Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

Chú Thích Kinh A Di Đà Sớ Sao
Quyển Thứ Nhứt

      1. Phật Thích Ca nói kinh A Di Đà: Phật Ngài nói kinh nầy là chỉ rõ cõi nước của đức Phật A Di Đà rất là thanh tịnh trang nghiêm, để khuyên bảo chúng sanh nên chánh tín niệm danh hiệu của Phật A Di Đà, phát nguyện sanh về Tịnh Độ mới thiệt hết khổ.

      2. “Ngài Vân Thê làm sớ sao”: Sớ là để giải rõ nghĩa chánh văn của kinh. Sao là để giải thích lại lời sớ.

3. “Đất Cổ Hàng”: Đời Đường đặt là “phủ Hàng Châu”, đời Thanh cũng vậy, thủ đô của tỉnh Chiết Giang; Dân Quốc đổi làm Hàng huyện.

4. “Chùa Vân Thê”: Truyện rằng: Nhân xưa có luồng mây năm màu quần phủ đảnh núi giây lâu mới tan nên đặt tên là Ngũ Vân Sơn, cũng như Vân Thê Sơn, cách nhau với phủ trị Hàng Châu hơn 20 dặm, là đạo tràng của Tổ đã trùng hưng tông Tịnh Độ rất thạnh hành tại đó.

5. “Thù Hoằng” là pháp danh của Tổ; Thù Hoằng mà đổi ra Châu Hoằng là bởi cái quan niệm thận trọng úy kỉnh, nhơn vì họ của hoàng đế nhà Minh là họ Châu (Châu: Đỏ, họ tên của vua Thái Tổ nhà Minh là Châu Nguơn Chương), bên chữ Châu chẳng nên thêm chữ Á (thành chữ Thù) mà nên thêm chữ Y (y: áo) thành chữ Châu (châu: áo đỏ). “Thù” là một chữ thứ 12 ở bài kệ 20 chữ của dòng Qui Ngưỡng tông:

“Sùng phước phát đức huệ; Phổ Hiện hạnh nguyện thâm “Văn Thù” quảng đại trí, thành đẳng chánh giác quả” Chính theo lòng phái trên, chúng ta là Phật tử Việt Nam nên xưng niệm là Thù Hoằng mới đúng, vì chúng ta đâu phải dân ở đời nhà Minh bên Tàu hồi đó?

Tổ Sư pháp danh là Thù Hoằng, pháp tự là Phật Huệ, pháp hiệu là Liên Trì; nguyên con nhà họ Thẩm, ở Hàng Châu phủ. Năm lên 17 tuổi thì đậu cử nhơn, lúc lên 23 tuổi, cha mẹ đều qua đời, nhơn giác ngộ cái tướng đời vô thường liền bỏ tục xuất gia, đến thụ giáo nơi Ngài Vô Môn Đổng Tánh Thiên Lý Hòa Thượng; thụ giới nơi Ngài Vô Trần Ngọc Luật tại chùa Chiêu Khánh, trước giới đàn Địa Dũng.

Ngài sanh ngày 22 tháng giêng năm Ất Vị, hoàng hiệu Gia Tĩnh năm thứ 14 (1535)… tịch ngày 4 tháng 7, năm Ất Mão; hoàng hiệu Vạn Lịch 43 (1615), tuổi đời được 81 tuổi, tuổi tăng lạp được 50 (hạ).

6. “Tín, Hạnh, Nguyện”: Tín: đức tin. Có Lý và Sự. Lý: Tự tin mình sẵn có tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh Độ. Sự: Thật có đức Phật A Di Đà lập thành nước Cực Lạc bằng 48 nguyên tắc đại nguyện để tiếp chúng sanh niệm Phật về ở đó. Hành là thật hành chấp trì danh hiệu của Phật để niệm cho đến “nhứt tâm bất loạn”. Nguyện là nguyện đến khi lâm chung, tập trung tự lực, và thống nhứt tha lực để được hóa thân Phật đến tiếp về Tịnh Độ, đặng hoa khai kiến Phật, đắc vô sanh nhẫn, rồi trở lại cõi nầy, tế độ chúng sanh, đền ơn đức Phật.

Tóm lại, Tín, Hạnh, Nguyện là công nghiệp để thành tựu về sự niệm Phật vãng sanh Tịnh Độ nên gọi là Tịnh nghiệp.

7. “Đại địa tuy bền chắc nhưng không tránh khỏi kiếp hoại”: Kiếp hoại là một giữa bốn trung kiếp; trong 1 kiếp hoại (một trung kiếp) có 20 cái tiểu kiếp; 1 tiểu kiếp có một tăng một giảm (rõ như trong Nguyên Nhơn Luận có phân trần), 1 kiếp hoại kể có 3 trăm hai chục triệu năm. Hiện nay (1954), còn 7 ngàn 5 trăm năm là hết tiểu kiếp thứ 9 của kiếp Trụ, còn 11 tiểu kiếp nữa là hết Trụ, nghĩa là sau khi đức Phật Lâu Chí nhập diệt rồi là đến kiếp hoại, vì trong kiếp hoại có những: đại hỏa tai, đại thủy tai, đại phong tai, làm tiêu diệt đến cung trời Tam Thiền ở trung giới thì địa cầu này đâu còn, nên nói: “Không tránh khỏi kiếp hoại”.

8. “Hý Luận”: 1. Lời bàn phi lý; 2. Lời luận vô nghĩa; 3. Lời ngôn luận bằng cách với lý lẽ bất luận phải hay không phải, mạt sát chê đùa tất cả. Như kẻ biện tiệp chuyện phải nói là quấy, chuyện quấy cho là phải, nói cách nào nghe hình như cũng được cả, mà chẳng có sự lý chơn thật gì hết. Tỷ như kép hát: âm thinh sắc tướng hí vũ diễn trò, coi nghe ai cũng thích, mà chả có thật nghĩa, nên gọi là hý luận. Với ngôn luận như thế, trong kinh Pháp Hoa Phật cho là đồ phấn uế, bảo các Thinh Văn phải triệt để trừ sạch phấn uế hý luận ấy.

9. “Như Nàng Thiện Thiên Nữ”: Với “Thiện Nữ Thiên” mà người xưa đã viết lộn ra Thiện Thiên Nữ (xem ở sách Nhị Khóa Hiệp Giải); nhưng dù Thiện Thiên Nữ đem vào đây cũng chẳng nhằm điển, vì Trời Thiện Thiên Nữ kia đâu có ngôn ngữ biện tài. Vậy với câu ở lời sao kia nên nói như vầy: “Tài ngôn luận như thiên nữ trong kinh Tịnh Danh đi nữa, nói đến cùng kiếp, rốt cũng không hết”.

10. Ở về chúng vô tình gọi là Pháp tánh, ngoài Pháp tánh, còn có nhiều tên, như: Thật Tướng, Chơn Như, Pháp Giới, Niết Bàn v.v… Tên dù khác, Thể vẫn đồng. Tánh là thể nó chẳng biến đổi, Chơn Như nó làm cái thể vạn pháp, mặc dù ở giữa nhiễm, tịnh, số hữu tình, số vô tình, chớ “tánh” nó không hề cải đổi, nên gọi là pháp tánh.

Tông Hoa Nghiêm, Hiền Thủ bảo: “Chơn Như có hai nghĩa: 1. Bất biến; 2. Tùy duyên. Do bên nghĩa tùy duyên thì biến hiện tạo ra tất cả pháp, tuy biến tạo mà vẫn bảo tồn cái thể Chơn Như bất biến. Tỷ như nước biến thành sóng mà vẫn còn cái tánh nước nó chẳng đổi”. Như thế, Chơn Như nó tùy duyên để biến đổi tạo tác ra vạn pháp, nên Chơn Như là pháp tánh. Song Chơn Như pháp tánh đây, nó vẫn thuần thiện, không có cái tánh cách cấu nhiễm, nhưng về pháp sở biến thì có nhiễm, tịnh riêng biệt vì bởi cái duyên có nhiễm tịnh.

11. “Giải thoát, Bát Nhã, Pháp thân”: Kinh Niết Bàn chép: “Đại Niết Bàn nó sẵn đủ ba đức: 1. Pháp thân đức: là bản thể của chư Phật, dùng cái pháp tánh thường trụ chẳng biến đổi để làm thân. 2. Bát Nhã đức: Bát Nhã; dịch: Trí huệ, là cái trí hiểu suốt hiện tượng của vạn pháp bằng cách đúng chơn thật giác ngộ. 3. Giải thoát đức: Đã xa lìa hẳn những điều ràng buộc của tất cả phiền não chướng ngại, mà đắc đại tự tại”.

12. “Bốn Pháp giới”: Pháp giới là bản thể nơi thân tâm của tất cả chúng sanh. Pháp: qui tắc mẫu mực. Giới: ranh cõi phân biệt. Giới có hai nghĩa: 1. Tánh; 2. Phân. So về sự, tức là nghĩa của Phân, vì tùy theo mỗi sự để phân biệt. So về lý, tức là nghĩa của tánh, vì tánh của các pháp nó không biến đổi.

1. Sự pháp giới: các pháp sắc, tâm cũng như vật chất, tinh thần của chúng sanh mỗi mỗi sai khác, đều có giới hạn ngằn chừng nên gọi là sự pháp giới.

2. Lý pháp giới: các pháp sắc, tâm của chúng sanh dù sai biệt, mà vẫn đồng một thể tánh nên gọi là lý pháp giới.

3. Sự lý vô ngại giới: do nơi sự để rõ lý, bằng theo lý để thành sự, lý hòa lẫn với sự nên gọi là lý sự vô ngại pháp giới.

4. Sự sự vô ngại pháp giới: hết thảy ranh ngằn của sự pháp hay sự vật, đúng nơi thể tánh nó suốt lẫn nhau bằng cách: một tức nhiều; nhiều tức một, lớn với nhỏ dung nạp lẫn nhau, mỗi mỗi vô cùng tận nên gọi là Sự vô ngại pháp giới.

13. “Đục như sông Huỳnh”: Huỳnh Hà: Sông vàng, vì nước vẩn ngầu đục luôn cả hằng 5 trăm năm, 1000 năm, mới có một lần trong chừng 3 ngày, rồi cũng vẩn đục trở lại. Lưu Tuấn Văn chép: “Sông Huỳnh trong, có Thánh nhơn ra đờI”. Ở đây nói đục như sông Huỳnh là để dụ nói cái vọng tâm của chúng sanh vẫn uế trược.

14. “Viên Đốn Giáo”: Viên nghĩa là viên dung, viên mãn; Đốn nghĩa là đốn cực, đốn tức là liền sẵn tột đủ. Các pháp vốn viên dung nên một pháp cũng viên dung tất cả pháp. Dùng nghĩa rằng: chỉ một niệm mở tỏ tự tánh, hoàn toàn quả Phật bằng cách lập tức, gọi là Viên Đốn giáo, là Thật giáo chí cực của Đại Thừa đời Hậu Ngụy, ngài Quang Thống Luật Sư đề xướng lập ra cái danh Viên Đốn giáo.

15. “Năm thời tám giáo”: Năm thời là: 1. Tiểu Thừa giáo thời; 2. Bát Nhã giáo thời; 3. Thâm Mật giáo thời; 4. Pháp Hoa giáo thời; 5. Niết Bàn giáo thời. Tám giáo là: 1. Tạng giáo; 2. Thông giáo; 3. Biệt giáo; 4. Viên giáo; bốn giáo nầy gọi là hóa pháp; 5. Đốn giáo; 6. Tiệm giáo; 7. Bí Mật giáo; 8. Bất Định giáo; bốn giáo này gọi là hóa nghi.

Đức Thiên Thai Trí Giả đại sư ngài đem giáo pháp của Phật thuyết trong một đời để phân phán ra năm thời tám giáo, ý nghĩa rất tường tận.

16. “Vượt phẩm trật, quan thừa ấm”: Sách Hán thư nói: “Mông tiến cử bạc trạc”, nghĩa là nhờ tiến cử lên địa vị cao cấp quan. Ấm tự là con cháu được hưởng phước dư thừa; nghĩa là các quốc triều xưa có qui chế rằng: hoặc tổ phụ đang làm quan sang, mỗi năm gặp ngày l quốc khánh, con cháu của các quan đều được phong tặng cho lên quan tấn tước, gọi là đàn ân (ơn ra phổ cập) hoặc cha ông đã qua đời, về việc nước, không luận phẩm trật, cứ lệ thì một đứa con được cất nhắc làm quan, gọi là nạn ân (ơn ra cho con cháu của tổ phụ vì nước phải tử nạn).

17. “Ba pháp quán”: 1. Không quán: dùng lẽ không để quán sát các pháp gì cũng đều là không. 2. Giả quán: Dùng lẽ giả (giả dối) để quán sát tất cả sự vật gì cũng đều là giả. 3. Trung quán có hai lẽ: 1. Quán sát các pháp cũng phi không, cũng phi giả thì tức là lẽ trung quán, nghĩa là cái lẽ quán sát bằng chính giữa, vì không lệch về hai bên phi không và phi giả hay quán sát các sự vật gì cũng không, cũng giả, tức là trung gian, nghĩa là cái phép quán sát bằng cách đồng thời soi rõ cả hai bên là vừa không vừa giả.

18. “Biết trước sau thì gần đạo”. Sách Đại Học, bài Thánh Kinh nói: “Vật có gốc ngọn, sự có đuôi đầu, biết chỗ trước sau thì gần được đạo”. Lời chú: “Gốc” là đầu chỗ trước, “ngọn” là cuối chỗ sau. Trước sau cũng có gốc ngọn là đại ý rằng: Trước hết là “thành ý” rồi đến “tu thân, tề gia, trị quốc”, rồi rốt sau mới ra “bình được thiên hạ”. Gốc là nơi ý thân, phải lo thành ý tu thân là trước nhứt, nên nói là biết trước…. có đầu…. Ngọn là nhà là nước, là thiên hạ, ý đã thành tâm làđã chánh, thân đã tu rồi, nhiên hậu mới tề được gia, trị quốc, bình được thiên hạ, nên nói là biết: sau… có cuối… người như thế, mới gần đặng cái đạo trị an nước nhà.

19. “Giữ hẹp làm rộng, là đạo mầu”: Thầy Mạnh dạy: “Nói gần mà chỉ việc xa, là lời nói rất hay khéo; giữ chỗ dón mà ra đến chỗ rộng là cáí đạo rất mầu khéo”. Lời chú: Giữ dón là tu thân, ra rộng là trị bình thiên hạ.

20. “Thường lạc ngã tịnh, Bổn Giác, Thỉ Giác”: Thường lạc ngã tịnh là bốn cái đức: Chơn thường, Chơn lạc, Chơn ngã, chơn tịnh; trong kinh Niết Bàn nói rõ để đả đảo phá 4 món chấp điên đảo của các phái ngoại đạo là: Không thường chấp là thường, không lạc chấp là lạc, không ngã chấp là ngã, không tịnh chấp là tịnh, lìa tất cả vọng tưởng, soi sáng khôn thiêng, có cái đức giác tri, thế là nếu không do tu mà thành được vậy sao? Đấy chính là cái tánh đức nó vẫn tự có sẵn sàng nên gọi là “Bản Giác”, tức là Pháp thân của Như Lai. Song cái thể của bổn tâm ấy từ vô thỉ đến nay nó bị cái vô minh phiền não làm chướng ngại che lấp đi, một mai nương nơi công phu tu trì trừ sạch vô minh rồi, tánh đức ấy mới sáng rỡ ra được nên gọi là “Thỉ Giác”. Nhưng, sáng suốt mà nhận xét ra thì Thỉ Giác nó chẳng riêng biệt, nguyên vẫn là cái thể của Bổn Giác, nên Thỉ Giác, Bổn Giác đều đồng một thể, vì ngoài Bổn Giác không có Thỉ Giác, bởi Thỉ Giác chính đồng với Bổn Giác làm một thể.

21. “Tu pháp số tức”: Số tức: Đếm hơi thở. Pháp số tức quán là một trong năm pháp quán đình tâm, nghĩa: Tu pháp quán sát đếm hơi thở ra, hút vào để đình chỉ cái điều tán loạn của ý tưởng. Với hút vào thở ra, đếm một, cứ thế đếm tới mười; lại đếm lui trở lại là từ mười, lại chín, lại tám… lại một, cứ như vậy đếm tới rồi đếm lui, đừng cho lẫn lộn và quên, lâu lâu sẽ thuần thục, trấn định được tâm tán loạn, vọng tưởng mà được yên tịnh là định, rồi sáng suốt là huệ.

22. “Nhà ngọc nhà tranh”: Đây là tả cái cảnh giới của người niệm Phật đã tiến đến bực “nhứt tâm bất loạn” rồi là tâm tịnh tức độ tịnh thì chẳng còn có sự tướng phân biệt gì nữa.

23. “Vô sanh nhẫn”: Lòng đã an trụ nơi lý vô sanh vô diệt, tâm yên tịnh không diêu động với nghịch cảnh, từ sơ địa Bồ Tát cho đến bậc Phật, đều chẳng còn sanh ác tâm mà sơ địa mới chứng cái danh vô sanh nhẫn, Bát địa chứng ngộ thể vô sanh nhẫn. Tỏ được cái Chơn Như Thật Tướng, gọi là đắc pháp vô sanh. Tỏ được cái chơn trí vô lậu, gọi là nhẫn, vì khi đã đắc được cái trí ấy, tâm mới nhẫn khả được tất cả hoàn cảnh mà được tự tại vô ngại, nên gọi là vô sanh nhẫn.

24. “Kẻ ngu phu ngu phụ”: Sách Trung Dung chép rằng: “Với cái đạo rõ ràng mà giấu kín của người quân tử, dù ngu dốt như kẻ phu phụ tầm thường cũng có thể dự biết đặng, nhưng với chỗ cứu cánh của đạo ấy, thì dẫu thánh nhơn thế gian cũng có chỗ chẳng biết dược!” Với việc làm đạo ấy, dầu không tài năng gì như hạng phu phụ tầm thường cũng có thể hành được, mà hành bằng cách nào cho đến nơi đến chốn thì dẫu là thánh nhơn đi nữa cũng còn có chỗ không thể làm đặng!

25. “Ngay nơi bản trí để cầu Phật trí”: Sách Hoa Nghiêm Huyền đàm nói: “Chơn vọng lẫn suốt, chính nơi phàm tâm để thấy Phật tâm; lý sự đều tu, ngay nơi bổn trí để tìm Phật trí”. Bổn trí là cái trí của chúng sanh ai cũng sẵn có, kêu bằng tất cả đều có Phật tánh; Phật trí là cái trí rốt ráo quả Phật, kêu là sai biệt trí, và nhứt thế chủng trí, vì tu hành đủ vạn hạnh công phu; mới rút đủ kinh nghiệm bằng cái trí ấy.

26. “Cuồng huệ”: Trách kẻ nào có trí huệ bằng tâm tán loạn là cuồng huệ. Cuồng huệ, kêu tắt là thông minh điên. Như sự thông minh của những người thế trí biện thông là một nạn trong tám nạn, nghĩa là biện việc trong thế gian thì rất giỏi, còn đối với Phật Pháp là pháp xuất thế gian thì không biết rành, gọi là cuồng huệ: hay biết mà không tin, không thực hành, ngồi đâu nói dóc đó, cũng gọi là thông minh điên vì biết, để mà nói chớ không hành. Sách Quan Âm Huyền Nghĩa nói: “Tâm kẻ nào chỉ có định mà không huệ thì gọi là si định, ví như đứa đui cưỡi ngựa mù, tất nhiên phải sa hầm, phải sụp mương. Còn chỉ mà huệ không định thì gọi là cuồng huệ, ví như đốt đèn giữa gió, leo lét lu mờ, không soi vật gì cho rõ được.”

27. “Ngoan không”: Ngoan: là ngu ngoan, không trí thức mà hay làm càn nói bậy; Không là không kiến, cái nhận thấy rằng: Không có nhơn quả, luân hồi, tội báo gì hết, nên tỷ như cái ngoan không là cái trống không vô tri vô giác kia, cái bệnh chấp “không” nặng hơn hết!

28. “Cũng đồng bịnh như ngoan không trên, kêu là cái chấp đoạn kiến”, nghĩa là cái kiến thức đoạn diệt: Chết rồi dứt hẳn, không có hồn vía chịu tội hưởng phước chi cả nên không sợ quả báo, làm chi được thì làm, miễn đã được cái dục vọng thèm khát là hơn, mà sau rồi phải đọa lạc khổ báo vô cùng, như từng cõi và trời không.

29. “Trở lại thua một thẻ”: chữ “Trù”: Con toán hay chiếc thẻ là vật để tính toán. Ông Trương Lương nói: “Xin mượn mớ đũa kia để làm thẻ tính cũng được”. Lại người xưa, mỗi khi tiệc uống hay cuộc cờ, dùng thẻ hoặc bẻ cò, để ghi số hơn thua rồi thưởng phạt nhau? Giận ông Y Quân bất đồng với lời phán của mình, ông Toản muốn đổi lại, cầm viết ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi thú thật rằng: “Dương Toản này thua một con toán”. Ở đây mượn tích đó, để tỏ rằng: Người tu thiền tự hào mà trở lại thua kẻ trì danh niệm Phật.

“Vẽ cọp không thành”. Thuở vua Quang Vũ đời Đông Hán (2556), Phục Ba tướng quân Mã Viện cầm quân đi viễn chinh gởi thơ về răn dạy các con của người anh rằng: “Ông Long Bá Cao tánh tình đôn hậu cẩn thận, chú muốn các cháu nên bắt chước theo; ông Đỗ Quý Lương là người hào hiệp hào nghĩa, chú không muốn các cháu học đòi theo. Nhưng với Bá Cao, dù bắt chước chẳng bằng, chứ cũng còn giống con cò; bằng như bắt chước theo Quí Lương mà chẳng được thì sa hãm làm đứa cho thiên hạ khinh khi, tỷ như vẽ cọp không thành, lại tợ hồ con chó!” Ở đây mượn tích ấy, là để tỏ rằng: Muốn bắt chước tham thiền cho ngộ nghĩnh chơi mà chẳng giống “Phật” lại thành “Ma”.

30. “Một bước sái, trăm bước vẫn sái”: Đối với pháp tu niệm Phật bằng cách trì danh, đời nay nếu ta không tiến bước hành đạo theo mà lại tu hành về những pháp Thiền hay Quán nào khác, thế là đã bước sai một bước ở đời này rồi, thì về sau cho đến trăm nghìn đời, dẫu có nhớ mà tu được đi nữa, cũng là trăm ngàn bước sai luôn, vì sanh tử luân hồi ở trong ba giới này, nếu chưa chứng quả A La Hán.

31. “Nắm tay vớt lên”. Ông Thuần vu Khôn hỏi: “Trong một gia đình, con trai, con gái, với điều trau chịu chẳng thân tiếp nhau là lẽ phải vậy chăng?” Thầy Mạnh đáp: “Phải lẽ đấy”. Hỏi: “Chị dâu đang đắm nước, em trai chồng nắm tay để vớt chị lên, có được chăng?” “Chị dâu đắm nước, em trai chồng thấy mà không vớt, là loài muông sói mới vậy! Với điều trau chịu, ngủ nghỉ thì giữa con trai, con gái trong một gia đình chẳng đặng quá ư thường gần sát nhau vì lễ giáo phải thế; còn như chị dâu đắm nước, em trai chồng thấy kịp, phải nắm tay chị để vớt lên là tạm quyền đấy”.

32. “Dựa cửa để trông”: Vương Tôn Cổ là tôi của vua Mẫn vương nước Tề: người Náo Xỉ phản nghịch giết Mẫn vương, Vương Tôn Cổ chưa có nghĩ đến việc đánh giặc, về viếng mẫu thân. Bà mẹ dạy mà trách rằng: “Con, sớm ra đi, chiều chưa về, mẹ đã dựa nơi cửa ngõ ở vườn trông; nếu đã xẩm tối mà con cũng chưa về thì má đã ra đến tận nơi cửa cổng ở đầu xóm để dựa trông. Đó là không có việc gì thấy vậy; chớ nay con đã ra phụng sự với nước, thế mà vua đã chạy trốn giặc, con cũng chẳng biết chỗ nào cả, lại còn về đây thì còn mặt mũi nào để thành lập danh tánh đứng giữa thiên hạ này!?” Nhơn đó Vương Tôn Cổ hiệp cùng quốc dân giết Náo Xỉ. Nay mượn tích này dụ người Phật tử không nghe lời Phật dạy, không thực hành và hy sinh với Phật pháp, là không phải Phật tử.

Vậy các Phật tử phải hợp tác với nhau để thi hành Phật sự, chống đỡ Phật pháp, đánh dẹp ma vương phá hoại Phật pháp mới gọi là Phật tử chân thành.

33. “Một thời gian sau 2 thời Chánh và Tượng”: Tức là thời thứ ba gọi là “Mạt pháp”. Phật sử chép: Giáo pháp của đức Thích Ca truyền để ở thế giới này được phân làm ba thời kỳ: Từ ngày Phật nhập diệt về sau, một nghìn năm (1000) là “thời chánh pháp”, đó là thời kỳ thứ nhứt. Từ đó về sau, một nghìn năm (1000) là “thời tượng pháp”, đó là thời kỳ thứ hai. Từ đó về sau một vạn năm là “thời mạt pháp” đó là thời kỳ thứ ba. Hiện nay (1954), sử Phật đã được 2517 năm mà Tổ sư Vân Thê sanh ra đời nhằm trong thời gian từ Gia Tĩnh đến Vạn Lịch (1522-1615) nhà Minh bên Tàu nên Tổ sư than lấy mình sanh nhằm đời mạt pháp, nghĩa: Giáo pháp đã đến thời kỳ chót ngọn rồi! Cũng như nói: sanh sau đẻ muộn thua kém đủ bề!

34. “Sách Luận Ngữ nói: “Sỉ ký ngôn nhi quá kỳ hành”, lấy làm hổ vì lời nói quá việc làm, cũng như nói: “Thuyết đắc nhứt trượng, bất như khứ nhứt xích” (Nói được một trượng, chẳng bằng đi đặng một bước). Nhưng còn khá hơn “năng thuyết bất năng hành”!

35. Lái buôn tỷ thiện tri thức: Đá yến ví cho bộ Sớ Sao, người được đá là tổ Ngài tự tỷ, đó là tổ ngài khiêm nhượng.

36. Kinh Thi nói: “Vô phụ hà hỗ, vô mẫu hà thị”: Không cha nhờ đâu? Không mẹ cậy đâu? Hỗ: Che đỡ đầu; Thị: Nương nhờ thân. Hỗ thị là thay nghĩa cho phụ mẫu (Đức Phật cũng như cha mẹ).

37. Kinh Thi nói: “Than ôi! Cha mẹ sanh ta khó nhọc! Dẫu muốn báo đáp ơn đức sanh thành, nhưng trời cao vô cùng”. Dụ như thâm ân của Đức Phật biết kiếp nào báo đáp cho vừa.

38. Kinh Thi nói: “Sâu, nhện có con tò vò ôm đó, dạy dỗ con mầy, nề nếp giống đây”. Rằng: “Con minh linh dưỡng tử đi theo họ khác” là ý nói: Chúng sanh nguyên có Phật tánh tức là con của đức Từ Phụ Thế Tôn, thế mà chúng sanh không chịu niệm Phật để về Tịnh Độ là Tổ quán, mà lại nỡ bỏ để đi theo làm con nuôi cho loài khác nơi lục đạo luân hồi! Cũng như sâu nhện đi luân hồi làm con nuôi cho loài khác (tò vò); chỉ mượn nghĩa xưa thôi.

39. Sách Mạnh Tử chép: “Người ta hễ còn nhỏ thì mến cha mẹ; đến khi biết háo sắc thì mến cái trẻ đẹp; đến lúc có vợ con thì mến thê tử; đi làm quan thì mến vua, chẳng đặng mến vua thì nóng nảy trong lòng. Với đại hiếu thì trọn đời mến cha mẹ; với người làm con đã năm mươi tuổi mà còn mến cha mẹ đó thì ta chỉ thấy có một mình Đại Thuấn!” Người niệm Phật thì trọn đời ôm lòng mến Phật bằng cách hằng ngày lân la dưới gối cha mẹ. Chớ đừng như người ta kia hồi nhỏ mến vầy, đến lớn mến khác, ba hồi mến nọ, ba hồi mến kia.

40. Kinh Lễ, Thiên Đàn cũng chép rằng: “Phụng sự cha mẹ, dù có chỗ giấu giếm (tử vị phụ ẩn) không nói với người ngoài, cũng chẳng phạm lỗi gì, thường không rời đôi bên tả, hữu; để hiếu dưỡng không dám nghịch mạng” (tả hữu vô phương).

41. Sách Lễ ký, Thiên Khúc Lễ nói: “Hễ bổn phận làm con, mùa đông phải lo cho cha mẹ được ấm, mùa hạ phải lo cho cha mẹ được mát, chiều hôm lo sửa chiếu gối mùng mền, rạng đông đến thăm”. Chớ đừng quá ư như ai kia, “hữu thê tử tắc mộ thê tử” mà thôi, với cha mẹ già, nó có ừ, hử gì đến nữa đâu.

42. Sách Mạnh Tử nói: “Tâm (ý thức) nó làm chủ điều nghĩ nhớ, hễ có nghĩ nhớ thì đắc lý, không nghĩ nhớ thì không đặng lẽ”. “Hết lòng (thức thứ sáu) lo nghĩ”. Thầy Mạnh tử nói: “Đạo của vua Nghiêu vua Thuấn: Nếu chẳng dùng cái chánh sách nhơn đức thì chẳng thể bình trị thiên hạ đặng”. Lại nói: “Đã hết lòng nghĩ lo, kế đó, dùng chánh sách không nỡ làm khổ nhơn dân mà có điều nhơn phủ trùm cả thiên hạ”.

43. Tạp hoa: Hoa đẹp xen lộn. Tạp Hoa Kinh là tên riêng của kinh Hoa Nghiêm: Muôn hạnh tốt ví như hoa đẹp để trang nghiêm (tô điểm) nên quả Phật bằng muôn hạnh, thành thử gọi là Hoa Nghiêm. Bồ Tát tu nhơn làm đủ muôn hạnh tất xen lẫn nhau nên gọi là Tạp Hoa, để đi đến kết quả trang nghiêm của Phật, đồng một ý nghĩa. Trong kinh Niết Bàn và Quán Phật Tam Muội kinh đều gọi Hoa Nghiêm là Tạp Hoa kinh, là vì muôn hạnh lẫn xen, nhơn duyên sanh khởi để thành tựu. Đó là lời trong Huyền Đàm dẫn thế; còn trong kinh Quán Phật, phẩm Bổn Hạnh nói: “Khi vừa thành đạo tại trường Tịch Diệt bên nước Ma Dà Đà, ta vì các Đại Bồ Tát như Phổ Hiền, Hiền Thủ…. đối trong kinh Tạp Hoa, đã phân biệt nói nhiều rồi”.

44. Ức kiến: Chỗ nhận thấy trong hung ức. Ức kiến cũng như ức thuyết; vì theo ý kiến mình để nói; chớ không có căn cứ vào đâu. Văn của Phú Bậc nói: “Lời của thần viện dẫn chứng cứ ở sách của Thánh Hiền, chứ không phải là lời ức thuyết”.

45. “Y báo chánh báo”. Y: là y báo, tức là tất cả sự vật gia quốc giữa thế gian, gọi là y báo vì là: cảnh (sở y) của thân tâm. Chánh báo: tức là (thân ngũ ấm) vì do nơi sức tạo nghiệp của đời trước mà cảm chịu lấy cái thân tâm đời nay nên gọi chánh báo. Đã có cái thân năng y, tất có cái cõi sở y nên với quốc độ cũng là nghĩa quả báo. Phẩm Hạnh Nguyện lời Sớ Sao nói: “Y là quốc độ sở y của phàm thánh, như thân của người, trời, tại gia nam, tại gia nữ, ngoại đạo, chư thần quỉ, Bồ Tát và Phật. Đều có y báo và chánh báo cả, nhưng mỗi mỗi đều khác nhau; y là “cảnh”, chánh là “tâm”. Song tâm Phật và cảnh của Phật thì khác hẳn không phải như tâm và cảnh của Bồ Tát; tâm và cảnh của Bồ Tát khác hẳn không phải như tâm và cảnh của chúng sanh v.v…

46. Ông Quản Tử nói: “Nghĩ đó, nghĩ đó, lại lặp đi lặp lại nghĩ đó, nghĩ đó chẳng đặng thì quỉ thần dựa vào để cho được linh thông; phi quỉ thần giúp cho được cảm thông thì lòng ta tinh thành đến cực điểm, tự nhiên phát minh tâm trí linh thông”.

47. Duy Thức học nói: “Do A Lại Da thức nó tượng hình (chuyển sanh cũng như nảy nở ra) ra trái tim, kế đến sống mũi, mắt, tay, lưỡi, đầu; cái thân năm tạng: 2 tay, 2 chơn… kêu bằng chuyển sanh thức, nghĩa là thức thứ tám nó chuyển động để nảy nở ra bảy thức kia mà sáu căn là phần hữu hình vì thuộc về vật chất, để cho sáu thức y chỉ, tác ý, hiện hành cảm giác bằng những phân biệt là thấy nghe hiểu biết mặc dù ý thức nó vô hình, nhưng tham gia với năm căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, và thân. Vậy đem sáu căn qui về căn bổn thức nên gọi là “qui nguơn nghĩa” vì là phản bổn huờn nguyên.

48. Đời Hán Cao Tổ Hoàng Đế: Mà khi mới khởi binh, ông Ngụy Vô Tri đem dưng Trần Bình với tài năng của Trần Bình có thể cho làm chức Hộ Quân Trung Úy. Đến lúc Bái công chiến thắng Hạng Vũ, định thiên hạ, phong hầu cho các công thần, Trần Bình được phong làm chức Khúc Nghịch Hầu. Bình tâu: “Nếu không có ngài Ngụy Vô Tri tiến dẫn; hạ thần đâu được hân hạnh nầy, xin nhường phong hầu lại cho ông Ngụy Vô Tri”. Cao Tổ khen: “Khá gọi Trần Bình là người bất vong bổn”. Nhơn đó lại phong quan cho ông Ngụy Vô Tri.

Lúc còn hàn vi, Trần Bình làm lý xã trong làng, chia thịt đều công bình lắm, được các vị phụ lão trong xã khen rằng: “Chú em nầy cắt chia khéo thật!” Bình thưa: “Dẫu Bình nầy được có bổn phận cắt khiến thiên hạ thì cũng như việc chia thịt đây”. Người ta mà biết được danh từ nhữ tử (tôi em) là đấy.

Dùng sách ấy là để tỏ rằng: Ngày nay ta sở dĩ được cái phước biết niệm Phật, nhờ Đức Di Đà độ cho như thấy nầy là gốc nhờ đức Thích Ca chỉ dẫn, nên phải lạy Bổn Sư trước.

49. Với kẻ hỏi thắc mắc, Đông Phương Sóc đáp: “Lấy ống dòm trời, dùng ngao lường biển, cầm nhành cây nhỏ động chuông thì làm gì suốt được điều quán của trời, xét được thiển thâm của biển và dấy được âm thinh của chuông”.

50. “Nhứt thế chủng trí” nghĩa là: Có thể lấy một món trí để biết được những đạo pháp của tất cả chư Phật; lại có thể biết được những giống tạo nhơn của tất cả chúng sanh nên gọi trí biết hết thảy hột giống.

51. “Ngũ trùng huyền nghĩa”: 1. Giải thích (danh đề) của kinh; 2. Biện minh (thể tánh) của kinh; 3. Phát minh (tông chỉ) của kinh; 4. Nghị luận (tác dụng) của kinh; 5. Phán đoán (giáo nghĩa) của kinh.

52. “Đại sự nhơn duyên” là nhơn duyên của một việc lớn. Nghĩa là Phật Đà sở dĩ xuất hiện nơi đời, nói pháp 49 năm, đó bởi vì nhơn duyên của một việc lớn. Việc lớn bằng cách nào? Nói chung thì chuyển mê khai ngộ là việc lớn. Nói riêng: Kinh Pháp Hoa lấy “Phật tri kiến” làm đại sự; kinh Niết Bàn lấy “Phật tánh” làm đại sự; kinh Hoa Nghiêm dùng “Pháp giới” làm đại sự: kinh Bát Nhã lấy “thành Phật nhơn quả” làm đại sự; kinh Vô Lượng Thọ dùng “Vãng sanh Cực Lạc” làm đại sự v.v…

53. “Đấu tranh kiên cố”. Kinh Đại Tập Nguyệt Tạng cuốn 10 chép lời Phật dạy rằng: “Sau khi ta nhập diệt, trong khoảng 5 trăm năm thứ nhứt, các bí sô còn kiên cố về việc tu giải thoát, nghĩa là lo giữ giới hoàn toàn, tu chứng A La Hán, nên gọi là giải thoát kiên cố. Đến 500 năm thứ nhì, người xuất gia kiên cố tu hành bằng cách chỉ chuyên tham thiền nhập định, gọi là “thiền định kiên cố”. (Đã 1000 năm của đời chánh pháp). Đến năm cách trăm (500) năm thứ ba, người xuất gia chỉ lo tu kiên cố bằng tụng niệm cho nhiều, học hỏi cho thông, gọi là “Đa văn kiên cố”. Đến năm trăm (500) năm thứ tư, người trong Phật pháp tu học bằng cách phần nhiều kiên cố lo kinh doanh tự viện to, tháp tượng lớn gọi là “Tháp tự kiên cố”. (Đã mãn một nghìn (1000) năm của đời tượng pháp). Đến năm trăm (500) năm thứ năm, người trong Phật pháp lo đấu tranh là kiên cố hơn hết. Nghĩa là tranh giành đủ mọi phương diện, gọi là “đấu tranh kiên cố”.

Hiện nay (Phật lịch 2517-1954), với đời mạt pháp một muôn (10,000) năm đã qua hết 517 năm, thì 500 năm đó là 500 năm thứ năm của thời kỳ “đấu tranh kiên cố” đã qua rồi, lại hơn 17 nữa.

Ôi! Với Phật lịch đã qua cái thời gian “đấu tranh kiên cố”, ngoài thế giới, pháp thế gian cũng đồng thời “cạnh tranh phấn đấu”. Vậy biết: Pháp xuất thế và pháp thế gian cũng đồng thời hợp lối.

54. “Chơn Như tam muội” là một pháp thiền định, lễ quán tưởng cái lý chơn như vô tướng mà trừ được vọng hoặc. Luận Khởi Tín nói : “Tu pháp Chơn Như tam muội là tâm không trụ ở cái tướng thấy, chẳng trụ nơi cái tướng đắc, nhẫn đến lúc ra định, cũng không giải đãi khinh mạn thì dẫu có bao phiền não cũng dần dần tiêu diệt”.

55. “Chỉ quán”: Đến với cái pháp phương tiện để tu mà nói thì Chỉ thuộc về Không môn, Chơn Như môn, duyên theo cái Chơn Như vô vi, để lìa các danh tướng. Quán thuộc về hữu môn, sanh diệt môn duyên theo cái sự tướng hữu vi, để phát đạt trí giải.

Kinh Duy Ma lời chú nói: “Người mới tu quán thì buộc tâm vào một chỗ, gọi là: “Chỉ”; tâm yên lặng đến cực điểm thì sáng suốt, sáng suốt tức là huệ, gọi là “quán”.

56. “Thích Ca đã qua, Di Lặc chưa đến”: Sử Phật chép: Cứ mỗi một đại kiếp kể có một ngàn hai trăm tám chục triệu năm. Mỗi trong một đại kiếp, đều có bốn Trung kiếp là: Thành, Trụ, Hoại, Không. Mỗi một trung kiếp: Kể có ba trăm hai chục triệu (320,000,000) năm. Trong một trung kiếp có 20 tiểu kiếp. Một tiểu kiếp có một lần tăng, một lần giảm, cộng có mười sáu triệu (16,000,000) năm.

Giữa trung kiếp này: Đức Thích Ca ra đời về cuối tiểu kiếp thứ chín; qua giữa tiểu kiếp thứ mười, Đức Di Lặc mới xuất thế. Nghĩa là từ nay (2517 – 1954) bắt một kể đi thì còn 5.999 năm nữa mới hết tiểu kiếp thứ chín. Cũng từ nay bắt một kể đi thì còn tám triệu mười bốn ngàn bốn trăm chín mươi chín năm nữa, đức Di Lặc mới giáng sanh. Từ thuở Thích Ca đến lúc Di Lặc ra đời, cách nhau tám triệu một vạn một ngàn năm trăm bốn mươi lăm năm.

Vậy với giữa cái thời kỳ dài lâu bằng tám triệu một vạn một ngàn năm năm trăm bốn mươi lăm năm đó, ở thế giới Ta Bà đây làm gì được thấy Phật, vì Thích Ca đã nhập diệt, Di Lặc chưa giáng sanh! Duy có tu niệm Phật được nhứt tâm là thường được thấy Phật A Di Đà v.v…

57. “Do vọng hoặc sanh hành nghiệp”. Vọng hoặc: Tham, sân, si, hay là kiến hoặc, tư hoặc v.v… Do những mê hoặc đó, rồi tạo tác ra nghiệp chướng là: Ý 3 nghiệp; khẩu 4 nghiệp; thân 3 nghiệp. Với 10 nghiệp ấy hễ nghiệp thiện thì thăng lên 3 thiện đạo: là người, trời, thần a tu la. Còn nghiệp ác thì trầm xuống 3 ác đạo là: Địa ngục: ngạ quỉ; súc sanh, nên nói luân hồi mãi không thôi, nếu không niệm Phật.

58. Bộ Liên Tông Bửu Giám chép rằng: “Tu các pháp môn khác… Tỷ như con kiến bò từ chân núi lên tận đảnh cao; tu pháp niệm Phật vãng sanh, ví tợ ghe buồm xuôi gió trải dòng nước thuận”. Vì kiến bò cho tới nơi chỉ bằng tự lực; đi thuyền… chóng, khỏe nhờ cả tha lực (Phật lực).

59. Sách Trang Tử chép: “Với ếch ruộng không thể nói chuyện biển đặng, với cá giếng không thể bảo chỗ lớn được, là đều vì: một đàng bị hạn cuộc nơi gò nhỏ, một đàng bị hạn cuộc nơi hẹp hòi”.

60. “Độc thiện kỳ thân”: Yên lành một mình: cũng như ích kỷ, các thánh nhơn bên Tiểu thừa, chỉ lo tu chứng quả Thinh Văn, chóng ra ngoài ba cõi, để tự độ lấy mình khỏi khổ sanh tử trong sáu đường mà thôi; còn chúng sanh sống say chết ngủ trong biển khổ sông mê mặc kệ nên gọi là yên lành một mình.

61. “Tâm đoạn diệt”: Đoạn: đoạn hết lòng vọng hoặc; Diệt: diệt sạch khổ sanh tử. Nhập cái định “diệt tận ý thức” để ham mê lấy cảnh giới “tịch diệt giải thoát” làm vui, nên cứ vào pháp thiền định này để ngồi luôn cả hằng mấy trăm năm. Phật bảo là giải thoát thâm khách.

62. Mới phát tâm thọ Bồ Tát giới, để tu pháp Đại Thừa. Luận Trí Độ nói: “Bồ Tát có hai hạng: 1. Cư gia; 2. Xuất gia. Các vị trong bọn Thiện Thủ cả 16 Bồ Tát đó, là tại gia Bồ Tát; còn những vị trong các Ngài “Từ Thị” “Diệu Đức”… là xuất gia Bồ Tát”.

Tân phát tâm cũng như tân phát ý Bồ Tát, lại có hai bực: 1. Sanh tử nhục thân, là hàng Bồ Tát mới phát tâm tu, chưa chứng pháp tánh, còn bị cái thân phần đoạn sanh tử trong 3 cõi; 2. Pháp tánh sanh thân là Bồ Tát này đã chứng pháp tánh vô sanh nhẫn, xả rồi cái nhục thân sanh tử trong 3 cõi; thụ cái thân biến dịch bất sanh bất diệt, bất khả tư nghì.

63. “Cụ phược phàm phu”: Phiền não nó bắt trói người đem buộc ràng trong ngục sanh tử để giam hãm mãi nên gọi là phược; có đủ cả phiền não nên gọi cụ phược, tức là hết thảy phàm phu. Kinh Anh Lạc nói: “Chúng cụ phược phàm phu chưa biết ngôi Tam Bảo”.

64. “Xin tròng con mắt”. Khi ông Xá Lợi Phất phát tâm tu đại thừa Bồ Tát đã chứng đến bực trụ thứ 6 là “Chánh tâm trụ”. Một hôm nọ gặp người Bà la môn xin một tròng con mắt để làm thuốc, ông móc ra cho nó. Té ra nó đã không làm thuốc gì hết, lại ném xuống đất, rồi khạc nhổ lên và chà đạp là khác. Xá Lợi Phất thấy thế nổi sân hận nên thối mất Đại Thừa tâm. Trụ là trụ vào lý Bát Nhã, nghĩa là sau khi chứng đủ 10 tín, rồi tiến lên tu 10 trụ, là để an trụ vào địa vị của Phật.

65. Với lục đạo: Chừa đường trời ra thì còn nhơn đạo; Tu la đạo; Súc sanh đạo, Ngạ quỉ đạo và Địa ngục đạo, nên gọi là năm đường. Ôi! Xá Lợi Phất đã là bực Bồ Tát, bị ma ngoại nó chọc phá, chỉ nổi giận còn đọa như thế, huống là phàm phu! Vậy biết: với Đại Thừa Bồ Tát, khó tu là thế; còn niệm Phật thì dễ tu vì nhờ có tự lực và tha lực nên được mang nghiệp mà vãng sanh.

66. Có hai pháp:

1. Chuyên môn tâm quán tưởng tướng hảo của Phật, hay là quán tưởng thật tướng của pháp thân Phật (hai cách tu ấy gọi là quán tưởng niệm Phật), hoặc nhứt tâm xưng danh hiệu Phật (là niệm Phật bằng cách xưng danh) và làm các công hạnh, đều gọi là niệm Phật Tam muội; đó là niệm Phật tam muội của lực nhơn hành.

2. Là ba cách nhơn hành đó mà được thành tựu như: Tâm đã vào thiền định (nhứt tâm bất loạn), hoặc thấy được Phật thân hiện tiền, hoặc thấy được Thật tướng của pháp thân, gọi là niệm Phật tam muội, đấy là niệm Phật tam muội của lúc quả thành. Niệm Phật tam muội của “Nhơn hành” gọi là tu niệm Phật tam muội của “quả thành” gọi là Phật đắc.

67. Kinh Hoa Nghiêm chép rằng: “Chư phương tiện vi phụ”, nghĩa là dùng tu các pháp phương tiện làm cha, vì có thể gìn được cái tâm không cho tán loạn, để cho trí tuệ được thành, cũng như cha hay giữ dạy các con được nên thân. Chính như pháp Ban Châu Niệm Phật tam muội là làm cha, cũng lại như thế.

68. “Hột giống thân nhứt”: Niệm Phật là nhơn, thành Phật là quả, với cái kết quả thành Phật, dù có nhiều nhơn duyên, như: giữ giới, lạy Phật, tụng kinh, hành lục độ, nhứt thiết đều hồi hướng về tịnh độ, đó đồng là “sở duyên”, nhưng chính cái niệm Phật là “Thân nhân” vì thân thiết nhứt. Tỷ như với cái kết quả hột lúa, dù có nhiều nhơn duyên, như: đất, nước, ánh sáng, không khí, nhân công đều là phần sở duyên, nhưng chính hột giống là thân nhân, vì nó thân thiết nhứt với cây lúa và bông trái sau nầy… Vậy biết hột giống nào kết quả nấy nên hột giống là phần thân nhứt, còn thì là duyên phụ trợ.

Lại nữa, niệm Phật thành Phật cũng gọi là thân sanh, nghĩa là: 1. Nhờ chấp trì danh hiệu Phật A Di Đà mà được vãng sanh về Tịnh Độ. 2. Dùng bản trí của mình mà cầu Phật trí, cũng như nhờ chấp trì danh mà được nhứt tâm bất loạn, cũng gọi là thân sanh, nên gọi Pháp niệm Phật là cha của các vị Bồ Tát vì nó hay sanh đẻ pháp thân!

69. Viễn hành địa làm danh “đệ thất địa”: Giữa thập địa Bồ Tát, Bồ Tát ở ngôi thất địa này là trụ vào pháp quán thuần là vô tướng, xa khỏi hơn các cái hữu tướng, hữu hành của thế gian và nhị thừa!

70. Trang nghiêm Phật độ: Bồ Tát hành lục độ để thân, khẩu, ý của mình được thanh tịnh… và giáo hóa chúng sanh cũng hành thập thiện trừ thập ác, để cõi nước Phật được thanh tịnh nên gọi là Bồ Tát cải tạo thế giới cho được tịnh nghiêm. Trái lại, ma vương dạy chúng sanh làm ngũ nghịch, thập ác, cạnh tranh, phấn đấu, đạo tặc, chiến tranh, uế ác là làm ô trược cõi nước Phật. Vậy thiện là tịnh Phật quốc độ, tạo ác là uế trược quốc độ.

71. Sức nhẫn tùy thuận, tức là “tùy thuận xảo phương tiện”. Nghĩa là: thuận theo để giáo hóa, khiến chúng sanh nẩy lòng tín mến nói: pháp thậm thâm để cho dễ hiểu, kêu bằng Bồ Tát bất nghịch nhơn ý. Cũng như ý nghĩa “nhĩ thuận” của Khổng Tử.

72. Thế giới Diệu Hỉ: quốc độ của Duy Ma cư sĩ. Kinh Duy Ma, phẩm Kiến A Súc Phật quốc chép rằng: “Phật bảo Xá Lợi Phất: Có cõi nước tên Diệu Hỉ, Phật hiệu là Vô Động, là ông Duy Ma Phật từ nước kia ẩn thân để đến sanh ở đây”.

73. Sơ địa tức hoan hỷ địa, là một trong mười địa của đại thừa Bồ Tát: Bồ Tát đã đầy đủ công hạnh của một sơ A Tăng kỳ kiếp, mới chứng đắc thánh tánh, vì đã phá trừ rồi kiến hoặc, tỏ được cái lý ngã không, pháp không nên cả sanh lòng hoan hỷ, gọi hoan hỷ địa.

74. Đức Văn Thù có bài kệ vãng sanh: “Nguyện ngã mạng chung thời, tận trừ nhứt thiết chư chướng ngại, diện kiến bỉ Phật A Di Đà, tức đắc vãng sanh An Lạc sát”.

Hai bài vẫn một ý nghĩa, dù là đại đồng tiểu dị. “Tận trừ chư chướng ngại” là nguyện khi sắp thở hơi cuối cùng, đừng có các điều chướng ngại; như mê sảng, đổ chảy đại tiểu tiện ra, cho đến tiếc thương điều nầy sự nọ. Vì lúc lâm chung mà có mấy chướng ngại đó thì không mong gì vãng sanh được.

75. Thần: Là nghĩa mà người thường chẳng xét lường đặng; Thông là nghĩa không chi ngăn ngại. Nói chung là cái lực dụng đã chẳng xét lường mà lại không ngăn ngại, gọi là Thần thông. Du Hí: dạo chơi, tức là đã đắc 5 thần thông, hoặc 6 hay 10 thần thông; dạo chơi qua các thế giới khác và địa ngục như Đức Địa Tạng cũng là bực thần thông du hí. Sách Đại Thừa Nghĩa Chương: Với chỗ ra làm lạ lùng lắm, gọi là thần, với tác dụng không chi làm ủng tắc, gọi là Thông. Như Đức Quán Thế Âm Bồ Tát thiên biến vạn hóa.

76. Nguyên vì vườn cây của Thệ Đa Thái tử nên gọi là rừng Thệ Đa… Ông Tu Đạt Trưởng Giả mua lấy rồi kiến thiết tịnh xá để hiến Phật ở giảng giáo độ sanh. Thệ Đa dịch là Chiến Thắng, thái tử của vua Ba Tư Nặc ở nước Cu Tát La. Sách Tây Vực Ký nói: Thệ Đà Lâm, Thắng lâm.

77. Sách Hoa Nghiêm Huyền Đàm chép: “Hàng thượng đức Thinh Văn không thấy nghe gì được với “gia hội”, bực Tích Hạnh Bồ Tát phơi vi, vảy lợt đợt nơi Long Môn”. Nghĩa là các Bồ Tát tu đã nhiều kiếp, lắm hạnh không thể hiểu nổi cái đạo lý đại thừa viên đốn, mà phải lui ngã xuống tỷ như cái cấp thứ 3 của “Vũ Môn”, cá nhảy qua không khỏi được, phải té xuống trầy vi tróc vảy phơi khô, thành vị thuốc “long cốt”. Ý rằng: Phật giảng kinh Hoa Nghiêm, các vị Thinh Văn, Bồ Tát kia nghe không nổi, hiểu không thấu, phải rớt hết, tỷ như cá đi thi nơi “Vũ Môn”. Con nào nhảy qua khỏi cấp thứ 3 thì được hóa rồng, trái lại thi rớt xuống bị chết phơi khô.

78. Phơi mang, cũng là trầy vi tróc vảy phơi khô nói trên. Xét rằng: Vũ Môn cũng là Long Môn. Sách Hậu Hán chép chuyện Tư Mã Thiên, ông Thiên được sanh tại Long Môn. Lời chú rằng: “Vua Vũ tạc ra cửa rồng”. Sách Tân Thị Tam Tần chép rằng: “Bên sông có một tên là Long Môn, thế nước nó hiểm trở chẳng thông, các loài cá, trạnh khó mà lên đặng! Con nào lên được thì hóa rồng” v.v…

79. Chẳng giải đặng lòng nghi. Có hai thầy bí sô, một thầy phạm giới dâm bằng vô tâm, một thầy phạm giới sát bằng không cố ý; đều đến xin sám hối. Ngài Ưu Ba Ly cứ Luật kết tội là thật dâm, thật sát. Hai Bí Sô nghi rằng: Tuy có phạm, nhưng là trường hợp vô tâm mà sao lại thành tội cố phạm?!! Ngài Duy Ma cho trí của Ưu Ba Ly như lửa đóm thì trí Duy Ma như ánh sáng mặt nhựt, vì tiêu lòng nghi như nắng tiêu tan sương tuyết. Sáng của lửa đóm là tỷ dụ cho trí của Thinh Văn, ánh nắng là tỷ dụ cho trí của Phật. Sáng choang là dụ trí của Bồ Tát, ánh lửa ví trí của Thinh Văn.

80. Sách Vĩnh Gia Chứng Đạo Ca nói: “Có hai Bí Sô phạm dâm sát, Ba Ly ánh đóm thêm tội phạt. Duy Ma quở cãi, liền dứt nghi, dường như ánh nắng tan sương tuyết”.

81. Với hai Đệ tử, ngài Xá Lợi Phất dạy cho: Một trò tu pháp quán bất tịnh, một trò tu pháp quán đếm hơi thở, đã lâu mà chưa có ích lợi gì, tâm muốn phản đạo, đến lạy Phật xin về, Phật hỏi: “Vậy nhớ hồi còn ở nhà, làm nghề nghiệp gì?” Trò mà tu đếm hơi thưa: “Con là con nhà giữ nhị tỳ” (nghĩa trang). Trò mà tu quán tịnh thưa rằng: “Con là con nhà thợ rèn, thợ đúc”. Phật bảo hai trò đổi nhau phép quán để tu lại… Không bao lâu đều chứng đạo quả. Tu pháp quán bất tịnh là: Quán tưởng cái thây của người chết… để tu trừ cái tâm tham sắc dục. Tu quán đếm hơi là để diệt cái tâm tán loạn. Người ở nhị tỳ đã thường thấy tử thi nên dễ tu mau thành; ở nhà thợ rèn thường thấy hơi thổi ống bễ nên dễ tu pháp đếm hơi.

82. Ba tâm trọn pháp: 1. Chí thành tâm: Cái tâm chơn thật nguyện sanh về tịnh độ; 2. Thâm tâm: Cái tâm thâm thiết cầu sanh tịnh độ; 3. Phát nguyện hồi hướng tâm: Quày đem những công đức đã tu, hướng về nguyện vãng sanh tịnh độ, người niệm Phật mà đủ ba cái tâm ấy ắt đặng sanh về nước kia như kinh Vô Lượng Thọ đã nói.

83. A Dà Đà, dịch là Phổ Khử, Vô Giá, Vô Bịnh: thứ thuốc huờn. A: Phổ; Dà Đà: Khử; nghĩa là: ăn thuốc đây khắp trừ các bịnh. Lại, A: Vô; Dà Đà: Giá: Rằng thuốc đấy công rất cao, giá trị vô lượng. Lại, A: Vô; Dà Đà: Bệnh; rằng uống thuốc nầy, không còn có bịnh gì nữa…

A Dà Đà: Độc vị mà công dụng hay gồm cả thứ thuốc khác.

84. Đời nhà Tùy, ông Vương Độ có được cái bửu kính… lúc ông đi làm quan Huyện Lịnh, trong huyện có cây đa lớn, có thần, hễ tân quan nào đến đều cúng thần cây đa ấy, không thì bị làm quái dị. Đến tối, quan Huyện bảo lính lệ đem bửu kính treo lên cây, đến nửa đêm mưa to, dông sét lớn, rạng ngày coi lại thì cây đa rách nát hết, dưới gốc bộng có con đại mãng xà chết nám đen. Lại một hôm, ông đến nơi quán trọ, thấy trong nhà người ấy, lại có một cô thiếu nữ rất đẹp lạ lùng! Ông hỏi, chủ quán thưa: “Trước đây chừng vài tháng, có một hành khách dẫn cô ấy đến gửi ở đây, nói rằng: Bữa sau lại dắt đi, thế mà mãi đến ngày nay bặt vô âm tín”… Ông Vương Độ nghe lấy làm ngờ là chẳng phải loài người, nghĩ rồi len lén lấy bửu kính ra, thì cô gái ấy liền đến xin tha chết bằng cách quá ư sợ sệt, mà thú thật rằng: “Thiếp là con chồn cáo, lừa hãm hại đã nhiều người, nay phải chịu chết dưới tay ngài, vậy cúi xin ngài cất bửu kính, thiếp chịu chết”. Độ gạn: “Giấu bửu kính đặng ngươi trốn hả?” Con yêu thưa: “Kính thần sáng thiêng, còn chỗ nào trốn đặng! Xin được no say một bữa, sẽ đền tội chết”. Cho uống ăn say mèm, rồi nằm co lại thì con chồn cái chết trên sàn.

85. Ma chướng. Thâm tâm là ngũ ấm: Sắc, thọ, tưởng, hành, thức; năm ấm ấy nó hay sanh ra nhiều điều chướng ngại làm não hại chúng sanh, nên gọi là Ma sát hại.

86. Sách Dị Uyển nói: Con sơn tinh nó giống hình người, nhưng chỉ có một chơn, ưa ăn cua núi. Dã mị: Con vật nào quá già thành quỉ, nó ưa biến hiện ra để lừa hại người.

87. Thiên ma, tâm ma: Thiên ma tức là trời Ma vương ở cung trời thứ sáu của Dục giới, tên là Ba Tuần, dịch: Ác ái, chúng có bè đảng nhiều vô lượng, thường đem ác cảm làm chướng ngại cho kẻ hành đạo Phật và khiến cho phóng dật để tự giết thân, nên gọi là Ma La, dịch là Chướng Sắt. Tâm ma tức là con ma phiền não, bởi phiền não nó là ác ma, vì ưa cướp hại việc làm lành của thế gian và xuất thế gian.

88. Chứng bệnh bảy năm. Thầy Mạnh nói: “Ngày nay, phàm là người muốn trị an nước nhà, dường như người đau đã bảy năm mà tìm cỏ ngại ba năm”. Ngại là diệp ngại, tục là cây thuốc cứu, để khô càng lâu lại càng hay. Ví dụ: Với việc làm phải dự bị trước.

89. Vọng lự là vọng tưởng. Duyên trần là tâm vọng tưởng nó ưa tư tự, để duyên qua cảnh năm trần là sắc, thinh, hương, vị, xúc, cũng như nói: Duyên là các sự vật nó liên quan với cả trong lẫn ngoài của thân ta. Duyên ấy thể nó hư vọng không thật nên nói vọng lự duyên trần, lại sự vật ấy nó làm những duyên để ta sanh khởi vọng tình.

90. Như con bò hay trâu nghĩ vì bị mang cái ách cộ là khổ, rồi muốn phá cho hư cái cộ hay xe đi, ngõ được khỏi khổ thì người chủ nó lại tạo cái xe khác nữa, thì đi lại cũng vẫn hoàn còn khổ! Cũng như người ta chán cái thân nầy là khổ liền tự thiêu cho hoại thân đi, chết là hết khổ: chứ nào có biết cái thân này hoại thì cái nghiệp chủ nó đi chịu cái thân sau để tiếp tục thụ báo khổ nữa, vì chưa hết nghiệp hoặc kia mà.

91. Nhơn không, lại tên là Sanh không, Ngã không: nghĩa là quán sát cái thân con người là do năm uẩn mượn lẫn nhau để hòa hợp làm một cái nhơn tướng, lại là do nơi nhơn duyên cũng như đủ điều kiện mới sanh thành ra được bằng cách giả dối. Vì biết trong đó nó chẳng có cái ngã thể là “thường” hay “nhứt” gì hết nên nói là “nhơn không”. Chứng nhận được lẽ chơn không rồi, nhơn đó đoạn được tất cả phiền não, rốt đắc quả Niết Bàn, đó là chỗ cực điểm của Tiểu thừa giáo. Bên Đại Thừa lập ra cái lý: Tất cả pháp “sự vật” đều có cái tánh Chơn Như, rằng không cái chấp nhơn ngã (đối với pháp ngã) đó, là nói nhơn không để rõ tánh Chơn Như. Sách Khổng Chương Mục nói: “Đến không còn ngã chấp là rõ bày tánh Chơn Như, gọi là nhơn không”.

92. Căn bản tịnh nhiễm do nơi tam độc là tham, sân, si làm “căn bản” vô minh; vô minh sanh ra 12 nhơn duyên, tùy thuận tạo ra thập thiện là “tịnh”, thập ác là “nhiễm”, vì có chấp ta làm thiện, làm ác. Lại hành thập thiện bằng hữu tướng là nhiễm, vô tướng là tịnh, tịnh là vô lậu, vô lậu chỉ tự lợi là Thanh Văn, vô lậu mà lợi tha là Bồ Tát, vì không luôn cả pháp không nữa.

93. Pháp không là không còn chấp pháp, từ trong thâm tâm cho đến ngoài là quốc độ, tất cả sự vật hiện tượng đều không chấp nhứt, phân biệt làm cảnh sở hữu ngoài tánh chơn như. Thế là đều không luôn cả cu sanh pháp chấp, phân biệt pháp chấp kêu là “Độ sanh vô tướng… hành thí vô ngã”. Tức là: Vô ngã, vô nhơn; vô chúng sanh; vô thọ giả.

94. Định tánh xiển đề: Định tánh người có cái chủng tử (tánh) duy nhứt (định) xiển đề; kêu đủ là nhứt xiển đề, dịch là chẳng đủ đức tin, là nghĩa bất thành Phật. Lại có hai nghĩa: 1. Đoạn thiện xiển đề, dấy lòng đại tà kiến, dứt hẳn tất cả căn lành, vì bác bỏ hết thảy việc lành. 2. Đại bi xiển đề: Bồ Tát có cái tâm đại bi, nguyện độ tận chúng sanh đều thành Phật, nhưng mà chúng sanh vô tận, nên Bồ Tát hẳn không có cái thời kỳ thành Phật. Sách Chỉ Quán nói: “Xiển đề có tâm còn có thể thành Phật; nhị thừa vì diệt trí nên tâm đại thừa chẳng phát sanh đặng”.

95. Cái võng ngọc: 1. Có chỗ nói Đế võng, hay Đế thanh là cái võng bằng ngọc thanh sắc bửu. Như nói Đế thanh bảo võng, quang giới trùng trùng… Đó là của Thiên Đế thích. 2. Có chỗ nói Phạm võng là cái võng báu hơn hết của trời Phạm vương, cũng ánh chiếu lẫn nhau vô cùng vô tận, rước Phật ngồi lên trên bửu võng ấy để nói Bồ Tát giới, nhơn đó lập kinh đề bằng dụ là Phạm Võng kinh Tâm Địa Phẩm v.v…

96. 12 Bộ phận cũng như 12 Phần giáo:

Đại Thừa Tiểu thừa : Trường hàng 1
Đại Thừa Tiểu thừa : Trùng tụng 2
Đại Thừa : Thụ ký 3
Đại Thừa Tiểu thừa : Cô khởi 4
Đại Thừa : Vô vấn tự thuyết 5
Đại Thừa Tiểu thừa : Nhơn duyên 6
Đại Thừa Tiểu thừa : Thí dụ 7
Đại Thừa Tiểu thừa : Bổn sự 8
Đại Thừa Tiểu thừa : Bổn sanh 9
Đại Thừa : Phương quảng 10
Đại Thừa Tiểu thừa : Vị tằng hữu 11
Đại Thừa Tiểu thừa : Luận nghị 12

97. Như như: 1. Tướng: là pháp hữu vi lố xố muôn tượng, pháp nào cũng đều tự nhơn duyên sanh ra để chường bày tướng trạng của các thứ. 2. Danh là cũng nương nơi nhơn duyên để kêu gọi cái tướng của các pháp kia, mà nảy ra cái danh của mỗi pháp. Bởi tướng là sở thuyên, còn danh là năng thuyên. Tướng, Danh ấy là cái cảnh sở biến do nơi tâm hữu lậu của phàm phu nó biến hiện ra. 3. Phân biệt, cựu dịch là vọng tưởng, là cái tâm năng biến ra 2 cái tướng phân biệt và phần sở biến. Ba pháp trên đó, là phần năng biến và phần sở biến của tâm hữu lậu. 4. Chánh trí là tất cả vọng tưởng nó xen vào tâm vô lậu. Bốn pháp trên đó chung là pháp hữu vi, để riêng biệt phần hữu lậu và vô lậu. 5. Như như là cái chơn như do chánh trí trước mà chứng đặng; bởi do nơi trí đúng như lý mà chứng đặng chơn như nên nói là như như, là phần vô vi. Dùng năm pháp ấy để gồm thâu tất cả các pháp hữu vi và vô vi, không sót một pháp nào.

98. Tánh viên thành thật:

1. Biến kế sở chấp tánh: Bởi phàm phu vọng chấp nên nhận lầm là thật có vật chất, cái vọng tính phàm phu khắp kể so đo các pháp (sự vật), nên nói là biến kế. Tỷ như: thấy sợi dây nhận lầm là con rắn, chớ không phải có thật thể con rắn, chẳng qua là vọng tình mê chấp cho là rắn đấy thôi, nên nói biến kế sở chấp tánh. Bởi đối với trong và ngoài thân tâm, chúng ta nhận lầm thật có ngã, thật có pháp cũng thế. Vì là cả vạn pháp hữu vi, đều là pháp bởi nhơn duyên mượn nhau hòa hợp đó thôi, chớ không có một chi là thật ngã hay thật pháp gì cả, mà chỉ là cái vọng tình nó chấp lấy đo lường nhận lầm là ngã là pháp thì ra do vọng tình mà còn, chứ không thể rời vọng tình mà có được.

2. Y tha khởi tánh: Tất cả muôn pháp đều nương nơi nhơn duyên để sanh khởi thật thể. Tha: Nhơn duyên, lấy chủng tử của A Lại Da Thức làm cái nhân đệ nhứt, mượn lấy mỗi mỗi trợ duyên kia “Tha” để sanh khởi thì ra lìa vọng tình mà vẫn còn. Tỷ như: sợi dây nó do nhơn duyên là bã gai hay bố… để sanh khởi.

3. Viên thành thật tánh: Cái tánh chơn thật đầy đủ nên cũng gọi là pháp tánh chơn như… là cái thể tánh của tất cả pháp hữu vi, in tuồng như cái thật tánh của tất cả pháp hữu vi, in tuồng như cái thật tánh của dây là gai hay bố.

Song biến kế sở chấp tánh là vọng hữu; y tha khởi tánh là giả hữu; viên thành thật tánh là thật hữu.

99. Ngã: chủ tể, phàm phu không rõ thân ngũ uẩn này là nghĩa mượn hòa hiệp, mà lại cố chấp rằng thân thể người thật có tự chủ, tự tại, gọi là nhơn ngã; chứ rõ thân ngũ uẩn là nghĩa mượn hòa hợp hẳn không có nhơn thể nên nói nhơn vô ngã. Đó là cái lẽ quán sát của Tiểu Thừa, dùng để dứt cái chướng phiền não mà đắc quả Niết Bàn.

Cố chấp các pháp có thật thể, có thật dụng, thì gọi là pháp ngã; nay hiểu các pháp do nhơn duyên sanh, nó hẳn không có tự tánh, thì gọi là pháp vô ngã. Đó là lẽ quán sát của Đại Thừa Bồ Tát, để đoạn cái chướng sở tri mà đắc Bồ Tát đạo.

100. Sự sự vô ngại pháp giới. Tất cả chia ngăn mỗi sự mỗi pháp nhứt nhứt đều đúng thức tánh, vì suốt lẫn với nhau bằng mỗi lớp mỗi lớp vô cùng vô tận (xin xem ở số 12).

101. Tạng, Thông, Biệt, Viên. Đấy là Thiên Thai tông phân làm “Hoá pháp tứ giáo”. 1. Tạng giáo tức tam tạng là kinh, luật, luận, phân rành từ bộ, từ loại, nói về pháp tứ đế nhơn duyên sanh diệt, chính là để dạy cả Thinh Văn, Duyên Giác gọi là nhị thừa, mà rộng ra thì cũng hóa độ đến Bồ Tát nữa. 2. Thông giáo: nói về pháp tứ chơn đế bằng lẽ tức không vô sanh, cả tam thừa thông đồng học tập, nhưng dùng Bồ Tát làm chính cơ, còn nhị thừa làm bàng cơ. 3. Biệt giáo: riêng biệt đối với Bồ Tát, để nói pháp Đại Thừa vô lượng nghĩa, chớ chẳng đồng với người bực nhị thừa. 4. Viên giáo: Đối với Bồ Tát bực tối thượng lợi căn để nói về pháp trung đạo thật tướng bằng sự lý viên dung. Bốn giáo ấy là pháp môn để giáo hóa chúng sanh được lợi ích, nên gọi hóa pháp tứ giáo.

102. Cây thuốc chúa: Thảo mộc đều có thể lành bệnh mà trong cả dược thảo, thứ nào hay nhứt hơn hết được gọi dược vương thụ. Như Hoa Nghiêm kinh nói: “Có cây thuốc thượng hảo, gốc rễ ăn sâu, cành lá bủa khắp, rễ, cọng, nhánh lá đều trị lành các bệnh; ai nghe hương vị của nó, cũng đều lành bệnh tất cả. Bồ Tát cũng thế dùng Đại Bi ướp thân nên từ hình thể đến tiếng tăm, đều lợi ích cho chúng sanh, gọi là cái thân Đại Dược Vương”. Sách Pháp Hoa Nhập Sớ chép rằng: “Đối với Đức Quán Thế Âm, chúng sanh nào được thấy thân thể hay nghe tiếng tăm, đều đặng hết bệnh khổ, vì thân Bồ Tát như cây thuốc chúa nên nói “Phổ Môn thị hiện cứu khổ tầm thinh”.

103. Viên giác Phật: Pháp thân Phật của Viên giáo là Tỳ Lô Xá Na Phật. Pháp Hoa Văn Cú nói: “Ẩn 3 tướng trước, chỉ thị ra cái thân tướng bất khả tư nghì như hư không tức là Phật Viên Giác, vì tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn”.

Nghe pháp Phổ Môn: Phổ: khắp giáp; Môn: trí giác khai thông không ngại, hay thông đường khiến người tỏ vào. Pháp Hoa Khoa Chú nói: “Phổ Môn pháp tức là Viên Thông pháp”. Kinh Hoa Nghiêm nói rõ trong một môn, thâu vào tất cả pháp, gọi là Phổ Môn pháp. Sách Thám Huyền Ký nói: “Vào pháp tổng trì duyên khởi, trong một môn liền thông gồm cả viên dung pháp giới, nên nói Phổ Môn”.

104. Bát nạn lên Thập Địa: 1. Địa ngục khốn khổ vì quá tội khổ. 2. Ngạ quỉ khốn khổ vì quá đói khát. 3. Bàng sanh khốn khổ vì quá si mê. 4. Uất Đơn Việt, khốn khổ vì quá vui sướng không tu được. 5.Trường Thọ thiên là các trời và ở trung giới, thượng giới, vì quá ư sống lâu khó giải thoát để tiến tu và quá ư hưởng phước vui cũng không tu được mà thành ra khốn khổ. 6. Những kẻ điếc, đui, câm, ngọng, giữa nhơn gian, khốn khổ vì 6 căn chẳng đủ, thiếu cái tướng người. 7. Thế trí biện thông: Khốn khổ vì xảo ngôn biện bác, phải nói ra quấy; quấy nói ra phải, nói sao nghe cũng có lý được cả, nhưng thất đức ác khẩu vì mất sự thật. 8. Phật tiền, Phật hậu: Người sanh trưởng ở chỗ không có pháp Phật và giữa quãng đời giữa hai đức Phật, nghĩa là Phật trước đã qua đời, Phật sau chưa xuất thế, mà ở chỗ chẳng có chùa Phật, đạo pháp gì; còn chỗ có đạo Pháp và có thấy nghe tu học được thì khỏi bị cái nạn đó.

105. Thắng Ứng thân, Liệt Ứng thân: Thắng Ứng thân cũng gọi là “Tôn Đắc thân”. Tổ Thiên Thai lập ra ba thân: Pháp, Báo và Ứng. Với Báo thân lại phân làm hai: 1. Tự thụ dụng thân. 2. Tha thụ dụng thân: Đối với cái Báo thân bằng tự thụ dụng thì kêu cái Báo thân bằng Tha Thụ dụng, là: “Ứng thân”. Đối với thứ ba liệt ứng thân trượng lục thì kêu Tha thụ dụng thân là “Thắng Ứng”. Vậy biết “Thắng Ứng thân” tức là Tha thụ dụng Báo thân. Sách Pháp Hoa Văn Cú Ký chép: “Nên với “Tha thụ dụng thân”, cũng được gọi là “Báo thân”, cũng được kêu là “Ứng thân”; dù Thắng hay Liệt cũng đều tên là “Ứng thân” cả.

106. Định thiện, tán thiện: Định là nghỉ dứt cái tư lự để tâm ngưng trụ vào một cảnh; Tán là bỏ ác để tu lành, mặc dù tâm tán loạn. Tóm lại, là đều đem hai hạnh ấy hồi hướng nguyện sanh về Tịnh Độ. Đời Đường, ngài Thiện Đạo đem 16 pháp quán của một bộ kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật, phân làm định thiện, tán thiện; với 13 quán trước, dùng cái tâm thiền định, để quán tưởng Y Báo, Chánh Báo của Tịnh Độ, nên gọi là Định Thiện. Với 3 quán sau, dùng cái tâm tán loạn để tu cái hạnh 3 phước 9 phẩm nên gọi là tán thiện.

107. Tam chưởng tịnh nghiệp: Lại tên là 3 điều phước: 1. Thảo nuôi cha mẹ, vâng thờ sư trưởng, lòng từ chẳng sát sanh, tu 10 nghiệp lành. 2. Giữ và làm đủ các giới hạnh. 3. Phát Bồ Đề tâm, tin sâu lý nhơn quả, đọc tụng kinh Đại Thừa.

108. Bốn tánh: 1. Tự tánh hành: Bồ Tát tự tánh bấy lâu nay vẫn hiền lành, hiếu dưỡng phụ mẫu, kính thuận Sa Môn, làm đủ 10 điều thiện. 2. Nguyện tánh hành: Bồ Tát phát tâm nguyện thành đạo tác Phật. 3. Thuận tánh hành: Bồ Tát thuận theo 6 độ để thuận hành. 4. Chuyển tánh hành: Nhơn công tu hành, để chuyển phàm thành thánh. Thấy rõ trong Phật Bổn Hạnh Tập Kinh cuốn nhứt.

109. Do tuần: Danh từ số dặm của Ấn Độ, có 3 hạng: 1. Thượng do tuần: 80 dặm. 2. Trung do tuần: 60 dặm. 3. Hạ do tuần: 40 dặm. Mỗi một dặm là xa bằng ngó con trâu nhỏ như con dê (tức là như một cây số ngàn).

110. Cây báu Đạo Tràng: Kinh Vô Lượng Thọ cuốn thượng chép về chuyện cây Bồ Đề ở thế giới Cực Lạc như vầy: Cây báu nơi đạo tràng của Đức Di Đà, nó có vô lượng ánh màu, thân cây cao đến 4 trăm muôn dặm, là chỗ đức Di Đà ngồi thành đạo thuyết pháp, đó là tịnh độ hoàng kim, nên cây Bồ Đề bằng ngọc báu. Còn ở uế độ nầy nơi đạo tràng chỗ Đức Thích Ca ngồi thành đạo thuyết pháp thì cây Bồ đề bằng gỗ.

Nói tóm lại, cây Bồ Đề hay chốn Đạo tràng đều là tiêu biểu của Đạo, từ sự đến lý… Đạo tràng: Là cái trường để học Đạo, như những chỗ Tăng chúng ở tu hành: chùa chiền, Tịnh xá, Hội quán Hội Phật học v.v…đều gọi là Đạo tràng. Cây Bồ Đề là Phật ngồi nơi gốc cây nầy tu luyện mà được “giác ngộ”, chứng đặng “nhứt thế đạo chủng trí” nên gọi cây nầy là cây Bồ Đề, và đặt nó là cây Bồ Đề. Bồ Đề là tiếng Phạm (Bồ Đề hay Bu Đi, Bù Đì, Bồ Đà cũng thế), Tàu dịch là “giác trí”.

111. Do tuần, cựu dịch do tuần; tân dịch là thâu thiện na, dịch nghĩa là Hợp Ứng. Kể Hợp Ứng với bấy nhiêu đo lường, đồng với số trạm ở xứ nầy hồi xưa. Nguyên tiếng Phạm là Yojena (xem thêm ở số 109).

112. Ngũ nghịch: Ngũ nghịch thông đồng của tam thừa nói: 1. Giết cha; 2. Giết mẹ; 3. Giết A La Hán; 4. Làm thân Phật ra máu; 5. Phá hòa hợp Tăng.

113. Na do tha: Dịch là số ức, có ba hạng: 1. Một ức bằng mười vạn. 2. Một ức bằng trăm muôn. 3. Một ức bằng nghìn muôn. Na Do Tha, tiếng Phạm Nayuta.

114. Với sanh thân cao lớn còn đợi nói rõ điều nghi: Có chỗ nói “Cái thân cao mười vạn ức Na Do tha”, đó là cái sanh thân (cũng như ứng thân hay hóa thân). Số là cái thân ở tịnh độ, thắng hơn cái thân ở uế độ, vì sanh thân bên tịnh độ phải cao lớn chừng nớ (bấy nhiêu đó), còn sanh thân ở uế độ thì chỉ có một trượng 6 thước. Tri Lễ pháp sư dùng 13 lần vấn đáp để biện minh việc nầy, quyết định là cái thân cao lớn đặc biệt (rút ở sách Diệu Tông Sao).

115. Bảy đời Phật: Kinh Tràng A Hàm đại bổn nói: “Trước đây 91 kiếp về đời quá khứ, bấy giờ có Phật hiệu là Tỳ Bà Thi (Vipasyin); kế, 31 kiếp trước đây, bấy giờ có Phật hiệu là Thi Khí Như Lai (Sikhin); cũng trong kiếp trên, bấy giờ có Phật Tỳ Xá Bà (Visvahhù); giữa kiếp Hiền đây, trong tiểu kiếp thứ 9 có đức Câu Lưu Tôn Phật (Krakucchanda); đức Câu Na Hàm (Kanakmuni); đức Ca Diếp (Kàsyapa). Ta (đức Thích Ca) nay cũng ở trong kiếp thứ 9 của Hiền kiếp này”. Kinh Đại Bi nói: “A Nan! Giữa kiếp Hiền này, sau khi ta nhập diệt rồi, qua tiểu kiếp thứ 10 về sau, còn có 996 đức Phật nữa tiếp tục ra đời, như trước Ta thì đức Câu Lưu Tôn là số 1, ta là số 4, qua tiểu kiếp thứ 10, Di Lặc Phật là số 5. Đến tiểu kiếp thứ 20, đức Lư Cha Như Lai là số 1.000, ngươi phải biết thứ lớp như thế” (với 1.000 Phật trên xin xem cái biểu đồ ở bộ Nguyên Nhơn Luận).

Luận Trí Độ nói: “Trước Hiền kiếp 91 tiểu kiếp, ban đầu có Tỳ Bà Thi, giữa tiểu kiếp thứ 31 trước đây có hai đức Phật là Thi Khí, Đệ Thứ Bà Phụ; trong Hiền kiếp đây có 4 Phật là: Ca la Cưu Xàn Đà, Ca Na Dà Mưu Ny, Ca Diếp và Thích Ca Mâu Ni”. Ba đức Phật trước là Phật ở về khoản rốt kiếp Trang Nghiêm của quá khứ; còn 4 Phật sau là Phật ở về tiểu kiếp thứ 9 trong kiếp trụ giữa nhơn hiền của kiếp hiện tại.

116. Tu sáu pháp niệm. 1. Niệm Phật là từ bi đại Đạo Sư; 2. Niệm Pháp là tam thế Phật mẫu; 3. Niệm Tăng là nhơn thiên phước điền; 4. Niệm Thiên là trường thọ an lạc; 5. Niệm giới là thân tâm thanh tịnh; 6. Niệm trí là phổ tế bần cùng.

117. Cùng chia sâu cạn: Sách Vĩnh Gia Tập nói: “Tỷ như ba con thú voi, ngựa, thỏ đồng lội qua một dòng sông, lại phân biệt nhau về sâu cạn, vì giò của ba con có dài, ngắn khác nhau. Voi dụ Bồ Tát; ngựa tỷ như Duyên giác, thỏ ví Thinh Văn; sông tỷ là lý chơn không của Đạo. Lý Chơn Như vẫn một, tùy theo trình độ của ba hạng người có cao và thấp nên sự thấy có khác nhau.

118. Phước hơn thiên cung: Lời tựa sách Qui Nguơn có 2 câu: “Hạ sanh du thắng bách thiên cung nan nghị ư đồng luận; thượng phẩm duy cao, nhứt an dưỡng vô cùng chi Cực Lạc”. Đại ý là: Người niệm Phật, được vãng sanh dù là ở hạng rất thấp, nhưng hưởng phước vui hơn gấp trăm lần phúc vui của thiên cung; còn tu niệm Phật được bực cao nhứt càng hưởng phúc vui nhiều đến vô cùng.

119. Cụ phược phàm phu: Phiền não nó trói người đời, đem buộc trong lao ngục sanh tử, gọi là phược; người mà đủ có phiền não, gọi là cụ phược, tức là tất cả phàm phu. Kinh Anh Lạc chép: “Chúng cụ phược phàm phu chưa biết ngôi Tam bảo”. Tức như hiện nay những người mà không biết Phật, Pháp, Tăng, cứ mê sa trong vũng bùn ngũ dục chính là bọn cụ phược phàm phu đó.

120. Thinh, danh, cú, văn: Thinh là một trong năm trần (Sắc, thinh, hương, vị, xúc), gọi là thinh trần do 4 đại (4 nguyên chất lớn) tạo ra, nó thuộc về sắc pháp, cảnh sở đối của nhĩ căn Phật dùng thinh để thuyết pháp, nhơn đó đặng tế độ chúng sanh, nên dùng thinh làm Phật sự, lấy thinh làm giáo thể. Danh là tên của chữ; Cú là ráp chữ thành câu; Văn là chữ ráp nhiều nét thành chữ. Luận Khởi Tín chép về giáo thể có 4 môn: môn thứ nhứt là “tùy tướng” có 4 câu, câu thứ hai nói: hoặc dùng âm thinh làm tánh, còn các thứ Danh, Cú, Văn là những cái quanh co trên âm thinh, là mượn lấy đó để định nói lời nầy, lẽ nọ mà thôi, chứ ba món ấy nó chả có thể gì cả, như tự mẫu, vần mẫu, chỉ có giọng ngâm nga, mà không có nghĩa lý gì cả.

121. Mười môn: 1. Âm thinh ngữ ngôn; 2. Danh cú văn thân; 3. Thông dùng 4 pháp; 4. Các pháp rõ nghĩa; 5. Thâu cảnh chỉ tâm; 6. Gồm duyên vào không; 7. Lý sự thắng ngại; 8. Suốt gồm sở thuyên; 9. Sự sự không ngại; 10. Ấn bể rõ bày.

122. Thiên Vận: Thiên:Văn tự trong một bài, cả từ đầu chí cuối, gọi là một thiên, như Thượng thiên, Hạ thiên… Vận: Vần bình vần trắc v.v…

123. Dùng cơm thơm làm Phật sự: Kinh Tịnh Danh chép: “Trong nước Chúng Hương, đức Hương Tích Như Lai lấy cơm thơm để làm Phật sự”. Nghĩa là Phật ấy thuyết pháp bằng hơi cơm thơm, vì chúng sanh ở đấy tỹ căn thông lợi hơn các căn khác nên chỉ nghe pháp bằng lỗ mũi tiếp xúc với hơi cơm mà tỏ đạo lý. Còn chúng sanh ở thế giới Ta Bà đây thì lỗ tai nghe pháp được thông lợi hơn các căn khác nên Phật Thích Ca phải tùy theo căn cơ mà thuyết pháp bằng âm thinh, dùng tiếng tăm làm giáo thể.

124. Bổn chất ảnh tượng: Bổn chất của thức, ảnh tượng của thức, tự chứng phần và kiến phần làm bổn chất; sở biến tướng phần làm ảnh tượng.

125. Diệu quán sát trí: Đấy là chuyển thức thành trí; chuyển đổi cái thức thứ 6 của phàm phu, để tiến đến quả Phật thì thức ấy nó thành ra cái trí diệu quán sát. Nghĩa là xem xét các pháp, coi pháp nào nên nói cho vừa với trình độ người nghe được lợi ích.

126. Bổn chất giáo: Như nhãn thức nó duyên qua sắc cảnh ngoài ảnh tượng (tức tướng phần) sở hiện nơi nhãn thức ra, còn chủng tử của A Lại Da thức nó sở sanh cái sắc pháp bằng thật chất, để làm chỗ cho ảnh tượng ấy ký thác, gọi là bổn chất. Như ý thức nó bỗng nhiên ngầm hiện lên cái tưởng tượng bằng cách hữu danh vô thật, như lông rùa, sừng thỏ và hoa đốm trên không, thì nó chỉ có cái ảnh tượng, chứ không có cái bổn chất để ký thác, nên gọi là “độc ảnh cảnh”. Sách Duy Thức Thuật Ký nói: “Trừ ảnh ra ngoài riêng có sở thác, tên là bổn chất”. Những chỗ giảng nói như thế, kêu là bổn chất giáo.

127. Ảnh tượng giáo: Đối với ánh sáng, vật thể nó bị ngăn che thì nó hiện ra bóng dáng, với cái bóng ấy ta dù thấy được chớ nó không có thật thể, tức là không. Đó là để ví dụ các pháp không có tự tánh. Chúng sanh bị vọng thức phân biệt, với trên tâm hiện ra mỗi mỗi hình tướng, gọi là ảnh tượng, thế cũng như ảnh tượng trên nước, trong gương. Những chỗ giảng nói như thế, gọi là ảnh tượng giáo.

128. Tăng thượng duyên: Một điều kiện thêm mạnh lên. Quán Kinh Huyền Nghĩa nói: “Chúng sanh mà được vãng sanh về Tịnh Độ đó, đều nương sức mạnh đại nguyện tịnh nghiệp của Đức A Di Đà Phật, làm tăng thượng duyên”. Tăng thượng duyên là một trong bốn duyên, tăng thượng duyên là một cái điều kiện có sức mạnh để giúp cho một pháp nó được sanh khởi. Như nhãn căn nó năng sanh ra nhãn thức; ruộng đất hay sanh trưởng lúa bắp. Sách Đại Thừa Nghĩa Chương nói: “Tăng thượng duyên là một phần mạnh để giúp cho một pháp nào chóng sanh khởi”.

129. Ông Không Sanh (Tu Bồ Đề) ngồi yên trên gộp đá; giữa chốn hư không, trời Đế Thích rải hoa xuống để cúng dường. Không Sanh hỏi: “Ai rải hoa chi đó?” ‘Tôi là Thiên Đế Thích mà (dưới thế nầy họ tôn xưng là Đức Chúa Trời), hôm nay thấy Tôn giả thuyết pháp Bát Nhã rất hay nên tôi rải hoa cúng dường”. “Tôi có nói, có thuyết gì đâu? Vì pháp Bát Nhã chơn không kia mà nên gọi là “vô pháp khả thuyết”, thế thì có nói năng chi!” “À! Thế thì Tôn Giả Ngài không nói, thời tôi cũng không nghe”. “Ừ! Vậy mới đúng lý Bát Nhã chứ”. Vì không nói, không nghe mới đồng thể chơn không vô tướng (Thị chư pháp không tướng, bất sanh bất diệt v.v…).

130. Mười môn: 1. Ngã, pháp đều có; 2. Pháp có ngã không; 3. Pháp không tới lui; 4. Thông hiện giả chơn; 5. Tục dối, chơn thật; 6. Các pháp chỉ có danh; 7. Ba tánh luống có; 8. Chơn không phi tướng; 9. Không, hữu, đều không ngại; 10. Viên dung đủ đức.

131. Ngoài có pháp trong có Ngã: Với trong căn thân, chấp có ngã tướng làm chủ tể thì gọi là ngã chấp; với ngoài khí giới, chấp có pháp tướng, là những sự vật sở hữu của bổn ngã thì gọi là pháp chấp. Như chấp có thân thể của ta, tên tuổi của ta, danh dự của ta; thân thuộc của ta, nhà vườn của cải, xứ sở nước nhà của ta, đều thuộc về ngã và pháp chấp.

132. Phật pháp ngoại đạo: Các phái ngoại đạo đều chấp có, hoặc: “Thần ngã: linh hồn” là ta sống lâu… hoặc “Pháp ngã: pháp mầu” là luyện được tài hay phép thuật giỏi v.v… Sau khi họ qui đầu, hay lợi dụng Phật pháp, mượn Phật làm danh, tuy nhãn hiệu bên ngoài là Phật pháp, chứ nguyên lai đầu óc chấp ngã chấp pháp vẫn còn nên gọi là: Phật pháp ngoại đạo.

133. Y chánh hai báo: Chánh báo là tất cả thân thể của Đức Phật A Di Đà và các Bồ Tát cùng dân chúng trong cõi Cực Lạc đều là tướng mạo thanh tịnh trang nghiêm; Y báo là sự vật, lầu đài quốc độ, đều là hoàng kim thất bửu rất là vi diệu.

134. Định huệ bình đẳng: Là thiền định và trí huệ, thâu dẹp được điều tán loạn của ý thức, nói không vọng động là Định; xem xét sự nầy lý nọ đều rành mạch không mê lầm, là Huệ. Tu thiền định quán tưởng, phải đồng thời vừa có Định, vừa có Huệ, quân bình với nhau mới được. Chớ nếu chỉ có Định mà không có Huệ thì cái định ấy là “khô định” hoặc si định thì hại lắm! Còn nếu chỉ có Huệ mà không có Định thì cái Huệ ấy gọi là “cuồng huệ” hoặc “lão khẩu không”, cũng như thể trí biện thông là một.

135. Chi Lâu Ca Sấm: Cũng kêu là Chi Sấm là một nhà Tăng ở nước Nguyệt Chi, tức là nước Bạc Khu La (Bhuhkhàra) ở phía Tây Ấn Độ. Ngài qua Trung Hoa, đời Hậu Hán, trong khoảng triều Minh Đế 58-74. Khang Tăng Khải: Khương (Khang): nước Khương Cư, tức là nước Toát Mạt Kiến (Samankand) ở về phía Bắc nước Nguyệt Chi. Ngài Tăng Khải tức tên là Tăng Già Bạt Ma (Samghavarman) qua nước Tàu đời Tào Ngụy, năm Gia Bình thứ V (năm) Quí Dậu, 253), ở chùa Bạch Mã, thành Lạc Dương. Ngô Chi Khiêm: Ngô: Đông Ngô (đời Tam quốc) Chi Khiêm tự là Cung Minh, một vị ưu bà tắc nước Nguyệt Chi, sau là một vị cao tăng ở đời Hán Mạt, tướng người nhỏ, cao, đen, ốm, mắt trắng, con ngươi vàng. Tống Pháp Hiền: Ngài Pháp Hiền là người ở đời Triệu Tống (960-1296). Bồ Đề Lưu Chí: (Bodhiruci); dịch Pháp Ái: người xuất thân nước Nam Thiên Trúc, qua Tàu nhằm đời Đường, triều Vũ Tắc Thiên; dịch 3 Tạng kinh vào năm Tân Hợi (711) cùng với Ngài Pháp Tạng, Trần Ngoại v.v… đồng dịch tại đình Cam Lộc.

136. Già Đà: bộ bài kệ: Pháp Hoa Huyền Tán chép: “Già Đà dịch là Tụng, nghĩa là xưng tụng, ca tụng, cứ 4 câu làm một bài tụng”. Sách Đại Thừa Nghĩa Chương nói: “Già Đà dịch bài kệ, không tụng lại nghĩa trường hàng, chỉ dùng bài kệ để nói rõ bày các pháp nên nói là Già Đà. Tất cả hoặc mỗi câu 4 chữ, 5 chữ, 7 chữ, 9 chữ; chẳng nói lại nghĩa trên, đều là Già Đà”.

137. Phù Tần, Dao Tần: 1. Thuở đời nhà Châu, có người Phi Tử, cháu chắt của ông Bá Ích; Phi Tử là người có cái nghề nuôi ngựa hay lắm; nên được Châu Bình Vương (770-772 trước L.T.) yêu dùng, sau phong hầu đất Thiểm, quốc hiệu là Tần, thế là Doanh Tần. 2. Thuở Đông Tấn (317-419), có ông Phù Kiên, thế lực cường thạnh, chiếm cứ nơi Quan Trung, lập quốc hiệu là Tần, đó là Phù Tần. 3. Ông Dao Trành làm tướng cho ông Phù Kiên, sau Phù Kiên bị thua nhà Tấn. Dao Trành cũng chiếm Quan Trung; truyền đến con Dao Trành là Dao Hưng, thế là Dao Tần.

138. Nước Ku Che (Cưu Ty): Cựu dịch là Cưu Ty, Cu Chi Nẵng; tân dịch Quật Chi, Cưu Ty, mà người ta đọc trật vần là Qui Tư! Vì họ chỉ biết chữ Qui (rùa), chữ Tư hay chữ Tự (nay) mà thôi, chớ họ chẳng biết 2 chữ Qui Tư nó còn có vần chính nữa là Cưu Ty, nên đọc là Ku Che đúng hơn.

Ku Che là một nước ở về lưu vực phía Tây nước Tàu, thuở nhà Đường đặt là Ku Che đô hộ phủ, tức nay là huyện Khố Xa của đất Tân Cương, là xứ Phật Giáo rất thạnh hành từ xưa nay; ngài Cưu Ma La Thập sanh tại đó.

139. Sai tướng Lữ Quang: Vua Tần Phù Kiên, năm Kiến Nguơn thứ 13, sai Lữ Quang dẫn binh tướng qua đánh thắng được nước Ku Che (trận viễn chinh nầy, mục đích không giành cướp chi hơn là chỉ đoạt được vị pháp sư mà thôi) rồi rước ngài La Thập Pháp sư về, ca khúc khải hoàn; đem quân về đến đất Lương Châu, nghe Phù Kiên đã chết, Lữ Quang chiếm cứ ở đấy xưng đế, quốc hiệu là Hậu Lương (năm Kỷ Sửu 389). Đến khi Lữ Quang chết, cháu giòng thúc bá là Lữ Long đầu hàng nhà Tần, bấy giờ ngài La thập mới vào đến Quan Trung ở nơi vườn “Tiêu Diêu Viên”.

140. Niên hiệu Hoàng Thỉ năm thứ 11: Hoàng Thỉ một niên hiệu nước Tần trong khoảng niên hiệu Long An của nhà Đông Tấn từ năm Đinh Dậu đến năm Canh Tý (397-400).

141. Ngài Huyền Trang pháp sư: Một nhà Tăng đời Đường, du học qua Ấn Độ, thụ học với Ngài Luận sư Giới Hiền, trải mười mấy năm, về nước chở theo hơn 650 bộ kinh, luận, cùng đệ tử đồng dịch ra được 75 bộ, cộng được 1.338 cuốn được hai Vua Thái Tôn và Cao Tôn (627-683) đều tôn trọng.

142. Trinh Quán năm thứ ba là năm Kỷ sửu (629).

143. Nước Xá Vệ: Thiện Kiến Luật chép: “Xá Vệ là tên người, xưa có người ở đấy, về sau nhà vua lập làm tên nước là Xá Vệ quốc, một tên là Đa Hữu Quốc’, rằng: Có nhiều người thông minh tài trí và các thứ quí báu lạ lùng đều sản xuất nơi đây.

144. Trinh Quán năm thứ 19: Trinh Quán là kỷ nguơn của Đường Thái Tôn; năm thứ 19 là năm Ất Tỵ (645).

145. Diện mạo như lúc còn sống: Người mà không dâm dục thì tinh khí nó cố kết thành nhiều khối: gia dĩ giới thân huệ mạng huân kết thành tịnh chất, thành thử dầu thức tánh lìa khỏi xác mà tiền ấm thân vẫn còn như sống. Trái lại người mà tinh khí ra hết và không giới luật duy trì thì dù chưa tắt thở mà sắc diện đã hiện tử tướng hoặc là tái, xanh, hoặc thâm đen.

146. Với cây tùng mà ngài Huyền Tráng ước nguyện chi đều được như thế đấy, là thêm một điều nữa cho ta biết rằng “Vật ngã nhứt như!” Vì cây tùng ấy không phải vật ngoài tâm. Vậy, với lẽ cảnh không ngoài tâm, tâm tức là cảnh và tâm tạo thiên biến, do đây càng thêm thấy rõ, nếu mỗi người tâm như tâm của Pháp sư. Kinh nói: “Tình dữ vô tình cộng thành Phật đạo”, lại càng chứng rõ. Tâm là Chánh báo cảnh là Y báo, nếu tâm ấy là tâm Phật thì cảnh ấy sẽ là cảnh Phật, như cảnh Tây Phương Phật A Di Đà. Trái lại, nếu tâm là chúng sanh thì cảnh ấy là chúng sanh như cảnh Ta Bà này, do vì tâm trược của chúng sanh gây tạo.

147. Ma Đảnh tùng: Cây tùng được rờ đầu là một pháp ma đảnh thụ ký của Phật Tổ xưa. Lại là một đạo lý tâm năng chuyển vật. Cũng đồng một cảnh giới với “ngoan thạch điểm đầu”. Trần Đoàn nói: “Đạo thông thiên địa hữu hình ngoại”, vậy thử hỏi “Duy vật hay Duy tâm?” Chúng sanh được tiến đến trình độ đó thì thế giới mới hết giặc cướp, vì vật ngã nhứt như, không phân biệt, bởi tâm tịnh, độ tịnh, tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức.

148. Hằng hà: Trường A Hàm kinh nói: “Phía đông ao A Nậu Đạt, có sông Hằng Già”. Sách Huyền Tráng Ký nói: ‘Gà Canga (Gange), sách Tây vực ký chép: Căng (kình) gahà”, cựu dịch là Hằng Già hà, dịch nghĩa Thiên Đường Lai, là vị nguyên đầu từ cao đảnh núi lại.

149. Vào định Nhựt quang: Tu pháp thiền định đây, là cầu cho được sáng suốt để duy trì pháp của Phật. Truyện chép: “Ngài Vô Trước tu định nhựt quang, giữ đúng như lời mà tu học, liền đắc định ấy về sau, với trước kia những chỗ chưa hiểu rõ đều thông suốt, vì chỗ thấy nghe đều nhớ không quên. Đương thời chứng suốt, vì chỗ thấy nghe đều nhớ không quên. Đương thời chúng nhơn tôn xưng là “Thiên Bộ Luận Chủ” (ông chủ làm ra ngàn bộ luận).

150. Mười sớ lưu thông: 1. Văn Thù Bát Nhã Kinh Sớ; 2. Phật Di Giáo Kinh Sớ; 3. Bát Nhã Tâm Kinh Sớ; 4. Thoại Ứng Kinh Sớ; 5. Tứ Thập Nhị Chương Kinh Sớ; 6. Bất Tư Nghì Pháp Môn Kinh Sớ; 7. Vô Lượng Nghĩa Kinh Sớ; 8. Phổ Hiền Quán Kinh sớ; 9. A Di Đà Kinh Sớ; 10. Thủ Lăng Nghiêm Kinh Sớ. Đời bấy giờ ai cũng xưng là “Thập kinh sớ chủ”.

151. Chẳng những số ức: Sách kinh Thi nói: “Thương chi tử tôn, kỳ lệ bất ức”, nghĩa là: với con cháu của nhà Thương, chẳng thể dùng số ức để tính hết đặng, vì quá đông.

152. Bảo Vương Luận: Chùa Thảo Đường, ngài Phi Tích pháp sư chép bộ Niệm Phật Tam Muội Bảo Vương Luận.

153. Long Thơ, Vô Tận: Huyện Long Thơ, Vương Nhựt Hưu, chép văn Tịnh Độ. Vô Tận cư sĩ là Trương Thường Anh, có chép văn cầu sanh Tịnh Độ. Quan thị lang là Vương Cổ Trực chép tập Tịnh Độ Quyết Nghi. Xứ Ngô Quận, sa môn Đại Hựu chép tập Tịnh Độ Chỉ Qui. Vô Công sư sĩ là Vương Điền chép lục Tịnh Độ Tự Tín. Ngài Từ Vân Sám Chủ, hiệu Tuân Thức chép bộ Tịnh Độ Lược Truyện.

154. Kệ kỉnh lộ tu hành: Ngài Thiện Đạo Hòa thượng làm bài kệ rằng:

Tiệm tiệm kê bì hạc phát: Dần dần da nhăn tóc bạc;
Khan khan hành bộ lung chung: Xiểng xiểng gối dùng bước giạt;
Giả nhiêu kim ngọc mãn đường: Ví dầu vàng ngọc đầy nhà;
Khởi miễn suy tàn bịnh khổ: Đâu khỏi ốm đau hành xác!
Nhậm thị thiên ban khoái lạc: Dầu cho ngàn thức sướng vui;
Vô thường chung thỉ đáo lai: Rốt cũng trăm năm thắm thoát!
Duy hữu cảnh lộ tu hành: Chỉ có nẻo tắt dễ tu;
Đản niệm A Di Đà Phật: Niệm Phật sanh về (Tịnh Độ) Cực Lạc.

155. Thần thê An Dưỡng: Đức Vĩnh Minh Thọ Thiền Sư chép bài “Phú Thần Thê An Dưỡng” (một tên nước của Cực Lạc quốc).

156. Tịnh Độ Thi: Đời Tống-Nguơn có ngài Trung Phong Bổn Thiền Sư, đời Nguơn-Minh ngài Tây Trai Sở Thạch Kỳ Thiền sư v.v… đều làm thi để vịnh pháp Tịnh Độ.

157. Quan Thái thú Đoàn Công làm bài kệ để khen rằng:

Ngã sư nhứt niệm đăng sơ địa,
Phật quốc sanh ca lưỡng độ lai,
Duy hữu môn tiền cổ hòe thụ,
Chi đê chỉ vị quải kim đài.

Đại ý rằng: Thầy ta tu niệm Phật được nhứt tâm bất loạn lên bực Sơ địa; nước Phật đem nhạc đến đón đã hai lần. Duy có trước ngõ cây hòe xưa, cành thấp bởi vì ngại đài vàng.

158. Đại Lịch năm thứ chín: Đời nhà Nguơn chỉ có Thiên Lịch, chứ không có Đại Lịch, mà đến cả đời Minh cũng chẳng thấy có Đại Lịch mà là niên hiệu Đường Đại Tôn.

159. Nhục thân không hoại: Tu pháp niệm Phật mà được đến cái bực này, chẳng những về lý là tâm tịnh, độ tịnh mà thôi, mà luôn cả sự thân tâm thanh tịnh nữa, tức là “lục căn tịnh vị” đấy. Thanh tịnh cả thân tâm rồi, tự nhiên không hoại, là không hôi thúi, không rục rã, mà nếu để lâu mãi thì thân nó khô cứng như thân búp bế. Ở Bắc Việt đã có hai vị Tăng xưa, còn lưu thân lại thờ tại chùa. Đức Minh Mạng có làm thơ kính phụng, đến nay vẫn còn. Bên Tàu có Đức Lục Tổ di thể cũng còn đến nay. Trái lại, về vật chất là đã chẳng còn đầy đủ tinh khí cố kết, về tâm thần lại không có giới hướng huệ mạng để kết tinh thì tất nhiên phải thúi, rã, vì thân tâm ô nhiễm.

160. Niên hiệu Thiên Giám là hoàng hiệu của Lương Võ Đế; kỷ niên ấy trong khoảng năm Nhâm Ngũ, đến năm Bính Thân, tức Dương lịch là từ năm 502-516.

161. Cầm cây gậy tích: Nhà Tăng đi gọi là phi tích; nhà sư trụ lại gọi trắc tích hay là quải tích (tích trượng). Sách nói: “Phi tích, quải tích nãi tăng nhơn chi hành chỉ…” (Phi tích là khi đi khất thực cầm đi; Quải tích là khi về tịnh xá cặm lại nơi bàn tổ).

162. Thoạt vậy mà tịch: Gọi đủ là Tịch Diệt: Vắng dứt, là dứt diệt hết vọng hoặc phiền não, tâm được vắng lặng. Tịch Diệt là dịch nghĩa tiếng Niết Bàn (Nirvàna): Thể nó phẳng lặng lìa tất cả tướng hữu vi nên nói Tịch diệt. Sách nói: “Hòa Thượng tử, viết Tịch”, là do điển Niết Bàn, nghĩa là cầu cho được tiến đến cảnh giới: “Hoặc tập, chướng tận, danh Tịch”.

163. Sáu thời niệm Phật: Ngày 3 giờ, đêm 3 giờ, cộng chung là 6 giờ; Ngày 3 giờ là: rạng mai, giữa ngày, mặt nhựt lặn. Đêm 3 giờ là: Đầu đêm, giữa đêm và cuối đêm: Sách Tây Vực Ký nói: “Sáu thời hợp thành một ngày một đêm: Ngày 3 thời, đêm 3 thời”.

164. Tông thuyết gồm thông: Tu thiền môn tự ngộ triệt để là tâm thông; thuyết pháp tự tại là thuyết thông. Tông là pháp tánh; thuyết là pháp tướng. Tánh, Tướng đều thông làm vị Đại Tông sư. Tổ Đình Sự Uyển cuốn bảy, dẫn lời Ngài Thanh Lương nói: “Tông thông là tự tu hành. Thuyết thông là khai thị cho chúng chưa ngộ”. Kinh Lăng Già cuốn 3 Phật bảo ngài Đại Huệ: “Tất cả các Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát đều có hai môn thông tướng: Tông thông, Thuyết thông”. Lời đồng chú giải: “Tông là gốc của đạo, Thuyết là dấu của giáo”. Sách Chứng Đạo Ca nói: “Tông thông, thuyết cũng thông, định huệ tròn sáng chẳng chấp không”.

Non Khuông Lư: là thảo lư của ông Khuông; hoặc gọi là Lư Sơn: núi cỏ am tranh, tại tỉnh Chiết Giang, trên núi có chùa Đông Lâm, do quan thứ sử là Hoàn Y kiến trúc, rước ngài Huệ Viễn trụ trì đó. Kế có các ẩn sĩ như: Lưu Di Dân, Lôi Thứ Tôn, và các sa môn cả hàng nghìn, kẻ Tăng người tục cùng về ở đó. Huệ Viễn tổ chức hội Bạch Liên Xã, hội viên có 123 người cả “Truy” lẫn “Tố” đồng tu: Đối trước tượng Phật Vô Lượng Thọ, tu sáu thời niệm Phật trong mỗi ngày đêm. Huệ Viễn ở luôn trong núi một trường kỳ cấm túc suốt hơn 30 năm. Đã hai lần được đức Di Đà hiện thân cho thấy và ma đảnh chứng dẫn. Đến năm hoàng hiệu Nghĩa Hi thứ 12 (Bính Thìn 416) của Đông Tấn An Đế (397-418), ngài Huệ Viễn tịch, thọ được 83 tuổi (“Truy” là kẻ Tăng, “Tố” người thế tục).

165. Gạch chữ thập để ghi nhớ: Ngài Tràng Lô Trách, mỗi ngày cùng chúng hội niệm Phật không luận là niệm được số ngàn hay muôn gì, mà đến chiều bữa nào cũng vậy, chỉ ghi bằng số chữ thập thôi; nghĩa là ngày nay tu niệm Phật chắc được đúng mười phần, là ý nói ngày nào cũng cố gắng tinh tấn không cho một chút tí ti giải đãi!

166. Các ngài: 1. Đời Minh (từ Minh Hồng Võ… đến Sùng Trinh là năm Mậu Thân, 1368… đến năm Quý Mùi, 1643) Ngài Không Cốc Long Thiền sư có chép ra sách Không Cốc tập; 2. Ngài Độc Phong Thiện Thiền sư chép sách Ngữ Lục; 3. Ngài Thiên Kỳ…Thiền sư hiệu Quỳnh Tuyệt lão nhơn, chép sách Quỳnh Tuyệt tập. Đều tán dương pháp trì danh niệm Phật của kinh A Di Đà.

167. Trương Sĩ Thành: Người đất Thái Châu, chuyên nghề chở muối, sau khởi binh chiếm Thái Châu…. xưng Thành Vương, hiệu nước là Đại Châu.

168. Tướng ác hiện ra: Ông Trương Thiện Hòa khi sống làm nghề giết trâu bò đến lúc sắp thở hơi cuối cùng, ông tự thấy bầy súc sanh ấy đến đòi thường mạng. Bầy trâu bò ấy là tướng ác hiện ra… Như kẻ làm hàng heo lúc sắp chết, cứ nằm thòng đầu xuống giường la tiếng như heo hét, hộc máu ra, đó là tướng ác hiện đấy.

Như người quá ư tham dâm hiếu sắc, khi gần chết, nó tự thấy nhiều mỹ nữ đến mơn trớn rủ đi, đó là tướng ác hiện đấy.

Nói tóm: bất luận bình sanh làm nghề nghiệp hoặc thiện hay ác gì, đến lúc sắp chết, đều có hiện cái tướng của mình đã làm ấy ra trước mắt để dẫn thần thức đi đến chịu cái kết quả của mình đã tạo nhơn từ trước, gọi bằng “tiền nhơn hậu quả”.

169. Bài kệ khen con Sáo:

Hữu nhứt linh cầm Biệt Biệt Nhi,
Giải tòng Tăng khẩu niệm A Di,
Lập vong lung bế hồn nhàn sự,
Hóa tử liên hoa dã thái kỳ.

Nghĩa:

Có một con chim tên Biệt Biệt Nhi (tên riêng của sáo)
Nó nghe thầy dạy niệm A Di
Chim lồng giam hãm không làm lạ
Đứng chết… mọc sen thế mới kỳ…

170. Hai chữ “tối linh” cũng như “tối thiện”. Linh: khôn thiêng, nghĩa là biết xấu biết hổ với điều ái ân… nên nói: “Khôn thiêng hơn vạn vật. Vì với điều giao cấu, chúng nó đâu biết xấu hổ là gì?” Thầy Mạnh đã phân: “Với việc ẩm thực và nam nữ (cái, đực với nhau) thì con người cũng không khác gì với cầm thú. Với việc “không khác gì mấy” là chỉ có sự không loạn luân và biết xấu hổ đấy thôi”. Tối thiện: Rất khéo khôn, là biết tổ chức, chế tạo, học vấn… nhứt là biết đạo đức hành thiện, nên nói: “Khôn khéo hơn vạn vật”, bởi vạn vật nó đâu có biết đạo đức làm lành là gì? Chỉ biết đói thì kiếm ăn, khát thì kiếm uống, ức độ thì kiếm (cái, đực) với nhau thôi; vì vậy mà cũng biết tự muốn cho được phần hơn, thành thử cấu xé lẫn nhau đủ điều tàn ác. Điều ấy đối với loài người thì không như thế. Mà nếu như thế thì chưa phải là “Tối linh, Tối thiện”.Bởi: “Nếu thú tâm yên khả trắc!” Người nay hình vẫn là người, mà lòng thú đâu xét được. Người như thế: 1. Hoặc người ấy là ở trong dị loại mới sanh lại loài người nên thú tâm chưa sáng suốt. 2. Hoặc người ấy là loài người mà sắp đọa vào trong dị loại nên hình vẫn còn tương tợ như loài người, mà lòng thú đã gây nên. Với hai hạng này chưa phải là bực người tối linh, tối thiện vì không toàn nhơn cách, như Đạo Nho nói: Tam cang, Ngũ thường, còn Đạo Phật nói: Tam qui, Ngũ giới, mới toàn nhơn đạo. Mới gọi là người tối linh, tối thiện vậy.

171. Chầu sao Bắc Đẩu: Sách Luận ngữ nói: “Làm việc chánh trị bằng nhơn đức (thì được lòng dân đều qui thuận) tỷ như sao Bắc Đẩu day ở đâu thì các tinh tú kia cũng đều chầu hầu quanh theo đến đó”. Luận rằng: Làm việc chánh trị có người nghi rằng: Cầm binh ra trận đánh Đông dẹp Bắc, giành nước hay cướp nước mới phải là chánh trị. Mà trái lại, chánh trị là những việc sắp đặt và thi hành để sửa chữa của một nước bất luận ở trong trường hợp nào cũng đều có chánh trị của trường hợp ấy cả, như quốc gia có chánh trị của quốc gia; tôn giáo có chánh trị của tôn giáo, cho đến kẻ làm ruộng, người đi buôn v.v…

Đức Khổng Tử đã nói: “Chánh tâm tu thân, tề gia, trị quốc và bình thiên hạ”, đều là việc chánh trị vậy.

172. Thạch Trụ: Cột đá. Dùng nghĩa rằng: Với Phật pháp gia phong, chống đỡ vững chắc. Tông môn: Vốn các tông đều xưng là Tông môn; về sau Thiền Tông tự hào là Tông môn, còn bảo các tông khác gọi là Giáo môn, kinh Lăng Già nói: “Phật nói tâm làm tông, vô môn làm pháp môn”.

173. Bực thượng thượng phẩm: (Xem ở số 184).

174. Danh nêu liên cảnh: Đời Tống, ngài Tông Bổn, người huyện Vô Tích, phủ Thường Châu, tỉnh Giang Tô, trước đến tham học nơi ngài Thiên Y Hoài Thiền sư tu niệm Phật có tỉnh ngộ, sau đến ở chùa Tịnh Từ, có ngài Lôi Phong Tài Pháp sư, thần thức dạo qua cảnh Tịnh Độ, thấy có một hoa sen rất tươi tốt, rồi hỏi thì có người trả lời rằng: “Hoa sen ấy để đợi ngài Tông Bổn thiền sư ở chùa Tịnh Từ sẽ vãng sanh về đây”.

Lại, ông Tư Phước Hy Công thân đến chùa Huệ Lâm, lạy dưới chơn của ngài Tông Bổn, cúng tiền vàng rồi đi, có người hỏi cớ gì thì đáp rằng: “Trong khi thiền định tôi thấy có hoa sen vàng, hỏi ra thì người ta cho biết rằng: Để đợi ngài Tông Bổn thiền sư”.

Số là thiền sư dù ở Tông môn (thiền môn) mà kiêm tu niệm Phật; đến lâm chung bằng cách ngồi nhập định. Được nhà vua phong tặng hiệu là Viên Chiếu.

175. Hoa sen mọc trong giường: Ông Tăng Duệ theo thụ giáo với ngài La Thập pháp sư, để học kinh nghĩa; sau dự vào hội Lô Sơn Liên Xã. Đời Tống hoàng hiệu Nguơn Gia năm thứ 16 (Kỷ Mão, Tống Văn Đế; 439) thoạt nhiên ngài bảo chúng rằng: “Ta sắp vãng sanh đây!” Day mặt về phương Tây chấp tay, ngồi tịch. Chúng thấy trước sàn ông Duệ, mọc lên một bông sen vàng, bỗng chốc rồi biến mất. Có một luồng khói thơm 5 màu từ trong phòng của ngài bay ra.

176. Ngài Tứ Minh: Sách Chỉ Yếu Sao Tường Giải, cuốn thứ nhứt chép Tứ Minh là tên một quả núi ở phía Nam phủ Khánh Nguơn, tỉnh Chiết Giang, Ninh Ba, có cả 280 chót, trong đó có một chót cao hơn hết, lúc cảnh trời trong lặng, trông lên thấy hình như có cửa sổ bằng đá, nghĩa là bốn bên đều thông qua 4 ánh sáng của nhựt, nguyệt, tinh thần nên gọi núi Tứ Minh. Mở rộng chánh nghĩa của Thiên Thai Tông nên gọi Tứ Minh Tôn Giả.

177. Ngài Linh Chi: Chùa Linh Chi tại đất Hoàng Châu, Ngài Nguơn Chiếu, tự là Trạm Nhiên, ban sơ y chỉ nơi ngài Đông Tàng Huệ Giám luật sư, để chuyên học bộ Tỳ Ny; sau theo ngài Thần Ngộ Thiền sư để giảng giáo quán của Thiên Thai Tông; lại theo ngài Tài Pháp Phật chùa Quảng Từ để thụ Bồ Tát giới, rộng xét Luật Tông của Ngài Nam Sơn Đạo Tuyên mà chăm ý về Tịnh nghiệp, thường nói: “Sống thì hoằng truyền tạng Luật, chết về nước An Dưỡng. Bình sanh ta sở đắc, chỉ có hai pháp môn đó thôi”. Ngài trụ trì chùa Linh chi được 30 năm, đến Tống Huy Tông, hiệu Chánh Hòa năm thứ 6 (Bính Thân, 216) tháng chín, ngày mồng 1 ngài tịch, thọ được 69 tuổi, thụy là Đại Trí.

178. Ngài Thanh Chiếu: Đời Tống, ngài Huệ Hạnh, trụ nơi huyện Vũ Anm Hà Nam Hà Bắc đạo, xưng là Thanh Chiếu luật sư. Buổi đầu năm Diên Thọ, theo y chỉ nơi ngài Linh Chi để tập học tạng luật, chuyên tu pháp Tịnh Độ 60 năm, lúc lâm chung, nhóm chúng niệm Phật, ngài nói bài kệ rằng:

Di Đà khẩu khẩu tụng.
Bạch hào niệm niệm tưởng.
Trì thử bất thối tâm.
Quyết định sanh An Dưỡng.

Dịch:

Hiệu Di Đà miệng ta thường tụng,
Ánh bạch hào trong bụng tưởng luôn,
Tâm in tuồng chẳng buông, chẳng thối,
Cõi Phật ta thượng bối thượng sanh.

179. Cửu Lưu: Hán Thư Nghệ Văn Chí: 1. Nho lưu: Phụng sự lẽ âm dương của thiên địa, thuật lại hóa đạo của Đường, Ngu, Châu, Khổng. 2. Đạo lưu: Nuôi tinh thần, giữ yếu thấp mình, hiện cái sống dai thong thả. 3. Âm dương lưu: Xem tượng trời, chép lịch sách, để nhơn dân biết ngày giờ mùa tiết. 4. Pháp lưu: Minh điều thưởng phạt, để thuận theo lễ chế. 5. Danh lưu: Chánh danh liệt vị quan thuận sự thành. 6. Mặc lưu: Thanh sạch tôn miếu, kính nuôi trẻ già. 7. Tung hoành: Hiệp Nam, Bắc là Tung; liên Đông, Tây là Hoành. Đời Chiến Quốc, có nhà tung hoành nói: “Ông Tô Tần liên kết 6 nước để chống Tần là Tung. Ông Trương Nghi thuyết 6 nước để phụng sự Tần là Hoành”. Đời sau có các nhà biện sĩ ngoại giao, cũng là hạng ấy. 8. Tập lưu: Kiêm cả lời nhà Nho nhà Mặc, hàm có thuyết của Danh và Pháp, sự gì cũng biết. 9. Nông lưu: Khuyến khích ruộng rẫy, bày của cải để trồng tỉa. Cả các giới ấy đều có người tu niệm Phật.

180. Văn Lộ Công: Đời Tống Văn Ngạn Bác, tự Ngoan Phu, ở Giới Hưu tỉnh Sơn Tây. Triều vua Nhơn Tông ông thi đậu Tiến sĩ. Làm quan trải bốn triều vua (Nhơn Tông, Anh Tông, Thần Tông và Triết Tông; từ năm 1023 đến 1099); nào ra tướng vũ, nào vào tướng văn hơn 50 năm, khi nghĩ việc chức Thái sư, 92 tuổi qua đời, chỉ kết duyên với bạn đồng tu và vãng sanh. Được phong Lộ Quốc Công, thụy là Trung Liệt, cũng xưng là Văn Lộ Công.

Đời Tống, Tô Thức tự là Tử Chiêm, hiệu là Đông Pha cư sĩ làm quan đến chức Nội Hàn, thụy là Văn Trung, sau qui y Tam Bảo, làm đệ tử ngài Tổng thiền sư chùa Đông Lâm, thường giao du với Phật Ấn thiền sư.

181. Cát Tế Chi: Người ở huyện Câu Dung tỉnh Giang Tô, ông là con nhà giòng dõi thờ học Đạo Tiên. Vợ là Kỷ Thị, riêng mình tinh thành niệm Phật. Năm Nguơn Gia thứ 3 (Bính Dần 426) bà mới lên bàn dệt, bỗng thấy giữa trên không sáng rỡ, ngửa mặt ngó lên không, thấy phương Tây có Phật hiện thân, bửu cái, tràng phan, ánh che da trời, bà mừng rỡ nghĩ rằng: trong Kinh nói: “Đức Phật Vô Lượng Thọ” chắc là đấy chăng? Sắp mặt lạy Phật. Ông Tế lấy làm kinh lạ. Đến coi, bà chỉ chỗ Phật hiện, ông Tế cũng thấy được nửa thân Phật, giây phút rồi mới ẩn, có mây lành năm màu, cả xóm đều trông thấy. Thế rồi ông Tế thôi luyện đạo Tiên mà chăm tu niệm Phật.

182. Đốt kinh Tiên, tu kinh Phật: Đời Hậu Ngụy ông Đàm Loan, tánh ưa pháp trường sanh, chịu học nơi ông lão sư là Đào Ẩn Quan truyền cho 10 cuốn kinh tiên. Sau gặp ngài Bồ Đề Lưu Chi hỏi rằng: “Đạo Phật có phép thuật sống dai chẳng chết không?” “Hà..Hà!?. Trường sanh bất tử chính của Đạo Phật đó”. Rồi trao cho cuốn kinh Thập Lục Quán và dặn rằng: “Ngài học kinh đây thì không sanh trở lại trong 3 cõi nữa, cũng khỏi luân hồi trong lục đạo; sẽ sống lâu nhiều kiếp, dù hà sa, kiếp thạch cũng không thể sánh ví đặng! Đó, trường sanh của họ Kim Tiên ta”. Ông Loan rất mừng, liền đốt hết 10 cuốn kinh tiên, chỉ lo tu 16 pháp quán, khi lâm chung dặn đệ tử xong, ngồi tịch.

183. Kỳ Bá, Huỳnh Đế: Ông Kỳ Bá và Hiên Viên Hoàng Đế cùng vấn đáp với nhau, rồi chép làm các sách Nội kinh mà là Tổ Sư nhà Đông y (tổ thầy thuốc).

184. Diêm Vương kính lạy: Sau khi Ngài Vĩnh Minh Thọ thiền sư tịch, có một nhà sư từ đất Lâm An phủ, tỉnh Chiết Giang đến, hằng ngày đi nhiễu nơi ngôi tháp của thiền sư đã trải nhiều năm, người hỏi cớ gì? Thì sư đáp rằng: “Trong lúc đau quá nặng, thần thức của tôi vào chốn Minh Phủ, thấy nơi điện của Diêm Vương, phía tả có thờ bức tượng của đức Thiền sư chùa Vĩnh Minh ở đất Hàng Châu, phàm là người ta hễ lúc chết thì ai cũng đều trải qua chốn này; mà duy có đức thiền sư ấy, lúc lâm chung lại trực chỉ về Tịnh Độ thượng phẩm thượng sanh, thành thử đức Diêm Chúa ngài quí trọng công đức tu niệm Phật quá cao, phải thiết tượng ngài để kính lạy và kỷ niệm đó”.

185. Quỉ La Sát hồi tâm: Kinh nói: “Xưa có một thôn quê nọ, bị cái nạn luân phiên đem con nạp cho quỉ La Sát ăn thịt, đến phiên của một người con của nhà có uy tín với ngôi Tam Bảo. Khi phải đi nạp mình nhưng cứ nhứt tâm niệm Phật. Quỉ ấy không dám ăn và hồi tâm thôi ăn thịt người. Nhơn đó người nạp mạng kia được trở về nhà”.

186. Đức Văn Thù cầu sanh, đức Phổ Hiền nguyện vãng: (Xem ở số (74) trước kia đã có dẫn).

187. Không nghi bói làm gì: 1. Kinh Dịch nói: “Trước phải nghĩ xét rồi sẽ nói sau; cùng bàn luận trước, nhiên hậu sẽ làm; nghĩ và bàn, là để cho công chuyện làm được thành tựu xong xuôi”. 2. Thuở nhà Đường vua Thái Tông lúc mà còn làm Tần Vương, cùng ganh tỵ nhau với thái tử Kiến Thành, muốn cử binh mã đi chinh phục mà còn chúng nhơn thì bàn rằng: “E chẳng thắng lợi”. Tần Vương bảo bói thử coi. Ông Trương Công lấy cái mai rùa liệng xuống đất và nói rằng: “Với việc bói quẻ là để giải quyết điều nghi ngờ, thế mà đã chẳng có nghi gì thì bói làm chi?” Ý nghĩa là: “Đối với pháp tu trì danh niệm Phật có hai nghĩa quyết định rằng: 1. Với tâm ta, ta niệm Phật là để kêu thức tánh Phật của tự tánh Di Đà của ta thường được tỉnh giác. 2. Với cảnh Phật, ta niệm Phật là để kêu van Đức Phật A Di Đà đã có đại nguyện hứa hẹn giúp ta. Vậy tu pháp trì danh vừa là tự Phật, vừa là tha Phật, đủ sức, sức nào cũng toàn là Phật, tu nhơn là Phật, kết quả cũng Phật, tỷ như trồng nhơn là lúa, kết trái cũng lúa, chắc chắn như vậy, còn ngờ gì mà lưỡng lự? Cũng như, không nghi gì mà bói làm chi?

Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.