Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

BÁT NHÃ ĐĂNG LUẬN THÍCH
Tác giả: Bồ tát Long Thọ (Kệ bản)
Bồ tát Phân Biệt Minh giải thích
Hán dịch: Đời Đường, Đại sư Ba La Phả Mật Đa La
Việt dịch: Cư sĩ Nguyên Huệ

 

QUYỂN 10

Phẩm thứ 17: QUÁN VỀ NGHIỆP

Nay nơi Phẩm này cũng là nhằm ngăn trừ về đối tượng đối trị của không khiến hiểu rõ nghĩa không có tự thể của nghiệp quả, nên được nêu bày.

Người của A-tỳ-đàm nói: Ở trong phẩm trước, người kia nói các hành lưu chuyển, chúng sinh cùng với người v.v… cũng đều lưu chuyển, là không đúng. Nhưng Luận giả ấy trong sự nghiệm xét, lập nghĩa nói: Các hành hoặc thường hoặc vô thường, đều là lỗi về đoạn thường nên có lưu chuyển là không đúng, tức nói các hành rốt ráo là không có lưu chuyển. Luận giả trước đã tạo thuyết như thế. Tôi nay ở đây nói thường, vô thường không có lỗi như vậy, nhưng có các hành lưu chuyển. Nói điều như vậy là muốn khiến cho kẻ khác hiểu, trong đệ nhất nghĩa nhất định có các hành của các nhập bên trong như thế, là sinh tử cùng với nghiệp quả kết hợp. Ở đây nếu không có thì không thấy các hành cùng với nghiệp quả có hợp. Ví như con của Thạch nữ. Nay có các hành cùng với nghiệp quả kết hợp nên có sinh tử. Do thế Tôi nay quán xét về nghiệp quả. Nghĩa ấy, như trong A-tỳ-đàm đã nói rộng. Nên kệ kia nói:

Tự hộ thân miệng tư

Cùng gồm thâu kẻ khác

Pháp từ là chủng tử

Hay được quả hiện, vị.

Gọi là tư: Nghĩa là có thể tự điều phục, xa lìa phi pháp, cùng với tâm ấy tương ưng với tư, nên gọi là tư. Gồm thâu kẻ khác: Nghĩa là bố thí, ái ngữ, cứu giúp kẻ sợ hãi. Dùng các thứ như thế tức có thể thâu phục kẻ khác, nên gọi là gồm thâu người khác. Từ là tâm, tâm tức gọi là pháp, cũng là chủng tử. Chủng tử: Cũng gọi là nhân. Là nhân của cái gì? Nghĩa là nhân của quả. Là những quả nào? Tức là quả của hiện tại, vị lai. Vì sao gọi tâm là chủng tử? Nghĩa là có thể khởi nghiệp thân khẩu, nên gọi là chủng tử. Vì sao gọi là phi pháp? Vì trái với pháp nên gọi là phi pháp. Phi pháp, nghĩa là ác cùng với bất thiện. Vì sao gọi là vô ký? Nghĩa là trái với pháp phi pháp, gọi là vô ký. Vô ký có bốn thứ nghiệp: Một là báo sinh. Hai là oai nghi. Ba là công xảo. Bốn là biến hóa. Lại, vô ký: Là không ghi nhận thiện, bất thiện, nên gọi là vô ký. Lại, vô ký: Là không sinh khởi quả thiện, bất thiện, cũng gọi là vô ký. Có những thứ sai biệt như thế. Trong Luận Câu Xá cũng có hai thứ, nghĩa ấy là thế nào? Kệ của Luận nêu:

Đại Tiên nêu giảng nghiệp

Tư cùng do tư khởi

Ở trong hai nghiệp ấy

Nói vô lượng sai biệt.

Giải thích: Vì sao gọi là Đại Tiên? Vì các Thanh văn, Phậtbích-chi, chư Bồ-tát cũng gọi là Tiên, Đức Phật ở trong ấy là tối tôn tối thượng, nên gọi là Đại Tiên. Đã đạt đến bờ giác căn thiện công đức của tất cả Ba-la-mật, nên gọi là Đại Tiên.

Lại nữa, kệ trước đã nêu ra tên gọi của hai nghiệp, nay sẽ giải thích riêng. Nghĩa ấy là thế nào? Kệ của Luận nói:

Như trước đã nói tư

Chính gọi là ý nghiệp

Từ tư đã sinh khởi

Tức là nghiệp thân khẩu.

Giải thích: Vì sao nói tư chính là ý nghiệp? Nghĩa là tư cùng với ý tương ưng, gọi là ý nghiệp. Lại nữa, tư ấy, ở trong môn ý đạt được cứu cánh, nên gọi là ý nghiệp, chẳng phải là nghiệp thân, khẩu. Vì sao gọi là từ tư sinh khởi? Nghĩa là nhận biết rồi, nhận biết rồi tạo tác, có tác giả, gọi là nghiệp từ tư sinh khởi. Nghiệp này có hai thứ: Nghĩa là thân và khẩu. Nếu ở nơi môn thân đạt được cứu cánh, nơi môn khẩu đạt được cứu cánh, thì gọi là thân nghiệp, khẩu nghiệp. Nói hai nghiệp xong, tiếp theo nói về vô lượng thứ sai biệt. Vì sao gọi là vô lượng thứ sai biệt? Kệ của Luận nêu:

Thân nghiệp cùng khẩu nghiệp

Tạo cùng không tạo bốn

Ngữ khởi cùng xa lìa

Đều có thiện bất thiện.

Giải thích: Ngữ khởi: Nghĩa là dùng văn tự đã hiểu rõ nêu rõ lời nói, gọi là ngữ khởi. Thế nào gọi là xa lìa? Nghĩa là chân tay nơi thân vận động. Vận động: Nghĩa là khởi niệm nói: Tôi nay sẽ tạo nghiệp thiện này. Từ lúc đầu thọ nhận tư của nghiệp thiện, sau thọ nhận tư của nghiệp thiện, người đã khởi ấy, hoặc tạo nghiệp thiện, hoặc không tạo nghiệp, xa lìa thể của sắc không tạo tác luôn sinh. Không xa lìa: Cũng suy niệm nói như vầy: Tôi sẽ tạo nghiệp bất thiện ấy. Hoặc thân hoặc khẩu hoặc ý của kẻ kia, từ nơi sát-na đầu của nghiệp bất thiện đã sinh khởi, hoặc tạo nghiệp ác, hoặc không tạo theo nhân bất thiện, gọi là không xa lìa. Không xa lìa, thể của sắc không tạo tác luôn sinh. Thế nào gọi là sắc tạo tác, không tạo tác? Do sắc của thân khẩu khiến kẻ khác hiểu, gọi là sắc tạo tác. Không dùng sắc của thân khẩu khiến kẻ khác hiểu, gọi là sắc không tạo tác.

Nên kệ của Luận nói:

Tự Thể thọ dụng phước

Tội sinh cũng như vậy

Cùng tư là bảy nghiệp

Hiểu rõ tướng các nghiệp.

Giải thích: Thế nào gọi là tự thể thọ dụng? Nghĩa là đàn việt xả thí các thứ vật dụng nuôi sống thân mạng như phòng nhà, vườn rừng, y phục, thức ăn uống, ngọa cụ, thuốc men. Thế nào gọi là phước? Là nghĩa lặn vào trong nước để lấy ra. Tức thấy các chúng sinh bị chìm ngập trong biển phiền não khởi tâm đại bi, tìm cách đưa họ ra khỏi chốn ấy đặt yên nơi bờ Niết-bàn, nên gọi là phước. Chẳng phải phước: Là tạo vô số sự việc bất thiện, có thể khiến chúng sinh đi vào các nẻo ác. Vì sao cũng là tự thể thọ dụng? Nghĩa là trái ngược với phước, nên gọi là chẳng phải phước.

Giải thích về phước phi phước rồi, tiếp theo là giải thích nghĩa của tư. Do pháp nào nên gọi đó là tư? Nghĩa là công đức cùng với lỗi ác, cùng chẳng phải công đức và lỗi ác, khởi tâm tạo tác nghiệp ý, gọi là tư. Luận kia như thế là dùng bảy thứ nghiệp nói là tướng của nghiệp. Cho đến tọa thiền, tụng kinh, lắng nghe, ghi nhớ v.v… cũng gọi là nghiệp, đều gồm thâu trong bảy thứ ấy, nhưng không nói riêng. Do có nghiệp này nên thấy nghiệp cùng với quả hợp. Cùng với quả hợp: Nghĩa là ở trong năm nẻo có tướng của năm ấm sinh khởi. Thế nên nơi phần đầu phẩm nói nghiệp cùng với quả hợp, là nêu ra nhân. Trong đệ nhất nghĩa có sinh tử, là nghĩa được thành. Do có buộc có mở, nên có Thể của sinh tử.

Luận giả nêu bày: Nay, về nghiệp này, là một lần khởi rồi, cho đến thọ nhận quả trở đi là luôn trụ chăng? Hay là một sát-na khởi rồi tức diệt chăng? Cả hai đều không đúng. Lỗi ấy, như kệ của Luận nói:

Nếu trụ đến thọ quả

Nghiệp này tức là thường

Nghiệp nếu đã diệt bỏ

Diệt rồi ai sinh quả?

Giải thích: Nếu tự Thể của nghiệp khởi rồi nối tiếp không gián đoạn, chẳng hoại diệt, sau mới có hoại diệt, là không đúng, là rơi vào lỗi về thường. Người A-tỳ-đàm nói: Như cây chuối, tre lau v.v… Về sau, cho quả rồi tức hoại diệt, thế nên không lỗi. Luận giả nói: Tre lau v.v… nơi mỗi mỗi sát-na theo đấy hoại diệt, không trụ, thời gian sau là tương tợ nối tiếp đoạn dứt. Ở trong thế đế nói là hoại. Nếu trong đệ nhất nghĩa nói nghiệp như tre lau v.v… nối tiếp đến thọ nhận quả, là không đúng. Hoặc nói tự thể của pháp có nghiệp, trước sau cùng không hoại, khó khiến người khác hiểu, nên ông chẳng phải là không lỗi.

Người của A-tỳ-đàm nói: Lúc đầu, nhân chưa bị hoại nên không hoại. Thời gian sau nhân bị hoại trở đi mới hoại. Như vậy thì có lỗi gì? Luận giả nói: Nghĩa ấy không đúng. Ông lập nhân có hoại, nhưng vật kia chẳng phải là nhân hoại, so với vật này là khác, nên nhân ấy ví như vật khác. Như trong A-hàm nói: Thân cùng với các căn, nơi một sát-na khởi rồi không trụ. Nghĩa của ông nên so với kinh là trái nhau. Nếu ông muốn tránh lỗi ấy, nhưng nhận khởi rồi nối tiếp không gián đoạn tức hoại, là cũng có lỗi. Nghiệp nếu diệt, tức không có tự thể. Nếu ý của ông cho nghiệp lúc đang diệt có thể cho quả, nhưng lúc diệt ấy gọi là một nửa diệt, nửa chưa diệt có thể cho quả, là không đúng, đồng với chỗ đã đáp về lỗi ở trước. Nếu ông nói không thể nêu bày diệt rồi cùng với quả không diệt cho quả, đây gọi là nghiệp không thể nói. Nếu nghiệp không thể nói, ở trong đệ nhất nghĩa có thể cho quả, là không đúng, vì không thể nói. Ví như lúc sắp sinh. Điều thấy biết của ông là không thể bền chắc, nêu ra nhân không thành, cũng trái với nghĩa của ông. Người A-tỳ-đàm nói: có nối tiếp, nên nghĩa của Tôi không trái. Làm sao nhận biết? Nên kệ của Luận nói:

Như mầm là nối tiếp

Nhưng từ chủng tử sinh

Do đấy mà sinh quả

Lìa chủng không nối tiếp.

Giải thích: Ở đây nghĩa là từ mầm sinh thân cây, cho đến cành lá hoa quả đều có tướng kia. Chủng tử tuy diệt, nhưng do sinh khởi nối tiếp lần lượt đến quả. Nếu lìa chủng tử thì sự nối tiếp như mầm v.v… tức không lưu chuyển. Do đấy nên nghĩa đó là thế nào? Kệ của Luận nói:

Chủng tử có nối tiếp

Từ nối tiếp có quả

Chủng trước mà quả sau

Không đoạn cũng không thường.

Giải thích: Vì sao là không đoạn? Nghĩa là có chủng tử nối tiếp trụ. Vì sao là không thường? Nghĩa là mầm sinh khởi rồi, chủng tử hoại. Pháp nội cũng như thế. Như kệ của Luận nêu:

Như thế từ tâm đầu

Tâm pháp nối tiếp khởi

Theo đấy mà sinh quả

Lìa tâm không nối tiếp.

Giải thích: Đây nghĩa là tâm từ tâm không từ gọi là nghiệp. Tâm ấy tuy diệt nhưng nối tiếp sinh khởi. Quả nối tiếp này khởi, nghĩa là ái, phi ái, có tướng thọ nhận. Nếu lìa tâm thì quả tức không khởi. Nay sẽ nói về pháp nối tiếp. Nghĩa ấy là thế nào? Kệ của Luận nói:

Từ tâm có nối tiếp

Từ nối tiếp có quả

Nên nghiệp ở trước quả

Chẳng đoạn cũng chẳng thường.

Giải thích: Thế nào là chẳng đoạn? Nghĩa là sự nối tiếp có thể khởi quả. Thế nào là chẳng thường? Là không trụ đến sát-na thứ hai. Ở đây tạo nghiệm xét. Trong đệ nhất nghĩa, có nghiệp quả như thế, cùng với các hành của chúng sinh danh tự kết hợp. Các hữu muốn được chúng sinh của quả thù thắng, Đức Như Lai vì họ thuyết giảng phương tiện để đạt được quả. Điều này nếu không, thì Đức Như Lai không nêu giảng phương tiện để đạt được quả vui. Ví như những vòng hoa nơi hư không. Nay nói có phương tiện. Nghĩa ấy là thế nào? Kệ của Luận nêu:

Phương tiện để cầu pháp

Là mười nghiệp đạo thiện

Năm thứ dục lạc thắng

Hai đời hiện, vị được.

Giải thích: Pháp: Nghĩa là pháp của quả. Phương tiện: Nghĩa là đạt được nhân nơi pháp của quả. Nhân: Nghĩa là nghiệp bạch. Quả: Nghĩa là nơi hiện tại vị lai đạt được năm thứ dục lạc. Đạt được những quả gì? Tức là đạt được quả báo, quả y. Bạch là thiện tịnh, có thể thành tựu nhân duyên của phước đức, là từ mười nghiệp đạo thiện tịnh ấy sinh. Mười là: Không sát sinh, không trộm cắp, không tà hạnh, không nói dối, không nói hai lưỡi, không nói lời thô ác, không nói lời vô ích, không ganh ghét, không giận dữ, không tà kiến. Đó gọi là mười nghiệp thiện tịnh. cũng gọi là mười nghiệp đạo thiện. Đều từ thân miệng ý sinh.

Thế nào gọi là quả thù thắng? Nghĩa là ở trong nẻo người, trời, đạt được loại người trời tối thắng. Nghĩa ấy là thế nào? Kệ của Luận nêu:

Người khéo hàng phục tâm

Lợi ích nơi chúng sinh

Đó gọi là từ thiện

Được quả báo hai đời.

Giải thích: Do đấy nên Đức Phật nói có phương tiện để đạt được quả ấy, như đã nêu bày, tức nghĩa kia được thành.

Luận giả nêu rõ: Ông nói nghiệp quả có nối tiếp, nhưng dùng chủng tử để làm dụ, tức có lỗi lớn. Như kệ của Luận nói:

Người tạo phân biệt ấy

Mắc lỗi lớn cùng nhiều

Là như ông đã nói

Nơi nghĩa tức chẳng đúng.

Giải thích: Vì sao không đúng? Ở đây nghĩa là như ông vừa phân biệt có chủng tử nối tiếp nơi thể của pháp tương tợ, điều ấy là không đúng. Vì sao? Vì chủng tử có hình, có sắc, có đối, là pháp có thể thấy được, có nối tiếp. Nay tư duy về việc ấy hãy còn không thể đạt được, huống chi là tâm cùng với nghiệp là không hình không sắc không đối, không thể thấy, sát-na sát-na sinh diệt không dừng. Muốn cùng làm nghiệm xét thì nghiệm xét không thành. Lại từ chủng tử đến mầm, là diệt rồi nối tiếp đến mầm, hay là không diệt rồi nối tiếp đến mầm? Nếu diệt rồi nối tiếp đến mầm, thì mầm tức không nhân. Còn nếu không diệt mà đến mầm, tức nên từ chủng tử đầu luôn sinh nơi mầm. Nếu như thế thì trong một chủng tử tức sinh tất cả các mầm, sự việc ấy là không đúng, có lỗi lớn. Người của Chánh Lượng Bộ luận về người của A-tỳ-đàm, nói: Như ông đã nêu bày: Có sự nối tiếp của người, có thể khởi nghiệp tương tục của hàng trời v.v…, nghĩa ấy là không đúng. Vì sao? Vì chủng tánh khác. Ví như hạt Nhẫm bà không sinh ra quả Am-la. Nếu tâm thiện thứ lớp có thể khởi tâm thiện, bất thiện, vô ký. Tâm vô ký lần lượt có thể khởi tâm thiện bất thiện. Tâm bất thiện thứ lớp có thể khởi tâm thiện vô ký. Nghĩa đều không đúng. Cho đến tâm thuộc cõi dục, thứ lớp có thể khởi tâm thuộc cõi sắc, cõi vô sắc, cùng khởi tâm vô lậu. Tâm vô lậu lại lần lượt khởi tâm thuộc cõi dục cõi sắc cõi vô sắc. Cũng như trên nói về mầm khởi, nay đều không đúng. Như trong phần lập nghiệm xét ở trước đã luận phá chung, nên có người tạo thiện, là cũng không đúng. Tôi nay sẽ nói về nghĩa thuận nơi quả báo của nghiệp, phân biệt đúng. Là phân biệt về gì? Như trước đã phân biệt về chủng tử nối tiếp có tương tợ. Như Tôi đã nói, là không có lỗi kia. Cấu uế của lỗi không thể nhiễm. Nói về những gì? tức là nói về nghĩa pb đúng. Là do ai nói? Như trong kinh A-hàm, kệ nói:

Chư Phật cùng Duyên giác

Và Thanh văn đã nói

Tất cả các Thánh chúng

Đều cùng tạo phân biệt.

Phân biệt về những gì? Kệ của Luận nêu:

Pháp không mất như khoán

Nghiệp như tài vật nợ

Nhưng tánh là vô ký

Theo giới có bốn thứ.

Giải thích: Nghĩa là pháp không mất này còn, như chủ nợ có chủ khoán, tuy đã trao cho tài vật nhưng không bị mất, đến thời gian sau thì cả vốn, lời cùng được. Nghiệp cũng như thế, có thể đạt được quả sau. Nghiệp tuy đã hoại, do có pháp không mất, còn, nên có thể khiến người hành tác được quả báo thù thắng. Cũng như chủ nợ đã được tài vật rồi, đối với người mắc nợ trước, hủy bỏ tờ khoán gốc kia. Như thế như thế, pháp không mất có thể cho quả nơi người tạo nghiệp xong thì thể của nó cũng hoại. Pháp không mất có bao nhiêu thứ? Căn cứ theo giới có bốn: Là dục giới, sắc giới, vô sắc giới và vô lậu giới. Pháp không mất là tánh gì? Là tánh vô phú vô ký. Vô phú cũng gọi là không ẩn mất. Vô ký ở đây nghĩa là không nói về thiện bất thiện nên gọi là vô ký. Pháp không mất này do đạo nào đoạn? Kệ của Luận nói:

Không do kiến đạo đoạn

Mà là tu đạo đoạn

Do pháp không mất này

Các nghiệp có quả báo.

Giải thích: Đây nghĩa là không do kiến khổ tập diệt đạo đoạn. Vào lúc nào đoạn? Tức là tu đạo lúc tiến hướng tới quả sau là đoạn. Lại nữa, do kiến khổ đoạn nghiệp bất thiện. Tuy đoạn, nhưng do pháp không mất ấy còn, nên lúc kiến khổ không đoạn, thì pháp không mất có thể cho quả. Như Tôn giả Mục-kiền-liên bị ngoại đạo làm nhục, Tỳ-kheo Ly-ba-đa bị vua Phạm Ma Đạt giam giữ mười hai năm. Chư vị ấy tuy đạt được Thánh quả, nhưng do pháp không mất kia vẫn còn, nên phải thọ nhận báo của nghiệp bất thiện từ đời trước. Kệ của Luận nêu:

Nếu do kiến đạo đoạn

Nghiệp kia đến tương tợ

Tức đạt được nghiệp hoại

Như thế là có lỗi.

Giải thích: Pháp không mất này, nếu do kiến đạo đoạn, hoặc cùng với nghiệp cùng đến đời sau, tức là có lỗi. Có lỗi gì? Nếu pháp không mất đồng với kiến đạo đoạn, tùy miên phiền não nghiệp cũng cùng đoạn tức hủy hoại quả của nghiệp. Hoại những quả gì? Nghĩa là hoại quả của nghiệp bất thiện do kiến đạo đoạn. Nghĩa này nên nhận biết. Tu đạo nếu không đoạn, thì Thánh nhân nên có đầy đủ nghiệp của phàm phu. Do đấy nên phiền não, nghiệp là do kiến đạo đoạn. Pháp không mất không bị kiến đạo đoạn. Thế nên nói: Như nghiệp do kiến đạo đoạn, pháp không mất do tu đạo lúc tiến hướng đến quả sau là đoạn. Pháp kia lúc vượt qua dục giới hướng đến sắc giới, lúc vượt qua sắc giới hướng đến vô sắc giới. Người đoạn cũng như thế. Kệ của Luận nói:

Tất cả các hành nghiệp

Tương tợ không tương tợ

Hiện tại lúc chưa chung

Một nghiệp một pháp khởi.

Giải thích: Tương tợ: Nghĩa là nghiệp đồng loại. Nơi hiện tại lúc mạng chung, có một pháp không mất sinh khởi, nắm giữ chung các nghiệp. Không tương tợ: Nghĩa là nghiệp chủng có sai biệt. Như nghiệp cõi dục, nghiệp cõi sắc, nghiệp cõi vô sắc, có vô lượng loại. Lại nữa, có bao nhiêu thứ nghiệp được pháp không mất giữ lấy? Kệ của Luận nêu:

Như thế hai thứ nghiệp

Hiện tại thọ quả báo

Hoặc nói thọ báo rồi

Nghiệp này cũng nên còn.

Giải thích: Hai nghiệp: Là tư và từ tư sinh. Hoặc có người nói nghiệp thọ nhận báo rồi nhưng nghiệp vẫn còn, do không bị niệm niệm diệt. Lại như trước nói, có vô lượng thứ sai biệt, cũng là mỗi mỗi có một pháp không mất sinh khởi, giữ gìn. Vì sao pháp không mất cho quả rồi vẫn còn, nhưng không lại thường xuyên cho quả? Nghĩa là đã cho quả. Như đã giao tờ khoán xong, đã hoàn lại tài vật rồi, nếu như có tờ khoán còn, thì cũng không đạt được nữa. Pháp không mất cũng như thế. Đã cho quả nên lại không thường xuyên được quả. Pháp không mất này, vào lúc nào diệt? Kệ của Luận nêu:

Vượt quả cùng mạng chung

Đến lúc ấy thì diệt

Hữu lậu và vô lậu

Có sai biệt nên biết.

Giải thích: Đây nghĩa là lúc tu đạo đoạn, như trước lúc mạng chung, nghiệp tương tợ không tương tợ, cùng có một pháp không mất nắm giữ. Như Tu-đà-hoàn v.v… vượt quả rồi diệt. A-la-hán cùng kẻ phàm phu mất rồi thì diệt. Pháp không mất này lại có sai biệt. Vì sao có sai biệt? Do nghiệp hữu lậu vô lậu khác nhau, nên pháp không mất cũng có hữu lậu, vô lậu. Các thứ kia như thế nên pháp không mất cũng từ vô số nghiệp khởi, có thể khiến chúng sinh thọ nhận quả có sai biệt như thọ nhận chốn, cõi nước, nẻo, sắc, hình, tín, giới v.v…, cho quả xong, sau đấy mới diệt. Do như thế nên nghĩa ấy là thế nào? Kệ của Luận nói:

Tuy không nhưng chẳng đoạn

Tuy có nhưng chẳng thường

Pháp không mất các nghiệp

Pháp ấy do Phật nói.

Giải thích: Không là cái gì không? Nghĩa là các hành không, như ngoại đạo đã phân biệt. Pháp có tự tánh là không, nhưng nghiệp không đoạn, là do có pháp không mất, vẫn còn. Thế nào là có? Có nghĩa là sinh tử. Sinh tử: Nghĩa là các hành, ở nơi vô số nẻo lưu chuyển nên gọi là sinh tử. Vì sao là chẳng thường? Vì nghiệp có hoại diệt. Vì sao gọi là pháp không mất? Nghĩa là Đức Phật, ở nhiều xứ trong kinh đã thuyết giảng, tạo sự phân biệt ấy, nên có như thế. Do đấy, như Tôi trước đã nêu bày nghiệp cùng với quả hợp, là nêu ra nhân, nghĩa chẳng phải là không thành.

Luận giả nói: Những điều ông đã nêu là đều không đúng. Nay vì ông sẽ nói về nhân duyên của chánh nghiệp. Nghĩa ấy là thế nào? Như kệ của Luận nêu:

Nghiệp từ gốc chẳng sinh

Do không có tự tánh

Nghiệp từ gốc chẳng diệt

Do nghiệp ấy chẳng sinh.

Giải thích: Trong tông của Tôi, nghiệp không có sinh. Chủng tử nối tiếp như thế, trong đệ nhất nghĩa cũng không có sinh. Thế nên ông đã lập về thí dụ là vô thể, nhưng có lỗi là thiếu thí dụ. Các nghiệp vì sao không sinh? Là do không có tự tánh nên chẳng sinh. Nay lại đáp người của Chánh Lượng Bộ nói chủng tử nối tiếp là có lỗi. Ông cho có nghiệp cùng với quả hợp, nhưng không có lỗi về đoạn, thường. Vì sao không có lỗi? Là do có pháp không mất tồn tại. Tôi nay suy tìm pháp ấy, rốt ráo là không có. Như kệ ở trên nói: Nghiệp từ gốc chẳng sinh. Nên pháp không mất này, trong đệ nhất nghĩa cũng chẳng thành. Nếu có nghiệp sinh, vì nghiệp nên có thể có pháp không mất. Nghiệp đã vô thể thì pháp không mất cũng vô thể, tức nhân không thành, nên trái với tông nghĩa của ông. Vì sao là trái? Vì nghiệp cùng với quả hợp, trở lại thành thế đế, khiến sự vật được giải thích. Như ông trước cho người của A-tỳ-đàm có lỗi vì nói chủng tử nối tiếp, nghĩa ấy là không đúng. Như người của A-tỳ-đàm trước tạo thí dụ về chủng tử nối tiếp, là có ý gì? Nay sẽ vì ông nên nói. Người của A-tỳ-đàm này có ý như vầy: Nghĩa là chủng tử nối tiếp, nhân quả lần lượt theo đấy sinh khởi không hoại. Nhưng dùng chủng tử nối tiếp không đoạn không thường làm dụ, như vậy là muốn có được điều ông trước đã nói là chủng tánh khác nhau nên làm nhân, tức nghĩa của nhân không thành. Do có tâm cùng tâm số pháp tương tục sinh khởi không khác. Lại, ông nêu ra nhân chẳng phải là toàn bộ, là có lỗi riêng. Vì sao không phải là toàn bộ? Nay hiện thấy có sự nối tiếp riêng, có thể sinh khởi quả riêng. Làm sao nhận biết? Như sợi lông của bò sinh sừng thou, sinh thiết la. Người của Chánh Lượng Bộ nói: Trong Kinh A-hàm, Đức Phật giảng nói như vầy: Có pháp không mất. Do pháp này nên không đoạn không thường, các thể được thành. Luận giả kia nói do nghiệp không sinh khởi nên pháp không mất cũng không sinh khởi, là nêu ra nhân mà bảo nghĩa nơi nhân của Tôi chẳng thành, lời ấy là không đúng. Luận giả nói: Như Đức Thế Tôn đã thuyết giảng: Nếu không sinh khởi, pháp kia tức không hoại. Ông nay muốn được nhận lấy nghĩa ấy, là chỗ mong muốn của Tôi thành tựu. Nhưng trong Tông của ông không thọ nhận pháp này. Nếu ông lập nghĩa của tự tông, cho là không sinh khởi không hoại diệt, thì nghĩa đó chẳng thành.

Lại nữa, ông lập các pháp có tự thể, quyết định nên thọ nhận, nhưng nghiệp là không tự thể, nếu các pháp có tự thể tức là có lỗi. Lỗi ấy như thế nào? Kệ của Luận nêu:

Nghiệp nếu có tự Thể

Đấy tức gọi là thường

Nhưng nghiệp là vô tác

Pháp thường nên vô tác.

Giải thích: Đây cho là có tự thể, thì tức là thường. Nếu thường tức là không thể tạo nghiệp. Vì sao? Vì pháp thường là không thể tạo tác, cũng không có tướng biến hoại.

Lại nữa, nếu nghiệp là vô tác, thì có lỗi gì? Lỗi ấy như kệ của Luận nói:

Nếu nghiệp là vô tác

Vô tác nên tự đến

Trụ tội phi phạm hạnh

Nay nên đắc Niết-bàn.

Giải thích: Phạm: Nghĩa là Niết-bàn. Nếu hành giả hành Niếtbàn gọi là phạm hạnh, thì trụ nơi hạnh ấy gọi là trụ phạm hạnh. Ngược lại với đây, gọi là không trụ phạm hạnh. Những gì là trụ phạm hạnh? Nghĩa là tạo nghiệp thiện rồi mà được Niết-bàn, gọi là trụ phạm hạnh. Những gì gọi là trụ phi phạm hạnh? Nghĩa là không tạo nghiệp thiện gọi là trụ phi phạm hạnh. Nếu nghiệp ấy không tạo, nhưng tự đạt được Niết-bàn, thì tất cả người hành phi phạm hạnh đều nên được Niết-bàn, chẳng phải riêng người hành phạm hạnh được Niết-bàn. Tức có lỗi như thế, nhưng ở trong thế đế tạo ra các thứ bình chén, vải lụa v.v… cũng có lỗi này. Lỗi đó, như kệ của Luận nói:

Phá tất cả thế tục

Pháp ngôn ngữ hiện có

Tạo thiện cùng làm ác

Cũng không có sai biệt.

Giải thích: Đây nghĩa là như thế gian nói: Kia là chúng sinh tạo tội, kia là chúng sinh tạo phước, là không đúng. Do ông nói không tạo tác, tội phước tự nhiên được. Lỗi ấy là thế nào? Như kệ của Luận nêu:

Do có nghiệp được trụ

Nhưng gọi là không mất

Cũng nên cho quả rồi

Nay lại cho quả nữa.

Giải thích: Trụ là thế nào? Nghĩa là tự thể tồn tại. Lại cho quả: Là do nghiệp trụ. Tuy cho người tạo tác quả xong, như có tờ khoán đầy đủ, đã bù nợ rồi, nhưng cần bù lần nữa. Nghiệp cũng như thế. Do có thể tồn tại, nên trở lại có thể cho quả.

Người của A-tỳ-đàm lại nói: Trong đệ nhất nghĩa có các nghiệp như thế, vì nhân kia là có. Nghiệp này nếu không nhưng có nhân, là không đúng. Ví như y phục làm bằng lông rùa. Nay có nhân của nghiệp là các phiền não, thế nên như nhân đã nói, trong đệ nhất nghĩa nhất định có các nghiệp.

Luận giả nêu bày: Lời nói ấy là không đúng. Như kệ của Luận nói:

Phiền não hoặc tánh nghiệp

Chúng tức không tự Thể

Nếu phiền não chẳng thật

Sao có nghiệp là thật?

Giải thích: Tánh: Nghĩa là nhân. Ở đây nói phiền não là nhân của nghiệp. Ví như bùn đất là thể của bình chén. Như vậy, phiền não là thể của nghiệp, vì sao chẳng thật? Nghĩa là phiền não không có tự thể. Thế nào là không có tự thể? Nghĩa là theo chỗ quán xét trước đã ngăn trừ việc chấp pháp sinh khởi, cũng ngăn trừ chấp các thể có tự thể. Ở đây cho phiền não chẳng phải là nhân của nghiệp. Do đấy nên nghĩa của nhân không thành, cùng trái với nghĩa của ông. Vì sao là trái? Nghĩa là ở trong thế đế, do phiền não là nhân của nghiệp, chẳng phải là đệ nhất nghĩa, thế nên nói là trái. Lại nữa, như trong Phẩm Quán Về Phiền Não ở trước kệ nói:

Ái phi ái điên đảo

Nhưng là duyên đã khởi

Kia đã không tự Thể

Nên phiền não chẳng thật.

Tức là trước đã ngăn trừ rộng.

Người của A-tỳ-đàm nói: Trong đệ nhất nghĩa có phiền não như thế. Do có quả nên chẳng phải là không mà thọ nhận quả. Ví như quả nhĩ căn cùng nhĩ thức của kẻ bị điếc. Nay có quả phiền não này. Vì sao gọi là quả? Quả nghĩa là nghiệp. Như thế trong đệ nhất nghĩa có phiền não, nên chẳng phải là nghĩa của nhân không thành, cũng không phải là trái với nghĩa. Như nghĩa của Tôi đã mong muốn được thành. Lại nữa, có nghiệp do có quả nên chẳng phải là không như hoa nơi hư không. Do có quả của nghiệp là thân, chẳng phải không nghiệp mà có quả. Vì nghĩa ấy nên biết là có nghiệp.

Luận giả cho: Nghĩa này là chẳng phải. Ông không chánh tư duy, nên bị tà kiến não hại, phân biệt hư vọng nêu bày như thế. Lỗi ấy như kệ của Luận nói:

Nêu nghiệp cùng phiền não

Cho là nhân các thân

Nghiệp phiền não tự không

Thân từ nơi nào có?

Giải thích: Xứ nào nêu bày? Nghĩa là trong các Luận, các bậc Hiền Thánh đã căn cứ theo thế đế để giảng nói. Nếu ở trong đệ nhất nghĩa quán xét, thì đều là không đúng. Như trong Tông của Tôi, trước đã nói về phương tiện. Ở đây nghĩa là vô số quả báo như các pháp thượng trung hạ, sang hèn, tốt xấu v.v… đều không có tự thể. Như nói nghiệp cùng phiền não không có tự thể, nên thân cũng không có tự thể. Do đấy, nên cho phiền não là nhân của nghiệp, nghiệp là nhân của thân, là đều không đúng. Lỗi đã nêu bày nay trở lại ở nơi ông, nên thí dụ được lập đều cũng không thành.

Lại nữa, người của A-tỳ-đàm nói: Trong đệ nhất nghĩa có nghiệp, có người thọ quả như thế. Ở đây nếu không tức không có sự thọ nhận kia. Ví như những vòng hoa nơi hư không. Nay có nghiệp nên có người thọ nhận quả. Nghĩa ấy là thế nào? Kệ của Luận nêu:

Bị vô minh che lấp

Bị kiết ái trói buộc

Nhưng tác giả nơi gốc

Chẳng một cũng chẳng khác.

Giải thích: Đối tượng đối trị của minh gọi là vô minh. Che lấp: Nghĩa là ngăn che mắt tuệ. Thế nào là danh? Danh nghĩa là chúng sinh. Do đâu gọi là chúng sinh? Nghĩa là hữu tình thường xuyên sinh khởi. Vì sao gọi là ái? Ái nghĩa là tham chấp. Chấp trước là kiết. Cùng với gì làm kiết? Nghĩa là trói buộc chúng sinh. Vì sao gọi là trói buộc? Nghĩa là cùng với tham v.v… tương ưng. Như trong Kinh Vô Thủy đã nói: Chúng sinh bị vô minh che lấp, bị kiết ái trói buộc, nên từ vô thủy qua lại trong sinh tử thọ nhận vô số khổ vui. Các chúng sinh như thế, tự tạo nghiệp ác bất thiện, trở lại tự thọ nhận quả báo bất thiện. Người thọ nhận quả của nghiệp ấy, tức là tác giả theo chỗ mong muốn của Tôi đạt được. Nhưng tác giả này không thể nói là một là khác, nên là có người thọ nhận quả. Do trong đệ nhất nghĩa có nghiệp kia. Luận giả nêu rõ: Ông đã nói như thế, nghĩa đều không đúng. Từ phần đầu của Luận này đến giờ, tất cả các pháp đều đã quán xét, không có quả từ duyên khởi, cũng chẳng không có quả từ duyên khởi. Do đấy nên nghĩa kia như kệ của Luận nói:

Nghiệp chẳng từ duyên sinh

Chẳng từ phi duyên sinh

Do nghiệp không tự Thể

Cũng không người khởi nghiệp.

Giải thích: Ở đây cho nghiệp cùng nghiệp không khởi có ba thứ: Một là nghiệp. Hai là quả báo. Ba là người nhận quả. Nay xét tìm thì nghiệp không khởi, nên tác giả cũng không khởi. Sự tạo tác cùng tác giả, trước đều đã ngăn trừ vì chúng không có thể thật. Như Tôi đã nói về phương tiện không có nghiệp cùng không có tác giả. Nghĩa ấy là thế nào? Như kệ của Luận nói:

Không nghiệp không tác giả

Sao có nghiệp sinh quả

Đã không có quả ấy

Sao có người thọ quả?

Giải thích: Do đấy nên ông nói trong đệ nhất nghĩa có nghiệp, có người thọ nhận quả, nghĩa ấy là không thành, cũng là trái với nghĩa của ông. Vì sao là trái? Tức trở lại là thế đế khiến vật được giải thích, lãnh hội.

Người của A-tỳ-đàm nói: Bác bỏ cho không có nghiệp không có quả, là lỗi của tà kiến, có thể gây chướng ngại cho mắt tuệ. Vị kia nói Trung Luận là kiến giải chân thật, là không đúng.

Luận giả nêu bày: Lời ông nói là sai trái. Nghĩa này là thế nào? Như Kệ của Luận nói:

Như Phật lực thần thông

Hiện tác hóa thân Phật

Ở trong khoảnh khắc ấy

Hóa thân lại khởi hóa.

Hóa thân Phật trước đó

Được gọi là tác giả

Hóa Phật được tạo sau

Đấy tức gọi là nghiệp.

Giải thích: Ở đây cho tác giả cùng với hóa tương tợ lần lượt theo duyên khởi, không có Thể của ngã. Nhưng nghiệp được tạo này, cũng như người hóa không có tự thể. Ví như hóa Phật lại khởi nơi hóa. Như vậy, sự việc nghiệp thân miệng đã tạo tác tuy không có thật, nhưng mắt có thể thấy. Nên nhận biết như thế. Phiền não gọi là ba độc, chín kiết, mười triền, chín mươi tám sử (tùy miên) có thể khởi ba nghiệp thân miệng ý. Phân biệt các thứ báo khổ, báo vui, báo không khổ không vui, thiện, bất thiện, vô ký của đời này đời sau, các nghiệp như thế mỗi mỗi đều là không. Nếu như có sự tạo tác, cũng không có tự thể. Nghĩa ấy là thế nào? Như kệ của Luận nói:

Nghiệp, phiền não cũng thế

Tác giả cùng quả báo

Như thành Càn-thát-bà

Như huyễn, như dợn nắng.

Giải thích: Ở đây cho nghiệp v.v… từ nhân duyên hòa hợp sinh, như huyễn hóa không thật, chỉ có thể mắt thấy, là ở trong thế đế có, chẳng phải là đệ nhất nghĩa.

Lại nữa, muốn đạt được nẻo thiện cùng muốn chứng đắc Niếtbàn, cũng là chỗ nêu giảng của thế đế. Như ông cho Tôi bác bỏ, không có nghiệp quả, là lỗi của tà kiến, thì lỗi cũng là vô thể.

Người của A-tỳ-đàm nói: Vị kia tuy muốn được ở trong thế đế có tất cả pháp, nhưng trong đệ nhất nghĩa thì phỉ báng, cho là không có tất cả pháp, tức trở lại không tránh khỏi lỗi.

Luận giả nêu rõ: Như kệ trong kinh nói:

Có Thể đã chẳng thành

Không Thể cũng chẳng thành.

Lại như kệ của kinh nói:

Có tức là thường kiến

Không tức là đoạn kiến

Vì thế có cùng không

Người trí chẳng nên dựa.

Ông nói bác bỏ cho không có nghiệp quả, Tôi không muốn như thế. Do đấy nên ông trước cho là Tôi không tránh khỏi lỗi, nhưng Tôi không có lỗi ấy. Lại nữa, ông nghe nói trong đệ nhất nghĩa, các thể không có tự thể. Quả của nghiệp cùng quả của nghiệp hợp, tác giả cùng người nhận đều không, không có tự thể, nhưng cho trụ nơi phạm hạnh là hư dối, hoàn toàn không đạt được gì, là tâm ngu si. Vì nhằm mở bày chỉ rõ về chướng ngại của ngu tối, nên cho nghiệp v.v… là có, tức để khiến vật được giải thích lãnh hội. Giải thích, lãnh hội như thế nào? Nghĩa là giải thích, lãnh hội, như sự việc Đức Phật dùng lực thần thông hiện tác góa Phật v.v…

Phần đầu của Phẩm này, đã cùng với Ngoại nhân nêu bày về lỗi, tức dùng nghĩa quả của nghiệp không có tự thể, khiến chúng sinh hiểu rõ, là ý nghĩa của phẩm. Thế nên, như nơi kinh Phạm Vương Sở Vấn nói: Phật nói với Phạm vương: Nếu không nghiệp không quả, tức là Bồ-đề. Bồ-đề như thế là không nghiệp không quả. Người đạt được Bồ-đề cũng không nghiệp không quả. Người kia được thọ ký cùng chủng tánh Thánh cũng lại như vậy. Nếu không nghiệp không nghiệp báo, thì chủng tánh Thánh kia cũng không thể khởi các nghiệp thân miệng v.v…

Lại nữa, như trong Phẩm Quán Về Duyên Khởi nói: Thể của các vật hiện có đều không có tự tánh, đã ngăn trừ làm rõ mắt v.v… chẳng phải là xứ khác, cùng có như tự tại v.v… Vì sao? Vì mắt v.v… không từ các duyên đỏ trắng sinh khởi. Các duyên cũng không thể sinh khởi nhãn nhập v.v… Cũng như nơi Phẩm Quán Về Bản Tế đã ngăn trừ làm rõ sinh tử nơi bản tế là không có tự thể, như không có đầu thứ hai, không thể nói đầu mắt thứ hai có bệnh. Như kệ của Phẩm Quán Về Hành nói:

Đại Thánh nói nghĩa không

Khiến lìa các kiến chấp

Nếu lại chấp có không

Chư Phật không thể độ.

Đây là ngăn trừ các kiến chấp cùng phiền não như vô minh v.v… nên nói là không. Nếu lại chấp về không thì làm sao có thể hóa độ? Cũng như dùng nước để cứu lửa cháy. Nếu trong nước có lửa bốc cháy, thì không thể cứu. Như trong Phẩm Quán Về Khổ đã ngăn trừ, làm rõ bốn nghĩa của khổ là không thành, cũng ngăn trừ, làm rõ bốn nghĩa của muôn vật bên ngoài là không thành. Vì sao? Vì khổ không gọi là pháp tự tạo pháp không tự tạo, do không có tự thể, nên sao có người tạo khổ. Nếu nói có ngã pháp đều là tướng khác, nên biết người ấy không đạt được pháp vị. Nếu nói các pháp là thiện, là bất thiện, là vô ký, là hữu lậu vô lậu, là hữu vi vô vi v.v… có sai biệt, thì người ấy ở trong pháp tịch diệt thâm diệu, là không có được nghĩa lợi.

Như trong Phẩm Bản Trụ đã ngăn trừ, làm rõ Bản trụ là không thể thủ đắc. Cũng ngăn trừ những hý luận phân biệt về ba đời có không. Do đấy nên các pháp tức không. Như trong phần tạo tác – tác giả, nói:

Quyết định có tác giả

Nghiệp quyết định không tạo

Quyết định không tác giả

Nghiệp không định không tạo.

Vì sao? Vì nghiệp quyết định không tạo tác, là nghiệp không tác giả, như dao không tự cắt, ngón tay không tự tiếp xúc. Do đấy nên nhất định tác giả không tạo tác. Tác giả cũng không tạo nghiệp. Như thế là trước sau đều cùng không thể đạt được.

Lại nữa, nếu các pháp là không tạo tác v.v… tức không có tội phước. Tội phước cùng không nên quả báo của tội phước cũng không. Nếu không có quả báo của tội phước thì cũng không có Niếtbàn. Do nghĩa ấy, nên ở trong thế đế nói có các nghiệp – chẳng phải là đệ nhất nghĩa. Như sự việc đã thấy trong mộng, không nên nhân đấy vọng sinh ưu hỷ. Như các thứ huyễn tạo là không có Thể thật. Như thành Càn-thát-bà, lúc mặt trời mọc thì hiện ra, chỉ dối gạt mắt người, vì không có thật.

Như Đức Phật nói với các Tỳ-kheo: Sinh tử không biên vực. Các phàm phu không hiểu rõ về chánh pháp, nên vì họ thuyết giảng sinh tử là dài xa. Lại như Đức Thế Tôn nói: Các Tỳ-kheo, vì muốn dứt hết sinh tử, nên tùy thuận tu hành. Cũng như nơi Kinh Vô Thượng Y nói: Đức Phật vì thương xót thế gian trụ nơi chúng tranh luận về không nhân, nhân ác của tuệ loạn động, nên ở trong thế đế thuyết giảng có các pháp, có ta có người, có chúng sinh, có thọ mạng.

Lại nữa, Đức Phật Thế Tôn, thấy các chúng sinh kia sinh tử nối tiếp, chưa khởi pháp đối trị, nên thuyết giảng sinh tử là dài xa. Vì sao? Vì muốn dứt trừ hết biên vực của sinh tử ấy, nên kiến lập chúng sinh, đối với hành siêng năng tinh tấn khéo quán xét, hiểu rõ sinh tử kia cùng với Niết-bàn không có chút sai biệt có thể thủ đắc. Do đấy nên không có sinh tử cũng không có Niết-bàn.

Lại, như trong Phẩm Quán Về Duyên nói: Là trong tạo duyên không, trong chẳng phải duyên cũng không. Trong ấy đã ngăn trừ, làm rõ tạo tác là không thể thủ đắc. Cũng không cùng với duyên hợp để nói có tạo tác, là không đúng. Như trong Phẩm Quán Về Ba Tướng (Quán tướng hữu vi) đã ngăn trừ chấp về sinh khởi v.v… Nếu sinh v.v… không thành thì không có pháp hữu vi kia. Pháp hữu vi không nên sao có được vô vi? Lại như ngăn trừ về đi cùng người đi, nếu cho pháp đi tức là người đi, thì tác giả và tạo nghiệp tức là một. Nếu nói pháp đi khác với người đi, tức lìa người đi mà có pháp đi, cũng lìa pháp đi mà có người đi. Cả hai đều có lỗi. Như nơi Phẩm Quán Về Thánh Đế (Phẩm 24) cũng nói: Trong đệ nhất nghĩa, không là nghĩa vô thể. Như kệ nơi Phẩm ấy nói:

Chư Phật do như thế

Hồi tâm để thuyết pháp

Phật hiểu rõ pháp sâu

Chúng sinh không thể nhập.

Vì sao? Vì trong đệ nhất nghĩa không có chấp không. Nếu nói không là chấp trước nơi tướng. Như ngăn trừ trong kiến, là đã ngăn trừ bốn kiến chấp như biên kiến v.v… Nếu nói có biên, tức không có đời sau. Nếu nói không biên cũng không có đời sau. Vì sao? Vì trong đệ nhất nghĩa, các pháp là không. Như kệ nói:

Xứ nào nhân duyên nào

Người nào khởi các kiến?

Nếu nói có người khởi kiến, là không đúng. Như trong phần ngăn trừ về hợp, nói: Quả của vật không từ duyên hợp – chẳng hợp sinh. Do quả là không nên pháp hợp cũng không. Như ngăn trừ về thành hoại, có Thể không sinh Thể, cũng không sinh vô thể. Vô thể không sinh thể, cũng không sinh vô thể. Cũng phá chấp ba đời có không nối tiếp. Do các nghĩa ấy, nên biết như ngăn trừ, làm rõ buộc, mở không có tự thể. Do không có chúng sinh qua lại, ấm giới, các nhập, năm thứ suy tìm không có người qua lại. Vì thế nên trong đệ nhất nghĩa không nói lìa ngoài sinh tử riêng có Niết-bàn. Như kệ của Kinh Bảo Thắng nói:

Niết-bàn tức sinh tử

Sinh tử tức Niết-bàn

Nghĩa thật tướng như thế

Vì sao có phân biệt?

Như trong phần ngăn trừ về có không đã ngăn trừ các pháp hoặc có hoặc không. Nếu có người nói: Thấy có thấy không, thấy tự tánh tha tánh, tức là không thấy đạo lý chân thật. Như trong Kinh Kim Quang Minh, nói: Thể tướng của vô minh vốn tự không có, do nhân duyên vọng tưởng hòa hợp mà sinh. Thiện nữ nên quán các pháp như thế, thì xứ nào có người? Do chúng sinh bản tánh là vắng lặng không thật có.

Đã giải thích xong Phẩm Quán Về Nghiệp.

HẾT – QUYỂN 10

Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.