Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

A. Trình bày chính xác về thể kinh Pháp Hoa
B. Bác bỏ các lối nhìn sai lệch
C. Một pháp với nhiều tên gọi khác nhau
D. Vào cửa Chân Như
E. Là Thể trùm khắp tất cả các Kinh
F. Là Thể trùm khắp tất cả các Hành
G. Thể trong vạn pháp
Tham khảo

 

Chương Hai
Hiển Thể

(Huyền Nghĩa, ch. 8-9, T33, 779a-794b)

Trong Chương Một, Quyển Hai, chúng ta đã nói về phần thứ nhất, Thích Danh (Shih-Ming) trong Ngũ Huyền, như công cụ Trí Khải dùng để chú giải kinh Pháp Hoa, phần nầy chiếm một phẩm lượng lớn trong Pháp Hoa Huyền Nghĩa (từ đoạn đến đoạn 8). Chương hai là phần diễn tả của chúng tôi về phần thứ hai trong Ngũ Huyền, Hiển Thể (Hsien-ti), đưa ra một nền tảng tư tưởng Trí Khải, cho thấy rằng lấy Chân Như làm Thể, cái hiểu về Phật pháp của Đại Sư như một hệ thống được phơi bày.

Thể được trình bày qua bảy phần :
A. Trình bày chính xác thể kinh Pháp Hoa
B. Bác bỏ các lối nhìn sai lệch
C. Một Pháp với nhiều tên gọi khác nhau
D. Vào cửa Chân Như
E. Vào tất cả thể của Kinh
F. Vào tất cả thể của Hành
G. Vào tất cả thể của Pháp.

Phần thứ nhất nói rằng thể Pháp Hoa là tối thượng, vì thể nầy là Chân Như trong vạn pháp. Phần thứ hai làm sáng tỏ định nghĩa về Chân Như. Mặc dù có nhiều định nghĩa về Chân Như, như Tiểu thừa, Tam thừa Thông giáo, Bồ tát thừa Biệt giáo, tất cả đều đưa ra những lối thấy sai lầm về Chân Như. Vì vậy, chỉ có Chân Như thuộc Viên giáo có thể được xem như là Thể. Vì Chân Như tức Thể viên dung tất cả, một Pháp nầy có thể giải nghĩa tất cả Pháp, và tất cả Pháp chỉ là những phối cảnh khác nhau của một Pháp nầy. Phần thứ ba nói sâu hơn về mối tương quan giữa Một và Nhiều qua Chân Như mang những tên gọi khác nhau. Với cái nhìn Chân Như là mục tiêu chứng đắc sau cùng trong đời tu trì của hành giả, làm thế nào hành giả có thể chứng được? Phần thứ tư nói về đề mục nầy bằng cách mở ra những cánh cửa hướng về sự chứng đạt Chân Như, và những cánh cửa nầy được nói qua Tứ giáo (Tạng giáo, Thông giáo, Biệt giáo, và Viên giáo). Phần thứ năm, thứ sáu, và thứ bảy kết luận Chân Như là Thể bằng cách chỉ rõ Chân Như có thể được nhìn xa rộng như Thể của tất cả các kinh, tất cả các Hành, và tất cả các giáo pháp diễn đạt chân lý. Sau đây là cách trình bày của Trí Khải về bảy phần nói trên.

A. Trình bày chính xác thể kinh Pháp Hoa (Cheng-hsien Ching-ti)

(T33, 779a-780a). Để trình bày chính xác thể kinh Pháp Hoa, Trí Khải đưa ra bốn điểm. Điểm thứ nhất kể ra những giải thích đương thời về thể và hùng biện rằng Chân Như mà Đại Sư trình bày là một chọn lựa chính xác. Phần thứ hai minh định chọn lựa của Trí Khải về Chân Như tức Thể. Phần thứ ba đưa ra những nghĩa khác nhau mà Chân Như nói đến, vì những nghĩa khác nhau nầy đều thuộc về Phật thừa, Chân Như được xem là thể siêu việt. Phần thứ tư trưng dẩn những đoạn kinh để làm sáng tõ nghĩa Chân Như.

1. Trong phần thứ nhất (1), Trí Khải phê bình những giải thích đương thời về Thể. Đại Sư không đồng ý kiến với vị đại sư truyền thống phương Bắc (Pei-ti-shih) (2), là người đã lấy Nhất Thừa làm Thể, với lập luận rằng Nhất Thừa khó lộ bày được Thể. Trí Khải cũng không chấp nhận quan điểm lấy Chân Đế làm Thể. Đại Sư gạt bỏ lối nhìn nầy khi nói rằng Chân Đế mang những định nghĩa khác nhau qua Thanh văn thừa, và qua Đại thừa. Trí Khải cũng bài bác luôn quan điểm lấy Nhất thừa của nhân và quả làm Thể, bởi vì, ngoài sự kiện Nhất Thừa khó hiển lộ Thể, nhân và quả liên quan đến sự hơn là lý. Trí Khải nói rằng tất cả những định nghĩa đương thời không phải là chọn lựa đúng dành cho Thể. Thay vào đó, Đại Sư lấy thể của thừa, Chân Như hoặc Pháp Tánh (dharmata), như chọn lựa đúng về Thể, thấy rằng Chân Như có thể đưa hành giả chứng đắc Bồ đề.

2. Trong phần thứ hai (3), Trí Khải giải thích lý do tại sao Đại Sư lấy Chân Như làm Thể, bắt nguồn từ sự kiện các kinh điển Đại thừa chỉ có một Pháp ấn, gọi là Chân Như hoặc Thực Tánh của vạn pháp. Pháp ấn nầy (xác định Niết Bàn với Luân Hồi căn cứ vào thực tánh vô phân biệt) có thể đưa ra đặc tính chính xác nhất về giáo lý vô thượng của Phật.
Trí Khải nói rằng trong trường hợp của các vị Thanh văn, tam pháp ấn (fa-yin/dharmoddana) được coi như Thể của thừa, đó là, vô thường, vô ngã, và Niết Bàn (4). Ba pháp ấn nầy được dùng để minh định nguyên thủy lời Phật thuyết. Sự thấp kém của Thanh văn thừa (sánh với Đại thừa) đã quá rõ ràng, bởi vì Thanh văn thừa không hiểu được Chân Như có mặt trong vạn pháp, qua đó, Luân Hồi và Niết Bàn đồng nhất thể. Sự xác định về Chân Như như giáo lý Đại thừa nói lên sự siêu việt của kinh Pháp Hoa vì chủ trương rằng Chân Như là một Pháp ấn.

3. Trong phần ba (5), Trí Khải đưa ra những đặc thù về nội dung của Pháp ấn Chân Như, khiến hợp hóa như chân thể, thấy rằng chỉ có chân lý mới có thể đưa chúng sinh về với Phật giới. Nội dung Chân Như không gì khác hơn là sự lộ bày Bồ đề. gồm có :

(i) Quỹ phạm Chân Tánh trong ba quỹ phạm (6)
(ii) Phật giới trong mười pháp giới (7)
(iii) Như Thị Thể trong mười Như Thị của Phật giới (8)
(iv) Vô Sinh Diệt Thập Nhị Nhân Duyên Bất Tư Nghị trong bốn loại mười hai nhân duyên (9)
(v) Khổ (đồng như Pháp thân) (10)
(vi) Vô Tác Tứ Đế, trong bốn loại Tứ Đế (11)
(vii) Diệt Đế trong bốn loại Vô Tác Tứ Đế (12)
(viii) Năm lối nhìn về Nhị Đế (thứ ba đến thứ bảy) (13)
(ix) Chân Đế, trong năm lối nhìn về Nhị Đế (thứ ba đến thứ bảy) (14)
(x) Trung Đạo Đệ Nhất Nghĩa trong Nhất Đế (16)
(xi) Trung Đạo Vô Đế trong Vô Đế.(17)

Để làm sáng tỏ hơn, Trí Khải phát họa Chân Như với hư không trong một căn nhà. Hư không trong một căn nhà không phải là mái nhà, không phải rường cột nhà. Thể của căn nhà, hư không, như vậy, nói lên Chân Như. Mặt khác, mái nhà, rường cột tương tự như nhân và quả Bồ đề. Bởi vì nếu một căn nhà không có khoảng không thì không thể dung chứa được bất cứ vật gì. Nếu nhân và quả Bồ đề không lấy Chân Như làm Thể, thì cũng không thể tự đứng vững. Như vậy, Trí Khải chủ trương rằng cần phải lọc lừa ra một chân thể, là cái chỉ dung chứa hư không, trong đó, tất cả đều có công dụng.

4. Trong phần thứ tư (18), Trí Khải trưng dẩn nhiều đoạn kinh Pháp Hoa để giữ vững lập luận của Đại Sư khi lấy Chân Như làm Thể (vì Thể nầy chuyển đạt nguyên lý không phải nhân không phải quả). Đoạn văn như trên thấy trong Phẩm Tựa : Lúc bấy giờ, Phật phóng hào quang, muốn hiển lộ lý Chân Như; (19) . Lý Chân Như trong vạn pháp Ta đã từng chỉ dạy cho các ông(20), và từ Phẩm Phương Tiện : Chỉ Phật với Phật mới có thể tận cùng Chân Như trong vạn pháp(21) v.v…, chứng minh rằng chỉ có Chân Như liên quan đến việc hướng dẩn chúng sinh mở bày tri kiến Phật, có đặc tính tức Thể với nguyên lý chẳng phải là nhân, cũng chẳng phải là quả.

B. Bác bỏ các lối nhìn sai lệch ((Kuang-chien wei)

(T33, 780a-782b) Saư khi trình bày Chân Như là Thể, Trí Khải đưa ra định nghĩa của Đại Sư về Chân Như, khiến những lối nhìn sai lệch về Chân Như của Tiểu thừa, Tam thừa thuộc Thông giáo, và Biệt giáo bị bác bỏ. Bác bỏ những định nghĩa về Chân Như nầy, Chân Như chân chánh của Viên giáo được lộ bày.

1. Trước hết, Trí Khải bài bác quan điểm về Chân Như trong nhân địa. (22) Đại Sư lập luận rằng khái niệm Chân Như hiện hữu trong cõi người, ngoại đạo và Thanh văn thừa chỉ có danh mà không có nghĩa. Lý do vì chữ Chân đến từ lối nhìn sai lệch thuộc thế giới hiện tượng, nhìn lầm huyễn tướng là có thực. Trí Khải đưa ra một thí dụ về kẻ vô minh hành động ngu xuẩn : làm nhiều trò ảo thuật lừa đảo, hoặc làm việc những việc bạo động, như ăn cá sống, ngữi thịt sống, với mục đích được chú ý và làm giảm giá trị người khác. Nói về chữ Chân qua luân lý của Khổng Phu Tử, Trí Khải nói rằng hệ thống đạo đức nầy có mục đích mang lại lợi ích cho con người và an bình cho xứ sở, có thể được gọi là Chân. Vì thế, loại Chân nầy chỉ cho thế giới loài người.

2. Thứ hai, Trí Khải bác bỏ lối nhìn sai lầm về Chân Như của ngoại đạo (23). Đối với ngoại đạo, linh dược giúp họ đạt đến trí tuệ thì được xem là Chân. Trí Khải cho thấy rằng những phương tiện xoay ngược ra ngoài như thế không phải thực là Chân. Hơn nữa, định nghĩa về Chân Như trong sách vở của ngoại đạo mang theo sự kiện ngoại đạo bị trói buộc vào quan niệm sai lệch về hiện hữu. Hoặc là họ hiểu sai về Hiện-Hữu (Being) là Không-Hiện-Hữu (Non-Being), hoặc lầm không-hiện-hữu là hiện-hữu. Với cách nầy hoặc cách khác, họ bị vô minh vây hãm, không thể đạt đến tự do.

3. Thứ ba, Trí Khải bác bỏ lối nhìn sai lạc của Tiểu thừa (24) Đại Sư nói rằng định nghĩa về Chân Như của Thanh văn thừa chỉ liên quan đến việc nâng cao quan niệm về Hiện Hữu hoặc Không Hiện Hữu. Chư vị Thanh văn nhận lấy hai lối nhìn cực đoan nầy, và nhìn Không là Chân Đế, và Chân Đế nầy, như vậy, được xem là Chân Như. Trí Khải phê bình rằng lối nhìn nầy không thực sự là chánh đạo Bồ đề ( vì Không đế chỉ có thể đưa hành giả chứng đắc quả vị A La Hán), nên không thể gọi là Chân.

4. Thứ tư, Trí Khải suy gẫm những định nghĩa khác nhau về Chân Như của Tam thừa (Thanh văn, Duyên giác, và Bồ tát) thuộc Thông giáo (25), vì Thông giáo rõ ràng là nhịp cầu đưa đường cho Tạng giáo (với cái nhìn Không) gặp được Biệt giáo và Viên giáo (với cái nhìn Bất-Không).

(1) Với cái thấy Không (Chien-kung), Trí Khải đưa ra ba trường hợp phản ảnh ba thứ lớp giác ngộ :

(i) Nhị thừa (Thanh văn và Duyên giác) ngưng lại giữa chừng con đường đạo vì, sau khi chứng được khái niệm về Không ( vì các vị nầy chỉ mong cầu thoát khổ cho riêng mình). Tuy nhiên, Bồ tát với căn cơ sắc bén tiếp tục đào sâu Chân Như.
(ii) Nhị thùa có thể chứng Không nhưng chưa thể chứng Bất-Không (pu-kung), vì vậy, cái Không nầy không có đủ trí tuệ. Bồ tát tiến sâu hơn chứng được Bất Không, và Bất Không nầy chỉ cho trí tuệ Trung Đạo.
(iii) Trí tuệ Trung Đạo có đặc tính tĩnh lặng mà thường chiếu (Chi-erh Chang chao) (26). Sự tĩnh lặng của Nhị thừa không phải là Chân Như, vì không thường chiếu (tức thiếu trí tuệ). Mặt khác, sự tĩnh lặng của Bồ tát chứng đắc có thể chiếu soi, vì vậy, tĩnh lặng mà thường chiếu biểu thị Chân Như. Tóm lại, Chân Như Bồ tát Thông giáo chứng được đưa đường về Viên giáo.

(2) Với cái thấy Bất Không (Chien Pu-kung), Trí Khải phân biệt hai trường hợp nối kết Thông giáo với Biệt giáo và Viên giáo.
(i) Trường hợp thứ nhất là cái thấy về Bất Không nối kết với Biệt giáo, có đặc tính dần dần tiêu diệt ô nhiễm. Khác với Nhị thừa chỉ chủ trương Không là đặc tính duy nhất của các pháp, Bồ tát Biệt giáo thấy cả hai Không và Giả, từ đó tiếp nhận vô số đặc tính của các pháp. Tuy nhiên, Bồ tát nầy chưa thể tiến xa hơn để tiếp nhận một thực tại như nhất với cái nhìn Trung Đạo thuộc Viên giáo.
(ii) Trường hợp thứ hai là cái thấy về Bất Không nối kết với Viên giáo, có đặc tính tràn đầy trong vạn pháp. Đây là chỗ Bồ tát vào thế tục để cứu độ chúng sinh. Cái thấy Bất Không nầy thực sự là Trung Đạo Viên Giáo, đồng nhất Không với Giả, và ngược lại. Đối với Bồ tát Viên giáo, Chân Như được xác định bởi Tam Đế, đó là, thực tại gồm thu ba mặt : Không, Giả, và Trung Đạo.

5. Thứ năm, thấy rằng một Chân Như chính xác như Thể thì khó diễn đạt, Trí Khải dùng ba tỷ dụ để so sánh. (27) Với những tỷ dụ nầy, bốn trường hợp được trình bày phù hợp với Tứ giáo. Lý do vì Chân Như mang những định nghĩa khác nhau theo từng giáo pháp trong Tứ giáo.
 

1) Chân Như qua tỷ dụ thứ nhất so sánh ba con vật. Ba con vật vượt (28) dòng sông là câu chuyện ngụ ngôn tương tự ba loại Chân đế theo Tam thừa (Thanh văn, Duyên giác, và Bồ tát). Con thỏ và con ngựa chỉ có thể qua sông bằng cách bơi trên mặt nước, mà không thể chạm thân vào đáy sông. Con voi lớn nặng nề kia, có thể đạp trên đáy sông để qua bờ kia. Nước sánh với Không như Chân Đế, đáy sông sánh với Bất Không (tức Trung Đạo) tức Chân Đế. Nhị thừa (Thanh văn và Duyên giác), vì thiếu trí tuệ nên không thể đào sâu, sánh với con thỏ và con ngựa. Bồ tát tương tự như voi lớn, với trí tuệ sâu thẳm, có thể thấy được cả Không và Bất-Không.

Có hai điều cần phân biệt về sự kiện chạm vào đáy sông. Trí Khải phân tích rằng đáy sông sánh với Chân Như. Một con voi nhỏ chỉ có khả năng đi trên mặt nước bùn, một con voi lớn thì có thể chạm vào đáy nước bùn. Voi nhỏ chỉ trí tuệ Biệt giáo. Mặc dù Bồ tát Biệt giáo có thể thấy được Bất Không, vị Bồ tát nầy vẫn chưa vào được chỗ hợp nhất của vạn pháp. Vì vậy, cái thấy về Bất Không nầy vẫn chưa phải là Chân Như. Voi lớn chỉ trí tuệ Viên giáo. Bồ tát Viên giáo có thể thấy được Bất Không một cách trọn vẹn. Điều nầy có nghĩa rằng vị Bồ tát nầy biết rằng một pháp viên dung vạn pháp, và vạn pháp là thực tại hợp nhất của một pháp. Vì Chân Như nằm trong vạn pháp, vào được tận cùng tất cả pháp như thế thì lộ bày được Chân Như. Từ cái nhìn chứng đắc Chân Như, không riêng cái thấy Không của Nhị thừa bị loại ra ngoài tỷ dụ nầy, nhưng cái thấy Bất Không của loài voi nhỏ (Biệt giáo) cũng bị loại trừ. Chỉ còn cái thấy Bất Không của loài voi lớn (Viên giáo) được lấy làm Thể của Diệu Pháp Liên Hoa Kinh.

(2) Chân Như qua tỷ dụ thứ hai đưa ra sự so sánh hai loại ngọc. Loại thứ nhất là ngọc Lưu Ly, loại thứ hai là ngọc Như Ý. Trí Khải nói rằng ngọc Lưu Ly không giá trị, cũng như cái thấy thuần Không; Như Ý châu là bảo châu sánh với cái thấy Trung Đạo. Trung Đạo như bảo ngọc có cái dụng cứu độ chúng sinh. Cái thấy thuần Không là cái thấy của Nhị thừa (Thanh văn và Duyên giác) là những vị chú tâm vào tự giác. Trí Khải tin tưởng rằng dù là ngọc Như Ý vào tay các bậc Nhị thừa, chư vị nầy cũng không biết làm cách nào để sử dụng, khiến Như Ý châu không cứu được chúng sinh. Tuy nhiên, nếu vào tay các vị Bồ tát, có thể làm lợi ích cho tất cả chúng sinh.

(3) Chân Như dụ cho vàng có trong tất cả chúng sinh qua tỷ dụ thứ ba. Tỷ dụ nầy nói về vàng có trong khối đá màu vàng. Người kém trí không biết được rằng đá chứa vàng, nhìn lầm đá vàng cũng như những khối đá khác. Điều nầy nói về kẻ vô minh, mặc dù có sẳn Phật tánh tức Chân Như, vẫn không biết làm cách nào để khai phát bản tánh sẳn có nầy. Người biết lượng giá trị có thể làm tan đá chảy vàng, nhưng cũng chỉ biết giữ làm của riêng. Chỗ nầy dụ cho Nhị thừa chỉ diệt được ô nhiễm cho riêng mình mà không biết làm lợi người. Khi người thợ làm vàng lấy được thỏi vàng, ông ta sẽ biết cách sản xuất ra đủ các loại nữ trang. Chỗ nầy sánh với Bồ tát Biệt giáo, là những vị vào được Giả để hoán chuyển chúng sinh. Khi người tu phép trường sinh bất tử lấy được vàng, ông nầy có thể chế tạo ra linh đơn, được tự do biến hóa như ý. Chỗ nầy dụ cho Bồ tát Viên giáo, người có thể đồng nhất Chân Đế với sự kiện, vì đã thấy được rằng thế giới hiện tượng ôm trọn chân lý, nơi đó không hề có sự khác biệt. Với lối nhìn về thực tại đồng nhất như vậy, Trí Khải nhấn mạnh rằng Bồ tát có thể giác ngộ ngay ở khoảnh khắc vừa phát sinh tâm Bồ đề. Nơi một thân Bồ tát có thể sinh vô lượng thân tùy cơ nghi đáp ứng chúng sinh.

Với cái nhìn về một thực tại như nhất, theo Trí Khải, dù là với kẻ vô minh hoặc là một vị Bồ tát Viên giáo, tất cả đều hiển thị Chân Như, ví như tất cả đều sở hữu vàng. Nhìn về sự kiện khác biệt thì hẳn là đá khác vàng, vàng khác nữ trang, và nữ trang khác với linh đơn.

Qua ba tỷ dụ trên, Trí Khải kết luận rằng tất cả có trong cái vi diệu của Thể, Dụng, và Tông. Thể kinh Pháp Hoa là Chân Như, như voi lớn chạm đáy đất bùn, vững vàng đến đổi không thể bị hoại diệt. Chỗ nầy sánh với Diệu Thể. Ngọc Như Ý khiến châu báu như mưa dụ cho Diệu Dụng. Trí tuệ sắc bén của Bồ tát Viên giáo dụ cho Diệu Tông. Trí Khải nói thêm rằng ba phần Diệu nầy không thể nhìn qua khái niệm hoặc tung hoặc hoành được gọi trong Đại thừa.

6. Thứ sáu, Trí Khải nói rằng chân thể được tiếp nhận từ sự chứng ngộ của riêng hành giả (29). Điều nầy cho thấy rằng với trí siêu việt liên quan đến Chân Như, hành giả có thể chứng ngộ Chân Như. Chân Như nầy chính là thể của kinh Pháp Hoa.

C. Một Pháp với nhiều tên gọi khác nhau ( I-fa I-ming)

(T33, 782b-784a) Nhằm mục đích phân tích Chân Như tương ưng với sự viên dung của Thể, Trí Khải nhấn mạnh rằng mặc dù chỉ có một Pháp là Chân Như, nhưng có nhiều tên gọi khác nhau. Có ba mặt được nói đến trong phần nầy. Mặt thứ nhất trình bày những tên gọi khác nhau, tất cả những tên gọi nầy đều nói đến ý nghĩa Chân Như. Mặt thứ hai giải thích những tên khác nhau bằng cách nói rằng những tên gọi nầy đưa ra những khía cạnh khác nhau của Chân Như qua danh, nghĩa, và thể. Sự tương quan trong ba khía cạnh nầy được tóm lược qua bốn trường hợp, trường hợp sau cuối được xem là Chân Như, mang đanh nghĩa khác nhau, nhưng cùng chung một thể. Quán sát những tên gọi khác nhau về Chân Như, nơi mà thể được suy ra là nền tảng của Chân Như, Trí Khải giữ vững học thuyết của Đại Sư chủ trương rằng Chân Như là thể, bởi vì Chân Như tức thể là nguyên lý quan trọng hợp nhất vạn pháp. Mặt thứ ba giải thích lý do Chân Như có quá nhiều tên gọi vì để phù hợp với căn cơ chúng sinh, và những căn cơ nầy thuận theo Tứ giáo.

1. Mặt thứ nhất, Trí Khải kể ra những tên gọi khác nhau được đề cập đến qua những bản kinh (30). Khi nói rằng tất cả nhửng tên nầy đều chỉ Chân Như, Trí Khải có thể hợp nhất tất cả những giáo pháp Phật nói về chân lý. Gồm có : Diệu Hữu, Chân Thanh Tịnh Diệu Tướng, Thực Tại, Chân Không, Như Thị, Niết Bàn, Hư Không Phật Tánh, Như Lai Tạng, Tâm Trung Đạo Thực Lý, Bất Hữu Bất Vô Trung Đạo, Đệ Nhất Nghĩa Đế, và Tịch Diệt. Để hợp hóa chọn lựa của mình về Chân Như (Thực Tướng), Trí Khải lập luận rằng Chân Như có thể đại diện cho tất cả những tên gọi khác. Đại sư phê bình những người đã bị trói buộc vào một danh xưng nào đó, và những người đã lầm lẩn những tên gọi khác nhau với những nghĩa khác nhau. Đối với những người hoặc là thiên về Thanh văn thừa, hoặc là thiên về Đại thừa thì luôn cho rằng quan điểm của mình là đúng, và không cần biết đến quan điểm của người khác. Trí Khải chủ trương rằng Chân Như chỉ trong một Pháp, là nơi không còn có một chỗ trống nào dành cho những người thích hí luận.

2. Mặt thứ hai (31), Trí Khải đưa ra một sự giải thích về những tên khác nhau nói trên về Chân Như, bằng cách suy gẫm qua bốn trường hợp. Mỗi trường hợp trong bốn trường hợp, hợp lại những tên gọi đưa ra ba khía cạnh của Chân Như : Danh, Nghĩa, và Thể. Bốn trường hợp nầy cho thấy sự tụ hợp của những tên gọi nầy có những tương quan về ba mặt khác nhau, qua đó, đặc tính của Chân Như được trình bày sống động, và trường hợp sau cùng được xem là biểu thị cho Chân Như.

(1) Trường hợp thứ nhất, Trí Khải phân ra bốn nhóm, mỗi nhóm có ba tên. Ba tên nầy trong mỗi nhóm cùng đưa ra danh, nghĩa, và thể. (Ming-i-ti Tung) (32). Nói cách khác, cả ba tên đều diễn tả đặc tính của Giả hữu trong nhóm thứ nhất, tánh Không của vạn vật trong nhóm thứ hai, và tánh viên dung của Trung Đạo trong nhóm thứ ba, và đặc tính Trung Đạo trong nhóm thứ tư. Kết quả là ba nhóm mà những tên gọi nầy liên hệ qua từng nhóm đều giống nhau. Trí Khải ví trường hợp nầy với một người có tên là thợ vàng (danh), là người có thể đúc vàng (nghĩa), và có màu da vàng (thể). Thấy rằng cả ba yếu tố đều liên quan đến màu sắc vàng, ba mặt như nhau, là một thực tại tách biệt (vì thiếu nguyên lý nền tảng) mà Trí Khải muốn ám chỉ.

(2) Trường hợp thứ hai, ba tên gọi từ mỗi nhóm trong bốn nhóm đưa ra những nghĩa tương quan khác nhau, ba mặt (danh, nghĩa, và thể) cũng khác nhau.(33) Trí Khải ví trường hợp nầy với một người mang tên là xanh lục (danh), là người thợ sơn (nghĩa), và có màu da trắng (thể). Vì ba mặt mang những màu sắc khác nhau nên cả ba khác nhau, không có một cái lực có thể hợp nhất tất cả, là điều Trí Khải muốn ám chỉ.

(3) Trường hợp thứ ba, ba tên gọi trong từng nhóm từ hai nhóm sau đây cho thấy rằng hai tên chỉ cùng một vật, cho thấy danh và nghĩa không khác. Tuy nhiên, một tên trong những tên nầy chỉ một vật khác, thể mà tên chỉ khác với hai mặt kia (Ming-i-tung Erh-ti-i) (34).Trí Khải ví trường hợp nầy với một trăm người mang cùng tên gọi (danh), có cùng năng khiếu (nghĩa), nhưng thân thể mỗi người khác nhau (thể) nên cũng không biểu thị được Chân Như, vì không có nhất thể nằm trong vạn hữu.

(4) Trường hợp thứ tư cho thấy rằng mặc dù những tên gọi khác nhau chỉ hai mặt (danh và nghĩa) khác nhau, nhưng thể thì không khác (Ming-i-Erh-ti-tung). Trí Khải giải thích rằng bao lâu vạn hữu cùng chung một thể (chỉ Chân Như), thì không còn có sự khác biệt về danh (như Diệu Hữu, Không v.v…). Qua sự kết hợp những tên gọi nói trên, Trí Khải cho thấy rằng chỉ khi nào lấy Chân Như làm thể, muôn mặt được hội nhập, nơi đó chỉ còn nhất thể. Chỗ nầy ví một người, vì gia biến, phải thay đổi tên họ đi từ xứ nầy qua xứ khác, và mang những chức vụ khác nhau. Đổi tên họ tương tự như tên gọi khác, giữ nhiều chức vụ khác nhau tương tự như khác nghĩa. Tuy nhiên, thân là một (thể không khác). Để chứng minh điểm nầy, Trí Khải nói rằng giống như một người hầu cận vua, một mình có thể địch lại cả ngàn người, thân thể người hầu cận nầy, hẳn nhiên không thể chống cự lại cả ngàn kẻ đối địch, nhưng tài trí xuất chúng của người nầy vượt trên ngàn người, vì vậy mà cho rằng một người thắng ngàn người. Thể như vậy, được Trí Khải tán dương là trọn vẹn và ứng hợp được với tất cả những tên gọi khác nhau một cách toàn hảo, vì là viên dung, muôn hiện hữu đồng thời có mặt. Với Trí Khải, bao lâu vạn pháp chung cùng một thể là Chân Như, thì một thực tại hội nhập viên diệu có thể được phơi bày.

Câu hỏi tiếp theo là tại sao Chân Như lại có nhiều tên gọi?. Để trả lời câu hỏi nầy, Trí Khải đưa ra phần giải thích dưới đây, trong tương quan với Tứ giáo.

3. Mặt thứ ba, để giải thích lý do Chân Như được gọi với nhiều tên, Trí Khải làm sáng tỏ hệ thống phân loại của Đại Sư về Tứ giáo (35). Trí Khải nói rằng những tên gọi khác nhau về Chân Như có thể được xếp vào bốn loại, và căn cơ chúng sinh cũng được xếp vào bốn loại khế hợp.

(1) Đối với những chúng sinh thiên về Hữu (Yu-ken-hsing), Thế Tôn dạy những giáo lý mang danh tướng như Diệu Hữu, và Chân Thanh Tịnh Diệu Tướng, với mục đích hướng dẩn chúng sinh tu tập tịnh tánh, vượt qua tà niệm. Nhóm chúng sinh nầy liên quan đến Tạng giáo.

(2) Đối với những chúng sinh thiên về Không (Kung-ken-hsing), Thế Tôn dạy giáo lý mang những tên như Chân Không, Như Thị, và Niết Bàn, với mục đích đưa chúng sinh về Không Đế. Nhóm chúng sinh nầy liên quan đến Thông giáo.

(3) Đối với những chúng sinh thiên về Không và Hữu (I-Kung I-Yu Ken-hsing), Thế Tôn dạy giáo lý mang những tên như Hư Không Phật Tánh, Như Lai Tạng, và Tâm Trung Đạo Đệ Nhất Nghĩa, với mục đích khiến chúng sinh thấy được Trung Đạo vượt trên hai lối nhìn cực đoan hoặc Hữu hoặc Vô. Nhóm chúng sinh nầy liên quan đến Biệt giáo.
(4) Đối với những chúng sinh thiên về Chẳng Hữu Chẳng Vô (Fei-yu Fei-kung Ken-hsing), Thế Tôn dạy giáo lý mang những tên như Trung Đạo Chẳng Hữu không Chẳng Hữu, với mục đích hướng dẩn chúng sinh nhận ra Trung Đạo có mặt trong vạn pháp. Nhóm chúng sinh nầy liên quan đến Viên giáo.

Để kết luận, Trí Khải lập lại rằng mặc dù có nhiều giáo pháp khế hợp căn tánh chúng sinh, Chân Như tức Thể không khác. Đại Sư giải thích rằng Thế Tôn dạy bốn pháp môn khác nhau tương hợp với bốn căn tánh chúng sinh. Giáo pháp khác nhau mang tên gọi khác nhau. Công dụng khác thì ý nghĩa cũng khác. Tuy nhiên, vì sự chứng ngộ rốt ráo của hành giả về lý thì không khác, thể được nói đến cũng không khác.

Tôn trọng những tên gọi khác nhau về Chân Như liên quan đến giáo pháp của Phật hướng dẩn chúng sinh qua Tứ giáo, có nghĩa rằng mỗi giáo pháp trong Tứ giáo mở một cánh cửa vào Chân Như. Phần tiếp theo sau đây là phân tích của Trí Khải về cánh cửa mở vào Chân Như qua Tứ giáo.

D. Vào cửa Chân Như (Ju Shih-hsiang Men)

(T33, 784a-792c). Thấy rằng Chân Như tức Thể là phần tối quan trọng để đạt đến giác ngộ, Trí Khải nói đến bốn cánh cửa đưa về thực tướng Chân Như qua Tứ giáo. Trước hết, Trí Khải diễn tả đặc tính của Tứ Môn liên quan đến Tứ Cú. Mặc dù từng giáo pháp trong Tứ giáo đều có tứ môn, từng môn đều mang những đặc tính khác nhau. Thứ hai, Trí Khải kể ra những phương pháp khác nhau liên hệ đến từng môn, khiến hành giả có thể đến được với chân lý qua những cánh cửa nầy từ mỗi giáo pháp trong Tứ giáo. Mặt thứ ba, quán sát những môn nầy qua từng phần trong Tứ giáo về giáo môn có thể hội nhập chân lý và giáo lý diễn đạt đến chân lý, với mục đích phân loại thô và tế. Với phương tiện phân biệt những pháp môn thô, tế, pháp môn thô đồng như pháp môn tế, thấy rằng tất cả những pháp môn của Tứ giáo đều lấy Chân Như làm Thể.

I. Khía cạnh thứ nhất, Trí Khải dùng Tứ Cú (Ssu-chu/ Catuskoti) xác định, phủ định, xác định và phủ định, và hai lần phủ định (36) để vẽ ra đặc tính của Tứ Môn (Ssu-men) (37). Tứ Môn, vì vậy, được thành lập bởi Trí Khải, chỉ Hữu, Không, Hữu và Không, và Chẳng Hữu Chẳng Không, là những cái có trong Tạng giáo, Thông giáo, Biệt giáo, và Viên giáo. Tứ môn nầy qua Tứ giáo chuyển đạt lý Chân Như, qua đó, hành giả có thể vào được thực tướng. Vì từng giáo môn trong Tứ giáo chứa đựng Tứ cú ( là Tứ môn), Tứ giáo có tất cả mười sáu môn. Nếu người tùy thuận giáo pháp mà đắc được chân thanh tịnh, đây là lấy giáo pháp làm cửa vào (I-chiao Wei-men). Nếu một người tùy thuận giáo pháp tu tập quán chiếu, vào được chân lý, đây là lấy sự hành trì làm cửa vào (I-hsing Wei-men).

Vì Tứ giáo có mười sáu môn xếp theo giáo và hành, mỗi bên có mười sáu cửa, tất cả cả là ba mươi hai cửa. Theo Trí Khải, giáo và hành tự tán trợ cho nhau. Nếu hành giả không giác ngộ qua một trong hai cửa nầy, hành giả nên đổi qua quán chiếu, hoặc lắng nghe giáo pháp, để thành tựu được sự tu tập. Đây là lý do tại sao sự kết hợp của hai mặt nên được kể chung (Chiao-kuan Shuang-lun) tổng cộng ba mươi hai cửa. Căn cứ vào mười sáu cửa được nói đến qua Tứ giáo, Trí Khải bắt đầu giải thích chi tiết đặc tính của mười sáu cửa qua giáo pháp.

1. Nhìn về đặc tính của tứ môn Tạng giáo, Trí Khải phát họa như sau :
(i) Hữu Môn (Yu-men) vẽ ra cho chúng sinh thấy được rằng luân hồi do vô minh mà có (là nhân sinh diệt). Tất cả những phiền não, nghiệp chướng, khổ, và vòng luân hồi trong ba cõi thuộc về Hữu, và tất cả những thứ lớp giác ngộ có từ sự tu tập để diệt nhân của khổ là Hữu. Nói tóm lại, nếu hành giả chứng ngộ vì thấy rõ Hữu, thì đó là Hữu Môn.
(ii) Không Môn (Kung-men) phân tích những chánh nhân như Vô minh, Lão tử, Khổ đế, và Tập đế. Tất cả những nhân và duyên nầy vào hư không bình đẳng. hành giả chứng ngộ qua cái thấy Không, và vì thế, đây là Không môn.
(iii) Diệc Hữu Diệc Không Môn (Yu-Kung men) quán các nhân duyên sinh diệt cũng có cũng không. Với cái thấy nầy, hành giả có thể vượt qua quan điểm trói buộc cực đoan vào hoặc Không hoặc Có.
(iv) Phi Hữu Phi Không Môn (Fei-Yu Fei-Kung Men) đạt đến tự do từ nhân duyên sinh diệt, đưa đến nguyên lý Phi Hữu Phi Không. Với giáo thuyết nầy, hành giả có thể diệt cả hai lối nhìn cực đoan về Hữu và Vô.

2. Nhìn về đặc tính của Tứ Môn Thông giáo, Trí Khải giải thích rằng bốn cánh cửa nầy dựa vào giáo thuyết vạn pháp đồng hư không.
(i) Hữu Môn chỉ giáo thuyết cho rằng tất cả đều thực như Hữu. Lập luận nầy giống như ảnh của một người trong tấm gương soi, mặc dù ảnh không có thực thể, nhưng vẫn có sự huyễn hiện của người nầy. Đây là cái nhìn của Hữu Môn.
(ii) Không Môn là thuyết nói về tất cả các pháp như huyễn và không có tự tánh. Căn cứ và bản tánh như huyễn, các pháp đều là Không. Chỗ nầy giống như ảnh phản chiếu nơi tấm gương có thể được thấy, nhưng không nắm giữ được. Đây là cái nhìn của Không môn.
(iii) Diệc Hữu Diệc Không Môn là thuyết xác định cả hai lối nhìn về Hữu và Không. Bởi vì vạn pháp như huyễn, chỗ nầy có thể được gọi là huyễn hữu. Tuy nhiên, thấy được rằng cái như huyễn nầy không thể nắm giữ, đó tức Không. Đây là cái thấy của Diệc Hữu Diệc Không Môn.
(iv) Phi Hữu Phi Không Môn là thuyết phủ nhận cả hai cái thấy về Hữu và Không. Bởi vì các pháp như huyễn hiện, cái nhìn về Không không thể đứng vững. Bởi vì các pháp có bản tánh như huyễn, không thể nắm giữ, nên cái nhìn về Hữu cũng không thể đứng vững. Đây là cái thấy của Phi Hữu Phi Không Môn.

3. Nhìn về đặc tính của Tứ Môn Biệt Giáo, bốn cánh cửa nầy căn cứ vào giáo thuyết từ bài kệ trong Madhyamika-karika (Trung Quán Luận) nói rằng Vạn pháp từ duyên sinh, cũng được gọi là Giả danh(38). Trí Khải chủ trương rằng đặc tính của tứ môn nầy có thể dược mô tả qua Phật tánh, ví như sữa.
(i) Hữu Môn chỉ Phật tánh, sánh với trong chất sửa có chất bơ. Đây là cái thấy của Hữu Môn.
(ii) Không Môn chỉ Phật tánh có trong mỗi chúng sinh như hư không. Đây là cái thấy của Không Môn.
(iii) Diệc Hữu Diệc Không Môn chỉ Phật tánh trong cả hai Hữu và Vô-Hữu (Non-Being). Phật tánh là Hữu vì có trong tất cả chúng sinh; và Phật tánh là Không vì chỉ được hiển lộ với phương tiện thiện xảo. (39) Chỗ nầy muốn nói Phật tánh là Vô-Hữu nếu không chứng ngộ được. Chỉ với phương tiện giáo hóa của Phật, Phật tánh nơi chúng sinh có thể lộ bày. Đây là cái thấy của Diệc Hữu Diệc Không Môn.
(iv) Phi Hữu Phi Không Môn chỉ Phật tánh như Trung Đạo, không mang theo những lối nhìn cực đoan hoặc Có hoặc Không. Đây là cái thấy của Phi Hữu Phi Không Môn.

4. Nhìn về đặc tính Tứ Môn Viên giáo được Trí Khải mở ra như một cửa vào Phật Tánh Tối Thượng Thừa. Trí Khải nói rằng bốn cánh cửa Viên Giáo cùng chung danh và nghĩa với bốn cánh cửa Biệt giáo nói trên, nhưng khác nhau ở chỗ chứng ngộ được Chân Như.(40)

I. Đường hướng giải thích của Trí Khải mười sáu cánh cửa về Giáo nói trên như bảng chỉ đường vào những cánh cửa nầy. (41) Chỗ nầy cho thấy rằng mười sáu cánh cửa qua Tứ giáo được giải thích trong tương quan với Hành. Trí Khải nói về hành như nơi nhập môn và như pháp quán chiếu để vào mỗi cửa.

1. Nöi nhập môn chỉ cho mười sáu cửa đưa hành giả đến được với Chân Đế. Trí Khải chia Chân Đế ra làm hai loại : phiến diện và toàn diện. Chân Đế phiến diện chỉ quan điểm Không, thấy rằng lối nhìn nầy chưa thấy được Giả là một phần của cùng chung thực tại. Chân Đế toàn diện chỉ Trung Đạo khẳng định giá trị của cả hai mặt Không và Giả. Chân Đế phiến diện thuộc Tạng giáo và Thông giáo, mỗi bên có bốn cửa, tổng cộng tám cửa. Chân Đế toàn diện thuộc Biệt giáo và Viên giáo, mỗi bên cũng có bốn cửa, cộng lại cũng là tám cửa.

2. Chỉ rồi chỗ nhập môn, Trí Khải đi sâu hơn vào hệ thống tu tập như phương tiện khiến hành giả vào được các cửa, phù hợp với Tứ giáo.

(1) Hữu môn thuộc Tạng giáo được nói đến qua Hành tùy thuận các pháp như Giáo (42). Trí Khải đưa ra mười phương pháp làm phương tiện vào thẳng cánh cửa Chân Đế.
(i) Thực tại bất tư nghị (Shih Suo-kuan-ching) là phương pháp giúp hành giả nhận ra được chánh nhân. Đó là, vô minh là nhân sinh các pháp.
(ii) Chân phát tâm (Chen-cheng Fa-hsin) là phương pháp giúp hành giả biết vô minh là nhân của tất cả các khổ trong vòng luân hồi, khiến hành giả có thể phát tâm Nhị Thừa, và muốn diệt các Hữu. Tâm nầy được gọi là trực tâm, sơ tâm chân chính.
(iii) Tu tập định và tuệ (Tsun-hsiu Ting-hui) tức thực hành Tứ Niệm Trụ (43) để được trí tuệ, và Ngũ Đình Tâm Quán (44), để được định. Cả hai đường hướng tu tập có thể giúp hành giả vượt qua những chướng ngại trên đường tu. Trí Khải nói đến ý nghĩa của định và tuệ bằng cách nhấn mạnh rằng với định, hành giả sẽ khôngtrở nên kiêu mạn, và với tuệ, hành giả không còn ở trong ngu tối.
(iv) Phá trói buộc (Po fa-Pien) có nghĩa rằng với sự tu tập nói trên, hành giả có thể vượt qua những cái thấy sai lệch, và đã biết rõ về Hữu, hành giả giác ngộ.
(v) Phân biệt lối đi và chướng ngại (Chih-tung-sai) chỉ sự nhận thức của hành giả rằng tất cả cái thấy sai lạc đều từ nhân duyên và nên vượt qua, vì thế gọi là nhận biết sự ngăn ngại. Mặt khác, chỉ sự giác ngộ của hành giả rằng kiến hoặc như Không vì đến từ nhân duyên, vì thế gọi là nhận biết lối đi.
(vi) Phối hợp ba mươi bảy trợ duyên chứng ngộ (Shan-hsiu Tao-pin) chỉ sự tu tập ba mươi bảy trợ duyên đưa đến chứng ngộ của hành giả, nếu những phươong tiện phân biệt lối đi và chướng ngại không đủ giúp hành giả vào được cửa Pháp.
(vii) Vượt chướng ngại đến chứng đắc (Shan-hsiu Tui-chih) chỉ những trợ duyên phụ thuộc giúp đở trên đường tu tập. Có nghĩa rằng nếu hành giả không vào được cửa Pháp qua ba mươi bảy trợ duyên đưa đến chứng ngộ, nên dùng phương tiện phụ thuộc để vượt chướng ngại. Nếu hành giả thiếu trí đức, thì nên làm khai phát tâm viên dung vô lượng pháp để độ chúng sinh. Nếu hành giả bị vướng mắc vào sắc tướng, thì nên quán tâm để diệt cái thấy sai lệch về tướng.
(viii) Biết thứ vị (Shan-chih Wei-tzu) Nếu đã thực hành tất cả những phương pháp nói trên, hành giả không nên kiêu mạn và tự nhận rằng đã chứng Thánh quả. Hành giả nên biết có sự khác biệt giữa thực chứng chân vô nhiễm và sắp sửa chứng được chỗ gần với chân vô nhiễm.
(ix) An nhẫn ((shan-neng An-jen) Nếu hành giả vẫn chưa chứng ngộ chân lý qua Tứ Niệm Trụ khi tu tập riêng rẽ, hành giả nên tu tập Tứ Niệm Trụ chung với nhau (45). Hành giả nên an trú trong đức nhẫn để tiếp nhận được Tứ Đế, thành tựu quán chiếu chân lý.
(x) Không bị pháp ái trói buộc ((Fa-ai Pu-sheng) Nếu hành giả vẫn bị các pháp trói buộc sau khi thực hành những phương pháp nói trên, hành giả sẽ không thể vào được cửa Pháp để chứng ngộ chân lý.

Mười phương pháp quán chiếu nói trên được Nhị thừa tu tập để chứng được Chân Đế trong Hữu Môn thuộc Tạng giáo. Trí Khải nói rằng mười phương pháp nầy cũng có thể được áp dụng cho ba môn còn lại (Không, Diệc Hữu Diệc Không, Phi Hữu Phi Không) của Tạng giáo. Mặc dù có những giáo lý khác biệt trong ba pháp môn nầy, những phương pháp nầy cũng không khác khi nhắm vào sự gặp gỡ Chân Đế phiến diện, và diệt vọng trong ba cõi.

(2) Về Hữu Môn Thông Giáo, Trí Khải trình bày những phương pháp tu tập đưa hành giả vào hữu môn Thông giáo. (46) Mười phương pháp áp dụng cũng rút ra từ những phương pháp nói trên. Theo Trí Khải, một cách căn bản, giáo lý được dùng để mở cánh cửa nầy chỉ sự liễu ngộ của hành giả rằng vạn pháp đều như huyễn. Với trí tuệ như vậy, hành giả có thể vượt qua những lối nhìn sai lệch về các pháp. Bằng cách thực hành mười phương pháp nầy, hành giả chuẩn bị vào một trong bốn cửa của Thông giáo, chứng đắc Chân Đế.

(3) Về Hữu Môn Biệt giáo, Trí Khải đưa ra đặc tính độc đáo bằng cách nói đến những đối tượng quán chiếu và đưa về Bồ đề tâm. (47) Quán chiếu những đối tượng phản ảnh cái thấy Giả, từ đó Bồ tát nhìn cõi người như hiện hữu vi diệu, dựa vào Không. Phát sinh Bồ đề tâm có nghĩa rằng Bồ tát, khi đã quán chiếu thâm sâu hiện hữu vi diệu nầy, không còn bị trói buộc trong sinh tử (vì cái thấy Giả căn cứ vào cái thấy Không). Tuy nhiên, vì muốn cứu độ chúng sinh, Bồ tát sinh từ bi và phát tâm Bồ đề, thực hành thiền quán và trí tuệ. Thực tập mười phương pháp nói trên, Bồ tát vào Hữu Môn, bình đẳng chứng đạt Chân Như.

(4) Bốn cánh cửa sau cùng Trí Khải phân tích thuộc Viên giáo (48). Trước khi trình bày mười phương pháp hành trì qua cánh cửa Viên giáo, Trí Khải đưa ra định nghĩa về giáo pháp nầy để phân biệt với Biệt giáo (vì cả hai đều chủ trương Trung Đạo). Xa hơn, Trí Khải nói thêm về Viên giáo môn qua Hành. Trí Khải cho rằng với Giáo, cánh cửa Viên giáo trọn vẹn vớí mười đặc tính; về Hành, Viên giáo cũng viên dung với mười phép quán chiếu.

Định nghĩa pháp môn Viên giáo là để giới thiệu giáo pháp Viên giáo bằng cách so sánh tứ môn Biệt giáo với tứ môn Viên giáo qua mười khía cạnh. (49) Mười khía cạnh diễn tả mười đặc tính của hai pháp môn nầy, cho thấy rằng Viên giáo được xác nhận là viên mãn.

(i) Khía cạnh thứ nhất, Trí Khải giải thích hai pháp môn liên quan đến hội tụ và không hội tụ, qua đó, Viên giáo môn có đặc tính hội tụ sánh với Biệt giáo. Chỗ nầy cho thấy hoặc là những pháp môn nầy hội tụ, hoặc là cái dụng của những pháp môn nầy hội tụ.
Sự hội tụ của những pháp môn đặc biệt có nghĩa bốn cánh cửa của một pháp môn hợp nhất. Trí Khải lập luận rằng bốn cánh cửa Biệt giáo thì không đồng nhất, vì giáo lý được thuyết trong Hữu Môn thì không liên quan đến giáo lý được thuyết trong Không môn. Giáo lý được thuyết trong Không môn cũng không liên quan đến giáo lý được thuyết trong Hữu Môn. Và giáo lý được thuyết trong Diệc Hữu Diệc Không Môn cũng không liên hệ đến giáo lý được thuyết trong Phi Hữu Phi Không Môn. Nói cách khác, tứ môn Viên giáo thì đồng nhất. Điều nầy có nghĩa rằng một cánh cửa bao gồm ba cánh cửa kia, như cửa Hữu đồng như cửa Không, cửa Diệc Hữu Diệc Không, và cửa Phi Hữu Phi Không, bởi vì bất cứ môn nào trong bốn môn nầy đều là sự biểu thị của tất cả bốn môn.
Hội tụ cái dụng của các cửa có nghĩa rằng hoặc tứ môn của một giáo pháp có thể diệt được kiến hoặc, hoặc là có thể hiển lộ một thực tại hợp nhất. Sự phá bỏ những lối thấy sai lệch gồm cả việc diệt tư tưởng ngoại đạo, Nhị thừa, và những phương tiện khế cơ của Đại thừa, vì có phá vỡ như trên thì Chân Như mới lộ dạng. Một sự hội nhập trọn vẹn liên quan đến sự đồng nhất vạn pháp, vì tất cả những việc của đời đều không lay động được Chân Như (51)

(ii) Khía cạnh thứ hai, Trí Khải suy gẫm bốn cửa của hai pháp môn với câu hỏi rằng những cánh cửa nầy có thể mở ra một sự đồng nhất giữa Luân Hồi và Niết Bàn hay không? Đại Sư nói rằng tứ môn thuộc Biệt giáo nhắm vào sự siêu việt cái hữu sinh tử, để thấy được cái chân thanh tịnh vi diệu hữu. Tứ môn Viên giáo, tuy nhiên, nhận chân Hữu với Chân Như, vì cái trước làm hiển lộ cái sau. Như vậy, pháp môn Viên giáo hợp nhất Luân Hồi (Hữu) với Niết Bàn (Chân Như).

(iii) Khía cạnh thứ ba, Trí Khải quán chiếu bốn cửa của hai pháp môn với Tam Trí (Nhất Thiết Trí, Đạo Chủng Trí, và Nhất Thiết Chủng Trí), nhằm mục đích đưa về Phật trí. Nhất Thiết Trí liên hệ đến Pháp Không, Đạo Chủng Trí liên hệ đến vô lượng đặc tính của các pháp, Trí Khải diễn tả như trí của Bồ tát, thuộc Biệt giáo. Nhất Thiết Chủng Trí liên quan đến Chân Như, Trí Khải diễn đạt như Phật trí, thuộc Viên giáo.

(iv) Khía cạnh thứ tư, Trí Khải khảo sát bốn cửa của hai pháp môn với sự hành trì. Tiệm Hành chỉ sự yếu kém. Tri Khải nói về Tiệm Hành như những nấc thang mang đặc tính của Biệt giáo. Bốn cửa Viên giáo cho thấy rằng một hành gồm thu tất cả hành. Chỗ nầy có nghĩa rằng hành của Viên giáo đi thẳng vào Chân Như, cùng với đốn ngộ, hành giả có thể mở được cánh cửa Viên giáo.

(v) Khía cạnh thứ năm, Trí Khải khảo sát bốn cửa của hai pháp môn qua vấn đề diệt vọng. Đại Sư nói rằng vấn đề diệt vọng của Biệt giáo qua những phương pháp thực hành khác nhau, có đặc tính diệt vọng bởi động tác diệt (severing delusions by an act of severance). Nói cách khác, vấn đề diệt vọng qua pháp môn Viên giáo không phải là sự dụng công xa lìa vọng, nhưng là liễu đạt được thực tướng, trong đó vọng và tuệ đồng nhất. Nói cách khác, hành giả chứng đắc giải thoát từ trí tuệ vào thực tướng. Trí Khải nhìn cách thức diệt vọng như vậy tức diệt vọng mà không dụng công diệt.

(vi) Khía cạnh thứ sáu, Trí Khải khảo sát bốn cửa của hai pháp môn với câu hỏi hai pháp môn nầy có diễn đạt được vị trí thực sự (true position). Mặt khác, Đại sư tuyên thuyết rằng thứ bậc chứng đạo của Biệt giáo vẫn còn là phương tiện (52) sánh với thứ bậc chứng đạo qua Viên giáo, nên chưa phải là thực vị. Nói cách khác, với Trí Khải, thứ bậc chứng đạo của Viên giáo mới là thực vị. Lý do là vì những vị khác nhau trong Viên giáo, mặc dù mang cùng tên gọi với những thứ bậc chứng đắc của Biệt giáo (53), có một sự thanh tịnh siêu việt. Ở quả vị Thập Tín, hành giả đã diệt được vọng trong ba cõi. Với bốn thứ lớp tiếp theo (Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, và Thập Địa), hành giả đã hoàn toàn vượt qua được sự ô nhiễm từ kiến hoặc, tư hoặc và vô minh ngoài ba cõi. Ở vị Đẳng Giác, hành giả đã vĩnh viễn khô cạn vô minh. Diệu Giác có nghĩa rằng không còn gì cần phải diệt, và đây là chứng đắc Phật giới. Trí Khải thấy rằng quả vị Diệu Giác của Biệt giáo vẫn còn kém sánh với quả vị Diệu Giác của Viên giáo, bởi vì vẫn còn một chút vô minh cần phải vượt qua.

(vii) Khía cạnh thứ bảy, Trí Khải khảo sát bốn cửa của hai pháp môn qua Bồ đề quả là tung (vertical) hoặc không là tung. Phật giới chứng được từ pháp môn Biệt giáo chỉ nghĩa tung. Điều nầy có nghĩa rằng hành giả dần dần chứng được ba tánh đức Bồ đề. Pháp Thân có trong mỗi chúng sinh tức nhân Bồ đề, Trí Tuệ viên mãn chứng được qua sự tu trì là công cụ đưa đường vào Phật giới, và Giải Thoát là kết quả của tu trì. Tuy nhiên, trong cửa Viên giáo, hành giả tương ưng một cách đồng thời với ba tánh đức nầy. Điều nầy có nghĩa rằng khi hành giả chứng đắc Bồ đề, Bồ đề nầy có ý nghĩa chẳng tung mà cũng chẳng hoành. Như vậy, Bồ đề chứng được qua cửa Viên giáo là thực tính Bồ đề bất khả tư nghị và khó diễn đạt qua văn từ.

(viii) Khía cạnh thứ tám, Trí Khải quán sát bốn cánh cửa của hai pháp môn với câu hỏi rằng hai pháp môn nầy có chứa đựng được một sự giải thích trọn vẹn. Trí Khải nói rằng chân lý được nói đến qua Biệt giáo không được giải thích thỏa đáng, như trí Bồ tát liên quan đến phương pháp tiệm tiến để chứng đắc chân lý. Chân lý qua pháp môn Viên giáo thì trọn vẹn, như trí Phật vào Chân Như tức một thực tại hợp nhất.

(ix) Khía cạnh thứ chín, Trí Khải nói rằng nếu hành giả không thể thấy được sự khác biệt giữa Viên giáo và Biệt giáo, hành giả nên suy gẫm về những khía cạnh đã nêu trên về hai pháp môn nầy.

(x) Khía cạnh thứ mười, Trí Khải nói rõ rằng sự khác biệt giữa Biệt giáo và Viên giáo trở nên minh bạch hơn nếu được trình bày qua tỷ dụ, như tỷ dụ được đưa ra trong phần chọn lựa một Chân Như với tỷ dụ, trong đó, ví voi nhỏ với Biệt giáo, và voi lớn với Viên giáo.

Phần trên là giải thích của Trí Khải về bốn cửa của Viên giáo qua giáo pháp. Ở đây, Đại Sư bắt đầu giải thích về bốn cửa của Viên giáo trong phạm vi hành (54). Đây là chỗ phân tích làm cách nào hành giả có thể vào được Chân Như qua phép quán chiếu. Mười phương pháp quán chiếu được liệt kê trong tương quan với Tam Quán của Viên giáo. Mặc dù mười phương pháp nầy mang cùng tên như những phương pháp trong Hữu Môn thuộc Tạng giáo, Trí Khải nhấn mạnh rằng nội dung hoàn toàn khác biệt, thuần về Viên giáo.

(i) Thực tại bất tư nghị (Pu-ssu-i Ching) : chỉ Nhất Chân Như trong tương quan với Tứ Đế. Tứ Đế được quán như thực tại với trí tuệ Tam Đế, qua đó, thực tại Tứ Đế tiếp nhận cùng lúc đồng với Không, Giả, và Trung Đạo. Chứng đạt Tam Đế trong nhất niệm tức Đại Niết Bàn, theo Trí Khải.

(ii) Chân phát tâm (Fa Chen-cheng-hsin) : tất cả chúng sinh đều sở hữu tính tịch diệt, đồng với Đại Niết Bàn, và tất cả ô nhiễm đều đồng với trí tuệ Bồ đề. Vì chúng sinh lầm an lạc với khổ, Bồ tát sinh tâm đại bi khiến chúng sinh diệt vọng, chứng giải thoát. Vì chúng sinh lầm đạo là vô-đạo, Bồ tát phát tâm đại từ thệ nguyện giúp chúng sinh chứng được đại trí, vào được Phật giới.

(iii) An tâm (An-hsin) : chỉ định và tuệ mà hành giả nhắm vào khi tu tập, thấy rằng hai yếu tố nầy bao gồm tất cả đường lối tu trì. Trí Khải nói rằng nếu thấy được Luân Hồi đồng với Niết Bàn, đó gọi là Định, hiểu được Khổ đồng với Bồ đề, đó gọi là Tuệ. Trong một niệm, nếu hành giả khéo tu tập định tuệ, một hành sẽ tương ưng với tất cả hành.

(iv) Phá trói buộc (Po- fa Pien) : có nghĩa rằng phương pháp tu tập về tuệ nói trên là trí tuệ vi diệu, vì có thể phá vỡ tất cả những học thuyết của tam giáo (Tạng giáo, Thông giáo, và Biệt giáo), mà cũng như không phá vỡ bất cứ một mảy may, bởi vì Luân Hồi và Niết Bàn như nhất, cho nên không có gì cần phải bị tiêu diệt.

(v) Biết lối về và chướng ngại (Shih Tung-sai) : Phân biệt sự vật gọi là chướng ngại, không khởi sinh phân biệt tức biết đường đi. Nói cách khác, biết sinh tử là khổ được xem là chướng ngại đối với sự thành tựu, biết sinh tử đồng như Niết Bàn được xem là biết lối về Chân Như.

(vi) Phối hợp ba mươi bảy trợ duyên chứng đạo (Shan-shih Tao-pin) : dựa vào khái niệm vô phân biệt giữa sinh tử và Niết Bàn, hành giả có thể thấy được rằng Ngũ Uẩn (55) trong mười pháp giới chẳng dơ cũng chẳng sạch, chẳng vô thường cũng chẳng thường, vì hành giả đã vượt qua Bát Đảo (56). Đây là thấy được ba mươi bảy trợ duyên đưa về chứng ngộ.

(vii) Vượt chướng ngại đến chứng đắc (Shan-hsiu Tui-chih) : Nếu hành giả gặp những chướng ngại trên đường tu tập chánh đạo, hành giả nên tu tập trợ đạo (57), tức quán sinh tử đồng như Niết Bàn. Đây là cách đối trị chướng ngại từ quả báo. Hành giả cũng nên quán chiếu phiền não đồng như Bồ đề, để đối trị nghiệp chướng và phiền não chướng.

(viii) Biết thứ vị ( Shan-chih Wei-tzu) : Hành giả biết Lục Chủng Niết Bàn (58). Trí Khải nói rằng đồng nhất giữa sinh tử với Niết Bàn là Lý Niết Bàn; hiểu và biết được sinh tử đồng Niết Bàn là Danh Niết Bàn; kiên cố quán chiếu sinh tử đồng Niết Bàn là quán tánh Niết Bàn; cội nguồn thanh tịnh phát sinh tánh đức là tương tự Niết Bàn đó là tình trạng hành giả cảm nhận như chứng đắc Niết Bàn; chân trí phát sinh là Đẳng Niết Bàn, đó là hành giả tiến dần về chỗ thực chứng Niết Bàn; và vào được chỗ cùng tận của sinh tử là cứu cánh Niết Bàn tức Phật giới.

(ix) Trụ An Nhẫn (Shan An-jen) : hành giả sẽ không bị ngăn ngại bởi những đối tượng nhận thức xảy ra trong suốt thời quán chiếu, nếu hành giả biết làm cách nào để điều khiển những đối tượng nhận thức nầy.

(x) Không ái pháp (Wu Fa-ai) : Nếu đã vượt qua được chướng ngại, gốc rễ Đạo đã thành tựu, tánh đức phát sinh.(59)

Sau khi đã phân tích những pháp môn khác nhau qua Tứ giáo, Trí Khải thấy rằng cần phải đưa ra một kết luận về tầm vóc thô, tế của những pháp môn nầy (60). Đại Sư lập bày ba tiêu chuẩn thẩm định như sau :

(i) Thứ nhất, sự thô hoặc tế của những pháp môn nầy được lượng định qua những gì pháp môn nầy có thể hội nhập (tức giáo pháp hội nhập chân lý) và những gì được hội nhập (tức giáo lý như thực). Trí Khải phân biệt bốn vị trí :

(a) Với tứ môn Tạng giáo, cả hai giáo và lý đều là pháp thô. Lý do là vì giáo thâm nhập là Chân Đế về Không, và lý của Chân Đế là lý phiến diện, vì phủ nhận giá trị của Hữu.
(b) Với tứ môn Thông giáo, giáo thì tế, nhưng lý lại thô. Giáo vi tế vì đưa ra đường lối đạt đến Không ngay nơi vạn pháp. Lý thì thô vì cũng chỉ thấy được một mặt của Không mà thôi.
(c) Với tứ môn Biệt giáo, giáo thì thô nhưng lý lại tế. Giáo thô vì chỉ như những phương tiện khế hợp chân lý, qua đó, các pháp không đi vào nhau như một thực tại đồng nhất. Lý thì tế vì đã đến được Trung Đạo như Chân Như.
(d) Với tứ môn Viên giáo, cả hai giáo và lý đều vi tế. Lý do là vì giáo đến được nhất chân Chân Như, và lý đến được với Trung Đạo Đệ Nhất Nghĩa như nguyên lý trong vạn pháp.

(ii) Thứ hai, sự thô và tế cũng được Trí Khải thẩm định trong tương quan giữa những pháp môn nầy với Tứ giáo. Mặt khác, Trí Khải xác định rằng tứ môn của từng cửa trong Tứ giáo đều có giá trị thâm nhập chân lý. Mặt khác, Trí Khải khảo sát tứ môn qua Pháp khế hợp căn tánh chúng sinh và qua mười phương pháp quán chiếu.

Qua sự thẩm định thô và tế của tứ môn Tạng giáo và Thông giáo, Trí Khải nói rằng tất cả đều có thể hội nhập chân lý không sai khác, và cũng không thể thẩm định hoặc là thô hoặc là tế. Tuy nhiên, nếu tứ môn nầy được nói qua sự khế hợp căn cơ chúng sinh và qua mười phương pháp quán chiếu, thì có thể đưa ra những khía cạnh hoặc thấp hoặc cao.

Đối với căn tánh chúng sinh, môn vi tế nếu bất cứ môn nào trong tứ môn chứa đựng Tứ Tất Đàn, và nếu mỗi Tất Đàn trong Tứ Tất Đàn có cái dụng tùy thuận với căn trí chúng sinh, thích ứng với từng cá nhân, đối trị từng căn bệnh của chúng sinh, và đưa chúng sinh chứng đắc chân lý tối thượng. Nếu không được như thế, thì là pháp thô.

Đối với mười pháp môn quán chiếu, nếu bất cứ môn nào trong tứ môn thành tựu, thì là pháp vi tế. Nếu không như thế, thì là pháp thô.

Qua sự thẩm định về thô và tế của tứ môn Biệt giáo, Trí Khải phân tích rằng cửa Hữu Môn thứ nhất diễn đạt về sự là pháp thô, vì không liên quan đến lý. Sánh với cửa thứ nhất, Không Môn diễn tả Không được xem là tế.

Tuy nhiên, sánh với cửa thứ ba, Diệc Hữu Diệc Không, thì cửa thứ hai lại là thô. Cửa thứ ba được xem là tế, vì hội tụ được cả hai mặt (Không và Hữu). Sánh với cửa thứ tư, Phi Hữu Phi Không, thì cửa thứ ba là thô, vì không đồng nhất được Không và Hữu. Cửa thứ tư là pháp tế, vì không còn phân biệt giữa Không và Hữu.

Đối với vấn đề khế hợp căn tánh chúng sinh, Trí Khải nói rằng cửa Hữu thứ nhất được xem là tế vì những lý do sau đây. Thứ nhất, cửa nầy phù hợp căn cơ chúng sinh, với ý nghĩa rằng, qua cửa nầy Bồ tát đạt được cái thấy huyễn hữu, và cũng thấy rằng cứu độ chúng sinh liên quan đến việc thích ứng trình độ hiểu biết của chúng sinh. Với cái nhìn có tính cách khẳng định của cõi người, ba cửa kia (Không, Diệc Hữu Diệc Không, Phi Hữu Phi Không) là thô. Thứ hai, cửa thứ nhất là pháp tế, thấy rằng cửa nầy thích ứng với những hoàn cảnh khác nhau. Nói cách khác, cửa Hữu giúp Bồ tát thực hành vô lượng pháp môn trong cõi tục với những hoàn cảnh khác biệt trong việc cứu thoát chúng sinh. Ba cửa kia là thô, vì không liên quan đến vô lượng sự kiện trong thế giới hiện tượng. Thứ ba, cửa thứ nhất là tế, vì đối trị được xấu ác. Nói cách khác, trên những đoạn đường cứu giúp chúng sinh, Bồ tát không thể tránh được sự đối đầu với những chúng sinh can cường, khó điều phục. Để thành tựu hạnh nguyện của mình, Bồ tát nhìn những chúng sinh khó điều phục nầy với đại bi tâm. Ba cửa kia được xem là thô vì không liên quan đến sự đối trị những chúng sinh nầy. Thứ tư, cửa thứ nhất là tế, nếu hành giả liễu đạt được chân lý tối thượng khi qua cửa nầy. Ba cửa kia được xem là thô nếu hành giả không nhờ đó mà liễu đạt.

Đối với mười phương pháp quán chiếu, Trí Khải cũng nhấn mạnh sự vi tế của cửa Hữu, với nghĩa tất cảc pháp được xác định. Ba cửa kia được xem là thô với nghĩa phủ định các pháp. Thấy rằng Biệt giáo có đặc tính vô lượng hạnh mà Bồ tát mang theo vào cõi người để cứu giúp chúng sinh, sự khẳng định về Hữu, như vậy, không quan trọng gì đối với Bồ tát, và là cánh cửa thích hợp nhất trong sự hội nhập chân lý qua nội dung Biệt giáo.
Qua sự thẩm định về thô và tế của tứ môn Viên giáo, Trí Khải nhấn mạnh rằng tứ môn Viên giáo thuần là pháp vi tế, không có pháp thô, vì Hữu Môn đồng nhất với Pháp giới, và ôm trọn vạn pháp hoặc thực tại. Chân Như nói trong Viên giáo chỉ thực tại nhất như, không siêu việt, không hạ liệt. Vì vậy, không hề có sự phân biệt trong tứ môn Viên giáo. Về sự thích ứng căn tánh chúng sinh, tứ môn đều là pháp vi tế, bởi vì từng cánh cửa mở ra lời Thế Tôn ứng hợp với Tứ Tất Đàn. Với Thế Tục Tất Đàn, Bồ tát tùy thuận với bốn hạng chúng sinh (như bốn cánh cửa); với Vị Nhân Tất Đàn, Bồ tát phát khỡi bốn loại thanh tịnh (bốn cánh cửa); với Đối Trị Tất Đàn, Bồ tát đối trị bốn loại trói buộc (bốn cánh cửa); và với Đệ Nhất Nghĩa Tất Đàn, Bồ tát giúp bốn hạng chúng sinh (như bốn cánh cửa) thấy được chân lý.

(iii) Mở cánh cửa thô để lộ bày cánh cửa vi tế, Trí Khải kết luận về thô, tế, và vẽ ra bức họa siêu việt của kinh Pháp Hoa. Trí Khải chủ trương rằng chỉ trong kinh Pháp Hoa, Thế Tôn dạy trực tiếp về Chân Như tức nguyên lý nguồn mạch của tất cả pháp. Với sự lộ bày của Chân Như, vạn pháp, bất kỳ đúng hoặc không đúng, đều vi diệu. Một cách hy hữu, Trí Khải nói rằng nếu biết bất tịnh, đó tức Bồ đề. Nếu biết sinh tử, đó tức Niết Bàn. Nếu biết ngu si, đó tức người trí (kẻ chứng ngộ), vì tất cả đều có Phật tánh. Nếu biết tất cả trói buộc và những lối thấy sai lệch, ngôn từ và giáo pháp của cõi người, tức đồng với Pháp thân. Nếu biết tất cả chúng sinh, tức đồng với diệu lý. Nếu biết tất cả giáo lý thô của Thanh văn thừa, tức đồng với giáo lý vi tế. Nếu biết tất cả những hành thô của Thanh văn thừa, tức đồng với diệu hành. Nếu biết chân đế thô của Thanh văn thừa, tức đồng với diệu đế. Nếu biết rằng các vị Bồ tát không được cái lợi ích vi tế, tức tất cả đều được lợi ích từ Viên giáo. Nói tóm lại, kinh Pháp Hoa mở ra tất cả mọi cánh cửa chân thực để vào được sự vi diệu như một Chân Như.

E. Là Thể trùm khắp của tất cả các kinh (Pien-wei Chung-ching Ti)

(T33, 792c-793c) Vì Chân Như được chứng minh là thể của kinh Pháp Hoa, trong đó, tất cả những pháp thô được đổi thành pháp vi tế, Trí Khải đi xa hơn với lập luận rằng Chân Như cũng có thể được xem là thể rộng khắp của tất cả các kinh, căn cứ vào tánh viên dung của Chân Như.

I. Thứ nhất, Trí Khải lập luận rằng Chân Như như thể của kinh Pháp Hoa thật sự mang nhiều tên gọi khác nhau, đã được trưng dẩn. Trí Khải dẩn chứng câu kinh như sau : Lúc bấy giờ, Thế Tôn phóng hào quang, muốn hiển lộ giáo lý về Chân Như (61), giáo lý Chân Như trong vạn pháp Ta đã dạy các ông (62), mở tri kiến Phật(63), Đạo vô thượng (64) v.v… để giữ vững lý luận của Đại Sư rằng những tên gọi nầy chỉ Chân Như.

II. Thứ hai, Trí Khải nói về thể của những kinh khác mang những tên khác nhau. Đại Sư xác định tất cả những tên gọi nầy khi nói rằng tất cả các tên gọi đều không thuần nhất, nhưng là những tên riêng gọi Chân Như, và tất cả đều là những dấu ấn chính xác. Mỗi tên gọi đều là tuyệt đỉnh, vì tất cả đều từ pháp ấn Chân Như.

III. Thứ ba, Trí Khải đưa ra một lối nhìn khác vào tên gọi thể của các kinh khác bằng cách so lường thể phiến diện hoặc chân chính. Điều nầy nói rõ sự kiện rằng thể của các kinh khác là phiến diện, mặc dù chứa đựng Chân Như. Chánh thể chỉ Chân Như, và thể phiến diện chỉ Không như Chân Đế. Trí Khải nói rằng giáo lý Không là biểu tượng phiến diện của Tạng giáo. Thông giáo lộ bày Chân Như như chân thể, nhưng vì chỉ nhìn thấy một mặt Không, thể nầy cũng là phiến diện. Biệt giáo và Viên giáo chỉ hiển lộ chánh thể, không phải chỉ có một mặt.

IV. Thứ tư, Trí Khải phân biệt kinh Pháp Hoa và những kinh khác qua bốn vị trí. Gồm có : (i) danh, nghĩa, và thể của những kinh khác giống như kinh Pháp Hoa, (ii) danh, nghĩa, và thể của những kinh khác thì khác với kinh Pháp Hoa, (iii) danh và nghĩa của những kinh khác giống như kinh Pháp Hoa, nhưng thể của những kinh khác thì khác với kinh Pháp Hoa, và (iv) danh và nghĩa của những kinh khác thì khác với kinh Pháp Hoa, nhưng thể của những kinh khác thì giống như kinh Pháp Hoa. Trí Khải diễn tả bốn vị trí nầy qua Tứ giáo như phần tiếp theo sau.

V. Thứ năm, Trí Khải đưa ra một cái nhìn thâm sâu về tất cả bốn vị trí khi nói rằng lúc thô và tế được mở ra, thô được dùng dể hiển lộ tế. Đại Sư nói thêm rằng nếu thực tướng Chân Như chứa đựng trong một chân lý phiến diện hoặc trong một chân lý trọn vẹn, điều nầy có nghĩa danh và nghĩa tuy khác nhưng thể Chân Như không khác. Dựa vào thể, không có sự phân biệt giữa thô và tế. Nếu chân lý phiến diện và chân lý trọn vẹn được nhìn riêng biệt, thì chân lý phiến diện là thô. Chân lý phiến diện chứa đựng chân lý trọn vẹn, hoặc chân lý trọn vẹn suy từ chân lý phiến diện thì cũng là pháp thô, theo Trí Khải. Sự vi diệu chỉ riêng chánh lý.
Trong Tứ giáo, Trí Khải phân biệt Tạng giáo và Thông giáo là những pháp môn thô. Lý do là vì mặc dù hai pháp môn nầy chỉ danh và nghĩa của Chân Như không khác với kinh Pháp Hoa, nhưng thể thì khác với thể kinh Pháp Hoa (vì hai pháp môn nầy không lấy Chân Như làm thể). Danh và nghĩa của Chân Như trong Biệt giáo hoặc giống (chỉ lý Trung Đạo), hoặc khác (chỉ giáo lý không giải thích Trung Đạo như một con đường toàn hảo phản ảnh thực tại nhất như) từ kinh Pháp Hoa. Vì thế, theo Trí Khải pháp môn nầy (khác với kinh Pháp Hoa) là thô, và thể (giống như kinh Pháp Hoa) thì tế.

F. Là Thể trùm khắp các Hành (Pien-wei Chu-hsing Ti)

(T33, 793c-794a) Qua cách làm sáng tỏ Chân Như là thể trùm khắp các kinh, Trí Khải đi xa hơn khi lập luận rằng tất cả các Hành đều lấy Chân Như làm thể. Khía cạnh thứ hai đưa ra bốn phương pháp hành hợp nhất tất cả các phương pháp hành, và tất cả những phương pháp nầy đều lấy Chân Như làm thể. Vì hành dựa trên thể, cả hành và thể trong Tứ gíáo đều khác biệt. Vì thế, khía cạnh thứ ba phân định hành và thể của Tứ giáo hoặc thô hoặc tế, thấy được rằng Viên giáo đứng ở vị trí siêu việt, cả hành và thể của Viên giáo đều vi diệu. Khía cạnh thứ tư nhắm vào sự hiển lộ thực tại vi tế nằm trong tất cả hành, trong khi phương pháp tu tập thô chỉ là phương tiện khế hợp để dần đưa chúng sinh đạt đến mục tiêu Bồ đề tối thượng.

I. Khía cạnh thứ nhất, Trí Khải phân chia tất cả các hành vào hai loại liên quan đến tín và pháp. Đại Sư nói rằng hành với tín (Hsin-hsing), chỉ hành giả khi nghe được pháp Phật, hiểu được chân lý, từ đó tu tập nhắm vào việc chứng ngộ chân lý. Hành với pháp (Fa-hsing) chỉ hành giả, tự tìm kiếm chân lý, hiểu được chân lý, từ đó tu tập mong cầu chứng ngộ. Đối với hành hội nhập qua Tứ giáo thì cả hai loại hành nầy đều có trong Tứ giáo. Trong Tạng giáo, hai loại hành lấy Không, như chân lý phiến diện làm thể. Trong Thông giáo, hai loại hành thấy được Chân Như là chân thể (nhưng với cái thấy Không), như vậy chân thể nầy chứa đựng chân lý phiến diện. Trong Biệt giáo và Viên giáo, hai loại hành nầy lấy Chân Như làm chân thể

II. Khía cạnh thứ hai, Trí Khải tóm lược bốn phương pháp tu tập từ kinh Pháp Hoa, nói rằng tất cả đều lấy chân quán về Chân Như làm thể. Gồm có : thường thiền hành, thường thiền tọa, nửa thiền hành nửa thiền tọa, và chẳng thiền hành cũng chẳng thiền tọa. (65)

III. Khía cạnh thứ ba, Trí Khải phân biệt hai loại hành (tín và pháp) trong tương quan với Tứ giáo trong sự thẩm định về thô và tế. Trí Khải nói rằng với thể và hành của Tạng giáo và Thông giáo thì cả hai loại hành đều thô, vì hành hội nhập Không đế và thể thì phiến diện, hoặc là chân thể chứa đựng thể phiến diện. Với hai loại hành thuộc Biệt giáo, hành xem là thô (vì là tiệm hành), và thể thì tế (vì liên quan đến Trung Đạo như Chân Như). Với hai loại hành thuộc Viên giáo, cả hai thể và hành đều vi diệu, thấy rằng một hành gồm thu tất cả các hành, hành giả tức thời chứng ngộ chân lý, và thể Trung Đạo chính là Chân Như.

IV. Khía cạnh thứ tư, Trí Khải nhấn mạnh vào một thực tại hợp nhất, tất cả những phương pháp thực hành thô đều có giá trị như các phương pháp hành vi tế. Một sự hoán chuyển như vậy được thấy trong kinh Pháp Hoa khi các phương pháp thực hành thô của Tạng giáo và Thông giáo được xem là những bước hướng về sự chứng đắc Phật giới.

G. Thể trong vạn pháp (pien I-chien Fa-ti)

(T33, 794a-b) Trong phần luận vể thể sau cùng nầy, Trí Khải nói rằng Chân Như tức thể không phải chỉ là một cái thể trùm khắp tất cả các kinh, tất cả các hành, nhưng còn là cái thể trùm khắp tất cả Pháp. Trí Khải nói rằng vạn pháp gồm thu nhân và duyên. Vì vạn pháp lộ bày Chân Như, Chân Như là thể của vạn pháp.

Tóm lại, qua những phần diễn tả trên về đặc tính thứ hai của Ngũ Huyền, Thể, Trí Khải đã trình bày một cách chính xác rằng Chân Như là Thể của kinh Pháp Hoa. Nói cách khác, Trí Khải lập luận rằng Chân Như có thể lộ bày những giáo lý Thế Tôn đã thuyết ra. Mặt khác, Trí Khải nói rằng những tên gọi khác nhau Thế Tôn dùng để nói về lý chân thực tượng trưng cho Chân Như, và những tên gọi nầy đặc tính hóa Chân Như qua nhiều mặt. Bản tánh của Chân Như nầy là gì ? Thấy rằng Chân Như có thể lộ bày nhiều giáo lý, và những tên gọi khác nhau nầy đều mang đặc tính của Chân Như, điều nầy nói lên rằng bản tánh của Chân Như có thể được xác định với danh và nghĩa khác nhau, nhưng thể thì không khác. Bản tánh của Chân Như khiến Chân Như là thể của tất cả pháp. Lý do vì thể là giá trị của vạn pháp, mỗi pháp có trong nhau vớI một thực tại như nhất (không kể đến danh và nghĩa khác nhau). Vì Chân Như là cái Phật muốn lộ bày khiến chúng sinh đến được vớI Bồ đề, Trí Khải trình bày cho chúng ta thấy làm cách nào để đến vớI Chân Như qua tứ môn của bất cứ pháp môn nào trong Tứ giáo. Thấy rằng con đường đạt đến lý chân thực qua từng cửa của Tứ giáo liên quan đến giáo và hành thì khác biệt, Trí Khải phân những cửa nầy ra thô và tế. Tuy nhiên, vì Chân Như là chân lý của tất cả cửa trong Tứ giáo, cửa thô cũng là cửa tế, vì tự nền tảng là như nhất. Thấy rằng Chân Như là thực lý của vạn pháp, là thể trùm khắp. Sự trùm khắp nầy hiển hiện khi Chân Như được xem là thể của tất cả các kinh, của tất cả các hành, và của tất cả các pháp. Điều Trí Khải Đại Sư cố gắng bày tỏ là tất cả các kinh đều thành tựu từ Chân Như, tất cả các hành đều quy về Chân Như, và tất cả các pháp đều trong cùng thực tại tức Chân Như.


Tham Khảo

1 So sánh cùng chỗ, 779a-c.
2 Bậc Thầy truyền thống phương Bắc nầy không được Trí Khải chỉ rõ là ai.
3 So sánh T33, 779c
4 Vô thường khởi nguồn từ luân hồi, được xem là pháp ấn thứ nhất. Dấu ấn theo sau là vô ngã. Cả hai pháp ấn nầy chuyển đạt sinh tử, cùng với dấu ấn thứ ba là Niết Bàn, thành tam pháp ấn.
5 So sánh T33, 779c-780a.
6 Trí Khải phân tích Tam Quỹ Phạm như bậc thứ năm trong Thập Diệu của quỹ phạm, tức Thực Tánh, Quán Chiếu, và Tư Thành. Quỹ phạm Quán Chiếu chỉ thực tánh bất nhiễm và vô phân biệt, hai quỹ phạm kia liên quan đến Tuệ và Hành để chứng đắc được thực tánh nầy. Vì thế, Thực Tánh là biểu tượng của Chân Như. Chi tiết về tam quỹ phạm, đọc ghi chú 62.
7 Thập Pháp Giới cùng với Thập Như Thị thành lập pháp giới chúng sinh, Trí Khải diễn tả trong phần giải thích về chữ Pháp. Đọc p.55ff. Với Trí Khải, Phật giới tối thượng khác với chín pháp giới (của ngạ quỹ, súc sanh, a tu la, người, trời, Thanh văn, Duyên giác, và Bồ tát) được xem là tương đối. Vì Phật giới là pháp giới mà chúng sinh trong chín cõi kia muốn chứng đắc, nên là biểu tượng của Chân Như.
8 Trí Khải nói về Như Thị Thể là tâm tĩnh lặng của bản tánh có sẳn đồng với Phật tánh, tức chánh duyên Bồ đề. Với Trí Khải, thể của Phật tánh là Chân Như. Định nghĩa về như thị của thể trong Phật tánh, đọc p. 66ff.
9 Lối hiểu về Vô Sinh Diệt Thập Nhị Nhân Duyên Bất Tư Nghị được Trí Khải mô tả thuộc Viên giáo, và là lối hiểu rốt ráo. Vì thế, được xem như sự diễn đạt về Chân Như. Phần phân tích của Trí Khải về cái hiểu nầy, đọc p.82ff.
10 Qua hệ thống đồng nhất của Trí Khải, Khổ chướng đồng với Pháp thân, bởi vì sự khác biệt giữa hai điều trên chỉ lả sản phẩm của tâm phân biệt. Không có tâm phân biệt, hành giả sẽ thấy được rằng Khổ và Pháp thân trong cùng thực tại. Vì thế, Khổ chướng diễn đạt Chân Như. Thêm chi tiết, đọc p. 83ff.
11 Lối hiểu về Vô Tác Tứ Đế được Trí Khải diễn tả qua Viên giáo, và vì vậy được xem là sự diễn đạt Chân Như. Phân tích của Trí Khải về lối hiểu nầy, đọc p.87.
12 Trí Khải nhìn Diệt Đế trong Tứ đế diễn đạt Niết Bàn, và Niết Bàn là Chân Như Bồ Đề.
13 Theo Trí Khải, cái nhìn thứ ba đến thứ bảy về Nhị Đế chứa đựng cái thấy của Trung Đạo, và Trung Đạo là sự diễn đạt của Chân Như. Chi tiết về Nhị Đế, đọc p.89ff.
14 Điều nầy để nói rằng cái thấy của Trung Đạo có thể rút ra từ Chân Đế trong năm cái thấy của Nhị Đế. Bởi vì Trung Đạo là sự diễn đạt của Chân Như, Chân Đế mang ý nghĩa Trung Đạo có thể được xem như sự diễn đạt Chân Như. Về sự trình bày của Trí Khải, đọc cùng chỗ.
15 Điều nầy để nói rằng Trung Đạo là đệ nhất nghĩa trong Tam Đế, tất cả năm loại Trung Đạo đều là sự diễn đạt của Chân Như.
16 Điều nầy để nói rằng Trung Đạo có thể diễn đạt cân xứng Chân Như như nhất chân thực tại. Chi tiết về Nhất Đế (One Truth), đọc p.96ff.
17 Điều nầy để nói rằng Trung Đạo diễn đạt Chân Như như Nhất Đế, cũng là sự diễn đạt cân xứng đặc tính của Chân Như như Vô Đế (No Truth), tịch tĩnh vượt trên văn ngôn. Trình bày của Trí Khải về Vô Đế, đọc p.97.
18 Cùng chỗ, T33, 780a.
19 Kinh Pháp Hoa, T9, 5b.
20 Cùng chỗ, p.5a.
21 Cùng chỗ, p.5c.
22 So sánh Huyền Nghĩa, T33, 780a.
23 So sánh cùng chỗ, 780b-c.
24 So sánh cùng chỗ, p.780c-781a.
25 So sánh cùng chỗ, 781a-c.
26 Theo định nghĩa của Trí Khải, tịch (quiescence) là tự giác, chiếu (illumination) là giác tha đến từ trí tuệ.
27 So sánh cùng chỗ Huyền Nghĩa, T33, 781c-782a.
28 Tỷ dụ nầy được nói đến trong kinh Đại Niết Bàn (T12, 746b) và trong kinh Ưu Bà Tắc (T24, 1034).
29 So sánh cùng chỗ, T33, 782a-b.
30 So sánh cùng chỗ, p.782b-c.
31 So sánh cùng chỗ, p.782c-783b.
32 Sự tụ hội của ba tên gọi trong mỗi bốn nhóm được Trí Khải quán sát như sau : (i) trong nhóm thứ nhất, Diệu Hữu chỉ danh Chân Như; Diệu Tướng Chân Thanh Tịnh chỉ nghĩa Chân Như; và Thực Tại Tối Thượng chỉ thể của Chân Như. Vì tất cả ba tên gọi nầy diễn tả đặc tính của huyễn hữu, ba mặt được nói đến cũng không khác. (ii) Trong nhóm thứ hai, Chân Không chỉ danh Chân Như; Như Thị chỉ nghĩa Chân Như; và Niết Bàn chỉ thể Chân Như. Vì tất cả những tên gọi nầy diễn đạt tánh Không của vạn vật, ba mặt được nói đến cũng không khác. (iii) Trong nhóm thứ ba, Hư Không Phật Tánh chỉ danh Chân Như; Như Lai Tạng chỉ nghĩa Chân Như; Tâm Trung Đạo Đệ Nhất Lý chỉ thể Chân Như. Vì tất cả ba tên gọi nầy đều diễn đạt bản tánh viên dung của Trung Đạo, ba mặt nói trên cũng không khác.(iv) Trong nhóm thứ tư, Trung Đạo Phi Hữu Phi Vô chỉ danh Chân Như; Đệ Nhất Nghĩa chỉ nghĩa Chân Như, Tịch Diệt chỉ thể Chân Như. Vì tất cả ba tên gọi đều diễn đạt đặc tính Trung Đạo, ba mặt nói trên cũng không khác.
33 Sự hội tụ của ba tên gọi trong mỗi bốn nhóm được Trí Khải quán sát như sau : (i) nếu Diệu Hưũ liên quan đến danh Chân Như, Chân Không liên quan đến nghĩa Chân Như, Như Lai Tạng liên quan đến thể Chân Như. Bởi vì ba tên gọi nầy không phát họa cùng một điều (Diệu Hữu nói về Giả, Chân Không nói về Không, và Như Lai Tạng nói về hành trì vô lượng pháp môn), ba mặt khác nhau. (ii) Nếu Không nói về danh Chân Như, Như Lai Tạng nói về nghĩa Chân Như, Trung Đạo nói về thể Chân Như. Vì ba tên gọi nầy chỉ ba điều khác nhau ( Không chỉ tánh Không, Như Lai Tạng chỉ hành trì vô lượng pháp môn, Trung Đạo chỉ cái thấy về thực tại) , ba khía cạnh nầy cũng khác nhau.(iii) Nếu Như Lai Tạng chỉ danh Chân Như, Trung Đạo chỉ nghĩa Chân Như, Diệu Hữu chỉ thể Chân Như. Vì ba tên gọi chỉ ba điều khác nhau (Như Lai Tạng chỉ sự thực hành vô lượng pháp môn, Trung Đạo chỉ cái thấy thâm sâu về thực tại, Diệu Hữu chỉ huyễn hữu), ba mặt nầy cũng khác nhau. (iv) Nếu Trung Đạo chỉ danh Chân Như, Diệu Hữu chỉ nghĩa Chân Như, Không chỉ thể Chân Như. Vì ba tên gọi chỉ ba điều khác nhau (Trung Đạo chỉ cái nhìn thâm sâu về thực tại, Diệu Hữu chỉ huyễn hữu, Không chỉ tánh Không của các pháp), ba mặt cũng khác nhau.
34 Sự hội tụ của ba tên gọi trong mỗi hai nhóm được Trí Khải quán sát như sau : (i) Nếu Diệu Hữu chỉ danh Chân Như, thì Diệu Tướng chỉ nghĩa Chân Như, và Chân Không chỉ thể Chân Như. Vì hai tên Diệu Hữu và Diệu Tướng chỉ đặc tính huyễn hữu, nên không khác. Vì tên Chân Không chỉ tánh Không nên khác với hai tên trên, và thể của tên nầy cũng khác với hai mặt danh và nghĩa. (ii) Nếu Không chỉ danh Chân Như, Lý chỉ nghĩa Chân Như, và Diệu Hữu chỉ thể Chân Như. Vì hai tên Không và Lý có thể hoán đổi, hai mặt danh và nghĩa không khác. Vì tên Diệu Hữu chỉ huyễn hữu, khác với hai tên kia, thể của tên nầy cũng khác với danh và nghĩa.
35 So sánh cùng chỗ, T33, 783c-784a.
36 Phần giải thích về Tứ Cú, đọc ghi chú 43 bên trên.
37 So sánh cùng chỗ, T33, 784a -785b.
38 Phần giải thích về Trung Luận, đọc ghi chú 14.
39 Huyền Nghĩa, T33, 785a.
40 Trí Khải nói rằng vì Tứ Môn Viên Giáo giống như danh và nghĩa của Tứ Môn Biệt Giáo, Đại Sư không nhắc lại ở đây. Sự khác biệt được nói đến trong phần sau liên quan đến Tứ Môn Viên Giáo.
41 So sánh Huyền Nghĩa, T33, 785b-790c.
42 So sánh cùng chỗ, p.85b-787a.
43 Phần giải thích về Tứ Niệm Trụ, đọc ghi chú 51.
44 Phần giải thích về Ngũ Đình Tâm, đọc ghi chú 86.
45 Phần giải thích về Biệt tướng niệm trụ và Tổng tướng niệm trụ, đọc ghi chú 51.
46 Huyền Nghĩa, T33, 787a-b.
47 So sánh cùng chỗ, 787b-c.
48 So sánh cùng chỗ, 787c-791a.
49 So sánh cùng chỗ, 787c-789c.
50 Lý do là vì Bồ tát Viên giáo có thể thấy được thế giới hiện tượng gồm thu cả Không và Giả, qua đó thực tại vô phân biệt chẳng Không chẳng Giả. So sánh cùng chỗ.
51 Cùng chỗ, p.788b.
52 Lý do là vì diệt được cái thấy và nghĩ sai lệch trong ba cõi thuộc về những quả vị Thập Trụ, Thập Hạnh và Thập Hồi Hướng. Diệt cái thấy, nghĩ sai lệch, và vô minh ngoài ba cõi là quả vị Thập Địa và Đẳng Giác. Rốt ráo diệt được vô minh là quả vị Diệu giác.
53 Trong hệ thống tư tưởng của Trí Khải, cả hai quả vị thuộc Biệt giáo và Viên giáo mang tên năm mươi hai Bồ tát vị, chia ra bảy địa, gồm có : Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, Đẳng Giác, và Diệu Giác. Phần giải thích của Trí Khải về những quả vị nầy, đọc p. 194ff, dưới đề mục 1.4.4 Diệu Vị.
54 So sánh cùng chỗ, T33, 789c-790c.
55 Ngũ Uẩn chỉ Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, và Thức.
56 Bát Đảo gồm có bốn cái thấy điên đảo của kẻ vô minh và bốn cái thấy điên đảo của Nhị Thừa. Đọc chi tiết ghi chú 89.
57 Phần giải thích về chánh đạo và trợ đạo, đọc ghi chú 222 bên trên.
58 Sáu sự đồng nhất của Niết Bàn giống như sáu sự đồng nhất của Bồ đề (Lục tức Phật). Chi tiết về Lục tức Phật, đọc ghi chú 23.
59 Về đề mục nầy liên quan đến mười phép quán tâm cũng như mười đối tượng quán chiếu, đọc Ando, Tendai-gaku: konpon shisho to sono tenkai, pp. 217-264; và Sekiguchi, tendai shikan no kenkyu, pp. 8-20.
60 Huyền Nghĩa, T33, 792b-c.
61 Kinh Pháp Hoa, T9, 5b.
62 Cùng chỗ, 5a.
63 Cùng chỗ, 7a.
64 Cùng chỗ, 10a.
65 Bốn phương pháp tu tập là bốn loại tam muội được Trí Khải trình bày trong Maha Chỉ Quán, T46, 11a-20a. Bản dịch Anh ngữ đầy đủ của phần nầy, đọc Neal Donner and Daniel B. Stevenson, The Great Calming and Contemplation, pp.219-334. Phần mô tả về bốn loại tam muội, đọc Hurvitz, Chih-I, pp. 322-327. Chú giải về bốn loại tam muội, đọc Stevenson, The four kinds of Samadhi in Early Tien Tai Buddhism; Neal Donner and Daniel B. Stevenson, The great Calming and Contemplation, pp. 45-97; Sato Tetsuei, tendai daishi ni okeru shisu-zammai no keosei katei, Indogaku Bukkyogaku kenkyu, 12,2 (1964) : 52-58; Ono Eijin, Tendai Chigi no zammai shoso ko, Bukkyo ni okeru zammai shiso, Nihon Bukkyo gakkai, Kyoto : heirakuji shoten, 1976.

Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.