ẨN-TU NGẨU VỊNH
Hòa Thượng Thích thượng Thiền hạ Tâm
Như-Ý Giảng giải

 

TRĂNG in NƯỚC bích LÒNG THIỀN rạng,
GIÓ LỘNG non hồng Ý ĐẠO thanh.

Hòa Thượng Thích Thiền-Tâm

 

1.- Ẩn tu nào phải cố xa đời !
Mượn cảnh u-nhàn học đạo thôi !
Những thẹn riêng mình nhiều nghiệp chướng
Bốn ân còn nặng nghĩa đền bồi.

2.- Ẩn tu cảm xót biển trần-ai !
Sóng gió trầm luân mãi lạc loài
Thân khổ kiếp người muôn nỗi khổ !
Nghiệp đời vay trả, trả rồi vay !

3.- Ẩn tu hôm sớm niệm Di Đà
Lòng lặng mười muôn chẳng cách xa
Canh vắng giường thiền khi mãn định
Hoa sương cười nụ dưới trăng tà.

4.- Ẩn tu uổng tiếc bạn đồng hành !
Nói lý cao huyền đắm lợi danh !
Già, bịnh, đoạ sa, không phản tỉnh
Bóng câu mấy nỗi thoáng bên mành !

5.- Ẩn tu cõi tịnh nhẹ buông hồn !
Tưởng quán trời Tây nhớ Bảo-thôn
Ráng đỏ sắp đưa, vầng Nhật-lặn
Phất phơ tà áo gió hoàng hôn.

Kính thưa quý-vị !

Cách đây ít lâu, một hôm tôi sang thăm sức khỏe thầy tôi bảo, đêm RẰM vừa rồi sau thời khóa, THẦY bỗng ngẫu cảm viết luôn một mạch 108 BÀI VỊNH, mỗi bài 4 câu, trong ấy nói lược qua thời gian NHẬP THẤT trải qua, lấy đề mục là ẨN-TU.

Sau đó, thầy có chỉnh đốn lại đôi chút, nay nhân tiện đọc cho con nghe. Sau khi nghe xong, tôi xin phép ghi lại và muốn chuyển đọc cho các phật tử đến thăm nghe biết.

Thầy dạy: “ Điều ấy không nên vì người tu trong một lúc nào đó Tâm Thanh tịnh, bỗng nảy ra nhiều ý kiến cao siêu mới lạ nhưng phải liền gạt bỏ qua, nếu cứ ghi nhớ ý kiến hay ấy, tất Thành ra SỞ TRI CHƯỚNG, bởi Chân-Tâm là thể VÔ-TRI LINH-TRI, tuy không biết mà biết tất cả hoặc ngay khi trong lúc tâm thanh tịnh đó, hành giả có thể viết ra cả ngàn bài tụng một cách dễ dàng, song nếu chấp lấy danh từ cứ ưa viết mãi trong TÔNG MÔN gọi là thiền bịnh, giả lại cảnh giới người tu chỉ có người tu mới thấu đáo.”

Nên Thiền Huyễn có câu:

“Gặp hàng kiếm khách nên trình kiếm,
chẳng phải thi nhân chứ nói thi.”

Nếu con đọc ra, sợ e kẻ nói một đằng người nghĩ một nẻo, rồi thành ra việc thị phi mà thôi. Tôi thưa, con thấy trong QUY NGUYÊN TRỰC CHỈ ngài TÔNG BẢN khi ẩn trong núi có vịnh 100 bài thi gọi là “SƠN CƯ BÁCH VỊNH” việc ấy như thế nào?”

Thầy tôi đáp: So sánh sao được với TÔNG-BẢN ĐẠI SƯ, ngài là một bậc đại ngộ đã vượt con đường muôn dặm về đến quê nhà, còn thầy thì chỉ mới tập tễnh đi một vài bước. Ngài ví như người sáng mắt thấy toàn thể con HƯƠNG TƯỢNG, còn thầy ví như người mù rờ VOI, nói ra dẽ lạc lầm.

Câu chuyện đến đó rồi cũng tạm trôi qua, tuy nhiên có 5 , 3 PHẬT TỬ đến viếng thăm Than Thở Đã lâu lắm rồi không gặp mặt HÒA THƯỢNG, lại không nghe được lời nhắc nhở, trong tình thế đáng thương ấy, tôi có lén thầy trích đọc ra một vài đoạn, để an ủi họ.

Nay gần tới ngày CHUNG THẤT của THÂN MẪU bổn sư, tôi lại cố gắng một lần thứ ba xin thưa thêm. Bạch thầy: Thầy nói cuộc đời của thầy là ẩn-tu, ít hôm nữa là đến ngày chung thất cũng là ngày cuối cùng làm LỄ TRUY TIẾN bà về cõi Phật, con xin phép đọc mấy bài hôm trước cũng như thay lời tâm sự để GIÁC LINH bà thông cảm cảnh đời ẩn tu của thầy.

Thầy im lặng ý không muốn chấp nhận, nhưng cũng không nỡ Phủ Nhận lời xin của hàng đệ tử đã vì thân mẫu mình.

Tôi nghĩ thầy im lặng tức là tùy ý tùy duyên, nên hôm nay là cơ cảm để thầy có dịp tâm sự với Mẫu-Thân một lần sau rốt. Và đây xin đọc bài thứ nhất.

Tỳ-kheo-ni thích nữ PHƯƠNG-LIÊN

***

1.- Ẩn tu nào phải cố xa đời !
Mượn cảnh u-nhàn học đạo thôi !
Những thẹn riêng mình nhiều nghiệp chướng
Bốn ân còn nặng nghĩa đền bồi.

TẠI SAO PHẢI ẨN-TU?

Vì nếu không CHỨNG ĐẠO mà lại không được VÃNG SANH, tất phải đọa luân hồi. Khi luân hồi trong cõi ngũ trược, lại ở sâu vào thời mạt pháp đạo đức lần lần suy tàn này, nghiệp dữ dễ tạo, duyên lành khó tu, kết cuộc vẫn phải đọa trong ba đường ác.

Cho nên sống chết là vấn đề lớn lao, mà những vị tu hành quyết cầu giải thoát đều phải thao thức.

Ngài Bát Chỉ Đầu Đà, một bậc cao tăng cận đại bên Trung Hoa, khi còn trẻ chưa xuất gia, thấy những đóa hoa héo rụng trước nhà, liền suy tư rơi lệ. Đó là vì ngài có trí huệ, biết ý thức sâu đến sự sống chết của kiếp người.

Một mảnh phương tâm không chỗ gởi.
Giàn hoa chầm chậm ánh trăng soi.

Có thể mượn hai câu này, để diễn tả tâm trạng người tu với mối tư lương thao thức ấy.

TẠI SAO PHẢI KIẾT-THẤT?

Kiết thất hay đả thất, ý nghĩa cũng không xa. ĐẢ THẤT là dụng công trong bảy ngày. Chữ “đả” rút từ nguyên ngữ “đả thành nhứt phiến”, nghĩa là: đánh cho thành một khối tịnh niệm. Đả thất niệm Phật, có khi nhiều người đồng tu, hoặc chỉ một người cho dễ được thanh tịnh. Người đả thất chuyên tu, phải có ba bậc thiện tri thức.

1. Giáo Thọ Thiện Tri Thức: – Đây là một vị thông hiểu Phật pháp và có kinh nghiệm về đường tu để thường chỉ dạy mình; hay mình đến thỉnh giáo trước và sau khi kiết thất. Trong trường hợp nhiều người đồng đả thất, nên thỉnh vị giáo thọ này làm chủ thất, mỗi ngày đều khai thị nửa giờ hoặc mười lăm phút.

2. Ngoại Hộ Thiện Tri Thức: – Đây là một hay nhiều vị ủng hộ bên ngoài, lo việc cơm nước quét dọn, cho hành giả được yên tu. Theo thông từ, vị này thường được gọi là “người hộ thất.”

3. Đồng Tu Thiện Tri Thức: – Đây là những người đồng tu một môn với mình, để nhìn ngó sách tấn lẫn nhau. Vị đồng tu này có thể là người đồng kiết thất chung tu, hoặc có một ngôi tịnh am tu ở gần bên mình. Ngoài sự trông nhìn sách tấn, vị đồng tu còn trao đổi ý kiến hoặc kinh nghiệm, để cùng tiến bước nhau trên đường đạo. Lời tục thường nói: “Ăn cơm có canh, tu hành có bạn” là ý nghĩa này.

NGÀI SƠN KỲ, một bậc thạc đức bên Thiền Tông đã dạy: “Bản sắc người tu, là phải lấy mười phương làm đạo tràng viên giác, không cuộc hạn sự kiết kỳ dài ngắn. Nếu một năm không tỏ ngộ thì tham đến mười năm; mười năm không tỏ ngộ, tham cứu hai hoặc ba mươi năm, cho đến trọn đời, trước sau không dời đổi.” Người niệm Phật cũng thế.

Đả thất là phương tiện để cho mau được nhứt tâm; nếu một kỳ chưa nhứt tâm, nên kiết thất nhiều kỳ, chí tiến tu không hề thối chuyển.

Ẩn tu nào phải cố xa đời!
Mượn cảnh u-nhàn học đạo thôi!

Lại sự ĐỘ SANH phải TỰ ĐỘ trước, rồi mới đủ phương tiện để ĐỘ THA, chỉ có ĐỨC PHẬT mới được gọi là GIÁC HẠNH VIÊN MÃN.

NHƯ Ý:

THẬT-HIỀN đại-sư than, “ÁO NÃO TỪ THÂN ĐA NGHIỆP CHƯỚNG.” Dịch, Buồn thương thân mình nhiều nghiệp chướng, đại-sư còn tự trách thế, hàng hậu học cũng nên tự kiểm lại.

ÁO NÃO TỪ THÂN ĐA NGHIỆP CHƯỚNG: là đã tạo thập-ác, ngũ-nghịch, báng pháp, báng người, phá giới phạm trai, hủy hoại chùa tháp, trộm của tăng-kỳ, bức người tịnh-hạnh, xâm tổn thường-trụ, đồ vật thức ăn, dù ngàn Phật ra đời, khó bề sám hối.

Những tội như thế, không lường không ngằn, khi bỏ báo thân, phải đọa tam-đồ, chịu vô-lượng khổ.

Những thẹn riêng mình nhiều nghiệp chướng

4 TRỌNG ÂN

1) Ân Phật tổ
2) Ân Thầy bạn, Thiện tri thức
3) Ơn cha mẹ dưỡng dục Sinh Thành
4) Ân đàn-việt và chúng sanh hỗ trợ

Bốn ân còn nặng nghĩa đền bồi.

Con nguyện lâm chung không chướng ngại.
A-Di-Đà đến rước từ xa.
Quán-Âm cam lồ rưới nơi đầu.
Thế-Chí kim đài trao đỡ gót.

Trong một sát-na lìa ngũ-trược.
Khoảng tay co duỗi đến liên-trì.
Khi hoa sen nở thấy Từ-Tôn.
Nghe tiếng pháp sâu lòng sáng tỏ.

Nghe xong liền CHỨNG Vô-Sanh-Nhẫn.
Không rời An Dưỡng lại Ta-Bà.
Khéo đem phương tiện lợi quần sanh
Hay lấy trần-lao làm Phật-sự,
Con nguyện như thế Phật chứng tri.
Kết cuộc về sau được thành-tựu.

Nam-mô Tây-phương Cực-Lạc thế-giới, đại-từ, đại-bi tiếp dẫn đạo sư A-DI-ĐÀ-PHẬT. (1 lần)

Nam-mô A-DI-ĐÀ Phật

(Tùy ý, hoặc 1 ngàn câu trở lên)

***

2.- Ẩn tu cảm xót biển trần-ai !
Sóng gió trầm luân mãi lạc loài
Thân khổ kiếp người muôn nỗi khổ !
Nghiệp đời vay trả, trả rồi vay !

Chúng sanh hết kiếp này sang kiếp khác sống chết luân hồi, xuống lên trong sáu cõi. Đó là: cõi trời, cõi người, cõi A Tu La, cõi bàng sanh, cõi ngạ quỷ, và cõi địa ngục.

BÁT KHỔ tuy các loài khác cũng có ít nhiều, nhưng nó là trọng tâm của nỗi khổ ở CÕI NGƯỜI.

1. SANH
2. GIÀ
3. BỊNH
4. CHẾT
5. THƯƠNG XA LIÀ
6. OÁN GẶP GỠ
7. MONG CẦU KHÔNG TOẠI Ý
8. NGŨ ẤM THẠNH,

NGŨ ẤM THẠNH, tức sự khổ về năm ấm hừng thạnh. Năm ấm là: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. SẮC ấm thuộc về THÂN, bốn ấm kia thuộc về TÂM. Nói một cách đơn giản: Đây tức là sự khổ về thân, tâm.

Điều thứ tám này bao quát bảy món khổ trước: THÂN thì sanh, già, bịnh, chết, đói, khát, nóng, lạnh, vất vả nhọc nhằn; TÂM thì buồn, giận, lo, thương, trăm điều phiền lụy.

CÕI TRỜI tuy vui vẻ hơn nhơn gian, nhưng cũng còn TƯỚNG NGŨ SUY và những điều bất như ý.

1. HOA TRANG SỨC trên đầu héo tàn
2. Y PHỤC bị lấm bụi dơ
3. HAI NÁCH tiết ra mồ hôi
4. THÂN không còn mùi hương nữa
5. NGỒI ĐỨNG không yên

TƯỚNG NGŨ SUY là báo hiệu vị TRỜI ấy sắp mạng chung

CÕI A TU LA bị sự khổ về GÂY GỔ, tranh đua.

CÕI BÀNG SANH như loài trâu, bò, lừa, ngựa bị sự khổ CHỞ KÉO NẶNG NỀ. Loài dê, lợn, vịt, gà, thì bị sự khổ về BANH DA XẺ THỊT. Các loài khác chịu sự khổ về NGU TỐI; nhơ nhớp ĂN NUỐT LẪN NHAU.

Ở CÕI NGẠ QUỶ chúng sanh thân thể hôi hám xấu xa, bụng lớn như cái trống, cuống họng nhỏ như cây kim, miệng phực ra lửa CHỊU ĐÓI KHÁT trong ngàn muôn kiếp.

Còn CÕI ĐỊA NGỤC thì vạt dầu, cột lửa, hầm băng giá, non gươm đao, sự thống khổ KHÔNG THỂ TẢ XIẾT.

Bốn cõi rốt sau này, trong kinh gọi là Tứ Ác Thú. Từ cõi A Tu La, theo chiều xuống, nỗi khổ ở mỗi cõi cứ tuần tự gấp bội hơn lên. Trong sáu cõi, chúng sanh sống chết xoay vần hết nơi này đến nơi kia, như bánh xe chuyển lăn không đầu mối. Đại khái sanh lên CÕI TRỜI CÕI NGƯỜI thì khó và ít, đọa xuống Tứ Ác Thú rất dễ và nhiều. Người xưa đã than:

Lục đạo xoay vần không mối hở.
Vô thường xô đến vạn duyên buông!

NHƯ Ý:

TAM KHỔ

1) Hành-khổ là sự vô thường biến đổi làm cho chúng ta GIÀ, rồi CHẾT xoay vần trong vòng luân hồi sanh tử

2) Hoại-khổ là có được rồi BỊ MẤT nên buồn khổ

3) Khổ-khổ là đã không có NHÀ ở, lại không có CƠM ăn…

Ba điều khổ này bao gồm muôn nỗi khổ, nên cổ đức than: “TÚC TRÁI DỊ HOÀN CẢNH TẠO TÂN TRÁI”. Dịch, Nợ cũ trải chưa xong lại vay thêm nợ mới. Chúng sanh vì thế mà cứ sống chết luân hồi.

Nhìn gẫm đường trần đầy khổ nhọc
Lòng tưởng Tây Phương cõi Thiên Trúc (cõi PHẬT A-DI-ĐÀ)
Đầu non trăng sáng tiếng chuông ngân
Canh khuya cầm quyển Lăng Nghiêm đọc.

Tại sao người tu TỊNH ĐỘ phải tụng CHÚ LĂNG NGHÊM, học KINH LĂNG NGHIÊM?

Là vì còn có người tụng CHÚ LĂNG NGHIÊM, học KINH LĂNG NGHIÊM, thì CHÁNH PHÁP còn trụ ở đời, tất nhiên KINH-VĂN tịnh độ sẽ không bị ẩn diệt.

***

3.- Ẩn tu hôm sớm niệm Di Đà
Lòng lặng mười muôn chẳng cách xa
Canh vắng giường thiền khi mãn định
Hoa sương cười nụ dưới trăng tà.

NHƯ Ý:

Ý nghĩa “TỨC TÂM TỨC ĐỘ”, 10 phương quốc độ không ngoài TÂM TA, tâm ta chính là 10 phương quốc độ, cõi CỰC-LẠC tuy cách TA-BÀ 10 muôn ức Phật độ, nhưng khi niệm phật được THANH TỊNH thì tâm ta dung hòa Mười Phương cõi nước. Miền cực lạc chẳng cách rời gang tấc.

Khi chúng ta, nhiếp cả 6 căn tịnh niệm nối luôn thì vào được TAM-MA-ĐỊA. Tức là TÂM ta đã THANH TỊNH, thì Y-BÁO và CHÁNH-BÁO ở miền CỰC-LẠC chẳng cách rời gang tất.

KINH-VĂN:

“ Nếu tâm chúng-sinh nhớ Phật, tưởng Phật, thì hiện nay hay về sau, nhất-định thấy Phật; cách Phật không xa thì không cần phương-tiện, tâm tự được khai-ngộ như người ướp-hương thì thân-thể có mùi thơm, ấy gọi là hương-quang-trang-nghiêm.”

Trích KINH THỦ LĂNG NGHIÊM
Ðại Thế Chí Bồ-tát Niệm Phật Viên Thông

VIÊN-THÔNG VỀ KIẾN-ĐẠI (THẤY PHẬT)

***

4.- Ẩn tu uổng tiếc bạn đồng hành!
Nói lý cao huyền đắm lợi danh!
Già, bịnh, đọa sa, không phản tỉnh
Bóng câu mấy nỗi thoáng bên mành!

NHƯ Ý:

Đây là căn bệnh chung của phần đông người tu, vì LÝ đạo tuy thế nhưng sự hành đạo và chứng đạo lại không phải dễ, bậc chân tu dù hiểu lý như KIÊM NHƯỜNG ít nói, thật hành chắc từng bước một, trái lại kẻ nói lý cao xa, dễ KHOE KHOANG và BÀI BÁC người khác, lời CHÂN KHÔNG mà hạnh chẳng được không, tất phạm khẩu nghiệp dễ bị sa đọa, nên cổ đức đã than trách rằng: “KHẨU ĐẦU THUYẾT ĐÁP THIÊN BANG DIỆU, KHƯỚC HẠ NAN LY NHẤT ĐIỂM TRẦN”. Dịch, Đầu mồm nói suốt trăm phần diệu. Dưới gót không ly một điểm trần!

Kinh nói:

“Chán bỏ công đức hữu vi là nghiệp ma. Tham trước công đức vô vi CŨNG là nghiệp ma.”

Cổ đức cũng bảo:

“Pháp hữu vi tuy huyễn, phế bỏ tất đạo nghiệp không thành. Pháp vô vi tuy chân, CHẤP LẤY thì huệ tánh chẳng rộng.”

Những lời này chứng minh rõ, trên đường tu, SỰ-LÝ không thể rời nhau.

Luận Trung Quán lại nói:

“Vì chúng sanh thông thường chấp trệ nơi hình thức nên kinh giáo mới dùng lý không để phá trừ. Nếu vừa lìa bịnh chấp có, lại rơi vào bịnh chấp không, tất chẳng còn thuốc gì chữa khỏi.”

Bởi lý CHƠN-KHÔNG Bát Nhã nghe cao siêu mầu nhiệm, nên hàng trí thức khi xem đến những loại kinh này, phần nhiều hay VƯỚNG VÀO chứng bịnh “nói lý”, việc gì cũng lý thuyết hóa, khinh thường những người hành trì theo sự tướng, gây thành lỗi ngã mạn tự kiêu. Miệng họ tuy nói không, nhưng HÀNH VI lại ở trong có, chính hợp với câu:

Đầu mồm nói suốt trăm phần diệu.
Dưới gót không ly một điểm trần!

Trích NIỆM PHẬT THẬP YẾU
Tiết 20 – Cần Phá Lối Chấp Nhị Biên

***

5.- Ẩn tu cõi tịnh nhẹ buông hồn !
Tưởng quán trời Tây nhớ Bảo-thôn
Ráng đỏ sắp đưa, vầng Nhật-lặn
Phất phơ tà áo gió hoàng hôn.

NHƯ Ý:

Đây là chỉ cho PHÉP NHẬT QUÁN, môn quán ban đầu trong THẬP LỤC QUÁN KINH, Bảo-thôn là làng quê thanh tịnh báo đẹp, Ý nói CỰC-LẠC do trăm ngàn THỨ BÁO hình thành.

PHÉP NHẬT QUÁN

1. Quán Mặt Trời Sắp Lặn

KINH-VĂN:

Đức Phật bảo: “Vi Đề Hy! Ngươi và chúng-sanh nên chuyên tâm, buộc niệm một chỗ, để tưởng cảnh-giới tây-phương. Phương-pháp quán-tưởng ấy như thế nào ? Phàm tất cả những người, nếu không phải bị mù từ lúc sơ sanh, đều thấy MẶT TRỜI LẶN.

Vậy ngươi nên ngồi ngay thẳng, hướng về phương tây, tâm chú định một chỗ không được di động, rồi quán tưởng mặt trời sắp lặn hình như cái trống treo. Khi đã thấy hình tướng ấy, phải chú tưởng cho thuần thục, làm sao lúc NHẮM MẮT MỞ MẮT đều được thấy rõ ràng.

Môn NHẬT QUÁN này là phương pháp quán tưởng thứ nhứt.

SỚ-GIẢI:

Câu “Vi Đề Hi! ngươi và chúng sanh” là lời trân trọng khuyến nhủ của đức Phật, ý bảo: Nếu Vi Đề Hy phu nhơn cùng chúng sanh muốn lìa biển trần lao, lên bờ giải thoát, phải chú tâm nghe, suy nghĩ, và tu tập theo phương pháp sau đây:

Môn quán thứ nhất “tưởng mặt trời sắp lặn” có ba thâm ý:

1. Tâm ý chúng sanh vẫn thường TÁN LOẠN, muốn thành tựu các phép quán vi diệu sau, trước phải tập trung tư tưởng để lần lần đi sâu vào thâm định.

2. Cõi Cực Lạc ở phương tây, đức Phật muốn cho hành giả tâm niệm KHUYNH-HƯỚNG về Tây phương, để sự vãng sanh được thành tựu. Theo Kinh Vô Lượng Thọ thì nếu kẻ nào dùng tâm NGHI-NGỜ tu công đức tịnh độ, tất sẽ lạc vào BIÊN-ĐỊA cõi Tây phương và có thể bị đọa trở lại kiếp thai sanh. Vì thế cổ đức cho đây là phương tiện phá nghi và KIÊN CỐ thêm niềm tin Cực Lạc.

3. Để cho hành giả TỰ BIẾT nghiệp chướng mình nhẹ hay nặng mà chuyên tâm sám hối.

Theo Thiện Đạo đại sư, vị tổ thứ hai của Tịnh độ tông, thì người muốn trụ tâm nơi NHẬT QUÁN, trước phải lựa chỗ THANH VẮNG NGỒI KIẾT-DÀ, tuần tự giữ đúng theo pháp ĐIỀU THÂN VÀ ĐIỀU TỨC.

(Khi thân đã nghiêm chỉnh rồi (ĐIỀU THÂN), lúc bấy giờ hành giả mới bắt đầu thở ra nhẹ nhàng nhưng cho dài (ĐIỀU TỨC), Tâm nghĩ tất cả Ô TRƯỢC trong thân đều theo KHÔNG KHÍ ra ngoài hết. Đến khi hít vô, cũng phải nhẹ nhành cho dài, Tâm nghĩ tất cả THANH TỊNH ở bên ngoài đều vào trong THÂN hết.

Làm như vậy 2,3 lần hay 5,7 lần nếu cần cho THÂN-TÂM được khoan khoái thanh tịnh.)

Kế đó lại tưởng tứ đại nơi thân mình, ĐỊA đại tan về phương tây, THỦY đại tan về phương bắc, PHONG đại tan về phương đông, HỎA đại tan về phương nam, cho đến không còn một mảy trần.

Lại tưởng KHÔNG đại của thân dung hợp với hư không mười phương, khắp các nơi toàn là hư không, chẳng còn một điểm trần nào.

Xong, lại tưởng NĂM đại của tự thân đều không, duy còn có THỨC đại ngưng đọng lặng trong, dường như mặt gương toàn sáng.

Sau khi trải qua các phương tiện trên, LOẠN TƯỞNG được tiêu trừ, tâm lần lần an định.

Rồi mới từ từ XOAY TÂM hướng về phương Tây quán kỹ tướng mặt trời sắp lặn.

Nếu là bậc thượng căn, thì khi khởi quán, liền thấy tướng mặt trời lặn hiện ra, đang khi cảnh hiện, hành giả hoặc thấy vầng nhật như ĐỒNG TIỀN lớn, hoặc như MẶT GƯƠNG tròn to.

Cứ nơi HIỆN TƯỚNG ấy mỗi người tự thấy nghiệp chướng mình nặng hay nhẹ. Các tướng nghiệp ấy như sau:

1. HẮC chướng, như mây đen che mặt trời.
2. HOÀNG chướng, như mây vàng che mặt trời.
3. BẠCH chướng như mây trắng che mặt trời.

Đại để như khi mặt nhật bị các thứ mây khói che thì hình tướng không hiển lộ; khi tâm chúng sanh BỊ NGHIỆP CHE, tất quán cảnh không được sáng lặng rõ ràng.

Nếu thấy biết nghiệp tướng của mình, hành giả phải sửa sang đạo tràng cho nghiêm sạch, rồi chí tâm sám hối, kỳ chừng nào nghiệp tiêu hết mới thôi.

Lúc tâm được THANH TỊNH, tướng mặt nhật hiện ra SÁNG SUỐT RÕ RÀNG, hành giả cũng đừng sanh tâm chấp trước.

Nếu khởi TÂM tham chấp, nhật tướng sẽ RUNG ĐỘNG, hoặc mờ ám, hoặc biến đổi thành nhiều màu, tự tâm mình cũng không yên.

Phải dứt tâm THAM TRƯỚC, nhiếp tâm vào định, các tướng ấy sẽ mất. sự tà, chánh, ĐẮC, THẤT của các môn quán sau cũng đồng như đây. Đại để như quán mặt trời thấy mặt trời, TÂM CẢNH SÁNG LẶNG TƯƠNG ƯNG, gọi là CHÁNH QUÁN. Nếu quán mặt trời thấy các hình tướng tạp, tâm cảnh rối động không tương ưng là tà quán.