67. Sáu Vị Tổ

67. Sáu Vị Tổ

Thiền Sư Thần Hội Giảng Giải
Hòa Thượng Thích Thanh Từ dịch và giảng

 

Đời Thứ 1 Bồ-Đề-Đạt-Ma

CHÁNH VĂN:

(50) Đời thứ nhất, thời Hậu Ngụy ở chùa Thiếu Lâm, núi Tung Sơn, có vị Tăng Bà-la-môn, tên Bồ-đề-đạt-ma, là con thứ ba Quốc vương Nam Thiên Trúc. Xuất gia lúc còn nhỏ, ngộ pháp Tối thượng thừa, ở nơi các chánh định chứng Như Lai thiền. Theo thuyền vượt biển, từ xa qua đến đất Hán, liền gặp Huệ Khả. Tổ Huệ Khả theo Đại sư Đạt-ma đến chùa Thiếu Lâm ở Tung Sơn, hầu hạ hai bên.

GIẢNG:

Trong phần nhắc lại sử của Tổ, vì là hỏi đáp nên có vài chỗ, chúng ta phải xét lại cho rõ ràng hơn.

Trong đây nói Tổ Đạt-ma là Tăng Bà-la-môn, chớ không phải Tăng Phật, chỗ này dễ hiểu lầm. Bởi vì cha Tổ Đạt-ma là Vua dòng Bà-la-môn, nên Ngài ngộ đạo theo Phật nhưng dòng họ vẫn là dòng Bà-la-môn, chớ không phải dòng họ Thích. Đừng nghe nói Tăng Bà-la-môn rồi ta tưởng Ngài truyền đạo Bà-la-môn.

CHÁNH VĂN:

Một đêm, Tổ Huệ Khả đến đứng trước Đại sư Đạt-ma, tuyết rơi đến thắt lưng, Tổ vẫn đứng yên không dời chỗ. Đại sư trông thấy bảo:

– Ông vì việc gì đến đứng trong tuyết?

Tổ Huệ Khả bạch với Đại sư:

– Hòa thượng từ phương Tây xa xôi đến đây, ý muốn nói pháp để tế độ người. Con không ngại tổn hại thân mạng, chí cầu pháp thù thắng, cúi xin Hòa thượng đại từ đại bi khai Phật tri kiến, cứu khổ chúng sanh, dẹp nạn cho chúng sanh, đó là sở nguyện vậy.

Đại sư Đạt-ma bảo:

– Ta thấy người cầu pháp không kém cỏi như thế.

GIẢNG:

Ngài nói:

Ta thấy người cầu pháp không kém cỏi như thế.

Ý Tổ muốn bảo những người cầu pháp thù thắng không thể kém cỏi như ngài Huệ Khả, dùng một hạnh nhỏ như vậy mà cầu được. Câu này trong sử ghi là: “Ông dùng hành động nhỏ nhoi như vậy mà cầu pháp làm sao được.”

CHÁNH VĂN:

Huệ Khả tự lấy dao chặt cánh tay trái của mình, đặt trước Đại sư Đạt-ma. Đại sư do thấy Tổ Huệ Khả vì cầu pháp thù thắng, bỏ mạng quên thân, dụ như trên núi Tuyết xả thân để cầu nửa bài kệ. Liền bảo:

– Ông trước có hiệu là Thần Quang, nhân đây ta đặt tên gọi là Huệ Khả.

GIẢNG:

Vì bị Tổ quở là dùng hạnh nhỏ cầu pháp, nên ngài Huệ Khả chặt tay dâng lên để tỏ lòng thiết tha vì đạo. Bấy giờ Tổ mới khen: Ông vì cầu pháp thù thắng mà bỏ mạng quên thân, như một vị ở trên núi Tuyết vì cầu nửa bài kệ mà xả thân. Do đó Tổ đổi tên ngài là Thần Quang thành Huệ Khả.

CHÁNH VĂN:

Đại sư bèn y theo kinh Kim Cang Bát-nhã nói Tri kiến Như Lai, trao truyền cho Tổ Huệ Khả. Huệ Khả qua lời chỉ dạy đã được pháp yếu. Sư liền truyền ca-sa để làm pháp tín, như Phật thọ ký cho Long vương nữ ở Ma Kiệt.

GIẢNG:

Câu chuyện ở đây cũng hơi lạ. Trong sử kể giai thoại đối đáp giữa hai thầy trò, là ngài Huệ Khả thưa: “Tâm con không an, xin Hòa thượng dạy con pháp an tâm.” Khi đó Tổ bảo: “Đem tâm ra ta an cho.” Ngài tìm tâm một hồi không được, liền nói: “Con tìm tâm không được.” Tổ bảo: “Ta đã an tâm cho ngươi rồi.” Câu chuyện đối đáp rõ ràng như thế, nhưng ở đây có lẽ Ngài chỉ toát yếu thôi nên quá đơn giản.

Đại sư bèn y theo kinh Kim Cang Bát-nhã nói Tri kiến Như Lai, trao truyền cho Tổ Huệ Khả.

Chỗ này trong sử không nói y kinh Kim Cang Bát-nhã, tại sao Ngài lại nói? Bởi vì Tri kiến Như Lai mọi người sẵn có, tại sao không hiển lộ? Vì chúng ta mê chấp tâm thật, cảnh thật. Từ đó đuổi theo cảnh, dính mắc mãi mà phải trầm luân sanh tử.

Tổ bảo đem tâm ra ta an cho, để Ngài phản quan thấy tâm mình không thật. Bình thường nó dấy chạy, dính mắc đủ thứ, nhưng tìm lại mất tiêu. Phản quan là dùng Trí tuệ Bát-nhã soi trở lại mình. Tâm vọng đã mất thì cái gì dính với cảnh? Thường thường chúng ta chiếu kiến ở ngoài, thấy sáu căn không thật, sáu trần không thật. Căn trần còn có hình tướng, song gốc của nó từ nội tâm dấy niệm chạy theo cảnh. Nếu nội tâm không thật, nó lắng yên rồi thì còn chạy theo cảnh không? Không chạy theo cảnh, đó là Trí tuệ kim cang. Trí tuệ kim cang tức là Tri kiến Phật.

Vì vậy Ngài chỉ thẳng kinh Kim Cang Bát-nhã nói Tri kiến Như Lai, tức là lấy ý trong kinh Kim Cang để phá tất cả những niệm chấp. Niệm chấp hết tức là thấy được Tri kiến Phật, sống được Tri kiến Phật, ví dụ như Long nữ được Phật thọ ký v.v…

CHÁNH VĂN:

Đại sư bảo:

– Một quyển kinh Kim Cang, thẳng đó liễu ngộ thành Phật. Người sau các ông, nương theo quán môn Bát-nhã tu học. Chẳng theo một pháp, liền là Niết-bàn, thân tâm chẳng động, thành Vô thượng đạo.

GIẢNG:

Tổ Đạt-ma dạy:

Một quyển kinh Kim Cang, thẳng đó liễu ngộ thành Phật. Người sau các ông, nương theo quán môn Bát-nhã tu học.

Tức là dùng Trí tuệ Bát-nhã tu học.

Chẳng theo một pháp, liền là Niết-bàn, tức là không dính không kẹt pháp nào hết. Lúc tâm không có niệm thì không sanh diệt, mà không sanh diệt là Niết-bàn.

Thân tâm chẳng động, thành Vô thượng đạo.

Thân và tâm đều không vướng mắc, không bị kẹt gì hết, đó là thành đạo Vô thượng.

CHÁNH VĂN:

Đại sư Đạt-ma tiếp dẫn đạo tục, trải qua sáu năm. Lúc ấy có nạn khởi, sáu lần bị thuốc, năm lần ăn xong đều đào đất cho ra. Đại sư bảo Tổ Huệ Khả:

– Ta cùng đất Hán hết duyên, về sau ông cũng không khỏi nạn này. Đến sau đời thứ sáu, người truyền pháp mạng như chỉ treo. Các ông khéo ở đời.

 Đại sư nói xong liền thiên hóa, nhục thân táng ở Tung Sơn. Lúc ấy Tống Vân đem lễ vật đi sứ, đến núi Thông Lãnh gặp một vị Hồ tăng, một chân mang dép, một chân đi chân không, nói với Tống Vân:

– Thiên tử nhà Hán của ông, ngày nay vô thường.

Tống Vân nghe nói hết sức kinh ngạc, ghi nhớ kỹ ngày tháng gặp Sư. Tống Vân hỏi Đại sư Đạt-ma:

– Ngài hành hóa ở đất Hán, có người tin nhận không?

Đại sư Đạt-ma bảo:

– Sau hơn bốn mươi năm, có người ở đất Hán, sẽ hoằng pháp của ta.

Tống Vân về đến triều đình yết kiến nhà vua. Vua đã băng hà, ông đem ngày tháng đã gặp vị Hồ tăng nghiệm xét, đều không sai khác. Tống Vân đến nói với trăm quan triều đình. Lúc đó, ở trong triều đình cũng có vài mươi người là môn đồ Đại sư Đạt-ma, cùng nói:

– Đâu chẳng phải là Hòa thượng của chúng ta ư?

Họ bèn cùng nhau đào mộ mở quan tài, không thấy Pháp thân, chỉ thấy còn lại một chiếc dép trong quan tài. Cả nước mới biết là Thánh nhân. Chiếc dép kia, ngày nay thấy thờ ở chùa Thiếu Lâm. Lương Võ Đế làm văn bia thấy ở chùa Thiếu Lâm.

GIẢNG:

Đó là một việc. Nhưng ở đây còn một nghi vấn. Chúng ta đọc sử thấy Tổ Đạt-ma chỉ trao cho Tổ Huệ Khả bốn quyển kinh Lăng-già, chớ không nói kinh Kim Cang. Đến vị Tổ thứ năm là Tổ Hoằng Nhẫn thì dạy môn đồ tụng kinh Kim Cang. Do đó Tổ Huệ Năng gánh củi đi bán, nghe người ta tụng kinh Kim Cang mà Ngài ngộ. Như vậy Tổ thứ năm và Tổ thứ sáu mới liên hệ tới kinh Kim Cang. Còn ba vị Tổ trước không nghe nói, chỉ có đối đáp thôi.

Với cái nhìn của ngài Thần Hội, từ trước tới sau Thiền tông chung một hệ thống là truyền bá kinh Kim Cang. Đó là điều hơi lạ, nhưng có lý. Nếu chỉ riêng Tổ Huệ Năng ngộ kinh Kim Cang, còn những Tổ trước không ai truyền, thì ta có thể nghi. Nhưng rõ ràng Tổ thứ năm cũng lấy Kim Cang làm gốc, nên có thể Tổ thứ tư cũng vậy. Vì chư Tổ đều có một hệ thống. Qua đó chúng ta thấy kinh Kim Cang đối với Thiền tông rất là thiết yếu.

Ngài Đạt-ma khi truyền Thiền sang Trung Hoa, sáu lần bị thuốc độc. Năm lần Ngài đào đất ụa ra hết, tới lần thứ sáu biết hết duyên nên Ngài đi. Tại sao người đắc đạo truyền pháp mà lại còn bị thị phi lắm vậy? Bởi vì trước Ngài, tất cả những vị truyền pháp sang Trung Quốc đời vua Hán Minh Đế, đều truyền kinh như Tứ Thập Nhị Chương, Di Giáo… Người Trung Quốc quen học kinh để hiểu Phật rồi, bây giờ Ngài chỉ thẳng tâm bất kể kinh luận, dĩ nhiên người ta nghĩ là tà. Do vậy họ phải tiêu diệt vì sợ tà giáo truyền bá trong đạo Phật.

Nhưng tiêu diệt được không? – Không được. Tiêu diệt người này, người kia nổi lên, để thấy rằng pháp chân thật thì dù ai có ác ý hại, hại cũng không được.

Đời Thứ 2 Huệ Khả

CHÁNH VĂN:

(51) Đời thứ hai là Đại sư Huệ Khả ở Bắc Tề. Sau nương với Đại sư Đạt-ma. Sư tục tánh họ Chu, người Võ Hán. Lúc bốn mươi tuổi phụng thờ Đại sư Đạt-ma trải qua chín năm. Sư nghe nói kinh Kim Cang Bát-nhã Ba-la-mật, ngay đó chứng Như Lai thật không có pháp tức là Phật. Bồ-đề lìa tất cả pháp, ấy gọi là chư Phật.

Được thọ ký rồi. Gặp thời Châu Võ Đế diệt Phật pháp, Sư bèn ẩn ở Hiện Sơn Thư Châu. Sau khi Đại sư Đạt-ma tịch, trải qua hơn bốn mươi năm, Sư trùng khai pháp môn, tiếp dẫn quần sanh. Lúc đó, Thiền sư Xán phụng thờ, từ đầu đến cuối trải sáu năm. Sư y kinh Kim Cang nói Tri kiến Như Lai, Thiền sư Xán ngay lời nói liền ngộ, thọ trì đọc tụng kinh này, tức là Tri kiến Như Lai, thầm nhận mặc ngữ để làm pháp khế. Sư truyền y ca-sa để làm pháp tín, giống như ngài Văn-thù-sư-lợi thọ ký cho Thiện Tài. Đại sư Huệ Khả bảo Thiền sư Xán rằng:

– Ta trở về Nghiệp Đô trả nợ cũ!

Sư bèn từ Hiện Sơn đến Nghiệp Đô nói pháp, ở nơi chợ búa hoặc đường hẻm, không có chỗ nào nhất định, đạo tục qui ngưỡng, không thể nào tính kể.

GIẢNG:

Ngài là một vị Tăng, tại sao không giảng pháp trong chùa mà giảng ngoài đường chợ? Tại vì chùa lâu nay theo kinh giáo, luật, luận. Người ta cho đó mới chánh, còn nói thẳng tâm người là tà. Vì vậy không cho giảng trong chùa, nên Ngài phải giảng ở ngoài đường, hẻm chợ. Thế mà người theo lại càng đông.

CHÁNH VĂN:

Trải qua mười năm. Lúc ấy có tai nạn, sau khởi phiến loạn, lần lượt bị bài báng, đó là bọn yêu tà quấy rối hủy hoại Phật pháp. Khi ấy, Ngài qua Thành An, huyện lệnh là Trạch Trọng Khản, không biết lý do gì, ông lại đánh đập Tổ Huệ Khả đến chết, trải qua một đêm Ngài sống lại, lại bị thuốc độc mà tịch. Xem “Lăng-già Nghiệp Đô Cố Sự” quyển thứ mười có nói đủ.

GIẢNG:

Như vậy hai vị Tổ đều bị thuốc độc chết, riêng Tổ thứ hai còn bị đánh đập nữa. Đó là do ảnh hưởng của sự truyền bá, đặc biệt là kinh Kim Cang.

Đời Thứ 3 Tăng Xán

CHÁNH VĂN:

(52) Tổ đời thứ ba Đại sư Tăng Xán ở đời nhà Tùy. Về sau, Sư nương với Đại sư Huệ Khả. Không biết họ tên Sư, cũng không biết người xứ nào.

Khi được Tổ Huệ Khả thọ ký, vì tránh nạn nên Sư giả điên cuồng ở nơi chợ búa, trá bệnh ở chốn núi rừng, ẩn cư ở núi Tư Không Thư Châu. Lúc ấy, Thiền sư Tín mười ba tuổi, hầu hạ Sư trải qua chín năm. Sư y kinh Kim Cang nói Tri kiến Như Lai. Thiền sư Đạo Tín ngay lời dạy, liền chứng thật không có chúng sanh được diệt độ. Sư trao mật ngữ để làm pháp khế, lại truyền y ca-sa để làm pháp tín, như trăng sáng bảo châu xuất hiện ở biển lớn. Đại sư Xán cùng Thiền sư Bảo Nguyệt và Định Công đồng đi đến núi La Phù. Lúc đó, Thiền sư Tín cũng muốn đi theo Đại sư Xán. Đại sư bảo:

– Ông không cần đi, về sau gặp thời có thể hoằng truyền lợi ích!

Đại sư Xán đến núi La Phù, được ba năm liền trở về đến Hiện Sơn. Đi qua trụ xứ kia, Sư kêu to:

– Bọn các ngươi, bố thí cho ta một bữa ăn!

Hết thảy đạo tục đã qui y, đều đến bố thí, sắp đặt thức ăn. Khi Ngài ăn xong, ở trong trai tràng có một cây đại thọ. Lúc đó, Ngài đứng dưới gốc cây, chấp tay thị tịch. Nhục thân của Sư táng ở sau chùa Sơn Cốc, trong chùa có bia khắc hình tượng, nay thấy cúng dường.

GIẢNG:

Đến ngài Tăng Xán cũng truyền bá Phật pháp, lúc đầu có nạn nhưng về sau khỏi.

Đời Thứ 4 Đạo Tín

CHÁNH VĂN:

(53) Tổ đời thứ tư là Đại sư Đạo Tín, triều Đường. Sau nương Đại sư Tăng Xán. Sư tục tánh là Tư Mã, quê ở Hà Nội.

Khi được phó chúc rồi, Sư bèn đến Cát Châu, gặp cuồng tặc vây thành. Trải qua hơn một trăm ngày, nước suối, nước giếng đều khô cạn. Đại sư Tín từ bên ngoài vào thành, khuyến dụ đạo tục niệm Ma-ha Bát-nhã ba-la-mật. Khi ấy, bọn cuồng khấu tan rã lui binh, suối giếng đầy tràn, thành kia hoàn toàn an ổn, Sư lại gặp duyên hóa độ người. Cát Châu được độ rồi, về sau Ngài đến trên đỉnh núi Lô Sơn, trông thấy trên núi Phá Đầu ở Hoàng Mai Kỳ Châu có vầng mây màu đỏ, bèn ở núi này, đổi tên núi là Song Phong.

Lúc ấy, Thiền sư Nhẫn mới bảy tuổi đã theo hầu hạ Sư, trải qua hơn ba mươi năm. Sư y kinh Kim Cang nói Tri kiến Như Lai. Thiền sư Nhẫn ngay lời dạy liền chứng pháp Tối thượng thừa, ngộ tánh tịch diệt, thầm nhận lời dạy để làm pháp khế. Sư liền truyền y ca-sa để làm pháp tín, như đồng tử trên núi Tuyết được châu như ý.

Đại sư Đạo Tín lại trùng khai pháp môn, tiếp dẫn quần sanh. Hàng long tượng bốn phương, đều kính mộ qui y, trải qua hơn ba mươi năm.

Đến niên hiệu Vĩnh Huy năm thứ hai, tháng tám, Sư chợt bảo đệ tử Nguyên Nhất kiến tạo ngôi tháp ở bên núi. Đến ngày mùng bốn tháng chín nhuần, Sư hỏi:

– Tháp làm xong chưa?

Đệ tử thưa:

– Đã xong rồi.

Sư bèn đi đến chỗ xây tháp, xem thấy đã thành tựu. Trở về đến phòng, Sư an nhiên thiên hóa.

Đại sư thọ bảy mươi hai tuổi. Ngày Sư tịch, đại địa chấn động, mặt trời mặt trăng không có ánh sáng, cây rừng khô héo.

Nhục thân Sư táng được nửa năm. Cửa tháp vô cớ tự mở, đến nay không đóng lại. Đỗ Chánh Luân khắc văn bia. Bia kia thấy ở trong núi.

GIẢNG:

Hà Nội ở đây không phải Hà Nội của Việt Nam. Trung Quốc có sông Hoàng Hà chạy dài từ biển tới Trường An. Phương Bắc của sông gọi là Hà Bắc, phương Nam gọi là Hà Nam, phương Tây gọi là Hà Tây, phương Đông gọi là Hà Đông, ở giữa là Hà Nội. Việt Nam cũng thế, có sông Hồng Hà, các phương Đông Tây Nam Bắc chung quanh sông cũng có tên Hà Tây, Hà Bắc… và chính giữa là Hà Nội. Chẳng những Việt Nam, Trung Quốc có Hà Nội mà ở Nhật cũng có Hà Nội nữa. Như vậy Hà Nội là khu trung tâm của con sông lớn.

Ở đây có nhiều điểm hơi khó giải quyết. Thứ nhất nói Tổ Đạt-ma về Tây với một chiếc giày quảy trên vai, như vậy có đáng tin không? Chúng ta nên hiểu rằng thời của các ngài nói gì phải mầu nhiệm người ta mới tin. Thời đó là thời giàu tín ngưỡng, nếu nói Ngài là một người thường chết chôn ở đâu đó, người ta sẽ xem thường. Cho nên mang chiếc dép về Tây là bất tử, nghe vậy thiên hạ mới ham tu.

Ở Việt Nam tới thời Thiền sư Thường Chiếu, Ngài hết tin rồi. Nên Ngài mới nói “một con chó lớn sủa láo, bầy chó nhỏ sủa theo”. Tùy hoàn cảnh mỗi thời, mà lịch sử các ngài mang những nét khác nhau, cốt đem đến niềm tin cho người đương thời. Chúng ta không thể y cứ vào đó một cách cố định được, vì đâu biết sự thật thế nào để xác định. Thời đại ngày nay, nói điều gì phải rõ ràng minh bạch, có chỗ y cứ đàng hoàng, phù hợp với khoa học, với đời sống văn minh đương thời. Đi ngược lại là không thể tồn tại, nên các hình ảnh mầu nhiệm huyền bí ít được nhắc đến như ngày xưa.

Đời Thứ 5 Hoằng Nhẫn

CHÁNH VĂN:

(54) Tổ đời thứ năm là Đại sư Nhẫn ở triều Đường. Sau nương Đại sư Tín. Sư họ Chu, quê ở huyện Hoàng Mai.

Sau khi được Đại sư Tín thọ ký, Ngài bèn đến núi Bằng Mộ ở phía đông núi Song Phong. Người đương thời gọi pháp môn Đông Sơn là do đó.

Lúc ấy, Thiền sư Huệ Năng hầu hạ qua tám tháng, Sư y kinh Kim Cang nói Tri kiến Như Lai. Thiền sư Năng ngay lời nói liền chứng ngộ, nếu tâm này có trụ ắt là chẳng trụ. Sư thầm trao mật ngữ để làm pháp khế, lại truyền y ca-sa để làm pháp tín, giống như Phật Thích-ca Mâu-ni thọ ký cho Phật Di-lặc.

Đại sư Hoằng Nhẫn khai pháp trải qua ba mươi năm, tiếp dẫn đạo tục, bốn phương qui ngưỡng, tụ hội như mây.

Đến niên hiệu Thượng Nguyên, Đại sư thọ bảy mươi bốn tuổi. Ngày mười một tháng hai năm ấy, Sư an nhiên ngồi tịch. Ngày đó, núi lở đất rung, mây mù che phủ mặt trời mặt trăng. Lư Khâu Quân khắc văn bia. Bia kia thấy ở Hoàng Mai.

GIẢNG:

Người ta gọi pháp môn Đông Sơn là do Ngài ở núi Bằng Mộ phía đông Song Phong, tức ngọn núi ở phía Đông. Thiền sư Huệ Năng hầu hạ qua tám tháng, nói hầu hạ chớ thật ra là giã gạo. Phần này sử viết kỹ hơn.

Sư thầm trao mật ngữ để làm pháp khế, lại truyền y ca-sa để làm pháp tín.

Thế nào là pháp khế? Thế nào là pháp tín? Thầm trao mật ngữ tức là thầm trao chỗ không nói nên lời. Tổ thứ năm chỉ cho Tổ thứ sáu Tri kiến Phật, thầy trò thầm nhận thầm chứng gọi là truyền tâm ấn, cũng gọi là pháp khế. Khế là thầy trò khế hợp nhau, giống hệt nhau. Thầy trò đã khế hợp, nhận được chỗ pháp yếu, thì đem y của Tổ trước truyền trao làm pháp tín cho người sau tin. Cho nên truyền y được gọi là pháp tín.

Đại sư Hoằng Nhẫn khai pháp trải qua ba mươi năm, tiếp dẫn đạo tục, bốn phương qui ngưỡng, tụ hội như mây.

Đây là nói sự truyền bá của Ngài rất thạnh hành.

Đời Thứ 6 Huệ Năng

CHÁNH VĂN:

(55) Tổ đời thứ sáu Thiền sư Huệ Năng, triều Đường. Sau nương Đại sư Nhẫn. Sư họ Lư. Các vị tiên tổ quê ở Phạm Dương, nhân cha làm quan ở Lãnh ngoại nên ở Tân Châu.

Năm hai mươi hai tuổi, Sư đến Đông Sơn lễ bái Đại sư Hoằng Nhẫn. Đại sư Nhẫn hỏi:

– Ông là người xứ nào, vì sao đến lễ bái ta, đến đây muốn cầu việc gì?

Thiền sư Năng thưa:

– Đệ tử từ Lãnh Nam Tân Sơn đến lễ bái Ngài, chỉ cầu làm Phật, không cầu việc gì khác.

Đại sư Nhẫn bảo:

– Ông là người Lãnh Nam mọi rợ, làm sao kham làm Phật?

Thiền sư Năng thưa:

– Phật tánh kẻ mọi rợ cùng Phật tánh Hòa thượng có gì khác nhau?

Đại sư Nhẫn nghe lời này rất lấy làm lạ, lại muốn cùng nói chuyện nhưng vì có bọn người ở hai bên nên đuổi Sư ra, bảo theo chúng làm công tác.

GIẢNG:

Tổ Hoằng Nhẫn sợ cùng nói chuyện riêng với Ngài, Thị giả sẽ mách trong chúng có một cư sĩ được Hòa thượng đặc biệt ưu đãi thì nguy cho Ngài. Cho nên đuổi xuống nhà bếp làm công tác để mọi người không chú ý.

CHÁNH VĂN:

Sư vì chúng giã gạo trải qua tám tháng. Đại sư Nhẫn tìm kiếm ở trong chúng, đến chỗ giã gạo trông thấy Sư. Đại sư cùng trò chuyện, được biết Sư thật đã kiến tánh. Đến nửa đêm, Đại sư Nhẫn lén gọi Sư đến trong phòng, ba ngày ba đêm cùng nói chuyện, biết rõ Sư chứng Tri kiến Như Lai, không còn nghi ngờ.

GIẢNG:

Chuyện ở ba ngày ba đêm thì tôi không tin được. Tại sao? Vì ngày nào Thị giả cũng đem cơm vô, nếu Ngài ở đó nói chuyện ba ngày ba đêm, mọi người biết được thì làm sao yên thân. Chỉ trong một đêm mà còn không kịp. Nhưng đây là lối thuật lại, nhớ đâu nói đó nên lệch lạc chút ít, là điều không có gì lạ.

CHÁNH VĂN:

Đại sư đã phó chúc xong liền bảo rằng:

– Ngươi có duyên ở Lãnh Nam, hãy nên đi mau, mọi người biết rõ chuyện, ắt sẽ hại ngươi.

GIẢNG:

Chỗ này chúng ta nghe rất dễ hoang mang. Tại sao trong chùa, toàn là những người dưới trướng của Tổ, mà lại còn sợ bị hại? Thật ra không có gì lạ hết, tại vì ngài Huệ Năng còn tóc. Dưới trướng Tổ có năm trăm Tăng, trong đó Giáo thọ Thần Tú đang giảng dạy cho Tăng chúng. Nếu Tổ không truyền pháp cho người nào lại truyền cho một người cư sĩ mới vào chùa là chuyện phi thường. Truyền như vậy thì năm trăm vị Tăng kia người ta coi ra gì. Nếu Ngài là một vị Tăng trong năm trăm Tăng đó thì không có gì đáng sợ. Hoặc truyền cho ngài Thần Tú thì càng tốt, không ai phàn nàn. Chỉ vì Ngài là một cư sĩ giã gạo sau nhà bếp, không học hành gì, không biết một chữ, mà lại nối pháp Đông Sơn thì làm sao chấp nhận được. Trao y bát là trao cả sự tín nhiệm, cả một sự truyền thừa rất quan trọng. Do đó không ai có thể chấp nhận một gã nhà quê còn tóc lên nối ngôi Tổ vị. Nếu không nắm vững hoàn cảnh như vậy, chúng ta sẽ hoang mang tại sao trong chùa mà còn đố kỵ nhau đến thế.

Cũng như tôi ở đây kêu một chú cư sĩ mới đến Thiền viện hồi sáng, giao cái chùa này thì mấy chú có nổi rầm rầm lên không? Tự nhiên không thể nào chịu nổi. Đó là một lẽ thật. Nếu tôi giao cho vị thầy nào lớn, chuyện đó bình thường, không ai thắc mắc hết. Nên đọc sử chúng ta phải thông cảm hoàn cảnh của người đương thời và những sự việc quan trọng thế nào. Nếu không sẽ trách, sao người xưa cũng còn bỉ thử quá.

CHÁNH VĂN:

Thiền sư Năng thưa:

– Bạch Hòa thượng, con làm sao đi được?

Đại sư Nhẫn bảo:

– Ta sẽ đích thân tiễn ngươi.

Đêm ấy, Đại sư đưa Sư đến đò Cửu Giang, liền lên thuyền sang sông. Đại sư thấy Huệ Năng đã qua sông rồi, trong đêm đó Ngài quay về đến bản sơn, mọi người đều không hay biết. Ba ngày sau khi Sư đi, Đại sư Nhẫn bảo:

– Đồ chúng nên giải tán, ở trong núi này không có Phật pháp. Phật pháp lưu truyền qua Lãnh Nam rồi!

Mọi người nghe Đại sư nói thế, thảy đều kinh ngạc không thôi, bốn mắt nhìn nhau mất sắc, lại bảo nhau:

– Lãnh Nam có ai?

Lần lượt hỏi nhau. Trong chúng có Pháp Như ở Lộ Châu nói:

– Lúc nhỏ Huệ Năng ở chỗ này.

Mọi người chạy đuổi theo tìm. Trong chúng có một vị trước làm Tứ phẩm tướng quân, từ quan vào đạo. Ông họ Trần tự là Huệ Minh. Từ lâu ở dưới hội Đại sư không thể khế ngộ. Khi nghe Đại sư nói như thế, liền ngày đêm gấp rút chạy tìm. Đến trên đỉnh Đại Dữu Lãnh gặp nhau. Thiền sư Năng rất lo sợ, e ngại thân mạng không thể bảo tồn, nên đem y ca-sa đưa cho Huệ Minh, Thiền sư Huệ Minh thưa:

– Tôi xưa nay không vì y ca-sa đến. Ngày Đại sư ra đi, đã được lời dạy gì. Xin vì tôi giải nói?

GIẢNG:

Thật tâm lúc đầu Huệ Minh đuổi theo là để giành y lại. Vì sợ y rơi vào tay một kẻ quê dốt thì Phật pháp Đông Sơn bị thất truyền. Trong sử nói Huệ Minh đuổi theo thấy y mừng quá, nhưng ôm lên không nổi, mới đổi ý cầu Phật pháp.

CHÁNH VĂN:

Thiền sư Năng nói rõ về tâm pháp. Thiền sư Minh nghe nói tâm pháp rồi, chấp tay đảnh lễ, liền mời Sư cấp tốc qua núi khác, sợ phía sau có đám người đuổi theo đến nơi.

Thiền sư Năng qua núi, đến Tào Khê Thiều Châu, ở đó bốn mươi năm. Sư y kinh Kim Cang trùng khai Tri kiến Như Lai. Đạo tục bốn phương thấm nhuần ân đức, giống như mặt trăng ở trên hư không, chiếu soi tất cả sắc tượng. Cũng như đêm rằm Trung thu, tất cả chúng sanh thảy đều trông thấy.

Đến niên hiệu Cảnh Vân năm thứ hai, Ngài chợt bảo đệ tử Trí Bổn Huyền Giai, về nhà cũ ở Long Sơn Tân Châu lập một ngôi tháp. Đến niên hiệu Tiên Thiên năm đầu, tháng chín, Sư từ Tào Khê về đến Tân Châu.

Đến niên hiệu Tiên Thiên năm thứ hai, ngày mùng ba tháng tám, Ngài chợt bảo môn đồ rằng:

– Ta sẽ đi thật xa!

Đệ tử là tăng Pháp Hải hỏi Hòa thượng rằng:

– Về sau có người kế thừa chăng? Vì sao có y này mà không truyền?

Hòa thượng bảo:

– Nay ông chớ có hỏi, về sau nạn khởi rất nhiều. Ta do chiếc y ca-sa này mà sắp mất thân mạng. Ông muốn biết thời, sau khi ta diệt độ, hơn bốn mươi năm, người dựng lập tông là phải.

Đêm ấy, Sư an nhiên ngồi tịch, thọ bảy mươi sáu tuổi. Ngày đó, núi lở đất rung, mặt trời mặt trăng không có ánh sáng, gió mây mất sắc, rừng cây biến thành màu trắng. Riêng có mùi hương lạ lâng lâng chan hòa, trải qua vài ngày mới hết. Mạch khe Tào Khê bị đứt dòng, ao suối khô cạn, trải qua hơn ba ngày.

Năm đó, ở chùa Quốc Ân Tân Châu, nghênh đón Thần tọa của Hòa thượng. Tháng mười một an táng ở Tào Khê. Ngày ấy, trăm chim kêu bi ai, côn trùng cầm thú gào la thảm thiết; ở trước mộ tháp của Ngài có hào quang trắng xuất hiện bay thẳng lên giữa trời, ba ngày mới thật tan.

Trong điện Thừa Vi Cừ có làm văn bia. Đến niên hiệu Khai Nguyên năm thứ bảy, bị người cạo sửa, khắc in lại bản khác, bỏ bớt sự nghiệp truyền trao và lý do truyền y của sáu đời Tổ sư. Ngoài bản đương thời ghi chép lại, tấm bia kia ngày nay thấy ở Tào Khê. Môn đồ hỏi:

– Chẳng rõ pháp có ở trên y, cho nên lấy y để truyền pháp chăng?

Đại sư bảo:

– Tuy pháp không có trên y, nhưng do tiêu biểu đời đời trao nhau nên truyền y để làm tin. Nay người học Phật pháp phải nên vâng giữ, kẻ học đạo được biết tông chỉ, không bị sai lầm. Huống chi y Kim lan của đức Thích-ca Như Lai, hiện ở núi Kê Túc. Nay thấy Tổ Ca-diếp vẫn đắp chiếc ca-sa đó, chờ đợi ngài Di-lặc ra đời, phân phó y này. Đó là tiêu biểu đức Thích-ca Như Lai truyền y để làm tin. Sáu đời Tổ sư của ta, cũng lại như thế. Nay ta hay rõ được tánh Như Lai, Như Lai ngày nay ở trong thân ta. Ta cùng với Như Lai không khác biệt. Như Lai tức là Chân như của ta.

GIẢNG:

Chúng ta thấy tới Lục Tổ dừng sự truyền y là hợp lý. Tại sao? Bởi vì thuở Tổ Đạt-ma sang Trung Hoa, Ngài truyền y cho Tổ Huệ Khả, chỉ một thầy một trò. Lúc đó chưa có hội chúng nên thầy truyền cho trò để người ta tin đây là người đắc pháp thật. Đến Tổ Huệ Năng, chúng trên năm trăm nên việc truyền y là nguy hiểm, vì sự tranh giành nhau.

Sau đó ở Trung Hoa đạo tràng học thiền cả ngàn người, số đắc pháp cũng rất đông. Nếu chỉ truyền một vị thì đâu đủ người truyền bá khắp nơi, hơn nữa việc này sẽ gây chia rẽ trong Tăng đoàn, nên ngang đó dừng sự truyền y là hợp lý.

error: