời. Như thế thì cùng với các Kinh, Luận làm sao để lãnh hội giải thích?

Ý cho rằng: Như Nhị thiền chỉ nêu rõ về luợng cùng với Tiểu

thiên giới. Một cõi Tam Thiền dung lượng bằng dung lượng của Trung thiên. Một cõi Tứ thiền dung lượng bằng dung lượng Đại thiên, Tam thiên như thứ lớp, trên là phần che chở cho dưới. Ví như mây mùa hạ phủ khắp chín châu. Nếu dùng châu để chọn lấy thì có chín đám mây. Nếu dùng quận để chọn lấy thì có hơn bốn trăm đám mây. Còn như dùng Huyện để chọn lấy thì hàng ngàn số cũng chưa là nhiều. Hoặc nói một đám mây phủ khắp muôn nước. Hoặc nói muôn nước đều có mây mùa hạ. Suy xét thì có thể nhận biết.

-Sớ: “Luận Câu Xá nói: bên bờ ao A-nậu-đạt có cây gọi là Thiệm Bộ”: Tức là nơi quyển thứ mười một của Luận giải-thích về “Ao vô Nhiệt”, ý cho rằng ở bên cạnh ao ấy có rừng Thiệm Bộ, cây đó hình tướng cao lớn, quả thì ngọt đẹp. Dựa nơi tên rừng nên gọi là Châu Thiệm Bộ. Hoặc dựa theo quả cây ấy để lập hiệu của châu. Luận lại không giải-thích. Có ý kiến cho rằng: “Do Châu này phía nam thì hẹp, phía bắc thì rộng. Còn lá của cây kia phần đầu lớn, phần sau nhỏ, giống với châu này.” Chưa thấy có chỗ giải-thích.

Hoặc như Luận Lập Thế A Tỳ đàm nói: “Cây ở về phía nam châu ấy.”

Cù da-ni cũng gọi là Cù-đà-ni. Cù tức là Ngưu. Đà Ni là Hóa. Bắc châu cách dịch mới gọi là Câu Lô; các châu còn lại có thể nhận biết.

-Sớ: “Nếu dùng số nhỏ để tính kể thì có muôn ức.”: Số nhỏ tức là bậc thấp, biến chuyển theo mười mười. Nghĩa là mười Tiểu thiên là vạn, trăm tiểu thiên là ức, ngàn tiểu thiên là Trung thiên. Đã có mười ức. Lại một ngàn trung thiên là một Đại thiên. Một ngàn Trung thiên tức đã có một ngàn lần mười ức. Cho nên gọi là vạn ức.

-Sớ: “Nay căn cứ nơi số trung”: Nghĩa là từ ngàn trở lên mới biến chuyển theo trăm trăm. Tức trăm tiểu thiên mới là một vạn, ngàn lần tiểu thiên là trung thiên, mới là mười vạn. Mười lần trung thiên mới là trăm vạn, mới là một ức. Đã mười Trung thiên là một ức, thì nay có một ngàn lần Trung thiên nên có trăm ức.

Từ câu: “Cho nên Đường Tam Tạng” tiếp xuống: Là dẫn chứng. Đã dịch trăm ức là trăm câu chi. Câu chi là giữ lấy âm tiếng Phạm, ức là nói ngôn ngữ Trung Hoa. Hai nghĩa như nhau.

Tiếp theo dẫn ý kiến của đại sư Viên Trắc (613-696) nói về ba thứ câu chi để làm rõ trăm ức là trăm câu chi. Nói: Hoặc đến số trăm tức là Tam thiên có trăm ức là nghĩa đó vậy. Do ngàn vạn là câu chi hoặc đến số ngàn tức lấy trăm vạn làm câu chi nghĩa là lấy số nhỏ để đếm. Trung thiên có trăm vạn lần Tiểu thiên mới là một ức. Nay Đại thiện có một ngàn Trung thiên nên là ngàn ức. Hoặc đến trăm vạn tức lấy mười vạn làm một câu chi. Cho nên trung thiên đã có trăm câu chi và ngàn lần Trung thiên mới là Đại thiên thì Đại thiên có đến trăm trăm ngàn câu chi vậy. Tam tạng dịch ngàn vạn ấy là câu chi nên Tam thiên có một trăm câu chi; câu chi tức là ức.

-Sớ từ câu: “Lại dựa theo Luận Câu Xá” tiếp xuống: Là phần ba, lãnh hội theo hướng dung hợp về chỗ bất đồng của câu chi.

Nói: “Luận Câu Xá dịch Lạc xoa là ức”: cũng là nơi quyển thứ mười một, giải-thích về Thủy luân, viết: “Tiếp theo, phần trên Thủy luân sâu mười một ức hai vạn, phần dưới là tám Lạc xoa nước, phần còn lại ngưng kết thành vàng.” Câu đầu, theo cách nói của đời Đường gọi là: Mười một ức hai vạn do tuần. Câu sau, theo Phạm ngữ nói là : phần dưới là tám Lạc xoa nước, tức tám ức do tuần là nước, ba ức hai vạn do tuần là vàng. Cho nên biết Lạc xoa là ức. Phần sau nơi Phẩm A-tăng-kỳ có đoạn: “Một trăm Lạc xoa là một Câu chi.” Tức nghĩa của câu chi tương đương với một triệu. Là do câu chi có ba thứ. Tức Luận Câu Xá nói Lạcxoa gọi là ức, chính là mười vạn gọi là ức. Phần dưới nói: “Một trăm Lạc-xoa là một câu-chi” thì chính một ngàn vạn là ức.

-Sớ: “Căn cứ nơi môn vi tế thì ba đời dung thông”: Tức trong một tức thì gồm đủ tất cả các pháp, cùng hiển bày rõ rệt, gọi là môn vi tế. Cho nên nói trong một tướng gồm đủ bảy tướng còn lại (tám tướng). Như ở nơi “Thai mẹ”, tức có đủ bảy tướng kia. Nay, trong tướng thành Chánh giác cũng gồm đủ bảy tướng còn lại.

“Cho nên nói ba đời dung thông”: cũng tức là Huyền môn “Thập thế cách pháp dị thành”: Thọ sinh là quá khứ, Bát Niết-Bàn là vị lai.

Sớ: “Cũng chẳng phải chủ thể soi chiếu là Báo thân” : Là phân biệt để tránh lẫn lộn về giải-thích. Phần này có thể nhận biết.

Nói: “Hai cái ấy chẳng cùng nhau”: Nơi Báo thân thấy Hóa thân.

Thấy Hóa thân chẳng thấy Báo thân, chẳng phải có nghĩa là Báo, Hóa cùng hiện.

-Sớ: “Chẳng phải là nhiều xứ đều riêng có Hội”: cũng là nhằm phân biệt để tránh sự lẫn lộn, sợ có người hiểu lầm. Nếu nhiều xứ có Hội, giống như mười người là Hội, mười Hội ở trong một phòng, một ngọn đèn chiếu sáng rõ, khiến mọi người tức thì nhận thấy mười Hội với một trăm người. Nay thì chẳng cho là như thế. Một Hội biến hiện khắp tất cả xứ. Như nơi một căn phòng treo cái giường gồm một trăm mặt, trong phòng ấy có mười người cùng làm một Hội thì trong một trăm gương có một trăm Hội. Suy xét thì có thể nhận biết.

-Sớ: “Nói Văn Thù của tất cả xứ, lược bàn rộng về ba nghĩa.”: Thứ nhất, căn cứ nơi văn, tức là do ứng hợp theo căn cơ, khiến trong dòng sông, một lúc đều thấy mặt trăng.

Nói: “Mỗi mỗi đều nói kệ của chính đoạn ấy”: Như trong “Trăm ức” nói kệ: “Như thấy bậc chánh giác.” Trong đoạn thứ hai cùng nói kệ:

“Chúng-sanh không trí tuệ.” Nhưng có bốn câu:

Một: Tất cả xứ, Văn Thù cùng nói một kệ, là Tất cả tức một.

Hai: chỉ một Văn Thù nơi mười đoạn nói kệ, là một tức tất cả.

Ba: Đều ở nơi chỗ Phật . Tức một chính là một.

Bốn: các xứ, Văn Thù đều nói kệ chẳng đồng. Tức là tất cả trong tất cả.

-Sớ từ câu: “Hai là, một Văn Thù từ một xứ nơi phương Đông đi đến” tiếp xuống: Là phần hai, giải-thích căn cứ nơi nghĩa. Lại nói về đức thật kia. Như mặt trăng của khe nước trước, tức là của khe nước sau, cùng mặt trăng nơi ngàn suối trăm sông, hoàn toàn nhập nơi khe nước trước. Sở dĩ như thế là vì mặt trăng của tất cả xứ không lìa nơi mặt trăng gốc. Mặt trăng gốc thì hiện nơi khe, tức ngàn xứ cùng hiện.

“Thứ ba là căn cứ nơi pháp biểu hiện”: Văn Thù là chủ nơi Bátnhã môn. Nếu căn cứ theo “Quán chiếu Bát-nhã” thì trí thấu rõ muôn cảnh thì không gì không là Bát-nhã. Như ánh sáng mặt trời tỏa khắp bầu trời thì không vật gì là không được soi chiếu. Còn căn cứ theo “Thật tướng Bát-nhã” thì không pháp nào không phải là Thể của Thật tướng, nên không gì là không Bát-nhã. Cũng như nước hoàn toàn biến hiện khắp sóng, không sóng nào chẳng phải là nước. Kinh đại Bát-nhã có đoạn: “Bát-nhã Ba-la-mật-đa thanh tịnh nên sắc thanh tịnh. Sắc thanh tịnh nên Trí Nhất Thiết Trí thanh tịnh. Vì sao? Vì hoặc Bát-nhã Ba-lamật-đa thanh tịnh, hoặc Sắc thanh tịnh, hoặc Trí nhất Thiết trí thanh tịnh là không hai, không hai phần, không riêng, không đoạn.” Là chung nơi Quán chiếu và Thật tướng.

Hai là chính thức hiển bày kệ.

-Sớ: “Nhưng Quán nhờ nơi Lý mà thành.”: Do Đại sư Hiền Thủ, đối với đoạn trên có hai ý, đều có nhận xét riêng về văn:

-Một: Căn cứ nơi Cảnh để hiển bày Lý: Trong mười kệ được phân làm ba:

Thứ nhất: Một kệ, biểu thị Pháp vượt quá tình.

Thứ hai: Tám kệ, hợp Sự quy về Lý.

Thứ ba: Một kệ, Sự như Lý dung thông. Thành một Hội nêu trước tức tất cả Hội cùng với Sự không bị ngăn ngại.

-Hai: Căn cứ nơi Tâm khiến dứt tuyệt mọi nhận thức kiến chấp: Dựa vào đấy để giải-thích kinh, mười kệ được chia làm sáu:

Thứ nhất: Hai Tụng đầu tụng về Phật phóng quang khiến lìa bỏ kiến chấp.

Thứ Hai: Một Tụng hợp với chỗ soi chiếu của hào quang ở trước để làm rõ việc lìa bỏ kiến chấp.

Thứ ba: Có ba Tụng, hợp với chỗ hiển bày pháp hội gốc v.v ở trước để biện minh việc lìa bỏ kiến chấp.

Thứ tư: Có hai Tụng, hợp riêng với đại chúng là các Bồ tát để làm rõ việc lìa kiến chấp.

Thứ năm: Một tụng, hợp với đối-tượng được soi chiếu là chúngsanh.

Thứ Sáu: Một Tụng sau cùng nêu rõ nguyên do chỗ biến hiện khắp chốn của pháp hội trước.

Nay ý nơi bản Sớ giải nêu rõ, chẳng phân làm hai phần mà hợp thành một cách giải-thích: Hiển bày Lý và lìa bỏ kiến chấp, hai nghĩa cùng thành tựu nên nêu chung về nguyên do. Gọi là: “Quán nhờ nơi Lý mà thành”: Nếu không thấy Lý thì chẳng thành quán chiếu. “Lý do nơi quán mà hiển bày.” Tức chẳng đạt được Quán chiếu thì sao có thể lãnh hội Lý? Lý không có hưng phế, hoằng dương lý do nơi người, nên quán thành khế hợp với Lý. Các thứ kiến chấp tự mất nên hợp làm một cách giải-thích, đều có đủ nghĩa hiển bày Lý, phá bỏ kiến chấp. Mỗi mỗi đầy đủ nơi hai ý riêng cách:

Kệ đầu là nghịch làm sáng rõ việc trái với Lý, dấy khởi kiến chấp là sai lầm phát sinh.

Chín kệ sau là thuận, biện minh lãnh hội Lý thì hiển bày mà kiến chấp được dứt bỏ.

-Sớ: “Gốc không có vướng mắc thì ai là không vướng mắc” Như dùng keo nhựa bẫy chim dán vào nơi người thì có trường hợp dính, trường hợp chẳng dính. Hư không thì chẳng dán được thế ai là chẳng vướng mắc nơi keo dán trong hư không?

-Sớ: “Tình hết Lý hiển hiện tức gọi là làm Phật”: Đây là thuận theo Thiền Tông, tức “Sự Lý vô ngại môn”. Căn cứ theo “Phổ Hiền môn” thì chính là Hoa Nghiêm tức “Sự Sự vô ngại môn”. Theo tính chất hành bố mà nói, thì đây là bước đầu tiên của ngàn dặm.

-Sớ: “Cũng hiển bày hào quang với chốn được soi chiếu để làm rõ việc lìa bỏ kiến chấp”: Trên là căn cứ nơi chỗ biện minh chung. Còn nay thì căn cứ nơi chỗ nêu bày riêng. Khiến lìa bỏ vọng động tức là phá bỏ kiến chấp. Biết rõ chân pháp giới là chẳng ứng hợp với động, tức là hiển bày Lý.

Câu này xuất xứ từ nơi kinh đại Bát-nhã, phần Mạn Thù Thất Lợi. Kinh viết: “Nếu Bồ tát bất động đối với pháp giới, biết rõ pháp giới chân thật chẳng ứng hợp với sự dao động, chẳng thể nghĩ bàn, chẳng thể lý luận. Như thế thì mới có thể hội nhập nơi tất cả tướng.”

Nói: “Chẳng động mà thấu tỏ nên thành Thắng trí”: câu này nói về lợi ích của sự Quán chiếu. Các kệ tuy đồng, đều là đức sai biệt của quả vị Phật, mà đều cùng với tướng của Quán thuận hợp, nên gọi là “Chẳng động mà thấu rõ”, dùng để giải-thích sẽ thành Thắng Trí.

-Sớ từ câu: “Ngã tức là Pháp tánh, lại còn chẳng chứng nhập” tiếp xuống: Là giải-thích câu: “Bình đẳng tức không còn có chủ thể đốitượng nên gọi là vô trụ” ở trên. Nhưng có hai ý:

Một: Hai câu trên nêu rõ Tánh duy nhất chẳng phân, nên không có chủ thể-đối-tượng. Cũng như một ngón tay chẳng thể tự tiếp xúc với ngón tay ấy.

Hai: Câu: “Pháp tánh là Vô tánh nên chỗ hội nhập là cái gì”: Nêu rõ về Tánh không, nên không có chủ thể nhập, đối-tượng được nhập.

Cũng như hư không chẳng trụ nơi hư không.

Đây cũng là ý nơi kinh đại Bát-nhã, phần Mạn Thù Thất Lợi.

Kinh nêu: “Phật nói với Văn Thù: Ông ở nơi Phật Pháp há chẳng hướng cầu? Văn Thù thưa: Thế Tôn! Con nay chẳng thấy có pháp nào

chẳng phải là Phật pháp, vậy hướng cầu về chỗ nào?” Giải-thích: Đây tức là ý về Tánh duy nhất.

Phần tiếp theo, Phật hỏi: “Ông ở nơi Phật pháp đã thành tựu được gì? Văn Thù đáp: Con hoàn toàn chẳng thấy Pháp nào có thể gọi là Phật pháp, vậy thành tựu ở chỗ nào?”

Giải-thích: Đây tức là ý về Tánh không.

Tiếp theo Phật lại nói: “Ông há chẳng đạt được tánh không chấp trước sao? Văn Thù đáp: Ngã tức là không chấp trước. Há Tánh không chấp trước lại đạt được không chấp trước?”

Giải-thích: Tức như nay Sớ giải viết: “Ngã tức là Pháp tánh, lại còn chẳng chứng nhập.”

-Sớ từ câu: “Cho nên nơi kinh đại Bát-nhã, phần Văn Thù có đoạn” tiếp xuống : Là dẫn chứng. Trước là sử dụng ngầm hai ý, nay thì hiển bày chứng minh về vô trụ. Đó là văn nơi kinh ấy, phần tiếp sau.

-Sớ: “Trí luận đáp: bình đẳng tức là Tam bảo”: Tức nơi quyển thứ tám mươi lăm của Luận, cũng là văn của kinh: “Tôn giả Tu-bồ-đề hỏi Phật: Nếu không sai biệt thì sao có Tam bảo? Phật đáp: Tức văn nơi bản Sớ giải đã dẫn.”

-Sớ từ câu: “Lại như kệ thứ ba nêu trên” tiếp xuống: Là gồm thâu bốn kệ trên thành một, là pháp môn Bất nhị. Tức nơi Kinh Tịnh Danh, Bồ tát Tịch Thiện Căn nói: “Phật, Pháp, Tăng là hai. Nhưng Phật tức là Pháp, Pháp tức là Tăng. Tam Bảo ấy đều là tướng vô vi, cùng như hư không. Tất cả các pháp cũng như thế. Có thể theo đấy mà hành hóa là hội nhập pháp môn Bất nhị.”

-Sớ: “Phần Kinh tiếp sau nói: Vô thượng Ma-ha-tát xa lìa tưởng về chúng-sanh”: Tức nơi quyển thứ mười sáu Kinh Hoa Nghiêm, kệ của Bồ tát Vô thượng Tuệ, nửa sau có câu:

“Không gì có thể hơn

Nên hiệu là Vô thượng.”

Nay vô sinh có thể bị hủy hoại, tức là lìa bỏ tưởng về chúngsanh.

-Sớ từ câu: “Nghĩa là một cùng với nhiều” tiếp xuống: Trên là nêu lên hai môn. Nay chính là dùng chỗ tương do của duyên khởi để giải-thích môn “Nhất đa tương dung”. Trong đó, ý chính nói, phàm là đối-tượng được nhận biết, đối-tượng được dấy khởi thì không có lực. Còn chủ thể nhận biết, chủ thể dấy khởi tức là có diệu lực. Đã diễn rộng như phần Huyền đàm.

-Sớ từ câu: “Do duyên khởi ấy” tiếp xuống: Là tóm kết để phá bỏ kiến giải của Tĩnh Pháp (đại sư Tuệ Uyển). Kiến giải ấy cho rằng: “Kệ này giải rõ về “Một nhiều bình đẳng”. Nghĩa là hiểu nhiều do một khởi, rõ một do nhiều sinh. Không một thì chẳng thành nhiều, không nhiều thì cũng không một. Rõ của một nhiều kia cùng do sinh khởi, niệm về một nhiều dứt hẳn thì một nhiều cùng bình đẳng. Đây là hợp sai biệt qui về tánh bình đẳng. Lý Sự vô ngại, chăng phải là Sự Sự vô ngại. Cho nên suy xét kỹ nơi văn kia, chớ giải-thích lầm lẫn!”

Giải-thích: Văn nơi bản Sớ giải nêu ra là ý của đại sư Hiền Thủ. Tĩnh Pháp đã phá bỏ ý kiến của Thầy, cho rằng đó là giải-thích nhầm lẫn. Nay tóm kết chỉ rõ đấy tức phù hợp với một trong nghĩa lớn có từ trước. Ý của Tĩnh Pháp nói: Là Lý Sự vô ngại, tức do đối chiếu với các kệ trước phần nhiều căn cứ nơi hợp Sự qui về Lý. Hết thảy bình đẳng thì loại trừ các kiến chấp, nên chẳng hợp là Sự Sự vô ngại.

Nay trước hết là nêu ra ý gốc của kệ này. Nói: “Do duyên khởi ấy thành bình đẳng nêu trước”: Trên nói: “Hội gốc” tức trụ nơi không chốn trụ. Sự tập hợp mới thì nhập vào không chỗ nhập đều là nghĩa bình đẳng. Do đâu mà ở đây được gọi đều bình đẳng? Chính là do duyên khởi hỗ tương mà nên. Vả như Hội gốc cùng với Hội của sự tập hợp mới nơi mười phương kia cùng thành do nhân-duyên khởi. Hội gốc có mười phương. mười là đối-tượng được duyên khởi. Đối-tượng được duyên khởi không có Thể, tức là do nhân của Hội gốc. mười phương nói về Hội gốc, nên gốc là đối-tượng được khởi. Đối-tượng được khởi không lực nên nhập vào mười phương. Do duyên khởi thành tất cả đều bình đẳng nêu trước. “Do bình đẳng nêu trước mà thành duyên khởi ấy” tức là một có định tánh thì chẳng do nơi nhiều. Nhiều có định tánh thì chẳng do nơi một. Nay thì do một không định tánh, nhờ nơi nhiều mà dấy khởi. Nhiều không định tánh, do nơi một mà phát sinh. Cho nên do nghĩa của bình đẳng Vô tánh mới thành duyên khởi. Nếu có một có thể là một thì đấy là một của tự tánh. Nếu có nhiều có thể là nhiều thì đấy là nhiều của định tánh. Nếu là nhiều của định tánh thì nhiều ấy chẳng nhân nơi một. Nếu là một của định tánh thì một ấy chẳng nhân nơi nhiều. Nay do nhiều nên là một thì một ấy chẳng tự là một. Nay do một nên là nhiều thì nhiều ấy chẳng tự là nhiều. Nhiều chẳng tự là nhiều thì cái nhiều ấy là không lực. Một ấy chẳng tự là một thì một này cũng không lực. Không lực tùy theo có lực, một nhiều thâu tóm hỗ tương, nên tùy theo Phật hội tức tất cả Phật hội. Hết thảy Hội của Pháp giới tức là một pháp hội. Một pháp hội này chẳng động mà luôn biến hiện khắp, chẳng phân chia mà thường nhiều, trước sau hỗ tương cùng thành tựu, cớ sao lại chẳng tin? Nên đại sư Hiền Thủ nói: “Pháp giới duyên khởi, lý số là như nhiên!” Nên suy xét sâu kỹ tự sẽ nhận thấy. Xem chỗ văn giải-thích ấy rõ giống như người đệ tử này đang lúc lắng nghe thì sớm đã không thọ trì lời thầy để suy xét cho sâu. Cho nên văn nơi bản Sớ giải tóm kết: “Chẳng tin nơi Sự Sự vô ngại thì e là chưa dốc sức suy xét một cách sâu kỹ !”

 

 

Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.